Lời Chúa để suy ngẫm

Khi Đức Giê-su bị đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ Đức Giê-su nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”

(Lc 23:34)

NỖI OAN TÔMA

NỖI OAN TÔMA

GM Vũ Duy Thống

Đối với phần đông tín hữu Việt Nam, danh xưng Tôma khơi gợi về một thái độ, rất riêng tư nhưng cũng rất điển hình, chẳng những không tích cực mà xem ra còn để lại nhiều tai tiếng.  Gặp một tâm hồn cứng cỏi trước những biểu cảm của niềm tin, người ta đã khéo ví von “cứng lòng như Tôma;” thấy ai biểu lộ do dự hoặc nghi ngờ trước những sự kiện tôn giáo, người ta đã vội đưa vào gia phả “con cháu thánh Tôma.” Kể cũng oan.

Thật ra, đi liền với danh xưng Tôma lại là một bài học dẫn đến niềm tin, và cũng còn đó lời gọi sống sao cho mối phúc thứ chín, như người ta gọi về lời Chúa Giêsu kết thúc trang Tin Mừng hôm nay “Phúc cho kẻ không thấy mà tin,” được trở thành hiện thực trong đời mỗi Kitô hữu.

1. Lạy Chúa Tôi, Lạy Thiên Chúa Của Tôi

Niềm tin của Tôma vào Đấng Phục Sinh là cả một chặng đường trong đó yếu tố trước hết chính là cộng đoàn: “Chúng tôi đã được thấy Chúa.” Chính vì chứng từ của cộng đoàn này mà Tôma đã tự đặt vấn để rồi sau đó mới đi tới đức tin.  Ngay việc các môn đồ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần cùng với lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh, làm bối cảnh hình thành truyện Tôma, cũng cho thấy vai trò của cộng đoàn trong việc khai sinh đức tin nơi một người.

Nhưng yếu tố chủ động hơn phải được tìm thấy trong phản tỉnh của cá nhân ông.  “Nếu tôi không thấy… tôi không tin. Câu nói tự phát ấy đã trở thành tai tiếng khiến nhiều người nghĩ rằng Tôma là một kẻ cứng đầu cứng cổ, đòi hỏi, nghi ngờ.  Nhưng thực ra, ông là người thực tiễn.  Chính nhờ ông lên tiếng mà ta mới thấy rõ hơn thế nào là trăn trở của đức tin thuở ban đầu và thế nào là nỗ lực cá nhân làm cho niềm tin có được bản sắc riêng không thể lẫn với người khác.  Nếu hôm trước Tôma đòi thấy mới tin, thì tám ngày sau, qua tiếp xúc cá nhân với Đấng Phục Sinh, ông đã tuyên xưng không phải bằng công thức chung nữa, mà bằng một cách rất riêng làm thành đỉnh cao tuyên tín Phục Sinh: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.

Và niềm tin chỉ có thể đạt được kết quả khi có yếu tố quyết định chính là hồng ân Thiên Chúa, như một bao trùm từ khởi sự cho đến hoàn thành.  Nguyện vọng của Tôma xem ra ngược ngạo, nhưng đã được Đức Giêsu thanh luyện, để cuối cùng khi dâng lời tuyên tín, cũng là lúc ông được dẫn vào một nhận thức mới mẻ hoàn toàn.  Thay vì phải thấy mới tin, ông nhận ra rằng phải tin mới thấy trọn vẹn: thấy Đấng Phục sinh và con người Giêsu cũng là một, thấy Đấng Phục sinh rốt cuộc là Chúa và là Thiên Chúa của mình, và thấy niềm tin vượt lên tất cả sẽ trở thành hạnh phúc.

2. Đừng Cứng Lòng, Nhưng Hãy Tin

Chuyện lòng riêng của Tôma cũng là chuyện lòng chung của muôn lòng tín hữu.  Từ nỗi oan Tôma, ngày nay người ta hiểu hơn rằng niềm tin không phải là một yếu tố đơn thuần, mà là một tổng hợp giữa ơn thánh và nghị lực con người, trong đó có cộng đoàn và mỗi cá nhân.

Chỉ dựa vào ơn thánh, người ta có nguy cơ rơi vào thái độ coi mọi sự là bởi Chúa nên không cần phải đào sâu tìm hiểu nữa.  Có biết đâu tin như thế là không còn tin nữa, mà một cách nào đó đã là cả tin.  Vì tin tất cả nên cả tin, hay vì cả tin nên tin tất cả?  Chỉ dựa vào lý trí, người ta lại có nguy cơ khác là thái độ muốn giới hạn tri thức về thực tại và tiêu chuẩn của kinh nghiệm khả giác hoặc khả năng suy luận: những gì không hiểu, không đo lường sờ chạm, đều bị chối từ.  Có biết đâu tin như thế cũng không còn là tin nữa, mà xem ra lại gần với sự bất tín!  Nếu chỉ dựa vào cộng đoàn thôi, người ta còn có thêm một nguy cơ nữa là thái độ tiêu cực.  Bên ngoài có vẻ ngoan ngùy, nhưng thực chất là dấu hiệu của một niềm tin hời hợt.  Lúc đạo giáo hưng thịnh xem ra không có vấn đề, nhưng khi sự đạo phải bước vào thầm lặng thì biết đâu bởi vì dễ tin nên cũng dễ bỏ niềm tin trước bất cứ ai?

