S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Phản Động

Ba’o Dan chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

22/05/2025

Từ khi có FB, tôi hay đọc tác giả Ngô Nhật Đăng nên biết rằng ông mở mắt chào đời ở Hà Nội hồi cuối thập niên 1950. Tôi thì sinh ra tại Sài Gòn, trước đó vài năm. Chút dị biệt này khiến cho chúng tôi sống trong hai xã hội khác nhau, và tham dự vào hai cuộc chiến (cũng) hoàn toàn khác.

Những dòng chữ Ngô Nhật Đăng viết về chiến tranh biên giới (Việt – Trung) đều hết sức sống động, và vô cùng chân thật. Ông giúp cho độc giả, nhất là những kẻ đã từng cầm súng, thấy rõ hơn cái thân phận của người lính trận. Ở nơi đâu (và thời nào) cũng thế, họ cũng đều sống khổ cực và chết dễ như chơi.

Ngô Nhật Đăng không chỉ viết về những tháng năm binh lửa. Ông am tường nhiều vấn đề và bao biện rất nhiều lãnh vực (chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật, nhân sinh …) nhưng riêng về chuyện tình cảm ( Anh Hùng Với Mỹ Nhân) thì tôi e rằng tác giả không được khách quan cho lắm:

Mình quen biết nhiều các bác, các chú Nhân văn giai phẩm, thấy phu nhân của các vị ấy thật tận cùng lãng mạn. Nếu không có các bà chăm lo thì các ông ấy chết đói từ lâu rồi, nói gì đến chuyện phản kháng, phản động. Nuôi chồng, chăm con, xù lông lên dữ tợn như gà mái nếu có kẻ nào dám động đến đàn con của mình.

Thỉnh thoảng đến chơi, ví dụ như nhà chú Phùng Quán mình lại thích ngồi nói chuyện với cô Bội Trâm hơn, quan sát cách cô chăm sóc chú Quán mà cảm động. Rồi vợ bác Văn Cao, Lê Đạt, Bùi Xuân Phái, chị Mai của anh Lộc Vàng ….đúng là thuyền quyên sánh với anh hùng. Đổi lại, các vị ấy cũng tôn trọng nếu không nói là biết ơn các bà nội tướng của mình lắm. Luôn tương kính nhau, nhìn mà phát thèm.

Có “Hiền thê” được coi là thành tựu quan trọng nhất trong đời đàn ông. Một lần ngồi với ông bạn vong niên cũng là bậc trưởng thượng, ông bảo :

– Nước mình hết mỹ nhân rồi, vận nước suy nên làm ra như thế.

Mình ngạc nhiên nói :

– Thưa bác, đâu có vậy. Cháu thấy Việt Nam bây giờ ngày càng nhiều người đẹp đó chứ, đẹp hơn xưa nhiều lắm, hàng năm có đến cả chục cuộc thi hoa hậu, người đẹp đó thôi.

Ổng phẩy tay :

– Cậu còn nông cạn lắm, từ thượng cổ, trời đất đã định mỹ nhân chỉ dành cho anh hùng. Cậu xem các ông chồng của những “mỹ nhân” bây giờ có ai đáng mặt anh hùng không ?

Có thể đúng là “các ông chồng của những ‘mỹ nhân’ bây giờ không có ai đáng mặt anh hùng” (cả) nhưng như thế không có nghĩa là nước Việt không còn người hùng anh, và số “người đẹp” ở xứ sở này chỉ giới hạn vào những bóng hồng đã tham dự “vào mấy chục cuộc thi hoa hậu hằng năm” mà thôi.

Mới cách đây không lâu, hôm 01/01/2023, FB Bông Tuyết đã đưa lên mạng hình chụp chung của chính cô và vài người bạn đồng cảnh – Trịnh Nhung, Lê Bích Vượng, Bùi Thị Huệ – cùng với lời chú thích vô cùng sảng khoái (“Vợ ‘phản động’ xinh dã man ha..ha..ha…”) rồi nhận ngay được không ít những lời lẽ tán thưởng rất nhiệt tình:

  • Nguyễn Thanh Mai: “Xinh quá.”
  • Phạm Thị Xuân: “Xinh đẹp lắm em.”
  • Huynh Ngoc Chenh: “Đẹp thế này nên chúng nó âm mưu bắt mấy anh chồng đi nhốt hết.”
  •  Nguyễn Thu Nga : “Sao bọn ‘phản động’ chọn vợ giỏi thế nhỉ. Toàn giỏi giang xinh đẹp và vô cùng có văn hoá.”
  • Dũng Nguyễn: “Không phải vợ phản động ! Đây là vợ của những người đàn ông yêu nước!”

Thế “những người đàn ông yêu nước” này, những ông chồng của những phụ nữ (“xinh dã man”) trong bức hình trên là ai vậy?

Tôi may mắn và hân hạnh biết được danh tính của họ nên cũng (mau mắn) xin phép được thưa luôn, cho nó lẹ:

  • Nguyễn Lân Thắng, phu quân của bà Lê Bích Vượng, ông bị bắt giữ vào tháng 7 năm 2022 cho đến nay (vẫn chưa được xét xử) với cáo buộc: “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
  •  Bùi Văn Thuận, phu quân của bà Trịnh Nhung, đang thụ án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế, với cáo buộc “thường xuyên đăng các bài viết lan truyền thông tin xuyên tạc nhằm bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước khác của Việt Nam”.
  • Đỗ Nam Trung, hôn phu của cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết, đang thụ án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế, với tội danh “phát tán tài liệu chống nhà nước.”
  • Dũng Vova (Lê Văn Dũng) phu quân của bà Bùi Thị Huệ, đang thụ án 5 năm tù với tội danh: “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Những cáo buộc và tội danh (quen thuộc) này khiến tôi nhớ đến một mẩu đối thoại ngăn ngắn, giữa hai người tù – vào hồi cuối thế kỷ trước – trong tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn:

– Vì sao anh bị vào đây? Tôi có tò mò quá không?

– Tôi bị bắt với tội danh “Tuyên truyền phản cách mạng”.

– Ở đây anh em gọi là tội nói sự thực.

Đó là một lời khen. Nói sự thực là một việc khó khăn, nguy hiểm. Từ xưa đến nay vẫn thế. Bao giờ cũng là một việc nguy hiểm. (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Khi Đảng chống bọn xét lại, Bùi Ngọc Tấn đi tù nhiều năm vì “tội nói thực.” Lúc Đảng chống bọn Nhân Văn, Phùng Quán chỉ vì “muốn là  nhà văn chân thật” nên phải chịu cảnh “cá trộm, viết chui, rượu chịu” gần suốt cuộc đời. Nay thì cái giá mà Nguyễn Lân Thắng, Bùi Văn Thuận, Đỗ Nam Trung, Dũng Vova … phải trả cho sự “chân thật” cũng nào có rẻ.

Mà đâu phải chỉ chừng đó mạng thôi. Mạng lưới Nhân Quyền Việt Nam (VNHR) cho biết hiện có gần 300 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ, một phần ba là người bản địa, không ít kẻ phải nhận những bản án rất nặng nề. Họ chả phải là anh hùng sao?

Ở mảnh đất này, hào kiệt có bao giờ thiếu. Mỹ nhân cũng thế!

Đã thế, họ không chỉ “xinh dã man” mà còn tận tụy cũng “dã man” luôn. Tôi vẫn nhìn theo những bước chân của quý bà Nguyễn Chương (phu nhân của TNLT Trần Đức Thạch) Nguyễn Thị Nghiêm (phu nhân của TNLT Phạm Thành) Nguyễn Thị Kim Thanh (phu nhân của TNLT Trương Minh Đức) Lân Tường Thụy (phu nhân của TNLT Nguyễn Tường Thụy) …. khi họ lặn lội thăm chồng – lẽo đẽo trên mọi nẻo đường đất nước – mà không khỏi ứa nước mắt vì sự tảo tần, thương khó triền miên của những người phụ nữa này. Còn có hình ảnh nào đẹp hơn được nữa?

Nhà văn Ngô Nhật Đăng nhận xét là quý bà Nhân Văn “thật tận cùng lãng mạn.” Sự “lãng mạng tận cùng” này – có lẽ – cũng không hơn (hay không khác) những bà vợ tù nhân lương tâm ngày nay là mấy:

  • Trịnh Nhung (phu nhân của TNLT Bùi Văn Thuận) : “Mùa đông là mùa mà anh thích nhất, còn em vì thích anh mà cũng thêm yêu mùa đông.”
  • Đỗ Thu (phu nhân của TNLT Trịnh Bá Phương) : “Hôm qua ngày 10/2 tôi nhận được 2 niềm vui đó là trưa thì nhận được 2 bức thư của chồng… Cả tháng đợi mỗi thư của chồng về.”
  • Đỗ Lê Na (phu nhân của TNLT Lê Trọng Hùng) : “Trưa nay (lễ tình nhân thứ hai xa cách), bất ngờ nhận được thư chồng gửi về từ trại 6. Cầm thư mà lòng xen lẫn mừng vui và ngậm ngùi!”

T.S Mạc Văn Trang cảm thán: “Đất nước của những hòn VỌNG PHU sao cứ cắm vào dân tộc này mãi vậy hả Trời!”

Tôi hoàn toàn đồng tình với tâm cảm của ông nghè họ Mạc. Tuy thế, không ít lúc, vẫn trộm nghĩ thêm rằng: nhờ lúc nào cũng có vài trăm TNLT chật ních trong những nhà tù, cùng những hòn vọng phu luôn ở bên ngoài nên người Việt cũng đỡ ngượng ngùng khi nhìn vào mặt nhau, và họ còn có nơi để hướng tới – khi nghĩ đến tương lai của đất nước này!


 

Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. (Ga 15:14)-Cha Vương

Xin Chúa đồng hành với bạn hôm nay và mãi mãi nhé. 

Cha Vương

Thứ 6, 5PS: 23/5/2025

TIN MỪNG: Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. (Ga 15:14)

SUY NIỆM: Chuyện kể hồi đó thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la đang ở đan viện Tô-lê-đô. Ngày kia, đang khi đi trong đan viện, bỗng thánh nữ thấy một em bé khôi ngô. Thánh nữ ngạc nhiên dừng bước hỏi:

-Này em, em tên gì ?

Cậu bé không trả lời ngay, nhưng hỏi ngược lại:

-Thưa bà, vậy bà tên chi ?

Thánh nữ đáp :

-Tôi tên là Tê-rê-sa của Chúa Giê-su.

Cậu bé mỉm cười rất dễ thương nói :

-Còn tôi, tôi tên là…Giê-su của Tê-rê-sa!

Nói xong, cậu bé “Giê-su của Tê-rê-sa” biến mất.

    Nhân câu chuyện này, Đức Thánh Cha Gio-an XXIII ghi lại trong quyển nhật ký của Ngài mấy dòng tư  tưởng sau đây: “Tôi phải sống như thế nào để Chúa Giê-su cũng nói với tôi, như thuở xưa Ngài nói với thánh Tê-rê-sa thành A-vi-la : “Tôi là Giê-su của Tê-rê-sa”. Vậy tiên vàn, tôi phải là An-gê-lô của Chúa Giê-su trước đã…”

Nếu muốn trở thành những người bạn của Chúa Giê-su thì bạn phải sống thế nào đây? Hãy lắng nghe và thực hiện “lệnh truyền yêu thương” của Chúa.

LẮNG NGHE: Ai chuộng lòng thanh khiết và ăn nói dễ thương sẽ được vua nhận làm bạn hữu. (CN 22:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin đoái nhìn đến con người nhỏ bé yếu hèn của con và giúp con biết sống gắn bó mật thiết với Chúa trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

THỰC HÀNH: Tập thì thầm, lặng lẽ trò chuyện với Chúa trong ngày nhưng người bạn thân nhất của bạn vậy. 

From: Do Dzung

TÌNH BẠN DIỆU KỲ – St: Nguyễn Hèn Mọn, CMF

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước!”.

“Một khi bị dồn vào đường cùng, rắn đuôi chuông sẽ tức giận tới mức tự cắn vào mình! Đó cũng là điều xảy ra nơi một người tích chứa sự căm ghét. Ôm chặt hận thù, người ấy nghĩ, họ đang ‘làm đau’ kẻ khác; nhưng tai hại lớn hơn là họ đang huỷ hoại chính mình. Tốt nhất, bạn đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương và phó thác cho Chúa. Phần còn lại, Ngài lo!” – E. Stanley Jones.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Phần còn lại, Ngài lo!’. Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn “tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Chúa Cha”. Trong Tin Mừng hôm nay, Ngài nói, “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước!”.

Sứ vụ của càng mở ra, các thế lực chống đối Chúa Giêsu càng trở nên tồi tệ. Nhưng Ngài sẵn lòng ôm lấy thực tế nghiệt ngã đó. Ngài vẫn yêu thương giới biệt phái, yêu Giuđa, yêu Phêrô, yêu đến cùng cả những kẻ sẽ đóng đinh Ngài. Từ việc phó mình cho Cha – với tất cả sức mạnh – Ngài vượt qua tất cả. Ai trong chúng ta – ở một giai đoạn nào đó – cũng sẽ trải nghiệm gánh nặng này khi phải gặp những sự từ chối tương tự, cả khi chúng ta chỉ muốn làm điều tốt cho người khác. Đây là thời điểm bạn nên giống Chúa Giêsu nhất. Dĩ nhiên, thật không dễ, nhưng nếu được vậy, bình an và niềm vui sẽ ùa về; với điều kiện – như Chúa Giêsu – bạn phó thác tất cả cho Chúa; ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Và tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Các tông đồ đã làm điều tương tự. Chỗ nào đón tiếp, các ngài lưu lại; chỗ nào tẩy chay, các ngài ra đi. Tại Đerbê, Lystra, được đón tiếp, Phaolô tiếp nhận Timôthê; sau đó, đi qua Phygia, Galat, Trôa và xuống Makêđônia – bài đọc một. Nhờ đó, Tin Mừng được rao giảng; tín hữu vui, dân ngoại mừng, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

“Con đường của Kitô hữu là con đường của Chúa Kitô, không có con đường nào khác ngoài con đường Ngài đã chỉ ra với những hệ luỵ là bị thế gian căm ghét. Đó là lý do của những hận thù và khủng bố liên tục từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội – và cho đến ngày nay – nhiều cộng đoàn Kitô trên thế giới đang bị bách hại!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước!”. Họ ghét Chúa Giêsu hơn ghét một tên gian phi vì Ngài nói cho họ sự thật về Thiên Chúa, về chính Ngài và về chính họ. Ngài chấp nhận tất cả và chỉ tìm dịp để yêu thương. Và tình yêu mạnh hơn sự thù ghét, mạnh hơn sự chết của Ngài đã chiến thắng để trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho nhân loại. Giữa một thế giới căm ghét Thiên Chúa; bạn cứ “tìm kiếm các giải pháp” để tiếp tục yêu thương, tiếp tục thứ tha. Và với sự trợ lực của Đấng Phục Sinh, sẽ không trở ngại nào là quá lớn; Ngài sẽ giúp bạn vượt qua tất cả. Điều quan trọng là tập trung vào việc mở mang Nước Chúa, tìm dịp để ‘xây cầu’, tín thác vào Chúa, ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Cho con cứ thương, dù bị ghét. Được thế, con khác nào Chúa mấy!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

***************************************

Thứ Bảy Tuần V Phục Sinh

Anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 15,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. 20 Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21 Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”


 

HẠNH PHÚC NÀO LỚN NHẤT-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gio-an (14, 23-29) Chúa nhật 6 Phục sinh năm C)

Sứ điệp: Được Ba Ngôi Thiên Chúa ở cùng là hồng phúc vô giá.                                                          ***

Cháu bé bất chợt thức dậy giữa đêm khuya, bóng tối dày đặc bao trùm… Cháu quơ tay tìm mẹ nhưng chẳng thấy đâu. Thế là cháu khóc thét lên, khóc trong sợ hãi, kinh hoàng, khóc mãi không ngừng… cho đến khi nghe tiếng mẹ à ơi vỗ về, cho đến khi có tay mẹ dịu dàng ôm ấp…

Được-mẹ-ở-cùng, bé cảm thấy an toàn và hạnh phúc trọn vẹn, không phải sợ hãi gì; hạnh phúc nầy không gì đánh đổi được. Dù là ngọc ngà, châu báu và tất cả mọi sự trên đời… không có gì bằng có mẹ ở kề bên!

Đứa con thơ được ở với người mẹ trần gian hèn kém, mỏng giòn và yếu đuối… mà còn được hạnh phúc đến thế, thì những ai được Thiên Chúa là Chúa tể trời đất, là Cha đầy quyền năng, là suối nguồn hoan lạc, là tình yêu vô bờ vô tận ở cùng… sẽ được hạnh phúc biết bao!

Thân phận chúng ta hôm nay cũng như thân phận đứa bé thơ cần có mẹ ở cùng. Sống trong đêm tối cuộc đời, đầy dẫy đau thương tang tóc mà sức người không thể vượt qua… chúng ta rất cần được Thiên Chúa ở cùng, để nâng đỡ, dìu dắt chúng ta vượt qua bão tố cuồng phong, gian nan chồng chất.

Nhưng vấn đề quan trọng là làm sao để được Thiên Chúa ở cùng?

Qua trích đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta bí quyết để đạt được hồng phúc nầy: Đó là YÊU MẾN VÀ TUÂN GIỮ LỜI NGÀI.

Ngài nói: “Ai YÊU MẾN THẦY, thì sẽ GIỮ LỜI THẦY, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. CHA THẦY VÀ THẦY SẼ ĐẾN VÀ Ở LẠI VỚI NGƯỜI ẤY” (Ga 14, 23).

Như vậy, hai điều kiện yêu mến và tuân giữ lời dạy của Chúa Giê-su là 2 ĐIỀU KIỆN TỐI CẦN THIẾT, nhờ đó, không những Chúa Giê-su, mà còn cả Chúa Cha, Chúa Thánh Thần đến ngự trị trong chúng ta. Thế là thân xác phàm hèn của chúng ta được trở thành cung điện của Thiên Chúa Ba Ngôi! Được hạnh phúc như thế quả là trên cả tuyệt vời!

Tiếc thay, còn rất nhiều người chưa khám phá được hồng phúc cao quý nầy, nên thay vì ra sức yêu mến và vâng lời Chúa dạy để được Chúa ở cùng, họ chỉ biết mơ ước và chiếm hữu những lợi lộc phù du mà lãng quên hồng phúc lớn lao là được ở cùng Ba Ngôi Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con cảm nghiệm rằng: được Chúa ở cùng là hạnh phúc tuyệt vời không gì trên dương gian có thể sánh được, để từ hôm nay, chúng con dốc lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự và ra công tuân giữ mọi lời Chúa truyền dạy để đạt được hồng ân cao quý nầy. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

******************************

Tin mừng Gio-an 14, 23-29

Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ rằng: 23″Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. 24Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.   25Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em.   26Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

27Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.   28Anh em đã nghe Thầy bảo: ‘Thầy ra đi và đến cùng anh em’. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.   29Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.


 

ĐƠN GIẢN THẾ THÔI

Nếu tôi dành cả ngày 

để phục vụ anh chị em mình

nhưng chẳng có nổi một ai nhìn nhận 

và cám ơn

vì những việc tốt tôi đã làm,

liệu tôi có tức tối mà dừng lại

việc phục vụ của mình?

 

Lẽ thường

Nếu có ai, một người thôi cũng được

biết ơn tôi đã sống tình nghĩa

điều đó sẽ làm tôi phấn chấn

và phục vụ 

với nhiều yêu thương hơn.

Điều Đức Giê-su muốn nói tới 

trong bài Tin Mừng tôi vừa đọc

không phải là có ai đó biết ơn tôi không

nhưng Người muốn tôi 

tìm xem 

động cơ thúc đẩy tôi làm những điều tốt ấy là gì:

Có phải tôi đang tìm cách 

khoe những công trạng của mình 

trước Thiên Chúa

để được Người khen thưởng?

 

Có lẽ

Đức Giê-su muốn nhắc tôi điều này: 

Khi phục vụ

con chỉ đơn giản 

đang làm 

những công việc bổn phận,

con phải làm.

 

Thế thôi!

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

TRÙNG KHỚP Ý CHÍ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”.

“Cho tôi 100 người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ hãi gì ngoài tội, tôi sẽ đem cả thế giới về cho Chúa Kitô! Đó là những con người yêu thương, phục vụ đến chết mà không cần tính toán, không cần phân biệt, không sợ mất mát!” – John Wesley.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu đem ý tưởng của Wesley áp dụng vào lời Chúa Giêsu hôm nay, một câu hỏi bất ngờ có thể nảy sinh, “Như vậy, tình yêu bị điều khiển?”. “Không! Tình yêu không đơn thuần là một tình cảm; nhưng là một hành động của ý chí. Khi ý chí con người hành động trùng khớp với ý chí Chúa Kitô – ‘trùng khớp ý chí’ – nó có thể yêu như Ngài yêu mà không cần tính toán, không cần phân biệt, không sợ mất mát!” – Bênêđictô XVI.

Trong “Thiên Chúa Là Tình Yêu”, ngài viết, “Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta một cảm giác mà bản thân chúng ta không có khả năng tạo ra!”. Chúng ta không thể được lệnh “phải thích” ai đó, hoặc “phải lòng” ai đó; nhưng bạn và tôi có thể “chọn yêu” ngay cả kẻ thù của mình! Quan trọng hơn, một khi cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thì chính niềm vui “được yêu” đó sẽ cởi trói con tim chúng ta, khiến chúng ta muốn đáp lại tình yêu Ngài bằng cách yêu như Ngài yêu! “Nếu bạn tìm kiếm một mẫu gương của tình yêu: ‘Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình’ thì Chúa Kitô trên thập giá là một mẫu gương ngời sáng nhất. Và nếu Ngài đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, thì sẽ không khó để chúng ta chịu đựng bất kỳ khó khăn nào phát sinh vì Ngài!” – Tôma Aquinô.

Tình yêu thương dẫn đến một sự ‘trùng khớp ý chí’ – “một cộng đồng ý chí và suy nghĩ”; nghĩa là tôi muốn biết bạn tôi đang nghĩ gì và mong muốn gì để tôi có thể chia sẻ những suy nghĩ đó và thậm chí, thoả mãn chúng! Tình yêu thương đó đã thể hiện trong Hội Thánh sơ khai. Các tông đồ đã đồng tâm nhất trí, “không đặt thêm một gánh nặng nào khác” cho những người trở lại; nói cách khác, họ không cần phải “cắt bì”, ngoài “mấy điều cần kíp” phải giữ – bài đọc một. Nhờ đó, các tín hữu reo mừng, “Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”. Chúa Kitô yêu thương từng người chúng ta trước bằng một tình yêu ‘không cần tính toán’; Ngài yêu mỗi người mà ‘không cần phân biệt’ chúng ta tốt hay xấu hoặc rồi sẽ xấu hơn; Ngài yêu chúng ta đến nỗi hiến trao cả thân mình mà ‘không sợ mất mát’ cho đến giọt máu cuối cùng. Xác tín được điều đó một cách sâu sắc, chúng ta mới có thể luôn mong ước cho mình có một ý chí trùng khớp với ý chí của Chúa Kitô, nên một với Ngài. Bấy giờ, con tim của chúng ta sẽ ‘cùng nhịp’ với con tim Ngài, thổn thức của Ngài sẽ là thổn thức của chúng ta. Và chính lúc đó, chúng ta mới có thể yêu như Ngài yêu, yêu cho đến cùng, cho đến dám chết cho người mình yêu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ước gì tim con trùng nhịp với tim Chúa, ý chí con trùng khớp với ý chí của Chúa. Và con không sợ hãi chi ngoài tội; nhờ đó, con đem thế giới về cho Chúa!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

************************************************************

Thứ Sáu Tuần V Phục Sinh

Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 15,12-17

12 Khi ấy, đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”


 

*“Bạn còn 40 năm nữa…” – nghe thì hay đấy, nhưng… 

Chau Doan 

“Bạn chỉ còn 40 mùa hè nữa trong đời.” – khiến bạn phải suy nghĩ. 

Có thể bạn chỉ còn 40 cơ hội nữa trong đời để cảm nhận cái ấm áp của mùa hè trên da. 

40 lần nữa để nhìn lá đổi màu vào mùa thu. 

40 lần nữa để cảm nhận cái lạnh của mùa đông và những tia nắng đầu tiên của mùa xuân. 

Hoặc có thể ít hơn. Có thể 10. Có thể 5. Có thể… đây là lần cuối cùng. 

Chúng ta sống như thể mình bất tử. Chúng ta trì hoãn những giấc mơ, tình yêu, đam mê cho “sau này.” 

Nhưng nếu “sau này” đó không bao giờ đến thì sao? 

Nếu đây là buổi sáng cuối cùng bạn ngửi thấy hương cà phê thì sao? 

NGÀY CUỐI CÙNG ĐỂ NÓI VỚI AI ĐÓ RẰNG BẠN YÊU HỌ… 

Đây không phải là bi quan. Đây là sự thật phũ phàng. 

Đừng lãng phí hôm nay! Có thể sẽ không có ngày mai! *

Nguồn: DAILY PAIN Support Group


 

Thánh Rita (1381-1457)-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 22/5 Giáo Hội mừng kính Thánh Nữ Rita ở Cascia. Xin ngài chuyển cầu cho những ai đang gặp khó khăn trong đời sống hôn nhân.

Cha Vương 

Thứ 5, 5PS: 22/5/2025

Trong nhiều thế kỷ, Thánh Rita (1381-1457) ở Cascia là một trong những vị thánh nổi tiếng của Giáo Hội Công Giáo. Người ta thường gọi ngài là “Vị Thánh Bất Khả,” vì bất cứ điều gì nhờ ngài cầu bầu đều được Thiên Chúa nhận lời.

  Thánh Rita sinh ở Spoleto, nước Ý năm 1381. Ngay từ nhỏ ngài đã muốn dâng mình cho Chúa, nhưng vì vâng lời cha mẹ già, ngài phải kết hôn với một ông chồng thô bạo và nóng nẩy. Trong 18 năm, ngài kiên nhẫn dùng sự cầu nguyện và tử tế để đối xử với ông chồng luôn khinh thường và gian dâm. Sau cùng, ông đã ăn năn hối lỗi và bị giết vì một mối thù truyền kiếp.

  Tưởng đã yên thân sau cái chết của chồng, ngài lại khổ tâm khi thấy hai người con trai thề quyết trả thù cho cha mình, và ngài đã cầu xin Thiên Chúa để cho họ chết còn hơn phạm tội giết người. Quả thật, cả hai lâm bệnh nặng, và ngài đã chăm sóc, khuyên giải hai con trở về với Thiên Chúa trong sự bình an trước khi lìa đời.

Bây giờ không chồng và không con, ngài xin gia nhập Dòng Augustine ở Cascia, nhưng bị từ chối vì không còn là trinh nữ. Với sự kiên trì và lòng tin mạnh mẽ, Thiên Chúa đã can thiệp để ngài được nhập dòng. Người ta kể rằng, một đêm kia Thiên Chúa đã đưa ngài vào trong khuôn viên của tu viện dù đã kín cổng cao tường.

Thấy vậy, các nữ tu tin rằng ý Chúa muốn ngài được chấp nhận vào dòng. Trong đời sống tu trì, ngài nổi tiếng về lòng bác ái và ăn chay hãm mình. Lời ngài cầu nguyện cho những kẻ đau yếu thường được Thiên Chúa nhận lời. Ngoài ra, qua sự khuyên bảo, ngài đã đưa nhiều người trở về với đời sống Công Giáo.

Vào năm 1441, ngài được đặc biệt chia sẻ sự thống khổ của Ðức Kitô bằng các vết mão gai trên đầu. Các vết thương ấy thật đau đớn và chảy máu, xông mùi khó chịu đến độ ngài phải sống tách biệt với mọi người, tuy nhiên ngài vẫn coi đó là ơn sủng đặc biệt và xin được sức mạnh để gánh chịu cho đến chết.

  Ngài từ trần vì bệnh lao ngày 22 tháng Năm 1457 khi 76 tuổi. Ngài đặc biệt được tôn kính ở nước Ý ngày nay. Ngài được coi là quan thầy của những trường hợp khó khăn, nhất là có liên hệ đến hôn nhân.

Ngài được phong Chân Phước năm 1626 và được phong Thánh năm 1900. (Nguồn:GP Vĩnh Long)

Sau đây là những lời  trích dẫn của Thánh Rita thành Cascia hy vọng nó giúp bạn luôn trông cậy vào quyền năng của Chúa qua sự cầu bầu của thánh nhân:

❦  “Không có gì là không thể đối với Chúa.”

❦  “Tôi không sợ chết. Tôi biết chết là gì. Đó là nhắm mắt lại với thế giới và mở mắt ra với Chúa.”

❦  “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được chia sẻ nỗi đau khổ của Chúa.”

Câu nào đánh động bạn nhất? 

From: Do Dzung

Sự kiện ấy để lại trong Enzo một chấn động tâm hồn sâu sắc

My Lan Pham

  Năm 2009, thợ lặn huyền thoại người Ý Enzo Maiorca đang lặn cùng con gái mình, Rossana, ngoài khơi bờ biển Syracuse.

Bất chợt, ông cảm thấy một cái chạm nhẹ sau lưng. Khi quay người lại, ông thấy một con cá heo. Nhưng nó không đến để chơi đùa – ánh mắt nó như đang cầu xin một điều gì đó.

Con cá heo lao mình xuống sâu dưới lòng biển, và Enzo lập tức bơi theo. Ở độ sâu khoảng 15 mét, ông phát hiện ra một con cá heo khác đang bị mắc kẹt trong một tấm lưới đánh cá bỏ hoang. Không chút do dự, ông ra hiệu cho con gái đưa mình một con dao. Và vào đúng khoảnh khắc cuối cùng, ông đã giải thoát được chú cá heo tội nghiệp.

Con vật kiệt sức đến mức không thể tự bơi nổi. Enzo kể lại rằng, vào giây phút được giải cứu, nó phát ra một âm thanh “gần như tiếng người”, đầy xúc động và nghẹn ngào.

Khi họ cùng nhau nổi lên mặt nước, một điều kỳ diệu đã xảy ra: chú cá heo vừa được cứu chính là một con cá heo cái đang mang thai – và chỉ vài phút sau, nó đã sinh một chú cá heo con ngay giữa lòng đại dương.

Con cá heo ban đầu – người bạn đồng hành, người đã đi tìm người giúp đỡ – bắt đầu bơi vòng quanh họ, rồi nhẹ nhàng tiến lại gần Enzo, chạm nhẹ vào cằm ông bằng chiếc mỏ mềm của mình – như một lời cảm ơn sâu sắc, không lời. Sau đó, cả gia đình cá heo lặng lẽ bơi xa, tan vào màu xanh thẳm của biển cả.

Sự kiện ấy để lại trong Enzo một chấn động tâm hồn sâu sắc. Sau này, ông chia sẻ:

“Chừng nào con người còn chưa học được cách tôn trọng thiên nhiên và biết lắng nghe các loài sinh vật khác, thì chừng đó, con người vẫn chưa thật sự hiểu được vai trò của mình trên Trái Đất này.”

Sưu tầm


 

Khí chất Giáo sư Đoàn Viết Hoạt trước tòa cộng sản

Tue Doan

Kính chuyển: Đối chất giữa tòa và người tù

Gs Đoàn Viết Hoạt (Ảnh tư liệu gia đình)

Phiên tòa kết án Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt diễn ra vào ngày 29 Tháng Ba 1993, cùng với bảy người khác là Phạm Đức Khâm, Nguyễn Văn Thuận, Lê Đức Vượng, Hoàng Cao Nhã, Nguyễn Xuân Đồng, Nguyễn Thiệu Hùng, Phạm Thái Thủy, với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” theo điều 73 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án có ngày xử không công bố trước trên báo chí, nhưng buổi sáng, trước sân tòa án ở Sài Gòn, đã thấy có vài chục người đứng đợi xe tù đến và xin vào dự tòa. Nhiều gương mặt quen thuộc của giới văn nghệ sĩ trước 1975 cũng có mặt ở đây như nhà văn Hoàng Hải Thủy, Vũ Khắc Mai Anh, Thanh Thương Hoàng, Hồ Nam, ca sĩ Tâm Vấn (vợ bác sĩ Nguyễn Đan Quế)… Dĩ nhiên là những người này không được vào dự tòa, mặc dù theo thông báo đây là phiên tòa xử công khai. Hầu hết đều vẫn đứng trước sân tòa và kiên nhẫn đợi buổi xử kết thúc để chờ kết quả, bao vây chung quanh là vô số công an thường phục và sắc phục.

Chủ tọa phiên tòa là Lê Thúc Anh, một nhân vật nổi tiếng sắt máu, bất cần công lý. Công tố viên là Trương Hoàng Minh, đại tá trưởng phòng điều tra an ninh của Viện Kiểm Sát. Thẩm phán là ông Nguyễn Lâm.

Theo cáo trạng, Đoàn Viết Hoạt và đồng phạm bị khởi tố từ Tháng Tư năm 1990 và bị bắt vào Tháng Mười Một năm 1990, bị truy tố theo điều 73 Bộ luật Hình sự vì hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Chứng cứ quan trọng nhất của “tội trạng” đó là việc những người này đã cho lưu hành nội bộ 4 số báo mang tên Diễn Đàn Tự Do từ Tháng Bảy 1990 đến Tháng Mười 1990.

Trước tòa, công tố viên nói ông Đoàn Viết Hoạt âm mưu lật đổ chính quyền qua việc lập nhóm hoạt động tên Diễn Đàn Tự Do, cùng các tài liệu. Từ lời kết tội này, sự hài hước về tư duy của chế độ được giáo sư Đoàn Viết Hoạt cũng như các nhân vật bị kết án lật ra, chỉ rõ.

Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt quả quyết không chủ trương lật đổ ai, và đòi công tố viên phải chỉ ra cho được điểm nào có thể gọi là “lật đổ.” Ông nói việc cáo buộc lập “nhóm Diễn Đàn Tự Do” là ngụy chứng, mọi thứ chỉ xoay quanh các tập tài liệu Diễn Đàn Tự Do, thể hiện ý kiến chính trị xã hội mà thôi. Giáo sư cũng bác bỏ kết luận của cáo trạng rằng đây không phải là tờ báo, nó chỉ là một tài liệu đánh máy có 4 bản. “Không phát hành rộng rãi, không bán cho ai, thì sao có thể gọi là tờ báo?” Giáo sư Hoạt hỏi ngược công tố viên.

Tòa nói Giáo Sư Hoạt muốn sửa hiến pháp, tức muốn lật đổ chế độ. Ông Hoạt phản đối ngay: “Tòa lên án tôi đòi sửa hiến pháp, nhưng từ trước đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng sửa hiến pháp tới 3 lần, như vậy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lật đổ chính quyền của mình đến 3 lần hay sao?” Cử tọa ở dưới bật cười ồ, làm chủ tọa Lê Thúc Anh cau mày, khó chịu.

Ông Hoạt bị giải tới tòa (Hình do thân hữu ẩn danh trong nuớc, chụp gửi cho bà Thức chuyển ra nước ngoài)

Với lời kết tội là chống chế độ, giáo sư đứng trước tòa chỉ xác nhận duy nhất là ông đã lên tiếng đòi dân chủ và ngay bây giờ vẫn giữ nguyên lập trường đó. Ông nói: “Tôi không chống ai cả, tôi là một người dân chủ và chấp nhận mọi người. Phải nói đảng cộng sản chống tôi thì đúng hơn, vì họ chống lại dân chủ.”

Lần đầu tiên sau 1975, tòa án của Cộng Sản phải đối diện với một trí thức đấu tranh dân chủ, và mọi thứ sắp đặt để kết án tưởng chừng như dễ dàng, thế nhưng việc ông Đoàn Viết Hoạt luôn từ tốn trình bày trước tòa, rõ ràng và khôn khoan nhượng, khiến những ngôn từ dao búa và đen tối được chuẩn bị trước trở nên hết sức hài hước và ấu trĩ.

Giáo Sư Hoạt nói việc làm của ông chỉ là việc làm của người bất đồng chánh kiến, việc làm của người dân bình thường đòi quyền yêu nước trước đảng CSVN. “Tại sao đảng CSVN lại sợ dân có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình, được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bầu cử và ứng cử. Tại sao đảng cộng sản lại không chấp nhận một cuộc bầu cử tự do không gian lận, ai được lòng dân thì dân bầu. Đảng CSVN nếu quả là được lòng dân thì dân bầu, tại sao đảng lại sợ?” Giáo Sư Hoạt đặt ta một loạt câu hỏi mà không ai phía tòa án có thể phản ứng.  Đến đây, ông Hoạt bị chủ tọa Lê Thúc Anh ngắt lời không cho nói tiếp. Ông Hoạt trở về chỗ, nhưng những người chung quanh thấy rõ ông mỉm cười.

Ông Nguyễn Văn Thuận, tức biệt danh Châu Sơn, được gọi để trả lời trước tòa sau ông Đoàn Viết Hoạt. Ông Thuận khai rằng ông tâm đắc với đường lối ôn hòa của Diễn Đàn Tự Do và ông cũng chẳng mưu cầu lật đổ ai, mà nhận ra rằng chính người Cộng Sản đang tự lật đổ chế độ của mình. Có thể là do quá kìm nén ở phần bị Giáo Sư Hoạt chất vấn, nên ông Lê Thúc Anh lúc này đã không còn giữ được bình tĩnh, mà đã gầm lên, quát “Láo. Láo. Không được nói bậy. Im ngay!”

Trong 8 bị can ra đứng trước tòa, ai nấy đều có lý lẽ và phong thái hết sức điềm đạm. Duy nhất là bị can Hoàng Cao Nhã thì khai rằng có nhận 2 số Diễn Đàn Tự Do, nhưng đọc xong rồi “xé vì thấy nó quá dở.” Ông Hoàng Cao Nhã thành khẩn khai báo, và tỏ ra ăn năn, nên là người duy nhất được ông chủ tọa Lê Thúc Anh tỏ ra chiếu cố, cho có 8 tháng 20 ngày tù.

Vào phần cuối phiên tòa, khi các bị cáo nói lời cuối cùng trước khi tòa nghị án, ông Đoàn Viết Hoạt nói rằng ông xuất bản tập Diễn Đàn Tự Do là muốn giúp cho Việt Nam đổi mới về chính trị bởi vì theo mục tiêu của đảng CSVN trù tính thì đến năm 2000 thu nhập quốc dân tỉnh theo đầu người là $400, tính như vậy thì tới thời điểm đó, dù mục tiêu của đảng Cộng Sản có đạt được đi nữa, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới.

Bài nói ngắn của Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt như một diễn ngôn trước công chúng đang dõi theo, hy vọng cho một tương lai dân chủ, tự do. Chính quyền và tòa án có mặt dù không muốn cũng bị rúng động trước sự ôn hòa và đầy suy tư của một công dân không mang thù oán gì với chế độ, dù đã bị bắt đi tù từ năm 1976 đến 1988 mà không có một lý do nào.

Tóm tắt, Giáo Sư Hoạt nói trước một viễn tượng đất nước cần một giải đáp khác giải đáp cộng sản. Ông nghĩ rằng phải làm sao động viên được mọi người dân Việt Nam trong một cố gắng chung để vươn lên. Muốn như vậy không có giải đáp nào khác hơn là một thể chế dân chủ đa nguyên tôn trọng chỗ đứng, bổn phận và quyền lợi ngang nhau của mọi người. Ông Hoạt nói rằng một chế độ độc tài sẽ trói buộc Việt Nam trong lạc hậu. Chỉ có dân chủ mới bảo đảm được tiến bộ liên tục và mau chóng, điều đó mọi người Việt Nam cần phải hiểu. Và chính vì dân chủ cần thiết nên ông đã sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả khi nói lên nguyện vọng dân chủ.

Ông Hoạt cũng nói rằng trong suốt dòng lịch sử, nhiều anh hùng liệt sĩ đã hy sinh giữ nước và giành độc lập, nhưng vấn đề của đất nước hiện nay là dân chủ hóa và ông không tiếc đã phải chịu mọi gian lao để đất nước có dân chủ.

Tới đây, ông Đoàn Viết Hoạt bị chủ tọa phiên tòa Lê Thúc Anh ngắt lời và nhắc lại luận điểm Việt Nam mà đổi mới về chính trị như Liên Xô cũ là sẽ tan rã. Việt Nam cần ổn định nên cần duy trì đường lối bảo thủ xã hội chủ nghĩa. Ông Hoạt hỏi lại ông Lê Thúc Anh có sẵn sàng thảo luận về vấn đề đổi mới không, nhưng ông Lê Thúc Anh không cho ông Hoạt nói nữa.

Đến 18 giờ chiều, tòa đình nghị án và tuyên bố sẽ tuyên án vào lúc 9 giờ 30 ngày 30-3-1993. Sáng 30-3, các bị can được đưa đến khám Chí Hòa để nghe tuyên án. Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị tuyên 20 năm tù về một tội danh, mà ngay trước tòa, cả hệ thống đã không chứng minh được là ông có tội. Những hình ảnh cuối cùng của phiên tòa đó, là ông Hoạt bận bộ đồ xám cùng ông Phạm Đức Khâm và Nguyễn Văn Thuận bước ra, nở nụ cười với mọi người. Ông Hoạt nhìn thấy vợ là bà Trần Thị Thức đứng gần xe áp giải, ông cười, giơ tay lên chào, nhưng bị tay công an đi cạnh giật xuống và xô lên xe.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, đứng giữa, và những tù nhân chính trị trong trại Z-30. Từ trái: Đoàn Thanh Liêm, Lý Trường Trân, Vương Đức Lệ, Đoàn Viết Hoạt, Phạm Đức Khâm, Ngô Văn Thuận, Nguyễn Trì (Ảnh tài liệu của Indochina Journal)

Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng và là cựu tù nhân lương tâm ở Việt Nam, qua đời ngày 14-5-2025, tại quận Cam, California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 83 tuổi.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt sinh năm 1942 tại làng Mai Lĩnh, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Mai Lĩnh, phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) là một nhà báo người Việt, học hàm giáo sư, nguyên phụ tá viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh của Việt Nam Cộng hòa. Ông được trao Giải Tự Do Báo Chí Quốc Tế năm 1993, Giải Nhân Quyền Robert F. Kennedy năm 1995 và Giải Bút Vàng Tự Do năm 1998 vì những thành tích phấn đấu, đóng góp trong việc bênh vực quyền tự do báo chí và các quyền tự do dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Ông Đoàn Viết Hoạt còn là thành viên danh dự của PEN Club Mỹ, Canada, áo, Thụy Sĩ, Pháp và Ba Lan.

Tháng Bảy 1976, ông bị chế độ CSVN đưa đi tù cải tạo 12 năm. Tháng Mười Một 1990, ông bị bắt do viết và tập hợp các tiểu luận chính trị tên Diễn Đàn Tự Do, bị kêu án 20 năm tù. Năm 1998, ông được ra tù và đi tỵ nạn ở Hoa Kỳ, từ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó PEN Club Poland.

Nam Việt – 20 tháng 5, 2025


 

Cha mẹ không chết…

Chau Doan 

 *Cha mẹ không chết, 

Chúng ta khiến họ chết.. 

Người ta nói rằng khi cha mẹ qua đời, 

thế giới như chấm dứt. 

Ngôi nhà trông trống rỗng. 

Nhưng tôi cảm thấy rằng cha mẹ sống mãi mãi 

và họ ở lại với chúng ta. 

