Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ, thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.

Ngày 30-4 qua rồi, “những người ở lại” như tôi và có lẽ cả những người “Sài Gòn muôn năm cũ” cũng trút được một gánh nặng. Bây giờ xin trở về với những chuyện đời thường.

Nguyên nhân nào khiến người dân không tố cáo tham nhũng

Ngày 14-4-2015 vừa qua, Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển và Hỗ Trợ Cộng Đồng (CECODES), Trung Tâm Bồi Dưỡng Cán Bộ và Nghiên Cứu Khoa Học MTTQ Việt Nam cùng Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố kết quả cuộc khảo sát chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2014 (PAPI 2014).
Theo công bố, tình hình tham nhũng vặt có chiều gia tăng. Kết quả nghiên cứu, đánh giá của người dân về tình trạng tham nhũng trong khu vực công cho thấy hiệu quả kiểm soát tham nhũng của các cấp chính quyền là “ít có chuyển biến tích cực.” Thậm chí, trong một số lĩnh vực, mức độ vòi vĩnh, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức nhà nước là “có xu hướng gia tăng.”
Thật ra tham nhũng vặt sờ ở đâu cũng thấy, từ phường xã đến huyện tỉnh đều như nhau, bất kể ở lãnh vực nào. Xin cái giấy phép con cũng phải xì tiền ra mới xong. Giấy phép kinh doanh còn khó khăn hơn nữa. Xin cái sổ đỏ, bán cái nhà, mua miếng đất cũng đều có cái giá phải trả. Nếu không thì cứ chờ vêu mặt vẫn chưa chịu ký. Điều đó như đã thành “tiền lệ,” người dân VN ai cũng biết, chẳng cần phải nghiên cứu làm chi cho mệt.
Lý giải về nguyên nhân tham nhũng vặt không suy giảm mà còn có dấu hiệu tăng, TS Đặng Hoàng Giang cho rằng phần lớn những người nhận tham nhũng không hề chịu một hậu quả nào, thậm chí họ còn coi số ít đồng nghiệp khước từ tham nhũng như những người gàn hay đạo đức giả. Mặt khác, người dân sử dụng dịch vụ công thường không đủ dũng cảm để là những người đầu tiên “bước ra ngoài cuộc chơi.” Người dân có tâm lý cam chịu vì họ nghĩ rằng cái vòng tròn khép kín này quá mạnh, họ lẻ loi và không thể nào phá được nó. Họ không tin là sẽ được bảo vệ nếu phá nó.
Có bốn nguyên nhân người dân chịu đựng tham nhũng mà không tố cáo:
– Hơn 56% cho rằng tố cáo không mang lại lợi ích gì.
– 7.7% sợ bị trả thù.
– 9% cho rằng thủ tục tố cáo rườm rà.
– 7.3% không biết tố cáo bằng cách nào.

Cảnh đón người thân tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngay từ trên máy bay, người nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền. (Hoang Dinh Nam/Getty Images)

Tham nhũng có hệ thống nên vẫn sống dai sống khỏe

Người ta nói tham nhũng nước nào cũng có, nhưng ở các nước hầu hết chỉ có những cá nhân riêng lẻ có quyền hành mới tham nhũng và được điều tra đến nơi đến chốn dù có là Tổng Thống hay Thủ Tướng cũng thế thôi, nhưng ở VN tham nhũng có hệ thống và thường được tổ chức rất bài bản khép kín. Nói cho rõ là anh tham nhũng vặt ăn được 100 đồng, phải chi “lên trên” 50 đồng (ít nhiều tùy theo chỗ nào béo bở, chỗ nào ít hơn). Đôi khi nộp lên trên rồi lại phải chia cho những ngàng ngang cấp.
Và, cái sự ăn vặt đó công khai, ai cũng biết, tai tiếng rần rần nhưng nó vẫn công khai tồn tại, sống lâu sống khỏe. Bởi họ bảo vệ nhau triệt để, các quan trên đều biết cũng cứ ngậm miệng làm thinh. Ngay cả những việc làm nhục quốc thể vẫn ngang nhiên hoành hành.
Một thí dụ như khi qua cửa khẩu vào đến VN. Ngay từ trên máy bay, những bà con từ nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền.

Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về

Tài khoản facebook Gigi Ngo vừa mới đăng tải dòng status của Gigi Ngo hết sức phẫn uất về sự việc đã xảy ra tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cô cho hay đã bị rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và hai chai nước hoa.. Tiếp theo, cô nàng còn bày tỏ bức xúc rằng trước đã bị trả giá 200,000 đ tiền cafe khi qua cửa hải quan. Cô viết, “(…) sân bay Tân Sơn Nhất, hành lý người ta đóng mấy lớp mà cũng cố rọc thùng rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và lấy hai chai nước hoa xong còn để lại cái bịt ni lông, may phước mà cái đồng hồ của Natalia Tran vẫn còn, chưa lục tiếp mấy đồng hồ của mình còn không huhuhu. Đã vậy qua hải quan còn kêu lại xin $20, mình nói không có đủ tiền cho 100k được không? Hải quan trả giá thôi cho 200k đi uống cafe. Tức trào máu, phải chi cho tiền không bị mất đồ đằng này nó giữ hành lý mình 1.5 tiếng mới cho ra. Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.”
Ngay sau khi dòng status được đăng tải đã có hàng trăm lượt like và hàng chục lượt chia sẻ thông tin về sự việc đau lòng này. Bên cạnh những dòng comment chia buồn, thông cảm với nạn nhân, thì rất nhiều ý kiến khác cũng đồng tình rằng đã từng bị hại như nhân vật chính tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cái cảnh chướng tai gai mắt này đã xảy ra từ bao nhiêu năm nay, tôi cũng đã đề cập đến vài lần, báo chí trong và ngoài nước cũng đã từng lên tiếng rất nhiều. Nhưng mọi chuyện vẫn đâu đóng đấy, chẳng có tí “chuyển biến” nào. Chuyện nhục quốc thể đến như thế mà không ngăn chặn được hay không muốn ngăn chặn thì nói gì đến những chuyện vặt trong nước. Người dân cứ như nằm trong cái rọ, cựa quậy chỉ có thiệt thân. Không chỉ có mấy ông có chức vụ, có quyền lực tham nhũng mà ngay cả đến anh em họ hàng nhà quan cũng tha hồ ỷ quyền cậy thế hà hiếp dân lành. Ngoài ra còn phải kể đến các tay anh chị có “số má” ở các địa phương cũng “quậy” tới bến khi móc nối với các quan chức địa phương. Đám dân lành cũng chẳng dám ho he. Nhìn qua thế thôi cũng đủ thấy người dân lương thiện phải chịu bao nhiêu tầng áp bức.
Các quan ngồi trong phòng lạnh cứ việc vẽ ra dự án trên trời cuộc đời dưới đất, không cần chú ý tới lợi ích của người dân.

Đừng nuông chiều nhà thầu Trung Quốc nữa

Một thí dụ cụ thể như các quan làm dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông. Dự án này đã gây rất nhiều tai tiếng và tai nạn. Người dân bất bình, nhà nước sốt ruột, nhưng nó vẫn ỳ ra đó, như trêu ngươi, như thách thức.
Nó ỳ ra nhưng có vẻ như càng ỳ càng lợi, vì nếu công trình kéo dài thì lại tính tiền trượt giá, nâng thêm vốn, nhà đầu tư “chết,” còn nhà thầu Trung Quốc cứ thong thả nhặt tiền. Tin mới toanh, dự án này chậm tiến độ, “đội” vốn lên $868.06 triệu USD, tăng 315,18 triệu USD so với tổng mức đầu tư ban đầu.
Làm dự án kiểu này thì quá dễ, chậm tiến độ thì tăng vốn, thiếu vốn thì vay, chỉ có chết dân. Bởi vì vay ở đâu thì cuối cùng dân cũng è cổ ra để trả cả vốn lẫn lãi. Riêng dự án này, tổng thầu là Trung Quốc, một phần vốn vay ưu đãi cũng Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc làm ăn bê bối, nhưng nói ra mắc nghẹn ở cổ, vì vốn vay lại từ phía họ. Cũng như bị đòn đau mà đành ngậm bồ hòn làm ngọt.
Không chỉ chậm tiến độ, đội vốn, gây thiệt hại về kinh tế, dự án này còn là nỗi khiếp sợ về tai nạn. Đã có nhiều tai nạn xảy ra khiến có người chết và nhiều người bị thương, đè bẹp một xe taxi chạy qua.
Tổng thầu kém thì quá rõ rồi, nhưng những người chọn nhà thầu kém phải chịu trách nhiệm. Dự án trên cao, nhưng năng lực chuyên môn thì dưới thấp. Nhận ra tổng thầu dự án đường sắt trên cao kém, không đủ năng lực thì phải thay. Nếu không thể thay tổng thầu vì vướng quá nhiều thủ tục pháp lý, ràng buộc về tài chính thì phải có biện pháp quản lý cũng như quy định về chế tài để nhà thầu thi công đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng.
Không thể nuông chiều nhà thầu Trung Quốc này thêm nữa.

Đến chuyện doanh nghiệp nước ngoài đau mà không dám kêu

Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài mò sang VN làm ăn cũng bị móc họng, nhưng có khi mất tiền mà không làm được việc, bị các quan “ăn quịt” luôn, không chịu trả lại.
Theo VNNet, cả hội trường cười rầm rầm khi ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp Chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI), bình luận, tỷ lệ “ăn quỵt” năm qua đã giảm bớt. Bởi, doanh nghiệp chi tiền bôi trơn nhưng không phải lúc nào cũng được việc. Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra. Ông Tuấn dùng chữ “ăn quỵt” rất bình dân và rất đúng, nghe vừa tức cười vừa xấu hổ cho dân Việt.
Ông Tuấn giải thích rõ ràng: năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị “mất trắng” với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).
Tức là việc “ăn quỵt” giảm được 9%. Vẫn cón đó 42% doanh nghiệp bị ăn quỵt, bằng gần một nửa doanh nghiệp dính vào cái bẫy hổ này mà không dám kêu.
Nỗi thống khổ của doanh nghiệp FDI càng đậm nét hơn, khi nghiên cứu này chỉ ra rằng: 17.2% doanh nghiệp đã phải bôi trơn khi xin giấy phép đầu tư, 31.4% phải chi tiền hoa hồng khi đấu thầu, 66.2% đều phải đưa phong bì lúc thông quan và 22,3% doanh nghiệp FDI đã không muốn đưa ra toà án khi có tranh chấp, bởi chạy án là phổ biến.
Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra.
Ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH-ĐT, nói, “Doanh nghiệp lâu nay làm ăn dựa vào quan hệ với Nhà nước. Căn bệnh thâm căn, cố đế này đã ăn vào máu người Việt cả nửa thế kỷ nay, tức 50 năm, còn chúng ta mới chỉ nhận thức được vấn đề 20 năm thôi. Cho nên, phải đổi mới tư duy.”
Kêu gào “đổi mới tư duy” mãi mà chẳng thấy “tư duy” nào giúp cho đời sống của người dân Việt khá hơn. Cứ thấy thụt lùi dần. Nay tăng giá điện, mai tăng giá nước, mốt tăng giá xăng, tháng sau thu thêm “phí” nữa là “giờ đây đã đói càng thêm đói.”
Bên lề Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Xuân, có câu chuyện kể rằng, một hãng sữa lớn của Việt Nam tổ chức một buổi hội và có mời một anh phóng viên nước ngoài tham dự. Kết thúc buổi hội, hãng này tặng cho các đại biểu một túi quà nhỏ có vài hộp sữa. Nghĩ không giá trị nhiều, anh phóng viên nọ mang về trụ sở, mở túi ra và tá hỏa phát hiện một phong bì có 200.000 đồng ($9). Rất sợ hãi, anh này vội vã quay trở lại nơi tổ chức thì đã chẳng còn ai. Sau đó, anh phải tìm đến tận trụ sở công ty sữa đó để trả bằng được cái phong bì ấy.
Với người Mỹ, việc nhận quà bằng tiền mặt là tối kỵ và nếu có quà, tổng giá trị quá $20 USD sẽ phải trả lại. Còn ở VN thì khác, nếu anh nào cho vào phong bì ít quá sẽ bị chửi, cho nhiều thì tay bắt mặt mừng cứ như bạn bè thân thiết từ khuya rồi vậy. VN thắng Mỹ là ở chỗ đó!
Văn Quang

(1 tháng 5, 2015)

Chuyện ‘tìm người 40 năm cũ’ của Los Angeles Times

Chuyện ‘tìm người 40 năm cũ’ của Los Angeles Times

Nguoi-viet.com

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Chỉ vì một tấm hình cũ, trong đó có một cụ già và một em bé trong trại tị nạn Camp Pendleton, San Diego, được chụp hồi năm 1975, mà nhật báo The Los Angeles Times cử ba người, hai phóng viên ảnh và một nhà báo, bắt tay vào làm việc để tìm hiểu xem cuộc đời của em bé này bây giờ ra sao.


