Thánh A-tha-na-xi-ô – Cha Vương 

Đêm qua ngủ có ngon không? Đừng có ngáp ngủ nhé. Nếu có ngáp thì hãy thốt lên: “Lạy Chúa xin giúp con…” Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh A-tha-na-xi-ô (296? – 373), Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình.

Cha Vương 

Thứ 7: 02/05/2026.    (t6-25)

Cuộc đời Thánh A-tha-na-xi-ô đầy bôn ba vì tận tụy phục vụ Giáo Hội. Ngài là quán quân bảo vệ đức tin đối với sự lan tràn của lạc thuyết Arian. Sự nhiệt huyết của ngài được thể hiện trong các trước tác giúp ngài xứng đáng là Tiến Sĩ Hội Thánh.

   Sinh trong một gia đình Kitô Giáo ở Alexandria khoảng vào năm 295 và được giáo dục kinh điển, A-tha-na-xi-ô gia nhập hàng giáo sĩ và là thư ký cho Ðức Alexander, Giám Mục của Alexandria, và sau đó chính ngài được nâng lên hàng giám mục. Vị tiền nhiệm của ngài, Ðức Alexander, từng là người lớn tiếng chỉ trích một phong trào mới đang bành trướng ở Ðông Phương thời bấy giờ, đó là lạc thuyết Arian, họ khước từ thiên tính của Ðức Kitô và không coi Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.

   Khi Ðức A-tha-na-xi-ô đảm nhận vai trò Giám Mục của Alexandria, ngài tiếp tục chống với lạc thuyết Arian. Lúc đầu, cuộc chiến dường như dễ dàng để chiến thắng và lạc thuyết Arian sẽ bị kết án. Nhưng thực tế thì trái ngược. Công Ðồng Tyre đã được triệu tập và vì một vài lý do không rõ ràng, Hoàng Ðế Constantine đã trục xuất Ðức A-tha-na-xi-ô đến miền bắc nước Gaul. Ðây là chuyến đi đầu tiên trong một chuỗi hành trình và lưu đầy có nét phảng phất như cuộc đời Thánh Phaolô.

   Khi Constantine từ trần, người con trai kế vị đã phục hồi quyền giám mục của Ðức A-tha-na-xi-ô. Nhưng chỉ được có một năm, ngài lại bị truất phế vì sự liên hiệp của các giám mục theo phe Arian. Ðức A-tha-na-xi-ô đã đệ đơn lên Rôma, và Ðức Giáo Hoàng Julius I đã triệu tập một công đồng để duyệt qua vấn đề và các khó khăn liên hệ.

   Trong bốn mươi sáu năm làm giám mục, ngài đã phải lưu đầy mười bảy năm chỉ vì bảo vệ tín điều về thiên tính của Ðức Kitô. Trong một thời gian, ngài được an hưởng 10 năm tương đối bình an để đọc sách, viết lách và cổ võ lý tưởng của đời sống đan viện mà ngài hết lòng tận tụy.

   Các văn bản và giáo lý của ngài hầu hết là các bài bút chiến, trực tiếp chống lại mọi góc cạnh của lạc thuyết Arian. Trong các văn bản của ngài về đời sống khổ hạnh, cuốn Ðời Sống Thánh Anthony được nhiều người biết đến và góp phần lớn trong việc thiết lập đời sống đan viện trên khắp thế giới Kitô Giáo Tây Phương.

   Sau một cuộc đời đức hạnh và chịu đau khổ gian nan nhưng vẫn trung kiên với Đức Tin Công giáo. Ngài là một vĩ nhân của thời đại đã an nghĩ đời đời trong Chúa vào ngày 2 tháng 5 năm 373. Thánh tích của ngài hiện còn ở San Croce, Venice, nước Ý.

   Thánh A-tha-na-xi-ô được tuyên dương là Tiến sĩ của Hội Thánh do Đức Giáo Hoàng Pius V năm 1568.

LỜI TRÍCH: Những khó nhọc mà Thánh A-tha-na-xi-ô đã phải đau khổ trong khi lưu đầy – trốn tránh, bỏ chạy từ nơi này sang nơi khác – nhắc nhở chúng ta về những gì mà Thánh Phaolô đã đề cập đến trong cuộc đời ngài: “Trong nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, ở sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; trong vất vả mệt nhọc, qua những đêm không ngủ, qua sự đói khát, thường xuyên phải nhịn ăn uống, qua sự lạnh lẽo và trần truồng. Ngoài những điều này, tôi còn bị ray rứt hằng ngày vì sự ưu tư lo cho tất cả các giáo hội” (2 Corinthians 11:26-28).

(Nguồn: Người Tín Hữu online)

Bạn đã và đang làm gì để giữ vững đức tin? Cái giá bạn phải trả là gì?

