Biển không nói – HỒI KÝ THUYỀN NHÂN !

Biển không nói

Thuyền nhân !

Hồi ký này không được viết để kể lại một chuyến đi, mà để ghi nhận những gì đã không thể trở về cùng người sống sót.

Những trang sau không tìm kiếm sự cảm thông, không yêu cầu phán xét, và cũng không mong được tha thứ.

Chúng chỉ tồn tại vì có những điều đã xảy ra ngoài khơi xa, nơi luật pháp không với tới, và sự im lặng đã kéo dài quá lâu.

Nếu còn điều gì cần nói, thì chỉ một điều này:

Biển không nói.

Nhưng con người thì phải nhớ.

HỒI KÝ THUYỀN NHÂN

Tôi rời bến vào một buổi sáng không gió.

Nước sông đục, mùi bùn và dầu máy quyện vào nhau như một lời tiễn biệt không ai nói ra. Tôi không quay đầu. Không ai trong chúng tôi quay đầu. Quay lại để làm gì, khi phía sau đã khép lại bằng sợ hãi, và phía trước, dù là biển, vẫn còn một chữ “sống” mỏng manh để bám.

Con thuyền nhỏ hơn tôi tưởng. Người thì nhiều hơn. Chúng tôi ngồi ép vào nhau, vai chạm vai, đầu gối chạm đầu gối, nhưng ai cũng cô độc theo cách riêng. Có người ôm một túi gạo như ôm sinh mạng. Có người nắm chặt tay con, như thể chỉ cần buông ra là đứa trẻ sẽ rơi khỏi đời này.

Những ngày đầu, biển hiền. Sóng nhỏ. Trời cao. Chúng tôi chia nhau từng ngụm nước, từng miếng bánh khô. Mỗi sáng mặt trời lên, tôi tự nhủ: thêm một ngày. Đến đêm, tôi lại tự nhủ: chưa chết. Chỉ cần hai câu đó là đủ để đi tiếp.

Rồi nước cạn.

Rồi người bắt đầu lả đi.

Rồi hải tặc đến.

Biển đêm hôm đó lặng đến lạ kỳ. Chúng tôi, những con người xa lạ gom góp niềm tin vào một chiếc ghe nhỏ, nhìn về phía chân trời với hy vọng đổi đời. Thế nhưng, hy vọng ấy vụt tắt khi một chiếc tàu lạ vọt tới.

Dưới ánh đèn pha quét qua quét lại như mắt quỷ, những gương mặt đen sạm, tay lăm lăm vũ khí nhảy xổ lên tàu. Lúc đó, biển không còn là mẹ hiền nữa, biển trở thành một hố đen sâu thẳm sẵn sàng nuốt chửng lấy chúng tôi.

Không có cảnh hỗn loạn như trong phim. Chỉ là một chiếc tàu xuất hiện quá nhanh, tiếng máy nổ đột ngột xé toạc sự im lặng mà chúng tôi đã quen. Họ bước lên thuyền như bước vào chỗ của mình. Ánh mắt họ lướt qua từng người, không tò mò, không do dự. Tôi hiểu ngay lúc đó: chúng tôi không phải là con người trong mắt họ.

Tôi bị chọn.

Không vì lý do gì đặc biệt.

Chỉ vì tôi còn trẻ.

Khoảnh khắc rời con thuyền cũ, tôi nhớ rất rõ bàn tay một người đàn bà khác nắm lấy tay tôi rồi buông ra. Không ai nói gì. Trên biển, lời nói là thứ xa xỉ. Chúng tôi học cách im lặng để sống.

Những ngày sau đó, thời gian mất hình dạng. Tôi không còn đếm ngày. Tôi đếm nhịp thở. Tôi tồn tại như một cái bóng, làm mọi thứ chỉ để tránh điều tệ hơn. Tôi học được rằng cơ thể có thể chịu đựng rất nhiều, nhưng tâm trí thì không quên. Nó ghi lại mọi thứ, lặng lẽ, để dành cho những năm sau.

Khi họ trả tôi về, không có lời giải thích. Tôi trở lại con thuyền cũ như một người khác. Không ai hỏi. Tôi cũng không kể. Chúng tôi nhìn nhau bằng một thứ ánh mắt mà chỉ những người đã đi qua biển mới hiểu: đừng mở ra. Có những chuyện, nếu mở ra giữa đại dương, thì tất cả sẽ chìm.

Chúng tôi trôi thêm nhiều ngày nữa. Có người chết. Có người được thủy táng , thả xuống nước, không kèn không trống. Biển nhận người rất nhanh. Nhanh đến mức đáng sợ.

Khi con tàu cứu hộ xuất hiện ở phía chân trời, tôi đã không khóc nổi. Nước mắt đã cạn khô từ những ngày lênh đênh trên “vùng biển chết”. Tôi hiểu rằng, mình vừa từ cõi chết trở về, mang theo những vết sẹo không bao giờ mờ trong tâm khảm.

Cuối cùng, chúng tôi đến được bờ. Đất liền dưới chân tôi không vững như tôi tưởng. Tôi run. Không phải vì mệt, mà vì cơ thể không còn biết thế nào là an toàn.

Ở trại tị nạn, người ta phát cho tôi một con số. Hỏi tôi vài câu. Ghi chép. Họ hỏi tôi có bị làm hại không. Tôi gật đầu. Chỉ vậy. Tôi không có từ ngữ để giải thích, và tôi cũng không muốn giải thích. Có những điều, khi nói ra, người nói sẽ phải sống lại thêm một lần nữa.

