Nếu xa nhau anh xin làm mây thu,

“Nếu xa nhau anh xin làm mây thu”,

Khóc em… dài những tháng mưa ngâu

Mưa thu buồn… buồn đời anh bấy lâu

Gió thu sầu… hát bài ca nhớ nhau”.

(Đức Huy – Nếu Xa Nhau)

(Galát 3: 26-29)

Trần Ngọc Mười Hai

Đã xa nhau rồi, sao lại hát xin làm “mây thú”, mây thu chứ? Mây thú hay mây thu rất thú vẫn vần vũ cũng đâu vừa, hỡi người viết nhạc, rất nghệ sĩ. Vâng. “Làm mây thu” ở đời người, cũng đâu là chuyện dễ. Chí ít, là “làm mây thu” rồi lại có cái thú khác làm mây mưa dây dưa nhiều chuyện để thế-trần cứ lần-chần, tức chết được.

“Mây thú” hôm nay, lại sẽ thấy nhiều điều trải dài nơi lời ca cũng âu sầu, như sau:

“Nếu xa nhau, anh xin làm dòng sông

Nhớ em nhiều những thoáng mênh mông

Khúc sông buồn… buồn trôi bao lá rong

Tiếng mây chiều lạc loài vương nhớ nhung.”

(Đức Huy – bđd)

Thì ra, “làm mây thu” là làm rất nhiều thứ, và cả những thứ/những điều khiến cho người và cho mình, như ca-từ còn xác-chứng. Xác chứng hay làm-chứng cho ai/điều gì, vẫn không là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng hôm nay, chỉ mỗi việc là: làm chứng cho Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, không thấy mệt.

Thật thế. Trong cuộc đời người, vẫn có nhiều người từng thấy chán-nản rất nhiều thứ, nên tự dưng muốn được làm “mây thu” hoặc cái thú làm mây vơ-vẩn đường bay tận chân trời, nhiều tưởng tượng. Trong số những người dễ chán nản và ngán-ngẫm đủ mọi thứ, là đám “trẻ người non dạ” cứ luôn miệng bảo: “Sao con chán mấy đồ chơi này quá, mẹ à!”; hoặc “buồn thấy mồ tổ đấy, mẹ ơi!” vv..

Trong cuộc đời trẻ tuổi, nhiều em bé vừa chơi đồ chơi mẹ mới sắm/tậu, hoặc trò chơi “games” điện-tử mới cài đặt trên ipad, media player, đã thấy buồn. Tóm lại, cuộc đời người, tiếng “chán” hoặc “buồn”, là từ-vựng thấy ở già trẻ lớn bé, ai cũng có thể nói vào lúc nào đó.

Có bé em học sinh, đang trong kỳ nghỉ học-kỳ hoặc nghỉ hè khá nhiều tuần, thế mà mới chỉ có vài ngày đã thấy chán hoặc kêu buồn rồi. Em thấy thế, là bởi lâu nay thiếu nghỉ ngơi, thư-giãn hoặc thiếu sáng-tạo trong cuộc chơi, học-hành hoặc tạo ra tư-tưởng, nên không thấy chuyện gì hấp-dẫn, hoặc thích-thú cả đến kẹo bánh/cây trái lẫn trò chơi cũ/mới ê-hề đủ loại.

Cũng có thể, em thấy chán/ngán, vì suốt ngày chỉ dán mắt vào màn hình lớn/nhỏ xem phim truyện xong lại chơi trò chơi này khác, riết rồi quá nản bèn than van: “Chẳng gì mới!” hoặc: “Ghêm gì toàn những thứ xem rồi, chán bỏ xừ!”

Những câu nói “chán/ngán” lại đã khiến bậc cha mẹ thêm lo lắng, hãi sợ. Bởi quá lo, nên có bậc mẹ cha tìm đủ mọi cách, cả việc đổ xô tìm các đồ/hàng mới cứng để mua/sắm cho bé em bớt buồn, nhưng vẫn không làm các bé hài lòng, hoặc bớt sầu.

Thành thử, kỹ-thuật cao hoặc mới mẻ, có lẽ, sẽ chỉ là giải-pháp/đáp số tạm-thời cho bài toán khó giải với người đời. Bởi thế nên, nhiều vị ở các nơi mới cố nặn óc mình ra mà tìm tòi, sáng-chế, hoặc chỉnh-sửa những gì có sẵn, đôi lúc lại đã khám-phá ra đôi điều làm mọi người phải suy-nghĩ.

Thực-tế đời người đi Đạo, cũng hệt thế. Nhiều thứ hoặc nhiều chuyện, lâu nay từng khiến người nhà Đạo suy-nghĩ rất “lung” vào mọi lúc/mọi thời, lại trở-thành vấn-đề để ta sẻ san,  tư-duy, hoặc suy-nghĩ. Một trong các vấn-đề khiến mọi người suy-tư không ít, ở nhà Đạo, là vấn đề phụ-nữ. Nói rõ hơn, là: vai-trò của nữ-phụ trong Đạo đã và đang được nhiều vị đặt lại.

Đặt lại vấn-đề trong Đạo, giống hệt người ngoài đời vẫn từng hát:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

(Đức Huy – bđd)

Người ngoài Đạo, thường hát thế là để tự an ủi mình vào lúc thấy cuộc đời mình cũng chán và nản, không ít. Thế nhưng, các đấng bậc trong Đạo lại tư-duy theo cách chững-chạc, đạo-mạo, rất bài bản như ta thường thấy ở đây đó, chốn Nước Trời.

Nuớc Trời hôm nay, lại có bậc vị-vọng trong Đạo Chúa, đã nhìn ra vấn-đề khả dĩ gây nản lòng nơi một số bạn đạo, ở đây đó. Đấng bậc nhà ta, đã hình-dung ra được vấn-đề hệ-trọng cả ở trong Kinh Sách, nên đã tỏ lộ như sau:

“Huyền-thoại Do thái xưa, được phản ánh trong sách Sáng Thế đã diễn-tả tầm hiểu của người thời đó về nhiều thứ. Chủ-đích của người ghi chép các huyền-thoại ấy, là để giải-thích thứ đó có nghĩa gì. Rõ ràng là, chỉ mỗi nam-nhân thời cổ mới dám đóng khung các huyền-thoại này và cuối cùng ghi chép lại thành sách, thành truyện. Nói thế là bởi, bậc nữ-lưu thời cổ trong xã-hội không được phép tiếp-cận quyền-lực để giải-thích về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách nữa.

Và hơn nữa, phụ-nữ được mọi người coi như không dính-dự gì vào những chuyện như thế, hoặc có dính dự cũng chẳng hiểu biết, chẳng thể-hiện được thế nào là thực-tại đời người. Vì thế nên, phụ-nữ chẳng bao giờ tạo ảnh-hưởng cách trực-tiếp lên nền văn-hoá này khác, hoặc cũng chẳng tạo bất cứ quyết-định ban đầu nào về bản-chất của bất cứ sự gì và cũng chẳng tham-gia vào bất cứ tiến-trình nào khả dĩ đưa ra một quyết-định. Thành thử, chẳng lạ gì khi các truyển kể trong Kinh Sách đều do nam-nhân viết ra hoặc định-hình cả đến sự việc nhằm giải-thích cách-thức ác-thần/sự dữ len lỏi vào công cuộc tạo-dựng của Thiên-Chúa Đấng Tác-tạo mọi sự. Và Kinh Sách làm thế, bằng việc tuyên-bố việc ấy như yếu-điểm của tạo-vật chưa thành người do Thiên-Chúa thực-hiện để đáp-ứng nhu-cầu của nam-nhân. Và người nữa đó tên là Evà.

Nói tốm lại, ở thế-giới do nam-nhân thống-trị, thì phụ-nữ bị chê-trách đủ mọi thứ kể từ ngày ấy, đến hôm nay. Chẳng hạn như: nếu người đàn ông nào lại hiếp-đáp một phụ-nữ, thì lại nói do người nữ ấy quyến-rũ anh ta bằng cách ăn mặc lố lăng, khêu gợi. Nếu nam-nhân đánh đập một nữ-phụ nào, thì lại bảo: việc ấy là do y-thị khiêu-khích anh ta nổi giận. Thậm chí, nếu nam-nhân ly-dị người nữa nào, lại đổ lỗi cho người nữ ấy sống sao đó nên nam-nhân này không còn chịu đựng nổi để chung sống nữa…

Nói tóm lại, chính người nữ đầu đời con người là Evà chính là duyên-do khiến nam-nhân đầu tiên ngã quỵ. Bà chịu trách-nhiệm trong việc dẫn nhập mọi ác thần/sự dữ, và/hoặc mọi sự ngán-ngẫm, cho gian-trần…” (x. Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture: Woman as the Source of Evil, HarperCollins Publishers 2005, tr. 87)

Sống thực đời đi Đạo, các đấng bậc vị vọng là những người thấy được điều chán/ngán, còn gọi là ác-thần/sự dữ cũng hơi lạ ở Kinh Sách. Còn, người thường đi Đạo sống thực cuộc đời lý-tưởng sẽ ra sao? Hãy nghe đấng bậc có nhiều năm kinh-nghiệm giảng dạy về niềm tin và mục vụ tại trường Đạo ở Melbourne, Úc Châu lại có giòng chảy như sau:

“Mới đây, tôi có sinh-hoạt với một nhóm người trẻ để giúp các em hiểu thêm về căn-tính linh-đạo của họ. Thật ra, cũng chỉ như chuyện xếp hình kiểu Nhật Bản gọi là Origami, mà thôi.

Ý tôi muốn nói là: ta chỉ cần làm mỗi việc như xếp mẩu giấy vụn theo chiều dọc thành hai cột, cũng đơn-giản…. nghĩa là, chỉ việc đưa vào cột dọc này các ơn phúc Trời ban cho con người, tức: các huệ-lộc áp-dụng cho mỗi người và mọi người. Nay, cũng chỉ nên ghi-nhận xem ân-phúc nào được Chúa đem đến cho cuộc sống của mình, chứ không ai khác ngoài mình ra.

Nghĩ thế rồi, tôi bèn bắt đầu làm công việc ấy cách đây 3 ngày và dưới đây là một vài mảnh vụn từ đó nảy ra:

  1. Sáng thứ Hai. Bé trai đầu tiên tôi gặp ở trường học tôi vẫn dạy, có nói với tôi rằng: “Thấy thày lại đến như thế này, thật rất tốt.” Thế tức là, tôi có được nghị-lực làm việc để bớt thấy chán nản trong cả tuần lễ, là do em bé này chúc mừng tôi.

  1. Trưa thứ Hai hôm ấy. Cùng với 4 em học sinh đi đến trung-tâm giúp người vô gia-cư có thức ăn vào buổi sáng, tôi có dịp chuyện gẫu với một nhân-viên thiện-nguyện mà tôi chưa từng gặp mặt. Bà này trạc 6o, thất-nghiệp suốt 18 tháng trời, tức là bà từng trải-nghiệm một thời-gian dài rất chán-ngán. Bà có nhiều bằng cao-học hoặc phó tiến-sĩ gì đó, lại có kinh-nghiệm quản-trị xí-nghiệp rất nhiều năm.

Thế nhưng, công-việc lại không mấy thích-hợp với một người giỏi dang, thiện chí đầy mình. Dù sao thì, hôm ấy, bà đã tập thể-dục chuẩn bị sạch sẽ để gặp mặt những người lê lết ngoài đường phố, rất hôi bẩn. Tôi xúc-động khi thấy phụ-nữ như bà có tinh-thần cao, lại quyết tâm làm những việc rất cần cho người sống lề đường/xó chợ, dù bà vẫn ưa-thích văn-chương nghệ-thuật hơn thứ gì khác. Tôi phấn khởi không ít, và biết ơn các nữ-phụ như bà dám bỏ tất cả ra chỉ để lân-la/gần gũi những con người rất chán đời, nhưng vẫn trân-trọng cử-chỉ đẹp do bà thực-hiện.

Điều hay hơn, là bà chẳng bao giờ tỏ ra là kẻ cả, trịch-thượng và đó là ân-phúc tôi có được vào ngày hôm ấy.

  1. Trưa thứ Ba. Hôm nay, tôi được tin người bạn rất thân đã hưu-dưỡng từ lâu, vẫn tạm-trú ở khu dưỡng bệnh dành cho những người bị ung-thư giai-đoạn cuối. Công việc thường ngày của ông, là giúp các bệnh-nhân đồng cảnh-ngộ viết lên chuyện đời của mỗi người, để họ san sẻ với bạn bè/người thân, trước khi quá vãng. Ông thấy: phần đông những người sắp lìa đời, vẫn muốn để lại các câutruyện đời đủ mọi loại, không có được cơ-hội như mình, hoặc đôi lúc chỉ cần viết ra vài ba giòng chữ trước khi chết, cũng được. Ông đã trở thành một thứ không phải “con ma viết lách” mà là “thần-nhân viết truyện”. Và hôm ấy, tôi lại được chúc phúc vì đã quen biết ông.

  1. Chiều thứ Ba. Tôi vừa được một bạn già khác là linh-mục vừa mới gọi cho biết ông đã có báo cáo thật tuyệt-vời. Nghe chữ tuyệt-vời tôi cứ ngỡ rằng đó là báo-cáo học-trình của ai đó, thì ra là “báo cáo về bệnh-tình của ông, do bác-sĩ trao cho ông. Mấy lâu nay ông bị ung-thư đến giai-đoạn rất nặng, suốt những năm gần đây. Thế nên, chính ra đây phải là tin buồn mới  đúng.

  1. Sáng thứ Tư. Một đồng-nghiệp rất thân của tôi, có lần nói là: anh rất thích nhất câu thơ của Shakespeare để cho nhân vật Polonius nói với Laertes trong “Hamlet”, rằng: Bạn bè ông, nếu họ thử đủ mọi cách khác nhau mà không thuận được gì, thì hãy túm lấy họ bằng móc mắt đem vào hồn là xong… Nghe thế, tôi lại cảm thấy mình được chúc phúc vì có bạn bè thân quen mình có thể túm lấy mà đưa vào hồn mình.

