Mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ – Cha Vương

Hôm nay 03/07 Giáo hội mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ, ông Thánh Hồ nghi,  mừng lễ bổn mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Xin cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 03/07/2026.     (t5-25)

Thánh Thomas Tông Đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế và quả cảm theo Phúc  m của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Thomas đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Jérusalem dịp lễ Vượt Qua “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người” (Gn 11, 6)

Thật tội nghiệp cho Thánh Tôma! Chỉ có một câu nói của ngài mà bị gán cho cái tên “Tôma Hồ Nghi” trong suốt 20 thế kỷ. Nhưng nếu ngài nghi ngờ thì ngài cũng đã tin. Lời ngài tuyên xưng đã trở thành một phát biểu đức tin trong Tân Ước: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Gioan 20:24-28), và lời ấy đã trở thành lời cầu nguyện được đọc cho đến tận thế. Cũng nhờ ngài mà Kitô Hữu chúng ta có được lời nhận định của Ðức Giêsu: “Anh tin là vì anh đã thấy Thầy. Phúc cho những người không thấy mà tin” (Gioan 20:29).

  Thánh Tôma cũng nổi tiếng vì sự can đảm của ngài. Có thể điều ngài nói là do bốc đồng—vì ngài cũng bỏ chạy như các tông đồ khác khi Ðức Giêsu bị bắt bớ— nhưng chắc chắn ngài đã không giả dối khi nói lên ý muốn cùng chết với Ðức Giêsu. Ðó là khi Ðức Giêsu đề nghị đến Bêtania sau khi Lagiarô từ trần. Vì Bêtania rất gần với Giêrusalem, điều đó có nghĩa phải đi bộ ngang qua phần đất của kẻ thù và rất có thể sẽ bị giết chết. Nhận biết sự kiện này, Thánh Tôma nói với các tông đồ khác, “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Thầy” (Gioan 11:16b).

  Thánh Tôma còn được nhắc đến khi Ðức Giêsu hiện ra sau Phục Sinh, tại Hồ Tibêria khi bắt được nhiều cá một cách lạ lùng. Truyền thống nói rằng, sau biến cố Hiện Xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông Ðồ đi rao giảng khắp nơi, và Thánh Tôma đã loan truyền Tin Mừng cho người Parthia, Medes  và Persia (Ba Tư); sau cùng ngài đến Ấn Ðộ, đem Ðức Tin cho dân chúng ở vùng ven biển Malaba, mà giáo đoàn đông đảo ấy tự nhận họ là “Kitô Hữu của Thánh Tôma” theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy. Ngài đã chấm dứt cuộc đời qua sự đổ máu cho Thầy mình, đã bị đâm bằng giáo cho đến chết năm 72 ở nơi gọi là Calamine.

  Trong các hình của thánh nhân tay cầm một cây thước thợ nề mà theo tương truyền thánh nhân đã xây cung điện cho vua Guduphara ở Ấn Độ. Lễ kính thánh nhân ngày 03 tháng 7 là ngày chuyển dời thánh tích của thánh nhân về Edessa ở Mesopotamia.

 (Nguồn: “Điển Ngữ Các Thánh” của cố linh mục Hồng Phúc, CSsR)

❦  Trong ngày hôm nay hay mỗi khi Bạn cảm thấy mệt mỏi và bất lực về một vấn đề nào đó, mời Bạn, nếu có thể, hãy nhắm mắt lại và thốt lên lời tuyên xưng đức tin của Thánh Tô-ma: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Bạn có thể coi câu này như là lời chân thật từ đáy lòng của mình và lập đi lập lại nhiều lần để đón nhận sự bình an của Chúa.

From: Do Dzung

*********************************

Thánh Ca | Tôi Tin

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY – nhà báo Nguyễn Hồng Lam

Thao Teresa

 Bài viết của nhà báo Nguyễn Hồng Lam, không cùng tôn giáo.

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY

Tháng 7/1993, tốt nghiệp Đại học, tôi vào đời  bằng những chuyến đi qua lại dài ngày xuống miền Tây – vùng đất không quá xa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh nhưng trước đó tôi chưa có điều kiện biết nhiều.

Trên tất cả các chuyến xe đò tôi đi, ở tất cả các tuyến ngang dọc, tôi để ý thấy kính ngay trước mặt tài xế đều dán, treo hoặc gắn ảnh một vị  Linh mục cương nghị, khuôn mặt rất đàn ông với bộ râu chổi sể rất…mãnh liệt.

Đó là lần đầu tiên tôi biết đến Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị chủ chiên của giáo xứ – nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu đã mất từ gần nửa thế kỷ trước đó.

Điều kỳ lạ là, ngay cả những chủ xe, lái xe không tôn giáo hoặc theo các tôn giáo khác cũng đặt ảnh ông trang trọng trong xe mình. Đôi khi, ảnh Cha Diệp được thành kính đặt chung, ngang hàng với tượng Phật Bà Quan Âm, tượng ông Địa, tranh thánh Con mắt Thiên Quang Cao Đài…

Nói chung, người ta hiểu ngay, trong tín ngưỡng dân gian, di ảnh ông được xem như một tấm bùa hộ mệnh. Nhà xe, không phân biệt đức tin tôn giáo đều treo di ảnh ông như ký thác một niềm tin, mong ước an toàn cho những hành trình.

Nguyễn Lê Tùng, bạn đại học của tôi, đồng thời là chủ xe kiêm tài xế ở Rạch Giá khẳng định: “Linh lắm! Ảnh của Ngài được rước từ nhà thờ Tắc Sậy”.

Tôi tin. Nhìn ánh mắt ông trong ảnh, tôi thấy toát lên vẻ kiên định, cảm nhận được sự bao dung và ấm áp. Ai phúc đức với dân, được nhân dân tôn quý, tôi kính trọng và ngưỡng mộ người đó.

Hơn 30 năm nay, đi qua đi lại cung đường về Cà Mau, hễ thuận tiện là tôi lại ghé đến nhà thờ Tắc Sậy.

Tôi không phải giáo dân, cũng không mong cầu gì cả.

Tôi chỉ đến để chiêm ngưỡng một địa chỉ văn hóa, nơi một nhân cách cao cả từng sống và chết cho đức tin và sứ mệnh của mình; để tìm hiểu nhiều hơn về một con người từng sống và chết trong thanh thản với người dân xứ sở mình ngay giữa thời loạn lạc.

Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại An Giang, được truyền chức Linh mục năm 1924.

Ông nhận nhiệm sở tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu) từ tháng 03/1930, là linh mục thứ hai quản lý họ đạo này kể từ khi thiết lập nhà thờ Tắc Sậy vào năm 1925. 

Ông được người dân trong vùng nhớ đến bởi sự giản dị, ân cần, luôn sẵn lòng quan tâm đến người nghèo và khách lỡ đường, người gặp nạn cần cứu giúp, không phân biệt tôn giáo.

Ông tích cực trong việc phát chẩn, cứu đói; dành cả đất nhà thờ làm nghĩa trang an táng cho người nghèo không phải giáo dân.

Người Công giáo mang ơn ông vì những bài giảng giản dị dễ hiểu nhưng hùng hồn, thuyết phục.

Dưới sự phấn đấu và chủ trì của ông, nhà thờ Tắc Sậy đã được chuyển từ trong sâu ra ngoài mặt tiền quốc lộ, ngày một phát triển hơn, giúp đỡ được cho nhiều người hơn.

Cha Diệp đã mở rộng được 6 cộng đoàn Công giáo mới, lên tận xứ Đầu Sấu – Cần Thơ ngày nay.

Giai đoạn 1945 -1946, Nhật – Pháp và các giáo phái đánh nhau liên miên, biến khu vực Bạc Liêu – Cà Mau thành nơi tao loạn.

Nhiều  giáo dân trong khu vực phải tản cư.

Linh mục bề trên Trần Minh Ký ở Bạc Liêu đã viết thư kêu gọi Linh mục Trương Bửu Diệp tạm lánh, chờ  khi khu vực Tắc Sậy, Hộ Phòng ổn định sẽ quay trở lại.

Nhưng ông từ chối: “Tôi sống giữa đàn chiên, chết cũng giữa đàn chiên, tôi không đi đâu hết”. Bởi là mục tử, ông không bỏ rơi con chiên trong hoạn nạn.

Theo tư liệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 12/03/1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị lính Nhật (đào ngũ) bắt đi cùng với hơn 70 giáo dân tại giáo xứ Tắc Sậy, dự định tập trung thiêu chết họ.

Ôn tồn, nhẫn nại nhưng cương quyết, Cha Diệp đã dùng mọi cách thuyết phục, đấu tranh với lũ bạo quyền để ngăn chặn tội ác thảm sát, cứu dân lành.

Vì thế, ông bị chúng chặt sát hại, ném xác xuống ao. Hung thủ đích thực đã ra tay đến nay vẫn chưa được xác định. 

Nhưng cũng nhờ đó, ngay trong đêm ấy, 70 giáo dân đã được thả về và tản cư an toàn!

Suốt tám thập kỷ sau ngày Linh mục Trương Bửu Diệp thọ nạn, nhiều giáo dân và người ngoài Công giáo đã tin rằng họ đã từng nhận được “phép lạ” từ việc cầu nguyện với ông.

Hình ông được treo trang trọng nhiều nơi như gửi gắm một ước nguyện an lành

Sau 80 năm, Linh mục Trương Bửu Diệp đã được Giáo hội Công giáo phong Chân phước (hay còn gọi là  Á thánh – Beatus) vào ngày 2/7/2026.

Đây là lần đầu tiên một lễ phong Chân phước được tổ chức tại Việt Nam.

Trước đó, vào năm 2012, ông đã được Tòa thánh Vatican tuyên phong Tôi tớ Chúa ( Servus Dei) và sau đó là Đấng Đáng kính (Venerabilis).

Với tuyên vị Chân phước (Beatus trong tiếng La tinh hoặc Beatification trong tiếng Anh), việc tôn kính, sùng kính và cầu nguyện công khai chỉ được phép diễn ra trong phạm vi địa phương, giáo phận, hoặc quốc gia của vị đó.

Cha Diệp được phong Chân Phước vì được Giáo hội công nhận tử vì đạo.

Nếu (và cần) có thêm một phép lạ được Giáo hội công nhận xảy ra sau khi đã được phong Chân phước, ông sẽ được phong Hiển thánh (Sanctus, Canonization).

Khi được tuyên phong bậc cao nhất này, việc tôn kính và mừng kính ngài sẽ trở thành bắt buộc hoặc phổ quát trong toàn thể Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới.

Xin chúc mừng Hồng ân Thiên Chúa đã tưới đến Cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Đại Hồng ân cũng đã ở rất gần, bởi từ lâu, trong lòng đông đảo người dân miền Tây, Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã sống trọn trong đức tin gắn với phép lạ.

Chưa được tuyên phong, Cha Diệp cũng đã hóa thánh giữa cộng đồng!

nhà báo Nguyễn Hồng Lam


 

CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT CỦA CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP.