Cô Lisa Hà Nishihara và tấm hình do phóng viên ảnh Don Bartletti chụp ở Camp Pendleton năm 1975. (Hình: graphics.latimes.com)

Em bé này, một người tị nạn Việt Nam tạm cư ở Camp Pendleton năm 1975, bây giờ đang sống ở Fresno, tên là Hoàng Hà, và bây giờ có tên Lisa Hà Nishihara.

Hai phóng viên ảnh Don Bartletti và Don Kelson, từng tham chiến tại Việt Nam hồi cuối thập niên 1960, và nhà báo Ðỗ Bảo Anh, từng sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng thời gian với em bé trong tấm hình.

Phóng viên ảnh Don Bartletti, từng đoạt giải Pulitzer năm 2003 qua loạt ảnh về thanh thiếu niên các quốc gia Trung Mỹ đi qua Mexico để vượt biên vào Mỹ.

Còn phóng viên ảnh Don Kelson cách đây 40 năm làm phóng viên ảnh cho Rio Hondo College ở Whittier, California, và có chụp một số hình về đời sống của người Việt trong Camp Pendleton.

“Một điều quan trọng trong lãnh vực chụp ảnh báo chí là nhân vật trong tấm ảnh. Phóng viên ảnh không chỉ chụp nhân vật đó, mà phải để ý xem nhân vật đó bây giờ sống ra sao,” phóng viên ảnh Don Bartletti chia sẻ lý do ông đi tìm em bé 5 tuổi trong tấm hình ông chụp ở Camp Pendleton năm 1975.

Ði tìm em bé

Ngày 26 Tháng Ba, nhật báo Người Việt đăng một bản tin ngắn với tựa đề “Tìm người 40 năm cũ” với nội dung như sau: “Hai tấm hình dưới đây được nhiếp ảnh gia, nhà báo nổi tiếng từng thắng giải Pulitzer về hình ảnh báo chí Hoa Kỳ, Don Bartletti, chụp cách đây 40 năm, tại Camp Pendleton, California, ngay sau biến cố 30 Tháng Tư. Hôm nay, 40 năm sau, tác giả và phóng viên một tờ báo Anh Ngữ mong muốn đi tìm lại những nhân vật trong các tấm hình này. Tấm hình thứ nhất là cụ bà Trần Thị Năm và một người cháu gái. Theo ký ức của phóng viên Bartletti, cụ bà Trần Thị Năm cùng 14 người trong gia đình đến Camp Pendleton vào khoảng Tháng Tư, 1975, khi cụ đã 110 tuổi. Cụ Năm qua đời cũng thời gian ấy, ngay trong trại, vì chứng viêm phổi. Bé gái trong hình có thể là cháu nội/ngoại hoặc cháu cố của cụ Trần Thị Năm. Gia đình cụ Trần Thị Năm rời Việt Nam trên một chiếc thuyền ra đi từ Phú Quốc hồi Tháng Tư, 1975.”


Tấm hình “Tìm người 40 năm cũ” của do phóng viên ảnh Don Bartletti chụp, đăng trên nhật báo Người Việt ngày 26 Tháng Ba. (Hình: Don Bartletti/The Vista Press)

Dưới tấm hình là lời nhắn cho cô bé trong hình, hoặc bất cứ ai biết cô, xin liên lạc với LAT.

Lúc đó, cả ba nhân viên của LAT không biết tên em bé trong hình.

“Ban đầu, có nhiều người gọi đến, sau khi đọc bản tin trên nhật báo Người Việt, nhưng đa số là tò mò,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể. “Tuy nhiên, có một người tên Tâm ở Port Arthur, Texas, gọi đến, nói rất chi tiết về tấm hình. Anh Tâm còn nói cô bé là em họ của anh, nhưng anh lại không quen, mà quen với người chị.”

Thế là anh Tâm cho số điện thoại người chị, đang sống ở New Jersey.

“Lúc đó, nếu tính theo múi giờ thì cũng khuya lắm rồi, nhưng tôi vẫn gọi,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể. “Rồi chị Minh có nói một chút về tấm hình, về người em gái, nhưng lại không cho số điện thoại, mà giới thiệu một người cô ở Fresno, California. Sau đó, tôi gọi cho người cô, rồi mới xin được số điện thoại của Lisa, cũng sống ở Fresno,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể.

Có số điện thoại của nhân vật rồi cũng không phải dễ phỏng vấn.

Nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể: “Lúc gọi điện thoại, tôi nghe thấy cô kể chuyện với tôi, nhưng phía sau lại có tiếng chồng và con gái, cũng kể về chuyện tấm hình, nhưng rất khó hiểu. Thế là tôi quyết định phải gặp Lisa cho bằng được, để phỏng vấn dễ dàng hơn.”

Nhưng khi cả ba tới nơi, cô Lisa Hà Nishihara lại ngại ngùng, nhất là khi thấy có tới hai phóng viên ảnh, một người chụp hình và một người quay phim, cộng với một phóng viên.

Theo nhà báo Ðỗ Bảo Anh, sự ngại ngùng của cô Lisa có thể hiểu được, vì Fresno là một vùng rất bình yên, nằm ngay thung lũng trung tâm California, xung quanh đều là nông trại. Kế đến, gia đình cô Lisa cũng không tiếp xúc nhiều với cộng đồng bên ngoài.


Nhà báo Ðỗ Bảo Anh: “Tôi phải thuyết phục Lisa… Cuối cùng cô đồng ý nói chuyện.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Thế là tôi phải thuyết phục cô. Tôi nói rằng tôi cũng không thích ngồi trước ống kính, nhưng tôi và cô có thể ngồi với nhau, nói chuyện bình thường, không ép buộc. Thế là cô đồng ý. Trong lúc nói chuyện, mọi thứ từ từ trở nên tự nhiên hơn, và cô từ từ chia sẻ ký ức của mình, nhất là khi cô nhìn thấy tờ báo The Vista Press in cách đây 40 năm, có hình cụ Trần Thị Năm và cô ở trang chính,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể.

Nhân vật là chính

Cô Lisa Hà Nishihara không ngờ hình của mình được đăng trên trang nhất một tờ báo, cô không bao giờ nghĩ đến điều này, và cũng chưa bao giờ thấy, hoặc nghe nói, cho đến khi phóng viên ảnh Don Bartletti đưa tờ báo The Vista Press, nơi ông bắt đầu làm phóng viên ảnh cách đây 40 năm, cho cô xem.

Cô đã thốt lên: “Ủa, tôi có ở trong tấm hình đó hả? Cho tôi xem được không? Trời ơi, không ngờ là hình cụ tôi và tôi đây.”

Và cô khóc, nói rằng, nếu cha cô nhìn thấy tấm hình, chắc chắn ông sẽ vô cùng sung sướng.

Ngưng lại một lúc để lau nước mắt, cô Lisa không biết nói gì hơn, nhìn phóng viên ảnh Don Bartletti, nói với ông hai chữ rất rõ ràng: “Thank you.”

“Khi tôi chụp hình nhân vật, họ mới là chính, chứ không phải tôi,” phóng viên ảnh Don Bartletti chia sẻ. “Trong trường hợp này, cô Lisa tự nhiên cảm thấy mình là một cái gì đó quan trọng, mà cô chưa bao giờ dám nghĩ đến. Rồi cụ của cô nữa, tự nhiên cũng quan trọng không kém.”

Ông nói thêm: “Nói chung, khi chụp hình, mình phải chụp làm sao cho nhân vật trong ảnh cảm thấy được trân trọng.”

“Thật là cảm động khi biết Don Bartletti giữ tờ báo này trong nhiều năm, và nó rất ý nghĩa đối với tôi,” cô Lisa Hà Nishihara chia sẻ với nhật báo Người Việt. “Không có lời nào có thể diễn tả được. Thật buồn, chúng tôi rời quê mẹ, và cụ tôi qua đời (trong Camp Pendleton). Ðó là một sự cố gắng. Và tấm hình này gợi lại rất nhiều kỷ niệm.”


Phóng viên ảnh Don Baretletti tại Camp Pendleton năm 1975. (Hình: Don Baretletti cung cấp)

Cô nói thêm: “Tấm hình cũng gợi nhớ lại những kỷ niệm ở Việt Nam. Tôi còn nhớ, cụ luôn luôn ở bên cạnh chúng tôi. Nếu không, chúng tôi sẽ không được như ngày hôm nay. Mỗi ngày đi học cụ thường cho tôi tiền để xài, và tôi hư lắm. Ngày nào tôi cũng bị ăn đòn. Nhờ vậy mà tôi phải đi học và được như ngày hôm nay.”

“Tôi không biết Don Bartletti là ai. Tôi không bao giờ biết tấm hình này được đăng trên báo. Tôi có tấm hình này. Và Don Bartletti rất ngạc nhiên là tôi có tấm hình này và làm sao tôi có thể giữ được nó trong 40 năm qua,” cô Lisa nói.

Phóng viên ảnh Don Bartletti kể: “Khi tôi vừa bước vào nhà, cô Lisa bước từ trên lầu xuống với tấm hình cụ bà Trần Thị Năm 110 tuổi và Lisa lúc 5 tuổi. Tôi nhớ, khi chụp tấm hình này, tôi có đưa một bản cho Camp Pendleton. Và theo như cô nói, khi bà cụ qua đời, họ đưa tấm hình đó cho Lisa.”

Dù đã nhiều lần chú trọng nhân vật chính trong hình, rồi sau đó tìm hiểu xem bây giờ họ ra sao, đối với ông Bartletti, trường hợp gặp cô Lisa đặc biệt hơn bao giờ hết.

Ông kể: “Thỉnh thoảng tôi cũng đi tìm những thanh niên mà tôi chụp hình, trong lúc họ vượt biên vào Mỹ. Thông thường là khoảng hai hoặc ba năm sau, nên không thấy họ có thay đổi nhiều.”

“Trường hợp của Lisa vô cùng đặc biệt, vì tôi chụp hình cô cách đây 40 năm, và tôi rất muốn biết nhân vật của mình bây giờ ra sao, để tiếp tục ghi lại cho độc giả,” ông Bartletti nói. “Tôi biết lịch sử đã được lập tại Camp Pendleton. Lịch sử của một cô bé 5 tuổi. Và tôi rất muốn ghi lại lịch sử này.”

Ông chia sẻ thêm: “Và không có gì sung sướng cho bằng, đối với một phóng viên ảnh, khi cô Lisa hỏi: ‘Có phải ông là người chụp tấm hình đó?’ Cô không thể ngờ có ngày cô gặp lại người chụp hình cô. Ngay lúc đó, tự nhiên tôi nhớ lại tất cả những gì xảy ra cách đây 40 năm.”


Phóng viên ảnh Don Kelson: “Dự án này gắn bó cả ba chúng tôi, hai người từng đến Việt Nam và một người từng là người Việt tị nạn trong Camp Pendleton.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Và bây giờ ông Don Bartletti mới được biết, sau khi rời Camp Pendleton, cha mẹ cô Lisa tìm được việc làm trong các nông trại ở Fresno. Riêng cô, ban đầu định đi học trở thành bác sĩ nhi đồng, nhưng vì không chịu nổi tiếng khóc của trẻ em, cuối cùng, cô làm việc trong một trung tâm cấp cứu.

Lục lọi quá khứ 40 năm

Khi đi tìm những nhân vật trong hình của mình cách đây 40 năm, hai phóng viên ảnh Don Bartletti và Don Kelson, và nhà báo Ðỗ Bảo Anh phải “lục lọi quá khứ 40 năm” trong đầu của họ qua các tấm hình.

Cả ba đến Camp Pendleton trong những ngày gần tới ngày tưởng niệm 40 năm Tháng Tư Ðen. Nhà báo Bảo Anh Ðỗ lái xe đi tìm lại những ký ức của một cô bé, nhưng bây giờ tất cả đã biến mất.

Nhưng với hai phóng viên ảnh thì không.

“Thực sự, trước khi làm dự án này, tôi cũng không hình dung được nó sẽ như thế nào,” phóng viên ảnh Don Kelson nói. “Nhưng dần dần tôi thấy vô cùng lý thú, vì nó gắn bó cả ba chúng tôi, hai người từng đến Việt Nam và một người từng là người Việt tị nạn trong Camp Pendleton.”

Ông nói thêm: “Ðúng là mọi thứ thay đổi cả, vì 40 năm rồi còn gì, nhưng có những thứ vẫn còn đó. Và đó là điều giúp chúng tôi tìm được quá khứ.”


Phóng viên ảnh Don Baretletti: “Khi chụp hình, mình phải chụp làm sao cho nhân vật trong ảnh cảm thấy được trân trọng.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Ðó là những ngọn núi,” phóng viên ảnh Don Kelson nói. “Tôi cầm tấm hình mình chụp cách đây 40 năm, có bốn em bé gái ngồi chơi trên một miếng giấy thùng carton, phía sau là những cái lều dành cho người Việt tị nạn, phía xa là một ngọn núi. Bây giờ, lều không còn, không còn gì cả, mà chỉ là hàng rào và những cái nhà kho. Tuy nhiên, ngọn núi phía xa ở đằng sau vẫn còn đó, không hề thay đổi.”

