Phép Thánh Thể

5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá


4. Chiếc Bánh Thứ Tư

Sức mạnh độc nhất của tôi:

Phép Thánh Thể

Quanh bàn tiệc Thánh Thể được thực hiện và được tỏ bày sự hiệp nhất hài hòa của Hội Thánh, mầu nhiệm hiệp thông truyền giáo, trong đó mọi người nhận thấy mình là con Chúa và là anh chị em trong một đại gia đình. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 7)

Trong tù cha có dâng lễ được không?“, đó là câu hỏi mà bao nhiêu lần nhiều người đã hỏi tôi. Và thực sự họ có lý, vì Thánh Thể là kinh nguyện đẹp nhất, là đỉnh cao của cuộc đời Chúa Giêsu. Mỗi khi tôi trả lời “có”, thì tôi đã biết ngay câu hỏi tiếp sau: “Làm sao cha kiếm ra rượu lễ, bánh lễ?

Lúc tôi bị bắt, tôi phải đi ngay và đi tay không. Hôm sau tôi được phép viết về nhà để xin đồ cần dùng nhất như áo quần, kem đánh răng, v.v… Hàng đầu tiên, tôi viết: “Xin gửi cho tôi ít rượu thuốc trị bịnh đường ruột“. Bên ngoài, giáo dân hiểu ngay. Hôm sau, ông trưởng ban chấp pháp cầm đến một ve nhỏ bên ngoài có dán giấy đề chữ “thuốc trị bịnh đường ruột” và bánh lễ xé nhỏ bỏ trong một cái lọ chống ẩm, ông ta hỏi:

– Ông có bị bịnh đường ruột không?

– Có.

– Ðây là thuốc bên ngoài gửi vào cho ông!

Không bao giờ tôi vui bằng hôm đó: từ đấy mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi dâng thánh lễ.

Tuy nhiên cách dâng lễ mỗi nơi mỗi khác. Dưới hầm tàu thủy chở tôi ra miền Bắc, ban đêm tôi ngồi giữa mấy bạn tù, bàn thờ là túi cói đựng đồ, dâng lễ thánh Phanxicô quan thầy của tôi và cho các bạn chịu lễ. Lúc ở trại Vĩnh Quang tôi phải dâng lễ trong góc cửa ban sáng lúc người ta đi tắm sau giờ thể dục. Lúc đã quen với thời khóa biểu của trại, tôi dâng lễ ban đêm, vì chúng tôi được chia thành từng đội 50 người, ngủ chung trên một láng gỗ, mỗi người được 50 cm, đầu đụng nhau, chân quay ra ngoài. Chúng tôi đã tự thu xếp để năm anh em Công giáo nằm quanh tôi. Ðến 9 giờ rưỡi đêm, nghe tiếng kẻng là tắt đèn và mọi người phải nằm trong mùng muỗi cá nhân; tôi ngồi cúi sát xuống để dâng lễ thuộc lòng. Tôi đưa tay dưới mùng để chuyển Mình Thánh cho anh em chịu lễ. Chúng tôi nhặt giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Như thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh: Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống, “Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào” (Ga 10, 10). Như manna nuôi dân Do Thái đi đường về Ðất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6, 53).

Mỗi tuần, sáng thứ Sáu có một buổi học tập, tất cả 250 anh em phải tham dự. Ðến lúc xả hơi, các bạn Công giáo thừa dịp đó mang các túi nylon đựng Mình Thánh đến chia cho bốn đội kia, mỗi người thay nhau mang trong túi áo một ngày.

Ai cũng biết có Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở giữa trại tù với họ. Chính Ngài an ủi, xoa dịu những khổ đau thể xác và tinh thần; chính Ngài thêm can đảm chịu đựng cho họ. Ban đêm, họ thay phiên nhau làm giờ thánh. Sự hiện diện thinh lặng của phép Thánh Thể biến đổi họ cách lạ lùng. Nhiều người Công giáo trở lại sống đạo đức hơn; nhiều anh em không Công giáo, Phật giáo tìm hiểu Phúc âm và lãnh phép Thánh tẩy trong trại cải tạo, hoặc sau lúc được tự do. Không có gì cưỡng lại được tình yêu Chúa Giêsu. Ðêm tối của ngục tù trở thành ánh sáng, hạt giống đã đâm chồi dưới đất đang lúc trời giông tố phong ba. Những ơn trọng này do Chúa Giêsu Thánh Thể chứ không phải do sức loài người.

Trong chín năm biệt giam, tôi dâng lễ một mình lúc 3 giờ chiều, giờ Chúa Giêsu hấp hối trên Thánh giá. Tôi ở một mình nên có thể hát tiếng Latinh, tiếng Việt, tiếng Pháp… Tôi luôn mang Mình Thánh trong mình “như Cha ở trong con và con ở trong Cha”.

Ðó là những thánh lễ đẹp nhất của đời tôi. Kinh Lauda Sion, Pange Lingua, Adoro Te, Te Deum và nhiều kinh Việt ngữ, mặc cho tiếng loa trước cửa từ 5 giờ sáng đến 11 giờ rưỡi đêm. Tôi cảm nghiệm cách đặc biệt một sự bình an, một niềm vui trong tâm hồn vì Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và thánh Giuse ở với tôi. Tôi hát Salve Regina, Salve Mater, Regina Coeli, v.v… hiệp với toàn thể Hội thánh. Mặc cho Hội thánh bị vu cáo, chống đối, tôi hát “Này con là đá… Ta hãy nguyện xin cho Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô”…

Chúa Giêsu đã nuôi dưỡng dân chúng theo Người trên sa mạc; trong phép Thánh Thể Chúa Giêsu tiếp tục làm của ăn ban sự sống muôn đời.

Mỗi lúc dâng lễ, đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại lời “giao ước mới, giao ước vĩnh cửu” với Chúa Giêsu. Không phải để sống an nhàn, nhưng để bắt đầu một cuộc cách mạng, đổi mới nhân loại, được máu Chúa cứu chuộc, sống xứng đáng phẩm giá con Thiên Chúa, trong văn hóa của tình thương và sự sống.

Trong Thánh Thể chúng tôi loan truyền sự chết của Chúa Giêsu và tuyên xưng sự sống lại của Ngài. Có lúc buồn nản vô cùng, tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: Ngài không giảng dạy, thăm viếng, chữa lành bệnh tật; Ngài hoàn toàn bất động. Ðối với con mắt loài người, cuộc đời Chúa Giêsu là vô ích, là thất bại. Nhưng đối với đôi mắt Thiên Chúa, chính giây phút ấy lại là giây phút quan trọng nhất của đời Ngài, vì trên Thánh giá Ngài đã đổ máu mình để cứu chuộc nhân loại.

Chúa Giêsu là mẫu gương của tình yêu tuyệt đối với Ðức Chúa Cha và các linh hồn. Ngài đã cho tất cả, yêu thương đến cùng (Ga 13, 1), cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng và nói lên tiếng “hoàn tất” (Ga 19, 30).

Khi nhìn thấy đoàn lũ theo Ngài, Ngài nói: “Tôi thương xót dân này” (Mt 15, 32). Ngài đã làm phép lạ cho bánh và cá hóa nhiều để nuôi họ. Ðây là dấu hiệu loan báo phép Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập về sau.

Các bạn trẻ thân mến,

Mời các bạn nghe lời Ðức Thánh Cha: Chúa Giêsu sống giữa chúng ta, trong phép Thánh lễ; giữa những sự bất trắc, những hoang mang trong cuộc đời mỗi ngày, các bạn hãy noi gương hai môn đệ trên đường về Emmau… Hãy cầu xin Chúa Giêsu, để dọc các nẻo đường về bao nhiêu xóm nhỏ Emmau của thời đại ta, Ngài ở lại với các bạn. Ngài phải là sức mạnh của các bạn, là trung tâm của các bạn, là hy vọng trường cửu của các bạn. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 7)

Biệt giam tại trại Phú Khánh, Nha Trang,

1-9-1976

Lễ các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

Sống Vui Từng Ngày, Bon Chen Gì Nữa

Sống Vui Từng Ngày, Bon Chen Gì Nữa

Ngậm ngùi bởi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay ! Ngậm ngùi phải chi hồi đó thế này thế khác… Hình như ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú ! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Từ ngày có “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp ! Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa ! Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75 ! Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải….nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không ? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi,không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại, mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chỉnh cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua.

Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả ! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút.Nhưng muốn vậy, phải… chuyển đổi cách thở.

Thở ư ? Đúng vậy! Một bác sĩ có thể biết rất nhiều về bộ máy hô hấp, về cơ thể học, sinh lý học, bệnh lý học của bộ máy hô hấp nhưng chưa chắc đã biết thở !

Sưu tầm

Anh chị Thụ Mai gởi

Sống để mà Yêu !

Sống để mà Yêu !

Có khoảnh khắc nào trong cuộc đời mà chúng ta dừng lại và tự hỏi mình rằng: “Ta sống để làm gì?”. Bao nhiêu năm trời bôn ba, xuôi ngược, chạy đua với thời cuộc, lo toan từng miếng cơm manh áo, để rồi giờ đây nhìn lại, ta được gì? Nhà cao, chức trọng? Tiền tài, danh vọng? Đó là những ai nhiều phước đức. Thất bại, bẽ bàng, chia ly, tan vỡ? Buồn nhiều cho những số phận hẩm hiu…

Có khoảnh khắc nào trong cuộc đời, mà chúng ta dừng lại và tự hỏi mình rằng: “Ta yêu để làm gì?”. Bao nhiêu năm trời lao đao lận đận, chạy đuổi theo tiếng gọi của trái tim, để rồi giờ đây nhìn lại, ta được gì? Vợ đẹp, con ngoan? Mái nhà đầm ấm? Đó là những ai nhiều phước đức. Nửa đêm thức giấc, nhìn quanh một mình? Buồn nhiều cho duyên kiếp đìu hiu…

Cuộc đời này có mấy ai dám bảo rằng, tôi sống mà chưa từng bao giờ yêu? Con mới chào đời, Mẹ đã yêu con. Khi bắt đầu cất tiếng khóc, con yêu bầu sữa Mẹ. Ba yêu tiếng bi bô khi con tập nói. Bà yêu đôi chân chập chững lúc cháu tập đi. Cu Tèo yêu chiếc diều giấy mỗi chiều lộng gió. Bé Tí yêu cô búp bê bằng gỗ chẳng muốn rời.

Trưởng thành hơn, tuổi trẻ thường yêu tiền, yêu sự nghiệp, yêu công danh, yêu vật chất. Chữ Yêu của tuổi trẻ gần như đồng nghĩa với yêu đời, bởi vì cuộc sống ở lứa tuổi này, đa số thường rất dễ yêu. Có thất bại, chán nản đi nữa, thanh niên thường cho rằng, mình còn nhiều thời gian để làm lại, và vì thế cuộc đời nào mất cái vẻ đáng yêu?