Duc Thong DO

***** 

1-Lịch sử và nguyên nhân cái chết của Cha Trương Bửu Diệp

8 Thg 11 2025

20 Min By: Lm. Binh Ha

Tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 tháng 1 năm 1897 tại làng Tấn Đức, An Giang (thuộc địa phận Phnom Penh thời bấy giờ). Ngay từ nhỏ, cậu bé Diệp đã được gia đình định hướng theo con đường tu trì: năm 1909 (12 tuổi), cha cậu gửi cậu vào Tiểu Chủng viện Cù Lao Giêng để nuôi dưỡng ơn gọi linh mục. Sau đó, thầy Diệp tiếp tục học tại Đại Chủng viện Nam Vang (Campuchia) và thụ phong linh mục năm 1924 tại Phnom Penh. Vị tân linh mục trẻ trở về phục vụ Giáo hội Việt Nam: từ năm 1924–1927, ngài làm linh mục phó tại họ đạo Hố Trư (tỉnh Kandal, Campuchia) rồi chuyển về làm giáo sư chủng viện Cù Lao Giêng (1927–1929). Tháng 3 năm 1930, Cha Diệp nhận nhiệm sở mới tại họ đạo Tắc Sậy, tỉnh Bạc Liêu, mở ra 16 năm mục vụ đầy nhiệt thành nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tại giáo xứ Tắc Sậy, Cha Trương Bửu Diệp nổi tiếng là một mục tử tận tụy và giàu lòng nhân ái. Không chỉ chăm lo đời sống đức tin cho giáo dân, ngài còn tích cực mở rộng hoạt động truyền giáo, thành lập thêm nhiều họ đạo nhỏ trong vùng như Bà Đốc, Cái Côn, An Hải, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn…. Tính tình cha Diệp rất hiền lành, nhưng khi giảng Lời Chúa thì lúc hùng hồn mạnh mẽ, lúc lại êm đềm sâu lắng – lối giảng truyền cảm ấy gây ấn tượng mạnh nơi giáo dân. Đặc biệt, ngài hết lòng thương yêu người nghèo khó và khách lỡ đường, không phân biệt lương hay giáo. Ông Huỳnh Văn Lập (người từng giúp lễ cho cha) kể rằng Cha Diệp thường mời những người nghèo đói vào nhà xứ, mở kho lúa của nhà thờ để họ lấy lúa xay giã làm gạo ăn qua cơn đói. Với đời sống khiêm nhường và bác ái, cha Trương Bửu Diệp nhanh chóng trở thành điểm tựa tinh thần không chỉ cho người Công giáo, mà cả nhiều lương dân quanh vùng cũng quý mến vị linh mục hiền lành này.

Bối cảnh lịch sử Nam Bộ thập niên 1940

Thập niên 1940, miền Nam Việt Nam chìm trong khói lửa chiến tranh và loạn lạc. Chiến tranh thế giới kết thúc để lại khoảng trống quyền lực: thực dân Pháp lăm le tái chiếm thuộc địa, trong khi phát xít Nhật vừa đảo chính lật đổ Pháp rồi đầu hàng Đồng minh, tạo điều kiện cho các lực lượng bản xứ nổi dậy. Tại Nam Bộ, tình hình đặc biệt rối ren với sự xuất hiện của nhiều thế lực quân sự và chính trị chồng chéo. Lực lượng Việt Minh cách mạng tràn về nông thôn kêu gọi kháng chiến, đồng thời các giáo phái vũ trang như Cao Đài, Hòa Hảo cũng nổi lên tranh giành ảnh hưởng ở nhiều địa phương. Bên cạnh đó, một số toán quân phiệt địa phương, tàn quân Nhật và các nhóm vũ trang tự phát cũng lợi dụng thời cơ để hoành hành. Tất cả tạo nên cục diện “tam quốc phân tranh” đầy bất trắc cho người dân miền Tây Nam Bộ sau Cách mạng Tháng Tám.

Trong bối cảnh hỗn loạn ấy, nhiều cộng đồng Công giáo ở miền Tây rơi vào tình thế nguy hiểm. Một số linh mục và giáo dân đã phải tạm lánh nạn khỏi xứ đạo để bảo toàn mạng sống khi chiến tranh lan đến. Riêng tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu), Cha Trương Bửu Diệp kiên quyết không rời bỏ đoàn chiên. Mặc cho chiến sự ngày càng đến gần, ngài từ chối mọi lời khuyên lánh nạn. Thậm chí Cha Bề Trên Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu từng kêu gọi cha Diệp ẩn tránh tạm thời; phía người Pháp cũng ba lần cho xe đến đón ngài lánh về nơi an toàn. Nhưng Cha Diệp quả quyết đáp: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”. Lời khẳng định ấy thể hiện rõ lập trường đức tin của vị mục tử: ngài chọn ở lại cùng chia sẻ hiểm nguy với giáo dân, đúng như tinh thần người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Chính lựa chọn can đảm này đã đặt nền móng cho sự hy sinh anh dũng của Cha Trương Bửu Diệp trong cơn binh biến.

Sự kiện dẫn đến cái chết năm 1946

Tháng 3 năm 1946, vùng Bạc Liêu trở thành điểm nóng xung đột giữa các lực lượng. Vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, biến cố đau thương đã ập xuống họ đạo Tắc Sậy: Cha Trương Bửu Diệp cùng hàng chục giáo dân của ngài bị một toán vũ trang ập đến bắt đi giữa đêm loạn lạc. Có nguồn tư liệu cho rằng lực lượng vũ trang địa phương đã lùa cha Diệp cùng khoảng 70 giáo dân và giam họ vào một kho lúa (lẫm lúa) ở Cây Gừa, dự tính châm lửa thiêu sống tất cả. Trước tình cảnh đoàn chiên bị đe dọa, Cha Diệp vẫn bình tĩnh an ủi mọi người, ban ơn giải tội và chuẩn bị tinh thần cho họ sẵn sàng chết vì đức tin. Ngài tha thiết xin những kẻ bắt giữ tha mạng cho giáo dân, nhận mọi nguy hiểm về phần mình: Cha Diệp nguyện chịu chết thay để cứu mạng đoàn chiên. Cuối cùng, kẻ bắt giữ đã chấp nhận lời khẩn cầu hy sinh ấy – chúng kéo cha đi và thủ tiêu ngài trong đêm, nhưng thả tự do cho các giáo dân còn lại. Nhờ sự hy sinh của vị mục tử, hơn 70 giáo hữu Tắc Sậy đã thoát chết và lẩn trốn an toàn trong đêm tối hỗn loạn.

Tuy nhiên, ai là thủ phạm sát hại Cha Trương Bửu Diệp và động cơ thực sự của chúng vẫn là vấn đề gây tranh cãi suốt nhiều thập kỷ. Trong hoàn cảnh chiến tranh phe phái phức tạp, đã xuất hiện nhiều giả thuyết khác nhau. Một số nhân chứng và tài liệu Công giáo ở hải ngoại cho rằng chính lực lượng Việt Minh đã bắt và sát hại Cha Diệp do nghi ngờ ngài cộng tác với Pháp, vốn là thế lực thực dân thù địch với cách mạng. Trong khi đó, các nguồn thông tin tại Việt Nam lại nghiêng về khả năng ngài bị giết do mâu thuẫn giữa các giáo phái địa phương. Cụ thể, theo lời kể lưu truyền, có hai sĩ quan Nhật đào ngũ sau Thế chiến II đã gia nhập lực lượng Cao Đài của một thủ lĩnh quân sự địa phương. Hai người Nhật này được cho là đã vu cáo Cha Diệp cấu kết với thực dân Pháp và trực tiếp tham gia sát hại ngài. Giả thuyết này hàm ý rằng cái chết của cha Diệp là hệ quả của tranh chấp phe phái: một bên là nhóm vũ trang Cao Đài có thù nghịch với người Pháp, bên kia là linh mục Công giáo bị nghi ngờ liên hệ với Pháp. Sự thật có lẽ nằm ở giao điểm của những yếu tố chính trị – tôn giáo chồng chéo trong vùng.

Mãi đến gần đây, cuộc điều tra lịch sử của Giáo phận Cần Thơ (2011–2017) mới đưa ra kết luận chính thức, góp phần sáng tỏ vụ việc. Bản báo cáo của giáo phận, dựa trên lời khai tuyên thệ của 23 nhân chứng (trong đó 13 người trực tiếp chứng kiến), khẳng định chắc chắn Cha Trương Bửu Diệp bị sát hại bởi hai tên lính Nhật đào ngũ vào ngày 12/3/1946. Những kẻ này hành động với động cơ “lòng thù ghét đức tin Công giáo” (odium fidei) – nghĩa là giết ngài chủ yếu vì oán ghét tôn giáo của ngài Báo cáo cũng bác bỏ mọi cáo buộc cho rằng Việt Minh hay Đảng Cộng sản Đông Dương liên quan đến vụ việc, coi đó là “vô căn cứ”. Song song đó, ủy ban điều tra của Giáo hội chỉ ra một nguyên nhân bổ trợ: sự xung đột lợi ích tại địa phương. Cha Diệp nổi tiếng là người kiên quyết bảo vệ đất đai và tài sản của giáo xứ, bênh vực quyền lợi người nghèo thay vì để các nhóm bạo lực chiếm đoạt. Chính lập trường cứng rắn này khiến ngài trở thành cái gai trong mắt một số kẻ xấu muốn trục lợi. Từ những mâu thuẫn âm ỉ ấy, họ đã cấu kết với nhóm lính Nhật và lực lượng vũ trang bản địa để triệt hạ vị linh mục. Có thể nói, Cha Trương Bửu Diệp đã trở thành nạn nhân của cả hận thù tôn giáo lẫn lòng tham và thù oán cá nhân trong thời loạn.

Sau khi Cha Diệp bị hành quyết, thi thể ngài bị bọn sát nhân vứt xuống ao nước gần kho lúa. Vài ngày sau, giáo dân mới bí mật tìm được thi hài cha trong tình trạng đặc biệt thương tâm: thân mình trần trụi, trên đầu và sau gáy có hai vết chém sâu, nhưng điều kỳ lạ là đầu vẫn chưa lìa khỏi cổ. Ngày nay, nhiều lời kể cho biết chính Cha Diệp đã “hiện về báo mộng” cho các chức sắc biết chỗ tìm xác ngài dưới ao nhà ông giáo Sự. Khi được vớt lên, thi thể cha Diệp vẫn hai tay chắp trước ngực, nét mặt bình thản như đang cầu nguyện, tựa như dấu hiệu ngài đã đón nhận cái chết trong niềm phó thác. Để tránh nguy hiểm, giáo dân lén an táng cha tại phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo gần đó. Mãi đến năm 1969, hài cốt cha mới được cải táng về lại nhà thờ Tắc Sậy nơi ngài từng coi sóc suốt đời mục vụ. Sự hy sinh oanh liệt và những tình tiết ly kỳ quanh cái chết của Cha Trương Bửu Diệp đã nhanh chóng lan truyền, làm nền tảng cho một niềm tin đặc biệt nơi giáo dân về sự thánh thiện của vị mục tử tử đạo.

Đức tin và sự hy sinh của người mục tử

Câu chuyện Cha Trương Bửu Diệp chấp nhận cái chết để bảo vệ đoàn chiên đã trở thành một biểu tượng sáng ngời về đức tin và lòng mục tử trong Công giáo Việt Nam. Ngay từ trước khi bị bắt, ngài đã thể hiện tinh thần “sống chết với đoàn chiên” qua việc ở lại giáo xứ giữa cơn binh biến, bất chấp hiểm nguy cận kề. Quyết định ấy xuất phát từ niềm tin son sắt và ơn gọi mục tử nơi Cha Diệp: ngài noi gương Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lànhluôn sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đàn chiên của mình. Trong giờ phút thử thách khốc liệt, cha Diệp vẫn vững vàng chu toàn bổn phận linh mục ban bí tích hòa giải, nâng đỡ tinh thần cho giáo dân, rồi hiến dâng mạng sống mình để đổi lấy sự sống cho người khác. Hành động “thí mạng vì bạn hữu” cao cả ấy chính là minh chứng hùng hồn cho tình yêu Kitô giáo mà Cha Diệp đã sống và giảng dạy.

Với Giáo hội Công giáo, cái chết của Cha Trương Bửu Diệp mang ý nghĩa của một sự tử đạo đích thực. Ngài đã chết vì trung thành với đức tin và bổn phận mục tử, dưới bàn tay những kẻ oán ghét đạo Chúa. Tinh thần quả cảm và sự phó thác của cha khi đối diện cái chết nêu gương cho hàng vạn tín hữu. Hình ảnh vị linh mục quỳ cầu nguyện trong khoảnh khắc sinh tử, rồi bình thản đón nhận nhát gươm sát hại, đã khơi dậy nơi lòng người niềm xúc động sâu xa về sức mạnh của đức tin. Nhiều giáo dân thời bấy giờ truyền tai nhau rằng Cha Diệp qua đời như một “hạt lúa mục nát” để trổ sinh hoa trái đức tin cho cộng đoàn – một cách ví von theo tinh thần Phúc Âm. Sau này, khi tưởng nhớ ngài, Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn từng chia sẻ rằng Cha Trương Bửu Diệp “là một linh mục thánh thiện, luôn lo lắng cho tương lai Giáo hội và khích lệ giáo dân sống đạo sâu sắc… Ngài đã sống và chết trọn vẹn cho họ”. Sự hy sinh anh hùng của Cha Diệp không chỉ cứu sống đoàn chiên Tắc Sậy năm ấy, mà còn trở thành ngọn đuốc đức tin soi sáng cho các thế hệ tín hữu Công giáo Việt Nam noi theo.

