TIẾNG VIỆT TRONG MẮT NGƯỜI ANH QUỐC.

Xuyên Sơn

 TIẾNG VIỆT TRONG MẮT NGƯỜI ANH QUỐC.

Tôi dám xác quyết với mọi người trên thế giới rằng tiếng Việt hay nhất,

không có bất cứ ngôn ngữ nào bằng. Lấy thí dụ tiếng Việt chỉ cần 1 Mẫu Tự để bắt đầu là ta có thể viết thành 1 câu chuyện dài thiên thu bất tận.

Thí dụ :

Mẫu tự   T

Tôi tên Trần Tuấn Thành từ tỉnh Thừa Thiên tới thăm Thanh Thủy.

Tới Thừa Thiên thì Thanh Thủy thụ thai tám tháng.

Tổng thống Thiệu tới tính tát tôi thành thử tôi theo tổng thống Thiệu tới tận ………….

Hay :

bà ba béo bán bánh bèo bên bãi biển bị bắt bỏ bót ba bốn bận …

Hay chưa ???

Tiếng Việt là vô địch .

John nguyen.

Bài nhận định về Việt ngữ của George Millo tuyệt vời.

Từ lâu, Trung hoa, Nhật, Đại hàn…. mơ ước chữ viết của họ dùng mẫu tự Alphabet (ABC…)

Họ đã thử nhưng thất bại.

Tại Việt nam nhờ ơn Chúa đã trở nên Chữ Quốc Ngữ. So với các ngôn ngữ trên thế giới, Việt ngữ kết hợp thông minh và hợp lý nhất.

Không quốc gia nào, trẻ em đến trường 5 năm là có thể viết thư, đọc báo như trẻ em Việtnam.

Học sinh Hoa kỳ, Trung hoa, Nga, Đức, Pháp  v.v… học hết 12 năm, vẫn chưa viết thạo và đọc thạo chữ của họ. Nhiều giáo sư Đại học Hoa kỳ viết còn sai, vì thế họ phải dùng tự điển thường xuyên.

Chúng ta phải cảm tạ Linh mục Alexandre de Rhodes, người có công rất lớn trong việc hình thành Chữ Quốc Ngữ cho dân tộc Việtnam.  

– Vô Danh Khach –

  • Tiếng Việt trong mắt người Anh Quốc

Chúng ta thường cho rằng ngôn ngữ của mình khó hơn “phong ba bão táp”. Tuy nhiên, G. Millo đã đưa ra 9 lý do xóa bỏ nhận định này của người  ngoại quốc lẫn Việt Nam.

Từ góc độ một người ưa dịch chuyển, biết nhiều thứ tiếng, bao gồm tiếng Việt, George Millo đã chỉ ra quan niệm có phần sai lầm của nhiều người về ngôn ngữ này.

Anh đưa ra những so sánh thú vị của tiếng Việt với tiếng Anh

– tiếng mẹ đẻ của mình, và một vài ngôn ngữ khác như : 

Tây Ban Nha, Pháp,  để chỉ rõ những ưu điểm của tiếng Việt.

Nếu hỏi một người Việt Nam về ngôn ngữ của họ, bạn sẽ nhận được câu trả lời “rất khó”.

Đây gần như là quan điểm chung của khoảng 90 triệu người dân quốc gia này, và họ còn vui vẻ khi nói với bạn rằng “tiếng Việt khó” (Vietnamese is hard) bất kỳ lúc nào.

Vì vậy, khi nghĩ đến học tiếng Việt, bạn gần như cảm thấy mất tinh thần. Tuy nhiên, tôi sẽ mang đến có bạn một cái nhìn tích cực hơn về ngôn ngữ này. Tiếng Việt có thể dễ hơn so với những gì các bạn nghĩ.

Điều không thể chối cãi là với sáu tông giọng và quá nhiều nguyên âm khác với tiếng Anh, phát âm tiếng Việt là việc khó khăn. Nhưng phần lớn những người ở Việt Nam chỉ trong vòng một năm sẽ nhận ra phát âm là điều duy nhất gây trở ngại trong tiếng Việt, những yếu tố khác đều rất dễ – đặc biệt khi so sánh với phần lớn các ngôn ngữ châu Âu khác.

1-Tiếng Việt không có giống đực và cái:

Nếu từng học tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Đức,  hay gần như bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào ngoại trừ tiếng Anh, bạn sẽ thở phào nhẹ nhõm vì tiếng Việt không có khái niệm giống đực, hay cái, cho các từ vựng.

Bạn chỉ cần ghi nhớ mỗi từ mà không cần thiết phải học thuộc lòng thêm điều gì.

2-Tiếng Việt bỏ qua mạo từ “a”, “the”:

Nếu một người nước ngoài học tiếng Anh và hỏi bạn khi nào dùng “a” và “the”, bạn có giải thích cặn kẽ được không?

Đây là một vấn đề phức tạp, thậm chí bài viết nói về mạo từ trên trang Wikipedia còn dài hơn 2.500 chữ.

Tuy nhiên, dùng “a”, “the” trước một chủ thể có thực sự quan trọng?

Một cách đơn giản hơn, bạn có thể loại bỏ chúng đi vì sự việc vốn hiển nhiên, người nghe cũng có thể hiểu ý bạn mà không cần thêm mạo từ.

Đó chính xác là điều người Việt vẫn làm. “Người” là từ có nghĩa “a person” (người nào đó) lẫn “the person” (chính người đó) mà người nghe vẫn không lo lắng nhầm lẫn.

3-Tiếng Việt không có số nhiều:

Trong tiếng Anh, khi muốn chỉ thứ gì đó ở số nhiều, chúng ta thường thêm “s” vào cuối từ đó.

Như vậy, “dog” thành “dogs”, “table” thành “tables” và “house” thành “houses”.

Tuy nhiên, nhiều ngoại lệ tồn tại như “person” thành “people”, “mouse” thành “mice”, “man” thành “men” và một số từ như “sheep” hay “fish” lại chẳng thay đổi gì.

Trong tiếng Việt, mọi từ ngữ đều như “sheep” – con cừu.

Từ “người” tôi nêu trên, còn có thể sử dụng giống như “people” hay “person”, “chó” là “dog” hoặc “dogs”, “bàn” là “table” hoặc “tables”…

Nếu thắc mắc rằng điều này có gây nên sự nhầm lẫn, bạn hãy tự hỏi bản thân mình, đã bao giờ nghe ai đó kể về “con cừu đó”, “con chó đó” và bối rối vì không viết họ đang nhắc đến bao nhiều con vật trong câu chuyện đó hay không?

Nếu cần  tin tức chi tiết, bạn chỉ cần dễ dàng thêm một từ trước danh từ đó, giống như “một người” (one person), “những người” (some people) hay “các người” (all the people).

4- Tiếng Việt không có các dạng khác nhau của động từ:

Thật đáng thương cho những người học tiếng Tây Ban Nha,  khi nói những từ đơn giản như “hablar” (nói), họ vẫn phải học 5 hoặc 6 dạng khác nhau (tùy thuộc địa phương) để thể hiện chính xác thể của động từ này.

