Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Song Chi.

+Nhân ngày Báo chí “cách mạng” VN 21.6.

Đặc điểm của báo chí trong một chế độ độc tài: không đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên mà phải đặt quyền lợi của chế độ đang cai trị đất nước trên tất cả, “ông chủ” của những nền báo chí ấy không phải là nhân dân, bởi vì nó không phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân, nhất là những con người bé nhỏ không thể cất tiếng nói trong xã hội như tầng lớp lao động, những người nghèo, bất hạnh, phận con sâu cái kiến… mà phục vụ trước hết là giai cấp cầm quyền, sau đó là những kẻ có tiền.
Báo chí ở VN dưới chế độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm quyền suốt bảy thập kỷ qua, là một nền báo chí như vậy. Nó phải phục vụ cho sự tồn tại của chế độ, của đảng cộng sản, chịu sự kiểm duyệt, cầm tay chỉ việc của Ban Văn hóa Tư tưởng, Ban Tuyên giáo Trung ương.…
Ngay cả bây giờ, ở thời điểm năm 2015, so sánh với báo chí của chế độ VNCH đã bị “bức tử” từ 40 năm trước, báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN vẫn thua xa hàng dặm về mức độ tự do, dân chủ.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, báo chí “cách mạng” VN nhìn chung đã thừa hưởng, tiếp thu được nhiều tố chất của nền báo chí ở miền Nam, nếu so với báo chí ở miền Bắc trước năm 1975 không chỉ sặc mùi tuyên truyền đậm đặc mà còn khô cứng, nghèo nàn, đơn điệu, quê mùa từ phần trình bày, kỹ thuật in ấn, phông chữ, cung cách đưa tin, viết bài. Báo chí sau 1975 hiện đại hơn từ kỹ thuật, cho đến cung cách làm báo. Sau khi ‘đổi mới” và đời sống kinh tế có khá lên thì báo chi càng “khởi sắc” hơn với đủ loại báo ngày, tập san, nguyệt san, tạp chí, báo ảnh… đẹp đẽ bắt mắt về hình thức, và “tự do” hơn trong việc khai thác những khía cạnh đời thường của các nghệ sĩ, những người nổi tiếng, những khía cạnh vật chất của cuộc sống-một điều hoàn toàn không hề có so với báo chí miền Bắc trước năm 1975.
Nhưng sự thay đổi bề ngoài ấy không hề thay đổi cái bản chất, cái mục đích chính của báo chí trong chế độ cộng sản. Đó là phải tuyên truyền, bảo vệ chế độ, có tính định hướng rõ ràng, phải là “vũ khí” của đảng.
Chỉ có điều, báo chí bây giờ lại có thêm một khía cạnh tệ hại thứ hai là xu hướng “lá cải hóa” tràn lan, nhất là những tờ báo mạng, tập san, tạp chí, báo ảnh, phụ trương…Hoặc khai thác tỉ mỉ những yếu tố giật gân trong những vụ án cướp giết hiếp xảy ra hàng ngày trong xã hội và cả trên thế giới, hoặc chạy theo khai thác đời tư những người nổi tiếng, giới showbiz…
Hãy thử lướt qua hàng chục, hàng trăm tờ báo mạng, hoặc cầm trên tay hàng chục những tờ phụ trương, tạp chí bắt mắt bày đầy trên các sạp báo, chúng ta sẽ thực sự lo ngại, thậm chí rùng mình vì kinh hãi. Vì sao người ta có thể vô lương tâm, vô trách nhiệm đến thế khi cho ra đời những bài báo, tờ báo như vậy, và mức độ ‘lá cải’ này chỉ có tăng lên trong những năm qua chứ không hề có dấu hiệu giảm sút, mặc cho dư luận nhiều lần lên tiếng bất bình, phẫn nộ, mặc cho nhiều cuộc hội thảo của người trong nghề về tình trạng này.

Là một người cũng từng nhiều năm làm báo trong môi trường VN trước khi rời nước ra đi và bây giờ vẫn tiếp tục viết lách với tư cách một người viết tự do, tôi không lạ gì bầu không khí làm báo ở VN, những giới hạn “đèn vàng” mà người làm báo không thể vượt qua, sức ép đối với những người làm báo chân chính khi muốn viết lên sự thật, và một sức ép khác là phải bảo đảm yêu cầu có người đọc.
Trừ những tờ báo đảng như Nhân Dân, Quân đội nhân dân…báo chí VN nói chung cũng phải tự cân đối, tự thu tự chi bằng nguồn bán báo và nguồn thu từ quảng cáo, nhất là những tờ báo online chỉ sống hoàn toàn bằng quảng cáo, nên phải tính đến yếu tố “câu khách”. Từ sự thúc bách phải có người đọc, nhiều tờ báo đã chạy theo khai thác tối đa những đề tài giật gân như vừa nói trên.
Các nước tự do dân chủ cũng có báo “lá cải”, kể cả báo khiêu dâm. Nhưng ở các nước ấy có những quy định rất chặt chẽ về đạo đức nghề báo, có luật pháp rõ ràng, và nếu nhà báo vượt quá giới hạn hoặc viết ẩu, viết bậy thì cá nhân hoặc tập đoàn nào là “nạn nhân” sẽ kiện ra tòa và không chỉ phóng viên mà cả ban biên tập, chủ bút, cả tờ báo đó cũng bị phạt một cách xứng đáng. Còn ở VN, nếu một cá nhân hay một công ty nào bị một phóng viên vì lý do nào đó viết ẩu, viết sai, thậm chí vu khống, bôi nhọ, lắm khi cũng chẳng muốn kiện vì có kiện cũng chưa chắc đã được gì, mà chỉ mất thì giờ, mệt mỏi thêm. Với tâm lý ấy người ta thường đành là cho qua, và các nhà báo vô lương tâm hoặc yếu kém về tay nghề cứ vậy mà tồn tại, tiếp tục viết bậy!
Từ khi internet phát triển, rồi blog, các trang mạng xã hội và những tờ báo ngoài luồng, những tờ “dân báo” ra đời, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của dòng báo chí ngoài luồng và các trang mạng xã hội này đối với một bộ phận người dân và ngay cả đối với báo chí “chính thống” ra sao. Nhiều người đã được “mở mắt” thức tỉnh từ khi đọc báo bên ngoài, biết được những sự thật về lịch sử, về xã hội, về chế độ mà đảng và nhà nước cố tình bưng bít, bóp méo bao lâu nay. Con số người bỏ không đọc, không tin vào báo đảng, ngược lại theo dõi thường xuyên các tờ báo bên ngoài, các trang mạng xã hội ngày càng nhiều. Ngay báo chí “chính thống” của nhà nước cũng bị tác động bởi báo ngoài luồng.
Bất cứ một thông tin dối trá, một bài viết tuyên truyền sặc mùi tuyên giáo, một hành động phản cảm hay một lời phát biểu dốt nát, ngu xuẩn của một ông quan bà nghị nào đó, những chi tiết sai sót, phi lý của một vụ án oan hay một vụ án có tính chất chính trị, một điều luật, chính sách ngớ ngẩn mới được thông qua…tất cả đều nhanh chóng bị đưa ra mổ xẻ trên các tờ “dân báo”, các trang mạng xã hội. Không chỉ một hai lần, báo chí “chính thống” phải điều chỉnh hoặc âm thầm gỡ bài khi bị báo ngoài luồng “bóc mẽ” những sự dối trá, sai sự thật.

Không ít nhà báo đang ăn lương ở một tờ báo nào đó vẫn theo dõi báo bên ngoài và nhiều khi lấy tin từ các báo, blog bên ngoài hoặc lặng lẽ thay đổi quan điểm trong một bài viết của mình. Còn các quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước VN, không rõ họ có bao giờ dám đọc báo ngoài luồng không, nhưng có một điều chắc chắn là họ hiểu được “tác động” của dòng báo chí đó dối với chế độ và họ lo ngại. Ngược lại, con số blogger, nhà báo tự do bị xách nhiễu, bị hành hung, bị tống giam vào tù với những bản án cực kỳ khắc nghiệt vì những bài blog, bài báo của mình ngày càng nhiều, đã đưa VN vào trong danh sách những quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất, là kẻ thù của internet. Những blogger, nhà báo tự do ấy đã phải trả một cái giá không hề rẻ cho việc viết lên sự thật, với khao khát cung cấp những thông tin đa chiều cho người dân VN.
Họ là những anh hùng. Còn những nhà báo anh hùng khác nữa, là những nhà báo vẫn đang làm việc cho một tờ báo của nhà nước, nhưng cố gắng không trở thành bồi bút hoặc không góp phần “ xả rác” vào xã hội bởi những tin bài của mình.
Tôi vô cùng khâm phục những nhà báo tử tế, chân chính còn sót lại giữa làng báo thiếu vắng tự do dân chủ và tràn ngập những cướp, giết, hiếp, mông đùi hở hang…như ở VN.
Những nhà báo ấy đã phải xoay sở tìm cách “lách” sao cho thông tin thuộc loại “nhạy cảm” về mặt chính trị xã hội có thể đến được với người đọc, hoặc ít nhất, viết cách nào đó để người đọc có thể đọc và hiểu giữa hai hàng chữ những gì người viết thực sự muốn nói. Họ đã phài tận dụng những cơ hội hiếm hoi khi báo chí được “thả lỏng” giây lát. Ví dụ như trong mối quan hệ phức tạp và bất tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung, đôi khi quan hệ giữa hai bên trở nên xấu đi và nhà cầm quyền VN cảm thấy cần phải để báo chí “xả” một chút, hoặc để báo chí chuyển tải thông điệp về tình trạng xấu đi đó đến nhà cầm quyền Trung Quốc. Báo chí được dịp đưa những thông tin như tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí VN, tàu TQ rượt đuổi, cướp bóc, đánh chìm tàu cá của ngư dân Việt, hay Trung Quốc đang cấp tập xây cất, biến các bãi đá ngầm trên biển Đông thành những hòn đảo nhân tạo và những căn cứ quân sự nguy hiểm trong tương lai như thế nào…
Những lúc ấy báo chí khởi sắc hẳn lên, nhiều bài báo mạnh mẽ lên án Trung Quốc, các nhà báo lúc ấy đang thực sự đứng về phía người dân VN, nói lên tâm trang uất ức, phẫn nộ, tình cảm thật sự của người dân VN đối với nhà cầm quyền Trung Quốc và những chinh sách bành trướng, xâm lược, mưu mô thâm độc của họ.
Tất nhiên, những lúc mở xả như vậy rất hiếm hoi và có thể lại đóng lại bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền cảm thấy có thể làm cho Bắc Kinh tức giận hoặc nếu những người lãnh đạo Trung Nam Hải lại tìm được cách nào đó vừa xoa dịu vừa khống chế đám lãnh đạo cao cấp nhất của VN.
Lảm báo ở VN khốn nạn như vậy đấy.
Bên cạnh đó là rất nhiều người cũng mang danh nhà báo nhưng không hề mảy may động lòng trước hiện trạng đất nước, dân tộc cũng như viễn cảnh không mấy sáng sủa của VN trước tham vọng ngày càng rõ và quyết tâm ngày càng sắt đá của Bắc Kinh. Những dạng ấy nhiều lắm. Hoặc tiếp tục bưng bô nịnh bợ chế độ, tuyên truyền những điều dối trá về đảng và nhà nước cộng sản, về lịch sử, hiện tại và cả tương lai, điên cuồng chống lại con đường tốt đẹp hơn cho VN là thoát khỏi chế độ độc tài độc đảng lạc hậu và gây hại cho đất nước cho dân tộc như lâu nay. Hoặc chỉ chăm chăm khai thác những đề tài “cướp, giết, hiếp”, mông đùi, đời tư người nổi tiếng, cổ vũ cho lối sống chạy theo bản năng của con người, chạy theo vật chất, nhà lầu, xe hơi, thời trang hàng hiệu khi suốt ngày viết “thiếu gia” này mới tậu con xe tiền tỷ, diễn viên kia sắm nhà lộng lẫy, người mẫu nọ có bồ là đại gia tiêu tiền như nước, hoa hậu kia khoác lên người bộ cánh hàng chục ngàn USD, đeo chiếc nhẫn kim cương “khủng”…
Không ai hồ nghi gì về sức mạnh của báo chí. Sức mạnh ấy nếu được đặt vào những nhà báo chân chính có tài có đức, trong một môi trường báo chí tự do dân chủ, có thể tạo ra những thay đổi biến chuyển theo chiều hướng tích cực cho xã hội, cho đất nước. Và ngược lại. Trong một xã hội độc tài và tôn thờ đồng tiền như VN hiện nay, báo chí không thể làm tốt được chức năng tôn trọng sự thật, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân, ngược lại ngày càng biến tướng và tệ hại.
Nhiều người làm báo không lương tâm khi đưa ra một vụ án chưa thực sự khởi tố, người bị tình nghi vẫn chưa bị kết tội đã thay mặt tòa kết án người ta, giết chết người ta về mặt uy tín xã hội. Có những bài báo khi viết về những vụ án hiếp dâm, đã không thèm che mặt nạn nhân hoặc có làm mờ và ghi tắt tên nhưng lại đưa những thông tin về trường học, cơ quan hoặc đưa hình ảnh nhà cửa khiến những người nào biết nạn nhân có thể dễ dảng đoán ra. Nhất là những vụ án mà nạn nhân hay người phạm tội là trẻ vị thành niên, cuộc đời vẫn còn dài trước mắt, sẽ sống ra sao sau khi vụ án đi qua.
Có những bài báo khai thác nhiều kỳ một vụ án giết người không chỉ từ lúc kẻ thủ phạm ra tay thủ ác mà cả quãng đời trước đó và sau đó trong trại giam, thông tin về cha mẹ người yêu hay vợ, chồng được đưa tuốt lên mặt báo. Hay vụ những người mẫu bán dâm, báo chí khai thác tối đa, phỏng vấn cả chồng, mẹ chồng tương lai của một người mẫu trong số đó, cuộc đời người mẫu này coi như không còn có cửa làm lại, cho dù sau khi mãn hạn tù. Và vô số những ví dụ về những cách đưa tin bài thiếu lương tâm như vậy mà chúng ta có thể bắt gặp tràn ngập trên báo chí VN.
Chưa nói đến khía cạnh lớn hơn là dối trá, bóp méo sự thật. Biết bao nhiêu sự dối trá trong suốt chiều dài nắm quyền của đảng cộng sản mà nhờ có internet, báo chí bên ngoài, người dân VN mới biết được, nhưng vẫn còn rất nhiều thông tin nằm trong bóng tối chưa bị lộ ra.
Một môi trường làm báo thiếu vắng tự do, đầy nghịch lý, những kẻ bồi bút bưng bô chế độ thì leo cao, hưởng mọi vinh quang phú quý, những người viết sự thật thì bị xách nhiễu, buộc thôi việc, hoặc bị tù; những kẻ viết tin bài vớ vẩn lá cải thì sống khỏe còn những nhà báo chân chính thì đau khổ vì không thể viết được theo đúng lương tâm mình.

