Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ở Sài Gòn lúc này, chỉ cần dừng xe máy ở các giao lộ là sẽ được nhân viên các công ty bất động sản phát cho một xấp giấy quảng cáo mua bán nhà.

Nhìn lên cột điện, thậm chí nhìn vào vách các bô rác chung cư cũng thấy xanh xanh đỏ đỏ những áp phích quảng cáo bán nhà, bán đất nền… đủ cỡ, nhưng than ôi hàng triệu người Sài Gòn chỉ biết ngó cho vui mắt vậy thôi chớ giấc mơ mua được một căn nhà dạng nhà xã hội trả góp cũng là chuyện viển vông, thế nên chuyện họ sống du canh du cư như đồng bào các dân tộc thiểu số ở giữa lòng một đô thị hào nhoáng như là một kiếp nạn.

Từng cột đèn Sài Gòn đều dán quảng cáo bán nhà nhưng hàng triệu người
du cư không bao giờ với tới. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Một giảng viên đại học Bách Khoa Sài Gòn ghé nhà thầy cũ mình để mời thầy dự tiệc mừng nhà mới của anh. Người giảng viên gốc Cà Mau, có con trai học lớp ba này kể, “Phải làm dân du cư ở Sài Gòn hơn 20 năm mới có chỗ định cư đó thầy.”

Không hề quá đáng khi cho rằng ở Sài Gòn trong hàng chục năm qua, hàng triệu người dân từ các địa phương đến nhập cư ở trọ nhà tập thể, mướn nhà và họ thường xuyên thay đổi chỗ ở vì giá thuê nhà hay vì nhu cầu công việc đã hình thành nên số lượng người du cư khổng lồ.

Có một nhà thơ, cũng là dân du cư lâu năm ở Sài Gòn ví von rằng, “Giống như đồng bào dân tộc thời xưa, dân ở trọ như bọn tôi chuyện du cư hết chỗ này đến chỗ kia thì coi các tòa cao ốc là núi, các con đường là sông, còn các hẻm phố chằng chịt như những cánh rừng khó tìm lối ra.”

Trả lời trên bản tin kinh tế, vị chủ tịch hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các dự án đầu tư nhà ở xã hội chỉ chiếm không tới 30% trong tổng số các dự án. Lý do đưa ra là lợi nhuận thu được khi đầu tư nhà ở xã hội rất thấp.

Từ ngày 1 tháng 7, 2015, chế độ Hà Nội áp dụng luật cho phép Việt kiều và người Ngoại Quốc mua nhà, điều này khiến các tư sản đỏ bất động sản hứng thú và một lần nữa chuyện nhà cho người Sài Gòn thu nhập thấp cùng hàng triệu người đang sống du cư cũng hoàn toàn vô vọng về chuyện định cư.

Cô L, một giáo viên ở trường trung cấp dạy nghề, có mức lương khoản sáu triệu một tháng nói, “Từ lúc còn là sinh viên đến lúc đi làm, tôi đã thay đổi nhà trọ năm lần. Giá nhà từ năm trăm ngàn nay lên một triệu rưỡi, tôi chuyển chỗ ở không chỉ vì giá nhà mà còn vì đường ngập, an ninh, hàng xóm không hợp… Nói chung tôi biết chắc mình không thể quay về quê nhưng càng không chắc là mình có ngày được định cư ở Sài Gòn.”

Với những ai có mức thu nhập trung bình thấp như cô L, thì hy vọng sau mười, hai mươi năm nữa mua được một căn chung cư trả góp dưới 40 mét vuông ở Sài Gòn để chấm dứt đời du cư là khó có thể.

Các xóm nhà ven kênh rạch ở quận 8, quận 7… là nhà trọ “lý tưởng” của
người ngoài mới bắt đầu vào thành phố. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Hỏi chuyện hai vợ chồng người Thanh Hóa làm nghề bán cháo lòng dạo ở quận 12, rằng họ có nghĩ ngày nào sắm được nhà để làm nghề không. Anh chồng có ba con đang gởi cho nhà nội ở quê này nói, “Mơ làm gì, cứ nhà mướn cho nhẹ đầu mà để dành tiền gởi về quê cất nhà, mai kia hết sức làm thì còn có chỗ mà về.” Hai tiếng “mai kia” từ miệng một người chỉ chừng ba lăm tuổi đã chỉ ra một cuộc đời, một gia đình ly hương sống du cư dai dẳng vằn vặt.

Thật không thể xác định độ tuổi của dòng người khổng lồ đang sống du cư hiện nay, bé sơ sinh có, người già tuổi gần đất xa trời có. Chưa thời đại nào mà toàn cảnh và thực trạng người tứ xứ du cư ở Sài Gòn lại đa dạng và phức tạp như hiện nay. Nào là cộng đồng du cư được biết theo nguyên quán như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Phú thọ, Cà Mau… hay cộng đồng du cư theo ngành nghề như hủ tiếu gõ, bánh tráng, ve chai, thợ mộc, thợ xây… thậm chí có cả những nhóm du cư “ làm ăn” với các nghề tệ nạn xã hội.

Từ lúc chế độ mở cửa kinh tế, hàng chục năm qua nguồn nhân lực phổ thông và trí thức du cư này đã là nhân tố chính làm thay đổi toàn diện chất lượng và diện mạo các đô thị lớn, nhưng phần lớn nguồn nhân lực quan trọng đó vẫn không thể đặt chân về chính căn nhà mình sở hữu sau một ngày làm việc.

Việc hàng triệu người không sở hữu được căn nhà ở đô thị nơi mình kiếm sống, sống du cư kéo dài có khi cả đời người hoặc nhiều thế hệ gia đình. Trừ một số ít người nhập cư có tài năng, ý chí, nguồn vốn, đã có ngôi nhà để yên ổn mà mơ ước một tương lai thành đạt, thử hỏi hàng triệu người không thể mong gì được an cư kia, họ làm cách nào để yên tâm nâng cao nghề nghiệp, tri thức và chất lượng sống của họ. Những hiện tượng tiêu cực xã hội như sử dụng bạo lực bất thường, sa đà trong bia rượu, số đề, lối sống thụ động buông xuôi… việc họ bị tướt đi quyền được an cư rõ ràng cho thấy bộ mặt u tối của thực trạng mất nhân quyền ở các đô thị lớn Việt Nam hiện nay.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Nhất quyết yêu người, cả người thực thà gian dối
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Cứ cố yêu người dù rằng người đang lừa người.”

(Phạm Duy – Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe)

Trần Ngọc Mười Hai

(Êphêso 1: 16-18)

Có thật không đấy? Cái gì mà lại “cứ bảo mãi không nghe không nghe”, là sao thế? Bảo ai? Bảo gì thế? Nếu chỉ bảo, có mỗi mình tôi thôi, thì có thể là như thế, thật cũng đúng thôi. Thế nhưng, bảo gì thì không bảo, sao lại cứ bảo và ban những lời rằng:

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Mới chớm yêu đời lại buồn vì đời mau hết
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Mới biết ái tình là ngờ mình yêu còn ít.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Quyến luyến bạn bè để rồi về nhà mong nhớ
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Cứ thích la cà để rồi chợt thương người nhà.

À thì ra, tác-giả lại đã tự mình bảo mình mãi, mà mình nào muốn nghe theo, nên mới than và vãn rất nhiều lời, rằng:

“Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Thương tôi thương tôi cho sống say mê.
Không thương không thương xin giết tôi đi !

Đời sinh tôi ra tôi ra như thế !
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Thương tôi thương tôi cho sống say mê.
Không thương không thương xin giết tôi đi!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Đâu dễ như thế. Giết người và giết tôi không được, nên chàng lại hát vẫn một lời, rằng:

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ nói những lời mọi người hằng ngày không nói.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ chối không làm đàn cừu làm con vẹt nữa.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ hát những lời buồn rầu mà người ta giấu.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ hát vui đùa chọc cười người quên nụ cười.

(Phạm Duy – bđd)

À thì ra. Nghệ sĩ già nhà mình, lại cứ viết hoài và viết mãi những lời lẽ rất ý-nhị thuộc mọi thời, mới như thế. Có như thế, “chàng trai già đất Việt” mình mới ngán ngẫm cuộc đời, bèn thêm mãi lời ca rất nên nghe, rằng:

“Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!

Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!

Thương tôi thương tôi cho sống say mê.

Không thương không thương xin giết tôi đi!

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

“Đứng giữa hận thù chỉ ngờ mình là Horace

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

Chiến đấu quân thù mà tìm chưa ra thù ghét

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe…”

(Phạm Duy – bđd)

À thì ra, do bởi ông viết những lời như: “Đời sinh tôi ra tôi ra như thế”, chứ không phải “Trời sinh tôi ra tôi ra như thế”, nên mới thế vậy. Và, giả như người dặn dò và phán bảo, lại là thánh-nhân hiền-lành thời buổi trước, hẳn sẽ khác. Khác ở điểm, là: thánh-nhân hiền-lành chỉ nói và bảo như sau:

“Bởi vậy, cả tôi nữa, từ khi được nghe nói về lòng tin của anh em

vào Đức Giêsu, và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh,

tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em,

khi nhắc tới anh em trong những lời cầu nguyện của tôi.

Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô,

Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan

để mặc khải cho anh em nhận biết Người.

Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ,

đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được,

nhờ ơn Ngài kêu gọi,

đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú

anh em được chia sẻ cùng dân thánh.”

(Êphêsô 1: 16-18)

Và, những lời bảo ban/dặn dò từ đấng bậc cỡ chóp bu của Hội thánh vào hôm đó, thì sao? Sao lại có những lời như thể bảo:

“Từ buổi họp Thượng Đỉnh vào độ tháng 10 năm 2014 đến giờ, Đức Phanxicô đã cắt bỏ một cách thê-thảm những lời tuyến bố công-khai của ngài về việc ngài hỗ-trợ cho một đổi-thay diễn biến ở Giáo hội Công-giáo trong việc xử thế với các gia-đình nào bị rối rắm.” Đây là nhận-định của Sandro Magister, một Quan-sát-viên khá nổi cộm về các diễn-biến xảy ra ở Vaticăng, ông từng viết nhiều bài cho tờ L’Espresso.