Những năm sau đó, tôi định cư. Tôi học ngôn ngữ mới. Tôi đi làm. Tôi lập gia đình. Tôi sinh con. Bề ngoài, đời tôi giống như rất nhiều đời khác: cần cù, lặng lẽ, không gây chú ý. Nhưng bên trong, tôi luôn mang theo biển.

Biển theo tôi vào giấc ngủ.

Vào mùi nước mặn khi rửa cá.

Vào tiếng máy tàu nghe thấy từ rất xa.

Có những đêm tôi thức giấc, tim đập nhanh, cơ thể co lại như đang ở trên boong tàu cũ. Tôi phải chạm tay vào tường, vào sàn nhà, để nhắc mình rằng tôi đang ở đây, trên đất liền, an toàn. An toàn, một khái niệm tôi mất rất lâu mới dám tin.

Tôi không kể chuyện này cho con tôi. Tôi không muốn biển đi theo nó. Nhưng tôi viết ra đây, vì nếu tôi không viết, thì những gì đã xảy ra sẽ chỉ còn tồn tại trong im lặng. Và im lặng, tôi đã hiểu, là thứ đã che chở cho tội ác quá lâu.

Tôi không cần được thương hại.

Tôi chỉ cần được ghi nhận.

Chúng tôi đã vượt biển không phải để trở thành nạn nhân trong ký ức người khác, mà để sống. Nhưng cái giá của việc sống sót, có những người phải trả suốt cả đời.

Nếu bạn đọc đến đây, xin nhớ một điều:

chúng tôi không phải là con số.

không phải là chú thích lịch sử. chúng tôi là những người đã mang biển vào trong người, và vẫn phải học cách sống tiếp, trên đất liền.

Tôi đã đi qua biển.

Biển không nói gì.

Những điều mất đi

không trở lại cùng tôi.

Tôi còn sống.

Chỉ vậy thôi.

Phạm Sơn Liêm. Từ FB Lamkim Trong


 

Út ơi! – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Xe ngựa – và em không còn ngồi sau lưng tôi nữa .

Ở cái xứ miệt vườn Cái Bè, người ta nhớ nhau bằng nhiều thứ: một câu hò buồn giữa buổi chiều sông vắng, một ánh đèn dầu leo lét trên ghe chài khuya, hay… tiếng xe ngựa lóc cóc lăn bánh trên đường đất đỏ mỗi sáng tinh mơ.

Còn tôi – tôi nhớ một người qua cái thùng xe gỗ ọp ẹp mà tôi đã cặm cụi đánh hàng ngày: “Tui đánh xe ngựa.”

Không sang, không hào nhoáng. Nhưng chiếc xe ngựa của tôi từng là… cả bầu trời của một người con gái. Út ơi!

Mỗi sáng, em đi học trên xe tôi. Ngồi phía sau, em hay cười, hay nói, đôi khi ngồi im nhìn nắng rơi qua kẽ lá.

Em đi xe ngựa của tui mỗi ngày đi học. Tôi chẳng dám nói thương em. Chỉ lặng lẽ vỗ về chú ngựa già, mong cho đường dài bớt xóc, cho em ngồi êm hơn chút. Mỗi khúc cua là tim tôi khẽ nghiêng theo chiếc áo dài trắng bay trong gió.

Rồi có ngày, em thôi học, áo dài cất lại trong rương quần áo cũ thời con gái; mái tóc thắt bím không còn nữa. Người ta nói ba má em gả em lấy chồng xa – cho một tay giàu có ở miệt sông Cổ Chiên

“Em thôi học đi lấy chồng.” Đám cưới em, nhà trai thuê nguyên đoàn xe nga, 8 chiếc, rước dâu về tận xứ.

Chồng em mướn xe ngựa để rước dâu. Người ta chọn xe tôi để chở em, vì xe tôi “chạy êm”, “không xóc”, và… có mui lợp lá dừa khô đẹp và thơ.

Mà đâu ai biết chính tôi là người chở em vu quy**.

Tôi cầm cương, mặc áo bà ba sạch sẽ nhất, cột khăn rằn, để khỏi ai thấy nước mắt của tôi.

Phía sau, em ngồi e ấp, áo dài đỏ, đội mấn, miệng mỉm cười mà mắt thì ngó lơ.

Người ta nhìn cảnh đó, chắc nghĩ tôi “may mắn được làm xà ích chính”. Nhưng chỉ tôi biết, hôm đó xe ngựa chạy lạng quạng, vì nước mắt rớt lăn trên tay cầm roi ngựa…

Chiếc xe ngựa– cái vật vô tri mà biết bao nhiêu chuyện đời đã từng lăn qua thùng xe ấy.

Đám cưới xưa ở Miền Tây – ảnh vnexpress

Nó có thể chở rau, chở trái cây ra chợ quận. Nhưng cũng chở luôn cả những mối tình không trọn vẹn! Út ơi

Xe ngựa không ồn ào như xe lam, không bon chen như xe đò. Nó chậm rãi, thủng thẳng, chân chất như người miền Nam xưa nay vậy. Nó đi qua sông, qua ruộng, qua xóm, qua nhà em… và đi qua luôn tuổi trẻ, thời tình mộng của tôi

Ngày trước, người Pháp thấy xe ngựa mình chạy ở Bến Thành thì kêu là *boîte d’allumettes* – “hộp quẹt diêm”, vì nhỏ nhỏ xinh xinh. Người Tàu gọi là “thu ma”, rồi dân mình đọc trại thành “thổ mộ”. Còn tôi – tôi gọi đơn giản: “cái xe chở người mình thương đi học mỗi ngày.”