Trong một môi trường như vậy, những người làm báo chỉ còn lại sự đối diện với chính mình. Rằng trước khi đặt bút viết bất cứ cái gì, tự hỏi mình bài viết ấy sẽ phục vụ cho ai, cho đất nước, nhân dân hay cho nhà cầm quyền, có lợi cho đất nước hay có hại; đối với những bài viết có liên quan đến số phận con người cụ thể, thì cuộc sống của họ sẽ ra sao sau khi bài báo được đưa ra. Nếu làm được như thế tin rằng những bài viết dối trá, bóp méo sự thật lịch sử, nhằm nịnh bợ chế độ và làm ngu dân, hay những bài viết dễ dãi khai thác phần bản năng của con người, sẽ có thể bớt đi.
Mọi vinh hoa phú quý, danh hiệu nhận được từ chế độ chả có nghĩa lý gì. Sự phán xét lâu dài của lịch sử, của nhân dân mới là sự phán xét mà không một ai có thể tránh được.

CÁCH SỐNG NGHÈO CỦA ĐỨC THÁNH CHA VÀ ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

CÁCH SỐNG NGHÈO CỦA ĐỨC THÁNH CHA VÀ ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

Tác giả: Micae Bùi Thành Châu

Cung cách của vị Giáo Hoàng đương nhiệm chắc có lẽ cũng đã để lại những ấn tượng, những suy nghĩ. Trên những ấn tượng, những nghĩ suy có lẽ là những lời thúc bách, bài học thực tiễn cho mỗi Kitô hữu.

Đức Thánh Cha đã khẳng định Giáo Hội là Giáo Hội của người nghèo. Trong tâm tình đó và thực tiễn của cuộc sống ta thấy đó là một sự thật bởi lẽ đa phần thành viên của Giáo Hội là những người nghèo, những người buôn gánh bán bưng, những anh chị em di dân xa quê nghèo …

Người nghèo dường như lúc nào ở bên cạnh ta như Chúa nói. Đơn giản như Sài Thành này mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông” nhưng còn đó quá nhiều căn nhà ổ chuột cũng như những cái chòi nhỏ chen chúc cả chục người trong một gia đình.

Sài Gòn mà còn như thế thì những tỉnh lẽ, những vùng sâu vùng xa thì cuộc sống chắc hẳn gặp nhiều khó khăn hơn nữa.

Dự Thánh Lễ ở nhiều nơi, ta vẫn thường thấy nhiều nhà thờ ở nhiều vùng xa đến để xin quyên góp về xây dựng nhà thờ của mình. Nhưng, tôi tưởng nghĩ cũng nên nghĩ đến những con người nghèo không có nơi cư ngụ, không có một mái nhà đúng nghĩa để che nắng che mưa.

Vẫn biết có nhiều nhà thờ, nhiều hội đoàn, nhiều cá nhân nữa đã làm việc bác ái rất nhiệt tình. Thế nhưng, tôi lại nghĩ đến thân phận của những con người nghèo không có chỗ dung thân. Nhiều nơi trong xã hội cũng đã nổ lực, cũng đã cố gắng có những chương trình nhà tình thương. Tôi thấy đây là một việc làm thiết thực và nên nhân rộng ra ở các xứ đạo thì chuyện chia sẻ tình thương đó được thiết thực hơn.

Đơn giản như ở Sài Gòn có hơn 200 ngôi Thánh Đường. Chỉ cần mùa Chay hay dịp nào đó cả giáo xứ cùng chung tay giảm bớt chi tiêu thì có thể làm được một số không nhỏ cho các giáo phận có nhiều người nghèo khổ.

Tính theo thời giá hiện tại thì bình quân 1 căn nhà tình thương có giá khoảng 50 triệu đồng. Và với giá như vậy, cả một giáo xứ lớn như nhiều giáo xứ ở Sài Gòn quả là điều không khó. Khó với một người nhưng dễ khi có nhiều bàn tay góp lại.

Có như thế, mỗi năm chia sẻ cho những giáo phận thiếu thốn thì dần dần sẽ cho những người nghèo có được mái ấm để dung thân hơn. Cứ từ từ và dần dần lên chương trình “Người nghèo có chỗ ở” chắc chắn sẽ phần nào chia sẻ nỗi đau cho những gia đình nghèo ở các giáo phận. Hay, có thể là một giáo xứ nào đó ở Sài Gòn “đỡ đầu” cho một giáo xứ, giáo điểm vùng sâu thì sẽ phần nào giúp cho những người nghèo bớt nghèo hơn.

Khi bắt tay vào chương trình này, Giáo Hội sẽ làm một cách công tâm và thiết thực, nhất là không biệt lương giáo. Khi ta làm như thế, mọi người sẽ cảm và sẽ nhận thấy thật sự là một Giáo Hội nghèo đang ở giữa lòng xã hội.

Giáo Phận Sài Gòn nói một cách nào đó có đời sống kinh tế nhỉnh hơn so với nhiều giáo phận khác. Đứng trước cung cách sống nghèo, lời mời gọi sống nghèo của Đức Thánh Cha, Giáo phận Sài Gòn nên chăng làm một điều gì đó thiết thực để hưởng ứng lời mời gọi của Đức Thánh Cha.

Dĩ nhiên cuộc sống còn có quá nhiều việc để làm, có quá nhiều người để chia sẻ nhưng nếu nhiều bàn tay góp sức, nhiều giáo xứ cộng lại sẽ giảm đi được nỗi đau của những người không có một nơi ở xứng đáng.

Dĩ nhiên chuyện cần hơn cả là xây dựng nhà thờ, nhà dòng, nguyện đường … nhưng có khi những người xây đã lạm dụng là xây quá hoành tráng, xây với kinh phí quá cao, xây với lòng cao ngạo hơn thua.

Tôi nghĩ đôi khi Giáo Hội cần phải hành động, cần phải tiên phong một cách thiết thực để chia sẻ với người nghèo. Có như thế, ta mới đồng hành, mới hưởng ứng, mới noi gương vị cha chung Phanxicô của chúng ta được.

Khi sống và hành động như thế, phải chăng đó là cách truyền giáo, cách chia sẻ thiết thực nhất mà Thiên Chúa muốn.

Micae Bùi Thành Châu

Kinh doanh ở VN: Lời hay lỗ đều phải hối lộ cho cán bộ thuế

Kinh doanh ở VN: Lời hay lỗ đều phải hối lộ cho cán bộ thuế

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Để tránh bị hạch sách và yên ổn sản xuất kinh doanh, các chủ doanh nghiệp ở Việt Nam buộc phải “biết điều” với cán bộ thuế.

Doanh nghiệp và người dân khi đi làm thủ tục đóng thuế phải hối lộ cho
cán bộ thuế. (Hình: Thuvienphapluat)

Ngày 21 tháng 6, Tuổi Trẻ dẫn kết quả khảo sát của trung tâm nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng trong đề tài “nguy cơ tham nhũng trong khu vực hộ kinh doanh tại Việt Nam” cho thấy, trong 500 hộ kinh doanh được khảo sát, có 1/3 đồng ý hoàn toàn về việc thường “dàn xếp” với cán bộ thuế để phải nộp mức phạt thấp hơn và không lấy biên lai; 14% cho biết họ phải nộp thuế ít hơn nếu biếu quà cho cán bộ thuế.

Bồi dưỡng để công việc được thuận lợi, nhanh chóng, chứ không là thế nào cán bộ thuế cũng tìm ra sai phạm rồi làm khó dễ mình. Chỉ những người làm kinh doanh mới thấy được nỗi cay đắng, của hộ kinh doanh và doanh nghiệp khi bị cán bộ thuế và quản lý thị trường “hỏi thăm,” nhiều chủ doanh nghiệp đã cho biết như vậy về việc tại sao phải “lót tay” cho cán bộ thuế.

“Một năm hai lần cứ đến tháng 6 và tháng 12, chúng tôi lại được cán bộ gọi điện để… hỏi thăm sức khỏe. Và dù muốn hay không, vui hay buồn, thua lỗ hay lời to, chúng tôi vẫn phải ‘gặp’ các vị nếu không chỉ có con đường bị làm khó mà thôi,” ông Sơn, chủ doanh nghiệp nhựa ở Chợ Lớn nói.

