Đảng cộng sản Việt Nam liệu sẽ chấp nhận sự đa nguyên?

Đảng cộng sản Việt Nam liệu sẽ chấp nhận sự đa nguyên?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-11-26

Sáng 9-11, tại Trụ sở Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam phối hợp Ban Tuyên giáo T.Ư, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân tổ chức Hội thảo khoa học – thực tiễn: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới đất nước…

Photo Dang Khoa/nhandan.com

Ngày 9/11 báo chí Việt Nam đưa tin là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, báo Nhân dân đã tổ chức một cuộc hội thảo trong đó có nói về vai trò của người Việt ở hải ngoại. Trong cuộc hội thảo này đã có ý kiến đề nghị cho người Việt ở hải ngoại được tham dự bầu cử và ứng cử tại Việt nam. Liệu đây có phải là một tín hiệu cho thấy đảng cộng sản Việt Nam sẽ chấp nhận sự đa nguyên chính trị trong tương lai?

Cũng trong khoảng thời gian diễn ra cuộc cuộc hội thảo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban tuyên giáo Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada cho biết ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của đảng cộng sản Việt nam, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Luật sư Khanh cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói rằng ông hy vọng một ngày không xa luật sư Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam.

Luật sư Khanh nói với chúng tôi rằng:

“Tôi nghĩ rằng chính phủ Hà nội cũng đã có những kế hoạch để mở rộng cái khung chính trị ở Việt Nam, để mà có thể cho một số người Việt ở nước ngoài tham gia vào chính trường Việt Nam.”

Một nhà hoạt động xã hội dân sự trong nước là Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận xét về những lời phát biểu được báo chí Việt Nam trích dẫn trong buổi hội thảo của Mặt trận Tổ quốc:

“Nếu mà có một sự việc như thế diễn ra thì chắc chắn nó là một sự cởi mở hơn. Thực tiễn nó diễn ra như thế nào thì phải đến lúc đấy mới đánh giá được. Nhưng mà ý đồ như thế mà được nói ra thì tôi cho rằng cũng là ý cở mở.”

Ngoài ra Tiến sĩ Nguyễn Quang A còn nói rằng chuyện cho những người Việt sống ở nước ngoài nhưng vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam tham gia bầu cử là một việc đương nhiên.

Trong lịch sử cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam, cũng đã có một số người Việt ở nước ngoài hồi hương hoạt động trong nhiều lãnh vực. Một số cũng có mặt trong guồng máy nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo như ông Lương Văn Lý làm trong ngành ngoại giao tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Ngọc Trân là đại biểu Quốc hội trong vài nhiệm kỳ.

“ Việc mà đảng cộng sản VN có cởi mở hay không, đặc biệt là về phương diện chính trị, thì tôi cho rằng điều then chốt là điều 4 Hiến pháp. Ngày nào mà họ còn duy trì điều bốn Hiến pháp, tức là ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước và xã hội, thì những sự cởi mở, theo tôi chỉ là những vấn đề tạm bợ

Ông Lý Thái Hùng”

Nhưng cả hai người này đều là đảng viên cộng sản.

Trong bài phát biểu tại cuộc hội thảo của Mặt trận Tổ quốc, một người tham gia hội thảo là Tiến sĩ Bùi Đình Phong có nói rằng cần xóa bỏ những phân biệt đối xử về quá khứ, về giai cấp.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:

“Nếu chỉ là của một hội nghị của Mặt trận (Tổ quốc) mà người ta chỉ nêu ý kiến thì tôi nghĩ có thể chỉ là ý kiến của một người nào đấy. Tuy rằng nó có thể phản ánh một xu hướng cởi mở hơn nào đó, nhưng mà nếu chưa có một qui định pháp lý nào thì tôi cho là cũng khó để mà đánh giá.”

Ông Lý Thái Hùng, sống tại Mỹ, hiện là Tổng bí thư đảng Việt Tân, một đảng chính trị lớn của người Việt ở hải ngoại cho rằng

“Việc mà đảng cộng sản Việt Nam có cởi mở hay không, đặc biệt là về phương diện chính trị, thì tôi cho rằng điều then chốt là điều 4 Hiến pháp. Ngày nào mà họ còn duy trì điều bốn Hiến pháp, tức là đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước và xã hội, thì những sự cởi mở, theo tôi chỉ là những vấn đề tạm bợ để mà giải quyết những nhu cầu khó khăn của chế độ liên quan đến kinh tế, chính trị, xã hội. Kể cả việc mà họ công nhận một số những người từ hải ngoại về, để tham chính hay tranh cử ở một chức vụ nào đó ở Quốc hội hay chính quyền, thì tôi nghĩ nó cũng chỉ là những biểu tượng để dùng nó mà tuyên truyền.”

Từ trái ông Lý Thái Hùng - Ông Nguyễn Quang A - ông Vũ Đức Khanh

Từ trái ông Lý Thái Hùng – Ông Nguyễn Quang A – ông Vũ Đức Khanh

Theo Luật sư Vũ Đức Khanh thì đảng cộng sản Việt Nam đang tìm cách “giải độc” hình ảnh về họ ở hải ngoại, đặc biệt là đối với cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ, nơi đổ về Việt nam một lượng kiều hối rất lớn, và Hoa Kỳ cũng là quốc gia mà Việt Nam mong muốn xây dựng những quan hệ tốt đẹp.

Khi nói về quan hệ sắp tới giữa đảng cộng sản và những người Việt Nam khác chính kiến với họ, đặc biệt là ở hải ngoại, Luật sư Khanh nói tiếp:

“Việt Nam phải làm lành với quá khứ. Trong tương lai chúng ta phải chấp nhận sự khác biệt của những người khác, cả những người cộng sản lẫn quốc gia, và những người có những tư tưởng khác nữa. Người quốc gia thường hay lo ngại nói rằng người cộng sản quá mưu mô xảo quyệt, từ năm 1945 cho đến nay, cho nên họ rất ngại khi có tiếp xúc với những người cộng sản. Tôi nghĩ là chúng ta nên nhớ rằng 70 năm đã trôi qua, thời điểm 2015 hoàn toàn khác, Việt Nam cũng như thế giới. Đảng cộng sản Việt nam không còn là ma quỉ giống như thời kỳ trước đây nữa. Cho nên chúng ta cũng cần phải mạnh dạn tiếp xúc với những người từ phía đảng cộng sản Việt nam để mà có thể tháo gỡ những khó khăn của Việt Nam hiện tại.”

“ Việt nam phải làm lành với quá khứ. Trong tương lai chúng ta phải chấp nhận sự khác biệt của những người khác, cả những người cộng sản lẫn quốc gia, và những người có những tư tưởng khác nữa

Luật sư Vũ Đức Khanh”

Ông Lý Thái Hùng thì nghi ngờ hơn, đánh giá về sự thay đổi của đảng cộng sản ông cho rằng:

“Đương nhiên đảng cộng sản Việt Nam họ có những thay đổi về bề mặt, nhưng mà thực tế bên trong họ vẫn cố gắng làm sao để duy trì một lực lượng chính trị duy nhất để thống trị trên toàn đất nước. Cho nên trong bối cảnh (tương lai) mà Việt Nam có tự do dân chủ thì đảng Việt Tân sẽ hoạt động với các lực lượng chính trị khác, trong đó có đảng cộng sản hay không thì nó tùy thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị lúc đó với lá phiếu chọn lựa của người dân.”

Trở lại với cuộc trao đổi giữa Luật sư Khanh và vị lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản Việt nam, ông Khanh có nhận xét:

Có một sự chân thành, nhưng mà đây là trong lĩnh vực chính trị nên chúng ta cũng không biết lấy cái gì mà đo. Nhưng mà bất cứ sự thay đổi nào về cấu trúc chính trị của Việt Nam, đều phải có sự chân thành của tất cả các bên. Nếu chúng ta không vượt qua được sự nghi kỵ thì không đạt được đến điểm nào cả.”

Ngoài ra ông Khanh, hiện là Phó Tổng thư ký của Đảng dân chủ Việt Nam phụ trách ngoại giao, còn cho biết là mặc dầu không có tuyên bố chính thức nào nhưng khả năng là có những cuộc tiếp xúc giữa đảng cộng sản và các khuynh hướng chính trị khác tại hải ngoại.

Trong biến chuyển chính trị ở Đông Âu 26 năm trước cũng đã có tiền lệ là các đảng cộng sản Đông Âu có duy trì sự tiếp xúc với các thành phần đối lập. Tiến sĩ Nguyễn Quang A người sống và học tập lâu năm ở Hungary xác nhận với chúng tôi là ở quốc gia này đã có những quan hệ như thế, đặc biệt ông cho biết là vào năm 1987 đã có 1 buổi họp quan trọng của các thành phần trí thức đối lập, trong đó có sự tham dự của người lãnh đạo đảng cộng sản lúc đó.

Ông Lý Thái Hùng thì nói là ông chưa biết là có những cuộc tiếp xúc như vậy giữa đảng cộng sản hiện nay với các thành phần đối lập về chính kiến ở hải ngoại hay không, nhưng ông cho rằng đó là điều có thể xảy ra khi đảng cộng sản lâm vào khủng hoảng, phải thay đổi.

Đạo Đức Lãnh Tụ & Tình Dục Nhân Dân

Đạo Đức Lãnh Tụ & Tình Dục Nhân Dân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Hồ Chí Minh

Chừng ba mươi năm trước, tôi may mắn đọc được bài viết rất công phu của nhà văn Trùng Dương – “Phan Khôi: Ngọn Hải Đăng Giữa Vùng Biển Động.” Trước đó, tôi chỉ nghe danh ông là người mở đường cho phong trào thơ mới ở Việt Nam:

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng ….

Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

Nhờ chị Trùng Dương, tôi mới biết được thêm Phan Khôi từng được mệnh danh là một Ngự Sử Văn Đàn. Ông đã có những đóng góp lớn lao cho làng báo Việt, vào giai đoạn sơ khai. Gần đây, qua biên khảo (Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932) của Linh Mục Thanh Lãng, tôi lại được dịp xem qua quan niệm về nữ quyền vô cùng phóng khoáng (và rất cách mạng) của ông:

“Trong phụ nữ ta có nhiều người chồng chết, ở trong cảnh ngộ rất đáng thương, buồn rầu đủ mọi trăm thứ, vậy mà nói đến truyện cải giá, sợ mang tiếng, nhất định không thì thôi. Có người bóp bụng cắn răng cũng giữ được trót đời ; nhưng có người khôn ba năm dại một giờ, thì ra mang cái xấu lại còn hơn cải giá. Lại thường thấy bà goá nào có máu mặt thì bọn điêu thoa trong làng trong họ lập mưu mà vu hãm cho, để mong đoạt lấy gia tài. Những sự đó đều là chịu ảnh hưởng của cái luật cấm cải giá mà ra ; vậy thì nó chỉ làm hại cho phong hoá thì có chớ có bổ ích gì đâu ? Bởi vậy ta nên phế trừ cái luật ấy đi ; từ rày về sau, trong óc chúng ta, cả đàn bà và đàn ông Việt Nam đừng có cái quan niệm ấy nữa.” (Phụ Nữ Tân Văn số 95,13-8-1931).

Nguồn ảnh: vuisongmoingay

“Cái luật cải giá” khắt khe của thời phong kiến tại Việt Nam – tiếc thay – đã không bị “phế trừ” mà còn trở nên khắt khe hơn,  sau khi cuộc cách mạng vô sản thành công ở xứ sở này:

Ả Định mới hai mươi hai tuổi đã có ba đứa con, nhưng trông còn son lắm. Da trắng, má lúc nào cũng ửng hồng, ngực phây phây như cái thúng. Anh mất, ả nghĩ mình là người của Đoàn thể nên rất giữ gìn. Hơn nữa, gia đình ả có công với cách mạng từ lâu. Bác Hoe Chu, bố chồng, tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội từ năm 1927. Chồng của ả vào Đảng từ khi còn bóng tối. Về làm dâu, ả được bố chồng và chồng giác ngộ, cũng trở thành đảng viên… Không may giữa đường đứt gánh tương tư. Giữ nếp nhà, ả mặc áo sổ gấu, đội nón không vành. Nhưng sức lực càng ngày càng căng ra… Tuy thế, ả vẫn tránh tất cả các trường hợp đàn ông cợt nhả khi gặp riêng trên đường làng… Rồi đến một hôm, trong cuộc họp, anh Cu Kình liếc mắt nhìn ả, ả quay mặt đi. Cứ quay mặt mãi cũng không tránh được cái vòng vây tình ái của anh Cu Kình. Đôi má của ả càng ngày càng đỏ au như con gái dậy thì khiến anh mê như điếu đổ. Anh đón gặp ả trên đường làng, gặp ngoài đồng, gặp ban ngày, gặp ban đêm. Rồi hai người hò hẹn nhau. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Và ả có thai sau bảy năm giữ gìn. Đảng uỷ triệu tập ả lên trụ sở…

 Khi nêu vấn đề khai trừ ả Định, có người gợi ý “chiếu cố quá trình tham gia cách mạng của gia đình”. Nhưng đồng chí bí thư diễn giải một cách kiên quyết: “Tội quan hệ tình ái bất chính là tội rất nặng. Hơn lúc nào hết, trong hoàn cảnh hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, Đảng ta phải thật trong sạch. Đảng viên đi trước làng nước theo sau… (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Văn Hoá & Truyền Thông Võ Thị, 2007. Bản điện tử do talawas chủ nhật thực hiện).

Cách “diễn giải” của “đồng chí bí thư” về “quan hệ tình ái” , xem ra, có vẻ hơi xa (rời) với cuộc sống của “làng nước.” Sau những lũy tre xanh, người dân Việt vẫn cứ sinh hoạt theo nhịp thở, nhịp tim, và tiếng lòng của họ (thay vì theo ý Đảng) bất kể là vào thời bình hay thời chiến:

Những năm 1965- 1975 nhà mình sơ tán ở làng Đông. Nhớ nhiều người nhưng nhớ nhất anh Đa.

Bây giờ kể chuyện anh Đa thôi, vì anh này hay nhất trong kí ức của mình về cái làng này.

Anh Đa lùn, đen, xấu. Anh Diệu nói cái mặt thằng Đa chành bành giống cái l. trâu.

Anh Đa sống với mẹ già, sau mẹ chết anh ở một mình. Nhà nghèo quá, 24, 25 tuổi rồi hỏi cô nào cũng bị chê.

Anh con liệt sĩ, lại con một, khỏi đi bộ đội. Con trai trong làng ai lớn đều đi bộ đội hết, còn lại dăm ba anh tuổi như anh thôi, chỉ có anh là chưa vợ. Mẹ anh khóc lên khóc xuống, anh vẫn chẳng quan tâm đến chuyện vợ con. Cho đến khi mẹ anh chết anh vẫn độc thân. Mình hỏi anh sao anh không lấy vợ. Anh nói tao để vậy để đàn bà nó thèm…

Anh chỉ làm hai việc: đi đập lúa thuê và nơm cá bán lấy tiền. Cứ mùa lúa là anh đi đập lúa cho các gia đình có chồng con đi bộ đội, một đêm đập lúa được trả vài lon gạo. Thế cũng đủ sống, lại được tiếng giúp đỡ gia đình bộ đội…

Một đêm mình đi thăm túm lươn, hôm đó được nhiều, hơn chục con, mừng lắm hí hửng xách oi về thì gặp anh Đa đi từ nhà chị Thơm ra. Mình hỏi anh đi đâu, anh nói không.

Minh thấy anh mặc cái áo bộ đội dài gần đến gối (anh lùn mà). Nghi nghi, mình kéo vạt áo anh lên, chim cò phơi ra cả, hoá ra anh không mặc quần. Mình ngạc nhiên nói sao vào nhà người ta lại không mặc quần, anh cười phì một tiếng rồi bỏ đi.

Nguồn ảnh minh họa:trannhuong

Nhà chị Thơm một mẹ một con, chồng đi bộ đội, thằng cu con chị mới hơn 4 tuổi. Mình nghi lắm. Mình lẻn theo anh Đa.

Anh Đa lại vào nhà chị Hà. Chị Hà có chồng hy sinh, vừa báo tử năm ngoái. Chị vẫn say sưa sinh hoạt đoàn, biến đau thương thành hành động cách mạng, hăng hái phát biểu lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu…v.v. Bà con làng xóm khen lắm, vẫn nói với con gái con dâu: đó, sang nhà con Hà mà coi.

Mình vào sau hồi nhà chị Hà Tối quá không thấy gì, chỉ nghe chị kêu hệt như mèo kêu. Mình chặn anh Đa ở cổng nhà chị Hà nói em biết rồi nha. Anh Đa túm cổ áo mình nói mày nói tao giết.

Về sau, lần nào đi nơm anh vừa nơm suất của anh, vừa nơm suất của mình. Mạ mình toàn khen thằng Lập dạo này nơm cá giỏi. Hi hi.

Làng Đông có chừng 4-5 trăm nóc nhà, hơn 1 trăm nóc là nhà hoặc là vợ bộ đội hoặc là vợ liệt sĩ. Không biết anh Đa chui vào bao nhiêu nhà trong số 100 nóc nhà ấy, chỉ biết suốt cuộc chiến tranh 1965-1975, tối nào cứ đến 3-4 giờ sáng anh Đa lại mặc cái áo bộ đội dài đến đầu gối, không thèm mặc quần, đi hết nhà này đến nhà kia, 5 giờ sáng thì về.

Mình hỏi sao anh không mặc quần. Anh nói mặc mần chi, cởi vô cởi ra mệt. ( “Anh Cu Đa” –  Nguyễn Quang Lập).

Một anh trai làng “lùn, đen, xấu” và “mặt  chành bành giống cái l. trâu” mà còn “bận” đến cỡ đó thì anh Ba Duẩn (“ngọn đèn cháy sáng 200 nến”, soi khắp Bắc/Nam) làm sao mà rảnh rang cho được:

Tháng 7-1986 Duẩn chết, dân đứng hai bên đường đếm mấy bà tổng goá. Chúng khẩu đồng từ bảo nhau cái bà tre trẻ mặc áo dài đen dắt đứa con be bé kia đứt đuôi là vợ tư! Ấy, chưa kể những bà bị gạt xuống nữa chứ. Cho lên cả thì khéo phải một hai xe nữa…

 Ngày ấy nếu blogger nhiều như ba chục năm sau thì trên mạng cử là lũ lụt lời bình về sức mạnh tính dục của Lê Duẩn.