“I hablo”, “you hablas”, “he habla”, “we hablamos” và danh sách này vẫn chưa hết.

Một động từ trong tiếng Tây Ban Nha có thể bao gồm 50 dạng (form) khác nhau mà người học phải ghi nhớ.

Tiếng Anh không giống tiếng Tây Ban Nha, nhưng một từ cũng bao gồm nhiều dạng khác nhau tùy thuộc ngữ cảnh.

Chẳng hạn, động từ “speak” có thể biến cách (inflect) thành “speaks”, “speaking”, “spoken” hay “spoke”.

Tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn không biến cách

– không từ ngữ nào đổi dạng trong bất kỳ ngữ cảnh nào.

Ví dụ, “speak” trong tiếng Việt là “nói” và bạn luôn dùng “nói  trong mọi trường hợp

– “I nói”, “you nói”, “he nói”, “she nói”, “we nói”, “you nói” và “they nói”.

Điều này có thể tiết kiệm hàng chục, thậm chí hàng trăm giờ học thuộc so với một thứ tiếng châu Âu đấy.

5- Thì của tiếng Việt có thể học xong trong 2 phút:

Bạn chỉ cần thêm 5 từ được liệt kê sau đây vào phía trước động từ ban đầu để diễn tả thì mong muốn: “đã” – trong quá khứ, “mới” – vừa xong,

gần với hiện tại hơn với “đã”, “đang” – ngay bây giờ, tương lai gần “sắp” – tương lai gần,“sẽ” – trong tương lai.

Thì tiếng Việt thực sự quá dễ.

Ngoài 5 từ trên, bạn có một số từ khác, nhưng chỉ cần 5 từ này, bạn có thể diễn đạt đúng tới 99% trường hợp.

Tôi sẽ cho bạn một vài ví dụ:

– Tôi ăn cơm = I eat rice

– Tôi đã ăn cơm = I ate rice

– Tôi mới ăn cơm = I have just eaten rice

– Tôi đang ăn cơm = I am eating rice (right now)

– Tôi sắp ăn cơm = I am going to eat rice, I am about to eat rice

– Tôi sẽ ăn cơm = I will eat rice.

Hơn nữa, bạn còn có thể bỏ qua những từ này nếu ngữ cảnh câu đã đủ rõ ràng.

Chẳng hạn, “Tôi ăn cơm hôm qua” giống như “I eat rice yesterday”

– từ “hôm qua” đã thể hiện điều trong quá khứ rồi, từ “đã” không cần thiết nữa nên câu này hoàn toàn đúng ngữ pháp trong tiếng Việt,

còn “I eat rice yesterday” lại sai ngữ pháp hoàn toàn với tiếng Anh.

6- Bạn không phải học bảng chữ cái mới:

Bạn nên cảm ơn người Pháp vì điều này. Cách đây khoảng 100 năm,

một số người Việt vẫn dùng một hệ thống chữ tượng hình phức tạp được gọi là “chữ Nôm”, có ký tự giống tiếng Tàu bây giờ.

Ngày nay, điều đó đã được thay đổi 100% bởi bảng chữ cái Latinh, được gọi là chữ Quốc ngữ.

Vì thế, không như với tiếng Quan Thoại, Quảng Đông, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc,  hay hàng chục ngôn ngữ châu Á khác, bạn không cần học bảng chữ cái.

Tất cả những thứ bạn cần là thêm các dấu (diacritic) để làm rõ tông giọng,  và bạn có thể đọc tiếng Việt ngay.

Cách phát âm từ tiếng Việt hoàn toàn thống nhất theo một quy luật

Câu hỏi nhanh:

“Bạn đọc từ ‘read’, ‘object’, ‘close’ và ‘present’ như thế nào?”.

Bạn sẽ phải quan tâm rằng chúng nằm trong ngữ cảnh như thế nào:

“Was it close” hay “Did you close?”, “Did you present the present”,

“Read what I’ve read” hay “Object to the object?” (các từ này đều có cách đọc khác nhau, tùy thuộc vào từ loại, nghĩa)

So với những ngôn ngữ mà tôi biết, cách phát âm từ tiếng Anh thực sự không thống nhất bởi cùng một từ có thể được đọc khác nhau trong mỗi ngữ cảnh.

Thậm chí, mỗi chữ cái cũng được đọc rất nhiều âm khác nhau, chẳng hạn “a” trong “catch”, “male”, “farmer”, “bread”, “read” và “meta”. Những người học tiếng Anh trên thế giới đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ các từ tiếng Anh được viết, và đọc với quy luật như thế nào.

Mặt khác, tiếng Việt lại chẳng có đặc điểm vô lý ấy.

Tất cả chữ cái luôn được đọc như vậy dù từ hay ngữ cảnh có thay đổi (tuy nhiên, điều này chính xác hơn ở tiếng Việt Hà Nội so với Sài Gòn

– nơi có một ít âm có cách đọc không thống nhất).

Một khi bạn học thuộc 29 chữ cái tiếng Việt vốn gần giống với 26 chữ cái tiếng Anh và hiểu sự khác nhau của các giọng do dấu tạo ra, bạn có thể đọc chính xác bất kỳ từ nào.

7- Ngữ pháp tiếng Việt gần như không tồn tại:

Như tôi đã đề cập, tiếng Việt cho phép bạn bỏ từ chia thì trong câu, như câu “I eat rice yesterday” nếu ngữ cảnh giúp người nghe hiểu chính xác thì. Đây là một ví dụ điển hình cho một quan điểm lớn hơn:

ngữ pháp tiếng Việt rất đơn giản.

Bạn gần như luôn luôn chỉ sử dụng số lượng từ tối thiểu để để diễn đạt quan điểm của mình và ngữ pháp vẫn chính xác dù với tiếng Anh, việc ghép từ này thường chỉ tạo nên một câu lỗi.

Đây cũng là lý do khiến bạn có thể nghe nhiều người Việt Nam nói những câu tiếng Anh như “no have”, “where you go”.

Họ đang dịch trực tiếp những gì thường nói trong tiếng Việt sang tiếng Anh mà quên rằng có hàng loạt những quy tắc phức tạp mà người dùng tiếng Anh phải tuân theo.

Đây là một bất lợi lớn với người Việt nếu muốn học tiếng Anh nhưng ngược lại, một lợi thế lớn với người nói tiếng Anh muốn học tiếng Việt.

8- Từ vựng tiếng Việt cực kỳ logic:

Phần lớn người nước ngoài ở Việt Nam, dù không nói ngôn ngữ này cũng biết sự thật thú vị rằng “xe ôm”

– tên phương tiện di chuyển như taxi bằng xe máy, được đơn thuần ghép từ “hug vehicle”.

Nhưng mọi việc không dừng ở đó, một tỷ lệ lớn từ vựng ở Việt Nam được tạo thành theo công thức ghép hai từ logic với nhau, trong khi với tiếng Anh, bạn phải học một từ vựng mới hoàn toàn khác.

Ví dụ, nếu tôi cho bạn biết “máy” nghĩa là “machine”, “bay” nghĩa là “flying”, bạn có đoán được “máy bay” nghĩa là gì không?

“Xe ôm” là một từ ghép logic – “hug vehicle”.

