GIỎ CÁ CUỐI CÙNG

Cang Huynh

GIỎ CÁ CUỐI CÙNG.

Có một câu chuyện cổ kể về một thủy thủ đã dành phần lớn cuộc đời mình trên biển. Năm tháng trôi qua, ông đã quá già để làm việc trên tàu, nhưng trái tim ông vẫn khao khát biển cả. Vì vậy, ông giữ một chiếc thuyền nhỏ của riêng mình và thường xuyên đi đánh cá. Đôi khi ông bắt được cá để ăn, và đôi khi ông bán cá để kiếm thêm chút tiền. Ông nhận được một khoản lương hưu khiêm tốn, nhưng như mọi người đều biết, có thêm chút tiền thì chẳng bao giờ thừa.

Một ngày nọ, khi đang đi dạo trong thị trấn, ông gặp một nữ tu làm việc tại một viện dưỡng lão, nhiều người trong số họ không còn nơi nào khác để nương tựa. Một trong những nhiệm vụ của bà là bảo đảm viện có đủ thức ăn để ăn.

Người thủy thủ già nhận thấy bà trông có vẻ lo lắng khác thường.

“Có chuyện gì vậy, sơ?” ông hỏi.

Nữ tu thở dài.

“Chủ nhật này là Lễ Thánh Giuse, vị thánh bảo hộ của viện dưỡng lão chúng tôi. Tôi đã hy vọng chuẩn bị một bữa tối đặc biệt cho những người già ở đây. Họ có quá ít niềm vui trong cuộc sống, và tôi muốn mang đến cho họ điều gì đó để ăn mừng. Nhưng tôi không tìm được thịt, và tôi e rằng cuối cùng sẽ không có một bữa tiệc nào ra hồn.”

Người thủy thủ già im lặng lắng nghe. Ông suy nghĩ một lát, gật đầu, rồi tiếp tục đi mà không nói thêm lời nào.

Sáng sớm Chủ nhật, có người bấm chuông ở cổng viện dưỡng lão.

Khi nữ tu mở cổng, bà thấy một chiếc giỏ lớn đầy ắp cá tươi vừa mới đánh bắt.

Không có ai ở đó.

Bà có linh cảm biết ai đó đã để lại món quà hào phóng như vậy. Nhưng lúc đó, bà chỉ đơn giản là tràn ngập lòng biết ơn. Cuối cùng, bà cũng có thể chuẩn bị một bữa ăn Chủ nhật tuyệt vời cho những người già mà bà đang chăm sóc.

Tuy nhiên, niềm hạnh phúc của bà chẳng kéo dài được bao lâu.

Sáng hôm đó, bà nghe được tin dữ.  Không xa viện dưỡng lão, người ta tìm thấy thi thể của một thủy thủ già. Đó chính là người đàn ông mà bà đã nói chuyện vài ngày trước đó.

Ông ấy dường như đã bị đau tim.

Nữ tu vô cùng đau lòng.

Bà không thể ngừng nghĩ về cuộc trò chuyện của mình. Một cảm giác tội lỗi khủng khiếp bao trùm lấy bà.

“Giá như mình đã không kể cho ông ấy nghe về những rắc rối của viện dưỡng lão,” bà nghĩ. “Giá như mình giữ những lo lắng của mình cho riêng mình, có lẽ ông ấy vẫn còn sống.”

Suy nghĩ đó đè nặng lên trái tim bà suốt cả ngày.

Đêm đó, kiệt sức vì đau buồn, cuối cùng bà cũng ngủ thiếp đi.

Và bà đã có một giấc mơ kỳ lạ.

Bà thấy linh hồn của người thủy thủ già đứng trước Thánh Phêrô ở cổng Thiên đường.

Thánh Phê-rô mở cuốn Sách Sự Sống vĩ đại và bắt đầu lật từng trang, cẩn thận xem xét những năm tháng người thủy thủ sống trên trần gian.

“Vâng,” cuối cùng Tháng Phêrô  nói, “Ta thấy rằng mười lăm năm đầu đời của ông khá tốt. Nhưng phần đời còn lại lại là chuyện khác. Ông đã bảy mươi lăm tuổi rồi, và ta phải nói rằng, trong suốt những năm tháng lênh đênh trên biển ấy, ông chẳng có gì đáng tự hào cả.”

Người thủy thủ bắt đầu run rẩy.

Ông chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi đến thế. Giờ đây, khi cuộc đời trần thế đã kết thúc, ông có thể thấy rằng Thiên đường là có thật. Nhưng ông cũng biết rằng bóng tối của Địa ngục cũng có thật.

Điều gì sẽ xảy ra với ông?

Ngay lúc đó, vang lên lời Chúa Jesus bên tai Thánh Phê-rô.

“Phê-rô,” Chúa Jesus nhẹ nhàng nói, “không cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng từng lỗi lầm trong cuộc đời của người già này. Thay vào đó, hãy lật đến trang áp chót.”

Thánh Phê-rô làm theo lời Chúa Jesus.

Và ở đó, được ghi trong Sách Sự Sống, là những lời này:

“Suốt đêm, người đàn ông này làm việc không mệt mỏi, đánh bắt cá cho những người già nghèo khó. Ông làm điều đó không phải vì tiền bạc, sự công nhận hay lời khen ngợi, mà chỉ đơn giản là vì tình yêu thương.

Lúc rạng sáng, dù sức lực gần như cạn kiệt, ông vẫn vác chiếc giỏ nặng trĩu đến viện dưỡng lão và lặng lẽ để nó bên cổng. Ông không muốn ai biết ai đã mang nó đến.

Rồi, hoàn toàn kiệt sức, ông gục xuống đất và qua đời.”

Trong một khoảnh khắc dài, Thánh Phêrô im lặng.

Rồi ông nhớ lại chính những lời mình đã viết trong Thư thứ nhất của mình:

“Trên hết, hãy yêu thương nhau sâu sắc, vì tình yêu thương che lấp vô số tội lỗi.”

— 1 Phêrô 4:8

Thánh Phêrô chậm rãi đóng Sách Sự Sống lại.

Rồi, với một nụ cười hiền lành, ông mở rộng cửa Thiên Đàng.

Và người thủy thủ già bước vào đời sống vĩnh hằng.

Trong mắt Chúa, một hành động yêu thương chân thành, vị tha có thể nặng nề hơn cả một đời đầy lỗi lầm của con người.

Và đôi khi, những hành động tử tế vĩ đại nhất lại là những hành động không ai nhìn thấy.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique. 


 

THÁNH MARTINÔ PORRES: BẠN THÂN CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ VÀ CỦA LOÀI VẬT VÔ TRI

THÁNH MARTINÔ PORRES: BẠN THÂN CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ VÀ CỦA LOÀI VẬT VÔ TRI

 Martinô Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu.  Trong sổ Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh.”  Thật ra cha của cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị trưởng tại Panama.  Ông không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu.  Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da đen.  Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất đời của cậu.

 Mẹ con cậu Martinô tuy nghèo, nhưng lại rộng lòng bác ái với những người cùng cảnh ngộ.  Một hôm bà mẹ gọi hai anh em Martinô và Gioanna, trao cho mấy đồng xu và sai chúng ra chợ mua rau.  Bà đã cặn kẽ bảo em giữ tiền cẩn thận đi thẳng đến chợ, không nên nhìn hai bên đường.  Vì bà nghĩ nếu con mình thấy kẻ nghèo khó thì sẽ thương mà tặng cho họ những đồng tiền mẹ con đang cần cho bữa tối nay.  Hai anh em vâng dạ và mau mắn ra đi.  Ðang đi, mắt cô em đã bắt gặp người ăn xin mặc đồ rách rưới bên kia đường.  Ý nghĩ là sẽ không nói, nhưng tự nhiên cô bé bật miệng kêu “Kìa!”  Thế là Martinô nhìn theo em.

 Nghĩ đến lời mẹ căn dặn, hai anh em đã cố gắng đi tiếp.  Nhưng cậu lại nghĩ chắc mẹ cũng không nỡ để người hành khất này chết đói.  Thế là hai anh em quay lại bên người hành khất, cậu lấy tiền ra và nói: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, ông hãy cầm lấy số tiền này!”  Ông nhận quà, miệng rối rít cám ơn và xin Chúa chúc lành cho hai em.  Thế là hết tiền, hai anh em đâm lo, không biết phải nói với mẹ làm sao.  Vừa tới ngang nhà thờ chính tòa thành Lima, hai anh em liền vào, lên tận bao lơn cung thánh.  Quỳ ở đó, Martinô đã cất lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, xin ban của ăn cho chúng con. Con mới cho người hành khất số tiền duy nhất của mẹ con rồi.  Chúng con không còn gì cho bữa tối nay.  Xin Chúa đừng để mẹ con buồn giận chúng con.  Cám ơn Chúa!” Em Gioanna thưa: “Amen.”

 Martinô và Gioanna đứng dậy, bái Chúa rồi ra về, lòng đầy tin cậy Chúa biết rõ những gì gia đình các em cần.  Vừa thấy hai con, bà không thấy chúng cầm gì thì biết ngay chúng đã gặp ai và hành động thế nào rồi.  Bà cũng suy nghĩ có đánh, có la mắng chúng lúc này cũng chẳng ích gì.  Vả lại, bà cũng từng bảo các con phải thương giúp người nghèo.  Bà quay vào và liên tưởng đến người chồng, với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho ba tụi nhỏ sớm nghĩ lại, để chúng con có của nuôi thân, và có thể làm phúc cho cả những người nghèo nữa!”

 Khi Martinô được 8 tuổi, tức năm 1587, ông Gioan Porres, một sĩ quan Tây Ban Nha, đã hồi tâm và trở về chăm sóc mẹ con bà Anna Velasquez.  Ông đã đem hai con gửi trọ học ở nhà ông chú tên là Giacôbê tại Equador.  Ở đây các em được chú thương yêu và thuê người giám hộ tốt để dạy về chữ nghĩa và đức tính.  Martinô là cậu học sinh ngoan và thông minh.  Sau hai năm, cha cậu để Gioanna ở lại tiếp tục học, còn Martinô, ông bắt về ở bên mẹ tại Lima.  Ông căn dặn Martinô: “Con phải học nghề hớt tóc.  Cha hy vọng con sẽ cố gắng học, và cố gắng trở nên người Công giáo tốt.”  Martinô đã vâng lời cha và cố gắng học cũng như sống đạo tốt.

 Thời đó và trong hoàn cảnh sống tại Lima, thợ hớt tóc đồng thời cũng là “thầy lang.”  Họ phải học biết các kiến thức y học phổ thông, như biết bắt mạch chẩn bệnh, biết băng bó vết thương, biết chữa các bệnh cảm cúm, sốt rét, biết nắn khớp xương và pha thuốc.  Martinô rất thích nghề này.  Cậu thưa với mẹ: “Mẹ ơi, tập nghề hớt tóc là một nghề cao cả, mẹ ạ.  Học nghề này con có thể giúp đỡ những người nghèo khó được nhiều, mẹ nhỉ!”  Mẹ cậu khích lệ con: “Martinô, con là một đứa trẻ tốt.  Xin Chúa chúc lành và luôn gìn giữ con tốt mãi như vậy!”  Martinô thưa lại: “Thưa mẹ, đó là điều con hằng cầu nguyện mỗi sáng trong thánh lễ, và Chúa đã giúp con.  Ngài biến đổi con, giúp con học nghề này cho đạt kết quả tốt.”

 Sau hai năm học nghề, lúc 12 tuổi, Martinô vui vẻ và hăng say hành nghề.  Mỗi sáng, cậu tham dự Thánh lễ, có khi giúp lễ nhiều bao nhiêu có thể, tại nhà thờ Thánh Ladarô.  Sau đó, mang đồ nghề đi rảo quanh khắp xóm dân nghèo, tới đến với những người già yếu, tàn tật để săn sóc bệnh tật cho họ mà không lấy công.  Nhiều đêm cậu cũng phải thức để chăm sóc các con bệnh đang cần đến cậu.  Nhất là những người hấp hối cần cậu ở bên khích lệ họ tin tưởng vào Chúa, và giúp họ dâng lên Ngài những bệnh tật đau khổ.

 Năm lên 15, Martinô xin mẹ dẫn đến tu viện Mân Côi của các cha Dòng Ðaminh tại Lima để xin đi tu.  Tuy mẹ mong muốn con làm linh mục hay ít là làm thầy dòng nhưng Martinô xin mẹ ưng thuận để cậu chỉ xin làm người giúp việc trong dòng mà thôi.  Bà hỏi con: “Tại sao con không muốn làm linh mục hoặc thầy dòng, mà lại chỉ muốn làm người giúp việc thôi?”  Cậu thưa: “Vì con không muốn trở nên người quan trọng.  Con chỉ muốn chu toàn những việc tầm thường vì yêu mến Chúa.  Xin mẹ vui lòng chấp nhận ước nguyện của con!”  Bà quyết định: “Ðược rồi, xin Chúa chúc lành cho con; còn trong tu viện, con muốn ở bậc nào tùy ý con chọn, mẹ chỉ xin con nhớ cầu nguyện cho mẹ.”  Trước đây cha Tu viện trưởng cũng đã nhiều lần nghe biết về cậu Martinô, nên người đã ưng thuận.  Thế là Martinô được gia nhập tu viện, mang y phục người giúp việc trong Dòng Ðaminh.  Cậu cảm thấy mình đã được thuộc trọn về Chúa và Ðức Mẹ.

