Mừng kính Thánh St. Charles Borromeo (1538-1584) – Cha Vương

Mừng kính Thánh St. Charles Borromeo (1538-1584) – Cha Vương

Chúc một ngày thật an lành và tốt đẹp. Hôm nay 4/11 Giáo Hội mừng kính Thánh St. Charles Borromeo (1538-1584). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Xin Ngài cầu bàu cho chúng ta và thể giới luôn được an bi`nh. 

Cha Vương

Thứ 4: 4/11/2026.      (t7-6-21)

Tên của Thánh Charles Borromeo đi liền với chữ cải cách. Ngài sống trong thời kỳ Cải Cách Tin Lành, và đã tiếp tay trong công cuộc cải cách toàn thể Giáo Hội trong những năm cuối của Công Ðồng Trent.

    Thánh nhân sinh ngày 02 tháng 10 năm 1538 tại Milan nước Ý trong một gia đình quý tộc ở Milan và có bà con với dòng họ Medici rất uy thế. Khi người bác của ngài là Ðức Hồng Y de Medici được chọn làm giáo hoàng năm 1559 với tước hiệu là Piô IV, đức giáo hoàng đã chọn ngài làm trưởng phó tế và là quản lý của Tổng Giáo Phận Milan trong khi ngài chỉ là một sinh viên giáo dân. Vì sự thông minh xuất chúng nên ngài được giao cho nhiều chức vụ quan trọng có liên hệ đến Tòa Thánh, và sau này được bổ nhiệm làm ngoại trưởng chịu trách nhiệm toàn thể ban hành chánh của tòa thánh. Cái chết đau đớn của người anh đã đưa ngài đến quyết định đi tu làm linh mục, mặc dù bao người thân nhân ngăn cản. Ngài được thụ phong linh mục năm 25 tuổi, và sau đó không lâu được tấn phong làm giám mục của Milan.

    Chính thánh nhân là người đã thúc giục đức giáo hoàng phục hồi Công Ðồng Triđentinô vào năm 1562 sau 10 năm bị ngưng trệ. Ðứng ở đằng sau và âm thầm làm việc, thánh nhân là người có công trong việc duy trì sự liên tục của các khóa họp Công Ðồng mà nhiều khi tưởng đã đổ vỡ. Trong giai đoạn cuối của Công Ðồng, ngài là người chủ yếu trong việc hướng dẫn và thành hình các sắc lệnh của công đồng.

    Ngài có công rất lớn trong việc điều hành Công Ðồng Tridentinô. Thời đó bệnh dịch lan tràn khắp thành Milan, Ngài đã bán hết tài sản để cứu trợ kẻ nghèo, Ngài đích thân thăm viếng những người mắc bệnh, an ủi và ban các bí tích cho họ. Ngài còn viết nhiều sách có giá trị đặc biệt về mục vụ của các Giám Mục và việc dạy giáo lý cho các Cha sở. Ngài đã lập một dòng riêng cho địa phận mang tên Thánh Ambrosiô. Ngài cũng xây cất nhiều cơ sở giáo dục công giáo và chủng viện. Trong bất cứ công việc gì, Ngài chỉ nhắm một mục đích là phụng sự Thánh Ý Chúa.

    Hiển nhiên ngài cũng được phép dành thời giờ để làm việc cho Tổng Giáo Phận Milan, là nơi mà tôn giáo và luân lý thật sáng tỏ. Sự cải tổ cần phải thi hành trong mọi tầng lớp Công Giáo, dù là giáo sĩ hay giáo dân, và được khởi sự từ các công đồng địa phương với các giám mục phụ tá. Những quy luật rõ ràng được đặt ra cho các giám mục và tu sĩ: Nếu người ta thay đổi đời sống để trở nên tốt lành hơn, thì giáo sĩ phải là những người làm gương và phải canh tân tinh thần tông đồ của mình trước hết.

  

    Chính Thánh Charles tiên phong trong việc làm gương. Ngài chia sẻ hầu hết phần lương của ngài cho công việc bác ái, tự ý từ bỏ đời sống sang trọng của một tổng giám mục, và ăn chay đền tội. Ngài hy sinh giầu sang, danh vọng, sự mến mộ và ảnh hưởng để trở nên nghèo hèn. Trong thời kỳ dịch tễ và đói kém năm 1576, ngài cố tìm cách để nuôi ăn 60,000 đến 70,000 người mỗi ngày. Ðể thực hiện điều này, ngài phải mượn một số tiền rất lớn mà nhiều năm sau mới trả hết. Khi nạn dịch hoành hành đến mức tối đa, các giới chức hành chánh dân sự bỏ trốn thì ngài vẫn ở lại thành phố để thi hành công việc mục vụ cho những người đau yếu, người hấp hối và những ai cần sự giúp đỡ.

    Vào năm 1578, ngài thành lập một tổ chức cho các linh mục triều, Tu Sĩ của Thánh Ambrôsiô (bây giờ là Tu Sĩ của Thánh Charles), tích cực rao giảng, chống với sự xâm nhập của các tà thuyết, và đưa những người Công Giáo lầm lạc trở về với Giáo Hội.

    Công việc và gánh nặng của chức vụ đã ảnh hưởng đến sức khỏe của ngài. Ngài từ trần ngày 03 tháng 11 năm 1584 tại Milan, Ý Đại Lợi trong khi đang quên mình phục vụ cho các nạn nhân đói rách bệnh tật, hưởng thọ 47 tuổi. và được mai táng trong nhà thờ chính tòa Milan. Thánh tích được chuyển về nguyện đường San Maria Podone được xây dựng bởi Bá tước Renato Borromeo ngày 21 tháng 9 năm 1751.

    Đức Giáo Hoàng Clement VIII đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước năm 1602 và Đức Giáo Hoàng Paul V đã nâng ngài lên hàng hiển thánh ngày 01 tháng 11 năm 1610.

    Trong lần khám nghiệm vào năm 1880 cũng như lần trước đó, người ta nhận thấy thi hài thánh nhân hiện nay vẫn còn nguyên vẹn suốt một thời gian trên 300 năm sau khi qua đời. Khi Đức HY John Baptist Montini (tức là Đức Paul VI) làm TGM Milan, theo yêu cầu của Ngài, gương mặt của thánh nhân đã được phủ một lớp bạc, mặc phẩm phục giám mục cẩn nhiều đá quý nằm an nghỉ chờ ngày phục sinh vinh quang.

(Trích Gương Thánh Nhân – NS Người Tín Hữu)

Sau đây là câu nói của ngài: 

❦ “Trong việc phụng sự Thiên Chúa, nếu muốn tiến bộ, chúng ta phải bắt đầu mỗi ngày sống của mình bằng một nhiệt tâm mới mẻ.” (Thánh Charles Borromeo)

❦  “Ngài nói, các linh hồn chỉ có thể được cứu rỗi khi chúng ta quỳ gối cầu nguyện.” (Thánh Charles Borromeo)

Câu nào đánh động bạn nhất? Tại sao?

From: Do Dzung

*****

KHÁT KHAO TÌNH CHÚA – Giang Ân – Từ Linh

THÁNH MARTINÔ PORRES: BẠN THÂN CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ VÀ CỦA LOÀI VẬT VÔ TRI

THÁNH MARTINÔ PORRES: BẠN THÂN CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ VÀ CỦA LOÀI VẬT VÔ TRI

 Martinô Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu.  Trong sổ Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh.”  Thật ra cha của cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị trưởng tại Panama.  Ông không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu.  Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da đen.  Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất đời của cậu.

 Mẹ con cậu Martinô tuy nghèo, nhưng lại rộng lòng bác ái với những người cùng cảnh ngộ.  Một hôm bà mẹ gọi hai anh em Martinô và Gioanna, trao cho mấy đồng xu và sai chúng ra chợ mua rau.  Bà đã cặn kẽ bảo em giữ tiền cẩn thận đi thẳng đến chợ, không nên nhìn hai bên đường.  Vì bà nghĩ nếu con mình thấy kẻ nghèo khó thì sẽ thương mà tặng cho họ những đồng tiền mẹ con đang cần cho bữa tối nay.  Hai anh em vâng dạ và mau mắn ra đi.  Ðang đi, mắt cô em đã bắt gặp người ăn xin mặc đồ rách rưới bên kia đường.  Ý nghĩ là sẽ không nói, nhưng tự nhiên cô bé bật miệng kêu “Kìa!”  Thế là Martinô nhìn theo em.

 Nghĩ đến lời mẹ căn dặn, hai anh em đã cố gắng đi tiếp.  Nhưng cậu lại nghĩ chắc mẹ cũng không nỡ để người hành khất này chết đói.  Thế là hai anh em quay lại bên người hành khất, cậu lấy tiền ra và nói: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, ông hãy cầm lấy số tiền này!”  Ông nhận quà, miệng rối rít cám ơn và xin Chúa chúc lành cho hai em.  Thế là hết tiền, hai anh em đâm lo, không biết phải nói với mẹ làm sao.  Vừa tới ngang nhà thờ chính tòa thành Lima, hai anh em liền vào, lên tận bao lơn cung thánh.  Quỳ ở đó, Martinô đã cất lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, xin ban của ăn cho chúng con. Con mới cho người hành khất số tiền duy nhất của mẹ con rồi.  Chúng con không còn gì cho bữa tối nay.  Xin Chúa đừng để mẹ con buồn giận chúng con.  Cám ơn Chúa!” Em Gioanna thưa: “Amen.”

 Martinô và Gioanna đứng dậy, bái Chúa rồi ra về, lòng đầy tin cậy Chúa biết rõ những gì gia đình các em cần.  Vừa thấy hai con, bà không thấy chúng cầm gì thì biết ngay chúng đã gặp ai và hành động thế nào rồi.  Bà cũng suy nghĩ có đánh, có la mắng chúng lúc này cũng chẳng ích gì.  Vả lại, bà cũng từng bảo các con phải thương giúp người nghèo.  Bà quay vào và liên tưởng đến người chồng, với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho ba tụi nhỏ sớm nghĩ lại, để chúng con có của nuôi thân, và có thể làm phúc cho cả những người nghèo nữa!”