Còn chị Ngọc, chủ một doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc cho biết, “Mình muốn cán bộ thuế xông xáo thì phải “tốt” với họ. Cái nào cũng có cái giá của nó. Nếu không ‘bồi dưỡng’ khi gặp khó khăn về thuế họ không hướng dẫn nhiệt tình. Tuy nhiên, mỗi năm, lại có nhiều quy định mới, do không theo kịp nên chắc chắn doanh nghiệp cũng vướng vài sai phạm.”

Còn anh Hoàng, một chủ trang trại heo ở Long An cho biết, “Chỉ cần không ‘bồi dưỡng’ thử một lần đi rồi sẽ thấy năm đó tự dưng ‘lòi’ ra bao nhiêu sai phạm. Làm kinh doanh phải tính chuyện lâu dài, tính đến lợi nhuận nên thà bỏ ra chút ít vẫn tốt hơn là bị cán bộ ‘để ý’ doanh nghiệp của mình.”

Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, có 63% hộ kinh doanh tại 8 tỉnh lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ… được khảo sát tin rằng, việc thông đồng, cấu kết, vòi tiền trong ngành thuế luôn diễn ra. Không ai tin rằng hiếm hoặc không diễn ra thực tế này.

Theo ông Đặng Hoàng Giang, trung tâm phát triển cộng đồng, chủ đề tài khảo sát trên thì, hộ kinh doanh đóng thuế chỉ là đóng lấy lệ, một phần để chia cho cán bộ thuế. Các hộ kinh doanh khi bị nhũng nhiễu thường không tố cáo vì họ cho rằng có tố cáo cũng không có kết quả.

Sở dĩ xảy ra tình trạng này là do thông tin về mức đóng thuế rối rắm, biểu thuế và việc áp dụng các mức thuế nào cho đối tượng nào không rõ ràng nên hộ kinh doanh không nắm được. Việc người dân không tin các khiếu nại, tố cáo của mình được giải quyết nên họ tìm cách thông đồng đút lót cho cán bộ thuế để hai bên cùng có lợi.

Trả lời Tuổi Trẻ, ông Ngô Trí Long, nguyên viện phó Viện Nghiên Cứu Thị Trường Giá Cả xác nhận: Hiện nay, thuế là một trong những mảnh đất màu mỡ cho tội phạm tham nhũng. Bằng chứng là ngành thuế luôn “hot,” mỗi khi thi tuyển luôn có hàng ngàn người xếp hàng tham gia. (Tr.N)

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-06-19

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Untitled-1.jpg

Người già cầm xấp vé số trên tay ở Sài Gòn

RFA photo

Your browser does not support the audio element.

Sài Gòn như một điểm dừng không thể đi thêm được nữa của người lao động nghèo. Mặc dù Sài Gòn đất chật người đông nhưng có vẻ như bất kì người lao động từ miến Bắc, miền Trung hay miền Tây Nam Bộ nào khi đi tìm đất hứa đều nghĩ đến Sài Gòn. Có người vào Sài Gòn để làm thuê, phụ hồ, chạy xe ôm, chạy xe ba gác, người ít vốn, không đủ sức khỏe thì đi buôn đậu phộng rang, đi bán me xoài cốc ổi, bán trái cây dạo. Và những người quá nghèo, vốn liếng duy nhất có thể cầm cược với người khác là thẻ căn cước thì họ sẽ dùng thẻ căn cước cầm cho đại lý vé số để mang vé số đi bán mỗi ngày.

Đất chật người đông, cạnh tranh khốc liệt

Việc bán vé số trên đất Sài Gòn thời kinh tế khó khăn nghe ra hết sức chật vật, cạnh tranh khốc liệt mà trong cuộc cạnh tranh này, người nghèo bao giờ cũng thua thiệt nhiều thứ. Có một điểm chung là đa phần người lao động Quảng Nam và Quảng Ngãi đều chọn nghề bán vé số trên đất Sài Gòn để sống qua ngày. Và nếu như thử dạo một vòng trên các quận Sài Gòn, dễ dàng bắt gặp người bán vé số gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi chiếm số đông, sau đó đến người Bình Định, Phú Yên và thi thoảng gặp một vài người đến từ miệt Tây Nam Bộ.

Một người bán vé số tên Lý, đến từ Thăng Bình, Quảng Nam, chia sẻ: “Một bữa thì kiếm bảy chục, bốn chục, năm chục kiếm tiền qua bữa. Nếu mình đau thì họ cho một lon sữa hoặc Tết thì có chai dầu với gói bột ngọt. Giờ đi không nổi, xa quá mỏi chân đi không nổi bằng mấy đứa con gái nó mạnh. Buổi sáng thì ăn bánh mì năm ngàn, hoặc tô bún, nếu có tiền thì ăn mười ngàn, không có thì ăn năm ngàn, bảy ngàn giống ổ bánh mì. Buổi trưa cũng ăn cơm năm ngàn nếu họ không bán thì mua bảy ngàn. Bữa nay họ ít trúng nên họ ít mua, bán không ra, đi chết người luôn.”

Theo bà Lý, hiện nay, số lượng người Quảng Nam, Quảng Ngãi đi bán vé số trên đất Sài Gòn chiếm rất đông, họ sống tập trung ở các khu nhà trọ trong quận Tân Bình và Gò Vấp. Sở dĩ người bán vé số sống tập trung ở hai quận này vì đây cũng là hai địa điểm có người miền Trung định cư trên đất Sài Gòn nhiều nhất. Chỉ riêng khu xóm chợ Bà Hoa, Tân Bình đã có đến vài trăm người Quảng Nam, Quảng Ngãi vào trọ để bán vé số.

Cũng trong khu vực này, chiếm hầu hết là người Quảng Nam định cư, chính vì có nhiều đồng hương đi trước, đã ổn định ở nơi đây nên những lao động nghèo đã chọn đất Tân Bình và Gò Vấp như một chỗ dựa lúc sa cơ lỡ vận mặc dù tình đồng hương ở đây cũng không giúp được gì cho họ. Nhưng dẫu sao, có chung giọng nói, thói quen và quê cũ cũng giúp những người tha phương cầu thực cảm thấy ấm lòng nơi đất khách quê người.

Nhưng cũng theo bà Lý, cuộc cạnh tranh trong nghề bán vé số càng lúc càng trở nên khốc liệt, đôi khi chính các đồng hương với nhau trở thành đối thủ đáng sợ của nhau. Ví dụ như một người Quảng Nam hay Quảng Ngãi đã ổn định, có nhà cửa nơi Sài Gòn sẽ dễ dàng trụ lại trong cơn lốc kinh tế trượt dốc. Một người thất nghiệp chỉ cần bày một chiếc bàn trước cửa nhà, nhận một loạt vé số về bán và khi bán họ sẽ có chế độ ưu đãi đặc biệt cho khách hàng, sẽ hút khách gấp nhiều lần so với người đi bán dạo.

Ví dụ như trường hợp khuyến mãi một cặp vé 50 tờ, nếu trúng hai số cuối của giải đặc biệt sẽ được nhận 500 ngàn đồng. Nếu làm một phép toán kinh tế, chuyện này rất đơn giản. 50 tấm vé loại 10 ngàn đồng, người bán sẽ lãi được 50 ngàn đồng theo mức hoa hồng 10%. Và khi bán xong cặp vé 50 tấm, đại lý chỉ cần gọi điện thoại cho số đề, ghi hai số cuối của cặp vé vừa bán theo diện đầu đuôi hoặc theo diện đuôi chừng 20 ngàn đồng.

Nếu tối đó xuất hiện hai số cuối trong giải đặc biệt, đại lý vé số sẽ trúng đề được từ bảy trăm ngàn đồng nếu ghi đầu đuôi đến một triệu bốn trăm ngàn đồng nếu chỉ ghi số đuôi. Như vậy, vẫn lãi được 30 ngàn đồng từ hoa hồng mà vẫn dư được 200 ngàn đồng hoặc 400 ngàn đồng nếu xuất hiện hai số đuôi, sau khi đã thanh toán giải thưởng cho khách.

Chính nhờ lợi thế ngồi tại chỗ, bán cặp lớn và thu hút được những khách hàng chịu chơi bởi số lượng vé nhiều, phong phú, khác xa với người đi bán dạo chỉ có lèo tèo một đến hai trăm vé, trong đó gánh cả tiền thuê phòng trọ, tiền ăn, tiền tích lũy phòng khi đau ốm, tiền gửi về giúp đỡ gia đình ngoài quê. Nói theo cách gì, người bán vé số dạo cũng không thể nào cạnh tranh nổi với các điểm bán cố định.

Thu nhập ngày càng teo tóp

veso-400.jpg

Một người bán vé số đang mời khách. RFA photo

Một người bán vé số tên Nhường, đến từ Quảng Ngãi, hiện trú ngụ tại Gò Vấp, Sài Gòn, chia sẻ: “Tuổi già mà đi bán vé số là bất đắc dĩ vì cuộc sống mà phải làm, chứ nắng thế này đi đau đớn lắm. Vì không có con cháu, không có nhà cửa nên phải ở nhờ nhà họ. Bữa trưa gặp dọc đường thì ăn đại một miếng.”

Theo ông Nhường, việc đi bán vé số mỗi ngày, nếu nói lãng mạn một chút là đánh cược sự may mắn cho một ai đó thì cũng là việc đánh cược sự may mắn và sức khỏe của bản thân với nắng mưa, với xe cộ ngược xuôi và với bản thân mỗi ngày thêm mệt mỏi, rời rạc, hết muốn sống.

Nhưng con người, một khi còn thở thì còn phải biết lăn lê ngoài đời để kiếm ăn. Mặc dù với tuổi đời thuộc vào dạng “cổ lai hy” nhưng ông không có nơi nương tựa, nếu nghỉ bán vé số cũng không có gì để ăn, không có chỗ để ở. Ông có mệt cũng phải bước ra đường mà mời từng tấm vé số. Nếu bỏ cuộc về quê, cái nghèo sẽ chào đón ông trong vòng vài ngày, sau đó cái đói ghé đến, thậm chí chết không có tiền mua quan tài. Chính vì vậy, ông phải nỗ lực mỗi ngày để dành dụm, tích lũy phòng khi nhắm mắt xuôi tay, hàng xóm có cái để mua giùm ông chiếc quan tài.

Hiện tại, mỗi ngày ông Nhường đi bộ từ mười đến hai chục cây số, dạo qua các quán cà phê, quán cơm ở các quận Gò Vấp, Tân Bình, có khi xuống đến quận Thủ Đức rồi lại quay về đại lý trả vé số thừa trước bốn giờ chiều. Dù mệt cỡ nào ông cũng phải có mặt tại đại lý lúc bốn giờ kém. Nếu về không kịp, số vé thừa ông phải tự ôm lấy và đền tiền cho nhà nước.

Có ngày đi bán chỉ kiếm được hai chục ngàn đồng, cũng có ngày mưa gió, không thể bán được, ông chỉ cầu trời bán cho được mười tờ quanh quẩn chỗ quán cà phê gần phòng trọ và đội mưa đến đại lý trả vé. Có được mười ngàn, ông sẽ mua được một gói mì tôm loại rẻ và hai ổ bánh mì không. Như vậy đã đủ một bữa ấm lòng. Trường hợp trời không mưa mà bán ế thì ông sẽ đến quán cơm từ thiện giá hai ngàn đồng để ăn. Cũng có bữa ông được hàng cơm cho cơm để ăn.