Ở một nơi khác, phóng viên ảnh Don Kelson chụp một tấm hình các học sinh trung học đang diễn một vở kịch cho các trẻ em Việt Nam ngồi trên một khán đài dã chiến coi.

“Tôi và Don Bartletti phải mất 5 giờ đồng hồ để đi so sánh khung cảnh ngày xưa và bây giờ,” phóng viên ảnh Don Kelson kể. “Và cuối cùng tôi tìm được khán dài dã chiến đó, gỗ bắt đầu mục, các khung sắt bắt đầu sét rỉ, cỏ xung quanh mọc cao, nhiều cây lớn mọc phía sau, không một ai qua lại. Và một lần nữa, ngọn núi phía xa vẫn sừng sững ở đó.”

Ông chia sẻ thêm: “Phải nói đây là lần đầu tiên tôi đi tìm khung cảnh của nơi tôi chụp hình 40 năm trước, mà lần này lại liên quan đến người Việt Nam, đất nước Việt Nam, nơi tôi từng có mặt trong thời kỳ chiến tranh. Và tôi nhớ lại, trẻ em ở Việt Nam tôi gặp hồi thập niên 1960 khác với trẻ em tôi gặp trong Camp Pendleton hồi năm 1975.”

Trở lại tấm hình chụp hai bà cháu 40 năm trước, cô Lisa Hà Nishihara cho biết: “Ðó là một món quà Don Bartletti tặng cho tôi và nó sẽ ảnh hưởng tôi suốt đời. Ông đã thay đổi cuộc đời tôi. Ông khuyến khích tôi rất nhiều. Nó giống như là một vòng tròn khép kín. Tôi đã nói lời cảm ơn rất chân thành với ông, và tôi không biết nói gì hơn.”

“Tôi giữ tấm hình đó trong 40 năm, tôi giữ nó, và tôi đã gặp người chụp tấm hình đó,” cô Lisa Hà Nishihara thổ lộ. “Tôi hy vọng tấm hình sẽ dạy cho con gái tôi biết về nguồn gốc và lịch sử của nó. Tôi không thể ngờ tôi gặp ông Don Bartletti tối hôm đó, cho đến khi điều này trở thành sự thật.”

––
Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com

Hoa Kỳ – Việt Nam đối thoại nhân quyền lần thứ 19

Hoa Kỳ – Việt Nam đối thoại nhân quyền lần thứ 19

Nguoi-viet.com

* Những người hoạt động cho dân chủ, nhân quyền bị kiểm soát gắt gao

HÀ NỘI (NV) .-
Đại diện của hai chính phủ Hoa Kỳ và CSVN bắt đầu cuộc đối thoại về nhân quyền kỳ thứ 19 tổ chức tại Hà Nội hôm Thứ Năm 7 tháng 5 năm 2015.

Một số phụ nữ bị bắt khi biểu tình ngày 26/4/2015 tại Hà Nội phản đối nhà cầm quyền địa phương ra kế hoạch chặt 6,700 cây xanh, tàn hại môi trường.(Hình: Facebook)

Bản tin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hôm Thứ Ba loan báo rằng Phụ tá Ngoại trưởng Đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động, ông Tom Malinowski và đại sứ Ted Osius, sẽ có cuộc đối thoại nhân quyền với Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức Quốc tế của Bộ Ngoại Giao CSVN, ông Vũ Anh Quang.

Cuộc đối thoại thường niên này bao gồm đủ mọi mặt về nhân quyền từng được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố trong bản phúc trình về tình hình nhân quyền trên thế giới hàng năm. Từ cải cách luật pháp, luật lệ và áp dụng luật lệ minh bạch, tự do diễn đạt và hội họp, tự do tôn giáo, quyền của người lao động cũng như quyền của các người tàn tật.

Theo bản tin này, phái đoàn của ông Malinowski có cuộc du hành tới khi vực cao nguyên vùng Tây Bắc, khu vực có nhiều sắc tộc thiểu số sinh sống thường xuyên bị đàn áp về tôn giáo trong khi đời sống kinh tế của họ rất cực khổ. Tại đó phái đoàn sẽ thảo luận với các nhà cầm quyền địa phương cũng như các tổ chức dân sự.

“Cổ võ nhân quyền vẫn là điều cốt yếu trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và cũng là một phần của cuộc đối thoại đang diễn ra trong khuôn khổ thỏa hiệp đối tác toàn diện giữa hai chính phủ”. Bản thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ viết.

Ông David Shear khi còn là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tới thăm bác sĩ Nguyễn Đan Quế, một người bất đồng chính kiến và là sáng lập viên Cao Trào Nhân Bản. (Hình: Internet)

Không thấy Bộ Ngoại giao CSVN hay TTXVN loan báo gì về cuộc đối thoại nhân quyền diễn ra vào ngày Thứ Năm. Chỉ thấy trên các mạng xã hội đưa tin về việc nhà cầm quyền các địa phương cấm ra khỏi nhà những người được mời tới gặp ông Phụ tá đặc trách nhân quyền Malinowski.

Bên cạnh các cuộc tiếp xúc, đối thoại với các viên chức CSVN, các phái đoàn chính phủ hoặc Quốc hội Mỹ đều muốn tiếp xúc với các thành phần xã hội dân sự để nghe ý kiến đa chiều. Nhà cầm quyền CSVN sợ những người đó tố các tình trạng đàn áp nhân quyền. Hiến pháp có nói tôn trọng nhân quyền trong khi luật hình sự lại siết nhân quyền. Tồi tệ hơn nữa, chính nhà cầm quyền lại ngồi xổm lên pháp luật để khủng bố, bỏ tù nhân dân.

Theo Blogger Vũ Quốc Ngữ viết trên diễn đàn thông tin Thanh Niên Công Giáo, “Lực lượng an ninh ở khắp Việt Nam đã bắt giữ hoặc chặn nhà riêng của nhiều nhà bất đồng chính kiến và người hoạt động nhân quyền trong một nỗ lực để ngăn cản họ tham gia vào một cuộc gặp mặt với các nhà ngoại giao Mỹ trước phiên đối thoại nhân quyền Việt Nam- Hoa Kỳ được ấn định vào thứ Năm tuần này.”

Theo ông Ngữ cho biết “Trong số những người bị quấy rối là những cựu tù nhân chính trị như bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Phạm Văn Trội, luật sư nhân quyền Nguyễn Bắc Truyền, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hòa thượng Thích Thiện Minh, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, các nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Đề, Lê Hồng Phong và Mai Phương Thảo.”

Ông Vũ Quốc Ngữ kể rằng “Bác sĩ Sơn, một cựu tù nhân chính trị tại Hà Nội và một trong những bất đồng chính kiến hàng đầu tại các quốc gia cộng sản, đã phàn nàn trong trang facebook của mình rằng cảnh sát địa phương đã chặn nhà riêng của ông ở quận Ba Đình trong những ngày gần đây. Một sĩ quan cảnh sát thông báo với ông rằng ông sẽ không được phép đi ra ngoài trong vài ngày. Bác sĩ Sơn đã từng gặp một số khách nước ngoài cao cấp khi họ viếng thăm Hà Nội.”

“Ông Trội và ông Nghĩa, những người đang bị quản thúc tại nhà sau những án tù dài hạn với cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước, đã được công an điạ phương cảnh báo không được đi khỏi địa phương trong tuần này. Nhà riêng của hai ông đang bị giám sát chặt chẽ bởi cảnh sát địa phương.”

Người dân tại Dương Nội thuộc quận Hà Đông thường xuyên biểu tình đòi nhà cầm quyền trả lại đất và thả các dân oan bị tỏ tù. (Hình: Dân Làm Báo)

“Luật sư nhân quyền Truyển ở tỉnh Đồng Tháp thông báo rằng cảnh sát đã cấm anh, bác sỹ Quế và thượng toạ Minh có ý định rời địa phương để ra Hà Nội nhằm tham dự cuộc họp với những người khách Mỹ. Mọi cử động của họ đều bị theo dõi sát sao bởi các nhân viên an ninh.”

“Anh Đề, một thành viên của Hội anh em dân chủ, thông báo rằng anh đã bị bắt giữ bởi công an huyện Thanh Trì vào sáng ngày 06 tháng 5 khi ông đang trên đường đi đến cuộc gặp mặt với các nhà ngoại giao của Mỹ. Trong buổi sáng sớm cùng ngày, một nhóm khoảng 20 cảnh sát quận Hoàng Mai ở Hà Nội đã xông vào nhà riêng của chị Thảo ở xã Giáp Bát và ép cô lên một chiếc xe đến trụ sở công an xã và sau đó đến trụ sở công an huyện mà không trưng ra bất kỳ tài liệu pháp lý mặc cho sự phản đối mạnh mẽ của chị.”

Ba ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền giữa Hoa Kỳ và chế độ Hà Nội, Hội đồng Giám Mục Việt Nam phổ biến công khai một bản góp ý về dự thảo luật về tôn giáo, tín ngưỡng. Bức thư nêu ra cho thấy cái luật này chỉ nhằm giới hạn chặt chẽ nhằm trói chân trói tay tôn giáo theo nhu cầu của nhà cầm quyền, hoàn toàn ngược lại tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, công ước quốc tế về các quền dân sự và chính trị mà chế độ Hà Nội tham gia ký kết.

Hiến pháp của chế độ nói tôn trọng quyền tự do tôn giáo nhưng lại dùng luật để giới hạn quyền của người dân mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cáo buộc rằng “hoàn toàn mang tính chất áp đặt quyền lực của Nhà nước lên các tổ chức tôn giáo, tạo kẽ hở cho cơ quan hành pháp lạm dụng quyền lực.” Vì vậy, dự luật về tôn giáo tín ngưỡng “tự mâu thuẫn” với “Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi năm 2013”.

Nhân ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới 3/5/2015 Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới công bố bản phúc trình thường niên đưa ra một bảng xếp hạng cho thấy Việt Nam nằm gần chót bảng cùng với những nước cộng sản, độc tài quân phiệt hay tôn giáo cuồng tín như Bắc Hàn, Trung Quốc, Iran, Cuba v.v…

Hôm thứ Hai vừa qua, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mở chiến dịch đòi “trả tự do cho báo chí” trên thế giới. Trong một bản thông cáo báo chí, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do cho những người cầm bút đã bị các chế độ chính trị cầm tù chỉ vì người ta sử dụng quyền tự do ngôn luận để phát biểu các quan điểm cá nhân.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ kêu gọi CSVN trả tự do cho bà Tạ Phong Tần, một thành viên nòng cốt của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do đã bị kết án tù 10 năm hồi năm 2012 cùng với hai blogger khác là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và Anhbasg Phan Thanh Hải.

Phan Thanh Hải bị kết án nhẹ nhất và đã được thả sớm trước hạn tù. Blogger Điếu Cày, bị kết án 12 năm tù, nhưng được thả sớm hồi Tháng 10 năm ngoái và bị ép ra khỏi nước. Hiện chỉ còn bà Tạ Phong Tần đang bị nhốt ở nhà tù trong tỉnh Thanh Hóa. Tin cho hay bà đã tuyệt thực nhiều lần để phản đối sự bạo ngược của cai tù. (TN)

Giấc mơ đã thành sự thật

Giấc mơ đã thành sự thật

(Chứng từ của một người đã chết được sống lại và trở thành con cái Chúa)

Tôi là một người ngoại đạo…

Sáng ngày 1 tháng 1 năm 2002, tôi không thức dậy được. Lúc đó là 11 giờ sáng, chồng tôi vào đánh thức thì thấy người tôi đã cứng ngắt. Anh kêu xe cứu thương đến, họ cho biết tôi đã chết được 4 giờ. Họ đưa tôi vào bệnh viện, tôi bị hôn mê sâu, họ đưa tôi vào phòng hồi sinh. Sau 24 giờ ở phòng hồi sinh, tôi vẫn không tỉnh dậy, họ đưa tôi vào nhà xác. Họ bảo sẽ để tôi ở đây trong vòng 72 giờ xem sao. Qua hai ngày, tôi vẫn không thức dậy, năm yên như một người đã chết. Đến ngày thứ ba thì cô y tá thấy tay tôi nhúc nhích cử động. Cô báo cho bác sĩ biết. Bác sĩ đến thấy tim tôi đập lại và ông cho tôi xuất viện trở về nhà. Ông cho biết, tôi sẽ bất động trong khoảng 6 đến 7 tuần.