Tác-giả Sandro Magister nhấn mạnh rằng: mặc dù Đức Giáo Hoàng từng đưa nhiều chỉ-dẫn nói là ngài ủng-hộ đề-nghị của Hồng Y Kasper vào độ trước ngày Hội Thượng Đỉnh diễn ra ở Rôma. Tứ lúc ấy đến nay, ngài thôi không nói về đề tài này nữa. Tác-giả Sandro Magister còn ghi chú thêm, là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp-tục nói thẳng thừng về nhiều vấn-đề khác trước công-chúng. Nhưng, ông còn tiết-lộ thêm rằng: “ từ dạo cuối năm 2014 đến nay, vẫn chưa có đến một dịp thuận nào để ngài đưa ra dù một yểm-trợ nhẹ-nhàng nhất đối với mô-hình mới do các nhà canh-tân đưa ra.” (xem Bản tin trên tờ The Catholic Weekly ngày 17/5/2015 tr. 3 có đầu đề là: ‘Soft pedal’ on troubled marriage’)

Và một tin khác cũng trên tờ Tuần báo này, lạ đã ghi rằng:

“Một giám-mục người Anh hôm rồi, lại đã hoan-nghênh/cổ võ cho bản tuyên-ngôn của chừng 500 linh-mục ở nước này hối-thúc Thượng Hội Đồng Rôma năm nay hãy cho biết lập-trường của Giáo-hội khẳng-định về giáo-huấn của Giáo hội về hôn-nhân.

Giám mục Mark Davis thuộc giáo-phận Shresbury đã cảm kích các linh-mục từng ký vào bản tuyên-ngôn nói trên ngõ hầu “kiếm tìm một đường lối vui vẻ chưa từng có vào độ trước hầu can-dự vào cuộc bàn-thảo đi dần vào ngày hội của Giáo-quyền Rôma, tháng 10 năm 2015 này. Giám mục Shresbury còn nói thêm, là: các linh-mục đã nhận ra rằng phải luôn có lòng quả cảm rất siêu-nhiên ghê lắm mới có thể đứng trụ về chân-lý của Giáo hội, ở thời buổi có nhiều khủng-hoảng và lẫn lộn hôm nay.

Ý-kiến của Giám mục Davis lại khác hẳn tuyên-bố của Hồng y Vincent Nichols từng khiển-trách các linh-mục nhà mình về việc công-bố cho báo-chí/truyền-thông về một tuyên-ngôn công-khai như thế. Giám mục này cho rằng: cuộc bàn cãi về các vấn-đề này, lâu nay không được nhà báo tường thuật theo cung-cách tốt đẹp nhất.

Ở Hoa kỳ, có đến gần 1000 linh-mục nay từng ký một tuyên-ngôn tương-tự hầu kêu gọi Thượng Hội Đồng Giám mục ở Rôma nên có một thông-báo rõ ràng ngõ hầu làm dịu bớt sự lẫn lộn/ngộ nhận về giáo-huấn của Hội-thánh.” (xem The Catholic Weekly ngày 17/5/20215 tr. 3 có đầu đề là ‘Bishop applauds priest’ call for synod statement’)

Để cho vui cả làng Đạo lẫn đời, nay có bạn bè/người thân vừa gửi cho bần-đạo một truyện kể nghe như chuyện thường ngày ở huyện dân-gian có người bệnh/người lành cứ là thăm viếng nhau một vài lúc, lại cứ hỏi han rồi xin xỏ những chuyện rất khó, như sau:

“Có cô hoa hậu nọ đến bệnh-viện thăm thương binh ở quân y-viện. Đến bên giường một chiến-sĩ, cô ta hỏi:

-Nhiệm-vụ của anh là gì?

-Giao-liên.

-Vậy thì cho em hôn lên ‘đôi hài vạn dặm của anh’. Nàng nói rồi hôn lấy hôn để lên đôi bàn chân của anh lính.

-Còn anh?

-Sĩ-quan tham-mưu.

-Ôi… Cho em hôn lên ‘bổ tổng tham-mưu’ của anh đi!

Hôn lên trán chàng sĩ-quan xong, qua giường kế tiếp, cô hoa-hậu dạn-dĩ nựng yêu:

-Nào, chàng trai dũng-cảm, hãy nói cho em biết binh-chủng của anh đí?

-Cậu lính trẻ hoảng-hốt co đầu gối lên bụng, mặt đỏ bừng đáp:

-Em.. em xin chị …đừng .. Em ở bên Pháo-binh!?!” (Trích truyện kể ở trên mạng, gửi đã lâu).

Truyện kể chỉ có thế. Không nói nhiều. Cũng chẳng diễn chẳng tả được bao nhiêu. Nhưng mọi người cũng đều hiểu ý-nghĩa tóm gọn trong đó. Nhưng có những chuyện về: việc bảo ban trong gia-đình, lại thấy một số nhân-sĩ cũng như đấng-bậc-thày-dạy lại vẫn minh-định và/hoặc chú-giải các đoạn thánh-kinh có liên-quan đến tình-tự gia-đình nhiều khó-khăn/xung khắc, được kể ở trình-thuật mà người đọc mới nghe qua, đã thấy khó.

Nhưng, nếu hiểu đúng ý người viết cũng như tìm-hiểu tình-trạng các gia-đình ở Địa Trung Hải, người đọc sẽ thấy đôi điều ghi ở trình-thuật Tin Mừng này/khác có những câu thật cũng khó nghe, nếu ta không được diễn-nghĩa, cho đúng. Đó, là đoạn viết từ Tin Mừng Gốc, còn gọi là Tin Mừng “Quelle” ở trình-thuật Luca đoạn 12 câu 51-53 đại ý bảo:

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà-bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”

Còn nhớ ý-chính trình-thuật này, khi trước cũng được đấng bậc giải-đáp thắc-mắc trên tờ The Catholic Weekly ở Sydney được trích đăng trên Chuyện Phiếm Đạo Đời có nhan đề Ià ”Ngày nào anh yêu em” NXb Hội Nhà Văn năm 2013, tr. 131-132, như sau:

“Nếu đưa đoạn này ra khỏi bối cảnh lời lẽ của Kinh thánh, ắt là ta sẽ nghĩ rằng Chúa Giêsu đến Ngài chỉ đem đến những bất bình cùng cãi tranh thôi; và như thế,ta cũng sẽ thôi không còn theo chân Chúa nữa.Thế nhưng, như một bạn đồng nghiệp rất khoa bảng chuyên chú giải Thánh Kinh của bổn báo đã từng nói: “Nếu ta lấy bất cứ câu Kinh thánh nào đem ra khỏi bối cảnh Lời Chúa, ắt hẳn còn lại chỉ là những chương đoạn ngớ ngẩn, chẳng nghĩa lý!” Và, đây là một trong những cái-gọi-là vớ vẩn, vẩn vơ ấy.

Bởi thế nên, ta hãy đưa bản văn/câu nói ấy vào với bối cảnh của toàn bộ Sách Tân Ước, mới được. Làm thế, ta sẽ hiểu được rằng Đức Giêsu thực sự đến với trần gian con người là để mang cho họ sự bình an và hiệp nhất…

Trước hết, nên nhớ rằng chính Đức Giêsu là dấu tích của sự “mâu thuẫn, rẽ chia”. Khi Ngài có mặt ở đền thánh Giêrusalem, cụ già Simêon đã tiên đoán về Ngài rằng: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng” (Lc 2: 34)

Nhằm rao giảng sự thật cần nắm vững, Chúa đã gặp biết bao nhiêu là chống đối rất đáng kể trong suốt cuộc đời Ngài và cuối cùng Ngài cũng bị dẫn đến cái chết do chính bàn tay của những người không sẵn sàng chấp nhận giáo huấn của Ngài được.

Đồ đệ theo chân Ngài cũng thế, các vị đều đã gặp nhiều chống đối. Thánh Phaolô liệt kê một loạt những nỗi khổ mà thánh nhân phải chịu khi rao giảng Tin Mừng (2Cr 11: 12-28). Và chính Hội thánh của Chúa cũng bị bách hại trước nhất là từ những người Do thái, rồi sau đó từ đế quốc La Mã suốt 250 năm.

Thế nhưng, tại sao Chúa lại nói về sự rẽ chia ngay trong gia đình? Là bởi vì, cũng thế, điều này thường là kết quả khi thành viên trong gia đình tin vào Lời Chúa, trong khi đó người kia lại không. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đều biết đến chuyện hễ có ai hồi hướng trở về với niềm tin nơi Đạo Chúa, thường thì người ấy dễ bị thành viên khác trong gia đình hoặc toàn bộ gia đình mình khích bác, cấm cửa không cho về lại với gia đình.

Tin Mừng theo thánh Mátthêu, có nhiều đoạn Chúa cũng ám chỉ chuyện này. Sau khi nói về mẹ chồng sẽ chống lại nàng dâu, Ngài còn bảo: “Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10: 36) Chúa còn trích dẫn lời của tiên tri Micah, khi ông nói: “Quả thật, con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch.” (Mc 7: 6)

Và từ đó, Ngài nói tiếp: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37)

Thế thì, nếu có ai khám phá ra sự thật ở Tin Mừng rồi đến mà thực thi Lời dạy của Chúa, hẳn nhiên là người đó yêu Chúa hơn gia đình mình và họ sẽ nghe theo tiếng gọi của Chúa, dù cho có phải gặp nhiều chống đối rẽ chia, từ phía gia đình.

Hiển nhiên là, Chúa đâu nào đã mang sự chia rẽ đến với ai bao giờ. Ngài chỉ muốn nói: Ngài biết là đôi lúc những người theo chân Ngài sẽ gặp phải chống đối. Sẽ có sự rẽ chia, và ly cách.

Điều Chúa mang đến, Ngài đã nói rõ điều đó, chính là sự bình an và hiệp nhất: bình an trong tâm hồn cho tất cả những ai theo chân Ngài. Hiệp nhất, tất cả mọi dân con đồ đệ của Ngài.”