 Khi Martinô được 8 tuổi, tức năm 1587, ông Gioan Porres, một sĩ quan Tây Ban Nha, đã hồi tâm và trở về chăm sóc mẹ con bà Anna Velasquez.  Ông đã đem hai con gửi trọ học ở nhà ông chú tên là Giacôbê tại Equador.  Ở đây các em được chú thương yêu và thuê người giám hộ tốt để dạy về chữ nghĩa và đức tính.  Martinô là cậu học sinh ngoan và thông minh.  Sau hai năm, cha cậu để Gioanna ở lại tiếp tục học, còn Martinô, ông bắt về ở bên mẹ tại Lima.  Ông căn dặn Martinô: “Con phải học nghề hớt tóc.  Cha hy vọng con sẽ cố gắng học, và cố gắng trở nên người Công giáo tốt.”  Martinô đã vâng lời cha và cố gắng học cũng như sống đạo tốt.

 Thời đó và trong hoàn cảnh sống tại Lima, thợ hớt tóc đồng thời cũng là “thầy lang.”  Họ phải học biết các kiến thức y học phổ thông, như biết bắt mạch chẩn bệnh, biết băng bó vết thương, biết chữa các bệnh cảm cúm, sốt rét, biết nắn khớp xương và pha thuốc.  Martinô rất thích nghề này.  Cậu thưa với mẹ: “Mẹ ơi, tập nghề hớt tóc là một nghề cao cả, mẹ ạ.  Học nghề này con có thể giúp đỡ những người nghèo khó được nhiều, mẹ nhỉ!”  Mẹ cậu khích lệ con: “Martinô, con là một đứa trẻ tốt.  Xin Chúa chúc lành và luôn gìn giữ con tốt mãi như vậy!”  Martinô thưa lại: “Thưa mẹ, đó là điều con hằng cầu nguyện mỗi sáng trong thánh lễ, và Chúa đã giúp con.  Ngài biến đổi con, giúp con học nghề này cho đạt kết quả tốt.”

 Sau hai năm học nghề, lúc 12 tuổi, Martinô vui vẻ và hăng say hành nghề.  Mỗi sáng, cậu tham dự Thánh lễ, có khi giúp lễ nhiều bao nhiêu có thể, tại nhà thờ Thánh Ladarô.  Sau đó, mang đồ nghề đi rảo quanh khắp xóm dân nghèo, tới đến với những người già yếu, tàn tật để săn sóc bệnh tật cho họ mà không lấy công.  Nhiều đêm cậu cũng phải thức để chăm sóc các con bệnh đang cần đến cậu.  Nhất là những người hấp hối cần cậu ở bên khích lệ họ tin tưởng vào Chúa, và giúp họ dâng lên Ngài những bệnh tật đau khổ.

 Năm lên 15, Martinô xin mẹ dẫn đến tu viện Mân Côi của các cha Dòng Ðaminh tại Lima để xin đi tu.  Tuy mẹ mong muốn con làm linh mục hay ít là làm thầy dòng nhưng Martinô xin mẹ ưng thuận để cậu chỉ xin làm người giúp việc trong dòng mà thôi.  Bà hỏi con: “Tại sao con không muốn làm linh mục hoặc thầy dòng, mà lại chỉ muốn làm người giúp việc thôi?”  Cậu thưa: “Vì con không muốn trở nên người quan trọng.  Con chỉ muốn chu toàn những việc tầm thường vì yêu mến Chúa.  Xin mẹ vui lòng chấp nhận ước nguyện của con!”  Bà quyết định: “Ðược rồi, xin Chúa chúc lành cho con; còn trong tu viện, con muốn ở bậc nào tùy ý con chọn, mẹ chỉ xin con nhớ cầu nguyện cho mẹ.”  Trước đây cha Tu viện trưởng cũng đã nhiều lần nghe biết về cậu Martinô, nên người đã ưng thuận.  Thế là Martinô được gia nhập tu viện, mang y phục người giúp việc trong Dòng Ðaminh.  Cậu cảm thấy mình đã được thuộc trọn về Chúa và Ðức Mẹ.

 Trong bậc giúp việc, Martinô đảm nhận nhiều công tác, như hớt tóc, coi nhà giặt, phụ trách phòng y tế, Martino rất vui trong việc phục vụ tha nhân.  Bệnh nhân đầu tiên trong Dòng mà Martinô săn sóc, đó là cha Phêrô.  Một chân cha bị thương và lại bị nhiễm trùng, cần phải giải phẫu và cưa chân để cứu sinh mạng.  Vì quá đau nên cha Phêrô có phần bất nhẫn.  Tới bữa, Martinô dọn một đĩa rau tươi với những trái ôliu thật ngon mang tới cha.  Ðến phòng, Martino gõ cửa.  Có tiếng từ trong đáp ra: “Ði chỗ khác, để cho tôi yên.”  Bất kể tiếng la quát cứng cỏi của cha, cậu cứ điềm tĩnh đẩy cửa bước vào.  Với giọng săn sóc cậu hỏi: “Cha Phêrô ơi, cha có thích dùng chút rau tươi tuyệt ngon này không?”  Cha Phêrô mở to đôi mắt ngạc nhiên: “Sao lại không?  Tôi đang thèm rau tươi đây.  Sao cậu đoán được ý tôi?”  Cha Phêrô ngồi dậy và dùng một cách ngon lành, “Cảm ơn Martinô nhé!”  Cậu mỉm cười thưa: “Bây giờ để con thay băng cho cha nhé?”  Cha cũng mỉm cười đồng ý.

 Thế là vừa thay băng Martinô vừa nói với cha, “Thưa cha, chắc cha tin rằng Chúa sẽ chữa lành vết thương của cha chứ?”  “Martinô, con hãy cầu nguyện, để Chúa chữa lành vết thương của cha!  Còn cha, dù có chết cha cũng không muốn giải phẫu!” 

Vừa ra khỏi phòng Cha Phêrô, Martino lên ngay nhà nguyện, quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm: “Lạy Chúa chí ái, xin chữa lành chân cha Phêrô.  Chúa đã từng chữa nhiều người khác, chẳng có gì mà Chúa không làm được.  Con tin Chúa.”  Tối hôm đó, khi Martinô trở lại thăm cha Phêrô, cậu đã thấy cha đang đi đi lại lại trong phòng!  Vừa thấy cậu, cha kêu lên: “Martinô, Martinô!  Con đã chữa lành vết thương của cha rồi!  Cha không biết phải cám ơn con thế nào.  Con rời khỏi đây chừng nửa giờ, thì chỗ bị sưng xẹp xuống và cơn đau cũng biến mất.  Con vừa làm một phép lạ đó!”  Martinô thưa lại, “Xin cha đừng nói như vậy, con chỉ thay băng cho cha thôi, chính Chúa mới làm cho vết thương cha lành.”  “Ðúng rồi, nhưng nếu con không cầu nguyện, chắc chắn cha cũng chưa khỏi!”

 Không những Martinô hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người, cậu còn săn sóc và bảo vệ sự sống của các con vật nữa.  Các chú chim đến với cậu để kiếm ăn, các con mèo hoang cũng vậy.  Cậu luôn dự trữ sẵn đồ ăn cho chúng.  Một hôm, đàn chuột cắn đồ lễ tại Cung thánh, thầy phụ trách đã trình cha Bề trên và xin để cậu Martinô diệt chúng, cậu bèn cầu nguyện, rồi đi lên phòng thánh.  Vừa bắt gặp một chú chuột, Martinô gọi nó, nó đã ngoan ngoãn chạy lại bên cậu, Martinô nói: “Bây giờ chú hãy nghe cho kỹ… chú và các chuột khác phải rời khỏi phòng thánh này ngay, vì các chú đã cắn áo lễ.  Chúa không hài lòng với các chú về việc này.  Vậy các chú bảo nhau thu dọn ra ở chuồng bò.  Tôi sẽ đem đồ ăn đến cho các chú.  Hiểu chưa?”

 Con chuột gật đầu rồi chạy mất.  Một lát sau, nó dẫn một đàn chuột theo, nhắm thẳng hướng tay Martino chỉ ra chuồng bò.  Thầy phụ trách Cung thánh cũng hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến đàn chuột đang đi theo hướng tay Martinô chỉ.  Thầy đã lên trình cha Bề trên về hiện tượng lạ lùng ấy.  Và từ đó, không còn thấy lũ chuột cắn đồ lễ nữa.

 Chín năm Martinô ở bậc giúp việc; đến năm 1603, khi anh đã 24 tuổi, các Bề trên nhận thấy ơn Chúa thương Martinô nhiều.  Anh đã khiêm nhượng xin ở bậc giúp việc chứ không dám xin ở bậc các thầy.  Các Bề trên và tất cả nhà Dòng đều nhận thấy anh sống đời cầu nguyện, khiêm nhượng thống hối và bác ái gương mẫu nên đã quyết định cho anh lên bậc tu sĩ thực thụ.  Bề trên gọi Martinô và bảo: “Martinô, từ nay con không còn là người giúp việc nữa.  Con sẽ là một Thầy Dòng.”  Martinô thưa lại, “Thưa Cha, con bất xứng!”  “Việc đó Cha chịu trách nhiệm. Con hãy mời mẹ con lên đây dự lễ Mặc áo Dòng!”

 Khi được tin, mẹ cậu đã hết sức vui mừng.

 Sau ngày Mặc áo Dòng, Martinô đã nhận thêm những trách vụ mới, như việc săn sóc những người nghèo khó bằng những lời: “Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành, gia tăng lương thực này, và xin Người thánh hóa tất cả những ai dùng của ăn này.”  Lời nguyện này luôn luôn thấy hiệu lực.  Bất kể người được ít kẻ được nhiều, không một ai đến xin ăn mà phải về tay không.  Ai nấy đều được no đủ và hài lòng với thầy Martinô.

 Một hôm, lúc thầy Martinô đem những ổ bánh cuối cùng trong kho nhà Dòng phát cho người nghèo, làm ông giúp việc nấu bếp lo lắng.  Ông chạy đến thưa cha Bề trên, nhưng ngài điềm tĩnh đáp: “Ông đừng lo, thầy Martinô không phát hết đâu, bánh sẽ còn đủ cho cả chúng ta nữa.”

 Quả đúng như lời cha Bề trên, vì hằng ngày, không rõ số bánh thầy Martinô đã cho đi bao nhiêu, nhưng các thầy vẫn luôn luôn có đủ bánh dùng.