Chiếc xe ngựa ấy có hai bánh căm xe, niềng sắt rỉ sét, mui phủ lá dừa khô, cái thùng bên trong lót chiếu bông. Ngoài xe là hai thanh gỗ nhỏ để buộc đồ. Có hôm, tôi chở năm sáu đứa nhỏ đi học, tụi nó cười giòn tan như chuông chùa bị gió lắc.

Xe ngựa đi chậm, nên người trên xe có thể ngó đồng lúa đang trổ bông, ngó sông nước lặng lờ, ngó lưng người gánh nước, hoặc… ngó nhau một chút rồi thương.

Xe ngựa ở Bến Thành kêu là “boite d’allumettes” thời Pháp – ảnh tư liệu

Nhưng xe chậm thì người ta cũng dễ bỏ lắm. Thời đại bây giờ là xe hơi, “ô tô hí” ai kể số gì? Ai mà còn nhớ đến mấy chiếc bánh gỗ kêu lạch cạch đâu?

Giờ đây, tôi không còn đánh xe nữa. Con ngựa già chết năm rồi, tôi đem chôn sau vườn, không ai chịu mướn xe đi chợ nữa.

Chỉ còn vài chỗ ở Mỹ Tho, Cái Bè còn cho xe ngựa chạy cho khách du lịch. Nhưng đó không phải xe ngựa ngày xưa. Đó là xe cho người không biết chiếc thùng xe từng là chỗ tôi chở thương yêu – rồi tiễn biệt thương yêu.

Tôi nghe nói em bây giờ theo chồng qua Melbourne ở xa xa lắm. Tuốt bên kia biển. Nhà chồng em sang, cửa kính, sáng đèn. Em có con, có xe hơi, có đời sống không còn dính dáng gì tới con ngựa lông vàng, xe bánh gỗ và người đánh xe nghèo năm cũ
Nhưng tôi không giận gì em. Vì trong đời, có người đi qua tim mình, để lại tiếng vó ngựa chạm đất – thế là đủ.

Xe ngựa – và mối tình không cần bánh xe quay lại.

Một thời lóc cóc, một thời lặng thinh…để chỉ biết yêu em! Út ơi!

DXT

From: Helen Huong Nguyen


 

KHE HỞ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bấy giờ Người lên tiếng dạy họ. Phúc thay ai…!”.

“Hạnh phúc không phải là phần thưởng cho nhân đức, nhưng là sự tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa!” – Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, hạnh phúc không là phần thưởng cho người xứng đáng, nhưng là lối mở để con người được dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa. Mỗi Mối Phúc không phải là một huy chương, nhưng là một ‘khe hở’ cho ân sủng len vào.

Chúng ta nghĩ hạnh phúc khi mọi sự đầy đủ; Chúa Giêsu lại nói, hạnh phúc bắt đầu nơi thiếu thốn. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, đói khát công chính… không phải là thất bại, nhưng là những vết nứt mà qua đó, Thiên Chúa có chỗ chen vào. Sôphônia gọi đó là “những ai nghèo hèn trong xứ sở” – bài đọc một; Phaolô nói đó là những kẻ bé mọn được yêu thương, “những gì thế gian cho là hèn mạt” – bài đọc hai; Thánh Vịnh đáp ca xác quyết, Thiên Chúa đứng về phía những kẻ thấp hèn.

Không phải Thiên Chúa thiên vị sự yếu đuối, nhưng vì Ngài tìm thấy ở đó một khoảng mở. Bởi đó, thần học của Bát Phúc không ca ngợi sự khốn cùng, nhưng mặc khải một nguyên lý: Thiên Chúa thông ban chính mình cho ai biết mình cần Ngài! Vậy câu hỏi đặt ra là: chúng ta có thực sự cần Thiên Chúa không? Vấn đề không phải chúng ta mạnh đến đâu, nhưng chúng ta có khép kín không? Chúng ta có đang lấp đầy đời mình bằng thành công, an toàn, và cả những đạo đức tự mãn? Khi chúng ta khoác mã giáp kín mít, ân sủng bị đẩy ra; khi chấp nhận mình bé nhỏ, một ‘khe hở’ xuất hiện. “Bạn không thể vượt qua những gì bạn không thừa nhận!” – Iyanla Vanzant.

Nơi Chúa Kitô, chúng ta không chỉ thấy ‘tám khe hở’ của một đời sống nghèo, hiền lành, chịu bách hại; nhưng còn là một “Hữu Thể mở”. Ngài mở ra không chỉ những khoảng của thân phận, nhưng mở cả ý chí, trí khôn và trái tim cho Chúa Cha, Đấng sai Ngài. Sự vâng phục ấy không thu hẹp Ngài, nhưng làm cho Ngài trở thành nơi sự sống Thiên Chúa lưu chuyển tự do vào lịch sử nhân loại; qua đó, Ngài mở trọn chính mình cho con người – chạm đến, chữa lành, tha thứ, trao ban và hiến dâng. Đức Kitô bị đóng đinh tiết lộ một Thiên Chúa mở toang ra vì tình yêu! “Trái tim Ngài là một đại dương vô tận của việc trao ban chính mình!” – Nicholas Afanasiev.