Và đây, một cách giaỉ-thích cũng như tầm nhìn về vấn-đề này từ tác-giả John Dominic Crossan, bậc thày thần-học ở Đại học đường De Paul, Chicago Hoa Kỳ từng giải-thích rằng:

“Thông thường thì, mỗi khi các nhà chú-giải trích-dẫn mấy câu này, lại hay bảo: gia-đình, rồi cũng sẽ chia rẽ nhau như tình-trạng của một số người tin-yêu Đức Giêsu, còn người khác lại vẫn khước-từ không tin vào Ngài, chút nào hết.  Theo tôi, vấn-đề đây không liên-quan đến niềm tin của ai hết, mà chỉ nói về quyền uy/sức mạnh của gia-đình, thôi.

Cũng nên để ý đến điều được nói ở dụ-ngôn, về sự phân-cách giữa các thế-hệ. Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh tiêu-biểu, về gia-đình ở Địa Trung Hải có 5 thành-viên, là: cha mẹ, con gái còn son sẻ, con trai đã có gia đình và vợ anh, tất cả đều chung sống trong cùng một mái nhà. Đức Giêsu nói: Ngài sẽ chia-cách những người như thế, khiến họ sẽ phải sống cách riêng-rẽ. Ngài công-kích, là về sự sắp xếp sức mạnh/quyền-uy của gia-đình có bậc mẹ cha đầy uy-lực ở bên trên con trai, con gái và dâu con của họ.

Thật ra thì, truyện này lại giúp ta hiểu được các truyện kể và lời Đức Giêsu nói  cốt dạy-dỗ mọi người về cuộc sống gia-đình. Gia-đình, là xã-hội thu nhỏ. Là, khung-cảnh ở trong đó ta học được khuôn-mẫu tình thương, ghen ghét, việc giúp-giùm đùm bọc và cả cung-cách người người cứ xách-nhiễu nhau. Không phải là, gia-đình nào cũng có cảnh sống chung rất ấm-cúng và dung-dưỡng nhau theo kiểu của Norman Rockwell ở trời Tây. Bởi lẽ, đời sống gia-đình dính-líu vào với uy-lực/quyền-bính, nên cũng dính-dự vào cả chuyện lạm-dụng quyền-lực nữa. Và, đó là quan-điểm/lập-trường mà Đức Giêsu muốn đả-phá, công-kích.

Nhóm/hội lý-tưởng của Ngài, trái-nghịch hẳn mọi sắp-xếp xã-hội thông-thường của nhân-loại. Nhóm/hội Ngài thiết-lập, lại mở rộng nên ai cũng có thể tiếp-cận được với nhau dưới trướng của Ngài. Nơi Vương Quốc Nước Trời, không có chuyện lạm-dụng quyền-lực. Tất cả, được chào đón rất vui vẻ. Mọi người đều ngang bằng đồng đều, giống nhau và ngang hàng nhau theo ý-định và mục-đích do Chúa định-đoạt.

Trong xã-hội dân-chủ vào thế-kỷ đương-đại, ta cũng không hề bị rút ra khỏi khuôn-mẫu của thế-giới đầy quyền-năng của Đức Giêsu. Ta cũng biết thế nào là lạm-dụng quyền-uy thế-lực trong đời sống gia-đình. Thành-ngữ “bạo-lực trong gia-đình” ta từng nghe đi nghe lại nhiều lần hơn các thế-hệ trước.

Nay, ta còn biết: lạm-dụng lớn/nhỏ thường nấp ở dưới mặt ngoài nhìn sơ qua thấy êm ả. Thành thử, dù ở thế-kỷ thứ nhất hoặc thứ 20, 21 này, thì việc Đức Giêsu công-kích về gia-đình vẫn có đôi điều để nói, là: không cơ-cấu gia-đình nào, lại trở-thành tuyệt-đối hết. Mọi cấu-trúc hiện-tỏ cho con người là để ta dung-dưỡng/chấp-nhận nhau, mà sống sót.

Đời sống gia-đình, cũng tựa hồ cuộc sống nhân-loại, đều nằm trong phạm-vi ở Vương Quốc Nước Trời, do Chúa định-vị. Đời sống gia-đình, giống mọi hình-thức khác có  liên-đới/kết-hợp với con người. Nó hiện-hữu vì mục-đích công-bằng và tình-thương, mà thôi.” (x. John Dominic Crossan, Who is Jesus, nsb Westminster John Knox Press 1996 tr. 47-48)

Như ở trên, Đức Giêsu từng hô-hào về Vương Quốc Nước Trời, tức xã-hội mà mọi người nam cũng như nữ, nghèo và giàu cũng đồng-đều/như nhau, thì chắc chắn sẽ gây chia-cách mọi người trong cùng gia-đình/xã-hội ấy, mà thôi.

Thành thử ra, có hát hoặc có nói với nhau những lời như: “Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe”. Vì không nghe, nên mới không hiểu. Thành thử, tưởng cũng nên trở về với Lời Vàng thánh, khi xưa bậc thánh-hiền từng căn-dặn, rằng:

“Bởi thế, một khi đã cởi bỏ sự gian dối,

mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận,

vì chúng ta là phần thân thể của nhau.

Anh em nổi nóng ư?

Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng!…

…Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa,

nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp,

để xây dựng và làm ích cho người nghe.”

Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa,

vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc.

Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ,

và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.

Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau,

như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.”

(Êphêsô 4: 25-32)

Những lời dặn dò trên đây, tưởng cũng quá đủ để tôi và bạn, hoặc những vị có quyền trong Giáo-triều Rôma, hãy nhớ mà tạo lấy cho riêng mình như lời để đời mà sống cho vui, cho hạnh phúc, suốt đời.

Để làm dịu bớt tình-hình mang tính cách “chuyện phiếm” cả đạo lẫn đời, tưởng cũng nên đi vào vùng trời đầy truyện kể cũng như lời nhắn nhủ đời, như sau:

“-Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

ến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

ến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.
ến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

ến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác  giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cầ thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì dòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai.”

Và, lời cuối của bần đạo bầy tôi đây, là: lúc ấy đã đến rồi đó bạn, tôi ạ. Vậy thì, ta hãy mạnh dạn mà hướng thẳng về phía trước để rồi sẽ sống vui, sống mạnh, sống vững vàng, không sợ gì ngăn trở hoặc điều gì sẽ xảy ra rất trái ý ta, trái ý mọi người. Ở đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn một lòng một dạ

ra như thế.

Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải,

Tin Mừng (Mc 6: 7-13)

Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.  Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông:

“Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.”

Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

“Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải,”

“Nhớ cho mình dáng dấp người yêu.

Lỡ giòng đời tóc điểm muối tiêu,

Còn giây phút chạnh lòng như…mới lớn.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Nhìn nắng trải” ở bờ sông, để “nhớ cho mình dáng dấp người yêu” tuy chỉ là lời nhắn của người đời. “Còn giây phút chạnh lòng, như mới lớn”, có thể là lời nhủ và khuyên, ở nhà Đạo.

Nhiều năm về trước, nhà Đạo mình  lại thấy Đức Giáo Hoàng nọ có quyết định, là: các đạo hữu gốc Do Thái nên rời Rôma, đi nơi khác mà sống đạo. Ngay khi ấy, đã xảy ra làn sóng bất bình giữa cộng đồng sắc tộc nhỏ bé này.

Thành thử lúc bấy giờ, Đức Hồng Y chủ quản đã phải ra tay dàn xếp. Ngài ngỏ ý, cộng đồng đạo hữu nên đề cử một vị đến tham gia tranh luận về tôn giáo với ngài. Nếu cộng đồng người Do thái thắng, họ ở lại. Nếu Ngài thắng, cộng đồng này phải xách gói ra đi.

Cộng đồng tôn giáo bạn thấy không còn chọn lựa nào khác, đành cử người tham dự cuộc tranh luận với Đức Hồng Y Chủ quản. Cuối cùng, người đại diện bên bạn chẳng là ai khác ngoài một lão ông chân phương, đơn độc mang tên Mô-Shê. Lão ông lâu nay giữ chức “ông từ” chuyên mở cửa cho đạo hữu đến cầu nguyện, mỗi thứ sáu.

Thoạt đầu, vào lúc khởi sự tranh luận, lão ông đề nghị: hai bên sẽ không phát biểu bằng lời nói, mà chỉ ra dấu thôi. Hiểu ý hay không, tuỳ tài trí thông minh của mỗi vị.

Ngày “N” đến. Đức Hồng Y và lão ông Môi-shê ngồi trực diện, hỏi đáp tranh luận nhau bằng dấu hiệu. Đức Hồng Y khởi sự trước. Ngài giơ 3 ngón tay ra dấu rất tự tin. Lão ông đáp lại, chỉ đưa duy nhất có một ngón.

Kế đến, Đức Hồng Y dùng tay vẽ đường tròn, ngay trên đầu. Lão ông lại trỏ ngón tay xuống đất, rất bất đồng. Đức Hồng Y bèn rút từ trong túi ra, những bánh và rượu, đầy đủ cả. Đáp lại, lão ông đem trình làng mỗi trái táo xanh, rất đơn giản.

Bất chợt, Đức Hồng Y đứng dậy nói: Thôi được, tôi chào thua. Người này quá giỏi! Được rồi! Các bạn cứ việc ở lại, đừng lo lắng.

Ít lâu sau, có người hỏi ý nghĩa cuộc đối thoại bằng tay vừa rồi là gì, thì Đức Hồng Y giải thích: tôi ra dấu 3 ngón tay tỏ ý: ta tin vào Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Thì, ông ta chỉ giơ có một ngón, ra điều nhắc nhở là: chúng ta đều cùng tin vào một Đức Chúa.

Thế rồi, tôi dùng tay để vẽ hào quang trên đầu, ý bảo rằng: Thiên Chúa đang ở quanh ta. Thì, ông ấy phản bác lại bằng cách ra dấu có một ngón, chỉ xuống đất. Ý chừng muốn nói: Đức Chúa của chúng ta đang hiện diện, ở nơi đây. Lúc này.