Mầu nhiệm quanh cái chết và lòng sùng kính Cha Diệp

Sau biến cố tử đạo của Cha Trương Bửu Diệp, nhiều câu chuyện mầu nhiệm và lòng sùng kính đặc biệt đã hình thành xung quanh ngài. Trước hết phải kể đến việc tìm thấy thi hài cha Diệp một cách nhiệm lạ: Giáo dân thuật lại rằng chính cố linh mục đã hiện về trong giấc mơ “chỉ điểm” nơi kẻ thủ ác giấu xác ngài dưới ao, giúp họ vớt được thi thể để an táng. Từ đó, mộ phần của Cha Diệp – dù ban đầu nằm khiêm tốn ở một họ đạo nhỏ – đã sớm trở thành điểm đến thiêng liêng cho những ai mến mộ ngài. Người ta tin rằng sự bình an trên nét mặt cha lúc qua đời và việc hai tay ngài vẫn chắp nguyện đã báo hiệu sự thánh thiện của vị tử đạo Chúa. Nhiều người bắt đầu kín đáo cầu khấn Cha Diệp, xin ngài bầu cử cùng Chúa cho họ vượt qua khốn khó trong cuộc sống.

Đặc biệt, từ sau năm 1975, các lời đồn về ơn lành và phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Cha Trương Bửu Diệp ngày càng lan rộng. Khởi đầu là câu chuyện ly kỳ năm 1977 tại Bảo Lộc (Lâm Đồng): Một bà cụ ngoại giáo nghèo bị ung thư bao tử giai đoạn cuối, nằm chờ chết, bỗng gặp “một linh mục Công giáo” ghé qua cho vài viên thuốc và tự giới thiệu là cha sở Tắc Sậy, rồi vội vã đi ngay. Uống thuốc xong, bà cụ bất ngờ khỏi bệnh. Quá đỗi ngạc nhiên và cảm kích, gia đình đưa bà tìm về tận Tắc Sậy (Bạc Liêu) để tạ ơn vị linh mục đã cứu mạng. Khi đến nhà thờ Tắc Sậy, vừa nhìn thấy bức ảnh trên mộ phần Cha Trương Bửu Diệp, bà cụ kinh ngạc nhận ra đó chính là vị linh mục đã cho thuốc mình hôm trước!. Câu chuyện “ơn lạ” này nhanh chóng loan truyền khắp nơi. Sau sự kiện ấy, ngày càng đông người từ các miền đất nước lũ lượt tìm đến mộ cha Diệp để cầu xin ơn lành và tạ ơn ngài, tạo nên phong trào hành hương sôi động suốt những năm cuối thập niên 1970.

Từ thập niên 1980 trở đi, lòng sùng kính cha Trương Bửu Diệp thật sự bùng nổ mạnh mẽ. Hằng năm, đặc biệt vào dịp lễ giỗ ngài (11–12 tháng 3 dương lịch), dòng người hành hương đổ về Tắc Sậy mỗi lúc một đông. Không chỉ người Công giáo mà cả nhiều người ngoài Kitô giáo cũng tìm đến phần mộ cha để cầu nguyện, xin ơn. Nhà thờ Tắc Sậy – nơi an nghỉ của Cha Diệp – dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng nhất miền Tây Nam Bộ, được dân gian ưu ái gọi là “Nhà thờ Cha Diệp”. Khách hành hương thuộc mọi tôn giáo cho biết họ đã nhận được nhiều ơn phúc nhiệm mầu sau khi khấn nguyện với Cha Diệp, từ những ơn chữa lành bệnh tật cho tới sự bình an trong tâm hồn. Hàng trăm, hàng ngàn tờ cáo phó tạ ơn được người mộ đạo gửi về nhà thờ như minh chứng sống động cho niềm tin vào sự linh thiêng của vị linh mục tử đạo.

Ngày nay, khu mộ phần của Cha Trương Bửu Diệp nằm trong Thánh đường Tắc Sậy khang trang, thường xuyên nghi ngút khói hương của khách hành hương. Ngôi mộ bằng đá đỏ đơn sơ khắc tên ngài được đặt trang trọng giữa gian cung thánh, bên trên là tượng Chúa Giêsu chịu đội mão gai, xung quanh luôn tươi mới những bình hoa và lễ vật感 tạ từ người đến viếng. Hai bên mộ, trên tường nhà thờ, là những câu liễn lớn đề chữ thư pháp: “Sống hiền danh phổ thác – Chết nêu gương sáng ngời”, như tóm lược cuộc đời và cái chết anh dũng của Cha Diệp. Khung cảnh tôn nghiêm ấy chính là trái tim của trung tâm hành hương – nơi mọi người dâng lời cầu nguyện và bày tỏ lòng kính ngưỡng đối với cha. Theo thời gian, những hiện tượng được cho là “ơn lạ” nhờ Cha Diệp chuyển cầu nhiều vô kể, đến mức người viết tiểu sử phải thừa nhận: “Sự lạ đếm không xuể”. Dù Giáo hội thận trọng chưa dùng từ “phép lạ” khi chưa điều tra xác minh, nhưng trong lòng đại chúng, cha Trương Bửu Diệp đã được tôn kính như một vị thánh sống, một điểm tựa thiêng liêng mang lại niềm hy vọng và nâng đỡ đức tin cho biết bao người.

Tầm ảnh hưởng và di sản

Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua từ ngày Cha Trương Bửu Diệp hy sinh, nhưng ảnh hưởng của ngài vẫn in sâu trong đời sống tôn giáo và văn hóa của người Công giáo Việt Nam, đặc biệt tại miền Nam và trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trước hết, tấm gương mục tử của Cha Diệp đã trở thành nguồn cảm hứng tinh thần mạnh mẽ. Nhiều thế hệ linh mục và giáo dân miền Nam lớn lên với câu chuyện về Cha Diệp – vị linh mục dám sống chết vì đoàn chiên – như một huyền thoại có thật về lòng trung kiên với đức tin. Trong những giai đoạn Giáo hội gặp khó khăn (như thời kỳ chiến tranh, hay giai đoạn sau 1975), chính ký ức về sự hy sinh của ngài đã tiếp thêm sức mạnh cho người tín hữu kiên trì bám trụ với niềm tin tôn giáo. Cha Diệp còn được nhớ đến như một mục tử luôn đứng về phía người nghèo khổ, yếu thế, sẵn sàng bảo vệ công lý xã hội – điều này làm ngài được kính phục không chỉ trong cộng đồng Công giáo mà cả bởi nhiều người ngoài Công giáo.

Thứ hai, Cha Trương Bửu Diệp đã để lại một di sản cụ thể là trung tâm hành hương Tắc Sậy. Từ một họ đạo nhỏ bé ban đầu, nay Thánh địa Tắc Sậy đã trở thành địa điểm hành hương tôn giáo nổi tiếng, đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách mỗi năm. Nhờ tấm lòng yêu mến Cha Diệp của cả giáo dân trong và ngoài nước, nhà thờ Tắc Sậy đã được mở rộng khang trang để phục vụ khách hành hương. Nhiều đóng góp từ người mộ đạo khắp nơi (kể cả đồng bào hải ngoại) đã giúp xây dựng nên ngôi thánh đường đồ sộ cùng nhà lưu niệm 5 tầng trưng bày tư liệu về cha Diệp ngay tại khuôn viên nhà thờ. Chính quyền địa phương cũng xếp Tắc Sậy vào tuyến điểm du lịch tâm linh của tỉnh, cho thấy sự ghi nhận giá trị văn hóa – tín ngưỡng của nơi này. Bằng sự linh thiêng lan tỏa, mộ phần Cha Diệp đã góp phần gắn kết tinh thần cộng đồng: không phân biệt tôn giáo hay xuất xứ, mọi người có thể gặp nhau tại Tắc Sậy trong cùng một niềm tin vào điều thiện và phép màu của lòng tin.

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, danh tiếng Cha Trương Bửu Diệp cũng vang vọng và tạo nên sợi dây liên kết đặc biệt. Nhiều hội đoàn và tổ chức mang tên Cha Diệp được thành lập ở Hoa Kỳ, Úc, châu Âu nhằm quy tụ những người ái mộ ngài. Chẳng hạn, tại Little Saigon (California, Mỹ) có Trương Bửu Diệp Foundation, một văn phòng mà đồng hương thường tìm đến để xin khấn và chia sẻ các ơn lành được cho là nhờ lời chuyển cầu của cha. Các hội ái mộ cha Diệp ở hải ngoại còn tích cực thu thập chứng từ về các phép lạ, hỗ trợ Giáo hội trong tiến trình tuyên thánh cho ngài. Với người Việt xa quê, hình ảnh Cha Diệp – một vị tử đạo Việt Nam cận đại – vừa là niềm tự hào đức tin, vừa là điểm tựa tâm linh cho cộng đồng lưu vong giữ vững gốc rễ văn hóa và tôn giáo.

Cuối cùng, tầm ảnh hưởng của Cha Trương Bửu Diệp được khẳng định một cách chính thức qua tiến trình tuyên thánh của Giáo hội Công giáo. Năm 2012, Tòa Thánh đã cấp phép mở hồ sơ phong thánh cho ngài, và cha Diệp được đặt vào hàng “Tôi tớ Chúa”【1†】. Đến ngày 25 tháng 11, 2024, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ký sắc lệnh công nhận Cha Trương Bửu Diệp đã tử đạo “vì lòng thù ghét đức tin”, tức chính thức nhìn nhận ngài là một vị tử đạo của Giáo hội. Quyết định này mở đường cho việc tôn phong Chân phước (Á Thánh) cho cha Diệp, dự kiến sẽ được ấn định trong thời gian sắp tới. Như vậy, từ một linh mục quê mùa xứ đồng bằng, Cha Trương Bửu Diệp đang dần được tôn vinh trên bình diện toàn cầu của Giáo hội hoàn vũ. Sự kiện này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là niềm vinh dự lớn lao đối với Giáo hội Việt Nam và cộng đồng tín hữu Việt trên khắp thế giới.

Kết luận: Cuộc đời và cái chết của Cha Trương Bửu Diệp là một thiên anh hùng ca thấm đẫm tinh thần đức tin và lòng bác ái. Trong khói lửa loạn ly của thập niên 1940, ngài đã sống trọn vẹn thiên chức mục tử, chấp nhận hy sinh cao cả vì đoàn chiên. Thời gian trôi qua, hy sinh ấy không hề bị lãng quên mà trái lại đã kết tinh thành một di sản thiêng liêng quý giá. Từ miền quê Bạc Liêu đến đô thị Sài Gòn, từ Việt Nam đến hải ngoại, hình ảnh Cha Trương Bửu Diệp – người mục tử tử đạo – tiếp tục tỏa sáng, nâng đỡ đức tin của bao tâm hồn. Ngài đã đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng của tình yêu Thiên Chúa, để lại bài học muôn đời về lòng trung thành với đức tin, lòng yêu thương con người và sự hy sinh vô vị lợi. Những giá trị đó chính là đóng góp to lớn và lâu dài nhất của Cha Trương Bửu Diệp cho đạo cũng như đời, xứng đáng được tôn vinh và noi gương cho các thế hệ mai sau.

Tài liệu tham khảo:

  • Báo Công giáo & Dân tộc: “Theo dấu chân cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp”.
  • Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: “Nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu”.
  • Vatican News: “Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sẽ được phong chân phước”.
  • Giáo phận Cần Thơ – HĐGMVN: “Chân dung Linh mục Việt Nam: LM Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp”.
  • Lm. Giuse Nguyễn Văn Thư: “Truyện dài cha Trương Bửu Diệp”.
  • AsiaNews: “The soon to be Saint Father Diep… honored even by non-Christians”.
  • Phúc trình Điều tra Tuyên thánh Gp. Cần Thơ (2025).