 Trong bậc giúp việc, Martinô đảm nhận nhiều công tác, như hớt tóc, coi nhà giặt, phụ trách phòng y tế, Martino rất vui trong việc phục vụ tha nhân.  Bệnh nhân đầu tiên trong Dòng mà Martinô săn sóc, đó là cha Phêrô.  Một chân cha bị thương và lại bị nhiễm trùng, cần phải giải phẫu và cưa chân để cứu sinh mạng.  Vì quá đau nên cha Phêrô có phần bất nhẫn.  Tới bữa, Martinô dọn một đĩa rau tươi với những trái ôliu thật ngon mang tới cha.  Ðến phòng, Martino gõ cửa.  Có tiếng từ trong đáp ra: “Ði chỗ khác, để cho tôi yên.”  Bất kể tiếng la quát cứng cỏi của cha, cậu cứ điềm tĩnh đẩy cửa bước vào.  Với giọng săn sóc cậu hỏi: “Cha Phêrô ơi, cha có thích dùng chút rau tươi tuyệt ngon này không?”  Cha Phêrô mở to đôi mắt ngạc nhiên: “Sao lại không?  Tôi đang thèm rau tươi đây.  Sao cậu đoán được ý tôi?”  Cha Phêrô ngồi dậy và dùng một cách ngon lành, “Cảm ơn Martinô nhé!”  Cậu mỉm cười thưa: “Bây giờ để con thay băng cho cha nhé?”  Cha cũng mỉm cười đồng ý.

 Thế là vừa thay băng Martinô vừa nói với cha, “Thưa cha, chắc cha tin rằng Chúa sẽ chữa lành vết thương của cha chứ?”  “Martinô, con hãy cầu nguyện, để Chúa chữa lành vết thương của cha!  Còn cha, dù có chết cha cũng không muốn giải phẫu!” 

Vừa ra khỏi phòng Cha Phêrô, Martino lên ngay nhà nguyện, quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm: “Lạy Chúa chí ái, xin chữa lành chân cha Phêrô.  Chúa đã từng chữa nhiều người khác, chẳng có gì mà Chúa không làm được.  Con tin Chúa.”  Tối hôm đó, khi Martinô trở lại thăm cha Phêrô, cậu đã thấy cha đang đi đi lại lại trong phòng!  Vừa thấy cậu, cha kêu lên: “Martinô, Martinô!  Con đã chữa lành vết thương của cha rồi!  Cha không biết phải cám ơn con thế nào.  Con rời khỏi đây chừng nửa giờ, thì chỗ bị sưng xẹp xuống và cơn đau cũng biến mất.  Con vừa làm một phép lạ đó!”  Martinô thưa lại, “Xin cha đừng nói như vậy, con chỉ thay băng cho cha thôi, chính Chúa mới làm cho vết thương cha lành.”  “Ðúng rồi, nhưng nếu con không cầu nguyện, chắc chắn cha cũng chưa khỏi!”

 Không những Martinô hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người, cậu còn săn sóc và bảo vệ sự sống của các con vật nữa.  Các chú chim đến với cậu để kiếm ăn, các con mèo hoang cũng vậy.  Cậu luôn dự trữ sẵn đồ ăn cho chúng.  Một hôm, đàn chuột cắn đồ lễ tại Cung thánh, thầy phụ trách đã trình cha Bề trên và xin để cậu Martinô diệt chúng, cậu bèn cầu nguyện, rồi đi lên phòng thánh.  Vừa bắt gặp một chú chuột, Martinô gọi nó, nó đã ngoan ngoãn chạy lại bên cậu, Martinô nói: “Bây giờ chú hãy nghe cho kỹ… chú và các chuột khác phải rời khỏi phòng thánh này ngay, vì các chú đã cắn áo lễ.  Chúa không hài lòng với các chú về việc này.  Vậy các chú bảo nhau thu dọn ra ở chuồng bò.  Tôi sẽ đem đồ ăn đến cho các chú.  Hiểu chưa?”

 Con chuột gật đầu rồi chạy mất.  Một lát sau, nó dẫn một đàn chuột theo, nhắm thẳng hướng tay Martino chỉ ra chuồng bò.  Thầy phụ trách Cung thánh cũng hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến đàn chuột đang đi theo hướng tay Martinô chỉ.  Thầy đã lên trình cha Bề trên về hiện tượng lạ lùng ấy.  Và từ đó, không còn thấy lũ chuột cắn đồ lễ nữa.

 Chín năm Martinô ở bậc giúp việc; đến năm 1603, khi anh đã 24 tuổi, các Bề trên nhận thấy ơn Chúa thương Martinô nhiều.  Anh đã khiêm nhượng xin ở bậc giúp việc chứ không dám xin ở bậc các thầy.  Các Bề trên và tất cả nhà Dòng đều nhận thấy anh sống đời cầu nguyện, khiêm nhượng thống hối và bác ái gương mẫu nên đã quyết định cho anh lên bậc tu sĩ thực thụ.  Bề trên gọi Martinô và bảo: “Martinô, từ nay con không còn là người giúp việc nữa.  Con sẽ là một Thầy Dòng.”  Martinô thưa lại, “Thưa Cha, con bất xứng!”  “Việc đó Cha chịu trách nhiệm. Con hãy mời mẹ con lên đây dự lễ Mặc áo Dòng!”

 Khi được tin, mẹ cậu đã hết sức vui mừng.

 Sau ngày Mặc áo Dòng, Martinô đã nhận thêm những trách vụ mới, như việc săn sóc những người nghèo khó bằng những lời: “Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành, gia tăng lương thực này, và xin Người thánh hóa tất cả những ai dùng của ăn này.”  Lời nguyện này luôn luôn thấy hiệu lực.  Bất kể người được ít kẻ được nhiều, không một ai đến xin ăn mà phải về tay không.  Ai nấy đều được no đủ và hài lòng với thầy Martinô.

 Một hôm, lúc thầy Martinô đem những ổ bánh cuối cùng trong kho nhà Dòng phát cho người nghèo, làm ông giúp việc nấu bếp lo lắng.  Ông chạy đến thưa cha Bề trên, nhưng ngài điềm tĩnh đáp: “Ông đừng lo, thầy Martinô không phát hết đâu, bánh sẽ còn đủ cho cả chúng ta nữa.”

 Quả đúng như lời cha Bề trên, vì hằng ngày, không rõ số bánh thầy Martinô đã cho đi bao nhiêu, nhưng các thầy vẫn luôn luôn có đủ bánh dùng.

 Thầy Martinô luôn làm các việc bình thường trở nên những việc khác thường bằng tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức, hết linh hồn” và phục vụ “yêu thương” anh em đồng bào theo giới răn bác ái của Chúa.  Thầy thể hiện hai giới răn này suốt từ khi có trí khôn.  Suốt hơn 45 năm sống đời khiêm hạ và bác ái trong Dòng Thánh Ðaminh tại Lima, Martino tận tâm phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân, những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi.  Thầy sống rất đẹp lòng Chúa nên Ngài đã làm bao nhiêu điều lạ lùng qua lời cầu nguyện của Thầy: như các lần thị kiến, xuất thần, đánh tội nhiệm nhặt, ở hai nơi một trật, thông hiểu thần học, làm phép lạ chữa lành bệnh nhân, cảm thông hiểu biết cũng như sai khiến được các con vật vô tri.

 Thầy sống thật xứng đáng là một tu sĩ gương mẫu trong đức vâng lời trọn hảo, đức khiêm nhượng thẳm sâu, và lòng thương yêu đối với các thụ tạo của Thiên Chúa.  Vị Thánh hai dòng máu Tây Ban Nha và Peru da mầu này đã thể hiện tình yêu thương với mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da hay quốc tịch.  Thầy phục vụ Chúa Kitô trong mọi người, vô điều kiện và vô giới hạn.  Trong những đêm dài cầu nguyện và thống hối, Martinô được đói khát tình yêu Thiên Chúa, và trong những ngày dài Thầy dành để săn sóc các bệnh nhân, nuôi dưỡng người nghèo, thi hành các công việc lao tác của nhà Dòng với một lòng khao khát cứu rỗi các linh hồn.  Ðời sống thánh thiện của Thầy khiến cho các Bề trên và cả tu viện coi Thầy như một vị linh hướng gương mẫu của họ.  Chính Thầy đã khiêm nhượng tự xưng mình là “người nô lệ hèn mọn” hoặc là “con chó lai = Mulatto dog.”  Nhưng người đương thời gọi Martinô là “Cha bác ái” và “Cha của người nghèo.”

 Ðầu tháng 11 năm 1639, gần ngày sinh nhật thứ 60, Thầy ngã lâm trọng bệnh, suốt ba ngày chịu đau khổ cách can đảm.  Trong khi đó, những người từng được Thầy săn sóc giúp đỡ, đã cầu nguyện và khóc thương Thầy bên ngoài tu viện.  Ðến ngày thứ tư, bệnh tình của Thầy có phần thuyên giảm.  Ðức Mẹ và Thánh Ðaminh đã hiện ra để yên ủi Thầy.  Martinô đã mời Bề trên và mọi anh em trong tu viện tới.  Họ đến để cầu nguyện cho Thầy trong cơn hấp hối.  Cha Bề trên hỏi: “Thầy Martinô, Thầy muốn chúng tôi hát bài ca nào để tiễn đưa Thầy?”  Thầy đáp lại, “Xin hát kinh Tin Kính.”

 Thế là toàn thể anh em cao giọng cất lên bài ca tuyên xin Ðức Tin.  Tới câu “Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình” thì Thầy nhắm mắt lìa trần, linh hồn bay về với Ðấng mà các tu sĩ đang tung hô ca ngợi.  Hôm đó là ngày 4 tháng 11 năm 1639.

 Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã phong thánh cho Thầy Martinô de Porres ngày 6 tháng 5 năm 1962, và gọi người là “Martinô Bác Ái.”  Lễ kính Thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội được ấn định vào ngày 3 tháng 11 hằng năm.

 Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.

Nhật Ký Người Việt Ở Mỹ 

Thứ Hai, 2 Tháng 11, 2026 

 Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.

Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.

Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.

Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.

Ông buồn bã lắc đầu: “Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được.”

Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: “Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng.”

Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: “Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường.”

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.

Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. “Ba ráng bảo trọng.” “Tạm biệt anh.” “Tạm biệt con.”

Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.

Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: “Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết.”

Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.

Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.

Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.

Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.

Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: “Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người.”

Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.


 

HƯỚNG TỚI TUỔI 90: 7 ĐIỀU BẠN GIÀ NÊN BUÔNG BỎ SAU TUỔI 70

 Tĩnh Lặng Mỗi Đêm

  HƯỚNG TỚI TUỔI 90: 7 ĐIỀU BẠN GIÀ NÊN BUÔNG BỎ SAU TUỔI 70

Có một điều rất đáng suy ngẫm:

khi còn trẻ, chúng ta thường tìm cách tích lũy thật nhiều thứ để cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng khi bước qua tuổi 70, người ta mới hiểu rằng muốn sống lâu, sống khỏe và sống bình an, đôi khi điều quan trọng nhất lại là biết buông bỏ.

Ngày trước, người ta thường nói: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, nghĩa là đời người sống đến 70 tuổi đã là điều hiếm có.

Còn ngày nay, nhờ điều kiện sống và y học phát triển, nhiều người đã có thể sống đến 80, 90 tuổi, thậm chí hơn thế nữa.

Nhưng sống lâu thôi chưa đủ. Điều đáng quý hơn là khi tuổi đã cao, chúng ta vẫn còn đôi chân vững vàng, đầu óc minh mẫn, ăn ngon, ngủ được và mỗi ngày thức dậy đều cảm thấy lòng mình thanh thản.

Muốn có được điều ấy, sau tuổi 70, có 7 điều chúng ta nên học cách từ bỏ.

Thứ nhất, từ bỏ thuốc lá và hạn chế tối đa rượu bia.

Nếu muốn sống khỏe khi tuổi đã cao, đây là hai thói quen cần được quan tâm đầu tiên.

Thuốc lá gây tổn thương phổi, tim mạch và làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư.

Rượu bia, nếu sử dụng thường xuyên hoặc quá mức, cũng gây hại cho gan, não bộ, huyết áp và nhiều cơ quan khác.

Đừng nghĩ rằng mình đã hút thuốc vài chục năm thì bây giờ bỏ cũng chẳng còn ý nghĩa.

Thực tế, ngừng hút thuốc ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có lợi cho sức khỏe.

Còn với rượu bia, càng lớn tuổi càng nên hạn chế.

Bởi cơ thể lúc này không còn chuyển hóa và thích nghi tốt như thời trẻ.

Bỏ được một điếu thuốc, bớt đi một lần uống rượu, chính là thêm một cơ hội để cơ thể được nghỉ ngơi.

Thứ hai, từ bỏ tâm lý có bệnh mới đi khám.

Nhiều người lớn tuổi thường có suy nghĩ rằng nếu trong người không đau đớn thì không cần đến bệnh viện. Chỉ khi cơ thể xuất hiện những triệu chứng rõ rệt mới bắt đầu lo lắng.

Nhưng có những vấn đề sức khỏe như tăng huyết áp, tiểu đường hay rối loạn mỡ máu có thể âm thầm kéo dài mà không gây ra dấu hiệu dễ nhận biết.

Vì vậy, sau tuổi 70, chúng ta càng cần quan tâm đến việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, theo dõi huyết áp, đường huyết và thực hiện những xét nghiệm cần thiết theo hướng dẫn của bác sĩ.

Đừng đợi đến khi cơ thể lên tiếng bằng những cơn đau mới bắt đầu quan tâm đến nó.

Chủ động chăm sóc sức khỏe hôm nay luôn tốt hơn việc phải vất vả chữa trị khi bệnh đã trở nặng.

Thứ ba, từ bỏ thói quen vận động quá sức.

Vận động rất cần thiết đối với người cao tuổi. Nhưng tập luyện thế nào mới là điều quan trọng.

Sau tuổi 70, cơ bắp, xương khớp và khả năng giữ thăng bằng thường không còn tốt như trước. Vì vậy, việc cố gắng tập những bài quá nặng, chạy theo thành tích hoặc tập luyện bất chấp sức khỏe có thể dẫn đến chấn thương.

Thay vì cố gắng đi thật nhanh, tập thật lâu, hãy chọn những hoạt động phù hợp như đi bộ vừa sức, tập dưỡng sinh, Thái Cực Quyền hoặc những bài tập nhẹ nhàng giúp duy trì sức mạnh cơ bắp và khả năng giữ thăng bằng.

Điều quan trọng không phải là hôm nay tập được bao nhiêu, mà là ngày mai vẫn có thể tiếp tục vận động một cách an toàn.

Tuổi già, tập ít một chút cũng được, miễn là đều đặn và phù hợp với sức mình.

Thứ tư, từ bỏ thói quen thức khuya và sinh hoạt thất thường.

Khi còn trẻ, chúng ta có thể thức khuya để làm việc, vui chơi hay giải quyết những chuyện còn dang dở. Nhưng khi tuổi đã cao, giấc ngủ trở nên đặc biệt quan trọng.

Thức khuya thường xuyên, ngủ không đủ giấc có thể khiến cơ thể mệt mỏi, tinh thần kém tỉnh táo và ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài.

Vì vậy, hãy cố gắng duy trì giờ đi ngủ và thức dậy ổn định. Buổi tối nên hạn chế sử dụng điện thoại, xem những chương trình gây căng thẳng hoặc suy nghĩ quá nhiều về chuyện đã qua.

Một căn phòng yên tĩnh, một giấc ngủ đủ và một tinh thần thư thái đôi khi chính là món quà quý giá nhất dành cho cơ thể.

Không cần ép mình phải ngủ thật sớm, nhưng hãy tạo cho bản thân một nếp sinh hoạt điều độ.

Thứ năm, từ bỏ thói quen ăn quá mặn, quá nhiều dầu mỡ.

Càng lớn tuổi, chúng ta càng cần chú ý đến những gì mình đưa vào cơ thể mỗi ngày.

Ăn quá mặn có thể làm tăng huyết áp. Thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều chất béo bão hòa, đồ chiên rán và thực phẩm chế biến sẵn cũng không có lợi cho tim mạch.

Thay vào đó, hãy ăn đa dạng các loại rau xanh, trái cây, cá, các loại đậu và thực phẩm giàu chất xơ.

Nên giảm bớt muối, hạn chế đồ muối chua, thức ăn đóng hộp và những món quá nhiều dầu mỡ.

Đặc biệt, người cao tuổi không nên vì sợ bệnh mà ăn uống quá kiêng khem, khiến cơ thể thiếu chất và suy nhược.

Ăn uống điều độ, đủ chất, phù hợp với bệnh lý và thể trạng của mình mới là cách chăm sóc sức khỏe lâu dài.

Bữa cơm tuổi già không cần cao lương mỹ vị. Chỉ cần ăn ngon miệng, đủ chất và cảm thấy nhẹ nhàng sau mỗi bữa ăn đã là điều đáng quý.

Thứ sáu, từ bỏ thói quen nóng giận và giữ mãi những chuyện buồn trong lòng.

Có một điều càng lớn tuổi, chúng ta càng nên học: đừng để những chuyện không đáng làm tổn thương sức khỏe của chính mình.

Một lời nói khó nghe, một chuyện trái ý, một sự bất công trong gia đình đôi khi khiến chúng ta suy nghĩ suốt nhiều ngày.

Nhưng bạn hãy thử nghĩ xem, nổi giận rồi thì chuyện có tốt đẹp hơn không? Hay cuối cùng chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, mất ngủ và buồn phiền?

Căng thẳng kéo dài có thể ảnh hưởng đến huyết áp, giấc ngủ và sức khỏe tim mạch.

Vì vậy, hãy tập cách bình tĩnh trước những điều không vừa ý. Chuyện gì có thể bỏ qua thì đừng cố chấp. Người nào không hiểu mình thì cũng không cần giải thích mãi.

Đến tuổi này rồi, thắng thua trong một cuộc tranh cãi đôi khi chẳng quan trọng bằng việc giữ được một buổi chiều bình yên.

Tâm an thì cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là một cách dưỡng sinh mà không phải tốn tiền.

Thứ bảy, từ bỏ thói quen hy sinh tất cả vì con cháu mà quên mất bản thân.

Đây có lẽ là điều khiến nhiều người lớn tuổi phải suy ngẫm nhất.

Cả một đời, cha mẹ đã vất vả nuôi con, dựng vợ gả chồng, chăm lo cho gia đình. Đến khi nghỉ hưu, nhiều người vẫn tiếp tục dành hết tiền bạc, thời gian và sức lực để lo cho con cháu.

Thương con là điều tự nhiên. Nhưng thương con không có nghĩa là phải gánh hết mọi việc, cũng không có nghĩa là phải dành toàn bộ số tiền dưỡng già của mình cho con cái.

Sau tuổi 70, chúng ta cần biết giữ lại một khoản tiền để chủ động chăm sóc sức khỏe, giữ một chút thời gian cho sở thích riêng và duy trì những mối quan hệ khiến mình vui vẻ.

Con cháu có cuộc sống của con cháu. Cha mẹ cũng cần có cuộc sống của riêng mình.

Đừng nghĩ rằng dành thời gian đi dạo, gặp gỡ bạn bè hay mua cho mình một món đồ yêu thích là ích kỷ.

Một người già khỏe mạnh, vui vẻ, tự chủ và không trở thành gánh nặng cho người khác cũng chính là niềm hạnh phúc của gia đình.

Bạn già thân mến!

Bước qua tuổi 70, chúng ta không còn cần phải chứng minh mình giỏi giang đến đâu, giàu có thế nào hay được bao nhiêu người ngưỡng mộ.

Điều đáng quý nhất lúc này là biết chăm sóc thân thể, giữ gìn tinh thần và sống sao cho mỗi ngày trôi qua đều có ý nghĩa.

Muốn hướng tới tuổi 90, hãy bắt đầu từ những điều rất nhỏ: bỏ một thói quen xấu, duy trì một thói quen tốt, ăn uống điều độ, vận động vừa sức và bớt đi những phiền muộn không cần thiết.

Bởi tuổi thọ không chỉ được tính bằng số năm chúng ta sống, mà còn được cảm nhận qua chất lượng của từng ngày.

Mong rằng dù đang ở tuổi 70, 80 hay đã bước sang tuổi 90, mỗi chúng ta vẫn luôn có sức khỏe, có niềm vui và có một mái nhà bình yên để trở về.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm. Chúc bạn già mỗi đêm đều ngủ ngon, mỗi ngày đều an vui. Hẹn gặp lại bạn trong những câu chuyện nhẹ nhàng tiếp theo!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm


 

Giai cấp mới và tư bản đỏ – Từ Milovan Djilas (1957) đến Việt Nam (2026) 

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Ngô Thế Vinh –

01/11/2026

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.

 Tóm tắt / abstract

Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.

Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị.

Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

Từ khóa / keywords

Giai cấp mới (New Class); Milovan Djilas; Tư bản đỏ bè cánh (Red Crony Capitalism); Việt Nam (Vietnam); Đổi Mới (Economic Reforms); Quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế (Political Power and Economic Interests); Bất bình đẳng tài sản (Wealth Inequality); Trách nhiệm giải trình (Accountability).

Lời dẫn nhập

Trong The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, cựu lãnh đạo cộng sản Nam Tư, đã chỉ ra một nghịch lý căn bản: một hệ thống chủ trương xây dựng xã hội không giai cấp vẫn có thể sản sinh một tầng lớp đặc quyền mới, nắm giữ quyền lực chính trị và chi phối các nguồn lực kinh tế.

Gần bảy thập niên sau, thực tế Việt Nam đặt ra một câu hỏi đáng khảo sát: sau bốn mươi năm Đổi Mới (1986–2026), liệu sự tập trung quyền lực chính trị, cùng những đặc quyền trong tiếp cận đất đai, tài sản công và cơ hội kinh tế, có phản ánh sự hình thành một tầng lớp mang những đặc điểm của Giai cấp mới mà Djilas từng mô tả?

Để trả lời, cần vượt ra ngoài những nhận định mang tính chính trị, dựa trên các chứng cứ thực tế và những nghiên cứu kinh tế chính trị có thể kiểm chứng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ai nắm giữ tài sản, mà còn là ai có quyền quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ai được hưởng lợi từ những quyết định ấy, và những cơ chế nào bảo đảm tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình trước xã hội.

Đây cũng là một cuốn sách mà người viết đã hơn một lần đọc trong những năm đầu đại học, giữa một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng và những câu hỏi về tương lai xã hội.

***

Bức ảnh trong bài “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” có hai nhân vật, bên trái: Milovan Djilas (1911–1995), tác giả The New Class, bên phải: William “Bill” Jovanovich (1920–2001), người bạn của Djilas, nhà xuất bản Harcourt Brace Jovanovich. Ảnh chụp tại Princeton University, mùa xuân năm 1968, do Aleksa Djilas, sử gia và cũng là con trai của Milovan Djilas, cung cấp.

***

Milovan Djilas: tiểu sử tóm lược

Milovan Djilas (12/6/1911 – 20/4/1995) là nhà cách mạng, chính khách, nhà văn và nhà tư tưởng chính trị người Nam Tư, sinh tại Montenegro. Ông từng thuộc nhóm bốn lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Nam Tư, bên cạnh Josip Broz Tito, Edvard Kardelj và Aleksandar Ranković, trước khi trở thành một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật của thế giới cộng sản thời Chiến tranh Lạnh.

Gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư năm 1932, Djilas tham gia phong trào kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến thứ hai và trở thành cộng sự thân cận của Tito. Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Nam Tư (1953–1954).

Từ đầu thập niên 1950, Djilas ngày càng bất đồng với giới lãnh đạo cộng sản. Những bài viết năm 1953–1954 phê phán đặc quyền của tầng lớp cầm quyền và đề nghị mở rộng tự do chính trị đã dẫn đến việc ông bị loại khỏi ban lãnh đạo năm 1954.

Năm 1957, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai cấp mới: Phân tích hệ thống cộng sản), được xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đánh dấu bước chuyển quan trọng của Djilas từ một nhà lãnh đạo cộng sản trở thành một nhà phê bình có ảnh hưởng lớn đối với chính hệ thống mà ông từng góp phần xây dựng.

Trải qua nhiều đợt tù đày, với tổng thời gian bị giam giữ khoảng chín năm, Djilas được trả tự do năm 1966. Ông tiếp tục viết và phê phán chế độ độc đảng cho đến cuối đời. Ông mất tại Belgrade ngày 20/4/1995, hưởng thọ 83 tuổi.

I. Milovan Djilas và khái niệm giai cấp mới

Cuốn sách đã gây tiếng vang lớn, không chỉ vì những luận điểm phê bình hệ thống chính trị cộng sản, mà còn vì tác giả từng giữ vị trí quan trọng ngay trong cơ cấu lãnh đạo của hệ thống ấy.

Djilas đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu một cuộc cách mạng chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp, vì sao sau khi giành được chính quyền lại có thể hình thành một tầng lớp được hưởng những ưu thế đặc biệt về chính trị, kinh tế và đời sống? Câu hỏi ấy vẫn còn sức gợi mở khi nhìn lại bốn mươi năm Đổi Mới, bắt đầu từ năm 1986 tại Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường phát triển trong khuôn khổ một hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Nam Tư thời Djilas là một hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế chủ yếu do nhà nước quản lý. Việt Nam ngày nay đã có một khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư quốc tế, thị trường tài chính và sự xuất hiện những doanh nghiệp lớn. Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra là liệu có đang hình thành một tầng lớp có ưu thế đặc biệt nhờ sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế.

Khi Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và giữ vai trò quyết định trong phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình càng cần được quan tâm: ai thực sự có quyền quyết định, ai được hưởng lợi và những cơ chế nào có thể bảo đảm sự công bằng?

Luận điểm chính của Djilas là trong một hệ thống cộng sản, tầng lớp quan chức đảng và nhà nước có thể trở thành một giai cấp nắm quyền chi phối, dù trên danh nghĩa không sở hữu nhà máy hay ruộng đất theo cách của các nhà tư bản cổ điển. Quyền sở hữu pháp lý thuộc về nhà nước, nhưng quyền bổ nhiệm, điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên lại tập trung vào những người có vị trí trong bộ máy quyền lực.

Djilas đặc biệt chú ý đến khoảng cách giữa lý tưởng bình đẳng được tuyên bố và những ưu đãi trong thực tế dành cho người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị. Ông không chỉ bàn về tiền bạc. Nhà ở, phương tiện đi lại, cơ hội học hành, điều kiện chăm sóc sức khỏe, khả năng thăng tiến của con cái, quyền tiếp cận thông tin và những ưu thế khác đều có thể trở thành biểu hiện của địa vị xã hội.

Những ưu thế ấy không nhất thiết được ghi nhận thành quyền sở hữu cá nhân. Chúng có thể tồn tại thông qua một hệ thống phân phối dựa trên chức vụ, quan hệ và sự trung thành chính trị. Một đóng góp quan trọng của Djilas là giúp người đọc phân biệt ba vấn đề: tài sản đứng tên ai; ai thực sự quyết định việc sử dụng tài sản; và cuối cùng, ai được hưởng lợi từ những quyết định đó. Một tài sản được xác định là thuộc sở hữu toàn dân vẫn có thể được sử dụng theo hướng ưu tiên lợi ích của một nhóm nhỏ nếu thiếu những cơ chế kiểm tra độc lập, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình (transparency and accountability).

Bài viết không chủ trương đồng nhất tầng lớp lãnh đạo chính trị Việt Nam hiện nay với mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957. Tuy nhiên, những đặc quyền trong việc kiểm soát và phân bổ nguồn lực kinh tế, cùng các trường hợp lạm dụng quyền lực đã được xét xử, cho thấy những cơ chế đáng khảo sát về sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân tham nhũng, mà còn là liệu những điều kiện thể chế có tạo thuận lợi cho sự hình thành và duy trì một tầng lớp đặc quyền kinh tế hay không.

II. Từ kinh tế bao cấp đến kinh tế thị trường 

Sau năm 1975, Việt Nam trải qua một giai đoạn kinh tế đặc biệt khó khăn. Những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tình trạng cô lập kinh tế và những bất cập trong quản lý đã góp phần dẫn đến sự thiếu hụt thực phẩm, hàng hóa và tình trạng suy giảm mức sống kéo dài cho đến trước Đổi Mới.

Chính sách Đổi Mới được khởi xướng từ năm 1986 đã mở ra một chuyển biến sâu rộng trong đời sống kinh tế Việt Nam. Sản xuất hàng hóa được khuyến khích, kinh doanh tư nhân từng bước được thừa nhận, đầu tư quốc tế gia tăng và đời sống của một số tầng lớp dân chúng dần được cải thiện. Những thành tựu ấy cần được nhìn nhận công bằng, trong đó không thể bỏ qua công sức của hàng triệu nông dân, công nhân, giới lao động và những người đã đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế đất nước, bao gồm cả nguồn lực và kinh nghiệm kinh doanh của miền Nam trước đây.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường không tự động bảo đảm một môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng. Trong các lĩnh vực mà đất đai, giấy phép, tín dụng, hợp đồng công và quyền tiếp cận tài nguyên phụ thuộc nhiều vào quyết định hành chính, quan hệ với người nắm quyền có thể tạo ra lợi thế kinh tế đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phân biệt cạnh tranh dựa trên năng lực với những ưu thế có được từ sự ưu đãi không chính đáng.

Trong điều kiện ấy, thành công kinh doanh có thể chịu ảnh hưởng không chỉ của năng suất, sáng kiến và khả năng chấp nhận rủi ro, mà còn của khả năng tiếp cận người có quyền quyết định. Hiện tượng này thường được khảo sát trong khuôn khổ khái niệm chủ nghĩa tư bản bè cánh (crony capitalism).

Trong bối cảnh kinh tế thị trường vận hành dưới sự lãnh đạo của một đảng cộng sản, thuật ngữ red crony capitalism, ở đây gọi là tư bản đỏ bè cánh, được dùng để khảo sát những quan hệ giao thoa giữa chức vụ công, doanh nghiệp và các mạng lưới lợi ích. Báo cáo Việt Nam 2035 của Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đặt vấn đề về cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và cải cách thể chế.

Có một số khác biệt quan trọng giữa mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957 và hiện tượng tích lũy tài sản trong nền kinh tế thị trường Việt Nam 2026. Trong mô hình cổ điển, đặc quyền thường gắn với quyền sử dụng tài sản công trong thời gian giữ chức vụ. Trong môi trường kinh tế thị trường, một số lợi thế có thể được chuyển hóa thành cổ phần, bất động sản, doanh nghiệp hoặc tài sản có khả năng truyền lại cho gia đình, kể cả những thế hệ sau.

Nếu sự chuyển hóa ấy diễn ra thông qua việc lạm dụng quyền lực chính trị, hệ quả kinh tế và xã hội có thể kéo dài vượt ra ngoài nhiệm kỳ của một cá nhân.

III. Quyền lực công và lợi ích tư: từ đất đai đến y tế

Đất đai là một lĩnh vực tiêu biểu để khảo sát sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế tại Việt Nam, dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới của Djilas.

Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và quyết định nhiều vấn đề về quy hoạch, giao đất, chuyển mục đích sử dụng và thu hồi đất. Những quyết định ấy có thể làm thay đổi lớn giá trị kinh tế của một khu đất.

Quy hoạch và phát triển hạ tầng là chức năng cần thiết của nhà nước; vấn đề phát sinh khi thông tin không được công khai đầy đủ, việc định giá thiếu minh bạch, đấu thầu thiếu cạnh tranh hoặc quyền khiếu nại của người dân không được bảo đảm hữu hiệu. Khi ấy, chênh lệch giá trị đất có thể trở thành lợi ích riêng của người được ưu tiên tiếp cận quyết định công quyền. Ai quyết định, ai được bồi thường và ai hưởng phần giá trị tăng thêm là những câu hỏi cần được trả lời bằng hồ sơ cụ thể.

Sự chuyển hóa quyền lực thành lợi ích kinh tế: Ba vụ đại án đất đai

Trong bốn thập niên Đổi Mới, nhiều vụ án đất đai đã phơi bày sự giao thoa giữa quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế. Điển hình là vụ Phan Văn Anh Vũ tại Đà Nẵng (2020), liên quan đến hai cựu Chủ tịch UBND thành phố, với những sai phạm trong quản lý, chuyển nhượng đất công và khoản thiệt hại hơn 22.000 tỷ đồng được nêu trong cáo trạng (a); vụ Bình Dương (2022), liên quan đến cựu Bí thư Tỉnh ủy, cựu Chủ tịch UBND tỉnh và doanh nghiệp thuộc Tỉnh ủy, với những sai phạm trong quản lý, chuyển nhượng hai khu đất 43 ha và 145 ha (b); và vụ khu đất công 8–12 Lê Duẩn tại Thành phố Hồ Chí Minh (2021), liên quan đến một cựu Phó Chủ tịch UBND thành phố (c).

Ba vụ án có tình tiết và trách nhiệm pháp lý khác nhau, nhưng cùng cho thấy quyền quyết định hành chính trong quản lý đất đai và tài sản công có thể bị lạm dụng để chuyển dịch lợi ích kinh tế sang một số cá nhân và doanh nghiệp. Những trường hợp đã được xét xử này không tự chúng chứng minh sự hình thành một giai cấp mới, nhưng cung cấp chứng cứ cụ thể về cơ chế chuyển hóa quyền lực công thành lợi ích tư, một đặc điểm đáng chú ý của hiện tượng tư bản đỏ bè cánh tại Việt Nam.

Dưới ánh sáng luận điểm của Djilas, vấn đề không chỉ nằm ở hành vi sai phạm của từng cá nhân, mà còn ở những sơ hở trong cơ chế quản lý và giám sát tạo điều kiện cho việc lạm dụng quyền kiểm soát tài sản công. Câu hỏi căn bản vì vậy vẫn còn nguyên giá trị: khi đất đai được xác định thuộc sở hữu toàn dân, ai thực sự quyết định việc sử dụng và cuối cùng ai được hưởng lợi?

(a). Vụ Phan Văn Anh Vũ, Đà Nẵng (2020)

Ban Nội chính Trung ương. “Xét xử phúc thẩm nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cùng đồng phạm.” 5/5/2020. Nguồn: Ban Nội chính Trung ương

(b). Vụ đất công Bình Dương (2022)

Báo Bảo vệ Pháp luật. “Vụ đất vàng ở Bình Dương: Tòa ra phán quyết đối với khu đất 43 ha và 145 ha.” 2022. Nguồn: Báo Bảo vệ Pháp luật, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

(c). Vụ khu đất 8–12 Lê Duẩn, TP.HCM (2021)

Báo Nhân Dân. “Y án 8 năm tù đối với ông Nguyễn Thành Tài.” 2/12/2021. Nguồn: Báo Nhân Dân.

Nếu các vụ án đất đai cho thấy quyền quyết định hành chính có thể bị lạm dụng để chuyển dịch tài sản công thành lợi ích tư, thì các vụ án y tế còn đặt ra nguy cơ đối với sức khỏe và sinh mạng người dân.

Từ tài sản công đến sức khỏe cộng đồng: Hai vụ án Việt Á và VN Pharma

(d). Vụ Việt Á (2021–2024)

Trong đại dịch COVID-19, Công ty Việt Á, do Phan Quốc Việt điều hành, đã nâng giá kit xét nghiệm thông qua thông đồng đấu thầu và hối lộ quan chức. Theo bản án phúc thẩm ngày 17.5.2024, vụ án gây thiệt hại 1.235 tỷ đồng, trong đó có 402 tỷ đồng của Nhà nước. Cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long bị tuyên 17 năm tù vì nhận hối lộ 2,25 triệu USD; Phan Quốc Việt chịu án 29 năm tù. Vụ án điển hình cho sự cấu kết giữa quyền lực quản lý y tế và lợi ích doanh nghiệp trong tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ, 18/5/2024.

(e). Vụ VN Pharma (2013–2020)

Công ty VN Pharma sử dụng hồ sơ giả để nhập khẩu 9.300 hộp thuốc H-Capita điều trị ung thư với nguồn gốc không đúng như khai báo. Ngày 20.5.2020, tòa phúc thẩm giữ nguyên án 17 năm tù đối với Nguyễn Minh Hùng và 20 năm tù đối với Võ Mạnh Cường. Lô thuốc bị thu giữ trước khi lưu hành. Vụ án phơi bày những sai phạm nghiêm trọng trong thẩm định hồ sơ, cấp phép nhập khẩu và kiểm soát chất lượng dược phẩm. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ, 20/5/2020.

Hai vụ án Việt Á và VN Pharma có tình tiết pháp lý khác nhau, nhưng cùng cho thấy những hậu quả nghiêm trọng có thể phát sinh khi quyền lực quản lý y tế bị lạm dụng vì lợi ích riêng. Khác với những thiệt hại về tài sản công có thể định lượng, nguy cơ đối với sức khỏe, sinh mạng và niềm tin của người dân không thể được đo lường đầy đủ bằng tiền bạc. Các vụ án này không tự chứng minh sự hình thành một giai cấp mới, nhưng cung cấp trường hợp cụ thể để khảo sát sự chuyển hóa quyền lực công thành lợi ích tư.

IV. Tăng trưởng kinh tế và phân phối không đồng đều thành quả 

Sau bốn thập niên Đổi Mới (1986–2026), Việt Nam đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế đáng kể. GDP bình quân đầu người, tính theo giá cố định năm 2015, tăng từ khoảng 608 USD năm 1986 lên 4.308 USD năm 2025. Thành tựu ấy cần được ghi nhận, nhưng vẫn đặt ra câu hỏi: thành quả tăng trưởng được phân phối ra sao?

Theo World Inequality Report 2026, số liệu ước tính năm 2024 cho thấy nhóm 10% giàu nhất tại Việt Nam nắm giữ khoảng 59% tổng tài sản, trong khi nhóm 50% nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 4,6%. Những con số này phản ánh mức độ tập trung tài sản đáng kể, nhưng không tự chúng xác định nguồn gốc của sự chênh lệch.

Một khía cạnh khác cần khảo sát là sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận nguồn vốn. Trong nghiên cứu Are Politically Connected Firms Less Constrained in Credit Markets? (2020), John Rand khảo sát mối liên hệ giữa quan hệ chính trị của doanh nghiệp và khả năng tiếp cận tín dụng tại Việt Nam, qua đó cung cấp thêm cơ sở thực chứng để phân tích những lợi thế kinh tế có thể phát sinh từ quan hệ với giới cầm quyền, thay vì chỉ dựa trên năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

Tuy nhiên, sự tập trung tài sản và những lợi thế trong tiếp cận tín dụng chưa đủ để xác định mức độ đóng góp của đặc quyền chính trị vào bất bình đẳng kinh tế. Vấn đề này đòi hỏi những nghiên cứu thực chứng sâu hơn, phân biệt thành quả kinh doanh hợp pháp với những ưu đãi có được từ việc lạm dụng quyền lực.

Trong bối cảnh đó, luận điểm của Milovan Djilas về sự hình thành một giai cấp mới vẫn có giá trị như một khung phân tích, giúp đặt ra câu hỏi liệu sự tập trung quyền lực chính trị có tạo điều kiện cho việc tích lũy những đặc quyền kinh tế, và ở mức độ nào hiện tượng ấy góp phần định hình sự phân phối tài sản tại Việt Nam đương đại.

Gia đình, thế hệ thứ hai và sự kế thừa đặc quyền

Một tầng lớp xã hội có thể duy trì vị thế lâu dài khi ưu thế về quyền lực, tài sản và cơ hội được chuyển giao qua các thế hệ. Ở Việt Nam, cần khảo sát liệu vị trí trong bộ máy công quyền có tạo ra lợi thế lâu dài cho thân nhân trong việc học hành, thăng tiến, kinh doanh hoặc tiếp cận nguồn lực hay không. Đây là một giả thuyết cần chứng từ, không phải kết luận có thể suy ra chỉ từ quan hệ gia đình.

Những mạng lưới quen biết, quan hệ gia đình và vị thế nghề nghiệp có thể tác động đến cơ hội của mỗi người. Điều quan trọng là xác định trường hợp nào thuộc quan hệ xã hội thông thường, trường hợp nào liên quan đến sự ưu đãi trái nguyên tắc công bằng.

Trong nền kinh tế thị trường, sự kế thừa ấy còn có thể được thực hiện thông qua cổ phần, bất động sản, tài sản thừa kế và khả năng tiếp cận vốn.  Sự kế thừa tài sản và thành quả lao động trong gia đình vốn là một hiện tượng bình thường và hợp pháp trong xã hội.

Vấn đề chỉ thực sự nảy sinh khi quyền lực công được sử dụng để tạo ra những ưu thế riêng mà những người khác không có cơ hội cạnh tranh trên cơ sở bình đẳng.

Một xã hội muốn bảo đảm công bằng cần có những quy tắc minh bạch về xung đột lợi ích, kê khai tài sản, đấu thầu, bổ nhiệm và giám sát quyền lực. Chính những quy tắc ấy giúp phân biệt thành công kinh tế chính đáng với những lợi thế có được từ sự ưu đãi không chính đáng. Những mạng lưới đặc quyền, nếu tồn tại, cần được nghiên cứu qua quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, cấp phép, phân bổ vốn và kiểm soát xung đột lợi ích.

Ngày nay, tài sản, hoạt động kinh doanh và các thành viên trong cùng một gia đình có thể hiện diện ở nhiều quốc gia. Một người làm việc tại Việt Nam có thể có con học ở nước ngoài, sở hữu tài khoản hợp pháp tại ngoại quốc hoặc tham gia những hoạt động kinh doanh xuyên biên giới. Bản thân những hoạt động ấy không nhất thiết là dấu hiệu của hành vi sai trái.

Tuy nhiên, khi có bằng chứng về việc chuyển dịch tài sản bất hợp pháp, che giấu nguồn gốc tài sản hoặc lợi dụng chức vụ để thu lợi riêng, vấn đề trách nhiệm đạo đức và pháp lý cần được đặt ra một cách cụ thể.

IV. Một cuộc chiến tranh và phép thử trách nhiệm

Nếu những đặc quyền kinh tế có thể được khảo sát qua hồ sơ đất đai, tài sản công và quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp, thì trách nhiệm của người nắm quyền trước vận mệnh quốc gia đặt ra một phép thử khác. Trong một cuộc khủng hoảng đe dọa sự tồn vong của đất nước, vấn đề không chỉ là ai được hưởng ưu thế trong thời bình, mà còn là ai sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm và hy sinh trong thời chiến.

Nếu Việt Nam một lần nữa phải đối diện một cuộc chiến tranh đe dọa sự tồn vong của đất nước, đặc biệt trong một cuộc xung đột giả định với Trung Quốc, đó sẽ là phép thử nghiêm khắc nhất đối với trách nhiệm của giới cầm quyền trước dân tộc. Trong thời bình, đặc quyền chính trị và kinh tế có thể được thể hiện qua tài sản, địa vị và những ưu thế trong đời sống. Nhưng khi đất nước lâm nguy, câu hỏi không còn chỉ là ai nắm giữ quyền lực và tài sản, mà còn là ai phải gánh chịu hiểm nguy, ai được bảo vệ và những người có nhiều quyền lực nhất có sẵn lòng chia sẻ trách nhiệm, hy sinh cùng nhân dân hay không.

Bản đồ 1. Chiến tranh biên giới Việt–Trung tháng 2/1979: Quân Trung Quốc tấn công Việt Nam trên nhiều hướng dọc biên giới phía Bắc.

Bản đồ 2. Bản đồ cho một kịch bản giả định, không phải dự báo quân sự hoặc đánh giá chính thức về nguy cơ chiến tranh. [nguồn: Ý tưởng của tác giả, AI minh họa]

Đây không phải là một dự báo chiến tranh, mà là một tình huống giả định nhằm khảo sát mối quan hệ giữa đặc quyền và trách nhiệm. Chính trong hoàn cảnh sống còn ấy, khoảng cách giữa những lý tưởng được tuyên bố và hành động thực tế của người cầm quyền có thể bộc lộ rõ rệt nhất.

Trong hoàn cảnh khủng hoảng, câu hỏi về công bằng không chỉ liên quan đến thu nhập hay tài sản mà còn đến cách phân bổ nghĩa vụ, hiểm nguy và cơ hội được bảo vệ. Ai phải gánh chịu tổn thất? Ai được tiếp cận thông tin, thuốc men và nơi trú ẩn? Những câu hỏi ấy đặt trách nhiệm công vụ trước một phép thử đặc biệt.

Không thể mặc nhiên cho rằng người giàu hoặc người giữ chức vụ sẽ hành động thiếu trách nhiệm. Điều đáng quan tâm là liệu quyền hạn công có bị dùng để dành ưu tiên không chính đáng cho một nhóm người hay không.

Khả năng tài chính đem lại những lựa chọn khác nhau khi xảy ra khủng hoảng, nhưng sự khác biệt ấy không đồng nghĩa với thiếu lòng yêu nước. Vấn đề nghiêm trọng chỉ xuất hiện khi người được giao trách nhiệm công lợi dụng chức vụ để bảo vệ lợi ích riêng hoặc không thực hiện nghĩa vụ đối với cộng đồng.

Trong trường hợp ấy, sự bất bình đẳng có thể trở thành khủng hoảng lòng tin, làm suy yếu sự gắn bó giữa người dân với những người thay mặt họ quyết định các vấn đề chung.

Câu nói Après moi, le déluge, thường được hiểu là “Sau ta, mặc cho hồng thủy”, gợi ra một câu hỏi về trách nhiệm lãnh đạo: người nắm quyền có sẵn lòng chia sẻ hậu quả từ các quyết định của mình hay không? Trách nhiệm ấy cần được đánh giá bằng hành động và những cơ chế có thể kiểm chứng.

VII. Những giới hạn của khái niệm “tư bản đỏ”

Thuật ngữ “tư bản đỏ” có sức gợi hình mạnh, nhưng chính vì vậy cũng cần được sử dụng một cách thận trọng trong nghiên cứu. Không phải mọi người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị đều thuộc một tầng lớp đặc quyền kinh tế, và cũng không thể đồng nhất mọi doanh nhân thành đạt với những mạng lưới lợi ích bè cánh.

Cần phân biệt hành vi tham nhũng của cá nhân với những điều kiện thể chế có thể tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh hoặc kéo dài. Việc xử lý những vụ án tham nhũng lớn có thể mang lại hiệu quả răn đe và góp phần củng cố kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, những cải cách lâu dài còn đòi hỏi cơ chế công khai dữ liệu, kiểm toán hiệu quả, hoạt động tư pháp đáng tin cậy, khả năng điều tra độc lập của báo chí và những phương tiện pháp lý hữu hiệu để người dân bảo vệ quyền lợi chính đáng.

Những biện pháp ấy không chỉ nhằm xử lý người sai phạm, mà còn góp phần hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền lực ngay từ đầu. Trong điều kiện hệ thống chính trị một đảng lãnh đạo, vấn đề đặt ra là mức độ độc lập và hiệu quả thực chất của các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực, cũng như khả năng bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Djilas đặc biệt sắc bén khi mô tả nghịch lý của một tầng lớp nhân danh lý tưởng bình đẳng nhưng lại có thể được hưởng những ưu thế đặc biệt trong đời sống.

Tuy nhiên, việc vận dụng luận điểm ấy vào Việt Nam hiện nay cần dựa trên những nghiên cứu thực chứng về sở hữu, tiếp cận tín dụng, phân bổ đất đai, đấu thầu, thu nhập và khả năng dịch chuyển xã hội. Chỉ thông qua những dữ liệu có thể kiểm chứng mới có thể phân biệt đâu là một xu hướng mang tính hệ thống, đâu là những trường hợp ngoại lệ và đâu chỉ là những nhận định xuất phát từ ấn tượng chính trị.

Tham nhũng và chủ nghĩa tư bản bè cánh không phải là hiện tượng riêng của các quốc gia theo chế độ cộng sản. Điểm đáng khảo sát trong trường hợp Việt Nam là sự kết hợp giữa một hệ thống chính trị do một đảng lãnh đạo, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và một nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển. Sự kết hợp ấy tạo ra những điều kiện thể chế đặc thù, trong đó quyền quyết định hành chính có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tích lũy tài sản của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, để xác định mức độ và tính hệ thống của hiện tượng này, cần những nghiên cứu so sánh và thực chứng vượt ra ngoài các vụ án riêng lẻ.

Những chứng cứ hiện có chưa đủ để xác định quy mô, ranh giới và mức độ ổn định của một giai cấp mới tại Việt Nam theo định nghĩa của Djilas. Tuy nhiên, các vụ án đất đai và tài sản công đã được xét xử, cùng những nghiên cứu về quan hệ chính trị trong phân bổ nguồn lực kinh tế, cung cấp bằng chứng về các cơ chế có thể tạo lập và duy trì đặc quyền. Điều cần tiếp tục khảo sát không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân lạm dụng quyền lực, mà còn là mức độ những điều kiện thể chế cho phép các đặc quyền ấy được tích lũy, chuyển hóa thành tài sản tư nhân và duy trì qua nhiều thế hệ. Chính tại điểm giao thoa giữa quyền lực chính trị tập trung và khả năng tích lũy tài sản ấy, lý thuyết Giai cấp mới của Djilas vẫn giữ được giá trị phân tích đối với hiện tượng tư bản đỏ bè cánh tại Việt Nam.

VIII. Quyền lực, tài sản và trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc 

Điều khiến The New Class vẫn còn đáng đọc không phải vì Djilas đã tiên đoán chính xác những diễn biến tại Việt Nam năm 2026.

Djilas không thể biết trước Đổi Mới, sự phát triển của khu vực tư nhân hay quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Giá trị bền vững của The New Class nằm ở câu hỏi: làm thế nào ngăn quyền lực được trao nhân danh nhân dân trở thành nguồn lợi riêng của người được giao phó?

Một xã hội có thể chấp nhận những khác biệt về tài năng, nghề nghiệp, thu nhập và mức sống. Nhưng những khác biệt ấy trở nên khó biện minh khi cơ hội thành công phụ thuộc quá nhiều vào thân thế hoặc khả năng tiếp cận những người có quyền lực, thay vì năng lực, sáng kiến và lao động.

Trong thời bình, những bất bình đẳng kéo dài, nếu thiếu các cơ chế đối thoại và giải quyết khiếu nại hữu hiệu, có thể làm gia tăng tâm lý bất mãn và suy giảm niềm tin xã hội.

Điều có thể khẳng định về mặt nguyên tắc là năng lực bảo vệ quốc gia không chỉ phụ thuộc vào vũ khí và tiềm lực quân sự, mà còn vào sự tin cậy giữa người cầm quyền và người dân, tính chính đáng của các quyết định và mức độ công bằng trong việc chia sẻ những gánh nặng chung.

Từ Djilas năm 1957 đến Việt Nam năm 2026, nền kinh tế và phương thức tích lũy tài sản đã thay đổi sâu sắc. Song câu hỏi về quyền quyết định và trách nhiệm giải trình vẫn còn đó: tài sản quốc gia được quản lý như thế nào, và xã hội có thể kiểm tra việc sử dụng quyền lực công bằng những phương tiện nào?

Nếu đất nước phải đối diện một thử thách sống còn, những người có nhiều quyền lực và nguồn lực nhất có sẵn lòng nhận trách nhiệm tương xứng hay không? Câu trả lời không thể chỉ đến từ khẩu hiệu hay phán xét chính trị. Nó cần chứng từ, sự minh bạch và những hành động có thể kiểm nghiệm. Đọc lại Djilas hôm nay, vì vậy, không phải để áp đặt một khuôn mẫu có sẵn lên Việt Nam, mà để đặt ra yêu cầu thường xuyên kiểm soát quyền lực, bảo vệ tài sản công và duy trì công bằng xã hội.

31 Tháng 10 năm 2026 

Tài liệu tham khảo 

  1. 1.. Djilas, Milovan. The New Class: An Analysis of the Communist System. New York: Frederick A. Praeger, 1957.

Djilas phân tích sự hình thành một tầng lớp đặc quyền mới trong các chế độ cộng sản, gồm giới lãnh đạo đảng và bộ máy quan liêu. Tầng lớp này không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất nhưng kiểm soát việc phân phối tài sản và nguồn lực quốc gia thông qua quyền lực chính trị. Tác phẩm đặt vấn đề về khoảng cách giữa lý tưởng xã hội không giai cấp và thực tế phân tầng quyền lực.

  1. 2. Hoover Institution, Stanford University. “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives.” May 21, 2014. Hoover Institution.

Bài viết giới thiệu việc Hoover Institution tiếp nhận kho lưu trữ văn học và tư liệu cá nhân của Milovan Djilas, gồm bản thảo, thư từ và các tài liệu lịch sử. Nguồn tư liệu góp phần làm sáng tỏ hành trình tư tưởng của Djilas, từ một lãnh đạo cộng sản Nam Tư trở thành nhà phê bình hệ thống mà ông từng tham gia xây dựng. Đây chủ yếu là nguồn tư liệu tiểu sử và lưu trữ, không phải nghiên cứu độc lập về kinh tế chính trị.

  1. 3.  Gainsborough, Martin. Vietnam: Rethinking the State. London: Zed Books, 2010.

Gainsborough khảo sát sự biến đổi của nhà nước Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới, đặc biệt mối quan hệ giữa quyền lực chính trị, doanh nghiệp và lợi ích kinh tế. Tác giả cho thấy ranh giới giữa khu vực công và tư không luôn rõ ràng. Quyền lực nhà nước không chỉ thể hiện qua các định chế chính thức mà còn qua những mạng lưới quan hệ và lợi ích.

  1. 4. Fforde, Adam. Vietnamese State Industry and the Political Economy of Commercial Renaissance: Dragon’s Tooth or Curate’s Egg? Oxford: Chandos Publishing, 2007.

Fforde nghiên cứu quá trình chuyển đổi của công nghiệp quốc doanh Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch sang cơ chế thị trường. Ông nhấn mạnh vai trò của những thay đổi kinh tế phát sinh từ thực tiễn, trước và trong thời kỳ Đổi Mới. Tác phẩm giúp giải thích sự thích nghi của doanh nghiệp nhà nước và những quan hệ kinh tế mới hình thành trong quá trình cải cách.

  1. 5. Malesky, Edmund J., and Markus Taussig. “Where Is Credit Due? Legal Institutions, Connections, and the Efficiency of Bank Lending in Vietnam.” Journal of Law, Economics, and Organization 25, no. 2 (2009): pp. 535–578.

Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của các định chế pháp lý và quan hệ chính trị đối với khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp Việt Nam. Các tác giả phân tích cách những quan hệ cá nhân và chính trị có thể tác động đến việc phân bổ vốn ngân hàng. Công trình góp phần làm rõ mối liên hệ giữa chất lượng thể chế, tín dụng và hiệu quả kinh tế.

  1. 6. Kang, David C. Crony Capitalism: Corruption and Development in South Korea and the Philippines. Cambridge: Cambridge University Press, 2002. 

Kang so sánh quan hệ giữa nhà nước và giới doanh nghiệp tại Nam Hàn và Philippines. Ông lập luận rằng tác động của tham nhũng và chủ nghĩa tư bản bè cánh / crony capitalism phụ thuộc vào cấu trúc quyền lực và khả năng phối hợp giữa các nhóm lợi ích. Công trình cho thấy những quan hệ chính trị và kinh tế tương tự có thể dẫn đến kết quả phát triển rất khác nhau.

  1. 7. Vu, Tuong, and Thuy Nguyen. “‘Doi Moi’ but Not ‘Doi Mau’: Vietnam’s Red Crony Capitalism in Historical Perspective.” In The Dragon’s Underbelly, edited by Nhu Truong and Tuong Vu, pp. 25–50. Singapore: ISEAS Publishing, 2022. 

Đây là nghiên cứu trực tiếp liên quan nhất đến khái niệm “tư bản đỏ” tại Việt Nam. Hai tác giả phân tích tính liên tục của quyền lực chính trị trong quá trình chuyển đổi kinh tế sau Đổi Mới. Theo cách tiếp cận của nghiên cứu, kinh tế thị trường phát triển nhưng cấu trúc quyền lực chính trị căn bản vẫn được duy trì, tạo điều kiện cho những quan hệ đặc thù giữa giới cầm quyền và các nhóm lợi ích kinh tế.

  1. 8. World Bank and Ministry of Planning and Investment of Vietnam. “Vietnam 2035: Toward Prosperity, Creativity, Equity, and Democracy.” Washington, DC: World Bank, 2016.

Báo cáo đánh giá thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam và những thách thức dài hạn. Tài liệu nhấn mạnh nhu cầu cải cách thể chế, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Đây là nguồn tham khảo quan trọng về những điều kiện cần thiết để Việt Nam phát triển bền vững và tránh bẫy thu nhập trung bình.

  1. 9. “OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025.” Paris: OECD Publishing, 2025. Chapter 2: “Towards More Inclusive Growth.”

OECD ghi nhận thành tựu tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam, đồng thời chỉ ra những chênh lệch về thu nhập, cơ hội kinh tế và an sinh xã hội giữa các nhóm dân cư. Những thành quả của Đổi Mới chưa được phân phối đồng đều. Báo cáo nhấn mạnh nhu cầu tăng trưởng bao trùm và cải thiện công bằng xã hội.

  1. 10. World Inequality Lab. “World Inequality Report 2026.” Country Sheet: Vietnam, số liệu ước tính năm 2024. https://wir2026.wid.world/

Báo cáo nghiên cứu sự phân phối thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư trên thế giới. Theo số liệu ước tính năm 2024 về Việt Nam, nhóm 10% giàu nhất nắm giữ khoảng 59% tổng tài sản, trong khi 50% nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 4,6%. Sự chênh lệch này cho thấy tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phân phối tài sản đồng đều.

  1. 11. Rand, John. “Are Politically Connected Firms Less Constrained in Credit Markets?” pp. 115–133. Oxford: Oxford University Press, 2020. https://doi.org/10.1093/oso/9780198851189.003.0006

 Nghiên cứu mối liên hệ giữa quan hệ chính trị của doanh nghiệp và khả năng tiếp cận tín dụng tại Việt Nam. Bài viết khảo sát liệu những doanh nghiệp có quan hệ với giới chức có gặp ít trở ngại hơn khi vay vốn hay không. Đây là một nguồn nghiên cứu hữu ích để tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ chính trị đối với sự phân bổ nguồn lực kinh tế.

Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động môi sinh. Tên thật Ngô Thế Vinh, cũng là bút hiệu. Chánh quán Hà Nội. Tốt nghiệp ĐHYK Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo SVYK Tình Thương Sài Gòn từ 1963 tới 1966. Nguyên y sĩ trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Sau 1975, tù hơn ba năm qua các trại cải tạo. Từ 1979, bác sĩ điều trị và giảng huấn tại Trung Tâm Phục Hồi Sài Gòn. Tới Hoa Kỳ 1983, bác sĩ thường trú các bệnh Đại học New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa, bác sĩ điều trị và giảng huấn tại một bệnh viện VA miền Nam California. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết, tiểu luận văn hóa và công trình khảo cứu về môi trường, đặc biệt về hệ sinh thái sông Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long.


 

Lễ các Đẳng Linh Hồn – Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay là Ngày lễ các Đẳng Linh Hồn, ý chỉ Thánh Lễ sáng nay và các giờ cầu nguyện trong ngày mình sẽ cầu nguyện cho Linh hồn các “thân bằng quyến thuộc” của bạn, xin hiệp thông với mình nhé.Không quên cho nhau về thế giới tràn đầy lòng thương xót của Chúa và Mẹ Maria nữa nhé. Amen  

Cha Vương

Thứ 2: 02/11/2026.     (t2-21)

Đức Tin của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng, Con người sau khi chết sẽ xảy ra ba tình trạng; Được lên Thiên Đàng, xuống Hỏa Ngục hay vào Luyện Ngục (Luyện Hình). 

(1) THIÊN ĐÀNG, khi một người sống theo luân lý Công Giáo, luôn kính sợ Thiên Chúa và sống theo giới răn của Ngài. Thiên Đàng là phần thưởng Thiên Chúa dành cho họ vì công trạng và sự mong ước khi họ còn sống. Thiên Đàng là hạnh phúc bất diệt, là sự sống đời đời và là sự hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa, các Thiên Thần, và các Thánh.

(2) HỎA NGỤC, là những người khi còn sống, đã từ chối ân sủng của Thiên Chúa. Những người ta biết tỏ tường điều tốt xấu nhưng vẫn phạm tội chống lại Thiên Chúa và tha nhân để chọn điều xấu. Hoả Ngục là những người biết được lòng yêu thương và lòng thương xót của Thiên Chúa nhưng vẫn khước từ và không bao giờ hoán cải.

(3) LUYỆN NGỤC, đó là những người sau khi chết, được Chúa hứa ban Thiên Đàng nhưng vẫn phải cần một thời gian thanh luyện vì có những tội lỗi họ đã phạm khi còn sống. Giáo Lý Công Giáo định nghĩa Luyện Ngục là “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (số 1030).

XIN LƯU Ý: Nếu bạn chỉ còn một ngày nữa để sống, bạn cần phải định đoạn phần hồn của bạn như thế nào?

         Có một điều là những linh hồn nơi luyện ngục không thể cầu nguyện cho chính họ, và họ phải hoàn toàn nhờ vào lòng thương xót và lời cầu nguyện của những người đang còn sống. Cầu nguyện cho các linh hồn không những giúp các linh hồn mau hưởng phúc Thiên Đàng nhưng còn sinh ơn ích cho bạn. Có thể khi nhắm mắt lìa đời bạn cũng sẽ vào luyện ngục để chịu sự thanh luyện của Thiên Chúa. Vì vậy khi cầu nguyện cho các linh hồn, bạn được mời gọi để sống tốt hơn và thánh thiện hơn đời sống Kitô hữu của mình để ước mong khi chết bạn được Chúa ban hưởng phúc Thiên Đàng. 

          Cầu nguyện cho các linh hồn không những rất dễ và lại còn có nhiều cách khác nhau. Đọc kinh Vực Sâu, một vài kinh Kính Mừng hay một vài kinh Lạy Cha, ngắn hơn thì đọc kinh cầu các Linh Hồn (Chúng con cậy vì danh Chúa….) trước khi ngủ hay trong lúc đi bộ. Sốt sáng hơn thì đọc một chuỗi mân côi cầu nguyện cho các Linh Hồn. Bạn có thể xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn và cùng hiệp thông với Linh mục trong Thánh Lễ đó. Hy sinh, hãm mình và làm việc bác ái để cầu cho họ là những điều rất cần thiết. Thăm viếng Nghĩa Trang và phần Mộ của người thân yêu đặc biệt là trong tháng 11, Mùng 2 Tết và ngày Giỗ của họ là những điều rất ý nghĩa và thiết thực…Tập cho con cái cầu nguyện cầu nguyện cho các linh hồn là điều hết sức cần thiết cho con cái sau này. Nếu bạn không cầu nguyện cho các linh hồn và không tập cho con cái cầu nguyện cho các linh hồn thì khi bạn nằm xuống, ai sẽ cầu nguyện cho bạn và cho ông bà tiên tổ? 

Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 

From: Do Dzung

****

Nguyễn Hồng Ân – Nếu chỉ còn một ngày để sống

TỚ ÉP – CHỦ NÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta!”.

“Đối mặt với sự cởi mở – tính phổ quát của bữa tiệc – là thái độ khép kín trái tim!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể chuyện một bữa tiệc thật lạ: khách được mời thì từ chối, người chẳng dám mong lại được đón chào. Một nghịch lý bất ngờ – ‘tớ ép – Chủ nài!’.

Vậy mà điều đáng mừng lại lớn hơn điều đáng trách. Khách mời thì đồng loạt xin kiếu; chủ nhà không huỷ tiệc, nhưng lập tức sai đầy tớ mời những người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào.

Nghe vẫn còn chỗ, ông lại sai họ đi xa hơn. Bản Hy Lạp viết anánkason

– “hãy ép”, một mệnh lệnh dứt khoát : buộc, thúc. Nhưng một mệnh lệnh mạnh đến thế lại phục vụ một lòng quảng đại lớn đến vậy.

Không phải để cưỡng bức, mà để cả những người không bao giờ

nghĩ mình được mời cũng có thể bước vào.

Chủ ra lệnh phải ép, bởi lòng quảng đại của ông không muốn ai đứng ngoài.

“Lòng hiếu khách không nhằm thay đổi con người, nhưng dành cho họ một không gian để sự thay đổi có thể diễn ra!” – Henri Nouwen.

Khách không viện lý do xấu; chỉ là điều chính đáng đã chiếm chỗ của điều cao quý.

Họ chọn sự yên ổn thường ngày, hơn niềm vui của một ân huệ có thể không đến lần thứ hai.

Bi kịch không phải họ thiếu những điều tốt đẹp, nhưng những điều tốt đẹp ấy đã khiến họ không còn nhận ra điều tốt đẹp hơn. Họ giữ điều quen thuộc, và bỏ lỡ niềm vui được thuộc về Chúa.

Phaolô đưa chúng ta đến tận nguồn mạch của niềm vui thuộc về ấy. Trong khi con người sợ đánh mất phần mình, Đức Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, lại không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Ngài tự hạ, đến giữa những kẻ bất xứng và trao cả mạng sống để mời mọi người – không trừ ai vào nhà Cha – bài đọc một.

Và muôn dân đồng bàn cất tiếng: “Giữa lòng đại hội, con nguyện tán dương Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có khi chúng ta không từ chối Chúa bằng một lời nói, nhưng bằng một thời khoá biểu không còn chỗ cho Ngài. Việc nào cũng cần, người nào cũng phải lo; chỉ cuộc hẹn với Chúa là có thể khất lại. Dần dà, chúng ta chẳng còn cảm thấy thiếu Ngài.

Cửa vẫn mở, bàn vẫn dọn; chỉ lòng người đã thôi mong đến!

“Cuối ngày, tôi vội vã trở về, sợ rằng cổng Ngài đã đóng; nhưng tôi thấy vẫn còn kịp!” – Rabindranath Tagore.

Anh Chị em,

Thập giá – có lẽ là lời nài nỉ tha thiết nhất của tình yêu. Đôi tay dang rộng của Đấng Chịu Đóng Đinh muốn ôm cả nhân loại. Con Thiên Chúa đã đi đến tận cùng của sự tự hiến, nhưng vẫn không xô cửa nếu lòng người không mở. Đấng có quyền phán xét lại chọn đứng chờ; Đấng có thể buộc người ta quỳ xuống lại để mình bị đóng đinh. Ngài không cưỡng ép một ai, bởi điều Ngài muốn không chỉ là một ngôi nhà đầy khách, nhưng là những người con tự do trở về nhà Cha. Vì thế mới có nghịch lý ‘tớ ép – Chủ nài!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chần chờ trước lời mời của Chúa, xin giục lòng con; con sợ mất mát, giúp con can đảm; con khép lòng với anh em, cho con biết dang rộng đôi tay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/03.html

Hãy ra các ngả đường, ép người ta vào đầy nhà cho ta.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.      Lc 14,15-24

15 Khi ấy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giê-su rằng : “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa !” 16 Người đáp : “Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. 17 Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng : ‘Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.’ 18 Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói : ‘Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm ; cho tôi xin kiếu.’ 19 Người khác nói : ‘Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây ; cho tôi xin kiếu.’ 20 Người khác nói : ‘Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.’

21 “Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Bấy giờ chủ nhà nổi cơn thịnh nộ bảo người đầy tớ rằng : ‘Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây.’ 22 Đầy tớ nói : ‘Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ.’ 23 Ông chủ bảo người đầy tớ : ‘Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta. 24 Tôi nói cho các anh biết : Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi’.”


 

“Con bụi đời chứ con không ăn cắp”- Bobo Kim

Ba’o Tieng Dan

31/10/2026

Bobo Kim

31-10-2026

Hôm nay, lần đầu tiên hai vợ chồng mình vô cửa hàng mua đồ. Tới lúc quay ra xe thì phát hiện túi đồ mua trước đó đã không cánh mà bay. Ra thấy mất đồ mà xịt keo luôn.

Sau khi xin chị chủ kiểm tra lại camera, tụi mình thấy một thằng nhóc chạy xe đạp ngang qua, tiện tay cuỗm luôn bọc đồ rồi phắn nhanh gọn, chỉ vỏn vẹn 10 giây.

Thế là chị chủ dẫn tụi mình qua quán net kế bên, chỗ mấy đứa nhóc bụi đời hay tụ tập chơi game. May sao tụi nó biết mặt thằng cu kia. Sau một hồi hỏi thăm, mình bốc được hai thằng nhóc cỡ 12-13 tuổi hộ giá, cùng đi tìm thằng to gan đó.

Một thằng gầy đét, người cứ thoang thoảng mùi xăng. Thằng còn lại to con hơn nhưng áo quần rách bươm, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Hai đứa nhiệt tình lắm, cứ thay nhau chỉ đường, chặt hết hẻm này tới hẻm khác, quyết tìm cho ra thằng chôm đồ.

Trên đường đi, tụi nó bắt đầu tâm sự. Đứa thì không cha không mẹ, ban ngày đi bán vé số, tối đi thổi lửa kiếm cơm. Đứa kể, có lần bị người ta dụ vô Aeon chỉa xà bông, bị bắt một lần sợ quá nên từ đó không dám ăn cắp nữa, chỉ lãnh vé số đi bán thôi.

Toàn những chuyện mà một đứa trẻ 12-13 tuổi đáng lẽ chẳng cần phải biết tới. Vậy mà tụi nó kể tỉnh bơ. Chuyện hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền, tối ngủ ở đâu, ngày mai làm gì để có cái ăn. Cứ như thể đó là những chuyện bình thường nhất trên đời.

Mình vừa lái xe vừa nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm vài câu. Càng nghe lại càng thấy lạ, vì tụi nó còn nhỏ xíu mà nói chuyện cứ như mấy người đã sống qua nửa đời người rồi đó?

Có điều, dù có vẻ từng trải tới đâu thì tụi nó vẫn là con nít. Vẫn hào hứng mỗi khi nhớ ra một chỗ có thể tìm được thằng kia, vẫn thi nhau chỉ đường, vẫn sốt ruột khi đi hoài chưa thấy…

Đi hơn 15 phút, hai đứa bắt đầu lo lắng. Không phải lo không tìm được đồ để lấy tiền công, vì từ đầu tới cuối tụi nó cũng chẳng hề nhắc tới một cắc nào chuyện tiền bạc. Mà tụi nó sợ mình chạy xe lòng vòng, tốn tiền xăng.

Mình thì đang cay cái bọc đồ bị mất, còn hai đứa nó lại đang lo mình tốn thêm mấy đồng tiền xăng. Nghe vừa thương vừa mắc cười.

Lúc hỏi, sao tụi nó nhiệt tình giúp mình dữ vậy, mới biết lý do chẳng phải vì muốn được thưởng hay gì, mà tụi nó sợ thằng nhóc kia cứ ăn cắp hoài, người ta sẽ ghét lây cả đám bụi đời quanh đó. Rồi chủ quán net không cho tụi nó ngủ nhờ nữa.

Thằng nhỏ nhất tự chốt một câu: “Con sợ nó chôm đồ của chú xong người ta ghét con. Con bụi đời chứ con không ăn cắp”.

Hóa ra, hai đứa theo mình lặn lội qua từng con hẻm, một phần cũng vì đang cố giữ lấy cái chỗ ngủ của tụi nó. Chỉ là một góc trong quán net thôi. Ban ngày coi người ta chơi game, tối đến tụi nó kiếm chỗ ngả lưng.

Ảnh minh họa: Trẻ bụi đời ngủ trên đường phố Hà Nội. Nguồn: Reuters

Tự nhiên mình nghĩ tới mấy con mèo hoang. Có những con mèo ngoài đường, chỉ cần được người ta cho nằm nhờ dưới mái hiên vài hôm là cứ nhớ mãi chỗ đó. Ngày đi kiếm ăn, tối lại lủi thủi quay về. Chẳng cần ai ôm ấp, vuốt ve, chỉ cần cho nó ngủ, đừng đuổi nó đi là được

Mấy đứa nhỏ này cũng vậy. Khác ở chỗ mèo hoang thì chẳng hiểu người ta nghĩ gì về mình. Còn tụi nó là con người mà, nên biết hết. Biết bản thân bị gọi là tụi bụi đời, biết người ta dè chừng, biết chỉ cần một đứa ăn cắp thì cả đám có thể bị đuổi đi.

Mới mười mấy tuổi đầu mà đã phải sốt sắng chạy đôn chạy đáo để giữ lấy một chút lòng tin của người khác, để tối đến còn có chỗ ngủ. Nghĩ tới tự dưng thấy buồn.

Cuối cùng cũng tìm được thằng nhóc hai ngón kia. Tổng thể thì không mất gì, chỉ có túi ô mai bị hụt vài viên.

Ban đầu mình cũng bực chứ. Mất đồ ai mà không bực, còn phải mất công chạy đi tìm cả buổi. Nhưng tới lúc nghe kể nó núp trước nhà người ta, run rẩy ôm bọc đồ, không dám đụng tới, tự nhiên mình cũng chẳng buồn nói thêm câu nào. Vì nó cũng chỉ là một đứa con nít 12 tuổi đầu.

Mình không biết nó đến từ đâu, không biết ba mẹ nó là ai. Cũng chẳng cần biết nó đã ăn cắp bao nhiêu lần rồi. Chỉ mong lần này đủ để nó sợ mà không táy máy tay chân nữa. Ăn cắp thì vẫn là sai, nhưng nghĩ cho cùng, một đứa nhỏ lớn lên mà không có ai dạy dỗ, không có ai chỉ cho nó biết đâu là đúng, đâu là sai, thì chuyện nó đi lạc đường cũng chẳng phải điều gì khó hiểu.

Lúc đầu mình chỉ muốn tìm lại bọc đồ thôi. Mà tới khi tìm được rồi, thứ khiến mình nghĩ mãi lại chẳng phải thằng nhóc đã chôm, mà là hai thằng nhỏ đã giúp mình đi tìm nó.

Hai đứa côi cút, tự kiếm sống qua ngày, tối đến còn phải xem người ta có cho mình ngủ nhờ hay không, vậy mà vẫn biết lo cho người khác, biết sợ làm phiền, biết phân biệt chuyện nào nên làm và chuyện nào không.

Ở cái tuổi đó, đáng lẽ tụi nó phải được đi học, được ba mẹ chăm lo, được vô tư mà lớn lên, chứ không phải ngày nào cũng nghĩ cách kiếm tiền để tối nay có cái bỏ bụng hay có chỗ ngủ mà không bị người ta đuổi đi.

Trước giờ cứ nghĩ có nhiều tiền sẽ cứu được thêm nhiều con mèo, có chỗ nuôi những con vật bị bỏ rơi, để tụi nó không phải lang thang ngoài đường nữa. Giờ lại muốn có đủ khả năng giúp cả những đứa nhỏ như tụi này. Cho tụi nó một chỗ ở đàng hoàng, một ngày ba bữa không cần phải lo ngày mai lấy gì ăn, một cơ hội được đi học, được sống cuộc đời mà một đứa trẻ đáng lẽ phải có.

Mình biết ngoài kia còn nhiều đứa nhỏ như vậy lắm. Và cũng biết không phải cứ thương là giúp được, càng không phải cho vài đồng tiền là có thể thay đổi cuộc đời một con người.

Nhưng tất nhiên, vẫn sẽ lấy cuộc gặp gỡ này làm động lực để sau này mình làm được gì đó nhiều hơn. Vì mấy con mèo hoang ít ra còn có thể được ai đó mang về nuôi. Còn những đứa trẻ này, đâu phải cứ thấy thương là có thể dắt về nhà.

Chẳng biết rồi hai thằng nhỏ hôm nay sẽ lớn lên thành người thế nào? Cuộc sống ngoài đường còn dài, mà tụi nó thì bé quá. Chỉ mong tụi nó vẫn giữ được cái tính thật thà như hôm nay.

Nghĩ lại, thứ mình bị mất hôm nay chỉ là một bọc đồ, tìm một hồi rồi cũng lấy lại được. Còn có những đứa trẻ, từ bé đã thiếu đi quá nhiều thứ, mà chẳng biết phải đi đâu để tìm lại bây giờ?


 

GIÓ VẢ CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM -Tác giả : Tăng Quốc Kiệt

GIÓ VẢ CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM

( Tác giả : Tăng Quốc Kiệt )

Trong quyển tùy bút của ông Võ Phiến, ông kể về nhận xét của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm trong lúc dự hội chợ Osaka Nhật bản, rằng “sở dĩ áo dài VN thắng lớn ở trong và ngoài nước, là do nó cho thấy gió. Chiếc áo dài mà cho ta thấy gió thì lạ thiệt!

Theo ông Võ Phiến, mặc áo dài mà đứng yên thì chưa chắc ăn đứt các y phục khác. Nhưng mặc áo dài mà đi, mà múa v.v.. thì người con gái VN linh động hẳn lên, không ai qua mặt nổi!

Chắc ai cũng nhớ, thuở sinh thời, Marilyn Monroe mặc cái áo đầm xòe, đứng trên miệng thoát hơi của métro, rồi gió thổi bay lên, gợi hình hết sẩy. Nhưng hình ảnh này tục chớ không thanh như chiếc áo VN trong gió.

Đầu năm 2017, bạn bè đồng môn gởi lên mạng vô số hình ảnh chiếc áo dài, thôi thì đủ màu, đủ kiểu. Nhưng đã nói, áo dài, thì tà áo không thể nào ngắn được, cũng không thể dài 3 thước như áo của bà Thúy Nga! Dị hợm lắm vì nó không cho thấy gió. Thế là hỏng!

Áo dài VN kể từ khi ông Cát Tường vẽ ra đến nay, qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu biến đổi, từ cổ cao đến cổ thấp, cổ hở như áo bà Nhu, tay nối, tay raglan. Eo nhấn như đồng hồ cát, rất không thẩm mỹ. Eo không nhấn thon thả mượt mà, đạt đến sản phẩm cuối cùng ngày nay, thì tôi xin các ngài, cứ làm ơn để yên như vậy cho em nhờ, chớ nên thay đổi nữa, vì nó đã đạt tới đỉnh cao (không phải của trí tuệ noài người đâu, mà…) của mỹ thuật đấy !

Theo ông Võ Phiến, áo dài vừa theo sát những nét tuyệt mỹ của thân người, lại vừa thêm cho tấm thân ấy sự linh động phơi phới mà nó vẫn ao ước – Ai ao ước? Tấm thân ao ước ?  Ao uớc cái gì ? Ghê chưa cái ông Võ Phiến!

Phía thân dưới của áo dài, chỉ thấy gió, có cái thướt tha, cái bay bướm. Mà áo dài chế ra là cho các cô gái VN mặc, vì người ngoại quốc, thân hình họ, dáng đi họ không hợp với chiếc áo dài. Họ vạm vỡ quá. Trừ số ít người thon thả dĩ nhiên !

Nhìn kìa, chiếc Kimono, trông sự xếp đặt kỹ quá, khó quá (lại ông Võ Phiến nữa!) không còn thấy đâu là thân người, kín đáo tựa tâm hồn người Nhật, phải theo đúng đạo, thứ tự, lớp lang, tuyệt nhiên không được  phá rào. Trà đạo, kiếm đạo, tự tử cũng phải theo một quy củ rõ ràng, thì làm gì có bay với bướm ?

Chếc áo Hanbok của Đại Hàn cũng thế. Có kẻ xấu mồm bảo họ may thùng thình để che cái bụng bầu non désiré bất đắc dĩ, vì thuở đó mấy chú Nhật lùn qua Đại hàn hãm hiếp hàng loạt để tạo ra các chú lính con cho Nhật Hoàng – thiệt không ? – Vì lẽ đó, người Đại hàn thù Nhật bản muôn kiếp.

Còn chiếc xường xám của Trung Hoa, có bọc theo sát các đường cong tuyệt mỹ của các á xẩm thật, nhưng tuyệt nhiên không có gió.

Nói chi cái váy của người Lào, người Kampuchia, Thái lan chung quanh ta. Thật chẳng đáng so bì.

Tôi có cho các bạn canadiens xem ảnh và vidéo trình diễn thời trang áo dài VN, thì các bạn đều trầm trồ khen ngợi, thật tuyệt mỹ!  Có bạn đã đi viếng VN, thì bảo rằng: trông các cô nữ sinh, sinh viên, tan trường về, đi ngược gió thì sexy vô cùng. Tôi cãi, nhưng chiếc áo dài của chúng tôi đâu có hở mà bạn bảo là sexy ? Bạn cười trả lời: Ấy, nó không hở như mini jupe, không kín như jupe dài, mà nửa kín nửa hở nên nó mới sexy, vừa gợi hình vừa gợi cảm.

Chị họ tôi, nữ sinh trường áo tím kể lại: Có bà tổng giám thị, giờ ra chơi, bà cầm cây thước rảo trong sân trường, coi cô nào mặc áo dài mà hở khoảng giữa 2 tà và phần trên của quần, tức vùng “tam giác vàng”, là bà gọi vào văn phòng làm việc ngay, vì có vấn đề!

Bà dạy : Ở đây là chốn học đường, đứng đắn chứ không phải chỗ bán bánh ít trần. Ôi cái bánh ít trần, chắc phải lợi hại lắm nên bà Tổng giám thị mới phải ra công mà lùng địch và diệt địch.

Cứ tưởng tượng một nữ sinh mặc áo dài đi ngược gió hiện lên qua lời thơ Phạm Thiên Thư .”đôi gò bồng đảo trên miền tuyết hương”.

hay qua hai câu thơ rất gợi hình sau đây:

Em khoe áo mỏng giữa trời,

Cho anh nhìn thấy núi đồi thảo nguyên.

… thì thấy các bạn canadiens chí lý thật!

Đấy là tôi mượn bài thơ tả cái váy mà sửa lại

nên núi đồi quả tôi có thấy, còn thảo nguyên thì không.

Nhà thơ Nguyên Sa mà viết thơ tình thì ai không mê ? Nhưng đến bài thơ ít người biết này, tựa là “Tương tư” thì không bài nào qua được, để tả chếc áo dài:

Có phải em mang trên áo bay,

Hai phần gió thổi, một phần mây.

Hay là em gói mây trong áo,

Rồi thổi cho tà áo trắng bay ?

Bạn đã thấy gió chưa ?

Phi Phuong Nguyen goi


 

Cuộc bỏ phiếu bằng chân!

Lê Diễn Đức

*Cuộc bỏ phiếu bằng chân!*

Một câu chuyện đáng chú ý vừa diễn ra tại Oleshky, vùng Kherson đang bị Nga chiếm đóng.

Trong một thỏa thuận ngừng bắn cục bộ vì mục đích nhân đạo, vào ngày 30 tháng 10 Nga và Ukraina phối hợp mở hành lang sơ tán dân thường. Người dân được tự do lựa chọn nơi mình muốn đến: Ukraina hay Nga. Và kết quả thật đáng suy ngẫm!

Trong số 21 xe buýt chở người sơ tán:

– 17 xe, chở hơn 500 người, chọn trở về vùng lãnh thổ do chính phủ Ukraine kiểm soát.

– 4 xe, chở khoảng 100 người, chọn đi sâu vào các khu vực do Nga kiểm soát hoặc sang lãnh thổ Nga.

Điều trớ trêu là những người chọn trở về Ukraine phải đi một hành trình vòng vèo qua Crimea, đến Anapa (Nga), rồi bay sang Belarus, sau đó tiếp tục đi xe buýt về phía bắc Ukraine.

Một hành trình dài và phức tạp, nhưng họ vẫn chọn trở về!

Bấy lâu nay, Điện Kremlin luôn tuyên truyền rằng người dân những vùng đất bị sáp nhập đều muốn trở thành công dân Nga. Nhưng khi được tự do lựa chọn, người dân lại đưa ra câu trả lời bằng chính đôi chân của mình.

Không cần những cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự kiểm soát của quân đội. Không cần những con số phần trăm đẹp đẽ trên truyền hình Nga.

21 chuyến xe buýt, hơn 600 con người và một cuộc bỏ phiếu bằng chân!

Có thể chiếm đất bằng xe tăng, nhưng lòng dân thì không thể chiếm bằng tuyên truyền.

Putin nhìn hình ảnh thật này có lẽ tức hộc máu, còn những kẻ phò Nga ngố thì nên câm cái miệng lại! 


 

KHÔNG ĐỂ MẤT MỘT AI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai”.

“Nơi không còn ai có thể đồng hành với con, nơi con không thể mang theo bất cứ điều gì, Ta sẽ đợi con ở đó, để biến bóng tối thành ánh sáng!” – Bênêđictô XVI

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc ra đi mà không có ai đồng hành; nhưng cũng có những cuộc ra đi mà vẫn có một Đấng đợi để đón người đã khuất vào sự sống. Lời Chúa lễ Các Đẳng Linh Hồn mở ra niềm hy vọng ấy: Đức Kitô ‘không để mất một ai!’.

Chúa Giêsu không chỉ hứa giữ những ai Chúa Cha trao phó, nhưng còn cho họ sống lại trong ngày sau hết. Đức Lêô XIV gợi một nghịch lý: tưởng nhớ người chết là tưởng nhớ tương lai! Chúng ta đến nghĩa trang để nhớ một cuộc đời đã qua; đến đó, Đức Kitô lại hướng chúng ta về tương lai đời đời của họ. Người đã mất không chỉ thuộc về ký ức của con người, nhưng còn thuộc về lời hứa của Thiên Chúa.

Thế nhưng, trước hai lần hứa cho người chết phục sinh, Chúa Giêsu đã nói một điều gần gũi hơn: “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài!”. Con người có thể đánh mất nhiều điều, kể cả ý thức về phẩm giá; nhưng vẫn được Ngài đón nhận khi trở về. Ân sủng đi trước hoán cải; chính lòng thương xót của Ngài mở đường cho tội nhân được cứu độ. “Trái Tim rộng mở của Ngài đã đi trước chúng ta, đang chờ đợi chúng ta – vô điều kiện!” – Phanxicô.

Đó cũng là niềm hy vọng của Gióp, một người đã mất gần như tất cả, nhưng vẫn quả quyết: “Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ!”. Giữa những gì đã mất, Gióp không chỉ mong được phục hồi; ông khao khát chiêm ngưỡng chính Đấng mà ông chưa hiểu hết. Ông tin ngay cả sự chết cũng không thể ngăn ông nhìn thấy Ngài. Gióp không biết tương lai sẽ ra sao; chỉ biết Đấng nắm giữ tương lai mình hằng sống. “Tôi vững vàng tin tưởng, sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta thường day dứt vì những điều chưa kịp làm cho người đã khuất; họ cũng có những lỗi lầm chưa kịp đền bù. Nhưng Chúa Kitô đã yêu người đi kẻ ở “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” – bài đọc hai. Vì thế, chúng ta phó thác người thân cho lòng thương xót Chúa. Có những món nợ yêu thương chỉ còn biết gửi vào lời cầu nguyện. Đó không phải là cố níu giữ, nhưng là trao họ cho một tình yêu lớn hơn.

Anh Chị em,

Tình yêu lớn hơn ấy được tỏ lộ nơi Đức Kitô: Ngài không chỉ hứa cho những ai đến với Ngài được sống lại trong ngày sau hết; Ngài còn đi vào chính sự chết để thực hiện lời hứa ấy. Nơi con người chỉ thấy kết thúc, Ngài mở ra một tương lai: những kẻ phải chết được bước vào sự sống của Cha! Đó là niềm hy vọng của Hội Thánh khi cầu nguyện cho người đã khuất, vì Ngài ‘không để mất một ai!’. “Chỉ nhờ Chúa Giêsu Kitô, chúng ta mới hiểu được sự sống và sự chết!” – Blaise Pascal.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không giữ nổi người con thương, xin giữ họ; con không sửa được chuyện đã qua, xin xót thương; và khi không thấy ngày mai của họ, cho con biết cậy trông!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI – 02/11

 https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/02.html   

Ai tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 6,37-40

37 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”