Super model Aimee Mullins

Super model Aimee Mullins

Aimee Mullins nổi lên như một hiện tượng khác biệt trong làng mẫu với đôi chân… cụt. 
Người ta thường tâm niệm rằng người phụ nữ phải sở hữu làn da sáng mịn, khuôn mặt hoàn hảo, vóc dáng gợi cảm và đôi chân dài miên man thì mới “dám” mơ ước trở thành siêu mẫu đắt giá của thế giới. Thế nhưng, Aimee Mullins nổi lên như một hiện tượng khác biệt trong vương quốc thời trang với đôi chân… cụt.

 

Aimee Mullins, 35 tuổi với đôi chân giả.

Aimee Mullins, 35 tuổi, hiện là một nữ diễn viên, người mẫu và là vận động viên Olympic. Được biết cô đã bị cắt bỏ 2 chân từ khi 11 tuổi. Aimee lớn lên ở Allentown, bang Pennsylvania, cha là công nhân nhà máy, mẹ là nhân viên tiếp tân tại bệnh viện.

Cô phải ngồi xe lăn từ 5 tuổi và gần như tuyệt vọng khi bị cắt bỏ đôi chân chỉ 6 năm sau đó. Mọi thứ đều trở nên khó khăn với Aimee Mullins. Cô luôn bị mặc cảm về thân phận của mình, thế nhưng, cô tự nhủ lòng phải chứng minh cơ thể mình có thể làm được nhiều điều có ích và phải tạo sự khác biệt. Aimee Mullins cố gắng học hành chăm chỉ và ở tuổi “bẻ gãy sừng trâu” 17, cô vượt qua 39.000 ứng viên kỳ cựu và trở thành 1 trong 3 học sinh giành được xuất học bổng danh giá của trường đại học Georgetown– trường mà Bill Clinton từng theo học. Đặc biệt hơn, khi tốt nghiệp, cô còn được mời làm việc như một nhà phân tích tình báo tại Lầu Năm Góc và trở thành người phụ nữ duy nhất làm việc trong cục tình báo cấp cao này.

 

Tuy nhiên, Aimee Mullins đã từ bỏ các xuất học bổng có giá trị, từ bỏ 1 công việc có thể đảm bảo cho cuộc sống và chuyển sang lĩnh vực thể thao, dường như cô muốn chứng minh với thế giới rằng, đôi chân cô có thể tạo nên điều phi thường. Giấc mơ thành hiện thực, năm 1996 ở Atlanta, cô lập kỷ lục thế giới về bước chạy nước rút 100m, 200m và kỷ lục Paralympic cho bước nhảy dài chỉ với đôi chân giả bằng sắt nặng nề.
 

 
 
Năm 1996 ở Atlanta, Aimee Mullins lập kỷ lục thế giới về bước chạy nước rút 100m, 200m và kỷ lục Paralympic cho bước nhảy dài chỉ với đôi chân giả bằng sắt nặng nề.

 
Không chỉ dừng lại ở thể thao, Aimee Mullins thử sức ở mọi lĩnh vực và lấn sân sang giải trí. 12 năm về trước, cô đã từng trở thành 1 nàng thơ cho nhãn hiệu Alexander McQueen. McQueen đã thay thế chân dưới của cô bằng một đôi giày gỗ chạm trổ khá tinh vi và cầu kỳ. Khi Aimee sải bước trên sàn catwalk tại tuần lễ thời trang London năm 1998, nhiều người khen ngợi cô thật sự rất hấp dẫn. Nhưng khi tin tức bị rò rỉ, McQueen bị phản ứng dữ dội và bị cáo buộc là trình diễn thời trang quái nhân. Kể từ đó, Aimee Mullins bị gắn mác là “siêu mẫu khuyết tật” mới của làng thời trang. Tuy nhiên, cô rất hãnh diện về danh hiệu này, Aimee chia sẻ: “Điều làm cho phụ nữ đẹp là sự khác biệt, tôi đã thầm cảm ơn Chúa vì điều bất thường của mình, nó làm cho tôi trở nên đặc biệt hơn”.

 

 

 

 
Khi Aimee sải bước trên sàn catwalk tại tuần lễ thời trang London năm 1998 tại show diễn của Alexander McQueen, với đôi giầy gỗ chạm trổ tinh vi.