  1. Chiều thứ Tư. Một em học sinh của tôi từ Phi Châu trở lại trường, sau khi nhận thanh-tẩy trong nước, có nói: việc quan-trọng đối với em là về để thấy được mọi người còn sống sót, chứ không phải để nhìn tận mặt sự đói nghèo là thế nào. Em còn nói về châu Phi, như sau: “Đến đó quý đã thấy lạ kỳ rồi, khi rời khỏi nơi đó, lại vẫn thấy kỳ lạ như lúc đến, nhưng ở mức độ còn cao hơn.” Điều này, là loại chóp đỉnh băng đá tảng trôi trên biển mà thôi. Nhưng, cũng có thể là tôi vẫn cần miếng đá ấy mỗi ngày cho mình. Bởi, cuộc sống không chỉ là những sự việc và sự kiện xếp thành nhiều lớp trồi lên trên mà là để cho chúng không bị xếp lớp, mà thôi.” (x. Michael McGirr, Origami Blessings, The Majellan 10/2013-12/2013, tr. 15-16)

Đời người chỉ như băng tảng xếp lớp, mà thôi. Ôi! Còn gì chí lý bằng. Thế tức là, trong chuổi ngày dài cuộc đời, có lớp xếp hướng lên cao, có lớp lại chìm xuống để trôi tan cùng giòng nước. Bạn bè Đấng bậc mô-phạm trường lớp thuờng nghĩ thế. Chứ còn, nghệ-sĩ ở đời thường lại nghĩ khác, nên cứ hát những lời, như:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

À thì ra, “Biết bao giờ đời anh thôi dở dang” thật cũng chán. Thấy chán, là bởi anh thật chẳng biết “bao giờ tình yêu thôi lỡ làng”.

À ra thế. Tất cả, chỉ vì tình yêu mà thôi. Yêu người, yêu vật yêu cả trò chơi, đồ hàng lại thiếu mất tình-yêu, làm sao khá.

Tất cả vì Tình-yêu. Bởi, có tình yêu, là có tất cả. Cho đời mình. Chỉ Tình-yêu, mới làm cho mình/cho người sống cuộc đời đáng sống. Chỉ Tình-yêu, mới là lý-tưởng cuộc sống, không thấy chán. Và, Tình-yêu lại là và vẫn là ý của Đấng Thánh Nhân Hiền, từng dạy dỗ, bảo ban như sau:

“Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy

để thuộc về Đức Kitô,

đều mặc lấy Đức Kitô.

Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp,

nô lệ hay tự do,

đàn ông hay đàn bà;

nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô.

Mà nếu anh em thuộc về Đức Kitô,

thì anh em là dòng dõi ông Ápraham,

những người thừa kế theo lời hứa.”

(Galat 3: 26-29)

Và, một khi đã ở cùng và ở với “Thiên-Chúa-chính-là-Tình-Yêu” rồi, mỗi người và mọi người sẽ thấy đời mình nhẹ nhàng, thư-giãn, rất đáng sống. Sống thảnh-thơi, như lời đấng bậc hiền-triết từng răn dạy người đời bằng câu truyện kể để lại đời như sau:

“Có một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học cầu mong kiếm được con đường giải thoát. Nhà triết học chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:

-Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.

Người này bắt đầu làm theo, còn bậc hiền-riết bước nhanh đến mút đường. Được một lúc, người kia mới đến được chỗ đó. Bậc hiền-triết hỏi anh thấy thế nào. Người kia nói:

-Tôi thấy càng lúc càng nặng.

Đây chính là nguyên-nhân giải thích tại sao anh thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Bậc hiền-triết nói:

-Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi bước đi trên đường đời anh ta đều nhặt thứ gì đó từ thế giới này để bỏ vào sọt, nên càng đi càng cảm thấy mệt.

Người kia lại hỏi:

-Có cách nào giảm bớt gánh nặng này không ?

Bậc hiền-triết hỏi ngược lại anh:

-Vậy anh có đồng ý vứt bỏ một trong các thứ như công việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không? Người kia nghe xong im lặng. Bậc hiền-triết bèn nói tiếp:

-Nếu thấy khó có thể vứt bỏ đi, thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa, mà nên nghĩ đến niềm vui nó mang lại. Cái sọt của mỗi người chúng ta không những chứa đựng ân-huệ Trời ban, mà nó còn gồm cả trách nhiệm và nghĩa vụ nữa. Khi anh thấy nặng nề, anh cũng đừng vội buồn, có thể cái sọt của người khác còn to hơn, nặng hơn của anh nhiều. Nếu nghĩ như thế, chẳng phải sọt của anh sẽ bớt được nỗi buồn, hay sao?” Trong đời, có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày vẫn “hành hạ” ta, nếu ta cứ “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng, nhiều lúc ta cũng quên một điều khá quan trọng, là cuộc sống có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Một mặt được phơi bày và một mặt vẫn ẩn khuất. Nếu ta chỉ thấy mỗi mặt nổi của sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ có kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồn, vội vui.

Ở đời, cái vừa ý ta thì ít, còn cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều lúc ta dễ “chán đời” ! Làm sao “yêu đời” được, khi nhìn chung quanh, ta thấy toàn những điều làm ta mệt mỏi, cô đơn, nặng nhọc?

Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy sự việc nào xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng với người khác, nó lại là chuyện “bình thường”, có khi còn mang ý nghĩa tích cực nữa.

Vậy nên, gánh nặng cuộc đời còn tùy ta nhìn nó từ góc cạnh nào. Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, thì làm sao có được niềm vui vừa ý, chắc chắn quang gánh cuộc đời càng nặng trĩu. Chính vì tha nhân, vì người thân yêu, và vì tình người đồng loại, mà gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì ta cứ tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra, chúng biến-hóa một cách nhiệm mầu thành nụ cười hạnh phúc.” (truyện kể do St gửi lên mạng)

Truyện kể thế rồi, nay để-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta hãy hiên ngang hát tiếp câu ca người nghệ-sĩ viết cho đời trươi lên. Hát rằng:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

(Đức Huy – bđd)

Vâng. “Trời đã sang đông thôi anh làm im vắng” để “những đêm dài mơ ước với gió trăng”… Vâng. Hãy cứ mơ ước rằng đêm dài cuộc đời mình sẽ không còn “tình yêu lỡ làng”, đời anh, đời em sẽ thôi không còn dở dang nữa. Và khi đó, ta sẽ yên hàn vui hưởng cuộc đời rất thương yêu, có Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu luôn ở cùng, sẽ nâng đỡ ta và mọi người suốt một đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn tin tưởng

Và hy vọng

Mãi như thế.

Suốt đời mình.

Đất Nước Nhìn Từ Long An

Đất Nước Nhìn Từ Long An

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 

Họ dốt về chuyện quản lý đất nước, quản trị điều hành. Còn chuyện trấn áp kiểm soát thì họ khá lắm.

Đoan Trang

Cuối năm 2012, nhà báo Huy Đức cho ra mắt bộ sách Bên Thắng Cuộc. Ông dành chương cuối (chương XXII) để viết về thế hệ của những đảng viên cộng sản – hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – với ít nhiều kỳ vọng, cùng …dè dặt:

Cho dù trong Bộ chính trị khoá X (2006-2011) vẫn có những người trưởng thành qua chiến tranh, họ bắt đầu thuộc thế hệ “làm cán bộ” chứ không còn là thế hệ của những “nhà cách mạng”. Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Hơn hai năm sau, sau “khi cuốn sách này ra đời,” vào hôm 14 tháng 4 năm 2015, xẩy ra việc  “Dân Oan Long An NBình Hàn GĐá, Tạt Axit Làm BThương Lực Lượng Cưỡng Chế Thu Hồi Đất.” Hôm sau nữa, vào ngày 15: Bình Thuận: Dân Chặn Xe Trên Quốc Lộ 1 Và Đụng ĐVới Cảnh Sát Cơ Động.”

Về sự kiện thứ hai, blogger Trương Huy San đã có lời bàn:

“Nếu có một cơ hội để đối thoại, người dân Tuy Phong, chắc chắn, sẽ không lựa chọn giải pháp cứng rắn như họ đang làm.”

Cũng như người dân ở Tuy Phong (Bình Thuận) dân oan ở Thạnh Hóa (Long An) đã không có cơ hội nào để đối thoại với chính quyền địa phương, hay trung ương, nên họ lựa “chọn giải pháp cứng rắn” là “tạt axit làm bị thương lực lưỡng cưỡng chế và thu hồi đất.”

Ảnh lấy từ: RFA

Sự việc, tất nhiên, không xẩy ra trong một sớm một chiều –  theo lời người trong cuộc:

“Chúng tôi đi khiếu kiện khắp nơi nhưng không ai giải quyết, từ tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa cho đến tòa án nhân dân tỉnh Long An để được bồi thường giá đất thực tế cho chúng tôi. Họ bồi thường cho chúng tôi với giá chỉ 300.000 đồng/m2 nhưng họ lại bán cho chúng tôi ở vị trí liền kề lên tới 25 triệu/m2. Từ chỗ đó chúng tôi nhận 300.000 đồng không thể mua được ở đâu.

Chúng tôi đã bị tòa án nhân dân huyện và tỉnh đã bác bỏ yêu cầu khởi kiện, vì vậy chúng tôi đã gởi đơn lên tòa án nhân dân tối cao đồng thời làm đơn tố cáo ra trung ương. Từ năm 2012 cho đến nay thì vẫn chưa được cơ quan nhà nước nào giải quyết thỏa đáng cho chúng tôi.”

Ủa, vậy chớ “từ năm 2012” đến nay đại biểu Quốc Hội đơn vị Long An ở đâu và làm gì? Câu hỏi tương tự cũng xin đặt ra cho qúi vị đại biểu Quốc Hội ở Từ Sơn (Bắc Ninh), Văn Giang (Hưng Yên), Dương Nội (Hà Đông), Cồn Dầu Đà Nẵng …  và tất cả những nơi mà đất đai của dân chúng đã (hay sẽ) bị thu hồi hay cưỡng chế.

 

Nguồn: Dân Luận

Người dân không biết (hay không thiết) kêu cứu? Câu trả lời có thể tìm được qua phóng ảnh của một “tờ báo tin,” gửi từ văn phòng của đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc:

 

Nội dung và hình thức của lá thư “báo tin” này khiến người ta có cảm tưởng như là nó đã được gửi từ một cái bưu trạm – nơi một huyện lỵ xa xôi hẻo lánh nào đó – bởi một anh bưu tá, chứ không phải từ văn phòng của một vị Đại Biểu Quốc Hội (“năng nổ”) cỡ như ông Dương Trung Quốc.

Ngoài Quốc Hội, nước CHXHCNVN còn có Mặt Trận Tổ Quốc với đủ thứ cơ quan, ban ngành, đoàn thể và hội hè…  Họ đều hiện diện – vào hôm 13 tháng 4 năm 2015, hôm đọc lệnh cưỡng chế đất đai Thuận Hoá – và đều cúi đầu im lặng, khi bị người dân chất vấn về vai trò của đại diện M.T.T.Q. trong vụ cướp (ngày) này. Nhìn thấy những gương mặt sượng sùng và ngượng ngùng của ông hội trưởng nông dân, bà hội trưởng phụ nữ thị trấn Long An… (qua youtube) thiên hạ mới hiểu tại sao có những lời chế diễu cay độc, về cái định chế hữu danh vô thực này:

Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi! (Vũ Biện Điền. Phiên Bản Tình Yêu, Vol. II. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2012.)

 

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh A.P Chú thích: VOA

Cùng với Quốc Hội và M.T.T.Q, “Việt Nam có hơn 700 tờ báo.” Tất cả đều đứng “xếp chặt hàng ngũ” sau lưng Nhà Nước, và sẵn sàng “ngậm máu” hay “bốc lửa bỏ tay người.”

Dù không ông/ bà phóng viên nào ai có mặt tại hiện trường, và cũng không ai đến tận địa điểm cưỡng chế khi vụ việc đã xẩy ra, tất cả các cơ quan truyền thông của chính phủ vẫn cứ đồng loạt (tỉnh táo) loan tin:

Sáng 14/4/2015, đoàn cưỡng chế của huyện Thạnh Hóa tiến hành cưỡng chế một số hộ dân không chấp hành quyết định giao đất để thi công công trình bờ kè sông Vàm Cỏ Tây đi ngang qua thị trấn Thạnh Hóa…

Đúng 9h cùng ngày, Đoàn cưỡng chế phân công Tổ vận động tiếp cận các hộ dân trên để vận động trước khi tổ chức cưỡng chế thì các đối tượng có thái độ hung hăng, thách thức, không chịu hợp tác, đồng thời sử dụng axit, dao, kéo tấn công lực lượng cưỡng chế. Do diễn biến tình hình nhanh và các đối tượng không chấp hành quyết định nên lực lượng chức năng đã áp sát, khống chế 14 đối tượng và áp giải về Công an huyện để điều tra, làm rõ.

Và sự việc đã được “làm rõ,” với tội trạng hẳn hoi, chỉ sau một buổi “họp liên ngành” ngắn ngủì:

Sau khi sự việc xảy ra, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành họp liên ngành để đánh giá mức độ, tính chất của vụ việc và xác định hành vi vi phạm của các đối tượng; xác định 7/14 đối tượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng …

Sự kiện này khiến tôi nhớ đến tiếng thở dài (não nề) của ông Hà Sĩ Phu, hồi năm 1995:

Anh có mọi quyền lực trong tay, anh muốn nói gì, nói cả ngày cũng được, thì anh có nhường một tờ báo, một diễn đàn cho những người khác trình bày tiếng nói của họ hay không?
Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bày đặt cái gì cũng được, thì anh có dành cho
Nhân dân một Hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của Dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy sang phụ trách luôn “Hội đồng Nhân dân” cho nhất quán?

Người dân Long An còn biết “đối thoại” cách nào, hay cầu cạnh đến ai ngoài bình gió đá và acid?

Hãy nhìn lại những kỳ vọng (dè dặt) của nhà báo huy Đức, vài năm về trước:

Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Bây giờ thì có thể “nói về họ” mà không sợ là “quá sớm” nữa:

Nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ đã không kiên trì với cái chủ trương (lớn) là phải thác bauxite Tây Nguyên bằng mọi giá – kể cả cái giá mà “nhân dân” sẽ phải trả cho những thiệt hại về môi sinh, cũng như tài chính trong tương lai gần!

Nếu họ cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân thì đâu có tiếng súng nổ ở Hải Phòng, có kẻ phải khỏa thân giữ đất ở Cần Thơ, và có chuyện tạt acid vào đoàn cưỡng chế ở Long An.

Nếu chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo thì đâu có những con tầu rỉ xét Vinashin, và cơ hội để biến vài tỉ Mỹ Kim thành sắt vụn, cùng với những lời hứa hẹn giáo dở và  trơ tráo – kiểu như: “Năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới thì họ đâu có hèn nhược tới cỡ phải cố bám vào một chính sách “ngoại giao viển vông” (“vừa hợp tác vừa đấu tranh”) với “mười sáu chữ vàng,” và cũng đâu đốn mạt tới độ “ăn của dân không từ một cái gì.”