Bước vào tuổi trung niên, con người thường bắt đầu nhận ra được chân lý cuộc đời, qua mái tóc lắc rắc muối tiêu, khi đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, với đủ vị đời ngọt bùi cay đắng. Có khóc, có cười, có đau, có sướng. Thế nhưng con người vẫn tiếp tục sống để mà yêu, yêu nửa đoạn đường đời vẫn còn trước mặt.

Qua tuổi xế chiều, người già vẫn yêu. Yêu kỷ niệm, yêu nét dễ thương của “ngày xưa hoàng thị”. Có người yêu quá khứ huy hoàng; có kẻ yêu mối tình xưa chưa một lần dám tỏ. Và cũng chính vì chữ yêu, mà người ta bám lấy cuộc sống, vì dầu gì, người già cũng vẫn có trái tim…

Không phải ai cũng may mắn trong cuộc sống tình yêu. Đâu phải dễ dàng cứ lớn lên rồi gặp người mình yêu; lại có phước được chung sống với người yêu mình; và lại còn có duyên bên nhau tới ngày răng long đầu bạc…

Con người cần tình yêu để mà sống, nhưng con người không có tình yêu vẫn phải sống. Ta sống vì đã mang thân xác con người. Ta sống vì bổn phận với người thân. Ta sống vì con người sinh ra, sinh mạng là quý báu. Cho nên ta sống để mà yêu, và ta yêu để có được niềm vui trong cuộc sống.

Bao nhiêu năm qua, nhiều người đã cố gắng đi tìm định nghĩa chung của hai chữ tình yêu. Nhưng hỡi ôi….

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

Thế thì làm sao mới đúng nghĩa là Tình Yêu?

Có người nói: “Tình yêu chẳng có gì là khó hiểu”. Như khi đói được ăn thì thấy sướng; như lúc khát được uống thật là vui. Yêu là lâng lâng, là một cảm giác tuyệt vời mà ai yêu thời khắc biết…

Có kẻ bảo: “Tình yêu chẳng làm sao hiểu nổi”. Yêu ai yêu cả đường đi. Yêu làm con người ta mù quáng. Yêu thì trái ấu cũng tròn. Yêu khiến người thông minh cũng thành kẻ ngu si…

Tình yêu ngay chính nó cũng đã có rất nhiều mâu thuẫn. Ta yêu nhưng ta lại không biết làm sao yêu cho đúng với sự mong chờ ở nơi người ta yêu. Và cả chính người yêu ta, cũng không biết yêu ta đúng như ý mà ta mong muốn được yêu. Người ta hay nói con người có duyên lắm mới gặp được nhau. Và có phước lắm hai kẻ yêu nhau mới được sống đời mãi mãi. Còn bằng không, thì dẫu có muốn yêu cũng không được. Hay có được mà trái tim vẫn chẳng chịu yêu…

Và tình yêu đôi khi lại rắn mắc. Người ta bảo: “Theo tình, tình chạy. Bỏ tình, tình theo”. Ba người yêu nhau thì sẽ thành trò chơi cút bắt. Ba kẻ trốn tìm cứ mãi lẩn trốn loanh quanh…

Còn với những ai đã từng một lần dang dở, hay vẫn đang tìm kiếm nửa kia của đời mình, xin đừng vội nản. Vì nếu ta không được Yêu để mà Sống, thì ta hãy nên Sống để mà Yêu…

Tình yêu không chỉ giới hạn trong tình yêu trai gái. Thế giới bao la. Tình yêu cũng vậy. Ta yêu cha, yêu mẹ, yêu chị, yêu em. Ta yêu bạn yêu bè, yêu cỏ cây hoa lá. Yêu tiếng cười giòn của em bé không quen biết. Yêu cái miệng móm mém của cụ già đã rụng hết răng. Và ta yêu rất nhiều thứ chung quanh ta nữa.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường hay quên nói ba tiếng “I love You” với một người thân nào đó của mình. Phải chăng vì ta bận rộn? Hay là ta cho rằng chuyện đó không cần thiết mấy mà phải quan tâm. Khi yêu, người ta thường hay nghĩ rằng “người ấy” luôn luôn đủ thông minh để hiểu hết tất cả những gì mình làm, những gì mình nghĩ.

Khi yêu, người ta thường hay cho rằng, lời nói ngọt ngào cũng không quan trọng là bao. Miễn sao chúng ta hiểu ý nhau là đủ rồi. Vậy thì… bao nhiêu là đủ?

Tình yêu của bạn, bất kể là dành cho người yêu, người thân, người bạn, hay những người chung quanh, đôi khi hãy nên nói thành lời, đôi khi nên là những phút giây bên người ấy. Khi yêu, ta phải nên biểu đạt tình cảm của mình bằng mọi phương cách. Đối với nhiều người, phương pháp biểu đạt qua lời nói và hành động hàng ngày, là dễ dàng và cụ thể nhất.

Hãy nói lên lời yêu thương trong tim bạn, đến những người mà bạn đang yêu mến xung quanh mình.

Em ơi nghe chăng Tình yêu,
Tình yêu hát ở trong lòng
Như Xuân đang sang mênh mang
Như con tim yêu thương nồng cháy…

Hãy Sống để mà Yêu, Yêu thật nhiều và Yêu cho đúng ý người ta…

Nhân ngày lễ Tình yêu, xin cho tôi được một lần nữa – Sống để mà Yêu, qua lời nói chân thành nhất:

Tôi yêu bạn, yêu đời và yêu cả người dưng…

Hoàng Thanh.

Anh chị Thụ Mai gởi

Tết Chúa

Tết Chúa

Chuacuuthe.com

TRẦM THIÊN THU

VRNs (15.02.2015) – Sài Gòn

Giã từ Năm Cũ, sám hối lỗi lầm, quyết tâm trở về với Chúa Trời nhân hậu;

Chào đón Tân Niên, canh tân đời sống, thành thật tín thác nơi Lòng Chúa Xót Thương.

150215002

Thời gian cứ ngắn dần, mùa Đông lui bước để nhường chỗ cho mùa Xuân. Đó là quy luật muôn thuở.

Dân tộc nào cũng có ngày Tết riêng. Dù muốn dù không, dù trẻ hay già, dù nam hay nữ, tất cả đều cảm thấy cõi lòng rạo rực, nô nức, dù ít hay nhiều, dù chỉ là vô thức hoặc không muốn. Ngoại tại khả dĩ tác động nội tại.

Thời gian là của Chúa. Thời gian không thuộc quyền của chúng ta, nhưng chúng ta được Chúa cho phép quản lý thời gian của mình. Đó là trách nhiệm. Ai cũng có mỗi ngày 24 giờ, không hơn 1 giây, không kém 1 giây. Dùng thời gian đó làm điều tốt hay xấu là quyền của mỗi người. Nén-thời-gian Ngài đã trao và cho chúng ta hoàn toàn tự do sử dụng.

Chúa rất muốn chúng ta vui. Dân tộc nào cũn có cách vui Xuân đặc trưng. Có nhiều cách ăn tết, thế nên mỗi người đón tết cũng rất khác nhau. Có người chỉ cần một cành mai, có người muốn nếm miếng bánh chưng, có người thích ăn một miếng mứt, có người ưa ăn một miếng dưa, có người khoái sắm chiếc áo mới, có người dành thời gian đọc sách báo, nghiên cứu, hoặc làm từ thiện,… Thế nhưng có người lại cố gắng thể hiện bề ngoài cho ra vẻ tết nhất để hợp với “đẳng cấp” của mình. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người có quan niệm riêng và phong cách riêng.

Tết nhau cũng đa dạng, tùy theo “thần tài” nhà mình, do đó mà lễ vật cũng mỗi người mỗi vẻ, mức “nặng” và “nhẹ” cũng rất khác nhau. Các “ông to, bà lớn” rất vui khi được “bề dưới” thể hiện bản lĩnh “biết điều” sao cho đúng mức. Người nghèo cũng rất vui khi được các nhà hảo tâm tặng vài kg gạo, túi đường hoặc bịch mứt. Giá trị vật chất khác nhau, nhưng giá trị tinh thần có thể giống nhau về niềm vui mà lại không giống nhau về “ý nghĩa”. Nhiêu khê quá!

Có người nói “tết là chết trong lòng”, thật cũng hợp lý lắm!

Với con người là thế. Người ta lo tết nhau những thứ có giá trị “thực tế”, làm đẹp lòng nhau bằng vật chất. Người ta cân-đo-đong-đếm giá trị tinh thần bằng chính giá trị vật chất, người nghèo không “chết trong lòng” sao được!

Về tinh thần thì sao? Có lẽ người ta không chú trọng nhiều đến việc xin lỗi nhau, dù ai cũng có lỗi, mà Tết là dịp để gặp gỡ nhau. Dù không nói ra, nhưng chính sự gặp nhau đó ngầm hiểu là tha thứ cho nhau. Chính sự giao hòa và lòng tha thứ mới là “quà tết” giá trị nhất.

Còn với Chúa thì sao? Thực sự chúng ta chỉ là những tội đồ vô cùng khốn nạn, hoàn toàn bất túc và bất trác, nhận rất nhiều mà chẳng có gì xứng đáng để tết Chúa, như Tv 115 nói: “Con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con?”, thế nên chúng ta chỉ biết tiếp tục làm như Tv 115 dạy: “Con sẽ dâng Chén Cứu Độ và con sẽ kêu cầu Thánh Danh Chúa chí tôn”. Vả lại, chính Chúa cũng xác định: “Tôi muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13), Ngài cho chúng ta tất cả: “Tôi đến để cho con người được sống và được sống dồi dào” (Ga 10:10). Thế nên Ngài không đòi hỏi gì ở chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta đối xử tốt với nhau, và Ngài coi đó là làm cho chính Ngài.

Chúa không cần chúng ta tết Chúa, nhưng Ngài muốn chúng ta tết tha nhân bằng chính tấm lòng chân thành nhất: YÊU THƯƠNG NHAU. Chúa Giêsu gọi đó là Điều Răn Mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34; Ga 15:12). Đó là “dấu hiệu” chứng tỏ ai là nhân chứng đức tin: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35). Chúa Giêsu nhắc lại: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17).

Chúa Giêsu thường nhắc đi nhắc lại: “Hãy yêu thương nhau”. Điều đó cho thấy Luật yêu cực kỳ quan trọng trong cuộc sống người Công giáo nói riêng. Và đó mới là Quà Tết đẹp lòng Chúa nhất. Chính món quà đó là những thứ Chúa muốn, nhưng không để lợi ích cho Ngài, mà là để lợi ích cho chính chúng ta và tha nhân. Tất nhiên, Quà tết đó sẽ thắm sắc màu Tin Cậy Mến:

Đầu Xuân con dâng lễ

Tết Thiên Chúa chí nhân

Quà Tết con chia sẻ

Là yêu thương tha nhân

Món quà yêu thương là Quà Tết quý giá, nhưng Quà Tết thánh đức nhất lại không gì bằng chính Con Thiên Chúa:

Bánh, rượu con dâng tiến

Xin Thiên Chúa chúc lành

Hóa thành Mình Máu Chúa

Hồn con đón Chúa Xuân

Chúa cũng sẽ rất vui chúc lành nếu chúng ta không chỉ giao hòa với Ngài mà còn cầu nguyện cho đất nước yêu dấu, tổ quốc thân thương, nơi mình đang sinh sống, với tâm tình cảm tạ:

Xuân mới đầy Ơn Thánh

Đức Chúa ban muôn người

Tình đồng loại thắm nở

Khắp nước Việt nơi nơi

Và dâng cho Chúa tất cả những nỗi niềm, lo toan, mơ ước, dự tính,… trong năm mới:

Đầu Xuân con dâng Chúa

Những mơ ước tin yêu

Rạng rỡ như hoa nở

Người luôn yêu thương nhau

Quà Tết dành cho Chúa còn là món quà “vâng lời”, như Đức Mẹ đã “xin vâng” (Lc 1:38), là thực hiện những điều Ngài dạy qua Kinh thánh:

– “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23).