Rõ ràng là có nỗi sự riêng tư thầm kín của thân thích ông, sau cái chết của ông, vị hoàng đế đỏ từng làm run sợ và đau khổ biết bao con người. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Những vị “hoàng đế đỏ” kế tiếp (Đỗ Mười, Lê Khả , Nông Đức Mạnh) cũng đều là những nhân vật mà sinh hoạt tình dục của họ khiến cư dân mạng phải tốn không ít thời giờ. Điều may mắn là đất nước  bước vào “thời mở cửa” (chả còn phải giấu diếm gì, và muốn dấu cũng không thể được) nên không có tình nhân nào bị biến thành nạn nhân – bị xe tông bể sọ – như bà Nông Thị Xuân ngày trước nữa.

Ảnh: vietnamnet

Cũng từ thời đổi mới, quan niệm về sinh hoạt tình dục của toàn dân rất nới (và rất mới) – theo thông tin của tờ Việt Báo: “Việt Nam Tỷ lệ nạo phá thai cao hàng đầu thế giới.”

Tờ Vietnamnet thì đưa ra một con số khiêm tốn và nhẹ nhàng hơn, chút xíu: “Hiện Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới.”

Tại sao Việt Nam lại đứng đầu thế giới, hay toàn khu vực về tỷ lệ nạo/phá thai như thế? Tôi trộm nghĩ thế này, đúng sai xin được công luận quan tâm để vấn đề thêm được tỏ tường: chắc tại ở những quốc gia khác không có một vị lãnh tụ đạo đức như Hồ Chí Minh nên dân chúng không phải học tập và làm theo tấm gương của Bác.

Chuyện về những hậu duệ và truyền thống gia tộc.

Chuyện về những hậu duệ và truyền thống gia tộc.

 Đoàn Thanh Liêm

* * *

Từ xa xưa cha ông chúng ta vẫn thường nói: “Cha mẹ hiền lành để đức cho

con”. Và trong dân gian, người ta cũng hay nhắc đến câu “Phúc đức ông bà”,

hay câu “Nhờ âm đức tổ tiên” v.v… Những câu nói thông dụng này đều mang

một ý nghĩa nòng cốt là: Lớp hậu sinh tức là người đến sau thì thường được

thụ hưởng những điều tốt lành do cha mẹ, ông bà để lại cho thế hệ của mình.

Vì thế mà có nhiều gia đình đã có những đóng góp lớn lao tích cực cho xã hội

và được người đời xưng tụng là “danh gia vọng tộc”.

Ngược lại, cũng có trường hợp mà cha mẹ lại là người ăn ở bất lương thất

đức, thì con cái sẽ phải gánh chịu những hậu quả xấu xa, tệ hại – như được

diễn tả trong câu tục ngữ “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Nhiều gia thế

lâm vào cảnh lụn bại thảm thương, mất hết uy tín trong xã hôi bởi vì có

những người con gây ra những điều tàn bạo độc ác đối với bà con lối xóm.

Do đó mà họ bị người đời khinh chê ghét bỏ và gọi đó là những thứ “nghịch

tử”, “phá gia chi tử”.

Nhân dịp đầu xuân Bính Thân 2016 năm nay, tôi xin được góp phần trình bày

về chuyện liên hệ giữa lớp hậu duệ với truyền thống gia tộc – dựa vào những

tài liệu cụ thể qua những sách báo đã được phổ biến xưa nay.

Trước hết, xin kể chuyện về vài gia tộc đã định cư lập nghiệp lâu đời qua

nhiều thế hệ trên đất Mỹ. Sau đó sẽ trình bày về một gia tộc ở Việt nam.

I – Về gia tộc của hai người Mỹ sinh sống cùng thời là ông Jonathan Edwards

và ông Max Jukes

 Jonathan Edwards (1703 – 1758) là một vị mục sư, học giả tinh thông cả

khoa học, triết học lẫn thần học mà lại có một đời sống tâm linh đạo hạnh rất

sâu xa vững chắc. Ông được sự quý trọng của giới trí thức đương thời ở Mỹ

vào nửa đầu của thế kỷ XVIII. Qua đến thế kỷ XX, ảnh hưởng tinh thần đạo

đức của ông vẫn còn có sức lôi cuốn đặc biệt đối với phong trào canh tân

Thiên chúa giáo theo truyền thống Tin lành ở nước Mỹ.

Cha của ông là Timothy Edwards cũng là một vị mục sư ở Connecticut và mẹ

của ông là Esther Stoddard cũng là con gái của vị mục sư Solomon Stoddard

ở Massachusetts.

Bà vợ của ông là Sarah Pierpont thì là con của ông James Pierpont là người

sáng lập Đại học Yale. Bà Sarah cũng còn được tiếng là một người rất đạo

đức lành thánh. Ông bà Edwards có tất cả 11 người con.

  • Đặc biệt là ông bà để lại cho xã hội nước Mỹ một lớp hậu duệ gồm nhiều

người vừa có tài năng nổi trội, vừa có đức hạnh đáng quý. Xin ghi chi tiết

như sau đây.

1(1) – Hậu duệ của ông bà Jonathan Edwards

Vào năm 1900, tức là sau gần 150 năm kể từ ngày ông Edwards qua đời, thì

một tác giả tên là Albert E Winship cho ấn hành một cuốn sách có nhan đề là:

“Jukes-Edwards: A Study in Education and Heredity”.

Trong cuốn sách này, tác giả cho biết đã tra cứu tìm hiểu đến 1,400 hậu duệ

của ông bà Edwards và tìm thấy có đến hàng mấy chục vị là giáo sĩ, 13 vị

làm Viện trưởng Đại học, 65 vị là giáo sư cùng nhiều vị có thành tích nổi trội

khác nữa.

Xin kê khai một vài danh tính: Aaron Burr cháu ngọai là vị Phó Tổng Thống

thứ ba của nước Mỹ phụ tá cho Tổng thống Thomas Jefferson, các nhà văn O.

Henry và Robert Lowell, Đệ nhất Phu nhân Edith Roosevelt của Tổng thống

Ted Roosevelt, các Viện trưởng Đại học Timothy Dwight, Jonathan Edwards

Jr, và Merrill Edwards Gates v.v…

1(2) – Hậu duệ của ông bà Max Jukes.

Trái lại, tác giả cũng tìm hiểu 1,200 hậu duệ của một “nhân vật phản diện” là

người cùng thời với ông Jonathan Edwards, đó là ông Max Jukes người gốc

Hòa Lan ở New York. Xin chú ý: Cái tên “Max Jukes” này do tác giả đặt ra

để thay thế cho tên thật của một người thuộc lọai xấu xa “tội lỗi” (guilty) –

nhằm tránh gây bối rối phiền muộn cho gia tộc của chính đương sự. Và cũng

vì thế mà tác giả đã không hề nêu rõ danh tính của bất kỳ người nào trong gia

tộc của nhân vật “Max Jukes” này nữa. Tác giả chỉ ghi rõ bằng tiếng Anh thế

này: “Max Jukes, a New York Dutchman”

Trong số hậu duệ của ông “Max Jukes” này, thì có đến trên 300 người thuộc

lọai “nghèo khó chuyên nghiệp” (professional paupers), 50 phụ nữ xấu xa

trắc nết (women of ill repute), 7 kẻ sát nhân (murderers), 60 trộm cắp thường

xuyên (habitual thieves) và 130 tội phạm bị kết án khác nữa (convicted

criminals) v.v…

Để bạn đọc có thêm ý niệm nhằm so sánh với các nhân vật có danh tiếng

khác mà cũng sinh sống vào thế kỷ XVIII như Jonathan Edwards – tức là

cách nay đã đến 3 thế kỉ – thì tại Việt nam phải kể đến nữ sĩ Đoàn Thị Điểm,

học giả Lê Quí Đôn; tại Pháp có những văn hào Rousseau, Voltaire,

Montesquieu; tại Anh có triết gia David Hume, kinh tế gia Adam Smith v.v…

Sau 300 năm, thì số hậu duệ dàn trải trong 15 thế hệ (bình quân mỗi thế hệ

cách nhau là 20 năm) của mỗi người trong các nhân vật này có thể lên đến

hàng nhiều ngàn người. Nếu các nhà nghiên cứu mà ra công sức tìm kiếm các

chi tiết về hậu duệ của những nhân vật xuất chúng đó, thì chắc chắn sẽ tìm ra

được nhiều điều rất bổ ích lý thú vậy.

Tiếp theo, xin trình bày về một gia tộc ở Việt nam chúng ta.

II – Về ba thế hệ trong gia đình của nhà ái quốc Phan Châu Trinh tại Việt

nam (1872-1926).

Vào đầu thế kỉ XX, lúc nước ta còn bị thực dân Pháp đô hộ, thì có hai nhà ái

quốc rất nổi tiếng và được tòan dân kính phục mến chuộng, đó là các cụ Phan

Bội Châu gốc ở Nghệ An và Phan Châu Trinh gốc ở Quảng Nam. Đã có rất

nhiều tài liệu sách báo viết về hai nhân vật kiệt xuất này rồi, nên trong bài

này, tôi chỉ viết riêng về ba thế hệ trong gia đình của cụ Phan Châu Trinh mà

thôi.

2(1) – Thế hệ thứ nhất: Ông Bà Phan Châu Trinh và Lê Thị Tỵ.

Hai ông bà cưới nhau vào năm 1896 và sinh hạ được ba người con gồm một

con trai và hai con gái. Bà Lê Thị Tỵ sinh năm 1877 thua ông 5 tuổi, nhưng

bà mất sớm vào năm 1914 ở tuổi chưa đến 40 – giữa lúc đó thì ông và người

con trai lớn đang ở bên Pháp, còn hai người con gái thì hãy còn nhỏ tuổi.

Được tin bà mất, ông Phan Châu Trinh vô cùng xúc động và làm một câu đối

khóc bà bằng chữ Hán được dịch nghĩa như sau:

“Hai mươi năm cầm sắt vắng teo, dãi gió dầm mưa, nhìn ảnh làm chồng,

một mực nuôi con lau lệ nóng.

Dưới chín suối bạn bè han hỏi, dời non lấp biển có ai giúp tớ, nhìn lo mình

lão múa tay không”.

Ông cũng làm một câu đối thay cho con trai đang ở với ông để “khóc mẹ”

giọng điệu thật là lâm ly thống thiết nguyên văn như sau:

“Con tưởng mẹ, mẹ ơi! Mẹ đau con chẳng biết, mẹ mất con chẳng hay, biển

rộng trời cao, nghìn dặm luôn trông tin mẹ mạnh;

Mẹ thương con, con rõ! Con ở mẹ nhọc lo, con đi mẹ nhọc nhớ, ơn dày nghĩa

nặng, trăm năm đành để nợ con mang”.

Một người cháu trong gia đình có kể lại rằng: “Hồi cụ Phan còn đang làm

quan trong triều đình tại Huế, thì đã có ý định cưới thêm một bà vợ khác theo

như tập tục đa thê vẫn còn thịnh hành vào thời kỳ đó. Thế nhưng có lần ông

cụ về thăm gia đình vẫn còn sinh sống tại miền quê ở Quảng Nam, thì thấy cụ

bà đi làm ruộng về rất trễ, mà quần áo thì lấm lem xộc xệch, coi bộ thật lam

lũ tất bật vất vả. Thấy vậy, ông cụ đâm ra cảm thương, mủi lòng và nhất

quyết từ bỏ cái chuyện đi cưới thêm một bà vợ lẽ nữa. Vì thế mà ông cụ chỉ

có một dòng con duy nhất mà thôi…”

2(2) – Thế hệ thứ hai: Những người con của ông bà Phan Châu Trinh.

Ông bà có tất cả ba người con gồm một con trai và hai con gái. Xin ghi chi

tiết về từng người con như sau

A – Con trai đầu Phan Châu Dật (1897 – 1921)

Vào năm 1911, ở tuổi 14 cậu Dật theo cha sang bên Pháp. Tại đây, cậu được

đi học và nhờ siêng năng nên học hành tiến bộ, đã thi đậu văn bằng Tú Tài và

còn chịu khó đi làm việc thêm để giúp cha nữa. Nhưng không may, cậu bị lao

phổi và tuân theo lời cha vào năm 1919 thì về lại Việt nam để chữa bệnh và

qua đời tại đây năm 1921. Cậu Dật chưa kịp lập gia đình, nên ông bà Phan

Châu Trinh đã không có cháu nội.

B – Con gái lớn là Phan Thị Châu Liên (1901 – 1996)

 Trong gia đình, bà Châu Liên còn có tên là Cô Đậu. Bà lập gia đình với giáo

sư Lê Ấm là vị thày giáo nổi tiếng dạy học lâu năm tại Huế và Quy Nhơn. Bà

là người sống thọ nhất (95 tuổi) trong số 3 người con của cụ Phan.

Vào năm 1914 khi bà cụ Phan Châu Trinh mất, mà ông cụ và anh trai Châu

Dật còn ở bên Pháp, thì cô Đậu mới được 13 tuổi, ấy thế mà sau ít năm cô

Đậu đã có thể lấy được tấm chồng danh giá là vị giáo sư được nhiều người

tôn vinh là ông Đốc Ấm. Ông bà Lê Ấm sinh được nhiều người con, tất cả

đều được học hành tươm tất.

Suốt thời kỳ của chính quyền quốc gia, ông bà vẫn ở miền Nam và không ai

nói gia đình bà Châu Liên có gặp khó khăn gì với cơ quan an ninh cả – mặc

dầu trong nhà ông bà lại có mấy người con lớn đi ra miền Bắc họat động cho

cộng sản. Ông Lê Ấm mất ở Đà nẵng năm 1976 vào tuổi 80.

C – Con gái út là Phan Thị Châu Lan (1904 – 1944).

Bà con gái út Châu Lan này còn có tên là Cô Mè. Bà lập gia đình với ông

Nguyễn Đồng Hợi gốc cũng ở Quảng Nam và là một tham tá công chánh

(agent technique). Cũng giống người chị Châu Liên, bà Châu Lan mới được

10 tuổi khi mẹ mất vào năm 1914 và cha thì ở mãi bên nước Pháp – ấy thế

mà sau này bà cưới được người chồng có trình độ chuyên môn và nghề

nghiệp danh giá như ông Hợi – với việc làm bảo đảm trong cơ quan chính

quyền Pháp ở Nam kỳ và Cambodia cho đến năm 1945. Ông bà có đông con

mà sau năm 1954, thì hầu hết các con đi theo cha tập kết ra miền Bắc. Không

may bà Châu Lan mất sớm vì bệnh vào năm 1944 lúc mới có 40 tuổi.

Còn ông Hợi, thì có tài liệu ghi là ông được kết nạp vào đảng cộng sản năm

1947 lúc còn ở miền Nam. Ông mất ở Hà nội năm 1969 vào tuổi 70.

2(3) – Thế hệ thứ ba: Các người cháu của ông bà Phan Châu Trinh.

Cụ Phan chỉ có 3 người con, nhưng mà lại có đến tất cả là 13 cháu ngọai là

con của 2 người con gái Châu Liên và Châu Lan. Xin ghi ra những chi tiết về

các người cháu ngọai này như sau.

A – Những người con của bà Phan Thị Châu Liên và ông Lê Ấm.

Ông bà Lê Ấm có tất cả 7 người con gồm 1 trai và 6 gái với tên theo thứ tự

lớn nhỏ như sau đây: Lê Thị Khoách, Lê Thị Kinh, Lê Thị Lộc, Lê Khâm, Lê

Thị Sương, Lê Thị Chi và Lê Thị Trang.

Trong số này, có 3 người tập kết ra miền Bắc mà đặc biệt 2 người được nhiều

người biết đến qua những việc làm và tác phẩm để lại. Ba người đó là bà Lê

Thị Khoách, Lê Thị Kinh và Lê Khâm.

*Bà Khoách chị cả là giáo sư sinh ngữ ở Đà nẵng sau năm 1954. Do họat

động theo cộng sản bị bại lộ, nên phải chạy ra ngòai Bắc và sau năm 1975 thì

về làm trong ngành giáo dục ở Quảng Nam. Bà đã qua đời từ ít lâu nay.

*Bà Kinh sinh năm 1925, còn lấy tên là Phan Thị Minh đã giữ chức vụ Đại

sứ tại Italia vào thời gian 1982 – 1990. Hiện nay đã nghỉ hưu. Bà được nhiều

người biết đến gần đây vì là tác giả bộ sách lớn với nhan đề “Tuyển tập Phan

Châu Trinh qua những tài liệu mới” xuất bản vào năm 2000 – 2002.

*Ông Lê Khâm người con trai độc nhất, sinh năm 1930 là một nhà văn với

bút hiệu là Phan Tứ. Ông lấy tên Tứ, vì hồi nhỏ trong nhà vẫn gọi ông là Bốn

tức là người con thứ tư sau ba người chị. Nhà văn này được biết đến qua

nhiều tác phẩm đã được xuất bản ở Hà nội. Ông qua đời năm 1995 ở Đà

nẵng.

Còn lại 4 người con gái khác, thì họ vẫn ở miền Nam với cha mẹ và sinh họat

làm ăn bình thường, tất cả đều phục vụ trong ngành Y tế của chánh phủ Việt

nam Cộng hòa – mà không nghe nói có họat động gì liên hệ với cộng sản cả.

Trong số này, hiện có bà Lê Thị Sương cùng gia đình định cư tại Mỹ theo

người chồng là cựu sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

B – Những người con của bà Phan Thị Châu Lan và ông Nguyễn Đồng Hợi.