Họ – nói cho nó rõ – chính là những kẻ nội thù đã đưa cả dân  Việt đi hết từ tai hoạ này, sang tai ương khác. Tuy thế, vào ngày 18 tháng 4 năm 2015 vừa qua, vẫn có thư của “những người bức xúc về vận nước, chân thành gửi đến Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,” với ít nhiều kỳ vọng, cùngmấy lời tâm huyết đề nghị được xem xét… hoặc biết chớp lấy thời cơ, đưa dân tộc đi tới, hay lại để vuột mất cơ hội, khiến đất nước bị chìm sâu vào sự lệ thuộc, tiếp tục chịu sức ép nặng nề của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thời Tập Cận Bình.”

Bốn mươi hai vị “bức xúc về vận nước” ký tên dưới bức thư thượng dẫn đều là những nhân vật tăm tiếng, có thể coi là thành phần tinh hoa của xã hội Việt Nam hiện nay. Khi mà giới người này vẫn chưa nhận diện được kẻ thù của dân tộc, vẫn tiếp tục gửi “đề nghị,” với hy vọng “được” chúng “xem xét” thì đất nước –  tất nhiên –  còn lắm gian truân.

Blogger Điếu Cày trên truyền hình nhà nước

Blogger Điếu Cày trên truyền hình nhà nước

Hình ảnh blogger Điếu Cày bên Tổng thống Obama xuất hiện trong chương trình sáng 2/5 trên kênh VTV1

Hình ảnh cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Barack Obama và blogger Điếu Cày xuất hiện trong bản tin buổi sáng của Đài Truyền hình Việt Nam.

Bản tin Chào buổi sáng thứ Bảy 2/5 trên kênh VTV1 trong phần quốc tế có đề cập vụ bạo động ở Baltimore, Hoa Kỳ, và nhắc tới Tổng thống Obama.

Biên tập viên chương trình, được tin có tên là Lê Quý, đã phát kèm hình ảnh một cuộc gặp của ông Obama hôm 1/5 tại Tòa Bạch ốc.

Đó là cuộc gặp của ông tổng thống Mỹ với một số blogger nước ngoài trước thềm ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5.

Tại đó, blogger Điếu Cày, tức ông Nguyễn Văn Hải, có mặt bên cạnh hai blogger khác là Simegnish ‘Lily’ Mengesha (Ethiopia) và Fatima Tlisova (Nga) để cùng bàn luận về tự do báo chí trên thế giới.

Trên khuôn hình của VTV1, người ta có thể nhìn thấy ông Nguyễn Văn Hải ngồi bên tay phải của ông Obama.

Blogger Điếu Cày, người từng bị chính quyền trong nước bỏ tù vì tội Trốn thuế và sau đó là tội Tuyên truyền chống nhà nước, đã được chuyển cho đi Mỹ hôm 21/10/2014.

Thông tin về ông từ đó không được đăng tải trên bất cứ kênh truyền thông nào ở Việt Nam, bởi vậy việc blogger này xuất hiện trên kênh truyền hình chủ lực của nhà nước đã gây chú ý.

Tuy nhiên, các đường link trực tuyến vào bản tin Chào buổi sáng 2/5 đều đã bị gỡ bỏ.

Tuyên truyền chống nhà nước

Blogger Điếu Cày nói với BBC về cuộc gặp với Tổng thống Obama rằng vị tổng thống và các blogger đã “ngồi ở bên cạnh nhau để thảo luận về các vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận của các nước có các nền báo chí tồi tệ”.

“Tôi thấy rằng Tổng thống Obama rất quan tâm đến tình hình của các nước như là Ethiopia, Nga hay Việt Nam.”

Ông cũng cho hay đã chuyển cho ông Obama một danh sách các tù nhân lương tâm, trong đó có nhiều nhà báo, blogger đang bị giam giữ ở Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam không đưa tin gì về cuộc gặp này.

Ông Nguyễn Văn Hải từng được biết đến như một blogger với nhiều bài viết thu hút sự chú ý trên cộng đồng mạng xã hội và Internet của Việt Nam về các chủ đề dân quyền và chủ quyền biển đảo.

Ông được trao giải Tự do Báo chí Quốc tế trong buổi lễ được Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) tổ chức tại New York, Hoa Kỳ hồi tháng 11/2013.

Trước khi đi Hoa Kỳ, ông thi hành án tù 12 năm tại Trại giam số 6, Huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

Một cô bé bảy tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau, đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

– Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

-. Em trai cháu bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

– Ở đây không bán phép màu, cháu à. – Người bán thuốc nở nụ cười tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

– Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

– Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được giải phẫu, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

– Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau, đứa bé đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Kính thưa quí ông bà anh chị em. Nếu mỗI ngườI ngồI ngẫm nghĩ lạI cuộc đờI của mình, mỗI ngườI sẽ cảm thấy rõ ràng: chúng ta còn sống và được như ngày hôm nay, thật sự phảI nói là một Phép Mầu. Và đây cũng chính là điều tôi muốn chia sẻ vớI quí ông bà anh chị em trong thánh lễ hôm nay.

Nhiều ngườI nghĩ rằng chúng tôi những linh mục là những con người tài ba đức độ nên mới được Thiên Chúa tuyển chọn. Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ vì mình tài ba đức độ mà được Thiên Chúa tuyển chọn. Không, không phảI thế. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi và chọn tôi không phảI vì tôi trổi vượt hơn những người khác. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi không căn cứ vào công trình của tôi. Đó là một tình yêu hoàn toàn nhưng không, một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vì nếu tình yêu ấy căn cứ vào tài đức của tôi, khi tài đức tôi không còn nữa thì tình yêu ấy cũng sẽ biến mất. Nhưng khi tình yêu ấy căn cứ trên cái nhưng không, tình yêu ấy không thể bị tiêu diệt và tôi sẽ không bao giờ mất nó vì nó không đến do một công trình nào của tôi mà là một món quà nhưng không của Thiên Chúa.

NgồI ngẫm nghĩ lại, tôi thấy việc Chúa làm thật là mầu nhiệm. Lớp chúng tôi khi mớI vào tiểu chủng viện là 65. Nhưng cuối cùng chịu chức chỉ còn 4. Một ở Úc, 2 đang ở Việt Nam, và tôi đang ở đây. Nhiều anh trong lớp tôi rất là thông minh tài giỏI, lanh lẹ. Nhưng thường  những chú bé thong minh lanh lẹ thì cũng hay tinh nghịch nên đã bị nhà trường cho về. Chính vì thế, thiểu số còn lạI không hẳn là những ngườI thông minh lanh lẹ hơn những ngườI kia, mà có thể nói là khù khờ hơn.

Một điều rõ ràng hơn nữa là sau biến cố 30/4/75. Tất cả các chủng viện đều đóng cữa. Để tồn tạI chúng tôi phảI sống thành những nhóm nhỏ, từ những sinh viên trắng trẻo đẹp trai của đạI chủng viện ngày nào, bỗng chốc trở thành những anh chàng nhà quê lem luốt, đen điểu, xấu xí, ngày ngày chỉ biết lam lụ để sản xuất. Nhóm chúng tôi đi làm muốI, mỗI ngày phảI ra đồng làm việc từ 7:30 sáng đến 6 giờ tối. Sau 10 năm trờI lam lụ vất vả, tôi cảm thấy hoàn toàn kiệt sức từ tinh thần lẫn thể chất. Chính vì thế tôi đã quyết dịnh ra đi.

Và tôi đã khám phá ra điều nầy: khi Thiên Chúa đóng cữa trước thì Ngài mở lối sau. Trước kia tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện vượt biên vì sợ cảnh ngục tù và chết chóc. Nhưng rồI bị đưa đẩy vào bước đường cùng, tôi không còn chút sợ hãi nữa, sẵn sàng chấp nhận: một là chết hai là vinh quang, không chấp nhận cảnh nô lệ, nên tôi đã ra đi. Hai lần đầu thất bạI nhưng may mắn không bị bắt. Lần thứ ba thì thành công nhưng rồI lạI gặp giông to bão tố. May mắn là được tàu hảI quân Mỹ vớt, nếu không chúng tôi cũng đã trở thành những miếng mồI ngon cho cá biển. Vì thế càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy như có một phép màu nào đó đã che chở phù hộ để mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay.

Xa hơn tí nữa, mọI ngườI đều nghĩ rằng đất lành chim đậu và đất Mỹ sẽ là chỗ dừng chân lý tưởng. Nhưng rồI trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng xảy ra dường như có một bàn tay vô hình nào đó muốn an bài, muốn dẫn dắt để đưa tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi đi. Trong lúccòn đang phân vân ngẫm nghĩ thì tôi đọc phảI một câu chuyện rất cảm động nầy:

Năm 1962, chiếc phi cơ của hãng Panam Mỹ chở mấy trăm ngườI, trong đó có một số giám mục Mỹ từ NewYork đến Rôma để họp công đồng chung Vaticanô II. Trong chuyến bay có 2 cô tiếp viên hàng không, một trong hai cô có nét đẹp  tuyệt vời. Trên chuyến bay, có một cụ già đã lưu ý đặc biệt đến sắc đẹp của cô. Cụ vừa nhìn ngắm vừa ngẫm nghĩ môt cái gì đó khác thường. Thế rồI khi phi cơ hạ cánh, mọI ngườI chuẩn bị xuống phi cơ thì cụ già đó vẫn cứ ngồI yên. MọI ngườI lần lượt bước ra khỏI phi cơ, cụ là ngườI cuốI cùng rờI chỗ. Và trước khi giã từ, ngườI ta thấy cụ  đưa miệng ghé vào tai cô tiếp viên xinh đẹp kia nói nhỏ một câu gì không ai biết được. Chúng ta có biết cụ già ấy là ai không? Đó là đức giám mục Fulton Sheen, tổng giám mục NewYork., một nhà hùng biện nổI tiếng nước Mỹ. Bốn tháng sau, khi khóa một công đồng chung vaticano kết thúc, các giám mục được về nước nghỉ. Một hôm, nghe tiếng chuông reo, ngài ra mở cữa,  cô tiếp viên nói: Thưa đức cha, đức cha có còn nhớ con không? Tôi còn nhớ lắm. Cô là tiếp viên trên chiếc hàng không đưa chúng tôi đến Roma. Đức cha có còn nhớ đã nói gì vớI con không? Tôi đã nói: có khi nào cô đã cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho cô sắc đẹp tuyệt vờI ấy không? Thưa đức cha, chính vì câu hỏI đó mà hôm nay con đến hầu chuyện đức cha. Đức cha thử nghĩ con phảI làm gì để tạ ơn Chúa? Ngài ngẫm nghĩ trong chốc lát, sau đó đưa cô đến bản đồ thế giớI, vừa chỉ vừa nói: đây là Việt Nam, đây là Sài Gòn, và đây là DiLinh. Cha vừa mớI được một tin từ Việt nam: đó là đức cha Jean Casssaigne, một ngườI Pháp đang làm tổng giám mục Sàigòn, đã xin từ chức để đi  phục vụ một trạI phong cùi ở miền núi DiLinh. Vậy con có muốn  hy sinh một thờI gian, đem tiếng nói dịu dàng, nụ cườI hồn nhiên, duyên sắc mặn mà của con để an ủI họ không? Nghe đến đó, mặt cô tiếp viên tái dần đi. Cô đứng lặng yên trong mấy phút. Đột nhiên cô cúi đầu tạm biệt không nói một lời. Câu chuyện tưởng chừng như kết thúc, rồI bỗng nhiên một ngày kia tiếng chuông điện vang, ngài ra mở cữa, vớI nụ cườI tươi, cô tiếp viên thưa vớI ngài: Thưa đức cha, bây giờ thì con đã sẵn sàng để đi VN. Xin đức cha giúp con để liên lạc. Và ngài rất hài lòng giúp đỡ. Rồi năm 1963, đài phát thanh cũng như báo chí ở Sài Gòn loan tin: Một nữ tiếp viên rất xinh đẹp của hãng hàng không Panam tình nguyện đến DiLinh, Lâm Đồng để sống vớI những ngườI phong cùi trong 6 tháng. Nhưng rồI sau 6 tháng, cô đã tình nguyện ở lạI phục vụ những bệnh nhân nầy suốt đờI của cô. Cô xin gia nhập dòng nữ Phan xicô. Sau những năm vào nhà tập, cô đã trở thành bà sơ Phanxico vớI danh xưng sr. Louise Bannet. Ngày sơ nầy khấn lần đầu, rất nhiều ngườI đã đến tham dự  lễ khấn để chúc mừng, chia vui, và khích lệ sơ. Sau đó sơ đã phục vụ rất tận tình trong niềm vui của một cuộc đờI tận hiến. Nhưng rồI biến cố tháng tư năm 1975 xảy ra, sơ bị cộng sản trục xuất. Sơ rất đau buồn rờI khỏI VN và những bệnh nhân ở đó. Sơ trở về Mỹ một thờI gian và sau đó  đi Phi Châu  phục vụ trạI cùi ở Tahiti cho đến khi chết. Năm 1982 sơ chết vì bệnh ung thư giữa sự thương tiếc của mọI bệnh nhân. Sơ Louise Bannet đã hy sinh tất cả cuộc đờI để mang lạI niềm vui và sự an ủI lớn lao cho những con ngườI bệnh tật đầy đau khổ.

Quả thật, đây là một trong những tấm gương sáng chói của các nhà truyền giáo đã thu hút đờI tôi và đã làm tôi suy nghĩ: Họ là ai? Sao họ anh hùng thế? Không, họ không là những anh hùng. Họ cũng không là những nhà xuất chúng. Không là những nhà thông thái. Họ chỉ là những con ngườI âm thầm vô danh đã dám hy sinh cả một cuộc đờI cho công việc truyền giáo. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI rủI ro, tai họa. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI gian lao thử thách. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI thương đau bệnh tật. Dẫu âm thầm vô danh nhưng họ là những chiến sĩ rất hào hùng, hào hùng trong hy sinh, hào hùng trong chiến đấu, hào hùng trong cuộc sống. PhảI nói: Họ khác vớI những con ngườI tầm thường như chúng ta. Họ có cái gì cao thượng. Họ có cái gì cao quí. Họ có cái gì cao đẹp khiến mình phảI ngưỡng phục, phảI học hỏI cho dẫu biết rằng suốt đờI mình không thể nào làm được những điều như họ, nhưng mình vẫn muốn bắt chước, muốn đi theo con đường họ đang đi. Chính vì thế tôi đã nốI gót theo họ.