– “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6:36).

– “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9:13), vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35).

– “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep 4:29).

– Đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái (Rm 13:8).

Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta phải tết Chúa hôm nay và suốt cuộc đời này…

Lạy Chúa Xuân vĩnh hằng, chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng (Lc 17:10), chúng con thành tâm xin lỗi Chúa, xin Ngài thương xót mà tha thứ tội lỗi cho chúng con. Xin cảm tạ Chúa về mọi ơn lành Ngài đã ban cho chúng con trong năm qua, và xin thương xót mà chúc lành cho năm mới của chúng con. Xin giúp chúng con biết sống vuông tròn Ý Ngài trong từng hơi thở của chúng con, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Canada phá vỡ âm mưu thảm sát ngày Valentines

Canada phá vỡ âm mưu thảm sát ngày Valentines

Nguoi-viet.com

TORONTO, Canada (AP) – Cảnh sát Canada phá vỡ âm mưu của hai nghi can nhằm đến một khu thương xá rồi khởi sự giết càng nhiều người càng tốt trước khi tự sát trong ngày Lễ Tình Nhân ở Halifax, theo một giới chức cảnh sát cao cấp.

Giới chức cảnh sát Halifax họp báo nói về vụ phá vỡ âm mưu thảm sát tại thương xá
đúng vào ngày Lễ Tình Nhân 14 Tháng Hai. (Hình: AP Photo/The Canadian Press, Andrew Vaughan)

Giới chức này, yêu cầu được dấu tên, cho báo chí hay hôm Thứ Bảy rằng cảnh sát nhanh chóng có biện pháp đối phó sau khi nhận được tin báo của công chúng.

Một thanh niên 19 tuổi nổ súng tự tử sau khi cảnh sát đến bao vây căn nhà của anh ta, theo giới chức cảnh sát. Một cô gái 23 tuổi ở thành phố Geneva, tiểu bang Illinois, bị bắt ở phi trường Halifax và thú nhận âm mưu này. Nguồn tin cảnh sát cho biết thêm là cô ta đã chuẩn bị một loạt các thông báo để gửi qua tweet sau khi tự tử.

Hai người này có vẻ bị thu hút bởi sự chết chóc và có nhiều hình ảnh về các vụ thảm sát, theo cảnh sát.

Bộ trưởng Cảnh Sát và Tư Pháp Canada, ông Peter MacKay, cho hay âm mưu này không liên hệ đến khủng bố Hồi Giáo.

“Đây có vẻ là hành động của những kẻ muốn tạo sự tàn hại trong cộng đồng chúng ta,” ông MacKay nói, cho biết thêm là nếu không được ngăn chặn kịp thời có thể đã gây ra nhiều thương vong.

Cảnh sát cũng nói rằng có hai thanh niên khác ở Nova Scotia, 17 và 20 tuổi, cũng liên hệ trong vụ này nhưng chưa rõ vai trò của họ là gì.

Bộ Trưởng Nội An Canada, ông Steven Blaney, hoan nghênh sự hợp tác của cảnh sát Canada và thành phố Geneva, tiểu bang Illinois cũng như các nhân viên biên phòng. Sở cảnh sát thành phố Geneva trong bản thông cáo gửi tới báo chí cho hay họ không có hồ sơ gì về cô gái Mỹ trước đó. (V.Giang)

Không ngăn cản bất cứ ai về Việt Nam?

Không ngăn cản bất cứ ai về Việt Nam?

Mặc Lâm – RFA
2015-02-13

maclam02132015.mp3

nguyen-hung-quoc

GS. Nguyễn Hưng Quốc, Australia

Courtesy of vi-wikipedia.com

Your browser does not support the audio element.

Thứ trưởng Vũ Hồng Nam trong cuộc họp báo mang tên “Xuân Quê Hương” vào ngày 30 tháng 1 chào đón kiều bào đã nói rằng theo Nghị quyết 36 của Bộ chính trị thì đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu cao cả, cuối cùng của toàn dân tộc Việt Nam.

Ông Thứ trưởng còn nói đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì Bộ Ngoại giao có chính sách hàn gắn, đoàn kết dân tộc với những người còn có ý kiến khác, còn có những hoạt động chống đối, lời nói xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã tiếp cận những kiều bào còn định kiến, cử các đoàn chuyên viên gặp gỡ, trao đổi với đại diện kiều bào ở các nước, có những chính sách cởi mở hơn nữa để vận động họ trở về…

Đối chiếu với tuyên bố này, thực tế có những bức tranh hoàn toàn khác đang gây ẩn ức từ việc công an cửa khẩu nhận được chỉ thị cấm hàng trăm người nhập cảnh mỗi năm theo danh sách mà họ gọi là thành phần chống đối. Trong các thành phần chống đối ấy công an không loại trừ các trí thức, chuyên gia, hay những người làm từ thiện mà hoạt động của họ hoàn toàn không có một sự chống đối nguy hiểm nào.

Trường hợp thứ nhất là chuyên gia an ninh mạng Hoàng Ngọc Diêu, anh bị nhà nước cấm cửa không cho vào Việt Nam mặc dù được mời tham dự một hội thảo chuyên đề về an ninh mạng vào cái tết năm 2012, anh Hoàng Ngọc Diêu cho biết thêm chi tiết như sau:

“Khoảng tháng 1 đầu năm 2012 tôi được mời về Việt Nam do một nhóm chuyên bảo mật an toàn thông tin của Việt Nam mời về dự cuộc hội thảo được gọi là “Tetcon” (Viết tắt của Tết Conference, do được tổ chức vào ngày gần Tết) mình nhận được giấy mời đàng hoàng, được đài thọ mọi thứ, coi như cái event đó nó được Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận đầy đủ hết rồi.

Ngày hôm đó mình chỉ lên máy bay, về tới nơi thì hải quan của phi trường Tân sơn nhất họ giữ lại, họ lôi vô trong phòng nói chuyện trên trời dưới đất họ tìm cách trì hoãn thời gian. Lúc đó mình chưa có hiểu rõ là mình không được vô Việt Nam mình chỉ nghĩ họ muốn biết mình về Việt Nam làm gì thôi không ngờ họ kéo dài ba bốn tiếng đồng hồ cuối cùng họ nói: thôi bây giờ anh ra máy bay, họ tống cổ lên chuyến bay kế tiếp bay ngược lại Úc!”

hoang-ngoc-dieu

Ông Hoàng Ngọc Diêu – Ảnh từ goctroikhac.wordpress.com

Trường hợp thứ hai là Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc giảng dạy tại đại học Victoria thành phố Melbourne nước Úc. Giáo sư bị công an cửa khẩu từ chối không cho nhập cảnh hai lần, lần đầu tiên vào năm 2005 khi ông dẫn 14 sinh viên người Úc về Việt Nam để làm một cuộc du khảo vì các sinh viên này đã theo học tiếng Việt ở Úc và cuộc đi này nhằm góp phần mở mang kiến thức văn hóa Việt Nam cho các bạn sinh viên. Trong khi tất cả các sinh viên không có vấn đề gì thì chính bản thân người dẫn đầu lại bị chặn và không cho phép vào Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc bị buộc phải lên máy bay quay về Úc ngay sau đó.

Ba năm sau vào năm 2009 Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc được mời thuyết trình trong một hội thảo quốc tế về vấn đề giảng dạy ngôn ngữ do trường đại học Hà Nội và một trường đại học tại Úc đồng tổ chức. Ông được mời, được Việt Nam cấp Visa nhưng khi tới phi trường Nội Bài ở Hà Nội thì lại không được phép nhập cảnh.

Trở về Úc, Giáo sư hỏi đại sứ Việt Nam tại Úc và Bộ Ngoại giao Việt Nam tại sao lại có chuyện như vậy thì Bộ Ngoại giao không trả lời chỉ có đại sứ Việt Nam tại Úc trả lời là họ không biết.

Trường hợp thứ ba là của cô MiVan Lovstrom, vào tháng 10 năm 2011 cô cũng bị cấm nhập cảnh khi cùng hai người bạn Na Uy đi với cô vào Việt Nam mang quà tặng cho trẻ khuyết tật. Chỉ mình cô bị cấm vào và phải quay về Thái Lan mà không một lời giải thích. MiVan cho biết:

“Lúc đó thì họ nói là tạm thời MiVan không được nhập cảnh, MiVan có hỏi lý do thì không được trả lời lý do như thế nào. Sau đó MiVan hỏi nữa thì tòa đại sứ Việt Nam ở Thái Lan nói là chắc MiVan đi tới những vùng nhạy cảm họ cũng nói rằng ở Việt Nam muốn làm từ thiện thì phải qua Mặt trận tổ quốc hay Đoàn thanh niên.

MiVan cảm thấy nó không hợp lý vì vẫn không có câu trả lời thỏa đáng và lúc hỏi khi nào mới trở vào được thì vẫn không có câu trả lời rõ ràng. MiVan cảm thấy chuyện của mình làm là mang một chút nguồn vui tới những người kém may mắn hơn vì vậy MiVan mong được sự thông cảm đối với việc của mình.”

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc là một nhà phê bình lý luận văn học có tiếng ở hải ngoại. Ông là một trí thức hiếm hoi ở nước ngoài dấn thân lặn lội trong việc nghiên cứu văn học Việt Nam nhưng bắt đầu từ hai chuyến cấm nhập cảnh đó người theo dõi thấy chủ đề và cách viết của ông thay đổi một cách rõ ràng. Ông không viết về văn học nữa mà tập trung các bài phân tích chế độ cộng sản Việt Nam một cách sắc sảo mà trước đó ông chưa bao giờ làm. Khi được hỏi có phải sự thay đổi lớn lao này phát sinh từ hai chuyến về Việt Nam hay không ông nói:

“Tôi nghĩ là có anh ạ. Thật ra không phải tôi không quan tâm đến chính trị thế nhưng từ lúc vượt biên, lúc cầm bút vào cuối năm 1985 cho đến khoảng năm 2008 thì hầu như hoàn toàn tôi không viết về chính trị mà chỉ viết về văn học thôi. Không phải vì mình không băn khoăn, không suy nghĩ về chính trị nhưng có hai lý do: Lý do thứ nhất tôi muốn tập trung vào lĩnh vực văn học thôi vì tôi nghĩ đó là sở trường của mình, thứ hai, chuyện chính trị tôi nghĩ có thể có nhiều người khác có khả năng hơn mình họ có thể làm được và làm một cách xuất sắc hơn mình.