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho thánh giám mục A-tha-na-xi-ô được can đảm đứng lên bênh vực niềm tin của Giáo Hội về thần tính của Đức Ki-tô, Con Một Chúa. Xin nhậm lời thánh nhân chuyển cầu mà ban cho chúng con biết nghe lời người giảng dạy, để ngày càng hiểu biết và yêu mến Chúa hơn. Chúng con cầu xin…

 (Lời nguyện trong kinh Thần Vụ)

From: Do Dzung

*****************************

Con Tin Chúa Ơi – Lm Duy Thiên

THÁNH GIUSE – ĐƯỜNG NÊN THÁNH –  Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời.  Đó là hoa hướng dương.  Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để tỏa hương khoe sắc.  Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.  Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý.  Thánh Giuse được sách Tin Mừng gọi là “người công chính.”  Theo Kinh Thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2, 4; Rm 1, 17; Gal 3, 11).  Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham.  Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm.  Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.  Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

 Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa.  Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành. 

 Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm.  Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng.  Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền.  Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách.”  Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).  Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1, 20).  Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa” Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

 Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Ai Cập sống kiếp lưu đày.  Trước mắt là gian truân vất vả, đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).

 Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.  Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.  Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 21).  Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn.  Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Ai Cập, từ Ai Cập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.  Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1, 38).

 Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại.  Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

 Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11,3). 

Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người.  Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường.  Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị.  Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống.  Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường.  Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn.  Những người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến là “bác thợ mộc.”  Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy.  Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã tạo được thiện cảm và lòng yêu mến của nhiều người.  Ngày nay có bao nhiêu người chức nọ, quyền kia, có học vị, có địa vị, rất giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ…  Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng.  Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình…  Thánh Giuse là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm,” một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó.  Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên Ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.

 Theo gương thánh Giuse, sống đạo là tin tưởng, cậy trông, yêu mến Thiên Chúa.  Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác nguyện cầu và sống theo Ý Chúa.

 Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse.  Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse.  Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống, tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.

 Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi.  Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.  Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.  Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

 Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày.  Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại.”  Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.  Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành.  Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình.  Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống thường ngày.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim


 

Thánh Giuse Thợ – Cha Vương

Tháng 5 rồi bạn ơi! Tháng 5 là tháng hoa dâng kính Đức Mẹ Maria. Giáo Hội dành riêng tháng này để đặc biệt kính mến Đức Maria. Những lúc gian nan nguy khốn cũng như khi được an bình hạnh phúc, bạn luôn biết chạy đến cùng Mẹ để được an ủi, vỗ về, che chở và dâng lời cảm tạ. Trong khi làm công việc hằng ngày, mời bạn dâng lên Mẹ hoa hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy cho bạn biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu họ vậy. Hôm nay cũng là ngày kính Thánh Giuse Thợ, xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới 

Cha Vương

Thứ 6: 1/5/2026.    (t2-23)

Thánh Giuse Thợ: Hiển nhiên là để đối ứng với việc cử hành “Ngày Lao Ðộng” của Cộng Sản mà Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã thiết lập ngày lễ Thánh Giuse Thợ vào năm 1955. Nhưng sự liên hệ giữa Thánh Giuse và ý nghĩa lao động đã có từ lâu trong lịch sử.

Trong nỗ lực cần thiết để nói lên nhân tính của Ðức Giêsu trong đời sống thường nhật, ngay từ ban đầu Giáo Hội đã hãnh diện nhấn mạnh rằng Ðức Giêsu là một người thợ mộc, hiển nhiên là được cha nuôi của Ngài huấn luyện, một cách thành thạo và khó nhọc trong công việc ấy. Nhân loại giống Thiên Chúa không chỉ trong tư tưởng và lòng yêu thương, mà còn trong sự sáng tạo. Dù chúng ta chế tạo một cái bàn hay một vương cung thánh đường, chúng ta được mời gọi để phát sinh kết quả từ bàn tay và tâm trí chúng ta, nhất là trong việc xây đắp Nhiệm Thể Ðức Kitô.

LỜI BÀN: “Sau đó Thiên Chúa đưa người đàn ông vào sống trong vườn Eden, để cầy cấy và chăm sóc khu vườn” (Sáng Thế 2:15). 

Thiên Chúa Cha đã tạo dựng nên mọi sự và muốn con người tiếp tục công trình tạo dựng ấy. Con người có phẩm giá là qua công việc, qua sự nuôi nấng gia đình, qua sự tham dự vào đời sống sáng tạo của Thiên Chúa Cha. Thánh Giuse Thợ có thể giúp chúng ta tham dự một cách sâu xa vào mầu nhiệm tạo dựng ấy. Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã nhấn mạnh đến điều này khi nói, “Thần khí chan hòa trên bạn và mọi người phát xuất từ con tim của Ðấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Ðấng Cứu Ðộ trần gian, nhưng chắc chắn rằng, không người lao động nào được thấm nhuần thần khí ấy một cách trọn vẹn và sâu đậm cho bằng cha nuôi của Ðức Giêsu, là người sống với Ngài một cách mật thiết trong đời sống gia đình cũng như làm việc. Do đó, nếu bạn ao ước muốn đến gần Ðức Kitô, một lần nữa chúng tôi lập lại rằng, ‘Hãy đến cùng Thánh Giuse'” (xem Sáng Thế 41:44). (Nguồn: Người Tín Hữu online)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa tạo thành trời đất, Chúa đã muốn cho con người lao động để tiếp tục công trình của Chúa. Xin nhận lời thánh cả Giuse chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương người để lại là chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao phó hầu được hưởng niềm vui Chúa đã hứa cho tôi tớ trung thành. Chúng con cầu xin… 

(Lời nguyện nhập lễ)

From: Do Dzung

***********************************

THÁNH GIUSE GƯƠNG LAO ĐỘNG / Quỳnh An – ST Phong Trần.