Trong khi tôi ở trong tình trạng hôn mê sâu, tôi mơ thấy có một ông đi ngang qua, đầu đội mũ gai. Tôi hỏi: “Ông là ai?”. Ông trả lời: “Ta là Giêsu” và tôi thấy ông bị đưa lên đồi. Ông nói với tôi bằng tiếng Việt rất rõ: “Con lấy khăn mặt nhúng nước sông lau mặt “đi”, con sẽ sống lại vào ngày thứ ba.” Ông nói chữ “đi” rất mạnh, như ra một mệnh lệnh cho tôi. Tôi chạy tới bờ sông, ở đó có một chiếc khăn trắng. Tôi nhúng nước lau mặt Chúa vì tôi thấy trên má Chúa có vết máu, nhưng Chúa nói: “Con lau mặt cho con và con đừng đi theo Ta, con đứng lại đi”. Và tôi tỉnh lại sau giấc mơ.

Năm 2007, tôi bị tai biến mạch máu não. Tôi không bị liệt nhưng không còn nhớ gì hết. Tôi mơ thấy Thánh Anrê thành Montréal. Thánh Anrê nói với tôi: “7 tuần sau con sẽ nhớ lại bình thường. Con không cần phải mổ gì cả, và con sẽ đi làm lại.” Đúng sau 7 tuần, tôi hồi phục lại trí nhớ, và tôi đi làm lại.

Tháng 1 năm 2014, tôi nằm mơ thấy cha Trương Bữu Diệp bấm chuông. Cha theo tôi đi tới chùa. Cha mang Thánh giá trên mình. Đến trước chùa, cha nói: “Con vào đi, cha mang Thánh Giá, cha không thể vào với con được.” Cha đứng ngoài kiên nhẫn chờ tôi. Tôi thấy cha đứng ngoài trời nắng gắt và đổ mồ hôi hột ra. Tôi rất xúc động, từ đó tôi biết, tôi phải đi theo Chúa.

Tháng 4 năm 2014, tôi kể các chuyện này cho chị dâu tôi ở Cali nghe. Chị là người Công giáo, chị nói với tôi: “Người trong giấc mơ năm 2002 của em chính là Chúa Giêsu đó, và Ngài nói lấy chiếc khăn trắng nhúng nước lau mặt là dấu chỉ Ngài muốn em rửa tội để trở nên con cái của Ngài đó”. Khi đó tôi mới hiểu là Chúa đã chờ tôi 12 năm nay.

Tháng 1 năm 2014, tôi có gặp một ông Tây ở nhà thờ, ông chận tôi lại và đưa ra một tấm hình Chúa Giêsu cho tôi xem, và ông nói: “Có phải người trong giấc mơ của bà có gương mặt giống người trong tấm hình này không?” Tôi tự hỏi, làm sao ông biết tôi mơ thấy Chúa Giêsu? Phải chăng Chúa soi sáng cho ông biết.

Bao nhiêu là dấu chỉ Chúa mời gọi tôi đến gặp Chúa và hôm nay giấc mơ của tôi đã thành sự thật. Tôi được biết Chúa Giêsu và đón nhận Chúa là cứu Chúa của tôi. Tôi không thể nói lên hết niềm xúc động của tôi, tôi chỉ biết khóc. Khi cha rưới nước trên đầu tôi, tôi đã khóc thật nhiều. Tôi cảm nhận có một mầu nhiệm lạ lùng mà ơn trên đã ban cho tôi.

Tên thánh của tôi là Anna Maria Phanxicô. Phanxicô là tôi muốn nhớ đến cha Diệp nhưng vì cha chưa là thánh nên Phanxicô của tôi là Phanxicô Xaviê, Phanxicô Salê, Phanxicô Đaxi, Phanxicô Trương Bữu Diệp và cả Phanxicô, Đức đương kim Giáo hoàng.

Tôi thật hạnh phúc đã trở thành con cái Chúa ! Tôi viết lời chứng này để cảm tạ và vinh danh Chúa đến muôn đời.

Anna Maria Phanxicô Nguyễn Dung

PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU

PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU

LM Mark Link

Cách đây mấy năm tập san Readers Digest có thuật lại một câu chuyện cảm động về một em bé trong bệnh viện Milwaukee.  Em này bị mù, đần độn, lại còn bị liệt não nữa.  Em chỉ khá hơn loài thảo mộc một chút là biết đáp ứng lại âm thanh và sự ve vuốt mà thôi.  Cha mẹ em đã bỏ rơi em.  Nhưng bệnh viện cũng chả biết xử lý thế nào với trường hợp của em.  Thế rồi có một người nhớ đến May Lempke, bà y tá 52 tuổi sống gần đấy.  Bà nầy đã từng nuôi nấng năm đứa con của chính mình, nên bà sẽ biết cách chăm sóc cho một đứa trẻ như thế.  Họ yêu cầu bà chăm sóc đứa bé và bảo: “Thằng bé có lẽ sẽ chết yểu!”  Bà May trả lời: “Nếu tôi chăm sóc đứa bé, nó sẽ không chết yểu đâu, và tôi rất sung sướng được chăm sóc cho nó.”

Thế là bà May đặt tên cho cậu bé là Leslie.  Chăm sóc cho cậu bé quả thật không dễ dàng chút nào.  Ngày nào bà cũng phải xoa bóp toàn thân đứa bé, bà đã cầu nguyện cho nó, đã khóc vì nó, bà đã đặt đôi tay nó lên những giọt lệ của bà.  Một hôm, có người nói với bà: “Tại sao bà không gởi đứa bé ấy vào viện?  Nó chỉ làm phí cuộc đời của bà thôi?

Leslie càng lớn thì càng có nhiều vấn đề phải đặt ra cho bà May.  Bà phải giữ nó chặt vào một chiếc ghế để nó khỏi bị té xuống.  Thời gian trôi qua, năm mười, mười lăm năm.  Mãi đến khi Leslie 16 tuổi, bà May mới có thể tập cho nó đứng một mình được.  Suốt thời gian đó, bà May vẫn tiếp tục yêu thương và cầu nguyện cho cậu bé.  Ngoài ra bà còn kể cho cậu bé nghe những mẩu chuyện về Chúa Giêsu dù xem ra cậu chẳng nghe được tiếng bà.

Thế rồi một ngày nọ, bà May chợt nhận thấy Leslie dùng ngón tay của mình búng vào một sợi dây căng thẳng trên một gói đồ.  Bà tự hỏi; điều ấy có ý nghĩa gì?  Biết đâu Leslie lại nhạy cảm với âm nhạc chăng?  Và bà May bắt đầu cho Leslie nghe âm nhạc.  Bà chơi đủ loại hình âm nhạc mà bà tưởng tượng ra được với hy vọng có một loại nào đó có thể lôi cuốn cậu bé.  Cuối cùng, bà May và chồng mua được một chiếc dương cầm cũ kỹ.  Họ đặt nó vào giường ngủ của Lislie.  Bà May cầm những ngón tay của Leslie đặt vào tay bà và tập cho cậu bé biết cách nhấn phím xuống, nhưng xem ra cậu ta chả hiểu.

Thế rồi vào một đêm đông năm 1971, bà May bừng thức giấc vì nghe có tiếng đờn của ai đó đang chơi bản hoà tấu dương cầm số 1 của Tchaikovsky.  Bà lay lay chồng đánh thức ông dậy, và hỏi xem ông có quên tắt radio không.  Ông ta nói rằng không, nhưng họ quyết định tốt hơn là nên xem xét lại.  Và họ khám phá ra một điều vượt khỏi mọi giấc mơ kỳ quái nhất của họ.  Cậu Leslie đang ngồi tại chiếc dương cầm.  Cậu đang mỉm cười và chơi đàn một cách ngẫu hứng không thể nào tin được đây là sự thật!

Trước đây Leslie chưa bao giờ bước ra khỏi giường một mình.  Trước đây cậu bé chưa bao giờ tự mình ngồi vào chiếc dương cầm được, cậu cũng chưa bao giờ tự dùng tay ấn được vào phím đàn.  Thế mà bây giờ đây cậu lại đang chơi đàn tuyệt vời như thế!  Bà May vội quì gối xuống và thốt lên: “Lạy Chúa!  Con xin cảm tạ Ngài, Ngài đã không bỏ quên Leslie.”

Chẳng bao lâu, Leslie bắt đầu kiếm sống bằng cây dương cầm.  Cậu chơi được nhạc cổ điển, nhạc đồng quê miền tây, nhạc trữ tình, nhạc dạo và cả nhạc Rock nữa.  Hoàn toàn không thể nào tin nổi.  Tất cả những bài nhạc bà May đã từng chơi cho cậu nghe đều tồn trữ trong óc cậu và giờ đây tuôn trào ra trên phím dương cầm qua đôi tay cậu.  Giờ đây ở tuổi 28, Leslie bắt đầu nói chuyện.  Tuy không thể đối thoại lâu giờ.  Nhưng cậu có thể đặt câu hỏi, trả lời những câu đơn giản và phát biểu được những lời phê bình ngắn gọn.  Chẳng hạn, một buổi tối kia, đang xem một vở hài kịch trên truyền hình, cậu cảm thấy cuộc đối thoại chán ngắt, cậu bèn nói:

“Tốt hơn là chúng ta nên tắt nó đi, cả bọn chỉ toàn là lũ điên!”

Dạo này, Leslie chơi nhạc hoà tấu cho những ca đoàn nhà thờ, cho các cơ quan dân sự, cho các nạn nhân liệt não và cha mẹ họ, cậu còn xuất hiện cả trên đài truyền hình quốc gia nữa!  Các bác sĩ mô tả Leslie như là một người thông thái bị mắc một loại tâm bệnh, nghĩa là một người chậm phát triển về trí tuệ do tổn thất nơi não nhưng lại cực kỳ tài năng.  Họ không thể cắt nghĩa được hiện tượng dị thường này cho dù họ biết về nó gần 200 năm rồi.   Bà May Lempke cũng không thể cắt nghĩa được điều ấy nhưng bà biết chắc rằng nhờ tình yêu mà tài năng ấy được khai mở.

Chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện của bà May Lempke với những gì bà đã làm được cho Leslie nhờ tình thương không mệt mỏi của bà.  Nó đặc biệt thích hợp với chúng ta ngày nay vì ba lý do;

Thứ nhất, bằng một cốt chuyện gây cảm động, câu chuyện cụ thể hoá sứ điệp hàm chứa trong các bài đọc hôm nay, được gọi là giáo huấn của Đức Giêsu về việc yêu thương nhau.

Thứ hai, nó đã cụ thể hoá thành một cốt chuyện lý do tại sao chúng ta lại dành ngày hôm nay để làm Ngày Cho Mẹ, bởi vì, thông thường, các bà mẹ sống lời Đức Giêsu dạy về tình thương một cách kiên nhẫn và trung thành hơn bất cứ nhóm người nào khác.

Sau cùng, câu chuyện cũng cụ thể hoá năng lực kinh khủng của tình yêu.  Những gì mà bà May đã làm vì tình yêu cho Leslie qủa thật là lạ lùng.  Đó chính là những gì Đức Giêsu đòi hỏi phải có cho một tình yêu thương đích thực.  Đó là một phương cách để tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại này, đúng như cách Đức Giêsu đã tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại Ngài.

Qua tình yêu, Thiên Chúa đã để chúng ta tùy nghi sử dụng cái năng lực mãnh liệt nhất, trên thế gian này, đó là thứ năng lực mà mọi tiền của trên thế gian không thể mua được.  Đó là thứ năng lực mà mọi tri thức trên thế gian không thể tạo ra được.  Đó là thứ năng lực mà mọi lãnh tụ trên thế giới không thể chiếm hữu được.  Đó cũng là thứ năng lực mà mọi đạo quân trên trần thế không thể tập trung lại được.  Và kiều kỳ diệu hơn nữa, Tình yêu là năng lực mà mọi người đều có.

Bất chấp nam hay nữ

Bất kể thuộc tôn giáo nào

Bất kể thuộc quốc tịch nào

Bất kể được giáo dục theo phương pháp nào.

Tình yêu chẳng dành riêng cho người khoẻ mạnh

Cũng chẳng dành riêng cho người giàu có

Cũng chẳng dành riêng cho kẻ khôn ngoan

Cũng chẳng dành riêng cho người danh giá.

Tình yêu dành cho tất cả mọi người

Tình yêu làm cho tất cả chúng ta bình đẳng

trước mặt Thiên Chúa và bình đẳng đối với nhau.

Đây chính là Tin Mừng chứa đựng trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay.  Đây là Tin Mừng có khả năng biến đổi thế giới chúng ta một cách tuyệt hảo chẳng khác nào tình yêu của bà May Lempke đã biến đổi thế giới của Leslie.  Đây chính là Tin Mừng mà chúng ta phải rao to từ trên mái nhà và sống với nó thật trọn vẹn.

Và nếu chúng ta làm được như thế, chúng ta cũng có thể làm được những phép lạ bằng tình yêu của chúng ta ngay trong kiếp sống này y như Đức Giêsu đã làm nên những phép lạ nhờ vào tình yêu của Ngài trong thời gian Ngài sống trên dương thế.

LM Mark Link

Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần ‘đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ’

Ngoại trưởng Mỹ nhắc tên bà Tạ Phong Tần trong danh sách nhà báo cần được phóng thích.