NGUỒN: Lịch sử và nguyên nhân cái chết của Cha Trương Bửu Diệp

……………………………………  

2-Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897–1946) – Cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp, cái chết và ý nghĩa cho ngày nay

Phêrô Vũ Văn Hài

19/12/2025

2851

Chia sẻ

WHĐ (12/11/2025) – Đây là tài liệu chính thức của Giáo phận Cần Thơ, đã được Tòa Thánh Vatican chuẩn thuận, được đúc kết từ cuộc điều tra kéo dài nhiều năm với nhiều nhân chứng, trở thành Tiểu sử chính thức của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp.

Lời giới thiệu

  1. Tiểu sử sơ lược của Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp (1897-1946)
  2. Cuộc điều tra
  3. Nhân cách và Sự nghiệp của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

3.1. Về tình yêu của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với mọi người

3.2. Thái độ của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với người nghèo, đặc biệt giữa nạn đói năm 1944-1945

  1. Cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và nguyên nhân

4.1. Sự thật

4.2. Động cơ

  1. Ý nghĩa của cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

5.1. Lời tuyên bố đó có ý nghĩa gì?

5.2. Thật sự, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã chết vì đức tin và để bảo vệ quyền lợi của người nghèo

Lời giới thiệu

Đây là tài liệu chính thức của Giáo phận Cần Thơ, được Toà Thánh Vatican chuẩn thuận.

Tài liệu này là kết quả của cuộc điều tra sau nhiều năm, với nhiều nhân chứng, được tóm gọn lại trở thành Tiểu sử chính thức về Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, do Giáo phận Cần Thơ công bố.

Theo quy định của Bộ Phong Thánh của Giáo hội Công giáo, ngày 11 tháng 10 năm 2021, Điều 52a: “Các tài liệu của Cuộc Điều Tra và Positio (tập hồ sơ) về việc tử đạo, các nhân đức anh hùng, sự hiến dâng mạng sống và việc tôn kính cổ truyền sẽ được giữ bí mật tuyệt đối trong vòng năm mươi (50) năm kể từ khi kết thúc cuộc điều tra. Mọi sự tham khảo bởi bên thứ ba phải được Thánh Bộ chấp thuận bằng văn bản”. Thế nên, những nhân vật và những nhân chứng về cuộc Tử đạo của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp trong tài liệu này được viết tắt (Ví dụ như: Ông Q., Linh mục V., Bà H., Ông S…).

Ước mong mọi thành phần Dân Chúa đón nhận và phổ biến tài liệu chính thức này, để Danh Chúa được vinh quang và nhiều người được hưởng ơn cứu độ.

Cần Thơ, ngày 15 tháng 8 năm 2025

Giám mục Giáo phận Cần Thơ

Phêrô LÊ TẤN LỢI

Nơi an nghỉ của Cha Phanxi cô Xavier Trương Bửu Diệp

  1. Tiểu sử sơ lược của Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp (1897-1946)

Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp sinh ngày 01 tháng 01 năm 1897 tại Tấn Đức, nay là xã Long Kiến, tỉnh An Giang. Cha là ông Trương Văn Đặng (1860-1935) và mẹ là bà Nguyễn Thị Thanh (1862-1904). Gia đình sống tại họ đạo Cồn Phước, do linh mục Nguyễn Linh Sớm, sinh năm 1857, coi sóc. Đây là một gia đình Công giáo làm nghề nông, sống theo những giá trị truyền thống của người Việt.

Sau khi vợ mất vào năm 1904, ông Trương Văn Đặng đưa con trai là cậu Diệp qua Battambang, Campuchia kiếm sống. Ông tái hôn với bà Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1890. Sau đó, hai vợ chồng cùng cậu Diệp trở về Cồn Phước, An Giang sinh sống. Tại đây, họ sinh thêm được một cô con gái tên là Trương Thị Thìn.

Năm 1909, khi lên 12 tuổi, cậu Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được nhận vào học bậc trung học tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vì từ thời bấy giờ cho đến năm 1955, tất cả các xứ đạo Công giáo trên lãnh thổ Việt Nam bên kia sông Hậu (Giáo phận Long Xuyên và Cần Thơ hiện nay) đều thuộc về Giáo phận Phnom Penh, do một giám mục người Pháp, thuộc Hội Thừa sai Ba Lê, cai quản, cho nên, sau khi tốt nghiệp, cậu Diệp được nhận vào Đại chủng viện Phnom Penh, Campuchia.

Năm 1924, Thầy Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được thụ phong linh mục. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó tại một làng người Việt Nam gọi là Hố Trư – nay là Ploutrey, xã Thomokô, huyện Lvea Em, tỉnh Kandal, Campuchia. Cho đến ngày nay, người dân trong làng vẫn còn nhắc nhớ về cha phó Phanxicô Xavier Diệp.

Đầu năm 1928, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được điều về dạy học tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, An Giang.

Tháng 3 năm 1930, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được bổ nhiệm làm chánh xứ Tắc Sậy. Đây là một họ đạo nhỏ ở tỉnh Bạc Liêu, ngài cũng phải coi sóc cả Khúc Tréo và các giáo dân sống rải rác trong vùng. Dưới sự hướng dẫn của Cha Diệp, số giáo dân tăng lên đáng kể, và nhiều nhà thờ mới được xây dựng. Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã rất thành công trong công tác mục vụ và truyền giáo, cho đến khi qua đời vào ngày 12 tháng 3 năm 1946.

  1. Cuộc điều tra

Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp có sức ảnh hưởng rất lớn, không chỉ ở tỉnh Bạc Liêu, tại Giáo phận Cần Thơ, mà còn ở nhiều nơi khác trên đất nước Việt Nam và cả nước ngoài. Mộ phần của ngài ở Tắc Sậy thu hút đông đảo mọi thành phần đến kính viếng, và hình ảnh của ngài hiện diện ở khắp nơi.

Lòng sùng kính của rất nhiều người dành cho Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và tầm ảnh hưởng vươn xa của ngài, không phải do Giáo phận Cần Thơ chủ ý tạo ra hay dẫn dắt, nhưng điều này đã được phát sinh và lan toả một cách tự nhiên trong lòng dân chúng và ngày càng phổ biến và phát triển.

Đài Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Trong những trường hợp như thế này, Giáo hội Công Giáo luôn phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt để xác minh tính xác thực và giá trị của lòng sùng kính đó. Cho nên, từ năm 2011 đến năm 2017, Giáo phận Cần Thơ đã tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng về cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp. Một cách cụ thể, một Ủy Ban Sử Học của Giáo Phận đã được thành lập để xem xét tất cả các tài liệu khả dĩ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp giúp tìm hiểu về cuộc đời và những sự kiện dẫn đến cái chết bi thảm của ngài. Hai mươi ba nhân chứng, cả Công giáo lẫn không Công giáo, đã được thẩm vấn sau khi công khai tuyên thệ làm chứng cách trung thực. Trong số đó, có 13 người là nhân chứng tận mắt chứng kiến, 10 người khác làm chứng về những gì họ nghe được từ những người trực tiếp chứng kiến.

Thể theo yêu cầu của Giáo phận Cần Thơ, Tòa Thánh đã xem xét kỹ lưỡng phương pháp tiến hành và kết quả của cuộc điều tra này, kể cả việc tham khảo ý kiến của một nhóm sử gia độc lập, và cuối cùng đã tuyên bố kết quả của cuộc điều tra là đáng tin cậy.

Do đó, vào ngày 25/11/2024, Đức Giáo hoàng Phanxicô cho phép Giáo phận Cần Thơ tiến hành các bước tiếp theo: chính thức công nhận linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là một mẫu gương sống Đạo cho ngày nay; và ban cho ngài danh hiệu truyền thống là “Chân phước”.

  1. Nhân cách và Sự nghiệp của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Tất cả các nhân chứng đều mô tả Cha Phanxicô Xavier Diệp là một linh mục tốt, tận tâm trong việc thi hành các bổn phận tôn giáo, nghiêm túc trong việc giữ gìn các nề nếp truyền thống trong gia đình (gồm có em gái, em rể và hai cháu của ngài), và rất quảng đại đối với người khác. Ngài đặc biệt quan tâm đến người nghèo khó, trẻ em, người bệnh tật, và những người đau khổ vì chiến tranh hay những tai ương khác.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp rất rộng lượng. Ngài không hề phân biệt đối xử giữa người giáo dân hay anh chị em lương dân, giữa Công giáo với các Tôn giáo khác, và ngài cũng không quan tâm đến yếu tố sắc tộc hay chính kiến. Tất cả những ai nghèo khổ đều có thể đến gặp ngài trực tiếp và được ngài đón tiếp trong tình bằng hữu và với những cử chỉ chia sẻ giống y như nhau.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp phát gạo cho bà con lương giáo

Để minh họa thêm, xin trích dẫn một vài lời khai thực tế của các nhân chứng sau khi họ tuyên thệ nói sự thật.

3.1. Về tình yêu của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với mọi người

Ông Q., một giáo dân, cho biết: “Cha sống giản dị, gần gũi, yêu thương và phục vụ giáo dân, nên bà con yêu mến cha… Cha yêu thương mọi người. Cha giúp đỡ mọi người lương giáo. Ai cần gì thì xin cha, cha cho”.

Linh mục V., lúc đó là một linh mục trẻ, kể lại: “Cha rất gần gũi, hiểu biết, phục vụ và yêu thương giáo dân. Dù trong hoàn cảnh xã hội loạn lạc, nguy hiểm, Cha Diệp vẫn ở lại với giáo dân chứ không chịu tản cư đi lánh nạn… Cha Diệp siêng năng làm lễ, giải tội và đi đến các họ lẻ và giáo điểm; và cha thường xuyên đi thăm những người già cả, ốm yếu, và giúp đỡ những người nghèo lương giáo”.

Bà L., lúc đó còn là một thiếu nữ, khi Cha Diệp qua đời, vẫn nhớ rất rõ: “Con thấy Cha Diệp khiêm nhường, hiền lành, đơn sơ, gần gũi giáo dân. Con nhớ cha hay đi thăm bà con, vào nhà để xem họ sinh sống làm sao… Cha Diệp cũng nhân từ và biết cách hoán cải người tội lỗi. Thời đó, ba con là con nhà khá giả, ham mê ăn chơi, không lo làm việc. Cha Diệp gặp ba con khuyên giải, hướng dẫn. Nhờ đó ba con hối cải, sửa đổi, và siêng năng làm việc”.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp rửa tội cho bà con dự tòng

Lời tóm tắt xác đáng nhất về điểm này là của Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn, người quen biết với Cha Phanxicô Xavier Diệp: “Ngài là một mục tử tốt lành, yêu thương, phục vụ, và sống chết với đoàn chiên… Ngài không chỉ tận tình chăm sóc những giáo dân trong họ đạo mà cả những lương dân; không chỉ trong họ đạo được trao phó mà cả những giáo điểm xa xôi… Cha thường xuyên đến những giáo điểm và họ đạo này cử hành Thánh lễ và các Bí tích cho giáo dân, và còn thăm viếng lương dân. Để đến được những nơi đó, cha thường đi bằng ghe xuồng hoặc đạp xe đạp… Cha Diệp tốn nhiều thời gian và hao tổn nhiều sức lực, tâm trí trong việc linh mục của mình. Cha yêu thương và biết dân rất rõ. Cha rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày và thiêng liêng của họ. Cha phục vụ họ và hy sinh cuộc đời cho họ”.

3.2. Thái độ của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với người nghèo, đặc biệt giữa nạn đói năm 1944-1945

Ông G., một giáo dân, khẳng định mạnh mẽ: “Cha Diệp thương mến cả người giáo cũng như người lương. Những người nghèo khổ được cha yêu thương, giúp đỡ nhiều lắm. Ba con là Biện Việc của giáo họ được cha bảo phải giúp đỡ người nghèo tùy hoàn cảnh của người ta. Lúc đó ngoài Bắc đang đói kém: có một số người Bắc tản cư vào Tắc Sậy, cha cũng giúp đỡ họ nhiều. Nhiều người xin học đạo. Cha còn lo lắng cho những người lương nhiều hơn nữa”.