 Thầy Martinô luôn làm các việc bình thường trở nên những việc khác thường bằng tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức, hết linh hồn” và phục vụ “yêu thương” anh em đồng bào theo giới răn bác ái của Chúa.  Thầy thể hiện hai giới răn này suốt từ khi có trí khôn.  Suốt hơn 45 năm sống đời khiêm hạ và bác ái trong Dòng Thánh Ðaminh tại Lima, Martino tận tâm phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân, những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi.  Thầy sống rất đẹp lòng Chúa nên Ngài đã làm bao nhiêu điều lạ lùng qua lời cầu nguyện của Thầy: như các lần thị kiến, xuất thần, đánh tội nhiệm nhặt, ở hai nơi một trật, thông hiểu thần học, làm phép lạ chữa lành bệnh nhân, cảm thông hiểu biết cũng như sai khiến được các con vật vô tri.

 Thầy sống thật xứng đáng là một tu sĩ gương mẫu trong đức vâng lời trọn hảo, đức khiêm nhượng thẳm sâu, và lòng thương yêu đối với các thụ tạo của Thiên Chúa.  Vị Thánh hai dòng máu Tây Ban Nha và Peru da mầu này đã thể hiện tình yêu thương với mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da hay quốc tịch.  Thầy phục vụ Chúa Kitô trong mọi người, vô điều kiện và vô giới hạn.  Trong những đêm dài cầu nguyện và thống hối, Martinô được đói khát tình yêu Thiên Chúa, và trong những ngày dài Thầy dành để săn sóc các bệnh nhân, nuôi dưỡng người nghèo, thi hành các công việc lao tác của nhà Dòng với một lòng khao khát cứu rỗi các linh hồn.  Ðời sống thánh thiện của Thầy khiến cho các Bề trên và cả tu viện coi Thầy như một vị linh hướng gương mẫu của họ.  Chính Thầy đã khiêm nhượng tự xưng mình là “người nô lệ hèn mọn” hoặc là “con chó lai = Mulatto dog.”  Nhưng người đương thời gọi Martinô là “Cha bác ái” và “Cha của người nghèo.”

 Ðầu tháng 11 năm 1639, gần ngày sinh nhật thứ 60, Thầy ngã lâm trọng bệnh, suốt ba ngày chịu đau khổ cách can đảm.  Trong khi đó, những người từng được Thầy săn sóc giúp đỡ, đã cầu nguyện và khóc thương Thầy bên ngoài tu viện.  Ðến ngày thứ tư, bệnh tình của Thầy có phần thuyên giảm.  Ðức Mẹ và Thánh Ðaminh đã hiện ra để yên ủi Thầy.  Martinô đã mời Bề trên và mọi anh em trong tu viện tới.  Họ đến để cầu nguyện cho Thầy trong cơn hấp hối.  Cha Bề trên hỏi: “Thầy Martinô, Thầy muốn chúng tôi hát bài ca nào để tiễn đưa Thầy?”  Thầy đáp lại, “Xin hát kinh Tin Kính.”

 Thế là toàn thể anh em cao giọng cất lên bài ca tuyên xin Ðức Tin.  Tới câu “Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình” thì Thầy nhắm mắt lìa trần, linh hồn bay về với Ðấng mà các tu sĩ đang tung hô ca ngợi.  Hôm đó là ngày 4 tháng 11 năm 1639.

 Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã phong thánh cho Thầy Martinô de Porres ngày 6 tháng 5 năm 1962, và gọi người là “Martinô Bác Ái.”  Lễ kính Thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội được ấn định vào ngày 3 tháng 11 hằng năm.

 Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Mừng kính 2 thánh Simon và Giu-đê – Cha Vương

Hôm nay Giáo hội mừng kính 2 thánh Simon và Giu-đê, uớc mong bạn là một người dũng cảm với một quả tim nhiệt thành trong mọi lãnh vực. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Cậ`u nguyện cho nhau và thế giới được an lành nữa nhé .

Cha Vương

Thứ 4: 28/10/2026.    (t5-21)

THÁNH SIMON được tất cả bốn Phúc Âm nhắc đến. Trong hai Phúc  a^m, ngài được gọi là “người Nhiệt Thành” (Zealot). Phái Zealot là một nhánh Do Thái Giáo, đại diện cho chủ nghĩa dân tộc Do Thái. Ðối với họ, lời hứa cứu tinh trong Cựu Ước, có nghĩa là người Do Thái sẽ được tự do và có được một quốc gia độc lập. Chỉ có Thiên Chúa là vua của họ, nên việc nộp thuế cho người La Mã – là người đang đô hộ – được coi là xúc phạm đến Thiên Chúa. Chắc chắn rằng, một số người Zealot là miêu duệ tinh thần của người Maccabee, muốn tiếp tục lý tưởng tôn giáo và tranh đấu cho độc lập. Nhưng nhiều người trong nhóm họ cũng giống như quân khủng bố ngày nay. Họ lùng bắt để giết những người ngoại quốc và người Do Thái “cộng tác với địch”. Họ là những người chủ chốt trong vụ nổi loạn chống La Mã, và kết thúc bằng việc tiêu hủy thành Giêrusalem vào năm 70.

THÁNH GIU-ĐÊ  (Jude) là một nhân vật được đề cập đến trong Phúc Âm theo Thánh Luca, cũng như trong Công Vụ Tông Ðồ Thánh Mátthêu và Thánh Máccô gọi ngài là Thadeus (Ta-đê-ô), có nghĩa là “người dũng cảm”.  Sau ngày phục sinh Ta-đê-ô hỏi Chúa Giêsu: “Vì sao Thầy tỏ cho chúng tôi và không cho thế gian?” Và Chúa trả lời cho ông rằng Ngài tỏ mình qua những ai yêu mến Ngài. Ngoài ra, ngài không được nhắc đến ở chỗ nào khác trong các Phúc Âm, ngoại trừ, khi kể tên các tông đổ`. Các học giả cho rằng ngài không phải là tác giả của các thư Thánh Giu-đa. Thực ra, Giu-đê cùng tên với Giu-đa Ítcariốt (Judas Iscariot). Do đó, vì sự bất xứng của tên Giu-đa (bán Chúa), nên người ta đã gọi tắt là “Giu-đê”. Tương truyền sau đó cho biết người giảng đạo ở xứ Mesopotamia và đã chết vì đạo tại đó. Thánh tích của người hiện ở đền thờ Thánh Phêrô – Rome, Rheims và Toulouse nước Pháp. Người ta tôn kính Thánh Giu-đê như quan thầy “những hoàn cảnh thất vọng”. Trong kinh kính người có câu: “Lạy thánh tông đồ Giuđa Taddeo được cầu khẩn như vị trạng sư của những hoàn cảnh đau thương, gần như thất vọng, xin nghe lời những kẻ đang gặp khó khăn…”

       Có tương truyền khác cho rằng người chịu tử đạo cùng lúc với thánh Simon Tông Đồ tại Persia (Ba Tư). Cả hai cùng được mừng lễ kính chung trong một ngày. Hôm nay mời bạn hãy xin Chúa ban cho hai ơn: (1) Ơn “nhiệt thành” để rao giảng Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh,

 (2) Ơn “dũng cảm” để minh chứng cho đức tin của mình trong một thế giới đang bị sa đọa. 

From: Do Dzung

*****

Giêsu bên đời -tinmung.net

Mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị 22-10 – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 22/10 Giáo Hội mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị, Giáo Hoàng. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Luôn cầu nguyện cho nhau vả thế giới được bình an nhé. 

Cha Vương

Th5: 22/10/2026           (t6-21)

TÓM TẮT TIỂU SỬ: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol Józef Wojtyła sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan. Là con của một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg. Lúc nhỏ tuổi Ngài có tiếp xúc nhiều lần với nhóm người Do Thái tại Kraków. Trong thời Đức quốc xã chiếm Ba Lan trong Đệ nhị thế chiến, Ngài đã làm việc trong một mỏ đá và một nhà máy hóa học. Khi Ngài còn trẻ Ngài đã là một vận động viên, một diễn viên, một nhà soạn kịch, và một nhà ngôn ngữ học (Ngài biết đến 11 ngôn ngữ). Karol Wojtyła được phong chức linh mục vào ngày 1 tháng 11 năm 1946. Ngài dạy môn luân lý tại Đại học bách khoa Jagiellonian và sau này tại Đại học Công giáo Lublin. Vào năm 1958 Ngài được phong chức làm Giám mục Phụ tá Địa Phận Kraków và bốn năm sau Ngài làm Giám Quản Địa Phận (Vicar Capitular).

– Chịu Phép rửa tội ngày 20/6/1920. Ngài lớn lên với cha mẹ ngài ở Rynek. Sau đó gia đình dọn tới Krak Via Tyniecka.

– Ngài rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh phép Thêm Sức lúc 18 tuổi.

– Thụ phong linh mục năm 1946 tại Krakow lúc 26 tuổi.

– Làm Giám mục năm 1958 tại nhà thờ chính tòa Wavel lúc 38 tuổi.

– Làm Tổng Giám mục Krakow năm 1964, lúc 46 tuổi

– Được phong làm Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1967, lúc 47 tuổi.

– Được bầu làm vị Giáo hoàng thứ 246 ngày 16/10/1978 lúc 5:15 chiều là vị thứ 263 kế vị Thánh Phêrô ở tuổi 58. -Ngài là vị giáo hoàng trị vì lâu thứ ba trong lịch sử Giáo Hội. (26 năm và 4 ngày)

❦ Phương châm Giáo Hoàng là: “Totus Tuus” (tất cả cho Chúa).

❦ “Câu nói bất hủ của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô Đệ Nhị trong lễ đăng quang đã đánh dấu cả triều đại của ngài: “Anh em đừng sợ !”. Câu nói đó đã vượt ra khỏi quảng trường Thánh Phêrô, ra khỏi Vatican để đến tận chân trời góc biển, đặc biệt là đến tận những nước còn bị thống trị bởi chủ nghĩa và các chế độ cộng sản, trong đó có quê hương Balan của ngài.”

❦ “Anh em đừng sợ! Hãy mở tung cánh cửa rộng ra cho Chúa Giêsu Kitô!“

❦ Ngày cuối đời của ngài, ngài nói: “Anh em hãy để tôi đi về nhà Cha.”