 

Thánh Catarina ở Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380)-Cha Vương

Một ngày yêu thương nhiều hơn ghen ghé nhé bạn. Hôm nay 29/04 Giáo hội mừng kính thánh Catarina ở Siena, mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm bổn mạng. Câu nguyện cho nhau và thế giới nhé 

Cha Vương

Thứ 4: 29/4/2026     (t2-24)

Thánh Catarina ở Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380). Tên thật là Catarina Benincasa sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại Siena, Tuscany, Ý Đại Lợi và là người con út trong gia đình 23 người con. Ngài là một nữ tu Dòng Đa Minh, một nhà huyền bí nồng nhiệt, một chiến sĩ bảo vệ sự thánh thiện của Giáo Hội Công giáo. Ngài sinh sống trong thế kỷ thứ XIV, một thời kỳ mà Giáo Hội đang gặp phải những khó khăn chia rẽ dường như khó mà hàn gắn được. 

   Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Cô sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ tại gia đình ở Siena. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina tập luyện tinh thần qua lối sống khắc khổ. Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm. Dần dà, người ta nhận thấy dường như Thánh Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần – giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với ngài để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của ngài, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận. Ngài có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên. Tất cả công việc ngài thi hành đều được thúc đẩy bởi ngọn lửa tình yêu. Cuộc sống của ngài luôn ẩn náu trong những vết thương của Chúa Kitô bị đóng đinh. Ngài cảm nhận trong thâm sâu của con tim và trong đức tin của ngài, những thảm họa của Giáo Hội và của xã hội ngài đang sống, vẫn còn tiếp tục đóng đinh Chúa Kitô. Ngài đã làm trung gian để đem lại hòa bình giữa các đô thị và giữa các phe nhóm thù nghịch. 

   Một vài tuần trước khi chết, ngài đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, ngài trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của ngài. Con thuyền xô ngài ngã quỵ và người ta phải khiêng ngài về nhà. Ngài hầu như bất toại cho đến khi từ trần ngày 29 tháng 4  năm 1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Pius II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào ngày 04 tháng 10 năm 1970, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh. Ngài là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự  này. (Tóm lược từ nguồn: Nhóm Tinh Thần) Sau đây là những câu nói của ngài (Nguồn: hddmvn):

❦ Phạm tội là con người, nhưng ngoan cố trong tội là ma quỷ.

❦  Đối với các linh hồn hoàn thiện mọi nơi đều là nguyện đường. 

❦ Ta [Thiên Chúa] thương yêu con nhiều hơn con có thể yêu thương bản thân con, và ta ân cần chăm sóc cho con cả ngàn lần hơn con có thể chăm sóc bản thân con. 

❦ Con người được tạo dựng nên do tình yêu, để con người sống cho tình yêu. 

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin thánh Catarina ở Siena cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

******************************************

Tình Yêu Thiên Chúa – Vy Oanh 

ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA – Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P.  Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380.  Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị.  Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy.  Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV. 

  1. Thời thơ ấu 

Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con.  Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm.  Thân mẫu là bà Lapa.  Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina.  Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt.  Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.

Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang.  Điều này không gì lạ nơi các thánh.  Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.”  Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.”  Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn.  Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina.  Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura.  Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời.  Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina.  Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan. 

Đâu là ý nghĩa của thị kiến này?  Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ: 

  1. Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại.  Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa.  Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.
  1. Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.  Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.
    Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội.  Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch.  Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội. 

Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa.  Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina.  Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh.  Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ.  Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện.  Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu. 

  1. Sống yêu thương

Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.”  Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay.  Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân.  Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa.  Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina.  Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa.  Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.

Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa.  Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ.  Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân.  Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina.  Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm.  Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng.  Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội.  Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.

Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa.  Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài.  Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa.  Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân…  Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng.  Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).

Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động.  Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường.  Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ.  Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa.  Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn.  Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa.  Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân.  Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.

Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa.  Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. 

  1. Lòng yêu mến Giáo hội

Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ.  Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.

Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo.  Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh.  Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội.  Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm.  Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối.  Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.

Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh.  Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376.  Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị.  Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên.  Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.”  Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon.  Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI.  Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình.  Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội.  Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo. 

  1. Giai đoạn cuối đời

Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma.  Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao.  Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn.  Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ.  Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội.  Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.”  Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà.  Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người.  Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội.  Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”

 Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi.  Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma.  Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa.  Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena.  Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma.  Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô.  Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila.  Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu.  Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật. 