Có rất nhiều ví dụ khác tôi có thể liệt kê ra cho bạn: 

a bench – ghế dài – a long chair, a refrigerator – tủ lạnh – a cold cupboard,

a bra – áo ngực- a breast shirt, a bicycle – xe đạp –  a pedal vehicle; to ski 

– trượt tuyết – to slide snow, a tractor  – máy kéo – a pulling machine, a zebra – ngựa vằn – a striped horse.

Cách ghép từ như vậy có thể giúp bạn nhanh chóng học từ mới.

Một khi có được vốn từ cơ bản, bạn có thể tự động biết thêm hàng trăm từ khác mà không cần học thêm.

Tiếng Việt dễ hơn so với bạn nghĩ: Liệu tôi đã chứng minh cho bạn thấy tiếng Việt dễ hơn so với những gì bạn từng nghĩ?

Hy vọng tôi đã gạt bỏ một vài lời đồn đại, hiểu nhầm về tiếng Việt mà bạn đã nghe trước đó và hiểu hơn về ngôn ngữ này.

Y Vân (theo Fluent in 3 months)

Nguồn fb Chứng Đặng


 

10 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC 1975…

TRI THỨC NGÀY NAY

 10 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC 1975…

  1. Học sinh đi học không cần đóng học phí.

Đây là chính sách khuyến học của Chánh phủ VNCH dành cho tất cả con em Miền Nam được tiếp cận tri thức.

  1. Đi bịnh viện không tốn tiền. Các bạn khó tin ư? Nhưng đây hoàn toàn là sự thật.

Các bịnh viện do Chánh quyền VNCH quản lý đều miễn phí tiền khám chữa bệnh cho người dân.

Và đặc biệt, bác sĩ và nhân viên y tá vô cùng gần gũi và thân thiện với bệnh nhân cho dù người giàu hay người nghèo.

  1. Trẻ con, người lớn khi đi ngoài đường nếu gặp phải đám tang đều đứng lại, cởi nón và nghiêm trang cúi đầu đưa tiễn người quá cố.
  2. Bất kỳ ai đang trên đường phố, nếu nghe tiếng Quốc ca vang lên đều đứng nghiêm trang chào cờ với lòng tự hào dân tộc.
  3. Học sinh được uống sữa, ăn bánh mì, bánh ngọt miễn phí. Ăn uống đến phát ngán phải lén bỏ bánh mì vào thùng rác.
  4. Các bạn được quyền bầu chọn người đứng đầu đất nước thông qua bầu cử Tổng Thống một cách dân chủ và công khai.
  5. Nếu không hài lòng về chánh sách quản lý đất nước của Chánh phủ, các bạn có quyền xuống đường biểu tình thể hiện chính kiến.

Các bạn có thể đứng trước Dinh Tổng Thống phản đối hay đốt hình ông ta mà không gặp bất kỳ sự đàn áp hay bắt bớ gì của Chánh quyền.

  1. Ra đường các bạn có thể đeo bao nhiêu vàng, mang bao nhiêu tiền cũng không sợ bị cướp giật.
  2. Khi chạy xe trên đường, các bạn cũng không sợ Cảnh sát Công lộ xin tiền (đòi hối lộ).
  3. Các bạn cầm Giấy thông hành VNCH có thể đi khắp thế giới mà không bị coi thường, khinh rẻ. Ngược lại, được bạn bè quốc tế quý mến và tôn trọng.

Còn nữa, còn nhiều nữa những thứ đã tồn tại ở Miền Nam Việt Nam trước 1975 mà đến tận bây giờ ở chế độ hiện nay vẫn không hề có được.

Đô Thành Sài Gòn. (St).


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ăn cướp

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

30/07/2023

Từ xứ Thái trở về, blogger Phạm Hồng Phong có mang theo một câu chuyện làm quà mà chỉ cần nghe qua cũng muốn ứa nước mắt:

Bay chuyến cuối cùng trong ngày, từ Don Muang về Tân Sơn Nhất. Gặp một nhóm hơn chục người đi tay không, quần áo nhàu nhĩ áo phông trắng thì thành cháo lòng, áo màu thì cáu bẩn, người đi tông, người đi chân đất, ồn ào, nhốn nháo lên máy bay tìm ghế ngồi. Tất cả đều rất trẻ, tuổi từ 20, đến 31.

Khá ngạc nhiên, hỏi ra mới biết anh em ngư dân Sông Đốc – Cà Mau bị cảnh sát biển Thái Lan bắt khi đang câu mực ở Vịnh Thái Lan, tịch thu thuyền, tài sản, án tù 3 tháng. Gia đình vay tiền chạy chọt, ngồi tù được 55 ngày, hôm nay được thả về.
Cầm vé trên tay nhưng không biết ghế của mình chỗ nào. Mình cùng mấy cô tiếp viên Air Asia hướng dẫn từng chỗ ngồi vì anh em đều lần đầu bị đi bằng máy bay.

Ngồi hỏi chuyện và nghe kể mới biết sự cơ cực từ ngày bị bắt đến khi được tha. Để được thả, gia đình phải tự tìm cò, qua Thái, liên hệ Đại sứ quán VN ở Bangkok, xuống Songkhla gặp cảnh sát, cai tù…Rổ giá để được tự do:

  • Thuyền viên 12 -20 triệu/người
  • Tài công 80 -120 triệu/người tùy tội nặng nhẹ, tùy hứng của cò và cảnh sát.

Tiền vé máy bay riêng, nghe anh em nói là mỗi người 8 triệu nộp cho đại sứ quán mua và làm thủ tục cho cả nhóm, ngồi xe tù, cảnh sát chở tuột ra sân bay, gọi tên từng thằng phát cho cuống vé. (Giá bình thường mua cận ngày thì tối đa cũng chỉ 150$~ 3 triệu ông cụ). Mình bảo anh em, có thể do tiền cò, lệ phí giấy thông hành ĐSQ cấp và xăng xe tù, xe áp tải của cảnh sát Thái nên mới hết 8 triệu, chứ vé mình mua trước đây 5 ngày có 1800 Bath ~ 1,2 triệu…

Câu chuyện làm quà của Phạm Hồng Phong khiến tôi nhớ đến bài viết (“Tình Đồng Hương Của Dũng Việt Nam”) của phóng viên Đình Dân, trên Tuổi Trẻ Online:

Ở Philippines ngư dân ta đi biển gặp nạn được Dũng giúp đỡ rất nhiều’, ‘Không chỉ những người Việt đi biển gặp nạn ở Philippines biết tới Dũng, mà thậm chí nhiều thân nhân của họ đang sống ở quê cũng lưu trong điện thoại cầm tay cái tên Dũng Việt Nam’…

Đó là những thông tin mà tôi nghe được từ nhiều người dân ở đảo Phú Quý. Và tôi đã có cơ hội gặp gỡ ‘Dũng Việt Nam’ nhân chuyến đi Philippines viết về vụ 122 ngư dân bị giam giữ tại đây…”

“Chiều 23-8, trời Palawan vẫn mưa suốt. Sáng mai là ngày diễn ra phiên tòa xét xử 122 ngư dân nên chiều hôm đó những người từ Việt Nam qua ai cũng bận rộn lo giấy tờ, thủ tục chuẩn bị hầu tòa. Anh Dũng cũng cuống cuồng vừa chạy xe vừa điện thoại liên tục để hẹn các luật sư ở Philippines nhằm thiết kế các buổi gặp gỡ với các luật sư từ Việt Nam qua.