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần “đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ”.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, Bộ Ngoại giao Mỹ mở chiến dịch Trả tự do cho Báo chí, nêu tên một số nhà báo mà Mỹ nói là “bị bỏ tù sai trái”.

Bà Tạ Phong Tần được chọn cho trường hợp Việt Nam, còn Trung Quốc có bà Cao Du vừa bị kết án hồi tháng Tư.

Thông cáo của ông John Kerry ngày 5/5 nói: “Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những cá nhân này và toàn bộ các phóng viên bị cầm tù vì làm đúng việc của mình.”

Năm 2012, tòa phúc thẩm ở TPHCM y án với hai blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) và Tạ Phong Tần.

Khi đó, ông Hải bị tuyên án 12 năm tù và bà Tạ Phong Tần bị tuyên án 10 năm tù.

Tháng 10 năm ngoái, Việt Nam để ông Nguyễn Văn Hải được sang Mỹ.

Mới hôm 1/5, ông Hải đã có cuộc gặp với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

Ông đã có mặt cùng hai blogger khác là Simegnish ‘Lily’ Mengesha (từ Ethiopia) và Fatima Tlisova (từ Nga) tại Nhà Trắng để tham gia hội luận về tự do báo chí trên thế giới.

VTV kỷ luật nhân viên vì sự cố bản đồ

VTV kỷ luật nhân viên vì sự cố bản đồ

Đài truyền hình Việt Nam (VTV) phải tạm dừng phát sóng một chương trình ngay sau số đầu tiên vì chiếu bản đồ đặt Hà Nội tại Quảng Tây.

Tập một chương trình truyền hình thực tế Ðiệp vụ tuyệt mật được phát trên sóng VTV3 tối 2/5 đã gây ra phản ứng trong dư luận.

Trong đoạn giới thiệu về chương trình, người xem thấy hình ảnh đồ họa về đường bay từ Thái Lan đến Hà Nội, trong đó đặt thủ đô Việt Nam tại tỉnh Quảng Tây.

Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) cũng yêu cầu VTV giải trình vì sao bản đồ không có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thông báo tối 4/5 của VTV nói họ tạm dừng phát sóng chương trình “để kịp thời chấn chỉnh”.

VTV nói sẽ “rà soát toàn bộ quy trình sản xuất của chương trình Điệp vụ tuyệt mật cũng như yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc quy trình sản xuất, phát sóng đã đề ra”.

Đài này cũng cho biết “đã thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét và có hình thức xử lý nghiêm khắc đối với một Phó Trưởng ban sản xuất các chương trình Giải trí và các cá nhân được giao nhiệm vụ nhưng để xảy ra sai sót”.

Điệp vụ tuyệt mật mua lại bản quyền từ chương trình mang tên Sabotage của Hà Lan, do công ty Cát Tiên Sa phối hợp với VTV thực hiện.

Trả lời báo Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Quang Minh, tổng giám đốc Công ty Cát Tiên Sa, giải thích sai sót là vì đơn vị sử dụng bản đồ của Air Asia.

Hãng hàng không này là nơi trao phần thưởng cho tốp 4 thí sinh.

Cũng theo báo Tuổi Trẻ, Air Asia hôm 4/5 đã gửi văn bản cho báo chí nói: “Vì lý do thiếu cẩn trọng trong quá trình duyệt file, sự việc đáng tiếc đã xảy ra.”

“Chúng tôi xin nhận trách nhiệm về sai sót nghiêm trọng này, sẽ lập tức chỉnh sửa lại hình ảnh đúng với thực tế địa lý,” hãng này nói.

Theo biên tập viên Zhuang Chen của BBC Tiếng Hoa, truyền thông Trung Quốc đã đưa tin về vụ việc.

Có người nói đùa trên báo Trung Quốc: “Chúng tôi chưa sẵn sàng để chuyển thủ đô của Việt Nam.”

Xin xem thêm:

Truyền hình Việt Nam một ngày mắc hai lỗi ‘phản động’

LỜI CHÚC: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

LỜI CHÚC: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.

– Chúa ở cùng anh chị em.

Dừng lại một chút, ta thấy những nghi thức này trong thánh lễ quá kỳ diệu.

Chúa ở cùng anh chị em là gì? Tại sao linh mục cần nhận lại lời cầu chúc:

– Và ở cùng cha.

* * *

Nhiều lần, nhiều nơi, trong nhiều thánh lễ, khi nói lời cầu chúc này, theo cách thế bên ngoài, thì có linh mục không nói bằng tâm hồn. Nói qua cho xong. Vì linh mục vừa nói, nhưng không đối thoại với giáo dân, thiếu chuẩn bị nên đang bận mở sách. Hoặc vì muốn chóng xong, cắt ngắn thời gian. Không có thời gian đón nhận lời giáo dân cầu chúc: Chúa ở cùng cha. Giáo dân đáp lại cho có lệ. Những lời chúc như thế trong thánh lễ nhạt nhẽo làm sao! Khi họ không tha thiết trong lời cầu chúc, thì làm sao dám nói họ thiết tha trong mong ước Chúa thật sự đến với người họ cầu chúc. Nếu vậy, Chúa ở đâu trong mối tương quan họ với Chúa, với nhau? Thiếu tha thiết trong lời cầu chúc, thì khó mà xác định mình thiết tha Chúa đến với người mình chúc. Từ đó, làm sao định nghĩa đấy là một thánh lễ sốt sáng.

Khi họ không nhận định kỹ “Chúa ở cùng anh chị em” là gì, thì làm sao rõ “Chúa ở cùng chúng ta”, và “Chúa ở cùng tôi” quan trọng đến đâu. Họ đánh mất ý nghĩa tên gọi EMMANUEL.

EMMANUEL là tên gọi của Thiên Chúa. Bởi đó, lời cầu chúc trong thánh lễ “Chúa ở cùng anh chị em” là lời rất quan trọng. Và, thánh lễ là gì nếu chúng ta để mất vẻ đẹp: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA?

* * *

EMMANUEL

– Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 2:24).

Khởi đầu Phúc Âm, Mátthêu giới thiệu tên của Thiên Chúa là Emmanuel, nghĩa là tên gọi đó được phiên dịch ra: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và rất đẹp, hôm nay chúng ta cụ thể hóa tên gọi đó trong lời chào của thánh lễ: “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.”

Kết thúc Phúc Âm, Mátthêu để chính Ðức Kitô tự nói về mình bằng lời chấm dứt như sau: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20).

Mở đầu và kết thúc một cuốn sách là dẫn vào và đưa tới cho người đọc toàn thể cuốn sách đó nói gì. Tư tưởng trọn gói ở đây, tên gọi của Thiên Chúa là ở cùng con người.

* * *

TÌNH YÊU VÀ Ở CÙNG

Thiên Chúa không yêu thương con người bằng cách từ trên cao nhìn xuống.

Thiên Chúa không cứu chuộc con người bằng cách ở trên cao vớt con người lên.

Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Chúa ở cùng.

Trong cuộc sống nhân loại, con người thường cứu nhau bằng sức mạnh của kẻ hơn. Kẻ có sức mạnh hơn, nhìn xuống kẻ yếu. Tôi giàu có hơn, tôi giúp đỡ anh. Tôi khỏe mạnh hơn, tôi vớt anh lên.

Màu nhiệm tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Mà là một tình yêu ở cùng. Kinh Thánh chỉ định, tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng.

Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng mà không phải ở trên thương xuống?

Tại sao tình yêu lại không là nhìn xuống để vớt lên mà lại là cùng xuống để nhìn?

Người môn sinh ưu tư với những băn khoăn.

Nắng trong vườn đã ngả dạt qua bờ dậu. Ráng chiều hoàng hôn rũ xuống lòng người môn sinh trẻ đang tầm thầy học đạo. Anh đã viết về tình yêu, đã nghe về tình yêu. Nhưng tình yêu vẫn là một huyền nhiệm. Tình yêu là gì?

Người môn sinh nhớ câu chuyện xa xưa:

– Bạch thầy, chúng con không chấp nhận nó được, nó ăn cắp, nó láu cá, nó làm biếng. Xin thầy đuổi nó về.

Mấy chú đệ tử nhỏ báo cáo với thầy. Và vị thiền sư đã bảo:

– Nó không biết phải, không biết trái nên mới cần ở với thầy. . .

Phêrô cũng thế, đã có lần Ðức Kitô gọi Phêrô là Satan. Nhưng Ngài không đuổi Phêrô. Ngài bảo: “Lui lại đàng sau Thầy.” Lui lại phía sau, chứ không là đuổi đi xa. Vì Satan đang ở trong con, nên con cần ở cùng Thầy.

Ðời người là những chặng đường kiếm tìm. Huyền nhiệm cuộc sống mở ra như những cánh hoa. Một ngày không tìm kiếm là một ngày chết ủ. Cánh hoa phải mở ra, bật lên thành màu. Bấy giờ mới là cánh hoa. Cuộc sống cũng thế, những ấp ủ băn khoăn kia phải bật lên thành màu mới là cuộc sống. Và ta phải tìm kiếm. Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng? Nhất là tên gọi kia của tình yêu Thiên Chúa. Tại sao lại là Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Ðể giúp người học trò tìm kiếm. Nhà đạo sĩ hỏi người học trò:

– Ngày con đau, mẹ con không là thầy thuốc. Bà không có quyền lực cứu con khỏi bệnh. Sao bà cứ đứng bên giường nhìn con, ngay cả khi con ngủ?

– Bạch thầy, vì thương con.

– Bà có chữa con hết bệnh được không?

– Bạch thầy, không.

– Không chữa được, vậy đứng đó làm gì?

Người học trò ngập ngừng.

– Bạch thầy, vì thương con.

– Thương, nhưng không làm sao chữa bệnh cho con được. Vậy thương là gì?

Người học trò bắt đầu hiểu. Tình yêu không cứ là “doing”, mà là “being.” Nghĩa là ở cùng. Thật ra, ở cùng, không phải là không làm gì. Bởi “ở cùng – being” đúng nghĩa là sự hiện hữu trọn gói. Khi linh mục nói “Chúa ở cùng anh chị em”, mà chỉ nói vì công thức cho qua. Như thế, sẽ là có “doing” đó, nhưng vắng mặt của “being.” Khi bà mẹ nhìn con ngủ trong cơn đau. Cứ chốc chốc, bà đến bên giường nhìn con ngủ. Bà không có năng lực chữa bệnh cho con. Bà không “doing” được điều gì theo nghĩa sản xuất. Bà chỉ hiện diện trọn gói tâm hồn bà ở đó. Ðấy là chiều sâu của ngôn ngữ ở cùng, là “being.”

Trong cuộc sống, tôi cần một người nhìn tôi. Nói với tôi là cuộc sống, có họ ở cùng với tôi. Người vợ dọn cơm chiều, chỉ mong chồng về, đến bên cạnh, thầm nói rằng “anh ở cùng em.” Buổi chiều đó có thể trở thành hương hoa. Họ cần cái ở cùng này. Người ta kinh nghiệm trong cuộc sống thực như thế. Không ai chỉ hạnh phúc bởi tấm pay check, có “doing” mà không có “being”. Trong nỗi đau, con người thường kêu:

– Lạy Chúa, xin cất chén đắng này cho con.

Họ muốn Thiên Chúa “doing”. Chúa hãy lấy quyền năng mà hành động. Nếu Chúa không cất nỗi đau cho con mà chỉ “being”, nghĩa là chỉ đau với con thôi thì có ích gì. Người ta lý luận tình yêu thì phải cụ thể bằng hành động. Chúa thương tôi, Chúa phải hành động, xin hãy tặng tôi những món quà tôi xin. Tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Thay vì cứu con người khỏi chết thì lại chết với con người. Thay vì cứu con người khỏi đau thì lại đau với con người. Trong nỗi bực dọc, con người oán trách Thiên Chúa. “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! (Lc. 23:39). Con người thách thức Thiên Chúa, cứu tôi đi, nếu thực sự thương tôi. Rồi tôi sẽ tin. Ðức Kitô không lấy quyền năng để cứu những tiếng kêu này. Ngài cũng không lấy quyền năng thoát khỏi cái chết này.

Tại sao tình yêu không là cứu người mình yêu khỏi chết, mà là chết cùng?

Trước khi tiếp tục đề tài. Vị đạo sĩ nhắc người học trò về một kinh nghiệm:

– Nỗi đau là không có ai đau cùng, chứ chưa hẳn là không có ai cất cho mình nỗi đau. Làm sao con có năng lực làm cho người chết sống lại? Con không cất được nỗi đau đó. Nhưng nếu con đau cùng, “being” bên cạnh người đang đau. Thì nỗi đau kia nhẹ vơi. Làm sao trong tình yêu mà người ta nói: Anh không cất được nỗi đau của em. Rồi người đàn bà đi sanh con một mình. Người đàn ông rất thực tế. Tôi không sanh con thay vợ tôi được. Tôi không “doing” gì được. Ông ở nhà đi câu.