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin Thánh Gioan Phaolô đệ nhị cầu bầu cho người dân nước Việt được an cư lạc nghiệp và vui hưởng tự do.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ

Mừng Lễ Kính Thánh TÊRÊSA AVILA, Trinh nữ – Cha Vương

Chúc ngày Thứ 5 an lành trong tình yêu của Chúa và Mẹ Maria nhé! Hãy tiếp tục cầu nguyện cho nền hoà bình trên thế giới.

Cha Vương

Thứ 5: 15/10/2026.    (t7-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Kính Thánh TÊRÊSA AVILA, Trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh (1515 – 1585) Têrêsa có lòng kính mến Đức Mẹ đặc biệt. Ngày ngày, ngài lần chuỗi Mân Côi để tỏ lòng tôn kính Đức Mẹ. Năm lên 12 tuổi, khi mẹ ngài mất, ngài đến quỳ trước ảnh Đức Mẹ, xin Đức Mẹ nhận ngài làm con, và hứa suốt đời sống xứng đáng làm con Đức Mẹ. Vậy hôm nay Bạn hãy nhận Đức Mẹ làm Mẹ đi, chưa muộn đâu! Nơi Đức Mẹ, Thiên Chúa ban cho Bạn một người bảo vệ nhiệt tình nhất. Mọi sự ưu ái của Mẹ đều nằm trong Kinh Mân Côi. Nếu Bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi nó sẽ mang lại cho Bạn nhiều điều bất ngờ. Sau đây là điều bất ngờ thứ 7 trong Kinh Mân Côi: Bạn bắt đầu sống biến cố Nhập Thể—Sức mạnh của chuỗi Mân côi nằm ở trong sự đơn giản của nó. Nó quá đơn giản đến nỗi mà dường như có thể ngu ngốc đối với những bộ óc thông minh. Vậy nên chúng ta thường nghĩ rằng, chúng ta cần phải tìm những giải pháp phức tạp, thông thái và đòi hỏi kiến thức tổng hợp để giải quyết những vấn đề phức tạp, khó khăn. Chúng ta tập trung vào vực thẳm của những vấn đề của mình và tự hỏi làm sao có thể tìm thấy giải pháp với một vấn đề quá lớn như vậy. Chúng ta không cần phải như thế. Thiên Chúa đến thế gian như một em bé nhỏ nhắn, yếu đuối và đơn độc khi sinh ra trong hoàn cảnh khó nghèo. Kinh Mân côi quá đơn giản tới mức mà nó có thể cầu nguyện trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là vũ khí mạnh mẽ nhất của đời sống cầu nguyện mà chúng ta có. “Chẳng có vấn nạn nào mà chúng ta lại không thể được giải quyết bởi chuỗi Mân côi, dầu có khó khăn đến đâu, dẫu là vấn đề thuộc thế gian hay trời cao, trong đời sống cá nhân hay gia đình.” (Sr. Lucia, một trong các thị nhân Đức Mẹ Hiện ra tại Fatima)

Mời bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với tâm tình dâng hiến cả cuộc đời của Bạn cho Đức Mẹ hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*****

Tận Hiến Cho Mẹ

THÁNH TÊRÊSA AVILA

THÁNH TÊRÊSA AVILA

 Đây là nhà cải tổ vĩ đại dòng Cát Minh, người đã nỗ lực hết mình để hướng dẫn chị em sống đúng tin thần đan tu.  Thánh nữ là nhà thần bí vĩ đại, để lại rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu nhất là quyển “Lâu Đài Nội Tâm,” giải thích hành trình tâm linh của một Kitô hữu tiến tới sự hoàn thiện.  Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 02 tháng 02 năm 2011 để nói về cuộc đời và tư tưởng của thánh nữ.

 *****

Anh chị em thân mến,

Trong những bài giáo lý trước đây, tôi đã chia sẻ về các vị Giáo phụ trong Hội Thánh, những nhà thần học lớn và nhiều người nữ thời Trung Cổ.  Tôi đã có cơ hội để suy nghĩ thấu đáo hơn về những vị được tuyên phong là “Tiến Sĩ Hội Thánh,” dựa trên đạo lý trổi vượt của các ngài.  Hôm nay, tôi xin được tiếp tục trình bày chủ đề này.  Tôi sẽ giới thiệu một vị rất nổi bật về linh đạo Kitô giáo cho mọi thời – đó là thánh nữ Têrêsa Avila, cũng được biết đến với danh hiệu thánh Têrêsa Giêsu.

 Thánh Têrêsa, tên gọi đầy đủ là Têrêsa de Cepeda y Ahumada, sinh ở Avila, Tây Ban Nha, năm 1515.  Trong quyển tự truyện, thánh nữ có đề cập đến một vài chi tiết thời thơ ấu của ngài.  Ngài được sinh ra trong một đại gia đình lớn, cha mẹ là “những người sùng đạo và hết lòng kính sợ Thiên Chúa.”  Thánh nữ có 3 chị em gái và 9 anh em trai.

 Khi còn bé, chưa đủ chín tuổi, Têrêsa đã có cơ hội đọc về cuộc đời của các vị tử đạo, và điều này đã truyền cho cô bé một cảm hứng mãnh liệt, khát khao được phúc tử đạo, đến độ Têrêsa chạy nhanh ra khỏi nhà, muốn được chết như một chứng nhân tử đạo và tiến lên cõi trời (x. Vida, 1,4); cô bé nói với cha mẹ: “Con muốn nhìn ngắm Thiên Chúa.”

 Một vài năm sau, Têrêsa phải nói về việc đọc sách thời thơ ấu của mình, và ngài chia sẻ rằng, nhờ đọc sách, bản thân mới khám phá ra con đường chân lý, được gồm tóm trong hai nguyên tắc nền tảng. 

Một mặt, “tất cả mọi sự trên thế gian này sẽ qua đi,” trong khi, mặt khác, duy chỉ Thiên Chúa mới tồn tại “mãi muôn đời,” một chủ đề được lặp lại nhiều lần trong các bài thơ nổi tiếng nhất của Têrêsa:

 Đừng để sự gì làm bạn lo lắng,

Đừng để điều chi làm bạn hoảng sợ,
Tất cả mọi sự kìa đang qua đi:
Thiên Chúa vẫn không bao giờ thay đổi.
Kiên trì giúp ta đạt được tất cả.
Có Thiên Chúa, ta chẳng thiếu thốn gì;
Chỉ mình Người lấp đầy tâm hồn ta.

 Khi Têrêsa chừng mười hai tuổi, thì thân mẫu qua đời, và thánh nữ đã tha thiết nài xin Đức Maria Rất Thánh Đồng Trinh trở nên Mẹ của mình (x. Vida, 1,7).

 Vào thời niên thiếu, Têrêsa tìm đọc những sách phàm tục, dẫn đến mấy trò tiêu khiển vô bổ, nhưng tới lúc đi học ở trường Santa María de las Gracias de Ávila của các nữ tu dòng thánh Augustinô, Têrêsa đọc nhiều sách thiêng liêng, đặc biệt là tìm hiểu các tác phẩm kinh điển về linh đạo của thánh Phanxicô, từ đó tiến dần đến đời sống thanh tịnh và cầu nguyện.

 Được hai mươi tuổi, Têrêsa gia nhập đan viện Nhập Thể của dòng Cát Minh ở tại Avila.  Trong đời sống tu trì, ngài lấy danh hiệu là “Têrêsa Giêsu.”  Ba năm sau, người nữ tu trẻ đã ngã bệnh nặng đến nỗi hôn mê bất tỉnh bốn ngày, trông như thể đã qua đời (x. Vida, 5,9).

 Khi chiến đấu với bệnh tật thể xác, Têrêsa cũng nhận thấy một cuộc chiến chống lại sự yếu đuối muốn cưỡng lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong nội tâm.  Thánh nhân viết: “Tôi đã ước mong được sống, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng rằng, không phải mình đang sống, mà đúng hơn mình đang vật lộn với bóng dáng của tử thần; không một ai cho tôi sự sống, và tôi cũng không thể nắm giữ được sự sống.  Chính Đấng có thể cho tôi sự sống đã không đến trợ giúp tôi vì những lý do tốt lành; tôi biết, đã nhiều lần Thiên Chúa dẫn tôi trở về với Người, và tôi vẫn thường lìa xa Người” (Vida, 7,8).

 Vào năm 1543, Têrêsa mất đi những người thân thuộc, gần gũi với mình; cha của thánh nhân qua đời và tất cả các anh chị em ruột, từng người một, dần di cư đến châu Mỹ.  Mùa Chay năm 1554, lúc đó Têrêsa được ba mươi chín tuổi, đạt đến ngưỡng cao nhất của cuộc chiến chống lại những yếu đuối của bản thân.  Việc tình cờ tìm thấy bức tượng “Đức Kitô bị thương tích nặng nề” đã để lại dấu ấn sâu đậm trên cuộc đời thánh nhân (x. Vida, 9).

 Trong giai đoạn đó, Têrêsa đã cảm nhận sâu sắc tư tưởng và tâm tình của thánh Augustinô trong quyển “Tự Thuật,” thế rồi ngài mô tả về ngày hệ trọng với kinh nghiệm thần bí của mình: “…cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa ập đến trên tôi thật bất ngờ, đến nỗi tôi không hồ nghi chút nào rằng, Thiên Chúa ở trong tôi, và tôi hoàn toàn chìm đắm trong Người” (Vida, 10,1).

 Song song với bước tiến triển trong nội tâm, Têrêsa bắt đầu ấp ủ ý tưởng thực hiện một cuộc cải tổ dòng Cát Minh: Năm 1562 ngài thiết lập Tu viện Cát Minh cải tổ đầu tiên ở Avila, với sự ủng hộ của Đức Giám Mục thành phố, Đức cha Don Alvaro de Mendoza, và không lâu sau đó cũng nhận được sự chấp thuận của cha Gioan Baotixita Rossi, Tổng quyền dòng Cát Minh lúc bấy giờ.

 Suốt những năm tiếp theo, Têrêsa tiếp tục thiết lập những Tu viện Cát Minh dành cho nữ, tất cả 17 Tu viện.  Cuộc gặp gỡ giữa Têrêsa với Gioan Thánh Giá mang tính nền tảng quyết định.  Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, Têrêsa đã thiết lập Tu viện đầu tiên dành cho những anh em Cát Minh cải tổ ở Duruelo, cách Avila không xa.

 Năm 1580, Têrêsa nhận được sự chấp thuận của Tòa thánh, công nhận dòng Cát Minh cải tổ của ngài là một tỉnh dòng độc lập.  Đây là khởi điểm cho dòng Cát Minh không đi giày.