Vừa gặp luật sư xong, anh Dũng lại cùng anh Thoại – chủ DNTN Long Hải Long – vào nhà tù để mang thuốc tây và một ít tiền bà con ở đảo Phú Quý gửi cho người nhà của họ trong trại giam. Mưa to ướt hết áo, anh Dũng phải mượn áo một thuyền trưởng mặc vào để chạy tiếp…

Ngày diễn ra phiên điều trần, từ sáng sớm anh Dũng đã ngồi trong chiếc xe ba bánh chờ dưới đường. Anh bảo chờ đi cùng 115 ngư dân từ nhà tù ra tòa án. Nhìn những ánh mắt âu lo qua song sắt của chiếc xe màu vàng bóp chặt khóa, anh Dũng ngậm ngùi: ‘Đồng hương mình cả. Mà toàn là ngư dân chân chất. Vợ con họ ở nhà mà thấy hình ảnh này chắc không cầm lòng được…’

Một số ngư dân ở Quảng Ngãi và Bình Thuận kể rằng từ năm 2004 đến nay, anh Dũng đã giúp đỡ khoảng 30 nhóm ngư dân Việt Nam bị mắc nạn và trôi dạt vào vùng biển của nước bạn…  Anh Dũng nói có một câu chuyện mà anh sẽ chẳng bao giờ quên.

Đó là vào đầu tháng 8 vừa rồi. ‘Hôm đó đã 22g đêm. Trời mưa to gió lớn. Tôi đang cho mấy đứa con đi ngủ thì nhận được điện thoại từ Việt Nam. Người đầu dây là anh Sơn – một chủ ghe ở tỉnh Quảng Ngãi: Dũng ơi, làm ơn cứu nạn cứu khổ giùm.

12 ngư dân của tôi đang đánh bắt ở vùng biển nước mình thì bị bão đánh chìm ghe. Họ điện về nói đã trôi dạt mấy ngày nay theo hướng nam về vùng biển Philippines. Họ đang cố đu bám vào thuyền thúng trôi dạt giữa biển. Anh nhờ người ở đó cứu giùm, không để đến sáng mai lạnh quá họ chết hết. Ngay trong đêm, bằng tất cả mọi mối quen biết, anh Dũng xác định lại chính xác tọa độ nơi 12 ngư dân bị nạn rồi lập tức cầu cứu hải quân Philippines…

Ủa, cái ông Dũng này là ai mà sao rảnh rỗi và “bao la” dữ vậy cà? Xin hãy nán đọc thêm một đoạn ngắn nữa, về người đàn ông Việt Nam vô cùng nhân ái và tháo vát này:

Một lần khi anh Dũng đang mải miết phiên dịch cho các ngư dân ở tòa án đến nỗi quên đi đón vợ, thế là vợ anh tự thuê xe chở cả bao dép bán dở đến tòa án tỉnh để tìm. Lúc này tôi mới biết người đàn ông thông thạo ba thứ tiếng Việt, Anh, Philippines này là một người bán giày dép trên hè phố…

Coi: một người dân Việt lam lũ, vợ dại con thơ, đang lưu lạc nơi đất lạ xứ người mà chăm lo cho những đồng hương của mình từ A tới Z (cung cấp toạ độ nơi ngư dân bị bão đánh chìm thuyền cho hải quân Phi, tham vấn với luật sư bản sứ, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, vào tù thăm non tiếp tế cho đồng bào đang bị giam dữ, rồi cùng đi với họ ra toà …) như vậy thì các Toà Tổng Lãnh Sự và Đại Sứ Quán VN làm gì ?

Làm… tiền!

Chớ họ còn có lựa chọn nào khác nữa đâu, theo như nhận xét của blogger Hương Vũ: “Sống và làm việc cách công chính như nhân viên sứ quán các nước khác, nhân viên sứ quán VN chỉ còn cách cắn dép gặm không khí qua ngày.”

Có thực mới vực được đạo chớ, “phong cách và đạo đức cách mạng” mà. Đại Sứ Trần Việt Thái đã “khai” như thế, trước tòa, vào hôm 12/07 vừa qua: “Việc chi bồi dưỡng cho cán bộ Đại sứ quán là việc phổ biến ở Malaysia, nếu không chi thì không huy động được người đi làm việc.”

Ở đâu mà không vậy, chớ có riêng chi cái đám cán bộ ngoại giao ở Mã Lai. Không cho ăn thì ai mà làm. Vấn đề chỉ là các vị quan sứ ăn quá bẩn (và quá dầy) nên mắc nghẹn thôi:

Tưởng là nhiều lắm chớ chỉ có mười một tỷ thì nào có là bao, và đây chỉ là cơ hội ngàn năm một thuở của các ông bà quan sứ ở nước ngoài thôi. Ở một xứ sở mà “một quả trứng chịu 14 loại phí, một con lợn cõng 51 thuế phí” thì dân làng Ba Đình đã ăn bao nhiêu tỷ bạc mỗi ngày, và ăn ròng rã như thế từ bao thập niên qua ?


 

CHỖ CHO CHÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Maria hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.

“Trong cung lòng Maria, Thiên Chúa đã tìm được mái nhà đầu tiên của Ngài giữa trần gian!” – Catholic meditation.

Kính thưa Anh Chị em,

Đầu năm mới, thay vì trao cho chúng ta một lời chúc của Chúa, Hội Thánh trao cho chúng ta mái nhà đầu tiên của Ngài – Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa; đúng hơn, mời gọi chúng ta nên như Mẹ, trở thành một ‘chỗ cho Chúa!’.

Khi nói Maria, “mái nhà đầu tiên của Thiên Chúa”, Hội Thánh nhắc đến chân lý cốt lõi của mầu nhiệm Nhập Thể. Ngôi Lời không chỉ ‘ghé qua’ lịch sử, nhưng ‘ở lại’ trong lịch sử; và để ở lại, Ngài cần một nơi ‘cư ngụ’. Và cung lòng Maria đã trở thành nơi ấy, không đơn thuần là không gian vật lý, nhưng là một trái tim – ‘chỗ cho Chúa’ – hoàn toàn mở ra trước Ngài. “Trong Maria, Thiên Chúa tìm được một mái nhà, chứ không chỉ một lối đi ngang qua!” – Von Balthasar.

Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, vì thế, không làm Maria “cao hơn” nhân loại, nhưng làm Mẹ trở nên một nhân loại Thiên Chúa muốn – không tì vết tội lỗi – hầu Ngài có thể tự do hiện diện. Maria không chỉ cưu mang Con Chúa, nhưng là đền sống động, nơi Ba Ngôi bắt đầu cắm lều giữa loài người. Không dựng một ngôi đền bằng đá, nhưng Thiên Chúa chọn cho mình một trái tim bằng thịt. “Maria không cao hơn nhân loại về phẩm giá; Mẹ cao hơn về ân sủng, để Thiên Chúa có thể cư ngụ giữa chúng ta!” – John Hardon.