Ông bà Nguyễn Đồng Hợi có tất cả 6 người con gồm 2 con gái và 4 con trai

với danh tính theo thứ tự lớn nhỏ như sau: Nguyễn Châu Sa, Nguyễn Đông

Hà, Nguyễn Đông Hải, Nguyễn Châu Loan, Nguyễn Đông Hồ và Nguyễn

Đông Hào.

Châu Sa sinh năm 1927, tên Sa là vì sinh ra ở Sa Đéc. Đông Hà, tên là Hà vì

sinh ra ở Hà Tiên. Còn lại, thì tất cả đều sinh ở Cambodia. Hai người con lớn

đều là cán bộ cộng sản có tên tuổi thường được khen tụng trong các sách báo

tuyên truyền của chế độ cộng sản.

Đặc biệt là bà Nguyễn Châu Sa sau này đổi tên là Nguyễn Thị Bình với nhiều

chức vụ lớn như Bộ Trưởng Ngọai Giao, Bộ Trưởng Giáo Dục và Phó Chủ

Tịch Nhà Nước. Bà Châu Sa thành hôn với ông Đinh Khang cũng là một sĩ

quan cán bộ cộng sản cao cấp trong quân đội (1923 – 1989). Hai vợ chồng có

hai người con nay đều đã trưởng thành.

Còn Nguyễn Đông Hà nằm vùng ở miền Nam và bị bắt giam ở Côn Đảo cho

đến ngày 30/4/1975. Đông Hà đã qua đời ít lâu nay trong thập niên 1990.

Còn lại những người con khác trẻ hơn, thì họ đều theo cha ra ngòai Bắc và có

người còn được đi du học ở ngọai quốc nữa.

Vào năm 1995, bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình có đến thăm trại tù

Z30D ở Hàm Tân, Phan Thiết. Nhưng cán bộ ở đó đã bố trí không đưa bà đến

chỗ giam giữ tù nhân chính trị chúng tôi – mà chỉ đưa bà đến khu dành riêng

cho các tù nhân phụ nữ mà thôi. Đó là lần duy nhất mà tôi trông thấy rõ mặt

bà Bình từ khỏang cách chừng 30 mét.

Một nhà báo kỳ cựu có thuật lại rằng: Khi nói chuyện riêng với bà Bình, thì

bà tỏ ra có tinh thần cởi mở, phóng khóang. Nhưng đến khi đưa micro ra để

ghi lời phát biểu của bà, thì bà lại nói y chang như lập trường quan điểm

chính thức của đảng cộng sản. Thật đúng là người cán bộ cộng sản nào thì

cũng làm cái trò “chuyên môn đóng kịch” như vậy thôi. Họ luôn có “lối sống

hai mặt” – che dấu suy nghĩ và tình cảm riêng của mình trước công chúng.

Bà Bình đã nghỉ hưu từ lâu và năm 2012 bà có cho xuất bản cuốn Hồi ký với

nhan đề “Gia Đình, Bạn Bè, Đất Nước” – kèm theo rất nhiều hình ảnh vừa

đen trắng, vừa có màu. Cuốn sách này mới được dịch sang tiếng Anh và được

ấn hành ở Việt nam vào giữa năm 2015.

III – Để tóm lược lại.

1 – Vì khuôn khổ của bài báo có giới hạn, người viết chỉ cố gắng trình bày sơ

lược ngắn gọn về ba thế hệ của nhà ái quốc Phan Châu Trinh mà thôi. Tác giả

không tìm hiểu đến thế hệ thứ tư, thứ năm trong gia tộc cụ Phan (tức là lớp

con, lớp cháu của thế hệ thứ ba là cháu ngọai của cụ). Mặc dầu qua đến thế

kỷ XXI hiện nay, thì lớp người này cũng đã trưởng thành và có người đã ở

vào lứa tuổi 50 – 60 và đã có thành tích sự nghiệp nào đó nữa rồi.

2 – Như đã ghi ở trên, trong gia tộc cụ Phan thì có người con rể là ông Hợi và

nhiều người cháu đều họat động theo cộng sản. Những người này về mặt

khách quan mà xét, thì rõ ràng là họ đã ra sức tiếp tay góp phần vun đắp cho

cái chế độ độc tài toàn trị hủ lậu hiện nay. Đúng là mấy hậu duệ đó đã không

tiếp nối cái lý tưởng Dân quyền nhân bản và Dân chủ khai phóng của cụ

Phan Châu Trinh. Đó là một điều thật đáng tiếc lắm lắm vậy.

Dầu sao, thì cái thực tế khách quan phũ phàng như thế đó đã là một chuyện

dĩ lỡ của lịch sử, đã vuột khỏi tầm tay của chính các đương sự đó rồi.

Bây giờ, thì chỉ còn lại hy vọng ở lớp người thuôc thế hệ thứ tư, thứ năm và

sau nữa – với tinh thần cởi mở tiến bộ và tấm lòng nhân ái đôn hậu – thì họ có

thể có những đóng góp tích cực tốt đẹp hơn cho đất nước và dân tộc Việt nam

chúng ta mà thôi.

3 – Về mặt tài liệu tham khảo, thì ngòai các tư liệu có sẵn trên Internet, còn

có hai cuốn sách đáng chú ý sau đây:

A – Jonathan Edwards – A Life

By George M. Marsden

Yale University Press ấn hành năm 2003

Sách dày trên 600 trang, bìa cứng.

B – Nguyễn Thị Bình – Hồi Ký

Gia Đình – Bạn Bè – Đất Nước

Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang, bìa giấy.

Costa Mesa California cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Qua bản án dành cho em bé 15 tuổi, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai!

Qua bản án dành cho em bé 15 tuổi, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai!

AFR Dân Nguyễn

25-11-2015

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Ảnh: internet

Hình ảnh cậu bé Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân một tỉnh miền tây Nam Bộ ngày hôm qua, khiến tôi cứ liên tưởng tới hình ảnh của em Phước trong bài thơ Mầm Hận: “Nuôi đi em cho đến lớn đến già/ MẦM HẬN ấy trong lồng xương ống máu/ Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu/ Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng”.

Đó là bốn câu kết của một bài thơ mà tôi và có lẽ cả những người đồng trang lứa với tôi đều đã học thuộc lòng từ những năm tháng “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Đó là bài thơ của Tố Hữu, nhà thơ “viên đá tảng” của văn học cách mạng. Bài thơ miêu tả nỗi lòng của nhà thơ cách mạng khi chứng kiến cảnh Phước, một em bé đi ở đợ, bị chủ rày mắng đuổi đi.

Em len lét cúi đầu tay sách gói/ Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te/ Vẫn chưa thôi lời đay dứt nặng nề/ Hàng dây tiếng rủa nguyền trên miệng chủ/ Biết không em nỗi lòng anh khi đó/ Nó tơi bời, đau đớn lắm em ơi!...”

Cậu bé đang ở độ tuổi “ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ…”, ngày hôm qua đã phải ra hầu tòa, đứng trước vành móng ngựa, chỗ dành cho những kẻ giết người cướp của, hiếp dâm, buôn cái “chất chết trắng”, chỗ của những kẻ mất hết tính người!

Vì sao em phải ra hầu tòa, đứng vào vành móng ngựa như một tội phạm? Vì em bị buộc tội “cố ý gây thương tích”. Bản án dành cho em là nghiêm khắc, với 4 năm 6 tháng tù! Bản án này khiến những người dự phiên tòa xử em ngày hôm qua bỗng nhớ đến bản án dành cho những viên công sai, công cụ của đảng khi xuống tay tra tấn dã man, dẫn đến những cái chết thương tâm của người dân tại đồn công an, cũng bị kết án không quá “khung” 4 năm. (còn bản án dành cho em là 4 năm 6 tháng).

Bản án mà chế độ chụp lên cuộc đời em ngày hôm qua, cũng lại khiến mọi người liên tưởng tới phiên tòa mấy năm trước mà Tòa Án Nhân Dân xử một kẻ gần sát tuổi trưởng thành, (chỉ còn ít ngày nữa là hắn đủ 18 tuổi), là kẻ sát nhân máu lạnh xuống tay sát hại cả một gia đình, trẻ già hắn cũng không tha, đều là đối tượng của tử thần do kẻ máu lạnh này mang đến. Hắn là Lê Văn Luyện, một kẻ giết người cướp của mà tội ác do hắn gây ra khiến cả xã hội rúng động và kinh tởm…; Nhưng hắn không bị lãnh khung hình phạt cao nhất mà hầu hết dư luận xã hội muốn dành cho y. Điều đáng nói là, khi tòa cũng như nền tư pháp VN xử kẻ sát nhân máu lạnh này với bản án quá nhẹ so với tội ác mà hắn gây ra, được giải thích là nhằm  “thể hiện tính nhân đạo của chế độ” (!?), Vì hắn là trẻ vị thành niên!

Bọn công an tra tấn gây ra những cái chết tức tưởi cho những người bị chúng bắt vào đồn chỉ với những “tội” nhẹ hều, lãng xẹt, mà cuối cùng chúng cũng chỉ phải nhận cái án 4 năm tù vì “làm chết người trong lúc thi hành nhiệm vụ”.

Người anh hùng nông dân Đoàn Văn Vươn, chưa cần nói tới lý do chống lại bọn công an, lính cụ Hồ cùng những tên cán bộ của đảng, chỉ cần xét tới hậu quả mà hành động chống lại đó gây ra là quá nhẹ. (“Chỉ nhằm đánh động dư luận”). Vài tên công an và lính sây sát do đạn hoa cải, mà vết thương nhẹ đến mức không đáng nhập viện, chỉ cần bôi thuốc vào chỗ vết sây sát. Vậy mà mấy anh em nhà anh Vươn bị khép tội “giết người”!

Chúng xúm vào đánh hội đồng anh Vươn, từ chính quyền, công an, tới tòa án…

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao hôm qua anh Đoàn Văn Vươn, một cựu chiến binh, người công dân lao động kiểu mẫu, không quản khó khăn, vươn lên làm giàu cho mình và cho quê hương, luôn chấp hành tốt pháp luật, và hôm nay, em Tuấn, một trẻ vị thành niên, luôn có hạnh kiểm tốt ở trường, ngoan ngoãn ở nơi xóm làng, lại bị lãnh những bản án nặng nề, mà tòa án nhân dân giải thích, nhằm thể hiện “tính nghiêm minh của pháp luật”!?

Câu trả lời đây: Anh Vươn chống lại bọn cướp ngày. Khổ nỗi bọn cướp ngày đó lại được đảng trang bị vũ khí, tư tưởng, và làm theo chỉ thị, nghị quyết của đảng, của “chính quyền nhân dân”. Anh Vươn chống lại chúng, cũng có nghĩa chống lại “người thi hành công vụ”, cũng có nghĩa chống lại đảng…

Giết người cướp của, hiếp dâm… gây trọng án, đại án, đều còn mênh mông cơ hội để xem xét đến các “tình tiết giảm nhẹ”, điển hình như Lê Văn Luyện. Những người mà Luyện xuống tay hạ sát tàn bạo, có ông già, có đứa trẻ mới biết đi…, nhưng tất thảy nạn nhân đều là Nhân Dân. Luyện chống lại Nhân Dân, chứ không chống lại “người thi hành công vụ”.

Còn cậu bé trong phiên tòa tại Long An hôm qua, còn bé lắm. Bản án mà tòa án nhân dân vừa tuyên, những kẻ phục vụ chế độ nghĩ rằng, thật “thích đáng” cho cậu – kẻ dám “động đến lông chân” của chế độ! Nhưng cũng qua bản án đó, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai. Kết án em, quan tòa đã gián tiếp kết án chế độ này!

Nếu chỉ nhìn thấy một cậu bé bị chủ rày la, đuổi đi, không thuê làm con sen, làm thằng giúp việc nữa, mà nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã thốt lên: “Biết không em nỗi lòng anh khi đó/ Nó tơi bời đau đớn lắm em ơi”.

Thì hôm nay, nếu đội mồ sống dậy, ông nhà thơ này phải gào lên, phải thét lên trước bao cảnh đời oan khuất đến uất nghẹn như em Tuấn ngày hôm nay?

Và ông sẽ dành lời an ủi, vỗ về gì cho em Tuấn, tù nhân bé bỏng tội nghiệp?

Nuôi đi em cho đến… muôn đời

Mầm hận này trong lồng xương ống máu…???

Phải chăng ông sẽ tiếp tục ươm cái MẦM HẬN mà ông đã “ươm” trong tâm hồn non nớt của Phước năm xưa, trong TÙ NHÂN BÉ THƠ hôm nay?

Tội ác đẻ ra tội ác. Hận thù sinh ra hận thù. Đó là LUẬT NHÂN QUẢ; Đảng CSVN đang hưởng những trái đắng từ cây hận thù mà họ gieo trồng bấy lâu đã đành, mà chính Nhân Dân VN cũng đang phải hứng chịu hậu quả từ những “mầm hận” như thế.

“Hãy tha thứ cho họ vì họ không biết điều họ làm”. Đức Chúa Jesus đã xin Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình trên cây thập tự.

Ở trong tù, người tù bé thơ đừng căm hận những kẻ gieo họa cho mình và gia đình mình nhé.

Mọi người cầu nguyện cho em bình an, cầu nguyện cho ngay cả những kẻ vừa khoác vào cổ em bản án khắc nghiệt, bởi họ “không biết điều họ làm”.

Phạm Minh Vũ: “Tôi sẽ không từ bỏ con đường tranh đấu cho đến khi VN đa đảng”.

Phạm Minh Vũ: “Tôi sẽ không từ bỏ con đường tranh đấu cho đến khi VN đa đảng”.

Hòa Ái, phóng viên RFA

Cựu tù nhân Phạm Minh Vũ Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
MInh-620

Cựu tù nhân Phạm Minh Vũ

RFA photo

Cùng với Lê Thị Phương Anh và Đỗ Nam Trung bị Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh Đồng Nai truy tố tội theo điều 258 Bộ Luật Hình sự VN hồi tháng 2 năm 2015, Phạm Minh Vũ là người trẻ nhất và thụ án tù lâu nhất. Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với cựu tù nhân lương tâm sinh viên, 23 tuổi này để nghe chia sẻ của anh về lý tưởng đấu tranh tự do dân chủ cho VN.

Hòa Ái: Xin chào Phạm Minh Vũ. Trước hết, thay mặt ban Việt ngữ đài RFA, Hòa Ái gửi lời chúc mừng bạn được tự do sau khi thụ án 18 tháng tù  vì tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Bạn có thể cho biết trong đợt biểu tình rầm rộ của công nhân chống Trung Quốc hồi tháng 5 năm ngoái, bạn có mặt ở Bình Dương với mục đích gì?

Phạm Minh Vũ: Khi giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc kéo sang VN, tôi nhận được thông tin ở Sài Gòn có cuộc biểu tình lớn nhưng ở Bình Dương, Đồng Nai lại có sự đập phá cho nên tôi thấy tình hình như vậy nên tôi muốn đến để đưa tin. Tôi đã vào Sài Gòn và xuống Đồng Nai trong ngày 15 tháng 5 năm 2014. Vừa xuống thì bị bắt giữ cho đến kết án luôn.

Hòa Ái: Vậy khi ra tòa, bạn bị buộc tội theo Điều 258 với những bằng chứng nào?

Phạm Minh Vũ: Người ta dùng những bằng chứng chẳng hạn tôi có nhận sự trợ giúp của anh em vì có kêu gọi anh em cùng làm từ thiện. Tôi nhận sự trợ giúp khi ốm đau và tôi có hoàn cảnh. Rồi, có những phát ngôn trên Facebook. Đây là 2 lý do chính để người ta kết án tôi.

Hòa Ái: Và trong đợt biểu tình của công nhân chống Trung Quốc mà bạn có mặt thì tòa không có bằng chứng cụ thể nào để chứng minh bạn “chống phá Nhà nước” phải không”?

Phạm Minh Vũ: Dạ vâng. Tôi đến đó chỉ để quan sát và cập nhật thông tin chứ không có làm gì khác.

Hòa Ái: Bạn là người phải chịu bản án cao nhất trong nhóm 3 người bị xét xử cùng với Lê Thị Phương Anh và Đỗ Nam Trung. Trong suốt 18 tháng thụ án, bạn gặp những trở ngại khó khăn nào?

Phạm Minh Vũ: Theo tôi nghĩ thì trong nhà tù VN thì hầu như ở đâu cũng thế. Vì VN không có nhân quyền cho nên chẳng phải nói nhiều hơn nữa. Có rất nhiều khó khăn ạ.

Hòa Ái: Thời gian thụ án của bạn đã kết thúc. Thông tin ra tù của bạn cũng được loan đi trên các trang mạng xã hội và được nhiều người quan tâm. Bên cạnh những lời chia sẻ chúc mừng, Hòa Ái ghi nhận cũng có không ít các bạn thanh niên trẻ trong nước nhận xét không tốt về bạn vì bạn là hình ảnh xấu, gây ảnh hưởng không tốt cho giới sinh viên…Nếu như được cơ hội tiếp xúc với họ, bạn sẽ nói gì?

Phạm Minh Vũ: Dạ, tôi nghĩ mỗi người có quan điểm riêng. Người ta nhìn vấn đề nếu chưa sát vì chỉ nhìn theo góc độ từ bên ngoài. Tôi nghĩ đa số sinh viên VN đều có sự giáo dục từ mầm non cho đến học ở cấp cao hơn trong quá trình nhồi nhét  tư tưởng cho nên phản ứng của họ như vậy là bình thường. Nếu tôi được gặp những người như thế thì tôi sẽ giải thích những hành động việc làm của tôi hầu như không sai trái. Mục đích của tôi chỉ nhằm muốn VN tiến bộ hơn. Đơn giản tôi chỉ chống Trung Quốc nhưng nhà cầm quyền lại bắt tôi. Theo tôi đó là hành động đàn áp.

Hòa Ái: Theo Hòa Ái biết, bạn từng theo học trường về lãnh vực phát thanh truyền hình, bạn có thể chia sẻ một chút rằng bạn chọn học ngành truyền thông vì ngành này đang phát triển mạnh ở VN, có thể nói là một trong những ngành thời thượng hay bạn chọn vì bạn muốn sử dụng truyền thông như một phương tiện để cất lên tiếng nói trung thực trong thời buổi VN hiện nay?