Kịp đến khi, tôi đem bánh và rượu ra, chứng minh: Chúa ban phép cho anh em mình cử hành Tiệc Thánh, để nhận lãnh Thân Mình Ngài. Thì, lão trự ấy rút ra quả táo xanh, có ý nhắc nhở ta về lỗi lầm muôn thưở; tức, tổ tiên cha ông ta đã phạm lỗi. Cuối cùng, lão ta tinh ranh hơn, giải mã được hết mọi chuyện chúng tôi ra dấu. Tôi còn biết làm gì hơn nữa, bây giờ?

Lúc ấy, lão ông Môi-Shê cũng giải thích cho đám kinh sư cứ nhao lên hỏi kết quả cuộc tranh luận, đối đầu. lão ta nói: Dễ hiểu thôi! Trước nhất, ông ấy bảo với tôi: Người Do thái mình chỉ còn độc nhất có 3 ngày để rời thành này. Tôi đáp ngay: không 1 người nào trong anh em chúng tôi đi đâu, hết.

Sau đó, ông nói: Toàn bộ thành La Mã sẽ biến sạch không còn bóng người Do thái nào hết. Tôi bèn đáp: chúng tôi vẫn cứ ở đây. Bây giờ và mãi mãi. Thiên thu. Bất tận. Thế là, đám kinh sư/thượng tế nhao lên: Ấy thế, kết cuộc ra sao? Lão ông trả lời: Tôi cũng chẳng biết. Có điều lạ, là: sau đó, ông ta đem bữa trưa của mình, ra ăn. Còn tôi, tôi cũng ăn đồ ăn của mình. Đơn giản chỉ có thế!

Xem ra, cuộc sống ở đời tùy vào cách thức ta đọc và hiểu các tín hiệu chỉ dẫn, đơn giản chỉ như thế.

Tin Mừng hôm nay, kể việc Đức Kitô răn dạy môn đệ: hãy biết trân quý 3 tín hiệu của cuộc đời, là: sống giản dị, sống quan tâm đến người khác; và, sống hiếu khách. Việc này xứng hợp đa số các sự việc xảy đến, qua thái độ sống của con người, ngày hôm nay.

Thời buổi này, thiên hạ chỉ thích chuyện giàu sang, phú quý. Người người chỉ muốn sống tách biệt. Chẳng đoái hoài một ai. Dường như, ai cũng muốn làm thủ trưởng, thủ lãnh ngồi trên đầu trên cổ người khác, thôi.

Với Đức Kitô, ai muốn làm môn đệ Ngài, đều phải nhớ: điều cao quý nơi con người, không là chuyện giàu sang, phú quý. Mà là: tư cách và thái độ biết quan tâm đến người khác. Dĩ nhiên, trong cuộc sống, của cải/vật chất đều rất cần.

Nhưng vấn đề là: ta có biết sử dụng của cải/vật chất mình kiếm được, mà phân phát/tặng ban cho những người thiếu thốn, cần hơn mình, không? Nói các khác, ta phải làm chủ đồng tiền, chứ đừng để tiền bạc/vật chất làm chủ, điều động ta.

Với Đức Kitô, dù là đá tảng hay hải đảo cách biệt, đây không là dấu hiệu của sức mạnh của uy quyền; mà chỉ là ưu tư vang vọng. Kéo dài. Tín hữu Đức Kitô có được sức mạnh quyền uy, phải là người biết vui, biết mừng khi hỗ trợ cho nhau. Cậy nhờ, nâng đỡ nhau. Ở mọi nơi. Vào mọi lúc. Thật sự cảm kích, biết ơn nhau vì đã tạo sự hiệp thông, hỗ trợ.

Với Đức Kitô, người tín hữu mang Danh Ngài, là người biết tạo dịp cho người khác không thấy có điều gì trở ngại khi ngỏ ý nhờ mình giúp đỡ. Hỗ trợ. Đặc biệt hơn, là những người có nhu cầu chính đáng, nhưng chưa được đền bù. Đó là tín hiệu giúp ta nhận ra Vương quốc Nước Trời, đang hiện hữu ở quanh đây. Bây giờ.

Sống đúng chức năng của Kitô hữu, điều quan trọng là: biết nhận ra tín hiệu thời đại. Thế nên, tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong cho tiệc Lòng Mến giúp ta nhận ra được tín hiệu: Chúa đang hiện diện nơi ta.

Cầu và mong sao, bánh và rượu ta dâng tiến, giúp ta thay đổi được cuộc sống. Cầu và mong, cho cuộc sống của ta sẽ thích nghi hài hòa với mọi người. Sống giản đơn, vui vẻ, đỡ nâng nhau để sống hân hoan hiếu khách, không câu nệ hoặc ỷ lại. Nhưng an hòa và biết đem thì giờ cùng khả năng và nghị lực của mình ra để xây dựng Nước Trời, ở nơi đây. Lúc này.

Trong suy-tư/niệm tình, ta cùng nhau ngâm tiếp câu thơ đời có nỗi buồn, vẫn bảo rằng:

“Mình hãy trách đời nhau nhiều hư-hỏng,

Rồi giận hờn, cho kỷ-niệm đầu tay.

Thu miên man, không thấy lá vàng bay.

Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng…”

(Nguyễn Tất Nhiên – Sầu khổ Dịu Dàng)

Sầu và khổ, chỉ dịu dàng một mầu trắng khi nhà Đạo mình không nhận ra những điều do đấng thánh hiền-lành từng khuyên-bảo hết mọi người ở Nước Trời, hôm nay và mai ngày, rất như thế.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá, lược dịch

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ Và Di Dân Việt Nam

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ Và Di Dân Việt Nam

Giao Chỉ, San Jose tháng 7-2015

Lời nói đầu:

Bài này đă viết lần đầu vào cuối thập niên 80, sau đó cứ khoảng 5 năm được nhật tu và sửa chữa. Sống ở Mỹ, mỗi ngày học thêm được bài học công dân và tự điều chỉnh việc suy tư. Năm nay nhân dịp 40 năm định cư tại Hoa Kỳ, đất nước trẻ trung đã già 240 tuổi, tác giả xin cập nhật thêm một lần cùng với những vấn nạn dân sinh tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thi 21. Trải qua 40 năm, di dân Việt nhập cư vào Mỹ đã cùng chia xẻ những đề tài xã hội trên quê hương mới bao gồm các lãnh vực sau đây:Trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế, chuyện đồng tính, chuyện phá thai, chuyện súng đạn, chuyện kỳ thị, chuyện nhập cư…và sau cùng là việc đương đầu với biết bao nhiều khó khăn đối ngoại để bảo vệ an ninh cho đất nước và giữ mãi vai trò lãnh đạo thế giới. Dân Việt bắt đầu từ di tản đến ty nạn cộng sản và sau cùng trở thành các di dân chính thức xây dựng cuộc sống tại Hoa Kỳ, chúng ta đã hưởng phúc lợi và chia xẻ khó khăn của đất nước này, xin một lần nhắc lại trang sử lập quốc của quê hương tạm dung nay đã trở thành vĩnh viễn.

Nation of America – Denny Nguyen

Ngày Quốc Lễ

Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chủng Quốc.
Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ đã được dự ngày kỷ niệm 200 năm lập quốc vào năm 1976. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm 40 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc vẫn phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới. Đặc biệt nhất là vai trò lâu dài của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam đã trở thành một vết thương cay đắng trong thế kỷ 20, nhưng qua thế kỷ 21 Mỹ quốc lại trở thành niềm hy vọng đồng minh giữa cơn sóng gió biển Đông.
Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với hai đại dương Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng đã đặt cọc trên đất trên hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các tòa đại sứ và lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.
Cơ sơ ngoại vi của các đại sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home.

Đó là hình ảnh Hoa Kỳ ngày nay, sau 239 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.

Ai là người đầu tiên trên đất Mỹ?

Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước lục địa còn dính liền cuối thời băng giá. Á châu và Mỹ châu nối tiếp ở phía Bắc. Con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Sau đó quả đất chuyển đổi, hai lục địa tách xa nhau. Người Á châu tiền sử trở thành thủy tổ của các bộ lạc ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, thực ra đây cũng chỉ một là giả thuyết.
Thực tế ghi nhận nhiều nền văn minh đã được kiến tạo, nhiều bộ lạc đã tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân Tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus năm 1492 đi tìm Á châu nhưng tình cờ khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu tìm đến châu Mỹ.

Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân Âu châu bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn đã trở thành biểu tượng của cuộc định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình.
Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.
Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Thổ dân tại Mỹ chết dần vì bị giết, bị đói, bị bệnh, có thể do các mầm bệnh từ tây phương đem đến.
Trong khi đó từ 1620 đến 1732 tức là hơn 100 năm. Một nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp.
Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa.

Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.

Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao.
Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động.
Từ hơn 4 triệu dân vào năm 1800 trở thành trên 300 triệu vào năm 2015. Trên giấy tờ có 239 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã nảy mầm từ trên 300 năm.

Ý nghĩa Hiệp Chủng Quốc.

Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Cái đó còn tùy hoàn cảnh, địa phương và thời gian.
Nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực ấn định. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn được gọi là: Đường mòn nước mắt.
Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu đồng khô cỏ cháy xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết.

Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa cả chân trời. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, trích dẫn từ Thánh Kinh đã trở thành một vết thương trong lương tâm Hoa Kỳ.
Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị.

Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công vĩ đại tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ.

Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại.
Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có một triệu tám trăm ngàn người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, ODP, con lai nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Qua thế kỷ 21 hồ sơ đoàn tụ tiếp tục với các gia đình trên 10 năm chờ đợi cùng với các diện hôn nhân gặp gỡ vội vàng. Mười quận hạt có dân số đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, Dallas và Fort Worth (Texas).

Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di dân trong trách nhiệm xây dựng đất mới.
Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ cội nguồn. Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này.
Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới.

Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái Ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ.