Và  sau 25 năm trên bước đường truyền giáo tôi cảm thấy rõ điều nầy: đờI truyền giáo quả thật có đầy những gian lao vất vả nhưng cũng có nhiều yên ủI lớn lao, có những mồ hôi rướm máu, nhưng cũng có những hoa trái khích lệ. Và càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy thâm tín điều nầy: Không phảI con đã chọn Cha, nhưng chính Cha đã chọn con và đã dẫn con đi qua những con đường mà Ngài muốn con phải đi.

Thật vậy, 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện vượt biên. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện xuất ngoại. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện đi du học, và càng không bao giờ nghĩ đến chuyện đi truyền giáo ở một đất nuớc xa xôi nào đó. Nhưng rồI chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn vớI chương trình của con ngườI. Chính Ngài đã an bài mọI sự và đã hướng dẫn tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi phảI đi.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy dâng lờI cầu nguyện cách riêng cho những nhà truyền giáo, xin Chúa luôn nâng đỡ họ và đồng hành vớI họ trên mọI bước đường họ đang đi. Đặc biệt hôm nay trong thánh lễ nầy, xin anh chị em hãy cùng tôi dâng lên Thiên Chúa những lờI cảm tạ chân thành vì muôn hồng ân Ngài đã ban xuống cho tôi trong suốt 25 năm qua trênbước đường truyền giáo. Và cũng xin tiếp tục cầu nguyện và nâng đỡ tôi trên quãng đường đờI còn lạI để tôi luôn giữ được sự bình an và lòng hăng say phục vụ cho cánh đồng truyền giáo mà Chúa muốn tôi ra đi để phục vụ cho nước Ngài.

Cali. ngày 6/7/2014.

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

Bạn nói: “Điều đó không thể được”

Chúa nói: Mọi sự đều có thể.  (Luca 18, 27)

Bạn nói: “Tôi mệt quá rồi”

Chúa nói: Ta sẽ cho con nghỉ ngơi.  (Mátthêu 11, 28-30)

Bạn nói: “Chẳng ai thực lòng yêu tôi”
Chúa nói: Ta yêu con.  (Gioan 3, 1 6 & Gioan 3, 34 )

Bạn nói: “Tôi không thể tiếp tục”

Chúa nói: Ơn Ta đủ cho con.  (II Côrintô 12, 9 & Tv 91,15)

Bạn nói: “Tôi không thể hình dung ra điều gì”

Chúa nói: Ta sẽ dẫn dắt con từng bước.  (Châm ngôn 3, 5- 6)

Bạn nói: “Tôi không thể làm được điều đó”
Chúa nói: Con có thể làm được mọi chuyện.  (Philípphê 4, 13)

Bạn nói: “Tôi không thể”

Chúa nói: Ta có thể.  (II Côrintô 9, 8)

Bạn nói: “Không bõ công”

Chúa nói: Thực đáng công.  (Rôma 8, 28 )

Bạn nói: “Tôi không thể tha thứ cho tôi”

Chúa nói: Ta tha cho con.  (I Gioan 1, 9 & Rôma 8, 1)

Bạn nói: “Tôi không thể lo liệu được”

Chúa nói: Ta sẽ cung cấp cho con mọi nhu cầu.  (Philípphê 4, 19)

Bạn nói: “Tôi sợ”

Chúa nói: Ta không cho con tinh thần sợ hãi.  (II Timôthê 1, 7)

Bạn nói: “Tôi luôn lo lắng và  nản lòng”

Chúa nói: Hãy ký  thác mọi lo âu cho Ta.  (I Phêrô 5, 7)

Bạn nói: “Tôi không đủ thông thái”

Chúa nói: Ta cho con khôn ngoan.  (I Côrintô 1, 30)

Bạn nói: “Tôi cảm thấy đơn độc”

Chúa nói: Ta không bao giờ bỏ con hoặc quên con.  (Do thái 13, 5)

(Dịch từ một món qùa “souvenir” được tặng trong chuyến

đến Phi Luật Tân chào đón Đức Giáo Hoàng Phanxicô 14-19/01/2015)
Jos. Nguyễn Hùng Cường

——————-

YOU SAY… GOD SAYS…

You say: “It’s impossible”
God says: All things are possible (Luke 18:27)

You say: “I’m too tired”
God says: I will give you rest (Mat.11:28-30)

You say: “Nobody really loves me”
God says: I love you (John 3:16 & John 3:34)

You say: “I can’t go on”
God says: My grace is sufficient (II Corinthians 12:9 & Psalm 91:15)

You say: “I can’t figure things out”
God says: I will direct your steps (Proverbs 3:5-6)

You say: “I can’t do it”
God says: You can do all things (Philippians 4:13)

You say: “I’m not able”
God says: I am able (II Corinthians 9:8)

You say: “It’s not worth it”
God says: It will be worth it (Roman 8:2)

You say: “I can’t forgive myself”
God says: I Forgive you (I John 1:9 & Romans 8:1)

You say: “I can’t manage”
God says: I will supply all your needs (Philippians 4:19)

You say: “I’m afraid”
God says: I have not given you a spirit of fear (II Timothy 1:7)

You say: “I’m always worried and frustrated”
God says: Cast all your cares on ME (I Peter 5:7)

You say: “I’m not smart enough”
God says: I give you wisdom(I Corinthians 1:30)

You say: “I feel all alone”
God says: I will never leave you or forsake you (Hebrews 13:5)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam’

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam

Hải Long Gửi tới BBC từ Hà Nội

Cha tôi sinh ra trên đất Thái. Năm ông 5 tuổi, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nội tôi bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và đem các con trở về cố quốc.

Năm 16 tuổi, như hàng triệu thanh niên miền Bắc khác, ông bỏ học, khai thêm tuổi và xin vào quân ngũ.

Ông đã may mắn khỏe mạnh và lành lặn bước qua những cuộc chiến tàn khốc nhất, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. May mắn hơn rất, rất nhiều những đồng đội của ông.

Thời của cha tôi, miền Bắc XHCN là một xã hội khép kín. Hệ thống tuyên truyền đồ sộ của Đảng Cộng sản đã rất thành công trong việc tuyên truyền, lồng ghép giữa chủ nghĩa cộng sản, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Câu nói của TS.Goebbels: “Sự thật là cái không phải sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần” được áp dụng triệt để trong xã hội đó.

Mỗi tân binh, như cha tôi, được xem đi xem lại những bộ phim chiến tranh tuyên truyền về tội ác của Mỹ – Ngụy. Từng mảnh xác người chết bởi bom đạn của B52. Những ngôi nhà tan nát. Những em thơ ánh mắt ngơ ngác. Những thiếu phụ đầu chít khăn tang, khuôn mặt hốc hác. Những người mẹ già với đôi mắt sâu thăm thẳm.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Những “nhà văn”, “nhà thơ” con cưng của chế độ như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Anh Đức cũng đã góp phần quan trọng trong việc đưa những người trai trẻ ấy ra chiến trường, và cả triệu người đã không bao giờ quay lại.

Anh Đức nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết “Hòn Đất”.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Và thế là hàng triệu thanh niên miền Bắc đã lên đường ra chiến trường. Họ đã sống, đã chiến đấu và đã chết với niềm tin sắt son rằng mình đang “giải phóng” miền Nam khỏi những kẻ ngoại bang xâm lược, như những cuộc chiến chống xâm lược suốt ngàn năm qua của dân tộc Việt.

Sau cái ngày 30/04 đó, lần đầu tiên cha tôi tiếp xúc trực tiếp với những người lính phía bên kia (những người mà sau này ông thường kể với tôi, họ cũng là người lính và họ cũng chiến đấu dũng cảm như chúng ta ở phía bên này).

Cha tôi được giao nhiệm vụ trong một trại học tập cải tạo của các viên chức và sỹ quan Việt Nam Cộng hòa.

Không như những gì mà ông được tuyên truyền, những người phía bên kia mà ông tiếp xúc đều là những người nhã nhặn, lịch sự và có trình độ văn hóa cao. Đó là lần đầu tiên, ông nhận thấy có điều gì đó không đúng.

Ngược lại, cha tôi bắt đầu nhìn thấy mặt trái của những người cộng sản. Ông đã nhìn thấy những sỹ quan Bắc Việt tìm cách moi tiền từ những tù binh phía bên kia và gia đình của họ.

Ông cũng đã chứng kiến những vụ đánh đập ngược đãi với những người lính gan dạ và dũng cảm, những người có cùng dân tộc, cùng màu da, cùng ngôn ngữ nhưng không cùng lý tưởng.

Và ông thường kể với tôi điều ông ân hận nhất, một người đồng đội của ông cố tình thả cho tù nhân chạy rồi đuổi theo bắn chết. Đôi mắt của người chết vẫn ám ảnh cha tôi đến bây giờ. Người đồng đội đó của ông sau này cũng bị đột tử, và cha tôi thường nói với tôi, đó là “nhân quả”.

Một sự kiện nữa cũng đã làm thay đổi những suy nghĩ của cha tôi. Đó là phía Bắc, người anh em cộng sản trở mặt. Những người bạn và cả những người đồng chí của ông bị trục xuất về Trung Quốc, đôi khi chỉ vì trót mang cái họ giống với họ của người Hoa.

Tình anh em, tình đồng chí sao mà mong manh thế? Khi cần thì anh em tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, khi không cần nữa thì lập tức thành “Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc” và sẵn sàng trút súng đạn điên cuồng vào nhau?

Sau cuộc chiến khốc liệt ở biên giới, cha tôi lặng lẽ giải ngũ, đốt hết huy chương và bằng khen, sống một cuộc sống dân sự bình thường, mặc cho những đồng đội của ông, sau khi học thêm vài ba lớp chính trị, trở thành cấp tướng, cấp tá… Ông không bao giờ muốn nhắc lại về những ký ức chiến tranh khốc liệt nữa.

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày gì? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra mình đã bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.

Còn nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày gì? Thì tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hãy gọi 30/04 là ngày phán xét.

Ngày phán xét những kẻ đã đẩy dân tộc vào cuộc chiến huyết nhục tương tàn.

Ngày phán xét những lãnh đạo miền Bắc thời điểm đó, những kẻ đã trực tiếp đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lên giàn hỏa thiêu, vì một thứ lý thuyết không tưởng, mơ hồ và thiếu thực tế.

Ngày phán xét cho những kẻ tự khoác lên mình chiếc áo nhà văn, nhà thơ, cổ động người ta lao vào chỗ chết, lao vào những cuộc chém giết với lòng căm thù không giới hạn.

Còn thống nhất ư? Hòa giải ư? Làm sao có thể thống nhất và hòa giải khi những kẻ thủ ác còn chưa bị trừng phạt? Lịch sử rồi sẽ phải ghi chép lại một cách công bằng và khách quan. Tội ác rồi sẽ bị trừng phạt, chỉ là sớm hay muộn!

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia.

Mong các bạn hiểu rằng, cha tôi và các đồng đội của ông và các bạn cũng đều chỉ là nạn nhân của cuộc chiến phi nhân này. Nói cho cùng thì tất cả chúng ta đều là những kẻ thua cuộc.

Blogger Điếu Cày gặp gỡ Tổng thống Obama

Blogger Điếu Cày gặp gỡ Tổng thống Obama

01.05.2015

000_Was8923373-622.jpg

Cựu tù nhân chính trị, blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (bìa trái) vào lúc 10:55 sáng ngày 1 tháng 5 theo giờ miền đông Hoa Kỳ, có cuộc hội luận với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (giữa) cùng với các nhà báo nước ngoài khác từng bị bắt bớ.

AFP

Cựu tù nhân chính trị, blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vào 10:55 sáng hôm qua 1 tháng 5 theo giờ miền đông Hoa Kỳ, có cuộc hội luận với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cùng với các nhà báo nước ngoài khác từng bị bắt bớ.

Cuộc hội luận diễn ra giữa tổng thống Barack Obama cùng những nhà báo bị tù tội như vừa nêu nhằm đánh dấu Ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay.

Vào năm 2012, cũng nhân dịp Ngày Tự do Báo chí Thế giới, tổng thống Barack Obama công khai nhắc đến blogger Điếu Cày. Dịp đó người đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ nói rõ ‘ Vào khi chúng ta lên án những vụ bắt giữ gần đây đối với các nhà báo như Mazen Darwish, một tiếng nói hàng đầu ủng hộ tự do báo chí ở Syria, cũng như kêu gọi trả tự do ngay cho những nhà báo bị bắt giam như thế, chúng ta không được phép quên những người khác như blogger Điếu Cày, người bị bắt vào năm 2008 trong đợt cấm cách rộng khắp đối với hoạt động báo chí công dân tại Việt Nam.

Xin được nhắc lại, sau khi bị bắt blogger bị kết án vì tội trốn thuế, nhưng khi mãn án vì tội danh này, ông tiếp tục bị giam giữ và bị kết án với tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Ông được Hoa Kỳ can thiệp và bị đưa từ nhà tù thẳng sang Hoa Kỳ vào tháng 10 năm ngoái.

30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

Huỳnh Ngọc Chênh

Nguyễn Văn Trần

30-04-2015

Vài lời về ngày 30/04

Năm nay, 30/04 tới với người Việt nam hải ngoại sôi nổi hơn hẳn các năm trước. Đài TV, phát thanh, báo chí giấy và mạng đồng loạt nhắc tới dưới nhiều gốc cạnh khác nhau. Với lý do 40 năm? Nhưng con số 40 năm được ghi đậm nét.

Phải chăng những người nặng nợ với 30/04 nay đã thấy già yếu, không dám nghĩ tới năm mất nước thứ 50? Các thế hệ sau có nghĩ tới 30/04 cũng không được trọn vẹn như họ. Hay lại nghĩ khác hơn hoặc không nghĩ tới.

Nhắc tới 30/04, người nói tháng 4 đen, kẻ chọn quốc hận. Với họ, dứt khoát không ai có quyền quên hay bôi bác ý nghĩa của ngày 30/04, tuy cách nay đã 40 năm. Vì nó thiêng liêng. Nó là cả nước Việt nam của những người mất nước. Nó là linh hồn của hằng triệu người hi sanh trên chiến trường, mất mát trên đường tìm tự do, … Người Do thái có shoah hay holocauste thì người việt nam mất nước có ngày 30/04 . Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ, người Do thái vẫn nhắc nhở nhau shoah để giữ gìn ký ức tập thể và tìm thủ phạm để truy tố.

Cá nhơn mất ký ức, lịch sử mất nước sẽ phai nhạt.

Quốc hận là tiếng được nhiều người chọn để cho ngày 30/04 có nội dung lịch sử của nó. Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh, « hận » có nghĩa là oán giận. Như « hận nhập cốt tủy » là oán giận thấu đến xương, đến tủy.