Thế nhưng sau khi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam lần thứ hai thì tôi bị shock, rồi chính cái shock ấy tôi mới nghĩ rằng là mình muốn tránh né chuyện chính trị cũng không được. Ngay bản thân tôi hồi trước chỉ tập trung vào phê bình văn học, tậy trung vào nghiên cứu nhưng cuối cùng vẫn bị áp lực của chính trị buộc mình không được đặt chân vào ngay chính quê hương của mình để thăm gia đình, bạn bè cho nên thật ra mà nói tôi rất shocked.”

Cò lẽ sự ẩn ức của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc không phải từ cá nhân ông, nhưng việc cấm nhập cảnh giống như mảnh vải đen che mắt của ông bị lột bỏ để ánh sáng tri thức soi rọi vào một góc tối mà trước đó ông không để ý, giáo sư chia sẻ:

” … có thể nói thế này, chính cái việc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam nó làm như một cái cú shock về phương diện tâm lý và từ phương diện tâm lý như vậy nó thay đổi cả về phương diện nhận thức và cuối cùng tôi viết về chính trị một điều mà trước đó tôi nghĩ có lẽ mình sẽ không bao giờ nghĩ tới.

GS. Nguyễn Hưng Quốc “

“Ngay cả khi mình sống ở hải ngoại mà mình còn chịu sự tác động của những quyết định độc tài độc đoán như vậy huống hồ gì những người trong nước họ hoàn toàn lệ thuộc vào các quyết định của chính phủ. Họ có thể sợ những công an trong khu vực ra đường thì sợ cảnh sát…cả đời họ sợ hãi bởi vậy cho nên tôi nghĩ nếu trong hoàn cảnh như vậy mà mình tiếp tục viết vể văn học nghệ thuật thì tự nhiên mình cảm thấy có gì nó hơi hờ hững quá, nó không phải cho nên tôi bắt đầu viết vể chính trị.

Thoạt đầu tôi định viết ít thôi, mỗi tuần viết trên blog của đài VOA thì tôi định mỗi tuần tôi viết hai bài vể văn học, một bài về ngôn ngữ học hoặc giáo dục và một bài vể chính trị nhưng mà càng đọc, theo dõi tình hình chính trị Việt Nam thì càng cảm thấy khó chịu, bức bối nó đòi viết bởi vậy dần dần về sau này thì gần như tôi viết hoàn toàn về vấn đề chính trị. Gần đây tôi có mở một trang Facebook thì ở trong đó tôi cũng viết về chính trị cho nên có thể nói thế này, chính cái việc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam nó làm như một cái cú shock về phương diện tâm lý và từ phương diện tâm lý như vậy nó thay đổi cả về phương diện nhận thức và cuối cùng tôi viết về chính trị một điều mà trước đó tôi nghĩ có lẽ mình sẽ không bao giờ nghĩ tới”

Trong buổi họp báo vào trước Tết, Thứ trưởng Vũ Hồng Nam khẳng định với báo chí rằng “Việt Nam có chủ trương rõ ràng, đất mẹ Việt Nam mở rộng cánh tay đón tất cả những người con trở về, không phân biệt thành phần quá khứ, miễn là không chống lại đất nước, không chống lại nhân dân. Đây là một thông điệp rõ ràng của Đảng, Nhà nước chúng ta.”

Rất tiếc thông điệp này, ít nhất theo những người bị cấm nhập cảnh vô cớ, chỉ có thể là thông điệp phát đi từ Bộ Ngoại giao, làm theo nội dung của nghị quyết 36 chứ Bộ Công an hoàn toàn không chia sẻ. Những cái nhìn quá nhạy cảm của Cục Đối ngoại thuộc Bộ Công an không phân biệt nổi đâu là sự chống đối nguy hiểm đến chế độ và đâu là các hoạt động thuần túy nghề nghiệp đã đẩy những người có tâm với đất nước trở thành đối đầu một cách kiên trì để từ đó mọi giải thích chỉ được đánh giá là tuyên truyền không hơn không kém.

Mai tôi đi….

Nhiều người không rõ tác giả của bài thơ “Mai Tôi Đi”, xin mời đọc:

Thưa anh Hòa
Tác giả bài ‘Mai Tôi Đi” là Phước Tuyền Ngô Quang Huynh , nguyên Trung Tá QLVNCH, hiện cư ngụ tại Campbell, CA , và là chú họ của tôi .
Bài nầy đã được chuyển dịch ra Anh Ngữ, Pháp Ngữ, và Tây Ban Nha, phổ biến trên nhiều diễn đàn, và luân lưu khắp thế giới …
Xin chuyễn anh Hòa những bản dịch ngoại ngữ dưới đây và kính chúc anh chị an vui, mạnh khỏe .
Vĩnh,


Mai tôi đi….

***
Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn…

Trên giường bệnh,tử thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.

Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…

Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…

Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…

Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa,phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái,nợ thêm người còn sống…

Ngoảnh nhìn lại,đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…

Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Mai-tôi đi …..

Bài thơ hay quá,!!! Cuộc đời là thế !!!Còn chút thời gian, xin hãy đối xử với nhau cho thật tốt, đừng tranh dành chút danh lợi nhỏ nhoi, tất cả đều là phù vân, tạm bợ. Bạn còn nâng ly được xin cứ uống, còn gắp đuợc xin cứ ăn, còn vui được xin cứ vui, còn những người bạn tốt xin hãy gặp gỡ, liên-lạc tâm tình, kể chuyện xưa, nhắc cho nhau những kỷ niệm vui, buồn …. .

Bạn còn người phối ngẩu, xin hãy nâng niu, âu yếm vì có quá nhiều người đến tuổi mình đã không được như bạn mà phải lủi thủi một mình, sáng, trưa, chiều, tối nhìn quanh một mình ! Chỉ vì đời mình ” Đã tắt bình – minh ” . . . .

Vu duc Nghiem

Tomorrow I’ll go… it ‘s really of no importance
It happens normally like falling leaves in the park,
Or flowers stripped by wind on the landmark,
A rather insignificant story in the turbulent current of life.
Beside my sick bed, flickering Death appears,
Please no comments, no visitations and prayers for peace,
When exhausted body releases its last breaths to cease,
I will lie down in agony, waiting for the time to bid farewell..
At final moment, nothing is regrettable,
The days and the months cold or hot in this life worldly,
No matter I am wealthy or full of glory,
I must leave everything behind to return to dust and ashes.
To terminate completely my short and ephemeral life,
I am ready to step into the boundery of yin and yang,
No panic before the threshold of borderlands,
This side, earthly area, and other, invisible, unknown realm…
Only to wish my soul always at ease,
With empty baggage I can make a quick pace,
Forget totally behind the “pull and push” race,
To end forever my journey on this Planet.
When my eyes already closed, Please don’t shed tears for sympathy,
No flower wreaths, no donations and no need to send condolences,
No filming, no pictures taken to save them,
It causes not only inconveniences but also debts for living people.
Look back at the past, the human life like a dream,
I arrived naked and am leaving with empty hands
All ups and downs, happiness or unhappiness on lands,
Will be cleared up…to step on a shore, the boat reaches its port.

If I am missed, please silently pray for me,
Consider it as an emancipation of one human life,
Have a peace of mind, be relaxed and have a good time,
This one goes first, the other after, finally to meet together again.

Pray God by entrusting entirely to Him soul and body,
Living in this present situation with every minutes of heaven,
Day by day, to create a chain of peace even,
That’s my aspiration during my presence in this material world.

Phước Tuyền/NQH (Sep. 16, 2013)

Demain je vais aller

Demain j’irai…Ce n’est vraiment pas d’importance.
Çà arrive normalement comme des feuilles tombant dans le jardin,
Ou des fleurs détachées au vent sur le chemin,
Un conte plutôt insignifiant dans le courant turbulent de la vie…

À côté de mon lit de malade, vacillante, La Mort apparaît,
S’il vous plaît, pas de commentaire, pas de visite ni pour ma paix prier,
Quand mon corps épuisé libère ses derniers souffles pour cesser,
Je m’allonge dans l’agonie, attendant le temps de dire adieu…

Au final moment, rien n’est regrettable,
Les jours et les mois, froids ou chauds dans cette vie mondaine,
Peu importe, si je suis riche ou plein de gloire, tout est en vain,
Je dois tout quitter pour retourner à la poussière et cendres….

Afin de terminer complètement cette vie courte et éphémère,
Je suis prêt à marcher dans la frontière du yin et du yang,
Pas de panique devant le seuil de “borderlands”,
De ce côté, zone terrestre et d’autre part, domaine invisible et inconnu…

Je voudrais seulement mon âme toujours bien à l’aise,
Avec bagage vide, je peux faire un rapide pas,
Laisser derrière moi toutes les courses “tirer et pousser” en bas,
Pour achever éternellement mon voyage sur cette planète..

Quand mes yeux sont déjà fermés… Ne versez pas des larmes de sympathie,
Pas de couronnes de fleurs, de dons et de condoléances à envoyer..
Pas de tournage, de photos prises pour les dossiers.
Ceci provoquera des inconvénients et aussi des dettes pour les vivants..

Regardons en arrière sur le Passé, la vie humaine comme un rêve,
Je suis arrivé tout nu et je pars avec les mains vides,
Tous les hauts et les bas, bonheur ou malheur sur route aride,
Seront nettoyés…Marcher sur le rivage, bateau qui arrive à son port….

Si vous ne m’oubliez pas, Veuillez silencieusement prier pour moi,
Considérez-le comme l’ émancipation d’une vie humaine,
Ayez la tranquillité de l’esprit, soyez toujours détendu et sain,
Celui-ci va d’abord, l’autre après, enfin se réunir à nouveau…

Prions Dieu en tout confiant à Lui corps et âme,
Vivre en cette situation actuelle avec toutes les minutes de ciel,
Jour par jour, créer une chaine de la paix réelle,
C’est mon aspiration durant ma présence dans ce monde matériel..
Phước Tuyền/NQH (Oct. 24, 2013)

Ao Lua Ha Dong-Tho Nguyen Sa & Bài Không Tên Cuối Cùng -Vũ Thành An & Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ -Tho Nguyễn Tất Nhiên -Phạm Duy -Vũ Khanh

Ao Lua Ha Dong-Tho Nguyen Sa -NTM -Vu Khanh -VD (HD)

httpv://www.youtube.com/watch?v=3LZ2AlUDL68&index=6&list=PL65DDD21D34746068

Bài Không Tên Cuối Cùng -Vũ Thành An -Vũ Khanh -PDC

httpv://www.youtube.com/watch?v=UUw3JrzGNac&index=3&list=PL65DDD21D34746068

Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ -Tho Nguyễn Tất Nhiên -Phạm Duy -Vũ Khanh -NNS

httpv://www.youtube.com/watch?v=_xgjWLKK8TQ&list=PL65DDD21D34746068&index=17

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu.”