Phạm Minh Vũ: Khi tôi suy nghĩ và quyết định học Trường Phát thanh- Truyền hình I thì tôi có suy nghĩ đắn đo nhiều. Tôi mong muốn VN có tự do báo chí hơn nên tôi muốn tham gia học ở trường đó để có tư tưởng lập trường trung lập khi phát ngôn hoặc những đóng góp trong vấn đề định hướng dư luận ở VN được thẳng thắn hơn chứ không phải bị  theo kiểu của “Dư luận viên” đưa vào “văn hóa-quy củ” của Đảng cầm quyền.

Hòa Ái: Câu hỏi sau cùng là nhà trường nơi bạn học không đồng ý cho bạn đến học nữa và thân phận của bạn là một cựu tù nhân lương tâm, bạn nhận thấy con đường mình chọn đi để thay đổi VN được dân chủ hóa hơn, văn minh hơn mà bị tù đày, điều này có khiến cho bạn bị nản lòng không? Hay sau bản án tù này thì bạn càng mạnh mẽ để dấn thân?

Phạm Minh Vũ: Xã hội VN là một xã hội chuyên quyền độc tài do Đảng CSVN cầm quyền, cai trị. Chỉ khi nào Đảng CSVN từ bỏ quyền lực, chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì lúc đó tôi mới ngừng con đường đấu tranh.

Hòa Ái: Cảm ơn thời gian chia sẻ của bạn Phạm Minh Vũ dành cho đài ACTD. Ngay trước khi bạn bị bắt, Hòa Ái được biết thân phụ của bạn vừa qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo. Nhân đây, Hòa Ái kính lời chia buồn cùng bạn và gia đình. Cầu chúc bạn sức khỏe và mọi sự bình an. 

ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

 Huỳnh Ngọc Chênh

Đến dự phiên toà xét xử Nguyễn Mai Trung Tuấn có thầy giáo chủ nhiệm năm lớp 9 là năm học cuối cùng của cuộc đời học sinh của em.

Thầy cho biết liên tục từ lớp 6 đến lớp 9 em là học sinh ngoan luôn luôn đạt hạnh kiểm tốt. Mẹ em, bị cáo của phiên toà trước, cũng xuất hiện trước toà cho biết em là đứa con ngoan hiền trong gia đình, tuy còn nhỏ nhưng đã biết giúp đỡ cha mẹ và lo lắng cho em.

Điều gì đã đẩy một cậu bé ngoan hiền như em vào con đường chống lại cả một hệ thống cơ quan quyền lực?

Phát biểu tại toà, ông Nguyễn Trung Cang, cha em đã nói nếu chính quyền địa phương vận dụng quyết định 3047 và 2282 (?) thay vì các quyết định 3629 và 2772 liên quan đến đền bù giải toả thì đã không đẩy gia đình ông vào bước đường cùng như hôm nay: mất đất, tan nhà, hai vợ chồng vào tù và đứa con 15 tuổi bé bỏng của ông cũng đối diện với phiên toà.

Miếng đất mà gia đình ông sinh sống trên đó từ bao đời, nhờ vào đó mà gia đình ông mới mở quán buôn bán làm ăn mang đến nguồn thu nhập để nuôi hai con ăn học. Cướp miếng đất đó đi không những là cướp đi chỗ ở duy nhất mà còn triệt tiêu phương tiện sinh sống từ bao lâu nay của gia đình ông.

Gia đình ông quyết liệt chống lại lệnh cưỡng chế vì sự vận dụng phi lý của chính quyền địa phương và vì không còn con đường sống.

Sáng ngày 14/4/2015 là ngày lực lượng cưỡng chế đến trấn áp gia đình bất hạnh đó, cậu bé Trung Tuấn quá thương cha mẹ không thể cắp sách đến trường được. Cậu quyết định ở lại nhà với… bom xăng và ná cao su để ngăn cản lực lượng cưỡng chế hùng hậu được vũ trang đến tận răng theo như tư duy trẻ con của cậu.

Cậu đã ném bom xăng xuống mặt đường trước cửa nhà với hy vọng ngăn cản không cho lực lượng hung dữ đó vào nhà bắt cả nhà cậu đi. Đám lửa nhỏ nhoi ấy cũng không ngăn cản được ai, cậu hoảng hốt dùng đến ná cao su bắn vào đoàn người cưỡng chế. Nhưng cậu cũng chẳng bắn trúng được ai.

Khi lực lượng cưỡng chế do trung tá công an dẫn đầu tràn vào thì ngôi nhà bùng lên bốc cháy. Hoảng loạn cũng bùng lên. Hoảng loạn đến mức viên trung tá chỉ huy cũng quay lưng bỏ chạy ra ngoài. Trong bối cảnh đó, lại vang lên các tiếng thét của lực lượng cưỡng chế: Bắt lấy nó, bắt lấy nó!

Cậu bé không còn biết suy nghĩ gì nữa, sẵn ca axit của ba cậu dùng để chế bình ăc quy xe (ba cậu làm nghề sửa xe) để gần đó, cậu đã chụp và tạt ra ngoài, ngẫu nhiên trúng vào lưng ông trung tá công an đang xoay lưng bỏ chạy vì hoảng loạn.

Nếu thương tật của ông trung tá ở mức 30% thì Tuấn đã vô tội. Nhưng luật sư Nguyễn Văn Miếng cho rằng có vấn đề trong chuyện giám định thương tật. Cơ quan giám định của địa phương chưa khách quan, thủ tục giám định có sai trái, bản kết quả giám định đưa ra toà là bản sao chứ không phải bản chính, hai giám định viên được luật sư yêu cầu ra làm chứng cũng không có mặt… Luât sư Miếng nghi ngờ mức thương tật 35% mà giám định đưa ra, cái mức vừa đủ khít để cò thể truy tố Tuấn về hành vi tấn công gây ra thương tích.

Trực tiếp nghe phiên toà (qua loa bắt ra ngoài) tôi thấy cả một hệ thống toà án đang truy bức cậu bé. Từ chủ toạ phiên toà, đến hai vị hội thẩm đến công tố viên đều đặt ra những câu hỏi áp chế, mớm cung để gài cậu bé từ hành vi không cố ý thành hành vi cố ý.

Luôn miệng những người này dùng từ “trừng trị”, “răn đe” khi xét hỏi cậu bé 15 tuổi.

Bản án đã tuyên y như mức mà công tố viên đã hăm hở đề nghị. Tất cả những bào chữa hợp lý của luật sư Miếng đều bị gạt bỏ.

Cả một hệ thống vào cuôc một cách thô thiển, thô bỉ và tàn bạo đến bất nhân để đẩy một gia đình dân lành vào bước đường cùng.

Phiên toà kết thúc, tôi đứng lên và bắt gặp ngay cô bé Nguyễn Mai Thảo Ly – em gái của Tuấn. Em cố gượng cười để tôi chụp ảnh, nhưng miệng em cứ méo dần đi. Mắt em buồn rười rượi. Em sẽ đi về đâu khi không còn nhà, không còn cha, không còn mẹ và không còn cả người anh trai thương yêu, sẵn sàng đi chăn vịt để kiếm tiền nuôi em đi học khi cha mẹ đã vào tù.

clip_image002

Em gái Thảo Ly của bị cáo 15 tuổi.

clip_image004

Đến dự phiên toà “công khai” bên ngoài hành lang là đông đảo dân oan từ khắp mọi miền.

clip_image006

Công an khắp mọi nơi bám theo người dân đến dự phiên toà.

H.N.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/ho.lytien.1?pnref=story

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

A. Trong mấy ngàn năm qua, đặc biệt từ khi tộc Hoa du mục hiếu chiến thành hình ở phương Bắc, từ năm 1046 ttl, người Tộc Việt chuyên trồng lúa nước, hiếu hòa, ở phương Nam, luôn bị giặc Hoa cướp bóc, xâm lăng.

Không kể những cuộc xâm lấn nhỏ, đã có 13 lần phương Bắc xua đại quân xâm lấn phương Nam, đặc biệt Việt Nam. Nhưng trong tất cả 13 lần đó, Dân Việt đều đại thắng các đoàn quânPhương Bắc. Đã mười ba lần, Dân ta đại thắng !

Lần thứ 1 : Năm 1218 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc ÂN, Đức PHÙ ĐỔNG

Theo sách vở Trung Hoa, năm 1218 ttl, Ân Cao Tôn đã đánh Quỷ Phương, vùng Đồng Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn ‘không thắng’. [Nhà Ân còn được gọi là Nhà Hậu Thương].

Theo Truyền kỳ Phù Đổng của Việt Lạc, Ân Cao Tôn đã xâm lấn nước ta ba năm và đã bị đánh bại.

* Như thế, theo Truyền kỳ Phù Đổng, cách đây 3200 năm, dân Việt Lạc đã là một quốc gia vững mạnh. Nước nầy đã có tổ chức chặt chẽ, có vua quan, có làng xã, có cúng tế, có lúa gạo, có vải áo, có lũy tre… đã đúc được ngựa sắt, roi sắt, đã có tinh thần dân tộc cao độ… và, theo sách vở Trung Hoa, đã chiến thắng giặc Ân vào thời kỳ hùng mạnh nhất của chúng.

[Vào thời kỳ nầy, tộc Hoa chưa thành hình. Phải hơn 100 năm sau, bộ lạc Chu mới gom góp các bộ lạc du mục khác ở vùng Thiểm Tây, và thành lập Nhà Chu. Từ đó, tộc Hoa mới thành hình và phát triển].*1

*     *

Lần thứ 2 : Năm 214 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TẦN

Năm 214 ttl, Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Trung Hoa, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Đây là đoàn quân tinh nhuệ vừa giúp Tần Thủy Hoàng đánh chiếm sáu nước và thành lập nước Trung Hoa.

Nhưng mấy năm sau, Đồ Thư đã bị quân Việt đánh bại, quân giặc chết quá nửa, Đồ Thư bị giết.*2

* Theo cách hành quân của Trung Hoa, mỗi người lính đem theo một phu phục dịch. Số người vận chuyển lương thực cũng không được kể là lính. Vì vậy, số người Trung Hoa xâm nhập có thể nhiều gấp 3 lần con số quân lính được kể tới, dầu là con số trung thực.

*     *

Lần thứ 3 : Năm 181 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TÂY HÁN

Năm 181 ttl, triều Hán sai Long Lân hầu Chu Táo kéo quân sang xâm phạm Lĩnh Nam, đánh Nam Việt. Theo sách vở Trung Hoa, quân Hán không chịu được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bịnh tật, bởi vậy phải thua chạy về bắc. Sau đó, triều Hán xét việc Nam chinh không lợi, nên không đánh nữa (!).*3

*     *

Lần thứ 4 : Năm 40 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA ĐÔNG HÁN và TÁI CHIẾM TOÀN THỂ VÙNG ĐẤT VIỆT LẠC, Đức TRƯNG NỮ VƯƠNG – ĐẠI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM

Năm 30 dl, Hán Quang Vũ áp đặt chế độ trực trị trên vùng đất Việt Lạc. Do đó, toàn dân Việt vùng lên kháng chiến, và bầu Đức Trưng Trắc là Thủ Lãnh. Sau 10 năm, Dân ta đã đánh đuổi toàn bộ quân Tàu ra khỏi vùng đất Việt Lạc, chiếm lại 65 thành.

Thời gian qua, sách sử Trung Hoa đã giảm thiểu vùng đất và sức mạnh của dân Việt thời đó. Ngày nay, đã có đủ chứng cứ xác định vị trí, tình hình và vùng đất bao la của việc quân dân Việt đánh chiếm lại 65 thành, và đánh bại đại quân hùng hậu của hoàng đế Quang Vũ nhà Hán.

Thời đó, vùng đất Việt Lạc nay là Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, và một phần Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến của Trung Hoa, xuống tới Hải Vân… Và Hán Quang Vũ đã phải vận dụng toàn thể binh lực của ‘thiên triều’.

Đức Trưng Nữ Vương đáng được tôn hiệu ĐAI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM.*4

*     *

Lần thứ 5 : Năm 541 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA LƯƠNG, Đức NAM VIỆT ĐẾ

Năm 541 dl Đức Nam Việt Đế, húy là Lý Bôn,  đánh đuổi quân trú đóng Trung Hoa, giành độc lập. Năm 544 xưng là Nam Việt Đế, niên hiệu Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Lập ra Nhà Tiền Lý.

Đây là lần đầu tiên sách sử Trung Hoa ghi lại quốc hiệu và niên hiệu của dân ta.

Nhà Tiền Lý kéo dài 61 năm, từ 541 tới 602 dl.*5 

*     *

Lần thứ 6 : Năm 938 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA NAM HÁN, Đức NGÔ NAM ĐẾ

Từ năm 906 dl, Đức Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự trị khỏi tay người Trung Hoa. Truyền được 3 đời.

Năm 938, vua Trung Hoa Nam Hán sai thái tử là Hoằng Tháo kéo quân xâm lấn. Với trận cọc gỗ bọc sắt trên sông Bạch Đằng, Đức Ngô Nam Đế, huý là Ngô Quyền, đã đại thắng quân Hán, giết chết thái tử Hoằng Tháo. Hoàng đế Nam Hán là Lưu Cung cũng kéo quân tiếp ứng theo đường bộ. Nghe tin, ông khóc và rút về.*6

*     *

Lần thứ 7 : Năm 981, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 1, Đức LÊ ĐẠI HÀNH

Năm 981 dl, vua Tống sai tướng Hầu nhân Bảo kéo quân xâm lấn, theo hai đường bộ và thủy. Vì vua nước ta là Đinh Tuệ mới 8 tuổi, nên quân sĩ tôn tướng Lê Hoàn lên ngôi, tức là Đức Lê Đại Hành. Với một trận Chi Lăng, quân ta phá tan đoàn quân Tàu, giết Hầu nhân Bảo. Đoàn quân giặc theo đường biển vội vàng rút lui.*7

*     *

Lần thứ 8 : Năm 1076, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 2, Đức LÝ NHÂN TÔN, Danh Tướng LÝ THƯỜNG KIỆT

Năm 1072 dl, vua Lý nhân Tôn lên ngôi. Vì vua mới 7 tuổi, nên việc quân đều ở trong tay danh tướng Lý Thường Kiệt.

Năm 1075, Lý thường Kiệt và Tôn Đản kéo 10 vạn quân tái chiếm vùng châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, [vốn thuộc vùng đất Việt Lạc], nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây.

Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết kéo hơn 30 vạn quân sang xâm lấn Nước ta. Nhưng chúng bị đánh tan ở sông Như Nguyệt. Giặc Tàu kéo tới hơn 30 vạn, chỉ còn 2 vạn 8 trở về !*8

*     *

Lần thứ 9 : Năm 1258, ĐẠI THẮNG Giặc MÔNG CỔ Lần 1, Đức TRẦN THÁI TÔN

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, chìếm đóng từ Á sang Âu.

Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lý].

Vua Trần thái Tôn lo sợ, hỏi ý kiến Trần Thủ Độ. Trần thủ Độ khẳng khái : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo !”.

Chỉ mấy ngày sau, vua Trần thái Tôn dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu. Trên đường rút lui, quân Mông Cổ còn bị quân ta chận đánh tan tành ở vùng Qui Hóa.*9

*     *

Lần thứ 10 : Năm 1284, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 2, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Năm 1271 Hốt Tất Liệt (Khubilai) trở thành Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ, đổi quốc hiệu thành Nguyên. Năm 1279, quân Nguyên chiếm trọn đất Trung Hoa. Đế quốc Mông Cổ bao trùm 40 quốc gia từ Á sang Âu.

Năm 1284, Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan (Toghan), cùng với các danh tướng Toa Đô (Suodu), Ô Mã Nhi, kéo 50 vạn quân xâm lăng Đại Việt. Quân Nguyên còn có thủy binh từ Chiêm Thành đánh lên. Khi đó, toàn thể quân Đại Việt chỉ có 20 vạn.

Trước tình hình nguy biến, nhiều người muốn hàng hoặc tìm kế hoãn binh. Nhưng các tướng Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư cương quyết xin đem quân trấn giữ.

Vua Trần Nhân Tôn liền triệu tập các bô lão trong dân tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn thể đồng thanh xin Đánh !

Trước thế giặc quá mạnh, quân ta phải rút về Vạn Kiếp. Ở phía Nam, quân Nguyên từ Chiêm Thành cũng đã chiếm Nghệ An.

Vua Nhân Tôn lại lo sợ, ‘muốn hàng để cứu muôn dân’. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp : “Bệ Hạ nói câu ấy thật là lời nhân đức. Nhưng Quê hương Dân tộc thì sao ? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã !”

Thoát Hoan dùng đại bác bắn phá, và vào được Thăng Long. Triều đình ta chạy về Thanh Hóa.

Khi đó tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan dụ hàng và hỏi : “Có muốn làm Vương không ?” Trần Bình Trọng quát to : “Ta thà làm quỷ Nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc !”

Tháng 5 năm 1285, tướng Trần Nhật Duật phá được quân Toa Đô ở cửa Hàm Tử.

Sau đó, tướng Trần Quang Khải đưa quân đi thuyền từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương, rồi dùng phục binh chiếm lại Thăng Long.

Đức Hưng Đạo Vương thì đem quân đánh ở Tây Kết, và giết được Toa Đô. Quân ta bắt được 3 vạn quân Nguyên và vô số chiến thuyền, khí giới.

Hưng Đạo Vương lại sai phục kích chận mọi đường quân Nguyên có thể rút lui, và tự mình dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh Thoát Hoan. Quân Nguyên thua chạy, tới bến Vạn Kiếp bị phục kích, chết quá nửa. Thoát Hoan trốn thoát về Tàu.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1697 dl, quân Nguyên kéo qua 50 vạn và sáu tháng sau, chỉ còn 5 vạn rút về.*10

*     *

Lần thứ 11 : Năm 1287, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 3, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Cuối tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan lại theo hai đường thủy bộ, kéo thêm 50 vạn quân xâm lấn, với hơn 800 chiến thuyền, cùng với đoàn tàu 100 chiếc chở lương thực. [Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư]. Phía Đại Việt có khoảng từ 20 tới 30 vạn quân.

Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng sợ bị cắt đường liên lạc, nên tập trung ở Vạn Kiếp.Bộ chỉ huy của Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng.

Tướng Trần Khánh Dư đưa quân phục ở bến Vân Đồn và phá tan đoàn thuyền lương.

Tháng 3 năm 1288, cạn lương, Thoát Hoan sai Ô mã Nhi mở đường theo sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương lại dùng kế đóng cọc bịt sắt xuống sông Bạch Đằng (như Đức Ngô Quyền năm 938 dl).

Với trận Bạch Đằng, quân ta tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc Nguyên. Nghe tin thủy quân tan vỡ, Thoát Hoan kéo chạy về qua vùng Bắc Giang và Lạng Sơn, và cũng bị quân Đại Việt chận đánh tan tành.*11

*     *

Lần thứ 12 : Năm 1428, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MINH, Đức LÊ THÁI TỔ

Năm 1406, giặc Minh kéo quân xâm lấn nước ta. Nhà Hồ thua. Giặc Minh, với Trương Phụ, bắt đầu chính sách đồng hóa dân ta với dân Tàu…

Năm 1418, nông dân Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa, tự xưng là Bình Định Vương, gởi hịch kể tội giặc Minh và nêu rõ mục đích đánh đuổi quân giặc cướp nước.

Năm 1426, sau 8 năm gian khổ, với nhiều lần nguy cấp, Bình Định Vương thắng trận Tụy Động, và bao vây thành Đông Quan, Thăng Long.

Cuối năm 1427, giặc Minh lại đưa thêm 2 đạo quân sang đánh Đại Việt. Đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu với hơn 10 vạn lính, 2 vạn ngựa. Đạo quân do Mộc Thạnh dẫn 5 vạn lính và 1 vạn ngựa. Nhưng tại Chi Lăng, quân ta giết Liễu Thăng, phá tan toàn bộ quân tiếp viện của giặc, bắt sống hơn 3 vạn quân Tàu. Mộc Thạnh nghe tin, bỏ chạy. Quân Nam theo đánh, giết hơn 1 vạn giặc Minh.

Nghe tin, Vương Thông đang chiếm đóng Đông Quan [Thăng Long], viết thư cầu hòa, và xin cho chúng rút quân về Tàu. Số tù binh, hàng binh và vợ con được thả về Tàu lên hơn 10 vạn người.*12

*     *

Lần thứ 13 : Năm 1789, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÃN THANH, Đức QUANG TRUNG

Năm 1788, Tôn Sĩ Nghị kéo 20 vạn quân Nhà Thanh, chia làm 3 đạo, tiến đánh Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ở Huế, được tin, tính chuyện tiến đánh. Quan quân xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.

Đức Quang Trung kéo quân ra tới Nghệ An, nghỉ 10 ngày để mộ thêm lính. Tất cả được 10 vạn quân và 100 con voi.

Đức Quang Trung cho ăn Tết sớm, đêm 30 sẽ kéo quân đi, và hẹn ngày mùng 7 Tết sẽ ăn Tết lại tại Thăng Long.

Trận đánh thần tốc đã phá hết các đồn giặc, đến nỗi chúng không kịp báo tin cho nhau. Chỉ trong mấy ngày, quân ta đánh chiếm từ Giản Thuỷ, tới Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi… Sáng mùng 5 Tết, quân ta vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, lên ngựa tháo chạy. Giặc Tàu chạy theo, chết đuối chật sông Hồng. Các đạo quân giặc ở phía Bắc cũng tất tả rút chạy. Tất cả đều chỉ trong 5 ngày.*13

*     *     *     *

B1. TỔNG KẾT SƠ KHỞI

Như vậy, chỉ kể những lần Trung Hoa xua đại quân xâm lấn Nước Nam, dầu sách vở Trung Hoa đã giấu bớt quân số vì bị thất trận, tổng số các đoàn quân xâm lăng Trung Hoa đã có hơn 40 danh tướng, hằng ngàn đại tướng, và hơn 450 vạn quân sĩ. [Theo con số thông thường, tức là hơn 4.500.000 giặc]. Đang khi đó, kể cả dân số, tài nguyên, quân sĩ, phương tiện chiến đấu… dân ta không bao giờ tương xứng với quân Trung Hoa xâm lược. Nhưng bất cứ lần nào, Đại Việt cũng đại thắng !

*     *

B2. TRUNG HOA : TÊN KHỔNG LỒ CHIẾN BẠI

Điểm đáng chú ý là trong 900 năm vừa qua, trong khi Việt Nam đánh bại mọi cuộc xâm lăng của Trung Hoa, thì chính Trung Hoa lại bị Kim, Mông, Mãn,Âu, chiếm đóng và thống trị.

Đáng chú ý hơn nữa, tuy tình hình thay đổi tùy thời, nhưng trong tất cả những lần xâm chiếm Trung Hoa đó, từ Kim, đến Mông, Mãn… lần nào thực lực xâm lấn, kể cả dân số, lãnh thổ, sản lượng, kỹ thuật, chiến cụ, quân đội… cũng đều không bằng một phần mười của Trung Hoa đương thời. Nhưng Trung Hoa đã luôn là kẻ chiến bại.

Ngoài ra, những nhóm người man di và ít oi đó, lại thống trị Trung Hoa vĩ đại tổng cộng hơn 500 năm. Kim 108 năm (1126-1234 dl), Mông 134 năm (1234-1368 dl), Mãn 267 năm (1644-1911 dl), trong đó có 72 năm chung với Âu (1839-1911 dl). Đó là chưa kể từ năm 1949 dl tới nay, dưới gọng kềm chủ nghĩa Cộng sản của Âu.

Trong suốt hơn 5 thế kỷ đó, kể cả hiện nay, người dân Trung Hoa buông xuôi, khuất phục, còn giới nho sĩ Trung Hoa lại chỉ biết phủ phục tuân lịnh ‘vị Thiên tử’ ngoại xâm để thẳng tay hành hạ và đàn áp người dân.

* Thực vậy, Trung Hoa luôn là tên khổng lồ chiến bại. Nguyên nhân chính là ách thống trị của bọn ‘thiên tử, thiên triều’ tham tàn bạo ngược, đã biến người dân Trung Hoa thành những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp.Trong suốt 3000 năm qua, hơn 99% người dân Trung Hoa chì là những tên nô lệ đói khát, tự ti, khiếp nhược, không lý tưởng, không nhân phẩm, chỉ biết tham lợi bất chấp thủ đoạn.

Khi mọi người dân chỉ là những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp, khiếp nhược, không ý chí, không tinh thần dân tộc, không đoàn kết… thì sức mạnh trình diển của bọn quan quyền ‘thiên triều’ Trung Hoa cũng chỉ là cái vỏ mỏng manh che đậy sự rời rạc của hàng tỉ mảnh vụn vị kỷ, hèn nhát. Chiếc bong bóng căng cứng nầy sẽ sớm vỡ tan với chỉ một thoáng cọ xát.

Đây là thực tế lịch sử ngàn năm, và cũng là hiện tại.*14

*     *

B3. ƯU THẾ CỦA CHÚNG TA

Hơn nữa, trong tất cả mọi cuộc chiến chống Phương Bắc, Tổ Tiên chúng ta đã chỉ tự sức chiến đấu đơn độc một mình. Các Ngài đã không có bất cứ một yểm trợ nào do bất cứ từ đâu tới. Nhưng bất cứ lần nào, Việt Nam cũng đại thắng Trung Hoa ! Tất cả 13 lần, đều đại thắng.

Về phần chúng ta, hiện nay, chúng ta lại đang được yểm trợ từ khắp nơi. Trước hiểm họa Trung Hoa bành trướng, xâm lăng, trộm cướp, gian manh, phá hoại các nền kinh tế, lũng đoạn các thể chế… mọi người, mọi dân nước trên toàn thế giới, đều sẵn sàng tiếp tay chúng ta triệt hạ mối họa chung là Giặc Trung Hoa. Bạn hữu chúng ta lại nhiều ưu thế hơn Giặc Tàu.

Với bất cứ giá nào, ở bất cứ phương diện nào, các cường quốc hiện đại không thể nhường Trung Hoa cưỡng đoạt vị thế hùng mạnh nhất thế giới, nhất là khi toàn thể binh lực Trung Hoa cũng không bằng một phần nhỏ các hạm đội đối nghịch…

Hơn nữa, toàn thể dân Việt hiện nay, ở khắp làng xóm hang cùng ngõ hẻm, đều nôn nức vùng lên chiến đấu Đánh Giặc Tàu. Tinh thần dân tộc và đoàn kết chưa từng bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ như hiện nay. Mọi người đều sẵn sàng.

Cũng phải kể thêm mấy triệu người Việt trên thế giới cũng đang sẵn sàng đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, và nhất là trí lực, chuyên môn, kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm, và ảnh hưởng… ở mọi lãnh vực ngoại giao, chính trị, kinh tế, tài chính, quân sự, xã hội… Tất cả đều được huy động tối đa để Đánh Giặc Tàu !

Chúng ta có nhiều ưu thế hơn Tổ Tiên chúng ta gấp bội.

CHÚNG TA cũng sẽ ĐẠI THẮNG giặc TÀU, lần thứ 14.

*     *     *     *

GHI CHÚ

*1412. Ký số của Bài trong danhgiactau.com.

*1 – Đọc bài 1106. Tộc Việt Thời Hùng 3, đoạn 4.2; và bài 1107. Việt và Hoa Thời Hùng 4A, phần 1.

*2 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, do Trần Trọng Kim, nxb Trung Tâm Học Liệu, Sàigòn 1971, q1, tr 18. – Đọc bài 1108. Việt và Hoa Thời Hùng 4B-C, đoạn 3.3].

*3 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 30; Việt Sử Toàn Thư, do Phạm văn Sơn, nxb Thư Lâm, Sgn 1960, tr 89. – Về thủy thổ phương Nam, đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam, đoạn 6.3.

*4 – Đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 39-40.

*5 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 53-56.

*6 – Đọc thêm nt, q1, tr 66-68.

*7 – Đọc thêm nt, q1, tr 89-90.

*8 – Đọc thêm Vân Đài Loại Ngữ, do Lê Quý Đôn, (viết năm 1773 dl), nxb Tự Lực, Sgn 1974, tr 174-175, dẫn Nhị Trình Di Thư, do Trình Di, và Uyên Giám, do Hoàng đình Kiên.

*9 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 126-128.

*10 – Đọc thêm nt, q1, tr 137-150; Việt Sử Toàn Thư, tr 246-248.

*11 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 151-161.

*12 – Đọc thêm nt, q1, tr 217-234.

*13 – Đọc thêm nt, q2, tr 130-134.

*14 – Về chủ thuyết Thiên Tử Thế Thiên và hệ quả, đọc bài 1413. Nguy Cơ Đại Họa và Tử Huyệt của Trung Hoa.

_____________________

Nguyễn Thanh Đức 2013.

TẠ ƠN LÀ MỘT TÂM TÌNH

TẠ ƠN LÀ MỘT TÂM TÌNH

TA ON

Mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, Thanksgiving, người ta hay nhắc đến chuyện người phung cùi trở lại cám ơn Ðức Kitô trong Phúc Âm Luca.

Trên đường lên Jêrusalem, Ðức Giêsu đi ngang qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilêa.  Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phung cùi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa, và kêu lớn tiếng:  “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.”  Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ:  “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Ðang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn họ thấy mình được khỏi liền quay trở lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dưới chân Ðức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Ðức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc. 17: 11-19).

Tôi nghĩ câu chuyện tạ ơn của người phung cùi không dừng lại ở đây.  Không dừng lại ở lời tạ ơn Chúa mà thôi.  Nó gọi ta đến một đường cong sâu hơn và xa xôi hơn.  Tạ ơn là tâm tình đòi hỏi một tấm lòng.  Tâm tình này là bản phiên dịch của một nội tâm.  Chính bản phiên dịch nội tâm này nói trung thực cho ta biết mình là ai.

Tôi muốn nhìn vào nội tâm người phung cùi, để đi tìm chiều kích lời tạ ơn của anh ta với Ðức Kitô. Nó đến từ một đường cong sâu xa nào?

Bối cảnh văn hóa, tôn giáo, lịch sử.

Người Do Thái trong thời Chúa Giêsu không chấp nhận những người phung cùi sống trong làng.  Họ phải sống cô lập ngoài sa mạc, xa xôi ngoài cánh đồng.  Khi gặp Ðức Giêsu, họ cũng đứng “từ đàng xa” chứ không dám lại gần.  Họ bị coi là những kẻ tội lỗi, bị Thiên Chúa giáng án phạt.  Hiểu như thế mới thấy nỗi cô đơn của kẻ mang bệnh tật này.  Trong thời đại ấy, người Do Thái cũng không chấp nhận chung sống với người ngoại giáo.  Họ đối nghịch đến độ thù hận nhau.

Cộng đoàn những người cùi.

Theo mạch văn của đoạn Kinh Thánh, Chúa hỏi: “Còn chín người kia đâu.”  Như vậy chín người kia cộng với anh cùi đến tạ ơn Chúa, tất cả mười người.  Tại sao có mặt người cùi ngoại giáo trong cộng đoàn những người cùi Do Thái?  Tại sao những người cùi Do Thái lại để người cùi xứ Samaria theo mình nhập bọn?  Ðoạn Kinh Thánh trên tường thuật là “một người trong bọn họ.”  Cụm từ “một người trong bọn họ.”  Cho thấy chín người Do Thái Giáo và một người Samaria đã sống chung, đi chung một con đường, là một cộng đoàn.

Chuyện này dường như cũng không xa lạ giữa hoàn cảnh xã hội hôm nay.  Trong những hành trình gian khổ, dường như người ta vượt qua mọi biên giới để sống với nhau.  Có những tình nghĩa vợ chồng, khi nghèo khó, họ sống đời đùm bọc nhau.  Cùng nhau đẩy chiếc xe đạp chở ngô khoai.  Cùng nhau chèo một con đò, buôn thúng bán bưng nuôi con.  Rồi có thể họ mất nhau khi mỗi người có một địa vị, một công ty riêng.  Lúc lâm nạn, người ta vượt qua biên giới chủng tộc, tôn giáo, để cứu nhau. Rồi người ta xây nên những thành trì, những bức tường tôn giáo khi người ta có đền thờ riêng.

Tại sao trong cộng đoàn mười người cùi này lại có một người ngoại giáo.  Tại sao họ chung sống với nhau?

Khổ đau dường như có một giá trị rất sâu trong câu chuyện này.  Rất nhiều trường hợp, khi hết yếu đuối, hết nghèo khó, họ xa nhau.  Trên đường đi tạ ơn này, chín người kia đi về một phía, người Samaria đi về một phía.  Không còn một cộng đoàn những người cùi khác tôn giáo.

Với chín người cùi, họ có thể liên kết lại để cô lập người cùi Samaria.  Nhưng ở đây, họ chung sống, chấp nhận người cùi khác tôn giáo này.  Dường như trong cô đơn tận cùng vì bị xã hội chối bỏ, họ được đốt cháy hết những địa vị, tên gọi, và khi được bóc trần đến phẩm giá sau cùng, họ thấy họ giống nhau ở một tên gọi duy nhất là làm người.

Giá trị cùng đích sau hết vẫn là: Làm người.

Dường như tôn giáo cũng rất cần luôn luôn được thanh tẩy để khỏi bám bụi.  Những giá trị ngoài nhân đức như đền thờ, tổ chức, ảnh hưởng, rất có thể đưa con người xa cách nhau.

Mọi tôn giáo đều tìm cách dạy con người ý nghĩa của cô đơn, đau khổ.  Nhưng ý nghĩa đẹp nhất của đau khổ và cô đơn lại là vượt qua mọi tôn giáo để đùm bọc nhau cho con người bớt cô đơn và đỡ khổ đau.

Rồi tình yêu cũng thế.  Tình yêu cũng cần thanh tẩy.  Những giá trị ngoài nhân đức như nhan sắc, địa vị, vàng bạc, rất có thể sẽ đưa con người xa cách nhau.  Trong đời sống, ai cũng cần chịu ơn nhau.

Phải nghèo một chút để biết xin.

Phải yếu một chút để biết nương tựa.

Nhìn lại, người cùi xứ Samaria, trong “bọn họ”, anh ta là thiểu số, anh chỉ có một thân, một mình.

Tôi nghĩ anh ta trở lại tạ ơn Thiên Chúa vì đời anh quen tâm tình tạ ơn rồi.  Ngay những ngày sống chung với chín người kia, biết mình thiểu số mà được chấp nhận, anh ta đã sống lòng biết ơn đó.  Tạ ơn là một bản phiên dịch nội tâm của anh.

Câu chuyện cộng đoàn mười người cùi được chữa lành rất đẹp vì họ đã sống với nhau.  Nếu sau khi được chữa lành, tất cả đều trở lại tạ ơn Thiên Chúa thì câu chuyện kết thúc quá lý tưởng.  Tại sao chín người kia không trở lại?

Rất có thể chín người kia không quen tâm tình tạ ơn.  Rất có thể họ chấp nhận người cùi Samaria như là cho ơn hơn là lãnh nhận.

*********************

Tôi thụ phong linh mục năm 1989.  Cũng năm này tôi được gởi qua trại Palawan, Philippines giúp đồng bào tỵ nạn.  Những ngày đó, chúng tôi đã có những kỷ niệm đẹp, tôi đã viết bài “Palawan Mùa Phật Ðản”, năm 1992, đăng trong báo Ðường Sống.

Năm 1995 tôi rời trại tỵ nạn.  Tôi xa khúc đường trong trại, một bên có hương trầm nhà Chùa, một bên có tiếng chuông nhà Chúa.  Rồi một hôm, mười năm sau, kỷ niệm lại về như nghe tiếng mõ tụng kinh quen thuộc ngày nào đó, bên Chùa.  Ðó là vào ngày 28 tháng 12 năm 2004.  Sau lễ Giáng Sinh, tôi đang giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn các Sơ Ðaminh Việt Nam ở Houston.  Tôi nhận được một lời nhắn trong chiếc phôn cầm tay:

Dạ, kính linh mục Nguyễn Trọng Tước.