Vì vậy, việc “Maria ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng” không phải là một chi tiết đạo đức, nhưng là thái độ nền tảng của một ‘chỗ cho Chúa’. Chỉ trái tim biết lắng nghe, biết giữ lại, biết để Lời cư ngụ, mới có thể trở thành nơi Thiên Chúa định cư. Maria thành nơi Chúa ‘định cư’, không vì Mẹ làm nhiều, nhưng vì Mẹ biết lắng nghe, giữ lấy và sống Lời thật nhiều.

Lần kia, Lincoln cúi xuống một người lính hấp hối, người không xin một ân huệ, cũng không xin một lời giải thích cho cái chết sắp đến; anh chỉ xin một điều: “Ngài có thể nắm tay tôi?”. Trong khoảnh khắc ấy, điều cứu anh không nằm ở quyền lực của một tổng thống, nhưng ở sự hiện diện không rút lui. Bàn tay ấy không chữa lành thân xác, nhưng giúp người lính trẻ không chết trong cô độc.

Anh Chị em,

Cũng thế, mầu nhiệm Nhập Thể! Thiên Chúa không đến để giải thích mọi khổ đau, nhưng để ở lại với con người trong khổ đau. Maria đã cho Ngài bàn tay đầu tiên ấy: bàn tay một người mẹ dám đón Ngài, ẵm Ngài, cả khi chưa hiểu hết. Nhờ đó, Thiên Chúa không còn xa cách, nhưng là Đấng “ở cùng chúng ta”. Trên thập giá, Chúa Giêsu không tìm một mái nhà cho Mẹ, nhưng trao Mẹ cho Gioan, cho Hội Thánh. Hành vi ấy hoàn tất điều đã khởi đầu nơi cung lòng Mẹ: Thiên Chúa có chỗ trong nhân loại, và nhân loại có chỗ trong Thiên Chúa. Maria trở thành Mẹ Hội Thánh, để chúng ta, học cách dành ‘chỗ cho Chúa’ trong đời mình. “Maria là nơi Thiên Chúa học cách ở cùng chúng ta!” – Adrienne von Speyr.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sang năm mới, xin dọn lại nội tâm con – bớt ồn ào, vội vã – để có thể dành ‘chỗ cho Chúa’. Cho con yêu mến việc Chúa ở lại hơn là làm nhiều việc cho Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

LỜI CHÚA LỄ ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA, 01/01/2026 CUỐI TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH

Các người chăn chiên gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se và Hài Nhi. Được đủ tám ngày, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.     Lc 2,16-21

16 Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi đến Bê-lem. Họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy thế, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này. 18 Tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho biết. 19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.

21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su ; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.


 

CON GÁI CỦA BA – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

Còn bốn tháng nữa con tròn 56 tuổi. Nhưng trong lòng Ba con vẫn còn trẻ như tuổi 15.

Ba nhớ lại cũng ngày nầy 18 năm về trước, cha con mình đùm túm dắt nhau đi vượt biên rồi sang Mỹ.

Ba nói là “đùm túm” vì hồi đó Ba từ trại tù cải tạo về thì con đã gần 40 tuổi.

Khổ. Nghèo.

Nhìn con gái Ba héo úa dung nhan mà Ba khóc ròng.

Tại ba! Tại Ba hết thảy!

Làm con gái của một “sĩ quan nguỵ” nên từ trường Đại Học ra con không có việc làm.

Hàng ngày, ngồi ở góc chợ Bàu Hoa vùng Ngã Tư Bảy Hiền-Sài Gòn để bán từng tô bún mắm. Cứ ba tháng một lần lặn lội ra Bắc thăm Ba.

Năm 1975 Mẹ con mới 50 tuổi.

Người vẫn nghĩ rằng Ba chỉ đi “học tập ít ngày”.

Thành ra, nghe Ba đi Bắc, Mẹ con bị shock. Cộng thêm bệnh cao huyết áp sẵn có Mẹ con “nhất định nằm một chỗ!”.

Thế là con gái của Ba vừa lo cho Me, vừa lo cho Ba.

Ba ở tù 8 năm thì Mẹ con mất.

Phải đến 4 năm gian khổ đời con nữa Ba mới được trở về.

Buổi tối đoàn viên ấy, cha con mừng mừng tủi tủi.

Nhìn ảnh Mẹ con vẫn như tươi cười Ba tan nát cả lòng.

Nhưng biết nói làm sao “Vận mệnh cá nhân mình gắn liền với vận mệnh quốc gia dân tộc”.

Cả thời tuổi trẻ của Ba hầu như đi khắp 4 vùng chiến thuật. Mẹ con cứ bồi hồi theo dõi đường Ba đi. Không biết mình sẽ thành goá phụ lúc nào.

Thời gian ở nhà của Ba rất ít.

Con là con đầu lòng. Lại là con gái.

Cảm ơn con gái của Ba.

Một đứa con gái có lòng hiếu thảo. Trong một lần thăm nuôi tại trại tù,

con kể Ba nghe:

“Từ nhà mình tới chợ Bàu Hoa chừng non 1 cây số. Sáng nào con cũng bày hàng bún mắm ra. Mùi mắm kho thơm lừng. Có cả tôm thẻ lột, thịt quay, cà tím. Có cả những rau nhúc, cây bông súng, rau đắng, húng cây, giá sống và bắp cải bào. Khách hàng đông lắm!”.

Con còn cười vui nói với Ba:

Khi nào Ba về con sẽ mở một tiệm bún mắm và rau VÂN KHANH cho Ba ngồi thu tiền.

Ba nghe với lòng se sắt.

Con gái của Ba, Trớ trêu thay, lúc Ba về con đã là con gái lỡ thì. Ba buồn lắm.

Nhờ ơn Thượng Đế mình vượt biên một lần trót lọt.

Ba đặt chân đến đất Mỹ vào cái tuổi người ta sắp nghỉ ngơi. Chính vì vậy mà con lại khổ vì Ba.

Con không muốn Ba đi làm ca đêm giữa trời rét buốt. Con nói cái lạnh miền Bắc Việt Nam đã cứa nát thịt da Ba cả chục năm trời cũng đủ lắm rồi. Ba hãy để con lo. Nhưng Ba đâu đành lòng như thế.

Buổi sáng con ra khỏi nhà là Ba cũng đi. Tiệm giặt ủi gần nhà mình quá mà.

Ba nhận phần việc ủi và xếp quần áo.

Đi tới đi lui xem máy giặt nào ngưng. Máy sấy nào đồ đã khô. Chỉ vậy thôi. Một ngày, tính ra Ba đi cũng gần 5 cây số. Tội ngiệp con gái của Ba. Lúc người ta báo tin Ba bị xỉu thì con khóc ròng.

Ba về nhà ở không cho con nuôi tiếp. Thật người xưa nói đúng!

“Trẻ cậy cha, già cậy con” mà.

Vân Khanh con, Cho đến một buổi chiều, con đưa về nhà một trung niên trẻ. Trung niên mà Ba cho là “trẻ”.