Còn Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý Chủ biên, Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam ở Hà nội xuất bản năm1999, định nghĩa hận là lòng câm giận sâu sắc với kẻ hại mình. Như hận thù, câm hận.

Nghĩa thứ hai, hận là buồn dây dứt vì không làm được như mong muốn. Hận vì thua mất, …
Qua định nghĩa trên đây, Quốc hận là người dân cả nước oán giận, câm giận sâu sắc những kẻ hại mình làm nước mất, nhà tan …Sau 40 năm, quốc hận nếu có dịu đi thì trở thành nổi buồn ray rứt của những người Việt nam mất nước mà vẫn không thực hiện được điều như lòng mong muốn …

Nhìn nước Việt nam ngày nay, người nặng lòng thương nước có thấy oán hận không?

Việt nam qua những con số

Ngoài những thảm nạn xã hội do chế độ gây ra, nội tình việt nam bất ổn vì độc tài làm lòng dân câm hận, đối ngoại, chẳng những lệ thuộc Tàu mà còn mất lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu. Thực tế Việt nam ngày nay được thế giới nhìn qua những con số thống kê:

“Về dân số, Việt nam đứng thứ 13 của quốc gia đông dân, thứ 61 về diện tích đất đai, thứ 33 quốc gia có bở biển dài, 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng, thứ 5/20 quốc gia sản xuất lúa gạo.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý quá tồi.

Về giáo dục, theo chỉ số Human Development, Việt nam đứng thứ 121/187, về trí tuệ, thứ 108/130, về ô nhiểm, thứ 102/193, về thu nhập tính theo đầu người, thứ 123/180, về tham nhũng, theo Transparency International, thứ 116/177, về tự do ngôn luận, thứ 174/180, về phẩm chất đời sống của người dân, được 22.58 điểm, thứ 72/76, về y tế, thứ 160/190.

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác ? Chỉ có cái đảng cộng sản ở Hà nội có thể trả lời vì cái đảng này cai trị toàn diện và triệt để xứ Vìệt nam từ 40 năm nay, sau khi cướp được trọn vẹn chánh quyền . Nhưng trả lời được chỉ khi nào đảng cộng sản dám tháo gở bộ máy độc tài kìm kẹp xã hội và nhứt là thoát khỏi vòng vô minh về tiền bạc.
Nhà cầm quyền ở Việt nam vẫn đổ lỗi cho tình trạng đất nước tụt hậu là do chiến tranh tàn phá nhưng không nói ai làm chiến tranh và làm chiến tranh cho ai ?

Cùng chịu hậu quả chiến tranh, trong lịch sử phục hồi và phát triển đất nước, có hai nước Đức và Nhựt là hai trường hợp điển hình cần học hỏi.

A / Trường hợp nước Đức

1Dưới chế độ Quân quản

Thế chiến kết thúc, các cường quốc Huê kỳ, Anh và Pháp chiếm phía Tây Đức quyết định đưa cho Tây Đức một bản hiến pháp để tổ chức chánh quyền và xã hội tái thiết đất nước. Tháng 7/1948, Ban Quân quản chuyển cho các vị Tổng trưởng-Chủ tịch Tiểu bang (Ministre-Président s des Lander) những tài liệu nêu lên những yếu tố then chốt để soạn thảo bản hiến pháp, gọi là những tài liệu Francfort.

Người Đức tiếp nhận không mặc cảm. Họ xem xét và đúc kết lại thành bản hiến pháp của Tây Đức, chấp thuận và ban hành ngày 8 tháng 5/1949, dưới tên gọi “ Luật Căn bản ” vì họ muốn dành “ Hiến pháp ” cho nước Đức thống nhứt . Đến khi nước Đức thống nhứt ngày 3 tháng 10/1990, “ Luật Căn bản ” vẫn tiếp tục áp dụng và trở thành Hiến pháp, với vài tu chính.

Bản văn thể hiện ý muốn sâu xa của nhơn dân Đức rút ra bài học thất bại của Cộng hòa Weimar và chống lại chế độ quốc xã, quyết tâm bảo vệ những quyền tự do căn bản. Về điểm này, sự bảo đảm các quyền tự do căn bản không phải ghi ở phần tiền văn như hiến pháp của Cộng hòa Pháp hay ở phụ lục (Bill of Rights) như hiến pháp Huê kỳ, mà ghi nguyên vẹn ngay trong thân bản hiến pháp.

Hơn nữa, mọi sửa đổi luật căn bản qui định những nguyên tắc về phẩm giá con người, về quyền phản kháng bảo vệ chủ quyền quốc gia, về tổn thương đến tự do dân chủ, đều bị ngăn cấm. Nhờ đó mà tinh thần dân tộc Đức mạnh, toàn dân đoàn kết phát huy nội lực phát triển đất nước.

2- Hậu quả chiến tranh

Ngày 8 tháng 5/1945, thế chiến kết thúc, nước Đức bị tàn phá sạch. Người ta nói nước Đức trở về thời điểm Zéro (0) hay “nước Đức của Năm 0”, để mô tả tình trạng cực kỳ thảm hại hoặc ý muốn nêu lên khái niệm Đức phải bắt đầu lại làm một cuộc hành trình mới xây dựng xứ sở từ đầu.

Dân Đức hằng chục triệu người sống trong khốn cùng, không có chổ ở, không có thực phẩm, phải đi về nhà quê tìm lương thực. Quân nhơn rả ngũ, tù nhơn ra về, Đông Đức trục xuất nhiều người Đức qua Tây Đức, tất cả làm cho cái ăn, cái mặc, chổ ở càng thêm khốn đốn . Sau chiến tranh, có 12 triệu người cần nhà ở.

Đồng Minh cung cấp thực phẩn tính 1800 calories /người/ngày. Nhà thờ cho thêm nhưng vẫn không đủ.

Ở Hội nghị Postdam, Đồng Minh quyết định tháo gở 1800 cơ xưởng chiến tranh của Đức, thu hồi vật liệu như phần đền bù chiến tranh . Mỹ và Anh giới hạn việc tháo gở, muốn giử lại để củng cố nền kinh tế Đức.

Năm 1947, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Ông George C. Marshall, đề nghị « European Recovery Program”, quen gọi là “Plan Marshall”. Chương trình này nhằm giúp tái thiết Âu châu, đồng thời cũng nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Có 16 nước tham gia nhưng vài nước

Đông Âu từ chối vì bị Liên-xô ngăn cản. Mỹ chi phí tất cả 12 tỷ đô-la, dành cho Tây Đức 1, 5 tỷ.
Đông Đức tái thiết chậm hơn Tây Đức. Để đền bù chiến tranh, Đức phải trả cho Liên-xô 20 tỷ đô-la, đó là lý do làm cho tình hình tái thiết cho tới năm 1948 chưa được cải thiện.

Tiếp theo, Liên-xô tái thiết Đông Đức theo mô hình kinh tế liên-xô. Chấm dứt chế độ tự do và kinh tế thị trường. Nhà nước tịch thâu những cơ xưởng lớn bìến thành xí nghiệp nhà nước hoặc công ty quốc doanh, chỉ chừa lại xí nghiệp nhỏ thủ công và nhà hàng ăn còn tư nhơn. Đến năm 1950, nhà nước đưa những cơ sở nông nghiệp nhỏ vào hợp tác xã. Chánh sách tập thể hóa và kế hoặch hóa sản xuất của Staline từ đây tiêu diệt những sản xuất nhỏ tư nhơn.

Sự tái thiết Đông Đức vì đó không hiệu quả làm dân chúng bất mản. Năm 1953, được tin Staline chết, 60 000 thợ thuyền xuống đường đòi hủy bỏ chế độ sản xuất tập thể, bầu cử tự do, … bị xe tăng liên-xô đàn áp đẩm máu.

Staline đề nghị 2 nước Đức thiết lập quân đội quốc gia để quân đồng minh sẽ rút về trong vòng một năm nhưng Thủ tướng Đức Adenauer và Đồng Minh từ chối vì thấy đó chỉ là thủ đoạn nhằm cộng sản hóa trọn vẹn nước Đức.

3 – Thu hồi độc lập

Nhận thấy Tây Đức bảo đảm được tính dân chủ cho chế độ, Mỹ, Anh và Pháp đồng ý khôi phục chủ quyền cho Thủ tướng Adenauer, ngưng tháo gở cơ sở kỷ nghệ, giúp tân trang để phục hồi kinh tế mau chóng.

Thủ tướng Adenauer mở rộng quan hệ ngoại giao với Âu châu, Tây Đức trở thành hội viên của nhiều tổ chức quốc tế, chấm dứt qui chế bị chiếm đóng năm 1955. Ông đưa ra ý kiến thống nhứt chánh trị Âu châu được các chánh khách lớn như Churchill, Schuman, Alcide De Gasperi hưởng ứng và các dân tộc âu châu nên hợp tác nhau chặt chẻ hơn. Hội đồng Âu châu ra đời với 10 nước tham dự, Adenauer đặc trách bảo vệ nhơn quyền và dân chủ, cả văn hóa và xã hội. Tổng trưởng Ngoại giao Pháp, Ông Schuman, đề nghị đặt sự sản xuất than và thép của Pháp và Đức dưới một thẩm quyền chung, đồng thời thành lập một tổ chức cho nhiều quốc gia âu châu tham gia. Cộng đồng Âu châu ngày nay ra đời từ đây.

Xã hội Tây Đức do kinh nghìệm đau thương qua chế độ quốc xã và chiến tranh đổ nát từ từ chuyển mình vững chắc theo dân chủ tự do dưới sự lãnh đạo khéo léo của Thủ tướng Adenauer.
Kinh tế Tây Đức phát triển như một phép lạ cho tới năm 1973 gặp cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Tình hình gay gắt thêm do cạnh tranh giữa Âu châu và Á châu khi kinh tế các nước bắt đầu đi vào hướng toàn cầu hóa.

Đồng thời, về mặt xã hội, dân chúng mở ra những cuộc thảo luận về tương lai của Nhà nước Phúc lợi (Etat-Providence). Văn hóa xã hội thay đổi, tinh thần con người phóng khoáng, bắt đầu thị trường tiêu thụ mở rộng, …

4 – Tái thiết

Năm 1957, Liên-xô phóng vệ tinh spoutnik làm cho Tây phương lo sợ lúc nào đó có thể bị Liên-xô tấn công nhưng Tây Đức lo sợ hơn về mặt kỷ thuật sẽ bị phía Đông Âu qua mặt. Năm 1964, Tây Đức mở rộng giáo dục đến các cắp vừa lo đào tạo những thế hệ tương lai nhằm canh tân kỷ thuật và kỷ nghệ Tây Đức.

Sự đóng góp rất quan trọng của nền giáo dục Đức cho chương trình hậu chiến nhờ nó mang đậm chất “ Nhân bản – Trải nghiệm – Thực tế ”, lấy “ người học làm trung tâm” nhằm cân bằng và phát triển được ba yếu tố cần thiết để trẻ bước vào xã hội sau này là : Tính cách cá nhân (tính cách, thái độ, các mối quan hệ, nhân cách), tính chuyên nghiệp (tri thức, khả năng tư duy) và tính thực tiễn (cách thức vận dụng, khả năng sáng tạo).

Nhờ những đổi mới này mà Tây Đức phát triển mạnh, nhanh về kinh tế và xã hội. Cùng lúc, việc mở rộng giáo dục cũng giúp đông đảo tuổi trẻ vào đại học. Khi ra trường, chúng nó tủa ra khắp nơi làm việc để giúp xã hội phát triển đồng bộ. Tiếp theo, số thanh niên học xong trung học và giáo chức gia tăng nhờ chánh phủ từ 1963 tới 1975 đầu tư vào giáo dục 46, 5 tỷ đức mã, ưu tiên xây dựng nhiểu Đại Học mới ở nhiều nơi.

Phải nói trong những năm 60, xã hội tây đức chuyển biến vô cùng tích cực, lấy những giá trị qui chiếu mới tập trung về cá nhơn, như sự thành công của cá nhơn và sự tiêu thụ. Những thay đổi này, trước tiên, nhờ ở tình hình kinh tế phát triển tối ưu, và cũng nhờ ở xã hội tây-đức ngã theo hướng mỹ hóa mà vẫn giữ được sự đồng bộ trên cả nước. Phẩm chất đời sống cải thiện đề cao giá trị cá nhơn. Năm 1968, những thay đổi này dồn dặp hơn do thế hệ sinh viên mới tiến lên. Xã hội Tây-Đức chuyển mình đổi mới sâu xa nhưng vẫn còn vài mặt giử truyền thống và bảo thủ.
Nước Đức chuyển mình thay đổi do sự xuất hiện một xã hội tiêu thụ. Có hiện tượng mới này vì kinh tế phát triển, đưa xã hội từ tình trạng thiếu thốn mọi thứ tới có đầy đủ mọi thứ, từ nghèo khổ qua mọi người có ăn, có để. Lúc đó, kinh tề tăng trưởng từ 5 tói 7%, lương bổng tăng, điều kiện làm việc được cải thiện rất nhiều, 40 giờ / tuần, nghỉ có lương từ 3 tuần lên 5 tuần / năm.
Người dân Đức vừa có tiền, vừa có thì giờ để tiêu xài.

5 – Thống nhứt trong hòa bình

Từ năm 1969, Thủ tướng Tây-Đức Willy Brandt thực hiện một chánh sách nhằm tiến tới làm cho 2 nước Đức gần lại nhau hơn . Năm 1972, một hiệp ước căn bản được hai bên Đông-Tây ký kết cho phép trao đổi đại diện ngoại giao và năm sau gia nhập Liên Hiệp Quốc (Đông Đức có 16,5 triêu dân, 10 triêu mỹ kim xuất cảng ; Tây-Đức có 56, 5 triệu dân và 75 trìệu mỹ kim xuất cảng). Hai nước Đức vẫn riêng biệt cho tới khi bức tường Bá-linh sụp đổ năm 1989, chắm dứt chiến tranh lạnh, kết thúc số phận cộng sản liên-xô và đông âu. Vào mùa thu năm 1990, ngày 3 tháng 10, hai nước đức thống nhứt, Đông Đức về với Tây Đức để ngày nay có một nước Đức dân chủ, tự do và cường quốc âu châu.

