THÁNG NĂM: TỪ HOA ĐỒNG CỎ NỘI ĐẾN HOA CÕI LÒNG – Phêrô Phạm Văn Trung

Phêrô Phạm Văn Trung

WHĐ (01/5/2026) – Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

Dẫn nhập 

Trong nếp sống đạo của tín hữu Công giáo Việt Nam, tháng Năm có vị trí đặc biệt.  Trong tháng này, từ những giáo xứ to lớn đến các họ lẻ nhỏ bé, không gian đều rộn ràng tiếng nhạc, lời ca tiếng hát và ngát hương hoa.  Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

  1. Trong tháng Hoa, thiên nhiên hòa cùng đức tin 

Việc tháng Năm trở thành tháng dâng kính Mẹ Maria khởi đi từ cái nôi trời Tây của truyền thống này.  Sau những tháng mùa đông dài dằng dặc, bầu trời xám xịt và giá rét lạnh căm, tháng Năm tại châu Âu là thời điểm “Xuân phân” đạt đến độ rực rỡ nhất.  Cả đất trời như bừng tỉnh, cây cối đâm chồi nảy lộc, không khí ấm áp trở lại, và đặc biệt là muôn hoa đua nở khắp các cánh đồng, núi đồi và thung lũng. 

Vẻ đẹp thanh khiết, đầy sức sống của thiên nhiên lúc này đã trở thành một biểu tượng tâm linh mạnh mẽ.  Các tín hữu sơ khai nhìn thấy vẻ đẹp của hoa cỏ phản chiếu vẻ đẹp của Đức Trinh nữ Maria, người nữ “đầy ân phúc,” là “Bông hoa đẹp nhất” mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Nếu như hoa xuân mang lại niềm vui cho trần thế sau mùa đông u ám, thì Mẹ Maria, qua tiếng “Xin vâng,” đã mang Đấng Cứu Thế đến để mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại sau “mùa đông ảm đạm” của tội lỗi.

 Truyền thống dành tháng Năm cho Mẹ Maria không xuất hiện ngay lập tức mà là một hành trình tích lũy qua nhiều thế kỷ.  Thời trung cổ, tại các quốc gia như Tây Ban Nha hay Pháp, người dân đã có thói quen thực hành các việc đạo đức đặc biệt để tôn vinh Mẹ Maria vào tháng Năm, nhằm thay thế cho các lễ hội ngoại giáo mừng mùa xuân, vốn có những yếu tố đa thần đôi khi biểu lộ cách thô thiển.  Các tín hữu muốn thánh hóa thời gian này, thay vì chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên thì họ qui hướng mọi vẻ tươi đẹp đó về Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Mẹ Maria. 

Vào thế kỷ XVI, Thánh Philipphê Nêri dạy các thiếu nhi thu lượm hoa tươi trong vườn để dâng trước bàn thờ Mẹ Maria.  Ngài muốn trẻ em tìm thấy Chúa và Mẹ Maria thông qua vẻ đẹp đơn sơ của cỏ hoa.  Thế kỷ XVIII, các tu sĩ Dòng Tên tại Ý chính thức dành trọn 31 ngày tháng Năm với các bài suy niệm, bài hát hướng về Mẹ Maria và khuyến khích giáo dân thực hiện việc này tại gia đình cũng như tại nhà thờ, đưa phong trào lan rộng toàn cầu.  Sang thế kỷ XIX – XX, truyền thống này được các Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận.  Đặc biệt, qua Thông điệp Mense Maio – Tháng Năm (1965), Đức Phaolô VI khẳng định tháng Năm là dịp đặc biệt để cầu nguyện cho hòa bình và những nhu cầu của Giáo hội. 

  1. “Vãn dâng hoa” là sự sáng tạo độc đáo của người tín hữu Việt Nam khi xưa.

 Khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã rất khôn ngoan khi không chỉ áp dụng các nghi thức phương Tây xa lạ khó nắm bắt đối với người dân Việt.  Các ngài khuyến khích giáo dân diễn tả đức tin Công giáo theo cách riêng của tâm hồn dân Việt, vốn thấm đẫm thi ca, tha thiết diễn xướng và náo nức lễ hội, như Linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955) đúc kết: “Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo…  Người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc…  Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi,”[1] “vãn dâng hoa” và việc dâng hoa của người Công giáo Việt Nam ra đời trong tâm thế văn hóa đậm chất tâm linh đó.

 Tại Việt Nam, dâng hoa không chỉ là đặt một bó hoa lên bàn thờ rồi thôi, nhưng đó là một cách biểu lộ tâm tình đạo hạnh dưới hình thức nghệ thuật.  Người tín hữu Công giáo Việt Nam khi xưa đã soạn ra những bài “vãn dâng hoa,” dựa theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, giàu hình ảnh, dễ thuộc, dễ thấm, để ngợi ca vẻ đẹp của Mẹ Maria cũng như nói lên những nỗi niềm, thân phận và niềm hy vọng cậy trông của người tín hữu Việt Nam nơi Mẹ, giữa những lao nhọc vất vả của đời sống.