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu.”
“Ta dối gian nhau, nên nát nụ hôn đầu.
Tình đi từng bước, đi từng bước trên đầu gió.
Gieo xuống lòng nhau, ôi từng hạt thương đau”.

(Phạm Duy – Tình Sầu Du Tử Lê)

(2Cor 9: 1, 2, 3)

Trần Ngọc Mười Hai

Hôm nay, ngồi nặn óc tìm lời nhạc ở đây đó làm nguồn hứng viết “Phiếm”, bần đạo đây phải thú thật một điều, rằng: lời ca trên rất phù hợp với tâm trạng của bần đạo, vào lúc này, hơn bao giờ hết.

Này nhé, trong chuyến du-lịch nước Tây Tạng đầu năm nay 2015, bần đạo cũng “từng bước, đi từng bước” rất dọ dẫm ở độ cao lên đến 6,000m, chỉ để hướng về núi Everest chụp một tấm hình kỷ-niệm chứng tỏ mình đã có mặt ở nơi này. Nghĩ thế rồi, nay bần đạo lại nghe hát tiếp, những lời rằng:

“Người một phương, ta cũng một phương.
Phố cao ngày thấp, nên nắng mưa trùng trùng.
Mắt có sâu, để nhốt trời giông tố.
Ta là hồn câm, cho mưa bão lên.
Người ở đây, ta cũng ở đây.
Lòng không như mặt, mà lòng lệ tràn đầy.
Chân đi theo gió, sầu ba hướng.
Tay với một trời, trời mưa bay.”
(Phạm Duy – bđd)

Quả thật là thế. Đứng ở độ cao 6,000m tại xứ miền được mệnh danh là “Nóc nhà của thế giới”, thì: lại thấy mây trời chậm trôi rất gần kề, ra như thể: chỉ cần với tay lên cao, là ta nắm được chúng ngay thôi.

Và, không chỉ thế. Bần đạo đây, lại dám lên cao/xuống thấp rất từng chập, để cảm-nhận được cái hay/cái đẹp nơi lập-trường của người Tạng, không chỉ mỗi chuyện hành-hương lòng vòng rất nhiều giờ quanh lâu đài Potolas, như thế thôi.

Người Tạng đi như thế, không chỉ mỗi nhà đạo đức hoặc các thày dạy gọi là “Rinpochê” hoặc Đức “Đạt Lai Lạt ma” mới biết làm, mà: tất cả quần chúng từ vua quan, lãnh chúa đến thứ dân, lớp du-mục ít khi học hoặc đám nông dân bình thường ít bày tỏ tư-tưởng này nọ, vẫn cứ làm.

Người Tạng hành-hương Kora, không chỉ để chứng-tỏ cho người khác biết: mình cũng hành-hương/hương hành nhiều tình tiết; nhưng, còn để tưởng nhớ đến bậc thày dạy dỗ, đồng hành với mình, trong cuộc sống.

Đồng hành đây, không mang nghĩa cùng tiếp bước “quân-hành/dân chạy” vào chốn mông lung, nguyện cầu, siêu thoát. Nhưng, là để tuyên dương/trân trọng bậc đàn anh đi trước vẫn làm gương cho mình về đường lối sống nhẹ nhàng, an vui, bình-dị.

Quả thật, người Tạng vẫn chấp-nhận làm dân “bị trị”, sống hiền-hoà tuân-giữ luật-pháp và “hoằng pháp” của nhà Phật theo kiểu Tây Tạng. Nhưng, nói chung thì: người Tạng đã làm gương cho nhiều sắc tộc và dân nước khác, bằng việc gìn-giữ môi-trường-sống ở nguồn nước sinh sống của thế-giới.

Họ làm thế, có thể, cũng vì cảm-kích với lời thơ/ý nhạc của nghệ sĩ “già” mà họ từng nghe như sau:

“Người đã vì ta, tan ước mơ.
Phấn son chưa ngát, thịt da ngà.
Môi non đã lỡ, tình đau đớn.
Mộng vữa theo trời, hoa phượng xưa.
Người chôn đời, mà ta đắng cay.
Cây im lá, và khói sương bay.
Chim treo mỏ, cóng trơ xuơng mục.
Sống đã chẳng cùng, chết sao hay.

Người ở đâu, ôi người ở đâu?
Cỏ xanh còn áp má, những đêm sầu.
Dế giun còn tiếc, mùa ân ái.
Từng phiến trời, mang bao vết thương …”

(Phạm Duy – bđd)

Tâm trạng người Tạng và của những người “bị trị” những 55 năm trời, vẫn bất khuất; và đó còn là tâm-trạng của người Do-thái khi xưa được kể ở Lời vàng nơi Kinh Sách, rất như sau:

Về việc phục vụ các người trong dân thánh,

tôi có viết cho anh em thì kể cũng bằng thừa,

vì tôi biết lòng hăng hái của anh em…

(2Cor 9: 1-2a)

Và:

“Nhiệt tình của anh em đã khích lệ rất nhiều người”…

(2Cor 9: 3)

Lời vàng ở trên, cốt minh-hoạ một điều là: niềm tin của con người vào thần thánh, và tình thương-yêu rất mực, vẫn là niềm tin và tình thương-yêu chính con người mình nữa. Hôm nay, lại có thêm câu hỏi đặt ra hôm trước, vẫn bảo rằng: niềm tin đây, có là niềm tin chân-phương bất chấp mọi hoàn-cảnh và sự đời hay không?

Bần đạo đây, mỗi khi lai rai viết phiếm, thường không dám đi thẳng vào câu trả lời, nhưng chỉ đưa ra một vài sự việc hoặc sự kiện liên-quan đến sinh-hoạt sống của mình và của người, mà thôi.

Về sinh-hoạt của bần đạo, thì: chỉ lai rai phiếm “loạn xạ” đôi ba kinh nghiệm ở đời, nhân chuyến du-lịch qua xứ Tạng đầu năm 2015 thôi. Khi về, cũng đã viết lên được đôi giòng tư-tưởng về chuyện hành-hương của người Tạng, miền cực Bắc xa xôi, chốn ấy.

Mới đây, trên đường về với cộng-đoàn họ đạo nhỏ ở Sydney, bần đạo lại bắt chụp một giòng chảy khác từ vị lãnh-đạo Tổng giáo phận Sydney, những bảo rằng:

“Gm Anthony Fisher, OP đã từng nói sau ngày nhậm chức Tổng giám mục Sydney rằng: Hội-thánh ta sẽ không có chính-nghĩa, nếu cứ bai-bải chối cãi hoặc che-đậy mãi các  chuyện xấu của mình. Và, ai là nạn-nhân các vụ xách-nhiễu tình-dục phải đưa ra ánh-sáng, cách nào sớm nhất. Cụ thể là, hôm 18/9/2014 ở Sydney, Gm Anthony Fisher có nói: “Hội-thánh Chúa ở Úc phải tự-kiểm và để quần chúng phê-bình kiểm-điểm mình nữa. Bản thân tôi hy vọng rằng: bằng vào động-thái tách-bạch và khiêm-hạ như thế, Giáo-hội sẽ nảy-sinh ra tình-huống xót thương và ái-ngại đầy linh-đạo. Đặc biệt hơn, giới trẻ của ta, nay không chỉ là tương-lai Giáo-hội mà thôi, nhưng sẽ là và còn là thành-phần quan-trọng trong Giáo-hội, ngay lúc này.” (Gm Anthony Fisher, OP trả lời phóng viên AAP hôm 18/9/2014)

Trước đó 2 ngày, Đức Phanxicô cũng nhắc đến niềm hy-vọng của Giáo hội, bằng những lời lẽ rất thật như sau:

“Khi Chúa ghé thăm dân Ngài, Chúa đã tạo hy-vọng cho con người. Vâng. Bao giờ cũng thế. Từ xưa đến nay, Giáo-hội vẫn có nhiều bậc thày giảng dạy suốt giòng-chảy lịch sử. Nhưng, nếu các bậc thày ấy lại không gieo vãi hạt-giống hy-vọng, thì lời rao giảng của các ngài cũng trở-thành hư-luống. Những lời như thế chỉ là hư ảo, thôi.” (trích chia-sẻ Tin Mừng của Đức Phanxicô tại thánh đường Santa Maria hôm 16/9/2014).

Về với phiếm đạo lâu nay, bần đạo quyết tìm đến lời vàng của các bậc vĩ nhân hiển thánh ở đây đó, để tạo giòng chảy đầy những phiếm, mỗi khi cần. Bất chợt, bần đạo gặp được bài quan-điểm của một cây viết trẻ chuyên lo cho tờ The Australian Catholics rất hay như mọi ngày. Và, trong số báo The Australian Catholics mùa Giáng Sinh 2014 vừa rồi, khi bàn về “niềm tin và sự sống”, tác giả Michael McVeigh cũng đã viết:

Các bạn cũng như tôi, ta học được nhiều thứ từ các câu-lạc-bộ bóng bầu-dục luôn đấu-tranh giành lấy cho mình, nhiều thắng-lợi. Bạn cũng như tôi, ta đấu-tranh học đòi thưởng-thức mùi vị chiến-thắng dù nhỏ nhoi, còn hơn chỉ biết ghi những bàn thắng và thắng ở trận đấu.

Thêm vào đó, ta vẫn thầm-phục/cảm-kích những vị từng đấu-tranh giành lại cho mình động-thái lướt-thắng mọi hạn-chế, rất dễ nhận. Phần lớn thời-gian sống ở đời, ta học được cảm-giác khá lạ-kỳ khi nếm mùi thất bại, đó lại là hy-vọng cần có để tiến tới. Hy-vọng ấy, có  thể, sẽ hằn in trên giấy trắng mực đen và cả trên sân cỏ, hoặc có khi lại cũng bị quăng/ném đi nơi khác bằng những cú đá khởi đầu trận hoặc bằng bàn thắng vào phút cuối quyết tạo vinh-quang cho người chiến-thắng cả trận đấu. Và, ở các trận đấu tiếp theo đó, hoặc mùa bóng kéo dài ở năm sau, thì niềm hy-vọng sống động vẫn hiện-diện nơi mọi người, trong đời.

Điểm chính-yếu của niềm hy-vọng là ở chỗ: mức-độ tuyệt-vọng càng sâu, ta càng có nhiều sức để cảm-nhận và tùy thuộc vào nó, nhiều hơn nữa. Điều làm cho hy-vọng trở-thành quà-tặng lớn-lao từ Thiên-Chúa còn ở điểm: nó không nhắm vào người thắng trận cho bằng vào người thua cuộc, bại trận vẫn thấy đầy trên thế-giới.

Hy vọng rằng, là chủ-đề mà bạn và tôi thấy rõ ở trang kế-tiếp số báo này, kỳ thực là ‘điều tốt đẹp’ trong đời. Là, quà-tặng quí giá từ Chúa, gửi đến ta.” (x. Michael McVeigh, The Australian Catholics số Giáng Sinh 2014, tr. 5)

Người trẻ nào đó, nếu cậy nhờ bần-đạo diễn-tả thêm tư-tưởng của biên-tập-viên nói trên bằng lời-lẽ rất “tiếng Việt”, thì bần đạo đây xin diễn và tả bằng ý/lời của các cụ khi xưa vẫn cứ bảo: “Thất bại là mẹ thành công!” thôi.