Tưởng cần nhắc lại vài điểm quan trọng để thấy nước đức quả thật là một tấm gương tái thiết và phát triển thành công. Chế độ giáo dục và đào tạo của Đức dạy trẻ con học hỏi hiểu biết thật sự, làm việc đạt kết quả hoàn hảo. Công nhơn đoàn kết bảo vệ quyền lợi công nhơn nhưng vẫn không quên quyền lợi chủ nhơn. Không có tinh thần xung đột giai cấp, theo khái niệm mác-xít, công nhơn bị chủ nhơn bốc lột nên phải giết chủ nhơn như ở Pháp. Một trường hợp đáng ghi nhớ . Cách nay ít lâu, hảng xe Volkwagen bị lỗ, chủ nhơn hợp với nghiệp đoàn công nhơn thông báo sẽ phải giảm bớt công nhơn để giải quyết tình trạng tài chánh xí nghiệp. Nghiệp đoàn quyết định công nhơn chấp thuận giảm lương 15% để tránh một số công nhơn bị nghỉ việc. Từ đó, Volkwagen ổn định sản xuất và giử được thị trường.

Vế chánh quyền hiện tại, Bà Thủ tướng Merkel, gốc Đông Đức củ, tiết gìảm chi phí tối đa cho ngân sách quốc gia, làm việc tân tâm, tận lực cho nước Đức nhưng lại sống vô cùng đơn giản . Chánh phủ của bà chỉ có 8 Tổng Bộ trưởng và tất cả 300 nhơn viên các loại, các cấp, quản lý nước Đức gần 90 trìêu dân . Công xa của Thủ tướng phủ chỉ có 37 chiếc. Cũng như những cộng sự viên, bà ở căn nhà (appartement) của bà, trả điện, nước và các chi phí khác bằng tiền lương 15 830e/ tháng của bà. Khi di chuyển xa, tất cả đi xe lửa hay máy bay của hàng không Đức.
Đất nước giàu mạnh và ổn định chỉ khi nào người dân biết thương nước, chánh quyền có khả năng, lương thiện, đầy tâm huyết.

B / Trường hợp Nhựt bổn

1 – Thời gian chiếm đóng và khởi điểm tái thiết

Trong Đệ II Thế chiến, chỉ có nước Nhựt bị 2 trái bom nguyên tử và thất trận. Tổng thống Harry Tryman của Mỹ đã quyết định dùng bom nguyên tử sau khi nghe Thủ tướng Nhựt, Ông Kantaro Suzuki, tuyên bố ở buổi họp báo là « không biết tối hậu thư ở Potdam là gì cả » (đòi Nhựt đầu hàng vô điều kiện vì Đồng Minh sửa soạn chiến thắng).

Ngày 14 tháng 8/1945, Hoàng Đế Showa (Hirihito), sau khi xem xét sự tổn thất do hai trái bom gây ra và Liên-xô đang chiếm Manchukuo, tuyên bố đầu hàng.

Tướng Douglas Mac Arthur của Mỹ lảnh nhiệm vụ chiếm đóng nước Nhựt bại trận thể thảm, có những thành phố đổ nát tới 40%. Ông yêu cầu đừng đưa ông Vua và Hoàng gia ra trước Tòa án Quốc tế Nhơn quyền Tokyo. Nhà vua chấp nhận những điều khoản của bản tuyên bố Potdam với điều kiện ông vẫn giử những đặc quyền của nhà vua.

Mỹ chiếm nước Nhựt từ 1945 tới 1952. Thời gian này, Mỹ cải tổ sâu xa nước Nhựt về mặt chánh trị, thanh lọc (200 000 người bị thanh lọc) và dân chủ hóa, về mặt văn hóa-xã hội, cải tổ hệ thống Thần đạo Quốc giáo dạy ngưòi dân tuyệt đối tuân phục nhà vua mà trở về như một tín ngưởng bình thường, xóa bỏ hệ thống quí tộc và về kinh tế, phá bỏ những phe cánh tài phiệt để nhằm phá vở chế độ dân tộc cực đoan và quân phiệt Showa, lấy chế độ dân chủ làm nền tảng.

Quân quản Mỹ đưa cho Nhựt một bản hiến pháp theo mô hình dân chủ tây phương, xét lại vai trò nhà vua không còn nắm giử quyền chỉ huy tối cáo lực lượng quân sự cũng như mọi quyền chánh trị, mà chỉ là tiêu biểu cho sự thống nhứt quốc gia, vỉnh viển từ bỏ chiến tranh, giải thể quân đội hoàng gia, …

Quyền lực quốc gia từ nay do luỡng viện Quốc hội nắm giử. Phụ nữ có quyền bầu cử. Thiết lập quyền tự do báo chí, xóa bỏ công an chánh trị, xóa bỏ giai cấp quí tộc, ngoại trừ hoàng gia nhưng chỉ tính con cháu trai của nhà vua mà thôi.

Mỹ xóa bỏ phe phái tài phiệt nhưng cải tổ trở thành những tập đoàn kỷ nghệ mới và lớn để phát triển kinh tế Nhựt.

Trong thời gian bị chiếm đóng, Nhựt bắt đầu một sự thay đổi văn hóa quan trọng do lính mỹ đem lại như âm nhạc, ẩm thực, y phục, thời trang phụ nữ, …

2 – Khôi phục nền độc lập

Ngày 8 tháng 9 / 1951, Nhựt ký kết tại San Francisco Hiệp ước chấm dứt chiến tranh Thái Bình dương và tổ chức nền hòa bình giữa Nhựt và đa số các nước Đồng Minh, trừ Liên-xô, Tàu, Ấn độ, … . Hiệp ước đồng thời chấm dứt tình trạng nước Nhựt bị chiếm đóng, ngoại trừ Okinawa còn Mỹ cai quản để ngăn ngừa hiểm họa cộng sản bành trướng. Một Hiệp ước thứ hai qui định Nhựt, về an ninh, phụ thuộc vào Mỹ và Mỹ có quyền đơn phương quyết định về quân số Mỹ trên đất Nhựt.

Sau chiến tranh Triều tiên, Nhựt nắm giữ vai trò chiến lược trong chiến tranh lạnh. Năm 1960, nhờ tài ngoại giao khéo léo, Nhựt ký kết một Hiệp ước mới với Mỹ qui định lại tương quan quân bình về qưân sự giữa hai nước. Mỹ cần tham khảo Chánh phủ Nhựt để quân đội Mỹ đồn trú trên đất nhựt hoặc đưa võ khí nguyên tử vào lảnh thổ nhựt. Mỹ và Nhựt duy trì những đặc quyền giữa hai nước.

Tiếp theo, Nhựt tiến tới quan hệ song phương với những nước Á châu-Thái Bình dương như Đài-loan, Liên-xô, …

Sau cùng, ngày 18 tháng 12 / 1956, Nhựt gia nhập Liên Hiệp Quốc.

3 – Vươn mình lên cao

Vào đầu thập niên 50, cán cân thương mải của Nhựt bị thâm thụt: 407 triêu đô-la năm 1953 và qua năm sau, 794 đô-la. Nhờ chiến tranh Triều tiên làm thay đổi kinh tế nước Nhựt. Quân đội Mỹ đặt hàng các xí nghiệp nhựt giúp Nhựt thu nhiều ngoại tệ, lên tới 1, 32 tỹ đô-la vào cuối năm 1959 và Nhựt chỉ còn mất 140 trìêu đô-la cho cán cân ngoại thương . Ngoài ra, Nhựt còn học được ở Mỹ cách sản xuất lớn và kiểm soát phẩm chất hàng hóa. Người công nhơn nhựt được đánh giá và đề cao qua khả năng sản xuất và tinh thần tôn ti trật tự, trong một xã hội kết hợp chặc chẽ.

Sự thay đổi văn hóa còn thể hiện rỏ qua đám cưới của Thái tử Akihito với con gái của một nhà kỷ nghệ gốc thứ dân. Phe bảo thủ phản đối nhưng dân chúng ủng hộ vì cho đây là một biểu tượng đổi mới và dân chủ hóa thật sự nước Nhựt. Trên khoản đường dài 8, 8 km, có nửa triệu người đứng chào mừng hôn lễ.

Năm 1965, Nhựt ký Hiệp ước với Nam hàn, nước bị Nhựt chiếm đóng, để bình thường hóa bang giao giữa hai nước.

Và lúc này, kinh tề Nhựt cũng bắt đầu phát triển mạnh, sản lượng quốc gia tăng 11, 5 % năm. Năm 1968, sản lượng nội địa của Nhựt đạt được 150 tỷ đô-la, vượt qua Đức.

Đồng yen bám chặc đồng đô-la từ năm 1949, 1 đô-la bằng 360 yens, nhưng tới năm 1971, tiền mỹ thả nổi vì bỏ bản vị vàng, đồng yen bắt đầu cao giá.

Khi chiến tranh việt nam kết thúc, Nhựt tăng cường quan hệ ngoại giao và thương mại với các nuớc Đông-Nam Á.

Kinh tế nhựt tăng trưởng, một phần, cũng nhờ dân số tăng do người Nhựt ở hải ngoại thời Nhựt chiếm đóng hồi hương và mặt khác, mức sanh đẻ từ sau 1945 cũng gia tăng.

Suốt trong ba thập niên 1960, 1970, 1980, kinh tề nhựt phát triển ngoạn mục. Từ năm 1968, Nhựt trở thành cường quốc thứ nhì thế giới. Từ những năm 1980, sự tăng trưởng và đổi mới phưong pháp làm việc của Nhựt ảnh hưởng rất mạnh đến các nước Đông-Nam Á làm cho các nước này cũng lần lượt phát triển.

Kết luận

Điều đáng ghi nhận khi xem lại trường hợp 2 nước Đức và Nhựt bắt đầu tái thiết xứ sở là cả hai đều biết mình thua trận. Những anh hùng dân tộc làm chiến tranh bành trướng bị đưa ra xét xử trước Tòa án Nhơn quyền quốc tế Nurenberg và Tokyo. Là một nổi nhục lớn! Nhưng họ vẫn có niềm tự hào dân tộc, yêu nước thật sự, sáng suốt chọn bạn, lấy việc tài thiết đất nước từ hoang tàn đổ nát làm mục tiêu tối thượng.

Hai ông Adenauer và Yoshida, là người có thực tài và đạo đức, chấp nhận hợp tác thật lòng với Huê kỳ, kẻ đã đánh bại mình, không chút mặc cảm. Cả hai ông đã khéo léo, chỉ vài năm sau, cởi bỏ « chế độ bị chiếm đóng » để trở thành nước độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và cường quốc ở Âu châu và Á châu.

Hai người đã học được tư tưởng của người xưa « Nhập nô, xuất chủ » !

Về phía Huê kỳ, Huê kỳ đã dự bị chiến thắng nên đã chuẩn bị chương trình hậu chiến cho hai nước bại trận. Ngoài việc giúp tái thiết và phát triển đất nước, Huê kỳ đặt trọng tâm trong quan hệ ứng xử, xóa bỏ mặc cảm kẻ thua cuộc, xóa bỏ trách nhiệm ở hai nước đã gây ra chiến tranh đau thương cho cả thế giới.

Riêng Nhựt chủ tâm dạy trẻ con nhựt bài học quí giá về đức khiêm tốn « Nước Nhựt nghèo, không có tài nguyên, thiên tai dồn dập, dân Nhựt không anh hùng vì thua trận. Tương lai nước Nhựt là ở lớp trẻ ».

Phải chi, ngày 30/04, Hà nội bại trận và học được ở người Nhựt và cả người Đức bài học kẻ thua cuộc thì Việt nam ngày nay chắc chắn không đội sổ về các mặt ổn định và phát triển đất nước hậu chiến!

Việt nam phải chịu bất hạnh vì hoàn cảnh lịch sử đất nước đã lỡ tạo ra cộng sản tuy đây là điều chẳng có ai mong muốn.

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

Trần Quí Cao

Xin mời độc giả cùng xem lại tấm ảnh nổi tiếng năm châu bốn biển: tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, tấm ảnh đã trở thành niềm hãnh diện của đảng Cộng Sản Việt Nam, thành biểu trưng cho chiến thắng chung cuộc của quân miền Bắc tiến vào hang ổ cuối cùng của chế độ miền Nam. Đối với một số khá đông người miền Nam, tấm ảnh là biểu trưng của sự chấm dứt cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ không hề muốn kéo dài bởi vì người nào ngã xuống cũng chung dòng máu đỏ da vàng, cùng là con chung của một mẹ Việt Nam.

Buổi sáng ngày 30/4/1975 đó, một anh thanh niên của chế độ miền Nam, trong khi tìm người thân giữa Sài Gòn náo loạn, bị kẹt lại trên đường Công Lý, gần góc đường Hồng Thập Tự, tình cờ thấy những chiếc xe tăng của miền Bắc tiến về dinh Độc Lập.

Lúc đó, trên thực tế, chế độ miền Nam đã đầu hàng. Tổng thống miền Nam đã ra lệnh quân đội miền Nam không chống cự. Sài Gòn trơ trọi giữa 5 cánh quân tiến công đã áp sát. Cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn chờ những người anh em miền Bắc vào để bàn giao chính quyền. Chiếc xe tăng hùng dũng của đội quân chiến thắng đang thẳng tiến. Bỗng nó dừng lại. Anh thanh niên ngạc nhiên, chăm chú quan sát.

Từ trên xe tăng, một chiến sĩ nhảy xuống. Hai cánh cổng được từ từ khép lại. Chiếc xe tăng lùi ra xa, rồi lao tới húc đổ chiếc cổng sắt.

Vốn được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa tôn trọng con người, tôn trọng tính trung thực, cảnh tượng trước mắt khiến người thanh niên thoáng linh cảm một bất an mơ hồ. Linh cảm ấy tan biến đi trong những ngày náo động tiếp theo của miền Nam chiến bại được quân quản tương đối yên ổn, và do đó đất nước đang hi vọng bừng khởi sau hòa bình và thống nhất…

Than ôi, rồi thời cuộc cũng cho thấy các bất an mà anh thanh niên kia linh cảm dần dần xuất hiện. Nhiều sự việc xa lạ với văn hóa miền Nam và cả với văn hóa dân tộc liên tiếp xảy ra, và nhanh chóng sau đó chế độ mới đã dùng thủ thuật lật lọng lùa các viên chức hành chánh và các sĩ quan quân đội của chế độ cũ vào trại học tập cải tạo, các trại mà cho dù có trang điểm bằng ngôn từ hoa mỹ tới đâu đi nữa, thì cũng là các trại tù nơi những người học tập bị đày ải nghiệt ngã cả về thể xác lẫn tinh thần nhiều năm sau. Sự việc này góp phần khoét rất sâu hận thù trong lòng dân tộc lẽ ra phải được hóa giải từ lâu rồi.

Từ đó, vào dịp lễ 30/4 mỗi năm, hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập lại trở về trong anh thanh niên cùng với những thước phim đã in sâu trong hồi ức về cảnh tượng buổi sáng tháng tư năm xưa. Tấm ảnh là biểu trưng của chiến thắng, và cũng là biểu trưng của tính chất bộ máy cầm quyền của đảng CSVN.