Ông Nhường nói rằng đâu chỉ riêng ông già cả, khó khăn phải bươn chải trên đất Sài Gòn này mà hầu hết những người già không nơi nương tựa, chưa đủ tám mươi tuổi để nhận mỗi tháng 180 ngàn đồng của nhà nước hằng tháng, thì đều phải bươn bả ngược xuôi, đều phải chật vật kiếm ăn qua ngày giữa đất Sài Gòn. Dù sao ông cũng cám ơn Sài Gòn đã mở rộng vòng tay cưu mang ông và những người cùng khổ giống như ông!

Nancy Nguyễn và những hoạt động cho nhân quyền Việt Nam

Nancy Nguyễn và những hoạt động cho nhân quyền Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-06-19

Nancy-Nguyen.jpg

Nancy Nguyễn và Mặc Lâm tại RFA hôm 18/6/2015.

RFA photo

Chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ khi phong trào đòi bầu cử tự do tại Hongkong nổ ra vào tháng 9 năm ngoái với biểu tượng là những chiếc dù màu vàng bung ra rộng khắp trên nhiều con đường của thành phố thì ngay những ngày đầu tiên ấy đã xuất hiện một cô gái người Việt đến từ California cùng chung với sinh viên Hongkong biều tình đòi quyền tự do bầu cử và ứng cử.

Cô gái ấy là Nancy Nguyễn, hôm nay có mặt tại phòng thu của Đài ACTD nhân dịp cô cùng phái đoàn nhân quyền của người Việt hải ngoại về thủ đô Washington để trình bày trước các vị dân cử Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền Việt Nam. Mặc Lâm có cuộc trò chuyện cùng cô.

Mặc Lâm: Chào Nancy, rất ngạc nhiên khi biết Nancy có mặt tại thủ đô trong dịp này, trong thời gian gần đây Nancy đã xuất hiện nhiều trên những diễn đàn chính trị hải ngoại đặc biệt rất quan tâm tới vấn đề dân chủ nhân quyền cho Việt Nam, Nancy có thể chia sẻ một ít về các hoạt động của mình và tại sao lại dấn thân vào lĩnh vực rất khó khăn này so với lứa tuổi của Nancy?

” Trong tất cả những tình huống như vậy mà Việt Nam lại xây tượng đài Khổng Tự thì đó là vấn đề sai về thời điểm. Đây có thể gọi là sỉ nhục đối với quốc thể của Việt Nam vào thời điểm này.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Dạ hoạt động thì không có gì nhiều, Nancy chỉ hỗ trợ những đoàn thể, tổ chức để họ có thêm nhân sự phục vụ cho những công việc có mục đích chung. Giống như ngày hôm nay Nancy tới Washington để hỗ trợ với TS Nguyễn Đình Thắng, BPSOS để cùng vào Quốc hội giải trình những vấn đề về nhân quyền, tự do tôn giáo cũng như luật Lao động Việt Nam.

Lý do mà Nancy dấn thân vào con đường này thì căn nguyên gốc rễ rất xa xôi vì khi qua tới bên đây mình cảm thấy rất ngạc nhiên vì sao người Việt của mình lại dễ thương đến mức đó. Mình nghĩ chuyện đó khó tin lắm nhưng mất một thời gian rất lâu khoảng thời gian từ 2 tới 3 năm thì mình mới bắt đầu nhận ra được và chấp nhận chuyện Humanities thật sự tồn tại vì ở Việt Nam nó gò mình dữ lắm. Khi chấp nhận sự tồn tại về tình người thì mình nghĩ phải làm một cái gì đó cho đất nước của mình.

Mặc Lâm: Vâng đó là vấn đề Việt Nam. Nancy từng qua Hongkong trong cuộc biểu tình của sinh viên bên đó thì ngày hôm nay có một tin vui cho người dân Hongkong đó là cuộc họp của các nhà lập pháp đã bỏ phiếu bác bỏ quy tắc bầu cử của đảo quốc. Đây phải nói là một thành công của phong trào cây dù trước đây. Nghe tin này Nancy có vui không?

Nancy Nguyễn: Rất là vui. Khi Nancy rời Hongkong rồi thì các bạn Hongkong vẫn gửi tin nhắn, vẫn liên lạc thường xuyên họ kể những chuyện bên đó và họ rất buồn. Có nhiều bạn khóc quá trời, họ nói chúng tôi không biết phải làm gì bây giờ, họ không cho chúng tôi biểu tình thì chúng tôi đi shopping! Nancy cũng nói là các bạn ráng lên tuy các bạn có thể bị bắt nhưng hạt mầm dân chủ nó đã nằm trong đất rồi thì các bạn ấy nói rằng các bạn cần những lời như vậy để mà tiếp tục phấn đấu…hai đứa nhiều khi ngồi khóc với nhau…vì vậy khi nghe tin họ đã đạt được thành quả nhất định thì đó là một cái tin rất vui.

Mặc Lâm: Là người hoạt động dân chủ nhân quyền có lẽ Nancy theo dõi xã hội của Việt Nam rất sát phải không?

” Dạ hoạt động thì không có gì nhiều, Nancy chỉ hỗ trợ những đoàn thể, tổ chức để họ có thêm nhân sự phục vụ cho những công việc có mục đích chung.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Dạ, cũng có theo dõi hàng ngày.

Mặc Lâm: Có một vấn đề liên quan tới văn hóa đang bị dư luận phê phán rất gắt gao đó là tỉnh Vĩnh Phúc trích ngân sách 271 tỉ để xây văn miếu thờ Khổng Tử và trước đó thì UBND tỉnh đã có hẳn một phái đoàn sang Trung Quốc để học tập rút kinh nhiệm. Là người trẻ và sống ở hải ngoại Nancy nghĩ gì trước câu chuyện này?

Nancy Nguyễn: Thưa nói cho công bằng, là một người trẻ sống ở hải ngoại thì Nancy rất open về vấn đề xây các tượng đài hay những biểu tượng vể văn hóa. Thành ra nếu chỉ nhận xét riêng những biểu tượng văn hóa như tượng đài Khổng Tử thì đối với những người lớn lên ở nước ngoài thì rất bình thường, tuy nhiên cái không bình thường ở đây có lẽ là vấn đề thời điểm. Ở Việt Nam trong tình trạng giàn khoan đã quay trở lại trong hải phận cùng với tình trạng ngư dân Việt Nam vẫn còn bị bắt bớ đòi tiền chuộc, thậm chí bị giết chết. Ngược lại khi Việt Nam mình bắt ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá gần bờ của mình thì chỉ trả họ về mà thôi. Trong tất cả những tình huống như vậy mà Việt Nam lại xây tượng đài Khổng Tự thì đó là vấn đề sai về thời điểm. Đây có thể gọi là sỉ nhục đối với quốc thể của Việt Nam vào thời điểm này.

Số tiền 271 tỉ thì khó có thể justified và số tiền đó thì Quốc hội cần phải giải trình cho người dân Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rõ đây là một số tiền lớn có thể sử dụng vào những công trình phúc lợi khác của xã hội, giống như xây cầu cho các em đi học, hoặc xây thêm nhà cửa cho người dân thế nhưng chính quyền đã chọn dùng số tiền 271 tỉ đó để xây tượng Khổng Tử vào lúc này thì có lẽ cần phải xem xét lại.

Mặc Lâm: Xin cám ơn Nancy.

httpv://www.youtube.com/watch?v=xTZxDXxlVU0

Chia sẻ về chiến dịch vận động tự do tôn giáo và nhân quyền cho VN

Chia sẻ về chiến dịch vận động tự do tôn giáo và nhân quyền cho VN

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-06-20

cao-dai-622

Phóng viên Hòa Ái (bìa phải) trao đổi cùng ông Lê Phú Hữu, đến từ bang Texas và cô Đinh Ngọc Tuyết, đến từ bang Kentucky tại trụ sở RFA hôm 19/6/2015.

RFA

Cuộc tổng vận động cho VN diễn ra tại thủ đô Washington DC từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 6. Vào sáng thứ Sáu, 19 tháng 6, tại văn phòng đài ACTD, Hòa Ái được dịp đón tiếp và trao đổi với 2 trong số hàng trăm người Việt quy tụ về đây trong lần vận động này, đó là ông Lê Phú Hữu, đến từ bang Texas và cô Đinh Ngọc Tuyết, đến từ bang Kentucky.

Tự do tôn giáo là điều kiện trong Hiệp định TPP

Hòa Ái: Xin phép được chào ông Lê Phú Hữu và cô Đinh Ngọc Tuyết. Trước tiên, câu hỏi xin dành cho cô Ngọc Tuyết, được biết cô là một trong những người về thủ đô Washington DC hàng năm để vận động cho VN thì kết quả của cuộc vận động lần này có sự khác biệt so với những lần trước như thế nào, thưa cô?

” Tôi thấy trong lần vận động này đồng bào của mình rất có ý thức về Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP. Ở Hạ Viện và Thượng Viện lúc nào họ cũng nhắc đến vấn đề đó.
-Đinh Ngọc Tuyết”

Đinh Ngọc Tuyết: Tôi thấy trong lần vận động này đồng bào của mình rất có ý thức về Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP. Ở Hạ Viện và Thượng Viện lúc nào họ cũng nhắc đến vấn đề đó. Khi tất cả các phái đoàn đến nói chuyện với các vị Dân biểu và các vị Thượng Nghị sĩ thì họ đã biết nhiều về vấn đề TPP và TPA, nhất là ngày hôm qua họ đã bỏ phiếu để thông qua TPA. Đây là luật để trao quyền cho Tổng thống có thể đàm phán nhanh. Điều Ngọc Tuyết thấy có một  kết quả khả quan vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Quốc hội Hoa Kỳ mà chúng ta có thể cài vào được một tu chính án do Thượng Nghị sĩ James Lankford của bang Oklahoma. Do một số anh em, nhất là anh Phạm Hữu Quang đã dẫn đầu 1 phái đoàn người Việt tại Oklahoma làm việc rất sát với vị Thượng Nghị sĩ này và Thượng Nghị sĩ này đã đưa được vào chính thức tu chính án để chúng ta để chúng ta có thể chắc chắn rằng tự do tôn giáo phải là một là 1 điều kiện tiên quyết trong Hiệp định TPP.

Tình hình đạo sự chưa được tiến bộ

Hòa Ái: Thưa ông Lê Phú Hữu, Hòa Ái được biết lịch trịch chiều nay ông cùng nhiều người Việt khác đến gặp Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng như Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì chiều hôm nay, ông sẽ trình bày với họ điều gì?

Lê Phú Hữu: Kính thưa quý khan thính giả đài ACTD, năm nay sẽ nhắc nhở lại và lưu ý những hiện tượng mặc dù có sự nhắc nhở của LHQ, của Hoa Kỳ nhưng VN vẫn còn vi phạm. Chẳng hạn như trong cuộc sinh hoạt tôn giáo tháng 4 vừa rồi thì Hội đồng Chưởng quản, công cụ của Đảng Cộng sản đã dung phương pháp đàn áp đối với những người đấu tranh đòi quyền độc lập, bảo tồn chánh pháp chuyên chính của đạo. Đó là mục đích của chúng tôi sẽ thông báo cho toàn thể nhơn sanh cũng như khán thính giả của đài ACTD trên thế giới biết được tình hình đạo sự chưa được tiến bộ.

Hòa Ái: Được biết ông cũng là một trong những người tham gia nhiều lần trong những cuộc vận động cho VN trong các năm qua, ông nhận thấy chính giới Hoa Kỳ có lắng nghe tiếng nói của cộng đồng VN hay không?