Ðây tôi là Thích Thông Ðạt từ San Jose gọi chúc mừng trong mùa Giáng Sinh với New Year.  Chúc mừng linh mục dồi dào sức khỏe.  Happy Merry Christmas.  Happy New Year.  Dạ, kính linh mục.  Khi nhận được message xin cho gặp số phôn 408-926-1998.  Kính chúc mừng linh mục trong mùa Chúa Giáng Sinh cũng như đầu năm mới.

Kính linh mục.

Tôi hết sức ngạc nhiên.  Một Thầy bên Chùa đã mười năm xa cách.  Từ ngày Thầy rời trại tỵ nạn Palawan, bằng ấy năm không hề gặp lại nhau.  Mười năm không liên lạc.  Bỗng dưng Thầy tìm phôn gọi tôi, vì Thầy muốn chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Những kỷ niệm xa xưa.

Kính Thầy Thông Ðạt,

Những ngày ở trại tỵ nan, những ngày ấy chúng ta có nhiều kỷ niệm quá nhỉ.  Vào mùa Phật Ðản và Giáng Sinh, năm nào chúng ta cũng có những món nợ.  Chúng ta cho nhau mượn cái trống, mấy sợi giây đèn.  Các em Thiếu Nhi cho nhau mượn mấy mét vải, cái đầu lân để làm văn nghệ.  Chúng ta đã nợ nhau tình thương mến.

Thời gian đã xa xôi quá, như đang xóa nhòa dần đi.  Bỗng dưng mười năm sau, Thầy tìm điện thoại, gọi chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Mười năm là thời gian dài lắm đó Thầy ạ.  Thế là tôi lại “nợ” Thầy.

Thánh Phaolô đã căn dặn các tín hữu của ngài: “Các con hãy nợ nhau tình thương mến” (Rom. 13: 8).  Bây giờ chúng ta đã xa những ngày tỵ nạn cho nhau mượn cái bát, tô cơm.  Thầy Thông Ðạt có thể nay đã có chùa riêng, có đoàn Phật Tử đông đảo.  Chả ai phải mượn ai.  Chùa của Thầy chăng rợp hoa đèn ngày lễ.  Chả ai cần ai.  Thầy gọi điện không là để mượn gì cả, cũng chẳng hỏi tôi có mượn cái đầu múa lân không, chỉ để chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Thầy gọi điện vì nhớ về khung trời tỵ nạn có những kỷ niệm bên bờ đời sống.  Tình thương mến.

Có những cặp vợ chồng nay mỗi người là một giám đốc.  Chẳng ai phải nhờ ai.  Có những anh em, không ai phải cậy ai.  Xa những ngày nghèo túng rồi.  Không ai phải dựa ai.  Ðầy đủ.  Mà sao cứ như có nỗi vắng trong lòng.

Hay là người ta thiếu nhau món nợ tình thương mến?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J. –

Trích tập suy niệm Ðường Ði Một Mình

 

Môn học lịch sử trong giáo dục đang khủng hoảng

Môn học lịch sử trong giáo dục đang khủng hoảng

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-11-23

Thí sinh duy nhất thi Môn Sử tại điểm thi Trường THPT Yên Thành 2. Sáng 4/7/2015 vẫn có 66 cán bộ nhân viên phục vụ duy nhất 1 thí sinh, gồm 48 cán bộ coi thi, 12 nhân viên bảo vệ và 6 cán bộ phục vụ thi.

Photo: TT đăng trên doisongphapluat.com

Dự tính của Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam sẽ bỏ môn học lịch sử và thay thế bằng môn “công dân và tổ quốc” đã gặp rất nhiều phản biện từ giới nghiên cứu lịch sử nói riêng và trí thức nói chung. Trong cách nhìn nhận của những người quan tâm về vận mệnh đất nước cũng như quan tâm về khoa học lịch sử, hành vi gở bỏ môn học lịch sử để thay thế bằng một môn học khác có tính tuyên truyền bằng cách mượn một số thông số của lịch sử là một sự thất bại, cho dù đứng trên góc độ nào. Nhưng nhìn chung, có hai vấn đề thất bại nổi trội và căn bản nhất, đó là triệt tiêu lòng yêu nước và xóa mờ mọi ký ức dân tộc.

Bỏ môn lịch sử đồng nghĩa với Trung Quốc hóa người Việt

Một người tên Trình, là giáo viên dạy sử lâu năm ở một trường phổ thông trung học, hiện đang sống tại quận 1, Sài Gòn, chia sẻ: “Mấy anh dạy lịch sử của một phe chiến thắng thôi chứ không dạy lịch sử một cách khoa học. Bản thân bộ môn lịch sử xã hội chủ nghĩa thì dạy hay không dạy gì nó đã chết rồi. Bản thân nó đã chết từ lâu rồi. Suốt ngày anh cứ dạy cầm súng tiến lên, ngày này thắng trận này, ngày kia thắng trận kia, đế quốc Mỹ rồi Ngụy quân Ngụy quyền gì đó thì học sinh nó ngán ngẩm, nó hết muốn học. Lịch sử là phải đa chiều và sinh động. Đằng này ngay cả vấn đề  có tính địa chính trị nhưTrường Sa và Hoàng Sa, mấy anh chưa bao giờ đưa vào giáo khoa lịch sử và mấy anh biến sự kiện đó thành cái xác không hồn. Như vậy, bây giờ dù có dạy hay không dạy môn lịch sử thì chính bộ môn lịch sử như một cái xác không hồn của mấy anh cũng phải chết thôi!”.

Theo ông Trình, hiện tại, nếu bỏ môn học lịch sử để dạy một môn học khác không đặt nặng về khoa học lịch sử cũng đồng nghĩa với tự Hán hóa dân tộc Việt Nam. Bởi chưa bao giờ mà quốc gia, dân tộc lại lâm nguy như hiện tại. Khoa học lịch sử đích thực sẽ là mấu chốt, xương sống để giữ lại tinh thần dân tộc và khí phách Việt tộc.

Giải thích vấn đề vừa nói, ông Trình nói rằng suốt từ những năm 1945 cho đến hiện tại, chưa bao giờ nhà nước Cộng sản có một giáo trình sử học nghiêm túc và đầy đủ. Chính sách kiểm duyệt từ trong trứng nước của đảng Cộng sản đã giết mọi bài học lịch sử nghiêm túc ngay từ khi nhà viết sử cầm bút để ghi chép.

Bằng chứng của vấn đề này chính là mọi giáo trình lịch sử của ngành giáo dục thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa đều có chung khuynh hướng là ca ngợi công lao của đảng Cộng sản, những mốc sự kiện liên quan đến cái gọi là vinh quang của đảng Cộng sản xuất hiện dày đặc trong bài học lịch sử. Và các sự kiện, những bài học lịch sử các đời vua dựng nước, chống giặc Tàu để giữ nước rất mờ nhạt trong giáo trình lịch sử của chế độ Cộng sản.

Theo ông Trình, mối nguy hại của việc dạy sử mà đảng Cộng sản đã thực hiện trong nhiều năm nay là không thể kể xiết. Điều này vừa làm cho bài học lịch sử trở nên khô khan bởi giọng điệu tuyên truyền và thiếu tính khoa học trầm trọng. Đặc biệt, bộ môn lịch sử mà thiếu tính khoa học, bị lai căn và lang chạ với tính tuyên truyền thì sẽ đánh mất toàn bộ tính sinh động của nó, dẫn đến sự nhàm chán và vô nghĩa.

Ông Trình cho rằng sở dĩ môn lịch sử Việt Nam lại quá coi trọng vấn đề tuyên truyền nhưng lại giảm thiểu, thậm chí xóa mất những bài học lịch sử đánh Tàu giữ nước của ông cha, tổ tiên là vì chế độ cầm quyền hiện tại quá phụ thuộc vào nhà nước Cộng sản Trung Quốc. Dấu hiệu của sự phụ thuộc này là trước đây, những bài học lịch sử về chống Tàu vẫn có trong giáo khoa Cộng sản Việt Nam. Nhưng từ năm 1990, cụ thể là từ sau hội nghị Thành Đô trở đi, những bài học chống Tàu giữ nước tự bốc hơi, không cánh mà bay khỏi giáo trình lịch sử.

Và với những gì đang xảy ra ở hiện tại, khi mà Việt Nam phải phụ thuộc, thậm chí lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc từ kinh tế, chính trị cho đến an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia…. Nếu như tuổi trẻ Việt Nam, những thế hệ mai sau không học được những bài học về một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, về những gương sáng hy sinh vì sự nghiệp độc lập của quốc gia, dân tộc thì e rằng chẳng bao lâu nữa, Việt Nam sẽ thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Bởi mọi thứ từ văn hóa đến giáo dục, chính trị, xã hội đều đầy rẫy màu sắc Trung Quốc.

Phòng thi chỉ có 2 thí sinh thi môn sử tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai chiều 2-6-2014. Ảnh - Như Hùng/songmoi.vn

Phòng thi chỉ có 2 thí sinh thi môn sử tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai chiều 2-6-2014. Ảnh – Như Hùng/songmoi.vn

Mất môn sử học là mất nước

Một vị là giáo viên dạy sử những năm trước 1975, không muốn nêu tên, chia sẻ: “Cái gốc của vấn đề là nó không thực sự có môn sử mà nó bị chính trị hóa đi.”.

Theo vị này, hiện tại, nếu đánh tráo môn học lịch sử bằng bất cứ môn học nào khác nhằm nâng cao tính tuyên truyền của đảng Cộng sản đều dẫn đến hậu quả là dân tộc Việt Nam bị Hán hóa trong tương lai và dân tộc Việt Nam bị xóa nhòa, thay vào đó là đêm trường nô lệ và phụ thuộc vào Trung Hoa.

Vị này giải thích rằng sở dĩ ông phải nhấn mạnh đến vấn đề mất nước là vì mọi tương tác xã hội hiện tại đều có bóng dáng Trung Quốc trong đó. Từ gói mì ăn liền cho đến ly trà sữa trân châu hay chiếc xe máy, cái máy cắt cỏ, chiếc điện thoại di động, bộ áo quần, thực phẩm hằng ngày… Mọi thứ đều có bóng dáng Trung Quốc.

Nói sâu xa hơn, những sản phẩm tinh thần như phim ảnh, tạp chí, nghệ danh đều mang hơi hướm và bóng dáng Trung Quốc. Đây là nguồn tác động hằng ngày vào tâm thức nhiều thế hệ. Bây giờ, nếu không kịp chấn chỉnh, không kịp đánh thức dân tộc bằng những bài học lịch sử được trích từ xương máu và lòng hy sinh để chống giặc Tàu xâm lăng của cha ông. Điều này sẽ đưa tuổi trẻ đến chỗ lầm đường lạc lối.

Và khi tuổi trẻ không còn phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, tiếp tục bị huyễn hoặc bởi một loại siêu nhân Đại Hán thông qua chính sách ban giao của nhà cầm quyền cũng như mọi động thái lấn lướt, bề trên của Trung Quốc. Đến một lúc nào đó, tuổi trẻ sẽ nghĩ và tin rằng họ cũng là một phần tử của nước Trung Quốc rộng lớn. Và tính nhược tiểu của nhà cầm quyền trước ngoại bang Trung Quốc sẽ là nguồn tác động lớn nhất đến tuổi trẻ, đẩy thế hệ trẻ đến chỗ hèn nhát, nhược tiểu và không có bản sắc dân tộc. Đây là điều khó tránh khỏi.

Vị này đặt ra một câu hỏi rằng ông lấy làm lạ một điều là tại sao trong lúc Trung Quốc đang chiếm Trường Sa, Hoàng Sa, đang xâm lấn lãnh hải, xâm lấn lãnh thổ trên biên giới và có những phát biểu đầy giọng điệu bành trướng về phương Nam mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam lại đánh tráo môn lịch sử bằng môn học “công dân và tổ quốc”?

Bởi ngay cái tên môn học không cũng đã nói lên tính chất tuyên truyền và nhồi sọ thế hệ trẻ yêu đảng, yêu bác Hồ. Bởi lâu nay, đảng Cộng sản luôn đồng nhất dân tộc với đảng và xem Hồ Chí Minh là cha già của dân tộc.

Ông nghi vấn rằng phải chăng đánh tráo môn học lịch sử sang môn học “công dân và tổ quốc” là cách chạy trốn trách nhiệm dạy lịch sử, đốt sách sử và dần đẩy khoa học lịch sử và chỗ bế tắc bởi tính hữu dụng cũng như tính giáo dục của nó dần bị xói mòn, phôi phai?!

Như để đưa ra kết luận cuối cùng, vị này lắc đầu chua chát nói rằng một đất nước mà môn lịch sử bị đánh tráo thì nó chỉ dự cảm cho một tương lai duy nhất, đó là tương lai vong nô!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

TỔ QUỐC VÀ CHẾ ĐỘ

TỔ QUỐC VÀ CHẾ ĐỘ

Kim Ngọc Cương

Ai cũng hiểu Tổ Quốc và Chế độ là hai khái niệm khác nhau. Tổ Quốc là giang sơn đất liền, biển đảo, vùng trời cùng với toàn bộ người dân (gồm nhiều sắc tộc) đã, đang, sẽ làm ăn sinh sống trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời có chủ quyền của quốc gia. Còn Chế độ là thể chế chính trị trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.

Tổ quốc Việt nam có Lịch sử dựng nước và giữ nước hơn 4000 năm. Trong hơn 4000 năm ấy đã trải qua nhiều Chế độ xã hội từ Chế độ bộ lạc, nông nô, rồi Chế độ phong kiến, đến Chế độ phong kiến thuộc địa (của Trung quốc, Pháp, Nhật), sau đó là Chế độ Cộng hòa Nghị viện (ở cả hai miền trong thời kỳ đất nươc chưa thống nhất) và 40 năm nay là Chế độ xã hội chủ nghĩa (mới là danh chưa thực, hiểu theo câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”).

Mỗi Chế độ đều có những quan hệ đối nội và đối ngoại khác nhau. Nhưng Dân tộc Việt Nam không bao giờ vì Chế độ mà để mất Tổ Quốc. Lịch sử 4000 năm của Dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó bằng núi xương, sông máu của Dân tộc. Không một thế lực nào có thể xóa được Lịch sử đau thương mà kiêu hãnh của Dân tộc Việt Nam.

Yêu Tổ Quốc (yêu nước) không đồng nhất hoàn toàn với yêu Chế độ. Có người yêu nước nhưng không yêu Chế độ và ngược lại cũng có những kẻ yêu Chế độ nhưng không được coi là yêu nước.

Ví dụ điển hình cho trường hợp thứ nhất là Nguyễn Trãi. Cả cuộc đời Ông đi theo Lê Lợi, phò Lê Lợi để đánh đuổi giặc Minh. Sau khi Lê Lợi giành thắng lợi, Ông vẫn phụng sự Nhà Lê cho đến khi thấy Nhà Lê bắt đầu “thối nát” thì Ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn. Rõ ràng, Nguyễn Trãi luôn là người yêu Tổ Quốc nhưng gần cuối đời, Ông là người “chán ghét” Chế độ.

Ví dụ điển hình cho trường hợp thứ hai là Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và rất nhiều kẻ bám đít ngoại bang đi ngược lại quyền lợi của cả Dân tộc. Những kẻ này không ai coi là những người yêu nước vì họ chỉ lo cho quyền lợi của chính họ, gia đình họ cùng lũ quần thần bảo về họ (một đám ăn theo, hùa theo).

Một Chế độ được coi là ưu việt khi và chỉ khi: Chế độ đó phải bảo vệ được chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của quốc gia, bảo vệ và gìn giữ được độc lập dân tộc; Chế độ đó phải hòa hợp được dân tộc (người trong một nước phải thương nhau cùng) và luôn phải đặt quyền lợi Dân tộc lên trên mọi quyền lợi cá nhân, quyền lợi cục bộ (bộ phận).

Khi Chế độ làm được hai điều này thì sẽ (mới) đồng nhất được tình yêu Tổ quốc và tình yêu Chế độ trong đại đa số người Dân và trong từng người dân.

Nếu một Chế độ nào mà không làm được hai điều trên thì trong xã hội chắc chắn vẫn còn những người yêu nước nhưng không yêu Chế độ và sẽ còn những người phản ứng chống đối Chế độ, phản ứng chống lại những người cầm giữ Chế độ.

Tổ Quốc Việt Nam mãi mãi trường tồn và không chịu nô lệ ngoại bang; đồng thời người Dân Việt Nam cũng không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa “dân tộc hẹp hòi” cực đoan. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không thể nào thay đổi.

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Bản tuyên ngôn độc lập ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu ấy đã khắc vào sông núi, bờ cõi, vùng trời, vùng biển Việt nam, vào tâm khảm của người Việt Nam từ bao đời nay không dễ gì xóa được. Đấy là TÌNH YÊU TỔ QUỐC đã khắc vào tim, óc người Việt Nam.

Về dạy và học cấp phổ thông ở Việt Nam:

Một số nước phát triển hiện nay có xu hướng ‘tích hợp” kiến thức của các môn học vào  “môn tổng quát”; đồng thời với việc thay đổi phương thức dạy và học.

Lý do mà họ phải làm như vậy là bởi tri thức của loài người đang tăng lên theo cấp lũy thừa nên không thể dạy và học theo phương cách truyền thống (dạy và học nhiều môn riêng rẽ, thầy chủ động giảng bài, trò thụ động nghe giảng). Cách dạy và học truyền thống không thể truyền tải hết kiến thức cần thiết nhất cho học sinh và là một chiều, áp đặt, không phát huy sáng tạo trong dạy và học, không lấy học sinh làm trung tâm. Mặt khác kiến thức của các môn học riêng lẻ có  những phần liên quan, “giao” nhau nên việc “tích hợp” các môn học liên quan nhau là cần thiết.

Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam, việc “tích hợp” một số môn học thành “môn tổng quát” là một trong nhiều việc cần phải làm để phù hợp với xu thế chung của thời đại. Ví dụ, có thể tích hợp môn Toán tin với Lý, Hóa với Sinh, Thể dục với giáo dục quốc phòng và kỹ năng sống (thành môn giáo dục con người).

Riêng môn học Lịch sử thì không thể “tích hợp” với môn nào được bởi Lịch sử của Dân tộc là “Quốc phả” và Lịch sử thế giới là “Quốc tế phả”. Theo thiển ý cá nhân thì có thể xây dựng môn học mang tên “Việt Nam học”. Trong môn học này sẽ dạy về Lịch sử Việt Nam và con người Việt Nam. Trong môn “Việt Nam học” thì các vấn đề thuộc về LS phải khách quan, phi chính trị; còn các vấn đề về người Việt Nam thì phải đầy đủ các đặc trưng đúng là người VN (gồm cả tốt, xấu) và lấy dẫn chứng từ các nhân vật trong LS cũng như hiện tại, và mỗi vấn đề của bài giảng phải có sự đối thoại bình đẳng giữa thầy và trò, giữa trò với trò).

Ngoài ra, có thể có môn “Quốc tế học” được “tích hợp” tổng quan từ các vấn đề về Lịch sử thế giới, Văn hóa phương Tây và phương Đông và Ngoại ngữ.

Để chuẩn bị cho việc dạy và học các môn “tích hợp” thì phải đào tạo các thầy đủ năng lực dạy các môn “tích hợp” chứ không thể một môn “tích hợp” như môn “toán tích hợp với lý) lại do hai thầy (toán riêng, lý riêng) dạy; tương tự môn “Quốc tế học” cũng vậy.

K.N.C.

Lời giới thiệu cho tập ảnh“10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội”

Lời giới thiệu cho tập ảnh“10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội”

Hà Sĩ Phu

Xem “10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội” dưới đây, chắc nhiều người có thái độ như tôi, lúc đầu xem lướt qua, khẽ nhếch mép cười rồi giở sang trang khác. Vì “biết rồi khổ lắm, nói mãi”, nước Việt mình bây giờ nó thế, Quốc hội này nó thế… có gì mà lạ?

Nhưng rồi một lúc khác, vô tình giở ra xem lại, tự nhiên thấy những tấm hình cười vui không mấy… mặn mà này lại như nói thầm vào tai mình nhiều điều, những điều miên man không dứt.

– Ừ, cũng ngạc nhiên chứ. Nghị sĩ của mình xưa nay dân toàn bảo nhau là… “gật sĩ”, Quốc hội là… “có mâm có bát”, có góp ý thì toàn đi vào những dấu chấm dấu phẩy, những chuyện lặt vặt, chỉ là chỗ đóng dấu cho những quyết định của Đảng hay của Chính phủ để nó có cái nhãn hợp lệ trước khi ban hành. Nhưng lần này xem ra có khá hơn, một vài câu cũng hơi “phạm” một chút, thôi thì được thế cũng hơn trước rồi. Họ cũng bắt đầu phơi và tự phơi ra đấy. Chuyển biến gì chăng? Có lẽ?

– Nhưng xem kỹ những lời phát biểu cũng thấy buồn cười, vì thấy nó “ngồ ngộ”, có màu hài hước. Hoặc hài hước ở cái vô lý đến đắng chát của thực tiễn sau một năm thực thi chính sách, và từ đó mà nhìn lại cái phi lý của chính sách; hoặc hài hước do cách diễn đạt pha trò, có tý chua cay.

– Nhưng sau 1/10 giây mỉm cười thì buộc mình phải “truy cứu trách nhiệm”! Trước sự vô lý lồ lộ ra khắp nơi mọi chốn như kia – ngân sách cạn kiệt, kinh tế rối nát, môi trường tệ hại, văn hóa giáo dục thi nhau xuống dốc, trong khi biên chế phình to, hàm cấp chất đống, chức tước trong quân đội và công an tăng vô tội vạ, tham nhũng nhìn đâu cũng vẫn lúc nhúc, thói cửa quyền không giảm mà càng lộng hành – người phát ngôn phải có trách nhiệm ra sao, cấp trên của họ có trách nhiệm ra sao, chứ cười trừ ư? Điều rất quan trọng này thì các vị lại lảng tránh, hoặc nói cù nhầy, thế là mình thất vọng hoặc nổi khùng. Nụ cười của ta âu cũng là cười gượng! Chứ không à? Thản nhiên rũ áo, trút bê bối lại cho người tiếp sau một cách “khơ khớ”, “vô tư” – như ông Bộ trưởng Bộ Văn Thể Du – thì thử hỏi… cả người nói lẫn người nghe có biết dân nghĩ gì không mà còn cười và xuê xoa được?

– Cuối cùng thì cũng đành khẽ lắc đầu ngao ngán thôi. Theo lệ thường là buông trôi, thôi mặc sự đời. Chút dũng cảm phá lệ pha chút “anh Chí” như trên chỉ là không khí chợ chiều của “hoàng hôn nhiệm kỳ”, chứ chưa hé tia nắng sớm nào của bình minh thế sự.

Nhưng đêm nằm có lúc nghĩ lại: Thực tế ngao ngán thế cũng có phần tại mình. Ai cấm mình nói, mà có cấm thì cũng cứ nói xem nào. Đã đành mình cũng chỉ là hạt nước tan ngay trong gió, nhưng người xưa đã bảo “Trên đời không có gì yếu mềm bằng nước, thế mà quy tụ lại thì to lớn vô hạn, sâu xa vô cùng”!

Phân tích từng tấm ảnh sẽ là vô duyên, bởi các tấm ảnh tự nó đã nói, có điều là trong tập ảnh này, nếu có thêm 2 tấm hình sau đây thì độ hài hước của sự đời mới thật viên mãn:

clip_image002

Hình 1: Vui quá nhỉ, nhưng cứ vui mãi như thế thì… buồn cho đất nước lắm!

clip_image004Hình 2: Nếu được đặt tên cho tấm hình này, tôi xin xuýt xoa mà rằng “Đây rồi, đỉnh cao… hạng nhất của những đỉnh cao!” .

22-11-2015

H.S.P.

10 phát ngôn ấn tượng tại Quốc hội

Trong 2,5 ngày, 54 lượt đại biểu Quốc hội đã đặt gần 200 câu hỏi chất vấn Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, các Bộ trưởng, trưởng ngành. Zing.vn ghi nhận những phát ngôn ấn tượng.

clip_image005

Chiều 17/11, phòng Diên Hồng rộn rã tiếng cười khi Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh bắt đầu phần trả lời chất vấn. Nhiều đại biểu không nhịn được cười mỗi khi “Tư lệnh ngành” nói về thành tựu của du lịch Việt Nam cũng như trách nhiệm cá nhân (Xem chi tiết).

clip_image006

Phần trả lời của Bộ trưởng Tuấn Anh vừa kết thúc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã hóm hỉnh: “Bộ trưởng cho Quốc hội đi du lịch rất mệt”. Ở lần chất vấn vài năm trước, ông Hùng từng nhắc nhở Bộ trưởng Du lịch: “Bay ra bay vào nhiều quá” (Xem chi tiết).

clip_image007

Chất vấn Tổng thanh tra Chính phủ về tình trạng tham nhũng gia tăng vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ, đại biểu Lê Như Tiến đề nghị cần có giải pháp “chặn đứng quan chức chạy đua nước rút thực hiện những chuyến tàu vét cuối cùng” (Xem chi tiết).

clip_image008

Sau khi nói về các số liệu kinh tế do Chính phủ cung cấp “nhảy múa”, hàng giả, hàng kém chất lượng tràn lan, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền đã gửi chất vấn tới Thủ tướng (Xem chi tiết).

clip_image009

Còn đại biểu Trần Ngọc Vinh chất vấn trách nhiệm của Bộ trưởng và ngành Nông nghiệp trước thực trạng rau quả có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức cho phép, mỗi khi hàng năm hàng nghìn cái chết được báo trước (Xem chi tiết).

clip_image010

Liên quan tới an toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ trưởng Cao Đức Phát viện dẫn Bộ luật Hình sự để nói về tình trạng khó xử lý thức ăn bẩn, không đạt tiêu chuẩn.

clip_image011

Tranh luận với Chánh án TAND Tối cao về vụ bồi thường án oan sai lớn nhất Việt Nam, đại biểu Bùi Văn Xuyền cho rằng, người dân đã quá mệt mỏi, quá sức chịu đựng. Bồi thường bao nhiêu tính rõ, không thể giằng co mãi (Xem chi tiết).

clip_image012

Kinh doanh đa cấp biến tướng, ở mức rất nghiêm trọng, nhiều người tự tử, ly hôn, bỏ học vì dính vào đa cấp. Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Văn Hiến, Bộ Công thương phản ứng rất chậm chạp, vai trò quản lý, xử lý mờ nhạt.

clip_image013

Lo lắng trước tình hình Biển Đông, trong chất vấn gửi tới Thủ tướng, đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị không nhận viện trợ và vay tiền của Trung Quốc (Xem chi tiết).

clip_image014

Nói về kỷ cương của các địa phương, bộ, ngành, đại biểu Bùi Thị An cho rằng, đang có vấn đề rất nghiêm trọng trong việc thực thi phép nước khi Thủ tướng chỉ đạo một đằng, bộ, ngành, địa phương lại làm một nẻo.

Zing.vn

Ảnh: Quochoi.vn

Công thức giữ đảng

Công thức giữ đảng

Phạm Đình Trọng

  1. NIỀM TIN BẠO LỰC

Tiến sĩ chuyên ngành bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng nhậm chức Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam ở thời điểm tròn 20 năm hệ thống cộng sản quốc tế sụp đổ, cũng là 20 năm sau cuộc cúi mặt, lén lút đi đêm của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đến Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Tàu Cộng.

Hệ thống cộng sản quốc tế một thời hùng mạnh, làm giông bão sấm sét dìm một phần hành tinh, một phần loài người vào biển máu, biển lửa cách mạng, dìm hơn tỉ người vào bóng đêm nô lệ cộng sản nay bỗng chốc chỉ trong khoảnh khắc sụp đổ tan tành là nỗi lo canh cánh của vị Tổng bí thư thừa giáo điều mà quá thiếu hụt thực tế cuộc sống của dân, của nước nên xơ cứng, vôi hóa động mạch cảm xúc!

Lo từ khi chưa chính thức ngồi vào ghế Tổng bí thư.

Ở các nước dân chủ đích thực là các nước tư bản phát triển, dù bầu cử trong đảng chính trị hay trong dân, chỉ đến khi việc kiểm phiếu minh bạch xong xuôi mới biết chủ của những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ở các nước cộng sản, mỗi dịp đại hội đảng cộng sản là một dịp phân chia trong bóng tối những chiếc ghế quyền lực đảng và sự phân chia trong bóng tối đó phải ngã ngũ rồi mới diễn ra công khai đại hội đảng và đại hội đảng chỉ để làm thủ tục bỏ phiếu hợp thức hóa sự phân chia đã được định đoạt từ trong bóng tối trước đó. Cũng như cuộc bỏ phiếu ở Quốc hội sau đại hội đảng chỉ để làm thủ tục hợp thức hóa sự phân chia những chiếc ghế quyền lực nhà nước đã được định đoạt từ trước đại hội đảng. Vì thế, đại hội đảng diễn ra sau cuộc chia ghế trong bóng tối là đại hội của chiếc ghế quyền lực lớn nhất vừa được xác định trong bóng tối: Tổng bí thư của đại hội đó.

Đại hội 11 là đại hội của tiến sĩ bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng. Với nỗi lo mất đảng, toan tính đầu tiên của đảng trưởng giáo điều xa dân là bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương đảng. Tin vào sức mạnh bạo lực như giáo sĩ tin vào kinh thánh, cánh cửa ban chấp hành trung ương được ông chủ nhà Đỏ Ba Đình khóa 11 mở rộng cho cánh tướng lĩnh quân đội và công an ùa vào. Trong 175 ủy viên chính thức ban chấp hành trung ương kì đại hội 11 có tới 20 tướng quân đội, 10 tướng công an, tổng cộng là 30 trên 175, gần 20 phần trăm ban chấp hành trung ương là người nắm công cụ bạo lực.

Suốt ba mươi năm chiến tranh thù trong giặc ngoài, số ủy viên trung ương đảng mặc áo công cụ, quân đội và công an, các khóa thời đó chỉ trên dưới mười người, chưa đến mười phần trăm. Thời yên hàn mà bạo lực hóa cơ quan quyền lực của đảng chính là niềm tin bạo lực của vị đảng trưởng có bằng tiến sĩ bảo vệ đảng.

Cùng với bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương, nhiều chính sách ưu đãi, vỗ về, nuông chiều bạo lực, dồn ngân sách nghèo của đất nước chăm bẵm, phát triển con người công cụ, con người bạo lực cũng được thực thi. Lạm phát tràn lan tướng công an, tướng quân đội. Thời chiến tranh, quân đội Nhân Dân Việt Nam với quân số trên triệu tay súng và phải mở các mặt trận trên khắp ba nước Đông Dương mà chỉ có trên dưới 50 tướng. Cuộc sống hòa bình, quân số giảm lớn, không gian thu hẹp, quân đội Việt Nam chỉ có mặt trên lãnh thổ Việt Nam mà quân đội có tới 489 tướng! Nhiều đặc quyền, đặc lợi được giành cho công an, quân đội, nhất là công an được chăm bẵm, ưu ái từ người lính công an đến gia đình, con cái họ. Những doanh nghiệp công an, quân đội trở thành những siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước. Doanh nghiệp quân đội tự tiện cắt gần hai trăm ha đất sân bay Tân Sơn Nhất làm sân golf giữa thành phố, đẩy sân bay vào thế kẹt cứng không thể mở mang, hiện đại hóa, phải bật đi nơi khác!

Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền cũng chỉ là một tổ chức xã hội nhất thời và luôn biến động. Tổ chức đảng có lúc thịnh, lúc suy, lúc tồn tại, lúc tiêu vong. Đường lối, chính cương của đảng có lúc đúng, lúc sai. Với đảng cộng sản thì sai nhiều hơn đúng. Con người của đảng có lúc anh hùng xuất chúng, có lúc là tội đồ, phản bội như ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam Hoàng Văn Hoan.

Chỉ có Tổ Quốc, Nhân Dân là vĩnh hằng, bất biến, là một giá trị vĩnh cửu, cao cả, thiêng liêng của một đất nước và của từng người dân. Nhưng những người cộng sản đã thần thánh hóa, tuyệt đối hóa đảng của họ, đưa đảng của họ, một tổ chức chính trị nhất thời, sai nhiều hơn đúng, tội nhiều hơn công lên trên những giá trị cao cả, thiêng liêng, bất biến là Tổ Quốc, là Nhân Dân. Họ đã biến quân đội, sức mạnh bảo vệ đất nước thành sức mạnh bảo vệ đảng, biến pháp luật và công an, công cụ bảo đảm sự lành mạnh của xã hội thành công cụ bảo vệ đảng.

  1. SÚNG QUÂN ĐỘI

Ông đảng trưởng đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng và ông đảng trưởng tiền nhiệm Nông Đức Mạnh là hai ông đầu đảng đã rước Tàu Cộng vào nước ta ồ ạt nhất, sâu rộng nhất. Tàu Cộng làm chủ những dải rừng đầu nguồn chiến lược rộng lớn ở biên cương. Tàu Cộng rầm rập kéo đến mảnh đất bô xít Tây Nguyên. Tàu Cộng lặng lẽ nhưng cấp tập đổ bộ vào những vùng đất đắc địa về kinh tế, hiểm yếu về quân sự dọc bờ biển nước ta. Đất nhượng địa cho Tàu Cộng với thời gian dài trên nửa thế kỉ loang lổ như da báo, như mụn ghẻ trải rộng trên khắp bề mặt đất nước Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên. Hàng hóa độc hại của Tàu Cộng đổ vào nước ta như nước lũ, bóp nghẹt ngay tức thì nền kinh tế Việt Nam và âm thầm mang cái chết chậm đến cho giống nòi Việt Nam. Tàu chiến Tàu Cộng nghênh ngang trên biển Việt Nam, mặc sức bắn giết, cướp phá dân chài Việt Nam. Tàu Cộng làm chủ nhượng địa Vũng Áng, Hà Tĩnh, xây dựng cảng biển Vũng Áng thành một đầu cầu mà đầu cầu bên kia là quân cảng Du Lâm trên đảo Hải Nam, căn cứ hạm đội Nam Hải của Tàu Cộng được trang bị tàu ngầm hạt nhân. Vũng Áng đã Tàu hóa nối liền với quân cảng Du Lâm của Tàu Cộng thì cánh cửa thép vịnh Bắc Bộ bị đóng sập lại, Đất Việt Nam bị cắt đôi. Biển Việt Nam bị phong tỏa.

Đất nước Việt Nam bị đe dọa nguy khốn như vậy, mạng sống của người dân Việt Nam mong manh như vậy trước họa xâm lăng Tàu Cộng nhưng hai ông đầu đảng Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng lại chỉ chăm chăm lo chuyển nòng súng quân đội hướng vào người dân Việt Nam và hai ông đã thực hiện nhiều việc làm biến chất quân đội, tha hóa quân đội, làm phân tán, mờ nhạt chức năng bảo vệ Tổ Quốc của quân đội, đặt lên vai quân đội thêm chức năng nội trị nặng nề để cùng công an bảo vệ đảng.

Năm 2003, thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, theo chủ trương của đảng, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới”. Từ đây, quân đội chính thức phải gánh thêm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trât tự xã hội cùng bộ máy công an khổng lồ.

Cũng dưới thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, tháng 10. 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại kí Nghị định 77, đưa quân đội tham gia sâu rộng, toàn diện vào việc bảo vệ trật tự xã hội từ cấp cao nhất đến cấp nhỏ nhất. Với Nghị định 77 quân đội đã có mặt cùng công an trong nhiều cuộc cưỡng chế đất đai mà thực chất là những cuộc ăn cướp mảnh đất người dân đang sinh sống hợp pháp của đám quan tham nhân danh chính quyền. Quân đội là lực lượng bạo lực quyết định trong việc dập tắt cuộc biến động đòi tự do dân chủ của người H’Mong ở Mường Nhé tỉnh Điện Biên tháng 5. 2011.