Bên trong nhà thờ Tắc Sậy

  1. Cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và nguyên nhân

Cuộc điều tra kỹ lưỡng của Giáo phận Cần Thơ, dựa trên sự kiện và lời khai, đã bác bỏ hoàn toàn những giả định vô căn cứ xung quanh cái chết của Cha Diệp, và làm sáng tỏ động cơ vụ sát hại ngài.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp bị chém đầu

4.1. Sự thật

Hoàn cảnh cái chết của Cha Diệp đã được làm sáng tỏ ngoài sự nghi ngờ: ngài bị sát hại bởi hai lính đào ngũ Nhật Bản.

Cụ thể, thi thể của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được tìm thấy trong một ao cá; đầu bị chém chẻ làm đôi từ đỉnh đầu xuống cổ bởi một nhát kiếm. Không giống với bất kỳ binh lính nào khác trong khu vực, chỉ có lính Nhật Bản mới được trang bị và sử dụng thành thạo loại vũ khí này. Trên thực tế, nhiều người đã thấy những người lính Nhật đào ngũ mang kiếm Nhật bên mình trong địa bàn giam giữ Cha Diệp.

Bà H. kể lại: “Trong đám đó thì có mấy thằng Nhật… Mỗi thằng Nhật có mang kiếm dài, sáng giới. Lúc con đi từ lẫm bên kia sang lẫm ba má con, thằng Nhật tưởng con trốn nên rút kiếm dài sáng giới kê vào cổ con”.

Chính mắt một thành viên trong nhóm quân hỗn tạp đã đưa Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp cùng với người dân Tắc Sậy, cả Công giáo lẫn người lương, đến kho thóc Cây Gừa, và đã chứng kiến vụ hành quyết. Anh ta không tưởng tượng được rằng ngày hôm đó sẽ kết thúc bằng vụ sát hại một con người vô tội mà mọi người dân trong vùng đều kính trọng và yêu mến. Sau đó, anh ta vẫn là một người bạn của những người Công giáo từng là giáo dân của Cha Diệp. Ông D., một giáo dân, làm chứng: “Con không mắt thấy tai nghe sự kiện Cha Diệp bị bắt nhốt, vì con sống ở trong Chủ Chí… Nhưng con có người bạn là ông B. … Sau này, tối ngày ông ấy lại nhà con chơi và ông ấy kể chuyện này chuyện kia cho con nghe… Ổng kể rằng: ‘Bọn lính bắt Cha Diệp đến một cái ao cạn của nhà bên cạnh. Họ kêu cha quỳ xuống, rồi rút gươm ra chém cha từ sau về phía trước. Hai thằng lính người Nhật là người chém Cha Diệp. Thằng tên là N., thằng kia tên là Th.. Có ba thằng Nhật, Thằng Nhật T. thì ở nhà’. Sau khi Cha Diệp bị giết, khoảng mấy bữa thì con biết tin liền, vì những người ở Tắc Sậy ra vào đây nói cho biết”.

Lời khai gián tiếp này được đánh giá là đáng tin cậy, vì người kể chuyện không đặt mình vào vị trí thuận lợi; ngược lại, suốt quãng đời, anh ta vẫn xấu hổ vì đã là một kẻ cộng tác về mặt chất thể trong vụ hành quyết một con người vô tội. Lời khai của ông G., người đã đi tìm và kiểm tra thi thể của Cha Diệp, đã chứng thực sự việc: “Họ chém Cha Diệp hai nhát: nhát đầu, nhưng bị run tay hay sao đó, mà nhát chém bị lạng sớt sau ót. Rồi họ chém nhát thứ hai mới đứt cái đầu. Sau đó họ đạp xác Cha Diệp xuống cái giếng lạng”.

Ông S., một thành viên của gia đình Phật tử, là chủ đất nơi vụ hành quyết được thực hiện, làm chứng rộng hơn, và đề cập đến một số động cơ của những kẻ hành quyết: “Trong nhóm này có hai thằng Nhật tàn quân bị Tây đuổi… Họ lấy những cái tên Việt Nam… Hai thằng Nhật này là người giết Cha Diệp. Vì cái cách chết của Cha Diệp cho thấy điều đó. Cha bị chém chết từ phía ót sau ra phía trước còn dính da ở trán là cách chém của Nhật. Anh tôi về thăm nhà thấy những cây cau trong vườn bị chặt ngang ngọt sớt bởi kiếm của Nhật. Dao kiếm bình thường không chặt ngọt sớt được như vậy… Tại sao hai thằng Nhật này giết Cha Diệp? Hai thằng này thù Tây, vì Nhật bị thua Tây. Tụi nó coi Cha Diệp theo Đạo của Tây, theo Tây. Tụi nó ghét Tây nên nó giết Cha để trả thù Tây”.

Bà con lương giáo cầu nguyện nơi mộ phần của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

4.2. Động cơ

(a) Sau khi sự thật được xác nhận, những cáo buộc đằng sau cái chết của Cha Diệp đã được rõ ràng:

Cuộc điều tra của Giáo phận đi đến kết luận chắc chắn rằng cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp không liên quan đến “Việt Minh” hay “Đảng Cộng sản Đông dương” và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, “Đảng Cộng sản Đông dương” đã ra “Thông cáo tự ý giải tán” vào ngày 11 tháng 11 năm 1945 (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945-1947), NXB Chính trị quốc gia, hà Nội 2000, trang 19-20).

Còn Mặt trận Việt Minh lúc bấy giờ đặt nhiệm vụ trọng tâm là tìm được sự ủng hộ từ tất cả người Việt Nam, bất kể tín ngưỡng tôn giáo (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945-1047), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, số 9, trang 29).

Cuộc điều tra cũng chỉ ra rằng: các chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu của nền độc lập nước nhà luôn nhằm mục tiêu thúc đẩy hòa bình và bảo vệ mạng sống. Dưới đây là đoạn trích trong “Thư gửi Đồng Bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến, và uỷ ban hành chính Nam Bộ”, đăng trong Báo Cứu quốc, số 182, ngày 10 tháng 3 năm 1946, trước ngày Cha Phanxicô Xavier Diệp bị sát hại: “…Trong thời kỳ đình chiến này, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỷ luật là cần thiết hơn lúc nào hết. Và rồi đây, sau khi hòa bình đã thoả hiệp được, thì tinh thần phấn đấu của anh em vẫn là những lực lượng quý báu để đảm bảo cho nền độc lập hoàn toàn của nước nhà sau này. Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa. Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả tốt đẹp hơn nữa”. (xem: Hồ Chí Minh toàn tập, Quyển 4 (1945-1946), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, trang 228-229).

(b) Thái độ của Cha Diệp đối với Việt Minh như thế nào?

Tình hình xã hội thời bấy giờ khá phức tạp như lời người con trong gia đình Phật tử ở vùng lân cận Tắc Sậy, là chủ mảnh đất mà Cha Diệp bị giam giữ và bị giết vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, đã kể lại như sau: “Tình hình chính trị và xã hội ở vùng Tắc Sậy và Cây Gừa này vào những năm 1945-1946 rất loạn lạc, giặc giã… Gia đình tôi phải tản cư đi chỗ khác để nhà trống và hai lẫm lúa trống không người coi sóc. Thỉnh thoảng về thăm coi chút xíu. Vì thế, những người ta bắt và nhốt Cha Diệp và bà con ở Tắc Sậy trong hai lẫm lúa của ba tôi”.

Cũng như các giám mục và linh mục Công giáo Việt Nam thời bấy giờ, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp ủng hộ một quốc gia Việt Nam độc lập khỏi mọi cường quốc nước ngoài. Tuy nhiên, lập trường của ngài là ủng hộ một cuộc cách mạng hòa bình, không phải chiến tranh hay bạo lực. Điều này thể hiện rất rõ nét qua thái độ của Cha Diệp đối với Việt Minh. Ngài không hề có ác cảm với họ, nhưng không muốn tham gia vào các hoạt động quân sự. Và ngài đối xử với những người lính bình thường của họ rất thân thiện và ấm áp như với tất cả những người trẻ tuổi khác.

Những người lính Việt Minh ở gần Tắc Sậy không ngần ngại đến thăm Cha Diệp một cách thoải mái, thậm chí khá là thân thiện, như lời Bà L., một giáo dân, làm chứng: “Con không thấy Cha Diệp làm chính trị hay quân sự. Nhưng con biết Cha Diệp có quan hệ giao tiếp tốt với hết mọi người: người Pháp, người Nhật, người Cao Đài; người Việt Minh… đến thăm cha cũng tiếp chuyện bình thường”.

Cô M., con gái của một giáo dân sống gần Cha Diệp kể về thái độ như một người cha của Cha Diệp đối với những người lính trẻ Việt Minh: “Con không thấy có đồn bót, lính bộ đội Việt minh hay lính Pháp ở nhà thờ Tắc Sậy. Sau này con nghe ba con nói lại là vài bộ đội Việt Minh đến gặp Bác Diệp để xin bánh tét. Bác nhờ giáo dân gói bánh tét đem cho họ”.

(c) Cha Diệp có thông đồng với quân đội Pháp không?

Câu trả lời cho câu hỏi này một lần nữa là: “Không!”. Một số lời khai có tuyên thệ cho phép cuộc điều tra kết luận rằng Cha Diệp không hề thông đồng với quân đội Pháp.

Bà A., sau khi tuyên thệ đã làm chứng: “Con không thấy Cha Diệp có lính ở nhà thờ và cũng không có liên hệ nhiều với người Tây”.

Ông G., một giáo dân khác, có câu trả lời chi tiết hơn về mối quan hệ của Cha Diệp với các nhóm vũ trang ở vùng đất bên kia sông Hậu: “Sau khi Nhật Bổn thất trận rồi, nó mới trao quyền lại cho người Pháp. Lúc đó lính Pháp đã trở lại đóng đồn ở Hộ Phòng, cách Tắc Sậy khoảng 2km. Theo con hiểu, người Pháp tôn trọng đạo Thiên Chúa. Khi Tây đi ruồng, người lương giáo đều tụ về nhà thờ. Lúc đó Cha Diệp ra đứng trước nhà thờ. Tây và ‘Thổ’ [Khmer] thấy cha thì bỏ đi luôn… Cha chỉ chăm sóc con chiên mà thôi. Cha không có lính tráng để giữ nhà thờ. Với quân đội Pháp và lính đánh thuê của họ, mối quan hệ rất căng thẳng, nhưng bằng nhân cách của mình, Cha Diệp đã buộc họ phải tôn trọng thường dân”.

Bà H. giải thích thêm: “Vào thời đó, ở Tắc Sậy loạn lạc, bất an. Lính Tây và lính Thổ ở Hộ Phòng thỉnh thoảng đi ruồng ở Tắc Sậy. Họ đến bắt đàn bà con nít, nên Cha thường kêu mọi người đến nhà thờ tập trung để cha mặc áo dòng đứng bảo vệ. Nhiều người phải bỏ xứ Tắc Sậy tản cư đi các nơi khác”.

Bà Nh., một giáo dân khác, giải thích cách Cha Diệp kiên quyết từ chối bất kỳ sự bảo vệ nào của Pháp: “Ông Cố Diệp không làm chính trị, quân sự gì hết. Ông cố chỉ lo làm việc của Linh mục. Thỉnh thoảng có ông Tây bà Đầm đến nhà thờ Tắc Sậy đi lễ Giáng Sinh, chứ không đến thăm cha… Vì các ‘ông biện Họ’ biết vụ việc tranh chấp đất đai với nhà thờ khiến người ta thù ghét, nên mới khuyên ngài đi lánh nạn một thời gian. Nhưng Ông Cố không chịu. Ông Cố nói: ‘Chết sống ở giữa họ đạo. Ai muốn giết ông Cố thì giết!’. Nhưng con biết các ông biện có đem cha đi lánh nạn ban đêm ở bên kia sông. Nhiều lần họ muốn bắt Cha Diệp ban đêm nhưng không gặp cha. Vì thế, họ tính chuyện bắt Cha Diệp ban ngày”.