Giao Chỉ, San Jose 2015

Anh chị Thụ Mai gởi

ĐỨC HƠN TÀI LÀ BẬC QUÂN TỬ , TÀI HƠN ĐỨC LÀ KẺ TIỂU NHÂN

ĐỨC HƠN TÀI LÀ BẬC QUÂN TỬ

TÀI HƠN ĐỨC LÀ KẺ TIỂU NHÂN

Trước kia, mỗi khi qua mặt được ai đó để đạt được chút gì, bạn bè sẽ trầm trồ: “khôn quá ta, dùng chút mánh lới là có được thứ mình muốn“, Nghe xong liền cảm thấy dương dương tự đắc nhưng khi đã trải qua nhiều chuyện trong cuộc sống, mới biết đó chỉ là khôn vặt tầm thường, về lâu dài, tài khôn vặt ấy chỉ gây tổn hại cho bản thân.

Làm người ở trong đời, chữ đức mới quan trọng lắm thay.

Trước đây không lâu, một chương trình truyền hình của Đài Loan với tên gọi “Cuộc đời sang giàu”, khách mời là nhà điều hành của một công ty rất nổi tiếng.

Khi chương trình gần kết thúc, người dẫn chương trình đưa ra câu hỏi cuối: “Anh cho rằng nhân tố then chốt làm nên thành công của công ty là gì?”

Trầm tư một lát, vị khách mời này cũng không trực tiếp trả lời mà bình tĩnh kể một câu chuyện:

“12 năm trước, một chàng trai vừa tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Thời gian dần qua, anh phát hiện nhà ga địa phương hầu hết đều có lỗ hổng, không có chỗ kiểm vé, cũng không có người kiểm vé, thậm chí ngay cả camera kiểm tra cũng rất ít. Dựa vào trí thông minh của mình, người thanh niên này tính toán được tỉ lệ trốn vé mà bị tra ra chỉ có 3/10.000. Anh rất đắc ý với phát hiện này của mình. Từ đó về sau, anh thường xuyên trốn vé. Anh còn biện hộ cho bản thân rằng, vì mình là học sinh nghèo mà, có thể tiết kiệm chút nào hay chút nấy. 4 năm qua đi, với tấm bằng đại học danh tiếng và thành tích xuất sắc, anh tự tin nộp đơn vào các công ty đa quốc gia, nhưng kết quả lại khiến anh hụt hẫng.

Những công ty này mới đầu đều rất nhiệt tình với anh, nhưng sau khi đọc qua vài thứ, liền nhẹ nhàng từ chối. Điều này thật sự khiến anh rất băn khoăn. Cuối cùng, anh đã viết một email với ngôn từ cầu thị, gửi đến bộ phận nhân sự của một trong những công ty đó với mong muốn được biết lý do không được nhận vào làm.

Một đêm nọ, anh nhận được email hồi đáp.
“Chào anh Trần, chúng tôi đánh giá cao tài năng của anh, nhưng khi chúng tôi đọc dữ liệu thông tin về anh, thì thực sự rất tiếc rằng trên hệ thống hồ sơ ghi lại anh đã 3 lần trốn vé xe. Chúng tôi cho rằng điều này đã chứng minh 2 điểm:

1. Anh không tôn trọng quy tắc công cọng: Sau khi phát hiện ra lỗ hổng của nhà ga anh năng đi lại, anh đã cố ý lạm dụng.
2. Anh là người không đáng tin. Công ty của chúng tôi rất nhiều việc phải dựa vào sự tín nhiệm, bởi nếu anh phụ trách phát triển thị trường nào đó, công ty sẽ giao cho anh nhiều quyền tự quyết.
Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi không thể thiết lập cơ cấu giám sát giống như hệ thống giao thông công cộng. Vì vậy chúng tôi không thể thuê anh, thật tình mà nói, ở quốc gia này, thậm chí toàn bộ liên minh Châu Âu, có lẽ anh sẽ không thể tìm được công ty nào đồng ý tuyển dụng anh”.

Đến lúc này, chàng thanh niên mới tỉnh mộng, giá như biết trước hậu quả tai hại khôn lường anh đã không làm như vậy. Nhưng điều thực sự khiến anh chấn động là câu cuối cùng của nhà tuyển dụng, bởi câu nói ấy thể hiện một đạo lý rằng:
Đạo đức thường có thể bù đắp cho tài trí, nhưng tài trí vĩnh viễn không bù đắp được cho đạo đức. Ngày hôm sau, anh lên đường về nước”.

Câu chuyện kể xong, hội trường yên lặng. Người dẫn chương trình băn khoăn hỏi vị khách mời: “Điều này có thể nói nên đạo lý thành công của anh?”. “

Có thể! Vì người trẻ tuổi trong câu chuyện này chính là tôi”.

Rồi anh dõng dạc nói: “Tôi có thể đi đến ngày hôm nay, chính bởi vì tôi đã biến ‘chướng ngại’ của ngày hôm qua thành ‘hòn đá kê chân’ cho ngày hôm nay”.

Có lẽ đây chính là bài học đáng giá về thành công của vị giám đốc ấy.

Nhà sử học lừng danh Tư Mã Quang từng nói: “Đối với người tài, đức chính là vốn; còn người có đức, tài ắt tự sinh. Tài đức toàn vẹn là thánh nhân, tài đức cùng mất là người ngu ngốc, đức hơn tài là bậc quân tử, tài hơn đức là kẻ tiểu nhân”.

Người giỏi về lắt léo, cuối cùng đều là hại chính mình

S.T.

SỐNG Ý NGHĨA

SỐNG Ý  NGHĨA

Hãy chia nhau những gì mình biết

Đừng khư khư ích kỷ giữ riêng

Mai chết đi sẽ bị thất truyền

Đời ý nghĩa là khi chia sẻ

Hãy cứ thương đi dù ai ghét

Dù ai ganh, bôi bác thị phi

Thói đời vẫn vậy chấp mà chi

Đời ý nghĩa là khi tha thứ

Hãy giúp đỡ đi nếu có thể

Đừng nề hà cân nhắc thiệt hơn

Cũng đừng mong ai đó trả ơn

Đời ý nghĩa khi làm thiện nguyện

Hãy cứ cho đi, đừng tiếc rẻ

Mai ta về chẳng thể mang theo

Thế gian biết bao kẻ khó nghèo

Đời ý nghĩa là khi cống hiến

 

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-03

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Your browser does not support the audio element.

Đảng sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ thể hiện điều gọi là mới mẻ bớt giáo điều hơn các nhà lãnh đạo khác của chế độ, khi ông là người đầu tiên xếp vị trí của Đảng đi phía sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp.

Báo chí Việt Nam trong đó có Thanh Niên Online đưa tin, trong dịp tham dự Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX tổ chức ngày 1/7/2015 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong muốn quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Dân tộc, với Hiến pháp. Lâu nay, tất cả các nhà lãnh đạo của nhà nước cộng sản Việt Nam khi phát biểu chính trị đều rập khuôn công thức quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng sau đó mới tới Tổ quốc và Nhân dân.

Khái niệm quân đội phải trung thành với Đảng sau đó mới đến Tổ quốc và Nhân dân là một sự quen thuộc đến hiển nhiên ở Việt Nam và chỉ từ khi mạng xã hội bùng nổ, các nhà báo tự do, giới blogger mới có nhiều bài viết châm biếm về khái niệm gọi là không giống ai này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện một sự điều chỉnh đáng chú ý, dù rằng ở vế thứ hai ông vẫn xác định quân đội phải nghiêm túc chấp hành sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước….

” Ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.
-TS Nguyễn Quang A”

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hàm chứa sự thay đổi nào hay không trong khái niệm quân đội Việt Nam trước tiên là phải trung thành với Đảng. TS Nguyễn Quang A, nhà phản biện độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Không có gì là mới cả, bởi vì ông ấy nói trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân rồi với Hiến pháp. Thực sự thứ tự đó cũng giống như ở trong Hiến pháp là Tổ quốc Nhân dân rồi Đảng. Tôi nghĩ có thể ông ấy hơn những người khác có những đầu óc cũ kỹ của thời xưa đặt Đảng lên trên đầu, còn ông Thủ tướng tuân thủ đúng như lời văn của Hiến pháp vừa rồi. Nhưng ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.”

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Minh Giang Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương Khóa 10 từ Hà Nội nói với chúng tôi, là ông không thấy có sự thay đổi gì trong phát biểu của Thủ tướng vì khái niệm Quân đội trung thành với Đảng không xa lạ với Việt Nam. Theo ông, dư luận bên ngoài chú ý nhiều tới thứ tự câu chữ khi nói về sự trung thành của quân đội, vì thực sự có sự khác biệt giữa các quốc gia. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Nếu mà nói về sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước thì có vấn đề ấy thật là bởi vì ngay cả trong những qui định có tính chất pháp luật thì quân đội là tổ chức chịu sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy cho nên trung thành với Đảng là cách ở Việt Nam nghe cũng quen rồi và cũng bình thường.”

Đối với các ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, quân đội ở bất kỳ quốc gia nào cũng có lời thề trung thành và bảo vệ tổ quốc, còn ở Việt Nam thì quân đội có lời thề theo trình tự là trung thành với Đảng sau mới đến Tổ quốc và nhân dân. Sự kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đầu tiên đã thay đổi trình tự gần hơn với quan niệm chung trên thế giới được nhìn nhận như thế nào. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Tôi cũng nghĩ rằng, một quân đội thì trước hết phải vì lợi ích của dân tộc, lợi ích của quốc gia. Tất cả những giá trị khác theo tôi nó cũng xoay quanh giá trị cốt lõi ấy. Một đất nước nào thì dân tộc và quốc gia cũng được coi là giá trị trung tâm, tất cả những giá trị khác kể cả chính trị …đều phải xoay quanh giá trị này thôi. Vì vậy Thủ tướng có nói phải trung thành với Tổ quốc thì cũng là quan niệm bình thường thôi.”