Thành ra, phải xem trường hợp Tôma như một kinh nghiệm, và cần xem chặng đường niềm tin của ông như một kinh điển cho niềm tin đang dấn bước đi trong cuộc sống.  Đừng cứng lòng! Phải chăng là lời gọi hãy xa đi những thái độ không phù hợp, để chẳng những tránh được khủng hoảng, mà dường như còn nghe lại từng ngày lời ân cần đã một lần ngỏ với Tôma ở cuối chặng đường gặp gỡ: “Nhưng hãy tin!”

3. Phúc Cho Kẻ Không Thấy Mà Tin

Cũng từ nỗi oan Tôma, tín hữu hôm nay cảm nhận hơn niềm vui trong đức tin của mình.  Niềm vui của Tôma là được thấy Chúa nên tin, còn niềm vui của đời tín hữu lại là tin để được thấy Chúa.  Tin như thế là một hạnh phúc.

Trong hạnh phúc ấy, sau này các tông đồ đã qui tụ cho Chúa những kẻ tin, và những kẻ tin sơ khai đã vui mừng cử hành niềm tin của mình một cách sống động, không những qua nghi thức phụng vụ, mà còn qua cách sống cộng đoàn biết chia sẻ và phục vụ lẫn nhau, và niềm hạnh phúc, cuối cùng, sẽ là sức mạnh chiến thắng.

Nhưng với kẻ tin hôm nay, tất cả vẫn còn ở phía trước.  Bổn phận của ta là phải khổ công vun đắp niềm tin của mình sao cho thắm đượm hồng ân Thiên Chúa mà vẫn không quên nỗ lực đóng góp của con người, sao cho chan hòa với nhịp sống cộng đoàn mà vẫn không triệt tiêu bản sắc cá nhân.  Và một khi niềm tin muốn khơi dậy niềm tin, thì cái bổn phận kia đã trở thành trách nhiệm loan báo hạnh phúc cho những người đồng thời.

Tuy nhiên, phải thú nhận rằng niềm tin hạnh phúc ấy còn lắm nhạt nhòa.  Đó đây trong nhịp sống chung Giáo Hội cũng như trong nếp sống riêng mỗi tín hữu, vẫn có thể có những lúc ngại tin hoặc chậm tin vào điều mình không thấy.  Nhất là phải hy sinh những hạnh phúc chính đáng thấy được để vươn đến một thứ hạnh phúc ở ngoài tầm nhìn khả giác.  Quả là vất vả.  Nhưng chính lúc ấy, Tôma xuất hiện như một người bạn tri âm, như một người thầy đã từng trải nghiệm.  Và lời Đức Giêsu nói với ông lại trở thành lời vỗ về đem lại sức mạnh.  Nghe trong mối phúc thứ chín có lời dặn dò: muốn thấy điều mình tin, hãy bắt đầu bằng cách tin điều mình không thấy; và chừng như cũng có lời ước hẹn: tin điều mình không thấy sẽ được thấy điều mình tin.

Ngày nay nỗi oan Tôma vẫn còn đó.  Một mình ông chịu tai tiếng để sau này người ta biết đường mà tránh.  Một mình ông chịu quở là cứng lòng tin để tín hữu hiểu rằng phải vượt trên những điều nhìn thấy mới gặp được lối đi hạnh phúc của niềm tin.  Và như thế, liệu ta có thể bảo rằng nỗi oan Tôma là một nỗi oan hạnh phúc?  Cùng với mầu nhiệm đức tin khi bánh rượu được truyền phép hôm nay, ta sẽ lặp lại lời tuyên xưng của Tôma.  Để xin thêm đức tin cho những tấm lòng còn nghi ngại, củng cố đức tin cho những người đang yếu đuối, và xin được hạnh phúc cho mọi kẻ tin.

GM Vũ Duy Thống

Châm Ngôn Về Tuổi Tác

Châm Ngôn Về Tuổi Tác

Hãy để tuổi của bạn ngày một già đi, nhưng đừng để điều đó xảy ra với trái tim của bạn.

1.“Nếp nhăn đơn thuần là dấu hiệu nơi mà nụ cười luôn hiện hữu” – Mark Twain.