Vì Ba thấy diện mạo anh ta cũng dễ nhìn. Ba mừng vì con của Ba rồi cũng có một bến đợi để neo thuyền.

Ba cầu mong cho con hạnh phúc.

Chồng của con cũng là chiến hữu của Ba. Gia cảnh cũng không may mắn giống như Ba. Vợ anh đã chết trong lần đi thăm chồng. Cả chiếc xe lăn xuống vực. Từ đó anh dở dở ương ương.

Qua Mỹ rồi anh vẫn sống như người mộng du. Cho tới ngày gặp con.

Tình yêu thật là kỳ diệu!

Chẳng những khiến cho con gái của Ba trẻ lại mà anh chàng “dở hơi” kia cũng chừng như mới cải lão hoàn đồng.

Cứ 4 giờ khuya , anh thức dậy đi bỏ báo. Tới 9 giờ sáng về. Nghỉ ngơi rồi 5 giờ chiều đi vào hãng. 1 giờ đêm mới trở về nhà.

Ba cảm ơn Thượng Đế lần nữa vì con có người chồng hiền lành và độ lượng.

Chứ vào tuổi của Ba không bị đưa vào nhà dưỡng lão là hiếm lắm.

Con nhớ gia đình Bác Th. không?

Hai bác cưới vợ cho anh Cảnh từ lúc còn ở Việt Nam. Vậy mà qua Mỹ rồi Bác Thanh bị cô dâu xem như gánh nặng. Nhất định đòi anh Cảnh phải đưa Mẹ vào Nursing home cho đến chết.

Vân Khanh con, Cả một thời trẻ tuổi của con đã dành để sống cho cha mẹ. Bây giờ con hãy sống cho con đi. Ba rất cảm động mỗi lần khách đến thăm nhà con hay nói: vợ chồng con có phước lắm nên suýt soát tuổi 60 mà vẫn còn có cha để phụng dưỡng.

Phải ! Hồi đó ba khó nghĩ mỗi lần nghe người ta cho rằng sự sống con người tính theo công thức: 5 năm, 6 tháng, 7 ngày.

Nghĩa là ở tuổi đời 5 bó, tuổi thọ tính theo năm.

Đến 6 bó thì tính theo tháng, mà 7 bó thì tính theo ngày.

Ba đã 80, chắc phải tính theo giờ quá!

Cảm ơn vợ chồng con đã chăm sóc Ba mỗi ngày.

Con nói: Ba ơi ! Với chúng con ngày nào cũng là Father’s Day cả.

Ba thật có lỗi với con.

Hồi đó Ba vẫn buồn thầm trong lòng khi mẹ con sinh con là con gái.

Ông Nội con sợ Ba chết trận thì không có con trai nối dõi tông đường.

Còn nếu Ba già mà yếu đau thì con là gái không thể chăm cho Ba được.

Ca dao có câu: Trai mà chi” Gái mà chi”

Con nào có nghĩa có nghì thì hơn.

Nói đến đây Ba chợt nhớ loáng thoáng câu chuyện “Tấm đắp mông ngựa” mà Ba đã đọc từ rất lâu:

Chuyện kể: Một người cha đã đem cả gia tài còn lại của mình cưới cho con cô vợ giàu, trẻ đẹp.

Một thời gian đầu sống vui.

Rồi những đứa cháu nội lần lượt ra đời. Người cha mỗi ngày một già yếu.

Người con trai rất yêu và nể vợ.

Dần dần quên đi trong nhà còn có người cha.

Mùa Đông lạnh lẽo mà sức già chịu không thấu những ngày giá tuyết phũ phàng.Trong khi những con ngựa nuôi trong chuồng thì được giữ ấm bằng những tấm đắp mông.

Đến chừng không thể chịu đựng được nữa người cha bèn gọi con trai để nói rằng: 

– Con ơi, hãy cho cha một tấm đắp mông ngựa đễ cha dễ ngủ vì mùa Đông nầy lạnh quá!

Con dâu nghe được bèn nói với chồng:

– Anh hãy lấy tấm đắp cũ ngoài sân kia mà cắt cho cha một nửa.

Người con trai làm theo lời vợ.

Trong lúc cố dùng sức cắt đôi tấm đắp ra thì đứa con nhỏ đến gần, hỏi:

-Cha ơi, sao không cho ông Nội cả tấm đi” Cha cắt ra làm chi “

Người cha trả lời:

– Để dành con à.

Hôm sau, người con trai thấy đứa con mình cũng đem tấm đắp mông ngựa khác cắt ra làm đôi.

Người con trai giận dữ hỏi:

– Con làm cái gì vậy” Tại sao con cắt nó ra”

Đứa con nhỏ đáp:

– Nửa tấm nầy con cho ông Nội.

Còn nửa nầy để dành khi nào cha già con sẽ cho cha.

Người cha giật mình hối hận.

Từ đó, hết lòng chăm sóc cha mình cho đến cuối cuộc đời.

Vân Khanh, Ba ước ao những người cha khác cũng có con hiếu thảo như con gái của Ba.

Ba rất tự hào về con.

Trong lúc có biết bao gia đình, cha mẹ ngậm đắng nuốt cay vì những đứa con Việt Nam sống theo kiểu Mỹ. Rất tự do! Thậm chí đã khước từ hai chữ HIẾU KÍNH cha mẹ, làm cho các bậc sinh thành hàng ngày sống “nước mắt chan cơm” thì Ba đã được vợ chồng con hết lòng chăm chút từng miếng ăn, giấc ngủ.

Người xưa nói:

“Hiếu thuận huờn sinh hiếu thuận tử. Ngỗ nghịch huờn sinh ngỗ nghịch nhi”. Ba ước nề nếp gia đình mình là như vậy.

Ba của con VÂN KHANH

( từ FB Hong Le )

P/s: Ảnh từ phim “Mẹ con Đậu Đũa”

share từ FB chị Lâm Nguyễn

 


 

Về cựu Tổng Thống Jimmy Carter (1924-2024) – Phùng Văn Phụng

Phùng Văn Phụng

Ông là vị Tổng thống thứ 39 (1977 – 1981) nghèo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sống trong một ngôi nhà giản dị, đơn sơ và thường mua đồ giảm giá tại Siêu thị.

Ông Jimmy Carter, vị Tổng thống Hoa Kỳ duy nhất không có dinh thự. Sau khi rời Nhà Trắng, ông và vợ sống trong một ngôi nhà nhỏ chỉ có giá trị 167.000 đô la. Tất cả đồ đạc của họ đều là đồ cũ được cha mẹ ông truyền lại. Chất lượng cuộc sống của ông có lẽ còn tệ hơn hầu hết mọi người.

Ông đã lái một chiếc Ford Taurus cũ trong nhiều năm, một chiếc xe đã hơn 25 năm tuổi.

Vậy tiền của ông đã đi đâu?

Ông là người sáng lập Trung tâm Carter và cũng đã chi không dưới 30 triệu đô la để chống lại bệnh mù sông và bệnh giun Guinea.  

Carter tiếp tục duy trì sự hợp tác tích cực và lâu dài với Tổ chức Hỗ trợ Gia cư (Habitat for Humanity), một tổ chức từ thiện Cơ Đốc với mục tiêu xây dựng nhà ở cho người nghèo.