Nếu bộ máy đó trân quí hòa bình, thì khi đối phương đã buông súng, họ phải vui mừng, hòa nhã, bao dung, trân trọng đối phương để nuôi dưỡng tinh thần hòa giải, dập tắt hận thù tạo nền hòa bình muôn thủa…

Nếu bộ máy đó thực lòng yêu thương đồng bào miền Nam, thì họ đã vui mừng chạy đến cầm tay những người anh em miền Nam, mừng ngày sum họp…

Nếu bộ máy đó biết quí giá trị của lòng tôn trọng con người, biết quí nếp sống văn minh, lịch sự, thì họ đã xuống xe, báo cho chủ nhà ra đón vào một cách hòa bình và nhã nhặn…

Thì như vậy, tấm hình mừng ngày chiến thắng có thể là tấm hình của viên tướng tiền phương, hay của người chỉ huy toán quân đang tiến vào chào đón vị tổng thống tại chỗ. Một nụ cười rạng rỡ, một cái bắt tay an ủi thật chân thành trong niềm xúc động anh em từ nay tàn cuộc can qua, sum họp một nhà…

Quí độc giả thử tưởng tượng, một tấm hình như vậy, mỗi năm xuất hiện trên các nẻo đường Tổ Quốc chào đón toàn thể dân chúng cùng nhau mừng ngày Thống Nhất, thì thật là một biểu trưng đẹp biết bao cho tâm tình hòa giải hòa hợp!

Rấc đáng tiếc, ngày 30/4/1975 đã không có một cử chỉ đẹp như thế để bây giờ dân tộc có những tấm ảnh xúc động tâm tư như thế. Chỉ có tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cổng nhà người anh em chiến bại. Tấm ảnh mang lồ lộ trên bề mặt và trong chiều sâu của nó các giá trị sống và tác phong sống khác hẳn.

Phải chăng tác phong đó cho biết bộ máy này đã quen đạp đổ, tàn phá, san bằng…? Đã quen khuất phục người khác bằng cách vung dao búa, lên cò súng, bắt người ta quì xuống thay vì chào hỏi, thảo luận, mời người ta ngồi chung bàn? Đã quen xem anh em miền Nam là kẻ thù cần triệt hạ, là những kẻ phản động xấu xa cần được cải tạo để trở lại kiếp sống con người?

Thực ra, từ khi Mỹ chơi ván cờ lớn, bắt tay với Trung Cộng, miền Nam ở vào thế bất lợi. Tuy nhiên, nếu quân dân miền Nam cũng cực đoan hận thù như đảng CSVN, nếu họ biết trước sau ngày giải phóng sẽ có những chính sách Học Tập Cải Tạo, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kinh Tế mới, Phân Biệt Đối Xử trong tuyển sinh… thì họ đã dốc sức tử chiến và chưa chắc miền Bắc vào được Sài Gòn! Có vào được thì đường vào cũng phải lát bằng xương máu, và đội quân thắng trận cũng chỉ chiếm được miền Nam với các thành phố hoang tàn, đổ nát!

Theo nhiều tài liệu, quân đội miền Nam lúc đó thiếu vũ khí, đạn dược, thiếu chiến lược cả sự chỉ huy quân sự hữu hiệu. Đội quân đó, sau trận chiến Ban Mê Thuộc, đang ở thế hạ phong.

Tuy nhiên, việc một đội quân lớn, đông người và tinh nhuệ, chấp nhận buông vũ khí sớm như vậy sớm như vậy không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc các thành phố lớn và tân tiến được bảo quản nguyên vẹn để bàn giao cho đội quân thắng trận không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc dân chúng rất nhanh chóng tỏ thái độ thân mật với đội quân thắng trận tiến vào thành không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Những anh bộ đội lớ ngớ bước vào thành phố hoa lệ có thể cảm nhận tình đồng bào. Rất tiếc là những người lãnh đạo cuộc chiến, khác với chiến binh của họ, không cảm được và không nhận ra tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt đã chấm dứt.

Họ chỉ thấy đám dân miền Nam thua trận này đang xu nịnh họ.

Họ chỉ thấy trong đám dân miền Nam thua trận này đầy rẫy các thế lực thù địch nguy hiểm cho ý đồ thống trị của họ. Gián điệp nhé, quân đội cũ tạm nép mình chờ ngày phục hận nhé, các người hiểu biết có thể tiêm các tri thức và tư tưởng về chế độ tự do, về các giá trị sống của miền Nam nhé. Và họ sợ nhất là qua đám dân miền Nam các bộ đội của họ sẽ biết về cuộc sống thật của miền Nam khác với điều đảng CSVN đã tuyên truyền hàng chục năm nay…

Trong não trạng đó, những chính sách triệt hạ miền Nam được liên tiếp tung ra. Sau khi giành thắng lợi quân sự rồi thì phải đánh gục cái miền Nam trù phú thịnh vượng này, đánh cho bẹp tinh thần trung thực, nghĩa khí, tự do, dân chủ, tôn trọng con người của miền Nam. Đánh cho các giá trị sống đó, vốn khác biệt căn bản với các giá trị sống của xã hội cộng sản chủ nghĩa, không thể ngóc đầu lên được nữa.

Chính quyền CSVN không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó chính là nền móng tối cần thiết và rất vững chắc cho sự hòa hợp hòa giải dân tộc mà họ, với tư cách là nhà cầm quyền của toàn bộ nước Việt Nam thống nhất, có trách nhiệm phải thực hiện. Họ không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó là các giá trị sống của xã hội văn minh hiện đại.

Cho nên, tới ngày họ tưng bừng kĩ niệm 40 năm ngày họ chiến thắng, đất nước vẫn chia rẽ tột cùng, thù hận trong lòng dân tộc còn cao hơn những ngày đất nước chưa hòa bình. Việt Nam càng lún sâu vào hố thẳm của suy thoái về kinh tế và giá trị sống nếu so với những ngày đất nước chưa phát khởi cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước. Và nguy cơ lọt vào vòng nô thuộc thảm khốc của nước Tàu ngàn năm nuôi dã tâm xâm lược là vô cùng nguy cấp.

Trước các hiện trạng của đất nước như vậy, nhiều thành phần dân chúng thấy rõ muốn đất nước thoát khỏi bế tắc phải tạo sự đồng tâm của đa số dân chúng. Đó cũng là một cách nói cho sự hòa hợp hòa giải của dân tộc. Một dân tộc mà trong đó các thành phần bình đẳng với nhau, cùng là những người chủ đất nước, có giá trị, quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, và cùng góp sức chung tay xây dựng tương lai của Tổ Quốc chung.

Ngày 30/4 lần thứ 40 sau năm 1975 vẫn thấy hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập xuát hiện khắp nơi. Vẫn nghe vang dội điệp khúc mừng chiến thắng át tình tự dân tộc sum vầy, vẫn thấy đảng CSVN quyết tâm lãnh đạo toàn diện thay cho các bước tiến về hướng dân chủ tự do, vẫn thấy truyền hình chiếu các thước phim hừng hừng căm thù đế quốc Mỹ mà không nhắc gì tới Trung Quốc đang xâm lăng tổ quốc với chiến tranh biên giới, chiếm cứ biển đảo và xây dựng các căn cứ quân sự uy hiếp Việt Nam…

40 năm xưa, không có được tấm ảnh đẹp đã đành. 40 năm sau, sao vẫn tự hào với tấm ảnh không đẹp của ngày xưa?

40 năm xưa, không cảm nhận được tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt vừa chấm dứt, đã đành. 40 năm sau, sao vẫn không cảm nhận được hiện trạng suy thoái nhiều mặt của đất nước trong không khí hận thù, đàn áp, mặc cảm, khinh bỉ, bất hợp tác với nhau trong lòng dân tộc Việt Nam?

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Thái Văn Cầu Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

  • 29 tháng 4 2015

BBC

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu 40 năm ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, thống nhất đất nước, từ Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau.

Trong hơn một tháng qua, có nhiều bài viết, bài phỏng vấn, từ nhiều phía, về sự kiện này. Có bài so sánh Việt Nam với Đức hay với Triều Tiên, nước đã hay đang bị chia cắt, so sánh Việt Nam Cộng hoà với Hàn Quốc, Singapore, Thailand, nước có nền kinh tế tương đương nhau, trong cuối thập niên 1960-đầu thập niên 1970. Có bài trở lại đề tài ý nghĩa của ngày 30 tháng 4: “giải phóng” hay “quốc hận”?

Mục đích của bài này là nhằm nhận định khó khăn, thử thách của Việt Nam, và đóng góp ý kiến vào một quá trình cần thiết để vượt qua.

Con người

Do con người thuộc vốn quý nhất của một nước, không thể không xét khác biệt trong cái giá cho sự thống nhất giữa Đức và Việt Nam: gần 1.500 mạng người Đức, hơn 2.000.000 mạng người Việt Nam. Sau khi thống nhất, không như ở Đức, hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng hoà, bao gồm hàng chục ngàn chuyên gia, bị tập trung vào trại học tập cải tạo hay bị sa thải; hàng chục ngàn người chết trong trại học tập. Do chính sách đối xử phân biệt, khoảng 2.000.000 người Việt Nam phải rời nước, đi định cư ở nước khác; khoảng 200.000 người chết khi vượt biên.

Do không có hệ thống tam quyền phân lập, quyền làm người liên tục bị vi phạm, bất chấp quy định trong cam kết quốc tế và trong Hiến pháp Việt Nam. Trong 3 năm gần đây, có 260 người chết khi bị công an tạm giữ; chưa tới 20 trường hợp làm người chết được đưa ra luật pháp xét xử.

Giáo dục

Đối diện với nền giáo dục hình thức, lạc hậu, yếu kém, hàng trăm hội nghị, hội thảo về cải cách giáo dục không tìm được lối ra vì cốt lõi của vấn đề bị né tránh: giáo dục là nhằm đào tạo những thế hệ có tư duy độc lập, trên cơ sở tôn trọng sự thật, tôn trọng phản biện; giáo dục là để phục vụ con người, không phục vụ một tầng lớp, một hệ tư tưởng nào. Ở thời điểm năm 2013, Việt Nam có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ trong dân số 90 triệu người, tỉ lệ tiến sĩ, thạc sĩ cao nhất khu vực Đông Nam Á, nhưng có con số nghiên cứu khoa học công bố trên tập san quốc tế thấp nhất khu vực.

Kinh tế

Sau 40 năm hoà bình, sau 20 năm bình thường hoá quan hệ với Mỹ, nước có nền kinh tế và công nghiệp hàng đầu thế giới, kinh tế Việt Nam còn bấp bênh, công nghiệp phát triển kém cỏi. Trong giai đoạn 2001-2014, nợ công tăng từ 12% đến trên 65% GDP, quá ngưỡng an toàn, trong khi năng suất lao động giảm từ 4,1% xuống 3,2%, thấp nhất khu vực; trong giai đoạn 2008-2011, chênh lệch giàu nghèo tăng từ 8,9 lần đến 9,2 lần; trong giai đoạn 2012-2014, theo báo cáo quốc tế, chỉ số tham nhũng tăng từ 116/177 đến 119/175.

Đạo đức-văn hoá

Nền giáo dục không lành mạnh, hệ thống luật pháp không nghiêm minh, dẫn đến một xã hội băng hoại, suy đồi. Một lãnh đạo Việt Nam, ông Mai Chí Thọ, năm 2000, bày tỏ buồn đau trước mức độ tội ác trong xã hội; ông cho rằng “me Tây”, “me Mỹ” trước 1975 vẫn biết xem nặng giá trị đạo lý hơn một số người sau 1975. Với tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tăng nhanh, riêng năm 2014, Việt Nam có 150.000 trường hợp nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, cao nhất khu vực.

An ninh quốc phòng – Biển Đông

Không phải “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ”, mà Trung Quốc là nước, trong 60 năm nay, chiếm giữ một phần lãnh thổ Việt Nam ở biên giới cực Bắc, ở Hoàng Sa-Trường Sa.

Từ năm 2000, hàng năm Trung Quốc ngang nhiên cấm đánh cá ba tháng trong vùng biển Việt Nam; Trung Quốc đang tích cực xây dựng cấu trúc quân sự, đảo nhân tạo ở Hoàng Sa-Truờng Sa, làm bàn đạp tấn công Việt Nam khi cần thiết. Sự thiếu quyết tâm của Việt Nam trong sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc khiến Trung Quốc không ngừng leo thang hoạt động phi pháp và khiến khả năng chiếm giữ tạm thời thành chiếm giữ vĩnh viễn của Trung Quốc ở Hoàng Sa-Trường Sa gia tăng.

Trong hơn 20 năm, FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI nhưng Trung Quốc nắm 90% tổng thầu EPC ở những công trình trọng yếu như điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất, v.v. Do cam kết trong Thông cáo chung Việt-Trung năm 2001, Việt Nam cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên, bất chấp hiểm nguy cho an ninh quốc phòng, môi sinh môi trường, v.v., bất chấp phản đối của chuyên gia, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người có liên hệ với nghiên cứu khai thác bauxite trong thập niên 1980.

Nan đề của dân tộc và vai trò của tuổi trẻ

Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử?

Thực trạng và trường hợp điển hình đề cập ở trên cho thấy, ở thời điểm 40 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử. Để khắc phục cần công sức và trí tuệ của toàn dân.

Trong 40 năm nay, mọi quyết định về chính sách, quốc sách cho Việt Nam, nằm trong tay một thiểu số lãnh đạo, không đến từ chọn lựa của công dân, thông qua bầu cử tự do và công bằng. Thực trạng hiện có là hệ quả tất yếu của lãnh đạo chủ trương đặt quyền lợi phe nhóm lên trên quyền lợi đất nước. Sự sinh tồn của dân tộc không cho phép thực trạng này kéo dài lâu hơn nữa.

Tuổi trẻ là người lãnh đạo tương lai của đất nước. Họ có đặc tính mà những lớp tuổi khác khó thể sánh bằng: năng lực, nhiệt tình và sáng tạo. Đồng thời, tuổi trẻ sẽ là người gánh chịu toàn bộ hậu quả, một khi họ thụ động, tiêu cực, theo chủ nghĩa “mặc kệ nó”, trước mọi nan đề hôm nay.

Trong khi thử thách, khó khăn là nhiều, thuận lợi dành cho tuổi trẻ không ít. Việt Nam là nước trẻ, với hơn 60% dân số sinh sau 1975. Trong cách mạng thông tin, thống kê năm 2014 cho thấy khoảng 75% thành phần trẻ sử dụng internet mỗi ngày. Đặc tính riêng và thông tin đa chiều tạo thêm sức mạnh cho tuổi trẻ.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ.