000_DV1889379.jpg

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Á Âu (ASEM) tổ chức tại Milan, Ý vào ngày 16 tháng 10 năm 2014.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đảo ngược trình tự về nhiệm vụ của quân đội, ông mong muốn quân đội một lòng xây dựng quân đội ngày cảng vững mạnh về mọi mặt; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Trong những văn kiện đưa ra lấy ý kiến rộng rãi và đây có lẽ cũng là điểm mới của Đại hội 12, nêu rất cao lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Tôi coi xác định như thế là đúng, thế còn các hệ thống chính trị, lực lượng chính trị hay tất cả những cái khác thì phải coi đó là cốt lõi lợi ích dân tộc của một quốc gia là hàng đầu. Vì vậy quân đội là quân đội nhân dân được nhân dân nuôi nấng, được trang bị bằng tiền thuế của người dân thì trước nhất phải bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Thế còn đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị theo qui định Điều 4 Hiến pháp là lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị thì quân đội có trách nhiệm bảo vệ Đảng. Tôi nghĩ Thủ tướng nói như thế là đúng.

Cần minh bạch thông tin

Đọc các báo trên mạng tuần này, như Tuổi Trẻ, Tiền Phong, VnExpress chúng tôi ghi nhận tin Đại tướng Phùng Quang Thanh Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam được giải phẫu cắt khối u ở phối ở Pháp và sắp trở về Việt Nam. Tuy vậy những thông tin chính thức xuất hiện ngày 2/7/2015 chậm một tuần sau khi ông Phùng Quang Thanh đã rời Việt Nam và trên các trang facebook râm ran tin đồn ông bị ám sát chết.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Cũng có thể do thói quen mang tính truyền thống, cũng có thể do tính nguyên tắc của mỗi nước. Xưa nay cán bộ cao cấp đi chữa bệnh điều trị thì không bao giờ loan báo, hình thành lệ thường như thế. Vài ngày qua có những tin tức như vậy nên cũng cần có thông báo như cách để cải chính lại những tin không đúng. Bình thường nếu không có những tin đồn đoán thì chắc cũng chẳng đưa. Tôi nghĩ đưa tin đó ra bởi vì có tin trên mạng nói ông ấy gặp nạn ở Paris thì việc đưa tin là một cách cải chính.”

” Tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra.
-TS Nguyễn Quang A”

Ở những quốc gia văn minh dân chủ, chính phủ công khai thông tin về tình trạng sức khỏe của các giới chức cao cấp kể cả thủ tướng, tổng thống để người dân được biết. Có ý kiến cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam cần thay đổi tư duy về vấn đề này. TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Đấy là một sự thiếu khôn ngoan của họ về vấn đề bí mật thông tin. Bởi vì họ càng giấu bao nhiêu, càng bí mật bao nhiêu thì càng làm cho dư luận nghi ngờ. Bản thân tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra và đến sáng nay thì Tuổi Trẻ mới đưa và vừa rồi ở trong buổi chiêu đãi quốc khánh Mỹ tôi gặp một vài người, họ cho biết Tuổi Trẻ đang bị kiểm điểm. Tôi nghĩ rằng đấy là một cách rất là không khôn ngoan về việc minh bạch thông tin và chính việc không minh bạch thông tin đã làm cho sự chính danh của chế độ cộng sản này bị xói mòn đi. Điều này họ phải tự trách mình vì chính họ làm hỏng cho họ.”

Theo Infonet và Tiền Phong Online, chiều 2/7 GS Phạm Gia Khải, thành viên Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh sang Paris Pháp chữa bệnh từ ngày 24/6/2015 vừa qua. Ông Thanh đã được giải phẫu cắt bỏ khối u xơ ở phổi. Tình trạng sức khỏe của Đại tường Phùng Quang Thanh là ổn định không có diễn biến xấu và tới đây sẽ về Việt Nam. Tuy vậy bản tin không xác định bao giờ ông Bộ trưởng trở về nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh 66 tuổi là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng và được dự báo ở trong danh sách ứng cử các chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong kỳ Đại hội Đảng khóa 12 năm 2016. Ông Phùng Quang Thanh nổi tiếng về những phát biểu thân Trung Quốc trong thời gian vừa qua. Hiện chưa rõ tình trạng sức khỏe của ông Phùng Quang Thanh có ngăn trở bước đường công danh của ông hay không.

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….

Bùi Bích Hà

Qua đến mùa mưa thứ hai ở Cambodia thì tôi đủ tự tín để nghĩ rằng: chỉ cần vài ba trăm đô la là mình có thể sống “ung dung” cả tháng ở cái xứ sở (dễ thương) này.

Ăn sáng rẻ rề hà. Cà phê pha vợt thêm một cái bánh tiêu hay bánh quẩy chỉ 60 xu, nếu tính theo Mỹ Kim bản vị. Cháo lòng và hủ tíu thì mắc hơn chút xíu, giá cả “dao động” từ 80 xu đến 90 xu thôi.

Cơm trưa hoặc chiều [canh chua cá (đủ loại) canh khổ qua nhồi thịt, giá xào đậu hũ, sườn ram, cá lóc nướng (cỡ cườm tay), trứng chiên, thịt heo kho tầu, mắm chưng, bò xào khóm …] đồng gía 4.000 riel, tương đương với một dollar. Thêm phần cơm trắng một quarter nữa là xong bữa.

Nhớ thử canh chua nấu theo kiểu Khmer nha, mấy cha. Bất cứ loại cá, hay loại rau nào mà lọt vô tay người dân xứ này là họ đều bỏ vô nồi canh chua tuốt luốt. Bởi vậy, thực khách có thể thưởng thức mười bốn tô canh chua liên tiếp trong một tuần, với mùi vị hoàn toàn khác nhau, và tô nào cũng ngon hết biết luôn.

Chỉ có điều phải phàn nàn là khứa cá thường nhỏ xíu, và mỏng tanh hà, nhứt là cá lóc. Nói là mỏng như tờ giấy thì hơi quá đáng nhưng nói khác đi thì thiệt tình là tôi không biết nói làm sao cho đúng. Nhưng nói tóm lại thì chỉ cần một đồng rưỡi, và đừng bầy đặt bia bốc hay rượu chè gì ráo, là sẽ được một bữa ăn bảo đảm là no bụng tuy hơi có phần đạm bạc.

Muốn cho tươm tất và bảnh bao thì phải ra khỏi những con hẻm nhỏ (“hắt hiu vàng ánh điện câu”) ở ngoại ô Phnom Penh, rồi “giả dạng” làm du khách, hiên ngang kêu Taxi ra trung tâm thủ đô cho nó ngon lành.

Trên đại lộ Shihanouk có Ngon Restaurant. Không phải món nào ở đây cũng “ngon” nhưng phần lớn đều ăn được. Thử kêu một ơ cá rô kho tiêu với một tô cơm trắng coi, chắc chắn là sẽ quên đường về luôn – nhứt là khi mình (lại) chưa biết là sẽ về đâu.

Còn muốn đổi không khí cho nó có vẻ Tây chút xíu thì ghé quán Cái Muỗm (The Spoon Restaurant) nằm trên Tchecoslovaquie Blvd. Thực khách chỗ này, ngó bộ, đều hơi snobbish. Nghe nói phần lớn họ đều là giới chức hành chánh hay quân sự cao cấp của xứ Chùa Tháp. Cả hai loại người này tôi đều rất ghét (vì cái hối lộ hay thói tham nhũng vô độ của họ) nên ghét luôn …cái quán, dù các em tiếp viên nam/nữ đều rất dễ thương và nước mắm (để ăn với cơm gà Hải Nam) ở đây ngon tuyệt̉.

Có bữa, tôi và cả đám cộng tác viên – tân cũng như cựu – của RFA (ở Nam Vang) được ông Mặc Lâm mời ăn trưa tại Khmer Surin Restaurant, trên đường 57. Tiệm ăn nhiều tầng, có luôn khách sạn, rất sạch sẽ, rất đẹp đẽ và giá cả – tất nhiên – không nhân nhượng xíu nào ráo trọi. Bù lại là thức ăn không dở, với khung cảnh thiên nhiên và tình tứ.

Từ trái: Quốc Việt, Danh Hồng, Mặc Lâm. Ảnh: Sơn Trung

Tui uống rất tiết độ, nếu uống một mình. Còn khi được “mời” (nghĩa là uống free) thì khác. Tôi uống tì tì. Đang săm soi tìm rượu, tính kiếm một chai gì đó thiệt mắc cho có cha đứt ruột chơi thì chợt nghe tiếng đám đông lào xào trong quán.

Tôi ngẩng nhìn và thấy hàng trăm thực khách, phần lớn đều là phụ nữ, mặc đồng phục, có in đậm ba chữ ILO (International Labour Organization) đang xếp hàng đi qua trước mặt.

  • Ủa, chuyện gì vậy cà?

Sơn Trung, thổ công của Phom Penh, đáp liền:

  • Ồ, bữa nay là ngày hội của “domestic worker” mà anh. Hội của những người giúp việc. Chắc họ họp ở tầng trên bây giờ xuống ăn trưa đó.
  • Trời, ô sin mà cũng họp hành ở khách sạn nữa sao? Em nói thiệt không vậy?
  • Dạ, thiệt chớ. Đây là Phnom Penh, chớ đâu phải Sài Gòn hay Hà Nội.

Những người giúp việc nhà ở Phnom Penh đang dùng cơm trưa tại Khmer Surin Restaurant. Ảnh: Quốc Việt.

Tôi bán tin bán nghi cho đến khi đọc được bản tin (“Domestic Workers Push for Protections”) của ký giả Pech Sotheary trên  The Phnom Penh Post:

“Những Người Giúp Việc Nội Trợ Thúc Đẩy Việc Bảo Vệ Quyền Lợi”

Ngày hôm qua, bốn mươi tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã kêu gọi Chính phủ Căm Bốt phê chuẩn Hiệp định năm 2011 về NNGVNT của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của NNGVNT Căm Bốt, cả ở bên trong lẫn bên ngoài đất nước.

Bức thư, trong đó nói rõ NNGVNT của Vương quốc hiện nay không được luật pháp bảo vệ, đã được các nhóm đấu tranh cho nhân quyền đồng ký tên, như “Licadho”, “Trung tâm hướng dẫn luật pháp Căm Bốt”, “Mạng lưới NNGVNT Căm Bốt” (CDWN), cùng nhiều nhóm khác.