 “Đền vàng quỳ trước dâng hoa
Trông lên tháp bảo thấy tòa Ba Ngôi
Mười hai nhân đức gương soi
Kính dâng Đức Mẹ đời đời ngửa trông”…

…“Bảy hoa mượn chỉ nghĩa mầu.
Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.
Hợp cùng năm sắc điều dâng,
Dường mười hai ngọc kết tầng Triều thiên”…

…“Ban ơn cho chúng con nhờ,
Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên.
Đời này được sự bằng yên,
Đời sau lại được ngợi khen hát mừng… Amen.”[2]

 Về hình thức, vãn hoa là một “lễ hội đức tin” rộn rã, đậm chất văn hóa Việt.  Từ những tà áo truyền thống đến những điệu nhạc quen thuộc, tất cả tạo nên bầu không khí náo nức, gắn kết bà con xóm đạo.  Trong đoàn rước hoa dâng kính Mẹ Maria, mọi tín hữu không phân biệt giàu nghèo đều cùng hướng về Mẹ, biến nghi thức dâng hoa, hội nhập hoàn toàn vào tình tự dân tộc, thành một phần ký ức sâu sắc. 

Ngày nay, việc dâng hoa trong tháng Hoa được tổ chức ngày càng quy mô và lộng lẫy hơn.  Các giáo xứ lớn tổ chức các đoàn dâng hoa lên tới hàng trăm người, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, với hệ thống ánh sáng, âm thanh hiện đại.  Những giáo xứ miền quê nhỏ bé cũng tổ chức dâng hoa cho Mẹ Maria, một cách đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng.  Trang phục được đầu tư đáng kể, kỹ năng múa được tập luyện bài bản, ngày càng trở nên nghệ thuật, chuyên nghiệp.

 Những thao thức mục vụ của ngày hôm nay

 Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy vẫn nhắc nhở mọi người: Chúng ta đang dâng lên Mẹ Maria tâm tình hiếu thảo hay chỉ lo lắng đến việc biểu diễn?  Thực tế, việc quá chăm chút vào kỹ thuật, trang phục đôi khi khiến người tham gia lo lắng “sai nhịp” hơn là hướng lòng về Mẹ.  Khi tính biểu diễn lấn át tinh thần suy niệm, buổi lễ chỉ để lại sự trầm trồ về hình thức mà thiếu đi sứ điệp thiêng liêng trong tâm hồn.  Tính “biểu diễn” lấn át tinh thần “suy niệm cầu nguyện”.

 Để tháng Hoa tiếp tục là nguồn mạch nuôi dưỡng đức tin cho người tín hữu hôm nay cũng như các thế hệ mai sau, việc dâng hoa cần phải là một buổi suy niệm sống động, kết nối mỗi động tác, mỗi sắc hoa với Lời Chúa và các nhân đức của Mẹ Maria.

 Hoa trắng không chỉ là sắc màu của sự thanh khiết, nhưng còn là biểu tượng Ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Khi dâng hoa trắng, người tín hữu được mời gọi thanh tẩy tâm hồn, sống trung thực và trong sạch giữa một xã hội đầy dẫy sự gian dối.  “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mátthêu 5:8).

 “Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.” *

 Hoa đỏ tượng trưng cho sự hy sinh, tình yêu nồng cháy và những đau khổ mà Mẹ đã gánh chịu dưới chân Thập giá.  Đây là cơ hội để suy niệm về sự kiên trì và lòng yêu người, giúp người ta biết chấp nhận gian khổ để dấn thân phục vụ.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15:13).

 “Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu thánh thơm chung lòng người.
Vì thương con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.” *

 Hoa vàng là biểu tượng của vinh quang Thiên Chúa và lòng tin sắt son.  Dâng hoa vàng là cam kết giữ vững đức tin trước những lôi cuốn của chủ nghĩa vật chất, lối sống thực dụng.  “Vàng thử lửa, đức tin thử gian nan… để khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin ấy sẽ trở thành lời ca tụng, vinh quang và danh dự” (1 Phêrô 1:7).

 

“Quý thay này sắc hoa vàng,
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.” *

 Hoa tím là màu của thống hối và khiêm nhường.  Trong một thế giới của cái tôi kiêu hãnh, sắc tím nhắc nhở chúng ta về sự nhỏ bé của mình trước nhan Chúa như Mẹ đã từng tự nhận là “nữ tỳ hèn mọn”.

“Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Luca 1:52).

“Dịu thay hoa tím càng màu,
Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.” *

 Hoa xanh nhắn đến niềm hy vọng và sự bình an.  Giữa những lo âu về cơm áo gạo tiền, sắc xanh dâng Mẹ là lời cầu xin sự bình an trong tâm hồn và niềm cậy tin vào tương lai tươi sáng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân.  Người ấy như cây trồng bên dòng nước” (Giêrêmia 17:7-8).

 “Lạ thay là sắc hoa xanh,
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm.” *

 4.Tháng Hoa giúp biến đổi đời sống thành vườn hoa thánh thiện 

Nếu mỗi buổi dâng hoa đều kèm theo Lời Chúa và lời suy niệm ngắn gọn, súc tích, người dâng hoa và người thưởng lãm gặp gỡ được Mẹ Maria của Tin Mừng, chứ không chỉ đi xem một hình thức phô diễn nghệ thuật.

 Nhằm bảo vệ môi trường theo tinh thần của Thông điệp Laudato Si’, các cuộc dâng hoa có thể được khuyến khích dâng hoa trong những chậu, nhỏ to khác nhau.  Sau buổi dâng hoa, số hoa này có thể trồng tại khuôn viên thánh đường hoặc tặng lại cho giáo dân chăm sóc, giúp tạo nên “Vườn hoa Đức Mẹ” xanh tươi quanh năm.