Người cầm quyền tỉnh táo đáng ra phải nhận ra ở tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn vang lên trong sương mù sớm mùa đông giáp tết năm 2012 lời cảnh báo nghiêm khắc về một qui luật tự nhiên và cũng là qui luật xã hội: “tức nước vỡ bờ”. Một chính quyền dù có sức mạnh bạo lực tàn bạo đến đâu nhưng đối kháng với Dân cũng không thể tồn tại. Nhưng với niềm tin đến mê muội vào bạo lực, coi bạo lực như bảo bối để tồn tại, sau tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền triệu tập hội nghị trung ương 8 để một lần nữa ra thêm một nghị quyết huy động sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vào cái gọi là bảo vệ chế độ CNXH, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Nghị quyết chi li đến mức bất cứ điều gì ảnh hưởng đến sự tồn tại của đảng, của chế độ, quân đội đều được quyền hành động trấn áp.

Người dân Việt Nam đã bị thể chế công an trị với đội quân công an dày đặc giám sát từng lời nói, từng bước đi, từng trang viết. Nay sự giám sát đó lại có thêm cả sức mạnh của nòng súng quân đội. Nghị quyết của hội nghị trung ương 8 thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng, hay có thể nói cụ thể, chính xác là chính đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã chỉnh nòng súng của quân đội hướng vào Nhân Dân, coi Nhân Dân, những người đóng thuế xây dựng quân đội, nuôi quân đội, trang bị súng lớn súng nhỏ cho quân đội là đối tượng tác chiến của quân đội. Điều này giải thích vì sao ban Chấp hành trung ương đảng, bộ tham mưu của đảng, đầu não của đảng, trí tuệ của đảng thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại có nhiều tướng võ biền đến thế.

Đương nhiên, sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vừa bị hút vào hoạt động thị trường, trở thành siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước, vừa được huy động ráo riết vào việc bảo vệ đảng thì nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc chỉ còn là thứ yếu.

  1. CÒNG CÔNG AN

Sức mạnh quân đội đã bị chuyển hướng từ bảo vệ đất nước sang bảo vệ đảng. Công an còn bị đảng hóa triệt để hơn, bị tha hóa, biến dạng lớn hơn. Tha hóa biến dạng từ tâm hồn, nhận thức. Con người công an bị nhào nặn để không còn con người nhân văn, chỉ còn con người công cụ. Công an được giáo dục để chỉ biết có đảng và chỉ thuộc lòng lí luận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản của đảng. Không biết đến Nhân Dân. Nhân Dân chỉ là nguồn lực vô tận để khai thác, sử dụng, chỉ là quần chúng phải giáo dục, phải chuyên chính. Tổ Quốc lớn lao thiêng liêng cũng là của đảng, cũng dưới giá trị tuyệt đối của đảng. Cái phông chữ ngạo nghễ phô trương đến kệch cỡm choán hết mặt trước cơ quan bộ Công an ngay giữa thủ đô ngàn năm văn hiến: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” đã bộc lộ đầy đủ tâm hồn và nhận thức của những con người được Nhân Dân trao trách nhiệm bảo vệ luật pháp, bảo vệ cuộc sống bình yên của Dân đã bị đảng hóa chỉ còn là công cụ của đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hùng hồn là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng của Dân thì phải theo ý nguyện của Dân. Ý nguyện của Dân chính là ý nguyện của cuộc sống, của đất nước. Nhân Dân là Tổ Quốc, là thời đại. Đảng chính trị dù có tư tưởng tiên tiến đến đâu cũng phải học Dân, theo Dân. Không thể bắt Dân theo ý nguyện của đảng. Học thuyết Mác Lê nin và lí tưởng Xã hội chủ nghĩa là ý nguyện của đảng chứ không phải ý nguyện của Dân. Coi Dân chỉ là quần chúng, những người Cộng sản tự đặt mình cao hơn Dân, tự cho mình quyền giáo dục quần chúng, giáo dục Nhân Dân. Người Dân khảng khái bộc lộ ý nguyện của Dân, ý nguyện không chấp nhận học thuyết Mác Lê nin mất tính người, không chấp nhận Chủ nghĩa Xã hội đầy tội ác thì Dân liền bị đẩy sang “thế lực thù địch”. Còng sắt nhỏ liền bập vào tay người Dân khác biệt ý nguyện với đảng và cái còng khổng lồ tạo ra bởi những con người công cụ đã còng cả không gian sống của người Dân không có cùng ý nguyện với đảng.

Pháp luật Việt Nam những ngày này đang được thực thi bởi những con người công cụ không biết đến những giá trị nhân văn, không biết đến pháp luật. Những con người công cụ coi người Dân không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản đều là thù địch, là tội phạm. Những phiên tòa xử theo những điều luật vi Hiến 79; 88; 258 liên tiếp mở ra trên khắp đất nước buộc tội, bỏ tù những người Dân Việt Nam trung thực, lương thiện không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản. Những nhà tù với những cai ngục chỉ biết còn đảng còn mình đang giam cầm, hủy hoại những tâm hồn và khí phách Việt Nam không có cùng ý nguyện lầm lạc, tội lỗi của đảng cộng sản.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của lòng yêu nước thương nòi. Trước sức mạnh khổng lồ của Đại Hán xâm lược, dân tộc Việt Nam bé nhỏ tồn tại đến hôm nay nhờ yêu thương đùm bọc dân tộc. Còng công an không phải chỉ còng thân xác những người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản. Còng công an đã còng cả lòng yêu thương đùm bọc dân tộc, còng cả dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước thương nòi không chấp nhận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản đã gây quá nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam. Còng công an đã còng cả ánh sáng tự do dân chủ, dìm đất nước Việt Nam văn hiến trong bóng đêm nô lệ cộng sản.

  1. MẬT VỤ TÀU CỘNG

Không phải chỉ giữ đảng bằng súng quân đội, còng công an Việt Nam. Tiến trình đi tới của loài người không thể đảo ngược là loại bỏ học thuyết bạo lực Mác Lê nin vào sọt rác lịch sử, giải phóng con người khỏi bạo lực nô dịch cộng sản. Chống lại tiến trình đó để giữ đảng, giữ bạo lực cộng sản nô dịch chín mươi triệu người Dân Việt Nam, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã rước cả công an, mật vụ Tàu Cộng về “để tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”, thực chất là dùng sức mạnh bạo lực của nhà nước cảnh sát Tàu Cộng đàn áp người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngồi vào chiếc ghế quyền lực cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền sang kinh đô Đại Hán kí với người đứng đầu đảng Cộng sản Tàu Cộng Hồ Cẩm Đào bản Tuyên bố chung tám điểm ngày 15. 10. 2011, gồm những việc cụ thể đưa Việt Nam phụ thuộc sâu vào Tàu Cộng.

Điểm thứ tư của Tuyên bố chung có sáu việc thì việc thứ năm là: “Đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; . . . Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp; . . . tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”. Ngôn ngữ ngoại giao và công khai thì phải tỏ ra bình đẳng “phối hợp và ủng hộ lẫn nhau” nhưng thực tế trong quan hệ giữa Tàu Cộng với Việt Cộng, giữa nước lớn ban phát và nước nhỏ nhận ban phát thì “đi sâu hợp tác, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan công an, tòa án hai nước” chỉ là hợp thức hóa việc mở đường cho công an, tòa án Tàu Cộng nhảy vào các vụ việc nội trị của Việt Nam mà thôi.

Người Dân Việt Nam có tiếng nói khác biệt với đảng Cộng sản Việt Nam đã bị bộ máy công cụ nhà nước Việt Nam, công an, tòa án, nhà tù trừng trị thẳng tay. Nhưng tiếng nói khác biệt đó lại nhằm lên án Tàu Cộng cướp đất đai biển đảo Việt Nam, nô dịch người Dân Việt Nam thì sự trừng trị càng thảm khốc, man rợ.

Trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà nước cộng sản Việt Nam phải ngụy tạo cho người khai sinh ra câu lạc bộ Nhà báo Tự do tội trốn thuế vài trăm triệu đồng mà giáng mức án ba mươi tháng tù giam. Mãn hạn tù với nhà nước cộng sản Việt Nam, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn không được trả tự do vì ông còn “tội” lớn hơn với nhà nước cộng sản đàn anh Tàu Cộng.

Đúng ngày Tàu Cộng đánh cướp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 34 năm trước, ngày 19. 1. 2008, đúng thời điểm Tàu Cộng đang rong ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đi khắp thế giới và ngọn đuốc đó sắp qua Sài Gòn, Điếu Cày cùng những người bạn mặc đồ đen để tang Hoàng Sa, đứng cao trên thềm Nhà Hát Lớn Sài Gòn ngực áo mang biểu tượng những vòng tròn Olympic Pekin 2008 chỉ là hình những chiếc còng sắt, tay giương cao bảng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa Của Việt Nam” bằng chữ Việt, chữ Anh, chữ Tàu. Ngày 29. 4. 2008, ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Sài Gòn, trước đó 9 ngày, ngày 20. 4. 2008, Điếu Cày bị bắt.

Sau phiên tòa về tội trốn thuế với bản án ba mươi tháng tù do nhà nước cộng sản Việt Nam, trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ, ngày 24. 9. 2012, Điếu Cày lại phải đối mặt với phiên tòa thứ hai với bản án man rợ mười hai năm tù, năm năm quản chế sau tù. Phiên tòa do những quan tòa Việt Nam xử Điếu Cày tội tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam nhưng những người nhạy cảm chính trị đều hiểu rằng bản án man rợ mười hai năm tù giáng xuống người đàn ông sáu mươi tuổi Điếu Cày Nguyễn Văn Hải ngày 24. 9. 2012 mang dấu ấn đậm nét của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 và bản án có sẵn trong túi ông quan tòa người Việt Nam ngồi xử Điếu Cày đã được định đoạt từ ngoài biên giới phía Bắc.

Những ông quan tòa ngồi xử Điếu Cày không theo tinh thần nhân đạo của luật pháp Việt Nam mà theo tinh thần Bắc thuộc tàn ác của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011. Lịch sử Việt Nam sẽ xóa án cho Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và tôn vinh ông. Lịch sử Việt Nam sẽ nghiêm khắc phán xét, tuyên án các ông quan tòa tạo ra bản án man rợ cho Điếu Cày tội phản dân tộc, sẽ sòng phẳng phán xét và tuyên án cả bản Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào tội dìm giống nòi Việt Nam vào vòng Bắc thuộc, tội đánh đổi sự tồn tại của dân tộc Việt Nam cho sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 rước công an Tàu Cộng vào Việt Nam dưới chiêu bài tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau giữa công an hai nước Tàu Cộng và Việt Cộng, dìm Việt Nam chìm sâu vào vòng Bắc thuộc, mới có sự việc ngày 14.3.2014 công an chìm, công an nổi chỉ huy phá buổi lễ người Dân thủ đô Hà Nội tưởng niệm những người lính Việt Nam bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống Tàu Cộng đánh cướp bãi đá Garma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988. Phá buổi lễ người Dân thủ đô dâng hương lên hương hồn liệt sĩ Trường Sa bằng khúc nhạc Tàu tấu lên phá tan không khí trang nghiêm thành kính, bằng những kẻ người Việt mang dòng máu họ Mao, họ Tập ôm nhau nhảy múa trong khúc nhạc Tàu chiếm không gian của người Dân dâng hương lên hương hồn liệt sĩ chống Tàu Cộng xâm lược.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 mới có dòng máu đỏ chảy tràn trên mặt cựu chiến binh Trần Bang sau cú võ Tàu của những kẻ chống phá cuộc biểu tình của người Dân Sài Gòn phản đối tên trùm xâm lược Tập Cận Bình đến Việt Nam ngày 5.11.2015.

Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt người cựu chiến binh tuổi sáu mươi mặc áo NoU thét lên tiếng thét của những trái tim Việt Nam yêu nước “Đả đảo Tập Cận Bình”, kẻ đó hẳn thừa biết cựu chiến binh Trần Bang đã tham gia đánh Tàu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở biên giới phía Bắc năm 1979, đã có mặt ở hàng đầu trong mọi cuộc biểu tình lên án Tàu Cộng cướp biển đảo Việt Nam những năm tháng này.

Cú võ Tàu đấm vào mặt cựu chiến binh Trần Bang cũng như lưỡi gươm Nguyên Mông chém rụng đầu Trần Bình Trọng khi Trần Bình Trọng khảng khái thét vào mặt giặc Nguyên Mông “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt cựu chiến binh Trần Bang không phải chỉ nhằm hạ gục một Trần Bang cụ thể mà nhằm hạ gục ý chí giữ nước chống Đại Hán xâm lược của người Dân Việt Nam yêu nước.

Kẻ tung cú võ Tàu đánh vào lòng yêu nước của người Dân Việt Nam đã được rước vào Việt Nam bởi Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011.

  1. DÒNG MÁU ĐẢNG CHA TRUYỀN CON NỐI

Khi dư luận xã hội ồn ào vụ việc con ông đảng trưởng một tỉnh nghèo miền Trung, cậu ấm ba mươi tuổi chỉ có thú ham chơi chim kiểng, không có đủ chuẩn mực của chiếc ghế quyền lực bỗng sỗ sàng nhảy tót lên ghế giám đốc một sở đầy thế lực; Khi ông Thứ trưởng bộ Nội vụ từ kinh kì tức tốc vào cuộc kiểm tra việc cậu ấm ham chơi nhảy lên ghế quyền lực rồi mau mắn tuyên bố ráo hoảnh rằng việc đề bạt cậu ấm là đúng qui trình thì người Dân đều phải sững sờ nhận ra rằng tàn tích cha truyền con nối của thời phong kiến hủ bại đã là chủ trương ngầm của nhà nước cộng sản Việt Nam thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng rồi!

Nhưng thời phong kiến, cha truyền con nối chỉ diễn ra ở ngôi vua. Còn chiếc ghế quyền lực từ trung ương đến địa phương đều phải qua học hành thi tuyển nghiêm túc, công khai, minh bạch ở tầm quốc gia. Thi cử nghiêm túc nên chủ khảo Cao Bá Quát mới bị tống ngục với thang tội danh phải tử hình khi ngầm nâng đỡ một sĩ tử giỏi, có bài thi xuất sắc nhưng do sơ suất có vài chữ phạm húy. Dù là quan lại địa phương cũng phải qua thi tuyển quốc gia rồi triều đình bổ nhiệm chứ địa phương không thể tự biên tự diễn được. Từ đó, hiền tài trong Dân được phát hiện qua thi tuyển minh bạch đàng hoàng và được phân bổ, sử dụng cho cả nước. Dù là quan lại địa phương cũng là bộ máy hành chính của đất nước, cũng phải là bộ mặt nhân văn của chính quyền, cũng phải là bộ mặt văn hóa của đất nước.

Với nhà nước cộng sản Việt Nam, đến những chiếc ghế quyền lực của đảng trung ương còn được định đoạt trong bóng tối rồi mới đưa ra đại hội đảng bỏ phiếu để hợp thức hóa, để đúng qui trình thì những trò bỏ phiếu tín nhiệm ở địa phương càng chỉ là thủ tục hành chính đơn giản cho có đủ hình thức, cho đúng qui trình mà thôi. Vì thế tất cả các cuộc bầu bán, các vụ việc đề bạt đều đúng qui trình! Con ông ủy viên Bộ Chính trị này làm bí thư tỉnh X đúng qui trình. Con ông ủy viên Bộ Chính trị kia là bí thư tỉnh Y đúng qui trình. Con ông Bí thư tỉnh làm chủ tịch quận đúng qui trình. Con ông ủy viên trung ương đảng làm phó giám đốc công an tỉnh đúng qui trình… Con cái của đảng ào ào ra nắm giữ những chiếc ghế quyền lực đều đúng qui trình cả. Chỉ có Dân có ý kiến nhận xét, phản bác, đòi hỏi này nọ là sai, là thế lực thù địch!

Mỗi mùa đại hội đảng là một lần người dân bị tước quyền công dân. Bỏ phiếu bầu người lãnh đạo đất nước là quyền công dân quan trọng nhất, tối cao nhất, là cách duy nhất người Dân sử dụng quyền lực của mình. Mỗi mùa đại hội đảng, những vị trí lãnh đạo đất nước từ trung ương đến địa phương lại được đảng mang ra chia chác trong nội của đảng. Người Dân mất quyền bầu chọn người thay mặt mình quản lí đất nước, điều hành xã hội.

Mùa đại hội đảng năm nay, người Dân lại được chứng kiến những người cộng sản đang hối hả học bài học giữ ngôi của các vương triều phong kiến. Cha truyền con nối của vương triều là để giữ ngôi vua. Cha truyền con nối chiếc ghế quyền lực của những người cộng sản hôm nay là để giữ đảng. Con thay cha giữ những chiếc ghế quyền lực đảng trao không phải chỉ để giữ lợi ích, bổng lộc do chiếc ghế mang lại cho bản thân, cho gia đình mà còn để quyết giữ đảng. Vì nhờ có đảng mà cha con, ông cháu nhà ta và các thế hệ chắt, chút, chít về sau mới có chiếc ghế cai trị Dân đầy quyền lực và dày bổng lộc đó. Vì thế cha truyền con nối để giữ đảng đến cùng.

Tóm lại, công thức giữ đảng của đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là: Còng Công An + Súng Quân Đội + Mật vụ Tàu Cộng + Dòng Máu Đảng Cha Truyền Con Nối. Cả bốn thành tố này đều bất chính và vô cùng nguy hại cho Dân cho nước.

Một chính đảng phải nhờ những điều bất chính để tồn tại là đã tự đào thải, tự kết thúc sứ mạng lịch sử trong bi hài, tự kết thúc số phận trong tội lỗi với dân tộc, với lịch sử.

P.Đ.T