 
Không chỉ dừng lại ở đó, cô còn là một diễn viên xuất sắc và đã từng được khen ngợi rất nhiều, khi đảm nhiệm vai nữ chính trong bộ phim Cremaster 3 của đạo diễn Matthew Barney. Đầu năm 2011, Aimee được mời làm đại sứ toàn cầu của nhãn L’Oréal Paris cùng với những mỹ nhân của kinh đô điện ảnh thế giới như: Jennifer Lopez, Beyoncé, Eva Longoria và Cheryl Cole.

 

 

Đầu năm 2011, Aimee được mời làm đại sứ toàn cầu của nhãn L’Oréal Paris cùng với những mỹ nhân của kinh đô điện ảnh thế giới như: Jennifer Lopez, Beyoncé, Eva Longoria và Cheryl Cole. 


 

 

 

Với gương mặt đẹp và nghị lực phi thường, Aimee được xem là biểu tượng khác lạ của giới người mẫu.

 
Chia sẻ quan điểm về hạnh phúc, Aimee cho biết:
“Cuộc sống và hạnh phúc hay không là do bạn quyết định và theo quy tắc của riêng bạn, không ai quyết đinh nó thay bạn”.

 

 

 

 

 

Một câu chuyện về lòng kiên trì

Một câu chuyện về lòng kiên trì
Tôi là cựu giáo viên dạy nhạc tại một trường tiểu học ở DeMoines. Tôi luôn kiếm được lợi tức từ công việc dạy đàn dương cầm _ đó là một công việc mà tôi đã làm suốt 30 năm qua. Trong thời gian đó, tôi đã gặp nhiều trẻ em có những khả năng về âm nhạc ở nhiều cấp độ khác nhau. Tôi chưa bao giờ có hứng thú trong việc có học sinh thuộc dạng “cần nâng đỡ” mặc dù tôi đã từng dạy một vài học sinh tài năng. Tuy nhiên tôi cũng dành thì giờ vào những học sinh mà tôi gọi là “trơ nhạc”. Một trong những học sinh đó là Robby.