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

From: Langthangchieutim


 

Thánh Mác-cô – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình đầy tràn ơn sủng của Chúa. Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh Mác-cô, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.  Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 25/04/2026.  (t3-23)

Thánh Mác-cô là cháu của thánh Bác-na-ba. Người đã đi theo thánh tông đồ Phao-lô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, và theo đến tận Rô-ma. Người cũng là môn đệ của thánh Phê-rô và là thông ngôn của thánh Phê-rô, đã soạn lời giảng của thánh Phê-rô thành sách Tin Mừng. Truyền thống cho rằng người đã sáng lập giáo đoàn A-lê-xan-ri-a. (Nguồn: Kinh Phụng Vụ)

Những gì chúng ta biết về Thánh Mác-cô thì trực tiếp từ Tân Ước. Ngài thường được coi là nhân vật Mác-cô trong Tông Ðồ Công Vụ 12:12 (Khi Phêrô thoát khỏi ngục và đến nhà mẹ của Máccô).

Phao-lô và Bác-na-ba  muốn đưa Mác-cô đi trong chuyến truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một vài lý do nào đó, Mác-cô đã ở lại Giêrusalem một mình. Trong cuộc hành trình thứ hai, Phaolô lại từ chối không muốn đem theo Mác-cô, bất kể sự nài nỉ của Bác-na-ba, điều đó chứng tỏ Mác-cô đã làm phật lòng Phao-lô. Sau này, Phao-lô yêu cầu Mác-cô đến thăm ngài khi ở trong ngục, điều đó cho thấy sự bất hòa giữa hai người không còn nữa.

Là Phúc Âm đầu tiên và ngắn nhất trong bốn Phúc Âm, Mác-cô nhấn mạnh đến việc Ðức Giêsu bị loài người tẩy chay trong khi chính Người là Thiên Chúa. Phúc Âm Thánh Mác-cô có lẽ được viết cho Dân Ngoại tòng giáo ở Rô-ma—sau cái chết của Thánh Phê-rô và Phao-lô khoảng giữa thập niên 60 và 70.

Cũng như các thánh sử khác, Mác-cô không phải là một trong 12 tông đồ. Chúng ta không rõ ngài có biết Ðức Kitô một cách cá biệt hay không. Một số sử gia cho rằng vị thánh sử này đã nói đến chính ngài trong đoạn Ðức Kitô bị bắt ở Giệtsimani: “Bấy giờ một người trẻ đi theo Người chỉ khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh, nhưng anh tuột tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Máccô 14:51-52).

Tương truyền thì Mac-cô thành lập Giáo Hội Alexandria (Ai Cập) và chịu tử đạo tại đó năm 68 (bị kéo lê trên đường đá cho đến chết). Thánh tích của ngài được đưa về Venice năm 815. Thành phố Venice, nổi tiếng với quảng trường San Marco, một vương cung thánh đường vĩ đại ở đây được cho là nơi chôn cất thánh nhân. Thánh Mác-cô là quan thầy của thành phố Venice và còn là quan thầy của những người làm nghề gương và các lục sự.

Dấu hiệu của Thánh Mác-cô là con sư tử có cánh, do bởi đoạn Mác-cô diễn tả Gio-an Tẩy Giả như một “tiếng kêu trong hoang địa” (Máccô 1:3), mà các nghệ nhân so sánh tiếng kêu ấy như tiếng sư tử gầm. Ðôi cánh của sư tử là bởi áp dụng thị kiến của Êgiêkien về bốn con vật có cánh cho các thánh sử.

LỜI BÀN: Cuộc đời Thánh Mác-cô đã hoàn tất những gì mà mọi Kitô Hữu được mời gọi để thi hành: rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ðặc biệt, phương cách của Thánh Mác-cô là qua sự viết văn. Những người khác có thể loan truyền Tin Mừng qua âm nhạc, nghệ thuật sân khấu, thi văn hay giáo dục con em ngay trong gia đình.

LỜI TRÍCH: Hầu hết những gì Thánh Mác-cô viết đều có đề cập đến trong các Phúc Âm khác — chỉ trừ bốn đoạn. Sau đây là một đoạn: “… Chuyện nước trời cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa” (Máccô 4:26-29). 

(Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Do Dzung

***********************************

HÃY ĐẾN MÀ XEM _ St. Sr. KIM LONG 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo

Thao Teresa 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo, hoà bình và một tình yêu lớn dành cho người nghèo nằm trên đỉnh Serra da Formiga ở Riachuelo, Brazil .

Hẳn mọi người còn nhớ lời Kinh Hoà Bình được sáng tác theo linh đạo của Thánh Phanxico Assisi mà các bạn khác đạo vẫn gọi là Kinh Đòi Đất.