Anh Chị em,

Nếu hạnh phúc là được tham dự vào sự sống Ba Ngôi, thì Bát Phúc quả là những hình thái của sự hiệp thông ấy. Nghèo khó là hiệp thông với sự tự huỷ của Chúa Con; hiền lành là hiệp thông với sự vâng phục của Ngài; sầu khổ là hiệp thông với trái tim biết đau của Thiên Chúa; chịu bách hại là hiệp thông với tình yêu Ngài bị khước từ. Như vậy, mỗi Mối Phúc không chỉ nói về một thái độ luân lý, nhưng về một sự dự phần vào chính đời sống của Chúa Kitô – Đấng không chỉ tỏ cho chúng ta con đường đến với Chúa Cha, nhưng Ngài là Đường, là Sự Sống của Thiên Chúa – một Ơn Cứu Độ mang hình hài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa thành công, xin giữ con bé nhỏ; giữa tổn thương, xin giữ con hiền lành; giữa khước từ, xin giữ con ở lại trong tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN IV THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Tin Mừng: Mt 5,1-12a

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng:

3“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12aAnh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”


 

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Chuyện tuổi Xế Chiều

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Bài viết của một tác giả không nhớ rõ tên, có một nội dung quá thâm thúy, dành cho những ai trong tuổi Cao Niên nếu muốn có một đời sống hạnh phúc trong những ngày còn lại trên trần gian này, trước khi thân xác trở về cát bụi thì nên suy luận những điều được nêu ra trong bài viết này.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm: “Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời, ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt.

Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ.

Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghĩ đến đồng tiền, đừng nghĩ đến giàu hay nghèo nữa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khỏe mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống của tuổi già.

Bài và ảnh sưu tầm


 

Thông Báo Mở Khoá Căn Bản của Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân và Gia Đình

CHƯƠNG TRÌNH THĂNG TIẾN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

TỔNG GIÁO PHẬN GALVESTON-HOUSTON

 Thông Báo

Thông Báo Mở Khoá Căn Bản của Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân và Gia Đình ( CTTTHNGĐ) của Tổng Giáo Phận Galveston – Houston

Kính thưa  Cha Linh Nguyền GioaKim-Piô  Nguyễn Duy Lộc, CSsR.   Kính thưa quý Anh Chị  Song Nguyền.

Để nâng cao đời sống hôn nhân gia đình thêm hạnh phúc và là nền tảng của  giáo hội. CTTTHNGĐ sẽ tổ chức mở khóa  căn bản thuộc Tổng giáo phận Galveston-Houston và Vùng Phụ Cận.

Thời gian: từ 6 giờ chiều thứ Sáu, ngày 5 tháng 6 năm 2026 đến 6 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 7 tháng 6 năm 2026.

Địa điểm: Nhà Tĩnh Tâm Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

3417 W. Little York Rd

Houston, TX 77091

  Dưới sự hướng dẫn của Cha Linh Nguyền toàn khóa và Ban điều hành, cùng 1 số Anh Chi Em giáo dân là chứng nhân trong đời sống hôn nhân gia đình chia sẽ và giúp đỡ.

 Sẽ có chỗ nghỉ ngơi cho tất cả quý Anh,Chị, Em.

 Kính xin Cha và quý Anh Chị Song Nguyền cầu nguyện cho khóa được thành công tốt đẹp.

 Nguyện xin ơn phù hộ của Thánh Gia nâng đỡ và chúc lành cho Khóa.

Trân trọng

 BĐH.

SN – Hoàng Thy.


 

TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI TRẦN GIAN – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

  Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu (Mt 5, 1-12) Chúa nhật IV thường niên)

Sứ điệp: Có tinh thần nghèo là trút bỏ mọi thứ quyến luyến của cải trần gian để mở rộng tâm hồn đón nhận Thiên Chúa.                                                  

                                                         ***

Bài Tin mừng Mat-thêu 5,1-12 thường được gọi là Tám Mối Phúc Thật (hay Bát phúc), là phần mở đầu nổi bật nhất của bài giảng trên núi (Mt 5-7). Đây là một trong những đoạn Kinh thánh quan trọng nhất trong Tân ước, được xem là Hiến chương Nước Trời. Qua đoạn nầy, Chúa Giê-su công bố TÁM CON ĐƯỜNG dẫn đến hạnh phúc đích thực.

Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy niệm về mối phúc thứ nhất: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”

Qua câu nầy, Chúa Giê-su không có ý chúc mừng những người nghèo nàn thiếu thốn, nhưng Ngài chúc phúc cho những ai có tinh thần nghèo, đó là những người:

  •      Không cậy dựa vào của cải;
  •      Không bám víu vào công danh sự nghiệp đời nầy;
  •      Dứt bỏ mọi đam mê trần tục…

Tóm lại, người nghèo khó trong tinh thần là người biết TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI TRẦN GIAN ĐỂ HƯỚNG TÂM HỒN VỀ VỚI CHÚA LÀ CÙNG ĐÍCH CỦA ĐỜI MÌNH.

Chúng ta hãy nhìn xem: Một người ăn xin đứng bên vệ đường. Ông không có gì trong tay: không tiền, không bị, không đồ đạc… mà chỉ có một bàn tay mở ra, hướng về người đi đường.

Thử hỏi: Nếu bàn tay ấy nắm chặt tiền bạc, mang nhiều vật dụng bên mình… thì người qua lại có cho thêm gì nữa không? Chắc hẳn là không.

Chỉ khi bàn tay trống không, cũng chẳng có vật dụng gì trên người, người ấy mới có thể đón nhận sự trợ giúp của người khác.