Theo Hiệp định của ILO, NNGVNT phải được hưởng những điều kiện sống và làm việc xứng đáng, có ngày nghỉ, có quyền thương lượng tập thể và “được bảo vệ chống lại mọi hình thức hành hạ, sách nhiễu và bạo lực.

Phó Giám đốc CDWN, bà Yem Sothy cho biết, 240000 NNGVNT trong nước và nhiều nghìn người ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhờ sự tham gia của Căm Bốt vào Hiệp định. “Nếu có được sự đồng thuận, những công nhân này sẽ được trả lương đúng mức… và được hưởng những ngày lễ để họ về thăm nhà”, bà nói.

Hai Somaly, 20 tuổi, quê ở Kandal, đã đến Phnom Penh làm người giúp việc, khi cô mới chỉ có mười tuổi. Theo cô, những người giúp việc phải đứng ở một địa vị thấp kém trong xã hội Căm Bốt, và thường bị bóc lột.

“Tôi muốn luật pháp bảo vệ chúng tôi và tôi cũng muốn được hưởng mức lương tối thiểu như những công nhân ngành khác”.

(“Domestic Workers Push for Protections, The Phnom Penh Post, 11 Dec. 2014. Trans. Bùi Xuân Bách”).

Cái thứ con sen và thằng ở (ở) Việt Nam mà cũng ăn nói kiểu đó thì có mà bỏ mẹ, hay … bỏ mạng. Tất cả có bao giờ  dám nói năng gì đâu mà vẫn cứ bị roi vọt đều đều:

VNEXPRESS :

“Sau khi bị tra tấn bằng kìm, chọc que sắt nóng vào vùng kín đến ngất xỉu, một nữ nhân viên nhà hàng đặc sản thú rừng Thanh Loan (huyện Lương Sơn, Hòa Bình) đã bị vứt ra đường.”

Tiền Phong:

“Nguyễn Thị Bình quê ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) được mẹ đưa ra Hà Nội làm tại quán phở của ông Chu Minh Đức và vợ là Trịnh Hạnh Phương …  từ năm em 10 tuổi.

Suốt hơn 10 năm qua, Bình phải làm việc quần quật suốt từ 3 giờ sáng đến tận đêm khuya. Sau khi làm xong việc trong nhà, em phải ra quán phở xách nước, thu dọn bát đũa, chuyên chở nước dùng, bánh phở, đưa thịt đi thái, quét dọn… nhưng vẫn bị hành hạ, đối xử như một nô lệ.

Theo lời Bình kể, em bị đánh thường xuyên, lúc thì do làm mất lòng chủ, lúc thì do sơ suất để vỡ một cái bát hoặc làm đổ nước ra nhà. Ông, bà chủ dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp vào mạng sườn; bắt em quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều tiếng đồng hồ…”

Trong khi Nguyễn Thị Bình bị hành hạ ở Việt Nam thì “đồng nghiệp” của cô cũng đồng loạt bị ngược đãi ở xứ người –  theo tin tức được phổ biến bởi Ban Điều Hợp VNSN (Những Cuộc Đời Bất Hạnh) vào hôm 15 tháng 5 năm 2015:

1. Lấy Chồng Nước Ngoài: 1 Phụ Nữ Việt Nam Chết sau một ngày làm dâu
http://www.youtube.com/watch?v=OCk8YlOORTw

2. Lời cầu cứu của nô lệ xứ người !
http://www.youtube.com/watch?v=8FN3QRcJ6Ac

3. Tiếng kêu than của công nhân Xuất Khẩu Lao Động
http://www.youtube.com/watch?v=SvRnaD_1YA8

4. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 2 – Nữ công nhân Việt xuất khẩu qua Malaysia
https://www.youtube.com/watch?v=vEo9tXIFxpM

5. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 1 – Những Nữ công nhân Việt Ở Jordan Bị Bóc Lột
https://www.youtube.com/watch?v=7we6ZMhH84k

6. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 3 – Nữ Osin Việt Nam ở Malaysia bị bóc lột
https://www.youtube.com/watch?v=jN5jQRpjqvE

7. Tệ Nạn Buôn Bán Phụ Nữ và Trẻ Em tại Việt Nam
https://www.youtube.com/watch?v=L8jyWiq2lWQ

Ngoài ra, trên tạp chí Bốn Phương (phát hành tại Đài Loan) người ta đọc được một lá thư – song ngữ, Việt/Hoa – của linh mục Nguyễn Văn Hùng, kêu gọi giúp đỡ cho một nam công nhân vừa bị tai nạn. Xin chỉ ghi lại nguyên văn (phần tiếng Việt) để rộng đường dư luận:

“Kính thưa anh chị em công nhân, cô dâu Việt Nam tại Đài Loan!

Tôi xin quý anh chị em công nhân và cô dâu người Việt hãy rộng tay giúp đỡ cho trường hợp của chị Dương Thị Toàn.”

“Sau khi người thân của anh Hùng, chồng chị Toàn, liên lạc với Văn Phòng nhờ giúp đỡ, Văn phòng đã cho nhân viên xã hội lên bệnh viện thăm anh Hùng. Nếu anh Hùng không phải trả một số tiền khổng lồ cho môi giới Việt Nam, thì có lẽ anh đã không phải trốn ra ngoài để đi làm kiếm tiền trả nợ mà đã về đoàn tụ với vợ con gia đình. Vì số tiền môi giới quá lớn đã trói chặt anh vào số phận lao động nô lệ, biến anh thành nạn nhân của tệ nạn bóc lôt và buôn bán con người.”

“Chính phủ Việt Nam vẫn làm ngơ trước những hành vi bóc lột công nhân qua số tiền môi giới phải trả trước khi rời Việt Nam! Bao lâu chính phủ Việt Nam chưa có luật pháp chế tài đối với các trung tâm môi giới hút máu người qua việc thu tiền lệ phí quá cao thì những trường hợp thương tâm như anh Hùng vẫn còn xảy ra hàng ngày.”

Mười năm sau, “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục làm ngơ,” cứ y như chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra – theo tường thuật của ký giả Anh Tuấn, báo Lao Động, số ra ngày 18 tháng 4 năm 2015:

“Hơn tháng qua, hai lao động do chi nhánh Cty CP Việt Hà – Hà Tĩnh (VIHATICO, ngõ Anh Sơn, đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) đưa đi làm việc tại Qatar đang sống vật vờ do không được bố trí việc làm, phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách.”

Những Người Giúp Việc Nhà biểu dương lực lượng trước Bộ Lao Động, ở thủ đô Phnom Penh. Ảnh: Sen David. Nguồn: The Phnom Penh Post

Bao giờ thì ở cái nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc của chúng ta sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyên lợi của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước – để họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”?

Khi nào thì giới ô sin Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà – như đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia?

Vợ chồng California lấy nhau 75 năm, chết trong tay nhau

Vợ chồng California lấy nhau 75 năm, chết trong tay nhau

Nguoi-viet.com

SAN DIEGO, California (AP)Hai cụ Jeanette và Alexander Toczko mê nhau từ hồi mới lên tám, lấy nhau năm 1940 và từ đó hiếm khi rời nhau.

Họ thường nói với con cháu rằng họ ước ao một ngày nào đó được chết trong vòng tay của nhau.


Hình minh họa. (Hình: Getty Images/Jamie Rector)

Tháng trước tại nhà riêng của họ tại San Diego, và chỉ vài ngày trước dịp kỷ niệm 75 năm ngày cưới, giấc mơ của hai cụ được toại nguyện.

Theo đài truyền hình KGTV, sức khỏe cụ ông Alexander, 95 tuổi, suy sụp nhanh sau khi cụ bị té gãy xương hông.

Con cháu bèn đặt cụ bà nằm bên cạnh cụ ông.

Theo lời kể của con gái hai cụ là bà Aimee Toczko Cushman, sau khi cụ ông chết, cụ bà liền nói: “Ðợi tôi đã, tôi sẽ đến ngay.”

Cả nhà để yên cụ bà trong phòng và chỉ vài giờ sau cụ bà cũng đã kịp theo chân cụ ông.

Ðôi uyên ương được tống táng vào hôm Thứ Hai tại nghĩa trang Miramar National Cemetery. (TP)

CHÌA KHÓA VẠN NĂNG

CHÌA KHÓA VẠN NĂNG

Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà

(Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (5, 21-43) trích đọc vào Chúa Nhật 13 thường niên)

Có một ông vua rất đỗi giàu sang và vô cùng quảng đại. Nhà vua có một kho tàng đầy ắp những báu vật mọi người hằng mơ ước. Nhà vua tuyên bố với thần dân rằng bất cứ ai muốn lấy bất cứ thứ gì trong kho tàng vô tận của vua thì cứ lấy, miễn là phải dùng một loại chìa khoá rất đặc biệt mới mở được kho tàng. Chìa khoá ấy, vua cũng chỉ cho biết là đang nằm trong tầm tay mọi người. Tiếc thay, người ta không biết đó là chìa khoá thần kỳ và chưa mấy ai đem ra sử dụng.

Khi nghe tin nầy, nhiều người nao nức hỏi: Vị vua đại lượng đó là ai? Kho tàng nằm ở đâu? Chìa khoá nào mở được kho tàng, xin mau mau cho biết.

Đức vua đó chính là Thiên Chúa quyền năng. Kho tàng của Ngài là vô vàn phúc lộc không bao giờ vơi cạn. Chìa khoá để mở kho tàng ấy là lòng tin. Ai có lòng tin mạnh mẽ, người đó có thể mở được cửa kho tàng và chiếm lấy những gì mình muốn. Ai không  có lòng tin, thì đành bó tay và chẳng thu lượm được gì.

Hai sự kiện thánh sử Mác-cô thuật lại trong Tin Mừng hôm nay minh chứng cho chân lý nầy:

Trường hợp người phụ nữ bị bệnh băng huyết

Một người phụ nữ bị băng huyết đã mười hai năm, đã lắm phen tìm thầy chạy thuốc nhưng bệnh của bà vẫn vô phương cứu chữa. Nay gặp Chúa Giê-su, bà mừng như người sắp chết đuối vớ được tấm phao.