“Đem yêu thương vào nơi oán thù

Đem thứ thứ tha vào nơi lăng nhục

Đem an hoà vào nơi tranh chấp

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”


 

Lễ trọng thể kính Thánh Giuse- Cha Vương

Mến chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay 19/03 Giáo hội mừng lễ trọng thể kính Thánh Giuse, bạn Đức Trinh Nữ Maria. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 19/03/2026  (t7-22)

Thánh Giuse Bạn Ðức Trinh Nữ Maria, Phúc Âm đã ca ngợi Thánh Giuse là người “công chính”. Ý nghĩa của chữ “công chính” rất sâu xa. Khi Phúc  âm nói Thiên Chúa “công chính hóa” người nào, điều đó có nghĩa Thiên Chúa, là Ðấng cực thánh và “chính trực”, biến đổi người đó bằng cách cho họ được chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa, và bởi đó họ đáng được Thiên Chúa yêu mến. Khi nói Thánh Giuse “công chính”, Phúc Âm muốn nói rằng ngài hoàn toàn mở lòng cho tất cả những gì Thiên Chúa muốn làm cho ngài. Ngài trở nên thánh thiện vì tự mở lòng cho Thiên Chúa. Với những gì còn lại chúng ta dễ phỏng đoán. Hãy suy nghĩ về tình yêu mà ngài đã theo đuổi và dành được con tim của Ðức Maria, và sự sâu xa của tình yêu mà hai người đã chia sẻ cho nhau trong cuộc hôn nhân. Khi Thánh Giuse quyết định từ bỏ Ðức Maria khi thấy người có thai, điều này không trái với sự thánh thiện của Thánh Giuse. Phúc Âm có ghi lại một chữ quan trọng là ngài dự định thi hành việc này “cách âm thầm” vì ngài là “một người chính trực, nhưng không muốn tố giác bà để bị xấu hổ” (Mátthêu 1:19). Người công chính thì đơn sơ, vui vẻ, hết lòng vâng lời Thiên Chúa – khi kết hôn với Ðức Maria, khi đặt tên cho Hài Nhi Giêsu, khi săn sóc gia thất ở Ai Cập, khi đem gia thất về lại Nagiarét, khi sống âm thầm trong bao năm trường với đức tin và dũng cảm. Vì Thánh Giuse không xuất hiện trong cuộc đời rao giảng công khai của Ðức Giêsu, nhiều sử gia tin rằng có lẽ Thánh Giuse đã từ trần trước khi Ðức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng.

Thánh Giuse là quan thầy của những người hấp hối, vì người ta cho rằng khi ngài từ trần có Ðức Giêsu và Ðức Maria ở bên cạnh, đó là điều mà tất cả chúng ta đều mong ước khi từ giã cõi đời.

Thánh Giuse còn là quan thầy của Giáo Hội hoàn vũ, của các người làm cha, các thợ mộc, và vấn đề công bằng xã hội. 

(Nguồn:  ns Người Tín Hữu online)

Kinh khấn Thánh Giuse Bảo trợ những vụ khó khăn

Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu, Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời, đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời, Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin.” Lạy Cha hiền, xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này, Cha đã từng là Cha Nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con chí thánh, nay xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó cho Cha vụ khó khăn này (kể ra…). Xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới vào bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng – vâng, chúng con tin tưởng, Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi những khổ cực u sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy, Cha không bỏ qua điều gì giúp ích cho những người sầu khổ kêu cầu Cha, chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con, và chúc lành cho chúng con – Amen.

From: Do Dzung

***********************

MỪNG KÍNH CHA THÁNH GIUSE | Thánh Giuse nâng đỡ người khốn cùng

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Trong truyền thống Công giáo, Cotignac bên nước Pháp thường được nhắc đến như trường hợp hiện ra công khai duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách đặc biệt. Biến cố này gắn với đền thánh Thánh Giuse tại Bessillon, gần làng Cotignac, thuộc miền Provence ở Pháp. Trang chính thức của đền thánh xác nhận nơi đây kính nhớ cuộc hiện ra của Thánh Giuse vào ngày 7 tháng 6 năm 1660.

Cũng cần nói thêm một chi tiết quan trọng để tránh nhầm lẫn: nếu nhắc đến 150 năm ngày chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Giáo hội hoàn vũ, thì mốc ấy là năm 2020, chứ không phải năm 2021, vì sắc lệnh Quemadmodum Deus được ban hành ngày 8 tháng 12 năm 1870. Chính Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse từ 8.12.2020 đến 8.12.2021 để kỷ niệm biến cố ấy.

Biến cố tại Cotignac xảy ra cách đây hơn ba thế kỷ rưỡi. Hôm ấy, vào ngày 7 tháng 6 năm 1660, một người chăn chiên trẻ tên là Gaspard Ricard đang chăn đàn vật trên sườn núi Bessillon, cách làng Cotignac không xa. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, anh khát khô cổ và kiệt sức. Theo truyền thuật được lưu giữ tại nơi hành hương, một người đàn ông cao lớn bất ngờ hiện ra, chỉ vào một tảng đá và nói với anh: “Ta là Giuse; hãy nhấc tảng đá ấy lên, rồi con sẽ uống nước.” Sự kiện này được các nguồn về Cotignac lặp lại với cùng các yếu tố chính: tên thị nhân là Gaspard Ricard, ngày xảy ra là 7.6.1660, và dấu lạ gắn với mạch nước phát sinh từ dưới tảng đá.