” Mục đích của chúng tôi sẽ thông báo cho toàn thể nhơn sanh cũng như khán thính giả của đài ACTD trên thế giới biết được tình hình đạo sự chưa được tiến bộ.
-Lê Phú Hữu”

Lê Phú Hữu: Qua quá trình trước năm 2012 chúng tôi cũng đã từng đến Washington DC để đi đấu tranh. Tuy nhiên sau thời gian từ năm 2012 có một sự phối hợp giữa tôn giáo nói chung và Cao Đài nói riêng đối với BPSOS thì chúng tôi thấy có một sự tiến bộ về nhân lựu tuổi trẻ và kết quả của cuộc vận động ảnh hưởng đến Quốc hội cũng như Bộ Ngoại Giao, bên Hành Pháp. Đó là điều chúng tôi rất vui mừng, nhất là tuổi trẻ càng ngày càng tích cực đóng góp vào vận mạng để mang lại sự tụ do, độc lập và nhân quyền, tín ngưỡng cho VN.

Hòa Ái: Thưa cô Ngọc Tuyết, như ông Lê Phú Hữu nhấn mạnh đến giới trẻ, chắc là cô thuộc thế hệ 1.5, xin cô chia sẻ vì sao riêng bản thân cô cũng như những người trẻ lại nhiệt tình để tham gia vào các cuộc vận động cho VN như vậy?

Đinh Ngọc Tuyết: Tôi nghĩ rằng 40 năm đã trôi qua và thế hệ thứ nhất là thế hệ của cha mẹ và ông bà của mình đã tới ngày lớn tuổi. 40 năm nay đất nước chìm ngập trong sự đàn áp của Đảng CSVN và tôi thấy đất nước VN đi xuống, đạo đức suy đồi. Chính vì thế tuổi trẻ ngày hôm nay, nhất là thế hệ trẻ 1.5, thế hệ của Ngọc Tuyết đây, có thể là thế hệ gạch nối giữa thế hệ cha ông thứ nhất và thế hệ sinh sinh trưởng ở Mỹ, thế hệ thứ 2 như thế hệ con của Ngọc Tuyết. Thế hệ thứ 2 rất giỏi về tiếng Anh và họ tham gia nhiều vào dòng chính của Mỹ nhưng sự nối kết của họ với nguồn gốc VN và với người VN của mình thì chưa được liên kết mạnh.

Cho nên trách nhiệm của thế hệ 1.5 là làm cầu nối. Vì thế hệ 1.5 có thể nói thông thạo cả 2 thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Anh, có thể giúp nối được nhịp cầu để tre già măng mọc. Thế hệ thứ nhất đã lớn tuổi, họ có những kinh nghiệm có thể truyền lại nhưng họ không còn sự nhiệt huyết và năng lực để tiếp tục làm việc thì thế hệ 1.5 sẽ tiếp tục gánh vác những trách nhiệm đó và truyền lại những kinh nghiệm quý báu từ thế hệ thứ nhất và từ đó hình thành 1 cộng đồng làm việc chung với nhau để giúp thay đổi tiến trình, mang lại tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và quyền làm người, quyền con người và nhất là đem luồn gió tự do dân chủ về cho đất nước VN, nơi đồng bào chúng ta đang còn sống rất đau khổ dưới chế độ Cộng sản.

Hòa Ái: Xin cảm ơn thời gian của 2 vị đã đến đài và chia sẻ cùng với quý khán thính giả của đài ACTD.

httpv://www.youtube.com/watch?v=ihbfobvBF9Q#t=291

Căn Hầm Bí Mật

Căn Hầm Bí Mật

Một người hà tiện, bủn xỉn kia có thói quen giữ tất cả vàng bạc và những vật quý giá trong một chiếc hầm bí mật tự tay ông ta lén lút xây cất dưới nền nhà.

Một ngày kia, như thường lệ, ông ta lẻn xuống hầm để ngắm những vật quý, nâng niu những thỏi vàng và những dây chuyền, những cà rá nạm kim cương, hột xoàn to bằng những hạt đậu.  Rủi thay, vì vô ý gài cửa không kỹ, nên bộ phận bí mật vụt bật lên đóng sầm chiếc cửa cực kỳ kiên cố lại, chắn lối ra duy nhất.

Dĩ nhiên không ai trong nhà biết về chiếc hầm bí mật.  Vì thế, mọi người đã bỏ cuộc sau khi lục lạo tìm kiếm ông ta mọi nơi trong nhà cũng như mọi gốc cây, bụi kiểng ngoài vườn.

Sau một thời gian dài chờ đợi nhưng không nghe thấy tăm hơi của ông ta ở đâu, người ta quyết định bán căn nhà.

Người chủ nhà mới có ý định sửa chữa lại một vài căn phòng của ngôi nhà và trong khi các người thợ nề đập một bức tường, người ta khám phá ra cánh cửa bí mật ăn thông xuống chiếc hầm.  Khi những ngọn nến được thắp lên, người ta không khỏi sợ hãi thấy bộ xương của một người đang ngồi bên cạnh một chiếc bàn con với một số vàng bạc, kim cương bị quăng tung tóe xung quanh.

Có dấu hiệu cho thấy là thậm chí người chết đã phải ăn một cây nến trước khi bị chết đói.

“Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion, khốn cho các ngươi là những người tự cho mình là an toàn trên núi Samaria”.

Lời chúc dữ những người giàu có bất nhân và kiêu căng trên của tiên tri Amos cũng như những lời Chúa Giêsu chúc dữ những kẻ giàu trong Tin Mừng không phải là những lời lên án tiền bạc và của cải cách chung.

Nhưng đây là những lời nói lên sự nguy hiểm của quan niệm kiêu hãnh, của tính tự cao, tự đại và nhất là thái độ và nếp sống ích kỷ, dửng dưng không để ý đến những người nghèo khổ đang sống bên cạnh.  Ðây là thái độ và nếp sống thường thấy nơi những người giàu có.

Mahatma Gandhi, người đã đưa dân tộc Ấn Ðộ đến nền độc lập khỏi ách thống trị của Anh quốc đã tuyên bố một tư tưởng cách mạng có thể đổi mới xã hội:

“Trong hoàn cảnh đói khổ của những người đồng bào, đồng chủng, nếu ta giữ một vật gì mà ta không cần dùng đến ngay bây giờ thì đó là những của chúng ta ăn cắp”.

Sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, tinh thần liên đới và sự sẵn sàng chia sẻ cơm ăn áo mặc cho những người cần đến là những ngọn đuốc sáng, là những đức tính giúp người Kitô chúng ta đóng trọn vai trò men trong bột ở giữa xã hội chúng ta đang sống.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Ba Mối Tình

Ba Mối Tình

Tình Bạn : Tại sao anh khóc?

Một anh nọ đến gõ cửa nhà anh bạn Bedouin để nhờ vả:

“Tôi muốn anh cho tôi mượn bốn ngàn dinar vì tôi phải trả nợ. Anh giúp tôi được không?”

Anh bạn bảo vợ gom hết mọi thứ giá trị họ đang có, nhưng cũng không đủ. Hai vợ chồng phải đi mượn hàng xóm cho tới khi gom đủ số tiền.

Khi anh nọ đi rồi, vợ thấy chồng mình khóc.

“Sao anh lại buồn? Giờ đến lượt hai vợ chồng mình lại nợ hàng xóm, có phải anh sợ mình không trả nợ nổi?”

“Chẳng phải vậy đâu! Anh khóc vì anh ấy là người anh rất quý mến, vậy mà anh chẳng hề biết anh ấy gặp hoạn nạn. Anh chỉ nhớ tới anh ấy khi anh ấy đến gõ cửa hỏi mượn tiền.”

Tình Mẹ : Không chịu buông tay!

Vài năm về trước, vào một ngày mùa hè , một cậu bé quyết định đi bơi ở con sông gần nhà. Trời thì nóng mà nước sông thì mát, cậu mừng rỡ nhảy ào xuống, bơi ra giữa sông mà không để ý rằng một con cá sấu đang bơi lại phía sau!

Cùng lúc đó, mẹ cậu bé đang ở trong nhà và khi nhìn ra cửa sổ, bà hoảng hốt khi thấy con cá sấu tiến ngày càn gần cậu con trai hơn! Hoảng sợ tột độ, bà mẹ lao ra, nhanh gấp nhiều lần cậu bé khi cậu chạy đi bơi, vừa chạy, vừa hét gọi con trai. Nghe tiếng mẹ gọi, cậu phát hiện ra con cá sấu và bơi ngược trở lại về phía bờ. Nhưng quá muộn, đúng khi cậu bơi tới bờ thì cũng là lúc con cá sấu đớp được chân cậu! Từ trên bờ, người mẹ chậm một giây, chộp lấy cánh tay cậu. Và bắt đầu một trận kéo co không cân sức. Con cá sấu khoẻ hơn người mẹ rất nhiều, nhưng người mẹ còn quá nhiều tình thương và không thể buông tay.
Lúc đó, một bác nông dân đi qua, nghe tiếng kêu cứu vội vã của người mẹ nên đã vội vã lấy một chiếc gậy to ra cùng chiến đấu với con cá sấu! Con cá sấu đành thả chân cậu bé ra.

Sau hàng tuần, hàng tuần trong bệnh viện, cậu bé đã được cứu sống. Nhưng chân cậu có một vết sẹo rất to, trông rất khủng khiếp – bằng chứng của lần bị cá sấu tấn công.

Một phóng viên tới gặp cậu bé khi cậu đã hoàn toàn bình phục. Phóng viên này hỏi cậu bé có thể cho xem vết sẹo được không. Cậu bé kéo ống quần lên, để lộ vết sẹo cho phóng viên chụp ảnh. Và phóng viên nọ đã nói rằng vết sẹo này cậu bé sẽ không thể nào quên!

– Không đâu, hãy nhìn tay cháu đã! – cậu bé nói rồi kéo tay áo lên. Trên tay áo của cậu là một vết sẹo to, thậm chí còn sâu hơn cùng với những vết cào xước rất đậm và kéo dài do móng tay của mẹ cậu – khi người mẹ dồn tất cả sức lực và yêu thương đễ giữ lại đứa con trai yêu quý. Cậu bé nói với phóng viên:

– Chính vết sẹo này cháu mới không bao giờ quên được! Và cháu tự hào về nó, tự hào vì mẹ cháu đã không chịu buông tay.

Trong cuộc sống những người cha – người mẹ luôn như thế đấy, họ yêu đứa con của mình bằng cả trái tim và chấp nhận hy sinh, chấp nhận đau đớn và níu giữ lấy ngay cả những hy vọng nhỏ nhoi, mong manh nhất chỉ cần đứa con mình được sống, được no đủ và êm ấm.
Bất cứ người cha, người mẹ nào cũng sẽ không bao giờ buông tay khi con mình đang ở trong tận cùng hiểm nguy. Nơi bình yên nhất, chính là trong vòng tay gia đình thân yêu!
Gia đình chính là nơi bình yên và luôn dang tay che chở ta. Là nơi ta tìm về khi mệt nhòai trên con đường đời đầy rẫy chông gai.

Tình Người : Tiếng đóng cửa

Tôi mới chuyển đến nơi ở mới, cứ gần nửa đêm đang lúc ngủ ngon, tôi bị thức giấc vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên và tiếng chân lộp cộp rất khó chịu.

Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi.

Mẹ tôi khuyên: “Thôi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm”.

Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm.
Có người khuyên: “Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu…”

Rồi người ấy nói tiếp: “… Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được.
Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà và chị thông cảm!

Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ: “Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi”.

Thế nhưng, tiếng đóng cửa vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi quyết định lên lầu nhắc nhở.

Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi: “Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn…”

Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức.

Mẹ tôi an ủi: “Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi! Từ từ mới sửa được…”

Rồi khoảng một tháng sau, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đột nhiên biến mất.

Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận.

Tôi nói với mẹ: “Mẹ nói đúng thật!”

Nhưng tôi bỗng bất ngờ… khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ.

Mẹ tôi nghẹn ngào nói: “Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn.

Nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi

Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy.

Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói: “Dì! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi”.

Rồi cậu nói trong tiếng nấc: “Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ, Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ…”

Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra…

Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác.

Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời.

Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình,

Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương.

Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở “Con Người”…

S.T.

Cha Tôi & Liên khúc cha yêu (cha tôi, nhớ cha, hình bóng cha già) & LK Lòng Mẹ Tình Mẹ Tình Cha – Ngọc Sơn ft Lâm Ngọc Huỳnh

Cha Tôi

httpv://www.youtube.com/watch?v=aSzeJF9zg3I&index=39&list=ULvItStPNcQmE

Liên khúc cha yêu (cha tôi, nhớ cha, hình bóng cha già)

httpv://www.youtube.com/watch?v=mogzgoZbJro

LK Lòng Mẹ Tình Mẹ Tình Cha – Ngọc Sơn ft Lâm Ngọc Huỳnh [Official]

httpv://www.youtube.com/watch?v=syJHsp4kQ9g

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.”

(Nguyễn Đình Toàn – Quê Hương Thu Nhỏ)

(Thư Galát 2: 15-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Vâng. Câu hát nghe rất quen quen. “Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ” đã cất lên trong buổi “Hát Cho Nhau Nghe” với chủ-đề “Những Nẻo Đường Việt Năm thực-hiện vào năm 2013. Câu hát ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay. Như sau này.

Hôm nay, lại vẫn thấy những chuyện tình xảy ra như câu hát thêm ở bên dưới:

Đêm có mây sầu đưa.

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài.

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu.

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro.

Như quê hương mình thu nhỏ.

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Vâng. Nợ trần đã trả xong. Nhưng, nợ đời vẫn có đó. Nợ ở đời, vẫn cứ hay, cứ tưởng mình đã mất, như câu người nghệ sĩ còn hát tiếp:

“Từ khi ta bước đi mới hay mình đã mất,

Trông ra nơi nào cũng như quê hương lượn quanh.

Một cơn gió lướt qua cũng nghe lòng tha thiết.

Tưởng một mùi hương nơi vườn cũ bay theo mình.

Và tiếng ai gọi ai.

Vọng mãi trong hồn tôi.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

“Tiếng ai gọi ai trong hồn tôi”, là như thế. Tiếng tôi gọi tôi ở một nơi, mọi chỗ lại có thể rất khác. Khác, như lời kể của một người, rất sau đây:

“Các Giám mục và toàn thể tín-hữu Công giáo cùng một “ràn chiên” với các ngài, nay vẫn được gọi mời “làm chứng nhân vui vẻ cho Đức Chúa đã Phục sinh-Trỗi dậy, ngõ hầu tất cả sẽ chuyển-tải niềm vui và hy-vọng đến với mọi người…

Đó là ưu-tư thấy rõ nơi lời phát-biểu của Đức Giáo Tông Phanxicô từng trần-tình với hàng Giáo-phẩm người Ý-Đại-Lợi vào hôm trước, tức ngày 18 đến 21/5/2015 ở Vaticăng.

Hôm ấy, Đức Giáo Tông còn nói thêm rằng:

Thật đáng buồn, khi tôi gặp vị giám-mục nọ, linh-mục kia hoặc tu-sĩ ấy như bị trời giáng, không động-lực hoặc mệt-mỏi. Mệt và mỏi, như thể con giếng khô ở đó chúng-dân không thể tìm thấy nước để uống vào cho đỡ cơn khát.

Và, Đức Giáo Tông Phanxicô còn kể cho các Giám-mục mình gặp để bảo rằng: trong hai năm ngài làm Giáo-Hoàng có hàng ngàn cuộc gặp gỡ với đủ người Công-giáo thuộc đủ mọi hạng, ngài đã nhận ra là bà con trong Đạo đã mất dần tính tập-thể hoặc gọi là sự hiệp-thông chân-chất giữa các giám-mục và giữa giám-mục với linh-mục tại nhiều phần đất khác nhau trên thế-giới.

Ngài có nói: một dấu-hiệu thấy rõ về việc ấy, là các vị nay để mất thói quen xét lại xem mình có thực-hiện tốt các dự-án đặt ra không, và việc thực-thi ấy có mang lại kết quả khá hiệu-nghiệm hay không và mình đón-nhận các dự-án ấy như thế nào.

Ngài cón bảo: Hội-thánh đã mất điểm tốt, tỉ dụ như: khi ai đó tổ-chức buổi hội-thảo hoặc sự-kiện nào đó, có để ý đến các tiếng-giọng thông thường ở bên dưới hay không, có làm ngưng-trệ cộng-đoàn mình chung sống không, có đáp-ứng cách bình-đẳng với các chọn-lựa, lập-trường và con người khác nhau thay vì chỉ cho phép chính mình thực-thi đến với các chân-trời mà Thánh Thần Chúa sai phái mình đi đến không.

Và, ngài cũng nói: Giống như Đức Kitô, các giám-mục không được tỏ ra “rụt rè hoặc không thích-đáng để lên án hoặc đánh-bại một não-trạng phổ-biến cách rộng rãi các hành-vi tham-nhũng cách công-khai hoặc trong chỗ riêng-tư khiến các gia-đình bình thường, giới trẻ, người hồi-hưu, cũng như đám người nghèo khổ bị đẩy lùi khỏi xã hội ngày càng trở nên nghèo và khổ hơn.

Đức Giáo Tông lại đã thúc-giục các giám-mục hãy ra đi mà đến với người của Chúa ngõ hầu bênh-vực họ khỏi mọi “cuộc đô-hộ ý-thức-hệ” lâu nay đã lấy mất đi lý-lịch và phẩm cách con người…

Đức Giáo Tông lại cũng nói với hàng giám-mục người Ý rằng: quá nhiều hội-đồng Giám-mục xem ra đã tảng-lờ thực-tại cụ-thể về dân con của các ngài khi viết ra những gì được coi như lời giảng dạy và hướng-dẫn mục-vụ cần có.” (xem Cindy Wooden, Call it as you see it, leave laity to do their job, Pope tells bishops, The Catholic Weekly 24/5/2015, tr. 29)

Lời mời gọi từ Đấng Chủ-quản ở trên cao tít, mãi tận thủ-đô của Giáo-hội, nếu diễn-tả cách bài bản bằng nhạc đời, lại thấy hơi giòng-giống giòng nhạc ở trên từng hát mãi:

“Ôi tiếng chuông chùa nào xa vói.

Thèm miếng khoai ngày đói.

Hỏi áo xưa mòn vai.

Và từng đêm nghe gió lay.

Khi nao ta về tới.

Soi trong gương sầu ấy.

Có còn ta nữa hay là ai”.

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Mời hay gọi, có lẽ cùng một nghĩa. Ới gọi hay kêu mời, nào có khác chi một ý khác, khi Đức Giáo Tông, một lần nữa, lại lên tiếng ở buổi gặp gỡ Hiệp-hội các công nhân người Ý đồng thời là tín-hữu Đức Kitô của Hiệp-Hội, những nhủ rằng:

“Lên tiếng trong dịp này, ĐTC nhắc đến những thách đố đang đề ra cho Hiệp hội Kitô các công nhân Italia, đặc biệt là tình trạng gia tăng mau lẹ và rộng lớn những chênh lệch trong xã hội, kèm theo những hiện tượng như công ăn việc làm bấp bênh, làm lậu, và sức ép của các tổ chức bất lương, khiến cho nhiều người trẻ thiếu công ăn việc làm, phẩm giá của họ bị thương tổn, ngăn cản họ thực hiện cuộc sống nhân bản viên mãn. Ngài cũng mạnh mẽ phê bình sự kiện ở Italia có tới 40% người trẻ dưới 25 tuổi không có công ăn việc làm.

Trong bối cảnh đó, ĐTC nhấn mạnh đến 4 đặc điểm mà lao công cần phải có. Trước tiên là lao công tự do, qua đó con người tiếp tục công trình của Đấng Tạo Hóa. ”Đáng tiếc là ngày nay nhiều khi lao công phải chịu những đàn áp từ nhiều phía, của người đè người, của các tổ chức biến con người thành nô lệ, áp bức người nghèo, đặc biệt là nhiều trẻ em và phụ nữ.”

Tiếp đến là lao công sáng tạo, giúp con người diễn tả trong tự do và sáng tạo một số hình thức xí nghiệp, lao động hợp tác trong tinh thần cộng đoàn.

ĐTC nói: ”Không thể chặt đôi cánh của những người, đặc biệt là người trẻ, có bao nhiêu điều để cống hiến nhờ trí thông minh và khả năng của họ. Cần phải giải thoát họ khỏi những gánh nặng đè nén và cản trở họ đi vào thế giới lao động với trọn quyền lợi càng sớm càng tốt”.

Đặc điểm thứ 3 ĐTC nhấn mạnh, đó là lao công tham gia, giúp con người luôn nhìn thấy nơi mục đích của lao công khuôn mặt của tha nhân và sự cộng tác với người khác trong tinh thần trách nhiệm.

Ngài nói: “Nơi nào vì quan niệm duy kinh tế, người ta nghĩ đến con người một cách ích kỷ và coi tha nhân như những phương tiện thay vì như mục đích, thì lao công mất đi ý nghĩa nguyên thủy là tiếp tục công trình của Thiên Chúa, hướng đến toàn thể nhân loại”.

Sau cùng là lao công liên đới. ĐTC nói với các thành viên hiệp hội Kitô công nhân Italia rằng: ”Mỗi ngày anh chị em gặp những người bị mất công ăn việc làm, hoặc đang phải tìm việc.. Cần mang lại cho họ một câu trả lời. Trước tiên là tỏ ra gần gũi và liên đới với họ. Bao nhiêu chi hội của anh chị em có thể là những nơi tiếp đón và gặp gỡ cũng như giúp đỡ những người ấy”.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ các thành viên Hiệp Hội Kitô công nhân Italia luôn lấy nguồn hứng và sự hướng-dẫn từ đạo lý Kitô, trong niềm trung thành liên lỷ với Chúa Giêsu Kitô, với Lời Chúa và học hỏi áp dụng Giáo huấn xã hội Công Giáo, để đối phó với những thách đố mới ngày nay (SD 23-5-2015). (Xem Trần Đức Anh OP, dịch bản tin trên VietCatholcis News hôm 23/5/15 dưới đầu đề: “Đức Thánh Cha tố-giác tệ-nạn trong lãnh-vực lao-động).

À thì ra, tệ nạn xã-hội không chỉ thấy trong lãnh-vực lao-động ở Ý-Đại-Lợi mà thôi, nhưng còn  ở nhiều nơi khác, kể cả Giáo-hội Công-giáo vẫn tự-hào rằng mình không thấy có tệ-nạn nào trong các hàng ngũ trên/dưới.

Thôi thì, gọi đó là gì cũng đặng. Miễn là tôi và bạn, ta vẫn hiên ngang mở tai nghe những lời dặn dò hôm trước có đấng thánh hiền lành từng bảo ban, như sau:

“Chúng ta bẩm sinh là người Do-thái

chứ không phải hạng người tội lỗi xuất thân từ dân ngoại.

Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính

không phải nhờ làm những gì Luật dạy,

nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô,

nên chúng ta cũng tin vào Đức Kitô Giêsu,

để được nên công chính,

nhờ tin vào Đức Kitô,

chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.”

(Thư Galát 2: 15-16)

Vâng. Đúng là như thế. Tệ-nạn ở đâu đó, có bao giờ công-nhận mình là tệ-nạn. Chí ít, là ở nhà thờ, nhà Đạo rất chính-chuyên. Tệ-nạn, nhiều khi chỉ là sự ỷ y mình là người công-chính từng tin vào Đức Kitô rất Công-chính và từng nhờ cậy vào Lề-luật do thế-quyền hay thần-quyền ban ra.

Thật ra thì, gọi bằng tự-vựng “tệ-nạn” cũng hơi quá đối với thần-quyền. Thế nhưng, theo ý của đấng thánh-hiền từ-nhân thì không thế. Hiền-nhân rất thánh ở thế-quyền hay thần-quyền là người nắm được chân-lý, nằm bên ngoài luật-lệ, dù ta gọi đó là luật Đạo hay luật đời.

Chỉ là chân-lý, như người kể ở bên dưới, một lần nữa, lại minh-định bằng những lời kể như sau:

“Dưới đây là 9 câu nói rất hay về chân lý của cuộc sống:

1. Trên đường đời, ta sẽ gặp những người đối xử tệ với mình. Không ai có bổn phận phải đối xử tốt với ta, trừ bố mẹ. Đối với những người đối xử tử tế với con, hãy trân trọng và biết ơn, nhưng cũng hãy đề phòng họ. Họ có thể đối tốt với ta vì mục đích nào đó. Hãy tìm hiểu động cơ thực sự. Đừng vội kết luận một người là tốt chỉ đơn giản vì họ ưu ái ta.

2. Không ai là không thể thay thế. Không có thứ gì  trên thế  giới này ta phải bám chặt lấy hay cố sở hữu bằng mọi giá. Nếu ta hiểu điều  này, thì về sau, dù mất bất cứ điều gì trong đời, ta vẫn có thể đứng vững.

3. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Đừng phí thời gian và năng lượng vào những người, việc, thứ không cần thiết. Nếu ta làm vậy, sau này ta sẽ nhận ra rằng ta đã lãng phí tất cả những ngày tháng qua.

4. Không có gì trên thế giới là mãi mãi, kể cả tình yêu. Tình cảm có thể thay đổi theo thời gian. Nếu một ngày nào đó ta mất đi người mà ta từng yêu tha thiết, hãy nhẫn nại. Đừng cố níu kéo những gì đã mất hay phóng đại cảm xúc của mình. Thời gian sẽ làm dịu nỗi đau. Thời gian sẽ hàn gắn tất cả.

5. Không phải tất cả những người thành công đều học hành đến nơi đến chốn, nhưng điều này không có nghĩa là ta có thể bỏ bê việc học của mình. Kiến thức ta có được là tài sản lớn nhất của ta.

6. Bố mẹ không mong đợi ta sẽ chăm lo cho bố mẹ khi các ngài về già. Cũng vậy, bố mẹ không có trách nhiệm phải bao bọc con khi con đã trưởng thành. Con có thể đi xe bus hay lái xe Benz đắt tiền. Tương tự, ta có thể ăn mì gói hay bào ngư. Lựa chọn đó thực sự do ta.

7. Ta có thể đối xử tốt với người ta nhưng đừng hy vọng họ đáp lại ta như vậy. Nếu ta không thể nhìn thấu điều này, về sau ta sẽ chỉ có thêm nhiều đau khổ, thất vọng.

8. Rất nhiều người mua vé số suốt nhiều năm nhưng cuối cùng họ vẫn trắng tay, nghèo đói. Để thành công hay giàu có, ta đều phải nỗ lực hết mình. Có một điều đơn giản cần nhớ là: Trên thế giới này không có gì miễn phí.

9. Chúng ta ở bên nhau như một gia đình chỉ trong cuộc đời này thôi, dù ta thích hay không. Vì thế, hãy trân trọng và nâng niu khi chúng ta bên nhau, chia sẻ, gắn bó. Dù muốn hay không, chúng ta sẽ không thể gặp nhau ở kiếp sau…” (Tsuki – Tổng hợp)

Nghe kể rồi, sao bạn và tôi, ta không hiên-ngang ngước mặt về phía trước hiên-ngang cả những lời dù không vui khi nghe thấy. Bởi, làm sao vui khi tâm-hồn mình còn vướng-vấn rất nhiều thứ. Cả những thứ và những sự diễn ra không theo ý mình muốn.

Vậy thì, tôi và bạn, ta cứ hiên ngang mà hát mãi những câu rằng:

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa.

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.

Đêm có mây sầu đưa,

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài,

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu,

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro .

Như quê hương mình thu nhỏ,

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Hát thế rồi, ta lại sẽ mạnh mẽ bước về chốn cũ, ở nơi đó vẫn có bạn hiền còn đứng chờ những người như ta, đang miên-man tìm kiếm “Quê hương thu nhỏ” là Nước Trời ở đây. Bây giờ. Theo quan-niệm rất Đạo của Đạo mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày lại cứ thấy

Quê hương thu nhỏ

Nằm mãi trong lòng mình

Rất giống mình.

Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Tin Mừng (Mc 5: 21-43)

Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giêsu, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giêsu, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: Ai đã sờ vào tôi?” Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phêrô, ông Giacôbê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Talithakum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giêsu nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

“Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Để cho hồn đỡ bớt nỗi bi thương.
Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng,
Hồn đi rồi, không nhập xác thê lương.

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mc 5: 21-43

Mai Tá, lược dịch

Khạc hồn ra khỏi miệng”, là tâm trạng của nhà thơ, nay rất khổ. Nỗi xác đành câm tiếng, là tình huống người nhà Đạo, vẫn thương tâm. Chúa thương tâm cả nhà thơ lẫn người đời, như có nói ở trình thuật.

Trình thật thánh Mác-cô hôm nay, lại đã ghi về niềm thương tâm Chúa phú ban cho con ông trưởng hội đường và cho cả người đàn bà, bị băng huyết. Những 12 năm. Và thánh Mác-cô nói “bà đã bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đến tán gia bại sản…mà tiền mất tật mang” (Mc 5: 21). Và, đã cả gan sờ vào gấu áo Ngài, và được khỏi.

Vào khi ấy, Đức Giêsu quay lại hỏi: “Ai đã sờ vào áo của tôi?” Hỏi như thế, Ngài biết uy lực thần thiêng vừa ra khỏi mình Ngài. Đây là điều, khiến môn đệ Chúa cứ thắc mắc với tranh luận. Ngay lúc ấy, người nữ phụ đã bước ra, mà nhận lỗi. Vì bà quá hoảng sợ. Chính ra, bà cũng không nên len lỏi vào chốn ấy, vì ô uế? Và đó là lý do mà bà chẳng dám đến, ngay phút đầu. Đây cũng là nỗi hoảng sợ của các bệnh nhân Siđa của thời đại. Một hoảng sợ, không tên tuổi, không lý do.

Từ lúc ấy, bí mật của bà bị lộ ra cho mọi người thấy. Điều này càng khiến bà hốt hoảng hơn nữa. Thế nhưng, bằng một cử chỉ khác thường, bà tiến về phía trước, phủ phục trước mặt Chúa, và nói hết sự thật với Ngài. Về phía Đức Giêsu, Ngài không mảy may nổi nóng hoặc giận dữ, nhưng nhẹ nhàng nói: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bình an và khỏi hẳn bệnh.” (Mc 5: 34)

Bằng việc chữa lành, Đức Chúa của sự sống và sự sống lại, đã đưa bà về lại với sự vẹn toàn của cuộc sống. Bà không chỉ được chữa lành khỏi tật bệnh thể xác thôi; nhưng, còn trở về với tháp nhập cùng xã hội nơi bà sống. Bà đã kiện toàn con người mình, theo mọi ý nghĩa. Qua tư cách cá nhân lẫn cộng đoàn. Nhưng, chính niềm tin sâu sắc vào Chúa, qua cử chỉ “sờ gấu áo Ngài”, là yếu tố chính tạo sự chữa lành.

Với câu truyện đầu ở trình thuật, Đức Giêsu đích thật là Đấng chữa lành mọi tật/bệnh. Nhưng mọi người không kỳ vọng là Ngài sẽ cho người chết được hồi sinh. Nhưng, Ngài vẫn cứ nhấn mạnh đến những câu khiến mọi người cần ghi nhớ trong đời: “Đừng sợ!”, được nhắc đi nhắc lại, trong Kinh thánh, những 399 lần.

Ở trình thuật, Đức Giêsu chỉ cho phép có 3 tông đồ, thành phần cốt lõi là Phêrô, Giacôbê và Gioan, được đi theo. Chúa muốn các Ngài nhận thấy những gì xảy ra; nhưng Ngài không muốn thoả mãn tính tò mò của đám người dễ bị kích động.

Khi mọi người kéo đến nhà bệnh nhân, lại nghe có tiếng ai oán, cùng khóc than. Ngài bèn bảo: “Sao lại náo động và than khóc đến như thế? Đứa bé có chết đâu, nó chỉ ngủ.” (Mc 5: 39) Thế là, họ cười nhạo Ngài. Nhạo và cười, vì chỉ cần nhìn thoáng, họ cũng biết ai chết, ai còn sống. Mọi người còn biết: nếu không có Chúa ở đó, cô kia chắc đã bị chôn rồi.

Chúa vào nhà người lạ, chỉ có cha mẹ cô bé và 3 môn đồ thân cận. Ngài cầm tay có bé lên rồi nói: “Này cô bé. Thầy truyền cho con hãy trỗi dậy!” (Mc 5: 41). Đứa bé lập tức trỗi dậy và đi lại như người bình thường, không có gì xảy ra. Động từ “trỗi dậy” ở đây, gợi cho người nghe nhớ về tình huống sống lại. Tình huống, Đức Giêsu cũng đã “trỗi dậy”, từ cõi chết.

Đây là cách thức thánh sử Mác-cô diễn tả sự việc rõ ràng và dứt khoát hơn thánh Tin Mừng của Gio-an: “Ta là sự sống lại và là sự sống!”. Dù bị hôn mê hay đã chết, cô bé vẫn được tái tạo vẹn toàn về với cuộc sống. Và Đức Giêsu được bộc lộ cho biết Ngài là Chúa của sự sống. Chính vì thế, những ai chứng kiến việc xẩy ra, đều đã “kinh ngạc sững sờ.”

Sững sờ đến độ, Chúa phải nhắc họ cho cô bé ăn. Điều này nói lên chỉ một phần của con người Đức Chúa. Bởi, Ngài là Đấng chỉ biết lo cho người khác. Chăm nom đùm bọc người khác, mà thôi. Với người khác, có thể sẽ xảy ra chuyện là: sẽ ngủ quên trên chiến thắng, những muốn được  bái phục. Nhưng ở đây, Chúa tập trung lo cho nhu cầu của trẻ nhỏ, thôi. Cả hai truyện trong cùng một trình thuật, cho thấy Đức Giêsu là nguồn mạch sự sống và chữa lành.