Hoặc khi người ăn xin chìa một chiếc tô lớn ra trước những người qua lại để xin ăn, nhưng tô ấy đã chứa đầy cát sạn, thì không ai có thể trao tặng gì thêm. Phải làm rỗng tô đi, thì sẽ được người khác tặng cho đầy tràn.

Tương tự như thế, người không có tinh thần nghèo, bị lôi cuốn bởi vàng bạc, giàu sang phú quý đời nầy, tâm hồn họ đầy những đam mê thế tục… thì còn chỗ đâu mà  đón nhận hồng phúc từ Trời.

Trái lại, người có tinh thần nghèo khó BIẾT TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI THẾ GIAN và MỞ TÂM HỒN RA VỚI CHÚA, đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa, Ngài sẽ ban cho họ được dư đầy ơn phúc và được hưởng Nước Trời. Chính vì thế, Chúa Giê-su dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa Giê-su đã sống tinh thần nghèo đến tận cùng. Chúa đã trút bỏ vinh quang của một Đấng đồng hàng với Chúa Cha để xuống thế làm người hèn mọn, sống nghèo đến nỗi phải chết trần, chết trụi trên Thập giá chẳng còn tấm áo che thân.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để sống tinh thần nghèo khó, chấp nhận trút bỏ hết mọi sự và chỉ bám chặt vào Chúa mà thôi. Nhờ đó, chúng con sẽ vô cùng giàu có vì sở hữu được Nước Trời. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 **********************

Tin mừng Mat-thêu 5, 1-12

1 Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.2 Người mở miệng dạy họ rằng:

3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

4 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

5 Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

12 Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 13:13)-Cha Vương

Chúc bạn một ngày thật tốt lành an bình trong tay Ba Đứng. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 30/01/2026  (cn-22)

TIN MỪNG: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 13:13)

SUY NIỆM: Thánh Gioan Phaolô II có nói: “Con người không thể sống mà thiếu vắng tình yêu. Họ sẽ không hiểu họ là gì, sẽ cảm thấy cuộc đời họ là vô nghĩa, nếu họ không đón nhận mạc khải tình yêu, không gặp gỡ tình yêu, không cảm nghiệm tình yêu, không đồng hoá tình yêu, không mạnh dạn tham dự vào tình yêu”. Nếu tình yêu là nhu cầu thiết yếu và là động lực chính yếu cho mọi hoạt động và mọi liên hệ của con người thì tại sao lại có những cuộc chia tay để lại những vết thương bi đát và đau đớn hỉ? Có lẽ bởi vì họ yêu không đúng cách, không đúng với điều mà Chúa mong muốn. Họ yêu theo kiểu thường tình, trần tục, có yêu nhưng không có thương. Họ yêu không như Chúa yêu. 

Vậy Đức Mến là gì? Đức Mến là ơn yêu thương. Yêu và thương! Không thể nào có cái này mà lại không có cái kia được. Đức Mến không phải là thứ tình yêu thường tình được diễn cảm theo bản năng, nhưng là tình yêu sâu đậm và bền vững bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương nhân loại bằng một tình yêu thuần khiết, vô giới hạn, cụ thể qua việc sáng tạo và cứu chuộc. Thiên Chúa đã ghi khắc tình yêu của Người vào lòng mỗi người chúng ta, nhưng nó còn phải được tinh luyện hằng ngày để đạt tới tầm vóc của Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì yêu.

Mình xin nhắc lại loại tình yêu này phải được TINH LUYỆN HẰNG NGÀY! Để bảo đảm cho sự trưởng thành và sử bền bỉ trong mọi liên hệ: vợ chồng, gia đình, thân nhân, bạn bè…  mời bạn hãy lấy “Bài Ca Đức Mến” (1Cr 13,1-13) thật tuyệt vời của thánh Phaolô làm kim chỉ nam để tự xét mình mỗi ngày coi cách mình yêu như thế nào nhé: Giả như bạn có làm được mọi sự trên thế gian này, “mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được.” (1 Cr 13:3-8) 

Bạn có cảm thấy lương tâm mình bị áy náy khi suy gẫm Bài Ca Đức Mến này không? Ước mong bạn hãy vạch ra cho mình một hướng cụ thể để thay đổi cái nhìn về tình yêu và để làm cho những mối liên hệ hằng ngày của mình được trở nên tốt đẹp và bền bỉ hơn. 

LẮNG NGHE: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu… nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. (1 Ga 4:7,8,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con luôn luôn ao ước những gì tốt nhất cho anh em con hôm nay.

THỰC HÀNH: Suy niệm Bài Ca Đức Mến và đọc kinh Ăn Năn Tội hoặc Kinh Cáo Mình.

 From: Do Dzung

******************

Xin định nghĩa tình yêu – Hoàng Chương (Lm.Cao Huy Hoàng)

BỜ BÊN KIA-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng ta sang bờ bên kia đi!”.

“Cuộc sống bắt đầu nơi vùng an toàn của bạn kết thúc!” – Neale Walsch.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, rời vùng an toàn, bạn mới thực sự sống! Lời Chúa hôm nay cho thấy, thật cần thiết để rời vùng an toàn; tin giữa sóng gió; và lớn lên trong ân sủng, để tới ‘bờ bên kia!’.