Điều làm người ta kinh ngạc là tảng đá ấy rất nặng, bình thường không thể một mình di chuyển được. Thế nhưng, sau lời của Thánh Giuse, người chăn chiên đã nhấc được tảng đá và uống nước từ một dòng suối trong lành bỗng xuất hiện. Từ đó, mạch nước này trở thành dấu chỉ gắn liền với đền thánh Thánh Giuse ở Bessillon, và nơi đây dần trở thành điểm hành hương của rất nhiều tín hữu. Chính trang chính thức của khu đền thánh tại Cotignac vẫn giới thiệu nơi này như địa điểm tưởng niệm cuộc hiện ra của Thánh Giuse ngày 7.6.1660.

Điểm đặc biệt của biến cố Cotignac là: trong các sách Tin Mừng, Thánh Giuse không để lại một lời nói nào. Ngài hiện diện âm thầm, vâng phục, công chính, bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu bằng hành động hơn là bằng ngôn từ. Bởi thế, trong lòng đạo bình dân, lời nói gắn với cuộc hiện ra ở Cotignac thường được nhắc đến với lòng xúc động sâu xa, vì đó là lời duy nhất được truyền thống gán cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse tại một nơi hành hương được Giáo hội tôn kính. Tuy nhiên, cần diễn đạt cẩn trọng: đây là lời của Thánh Giuse trong biến cố hiện ra tại Cotignac, chứ không phải “lời duy nhất của Thánh Giuse” theo nghĩa tuyệt đối của toàn bộ truyền thống Kitô giáo.

Sau biến cố năm 1660, tại nơi xuất hiện mạch nước, người ta đã dựng một nhà nguyện để kính Thánh Giuse, rồi sau đó hình thành một trung tâm hành hương. Theo các nguồn lịch sử của khu vực này, việc xây dựng nhà nguyện đầu tiên bắt đầu ngay trong năm 1660, công trình lớn hơn được khởi sự năm 1661 và được cung hiến năm 1663. Đến thời Cách mạng Pháp, nơi đây bị bỏ hoang và rơi vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài.

Về sau, đời sống cầu nguyện được phục hồi tại nơi đây. Lịch sử của tu viện Thánh Giuse ở Bessillon cho biết một cộng đoàn nữ đan sĩ Biển Đức từ Médéa, Algeria, đã đến tiếp quản nơi này vào năm 1975. Từ năm 2019, cộng đoàn Mater Dei tiếp tục hiện diện và phục vụ khách hành hương. Nhờ vậy, đền thánh lại trở thành nơi cầu nguyện sống động, đón tiếp nhiều tín hữu tìm đến bên “suối Thánh Giuse” để khẩn cầu, tạ ơn và kín múc bình an.

Ngày nay, Cotignac vẫn là một địa điểm hành hương rất được yêu mến tại Pháp. Không chỉ vì nơi đây gắn với cuộc hiện ra của Đức Mẹ năm 1519, mà còn vì cuộc hiện ra của Thánh Giuse năm 1660, làm cho Cotignac được nhìn như một miền đất đặc biệt của Thánh Gia. Trang chính thức của đền thánh Đức Mẹ ở Cotignac cũng giới thiệu nơi này như vùng đất được Thánh Gia tuyển chọn để ban nhiều ơn lành cho dân Chúa.

Nếu Cotignac là nơi tiêu biểu cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse, thì ở một châu lục khác, có một nơi đặc biệt tôn vinh quyền năng chuyển cầu của ngài, đó là Đền thánh Thánh Giuse trên núi Mont-Royal ở Montréal, Canada, thường được gọi là Saint Joseph’s Oratory. Nơi đây gắn liền với Thánh André Bessette, vị tu huynh khiêm nhường của Dòng Thánh Giá, người đã hết lòng cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse và trở nên nổi tiếng vì đời sống cầu nguyện đơn sơ mà đầy quyền năng. Chính trang chính thức của Đền thánh xác nhận ngài là vị sáng lập công trình này.

Thánh André Bessette luôn quy hướng mọi vinh quang về cho Thánh Giuse. Tinh thần của ngài là không nhận công cho riêng mình, nhưng chỉ xem mình như người đầy tớ nhỏ bé phục vụ công trình của Thiên Chúa. Nhờ chứng tá đó, lòng sùng kính Thánh Giuse lan rộng mạnh mẽ, và từ một nhà nguyện nhỏ, nơi đây dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng khắp thế giới. Công trình đầu tiên được làm phép vào ngày 19 tháng 10 năm 1904. Sau đó, một nhà thờ hầm có sức chứa khoảng 1.000 chỗ được hoàn tất năm 1917.

Phần Vương cung thánh đường lớn của Đền thánh được khánh thành vào ngày 19 tháng 3 năm 1955; còn toàn bộ công trình đồ sộ hoàn thành vào năm 1967. Theo dữ liệu chính thức của Đền thánh, lòng nhà thờ dài 105 mét, rộng 37 mét ở gian chính và 65 mét nơi hai cánh ngang, cao 60 mét ở nội thất và khoảng 97 mét ở phần ngoài của mái vòm. Sức chứa chỗ ngồi là hơn 2.000 người, trong khi tổng sức chứa tối đa lên tới khoảng 10.000 người.