Trong hơn một tháng qua, có rất nhiều bài viết về cuộc chiến tranh tàn khốc giữa những người chung giòng máu, về những biến chuyển từ 1975. Bên cạnh lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến của người khác, tuổi trẻ Việt Nam nên hướng về phía trước, xác định ngày 30 tháng 4 năm 2015 là ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ. Tuổi trẻ cùng các thế hệ khác, trong và ngoài chính quyền, trong và ngoài đảng, giành lại quyền làm chủ, quyền quyết định vận mệnh đất nước, quyền chọn lựa lãnh đạo có tâm, có tầm, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, thông qua bầu cử tự do và công bằng, kiên quyết thực hiện những quyền tự do như báo chí, đi lại, hội họp, phát biểu, v.v., quy định trong Hiến pháp và trong cam kết quốc tế.

Chặng đường 10 năm tới dứt khoát không là sự lập lại giai đoạn tệ hại nào trong 40 năm qua. Chặng đường 10 năm tới là quá trình nhận thức rõ bạn và thù của đất nước, nhận thức rõ không gông cùm vô hình hay nỗi sợ hãi nào ngăn được bước chân của tuổi trẻ Việt Nam.

Nó phải là chặng đường mà ở đích đến, thời điểm 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam là của 90 triệu người, của toàn dân tộc, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, năm 2007, nói, “Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam

Nguyễn Khanh, RFA
2015-04-30

Tường trình lễ tưởng niệm binh sĩ Mỹ và Đồng minh hy sinh ở Việt Nam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

tuong-niem-622.jpg

Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015.

RFA

Your browser does not support the audio element.

Nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư năm nay, một trong những sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại là tổ chức buổi lễ tưởng nhớ những chiến binh Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam. Từ địa điểm buổi lễ ở thủ đô Washington.

Hy sinh cho tự do

Trước lễ đài, mọi người bùi ngùi nhớ đến 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở chiến trường Việt Nam, những người đã chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng tự do.

Phần lớn những người nằm xuống là những thanh niên rất trẻ, trong đó có những người mới tốt nghiệp trung học, cũng có người vừa học xong đại học, cũng có người mới lập gia đình, và cũng có người nằm xuống mà không nhìn thấy mặt của đứa con đầu lòng.

Trưởng Ban tổ chức, Cô Nguyễn Thị Ngọc Giao cho biết:

“Buổi lễ ngày hôm nay là để tưởng niệm 40 năm ngày 30/04/1095, là ngày chúng ta – những người miền Nam Việt Nam bị mất nước vào tay cộng sản.  Cho đến ngày hôm nay vẫn còn rất nhiều người tại Việt Nam phải chịu đau khổ dưới chế độ cộng sản.

Nhưng hôm nay tại Tượng đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Washington DC chúng ta tỏ lòng cảm ơn những người đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam.

Ngoài các chiến sĩ Hoa Kỳ, chúng ta còn trân trọng vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa và tất cả các chiến sĩ Đồng Minh. Điều này một lần nữa muốn nói rõ rằng chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa những người Việt với cộng sản.

Và chúng ta hôm nay đứng đây cám ơn các chiến sĩ Hoa Kỳ và Đồng Minh đã chiến đấu cùng với chúng ta; trong khi đó cuộc chiến chống lại cộng sản tại Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn.

Với chiếc ba lô đeo sau lưng và khẩu súng cầm trong tay, họ bước lên máy bay rời nước Mỹ để đến một vùng đất thật xa lạ mang tên Việt Nam, vùng đất mà có lẽ hầu hết đều không biết nằm ở vị trí nào trên bản đồ thế giới.

Vì lý tưởng bảo vệ tự do, họ chấp nhận rời mái nhà thân yêu, giã từ người thân, để đi đến vùng đất xa lạ đó, hãnh diện cầm súng chiến đấu với những người không nói chung ngôn ngữ, không cùng một màu da với họ.

Ông Cựu quân nhân Mỹ tên Grant McLure kể lại câu chuyện này với Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi:

Tôi là Grant McLure, trưởng toán liên lạc với quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Làm việc trong nhóm chúng tôi có những người Việt Nam. Nhóm gồm cả cố vấn quân sự lẫn dân dự, chẳng hạn như tôi làm việc với toán quân y phục vụ ở Ban Mê Thuột từ 1969 đến 1971. Hôm nay chúng tôi có mặt ở đây để bày tỏ lòng kính trọng với những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi đã có dịp làm việc chung trong thời chiến tranh”.

Những kỷ niệm chiến trường

tuong-niem-400.jpg

Các cựu binh tham dự Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015. RFA PHOTO.

Nhiều mẩu chuyện ngắn ngủi khác cũng được nhiều người kể lại khi nói về người bạn đồng minh của mình 40 năm trước đây. Có người nhắc lại lần đầu tiên đi hành quân chung với anh lính Mỹ, có người nhắc lại chuyến trực thăng đổ quân xuống giữa rừng già do một anh phi công Mỹ cầm lái, cũng có người nhắc lại chuyện từng cầm máy truyền tin gọi cho đơn vị pháo binh Hoa Kỳ để nhờ bắn yểm trợ.

Nhưng quan trọng nhất, điều mà những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm muốn nói đến vẫn là tình đồng đội giữa người lính Việt Nam Cộng Hòa và người lính Mỹ.

Riêng với ông Trần Ngọc Huế, kỷ niệm mà ông bao giờ quên là những ngày sát cánh cùng các người bạn đồng minh trong trận chiến kéo dài nhiều ngày để lấy lại thành phố Huế:

“Tôi muốn kể lại một kỷ niệm mà tôi với người cố vấn Mỹ của tôi hồi tôi chỉ hy Đại đội Hắc Báo trong trận Mậu Thân để đánh tan sự chiếm đóng của quân cộng sản tại thành phố Huế.

Tuần đầu tiên thì chúng tôi, Đại đội Hắc Báo, không có cố vấn vì cố vấn trưởng của tôi lúc đó phải chống cự với sự tấn công của quan cộng sản tại căn cứ ở phía Nam Sông Hương. 10 ngày sau thì ông cố vấn này đã qua với chúng tôi; và lúc đó chúng tôi rất vui mừng là đã có một người bạn đồng minh ở bên cạnh hổ trợ để cùng nhau chia sẻ những gánh nặng như là tải thương, như là yêu cầu những phi pháo của phía Mỹ.

Chúng tôi rất là cám ơn những người đồng minh đó từ phía Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và Sư đoàn 101 Nhảy dù của Mỹ đã cùng các quân binh chủng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại Thành Huế sau 26 ngày đêm bị quân cộng sản vây hãm, đem lại sự thanh bình cho người dân Huế cho đến năm 1975.”

Bùi ngùi, xúc động

Không ai bảo ai, trong nhìn ánh mắt của những người tham dự, mọi người dường như muốn nói lên rằng điều đau buồn nhất là cuộc chiến Việt Nam đã không được quyết định ở chiến trường, mà lại được quyết định ở chính trường Washington.

Những ánh mắt đó như thầm bảo không chỉ người lính của quân đội miền Nam mà ngay chính những người lính Mỹ đã phải chiến đấu, chấp nhận mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh chính thân xác của chính mình, cũng không được quyền chiến thắng.

Vì thế, ánh mắt của những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm như thầm bảo với những người bạn Mỹ đã nằm xuống cho lý tưởng tự do rằng: chúng tôi không bao giờ quên những gì bạn đã làm cho đất nước chúng tôi, và xin hứa với các bạn rằng con đường chúng ta đã đi dù còn dài đến đâu đi chăng nữa, nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng tôi sẽ đi cho đến đích.

Buổi lễ không chỉ là dịp để Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại cám ơn sự hy sinh cao cả của những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, mà cũng là dịp để một số binh sĩ Mỹ gặp nhau, nhắc lại đoạn đường chiến đấu mà họ đã trải qua, đặc biệt với toán binh sĩ của Đại Đội C, Trung Đội 3, Tiểu đoàn 1/9 Thủy Quân Lục Chiến, ngày 30 tháng Tư năm nay là dịp để họ nhắc lại cũng ngày này 40 năm trước đây, họ chính là toán binh sĩ Mỹ cuối cùng lên chiếc trực thăng cất cánh từ Tòa Đại Sứ Mỹ:

“Chúng tôi thuộc toán binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng được đưa vào Saigon hôm 25 tháng Tư 1975, giữ trách nhiệm bảo vệ an ninh cho Tòa Đại Sứ Mỹ. Anh em chúng tôi hãnh diện đã làm tròn trách nhiệm cho tới phút chót, đồng thời cũng hãnh diện đá giúp di tản được một số người ra khỏi Việt nam vào giờ chót”.

Một cựu quân nhân trong toán là ông Carl Stroud còn cho chúng tôi xem hình chụp 2 lá cờ, một Mỹ, một Việt Nam Cồng Hòa, mà ông mang ra được từ Tòa Đại Sứ. Hai lá cờ này hiện đang được giữ ở Viện Bảo Tàng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Cũng cần nói thêm là ngoài 58,000 binh sĩ Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam còn có gần 2,000 binh sĩ nằm trong danh sách mất tích.

40 năm sau ngày cuộc chiến kết thúc, các toán tìm kiếm mới thu nhặt được hơn 700 thi hài, và không thể biết đến bao giờ mới tìm được hài cốt của những người lính cuối cùng, để đưa họ về an nghỉ ở nơi mà họ đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành, trước ngày họ rời quê nhà để lên đường sang Việt Nam chiến đấu.

(Nguyễn Khanh, tường trình từ Washington).

Cựu binh Nga kể chuyện bắn máy bay Mỹ

Cựu binh Nga kể chuyện bắn máy bay Mỹ

Georgy Yefremov

Ông Georgy Yefremov nói chuyện với BBC tiếng Nga

Các chuyên gia quân sự Nga đóng góp vai trò đáng kể giúp tăng cường sức mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam.

Theo một thống kê của Liên Xô, từ 1965 đến 1974 đã có “6.359 sĩ quan, tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam”.

Đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam (1975-2015), ban tiếng Nga của BBC đã phỏng vấn một người Nga phục vụ tại Việt Nam từ 1966 đến 1967.

Theo đại tá về hưu Georgy Yefremov, sứ vụ của đoàn Liên Xô đến Việt Nam là bí mật. Vì vậy ngày nay ông không được chính quyền Nga cấp cho chứng nhận “cựu chiến binh tham gia chiến tranh”, vốn dành cho những người trở về từ chiến trận.

Georgy Yefremov, có mặt tại Việt Nam từ 1966 đến 1967:

Tháng 12 năm 1965, tôi được cử đi Việt Nam cùng 200 chuyên gia.

Khi đến nơi, chúng tôi ở trong rừng, đào tạo bộ đội Việt Nam trong ba tháng để điều khiển hệ thống hỏa tiễn đối không S-75.

Sau đó chúng tôi chuyển ra vị trí phòng không, cách Hà Nội 30 cây số. Vào tháng Sáu 1966, mưa nhiều lắm, không làm gì được, nên phải 10 ngày sau chúng tôi mới bắt đầu chiến đấu.

Chúng tôi có mặt ở đoàn Cao xạ Tam Đảo. Máy bay Mỹ bắt đầu xuất hiện và đánh bom Hà Nội.

Sư đoàn S-75 của chúng tôi có 32 tên lửa đối không. Khi chúng tôi vào vị trí, ba máy bay Mỹ quần thảo trên đầu. Chúng tôi bắn rơi một máy bay, nó phát nổ cách chúng tôi 400 mét.

Tay phi công Mỹ đi ra, làm bị thương hai chiến sĩ Việt Nam. Họ đánh gục hắn, và cho vào trại giam ở Hà Nội.

Sau mỗi phiên chiến đấu, chúng tôi phải thay đổi vị trí vì vào hôm sau, người Mỹ sẽ bay đến và đánh bom chỗ cũ.

Ông Georgy Yefremov và một sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1966

Không lâu sau, chúng tôi chuyển vào vùng núi gần Thái Lan. Tại đó, chúng tôi bắn rơi hai máy bay “Con ma” F-4 của Mỹ.

Chúng tôi trông thấy bốn phi công Mỹ bị bắn rơi, và định đánh chúng. Nhưng chúng tôi không được phép tiếp xúc với người Mỹ. Chỉ có người Việt được phép thôi.

Chúng tôi có nguyên tắc: nếu các học viên người Việt chiến đấu thành công ba lần, thì chúng tôi tin tưởng cho họ điều khiển thiết bị.

Sau khi bộ đội Việt Nam hoàn tất kỳ thi, chúng tôi điều khiển tên lửa chiến đấu trong ba lần để họ xem, rồi đổi cho họ. Khi họ đã bắn được máy bay, chúng tôi chuyển sang vai trò chuyên gia mà thôi.

Chúng tôi đóng vai trò quan trọng. Đằng sau hậu trường, người ta bảo các đơn vị tên lửa của chúng tôi đã bắn rơi khoảng 6000 máy bay, mặc dù chính thức thì họ chỉ nói là 1.500 thôi.

Người ta chỉ gọi đây là hỗ trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Liên Xô thời đó, và cả Nga bây giờ, người ta không gọi là chiến tranh.

Tôi đã tới kho lưu trữ của Bộ Quốc phòng vì tôi muốn có chứng nhận “Cựu chiến binh tham gia chiến tranh”. Nhưng họ bảo, “Ông đâu có tham gia đánh nhau.” Chính thức thì chả có ghi chép ở đâu cả. Chỉ là “hỗ trợ” thôi.

Khi đi Việt Nam, chúng tôi được trả tiền khá lắm. Vợ tôi sống ở thành phố Bryansk vì tôi thuộc trung đoàn Bryansk. Bà ấy được nhận 220 rúp, còn khi ở Việt Nam, tôi nhận 470 rúp.

Khi đi Việt Nam, tôi mới là đại úy. Khi về, tôi được đưa về trụ sở đơn vị phòng không của Moscow.

Khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đọc tin trên báo chí Liên Xô. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là tôi đã giúp cho việc thống nhất Việt Nam, có đóng góp của tôi.

Việt Nam vẫn là đất nước thân thiện. Từ ngày đó, tôi đã đến sứ quán Việt Nam 48 lần cho dịp chiêu đãi, nơi tôi gặp lại một số đồng chí.

Nhờ chúng tôi giúp đỡ, Sài Gòn đã thống nhất với Hà Nội, miền Nam thống nhất với miền Bắc. Liên Xô đã cứu Việt Nam, và ngày nay, Việt Nam đang phát triển, thậm chí còn hơn cả Nga.