Ông đã đích thân giúp xây nhà cho các gia đình thu nhập thấp và thậm chí còn tự tay xây hàng chục ngôi nhà, tiếp tục làm như vậy khi đã về già.

Cựu Tổng thống này đã qua đời tại nhà riêng ở Georgia vào khoảng 3:40 chiều theo giờ miền Đông vào ngày 29 tháng 12 năm 2024, thọ 100 tuổi.

Trích Từ Quora – (nguồn: haiphuoc47 & Nguyen NThu)

Trần Trung Đạo viết: “Tháng 6, 1981, người viết và hơn 80 đồng hương trên chiếc ghe chỉ dài hơn 10 mét, không thực phẩm, thiếu nước uống, đã được chiến hạm USS White Plains (AFS-4) vớt trên Biển Đông.

Chúng tôi biết ơn TT Jimmy Carter. Không có tổng thống, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó có tôi, có thể đã chết trên Thái Bình Dương mênh mông đầy gió”.                                                                       

Hành động của TT Carter lúc đó không được dân chúng Mỹ đồng tình.

Theo thăm dò của Gallup, 57% chống đối chính sách tỵ nạn mới của TT Carter. Nhưng TT vẫn hành động theo lương tri và lòng thương cảm. Ông phát biểu: “Chúng ta sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn là đặc điểm truyền thống của Hoa Kỳ khi đối mặt với những tình huống khủng hoảng con người như vậy.” (Catherine E. Shoichet, CNN, Sun June 4, 2023)

Đạo luật Tỵ Nạn (Refugee Act of 1980) được quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1979 và TT Jimmy Carter ký ban hành đầu 1980 đã nâng mức nhập cư người tỵ nạn từ 17,000 đến 50,000 người. Đây là một hành động của một vĩ nhân.

Báo Time đã lên hình của cựu Tổng Thống Jimmy Carter trên trang nhất tháng 01 năm 2025

******

Ngược lại lòng nhân từ là sự bạo ngược, trả thù.

Sau khi chiếm được miền Nam của cộng sản Bắc Việt, Đỗ Mười (Phó Thủ Tướng (1976-1981), Trưởng ban cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa) đã áp dụng học thuyết “đấu tranh giai cấp” nên đánh tư sản miền Nam, đuổi dân đi vùng kinh tế mới (những vùng nghèo nàn, đất hoang…) để trồng trọt, khai hoang… trả thù giai cấp, bắt giam, đày đọa, bỏ tù lâu dài những người ưu tú miền Nam như các nhà tư bản (gọi là tư bản bốc lột) ở miền Nam. Bắt giam, bỏ tù dài hạn các quân nhân, viên chức miền nam (gọi là cải tạo) có người bị ở tù đến 17 năm.

Hậu quả là nền kinh tế đất nước hoàn toàn kiệt quệ, đói kém, không có đủ gạo để ăn, phải ăn bo bo (thức ăn của trâu bò).

Lòng căm thù đã đẩy toàn dân Việt Nam vào hoàn cảnh khó khăn, chia ly, đau khổ, nghèo nàn … và người Việt phải tìm đường sống bằng cách vượt biên bằng những chiếc thuyền mỏng manh và đã bỏ mạng rất nhiều trong biển cả mênh mông.

Khác với cựu Tổng thống Jimmy Carter, cựu chủ tịch nước Việt Nam Cộng Sản Trần Đại Quang khi chết đã có khu mộ rộng đến khoảng 55,000 mét vuông (5 héc ta rưỡi)

Facebook Tạ Duy Anh- Hình ảnh khu mộ ông Trần Đại Quang

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49552560

Phùng Văn Phụng

Ngày 22 tháng 02 năm 2025


 

Cô giáo trẻ mới về trường, chỉ hỏi đúng một câu đám học sinh hư hỏng chết lặng

Chi Nguyen –  Những Câu Chuyện Thú Vị

Cô giáo trẻ mới về trường, chỉ hỏi đúng một câu đám học sinh hư hỏng chết lặng …

Đây là một câu chuyện có thật trong lịch sử.

Tại một trường trung học ở Mỹ, có một lớp học nọ với 26 em học sinh cá biệt.

Những em học sinh trong lớp học này đều có tiểu sử không mấy hay ho: em từng tiêm chích ma túy, em từng vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ mà trong một năm đã phá thai tới 3 lần.

Gia đình đều chán nản và đã buông bỏ chúng, các thầy cô giáo trong trường thậm chí cũng coi chúng là đồ bỏ đi.

Tưởng chừng cuộc sống đã hết hi vọng thì một ngày kia, Phila, một cô giáo mới về trường đã tình nguyện làm chủ nhiệm của những đứa trẻ hư hỏng này.

Khác với suy đoán của bọn trẻ, trong ngày đầu tiên nhận lớp, Phila đã không hề quát nạt hay ra oai với chúng. Trong chiếc đầm lụa màu xanh nhạt, mái tóc màu nâu hạt dẻ búi cao, Phila bước nhẹ lên bục giảng. Cô dịu dàng nhìn xuống lũ trẻ một lượt rồi cất tiếng với vẻ trầm ngâm:

Cô sẽ kể cho các em nghe về quá khứ của 3 người đàn ông khác nhau:

– Người thứ nhất đã từng có những vụ bê bối về chính trị, rất tin vào y thuật của thầy cúng, ông ta từng có tới 2 tình nhân, hút thuốc nhiều và uống 8-10 ly rượu mạnh mỗi ngày…

– Người thứ hai đã 2 lần bị đuổi việc, hôm nào cũng ngủ tới trưa mới dậy và tối nào cũng uống 1 lít rượu brandy. Ông ta từng hít thuốc phiện khi còn là sinh viên…

– Người thứ ba là anh hùng chiến tranh của một đất nước. Ông ta ăn chay trường, không bao giờ hút thuốc và thỉnh thoảng mới uống rượu, có uống bia nhưng uống không nhiều. Thời thanh niên chưa từng làm gì phạm pháp và chưa từng có một vụ bê bối tình ái nào…

Cô hỏi cả lớp:

Trong 3 người, ai sau này sẽ có cống hiến nhiều nhất cho nhân loại?

Những đứa trẻ đồng thanh chọn người thứ ba sau khi nghe xong câu chuyện…

Nhưng câu trả lời của Phila đã khiến lũ trẻ chết lặng.

Các em thân mến!

Cô biết chắc là các em sẽ chọn người thứ 3 và cho rằng chỉ ông ta mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em đã sai rồi đấy.

Ba người này đều là những nhân vật nổi tiếng trong thế chiến thứ 2.

– Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường. Ông ta đã đảm nhận chức vụ Tổng thống Mỹ trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp.

– Người thứ hai là Winston Churchill, vị Thủ tướng nổi tiếng và tài ba nhất trong lịch sử nước Anh.