Đây là một trong những đền thánh nổi tiếng nhất tại Canada, thu hút hơn 2 triệu khách hành hương và du khách mỗi năm. Nhiều người tìm đến không chỉ để chiêm ngắm một công trình kiến trúc lớn lao, nhưng còn để cảm nhận bầu khí thinh lặng, cầu nguyện và đức tin mà Thánh André Bessette đã gieo vào nơi ấy bằng chính cuộc sống nghèo hèn và phó thác của mình.

Khi Thánh André Bessette qua đời năm 1937, lòng kính mến của dân Chúa dành cho ngài bộc lộ cách mạnh mẽ. Danh tiếng thánh thiện của ngài không phát xuất từ quyền lực hay học vấn, nhưng từ đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và lòng gắn bó đặc biệt với Thánh Giuse. Qua con người nhỏ bé ấy, thế giới nhận ra rằng Thánh Giuse không hề xa cách, nhưng vẫn luôn là người cha âm thầm bảo vệ, gìn giữ và chuyển cầu cho Hội Thánh.

Vì thế, khi nói về trường hợp hiện ra duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách nổi bật, người tín hữu thường nhớ đến Cotignac. Còn khi nói về nơi tôn vinh quyền năng chuyển cầu của Thánh Giuse cách hùng hồn nhất trong thời hiện đại, người ta nghĩ đến Đền thánh Thánh Giuse ở Montréal. Một nơi nhắc đến sự hiện ra, một nơi làm chứng cho sự chuyển cầu; cả hai đều dẫn chúng ta đến cùng một xác tín: Thánh Giuse vẫn luôn âm thầm hiện diện trong lịch sử cứu độ và trong đời sống của Giáo hội.

Lm. Anmai, CSsR


 

Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của người nghèo và sự hèn mọn

Thao Teresa

 Bức hình này là của các kênh Công giáo đưa tin: “Lần đầu tiên sau 800 năm, di hài thánh Phanxicô Assisi được trưng bày cho cộng đồng đến viếng và cầu nguyện, đợt đầu đã gần 400 ngàn người … nhiều người đã khóc nấc khi diện kiến di hài thánh nhân.”

————-

Ngay lúc này, tại một thị trấn cổ kính trên đỉnh đồi vùng Umbria, nước Ý, một dòng người rồng rắn đang nhích từng bước chân trong cái lạnh mờ sương. Gần nửa triệu con người từ khắp địa cầu đang kiên nhẫn đợi chờ, không phải để xem một kỳ quan, mà để đối diện với một bộ hài cốt tám trăm năm tuổi.

Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của người nghèo và sự hèn mọn. Sau tám thế kỷ nằm im lìm trong quan tài đá, ngài “trở lại” giữa nhân loại trong một hộp kính Plexiglas trong suốt.

Người Việt mình hay bảo: “Sống gửi thác về”. Một câu nói nhẹ tênh nhưng chứa đựng cả một bầu trời chiêm nghiệm về sự phù du. Nhưng khi đứng trước hài cốt của thánh Phanxicô, chúng ta chợt nhận ra có những cái “thác” không phải là về với hư vô, mà là một cuộc bùng cháy vĩ đại.

Tám trăm năm trước, thánh Phanxicô, vốn là gã công tử hào hoa bậc nhất thành Assisi nước Ý, đã làm một việc chấn động: Ngài ném trả lại cha mình tất cả quần áo, danh vọng để chọn lấy chiếc áo thô kệch của kẻ hành khất. Ngài đã chọn “chết” cho cái tôi ích kỷ của mình ngay khi còn đang thở. Chính vì dám buông bỏ tất cả, mà 800 năm sau, xương cốt ngài vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng làm rúng động cả những tâm hồn chai sạn nhất.

Đừng nhìn bằng mắt, hãy nhìn bằng linh hồn: Tại sao chúng ta lại run rẩy khi đứng trước lớp kính kia? Đó không phải là nỗi sợ hãi trước cái chết, mà là sự kinh ngạc trước một Nhân vị vẹn toàn. Sức mạnh của thánh Phanxicô không nằm ở đền đài nguy nga, mà nằm ở một người đã dám sống cuộc đời vì người khác. Ở đó, cái hữu hạn của xương cốt đã bị nuốt chửng bởi cái vô hạn của Tình Yêu.

Kinh Thánh vang vọng một chân lý: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 16,25). Ngài đã liều, đã mất tất cả theo cách nhìn của người đời, để rồi tìm thấy sự bất tử trong lòng nhân thế. Ngài nằm đó không phải để được sùng bái, mà để thẩm vấn mỗi chúng ta: Bạn đang tích trữ tro bụi, hay đang xây dựng một giá trị vĩnh cửu cho tâm hồn?

Rồi một ngày, tôi và bạn cũng sẽ chỉ còn lại một nắm tro tàn. Câu hỏi đáng sợ nhất không phải là ta chết lúc nào, mà là liệu sau 80 năm, hay 800 năm nữa, có ai còn cảm thấy hơi ấm của Tình Yêu khi nhìn vào dấu vết ta để lại không?

Hôm nay, hãy thử sống như thánh Phanxicô: buông bỏ một chút cái “Tôi” để tìm thấy cái “Ta”. Tập cho đi để thấy mình thực sự giàu có. Bởi cuối cùng, chỉ có những gì ta trao đi bằng tình yêu mới là thứ duy nhất ta mang theo được vào cõi vĩnh hằng.

Chúng ta, hiệp ý cùng nhau, cầu nguyện xin ơn riêng, cho bản thân và cho gia đình, nhờ lời chuyển cầu của thánh Phanxicô Assisi. Dành một phút tĩnh lặng để hiệp ý cùng nhau. Mong cho thế giới này bớt đi sự lạnh lẽo và thêm vào đó chút hơi ấm của lòng trắc ẩn từ Thiên Chúa.

Ai muốn xem short-video sự kiện này thì xem ở đây: https://youtube.com/shorts/5ujnoVL1_38

#phailamgi #SaintFrancis #Assisi #SongVinhCuu #ThucTinhTamHon

May be an image of crowd, the Western Wall and text


 

Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543)-Cha Vương

Chúc Bạn một ngày bình an và tràn đầy hy vọng nhé. 

Cha Vương

Thư 3: 10/02/2026. (t5-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543). Ngài là quan thầy của các nữ tu và là đấng cầu giúp cho những ai chống lại bão và sấm sét.

      Anh em sinh đôi thường giống nhau về tính nết và tư tưởng cũng như nhiệt huyết. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi Thánh Scholastica và người anh sinh đôi là Thánh Biển Ðức (Benedict), đều sáng lập các tu hội chỉ cách nhau có vài dặm.

       Sinh năm 480 trong một gia đình giầu có ở Norcia, Perugia, nước Ý. Scholastica và Benedict cùng lớn lên cho đến khi Benedict xa nhà đi học ở Rôma. Chúng ta không biết nhiều về thời niên thiếu của Thánh Scholastica. Sau này, ngài sáng lập dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm. Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần. Theo cuốn Ðối Thoại của Thánh Grêgôriô Cả, trong lần sau cùng hai anh em gặp nhau để cầu nguyện và truyện trò, Thánh Scholastica cảm thấy cái chết của mình gần kề nên nài xin anh Benedict ở với ngài cho đến ngày hôm sau. Thánh Benedict từ chối lời yêu cầu ấy vì ngài không muốn ở đêm bên ngoài tu viện, vì như thế chính ngài sẽ phá vỡ quy luật do ngài đặt ra. Thánh Scholastica xin Thiên Chúa cho phép anh mình ở lại, và một trận mưa lớn đổ xuống như thác khiến Benedict và các tu sĩ đi theo ngài không thể trở về tu viện. Thánh Benedict kêu lên, “Xin Chúa tha tội cho em. Em làm cái gì vậy?” Thánh Scholastica trả lời, “Em xin anh một ơn huệ và anh từ chối. Em xin Chúa, và Chúa nhận lời.” Ba ngày sau, ðang khi Thánh Benedict cầu nguyện trong tu viện thì ngài nhìn thấy linh hồn của em mình bay lên trời trong dạng chim bồ câu trắng. Thánh Benedict sai các tu sĩ đem xác của em mình về dòng và chôn trong chính ngôi mộ mà thánh nhân đã chuẩn bị cho mình. Thánh Scholastica từ trần vào khoảng năm 543, và sau đó không lâu Thánh Benedict cũng từ giã cõi đời. 

(Nguồn: Người Tín Hữu) 

Thánh Scholastica và Thánh Benedict đã giúp nhau đến gần Chúa hơn bằng cách họ đối xử với nhau. Theo gương các Ngài, những người thân yêu bạn hữu, thầy cô, v.v… của bạn đều có thể giúp Bạn trở nên gần với Chúa hơn mỗi ngày.

From Do Dzung

*****************************

Nên Thánh Giữa Đời – Xara Trần – (St: Sr Têrêsa)

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

Thứ 5: 5/2/2026. (t6-21)

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục. 

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.” 

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. 

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Kinh cầu nguyện với Thánh Agata

“Ôi Thánh Agata, trinh nữ cao quý và vinh quang, đã làm tất cả các phép lạ giữa những đau đớn khủng khiếp nhất, được Chúa gởi Thánh Phêrô đến để chữa lành các vết thương. Từ trời cao, qua lời cầu bàu mãnh liệt của nữ thánh tử đạo, xin cho con cũng được lành như nữ thánh. Thánh Agata, niềm vinh dự của Chúa, bị quan thái thú, Quintien hung ác xẻo vú, xin Thánh Agata cầu bàu cùng Chúa và Đức Mẹ cho con, cho con khỏi các triệu chứng của căn bệnh này. Amen”.

Sau đó đọc ba lần câu: “Lạy Thánh Agata, xin cầu nguyện cho con và đọc thêm Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh. 

From: Do Dzung

*************************

Xin Chúa Đoái Thương Chữa Lành Chúng Con