Vì luật cấm những người mang thứ bệnh nhơ uế như bà tiếp cận với người khác (Lv 15, 25) nên bà không dám công khai gặp Chúa Giê-su, chỉ len lén tiến lại phía sau lưng Ngài, tự nhủ lòng rằng: “Mình chỉ cần sờ được vào áo Ngài thôi là sẽ được cứu.” Và điều nhiệm mầu đã xảy ra: bà vừa đụng vào áo Chúa Giê-su thì tức khắc huyết cầm lại và bà được chữa lành.

Chúa Giê-su biết có một năng lượng từ mình xuất ra nên quay lại tìm hiểu và khi người phụ nữ  thú nhận việc bà vừa làm, Chúa Giê-su bảo:  “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Chính Chúa Giê-su xác nhận lòng tin là chìa khoá thần kỳ mở ra cho người đàn bà kho tàng chứa đựng điều mà bà khao khát: được chữa lành chứng bệnh nan y.

Trường hợp ông trưởng hội đường

Ông trưởng hội đường đang cùng Chúa Giê-su tiến vội về nhà để nhờ Chúa cứu chữa đứa con gái đang hấp hối,  thì người nhà của ông này chạy đến báo cho ông biết rằng con gái ông chết rồi, đừng phiền Chúa đến nhà làm gì mất công.

Nghe vậy, Chúa Giê-su động viên ông ta: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi. Tin là được. Thế rồi, nhờ lòng tin, con gái ông đã được cứu sống.

Một lần nữa, Tin Mừng chứng tỏ cho thấy lòng tin là chìa khoá đem lại ân sủng nhiệm mầu: đứa con gái thân yêu chết rồi nay được cứu sống!

Còn nhiều sự kiện khác được ghi lại trong Tin Mừng chứng tỏ cho thấy phải có lòng tin  thì mới đạt được điều mong muốn và không có lòng tin thì chẳng được gì (Mt 13, 58). Lòng tin có thể chuyển núi dời non. Với lòng tin, người ta có thể làm được tất cả như lời Chúa Giê-su dạy: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng  sẽ chuyển qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (xem thêm: Mt 17, 19-20; Mt 15, 28; Mt 21, 21-22).

Quả vậy, điểm lại những khuôn mặt đạt được thành công lớn lao trên thế giới, ta thấy rằng nguyên nhân chính giúp họ thành đạt là nhờ mạnh tin. Vững tin rằng mình sẽ làm được thì sẽ được như ý.

Như thế, lòng tin là bí quyết để thành công trên đường đời, và cũng là chìa khoá mở vào kho tàng ân sủng của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, lòng tin của chúng con còn yếu kém nên chẳng thu hoạch được gì. Xin ban thêm lòng tin để chúng con có thể mở được kho tàng ân sủng của Chúa.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

TIN LÀ MỞ CỬA TÂM HỒN…

TIN LÀ MỞ CỬA TÂM HỒN…

Tác giả: Lm. Vinh Sơn, scj

Kn 1,13-15;2,23-24; 2Cr 8,7.9.13-15; Mc 5,21-43

Họa sĩ Holman Hunt (1827 – 1910) vẽ xong bức tranh Đức Giêsu đang đứng gõ cửa một ngôi nhà nhỏ. Ông mời bạn bè đến góp ý xem có gì sai sót.

Thấy bức họa, các bạn trầm trồ khen ngợi và không thấy có gì sai. Ông Hunt cứ thúc dục các bạn xem kĩ lại. Cuối cùng, một hoạ sĩ còn rất trẻ lên tiếng : “Thưa Ngài, tôi thấy có một sai lỗi trên bức danh hoạ. Ngài đã quên không vẽ tay cầm hay ổ khoá nơi cửa”.

Hunt đáp: “Này bạn, khi đức Giêsu gõ cửa nhà bạn, thì cửa phải mở từ bên trong”.

Bà góa mắc bệnh băng huyết và của ông trưởng hội đường tên là Giarô có người con bệnh nặng sắp qua đời đã mở cửa tâm hồn mình bằng niềm tin như Tin Mừng Mc 5,21-43 ghi lại:

  • Bà góa bị bệnh băng huyết, quan niệm của người Do Thái xưa, máu huyết tượng trưng cho sự sống. Người phụ nữ bị băng huyết có nghĩa là sự sống nơi bà mất dần đi, tiêu hao đi, cho nên coi như bà là người đã chết. Hơn thế nữa, theo luật Môisen (Lv 15,25) bệnh xuất huyết là thứ bệnh dơ nhớp, bệnh nhân không được công khai giao thiệp với dân chúng:  bà có thể làm cho những người khác cũng bị nhơ vì tiếp xúc với bà. Cho nên bà không chỉ đau đớn về bệnh tật hoành hành cả đời bà, niềm đau hơn nữa bà bị loại ra khỏi mọi sinh hoạt xã hội, khỏi cộng đoàn tôn giáo. Trong cơn thất vọng về tình trạng bệnh tật và tâm linh, bà tin Đức Kitô có thể chữa bà khỏi cơn bạo bệnh và qua đó còn đưa bà trở về với cuộc sống xã hội. Bà tin và chân thành xin một chút sức mạnh từ nơi Đấng Messia bằng cử chỉ đụng vào áo Ngài, lòng tin đơn sơ nhưng thật mạnh mẽ: “Dầu tôi chỉ đụng vào áo Ngài, tôi sẽ được khỏi” (Mc 5,28). Và bà “chạm đến áo Người”, chạm đến áo Người trong lúc bà mang cơn bệnh là thái độ liều lĩnh vì đã xé rào luật lệ ngăn cấm, nhưng đó cũng là thái độ chứng tỏ đức tin vững vàng của bà. Cái đụng của lòng tin đã cứu bà khỏi bệnh.
  • Ông Giarô đã không hề ngại đến thân thế của trưởng hội đường, khiêm tốn nài xin Chúa Giêsu đến thăm viếng để cứu chữa người con gái ông đang bị bệnh nặng: “Xin Ngài đặt tay trên nó” (Mc 5,23). Cử chỉ đặt tay trên bệnh nhân là cử chỉ Chúa thường dùng khi cứu chữa bệnh nhân và họ được khỏi bệnh (x.Mc 6,5; 7,32; 8,23). Xin Chúa đặt tay tức là tin rằng : Ngài sẽ chữa khỏi được bệnh cho con ông. Ông xác tín cử chỉ đặt tay của Thầy – Đấng Messia mang đến cho con ông được cứu như ông tuyên tín: “Để nó được khỏi và được sống” (Mc 5,23b),  dù em bé bệnh rất nặng và đang hấp hối nguy ngập. Thái độ này của Giarô biểu lộ một đức tin vững vàng, xác tín vào quyền năng của Chúa Giêsu và con ông đã được sống dù nó đã chết như người nhà loan báo khi Chúa đến đầu ngõ nhà ông.

Hai phép lạ xảy ra nhờ có lòng tin mà Đức Giêsu xác nhận. Với người phụ nữ đau khổ góa bụa bệnh băng huyết có lòng tin vững vàng : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mc 5,34) như mỗi lần chữa lành bệnh tật, Ngài thường khẳng định: “Niềm tin của con đã cứu chữa con”  (Mt 9,22; Lc 8,48; 17,19; 18,42…). Ðược lành bệnh, được phục hồi, người được chữa lành không chỉ tìm lại được sức khỏe thể lý nhưng còn có cuộc sống mới trong niềm tin và họ đã tuyên xưng.

Còn ông Giarô, Ngài nâng đỡ ông hãy vững lòng tin: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi” (Mc 5,36), khi ông muốn ngã quỵ vì nhận được tin dữ như sét đánh ngang tai: “Con ông đã chết rồi ” (Mc 5,35).

Sống đức tin là mở cửa tâm hồn dám sẵn sàng đi ra khỏi chính mình để gặp Chúa tin và đi theo tiếng gọi của niềm tin, sẵn sàng đi ra khỏi tư tưởng áp đặt đám đông để sống thực cho những đòi hỏi của đức tin. Sống đức tin đích thực là sẵn sàng lội ngược dòng như bà góa vượt qua lề luật để gặp, sờ áo Chúa và ông Giarô vượt qua thân phận chủ hội đường mà đến với Đức Kitô.

Thánh Augustinô đã suy niệm: “Có đức tin là tin những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là thấy những gì chúng ta tin”. Bà góa tin rằng sờ vào áo thầy thôi là được khỏi, và bà đã được như lòng tin muốn, ông Giarô tin rằng Thầy sẽ chữa lành con ông đang bị bệnh, còn lạ lùng hơn, ngay cả con ông đã chết vẫn được sống như ông mong ước khi tin vào Thầy.

Ngày hôm nay, với cái nhìn tổng quát cuộc sống, mỗi chúng ta đều mang bệnh tật: có thể về thể xác như mang các cơn bệnh, có thể là những thứ bệnh tâm lý như lo lắng, cô đơn, cay đắng, giận hờn, stress, có thể là những cơn bạo bệnh tâm linh khi sống mất phương hướng hoang tàn trong cuộc đời, còn tệ hơn nữa là chết về tâm hồn… Thế nhưng chúng ta lại có vẻ bề ngoài như người mạnh khỏe, có xu hướng che giấu bệnh tật và thương tích của mình và vì thế cơn bệnh luôn hiện diện và hoành hành trong chúng ta thầm lặng, có lúc bùng phát như cơn bệnh ung thư. Chúng ta luôn cần được chữa lành như người phụ nữ mang bệnh tật đến với Đức Giêsu với niềm tin vào Ngài, như người cha Giarô xin Thầy đến bên con gái đang bị bệnh gần chết với niềm tin con ông được sống.

Thật thế, mỗi giây phút cuộc đời, với tất cả tình trạng của mình, chúng ta hãy chạy đến với Thầy: “Như trẻ thơ đặt hết  niềm tin  nơi Chúa” (Tv 131,1)

Và xác tín rằng: “Ai tin ở Người thì được  sống…” (Ga 3,15)

Lm. Vinh Sơn,

Sài Gòn, 27/06/2015