[1]

 Thật vậy, cuộc đời dương thế của Têrêsa kết thúc khi ngài đang ở giữa giai đoạn hoạt động cải tổ của mình.  Thánh nhân qua đời vào buổi tối ngày 15 tháng 10 năm 1582, ở Alba de Tormes, sau khi thiết lập nữ tu viện Cát Minh ở Burgos, lúc đang trên đường trở về Avila.  Mấy lời khiêm tốn cuối cùng thánh nhân thốt lên: “Sau tất cả mọi sự, tôi ra đi như một người con của Giáo Hội.”  Têrêsa tiếp tục thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Đức Lang Quân của con, thời điểm mà con hằng chờ đợi bấy lâu đã đến.  Đây chính là lúc con được gặp gỡ Ngài, lạy Chúa của con.”

 Têrêsa đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Giáo Hội, dù rằng chỉ sống ở Tây Ban Nha.  Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô V phong chân phước vào năm 1614 và được đức giáo hoàng Grêgôriô XV ghi danh vào sổ bộ các thánh vào năm 1622.  Và vị tôi tớ của Thiên Chúa, Đức chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong ngài là “Tiến Sĩ Hội Thánh” vào năm 1970.

 Tuy không nhận được một sự giáo dục mang tính hàn lâm, khoa bảng, nhưng Têrêsa Giêsu đã tiếp thu rất nhiều từ giáo huấn của các nhà thần học, các vị trí thức, và các thầy dạy tâm linh.  Là một văn sĩ, Têrêsa luôn trung thành viết những điều mà bản thân đã trải nghiệm hoặc đã nhìn thấy nơi kinh nghiệm của những người khác,

[2]

hay có thể nói rằng, Têrêsa viết trên những hiểu biết mà bản thân đã thủ đắc.

 Têrêsa có cơ hội thiết lập nhiều mối tương quan thân hữu thiêng liêng với nhiều vị thánh, và đặc biệt là với thánh Gioan Thánh Giá.  Đồng thời, ngài cũng nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng việc đọc sách về các vị Giáo phụ, như thánh Giêrônimô, thánh Grêgôriô Cả, và thánh Augustinô.

 Trong số các tác phẩm quan trọng nhất của thánh nhân, chúng ta nên đề cập trước tiên đến toàn bộ tự truyện của ngài, El libro de la vida, Têrêsa gọi đây là “Quyển Sách Về Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa” (Libro de las misericordias del Senor).  Tác phẩm này được Têrêsa viết trong tu viện Cát Minh tại Avila năm 1565, kể lại tiểu sử và mô tả hành trình tâm linh, từng bước dẫn đưa linh hồn thánh nhân đến sự phân định về một “bậc thầy của những điều thiêng liêng,” thánh Gioan Avila.  Mục đích của Têrêsa là nhấn mạnh đến sự hiện diện cũng như hành động của một Thiên Chúa đầy lòng xót thương trong cuộc đời ngài.  Bởi thế, tác phẩm này thường trích những lời Têrêsa đối thoại với Thiên Chúa trong phút giây cầu nguyện.  Điều này làm cho tác phẩm thêm lôi cuốn, bởi thánh nhân vừa kể lại chi tiết, vừa giải thích những kinh nghiệm sâu sắc về mối tương quan với Thiên Chúa.

 Năm 1566, Têrêsa viết tác phẩm “Đường Trọn Lành” (El Camino de Perfección).  Ngài đã gọi cuốn sách này là “Những Lời Hướng Dẫn Và Khuyên Nhủ Của Têrêsa Giêsu Dành Cho Các Nữ Tu” (Advertencias y consejos que da Teresa de Jésus a sus hermanas).  Cuốn sách này được soạn cho 12 tập sinh của tu viện Cát Minh, tước hiệu thánh Giuse, ở Avila.  Têrêsa đề nghị với các chị em một chương trình nghiêm ngặt sống đời chiêm niệm để phục vụ Giáo Hội, và cội nguồn của nếp sống ấy là các nhân đức và tinh thần cầu nguyện theo Tin Mừng.  Trong số các đoạn nổi bật nhất phải kể đến là phần “Chú Giải Kinh Lạy Cha,” như khuôn mẫu cho đời sống cầu nguyện.

 Tác phẩm thần bí nổi tiếng nhất của Têrêsa là “Lâu Đài Nội Tâm” (El Castillo interior).  Ngài viết tác phẩm này vào năm 1577 khi vẫn còn trẻ.  Tác phẩm là một lối giải thích khác về hành trình tâm linh của chính thánh nhân, đồng thời cũng là tập sách về các điều lệ mang đến khả năng phát triển tròn đầy đời sống Kitô hữu đến mức hoàn thiện, dưới sự tác động của Thánh Thần.

 Têrêsa quan tâm đến cấu trúc của một lâu đài với bảy căn phòng như hình ảnh của nội tâm con người.  Đồng thời, ngài đưa ra biểu tượng về sự lột xác của con tằm chuyển biến thành con bướm, nhằm nhấn mạnh sự chuyển biến từ tự nhiên đến siêu nhiên.

 Thánh nhân lấy cảm hứng từ Sách Thánh, cụ thể là Diễm Ca, để đi đến hình ảnh sau hết về vị “Hôn phu và Hôn thê,” có thể miêu tả ở căn phòng thứ bảy, bốn khía cạnh quan trọng nhất của đời sống Kitô hữu: thuộc về Ba Ngôi, thuộc về Đức Kitô, thuộc về con người, và thuộc về Giáo Hội.

 Thánh Têrêsa dành trọn tâm huyết cho quyển “Sách Các Nền Tảng” (Libro de la fundationes), viết vào giữa những năm 1573 và 1582, về các hoạt động của ngài như Đấng sáng lập dòng Cát Minh cải tổ.  Trong quyển sách này, ngài nói về đời sống của một cộng đoàn tu sĩ mới hình thành.  Quyển sách này, cũng như quyển tự truyện của thánh nhân, được viết để đặc biệt tôn vinh công trình và tác động của Thiên Chúa trong việc thiết lập những Tu viện mới.

 Không dễ tóm tắt đời sống tâm linh sâu sắc và nổi bật của thánh Têrêsa trong vài lời.  Tôi chỉ muốn đề cập mấy điểm trọng yếu.

 Thứ nhất, thánh Têrêsa nói đến các nhân đức Tin Mừng như là nền tảng cho mọi Kitô hữu và cho đời sống con người, cụ thể là thái độ từ bỏ chiếm hữu, khó nghèo Tin Mừng, và điều này liên hệ đến tất cả chúng ta; rồi đến đức ái dành cho tha nhân như một yếu tố quan trọng của đời sống cộng đoàn và đời sống xã hội; tiếp đó, đức khiêm nhường tựa như tình yêu dành cho chân lý; đức kiên nhẫn như hoa trái của lòng can đảm Kitô giáo; đức cậy, điều mà thánh nhân miêu tả là niềm khát khao nguồn nước hằng sống.  Chúng ta cũng không quên những đức tính nhân bản mà thánh nữ chỉ dạy: thái độ nhã nhặn, thành thật, khiêm hạ, lịch sự, luôn niềm nở và cư xử có văn hoá.

 Thứ hai, thánh Têrêsa cho thấy một sự hòa hợp thẳm sâu với những nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh và niềm khát khao lắng nghe Lời Chúa.  Trên tất cả, thánh nữ cảm nhận một sự tương đồng, gần gũi nào đó với vị hôn thê trong sách Diễm Ca, với thánh Phaolô Tông đồ, cũng như với Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn và với Đức Giêsu trong Nhiệm Tích Thánh Thể.  Thế rồi, thánh nhân nhấn mạnh việc cầu nguyện quan trọng đến mức nào.  Ngài nói: “Cầu nguyện có nghĩa là sống tình bằng hữu, thường xuyên chuyện trò thân mật với Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết và rất mực yêu thương chúng ta” (Vida 8,5).  Quan niệm của thánh Têrêsa tương đồng với câu định nghĩa của Thánh Tôma Aquinô về đức mến, là “amicitia quaedam hominis ad Deum,” tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa, Đấng chủ động đi bước trước, trở nên bạn hữu của con người; tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa luôn khởi đi từ phía Thiên Chúa, Đấng là nguyên uỷ vạn vật.

[3]

 Cầu nguyện là sự sống và nó tiến triển dần dần qua mỗi bước tăng trưởng của đời sống Kitô hữu.  Cầu nguyện ban đầu là khẩu nguyện, rồi nội tâm hóa bằng suy niệm, cho đến khi kết hợp trong tình yêu với Đức Kitô và với Ba Ngôi.  Hẳn nhiên, trong quá trình tiến triển, đỉnh cao của cầu nguyện không phải là loại bỏ đi các cách cầu nguyện trước đó, đúng hơn là dần đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa, Đấng làm chủ toàn bộ đời sống con người.

 Hơn một đường lối sư phạm, giáo huấn của thánh Têrêsa là “cuộc khai mở” đích thực đời sống cầu nguyện: thánh nhân dạy cho những ai đọc các tác phẩm của ngài biết phải cầu nguyện thế nào, bằng việc cầu nguyện với những lời có trong sách ấy.  Thật vậy, ngài thường ngắt quãng sự đơn điệu, nhàm chán của những lời giải thích trong sách bằng vài lời cầu nguyện tự phát.

 Một chủ đề khác nữa mà thánh Têrêsa nói đến là vai trò quan trọng của nhân tính Đức Kitô.  Thực vậy, đối với Têrêsa, đời sống Kitô hữu chính là mối tương quan cá vị với Đức Giêsu vốn đạt đến cực điểm trong sự kết hiệp với Người nhờ ân sủng, lòng mến, và hoàn toàn bắt chước Người.  Vì tầm quan trọng của nhân tính Đức Kitô, thánh nhân hằng suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô gắn liền với bí tích Thánh Thể như là sự hiện diện của Đức Kitô trong Giáo Hội đối với đời sống của mọi tín hữu, và như là trung tâm điểm của Phụng vụ.  Thánh Têrêsa dành trọn tình yêu tuyệt đối cho Giáo Hội: trình bày một “Cảm thức Giáo Hội” (sensus Ecclesiae) rất sống động, mặc dầu thánh nhân đứng trước sự chia rẽ và mâu thuẫn rất lớn bên trong Giáo Hội vào thời đại của ngài.