Và, nếu có bạn trẻ nào khác lại cứ hỏi: chuyến tham-quan nước Tạng vừa qua, có đem lại cho bần đạo niềm hưng-phấn nào đó không? thì bần đạo đây lại xin nói theo và nói dựa một bạn viết khác cũng trên tờ The Australian Catholics số Giáng Sinh 2014 thêm một chuyện, theo dạng “Thư gửi diễn viên điện-ảnh Robin Williams” như sau:

“Robin thân mến,

Tôi thật rất buồn, khi hay tin bạn qua đời cách đột ngột, vào tháng 8/2014 vừa qua. Nhiều năm về trước, khi suy tính nên mời ai gọi ai đến dự tiệc do mình tổ-chức, tôi thường nghĩ đến bạn và ghi tên bạn lên đầu danh-sách khách mời của tôi.

Tôi quen tưởng-tượng rằng: nhiều lần, bạn cũng có dịp ngồi cạnh thi-hào lừng-danh thế giới là William Shakespeare, đến độ hai người đều đã hiểu rõ tâm-trạng nhau khi diễn-xuất hoặc diễn-đạt tính hài-hước, lập-dị và chộn-rộn đầy tính người, như cuộc đời.

Có lần, tôi còn tưởng tượng rằng: ngay tổng thống Nga Vladimir Putin cũng đã ngồi chung thân mật với bạn, tựa như thế. Tưởng tượng vậy, chỉ để xem bạn tuy kề-cận, nhưng chẳng ai biết là bạn có dám cười vào mặt ông ta không. Thật ra thì, theo kinh-nghiệm của riêng mình, tôi không thấy có gì lạ khi phải ngồi cạnh một người chẳng có tính hài-hước bao giờ hết.

Lúc bạn sinh thì, người hâm-mộ tài-nghệ của bạn gia tăng cũng rất nhiều, lại đã tung lên mạng một chi-tiết về thời-gian mình phải giáp mặt bạn bè hoặc đồng-nghiệp sừng sỏ, cứ tìm mình để hỏi những câu đại để như: sao tôi chẳng bao giờ thấy bộ mặt nghiêm-nghị của bạn bao giờ thế? Thoạt khi ấy, tôi thấy bạn trả lời  rất rõ, không sai một chữ: “Tôi cũng tự-hỏi: ông cũng thế, sao ông chẳng bao giờ có tính hài-hước vậy thế?” Theo tôi thì, cả hai câu hỏi cũng đều quan-trọng như nhau. Bởi, tất cả có hỏi han gì cũng chỉ để mọi người hiểu được rằng: đời người, vẫn có nhiều kiểu vui tươi/hài hước được các nghệ-sĩ hài như bạn đây mang đến cho mọi người. Cuối cùng thì, ai cũng có cảm giác rất buồn khi thấy ít khi nào bạn mang lại niềm vui cho chính mình, hết.

Có lần bọn trẻ nhà tôi say mê xem phim truyện Peter Pan, nhưng cứ quên bẵng nhiều chuyện rồi buột miệng nói chữ “Hook” nổi tiếng do bạn đặt ra. Bạn cũng còn biến-đổi bản-tính ác độc, bẩn thỉu của con người thành chuyện cười để cho vui một cách rất thành công. Giả như ta có thể cười thầm trong bụng khi gặp tay côn-đồ nào đó rất hung-ác, thì thế giới này sẽ thôi không trở thành chốn sống đầy đe-doạ nữa. Và theo tôi, giới trẻ ngày nay vẫn cần đến thứ quà tặng trời cho mà bạn vẫn trao tặng mọi người.

Tôi rất thích xem các phim do bạn đóng vai chính mang tên là “Mrs Doubtfire”, từ năm 1993 cứ chiếu đi chiếu lại suốt trên truyền hình, ở đây. Phim này diễn tả tâm-trạng của một người cha thương-yêu con mình đến buồn cười. Và, khi nhân vật chính trong phim là Daniel quyết ly-dị vợ để xem sự-thể trong nhà mình sẽ ra sao, anh bạn bèn trá-hình làm chị giúp trong nhà, để mỗi ngày còn được nhìn lũ con trong căn nhà mình từng sống. Ý của anh bạn, là cố tránh không cho người nào trong nhà biết chuyện mình giả-dạng làm chị giúp việc, để làm trò cười mua vui cho thiên hạ, mà thôi. Nhưng, bên cạnh đó, lại có yếu-tố rất cảm-động. Và, đó cũng là chủ-đích đóng giả vai người nào đó, cốt đánh bật tâm-tính tốt đẹp của người cha trong nhà tên Daniel, trong truyện. Truyện phim, đã gửi đi khắp thế-giới một thông-điệp mang ý-nghĩa thật rõ nét. Thông-điệp đó có nói: đôi lúc sống ở đời, người người cũng nên thay-đổi tận gốc rễ, nếu quả tình mình muốn duy-trì những gì cần thấy rõ nguyên hình, ngọn ngành như thế. Và, Daniel có lần nói: chìa khoá giúp cho hôn-nhân gia-đình được vui tươi, tốt-đẹp, chính là nụ cười…

Robin thân mến,

Tôi đây vẫn muốn sẻ san với bạn một yếu-tố từng cho thấy rõ rằng: niềm tin nơi Thiên Chúa cũng từng làm nhiều điều cho riêng tôi, giống như thế. Niềm tin vào Chúa, đã giúp tôi thấy được một thế-giới theo đường-lối ít rõ ràng như thể nó vẫn đem tôi ra khỏi con đường mòn trở thành ngõ hẻm rất chật hẹp do tầm nhìn của mình về sự sống. Tôi vẫn thường tin tưởng rằng: cuộc sống của mọi người là câu chuyện hài-hước rất buổn cười do Thiên Chúa kể để gia-đình nhân-loại được vui, mà thôi. Điều này đâu có nghĩa là ta phải đối xử với nhau sao cho nhẹ nhàng, êm ái. Ngược lại, cũng như bạn từng cố gắng diễn-hài theo mức độ tuyệt-hảo nhất, cuộc sống của ta luôn phải là chuổi ngày ta sống quyết giúp mọi người tìm được sự khôn ngoan hiểu đời, cho thấu. Mỗi thế thôi.

Chào bạn,

Michael McGirr

Viết tứ Úc.

Cũng thế, trong khi “nhoài người” trên bàn phím ví-tính để kiếm tìm giòng tư-tưởng hay-ho và kỳ lạ có mang ý-nghĩa của niềm hy-vọng cần có trong đời mình, bần đạo đây bắt gặp đôi tâm-tình đầy cảm tính của Anthony Trần viết về một cảm-nghiệm còn rớt lại đến bây giờ khi xem phim “Doctor Zhivago” vào dạo đó.

Nói khác đi, thì: vào lúc trích dẫn bài ‘Đi Tây – du ký viết cho riêng mình”, Anthony Trần cũng nhớ đến tâm-tình tràn ngập khi lưu lại ở nhà khách Château Richeux vùng Cancale, nước Pháp năm 2010. Và dư-âm của bài hát “Hỡi Người Tình Lara” cất lên trong đêm nhạc “Hát Cho Nhau Nghe” hôm 17/11/2014 vẫn còn đọng lắng nơi tâm-tưởng mãi đến hôm nay, như sau:

“Riêng tôi, lúc lên phòng nghỉ ngơi thì lòng lại không khỏi nhớ đến bộ nến thắp soi trên bàn ăn của nhà hàng.  Nằm trằn trọc giữa canh khuya trong căn phòng tịch mịch, soi lại những thước phim từ quá khứ chầm chậm quay về, tôi bồi hồi nhớ lại hình ảnh những cây đèn cầy trong phim Bác sĩ Zhivago tôi đã xem từ thuở hoa niên, hàng mấy chục năm về trước.

Trước khi bộ phim kết thúc, tôi không bao giờ quên được cảnh bác sĩ Zhivago thắp lên hàng bạch lạp trong gian phòng lạnh lẽo cho người tình Lara kiều diễm, để rồi hai người sẽ mãi mãi cách xa nhau từ đó.  Nhìn những ngọn nến vẫn cháy như nhau, nhưng tâm sự người thắp nến biến đổi theo từng ánh nến.  Lúc thì muốn ‘thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt’, lúc thì muốn ‘le lói suốt trăm năm’.

Sự dằn vặt lựa chọn giữa cái ‘phút chốc’ và cái ‘trăm năm’ ấy chính là tấn bi kịch của một cuộc tình, và của cả một đời người.  Lúc ấy, nhạc phim “Hỡi người tình Lara” đột nhiên trỗi lên ray rứt trên màn ảnh, chiếu cảnh tuyết rơi phủ đầy chiếc xe ngựa đưa người yêu Lara xa khuất dần giữa trời đông bão tuyết.  Hình ảnh cuối cùng còn lưu lại là những ngọn nến cháy trên bàn, tàn tạ với thời gian.

Bộ phim đã khiến tôi tìm đọc cuốn tiểu thuyết của nhà văn Boris Pasternak đã được Nguyễn Hữu Hiệu chuyển dịch ra tiếng Việt vào năm 1973 với nhan đề “Vĩnh biệt tình em”.  So sánh tiểu thuyết với bộ phim, tôi vẫn thích bộ phim hơn, chỉ vì dịch giả đã bỏ hẳn những đoạn miêu tả ngọn nến đẹp não nùng như trong phim.  Có lẽ nhờ vào tài diễn xuất của tài tử Omar Sharif trong vai bác sĩ Zhivago, Julie Christie trong vai nàng Lara, và nhất là nhạc nền của Maurice Jarra.  Xem đi xem lại nhiều lần, tôi cố đoán xem ngọn nến cháy ấy tượng trưng cho điều gì.  Tình yêu vĩnh cửu?  Niềm hy vọng tràn trề?  Hay đấy chỉ là đôi mắt ráo hoảnh của Thượng Ðế?  Có phải Ngài thấy hết, biết hết nhưng Ngài vẫn im lặng, vô cảm như ngọn nến cháy trên bàn kia chăng?

Cuối cùng, tôi đã hiểu ra rằng tại sao vị bác sĩ đa tình và nàng Lara xinh đẹp kia, tuy chia tay nhau mà họ vẫn còn yêu nhau thắm thiết.  Ðó là nhờ họ đã biết thắp cho nhau những ngọn nến cháy mãi trong tim, để giúp nhau vượt qua những đêm đông của một đời người.  Với mỗi người chúng ta, dù cho cuộc sống có đầy chông gai khó khăn đi nữa, vẫn phải cố gắng phấn đấu vươn lên.  Vẫn phải sống vì chính bản thân mình, vì gia đình và vì xã hội loài người.  Hình ảnh ngọn nến bé nhỏ cháy trên bàn giữa cơn bão tuyết, chính là ngọn nến hy-vọng khích lệ cho chúng ta hãy sống cho có ích, dẫu kiếp đời còn lắm gian truân, thử thách.”