Cuối cùng, một nhân chứng làm chứng rằng Cha Diệp đã bác bỏ những đề nghị thực tế mà người Pháp đưa ra: “Con hồi đó con còn nhỏ. Nhưng con nghe người lớn ở Tắc Sậy kể lại rằng thằng Pháp lại nói với cha rằng cho giáo dân đi lính cho nó, thì nó cho súng giữ nhà thờ. Nhưng cha không chịu. Cha nói: ‘Không. Linh mục thì cần gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo phe phái chính trị nào’”.

(d) Âm mưu giết người

Câu hỏi sau đây nên đặt ra: Tại sao Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là một linh mục nghèo, khiêm tốn, trong một họ đạo tầm thường mà lại bị sát hại? Ai sẽ được lợi khi giết Cha Diệp?

Tranh chấp thực sự mà Cha Diệp có liên quan là với một số ít địa chủ. Trong cuộc tranh chấp này, Cha Diệp đã kiên quyết bảo vệ quyền lợi của những người nghèo, những người thấp kém trong xã hội cần có đất đai để sinh sống. Cũng vậy, Cha bảo vệ quyền lợi của Giáo hội, mà cụ thể là giáo xứ, trong việc quản lý đất đai mà giáo xứ sở hữu để giúp đỡ những gia đình khó khăn, phần đông là những người chạy nạn đói. Một số địa chủ không chấp nhận điều đó, và tuyên bố tất cả đất khai hoang trong khu vực là lợi ích riêng của họ. Nhiều nhân chứng, chủ yếu là giáo dân, cho biết rõ danh tính và cách thức thâu tóm đất đai của những kẻ tham vọng đó. Ví dụ:

Bà L. cho biết: “Con biết một ông điền chủ tên gọi là Ông chủ Z. có tranh chấp đất đai với Cha Diệp. Ông Chủ Z. lấn ranh đất Nhà Chung. Cha Diệp phải đưa ra tòa và cha thắng kiện”.

Ông Q. kể rằng: “Con nghe nói vì lý do tranh chấp đất đai ở Đồng Gò. Ông Chủ Z. tranh chấp đất với Cha Diệp, nhưng ông ấy thua kiện. Ông phe phái với các chủ đất khác, tìm cách bắt Cha Diệp. Ông chủ Z. là người chủ mưu”.

Bà A. có nhắc đến tên một địa chủ khác được đào tạo ở Pháp. Người này có thể đã trở thành một trong những đồng phạm của ông Z.: “Mọi người yêu mến Cha, ngoại trừ ông Ba Y. Một lần con đã nghe ông ta tranh luận với Cha Diệp và gọi ‘mày’ và ‘tao’ với Cha”.

Bà Nh. làm chứng rằng: “Còn thêm một cái nhà thờ ở vùng biển nữa gọi là nhà thờ An Hải. Ông chủ Z. được chính quyền người Pháp cho ông ta khai khẩn đất đai và hóa đất mấy ngàn công ở vùng biển. Cha Diệp xin chính quyền Pháp đất để xây nhà thờ. Chính quyền Pháp đồng ý. Họ lấy lại một số đất của ông Chủ Z. và cho Cha Diệp để xây nhà thờ và cho giáo dân nghèo làm ruộng sinh sống. Cha Diệp đã xây nhà thờ An Hải và đem dân xuống dưới đó sinh sống. Hồi đó, con có xuống nhà thờ An Hải hát lễ. Từ đó, ông chủ Z. sinh ra thù ghét Cha Diệp vì ông bị mất quyền lợi. Con nghe mấy ông Biện nói chuyện với nhau về ông chủ Z. như vậy”.

Nhân chứng cuối cùng khẳng định chắc chắn sự tồn tại của một âm mưu giết Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp. Cô N. khai: “Con nghe dư luận cho rằng, hồi đó có ông chủ Z. tranh chấp đất đai ở biển Gành Hào với Cha Diệp. Ông chủ Z. là người giầu có. Cha con nói lại rằng Cha Diệp có giấy tờ đất đai, còn ông chủ Z. không có giấy nên ông ta thua kiện. Do đó, mấy năm sau, khi Cha Diệp mời ông Chủ Z. đi dự lễ Noel, ông không còn đi lễ nữa. Sau này, ông mướn người ta giết Cha Diệp”.

  1. Ý nghĩa của cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Từ nhiều năm nay, rất nhiều người, thuộc mọi tầng lớp xã hội và hoàn cảnh khác nhau, từ khắp nơi trên đất nước và cả từ nước ngoài, thuộc nhiều tôn giáo – tín ngưỡng – niềm tin khác nhau… đổ về mộ phần của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp tại Tắc Sậy, thuộc Giáo phận Cần Thơ. Và rất nhiều người, lương cũng như giáo, khi đến với Cha Diệp đã nhận được nhiều ơn lành qua sự cầu bầu của ngài. Bằng chứng hùng hồn nhất về lời cầu bầu của ngài là rất nhiều lời tạ ơn được dâng lên cho ngài qua những bảng tạ ơn nơi trung tâm hành hương Tắc Sậy. Nhiều người đến với ngài và qua lời bầu cử của ngài, họ đã đến gần với Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã suốt đời tôn thờ và tận tâm phục vụ.

Giáo phận Cần Thơ đã nỗ lực chào đón mọi người như cách thức mà Cha Diệp đã chào đón những người gặp khó khăn. Các linh mục được Giám mục yêu cầu hướng dẫn và hỗ trợ tinh thần và vật chất cho khách hành hương. Và sau khi đã ghi nhận, tìm hiểu và chứng thực về ý nghĩa của lòng mộ mến Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp của đông đảo dân chúng, và cứu xét cách thận trọng và khôn ngoan dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, sao cho phù hợp với đức tin Công Giáo và quy tắc sống Đạo, Giáo phận Cần Thơ đã thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng xem xét và phê chuẩn về cuộc điều tra mà Giáo phận đã tiến hành từ năm 2011 đến nay.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã trả lời cho thỉnh cầu của Giáo phận Cần Thơ vào ngày 25 tháng 11 năm 2024, khi ngài tuyên bố rằng: “Cha Trương Bửu Diệp đã bị giết vì lòng thù ghét đức tin vào ngày 12 tháng 3 năm 1946” và truyền công bố sự thật ấy cho tất cả mọi thành phần trong Giáo hội Công Giáo và cho tất cả những người thành tâm thiện chí.

5.1. Lời tuyên bố đó có ý nghĩa gì?

Trong suốt cuộc đời mình, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã trở nên tất cả cho mọi người để phục vụ mọi người, và dành tình cảm đặc biệt cho những người dễ bị tổn thương nhất: trẻ em, người già, người bệnh và người nghèo.

– Đối mặt với sự lạm dụng của các băng nhóm vũ trang, Cha đã bảo vệ những người yếu thế nhất: phụ nữ, thiếu nữ, và trẻ em.

– Đối với những anh chị em bất hạnh, đặc biệt những nạn nhân của nạn đói năm 1945, Cha đã khôn ngoan tổ chức các hoạt động cứu trợ hiệu quả.

– Đối với việc quản lý đất đai tập thể, Cha đã ra sức bảo vệ không vì lợi ích cá nhân, mà là để bảo vệ quyền lợi của người nghèo.

– Đối với việc mục vụ của một mục tử giữa đoàn chiên, Cha đã sống và chết vì niềm tin, Cha không phân biệt đối xử, trái lại, luôn chạnh lòng thương xót mọi người, cho dù họ thuộc tầng lớp xã hội nào, có quan điểm chính trị ra sao, hoặc thuộc về tín ngưỡng nào…

– Là một người yêu chuộng hòa bình và là bạn của mọi người, Cha không khinh miệt hay thù ghét ai, và luôn từ chối tham gia vào các hành động vũ trang chống lại đồng bào của mình, dù thuộc phe phái nào, thậm chí còn từ chối vũ khí để tự vệ.

– Cha đã chết vì những lý tưởng trên đây, và mọi người biết đến Cha đều yêu mến, cho dù họ thuộc tôn giáo hay chính kiến khác nhau.

– Tuy nhiên, Cha đã trở thành nạn nhân của một số ít kẻ muốn chiếm đoạt tài sản của người nghèo.

5.2. Thật sự, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã chết vì đức tin và để bảo vệ quyền lợi của người nghèo

Người Công giáo giờ đây gọi Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là “Vị Tử đạo” vì Cha đã hy sinh mạng sống của mình cho những người được giao phó cho Cha, để bảo vệ đức tin Kitô giáo, và các đức tính yêu thương, công bằng và hòa bình – là những điều không thể tách rời khỏi đức tin Kitô giáo.

Người Công giáo muốn tôn phong Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là “Chân phước Tử đạo” vì Cha đã thể hiện thật rõ nét qua cuộc sống và cái chết của mình các Mối Phúc thật trong Phúc Âm: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó… Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói… Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc… Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa…” (Lc 6, 20-22)

Nhà khấn Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp tại giáo xứ Cồn Phước, Chợ Mới

Nguồn: LINH MỤC PHANXICÔ XAVIER TRƯƠNG BỬU DIỆP (1897-1946) – CUỘC ĐỜI, NHÂN CÁCH, SỰ NGHIỆP, CÁI CHẾT VÀ Ý NGHĨA CHO NGÀY NAY – Nhân chứng Đức Tin – Hoa Xương Rồng

Chia sẻ

NGUỒN: Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897–1946) – Cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp, cái chết và ý nghĩa cho ngày nay | Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm


 

CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Patrick Lew Hayashi – PLBCông Giáo Rôma

  CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

”Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Có những con người, càng đi qua năm tháng, người ta càng nhớ.

Không phải vì họ đã làm nên những điều vĩ đại khiến lịch sử phải ghi tên, mà bởi cuộc đời họ đã lặng lẽ chạm đến trái tim của biết bao người.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một người như thế.

Suốt gần tám mươi năm qua, dòng người vẫn không ngừng tìm về Tắc Sậy. Có người đến để tạ ơn, có người đến để cầu xin, có người chỉ đơn giản muốn ngồi thật lâu bên phần mộ của một vị linh mục mà họ chưa từng gặp. Điều lạ lùng là rất nhiều người trong số ấy không phải là người Công giáo.

Họ đến vì tin rằng, ở nơi ấy có một tình yêu rất thật.

Một tình yêu đã được viết nên bằng cả cuộc đời.

Và ngày 02 tháng 7 năm 2026 tới đây, niềm tin ấy được Giáo hội long trọng tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước.

Đó không chỉ là niềm vui của Giáo phận Cần Thơ hay của người Công giáo Việt Nam, mà còn là lời tạ ơn vì giữa lòng dân tộc Việt đã có một vị mục tử sống trọn vẹn Tin Mừng của Đức Kitô.

Cha Diệp sinh năm 1897 trong một gia đình Công giáo bình dị ở miền Tây Nam Bộ.

Tuổi thơ của ngài không có gì đặc biệt. Con đường dâng mình cho Chúa cũng giống như biết bao chủng sinh khác của thời ấy: âm thầm học tập, kiên trì cầu nguyện và từng ngày chuẩn bị cho chức linh mục.

Năm 1924, ngài được truyền chức.

Không ai biết rằng, vị linh mục trẻ năm ấy sẽ trở thành một trong những gương mặt được người dân Việt Nam yêu mến nhất.

Điều làm nên sự đặc biệt của Cha Diệp không phải là những bài giảng hùng hồn.

Không phải những công trình lớn lao.

Cũng không phải những chức vụ quan trọng.

Điều làm nên con người ngài lại là những điều rất nhỏ.

Một nụ cười dành cho người nghèo.

Một lời an ủi dành cho người đang tuyệt vọng.

Một bữa cơm sẻ chia.

Một chuyến đi thăm người bệnh giữa đêm.

Một cánh cửa nhà xứ luôn rộng mở.

Ngài sống giữa người dân như một người cha hơn là một vị lãnh đạo.

Có lẽ vì thế mà người ta gọi ngài bằng cái tên rất thân thương:

“Cha Diệp.”