Hạnh phúc và đau khổ không là cứu, là cho, mà là ở cùng.

Thiên Chúa ở cùng.

Người học trò im lặng suy nghĩ. Anh lắng nghe. Trong cái tĩnh mịch, anh mơ hồ nhìn thấy từ vùng im lặng đó, bật lên màu sắc của cuộc sống. Như những cánh mỏng thức giấc dần, bật màu thành bông hoa. Vị tôn sư như sợ người học trò ngần ngại với lời mình. Ông cắt nghĩa thêm:

– Thầy giả sử một vị tổng thống quyền uy, ông chỉ gật đầu, gia nhân của ông sẽ đem những người tỵ nạn vào nước ông. Ðó là cách nhìn xuống. Ðó là cách vớt lên. Nhưng giả sử, vị tổng thống ấy nghe tin còn mấy trăm người tỵ nạn mười mấy năm bơ vơ không quê hương. Nghe tin, ông tội nghiệp. Ông bỏ văn phòng. Ông đến với người tỵ nạn. Ông hỏi người tỵ nạn làm gì kiếm sống qua ngày. Dạ thưa ngài, tôi làm nghề rửa xe. Ðể hiểu, hiểu để thương, ông tổng thống quyền uy kia, mặt mũi lấm lem, quẹt mồ hôi, tóc bù xù dính dầu nhớt xăng, cũng chầu chực rửa xe, cũng ở bến xe, cũng gặm bánh mì. Con có thể hình dung một tổng thống nào dám làm thế không?

Người học trò im lặng hơn. Trong tâm trí anh. Anh không thể hình dung có chuyện đó. Anh hiểu ý vị tôn sư đang muốn nói, Thiên Chúa đã làm như vậy. Ðó là ý nghĩa EMMANUEL, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Khi cho một món quà là cho một phần tài sản. Khi cho chính mình là cho hết. Không thể cho hết khi mình không cùng giống thân phận người đó. Bởi thế, vô cùng tuyệt vời khi Phúc Âm tường thuật về người lính canh như sau:

Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. (Mc 15: 37).

Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói:

Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15: 39).

Hai sự kiện đặc biệt trong cụm từ “Tắt Thở” mà ta phải kiếm tìm.

– Thứ nhất, lúc tạo dựng con người. Thiên Chúa thở hơi, cho Ađam sự sống. Bấy giờ Thiên Chúa chỉ cho một chút hơi thở. Nhưng ở đây, Ngài không cho một chút hơi, mà Tắt Thở. Nghĩa là cho hết không còn hơi để thở. Như thế, tên gọi EMMANUEL, càng ngày theo chiều lịch sử cứu độ càng trở nên rực rỡ. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lời tung hô ấy như ngọn pháo bông muôn màu bật tung lên trong thánh lễ.

– Sự kiện thứ hai là viên đội trưởng, lính canh nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa khi Ngài “Tắt Thở”. Tắt thở là giây phút yếu nhất của một đời người. Ðáng nhẽ ông ta phải nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong những việc quyền năng, những phép lạ lớn lao. Tại sao lại nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong giây phút yếu đuối nhất?

Vị tôn sư nói với người học trò:

– Con ạ, hình ảnh người lính canh ở đây cho chúng ta một chiều sâu thiền niệm mà không biết ngọn núi cao nào, không biết vùng thinh lặng nào mới chỉ bảo cho chúng hết ý nghĩa. Trong giây phút yếu nhất ấy của Chúa Kitô, ông ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta quá yếu đuối tâm linh nên không nhìn ra sức mạnh trong sự yếu đuối như người lính canh.

Trời đã vào khuya, hai thầy trò, vị tôn sư và người thanh niên tầm thầy học đạo như thả hồn mình về biến cố hai nghìn năm trước trước mầu nhiệm Tắt Thở của một người. Trong tâm trí anh, anh không thể nào hình dung vị tổng thống kia dám trở nên yếu đuối như một người tỵ nạn được. Anh bắt đầu hiểu hơn, vị tổng thống ấy chỉ có thể thương xót bằng từ trên nhìn xuống, bằng từ trên vớt lên. Ông ta không thể xuống để ở cùng.

Ở cùng là trở nên một thân phận. Ðấy là chiều sâu khó nhất của tình yêu. Khó nhất mà cũng đẹp nhất. Phải trở nên thân phận thì mới hiểu. Hiểu mới có thể thương. Trong ý nghĩa này, thương bao giờ cũng phải là ở cùng.

Người học trò, như vẫn ưu tư. Nếu tình yêu là ở cùng. Tại sao Ðức Kitô lại kêu lên trong giờ sau hết: “Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?”

Vị tôn sư như đọc hết ý nghĩ thầm kín của học trò mình. Ông ôn tồn bảo:

Chiều sâu của tình yêu là ở cùng. Ðêm nay trời đã vào khuya. Con về ngủ đi. Tại sao Chúa Cha không lấy quyền năng như lời Ðức Kitô cầu xin, cất chén đắng này cho con?

Tại sao Chúa Kitô như quá cô đơn vậy?

“Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?” Ðâu là ý nghĩa ở cùng?

Ðây là Tình Yêu và Quyền Năng. Chúng ta sẽ nói tới.

Trời khuya rồi. Ðêm thường nói với chúng ta nhiều ý nghĩa cuộc sống. Ðêm nói về thân phận mù lòa, vất vả đi tìm. Những giờ phút tăm tối cuộc sống, khổ làm sao. Nhưng nhờ đêm mà ta phải khắc khoải. Nhờ khắc khoải tìm kiếm mà hồn ta mới thức giấc. Và con ạ, không bao giờ đêm dài bất tận. Ngày mai có ánh bình minh.

Vị tôn sư đi về am thất. Người học trò vẫn ngồi lại. Anh đang nhìn vào cõi sáng của bóng đêm. Thứ cõi sáng và bóng đêm của riêng anh.

* * *

Từ lời cầu chúc “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.” Thánh lễ phải là mầu nhiệm diễn tả tên gọi làm người của Thiên Chúa, EMMANUEL, Chúa ở cùng chúng ta. Mỗi thánh lễ, nếu ta trân trọng trong lời chào này, thì thánh lễ quá ngọt ngào. Thánh lễ là một diễn giải tuyệt vời mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương. Chúng ta hạnh phúc nối tiếp bí tích kỳ diệu đó qua những lời chào mang cả một chiều kích thần học rất sâu:

– Chúa ở cùng anh chị em.

– Và ở cùng cha.

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.

(Trích tập suy niệm “KẺ ÐI TÌM”)

Ngọcnga và Anh chị Thụ Mai gởi

Hãy Ở Trong Thầy

“Hãy Ở Trong Thầy”

+ GM GB Bùi Tuần

Mấy ngày nay, tôi thấy cảnh đời sôi động khác thường.

Trên đường xe chạy ồn ào, Dưới sông ghe xuôi ngược vội vã. Chợ chen chúc giữa người và hoa.

Mọi nhà đều rộn ràng quét dọn, trang trí, ra vào tấp nập.

Cảnh đời bề ngoài là vui, là dọn tết. Nhưng nhìn sâu vào bên trong lòng người, tôi có cảm tưởng khác. Có những gì kín đáo chìm lặng trong cõi nội tâm bất ổn.

Chính tôi cũng vậy.

Trước một hoàn cảnh mà hạnh phúc được cảm nhận là mong manh, là xa vắng, tôi chạy lại bên Chúa Giêsu.

Tôi nghe Người nói: “Hãy ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).

Chúa nói đi nói lại với tôi lời đó.

Ðây là lời căn dặn cuối năm.

Ðây cũng là lời nhắn nhủ đầu năm.

Ðây không phải một lời chỉ giữ riêng cho tôi, mà cũng là một lời Chúa gởi riêng cho từng anh chị em.

Tôi mong chúng ta biết đón nhận lời Chúa gởi. Ðón nhận với lòng trân trọng, với tình cảm mến, với tâm hồn khát khao tìm hiểu ý Chúa.

Vậy, “hãy ở lại trong Chúa Giêsu” được hiểu thế nào?

Tôi xin gợi ý vắn gọn.

Trước hết, “ở lại trong Chúa Giêsu” là ở lại trong lời của Chúa Giêsu.

Có lần Chúa Giêsu đã phán: “Nếu các con ở lại trong lời của Thầy, thì các con sẽ là môn đệ Thầy đích thực” (Ga 8,31).

Ở lại trong lời của Chúa, là đón nhận lời Chúa, suy niệm lời Chúa để lời Chúa thấm sâu vào lòng ta. Lời Chúa sẽ gây nên những vang vọng trong hồn ta, như những khát vọng dẫn đưa ta về Nhà Chúa.

Chúng ta thừa biết, lòng trí ta mỗi ngày phải tiếp cận với từng ngàn lời nói. Trong số từng ngàn lời đó, có những lời mang sự thực, nhưng cũng có những lời giả dối, có những lời gian ác, có những lời trống rỗng. Nếu, trong cảnh hỗn độn ấy, ta vững tâm ở lại trong lời Chúa, thì lời Chúa sẽ là ánh sáng soi đường chỉ lối cho ta. Ta sẽ được Chúa chúc lành, một sự chúc lành được ban cho những ai vâng thực thi Lời Chúa.

Ngoài ra, “ở lại trong Chúa Giêsu” là ở lại trong tình thương của Người.

Người phán: “Các con hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9).

Ở lại trong tình thương của Chúa là đón nhận chính sự sống của Người. Một sự sống hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Một sự sống sản sinh nhiều hoa trái thiêng liêng. Một sự sống là tình yêu, là bình an, là khôn ngoan, là hạnh phúc.

Chúng ta không xa lạ gì với tình thương trên đời này và trong đời ta. Nó muôn mặt. Ðổi thay và bền vững. Vui và buồn. Ánh sáng và bóng tối. Êm đềm và sóng gió. Nếu, trong thực tế thực sự là như thế, thì ở lại trong tình thương của Chúa sẽ là một bến bờ ta cần gắn bó.

Sự gắn bó này phải rất thân mật, phải rất khăng khít. Về vấn đề này Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh dễ hiểu: “Thầy là cây nho, anh em là cành… Cũng như cành nho không thể tự mình sinh ra hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,1-4).

Như vậy, lời Chúa gởi chúng ta đã khá rõ. Hãy ở lại trong Lời Chúa. Hãy ở lại trong tình thương của Chúa. Ở lại là gắn bó. Ở lại là cùng phấn đấu với Chúa Giêsu, là cùng với Người vâng phục thánh ý Chúa, là cùng với Người phó thác nơi Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Tôi muốn được gởi tới anh chị em lời Chúa trên đây ngày đầu năm Giáp Thân này.

Năm nay được mở đầu bằng nhiều bất ổn. Thí dụ với những dịch gia cầm, với những biến động về giá cả, với những chứng bệnh mới, với nhiều suy thoái trong lãnh vực lương tâm.

Chúng ta chấp nhận cuộc đời với những thực tế phức tạp của nó. Nhưng, là những người có đức tin, chúng ta ưu tiên đón nhận lời Chúa. “Hãy luôn luôn ở lại trong Thầy”.

Cho dù cuộc đời có những bất ngờ đau xót đến đâu, nếu chúng ta luôn ở lại trong Chúa, Chúa sẽ là Mùa Xuân vĩnh cửu của chúng ta.

Với những tư tưởng trên đây, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị em một năm mới bình an. Một năm ta ở lại trong Chúa và Chúa ở trong ta. Một năm vì thế mà tình yêu thương và hiệp nhất giữa chúng ta sẽ toả hương thơm Tin Mừng giữa quê hương ta, tại địa phương ta.

+ GM GB Bùi Tuần

‘Thuyền Nhân’ – ‘sống để kể lại’

‘Thuyền Nhân’ – ‘sống để kể lại’

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER, California (VN)Sinh hoạt tưởng niệm biến cố 30 Tháng Tư năm nay, lần thứ 40, thêm khởi sắc, với sự góp mặt của cuốn “Thuyền Nhân: Nước mắt Biển Ðông từ sau biến cố 30/4/1975,” tập truyện kể lại hành trình gian nan của 40 chứng nhân lịch sử, do Carina Hoàng biên soạn, và tủ sách Người Việt phát hành.


Hình bìa tác phẩm “Thuyền Nhân,” bản tiếng Việt, phát hành Tháng Tư, 2015. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Thuyền Nhân” là phiên bản Việt ngữ của cuốn “Boat People: Personal Stories from the Vietnamese Exodus 1975-1996,” xuất bản Tháng Giêng năm 2011. Ngay từ những ngày đầu tiên, “Boat People” đã được độc giả nồng nhiệt đón nhận, và gây tiếng vang đáng kể, như được trao huy chương Bạc – “2012 Independent Publisher Book Awards” – dành cho tác phẩm về “người thật việc thật” hay nhất trong khu vực Úc Châu và Tân Tây Lan năm 2012.