Phiếm Đạo hôm nay, lại có truyện kể để đọc cho vui và cũng để minh-hoạ cho những điều mình viết về hy-vọng cần có trong đời, bần đạo lại bắt gặp thêm một truyện kể lại để san sẻ với bạn đọc, cho hết ý.

Thật ra thì, phiếm-Đạo-giữa-đời không chỉ là tìm về với những lý-luận cứng ngắc về thần-học hay tu-đức, mà còn để phiếm lai rai hầu chuyện mọi người bằng truyện kể nhẹ như sau:

“Một nghệ sĩ xiếc tài danh đã tham gia một cuộc biểu diễn khó khăn nguy hiểm chưa từng thấy. Anh là nghệ sĩ thăng bằng chuyên đi trên dây.

Lần này, người ta căng ngang hai sườn núi đá một sợi giây thép. Phía dưới là vực thẳm. Lòng vực lởm chởm những đá tai mèo nhọn hoắt như cắm chông. Người biểu diễn phải đi từ sườn núi bên này sang sườn núi bên kia trên sợi dây thép.

Nghệ sĩ đã bước tới một đầu dây, ngước mắt nhìn sang phía đầu giây bên kia, chừng như ước lượng mục tiêu. Sau đó, anh giơ ngang hai cánh tay để lấy thăng bằng. Bàn chân đã đặt trên dây. Và rồi từng bước ngắn, từng bước ngắn một, anh đi trên dây, dần dần cách xa bờ núi.

– Tôi xin biểu diễn một lần nữa. Lần này tôi sẽ trói chặt hai tay lại và đi trên dây!

Nghệ sĩ tuyên bố cách thức đi trên dây với tòan thể khán giả. Thật lạ kỳ, chúng ta ai cũng hiểu rằng, đi trên dây cần phải dang hai tay để lấy thăng bằng, nhưng nghệ sĩ đã tuyên bố trói tay lại để không cần giữ thăng bằng bởi hai tay. Dây căng cao nhường kia. Vực thẳm với những mũi đá tai mèo nhọn hoắt đâm lên tua tủa. Trói tay lại, không cần lấy thăng bằng đi qua dây thì ai tin được! Nhưng vì nóng lòng muốn biết kết quả, cho nên khán giả đã đồng thanh gào lên:

-Hoan hô! Chúng tôi tin nghệ sĩ! Anh là người đại tài!

Chờ tiếng reo hò lắng xuống, nghệ sĩ dùng một sợi dây, nhờ người buộc chặt hai tay quặt ra sau lưng. Anh bước tới đầu dây, lặp lại những bước đi thận trọng như lần trước. Cuối cùng anh đã bước qua vực thẳm với hai tay trói chặt. Anh đã biểu diễn lần thứ hai thành công một cách không ai có thể ngờ được. Tiếng trầm trồ thán phục, tiếng vỗ tay cổ vũ lại vang lên.

Chợt tiếng loa lại vang lên và tiếng vỗ tay im bặt. Mọi người chú ý nghe nghệ sĩ nói:

-Tôi xin biểu diễn lần thứ ba. Lần này tôi cũng trói chặt hai tay, nhưng dùng vải đen bịt mắt và đi qua dây vượt sang sườn núi bên kia. Xin hỏi mọi người có tin tưởng rằng tôi sẽ làm được hay không?

Một rừng cánh tay giơ lên và tiếng trả lời:

-Chúng tôi tin anh! Chúng tôi tin anh! Anh là người đại tài. Nhất định anh sẽ làm được!
Sau những câu trả lời như hô khẩu hiệu của khán giả ở hai bên sườn núi là tiếng vỗ tay như pháo nổ.

Nghệ sĩ rút trong người một tấm khăn đen, nhờ người trói tay, bít mắt mình và dẫn tới đầu dây.

Cả không gian như lắng xuống. Không một tiếng động, không một tiếng nói. Mọi người như nín thở dõi theo từng bước chân nghệ sĩ đặt trên dây. Một bước, hai bước,… thận trọng và ổn định, cuối cùng anh cũng bước sang tới sườn núi bên kia. Anh đã thành công vượt trên mọi sự tưởng tượng của mọi người, không còn một lời nào đủ sức ngợi ca khả năng tài tình của người nghệ sĩ.

Cuộc biểu diễn có vẻ như còn chưa kết thúc. Người ta thấy nghệ sĩ chen lẫn vào đám đông, rồi trở ra với một chú bé con chừng năm tuổi đang chễm chệ trên vai. Chú bé xinh xắn bụ bẫm, một bàn tay xinh xắn ôm lấy trán nghệ sĩ, một tay giơ cao vẫy vẫy, miệng nở nụ cười tươi như hoa. Có vẻ như chú bé đã quen tiếp xúc với đám đông và muốn cùng mọi người chia sẻ những niềm vui. Tiếng hoan hô lại vang dậy. Rồi tiếng loa lại vang lên:

-Thưa quý vị! Đây là con trai yêu quý của tôi. Tôi sẽ kiệu con trai tôi trên vai để hai cha con cùng biểu diễn đi trên dây. Lần này tôi cũng trói chặt hai tay không cần giữ thăng bằng. Cũng dùng vải đen bịt mắt. Quý vị có tin rằng chúng tôi sẽ thành công hay không ?

-Tin tưởng! Tin tưởng!

Mọi người lại hô vang và cùng vỗ tay rầm rộ.

-Có tin tưởng thật không?

-Tin tưởng! Anh là một người đại tài! Nhất định anh sẽ thành công! – Mọi người đồng thanh trả lời.

-Xin hỏi lại một lần nữa. Mọi người có thật sự tin tưởng hay không?

-Thật sự tin tưởng! Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng vào anh! Anh là một người đại tài.

Chúng tôi thực sự tin chắc anh sẽ thành công.

Tất cả mọi người đều đồng thanh trả lời và rồi tiếng vỗ tay lại vang lên hai bên sườn núi. Tiếng reo hò, cổ vũ, tiếng vỗ tay vang lên cùng với tiếng vọng của vách núi tưởng chừng không dứt, đến nỗi những đàn chim trong rừng cây trên hai dãy núi đều vụt bay lên, tán loạn như muốn trốn chạy.

Cuộc biểu diễn có một không hai trên đời còn chưa bắt đầu thì tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cổ vũ lại nổi lên tưởng chừng như không dứt.

Tiếng loa lại vang lên làm cho mọi tiếng reo hò ngừng bặt:

-Tốt lắm! Mọi người đều đã thực sự tin tưởng tôi. Xin chân thành cám ơn.

Nghệ sĩ đặt chú bé xuống đất và nói tiếp:

-Bây giờ xin đổi một cháu bé khác, con của một ai đó trong các quý vị. Vậy ai bằng lòng cho tôi mượn một cháu bé, trai hay gái cũng được. Chúng tôi xin hứa nhất định sẽ thành công. Xin hỏi ai bằng lòng cho tôi mượn một cháu bé?

Lúc này cả núi rừng đều im bặt, chẳng thấy một ai dám hô lên lời tin tưởng nữa.” (Theo Triết Lý Cuộc Đời của Nguyễn Đình Cửu)

Thành ra, triết-lý đời người vẫn cứ lặp đi lặp lại niềm hy-vọng cần thiết để người người sống vui, sống khoẻ, sống thoải mái hầu tiến về phía trước, rất hăng say.

Cũng tựa như người nghệ sĩ hôm nào vẫn hát những ca-từ sau đây:

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu.
Ta dối gian nhau, nên nát nụ hôn đầu.
Tình đi từng bước, đi từng bước trên đầu gió.
Gieo xuống lòng nhau, ôi từng hạt thương đau”.

(Phạm Duy – bđd)

Ca-từ đây, tuy mang chút “thương đau” của nghệ-sĩ nào đó từng cảm-nghiệm, nhưng cũng là giòng chảy dấy lên niềm hy-vọng gửi đến cho đời. Và cho người.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng từng thấm đậm

Hạt thương đau như thế

Nhưng vẫn thấy đời mình và đời người

đầy niềm vui hy vọng gửi đến với mọi người.

“Bên Em mỗi lúc trên đường cái”,

“Bên Em mỗi lúc trên đường cái”,

“Hóng mát cho lòng được thoả thuê.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mc 1: 12-15

Mai Tá lược dịch

“Sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”

Vào chốn hoang vu/sa mạc, làm gì có chuyện “hóng mát, cho lòng được thoả thuê”! Thế nhưng, đi vào tuần đầu Mùa Chay, lại sẽ thấy thi-ca cũng như Phụng-vụ Đạo CHúa, vẫn cứ nhủ: “Bên Em, mỗi lúc trên đường cái”, còn có những cảnh tình, tựa như: “Anh thường gửi gắm mối tình quê.”

Tình quê ở nhà Đạo hôm nay, lại sẽ thấy ở nơi nơi, người người như đi vào chốn hoang vu/sa mạc này nọ, người người vẫn có sứ vụ rất khẩn cấp để có thể sống đời an vui, trầm lắng, chốn nợ đời.

Trình thuật Tin Mừng Marcô, ta nghe kể là Yêsu Đức Chúa đã trầm mình trong chốn hoang vu xa vắng, những bốn mươi ngày. Cả vào năm cuối cuộc đời trần thế, khi chấp nhận xả thân chịu chết cho nhân lọai, Ngài đã bước ra khỏi chốn thị thành, để vào nơi gian khổ ở đó có cái chết trơ trọi đang đợi Ngài trên khổ giá, nơi đồi cao, chốn vắng, một Gôngôtha sừng sững, rất khô cằn đến tận cùng mặt đất. Và, ở cả hai nơi, Yêsu Đức Chúa đều bị thách thức, gạ gẫm nhưng đã trỗi dậy: dậy lên trong yêu thương; vùng lên với chiến thắng.

Với Tin Mừng thánh Mar-cô, ta không thấy tác giả đề cập đến những gạ gẫm của Satan nơi hoang vu xa vắng một cách đậm nét. Nhưng, với thánh sử Lu-ca và Mat-thêu, hố sâu thiếu xót và cách biệt ấy đã được khỏa lấp, bù trừ. Và, thánh Mar-cô kể rằng: quần chúng nhiễu nhương dám hỗn xược khích bác, gạ gẫm Đức Chúa, dụ Ngài hãy rời bỏ thập giá trèo xuống, tự cứu lấy mình khỏi thứ “diệu đế” cuối cùng, đày đọa.

Nơi hoang địa đầu đời, Yêsu Đức Chúa được thần sứ phù trợ, đã ra khỏi tình huống suy sụp và Ngài đã trỗi dậy bằng câu tuyên sấm để đời rằng: “Nước Chúa đã gần kề”.  Tại đồi hoang vào phút cuối, Ngài đã được môn đệ, bạn hữu đỡ nâng để đi hết đọan đường gian khổ, hầu làm chứng cho Nước Trời mà Ngài hằng tuyên bố.