Không cần thêm bất cứ danh xưng nào nữa.

Rồi chiến tranh tràn về.

Những ngày đầu năm 1946, miền Tây chìm trong loạn lạc, ly tán.

Nỗi sợ hãi phủ kín các làng quê.

Người ta tìm cách chạy trốn.

Ai cũng mong giữ lấy mạng sống của mình.

Cha Diệp cũng có cơ hội để rời đi.

Nhiều người đã khuyên ngài như thế.

Nhưng nếu người mục tử bỏ đi trước, ai sẽ ở lại với đoàn chiên?

Có lẽ chính trong khoảnh khắc ấy, cuộc đời Cha Diệp đã phản chiếu rõ nhất hình ảnh của Đức Giêsu.

Ngài không chọn sự an toàn.

Ngài chọn đoàn chiên.

Ngài không chọn cứu mình.

Ngài chọn ở lại.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, Cha Diệp bị bắt cùng nhiều giáo dân.

Theo nhiều chứng từ được lưu truyền và được nghiên cứu trong hồ sơ phong chân phước, ngài đã chấp nhận hy sinh chính mình để nhiều người khác được tha mạng.

Cuối cùng, vị linh mục ấy ngã xuống.

Không phải trên bục giảng.

Không phải trong tiếng chuông nhà thờ.

Mà giữa một thời khắc đầy hận thù của chiến tranh.

Ngài chết khi vẫn đang sống đúng điều mình đã rao giảng.

“Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

Có lẽ không có bài giảng nào hùng hồn hơn chính cái chết ấy.

Có những cái chết khép lại một cuộc đời.

Nhưng cũng có những cái chết mở ra một hành trình mới.

Cha Diệp thuộc về điều thứ hai.

Từ một ngôi mộ nhỏ ở Tắc Sậy, từng đoàn người tìm đến.

Ban đầu là giáo dân trong vùng.

Rồi đến những người ở khắp mọi miền đất nước.

Ngày nay, Tắc Sậy đón những bước chân đến từ nhiều quốc gia, nhiều tôn giáo, nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Có người mang theo bệnh tật.

Có người mang theo những đổ vỡ.

Có người mang theo những lời cầu xin chưa biết ngỏ cùng ai.

Và cũng có người chỉ đến để cảm nhận một sự bình an rất khó diễn tả.

Điều giữ họ quay trở lại không phải vì những câu chuyện kỳ diệu được truyền miệng.

Mà là vì họ nhìn thấy nơi Cha Diệp hình ảnh của một con người đã yêu thương đến tận cùng.

Một tình yêu không phân biệt giàu nghèo.

Không phân biệt tôn giáo.

Không phân biệt thân quen hay xa lạ.

Một tình yêu mang khuôn mặt của Đức Kitô.

Việc Giáo hội tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước hôm nay không phải là để dựng thêm một bức tượng.

Cũng không phải để người ta chỉ biết đến ngài như một vị chuyển cầu cho những ơn lành.

Điều Giáo hội muốn nhắc chúng ta chính là chứng tá của một cuộc đời.

Giữa một thế giới mà con người ngày càng sợ mất mát, Cha Diệp dạy chúng ta biết cho đi.

Giữa một xã hội mà ai cũng muốn bảo vệ chính mình, ngài dạy chúng ta biết ở lại với người khác.

Giữa những tính toán hơn thiệt của cuộc sống, ngài nhắc chúng ta rằng tình yêu đích thực luôn cần sự hy sinh.

Có lẽ đó cũng là lý do vì sao, sau gần một thế kỷ, người ta vẫn gọi tên Cha Diệp bằng tất cả sự kính yêu.

Không phải vì ngài đã làm những điều phi thường.

Mà vì ngài đã sống điều bình thường với một tình yêu phi thường.

Yêu thương bằng cả trái tim.

Phục vụ bằng cả cuộc đời.

Và trao hiến đến hơi thở cuối cùng.

(Nguồn: Catholic News)

(Lm. Trần Chính Trực) 


 

Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện – Cha Vương  

Chúc bạn ngày đầu tuần luôn có Chúa bên cạnh để soi sáng, vỗ về, an ủi cho đến hết tuần luôn không quên cầu nguyện cho nhau và cả thế giới luôn được bình an nhé.

Cha Vương  

Th 3: 30/6/2026.    CN 26-26

Quà tặng thứ 8 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện

TIN MỪNG:  Đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án. (Ga 5:29)

SUY NIỆM: Theo quan niệm của Thánh Kinh, người công chính được hiểu là những người nỗ lực chu toàn thánh ý Thiên Chúa, chu toàn lề luật và làm điều thiện. Tuy nhiên, sự công chính nơi thánh cả Giuse không chỉ hệ tại ở việc thực thi các mệnh lệnh của lề luật, nhưng hơn thế, lòng chính trực, sự trung thành tuyệt đối của thánh nhân vượt xa những đòi hỏi của lề luật. Đức công chính nơi thánh Giuse thể hiện ở sự ngay thẳng nội tâm tương ứng với đức ngay thẳng của cách sống bên ngoài. Trước mặt Thiên Chúa, dưới ánh nhìn của Thiên Chúa, thánh nhân như thế nào thì ngài muốn bộc lộ ra như vậy. Dưới mái nhà Nazaret không có những bóng mờ ẩn ý. Trái lại, sự ngay thẳng, chân thành và cởi mở của từng thành viên đã hiệp nhất thành gia đình thánh.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện, xin giúp chúng con giữa cuộc đời đầy giả dối và bon chen, biết chọn cho mình một lối sống chân thành, ngay thẳng, dù chúng con có phải chịu thiệt thòi. Xin giúp chúng con biết noi gương ngài, luôn trung thành tuân giữ lề luật Chúa với tất cả tâm tình yêu mến, để chúng con được Chúa xót thương. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con luôn ý thức uốn nắn trí tuệ và trái tim chúng con. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen 

From: Do Dzung

***************

NGƯỜI CÔNG CHÍNH (Lm Huy Hoàng) – Cô giáo Hồng

Mừng kính trọng thể 2 thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô – Cha Vương

Hôm nay Giáo hội mừng kính trọng thể 2 thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô, mừng lễ bổn mạng đến những ai chọn Phê-rô và Phao-lô làm quan thầy nhé. Chúc mừng, chúc mừng! Không quen cầu nguyện cho nhau và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 29/06/2026.      (t3-21)

Sơ lược tiểu sử Thánh Phê-rô:

. Sinh tại Bethsaida, xứ Galilê, làm nghề đánh cá

. Thánh Phêrô là tông đồ trưởng trong số mười hai thánh tông đồ của Chúa Giêsu.

. Luôn có mặt trong những biến cố quan trọng trong đời Chúa Giêsu

. Thánh Phêrô được Chúa trao cho quyền cai quản Hội Thánh.

. Tử đạo tại Rôma năm 64 dưới thời Hoàng Đế Nêron (chịu đóng đinh ngược)

. Ngôi mộ Ngài theo truyền thống ngự dưới chân tòa thánh Vatican

Sơ lược tiểu sử Thánh Phao-lô:

. Sinh vào thập niên đầu của công nguyên, tức là cùng thời với Chúa Giêsu. 

. Thánh Phaolô có tên là Saolô, tuy là người Do thái, thuộc chi họ Benjamin, nhưng Saolô sinh ra và lớn lên ở Tarsus, thủ phủ của tỉnh Cicilia, nay là miền nam Thổ nhĩ kỳ. 

. Ngài vóc dáng thấp bé, nhưng thông minh vượt xa những người cùng lứa tuổi. Lúc nhỏ được giáo dục ở Tarsus là một trung tâm nổi tiếng về văn hoá và triết học. Lớn lên, Saolô được gởi lên Giêrusalem, học với Thầy Gamaliel Cả, theo những tiêu chuẩn khắt khe nhất của nhóm Biệt phái. 

. Saolô là một người lỗi lạc trong lãnh vực văn chương và triết học của cả ba nền văn hóa chính thời đó là Hy lạp, La tinh và Do thái. Ngài thuộc lòng Kinh Thánh của người Do thái, tức là bộ Cựu Ước. Saolô hết sức nhiệt thành đối với truyền thống của cha ông.

. Tuy là biệt phái, xét theo lề luật, nhưng ngài đã trở lại đạo khoảng 33/35. 

. Sau khi bị cầm tù lần thứ hai tại Rôma, có lẽ ngài đã bị chém đầu vào khoảng năm 67 tại Aquas Salvias, (theo truyền thống—độ 5km về hướng nam Rôma, ba năm sau khi Thánh Phê-rô tử đạo), và được mai táng trên đường Ostia, nơi đây, người ta xây vương cung thánh đường thánh Phaolô-ngoại thành.

“Phê-rô và Phao-lô là hai tông đồ khác nhau như nước với lửa: Phê-rô là dân đánh cá ít học, Phao-lô thuộc tầng lớp trí thức; Phê-rô theo Chúa ngay từ đầu, còn Phao-lô là ‘đứa con đẻ non’ (x. 1Cr 15,8) mãi sau này mới theo Chúa; Phê-rô gắn bó với Ki-tô hữu gốc Do Thái, còn Phao-lô rao giảng cho dân ngoại. Khác nhau về gốc gác, về quan điểm truyền giáo, thế nhưng, trong Đức Giê-su, cùng với Đức Giê-su và vì Đức Giê-su, Đấng cả hai quý mến hơn mọi sự trên đời, Phê-rô và Phao-lô hiệp nhất trong một công trình chung: xây dựng Hội thánh của Đức Giê-su bằng lòng nhiệt thành hăng say rao giảng, bất chấp đòn vọt, tù đày, như thánh Phao-lô đã thốt lên: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Hai vị còn giống nhau trong cái chết hy sinh mạng sống cho Đấng mình yêu: Phê-rô bị đóng đinh ngược đầu xuống đất, Phao-lô bị chém đầu.

“Nhớ rằng Hội thánh chủ ý mừng hai vị tông đồ trong một ngày lễ chính là để nêu cao tinh thần hiệp nhất trong công cuộc xây dựng Hội thánh. Bạn có quyết gạt bỏ những bất đồng để cùng hiệp nhất xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, đoàn thể… không?” (Trích: 5 phút suy niệm)

Lạy Chúa, hai Thánh Phê-rô và Phao-lô đã theo Chúa đến cùng và sống trong tinh thần hiệp nhất để xây dựng Hội thánh của Chúa, xin cho con biết gạt bỏ hận thù, kỳ thị, tranh chấp, nghi kị, kết án lẫn nhau… để cộng tác với Chúa xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ… mỗi ngày một tốt đẹp hơn. 

From: Do Dzung

*******************

T. Phêrô & Phaolô (29-6) – Thánh Vịnh 33 – ĐÁP CA – Ca sĩ: Công Minh

Thánh Giuse, mẫu gương thinh lặng – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay mình xin bạn một lời kinh đặc biệt cầu nguyện cho những người cha đang gặp khó khăn. Cho nhau và cả thế giới nhé xin cảm ơn 

Cha Vương

CN : 28/06/2026.   (t7-25-22)

Quà tặng thứ 7 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương thinh lặng

TIN MỪNG: Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn. (Cn 10:19)

SUY NIỆM: Dựa vào Kinh Thánh, chúng ta có thể nói thánh Giuse là một người trầm tĩnh và thinh lặng, một sự thinh lặng khiêm tốn, thánh thiện luôn đắm mình trong cầu nguyện để nghe được tiếng nói nhiệm mầu của Thiên Chúa, và cảm nhận sâu xa thân phận nghèo nàn, bất xứng của mình, trước sứ vụ cao cả của Thiên Chúa trao cho ngài. Điều này khiến thánh nhân chấp nhận mọi khổ nhọc xảy đến trong đời với tất cả lòng thành kính, cậy trông và tín thác nơi Giavê Thiên Chúa. Sống thinh lặng như thế, thánh Giuse đã đạt được sự tự do đích thực giải phóng ngài khỏi những ràng buộc của ý riêng, để can đảm chọn Chúa là tất cả. Sự tự do đạt tới đỉnh cao khi thánh nhân sẵn sàng hy sinh trọn vẹn ý riêng, để ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, sự thinh lặng đã giúp ngài có thể phân định ý Chúa, và cho ngài sức mạnh để thực hiện trọn vẹn lệnh truyền của Thiên Chúa trong từng biến cố cuộc đời. Xin giúp chúng con giữa những bôn ba, xô bồ của cuộc sống hôm nay, biết lắng lòng, trầm lặng, để nhìn lại bản thân và lắng nghe tiếng Chúa, sống kết hợp mật thiết với Chúa trong từng khoảnh khắc cuộc sống của chúng con. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con biết yêu thích trầm lặng, lao động chuyên chăm, bác ái cụ thể. Nhất là hướng trọn lòng trí và cuộc sống vào Đức Giêsu Kitô bằng việc Chiêm Niệm trong Cầu nguyện, Huynh Đệ và Sứ vụ. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN:

 Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

*****************************

GIUSE NGƯỜI THẦM LẶNG – Sáng Tác: Lm. Gió Xuân – Ca Sĩ: Hiền Thục.

Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính… (Mt 1:19) – Cha Vương

Tạ ơn Chúa lại ban cho con thêm một ngày mới nữa để sống yêu thương và tốt lành hơn hôm qua. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé.

Cha Vương

Thư 5: 25/6/2026.     t4-22-22

Quà tặng thứ 4 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương khiết tịnh và chung thủy

TIN MỪNG: Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính… (Mt 1:19)

SUY NIỆM: Thánh Cả Giuse được kén chọn để làm bạn trăm năm Đức Maria là Đấng vô nhiễm nguyên tội, Đấng trọn đời đồng trinh… thì đồng thời chính thánh nhân cũng phải là một người trinh khiết vẹn tuyền. Để cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện, Thánh Giuse đã âm thầm hy sinh cả cuộc đời để giữ mình trinh khiết. Sự hy sinh thầm lặng nhưng hết sức lớn lao của thánh nhân đã đem lại hạnh phúc, bình an cho gia đình thánh và làm cho kế hoạch của Thiên Chúa được trọn hảo.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse là bạn trinh khiết của Đức Mẹ, xin hãy làm Đấng bảo trợ cho chúng con, đặc biệt cho những người sống đời dâng hiến. Xin lòng nhân lành và trinh khiết của Ngài nên chốn an toàn cho chúng con trú ẩn trước mọi nguy nan cám dỗ, để tâm hồn và thân xác chúng con luôn trong sạch, xứng đáng là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Xin cho những người sống bậc hôn nhân biết tôn trọng, dâng hiến cho nhau và chung thủy với nhau suốt cuộc đời. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con, các tu sĩ đã thánh hiến cho Chúa biết luôn trung tín với giao ước tình yêu, sống vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

*******************************

GIU-SE BÔNG HUỆ TINH KHIẾT – Đinh Công Huỳnh | Huyên Vũ 

Mừng kính Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita)-Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 24/06, Giáo Hội mừng kính trọng thể Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita). Ngài là con của bà Elizabeth và tiên tri Zacharia, đấng tiền hô, đấng đã làm phép rửa cho Chúa Kitô, đấng tử đạo đầu tiên khi Tin Mừng được rao giảng. Thánh Gioan Baotixita có hai ngày lễ kính trong lịch phụng vụ, ngày 24 tháng 6 là ngày sinh nhật và ngày 29 tháng 8 là ngày tử đạo. Chúng ta cùng hát Chúc Mừng Sinh Nhật Ngài đi nào!

Cha Vương

Thứ 5: 24/6/2026  (t7-25)

Ðức Giêsu gọi Gioan là người cao trọng nhất trong tất cả mọi người và là người đến trước Ngài: “Ta nói với các ngươi, trong những người sinh ra bởi phụ nữ, không ai cao trọng hơn Gioan…” Nhưng có lẽ Thánh Gioan sẽ hoàn toàn đồng ý với điều Ðức Giêsu nói thêm sau đó: “Tuy nhiên, người nhỏ nhất trong nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn ông ta” (Luca 7:28).

   Có một thời gian Thánh Gioan sống trong sa mạc, là vị ẩn tu. Ngài loan báo nước trời đã gần đến, và mời gọi mọi người hoán cải đời sống.

   Mục đích của ngài là chuẩn bị con đường cho Ðức Giêsu. Ngài nói, phép rửa của ngài là để ăn năn sám hối. Nhưng Ðấng sắp đến sẽ rửa với Thần Khí và lửa. Gioan không xứng đáng để xách dép cho Người. Thái độ của Thánh Gioan đối với Ðức Giêsu là: “Ngài phải gia tăng; tôi phải nhỏ đi” (Gioan 3:30).

   Trong khi thanh tẩy những kẻ tội lỗi, Thánh Gioan đã khiêm tốn nhận ra Ðấng Thiên Sai và nói: “Tôi cần được thanh tẩy bởi Ngài” (Mt 3:14b). Nhưng Ðức Giêsu nhất định, “Hãy tiếp tục thi hành, vì như vậy chúng ta mới giữ trọn đức công chính” (Mt 3:15b). Ðức Giêsu, một con người đích thực và khiêm tốn cũng là Thiên Chúa hằng hữu, đã sẵn sàng thi hành bổn phận của bất cứ người Do Thái tốt lành nào. Thánh Gioan như vậy đã công khai đi vào tập thể của những người đang chờ đợi Ðấng Thiên Sai. Nhưng khi tự trở nên một phần tử của cộng đồng đó, ngài quả thực thuộc về Ðấng Cứu Tinh.

   Sự cao trọng của Thánh Gioan, một địa vị then chốt trong lịch sử cứu chuộc, được nhận thấy qua tường thuật của Thánh Luca về sự sinh hạ và các biến cố sau đó của Thánh Gioan – cả hai yếu tố này đều xảy ra song song với cuộc đời của Ðức Giêsu. Thánh Gioan thu hút được rất nhiều người đến bờ sông Giođan, và một số người đã coi ngài như Ðấng Thiên Sai. Nhưng ngài luôn luôn chỉ đến Ðức Giêsu, ngay cả một số môn đệ của ngài cũng được sai đến để trở thành các môn đệ đầu tiên của Ðức Giêsu.

   Có lẽ Thánh Gioan không nghĩ là Nước Trời được hoàn tất một cách tuyệt hảo trong sứ vụ rao giảng của Ðức Giêsu. Vì bất cứ lý do gì, (trong khi ở tù) ngài đã sai các môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu xem có phải Người là Ðấng Thiên Sai hay không. Câu trả lời của Ðức Giêsu cho thấy Ðấng Thiên Sai mang hình ảnh Người Tôi Tớ Ðau Khổ trong sách tiên tri Isaia. Chính Thánh Gioan cũng đã chia sẻ trong sự đau khổ của Ðấng Cứu Tinh, ngài đã chết vì sự trả thù của Herodias. 

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

Bạn rút ra bài học gì cho mình khi đọc qua tiểu sử của thánh nhân? Hãy áp dụng vào cuộc sống hằng ngày nhé.

From: Do Dzung

**************

Nuns playing HAPPY BIRTHDAY on Piano  

THÂN XÁC KHÔNG HƯ NÁT CỦA CHÂN PHƯỚC ANNA MARIA TAIGI

Irene Thanh Minh

THÂN XÁC KHÔNG HƯ NÁT CỦA CHÂN PHƯỚC ANNA MARIA TAIGI

Chân phước Anna Maria Taigi là một trong những trường hợp đặc biệt thường được nhắc đến trong Giáo Hội Công giáo khi nói về các vị thánh có thân xác không hư nát.

Bà sinh ngày 29/05/1769 tại Siena, nước Ý, sau đó sống phần lớn cuộc đời tại Rôma. Không phải là một nữ tu trong tu viện, Anna Maria Taigi là một người vợ, một người mẹ trong gia đình, đồng thời là thành viên Dòng Ba Chúa Ba Ngôi. Chính giữa đời sống hôn nhân, bổn phận gia đình, những lo toan và hy sinh thường ngày, bà đã sống một đời cầu nguyện sâu xa, bác ái và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa.

Bà qua đời ngày 09/06/1837 tại Rôma, hưởng thọ 68 tuổi. Sau khi qua đời, thi hài của bà được ghi nhận là được bảo tồn cách đặc biệt. Vì thế, Chân phước Anna Maria Taigi thường được nhắc đến như một trong những vị có thân xác không hư nát trong truyền thống Công giáo.

Hiện nay, thi hài của Chân phước Anna Maria Taigi được tôn kính trong hòm kính tại Vương cung thánh đường San Crisogono, khu Trastevere, Rôma. Phần bên ngoài, đặc biệt là gương mặt và đôi tay, được phủ sáp để bảo quản và giúp các tín hữu dễ dàng tôn kính.

Điều đáng nói là thân xác không hư nát của bà không chỉ khiến người ta tò mò, nhưng còn nhắc nhớ về một đời sống thánh thiện âm thầm. Anna Maria Taigi không nên thánh bằng những điều xa lạ, mà bằng chính đời sống gia đình: làm vợ, làm mẹ, cầu nguyện, hy sinh, chịu đựng và yêu thương.

Nơi bà, người ta thấy rằng sự thánh thiện không chỉ dành cho linh mục hay tu sĩ. Một người mẹ cũng có thể nên thánh. Một người vợ cũng có thể sống kết hợp sâu xa với Chúa. Một mái nhà bình thường cũng có thể trở thành nơi Thiên Chúa hiện diện, nếu được xây dựng bằng đức tin, lòng mến và sự tín thác.

Thân xác không hư nát của Chân phước Anna Maria Taigi vì thế trở thành một dấu chỉ âm thầm, mời gọi mỗi người nhìn lại đời sống của mình: điều tồn tại sau cùng không phải là danh vọng hay của cải, nhưng là tình yêu dành cho Chúa và cho những người được trao phó cho mình.

Xin Chân phước Anna Maria Taigi cầu bầu cho các gia đình Công giáo, đặc biệt cho những người vợ, người mẹ đang âm thầm hy sinh mỗi ngày, để họ luôn tìm thấy sức mạnh và bình an nơi Chúa.


 

Quà tặng thứ 3 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương vâng phục Thánh ý Chúa-Cha Vương 

Tạ ơn Chúa đã soi sáng cho con người biết sáng chế ra cái máy lạnh, nếu không có nó thì khốn đấy nhỉ. Cũng không quên có lời cảm ơn đến các ông bố/mẹ biết sửa máy lạnh. Chúc một ngày mát mẻ trong Chúa và Mẹ yêu nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới  nhé.

Cha Vương 

Thứ 3: 23/6/2026.      (n21-22)

Quà tặng thứ 3 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương vâng phục Thánh ý Chúa

TIN MỪNG: Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. (Mt 1:20)

SUY NIỆM: Trước thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, Đức Maria đã khiêm tốn và ngoan thảo thưa tiếng “xin vâng”. Thánh cả Giuse với một niềm tín thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa, Ngài cũng đã quảng đại làm theo ý Chúa trong mọi việc. Ngài đã không nghĩ đến quyền lợi cá nhân nhưng luôn lấy thánh ý Chúa là trên hết. Vì thế, Ngài sẵn sàng từ bỏ ý riêng để mau mắn thi hành ý Chúa, cho dù có những điều không thể hiểu nổi, nhưng Ngài luôn tận tâm, tận lực chu toàn bổn phận để thiên ý được hoàn thành cách tốt đẹp nhất.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse là gương mẫu cho chúng con về sự vâng phục Thánh ý Thiên Chúa! Xin giúp chúng con dám từ bỏ ý riêng, can đảm chọn và thi hành Thánh ý Chúa. Xin giúp chúng con trong những cơn gian nan thử thách, trong những đêm tối của đức tin, biết tín thác tuyệt đối vào Chúa và buông mình vào bàn tay quyền năng của Chúa, để Người dẫn dắt chúng con đi trong đường lối của Người. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình con sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

********************

THÁNH GIUSE – LỜI XIN VÂNG LẶNG LẼ ; Sáng tác & Trình bày: Lm Giuse Sỹ Tùng