Nhưng ‘bờ bên kia’ không là một chuyến du ngoạn; vì vừa rời bến, bão nổi. Thuyền chao đảo, nước tràn vào, kinh nghiệm bao năm trở nên bất lực. Có những cơn bão xảy đến không vì chúng ta đi sai đường, nhưng vì đi đúng đường; không vì bất tuân, nhưng vì vâng phục. Để rồi, điều làm hoảng sợ không chỉ là sóng lớn, mà là sự im lặng của Thiên Chúa, Đấng hiện diện mà dường như không can thiệp theo cách được mong đợi. “Chúng ta chết mất!” – bật ra khi nỗi sợ lớn hơn niềm tin. Nhưng Ngài đã nói “qua”, thì không thể “chìm!”. Đức tin không bảo đảm hành trình êm ả; nhưng bảo đảm đích đến! “Từ những gì đã thấy, tôi học cách an tâm về những gì chưa thấy trong tay Đấng Tạo Hoá!” – Ralph Emerson.

Vậy mà có những bờ bên kia không ở phía trước, mà ở bên trong. Đavít sau khi phạm tội không đối diện với bão biển, nhưng với bão lòng. Khi ngôn sứ Nathan vạch trần sự thật, con người quyền lực bỗng trơ trọi – bài đọc một – vinh quang không trấn an nổi một tâm hồn đã lệch hướng. Thuyền đời đầy nước! Giữa đổ nát, Đavít không chạy trốn, nhưng cầu xin, “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Từ đau khổ đã xuất hiện những tâm hồn mạnh mẽ nhất!” – Kahlil Gibran. Đó là cố qua ‘bờ bên kia’ – từ che đậy sang thú nhận, từ tự mãn sang sám hối, từ cứng cỏi sang mềm mại. Một hải trình không đổi chỗ, nhưng đổi lòng; không vượt sóng gió, nhưng vượt qua chính mình.

Cũng thế, chúng ta thường xin Chúa dẹp yên hoàn cảnh, nhưng Ngài muốn tái tạo trái tim. Chúng ta xin sóng lặng; Ngài xin chúng ta mở lòng. Bão tố ngoài biển hay bão tố trong tim, cả hai đều có thể trở thành nơi con người gặp Chúa sâu hơn. Khi trái tim đổi mới, chúng ta nhận ra ‘bờ bên kia’ không còn xa. “Thế giới làm mọi người tan vỡ; và rồi, có những người trở nên mạnh mẽ ngay nơi đã từng tan vỡ!” – Ernest Hemingway.

Anh Chị em,

“Sang bờ bên kia đi!”. Đức Kitô không chỉ dạy; chính Ngài đã sang trước. Ngài rời “bờ” vinh quang, bước vào biển động phận người. Và ‘bờ bên kia’ cuối cùng của Ngài là Calvariô. Ở đó, con thuyền nhân tính tưởng như chìm; Chúa Cha lặng thinh; bóng tối phủ kín. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, một cuộc vượt qua âm thầm diễn ra. Thập giá không là đắm tàu, nhưng là cập bến, mở ra sự sống mới. Vậy mỗi khi sợ hãi trước sóng gió hay tội lỗi mình, hãy nhớ, Ngài đã đi qua biển sâu nhất của khổ đau và tội lỗi để mở lối. Đi về phía Ngài, bạn và tôi không chỉ qua một bờ khác, mà được đưa vào chính sự sống của Đấng Phục Sinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi biển đời nổi sóng, xin giữ con bình an; khi lương tâm dậy bão, xin giúp con sám hối; khi con la đà vì tội lỗi, xin rửa con để nên sạch trong!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần III Thường Niên

Người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 4,35-41

35 Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !” 36 Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người. 37 Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. 38 Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói : “Thầy ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao ?” 39 Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển : “Im đi ! Câm đi !” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. 40 Rồi Người bảo các ông : “Sao nhát thế ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao ?” 41 Các ông sợ hãi kinh hoàng và nói với nhau : “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”


 

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Một báo cáo của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế) cho biết Campuchia đang đối diện với một “cuộc khủng hoảng nhân đạo” sau khi hàng ngàn người bị buôn người ép làm việc trong các khu lừa đảo trực tuyến đã trốn thoát khỏi cảnh giam cầm. Nhiều nạn nhân ra đi trong tình trạng sang chấn tâm lý nặng nề và hầu như không nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ các nước quê hương của họ tại châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ.

Theo báo cáo, một người trốn thoát bị rạch cổ, nhiều thi thể bị chất đống, phụ nữ bị hãm hiếp, có người bị chặt ngón tay. Cảnh sát Campuchia bị cáo buộc thường xuyên lui tới các khu phức hợp nơi nạn nhân bị ép thực hiện các trò lừa đảo trực tuyến, thường gọi là “pig butchering” (vỗ béo con mồi), nhưng không can thiệp.

Bà Montse Ferrer, Giám đốc Nghiên cứu Khu vực của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế), nhận định:

“Làn sóng người tháo chạy khỏi các khu lừa đảo này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo trên đường phố, nhưng đang bị chính phủ Campuchia phớt lờ.

Giữa những cảnh hỗn loạn và đau khổ, hàng ngàn người sống sót mang sang chấn đang tự xoay xở mà không có hỗ trợ của nhà nước.

Đây là khủng hoảng quốc tế trên đất Campuchia. Các nạn nhân đến từ nhiều châu lục và rất cần sự hỗ trợ lãnh sự khẩn cấp để có thể hồi hương và thoát khỏi nguy hiểm.”

Làn sóng tháo chạy gia tăng sau khi ông trùm người Trung Quốc Trần Chí (Chen Zhi) bị trục xuất ngày 6-1. Ông là người sáng lập Prince Bank tại Campuchia và đã bị một tòa án Hoa Kỳ trừng phạt, truy tố; Bộ Tư pháp Mỹ tịch thu 15 tỷ USD tài sản liên quan.