Rõ ràng, trong các trình thuật vừa kể, đồng hoang cỏ cháy và cơn gạ gẫm, khuyến dụ vẫn cứ đuổi đeo Yêsu Đức Chúa dọc suốt hành trình ở với trần gian. Đây là điểm son then chốt đã ủi an đoàn con thân thương vốn đã khổ đau, sầu thảm. Phần đông chúng ta có lẽ chẳng cần ra ngoài, tìm nơi hoang vu địa đạo để cảm nghiệm tình huống sầu khổ, đớn đau có những khích bác, khuyến dụ. Càng sống trong tình huống cụ thể, ta càng gặp nhiều cơn khích bác, gạ gẫm dẫn đưa ta đến nơi đổ vỡ, thất vọng.

Xét kỹ bản văn Kinh thánh, các truyện thần thoại, cũng như văn chương, nghệ thuật, phim ảnh trình chiếu, có hai yếu tố đã xuất hiện, thật rõ nét. Trước nhất, ai cũng thấy rằng: sa mạc hoang vắng có thể là nơi khuyến dụ điêu tàn, nhưng tiêu vong đã khiến nhiều đại anh hùng khi xưa cất bước lãng du mà không thấy có ngày trở về.

Thứ đến, theo truyền thống thiết thực, hành trình vào chốn vẫy gọi của nơi quạnh hiu, sa vắng đầy cát nóng với những gian truân nhưng cũng đã tạo nhiều thoả thuê, thoải mái vì ở nơi đó ta vẫn đón nhận nhiều mặc khải cũng như cải biến hoặc vui sướng, giải khuây. Cả hai yếu tố trên không nhất thiết đối chọi, xung khắc tiêu diệt lẫn nhau; nhưng đã bổ túc nhau một cách hài hòa.

Lấy trường hợp của Đức Chúa làm mẫu mực, ta thấy không nhất thiết phải buông xuôi, bỏ cuộc trước một gạ gẫm cho rằng chốn hoang vu sa mạc chỉ gồm những mất mát khổ đau, mà thôi. Mặc dầu là thế, ta vẫn cần tìm ra con đường thân thương đầy thuyết phục hầu có thể trỗi dậy, cất cao đầu lên mà thưởng ngọan những kinh nghiệm quý báu, tích tụ.

Điều quan trọng, là: ở nơi sa mạc rất riêng của mỗi người, không phải mọi gạ gẫm, khuyến dụ đều mang sắc mầu tội lỗi. Khi bị gạ gẫm, khuyến dụ không có nghĩa là ta đang thực hiện điều xấu do người nào xúi giục, bảo ban. Gạ gẫm là những quyến rũ, được tô vẽ cho thêm mầu rực sáng nhằm thúc đẩy người bị dẫn dụ có những quyết định nghiêng hẳn về mặt xấu.

Trên thực tế, rất nhiều điểm đã phát giác ra trong đời sống tu đức của các thánh, là: các ngài càng gần gũi với Đức Chúa của tình yêu bao nhiêu, thì những gạ gẫm, khuyến dụ đủ mọi lọai hình càng gia tăng bấy nhiêu. Tuy nhiên, có điều may là chúng ta vẫn được giáo huấn để biết cách đối phó với những tình huống gay go.

Cứ sự thường, gạ gẫm khuyến dụ thường có bối cảnh và huyền sử riêng. Các tình huống như thế chỉ xảy đến khi ta có cảm giác xa vắng, lạnh lẽo, dễ tổn thương. Và, các tình huống cám dỗ thường đánh mạnh vào yếu điểm của con người rất hay để lộ sơ hở trong cá tính rất thực của mình.

Muốn chống lại những tình huống như thế, cần đề cao cảnh giác về các mô hình kiểu mẫu của chúng, tức gạ gẫm, khuyến dụ thường dối gạt, đưa ta vào chốn mê hồn trận để ta tin tưởng rằng hành vi, thói tật mà ta say mê cũng “không đến nỗi quá tệ, chẳng tội lỗi gì đâu”, “chỉ một lần, thôi mà..”, hoặc “cũng chỉ là lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi”…

Mặt khác, gạ gẫm, dẫn dụ còn có khả năng nhận ra các hiểm nguy hiện có trong đời mình hầu đánh vào điểm yếu của mỗi người, khiến ta trở tay không kịp. Mệt mỏi, chán chường, giận dữ, rượu chè, ma túy, mất cảnh giác, thiếu khả năng đối thọai cảm thông và niềm tự tin quá thấp, vv.. đều là thực tế phũ phàng đưa ta đến tình trạng dễ phơi bày bộc lộ, hay bị tổn thương hơn lúc bình thường.

Mùa chay năm nay, khi quyết tâm theo Chúa đi vào chốn hoang vu, xa vắng đầy ý nghĩa này, ta hãy làm những gì khả dĩ giúp mình trỗi dậy từ những tự ti, yếu mềm, thiếu trông cậy, thiếu tin tưởng… ngõ hầu ta có thể đối phó với cơn giận dữ, chán mệt. Hãy tự kiểm điểm xem, trong thời gian qua, ta có làm việc quá hăng say chẳng kể sống chết, hoặc có ăn uống quá độ chẳng hề cữ kiêng, tạo công ích. Hãy hạ quyết tâm sẽ bớt đi cho nhau những tình huống gây trầm tư, khổ não, hoặc cãi vã, đấu tranh, giành giựt.

Ngược lại, cương quyết thực hiện phương cách tốt đẹp nhất để đảm bảo rằng chúng ta sẽ trỗi dậy, rời khỏi chốn hoang vu, xa vắng hầu biến cải cuộc đời, cho tốt đẹp hơn. Ta sẽ không trầm mình trong chốn khổ đau, không tạo ra hoang địa, phân rẽ gửi đến cho nhau nữa.

Vào nơi hoang vu, xa vắng không phải để lòng mình được chay kiêng, tâm được tịnh mà thôi; nhưng, còn để ta trỗi dậy hòa nhập với cộng đồng người thân cũng một tâm trạng. Cộng đoàn đang ngóng chờ ta quay lại từng giây từng phút. Và, đấy chính là ý nghĩa của mùa sám hối, phục thiện. Hối cải những gì đã sơ xuất. Hồi phục những gì rất thiện. Thiện đây là tình thân thương không chỉ với Chúa, với Mẹ mà cả với người anh em cùng nhà, xa ngõ.

Cầu Chúa cho ta thực hiện cuộc sống trỗi dậy và dâng trào. Mong an bình sẽ lại đến với ta, với muôn người. Và, mọi người.

Trong nguyện cầu Chúa giúp ta thực hiện cuộc sống như thế, ta hãy cùng nhau ngâm lại lời thơ, rằng:

“Từ gió xuân đi, gió hạ về,

Anh thường gửi gắm mối tình quê.

Bên Em mỗi lúc trên đường cái”,

Hóng mát cho lòng được thoả thuê.”

(Hàn Mặc Tử – Âm Thầm)

Vâng. Quả cò thế. Trong đời người, mỗi lần có gío xu6an đi, gió hạ về, thiết tưởng cũng cứ nên gửi gắm “mối tình quê” đến với mọi người, ở mọi nơi, dù nơi đó có là chốn hoang vu, sa mạc rất cuộc đời, ở mọi thời.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Ngày tình yêu thánh

Ngày tình yêu thánh

Chuacuuthe.com

VRNs (14.02.2015) – Sài Gòn – Ngày 14 tháng Hai hằng năm là Valentine’s Day – Ngày Tình Yêu hoặc Ngày Tình Nhân. Ngày này dành cho những người hẹn hò yêu đương với nhau. Nhưng ngày này nhắc nhở bạn về tình yêu tâm linh, tình yêu bạn dành cho Chúa Giêsu. Như vậy, Valentine’s Day phải là Ngày Tình Yêu Thánh đối với các Kitô hữu chúng ta.

150214001

Thánh nữ “bông hoa nhỏ” Têrêsa đã gọi Chúa Giêsu là Đức Tình Quân. Mỗi chúng ta đều có cuộc “hôn nhân mầu nhiệm” với Chúa Giêsu. Tại sao chúng ta phải yêu mến Ngài? Đây là 10 lý do xác định Chúa Giêsu là người yêu của bạn:

  1. NGÀI TRỢ GIÚP BẠN

“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em” (Ga 14:16-18). Chúa Giêsu không bỏ mặc bạn một mình, Ngài giúp đỡ bạn qua Chúa Thánh Thần, Đấng giữ bạn đi trên đường ngay nẻo chính.

  1. NGÀI BAN SỨC MẠNH

“Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:13). Thánh Phaolô biết rằng ngài có sức mạnh nhờ Chúa Giêsu hoàn tất công việc của thánh nhân. Ơn Chúa đủ cho chúng ta, chỉ cần chúng ta mở lòng ra đón nhận!

  1. NGÀI THEO ĐUỔI BẠN

“Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:12). Chúa Giêsu theo đuổi chúng ta mọi nơi, muốn chúng ta là con cái Thiên Chúa và được trường sinh trong Vương Quốc của Thiên Chúa.

  1. NGÀI CHIẾN THẮNG TỬ THẦN CHO BẠN

“Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Chúa Giêsu chết trên Thập Giá để ban sự sống dồi dào cho bạn. Ngài ghét tội lỗi, bệnh tật và bất công, ghét đến nỗi làm cho ách của chúng ta trở nên thoải mái và gánh nặng của chúng ta trở nên nhẹ nhàng.

  1. NGÀI CẦU NGUYỆN CHO BẠN

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17:20-21). Bạn là phần lớn trong đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu. Ngài luôn luôn là Đấng trung gian biện hộ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha.

  1. NGÀI CỨU ĐỘ BẠN

“Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2:8-9). Chúa Giêsu cứu bạn thoát khỏi thung lũng tử thần và sự hủy diệt. Ngài đưa bạn vào Vương Quốc của Thiên Chúa bằng lòng thương xót của Ngài.

  1. NGÀI TUYỂN CHỌN BẠN

“Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2:9). Chúng ta được tuyển chọn để làm vinh danh Thiên Chúa. Chúa Giêsu giáo dưỡng chúng ta suốt hành trình tâm linh và đưa chúng ta càng ngày càng lên cao.

  1. NGÀI BÊNH VỰC BẠN

“Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính?34 Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?” (Rm 8:33-34). Chúa Giêsu là Đấng bảo vệ và biện hộ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha.

  1. NGÀI CHUẨN BỊ CHỖ Ở CHO BẠN

“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14:2). Chúa Giêsu không để chúng ta mồ côi, Ngài về trời chuẩn bị chỗ ở cho chúng ta, rồi Ngài sẽ trở lại để đón chúng ta về với Chúa Cha.

10. NGÀI YÊU THƯƠNG BẠN

“Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5:8). Đời đời Chúa Giêsu yêu thương bạn vô hạn, không chỉ trong ngày Valentine, mà Ngài làm cho bạn vui sống suốt 365 ngày.

TRẦM THIÊN THU

(Viết theo Beliefnet.com)