– Còn người thứ ba là Adolf Hitler, con ác quỷ phát xít Đức đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội

Cô giáo trẻ mới về trường chỉ hỏi đúng một câu, đám học sinh hư hỏng chết lặng…

Người thứ nhất – Roosevelt

Người thứ 2 – Winston Churchill

Và người thứ 3 là Adolf Hitler

Thật không thể ngờ…

Những đứa trẻ như ngây người trước câu trả lời của Phila và dường như không thể tin nổi vào những gì chúng vừa nghe thấy.

Các em có biết không, những điều mà cô vừa nói là quá khứ của họ, còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ đã làm sau khi đã thoát ra khỏi cái quá khứ đó.

Các em ạ, cuộc sống của các em chỉ mới bắt đầu. Vinh quang và tủi nhục trong quá khứ chỉ đại diện cho quá khứ, còn cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai.

Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm, và cô tin các em sẽ trở thành những người xuất chúng…

Phila vừa nói vừa nhìn chúng với ánh mắt đầy hi vọng.Và bạn biết không, sau này khi trưởng thành, rất nhiều học sinh trong số họ đã trở thành những người thành đạt trong cuộc sống. Có người trở thành bác sĩ tâm lý, có người trở thành quan tòa, có người lại trở thành nhà du hành vũ trụ. Và trong số đó phải kể đến Robert Harrison, cậu học sinh thấp nhất và quậy phá nhất lớp, nay đã trở thành Robert Harrison – Giám đốc tài chính phố Wall.

Ý nghĩa của câu chuyện ở đây là bạn hãy đừng bao giờ ngừng hi vọng, ngừng yêu thương, ngừng cố gắng bởi hôm qua chỉ là quá khứ, ngày mai là một điều bí mật, còn ngày hôm nay là một món quà. Và đó là lý do nó được gọi là “The Present” (hiện tại/món quà).

Trong cuộc đời của con người, mỗi ngày đều có thể là một sự bắt đầu mới mẻ còn những vinh quang và tủi nhục của ngày hôm qua đều chỉ là dĩ vãng. Những việc trong quá khứ nói cho người khác biết bạn đã từng là người như thế nào, nhưng chính những việc làm ở hiện tại và tương lai mới nói lên bạn là ai.

Thế nên: Đừng bao giờ hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh với người khác. Đừng bao giờ đặt mục tiêu của mình dựa vào những gì mà người khác cho là quan trọng. Chỉ bạn mới biết được những gì tốt nhất đối với chính mình. Đừng bao giờ để cuộc sống vuột khỏi tầm tay bằng cách sống khép mình vào trong quá khứ, hay uốn mình vào trong tương lai. Hãy sống cho hiện tại, lúc này và ở đây. Hãy hướng về phía mặt trời và bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy bóng tối. Và cuối cùng, hãy nhớ rằng, dù người khác có nói với bạn điều gì đi nữa, hãy tin rằng cuộc sống này là kỳ diệu và đẹp đẽ.

Bài sưu tầm – Ảnh ST.minh họa.


 

Ở HAY GHÉ?- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta!”.

“Không ai ở địa ngục có thể nói, ‘Chúa đặt tôi ở đó!’; không ai trên thiên đàng có thể bảo, ‘Tôi đặt mình ở đây!’. Tôi có gì dưới thế, tôi được gì trên trời, cũng là do Con Một Thiên Chúa – Đấng từ trời xuống – tặng ban!” – John Hannah.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu Hannah nhắc rằng con người không tự quyết định số phận mình, thì Tin Mừng hôm nay mặc khải một điều quyết định hơn: giữa ‘ở hay ghé’, Thiên Chúa đã “chọn ở” với con người. Ngài cư ngụ với nó!

Luca kể chuyện Giáng Sinh với những chi tiết rất người: một hài nhi, một máng cỏ, một đêm đông, một gia đình không tìm được chỗ trọ. Những chi tiết ấy có thể khiến người hời hợt tưởng rằng, Thiên Chúa chỉ ghé qua lịch sử nhân loại trong một khoảnh khắc rồi đi. Gioan không cho phép hiểu như thế bằng cách đẩy cái nhìn đi xa hơn, sâu hơn và cao hơn, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta!”. “Nhập Thể cho phép chúng ta khoan sâu vào tim trái đất và thấy ở đó lấp lánh thần tính!” – Avery Dulles.

“Ở hay ghé?” không chỉ là câu hỏi về cách Thiên Chúa đến, mà còn là câu hỏi về bản chất tình yêu của Ngài. Ghé là đến rồi đi; ở là gắn bó, mang lấy, chịu đựng. Ghé không để lại dấu vết; ở thì mang cả vết thương. Và Thiên Chúa đã chọn ở! “Cư ngụ” là dựng lều, cắm trại, ở cùng. Ngài không mặc lấy nhân tính như một chiếc áo khoác vào, cởi ra; Ngài không đến để quan sát con người từ bên ngoài, nhưng bước vào bên trong, mặc lấy thân phận mong manh của nó – một xác phàm đói khát, mệt mỏi, bị từ chối, hiểu lầm – và sau cùng, thập tự. Đó là cái giá của việc ở lại, chứ không phải ghé qua. “Chỉ những ai khiêm nhường mới tin và vui mừng rằng, Thiên Chúa chọn điều nhỏ bé và thấp hèn rồi biến nó nên kỳ diệu!” – Dietrich Bonhoeffer.

Nếu với Luca, đêm Bêlem là đêm Thiên Chúa bước vào thế giới; thì với Gioan, đó là khoảnh khắc Ngài quyết định ở lại trong thế giới. Nếu các mục đồng run sợ trước vinh quang Chúa, thì Gioan táo bạo hơn, “Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người”. Vinh quang ấy không chói loà trên mây trời, nhưng lặng lẽ toả sáng trong một đời sống ở lại – ở với con người, với lịch sử, với tội lỗi và khổ đau của nó. “Trong mỗi giây phút, hãy vui mừng vì Chúa đang ở với bạn!” – Brother Lawrence.

Anh Chị em,

Giữa một thế giới quen sống “văn hoá ghé qua” – ghé qua các mối quan hệ, ghé qua trách nhiệm, ghé qua niềm tin – Lời Chúa hôm nay loan báo một điều buộc chúng ta dừng lại. Thiên Chúa không ghé qua đời ai, Ngài ở lại; không yêu chúng ta bằng tình yêu thử nghiệm, nhưng bằng tình yêu tự hiến đến cùng. “Thiên Chúa gần bạn hơn chính bạn đối với bản thân mình!” – Ramakrishnananda. Và vì ở gần, ở lại, nên mọi ân ban của cuộc đời chúng ta – dưới đất hay trên trời – đều là hồng ân nhưng không từ Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ở lại với con như hải đăng không tắt giữa đêm đen của bão biển. Dẫn con qua mọi đổi thay, nâng con lên trong thử thách và giữ con trong bình an!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, 31/12, ngày thứ 7 trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh

Ngôi Lời đã trở nên người phàm.

✠Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 1,1-18

1Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
2Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
3Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Điều đã được tạo thành 4 ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
5Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
6Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gio-an.
7Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà tin.
8Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
9Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
10Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
11Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
12Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
13Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
14Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
15Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố :
“Đây là Đấng mà tôi đã nói :
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”
16Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
17Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê,
còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có.
18Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ;
nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa
và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,
chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.