Việc chính quyền Campuchia trấn áp các băng nhóm tội phạm cũng là điều khoản quan trọng trong lệnh ngừng bắn ngày 27-12 chấm dứt cuộc xung đột biên giới kéo dài sáu tháng giữa Thái Lan và Campuchia, nổ ra sau khi Bangkok ra lệnh truy quét xuyên biên giới các trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Mehi kể với Ân xá Quốc tế:

“Tôi bị giam trong khu phức hợp 12 tháng, luôn sợ mất mạng. Rồi một ngày, chúng tôi thức dậy và thấy quản lý đã bỏ đi, bảo vệ cũng biến mất. Cửa cổng mở toang và chúng tôi đi bộ ra ngoài.”

Một người khác cho biết đã chứng kiến một vụ giết người khi một quản lý cắt cổ nạn nhân vì cố trốn thoát. Mười người sống sót khác nói rằng cảnh sát thường xuyên ghé thăm các khu phức hợp, kể cả để đưa thi thể đi, nhưng không có hành động bảo vệ.

Amnesty cho biết đã phỏng vấn 35 người sống sót đến từ nhiều quốc gia như Brazil, Indonesia, Myanmar, Nigeria, Sierra Leone, Liberia, Uganda, Kenya, Bangladesh, Ấn Độ, Philippines và Madagascar; ước tính họ đã thoát khỏi 17 trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Delilah, trốn thoát khỏi khu phức hợp ở Prey Veng (cách Phnom Penh khoảng 90 km về phía đông), kể:

“Nhiều người đã chết. Chúng tôi còn phải góp tiền để đưa thi thể về nước. Người bệnh thì không được giúp đỡ. Tôi nói rằng tôi không thở được…

Khi chúng tôi phá cổng thoát ra, một bảo vệ bắn chỉ thiên. Chúng tôi buộc phải trốn vì có người bệnh nặng, không muốn chết trong đó.”

Các tổ chức chống buôn người tại địa phương nói với Amnesty rằng chính phủ Campuchia không bảo vệ cũng không nhận diện đúng nạn nhân buôn người, khiến họ thiếu hỗ trợ và dễ bị các băng nhóm tội phạm có tổ chức tiếp tục khai thác.

Bà Ferrer cho biết thêm:

“Những người chúng tôi gặp rất sợ hãi. Họ muốn về nhà nhưng không có hộ chiếu, không có tiền, thậm chí không đủ mua vé máy bay.

Chính quyền Campuchia dường như không làm gì, trong khi hỗ trợ của các NGO không đủ, nhất là sau các đợt cắt giảm tài trợ trong năm qua. Chính phủ các nước của họ cần khẩn cấp vào cuộc.”

Các đại sứ quán châu Á tại Phnom Penh đang quá tải vì số nạn nhân mắc kẹt cần trợ giúp. Nhiều người nói với UCA News rằng hộ chiếu bị tịch thu, không thể rời đi vì phạt quá hạn visa, và tay trắng.

Làn sóng tháo chạy tăng tốc sau khi Bộ Công an Trung Quốc ban hành “cảnh báo cứng rắn” ngày 15-1, đề nghị khoan hồng cho những người liên quan đến Chen Zhi nếu tự nguyện đầu thú. Trước các cổng sứ quán, trong đó có lãnh sự quán Trung Quốc, hàng dài người xếp hàng, nhiều người dựng lều chờ đợi. Indonesia xác nhận hơn 2.270 công dân của họ đã trốn thoát, có thời điểm 200 người mỗi ngày.

Những phát hiện của Amnesty phù hợp với nhiều báo cáo khác, trong đó có các bài điều tra và phỏng vấn do các NGO và lực lượng cứu hộ công bố trên UCA News. Một báo cáo của Liên Hiệp Quốc từng cho biết hơn 100.000 người đã bị buôn vào 50 trung tâm lừa đảo tại Campuchia.

Khoảng 130 công dân Hàn Quốc đã được giải cứu kể từ tháng 10, trong khi chính phủ Campuchia tuyên bố hơn 3.000 người đã được giải phóng khỏi các khu phức hợp trong năm 2025.

Nguồn: UCA News; Báo cáo của Tổ chức Ân xá Quốc tếl.


 

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) – Nhà văn Giao Chỉ

Hoang Le Thanh

Nhà văn Giao Chỉ

(tức cựu đại tá Vũ Văn Lộc)

(Tháng Giêng 2008)

Ai khanh ai tướng ai thầy thợ,

Cũng đều chung một số kiếp lưu vong! (NPN).

Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.

Mon General: (Tháng 10-2003)

Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.

Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.

Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan.

Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.

Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn Kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.

Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.

Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.

Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai.

Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.

Đ/Tướng Cao văn Viên đi giữa hai thân hữu

Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào, … Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối.

Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút … khi nào … đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.

Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54.

Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên”.

Giao Chỉ – San Jose.


 

Giáo Sư Đoàn Khoách, nguyên phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, qua đời

Ba’o Nguoi-Viet

January 29, 2026

SAN DIEGO, California (NV) – Giáo Sư Đoàn Khoách, tốt nghiệp thủ khoa Viện Hán Học Huế, từng làm giảng viên, trưởng ban Việt Hán, và là cựu phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, vừa qua đời ở San Diego hôm 25 Tháng Giêng, hưởng thọ 96 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Giáo Sư Đoàn Khoách sinh năm 1930 tại Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên.