Chính chúng ta quên họ. 

Sự thật là 

một người anh có đôi mắt của người cha yêu quý, 

một người chị có khuôn mặt xinh đẹp 

giống như người mẹ đầy lòng trắc ẩn, 

một người anh em cười giống bố hoặc 

một người chị nấu ăn giống mẹ. 

Cha mẹ không chết. 

Họ không bao giờ rời bỏ chúng ta. 

Họ sống giữa chúng ta. 

Họ sống trong chúng ta. 

Chúng ta là hình ảnh phản chiếu của cha mẹ. 

Dù không còn hiện diện về mặt thể xác, 

họ vẫn tiếp tục sống trong chúng ta. 

Khi bạn muốn nhớ về cha mẹ, 

khi bạn muốn nhìn thấy họ, 

khi bạn muốn ở bên họ, 

hãy đơn giản tụ họp anh chị em xung quanh bạn. 

Bạn sẽ tìm thấy nụ cười mê hoặc của mẹ trong một người anh em, 

giọng nói dịu dàng của bố trong một người khác. 

Bạn sẽ cảm nhận cha mẹ rất gần bên bạn. 

Khắp xung quanh bạn. Sâu thẳm bên trong bạn.. 

Khu vườn yêu thương mà cha mẹ vun đắp và nuôi lớn bằng tình yêu, từ khi bạn sinh ra, với sự khó nhọc của nước mắt và máu của họ; nó sẽ tiếp tục nở hoa, không bị ảnh hưởng bởi những chu kỳ thời tiết khắc nghiệt của cuộc đời.. Họ che chở cho chúng ta trong những lúc khó khăn.. 

Nhưng có những lúc, 

chúng ta quên đi tất cả sự khó nhọc của họ và phá hủy thiên đường mà họ đã xây dựng, bằng sự ích kỷ, hận thù, và thái độ cơ hội của chúng ta. 

Cha mẹ không chết. 

Chúng ta khiến họ chết.. 

Hãy yêu thương cha mẹ của bạn.. 

Hãy yêu thương anh chị em của bạn.. 

Tiếp tục nuôi dưỡng khu vườn mà cha mẹ đã vun đắp bằng tình yêu và lòng trắc ẩn để nó không bao giờ ngừng nở hoa và rực rỡ.. 

Bạn sẽ biến thế giới của mình thành một thiên đường sống trên trái đất.. Một thiên đường chỉ biết đến tình yêu, lòng trắc ẩn, sự quan tâm, tôn trọng và có bạn.. 

 Echoes of Insight*

Nguồn: Sufia JamilPearls of Rumi


 

Với bạn, vẻ đẹp đích thực là gì?

Chau Doan

Ernest Hemingway từng nói: “Những con người đẹp nhất mà ta gặp trong đời thường là những người đã bước qua lửa.” Họ đã đối mặt với thất bại, chịu đựng nỗi đau, vật lộn với nghịch cảnh và trải qua mất mát theo cách mà phần lớn chúng ta khó có thể tưởng tượng. Thế nhưng chính qua những thử thách đó, vẻ đẹp thật sự của họ mới hiện ra — không phải thứ có thể nhìn thấy bằng mắt, mà là thứ tỏa ra từ bên trong.

Những con người ấy đã thuần thục nghệ thuật tinh tế của sự kiên cường. Họ biết cảm giác bị tổn thương, cảm giác lạc lối, và sự hoài nghi về tất cả những điều từng tin tưởng là như thế nào. Dù đã trải qua nhiều đau khổ, họ vẫn đứng lên, mạnh mẽ hơn và thấu cảm hơn. Chính hành trình trong bóng tối đã tôi luyện trái tim họ với một sự nhạy cảm hiếm có. Vì đã từng chịu đau, họ có khả năng đồng cảm phi thường.

Vẻ đẹp của họ không nằm ở ngoại hình, mà ở cách họ khiến người khác cảm thấy. Một sự hiện diện lặng lẽ nhưng đầy sức mạnh, mang đến sự ấm áp và chữa lành. Họ đã học cách nhìn cuộc sống ở tầng sâu hơn, không chỉ bằng mắt mà còn bằng trái tim. Sự thấu hiểu nỗi đau con người giúp họ kết nối với người khác theo cách chân thực, trần trụi và đầy an ủi. Họ lắng nghe mà không phán xét, nâng đỡ mà không mong hồi đáp, trao đi lòng tốt mà không giữ lại gì.

Điều làm họ trở nên đặc biệt chính là việc họ đã đi qua giông bão của riêng mình và từ đó, biết trân trọng cuộc sống theo cách mà những người chưa từng trải qua khổ đau khó lòng hiểu được. Một sức mạnh dịu dàng nảy sinh từ sự hiểu rằng mọi thứ đều vô thường, rằng mỗi khó khăn đều mang trong mình một bài học. Trái tim họ đầy ắp yêu thương — không chỉ với người khác, mà cả với chính mình — một tình yêu được tôi luyện trong lửa đỏ của thử thách.

Vẻ đẹp như vậy không phải ngẫu nhiên mà có. Nó được sinh ra từ việc vượt qua những phần tối tăm nhất của cuộc đời và vẫn chọn tiếp tục bước đi với một trái tim rộng mở. Đó là sự lựa chọn để nhìn thấy điều tốt đẹp, ngay cả khi mọi thứ tưởng chừng vô vọng. Những con người đẹp nhất không phải là người may mắn hay tài năng nhất; họ là những người đã đối mặt với điều tồi tệ nhất và tìm ra cách để vượt lên, biến vết sẹo thành sức mạnh và mang sức mạnh ấy đến cho người khác.

Vậy nên, khi bạn gặp một người mang vẻ đẹp như thế — người mà ánh sáng nội tâm hiện rõ trong lời nói và hành động — hãy nhớ rằng ánh sáng ấy được sinh ra từ những khổ đau. Họ đã đi trong bóng tối và bước ra với một trái tim hiểu thế nào là tình yêu, lòng tốt và sự cảm thông thật sự. Đó là một vẻ đẹp không thể mua, không thể bắt chước. Đó là vẻ đẹp được đánh đổi bằng trải nghiệm, là món quà quý giá không gì sánh được.

Với bạn, vẻ đẹp đích thực là gì? Bạn nhìn thấy nó thể hiện ra sao ở những người mà bạn ngưỡng mộ nhất?

Nguồn: MizuHafez Poetry