Dài hơn 250 trang, trình bày đẹp, như một tác phẩm nghệ thuật, với hơn 200 hình ảnh đầy màu sắc, nhiều hình ảnh chưa được phổ biến, “Thuyền Nhân” không chỉ là một tập truyện, mà còn là một pho tài liệu chứa đựng thủ bút, nhật ký, thư từ, điện tín và chuyện kể của 30 người tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu thuyền nhân Việt Nam, kể lại hành trình hãi hùng của họ và gia đình.

Với tựa như: “Sống để kể lại,” “Bữa ăn kế tiếp,” “Ðể được gặp lại Mẹ tôi,” “Tàu HG3438,” “Vĩnh biệt bà nội,” “Ðể cho cháu tôi được sống,” “Tưởng nhớ Mộng Hà,” “Con tàu Cap Anamur,” “Nhà tù nổi,”… mỗi câu chuyện là một đoạn phim sống động của tang thương, bão tố, đói khát, cướp bóc, chết chóc, tuyệt vọng, với cái chết gần kề, nhưng cũng là những câu chuyện về tình nhân loại trước nghịch cảnh, và quan trọng hơn cả, sức chịu đựng bền bỉ, và bản năng sinh tồn của con người.

Giới thiệu sách, ông Pete Peterson, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhận định: “Ðây là quyển sách phải được viết ra. Những câu chuyện ở đây lấp đi cái khoảng trống về lịch sử cận đại qua việc mô tả các trở ngại và hy sinh lớn lao của ‘thuyền nhân’ Việt Nam trên đường tìm nơi tị nạn chính trị… Carina Hoàng đã làm một điều đáng trân trọng khi xuất bản quyển sách này ghi nhận lịch sử đầy giá trị về nỗi thống khổ của thuyền nhân Việt Nam. Qua quyển sách này, ngày nay chúng ta đã biết sự thật.”

Trong khi đó, tờ Wanneroo Times viết: “Những câu chuyện, hình ảnh và minh họa trong quyển sách này sẽ làm ngay cả những kẻ có trái tim sắt đá phải bật khóc.”


Hình bìa tác phẩm “Boat People,” bản tiếng Anh, phát hành năm 2011. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Hãy đọc một đoạn mô tả thuyền nhân bị hải tặc cướp bóc:

“Một bà cụ bị bọn cướp biển yêu cầu đưa chiếc vòng đeo tay bằng đá quý. Bà đeo chiếc vòng này đã lâu và nay cổ tay bà to dần lên, không thể lấy vòng ra được. Chúng lấy cái búa tạ đập vỡ chiếc vòng. Bà cụ kêu gào đau đớn. Ai cũng hiểu, khi đập vỡ chiếc vòng, bọn cướp đập vỡ luôn cổ tay người mang nó. Bọn cướp biển tiếp tục lục soát trong 48 tiếng đồng hồ. Chúng liên tục hãm hiếp phụ nữ, trẻ và già, trong nhiều giờ liền… Chúng bắt tất cả đàn ông cởi trần cởi truồng rồi đứng xếp hàng một. Tất cả phải há miệng ra: Bọn cướp dùng kềm nhổ hết răng vàng. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được thứ âm thanh cuồng nộ ấy, tiếng rên rỉ, tiếng khóc than và lời van xin. Có cái gì đó như sự hận thù – thứ hận thù không bao giờ có thể quên được. Ðến lúc này thì chúng tôi mất hết ý chí sống còn. Ðàn ông khóc. Ðàn bà khóc. Riêng tôi, tôi tin là mọi người đang cầu nguyện để được chết, ngay bây giờ.” (“HG 3438” chuyện Cao Lưu, trang 71)

Và cảnh hãm hiếp:

“Chúng tôi bị lột bỏ quần áo một cách thô bạo khi chúng lục soát tìm những gì có giá trị. Ðàn ông bị bắt ở lại thuyền, chúng lùa hết phụ nữ lên thuyền của chúng… Trong năm ngày, chúng cưỡng hiếp những người phụ nữ và đám con gái (một cách) điên cuồng, hết lần này đến lần khác. Tất cả chuyện này xảy ra trước mắt một đứa bé trai 5 tuổi, và người em gái ba tuổi của cậu, cùng bị lùa lên thuyền với người mẹ đang run sợ… Khi những người phụ nữ trở lại thuyền, chúng tôi thấy quần áo của họ bị xé từng mảnh, cái rách rưới như thể là đã lấy đi từ họ bất cứ vết tích nào còn xót lại của phẩm giá.” (“Sống để kể lại” chuyện Mai Phước Lộc, trang 15)

Hay cảnh đối diện với chết chóc:

“Gần bốn trăm con người trên chiếc tàu đi hoài mà không thấy bến bờ. Thức ăn nước uống cũng cạn dần và nhiều người đã kiệt sức. Ðến ngày thứ sáu, điều mà mọi người lo lắng, mặc dù không dám nói ra, đã trở thành sự thật. Tử thần đã đến viếng chúng tôi. Nạn nhân đầu tiên là một người đàn ông gần bảy mươi tuổi. Người thân cho biết là ông chết vì ngộp thở và đói. Rồi đến một cụ bà ngoài bảy mươi… Tôi chưa bao giờ được nghe nói đến thủy táng, nên khi chứng kiến tận mắt, tôi bị ám ảnh trong một thời gian dài. Thân hình gầy gò của bà cụ được gói trong một tấm chăn nhỏ, rồi cuộn bên trong một tấm bạt nylon. Người ta xếp hai đầu tấm bạt lại rồi dùng dây buộc, giống như buộc một đòn gánh. Các con cháu của bà khóc lóc kêu gào thảm thiết. Hình ảnh mấy người con cố níu lấy xác bà khi hai người đàn ông chuẩn bị quăng xuống biển làm nát lòng người chứng kiến. Mọi người đều biết rằng nếu không được cứu vớt, hoặc không đến được đất liền sớm, thì sẽ còn nhiều xác chết khác bị quăng xuống biển, và không chỉ riêng người già.” (“Ðảo Ruồi” chuyện Carina Hoàng, trang 127).


Chủ biên tác phẩm “Thuyền Nhân,” Carina Hoàng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Ngoài chuyện kể thương tâm của những người vượt biển tìm đường sống, “Thuyền Nhân” còn có sự góp mặt của 10 người ngoại quốc, từng làm việc với thuyền nhân Việt Nam trong những trại tị nạn, như ông Talbot Bashall, làm việc 4 năm tại “Trung Tâm Kiểm Soát Người Tị Nạn” tại Hồng Kông, hay phóng viên Norman Aisbett và nhiếp ảnh David Tanner của tờ “The West Australia,” vào năm 1982, đã lên chuyến tàu Cap Anamur của Tây Ðức, để làm phóng sự về hành trình truy tầm và cứu giúp những người tị nạn của chiếc tàu này.

Ðoạn dưới đây làm người đọc rã rời:

“Như trong nhật ký hàng ngày và những ghi chép của tôi cho thấy, tình trạng của tòa nhà trong trại rất tệ, mái nhà bị rỉ dột, và nói chung rất thô sơ, nhưng nó lại là sự mãn nguyện lớn lao của những người tỵ nạn Việt Nam đã vượt qua bao khủng khiếp để đến được nơi này. Trong những trường hợp khủng khiếp được ghi lại trong nhật ký của tôi, có một chuyện nổi bật. Trên một chiếc tàu vừa đến, tôi nhìn thấy một cậu bé độ chừng 15 tuổi bị treo lơ lửng trên cột buồm. Cuộc thẩm vấn cậu bé sau đó cho biết em sắp đến lượt bị người trên tàu ăn thịt. Sau đó tôi tìm hiểu ra là em bị treo trên cột buồm vì người ta sợ em có thể nhảy xuống biển, và nếu thế thì sẽ mất đi nguồn cung cấp thực phẩm.” (“Lòng từ bi cũng rã rời” chuyện Talbot Bashall, trang 25).

Bà Carina Hoàng, cũng là một thuyền nhân, vượt biên và trốn thoát khỏi Việt Nam năm 1979, lúc 16 tuổi, cho biết, bà “dự định thực hiện cuốn sách này lâu rồi,” vì một ngày nào đó, những nhân chứng sống của lịch sử, trong đó có bà, “sẽ chết đi,” và có thể những thế hệ sau “sẽ không biết, không hiểu rõ” những gì cả triệu người Việt Nam đã phải “trải qua để đến bến tự do.”

“Cuốn sách sẽ đặc biệt có giá trị với những thế hệ người Việt mai sau. Họ cần biết về lịch sử rất quan trọng này của di sản mình, và cần đánh giá cao sự hy sinh của thế hệ cha ông.” Bà nói về lý do trước đây đã soạn cuốn “Boat People” bằng tiếng Anh.

Về lý do phát hành cuốn “Thuyền Nhân” bằng tiếng Việt, Carina Hoàng cho biết, để đáp ứng yêu cầu của nhiều độc giả, rằng “viết sách kể chuyện thuyền nhân cho đời sau thì đã đành rồi, nhưng cũng cần phải có bản tiếng Việt cho thế hệ chúng tôi chứ,” bà đã cùng với sự yểm trợ của nhiều thân hữu cố gắng cho ra đời “Thuyền Nhân” đúng dịp tưởng niệm 40 năm biến cố 30 Tháng Tư.

“Thuyền Nhân” là cuốn sách cần đọc để hiểu hoàn cảnh của những người vượt biên, để khép lại quá khứ, để hãnh diện tự hào về dân tộc Việt Nam, những người đã vượt qua nghịch cảnh, trở nên những thành viên có ích, đóng góp lại cho xã hội đã cưu mang mình.


BẤM VÀO ÐÂY ÐỂ MUA SÁCH

http://www.nguoivietshop.com/Thuy-x1EC1-Nh%C3%A2n-x1EDB-x1EAF/dp/B00WLD03VA

Nhớ người thương binh VNCH

Nhớ người thương binh VNCH

Nguoi-viet.com

Lê Châu
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

LTS Người viết bài này là một cựu nữ sinh từng tham gia nhiều hoạt động xã hội từ khi còn đi học và nay tiếp tục góp sức trong các công cuộc thiện nguyện. Cô tin rằng nói về những kỷ niệm của 40 năm quốc hận, cần phải nhớ đến các thương phế binh VNCH hãy còn sống ở quê nhà.


Hai thương phế binh VNCH trong dịp nhận quà và xe lăn do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trao tặng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Nước Mỹ, tháng 4 năm 2015

Bốn mươi năm sau cuộc đổi đời, những người dân miền Nam nước Việt còn trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới đang sống lại những tháng ngày hồi tưởng.

Ai đó đang hồi tưởng về Tháng Tư Ðen, về những tháng ngày đánh tư sản, đổi tiền, kinh tế mới, về bắt bớ, lao tù và học tập cải tạo. Nhưng cũng có ai đó đang có những phút lắng lòng để nhớ đến những người thương binh VNCH, những người trai của một thời ly loạn thuở nào, họ đã không may mắn phải bỏ lại chiến trường một phần thân thể.

Họ cũng thiếu may mắn nhận sự trợ giúp của chính phủ Mỹ để ra đi. Họ vẫn còn ở lại. Họ vẫn còn phải đối diện từng ngày với khó khăn, đói nghèo và cả sự bạc đãi của nhà nước mới.

Tất cả chúng tôi, những người ngày xưa được hưởng sự yên lành trong cuộc sống và sự an bình của cuộc đời hiện tại, đều xin được nhớ về các anh.

……

Hằng năm cứ vào mùa hè, Hội HO & Cứu Trợ Thương Phế Binh Quả Phụ Tử Sĩ VNCH và Trung Tâm Asia lại tổ chức đại nhạc hội tại Nam hoặc Bắc California để quyên góp một số tiền gởi về giúp các anh thương phế binh cùng cùng các quả phụ tử sĩ của người lính VNCH. Hành động này hy vọng đã nói lên được nghĩa cử của những người xa xứ lời “Cảm Ơn Anh.”

Phải, chúng tôi nơi đây không bao giờ quên các anh, chúng tôi sẽ cố gắng và còn cố gắng nhiều hơn nữa để một phần nào đền trả món nợ ân tình mà chúng tôi đã vay nơi các anh (dù các anh chưa một lần đòi trả).

Sau cuộc đổi đời, đã tròn 40 năm, ngót hơn nửa đời người, chắc hẳn các anh buồn nhiều lắm phải không? Chắc hẳn các anh đã bao lần tự trách, rằng xã hội này, quê hương này đã quên mình rồi…! Nhưng các anh ơi làm sao mà chúng tôi quên được, những người trai trẻ ngày nào đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, các anh đã không ngần ngại bỏ lại sau lưng gia đình, mẹ già, em dại, và đôi khi phải bỏ lại cả người yêu nhỏ bé để làm tròn bổn phận người trai thời ly loạn.