 Thánh Têrêsa đã cải tổ dòng Cát Minh với ý định phục vụ và bảo vệ “Giáo Hội Công Giáo Rôma thánh thiện,” tự nguyện hiến dâng cuộc đời của mình cho Giáo Hội (x. Vida, 33,5).

 Một khía cạnh thiết yếu sau cùng về giáo huấn của thánh Têrêsa điều mà tôi muốn nhấn mạnh là sự trọn lành, như toàn bộ khát vọng và cùng đích của đời sống Kitô hữu.  Thánh nhân có một ý niệm rất rõ ràng về sự trọn hảo của Đức Kitô, được thực hiện qua các Kitô hữu.  Kết thúc của hành trình Lâu Đài Nội Tâm, trong “căn phòng” cuối cùng, Têrêsa mô tả về sự trọn hảo này, đạt đến việc cư ngụ của Chúa Ba Ngôi, trong sự hợp nhất với Đức Kitô, qua mầu nhiệmNhân Tính của Người.

 Anh chị em thân mến, thánh Têrêsa Giêsu là một thầy dạy thực thụ của đời sống Kitô hữu cho mọi người qua mọi thời.  Trong xã hội chúng ta, nhiều nơi thường thiếu vắng những giá trị tâm linh, thánh Têrêsa dạy chúng ta hãy trở thành những chứng nhân bất khuất của Thiên Chúa, về sự hiện diện và hành động của Người.  Thánh nhân dạy chúng ta hãy thực sự khát khao hướng về Thiên Chúa, Đấng hiện hữu nơi sâu thẳm trong tâm hồn, lòng khát khao này giúp chúng ta nhìn ngắm Thiên Chúa, tìm kiếm Thiên Chúa, đi vào cuộc trò chuyện với Người và trở nên bạn hữu của Người.

 Đây là tình bằng hữu mà tất cả chúng ta cần đến, điều mà chúng ta phải kiếm tìm lại mỗi ngày không ngơi nghỉ.  Cầu mong cho gương sáng của thánh Têrêsa, sự chiêm niệm thâm sâu và hoạt động có hiệu quả của thánh nhân, khích lệ chúng ta mỗi ngày biết dành ra một khoảng thời gian thích hợp để cầu nguyện, rộng mở tâm hồn cho Thiên Chúa, kiếm tìm Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa, khám phá tình bằng hữu của Thiên Chúa và đạt được sự sống đích thực; thật thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tự nhủ: “Tôi không sống, tôi không sống thực sự, bởi vì tôi không thi hành những điều cốt yếu nhất trong cuộc đời tôi.”

 Vì thế, thời gian dành để cầu nguyện không phải là khoảng thời gian vô bổ, đó chính là khoảng thời gian cho con đường sự sống mở ra; con đường mở ra để học biết từ nơi Thiên Chúa một tình yêu mãnh liệt dành cho Người, dành cho Giáo Hội và quyết lòng thực thi đức ái với tha nhân.

 Trích ĐGH Bênêdictô XVI, 36 Thánh Tiến Sĩ (Tp. HCM: Nxb Phương Đông, 2017), tr. 377-389.

From: Langthangchieutim


 

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII (1881 – 1963): VỊ MỤC TỬ VỀ KINH MÂN CÔI

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII (1881 – 1963): VỊ MỤC TỬ VỀ KINH MÂN CÔI

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII chào đời ở vùng Lombardi, Italia và có 13 anh chị em.  Khi còn ở chủng viện, ngài đã là hội viên của Dòng Ba Phanxicô.  Kết thúc thời gian tu học, ngài phục vụ Tòa Thánh trong nhiều công tác ngoại giao, đặc biệt là được bổ nhiệm làm sứ thần Tòa Thánh ở Pháp.  Trong Thế Chiến II, khi còn là sứ thần, ngài đã cứu giúp nhiều người Do Thái khỏi những điều kinh khủng của nạn tàn sát người Do Thái thời Đức Quốc Xã.  Đắc cử giáo hoàng năm 1958, ngài được tuyển chọn để dẫn dắt Giáo Hội trong những năm đầu khủng hoảng của thập niên sáu mươi.  Nhận thức rằng có một sự thay đổi văn hóa đang diễn ra trong xã hội, ngài đã khai mở một công đồng lịch sử, Công đồng Vatican II vào tháng 10/1962.  Đức Gioan XXIII có thói quen âm thầm ra khỏi thành Vatican để bách bộ trên những con đường ở Rôma vào ban đêm, vì thế, người ta gán cho ngài biệt danh là “Johnny Walker.  Ngài thường ngài là “Vị giáo hoàng của thánh Giuse” bởi vì ngài đã làm nhiều việc để cổ võ lòng sùng kính thánh Giuse.

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII rất có khiếu hài hước.  Một lần, khi được hỏi có bao nhiêu người làm việc ở thành Vatican, ngài đã trả lời: “Khoảng một nửa người!”  Năm 1963, ngài qua đời vì căn bệnh ung thư dạ dày. 

Lòng Sùng Kính Đức Maria

 Từ lúc còn thiếu thời, Đức Gioan XXIII đã có tình yêu lớn lao đối với Đức Mẹ, nhất là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.  Khi là một linh mục, ngài thể hiện lòng quý mến đặc biệt đối với Đức Maria và thường xuyên viếng thăm các đền thờ được cung hiến cho Mẹ.  Ngài hành hương đến Fatima ở Bồ Đào Nha; Czestochowa ở Ba Lan, và Lộ Đức (đền thờ Đức Maria mà ngài yêu thích) ở Pháp.  Ngài đến Lộ Đức lần đầu tiên vào năm 1905, và tiếp sau đó là hàng loạt các cuộc hành hương đến thánh địa này trong vai trò là sứ thần.  Quãng thời gian làm Tổng giám mục Venice, với tư cách là đại diện Đức Thánh Cha, ngài đã thánh hiến Vương Cung Thánh Đường mới ở Lộ Đức.

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII tin rằng lòng sùng đạo hướng về Đức Trinh Nữ Rất Thánh là biểu hiện tâm hồn của một người Công Giáo đích thực.  Trong triều đại giáo hoàng, Đức Gioan XXIII đã nỗ lực cổ võ lòng sùng kính Đức Maria.  Trước khi khai mạc Công đồng Vatican II, ngài có cuộc hành hương đến Đền Thánh Loreto để cầu xin sự trợ giúp của Đức Maria cho Công đồng.  Ngài chịu trách nhiệm án tuyên thánh cho nhiều vị có lòng sùng kính Đức Maria, đặc biệt là các thánh Vinh Sơn Pallotti và Phêrô Julian Eymard.

 Chiến Sĩ Kinh Mân Côi

 Khi còn nhỏ, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII yêu mến Kinh Mân Côi và cầu nguyện bằng lời kinh ấy mỗi buổi tối cùng với gia đình.  Ngài đem tình yêu Kinh Mân Côi vào trong đời linh mục của mình; khi là Tổng giám mục Venice, ngài đọc 15 chục Kinh Mân Côi mỗi ngày.  Sau khi được bầu làm giáo hoàng, thông điệp đầu tiên (26/09/1959) trong triều đại của ngài là về Kinh Mân Côi có tựa đề Grata Recordatio.  Trong đó, ngài nhắc lại và ca ngợi các thông điệp về Kinh Mân Côi của Đức Giáo hoàng Lêô XIII.  Qua đó, Đức Gioan XXIII khẳng định rằng Kinh Mân Côi là biện pháp xã hội nhằm khắc phục thời đại rối ren mà ngài được chọn để dẫn dắt Giáo Hội.

 Tình yêu Kinh Mân Côi của Đức Gioan XXIII lớn tới mức ngài thiết lập hẳn một lịch trình hằng ngày trong triều đại giáo hoàng cho phép ngài cầu nguyện hoàn toàn bằng Kinh Mân Côi.  Ngài đọc Năm Sự Vui vào buổi sáng, Năm Sự Thương vào buổi trưa, và lúc 7h30 mỗi buổi tối ngài đọc Năm Sự Mừng với các thành viên phục vụ điện giáo hoàng (thư ký, các nữ tu, quản gia).  Ngài đã viết hàng loạt bài suy niệm về các mầu nhiệm Kinh Mân Côi, và lưu ý rằng sau Thánh lễ và Các Giờ Kinh Phụng Vụ thì Kinh Mân Côi có vị trí cao quý trong số các hình thức đạo đức Kitô giáo.  Đức Gioan XXIII đặc biệt hỗ trợ tôi tớ Chúa, Patrick Peyton, trong những nỗ lực của Patrick để cổ võ các chiến dịch Kinh Mân Côi và gia đình Mân Côi, và khích lệ mọi người cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi.  Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII coi Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện đơn giản và dễ dàng nhất.

 Trích từ

Donald H. Calloway, MIC

Champions of the Rosary, Marian Press, 2016

 Chuỗi ngọc Mân Côi

 Lời cầu nguyện này – Kinh Mân Côi rất thánh – là hình thức đơn giản và dễ dàng nhất đối với mọi Kitô hữu.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Khi cha mẹ và con cái quây quần bên nhau đọc Kinh Mân Côi vào lúc cuối ngày, họ cùng suy ngẫm về mẫu gương sáng chói của lao động, của sự vâng phục và lòng bác ái nơi gia đình Nadarét; họ cùng học hỏi nơi Mẹ Thiên Chúa để biết âm thầm chịu đựng, cao thượng và can đảm chấp nhận những khó khăn, biết phân định những biến cố trong cuộc sống hằng ngày.  Chắc chắn rằng họ sẽ đương đầu với những vấn đề của cuộc sống gia đình cách dễ dàng hơn.  Nhờ đó, gia đình sẽ được biến đổi thành nơi nương ẩn bình an.  Dòng nước ân huệ của Thiên Chúa sẽ chảy đến họ, ngay cả ân huệ vô giá của thiên chức linh mục hay ơn gọi tu trì.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Dù tình trạng tâm linh có thế nào đi chăng nữa, thì bất cứ ai, khi sốt sắng đọc Kinh Mân Côi, chắc chắn sẽ tìm thấy một lời mời gọi điều chỉnh cuộc sống theo đúng những nguyên tắc của Kitô giáo.  Thực vậy, họ sẽ tìm thấy nơi Kinh Mân Côi một dòng suối tràn trề ân sủng, giúp họ làm trọn bổn phận của mình trong cuộc sống.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Đọc Kinh Mân Côi cách sốt sắng là một tổng thể gồm ba yếu tố.  Vì mỗi chục kinh là một bức tranh, và mỗi bức tranh lại bao gồm một bộ ba yếu tố đan quyện vào nhau: chiêm ngắm huyền nhiệm, suy tư thâm sâu, và ý hướng tốt lành.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Kinh Mân Côi là một hình thức cầu nguyện và suy niệm rất đáng ngợi khen.  Đang khi đọc Kinh Mân Côi, chúng ta đan kết một vòng hoa huyền nhiệm gồm Kinh Kính Mừng, Kinh Lạy Cha và Kinh Sáng Danh.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Là một thực hành đạo đức Kitô giáo, Kinh Mân Côi xếp sau Thánh lễ và Kinh Nhật Tụng dành cho hàng giáo sĩ, và dành cho giáo dân sau khi tham dự các bí tích.  Đó là một hình thức đạo đức kết hiệp với Thiên Chúa và nâng tâm hồn lên tầm mức siêu nhiên.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII 

Nguyện xin Kinh Mân Côi đừng bao giờ rời khỏi bàn tay của bạn.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

Kinh Mân Côi là vinh quang của Giáo Hội Công Giáo.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Ôi, Kinh Mân Côi đầy phúc lành và niềm vui!  Ôi, nơi dương thế cũng như trên các tầng trời vĩnh cửu được lắng nghe sự đảm bảo mà Kinh Mân Côi đem lại!