Giáo Sư Đoàn Khoách. (Hình: Lấy từ cáo phó của gia đình)

Ngoài những thông tin nêu trên, theo tác giả Ngô Văn Ban trong bài viết “Tưởng nhớ Thầy Đoàn Khoách” đăng trên trang web namkyluctinh.org, Giáo Sư Đoàn Khoách từng là trợ lý nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên Cứu Sở thuộc Đại Học Trung Văn (Hồng Kông), là giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons (Anh), và là giảng viên Việt Việt Học (Westminster).

Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, và cư ngụ tại San Diego.

Ông từng có bài viết đăng trong các tạp chí Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt, …

Các tác phẩm của ông đã phát hành là Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965), Văn Tịch Chí (Huế, 1970), Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979), Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981), Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An và Bến Tre 1982, hợp soạn), Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002), Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007, hợp soạn), Tiên Hoa Lục Khảo Chú (SEACAEF, 2008), và Mạnh Nghị Tuyển Tập (Viện Việt Học, Westminster, 2011).

Tang lễ vị giáo sư quá cố sẽ được tổ chức trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai, tại nhà quàn Peek Family, Westminster, theo cáo phó. (Đ.D.)


 

CA ĐÊM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”.

“Thiên Chúa làm việc trong những tầng sâu, nơi ta không thấy, cũng không thể kiểm soát!” – Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ, Thiên Chúa làm việc không ngưng nghỉ để Nước Trời lớn lên theo nhịp của Ngài. Con người không thấy, cũng không thể kiểm soát những gì Ngài làm. Có thể nói, Ngài làm ca ngày lẫn ‘ca đêm!’.

Tin Mừng khẳng định một chuyển động đầy sức sống, “Hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”. Dù chậm, dù âm thầm, nhưng sự sống đang lớn lên theo “nhịp Thiên Chúa” chứ không theo nhịp sốt ruột của con người. Nước Trời không nhảy cóc, dù Thiên Chúa đau đáu xót thương con người và muốn làm những gì có thể ca ngày lẫn ‘ca đêm’ để cứu rỗi họ. Và vì Ngài tôn trọng nhịp trưởng thành của từng linh hồn, nên những khởi đầu của Ngài thường rất nhỏ, nhỏ đến mức chúng ta không thấy nên dễ coi thường. “Cuộc đời là một tiến trình trở thành, một hợp thể của những trạng thái ta phải trải qua!” – Anaïs Nin.

Vậy mà tiến trình ấy không phải lúc nào cũng yên ả. Có những giai đoạn tưởng như tan hoang tựa cánh rừng sau lửa cháy. Không ai mong hoả hoạn, nhưng các nhà chuyên môn vẫn nhận ra rằng, chính dưới lớp tro tàn ấy, đất được làm mới, để những hạt mầm bị vùi sâu có cơ hội bật lên. Cũng thế, trong đời sống thiêng liêng, đôi khi Thiên Chúa cho phép những đổ vỡ xảy ra, không để huỷ diệt, mà để mở đường cho sự hoán cải và đổi mới. Trong những khoảng tối đó, khi con người không hiểu hết, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm ‘ca đêm’, chuẩn bị cho một mùa gặt mà con người không bao giờ ngờ tới.

Đó cũng là câu chuyện đáng tiếc của Đavít hôm nay – bài đọc một. Đavít đã phạm một lúc hai tội tày đình. Thế nhưng, như cánh rừng rụi tàn sau biển lửa, một lời thoi thóp tận đáy linh hồn được bật lên, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca – Cũng chính trong lời van ấy, Thiên Chúa – Đấng đang làm ‘ca đêm’ – tỏ lòng xót thương, và Ngài không cho tội lỗi có tiếng nói sau cùng.

Anh Chị em,

Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ dành cho Đavít, cho nhân loại, cho bạn và tôi, mà còn dành cho chính Con Một Ngài. Suốt sứ vụ công khai, và cả những giờ phút đen tối nhất của Chúa Giêsu, khi mọi sự xem ra đã khép lại, thì chính lúc ấy, Chúa Cha vẫn thường xuyên ban sức mạnh để Người Con đi hết hành trình cứu chuộc. Để chính từ sự kính trọng và tín trung lặng lẽ của Chúa Con, ơn cứu độ trổ sinh cho muôn người. Theo Chúa Kitô, vì thế, không phải là tránh né đêm tối, mà là tin rằng: ngay trong đêm tối, chúng ta vẫn đang được dẫn về phía ánh sáng và sự sống; vì lẽ Thiên Chúa không chỉ làm ca ngày, Ngài túc trực cả ‘ca đêm’. “Nếu Đức Giêsu Kitô không bỏ anh em trong bóng tối của Ngài, bóng tối tột cùng, thì làm sao Ngài lại bỏ anh em bây giờ!” – Tim Keller.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con nôn nóng, cho con biết đợi chờ; khi con sợ tương lai, cho con biết tín thác; khi con ở trong đêm tối, cho con nhớ, Ngài đang dẫn con về phía ánh sáng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần III Thường Niên

Một người vãi hạt giống rồi ngủ, và hạt giống mọc lên trong khi người ấy không biết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,26-34

26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng dụ ngôn này : “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. 27 Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. 28 Đất tự động sinh hoa kết quả : trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. 29 Lúa vừa chín, người ấy đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa.”

30 Rồi Người lại nói : “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? 31 Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống trên mặt đất. 32 Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.”

33 Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. 34 Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết.