Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Nguoi-viet.com

WASHINGTON (NV)  – Một tổ chức thăm dò dư luận đưa ra kết quả cho thấy chỉ còn có người Việt Nam là có vẻ ưa được tổng thống Nga Vladimir Putin, ngược hẳn với người dân khắp thế giới.

Tổng Thống Vladimir Putin. (Hình: Mikhail Klimentyev/AFP/Getty Images)

Ngày Thứ Tư vừa qua, tổ chức thăm dò dư luận PEW, trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn, công bố kết quả thăm dò dư luận qua phỏng vấn tất cả 45,435 người tại 39 quốc gia trên thế giới khắp 5 châu lục để tổng kết ý kiến mọi người về tổng thống Nga  Vladimir Putin.

Nhìn chung, kết quả không mấy ai ngạc nhiên vì ông này đang có những hành động bá quyền bành trướng, cướp một phần nước Ukraine làm các nước Đông Âu rúng động, nhớ lại thời kỳ nằm trong gông cùm đỏ. Nền kinh tế của Nga và khu vực Âu châu đang bị ảnh hưởng nặng vì các biện pháp trừng phạt hành động của Nga.

Câu hỏi được PEW đặt ra là “Quý vị tin tưởng được bao nhiêu về việc tổng thống Nga Putin hành động đúng trong các vấn đề quốc tế?”

Theo kết quả thăm dò của PEW, nếu kể điểm trung bình thì câu trả lời tốt cho ông Putin là 24%, tức là khá thấp. Đa số người dân tại nhiều nước rất không ưa cách hành xử của ông Putin. Nước ghét nhất là Tây Ban Nha chỉ có 6%. Dân Ba Lan từng bị Nga cắm đầu chính trị dưới thời Cộng Sản ở Đông Âu chỉ có 9% trả lời thuận lợi cho ông.

Chỉ có người dân Nga với 88% là tin ông Putin đúng. Bên cạnh đó, tới 70% người Việt Nam cũng nghĩ như vậy trong khi nước có tỉ lệ cao thứ ba là Trung Quốc với 54%. Còn lại, vài nước có tỉ lệ dưới 50% và đa số dưới 30% hay thấp hơn.

Bị Tây phương cô lập, Matxcơva tìm đến các đồng minh cũ. Ngày 29 tháng 5, 2015, Liên Bang Nga và các nước trong Liên Hiệp Kinh tế Á-Âu ký một hiệp ước trao đổi mậu dịch tự do với Việt Nam trong bối cảnh quan hệ căng thẳng giữa Nga với Tây phương.

Vốn là một chư hầu cũ của Nga Xô, có rất nhiều người được gửi sang Nga du học về đủ mọi ngành. Võ khí các ngành của Việt Nam phần lớn do Nga cung cấp từ máy bay, tàu chiến đến trang bị bộ binh.

Trong bản thăm dò dư luận của PEW,  cũng đáng để ý là sự nhìn nhận tích cực của người Mỹ về Nga cũng giảm đi đáng kể. Trong khi năm 2011 có 49% người Mỹ tỏ thái độ thiện cảm với điện Kremlin, thì con số này đã giảm xuống chỉ còn 22% trong thăm dò mới nhất.

Ngược lại, niềm tin của người Nga đối với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng xuống thấp kỷ lục. Chỉ có 11% người Nga tin ông Obama đã giải quyết đúng đắn các vấn đề thế giới. Người tiền nhiệm của ông là Tổng thống George W. Bush cũng chịu số phận tương tự với chỉ 8%.

Hồi cuối năm ngoái, PEW đưa ra kết quả cuộc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia “mê” tư bản nhất trên thế giới, với 95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%. Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất. (TN)

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

Trích EPHATA 653

Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Nếu muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, hãy ghi nhớ 20 điều dưới đây:

1. Bạn sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Vậy nên đừng quá bận tâm tới những gì người khác nói về bạn, hãy cứ là chính mình.

2. Nếu bạn muốn đạt được những thứ bạn chưa từng có, bạn phải làm những điều bạn chưa từng làm.

3. Nếu bạn tin rằng những đường chỉ tay nói lên số phận của bạn, thì bạn cũng đừng quên rằng, chúng cũng chỉ nằm trong lòng bàn tay bạn mà thôi.

4. Cuộc sống luôn cho bạn cơ hội thứ hai. Nó được gọi là ngày mai.

5. Toàn bộ đại dương cũng không thể làm đắm được một con tàu, trừ khi nước ngập vào trong. Tương tự, toàn bộ những gì tiêu cực trên đời, cũng không thể nào hạ gục được bạn trừ khi bạn cho phép nó thấm vào người mình.

6. Hãy học cách trân trọng những gì bạn đang có trước khi thời gian, dạy cho bạn biết trân trọng những gì bạn đã từng có.

7. Chính trải nghiệm chứ không phải thứ gì khác, là thứ làm nên con người bạn.

8. Hãy ở bên người làm cho bạn cười, ngay cả khi bạn mệt mỏi, không vui.

9. Đừng vội vàng từ bỏ người mà bạn yêu thương, bởi tình yêu đâu phải ai cũng may mắn tìm được nhau.

10. “Hãy đếm số tuổi của bạn bằng số bạn bè, chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời của bạn bằng nụ cười chứ không phải những giọt nước mắt” ( Ca sĩ John Lennon của nhóm The Beatles ).

11. Không có ai hoàn hảo cả. Đó là lý do tại sao bút chì có cục gôm.

12. Thứ đắt giá nhất trên đời này là lòng tin. Để có được có khi cần rất nhiều thời gian, nhưng để đánh mất thì chỉ cần vài giây ngắn ngủi.

13. Một cái đầu đầy nỗi sợ hãi sẽ không còn chỗ trống cho những ước mơ.

14. Tiền xu luôn gây ra tiếng động, nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Bởi vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình khiêm tốn và ít nói đi.

15. Đôi khi bạn phải tự mình đứng dậy và bước tiếp, bởi không ai làm điều đó thay bạn đâu.

16. “Tôi không biết chìa khóa của thành công là gì, nhưng tôi biết chìa khóa của thất bại là cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người” ( Bill Cosby ).

17. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” ( Trịnh Công Sơn ).

18. Mỗi ngày hãy sống như thể đó là ngày cuối cùng của bạn.

19. Khóc cũng sống, cười cũng sống. Tại sao ta không chọn nụ cười để sống ?

20. Thứ quý giá nhất đối với mỗi người không phải là tiền bạc hay địa vị, mà chính là sức khỏe. Bởi vậy, hãy quan tâm tới sức khỏe trước khi quá muộn bạn nhé !

Nhận được từ Vui Sống Trên Đời

TẠ ƠN CHÚA

TẠ ƠN CHÚA

Trích EPHATA 653

Con tạ ơn Chúa vì chồng con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải ở bên một người đàn bà nào khác.

Con tạ ơn Chúa vì con con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọn dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng chở nên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ nhìn con làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, máng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của nhà con quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sử dụng nhiều tiện nghi khá hiện đại.

Con tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau con trong Nhà Thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa là tai con vẫn còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo thật to vào sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại được, còn hít thở và cười nói, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn đang còn sống mạnh khỏe.

Và cuối cùng, con tạ ơn Chúa vì đã nhận quá nhiều E-Mail gửi về, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con…

KHUYẾT DANH, bản dịch của cố giáo sư TRẦN DUY NHIÊN ( 1941 – 2009 )

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

 

Bức thư của cố tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học. Được viết ra từ gần 200 năm trước, lại là ở nước Mỹ, nhưng bức thư vẫn giữ nguyên tính “thời sự” và gợi nhiều suy nghĩ cho chúng ta.

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực, cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ gặp một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng mỗi một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kị. Xin hãy dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách, nhưng cũng hãy cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng đối với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn thận trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng. Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình. Nếu được như vậy thật là điều tuyệt vời đối với con trai tôi.

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

Quân Trần, SJ

Có một lần được đến, sống và làm việc tại một nhà tĩnh tâm ngay giữa sa mạc của nhà Dòng trong suốt mùa hè, tôi chợt nhận ra một thói quen vô thức của mình: cứ tìm đến một góc vắng vẻ nhất và ngồi đó trong thinh lặng.  Nhiều khi tôi dùng thời gian ấy như là một giờ tâm sự với Chúa, nhưng cũng lắm khi chỉ để hồn phiêu lãng với những chùm tư tưởng khác nhau.  Điểm lạ là nơi tôi đến chẳng có dáng của hoa thơm, cũng không có bóng của cỏ lạ.  Có chăng chỉ là cái nắng chói chang chiếu rọi trên những gốc xương rồng cằn cỗi.  May lắm thì được yên vị trong một căn chòi nho nhỏ đủ làm dịu đi đôi chút cái gay gắt của trưa hè.  Ấy vậy mà cứ ngày này qua tháng nọ, nó dường như trở thành một chốn rất đỗi thân quen.  Và muôn lần như một, câu nói trong sách Luca cứ vọng về: “Đức Giêsu thường lui vào một nơi hoang vắng mà cầu nguyện” (Luca 5:16).  Ừ nhỉ, có gì hấp dẫn hay lãng mạn nơi hoang địa cơ chứ?  Nhìn quanh nhìn quất chỉ toàn một màu của cỏ úa, ban ngày thì nóng cháy thịt da, về đêm thì lạnh buốt tận xương tuỷ.  Người đã tìm gì trong hoang địa?  Thế đó tôi bắt đầu một cuộc tìm tòi.

Hoang địa, nơi tôi luyện đức khiên nhường.  Một ngày lang thang qua khắp nẻo đường.  Một ngày rộng tay với muôn vàn ân phúc.  Thành công có, thất bại có.  Giữa sự ồn ào của lời khen tiếng chê, thật khó mà nhận ra tiếng nói âm thầm của con tạo, của trái tim.  Đi hay ở, làm hay không, có dễ đâu mà nhận định ý Ngài?  Ấy là chưa kể cái êm đềm của đời thường sẽ làm lòng người mau quên và đôi chân chợt mỏi, chỉ muốn dừng lại bám rễ, chỉ muốn hài lòng với một chút vinh vang mờ nhạt.  Vào hoang địa thôi!  Bởi nơi ấy sẽ chẳng vang vọng những lời khen tiếng chê, sẽ chẳng bị âm thanh hỗn tạp của cuộc sống bao phủ.  Nơi ấy, thành công sẽ chẳng có cơ hội tạo hào quang và thất bại sẽ không còn cơ may làm nên những làn mây ảm đạm.  Tất cả chỉ là hư vô, là trống rỗng.  Trong im lặng tuyệt đối đó, liệu có cần không cho bao vất vả hầu đạt được những hứa hẹn hão huyền?  Khi trước mặt ta, sau lưng ta, bên phải, bên trái, bên trên, và bên dưới ta chẳng còn ai khác hơn là chính mình, trốn đâu cho được.  Mà khổ nỗi khi phải đối diện với chính mình, ta mới nhận ra được một sự thật phũ phàng nhất: ta chỉ là hư vô trước mặt Chúa.  Ta chỉ là một công cụ không hơn không kém.  Những tràng pháo tay không dứt hay những lời rủa xả lê thê của hôm qua không nói lên được con người thật của ta.  Rồi ta chợt thấu hiểu lời mời gọi tuyệt vời của hoang địa: hãy trở nên khiêm hạ; hãy nhận ra nguồn gốc của mọi sự vốn chẳng xuất phát hoặc chấm dứt nơi ta.  Có lẽ vì thế mà Đức Giêsu mê không khí của sa mạc.  Quả vậy, nơi đó đã nhắc nhở Ngài một sứ vụ to lớn hơn: tất cả vì sự cả sáng của Danh Cha.

Hoang địa, nơi hình thành và nung nấu niềm tin.  Dẫu nắng có gay gắt cỡ nào đi nữa thì từng khóm xương rồng vẫn còn đó.  Dẫu muôn vàn ngọn cỏ có nhuốm màu của lá úa, thì bên dưới vẫn hàm chứa cái khao khát của mầm sống, của ý chí muốn tồn tại.  Có ai đi giữa sa mạc mênh mông mà lòng không thèm khát một vạt nước vọt lên từ giữa những dải cát vô tình?  Hẳn ta còn nhớ một đoạn của Thánh Vịnh: “Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu, khiến nước tuôn tràn cho dân được uống” (TV 78:15).  Có ai vật vờ giữa cơn lạnh cắt da của trời đêm mà không mong muốn một ánh lửa bập bùng sưởi ấm?  Cái khao khát được uống nước của ân sủng, được sưởi ấm với tình yêu sẽ trổi mạnh hơn bao giờ khi ta đi vào sa mạc của tâm hồn.  Và đằng sau cõi thinh không, đằng sau sự đối đầu với những giới hạn của bản thân, lòng ta chợt bừng lên một niềm tin, một thao thức, một ước muốn theo Ngài.  Ta biết ta đã không lẻ loi.  Ta tin Ngài đang cùng ta dấn bước.  Và niềm tin ấy được nung nấu qua bao thử thách của trời trưa và bao cô quạnh của đêm dài.  Nếu không bước vào hoang địa, nếu lòng vẫn bị phủ tràn với muôn ngàn tín hiệu, thì e rằng cơ hội để hình thành và tôi luyện đức tin sẽ bị nhiễu đi.  Ra vậy, Đức Kitô đã rất có lý khi tìm đến nơi hoang vắng.

Hoang địa, nơi hun đúc lòng trông cậy.  Nhiều hôm ngồi tư lự ở góc vắng của nhà tĩnh tâm, tôi chợt thấy áo mình đẫm ướt mồ hôi.  Nắng và nóng quá đỗi.  Những cơn gió nhẹ thoảng qua bỗng nhiên trở thành một món quà quý giá.  Thoảng hoặc một vài giọt nước của một cơn mưa hiếm hoi biến thành báu vật.  Gió và mưa tuy hiếm nhưng vẫn đến đấy thôi.  Thiết nghĩ người lữ khách giữa hoang địa không vì sự hiếm hoi của chúng mà trở nên thất vọng.  Rất có thể họ còn đón nhận chúng cách trân quý hơn, tri ân hơn.  Cũng vậy, khi gặp gỡ nội tâm và Thiên Chúa giữa sa mạc khô cằn, lòng người lữ thứ luôn nung nấu những khát khao.  Chúng giống như quân canh mong chờ hừng đông đến hoặc như cái đấu ao ước được đong đầy, được lèn chặt.  Rồi hồn họ chợt vút cao ngong ngóng chờ trông con tạo.  Cái ‘kết hiệp’ tưởng như rất thường đã trở nên linh thánh hơn bao giờ.  Phải chăng Đức Kitô vào hoang địa ngày nào để nuôi dưỡng lòng trông cậy tuyệt đối vào Đấng mà Ngài hằng tuân phục tin yêu?

Hoang địa, chốn xuất phát của tình yêu, của hiến mình.  Lúc thanh vắng là lúc ta có thể đối thoại với chính mình.  Quả thế, khi thành công không là áp lực và thất bại chẳng là điều làm ta bận tâm, thì đấy là lúc ta trở nên chân thành nhất.  Ta sẽ tự hỏi chính mình xem ta có muốn tái đầu tư cho những gì ta đang đeo đuổi?  Ta sẽ tự vấn lương tâm xem hồn ta có thanh thản, tim ta có khao khát, có muốn tiếp tục yêu và sẵn sàng xả thân vì tình yêu?  Câu trả lời vào giây phút đó sẽ không mang hơi hướm của những lời chúc tụng bề ngoài hoặc những sợ hãi của bao thất bại ngập tràn.  Trong thinh lặng ta có cơ hội nhìn lại và chọn lựa cách kỹ lưỡng, để rồi khi trở về đời thường ta có một lời đáp rõ ràng hơn, mạch lạc hơn.  Hẳn ta còn nhớ, ta chỉ là một loài thụ tạo rất tầm thường.  Tình yêu ta dành cho nhau không phải lúc nào cũng ướm đượm hương thơm.  Trái lại, cũng có những phút giây ta ngậm phải những trái đắng và lòng ta thoáng xôn xao.  Thế nên lâu lâu có cơ hội nghiềm ngẫm về mối tình ta dành cho nhau cũng là một điều kỳ thú.  Đức Giêsu khi xưa đã yêu và yêu thật nhiều.  Nhưng tình yêu ‘nhân tính’ của Ngài không phải không gặp nhiều thử thách.  Và để đáp trả lời mời gọi tiếp tục yêu, để tìm lại cái đơn sơ, tinh tuyền và chân chất của con tim, hơn một lần Ngài đã vào hoang địa để suy nghĩ, để nguyện cầu.  Cũng chính qua những phút giây thần thánh đó, Ngài đã lựa chọn con đường yêu thương một cách tự do và mãnh liệt.  Bởi từ đáy thẳm tâm hồn, Ngài hiểu rõ Giêsu sẽ không còn là Giêsu nếu nơi Ngài thiếu vắng sự cho đi của trái tim.  Ngài đi vào sa mạc để rồi khi trở về lòng Ngài lại chân chất những ước mơ và thân xác Ngài lại một lần biến thành của lễ.

Hoang địa, nơi ẩn náu một kho tàng vô tận.  Bất chấp nắng hay mưa, nóng hay lạnh, từng đàn ong mật cứ vần vũ quanh đám cỏ hoang.  Những cánh chuồn, cánh bướm vẫn ưỡn lượn nhịp nhàng.  Về đêm tiếng dế rả rích tỉ tê như một điệu luân vũ tuyệt vời.  Cha giám đốc nhà tĩnh tâm cho biết bên dưới sự khô cằn của hoang địa lại là một cõi mênh mông trù phú của nguồn nước dồi dào cho bao thế hệ. Những làn nước mát trong mà tôi cùng bao người thao luyện viên tận hưởng đến từ một mạch ngầm quý giá.  Từng ngụm từng ngụm đi vào lòng mát lạnh.  Chưa bao giờ tôi lại quý nước hơn những ngày này.  Hỏi liệu có khi nào nguồn nước ấy vơi đi, cha cho biết có thể lắm, nhưng đã có bao chục ngàn con người dừng chân và nhà tĩnh tâm này đã đi vào năm hoạt động thứ 50 mà chưa ai phải vất vả kiếm tìm một nguồn nước mới.  Còn nữa cứ mải mê với cõi riêng của mình, hơn một lần tôi thấy bóng dáng của những chú nai tơ tuyệt đẹp, hay vẻ dềng dàng của mẹ con gấu đen hóm hỉnh, hoặc cái giả dạng tuyệt tác của các nàng rắn đất.  Chúng luẩn quẩn quanh tôi, chợt dừng lại ngõ sững rồi lại lững thững bước đi cứ như thể thế giới này lớn đủ, rộng đủ và hòa bình đủ cho mọi loài.  Xem ra cõi hoang vu đã dạy cho tôi những bài học mà chưa trường lớp nào từng dạy.  Nó cho tôi thấy một thế giới thật mà Thiên Chúa muốn tạo nên: một loại thế giới yêu thương nhau, chấp nhận lẫn nhau, vui vẻ chung sống và chia cho nhau những gì có thể.  Thế nên khi đi vào sa mạc của tâm hồn, tôi thấy lòng mình bừng lên những ước mơ.  Bởi bên dưới cái tưởng chừng khô cằn và nặng nề nhất lại là nơi tôi học hỏi nhiều nhất.  Có lẽ Đức Giêsu cũng có một tâm trạng giống tôi khi Ngài tìm vào nơi hoang vắng.

Nhà tĩnh tâm này, đã có bao con người đến rồi đi, đã có bao trái tim trở về, và đã có bao tâm hồn biến đổi.  Nếu nói đó là do công của các Cha linh hướng của trung tâm cũng chưa hẳn sai.  Nhưng sẽ không hoàn thiện khi ta không nhắc đến bối cảnh tuyệt vời của hoang địa, nơi mà mỗi thao luyện viên có dịp sống và lắng nghe tiếng thầm thì của tạo hoá qua những giây phút trầm mặc linh thánh.  Để rồi khi trở về với thế giới vội vã, họ biết đâu là con đường mà Thiên Chúa muốn họ đi, họ hiểu ý nghĩa của những vui buồn sướng khổ trong cuộc sống.  Họ đã được Thiên Chúa, qua thinh lặng của hoang địa biến đổi.  Họ không còn là họ của hôm qua, nhưng là của những lớp người mãi bước tới theo tiếng gọi của tình yêu.  Sa mạc cũng có lắm loại nhiều thứ.  Có loại là một thứ sa mạc nóng bỏng như tôi đã sống và làm việc trong mùa hè qua.  Nhưng cũng có thứ sa mạc lặng lẽ hơn, tinh tế hơn: thứ sa mạc của tâm hồn.  Thế nhưng dẫu ở đâu hay loại nào, chúng cũng đều là thao trường tuyệt vời cho bao nhân đức.

Bạn mến, có bao giờ bạn tìm đến với sa mạc nội tâm?  Có bao giờ bạn bắt chước Đức Giêsu dành một phần trong ngày để vào nơi hoang vắng?  Có bao giờ bạn ước ao được lớn dậy trong tình yêu và đời mình được nuôi dưỡng với bao nhân đức?  Nếu có thì đừng ngại đi vào hoang địa bạn nhé.  Vào đi, đừng sợ.  Chắc chắn khi vào rồi, bạn sẽ phát hiện ra nhiều điều mới lạ.  Khi ấy thói quen tìm nơi vắng vẻ mà tâm sự với Thượng Đế và trở về với lòng mình sẽ không bao giờ rời xa bạn nữa.  Và như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn bạn cũng sẽ trông mong được gần Chúa và tha nhân hơn bao giờ.

Quân Trần, SJ

http://www.donghanh.or

Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

GS Nguyễn Văn Tuấn

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi chính giới Tàu nghĩ gì về đồng nghiệp họ ở Việt Nam. Dù biết rằng qua báo chí chúng ta có thể hiểu là họ không đánh giá cao, nhưng tôi vẫn muốn biết xem họ nghĩ gì. Tình cờ đọc được một đoạn văn được xem là “tối mật” của Mao Trạch Đông viết về Việt Nam làm tôi suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Tàu hết sức thú vị. Tôi nghĩ bất cứ ai đang phấn đấu làm bạn với Tàu cộng có lẽ phải ngượng ngùng khi đọc câu của họ Mao.

Họ Mao nói “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ.Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.” Đọan văn đó được trích từ văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, và được công bố 4/10/1979 (1).

Có lẽ những ai từng theo dõi Tàu không ngạc nhiên về câu nói trên, vì trong cái nhìn của giới chính khách Tàu, Việt Nam là một kẻ phản bội, không thể tin tưởng. Trước khi phát động chiến tranh chống VN, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với báo chí quốc tế rằng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Thật hiếm thấy một nguyên thủ quốc gia nào mà ăn nói du côn như Đặng, nhưng rất có thể y quá giận nên không kiềm chế được ngôn ngữ trước phóng viên quốc tế. (Trớ trêu một điều là tên này vẫn còn được khá nhiều người VN hâm mộ và thần tượng.)

Ngay cả thường dân Tàu dường như cũng không có thiện cảm với VN. Báo chí Tàu (nhất là tờ Hoàn cầu Thời báo) ra rả chửi Việt Nam, và đòi gây chiến tranh chống Việt Nam. Trước đây, trong một cuộc thăm dò ý kiến người dân Tàu bên China, kết quả cho thấy phần lớn dân Tàu nghĩ người Việt là phản bội, xảo quyệt, không đáng tin cậy. Trong cái nhìn của họ, Tàu là đại ân nhân của VN, vì Tàu từng giúp Bắc VN đánh Tây, đánh Mĩ. Chưa nói giúp vì động cơ gì, nhưng đó là cái nhìn của họ. Họ cũng nghĩ rằng khi thành công thì VN trở mặt. Họ lấy thái độ của ông Lê Duẩn là một ca tiêu biểu. Trước kia, khi cần vũ khí và tiền bạc của Tàu, thì ông Duẩn tỏ ra thân Tàu; đến khi thấy Liên Xô khá hơn, thì lại chạy theo Liên Xô và quay sang chửi Tàu thậm tệ. Có tài liệu còn cho thấy ông chửi thẳng vào mặt Mao (mà nhiều người xem là dũng cảm, nhưng tôi thì nghĩ thái độ đó không khéo chút nào). Tài liệu trên (1) được công bố dưới thời ông Duẩn. Nhìn như thế thì rõ ràng người Tàu có lí do để ghét Việt Nam.

Ngày nay thì lịch sử có vẻ tái lập. Chỉ cách đây vài tháng, trước ngày kỉ niệm cuộc chiến 1979, một lãnh đạo của đảng CSVN đã tuyên bố rằng VN vẫn chung thủy với Tàu trong cái “truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung” (2). Rồi mới đây nhất là một phát ngôn trung thành khác từ một tướng lãnh VN: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng thân thiện và điều đó không bao giờ thay đổi. Nhiều thế hệ đã qua, nhân dân hai nước đã thiết lập và duy trì mối quan hệ, cùng tồn tại, hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa” (3).

Đặt quan điểm chung thuỷ này với nhận định “Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ … Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” trên đây, ai cũng có thể thấy có gì đó không “add up” (nói theo tiếng Anh), hay không ăn khớp. Câu nói của Mao còn sờ sờ ra đó, ngay trên báo chí “chính thống”. Câu nói của Đặng Tiểu Bình cũng còn đó trên giấy trắng mực đen. Những câu nói xách mé và xấc xược của các tướng lãnh Tàu cộng và bỉnh bút của Hoàn cầu Thời báo vẫn còn lưu lại đó. Trước những lời nói xấc xược và khinh bỉ của Tàu như thế mà những người ở vị trí lãnh đạo quốc gia lại thề thốt “thuỷ chung” với họ! Thật không thể nào hiểu nổi.

Chỉ có một cách giải thích là cả hai phía, Tàu và Việt Nam, đều đóng kịch. Chẳng ai tin ai cả, Tàu chẳng bao giờ tin Việt Nam, và Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ Tàu. Những ngôn từ hoa mĩ là chỉ nói cho có, chứ trong thâm tâm thì người nói nghĩ ngược lại. Thật ra, đó cũng chính là tình nghĩa đồng chí của những người cộng sản, ngay cả trong cùng một nước và cùng cộng đồng dân tộc. Bề ngoài thì cười cười, tay bắt, tay ôm, hôn hít (ghê ghê), nhưng trong bụng thì một bồ dao găm, muốn thanh trừng lúc nào cũng được. Đúng như Nguyễn Du từng tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

___

(1) Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay – Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao (MTG).

(2) Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(*) (ND).

(3) Tướng Vịnh: Quan hệ hữu nghị Việt-Trung không bao giờ thay đổi (VOA/ BS).

Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Blog Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Có hai mục tiêu chính mà tất cả các chế độ độc tài và độc tài toàn trị nhắm tới là: nhồi sọ và lừa dối. Nguyên tắc ở đây là, nói theo Hitler, cứ nói dối, nói dối đi nói dối lại mãi, một cách thật giản dị, đến lúc nào đó, người ta sẽ tin là thật…

Một trong những khác biệt lớn nhất giữa dân chủ và độc tài là ở phương diện truyền thông. Nói một cách vắn tắt, khác với các chế độ dân chủ, dưới các chế độ độc tài, truyền thông có hai đặc điểm chính: độc quyền và kiểm duyệt. Mức độ độc quyền và kiểm duyệt tuỳ thuộc vào mức độ độc tài. Tất cả các chế độ độc tài đều áp dụng, dưới những hình thức khác nhau, chính sách kiểm duyệt đối với các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng chỉ có các chế độ độc tài toàn trị (totalitarianism) mới áp dụng chính sách độc quyền một cách triệt để.

Việt Nam là một chế độ độc tài toàn trị như thế: Với truyền thông, họ áp dụng cả phương thức độc quyền lẫn phương thức kiểm duyệt.

Ở miền Bắc, trong những năm đầu sau Hiệp định Geneva, ngoài báo chí nhà nước còn có báo chí tư nhân. Nhờ sự tồn tại của báo chí và nhà xuất bản tư nhân ấy, phong trào Nhân Văn Giải Phẩm mới được hình thành. Nhưng khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị đánh, tất cả các tờ báo và nhà xuất bản tư nhân đều bị bóp chết. Từ đó về sau, nhà nước hoàn toàn độc quyền trong lãnh vực truyền thông. Đến giữa thập niên 1980, với phong trào đổi mới, nhà nước cho phép tư nhân hoá kinh tế, nhưng cho đến tận bây giờ, họ vẫn từ khước việc tư nhân hoá báo chí và xuất bản. Tất cả các tờ báo, các đài phát thanh và truyền hình, cũng như tất cả các nhà xuất bản tại Việt Nam hiện nay đều hoàn toàn nằm trong tay nhà nước.

Độc quyền báo chí và xuất bản, giới lãnh đạo vẫn chưa an tâm. Cả báo chí lẫn xuất bản đều bị kiểm duyệt ngặt nghèo. Mọi bài báo cũng như mọi cuốn sách đều được dò xét từng câu từng chữ. Nhưng kiểm duyệt không vẫn chưa đủ. Bên cạnh việc kiểm duyệt chính thức, ở Việt Nam cũng như ở dưới mọi chế độ độc tài khác, đều có hai hình thức kiểm duyệt khác: hậu kiểm duyệt và tự kiểm duyệt. Hậu kiểm duyệt là hình thức kiểm duyệt sau khi tờ báo hay cuốn sách đã được in và được phát hành. Khi phát hiện ra một chi tiết có vấn đề về chính trị, người ta áp dụng biện pháp thu hồi ấn phẩm và trừng phạt tác giả. Ghê sợ trước những biện pháp trừng phạt như thế, hầu hết các tác giả đều tự đặt mình ở thế tự kiểm duyệt, nghĩa là tự mình cắt bỏ những chỗ gai góc, có thể bị xem như có vấn đề trong quá trình sáng tác. Trong bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” viết năm 1987, nhà văn Nguyễn Minh Châu có nói đến cái thảm cảnh tự kiểm duyệt ấy: lúc nào cũng giấu giếm, cũng rào đón, cũng che chắn, vừa viết một câu trung đã phải vội vã chêm ngay vào một câu nịnh cho… an toàn dù phải trả giá bằng chính tác phẩm của mình, những tác phẩm chỉ có giá trị minh hoạ nhất thời.

Nhưng độc quyền và kiểm duyệt như vậy để làm gì?

Có hai mục tiêu chính mà tất cả các chế độ độc tài và độc tài toàn trị nhắm tới là: nhồi sọ và lừa dối. Nguyên tắc ở đây là, nói theo Hitler, cứ nói dối, nói dối đi nói dối lại mãi, một cách thật giản dị, đến lúc nào đó, người ta sẽ tin là thật. Và khi đã tin rồi thì mọi người dần dần trở thành những con chó của Ivan Pavlov: Cả tư tưởng lẫn cảm xúc, hành vi và mọi phản ứng của họ đều bị điều kiện hoá. Trong bài “Authoritarian regimes retool their media-control strategy”, Robert Orttung và Christopher Walker cho trong cái gọi là “mọi người” ở đây, có bốn đối tượng chính: Một là những thành phần “ưu tú” trong chế độ, tức các đảng viên và cán bộ các cấp trong hệ thống cầm quyền, để họ tiếp tục trung thành với chế độ. Hai là dân chúng nói chung để họ vừa kính trọng lại vừa sợ hãi, không dám chống lại chế độ. Ba là các thành phần đối lập cũng như các tổ chức dân sự: Với cả hai, hệ thống truyền thông độc quyền của nhà nước luôn luôn tìm cách bôi nhọ và cô lập, để dưới mắt dân chúng, họ hiện hình như những thế lực đen tối đe doạ đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Bốn là với những người thường xuyên sử dụng internet, chính quyền sẽ sử dụng nhiều cách khác nhau để hoặc dựng tường lửa và/hoặc kiểm duyệt để không phải ai cũng có thể tiếp cận được với những thông tin bất lợi cho chế độ.

Tuy nhiên, ngoài mục tiêu lừa dối và nhồi sọ, bất cứ hệ thống truyền thông nào của các chế độ độc tài cũng đều nhắm tới một mục tiêu khác nữa: định hướng dư luận. Công việc định hướng này bao gồm hai khía cạnh chính: Một là “giáo hoá” và hai là làm lạc hướng.

Tạo nên những con người sùng bái một cách mê tín đối với giới lãnh đạo cũng như đảng lãnh đạo cũng là một cách “giáo hoá”. Tuy nhiên, đối với dân chúng nói chung, hình thức “giáo hoá” phổ biến nhất, nói theo Robert Orttung và Christopher Walker trong bài dẫn trên, là làm cho mọi người trở thành thụ động và vô cảm, không quan tâm đến chính trị cũng như đến số phận của đất nước nói chung: “Để duy trì quyền lực, các chế độ độc tài đều giữ đại đa số quần chúng ở ngoài chính trị.”

Một khía cạnh khác của truyền thông dưới các chế độ độc tài mà người ta dễ quên lãng là đánh lạc hướng sự quan tâm của quần chúng. Áp dụng cách thức này, khi chính quyền gặp vấn đề rắc rối, người ta bèn tung ra một sự kiện hay một tin đồn vu vơ nào đó nhằm khêu gợi sự tò mò của mọi người khiến mọi người đuổi theo sự kiện hoặc tin đồn ấy mà quên bẵng đi vấn đề chính của chính quyền.

Nhớ, cách đây mấy năm, khi kinh tế gặp khó khăn với hiện tượng nhiều đại công ty nhà nước, nổi bật nhất là tập đoàn doanh nghiệp Vinashin, bị phá sản để lại những món nợ khổng lồ, dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt về vấn đề trách nhiệm không những của cá nhân mà còn của các cơ quan nhà nước. Mấy tháng sau, khi không khí vẫn còn nóng hổi, các cơ quan truyền thông xúm vào loan tải tin tức về bệnh tình của “cụ” rùa ở hồ Hoàn Kiếm. Chính quyền lập “khu điều dưỡng” cho rùa. Các nhà “rùa học” ở Hà Nội liên tục lên ti vi nói chuyện về rùa. Dân chúng rình rập quanh hồ Hoàn Kiếm để cố chụp hình rùa. Mọi người đều quan tâm đến rùa và quên phắt đi chuyện kinh tế của đất nước.

Những chuyện như thế chắc đã, đang và sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần…

Những bình trà đá miễn phí giữa Saigon

Những bình trà đá miễn phí giữa Saigon

httpv://www.youtube.com/watch?v=iNMsS8Pp_ts

Một trong những nghĩa cử đẹp của Sài Gòn, thành phố đông đúc và nắng nóng vào loại bật nhất Việt Nam, là những bình trá đá mát lạnh đặt tại nhiều nơi ở thành phố để giúp người lao động nghèo chống chọi với cái nóng bức giữa trưa Hè.

THẾ NÀO LÀ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG

THẾ NÀO LÀ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG

Có một chú tiểu khá thông minh, chú luôn đặt những câu hỏi xung quanh cuộc sống. Một ngày nọ, chú hỏi sư thầy của mình:

– Thưa thầy, giá trị cuộc sống của một con người là gì ạ? Con hỏi vậy vì thường ngày thấy mọi người lên chùa đều cầu mong cuộc sống có giá trị.

Người thầy đi vào phòng rồi mang ra cho chú tiểu một hòn đá xấu xí và bảo:

– Con hãy mang hòn đá này ra chợ bán và hãy nhớ là dù có ai mua thì cũng không được bán và mang về cho ta.

– Tại sao lại phải vậy thưa sư phụ?

– Nếu con muốn biết giá trị cuộc sống là gì thì hãy làm như ta bảo.

Vì sự tò mò nên chú tiểu đã làm theo. Chú mang hòn đá ra chợ ngồi bán và trong suy nghĩ thì không hiểu tại sao nó lại liên quan đến giá trị của cuộc sống.

Chú ngồi bán hòn đá ở chợ cả ngày mà không hề có ai hỏi, mọi người còn thấy làm kỳ lạ không hiểu tại sao chú lại ngồi bán một hòn đá xấu xí mà không có giá trị gì. Ngồi cả một ngày, một người bán rong thấy vậy thương tình đã đến hỏi và trả giá hòn đá 1 đô la. Chú tiểu nhớ lời sư phụ dặn dù bất kỳ ai hỏi mua cũng không được bán. Mang hòn đá về, chú hỏi sư phụ:

– Hòn đá này có gì đặc biệt mà thầy lại bảo con mang bán. Cũng may đã có người hỏi mua với giá 1 đô la. Vậy giá trị cuộc sống là gì thưa thầy?

Sư thầy cười và nói:

– Tốt lắm, ngày mai con hãy mang hòn đá vào cửa hàng bán vàng và bán cho chủ cửa hàng vàng, nhớ là dù chủ cửa hàng vàng có mua thì cũng không được bán, rồi còn sẽ hiểu thế nào là giá trị cuộc sống.

Vì tò mò, chú tiểu lại làm theo lời sư thầy. Hôm sau, chú mang hòn đá đi vào một cửa hàng vàng, vừa đi vừa nghĩ, tại sao sư phụ lại bảo mình mang hòn đá này vào bán trong cửa hàng vàng trong khi cả ngày qua chú ngồi ngoài chợ bán mà không ai mua, dù mua cũng không đáng giá. Dù rất ái ngại nhưng vì tò mò nên chú quyết định làm theo lời sư phụ.

Và thật bất ngờ, khi chú mang vào bán trong một cửa hàng vàng, chủ tiệm đã trả giá hòn đá là 500 đô la. Rất bất ngờ vì một hòn đá qua một ngày từ chỗ bán không ai mua giờ lại có giá như vậy, nhớ lời sư phụ dặn chú tiểu đã không bán và mang về.

Chú vội vàng hỏi tại sao lại như vậy và giá trị cuộc sống là gì mà tại sao một hòn đá từ không giá trị qua một ngày lại có giá trị rất lớn như vậy

Sư phụ cười và nói:

– Nếu con muốn hiểu giá trị cuộc sống là gì thì ngày mai con hãy mang hòn đá này tới một tiệm đồ cổ và bán, nhớ là dù với bất kỳ giá nào thì con cũng không được bán và mang về cho ta. Con sẽ hiểu giá trị cuộc sống là gì.

Chú tiểu càng tò mò hơn. Hôm sau, chú mang hòn đá tới một tiệm đồ cổ. Sau một hồi xem xét thì chú tiểu vô cùng ngạc nhiên khi chủ hiệu trả giá hòn đá là cả gia sản hiện có. Chú nhất quyết không bán và vội về kể lại với sư phụ:

– Vậy hòn đá này là gì, mà từ một thứ không giá trị không ai mua giờ nó có giá cả một gia tài.

– Đó chính là giá trị cuộc sống – Sư thầy nói.

Giá trị cuộc sống của mỗi con người đều do chính chúng ta quyết định, cũng giống như chú tiểu do dự khi mang một hòn đá không có giá đi bán. Giá trị cuộc sống là do chính chúng ta tạo dựng và đặt ra. Vậy hãy tự đặt mình vào nơi mà mọi người hiểu ta và đó là nơi giá trị sống được tôn trọng.

Cuộc sống ở trong tất cả mọi sự việc, từ những điều to lớn cho đến điều đơn giản, thậm chí là ở trong những điều mà chúng ta không hề quan tâm đến. Cuộc sống luôn “nói chuyện” với chúng ta thông qua những điều giản dị nhất và không ngờ đến nhất. Đừng bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào trong cuộc sống của bạn!

Mint
(Dịch từ Fructuous)

Thần kinh khốn nạn.

Thần kinh khốn nạn.

canhco

RFA

Đó là hệ thống thần kinh mới, vừa được Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam tìm ra sau khi ông Vũ Đức Đam, trên cương vị Phó thủ tướng ký thế cho Thủ tướng chính phủ quyết định chấp thuận cho UBND thành phố Sơn La kinh phí 1.400 tỷ để xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh trong thành phố.

GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được dẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Họ túng đói và lê lết như những con thú hoang trong khi chính phủ của ông Vũ Đức Đam đang phải đối phó với nợ công, phải ăn xin tứ phương từ Mỹ với miếng bánh TPP, từ Trung Quốc với những khoản vay thắt cổ, từ Nhật với ODA dễ nuốt và ngay cả từ Việt kiều hải ngoại với câu chữ không biết hổ thẹn là gì, lại bỏ ra 1.400 tỷ xây một hình tượng đang mục nát trong trái tim quần chúng.

Với những sự thật không thể chối cãi ấy câu hỏi đặt ra tại sao chính phủ lại tiếp tục ký những quyết định trái với lòng dân, trái với lương tri của con người mà bất cứ một chính phủ, một nhà độc tài nào cũng đều tránh né?

Chỉ có thể xem đó là những thái độ khốn nạn. Sự khốn nạn lâu ngày thành nếp nghĩ, thành cách hành xử quen thuộc. Việc coi thường luân thường đạo lý trong huyết quản đã tạo nên một loại gene mới trong cơ chế cộng sản. Loại gene ấy biến thành hệ thần kinh chủ đạo, từ tư duy cho tới phản ứng, nó nằm song song với các hệ thần kinh khác như buồn, vui, giận, ghét. . . hệ thần kinh khốn nạn chỉ khác ở chỗ, nó tự đứng riêng và tự đánh bóng hay tôn tạo chính mình. Nó phản ứng với hệ thần kinh bình thường một cách bất bình thường. Khi nhân dân đói nó cho là nhân dân đủ ăn và GDP của họ ngày một cao hơn. Khi trẻ em thiếu trường, thiếu lớp nó cho đấy chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong tổng thể phát triển của đất nước. Khi người dân phản ứng vì bị đẩy vào đường cùng nó cho là sự xúi giục của bọn phản động và phản ứng của nó không kém bất cứ cách hành xử côn đồ nào.

Thần kinh khốn nạn tự nghĩ ra những kịch bản chỉ có trong giấc mơ của những kẻ sở hữu nó. Nhân dân vẫn yêu thương Hồ chủ tịch và họ có như cầu nhìn tượng của ông thay cơm. Nhân dân hãnh diện khẳng định ông là ánh sáng dẫn họ trên con đường….vạn dặm! Nhân dân sáng suốt tin rằng ông là ngôi sao không hể tắt và có ông thì người dân sẽ thấy đời đáng sống biết dường nào.

Một trong những người sở hữu thần kinh khốn nạn, Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Sơn La cả quyết rằng: “sau khi xây dựng tượng đài, Sơn La sẽ có cơ hội quảng bá về du lịch. Đây sẽ là điểm đến thú vị cho người dân đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Hiện, Sở cũng đang nâng cấp nhà tù Sơn La và một số địa danh văn hóa khác”.

Nếu chú ý người dân sẽ lo sợ vô cùng khi tượng đài được xây dựng song song với việc nâng cấp nhà tù. Tham quan hay vào đó nằm nếu chống đối đề án thì có gì khác nhau?

Trần Bảo Quyến cho rằng: “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”.

Đúng, nó không hề là một đề án lãng phí. Nó không lãng phí mà là phá hoại. Phá hoại tới tận đáy cái nền của nhân bản. Tiêu diệt những gì ít ỏi còn lại trong lòng người dân đối với hình ảnh Hồ Chí Minh. Người miền núi vốn không được học hành tử tế họ chỉ biết ông Hồ là người cha già dân tộc theo tuyên truyền của bộ máy Đảng. Sau gần một thế kỷ người cha ấy chia cho đám con ruột là quan lại triều đình xây dựng những công trình để tư túi trên các đề án khốn nạn. Chỉ cần thông minh một chút là họ biết mình bị bóc lột, bị chà đạp tới xương khi con cái họ quần không có mà mặc, gia đình họ không có gạo đủ ăn phải lê lết trên những con ruộng bậc thang, đẹp thì có đẹp nhưng leo trèo trên ấy để kiếm từng hạt lúa thì người Kinh đã bỏ chạy từ xưa.

Chỉ tiếc một điều đồng bào miền Tây Bắc không mấy người có hệ thần kinh khốn nạn như quan đầu tỉnh Trần Bảo Quyến và do đó họ không thể tự bào chữa cho mình lý do họ quá yêu bác Hồ nên nhà nước cần phải dựng tượng của ông cho họ ngắm thay cơm.

Con cá gỗ còn tạm dùng để đánh lừa mình chứ tượng ông Hồ to quá mà lại làm bằng đá thì làm sao đem vào mâm cơm của họ để mà chấm, mà mút cho chén bắp trong bữa ăn thường nhật đậm đà hơn một chút?

tintuchangngayonline.com

http://thanhnientudo.com/2015/08/07/than-kinh-khon-nan/

Có chi tiết ‘không bình thường’ vụ Việt kiều về Việt Nam bị bắt

Có chi tiết ‘không bình thường’ vụ Việt kiều về Việt Nam bị bắt

Nguoi-viet.com

Quốc Dũng & Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Vụ ông Bùi Văn Tánh, Việt kiều ở Mỹ, bị công an tỉnh Khánh Hòa bắt và truy tố tội “cướp ghe, vượt biển ra nước ngoài” từ 25 năm trước, cho thấy có thêm một chi tiết “không bình thường.”

Theo báo Pháp Luật, ông Tánh bị truy nã vì tội “Cướp tài sản” và tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép.”

Tuy nhiên, tên của ông lại không có trong danh sách những người bị truy nã đăng trên trang mạng của Cục Cảnh sát truy nã tội phạm, thuộc Tổng Cục Cảnh Sát, Bộ Công An.

Trang mạng này có tên truyna.canhsat.vn, là “Trang thông tin điện tử của lực lượng cảnh sát truy nã tội phạm.”

Tên “Bùi Tánh” không được tìm thấy trong “Trang thông tin điện tử của lực lượng cảnh sát truy nã tội phạm” của Bộ Công An Việt Nam (Hình chụp từ website truyna.canhsat.vn.

Trang mạng này đăng lời Thiếu tướng Nguyễn Dĩnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát truy nã tội phạm, giới thiệu như sau: “Với trang web này, lần đầu tiên toàn bộ đối tượng truy nã đang lẩn trốn sẽ bị ‘lộ diện’ một cách đầy đủ, chính xác… Người dân, cơ quan thực thi pháp luật trong nước và ngoài nước có thể truy cập, tra cứu, tìm kiếm thông tin mọi nơi, mọi lúc và nhanh nhất về các đối tượng bị truy nã.”

Tuy nhiên, tên “Bùi Tánh” hay “Bùi Văn Tánh” đều không được tìm thấy trên trang Thông tin này ở tất cả các mục “Đối tượng truy nã”, “Đối tượng đặc biệt”, và cả “Truy nã quốc tế”.

Điều đáng nói là trang web này cập nhật đối tượng có quyết định truy nã từ năm 1977 đến nay.

Tuy nhiên, khi dùng Google để tìm, kết quả cho thấy có người tên “Bùi Tánh, sinh năm 1956, có hộ khẩu thường trú tại Nha Trang, tội danh “Hình sự”, loại truy nã “Nguy hiểm”, quyết định truy nã số 121 ngày 24 Tháng 7, 1990 và nằm trong mục “Truy nã quốc tế,” nhưng lại có dòng chữ màu đỏ ghi “Đối tượng không hiển thị”.

Kết quả dùng Google kiếm tên “Bùi Tánh” (Hình chụp từ websitetruyna.canhsat.vn)

Trong khi đó, hộ chiếu của người bị bắt này ghi tên là “Tanh V Bui, sinh năm 1954.”

Không chỉ vậy, trong khi tất cả những người có tên trong danh sách truy nã này đều có rất nhiều cho tiết đính kèm đặc biệt là những người có tội tương tự cũng được liệt kê, thì đối với trang có xuất hiện tên “Bùi Tánh” lại trống trơn lạ lùng.

Thêm vào đó, bản copy “Quyết định truy nã” được cho là truy nã đối với ông Tánh với chữ ký của Trưởng phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa Hoàng Minh Trí, thì chỉ duy nhất ghi tên “Bùi Tánh”, không có năm sinh, không có nhận dạng bất cứ đặc điểm riêng nào.

Vào lúc 6 giờ 30 (giờ California) ngày Thứ Năm, 6 Tháng Tám, khi nhật báo Người Việt hỏi về tình trạng của ông Tánh hiện nay, qua điện thoại, một nữ nhân viên không cho biết tên, thuộc phòng Phục vụ Công dân Mỹ (US Citizen Services) tại Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, cho biết văn phòng bà “rất quen thuộc với” trường hợp của ông.

“Theo luật của Việt Nam, khi có vấn đề, thì passport của người ngoại quốc sẽ bị giữ, nhưng ông Tánh không có gì phải lo về việc passport bị giữ cả. Khi mọi việc giải quyết xong, chỉ vài ngày nữa, thì passport của ông sẽ được hoàn trả.”

Khi được hỏi là “văn phòng Phục vụ Công dân Mỹ đã làm gì để giúp một công dân Mỹ đang gặp khó khăn,” người nhân viên này cho biết “đã nói chuyện với cả ông Tánh và chính quyền địa phương, nơi đang giữ passport của ông.”

Bà này cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi lúc nào cũng làm tất cả có thể được để giúp đỡ công dân Mỹ, nhưng ngay lúc này không thể xen vào cách giải quyết của chính quyền địa phương. Tuy nhiên hoàn toàn không có gì phải lo về việc bị giữ passport cả.”

Hôm Thứ Tư, bà Phượng Đặng, vợ ông Tánh, cho nhật báo Người Việt biết: “Hiện giờ anh Tánh được về nhà rồi, nhưng công an không cho ra khỏi vùng Nha Trang, và họ giữ passport, không trả lại.”