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 From: Langthangchieutim


 

–St. Francis of Assisi

Vu Chi Nguyen

“Hãy nhớ rằng khi rời khỏi thế gian này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì bạn đã nhận được—bạn chỉ có thể mang theo những gì mà bạn đã cho đi: một trái tim trọn vẹn được vun đắp bởi sự phục vụ chân thành, tình yêu thương, sự hy sinh và lòng dũng cảm”

–St. Francis of Assisi

Có những người giàu nứt vách đổ tường, tiền ăn không biết tới bao nhiêu đời mới hết nhưng lúc còn sống vẫn thích làm chuyện xấu, chuyện ác để tích luỹ thêm cho sự giàu có của họ để rồi khi rời khỏi thế gian này, không mang theo được gì cả mà còn bị người đời nguyền rủa khi còn sống và khi đã chết 

Hôm nay, đúng 800 năm ngày mất của Thánh Francis thành Assisi mà người Việt Công Giáo gọi là Thánh Phaxicô.  Thánh Phanxicô lớn lên trong một gia đình rất giàu có, là con trai của Pietro di Bernardone, một thương gia buôn bán lụa và vải vóc rất thành công và thịnh vượng ở Ý vào thế kỷ 12.  Ngài từ bỏ cuộc sống nhung lụa, dấn thân giúp đở những người nghèo khổ bệnh hoạn

Chiếc áo tu nghèo khổ của Ngài vẫn được bảo quản cho tới ngày nay

Cá nhân tui có nhiều kỷ niệm với ngôi nhà thờ thuộc dòng Phanxicô ở khu Đa Kao, Sài Gòn


 

Mừng kính Thánh Maria Faustina sứ điệp của lòng thương xót Chúa – Cha Vương

Hôm nay 05/10, Giáo hội mừng kính Thánh Maria Faustina sứ điệp của lòng thương xót Chúa, ước mong bạn cảm nhận được tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ  nhau trong cầu nguyện cho thế giới luôn nhé

Cha Vương

Thứ 2: 05/10/2026   (t4-22)

Khi vị thánh nữ này cất tiếng khóc chào đời tại Ba Lan ngày 25 tháng Tám năm 1905, thì song thân thánh nữ đã đặt tên cho ngài là Helen. Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế, Helen đã thực hiện một sứ vụ quan trọng là dạy cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu. Ngay từ lúc lên 7, Helen đã muốn sống cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa như một nữ tu. Khi được 25 tuổi, Helen vào tu trong dòng Chị Em Con Đức Mẹ Thương Xót, và nhận tên là sơ Maria Faustina.

    Công việc của sơ Maria Faustina thật giản dị. Sơ nấu ăn, làm vườn và giữ cửa cho tu viện. Chỉ có sự tốt bụng, trầm lặng và hồi tâm là đáng lưu ý. Và ít có người biết được những chiều sâu đích thực về đời sống tâm linh của sơ Faustina. Thiên Chúa đã chúc lành cho sơ Faustina Maria bằng nhiều ân sủng đặc biệt, kể cả ơn thị kiến, ơn tiên tri và ơn được nhận năm Dấu Thánh cách vô hình.

    Trong một thị kiến mà sơ Maria Faustina nhận được, Chúa Giêsu đã hiện ra trong y phục màu trắng. Người giơ cao một tay để chúc lành và tay kia thì chạm vào Thánh Tâm Người. Có hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một màu đỏ và một màu nhạt. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Máu cứu chuộc của Chúa Kitô, còn tia xanh nhạt biểu trưng nước thanh tẩy trong bí tích Rửa tội. Chúa Giêsu nói: “Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” Chúa Giêsu đã nói với sơ Maria Faustina rằng Chúa nhật sau lễ Chúa Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót.

     Sơ Maria Faustina đã viết nhật ký, chép lại mọi điều Chúa Giêsu muốn cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Trong đó, Maria Faustina đã viết những lời cầu nguyện thật dễ thương, biểu lộ mối tương quan rất mực thân thiết đối với Đức Chúa Giêsu. Và Đức Chúa Giêsu nói với Maria Faustina rằng thánh nữ chính là thư ký nhỏ của Người. Chính công việc đặc biệt của thánh nữ Maria Faustina đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào Lòng Thương Xót vô hạn lượng của Thiên Chúa.

    Chúa Giêsu hứa ban ơn tha thứ và ân sủng dư tràn cho bất cứ ai tôn sùng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Tận hiến cho Lòng Thương Xót Chúa bao gồm tin tưởng vào lòng nhân hậu Chúa, yêu thương tha nhân, năng lãnh nhận bí tích Hòa giải để luôn ở trong tình trạng có ân sủng và rước lễ ngày Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.

    Chỉ sau 13 năm sống trong bậc tu trì, sơ Maria Faustina Kowalska đã về trời vào ngày mùng 5 tháng Mười năm 1938 vì bệnh lao phổi, vừa tròn 33 tuổi.

    Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Maria Faustina Kowalska: “Cha mong muốn con hãy luôn bày tỏ lòng thương xót ra khắp mọi nơi. Con không thể tự biện minh gì về điều này!” Phương thế tốt nhất để chứng tỏ chúng ta tin cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu là biết tỏ bày lòng thương xót và luôn tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta có sẵn lòng cùng nhau thực hiện như vậy không? Vậy hôm nay mời bạn dành thời gian lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa để đền tội mình và tội lỗi của toàn thế giới. Sau đây là câu nói của ngài:

(1) Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh! Bao nhiêu lần hít thở, bao nhiêu lần nhịp tim đập, bao nhiêu lần dòng máu luân chuyển trong cơ thể con là bấy nhiêu ngàn lần con muốn tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. (Thánh Faustina)

(2) Chúa Thánh Thần không nói với một linh hồn chia trí và lắm lời. Chúa Thánh Thần nói qua những sôi động lặng lẽ của người với một linh hồn tịnh tâm, một linh hồn biết giữ thinh lặng. (Thánh Faustina)

Câu nào đánh động bạn nhất? 

From: Do Dzung

*****

Chúa Giàu Lòng Xót Thương – Thùy Loan 

Mừng kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su – Cha Vương

Nguyện xin bình an và xin ân sủng và bình an của Thiên Chúa ở cùng bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi. Hôm nay 1/10 Giáo Hội mừng kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới được bình an nữa nhé

Cha Vương

Thứ 5: 01/10/2022.    (t7-22)

Thánh Têrêxa là người con thứ năm của một gia đình Công giáo trung lưu thánh thiện và đạo đức. Mẹ của Bà qua đời khi Bà mới bốn tuổi, Bà cùng bốn người chị được người cha thánh thiện nuôi nấng dạy dổ. Cha của Bà là ông Martin và năm người con gái dọn về định cư tại Lisieux để được gần gủi với gia đình. Một thảm cảnh thứ hai lại xẩy đến với Bà là các chị Pauline và Maria mà Bà xem như người mẹ đều vào tu Dòng kín Carmel…

       Trong một đêm Noen, với một ân sủng lạ lùng và cao cả, Bà tìm lại được niềm vui cho tuổi trẻ và trong niềm hy vọng tràn trề với Tình Yêu Thiên Chúa mà Bà được nhận lảnh. Một cô bé nhút nhát yếu ớt trở nên bạo dạn và cương quyết, Bà cùng với cha mình đến Roma, trong buổi triều kiến ngày 9 tháng 4 năm 1888, Bà đã vượt qua mọi người và lính gác đến quì duới chân Đức Giáo Hoàng và xin phép được vào tu Dòng Carmel dù Bà mới 15 tuổi. Với lòng trung kiên tuyệt đối Bà tiến tới trên con đường nên thánh.

       Bà bị bệnh lao phổi trầm trọng và kinh niên, Bà phó thác mọi sự trong tay Chúa Kitô. Trong sự đau khổ triền miên, Bà hiến dâng lên Chúa để cầu xin cho những người tội lỗi trở lại với Đức Tin. Bà qua đời vào năm 1897 lúc mới 24 tuổi. Bà hứa sẽ làm “mưa hoa hồng” xuống trần thế và lên Thiên đàng bằng “con đường nhỏ”là làm những việc thiện dưới trần thế này.

       Chỉ vài năm sau khi Bà lìa đời, câu chuyện cuộc đời của Bà “Câu chuyện một linh hồn”, viết theo lệnh của Bề trên Dòng được phát hành và mọi tầng lớp dân chúng đã đón nhận nồng nhiệt. Nhiều người hành hương đến viếng tu viện Lisieux, họ đã nhận được những phép lạ và những ân sủng lạ lùng khi cầu xin cùng Thánh Têrêxa. Bà được phong hiển thánh năm 1928, và tuyên xưng là Đấng Bảo trợ các nhà truyền giáo. Đến năm 1997 thì Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II tấn phong Tiến sĩ Hội Thánh. 

(Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác)

Sau đây là những câu nói của thánh nhân, mời bạn hãy lắng nghe coi ngài đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì:

(1) Xin nhớ rằng không có điều gì là nhỏ bé dưới mắt Thiên Chúa. Hãy làm mọi việc với tình yêu.

(2) Vẻ rực rỡ của bông hồng và màu trắng của bông huệ không tước mất hương thơm của bông hoa tím hay lấy đi vẻ hấp dẫn mộc mạc của bông cúc dại. Nếu mỗi bông hoa nhỏ cứ muốn làm một bông hồng, mùa xuân hẳn sẽ mất vẻ yêu kiều.

(3) Hẳn là bạn cũng biết rằng Chúa chúng ta không quan tâm nhiều đến vẻ lớn lao hay sự khó khăn của các hành vi chúng ta làm, nhưng là tình yêu chúng ta có khi làm.

(4) Không có tình yêu, các hành vi, dù sáng chói nhất, cũng không đáng kể gì.

(5) Tin tưởng và chỉ tin tưởng mới dẫn chúng ta đến tình yêu.

(6) Không nên bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào mà không làm một hy sinh nhỏ, ở đây bằng gương mặt tươi cười, ở kia bằng một lời khả ái, luôn luôn làm việc đúng đắn dù nhỏ bé nhất và làm vì tình yêu.

(7) Đối với em, cầu nguyện là một sự trào dâng của con tim; cầu nguyện đơn giản là một cái nhìn hướng về trời, là một tiếng kêu nhận biết và yêu thương, ôm lấy cả thử thách lẫn niềm vui.

(8) Một lời nói hay một nụ cười thường cũng đủ để đưa sự sống tươi mát vào trong một tâm hồn thất vọng.

(9) Bây giờ em biết rằng bác ái chân thật hệ tại gánh lấy tất cả những khuyết điểm của người thân cận – không ngạc nhiên trước sự yếu đuối của họ, nhưng vui sướng về những nhân đức nhỏ nhất của họ.

(10) Con cầm lấy quyển Kinh Thánh. Thế là mọi sự dường như sáng ra với con; chỉ một chữ thôi cũng mở ra cho con những chân trời vô biên, sự hoàn thiện tỏ ra đơn giản với con.

(11) Điều duy nhất con thực sự ước muốn… là yêu cho đến chết vì yêu.

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Yêu Người Như Chúa Yêu


 

KẺ BÉ NHỎ BẨY THẾ GIỚI –  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời!”.

Archimède từng nói, “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng trái đất!”. Ông không bao giờ tìm được điểm tựa ấy; nhưng Têrêxa Hài Đồng Giêsu lại tìm thấy nó: cầu nguyện và yêu thương – một “đòn bẩy” đủ sức nâng cả thế giới đau khổ và tội lỗi.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến trẻ nhỏ. Và với Têrêxa, chính sự bé nhỏ mới là nơi Thiên Chúa đặt vào tay con người đòn bẩy lớn nhất – ‘kẻ bé nhỏ bẩy thế giới’.

Điểm độc đáo nơi Têrêxa không phải là làm những việc phi thường, nhưng là khám phá cách sống Tin Mừng ngay trong những việc nhỏ – la petite voie, “con đường thơ bé”. Trong một thế giới say mê những gì lớn lao, Têrêxa lại tin Thiên Chúa đặc biệt cúi xuống nơi những gì bé nhỏ, nghèo hèn và yếu đuối. Vì thế, “trẻ nhỏ” trong Tin Mừng không phải là sự non nớt, nhưng là thái độ tuyệt đối tín thác. Và đó là nghịch lý của Nước Trời: càng nhỏ bé, con người càng có chỗ cho quyền năng Thiên Chúa hoạt động. “Sự vĩ đại của Thiên Chúa xuất hiện nơi những ai biết dành chỗ cho Ngài!” – Hans Urs von Balthasar.

Vì thế, Têrêxa không xấu hổ vì yếu đuối hay bất toàn; trái lại, ví mình như cây cọ ba xu trong tay Thiên Chúa, một dụng cụ đơn sơ góp phần vào một kiệt tác. Và như trẻ con thường ngã mà không đau vì mình còn bé, Têrêxa hiểu rằng sự thánh thiện không khởi đi từ sức mạnh, nhưng từ một linh hồn đủ nhỏ để hoàn toàn nương tựa vào Chúa; vì có những ngày con người chỉ còn biết để Chúa nâng mình lên. Sự thánh thiện không phải là trèo lên đỉnh cao, mà là để Chúa cúi xuống nhấc bổng chúng ta lên! Đó là nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng.

Vậy mà bên dưới sự đơn sơ của Têrêxa lại là một linh hồn mang những khát vọng “ngông cuồng”. “Em muốn như các thánh, làm những chuyện ngông cuồng cho Chúa!”; “Cho con được tử đạo trong lòng hay nơi thân xác; tốt hơn, cả hai!”. Như một người tình say đắm, Têrêxa để tâm hồn mình bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Đức Kitô đến mức “Khi tâm hồn bị cuốn hút bởi làn hương say đắm của Ngài, nó không chạy một mình; tất cả người nó yêu đều được cuốn theo!”. Và như thế, sự nhỏ bé nơi Têrêxa không thu mình, nhưng trở thành một ngọn lửa âm thầm lan xa khắp thế giới; để rồi, trước lúc nhắm mắt, Têrêxa hứa sẽ tiếp tục “mưa hoa hồng” xuống trần gian.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “kẻ bé nhỏ” viên mãn đã “bẩy” thế giới. Ngài không cứu độ nhân loại bằng sức mạnh của đế quốc hay quyền lực áp đảo, nhưng bằng máng cỏ, thập giá và tấm bánh bẻ ra. Trong mắt thế gian, đó là thất bại; nhưng chính nơi sự tự hạ ấy, quyền năng Thiên Chúa đã nâng cả nhân loại lên. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là cố trở nên vĩ đại trước người đời, nhưng là dám sống hy sinh âm thầm với một tình yêu lớn. Linh hồn quá khổ sẽ không lọt qua được khe hẹp của Nước Trời! “Người bé nhỏ thu hút Đức Giêsu!” – Charles de Foucauld.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ nhỏ để Chúa làm những điều lớn; đủ yếu để biết con cần Chúa; và đủ yêu để âm thầm ‘bẩy’ thế giới bằng những việc rất nhỏ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

******

Lời Chúa Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Trinh Nữ, Tiến Sĩ Hội Thánh, 

01/10 -Thứ Năm Tuần XXVI Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/01.html

Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 18, 1-5

1 Khi ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời ?” 2 Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3 và nói : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

4 “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.


 

Mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ, người Ý (340-420)- Cha Vương

Chúc bình an nhé! Hôm nay Ngày 30/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ người Ý (340-420). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Đừng quên câu nguyện cho nhau và thể giới luôn được bình an nữa nhé

Cha Vương

Thứ 4: 30/09/2026.       (t6-22)

Thánh Giêronimô sinh quãng năm 340 tại Xơ-tri-đôn, Đan-ma-xi-a. Người đến Rô-ma học văn chương và đã lãnh bí tích Thánh Tẩy tại đó. Người sang Đông Phương và làm linh mục. Trở lại Rô-ma, người làm thư ký cho đức Giáo hoàng Đa-ma-xô. Thời gian này, người bắt đầu dịch Sách Thánh sang tiếng La-tinh và cổ võ nếp sống đan tu. Nhưng nhất là người đã sống ba mươi lăm năm cuối đời ở Bê-lem, gần cái hang nơi Đức Giê-su ra đời. Ở đây, người cầu nguyện hãm mình, chăm chỉ nghiên cứu, dịch và chú giải Kinh Thánh. Thánh Jerome qua đời tại Bethlehem ngày 30 tháng 9 năm 420. Xác thánh nhân được chôn cất kế bên hai người con thiêng liêng (Thánh Paola và Eustochium) dưới hầm mộ của thánh đường Giáng Sinh. Nhưng sau đó thánh tích của thánh Jerome được chuyển về La Mã. Thi hài của ngài hiện được chôn cất trong Ðền Ðức Bà Cả ở Rôma.

Đức Giáo Hoàng Boniface XIII đã tuyên xưng Thánh Jerome và Thánh Augustine là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 20 tháng 9 năm 1295

Thánh Giêrôme là một người thẳng tính, cương quyết. Ngài có nhân đức cũng như các tính xấu của một người ưa chỉ trích tất cả những vấn đề luân lý thường tình của con người. Như có người nhận xét, ngài là người không chấp nhận thái độ lưng chừng trong phẩm hạnh cũng như trong việc chống đối sự xấu xa. Ngài mau nóng, nhưng cũng mau hối hận, và rất nghiêm khắc với những khuyết điểm của chính mình. Người ta kể, khi nhìn thấy bức tranh vẽ Thánh Giêrôme đang cầm hòn đá đánh vào ngực, một giáo hoàng nói, “Ngài cầm hòn đá đó là phải, vì nếu không, Giáo Hội không bao giờ phong thánh cho ngài” (Ðời Sống Thánh Nhân của Butler)

Sau đây là những câu nói để đời của Thánh Nhân, bạn hãy bỏ ra mấy phút đọc và suy niệm coi thánh nhân đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì để đến gần với Chúa hơn mỗi ngày qua việc đọc và suy niệm Lời Chúa.

(1) Tốt, tốt hơn, tốt nhất. Đừng bao giờ ngưng nghỉ cho tới khi cái tốt của bạn trở nên tốt hơn và cái tốt hơn trở nên tốt nhất. 

(2) Người phạm tội thì trong lòng không có Thiên Chúa, những việc họ yêu thích đều trở thành chúa của họ…. 

(3) Vừa khi bị nhục dục tấn công, chúng ta hãy than thở: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con, xin đừng để con xúc phạm đến Chúa.” 

(4) Phần chúng ta là hiến dâng những gì chúng ta có thể, phần của Chúa là chu cấp những gì chúng ta không thể.

(5) Có bao nhiêu thương tích đau thương trên thân xác Chúa Giêsu, thì cũng có bấy nhiêu vết thương xé nát Trái Tim Mẹ. 

(6) Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô. (Thánh Giêronimô)

Câu nào đánh động bạn nhất. Đối với mình thì câu 1.

Thánh Giêronimô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

LẮNG NGHE LỜI CHÚA – HÀ THANH XUÂN