Nào Quang Trung, Dục Mỹ, nào Ðồng Ðế, Chi Lăng; nào là “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”…

Các anh có còn nhớ không, những mùa Xuân tiền đồn, những người em gái hậu phương chúng tôi đã thêu cho các anh từng chiếc khăn tay nhỏ, nắn nót viết cho các anh những lá thư xuân thắm đượm ân tình hậu phương. Và rồi những giọt nước mắt ân tình đã rơi thật nhiều lúc phải chia tay các anh khi mặt trời xế bóng. Tiền đồn heo hút, hoa mai vàng nở rộ và và màu xanh bộ quân phục của các anh đã nhòe trong mắt các em rồi – Xe chạy cuốn bụi mù, bóng các anh khuất dần sau những cánh rừng xa lắc đó. Ðâu có ai quên các anh.

Ðất nước Việt Nam mình triền miên chinh chiến, các anh phải xa trường, xa lớp, xa bạn bè, xa gia đình, để trở thành người lính cầm sung bảo vệ quê hương, để canh cho giấc ngủ trẻ thơ đêm đêm khỏi phải giật mình, để cho bước chân của các em nhỏ tung tăng vui vẻ đến trường, để cho mẹ bình an ra chợ sớm và cho cha trồng xới liếp rau xanh. Công khó của các anh làm sao mà nói hết…

Chiến tranh không phải là trò đùa, nhưng chính chiến tranh lại là trò đùa khắc nghiệt nhất khi mà cùng một mẹ sinh ra; Nhưng bên này “Anh lớn lên anh đi làm lính chiến, bảo vệ xóm, bảo vệ làng, bảo vệ giậu mồng tơi” – còn bên kia “Anh lớn lên anh đi làm giải phóng, giải phóng xóm, giải phóng làng, giải phóng giậu mồng tơi”… (Trích từ bài thơ “Giậu Mồng Tơi” của tác giả Giang Hữu Tuyên)

Rồi từ nghịch lý đó mà các anh cứ phải miệt mài với đời lính chiến, trên khắp mọi nẻo đường từ Nam ra Bắc mà chúng ta đi hoài không tới. Miền Nam thanh bình với đồng lúa phì nhiêu hay miền Trung nắng gió đất cày lên sỏi đá, các anh cứ phải miệt mài bảo vệ. An Lộc, Khe Sanh, cổ thành Quảng Trị, rồi Dakto, Charlie,… các anh đã đi qua, có anh đã nằm lại mãi mãi không trở về, hoặc có khi anh trở về trên đôi nạng gỗ.

Nước mắt mẹ hiền đã khóc thật nhiều cho các đứa con mình. Có những đứa con mẹ được vuốt ve cỗ quan tài phủ lá Quốc kỳ. Có những đứa con mẹ ngóng trông hoài không thấy tăm hơi. Còn anh, nước mắt mẹ đã rớt thật nhiều nhưng nào đâu có làm an lành được vết thương nơi chiến trận của anh. Anh trở thành thương binh, người thương binh VNCH.

Ngày đó chúng tôi nhớ ơn các anh, xã hội tri ân các anh và cuộc đời vẫn âm thầm trả ơn các anh từng ngày. Thế rồi một đêm thức dậy, chúng tôi đâu rồi? Xã hội nát tan. Cuộc đời đổi chủ. Các anh với tấm thân tàn phế làm sao vào cuộc để tìm kiếm miếng ăn. Sau cuộc chiến xã hội xếp hàng với những chia ly, tan tác, đói nghèo, thì người thương binh ngày nào còn có ai lo lắng cho nữa. Mùa Xuân 1975 đã trở thành mùa hạ để cho “Quê hương đau, nắng Hạ cũng buồn.”

Giờ đây các anh phải đi hát dạo, đi bán vé số để kiếm sống qua ngày. Hằng năm nơi đất nước Hoa Kỳ trong ngày Lễ Cựu Chiến Binh, có các người lính cũ với bộ quân phục ngày nào, trên ngực áo đầy huy chương đón nhận những vòng hoa, những tràng pháo tay và những cái cúi đầu – họ luôn nở nụ cười trên môi, rạng rỡ và hãnh diện vô cùng với màu cờ sắc áo…

Nhìn thấy họ tươi cười mà lòng quặn thắt khi nghĩ về các anh. Các anh cũng là người lính cũ, nhưng sắc áo, màu cờ, đâu rồi? Không còn ai choàng vòng hoa hay dành cho anh một cái cúi đầu với lời nói Cảm Ơn Anh. Ôi nỗi buồn không tên chỉ mình anh lặng lẽ ấp ủ!

Dạo đó vào thập niên ’80, có đôi lần chúng tôi gặp hai người thương binh đi hát dạo trên đường phố Sài Gòn. Anh thương binh cụt giò đàn cho anh thương binh mù hát bài ca “Giã từ vũ khí.” Một lần hỏi thăm và được nghe tâm sự, một anh nói rằng trong xã hội mới này mặc bộ đồ lính VNCH có người không cho tiền vì họ ghét, nhưng không sao, tiền dù có ít nhưng mình vẫn mặc được sắc áo của mình ngày nào để nhớ về một thời chinh chiến. Ôi chua xót quá, cũng là ý nghĩ về màu cờ sắc áo mà sao người thương binh VNCH của tôi có tâm tình buồn bã đến thế. Ðúng là “quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.”

Các anh ơi, giờ đây sau nhiều chục năm nơi đất lạ, chúng tôi đã có điều kiện để đền trả ơn anh. Một tập thể nhỏ của Trung Tâm Asia, một bà mẹ già với mái tóc bạc phơ, đang ngồi lại để cùng với tất cả những ai có lòng – tay góp bàn tay – chúng tôi đang chắt chiu thu góp từng đồng gởi về để phần nào giúp các anh nơi quê nhà khốn khó. Quê nhà là các anh. Cõi lạ là chúng tôi và chúng ta cùng chung một nỗi buồn…

Xin các anh an tâm, hãy vui lên vào những tháng năm cuối đời.

Chúng tôi nơi đây nguyện sẽ dùng nước mắt không phải để buồn để khóc, mà để rửa sạch những vết thương long cho các anh. Chúng tôi sẽ cố gắng đền trả ơn anh. Xin gởi về các anh những ân tình thắm đậm và lời cám ơn cao trọng nhất.

Tâm tư người xa xứ

Mùa Xuân California 2015

Động đất ở Nepal: Giám đốc Google tử nạn.


Đời là VÔ THƯỜNG

Động đất ở Nepal: Giám đốc Google tử nạn.

https://www.google.com/url?sa=i&rct=j&q=&esrc=s&source=images&cd=&cad=rja&uact=8&ved=0CAcQjRw&url=https://twitter.com/danfredinburg&ei=1gk-VZbOEMqSsAWmu4GwBA&bvm=bv.91665533,d.b2w&psig=AFQjCNGRxIammqenK6uV74ndJRzlCjKr4A&ust=1430215645463495

Không ai ngờ rằng bức ảnh chụp Dan Fredinburg trong bộ quần áo leo núi, lại dùng để thông báo về việc Giám đốc Google tử nạn do động đất ở Nepal.
Trong hình ảnh khủng khiếp về thảm họa động đất ở Nepal, cùng số người thương vong ngày một tăng, có lẽ việc chỉ đề cập tới cái chết của một cá nhân duy nhất sẽ trở thành điều sáo rỗng, và thậm chí có thể coi đó là sự vô tâm nữa.

Thế nhưng có lẽ người ta không thể không nhắc đến Dan Fredinburg, cũng như không thể giấu được sự bất ngờ, và thương xót cho một Lãnh đạo Google tuổi đời còn trẻ, và đang đứng ở trên bậc vinh quang của cuộc đời.

Dan Fredinburg bắt đầu làm việc cho Google từ năm 2007, và được xem là một Googler (cách gọi những người thuộc về Google) đích thực. Hiện tại Dan đang là người đứng đầu bộ phận về quyền riêng tư của Google X, một chi nhánh của tập đoàn Google chuyên về thực nghiệm và công nghệ tiên tiến.

Theo các đồng nghiệp làm việc cùng với Dan, anh là một người sống phóng khoáng, ưa thích việc khám phá, và phiêu lưu mạo hiểm. Có lẽ đó cũng chính là một trong những lý do để anh trở thành người phụ trách Google Adventure, một dự án hiện thực hóa Google Street View bằng cách đưa máy quay Street View của Google ghi lại hình ảnh thực của những địa điểm kỳ thú nhất của thế giới.

http://cms.kienthuc.net.vn/uploaded/hoangthuy/2015_04_26/dong-dat-o-nepal-giam-doc-google-tu-nan.jpeg 

Dan Fredinburg (thứ 2 từ trái sang) chụp trên núi Everest.

Tuy nhiên không ngờ trong lần chinh phục đỉnh núi Everest lần này, Dan đã không còn may mắn sống sót trở về, bởi một trận tuyết lở do dư chấn của trận động đất kinh hoàng ở Napal ngày 25/4.

Tom Briggs, người đã có mặt trong đoàn 4 người chinh phục Everest ngày hôm đó xác nhận: Dan bị chấn thương ở đầu bởi trận tuyết lở đã ập vào Trung tâm căn cứ của đoàn. Briggs cho biết rằng: cả đoàn đã nhìn thấy những trận tuyết lở ập xuống, và đã cố gắng chạy thật nhanh, chỉ đến khi vào được vùng an toàn, và dừng lại thì chỉ còn 3 người, trong đó không có Dan.

Dan là một người đàn ông có sức hút, sống thẳng thắn, và được tất cả các nhân viên ở bộ phận anh quản lý yêu mến. Những người trong đội phiêu lưu Jagged Globe mà Dan là một trong những thành viên chủ chốt luôn nhớ tới anh như là một nhân viên chuyên kể chuyện cổ tích, một tín đồ Instagram chuyên nghiệp, một doanh nhân tài giỏi, và là một người đã cực kỳ may mắn sống sót sau trận tuyết lở xảy ra ở thác đá Khumbu làm 16 người chết vào năm 2014.

Anh vốn là một Kỹ sư phần mềm được đào tạo bài bản để rồi giờ đây là một Giám đốc bảo mật của Google X, một Công ty tối mật với những ý tưởng thí nghiệm nổi tiếng nhất cho việc mang đến thế giới chiếc xe tự lái của Google. Ngoài ra, anh còn được giới truyền thông nhắc tới nhiều, khi đã là người tình một thời của nữ Tài Tử Hollywood Sophia Bush trước khi họ chia tay vào tháng 8-2014.

Dan từng lớn lên tại một trang trại ở Arkansas, nhưng đã sớm thể hiện sự ngang bướng của mình, khi anh quyết bỏ nhà đi từ năm 15 tuổi. Và có lẽ cũng chính sự ngang bướng đó đã khiến anh trở thành một trong những người đồng sáng lập ra Adventure Group như hiện nay.

Niềm đam mê lớn nhất của anh là những chuyến đi thám hiểm. Ngoài việc là người hay tìm tín hiệu 3G để check-in, và bật nhạc rap từ một chiếc loa gắn ở ngoài phía ba lô của mình, Dan còn biết chơi cờ Hổ và Dê – một phiên bản cờ Vua của dân địa phương, và luôn là người giành chiến thắng trong các cuộc thi leo núi.

Tin về Dan cùng đoàn thám hiểm trên núi Everest được cập nhật liên tục trên trang nhật ký của đoàn Jagged Globe. Trước khi xảy ra thảm kịch chỉ một ngày, Chris Groves, người chỉ huy cuộc thám hiểm đã đăng một bức ảnh chụp Dan cười tươi rạng rỡ trong bộ quần áo leo núi đặc biệt .

http://cms.kienthuc.net.vn/zoom/1000/uploaded/hoangthuy/2015_04_26/dong-dat-o-nepal-giam-doc-google-tu-nan-hinh-3.jpg 

Bức ảnh cuối cùng của Dan Fredinburg.

Để rồi cuối cùng không ai ngờ rằng nó lại trở thành bức ảnh được em gái của Dan dùng để thông báo về cái chết thương tâm của anh trên Instagram vào ngày sau đó.

Megan viết: “Tôi rất tiếc khi phải thông báo với tất cả những ai yêu mến anh ấy rằng: trong trận tuyết lở trên đỉnh Everest vào sáng sớm hôm nay, anh trai tôi đã bị chấn thương nặng ở đầu, và không qua khỏi. Chúng tôi rất cảm kích tấm lòng của mọi người đã gửi đến chúng tôi cho đến nay và chúng tôi biết rằng linh hồn, và tinh thần của anh vẫn sống mãi trong chúng ta !”.

Tất cả đều đã rất xúc động vì nụ cười của Dan trong tấm hình, và họ còn nói rằng: ngay cả tư thế và bộ trang phục mà anh mặc ngày hôm đó cũng rất hợp với anh, nó thể hiện sự rực rỡ, lôi cuốn, và phong thái phóng khoáng, ưa mạo hiểm của con người anh. Và đó cũng là một hình ảnh đẹp nhất mà tất cả những người yêu thương anh có thể mãi nhớ về một Dan Fredinburg – một Googler đích thực.

Theo Huyền Trân/VTC News.