 Đỉnh cao của việc dâng hoa là sống cuộc đời “Per Mariam ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu,” biến đời sống thành vườn hoa nhân đức, mến Chúa yêu người, theo mẫu gương “Fiat – Xin vâng” của Mẹ Maria.  Mỗi người cần hiểu rằng một lời tử tế, một bữa cơm cho người nghèo hay sự trung thực trong công việc mới là đóa hoa ngát hương mà Mẹ Maria mong muốn nhất để giúp chúng ta nên thánh.  Mẹ không cần hoa, chính chúng ta mới là người cần đến hoa nhằm biểu lộ rằng đôi bàn tay vốn đang dâng lên Mẹ những bông hoa đầy hương sắc cũng là đôi bàn tay đã biết chia sẻ cụ thể những buồn vui, lo âu với những người chung quanh, và rằng cõi lòng chúng ta đang dần biến đổi để biết yêu thương, hy sinh như Mẹ.  Một tháng Năm mà mỗi tín hữu hăng hái làm việc bác ái, trao gửi nụ cười và sự quan tâm chân tình mới thực sự là một tháng Hoa ý nghĩa. 

  1. Khuyến khích giới trẻ tiếp nối và đào sâu truyền thống đạo hạnh

Tháng Năm về, giữa cái nắng oi bức của mùa hè Việt Nam, những giai điệu “Mùa hoa về rồi muôn hoa xinh con hái dâng Mẹ.  Mùa hoa về rồi muôn hương thơm bay trước nhan Mẹ…” (Trầm Hương) lại vang lên đầy thân thương.  Truyền thống tháng Hoa là một kho tàng vô giá mà cha ông đã để lại.  Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy sáng bằng cách thổi vào đó hơi thở của ngày hôm nay, với các bản thánh ca có điệu nhạc tươi mới, ngôn từ gần gũi nhưng vẫn trang trọng, đúng với Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, khơi gợi được cảm thức đức tin – sensus fidei.

 Sử dụng khéo léo các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ giúp việc dâng hoa không còn là nghi thức “cổ xưa” mà trở thành cảm nghiệm tâm linh tươi mới.  Khi được gạn đục khơi trong đúng với tâm tình, các bạn trẻ sẽ tham gia với tất cả sự nhiệt huyết và đức tin cá vị, thay vì chỉ làm theo tập tục phong trào.

 Tuy nhiên, nếu tháng Hoa chỉ dừng lại ở tiếng nhạc, trang phục thướt tha, hoặc “hứng thú nghệ thuật,” thì chúng ta chỉ là khán giả đi xem một buổi trình diễn văn nghệ chứ không phải người mong muốn hoán cải nội tâm.  Chỉ khi bước ra khỏi nhà thờ sau buổi dâng hoa, mỗi người biết sống tử tế, hy sinh, tôn trọng và yêu thương nhau hơn, thì lúc đó, chúng ta mới thực sự trở thành những đóa hoa sống động làm đúng ý Chúa và Mẹ Maria.

 Phêrô Phạm Văn Trung

_________

[1] Trường Đại học Khoa học xã hội và nhận văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, https://hcmussh.edu.vn/news/item/25727

[2] Và các câu thơ khác (*) tại http://gdptttvn.org/nam-sac-bay-mau-hoa-dang-kinh-duc-me/

From: Lanthangchieutim


 

LÝ QUANG DIỆU…

8 SÀI GÒN 

LÝ QUANG DIỆU…

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)  biến đảo cá đầm lầy thành nền kinh tế thứ nhất ASEAN trong 31 năm

Lee Kuan Yew (李光耀, 1923-2015) sinh ngày 16/9/1923 tại Singapore, gia đình gốc Khách Gia (Hakka) từ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Cha là người buôn bán nhỏ, gia đình thường xuyên thiếu tiền.

Lee học Raffles Institution xuất sắc, nhận học bổng Cambridge học Luật năm 1946 sau Thế Chiến II. Tốt nghiệp double first class honours  danh hiệu cao nhất Cambridge.

### Singapore trước Lee  đảo cá đầm lầy

1959, khi Lee 35 tuổi nhận chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore dưới quyền tự trị Anh:

* Singapore là thuộc địa Anh với 1.6 triệu dân, chia 4 dân tộc thù ghét nhau (Hoa, Mã, Ấn, Anh)

* Diện tích chỉ 581 km²  không tài nguyên, không nông sản, không ngay cả nước uống (phải mua từ Malaysia)

* Tỉ lệ thất nghiệp 20%, GDP đầu người 400 USD/năm (gần Việt Nam thời đó)

* 80% dân sống trong nhà ổ chuột ven sông

* Nội chiến giữa các nhóm Cộng sản và phe ủng hộ Anh

### 1965  bị “đuổi” khỏi Liên bang Mã Lai

Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Mã Lai với hy vọng kinh tế. Nhưng Thủ tướng Tunku Abdul Rahman không chịu nổi:

* Kinh tế Singapore (đa số người Hoa) vượt kinh tế Mã Lai (đa số Hồi giáo)

* Lee Kuan Yew công khai phê bình chính sách đặc quyền cho người Mã

9/8/1965, Tunku ra đơn phương quyết định: tống Singapore ra khỏi Liên bang. Singapore trở thành QUỐC GIA ĐỘC LẬP  không tự nguyện.

Lee Kuan Yew ra TV truyền hình quốc gia, khóc trên TV  lần duy nhất trong đời:

> “Đối với tôi, đây là khoảnh khắc đau khổ. Cả đời tôi tin tưởng việc Mã Lai và Singapore là một… Bây giờ chúng ta phải đi một mình.”

Singapore một mình, không quân đội, không nước, không tài nguyên. Cả thế giới dự đoán: trong 5 năm sẽ rơi vào tay Cộng sản hoặc bị Indonesia/Malaysia nuốt.

### 31 năm cải cách thần kỳ

1959-1990, Lee làm Thủ tướng 31 NĂM liên tục  kỷ lục dài nhất của một thủ tướng dân chủ trong thời hiện đại.

Chiến lược “First-World Oasis”:

  1. Chống tham nhũng tuyệt đối: Lee thành lập CPIB (Cơ quan Điều tra Tham nhũng) năm 1952, không chừa ai. Ông xử bộ trưởng Bộ Phát triển nội thành Wee Toon Boon đi tù 4 năm vì nhận quà bằng nhà. Singapore từ tham nhũng cao nhất ASEAN trở thành #5 trong sạch nhất thế giới (2024).
  2. Nhà ở công cộng: chương trình HDB (Housing Development Board)  xây căn hộ giá rẻ cho dân nghèo. 80% dân Singapore ngày nay sống trong HDB, sở hữu nhà.
  3. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính: vượt qua phản đối từ phe người Hoa, Lee áp đặt tiếng Anh làm ngôn ngữ giáo dục. Ông tin: tiếng Anh là chìa khóa vào kinh tế toàn cầu.
  4. Mời các tập đoàn đa quốc gia: Singapore giảm thuế + xây khu công nghiệp Jurong + đảm bảo không đình công. Texas Instruments, Hewlett-Packard, ExxonMobil đặt trụ sở khu vực ở Singapore.
  5. Cảnh sát dùng roi mây: hình phạt thân thể nghiêm khắc cho tội nhỏ  vẽ bậy xử 3 roi + tù. Singapore an toàn nhất thế giới.

### Kết quả 1990  “From Third World to First”

Khi Lee từ chức năm 1990 (vẫn giữ chức Bộ trưởng Cao cấp đến 2011):

* GDP đầu người: 400 USD → 12.000 USD (tăng 30 lần)

* Hiện 2024: GDP đầu người 84.000 USD/năm  #7 thế giới, vượt Mỹ

* Sân bay Changi xếp hạng #1 thế giới mỗi năm (Skytrax)

* Cảng Singapore = cảng container lớn thứ 2 thế giới

* Tuổi thọ trung bình: 84 tuổi (cao thứ 4 thế giới)

H

* 0 người vô gia cư chính thức

Cuốn sách của ông “From Third World to First” (2000) bán hàng triệu bản, trở thành sách giáo khoa cho lãnh đạo Đông Nam Á.

### Lee Kuan Yew nói về Việt Nam

Ông nhiều lần khen ngợi và phê bình Việt Nam. Năm 2007: “Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng tham nhũng + bộ máy chậm chạp đang cản trở. Nếu Việt Nam giải quyết được, sẽ vượt Singapore trong 1 thế hệ.”

### Cái ch*t

23/3/2015, Lee Kuan Yew qua đời ở 91 tuổi vì viêm phổi. 1.4 triệu người Singapore đứng đường viếng tang lễ  40% dân số.

Tang lễ Tổng thống Mỹ Obama đến viếng. Trên thế giới, ông được coi là kiến trúc sư của một quốc gia mà Henry Kissinger viết: “Không ai khác trong thế kỷ 20 đã tạo ra một quốc gia từ con số không như Lee Kuan Yew.”

Singapore  đảo nhỏ không tài nguyên  giờ là gia đình của 6 triệu người giàu, vì 1 người đàn ông tin rằng không có lý do gì để chấp nhận thua kém.

HALAB CREATIVE


 

HIỆP THÔNG BẢN THỂ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian!”.

“Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” – Andrew Murray.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí quyết để thôi xao xuyến, tìm lại tự do. Không chỉ nên như chiếc bình rỗng để được đổ đầy, nhưng chúng ta phải đắm mình trong nguồn ấy; không chỉ nhận lãnh, nhưng ở lại.

“Anh em đừng xao xuyến!”. Xao xuyến không hẳn đến từ những gì xảy ra bên ngoài; nó phát sinh từ việc chúng ta đứng trước mọi sự. Có người ở trong thử thách mà vẫn bình an; có người không thiếu gì mà lòng vẫn bất ổn. “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” – Augustinô. Vấn đề không nằm ở hoàn cảnh thuận hay nghịch, nhưng ở chỗ bạn và tôi đang bám vào đâu, hy vọng điều gì – và sâu xa hơn, sống với ai.

Xao xuyến không chỉ là một trạng thái tâm lý; nó là dấu của một đời sống chưa ở lại, chưa ở trong. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta làm điều gì thêm, nhưng ở lại – menein – trong Ngài. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” không phải là trao một cảm giác để xoa dịu, nhưng là bình an kéo chúng ta vào sự sống của Ngài; ở đó, con người không còn giữ lấy mình, không còn chao đảo giữa sợ hãi và bám víu, nhưng bắt đầu sống từ một sự sống khác – một ‘hiệp thông bản thể’. Bình an thế gian cần hoàn cảnh thuận; bình an của Chúa vẫn còn đó giữa những đổ vỡ.

Chính trong sự ở lại ấy, bình an không còn mơ hồ, nhưng trở thành một cách hiện hữu. Phaolô là một chứng từ. Bị ném đá, tưởng đã chết; nhưng ông vẫn đứng dậy và trở lại. Hoàn cảnh không đổi; ông không còn bám vào sự sống mình giữ, nhưng sống từ Đấng nâng ông dậy và giữ ông ở lại. Vì thế, Phaolô không trốn chạy, nhưng tiếp tục loan báo: “Triều đại Ngài vinh hiển!” – Thánh Vịnh đáp ca. Ở lại như Phaolô không phải là một nỗ lực căng, nhưng là một sự buông mình. Khi không còn phải giữ lấy bản thân, lòng người dần lắng xuống, vì đã có một nơi để ở. Và trong sự ở lại ấy, bình an không còn là điều phải tìm, nhưng tự nhiên hiện diện.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã sống trọn vẹn sự ở lại ấy. Giữa xao xuyến của Vườn Dầu, giữa sợ hãi và cái chết, Ngài không giữ lấy mình, nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Cha. Vì thế, bình an Ngài ban không phải là vắng bóng thử thách, nhưng là một sự sống không tách lìa Cha, cùng nhịp với Cha. Cũng thế, chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, trong Cha, con người không chỉ thôi xao xuyến, được an ủi hay vững vàng hơn, nhưng được sống chính sự sống thần linh của Ngài – một ‘hiệp thông bản thể’. “Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Ngài!” – Athanasiô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong Ngài, để không còn xao xuyến, nhưng sống trong bình an của Ngài, bình an không ai lấy mất!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần V Phục Sinh

Thầy ban cho anh em bình an của Thầy

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 14,27-31a

27 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. 28 Anh em đã nghe Thầy bảo : ‘Thầy ra đi và đến cùng anh em’. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. 29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.

30 “Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy. 31a Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.”


 

Các mối phúc là những mối nào?-Cha Vương

Một ngày tràn đầy hạnh phúc trong Chúa, trong mọi hoàn cảnh nhé. Nhớ nhau trong lời nguyền cầu và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 4/5/2026.       (n6-24)

GIÁO LÝ: Các mối phúc là những mối nào? Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp. Phúc cho ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thoả lòng. Phúc cho ai xót thương, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho ai có tâm hồn trong trắng, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế (Mt 5, 3-12). Tại sao các mối phúc lại quan trọng? Những người mong mỏi Nước Trời phải tìm đến bảng liệt kê những ưu tiên trên của Chúa Giêsu thì sẽ biết. (YouCat, số 283 & 284)

SUY NIỆM: Từ Abraham, Thiên Chúa đã hứa với dân Người. Chúa Giêsu đã lặp lại, cho lời hứa một giá trị vĩnh cửu và coi đó là chương trình của Người: Con Thiên Chúa làm người nghèo để chia sẻ sự nghèo khó của ta, Người vui với những kẻ vui, khóc với những kẻ khóc (Rm 12,16); Người không cần đến bạo lực, trái lại, Người giơ má bên kia (Mt 5,39); Người thương xót, tạo nên hòa bình, và chỉ cho thấy con đường chắc chắn dẫn đưa về trời. (YouCat, số 283, 284 t.t.)

❦ Muốn tất cả những gì Chúa muốn, và muốn như thế luôn luôn trong mọi hoàn cảnh và không ngập ngừng, đó là Nước Trời đang ở trong ta vậy. (François Fénelon)

LẮNG NGHE: Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. (Rm 12:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, tim con đang lấp đầy những ham muốn vật chất, những ích kỷ nhỏ nhen, những hận thù ghen ghét, xin Chúa hãy đến và đổi mới tim con bằng lòng khiêm nhường nghèo khó, bằng lòng bác ái vị tha và một tình yêu chân thật để con được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa.

THỰC HÀNH: Cố gắng sống một mối phúc thật hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*******************************************

Tám Mối Phúc Thật – Nguyễn Hồng Ân | Sáng tác Lm. Gió Xuân

NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

Liem Pham ·

NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

(Lời kể của cô Ba Lành, 71 tuổi, Mountain View, California)

LỜI TỰA

Có những câu chuyện không phải để đọc cho biết.

Mà để… không quên.

Có những cái chết không có mộ.

Chỉ có sóng.

Và có những người sống sót…

là để mang giùm ký ức của những người đã chìm xuống.

Nếu đọc đến đây mà tim bạn còn yên, thì xin đọc tiếp.

Còn nếu thấy cổ họng bắt đầu nghẹn lại…

thì bạn đang chạm vào một phần của lịch sử.

——

  Sài Gòn, 1979

Ba tôi là Trung úy Địa Phương Quân.

Sau 75, ông đi tù cải tạo hơn 3 năm mới về.

Ngày ông bước vô nhà, tôi suýt không nhận ra.

Người gì mà chỉ còn da bọc xương, tóc bạc trắng, mắt trũng sâu như hai cái giếng cạn.

Má tôi đứng chết lặng.

Rồi bà run run:

— “Ông… còn sống thiệt hả ông?”

Ba tôi cười. Cái cười không thành tiếng:

— “Chưa chết… chắc tại tụi nó quên.”

Nhà chín miệng ăn.

Hộ khẩu bị cắt.

Tem phiếu không tới lượt.

Gạo không có.

Tiệm vải của má bị niêm phong, dán giấy đỏ chói.

Họ gọi là “đánh tư sản”.

Má tôi gọi là… “đánh nát đời người”.

Đêm nào bà cũng quay mặt vào vách mà khóc. Không dám khóc lớn. Sợ hàng xóm nghe.

Anh Hai ngồi bó gối một góc, giọng khàn:

— “Ở lại… là chết mòn đó má.”

Má im lặng rất lâu.

— “Đi… thì đi hết.”

——

  Rạch Giá, đêm không trăng.

Ghe dài 11 mét. Nhét 63 con người.

Chủ ghe vỗ ngực:

— “Yên tâm, ghe này đi trót lọt hai chuyến rồi!”

Tụi tôi bị nhét dưới hầm máy.

Nước ngập mắt cá.

Mùi dầu, mùi người, mùi ói… trộn lại thành thứ mùi không bao giờ quên.

Em Út nắm tay tôi, run:

— “Chị Hai… mình có chết không?”

Tôi nuốt nước bọt:

— “Không… mình đi tìm sống mà.”

Ghe vừa ra cửa biển.

Đèn pha quét ngang.

— “Biên phòng!”

Tiếng ai đó hét lên.

Đạn xé gió. “Vèo! Vèo!”

Có tiếng kêu:

— “Ối trời ơi !”

Rồi… im bặt.

Sáng ra mới biết… thím Tám chết. Không kèn, không trống.

Chỉ một tấm chiếu, buộc lại.

Má tôi quay mặt đi. Không dám nhìn. Xác thím thả xuống biển. Như một hòn đá. Không ai biết… biển sâu bao nhiêu.

——

  Cướp biển.Gần Koh Kra.

Hai tàu Thái Lan áp sát. Những bóng người nhảy qua như quỷ.

Dao.

Súng.

Mắt lạnh như không phải người.

— “Gold! Dollar! Fast!”

Không có… là đánh. Ba tôi bị đập báng súng. Ngã xuống.

Máu chảy ướt cả trán.

Má tôi lao tới:

— “Đừng! Ông ấy bệnh rồi! Xin tụi bay!” Một cú đá.

Má văng ra.

Rồi… chúng bắt đầu lôi phụ nữ.

Tôi. Em Út. Con bé 12 tuổi.

Nó khóc thét:

— “Má ơi!!! Má ơi!!!”

Má tôi bò theo, ôm chân tụi nó:

— “Tao lạy tụi bay… trả con tao lại… nó còn nhỏ… nó chưa biết gì hết…”

Một tên cười.

Đá mạnh.

— “Shut up!”

——

Sáu tiếng sau. Không ai hỏi.

Không ai dám hỏi. Khi chúng thả tụi tôi về… em Út không khóc nữa.

Không nói.

Không nhìn ai.

Chỉ ngồi… như một cái xác còn thở.

Má ôm tụi tôi.

Cắn chặt môi… đến bật máu.

— “Con ơi… con ơi…”

Tôi muốn khóc.

Nhưng không còn nước mắt.

Trên ghe… 63 người.

Không một ánh mắt nào dám nhìn tụi tôi.

Không phải họ vô tâm.

Mà vì… ai cũng sợ phải thấy địa ngục.

——-

  Ngày 11. Biển nuốt người. Hết nước từ ngày thứ 7.

Thằng Tèo 6 tuổi khát quá.

Nó lén uống nước biển.

Tối đó… nó co giật.

Má ôm nó, lay:

— “Tèo! Uống miếng nước nữa nè con… Tèo ơi… đừng bỏ má…”

Nó nhìn má.

Môi khô nứt.

— “Má… con khát…”

Rồi… tắt. Trên tay má.

Má không khóc thành tiếng nữa. Chỉ có tiếng… gió biển.

——

Ba tôi thức trắng ba đêm.

Đến đêm 11, ông bắt đầu nói sảng:

— “Tụi bay… ráng sống… đừng quay lại…”

Anh Hai nắm tay ông:

— “Ba… đừng nói vậy…”

Ba tôi nhìn xa xăm. Không còn thấy tụi tôi nữa.

— “Ba mệt rồi…”

Ông gục xuống. Không thở nữa.

Má ngồi đó. Không khóc.

Chỉ nói một câu… nhỏ như gió:

— “Ông đi trước… tui theo sau…”

Ngày 13.

Thằng Tý 9 tuổi… cũng đi.

Ghe còn 59 người.

Nhưng không ai còn là người như lúc đi nữa.

——

   Pulau Bidong, 1979

Ngày 15.

Một giàn khoan của Shell thấy ghe. Họ quăng nước xuống. Bánh mì.

Có người vừa ăn vừa khóc.

Có người… không còn sức để khóc.

Ghe được kéo vào đảo.

7 người đi.

Còn 3 người đến.

Má.

Anh Hai.

Và tôi.

Em Út… chết sau 2 tháng.

Không bệnh nặng.

Chỉ là… nó không nói nữa.

Không ăn.

Không sống.

Má tôi bế nó lần cuối:

— “Con nói với má một câu thôi… một câu thôi…”

Con bé không mở miệng.

Nó đi… như một người đã đi từ lâu rồi.

——

   Những năm sau đó. Gia đình tôi sang Mỹ.

Anh Hai nhập ngũ.

Năm 2004… nó chết ở Iraq.

Ngày nhận giấy báo tử, tôi nhìn má.

Bà không khóc.

Chỉ hỏi:

— “Nó… có lạnh không?”

Má tôi mất năm 2015.

Trên tay… vẫn nắm cái lai áo cũ.

Chỗ ngày xưa may 5 cây vàng.

San Jose. 2026

Tôi 61 tuổi.

Nhiều đêm… vẫn giật mình vì tiếng máy ghe.

Tiếng đạn.

Tiếng “Má ơi…”

Con cháu tôi sinh ở Mỹ. Tụi nó học trường lớn. Sống đời khác.

Tôi không kể.

Vì… không biết bắt đầu từ đâu.

Chỉ mỗi tháng Tư…

tôi ra biển Santa Cruz Beach.

Đốt 3 nén nhang.

Thả 3 bông cúc trắng.

Tôi nói nhỏ:

— “Ba… Tèo… Tý…

Con còn sống.”

Sóng vẫn vỗ.

Như chưa từng có gì xảy ra.

  Sử sách… có thể quên. Nhưng biển… không quên.

Dưới đó… không chỉ có 3 người nhà tôi. Mà là… hàng trăm ngàn người.

Và hàng triệu câu chuyện…

chưa bao giờ được kể hết.

  Nếu bạn đọc đến đây… mà thấy cổ họng nghẹn lại,

xin đừng lau nước mắt vội.

Vì…

có những giọt nước mắt,

là thứ cuối cùng nối người sống…

với người đã nằm lại giữa biển.

Phạm Sơn liêm


 

Người đàn ông Việt Nam đoàn tụ với mẹ ruột sau nhiều thập kỷ (BBC)

(BBC)

Sau gần ba thập kỷ, Ike Robin quay lại Việt Nam để gặp mẹ ruột

Tác giả, Marcus Boothe

Vai trò, Phía Tây nước Anh

5 tháng 4 2026

Một người đàn ông được nhận nuôi từ Việt Nam mới đây đã vượt hàng ngàn kilomet trở về gặp mẹ ruột và cho biết hành trình này đã giúp anh hiểu được “mảnh ghép còn thiếu” trong cuộc đời mình.

Ike Robin, 27 tuổi, đến từ thành phố Bath (Anh), được nhận nuôi khi mới sáu tháng tuổi và lớn lên ở thành phố Brighton cùng ba người chị em nuôi từ Trung Quốc.

Ike cho biết anh luôn có những câu hỏi về nguồn gốc và bản sắc của mình, và muốn biết cuộc sống sẽ khác sao nếu anh không được nhận nuôi.

Anh nói mình từng trải qua “hội chứng kẻ mạo danh”, cho biết dù cảm thấy “may mắn” nhưng vẫn có những lúc anh nghĩ rằng “đây lẽ ra không phải cuộc đời của mình”.

Ike sinh ra với hai lỗ thủng nhỏ ở tim và bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng. Anh nói mình mang ơn gia đình nuôi vì đã cứu sống anh.

Hiện đang làm nghề bảo mẫu, Ike cho biết anh luôn biết mình là con nuôi, nhưng những câu hỏi về cội nguồn ngày càng trở nên thôi thúc hơn khi anh lớn lên.

“Khi còn nhỏ, việc được nhận nuôi không có nhiều ý nghĩa với tôi,” anh nói. “Nhưng khi lớn lên, tôi bắt đầu tự hỏi nhiều hơn rằng cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu tôi không được nhận nuôi.”

Ike Robin

Ike đã cùng bạn gái trở về Việt Nam để tìm hiểu về cội nguồn của mình

Cuối năm 2025, anh đã đi khắp Việt Nam cùng bạn gái và cha mẹ nuôi, rồi sau đó gặp lại mẹ ruột của mình lần đầu tiên sau gần ba thập kỷ.

“Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào, vì đó là mẹ tôi, nhưng đồng thời cũng là một người xa lạ,” anh nói.

Khi bà xuất hiện, Ike cho biết anh nhận ra ngay lập tức.

“Tôi lập tức biết đó là mẹ mình,” anh nói. “Như thể là linh cảm ấy.

Bà Kimberley Fuller cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn trong việc định hình bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu

Theo yêu cầu của mẹ ruột, danh tính của bà không được tiết lộ.

Ike dự định chỉ gặp mẹ ruột, nhưng thay vào đó anh còn được anh chị em, họ hàng và cả bà ngoại chào đón.

Nhà trị liệu tâm lý Kimberly Fuller cho biết trải nghiệm của Ike phản ánh những câu hỏi phức tạp về bản sắc mà nhiều người được nhận nuôi xuyên quốc gia phải đối mặt khi trưởng thành.

Bà cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn với “bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu”, đặc biệt khi bước vào tuổi thiếu niên và giai đoạn sau này của cuộc đời.

“Với một số trẻ, các em có thể hòa nhập với gia đình và những người không nhận ra các em được nhận nuôi, và các em có thể che giấu phần đó trong bản sắc của mình.

“Tuy nhiên, nếu là nhận nuôi khác chủng tộc thì ngay từ đầu đã rất khó, vì đã có sự khác biệt sẵn và còn có thêm sự khác biệt rõ ràng về ngoại hình so với gia đình,” bà nói.

Điều đó có thể khiến người khác đặt câu hỏi mà không cân nhắc tới cảm xúc hoặc cách những câu hỏi đó được tiếp nhận ra sao, bà Fuller nói thêm.

Bà giải thích rằng trẻ có thể cảm thấy bị tách rời không chỉ khỏi gia đình ruột mà còn cảm thấy xa rời với văn hóa, ngôn ngữ và những bản sắc bộc lộ ra ngoài.

Bà Fuller cũng cho biết những người được nhận nuôi có thể trải qua những cảm xúc mâu thuẫn, bao gồm sự biết ơn đối với cuộc sống họ có, đồng thời cũng tiếc nuối những gì đã mất.

Gia đình bố mẹ nuôi và bạn gái Ike đã cùng anh trở về để gặp mẹ đẻ

Đối với mẹ nuôi của Ike, cuộc đoàn tụ là một trải nghiệm xúc động và không hề mang tính đe dọa.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình là người mẹ duy nhất của con,” bà Julia Fleming nói. “Bà ấy là mẹ của thằng bé, và tôi cũng là mẹ của nó.”

Bà cho biết gia đình luôn cố gắng giữ cho con cái họ kết nối với nguồn cội và đã ủng hộ việc Ike liên lạc với mẹ ruột từ khi anh lên bảy.

Ike nói rằng cuộc đoàn tụ không phải là dịp để trách móc, mà là để thấu hiểu.

“Thông điệp chính tôi muốn truyền tải là tôi không hề có cảm xúc tiêu cực nào với bà,” anh nói. “Đây có thể là khởi đầu cho một hành trình mới tốt đẹp.”


 

Iran chuyển đến Mỹ « đề xuất 14 điểm » để chấm dứt hoàn toàn xung đột (RFI)

(RFI)

Theo các hãng tin Iran, được AFP hôm nay, 03/05/2026, dẫn lại, Teheran vừa chuyển cho Mỹ đề xuất « 14 điểm » đàm phán trong vòng 30 ngày để đạt giải pháp chấm dứt xung đột. Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ xem xét đề nghị mới của Teheran, nhưng không loại trừ việc oanh kích Iran trở lại.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi. Ảnh tư liệu ngày 23/05/2025.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi. Ảnh tư liệu ngày 23/05/2025. AP – Alexander Kazakov

Theo hãng thông tấn Tasnim, đề xuất của Teheran, gửi đến Nhà Trắng thông qua Pakistan, yêu cầu Mỹ rút quân khỏi các khu vực gần Iran, dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng của Iran, giải tỏa tài sản bị đóng băng của Iran, thanh toán tiền bồi thường chiến tranh, dỡ bỏ lệnh trừng phạt, thiết lập một « cơ chế » liên quan đến eo biển Hormuz, « chấm dứt chiến tranh trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả ở Liban ». Vấn đề hạt nhân, vốn là một đòi hỏi trọng tâm của Mỹ, không được nhắc đến trong đề xuất này.   

Phạm Đoan Trang trong số ’10 trường hợp khẩn thiết’ 2026 về tự do báo chí

Ba’o Nguoi-Viet

May 3, 2026

New York City, NY (NV) – Nhà báo, nhà đấu tranh Phạm Đoan Trang của Việt Nam có tên trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” (Global ‘10 Most Urgent’ 2026) liên quan đến tự do báo chí, do hơn 40 cơ quan truyền thông toàn cầu cùng hợp tác trong Liên Minh One Free Press lập nên.

Tờ Forbes dẫn tin đúng vào Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới, hôm Chủ Nhật, 3 Tháng Năm.

Nhà báo Phạm Đoan Trang (Hình: icj.org)

Về trường hợp nhà báo Phạm Đoan Trang của Việt Nam, Liên Minh One Free Press cho biết:

“Năm 2021, nhà văn, nhà báo và nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bị kết án chín năm tù vì tội ‘tuyên truyền chống nhà nước.’ Bà viết về dân chủ, tự do ngôn luận, nhân quyền và bạo lực của cơ quan công an. Trong thời gian bị giam, sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng. Bà bị viêm xoang, viêm khớp, các vấn đề phụ khoa và các cơn đau chân kéo dài. Bà bị từ chối điều trị y tế bên ngoài và bị chuyển đến nơi giam giữ cách xa gia đình gần 1,600 km, như một hình thức trừng phạt bổ sung.”

Theo Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ), phần lớn các nhà báo bị giam giữ tính đến ngày 1 Tháng Mười Hai, năm 2025, chiếm 61% số người bị bỏ tù trên toàn cầu, bị giam giữ theo các cáo buộc “chống nhà nước”; “khủng bố” hoặc nhận tài trợ từ chính phủ ngoại quốc.

Danh sách được tổng hợp với sự hợp tác của CPJ, Quỹ Truyền Thông Phụ Nữ Thế Giới (IWMF) và Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF.) Theo dữ liệu của CPJ, hiện có 330 nhà báo đang bị giam giữ trên toàn thế giới liên quan đến công việc của họ.

Ngoài bà Phạm Đoan Trang, chín nhà báo còn lại trong danh sách “Global ‘10 Most Urgent’” là: Ông Reza Valizadeh (Iran); ông Jimmy Lai (Hong Kong); bà Zhang Zhan (Trung Quốc); bà Ulfatkhonim Mamadshoeva (Tajikistan); nhà làm phim, nhiếp ảnh gia Tsi Conrad (Cameroon); nữ nhà báo Frenchie Mae Cumpio (Philippines); bà Sevinj Vagifgizi (Azerbaijan), chủ bút tờ Abzas Media; bà Genet Asmamaw (Ethiopia); nhà báo thể thao Christophe Gleizes (Algeria).

Trong năm qua, Liên Minh One Free Press đã đón mừng việc trả tự do cho ba nhà báo từng xuất hiện trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” vào Tháng Năm, năm 2025. Đó là  Vladyslav Yesypenko (bị giam tại Crimea do Nga kiểm soát từ năm 2021), Shin Daewe (bị giam tại Myanmar từ Tháng Mười 2023) và Ihar Losik (bị giam tại Belarus.)

Liên Minh One Free Press đã liên kết với hơn một tỷ độc giả, sử dụng các nền tảng xã hội rộng khắp để hỗ trợ 10 nhà báo của “10 trường hợp khẩn thiết nhất” sau đây cùng các trường hợp khác bị đàn áp báo chí trong năm 2026. (K.L) [kn]


 

đạo Công giáo được cho là truyền đến Việt Nam sớm nhất vào năm 1533

Theo các tài liệu lịch sử, đạo Công giáo được cho là truyền đến Việt Nam sớm nhất vào năm 1533 (thế kỷ XVI), dưới triều vua Lê Trang Tông. Nơi đầu tiên đón nhận là vùng ven biển thuộc trấn Sơn Nam, cụ thể là các làng Ninh Cường và Trà Lũ (thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày nay) bởi thừa sai tên là I-ni-khu.