Robby đã 11 tuổi khi mẹ cậu thả vào lớp trong bài học dương cầm đầu tiên. Tôi thích những học sinh (đặc biệt là những cậu bé) bắt đầu ở lứa tuổi nhỏ hơn, và nói điều đó với Robby. Nhưng Robby nói rằng mẹ cậu luôn luôn mơ ước được nghe cậu chơi dương cầm. Vì vậy tôi đã nhận cậu vào học. Thế là Robby bắt đầu những bài học dương cầm đầu tiên và tôi nghĩ rằng đó là sự cố gắng vô vọng. Robby càng cố gắng, cậu càng thiếu khả năng cảm thụ âm nhạc cần thiết để tiến bộ. Nhưng cậu rất nghiêm túc trong việc ôn lại những bài học và những bản nhạc sơ đẳng mà tôi yêu cầu cất cả các học sinh của mình đều phải học. Sau nhiều tháng ròng rã, cậu miệt mài cố gắng và tôi vẫn cứ lắng nghe và cố động viên cậu. Cứ hết mỗi bài học hàng tuần, cậu luôn nói: “Một ngày nào đó mẹ em sẽ đến đây để nghe em chơi đàn”. Nhưng điều đó dường như vô vọng. Cậu không hề có một năng khiếu bẩm sinh nào. Tôi chỉ thấy mẹ cậu (một phụ nữ không chồng) ở một khoảng cách khá xa khi thả cậu xuống xe và chờ cậu trong một chiếc xe hơi cũ mèm khi đến đón cậu. Bà luôn vẫy tay và mỉm cười nhưng không bao giờ ở lại lâu.
Thế rồi một ngày nọ Robby không đến học nữa, tôi định gọi điện cho cậu nhưng thôi, bởi vì cậu không hề có chút năng khiếu nào, có lẽ cậu đã quyết định theo đuổi một con đường khác. Tôi cũng vui khi cậu không đến nữa. Cậu làm cho sự quảng bá trong việc dạy dỗ của tôi mất ưu thế! Vài tuần sau đó, tôi gởi đến nhà những học sinh của mình các tờ bướm thông báo cho buổi diễn tấu sắp tới. Trước sự ngạc nhiên của tôi, Robby (cũng đã nhận một tờ bướm) hỏi xem cậu có được tham dự biểu diễn hay không. Tôi bảo với cậu, buổi diễn chỉ dành cho học sinh đang học, vì cậu đã thôi học nên cậu sẽ không đủ khả năng thực hiện. Cậu nói rằng mẹ cậu đang ốm và không thể chở cậu đi học nữa, nhưng cậu vẫn luôn luyện tập. “Cô Hondorf… cô cho em diễn một lần thôi…”, cậu nài nỉ. Tôi không hiểu điều gì đã xui khiến tôi cho phép cậu chơi trong buổi trình tấu đó. Có thể là cậu đã tha thiết quá, hoặc là một điều gì đó trong tôi đã bảo mách tôi rằng điều đó là đúng.
Đêm biểu diễn đã đến. Trong hội trường đông nghịt những phụ huynh, bạn bè và họ hàng. Tôi bố trí cho Robby ở cuối chương trình trước khi tôi xuất hiện để kết thúc và cảm ơn những học sinh đã trình diễn. Tôi nghĩ rằng tất cả những rủi ro mà cậu có thể gây ra cũng là lúc kết thúc và nếu có bề gì thì tôi cũng có thể “chữa cháy” cho sự biểu diễn yếu kém của cậu bằng tiết mục “hạ màn” của tôi. Và buổi biểu diễn trôi qua không một trở ngại nào. Những học sinh đã luyện tập nhuần nhuyễn và trình bày rất tốt. Thế rồi Robby bước ra sân khấu. A? quần cậu nhàu nát và mái tóc như tổ quạ.
“Tại sao cậu lại không ăn vận như những học sinh khác nhỉ? Tôi nghĩ “Tại sao ít ra mẹ cậu lại không chải tóc cho cậu vào cái đêm đặc biệt như thế này chứ?”
Robby mở nắp đàn lên và bắt đầu. Tôi ngạc nhiên khi thấy cậu tuyên bố rằng cậu chọn bản Concerto số 21 cung Đô trưởng của Mozart. Tôi hoàn toàn bất ngờ khi nghe những gì tiếp theo đó. Những ngón tay của cậu lấp lánh, nhảy múa trên những phím ngà. Cậu đã chơi những giai điệu từ nhẹ nhàng êm dịu đến hùng tráng… thật có hồn và đầy điêu luyện trong sự phối âm tuyệt diệu của nhạc Mozart. Chưa bao giờ tôi nghe một đứa trẻ ở tuổi ấy trình bày nhạc Mozart hay đến thế. Sau 6 phút rưỡi cậu đã kết thúc trong một âm thanh huy hoàng mạnh mẽ và mọi người đều đứng lên vỗ tay. Không nén được lệ tràn trong mắt, tôi chạy lên sân khấu và vòng tay ôm lấy Robby trong hạnh phúc: “Cô chưa bao giờ nghe em chơi hay như thế Robby ạ. Làm sao em có thể làm được điều đó?”. Robby giải thích qua chiếc micro “Thưa cô Hondorf… cô có nhớ là em đã kể rằng mẹ em đang ốm? Thực ra, mẹ em đã bị ung thư và qua đời sáng nay. Mẹ em bị điếc bẩm sinh vì vậy đêm nay là đêm đầu tiên mẹ em nghe thấy em đàn. Em muốn làm điều gì đó thật là đặc biệt”.
Tối hôm ấy, trong hội trường không đôi mắt nào không nhỏ lệ. Khi những người ở Trại Xã Hội đưa cậu từ sân khấu trở về trại mồ côi tôi nhận thấy mắt họ đỏ và sưng mọng. Tôi chợt nghĩ, đời tôi nhiều ý nghĩa biết bao khi đã từng nhận một học sinh như Robby. Không, tôi chưa bao giờ nhận một học sinh nào “cần nâng đỡ”, nhưng đêm đó tôi trở thành người được nâng đỡ bởi Robby. Cậu là thầy của tôi và tôi chỉ là một học trò. Bởi vì cậu đã dạy cho tôi ý nghĩa của sự kiên trì, của tình yêu và niềm tin trong chính con người của chúng ta và điều đó có thể tạo ra cho người khác một cơ hội mà chúng ta không biết vì sao. Điều này càng đặc biệt ý nghĩa hơn khi sau này tôi biết Robby bị chết trong vụ nổ bom điên rồ tại tòa nhà Alfred P. Murrah Federal ở thành phố Oklahoma vào tháng 4 năm 1995 nơi cậu đang biểu diễn.
S.T.
( Từ Reader’s Digest)
từ: Nguyễn Phi Phượng gởi