Bài đọc 1, Sách Khôn ngoan nói rõ: “Thiên Chúa chẳng vui gì, khi sinh mạng tiêu vong.” (Kn 1: 13). Và các đoạn khác còn nói tiếp: “Người đã sáng tạo muôn loài thọ tạo trên thế giời, đều hữu ích cho sinh linh.”(Kn 1: 14). Và điểm quan trọng khác, sách này cũng nói: ta được dựng nên theo hình ảnh bản tính của Thiên Chúa. Chính đây là mục tiêu của sự sống trong chúng ta là: để hiểu biết, yêu thương và san sẻ cuộc sống với Ngài mãi mãi không ngưng.

Quả thật, bằng cách này cách khác, tất cả chúng ta đều cần được Chúa chữa lành. Chữa tật bệnh, cho lành mạnh, sự toàn vẹn, lành thánh bên tiếng Anh, là những cụm từ được đan kết, nối với nhau. Khi nguyện cầu, ta xin cho được lành mạnh để có sức khoẻ, trong mọi địa hạt của cuộc đời chứ không chỉ lành và mạnh, nơi thể xác thôi.

Sự thể đem đến cho ta toàn vẹn sức khoẻ lành mạnh, là cốt trở thành con người vẹn toàn. Vẹn toàn, trong đó mỗi phần trong ta –từ tâm linh, trí tuệ, xã hội, tâm lý, cho chí thể xác—đều hoạt động theo chức năng của nó. Hoạt động trong hài hoà cả ở bên trong, với thế giới bên ngoài. Với cả môi trường chung quanh, người và vật.

Bài đọc 2, thánh Phaolô cũng có nói đến sự toàn vẹn này, khi thánh nhân nhắc nhở giáo đoàn Côrinthô về Đức Giêsu: “Ngài vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo, vì anh em. Để anh em nên giàu có, từ cái nghèo của Ngài” (2Cr 8: 9). Chúa chịu mình trần trên thập giá, là để đổ tràn tình yêu xuống cho ta. Ngài ban sự sống của Ngài, để ta được sống. Và vì thế, Ngài sẽ sống mãn đời. Và nhờ đó, ta trở nên giàu sang phú quý.

Thánh Phaolô lấy đó làm mẫu mực, để giáo dân ở Côrinthô biết mà sẻ san bất cứ thứ gì làm được cho những người anh người chị nghèo khó hơn họ, trong Hội thánh. Có điều là, cả vào khi ta san sẻ cho người khác, không phải là được kỳ vọng cho đi những nhu cầu mà ta cần có cho chính mình, nhưng là những gì ta có dư. Và khi ta san sẻ của thặng dư cho người đang có nhu cầu nhiều hơn, ta sẽ hy vọng được đối xử cùng một cách như thế  những khi ta cần.

Xử sự theo cách này, cuộc sống sẽ quân bình hơn. Và, thánh Phaolô đã trích dẫn Kinh sách Cựu Ước nói rằng: ai tích tụ nhiều sẽ chẳng có được bao nhiêu, nhưng ai tích luỹ ít, cũng sẽ không thiếu hụt.

Đây chính là mẫu mực của cuộc sống cộng đoàn, trong xã hội. Xã hội Cộng sản đáng lý ra đã phải làm như thế. Nhưng ngày nay, chỉ còn mỗi cộng đoàn dòng tu mới đích thực biến phương cách sống ấy thành hiện thực. Phương cách ấy, là “làm theo khả năng, nhưng hưởng theo nhu cầu.”

Thành phần của việc chữa lành trong toàn bộ cộng đoàn ta sống, là sự toàn vẹn dựa trên sự thật, tình yêu, lòng xót thương và ý nghĩa công bằng đích thực cho mọi người. Và đây chính là sự thánh thiêng, bởi lẽ Thiên Chúa Đấng Thánh Thiêng là thành phần vẹn toàn của sự trọn vẹn. Ngài được biết với Danh hiệu Đấng tạo Dựng, Gìn Giữ và Cùng Đích của tất cả những gì ta phải là và có thể trở thành. Là, tất cả chúng ta đã, đang và sẽ trở thành, như thế.

Vào buổi tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao Đức Giêsu, Đức Chúa của sự sống giúp ta đạt đến mức độ ấy. Mức độ của sự lành mạnh, toàn vẹn và thánh thiêng, ta vẫn được mời gọi để đạt đến.   

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá, lược dịch

KHỎI CHỨNG BẠI LIỆT NHỜ TÌNH PHỤ TỬ BAO LA

KHỎI CHỨNG BẠI LIỆT NHỜ TÌNH PHỤ TỬ BAO LA

Sr.Jean Berchmans Minh Nguyệt

Bà Alessandra York là phụ nữ Hoa Kỳ.  Với mái tóc vàng óng ánh, với đôi mắt tinh anh và với dáng đi uyển chuyển, bà là biểu tượng cho mẫu phụ nữ tự tin, yêu đời và thành công trong cuộc sống.  Nhưng sỡ dĩ bà được như thế là nhờ đức kiên nhẫn, lòng can đảm và tình thương bao la của hiền phụ.  Sau đây là chứng từ của bà về người Cha đáng kính.

Mùa hè năm 1949 – tôi lên 8 tuổi – Hoa Kỳ trải qua thời kỳ đau thương.  Đây đó trên toàn nước bị bệnh dịch tê bại trẻ con hoành hành.  Tại nhiều thành phố, nhà thương không còn chỗ để tiếp nhận các trẻ em đáng thương.  Người ta phải đặt thêm giường trên các hành lang.

Tôi là một trong số các trẻ em bị bệnh này.  Chứng bệnh ban đầu làm cho tôi không nuốt được.  Tiếp đến: cổ, hai chân và cánh tay phải hoàn toàn bị tê liệt.  Tôi được chở đến nhà thương.  Các bác sĩ nói với Cha Mẹ tôi là tôi không thoát ra được chứng bệnh hiểm nghèo này.

Bệnh tê bại từ từ lan rộng sang các phần thân thể khác.  Nhưng phần bị nặng nhất là các đốt xương nơi cổ, khiến tôi không thể nào nhấc đầu lên khỏi chiếc gối.

Các bác sĩ giải thích cho Cha Mẹ tôi hiểu rằng, nếu theo một lối chữa trị thích hợp, có lẽ tôi sẽ đi đứng và sử dụng được cánh tay phải, nhưng tôi phải mang một vòng bao quanh cổ và phải theo học nơi trường dành cho các trẻ em tàn tật.

Ý nghĩ rồi đây tôi sẽ trở thành một đứa trẻ tàn tật, luôn luôn tùy thuộc người khác và là đối tượng cho lòng xót thương, khiến thân phụ tôi không thể nào chấp nhận được.  Ba tôi lục lọi tìm đọc tất cả sách nói về chứng bại trẻ em.  Ba tôi cũng thăm dò ý kiến các bác sĩ và y tá.  Sau cùng, Ba tôi thấy rằng, cần phải đưa tôi ra khỏi nhà thương càng sớm càng tốt để bắt đầu các buổi thực tập hầu tôi có thể sử dụng lại tứ chi.  Trong khi chờ đợi, Ba nói với tôi:

– Con phải làm tất cả những gì các bác sĩ và y tá bảo con làm, và phải làm cho tận lực!

“Phải làm cho tận lực”, là điều Ba vẫn hằng nhắn nhủ tôi, và hôm nay, Ba tôi trịnh trọng nhắc lại.

Thời gian sau đó, tôi thấy các trẻ gái lần lượt rời nhà thương trên xe lăn.  Ba nói với tôi:

– Con cũng sẽ rời nhà thương, nhưng không phải trên xe lăn mà bằng hai chân của con!

Ba tôi không bao giờ nói:

– Nếu con được khỏi bệnh,

nhưng luôn luôn nói:

– Khi nào con khỏi bệnh.

Từ tuổi lên 3, tôi theo học các khóa dạy vũ cổ điển.  Nhớ lại các bài học, tôi tận dụng các hiểu biết để tìm ra phương pháp giúp tôi ngồi yên trên giường được hai ba phút.  Tôi cũng tìm cách giữ cho đầu thăng bằng.  Các bác sĩ không thấy gì là đặc biệt, nhưng Ba tôi thì thật vui mừng, như thể là tôi sắp lành bệnh đến nơi!

Tôi rời nhà thương, nhưng vẫn chưa đi được.  Thay vì đẩy tôi trên xe lăn, Ba tôi quyết định bồng tôi trên đôi tay người.

Tôi học đánh dương cầm từ tuổi lên năm.  Khi về đến nhà, Ba tôi ngồi trước đàn và đặt tôi ngồi trên đầu gối của người.  Giữ cho tôi được thăng bằng xong, Ba tôi để hai bàn tay tôi trên các phím đàn.

Nhưng tay phải của tôi cứ buông thõng xuống, trượt ra khỏi các phím đàn.  Thấy thế Ba tôi nói:

– Không sao cả:  Thế nào con cũng chơi đàn trở lại.  Rồi con sẽ thấy!

Ba tôi mời bác sĩ đến tận nhà tập cho tôi sử dụng các bắp thịt.  Chính Ba tôi cũng bỏ bớt việc làm để đứng ra tập luyện cho tôi.  Từ từ tôi có thể đi đứng được, giữ cho đầu thăng bằng và chơi được vài nốt đàn.

Mùa thu năm sau, tôi trở lại trường học và trở lại với môn dương cầm và môn vũ cổ điển.

Khi bước vào bậc trung học, tôi là thiếu nữ bình thường như bao thiếu nữ khác.  Ba nói với tôi:

– Con sắp gặp số đông học sinh không biết gì về chứng bệnh của con.  Vậy con đừng nói với ai cả.  Bệnh tật đã qua rồi.

Tôi tuyệt đối nghe theo lời khuyên của Ba.  Ngay cả giờ đây, chỉ trừ ít người thân và bạn bè, còn lại không ai biết tôi từng bị bệnh tê liệt.

Ba tôi qua đời vào năm 61 tuổi.  Nhưng trước đó, Ba hãnh diện đưa tôi vào nhà thờ ngày tôi lãnh nhận Bí Tích Hôn Phối.  Sau đó, Ba sung sướng khi thấy tôi xuất hiện trên màn ảnh truyền hình.  Rồi Ba cảm động đọc các tác phẩm tôi viết về sức khoẻ và về sắc đẹp.  Nói tóm lại, Ba chứng kiến tất cả thành công của tôi, và nhất là Ba tôi biết rằng, tôi là phụ nữ tự tin, hạnh phúc và ngẩng cao đầu khi góp mặt với đời.

Tất cả thành công tôi đạt được là nhờ công ơn trời biển của hiền phụ tôi.  Người không đầu hàng trước căn bệnh hiểm nguy của tôi và cùng tôi chiến thắng căn bệnh.  Suốt đời, tôi ghi ơn Ba tôi.

… “Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông chúng ta qua các thế hệ. THIÊN CHÚA đã sáng tạo nên nhiều người con hiển hách là các vĩ nhân từ những thưở xa xưa: Có những người cai trị đất nước mình và là những con người nổi danh về quyền lực.  Có những người lãnh đạo dân bằng các lời chỉ dẫn, bằng tài dạy dỗ dân chúng và những lời giáo huấn khôn ngoan.  Có những người sáng tác những điệu nhạc du dương, viết ra những bài thơ bài phú.  Có những người giàu sang, lắm quyền nhiều thế, sống bình an hòa thuận trong nhà.  Hết thảy đều được người đương thời khen ngợi, được vẻ vang trong lúc sinh thời. Trong các vị, có những người lưu danh hậu thế cho người đời ca ngợi tán dương” (Sách Huấn Ca 44, 1-8).

Sr.Jean Berchmans Minh Nguyệt

(”Reader’s Digest SELECTION”, Juin/1992, trang 49-53). (radio Vatican)