2.“Bà tôi bắt đầu đi bộ 5 dặm mỗi ngày khi bà bước vào tuổi 60. Bây giờ bà đã 90 tuổi và chúng ta không thể biết được địa ngục của bà ở đâu?” – Ellen DeGeneres.

3.“Bất cứ ai khi dừng việc học tập và trau dồi kiến thức thì người đó sẽ già, dù là ở tuổi 20 hay tuổi 80. Bất cứ ai duy trì việc học tập thì đều giữ được tuổi trẻ. Điều vĩ đại nhất trong cuộc sống là luôn giữ được đầu óc tươi trẻ” – Henry Ford.

4.“Khi tôi trưởng thành, tôi sẽ chú ý ít hơn tới những gì mà mọi người nói. Tôi chỉ quan sát những gì mà họ làm” – Andrew Carnegie.

5.“Tuổi già giống như một chiếc máy bay xuyên qua cơn bão. Nếu một lần bạn cất cánh thành công, thì không có điều gì là bạn không thể làm được” – Golda Meir.

6.“Trong tuổi trẻ, bạn sẽ thấy ngày thì luôn ngắn và năm rất dài. Khi về già, bạn sẽ thấy năm sẽ ngắn đi và ngày dường như dài hơn” – Pope Paul VI.

7.“Hãy có thời gian cho cả công việc và hưởng thụ; khiến mỗi ngày vừa hữu ích vừa thoải mái, và chứng tỏ rằng bạn hiểu giá trị của thời gian bằng cách sử dụng nó thật tốt. Và rồi tuổi trẻ sẽ tươi vui, và tuổi già không có nhiều hối tiếc, và cuộc đời sẽ là một thành công tươi đẹp” – Louisa May Alcott

8.“Sự già đi xuất hiện tốt nhất ở 4 thứ: khúc gỗ lâu năm để nhóm lửa, rượu cổ lâu ngày để uống, người bạn lâu năm để tin tưởng và những tác giả lâu đời để thưởng thức tác phẩm” – Francis Bacon.

9.“Có dòng suối của tuổi trẻ: nó ở trong tâm trí bạn, tài năng của bạn, sự sáng tạo bạn mang đến cho đời và cuộc sống của những người bạn yêu. Khi bạn học được cách lấy nước từ nguồn này, bạn sẽ thực sự đánh bại tuổi tác” – Sophia Loren

10.“Tuổi trẻ là một món quà của tạo hóa, nhưng tuổi già lại là một công việc mang tính nghệ thuât” – Stanislaw Lec.

11.“Trí óc già nua cũng như những chú ngựa già nua; bạn phải để chúng luyện tập nếu bạn muốn chúng hoạt động được tốt” – John Adams

12.“Tình yêu chúng ta có trong tuổi trẻ chỉ là hời hợt so với tình yêu mà một người đàn ông già nua dành cho người vợ già của mình” – Will Durant

13.“Bốn mươi đối với trẻ là già, mà năm mươi đối với già là trẻ” – Victor Hugo
14.“Sự khôn ngoan không nhất thiết phải đi kèm vời tuổi tác. Đôi khi tuổi tác chỉ thể hiện tất cả những gì vốn có của nó” – Tom Wilson.

15.“Không một ai đơn thuần trở nên già đi bởi những năm mà họ sống. Chúng ta sẽ ngày một già bởi những gì đã cống hiến cho những ý tưởng. Thời gian có thể làm nếp nhăn xuất hiện trên da bạn, nhưng nó sẽ khiến chúng ta có thể từ bỏ những nhiệt huyết trong tâm hồn – Samuel llman.

16.“Bí mật để duy trì tuổi trẻ là hãy sống trung thực, ăn uống từ tốn và luôn nói dối về độ tuổi của bạn” – Lucille Ball.

17.“Sẽ có những lúc đặc biệt khi bạn nhận ra rằng tuổi trẻ của chúng ta đã đi qua, nhưng vài năm sau đó, chúng ta biết rằng điều đó là quá muộn” – Mignon McLaughlin

18.“Không phải người ta ngừng theo đuổi giấc mơ vì mình già đi, người ta già đi vì ngừng theo đuổi giấc mơ” – Gabriel Garcia Marquez

“Một ngày nào đó bạn sẽ đủ già để bắt đầu đọc lại những câu chuyện cổ tích một lần nữa” – C.S.Lewis.

Sưu Tầm

Lâm Kim Trọng gởi

“CON CÁI KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT ‘LẦM LỖI’”!

“CON CÁI KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT ‘LẦM LỖI’”!

Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Vatican City, April 08, 2015 (Zenit.org)

Trích từ bản dịch của ZENIT huấn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong buổi triều yết chung tại quảng trường Thánh Phêrô

Mến chào toàn thể anh chị em!

Hôm nay, kết thúc loạt bài giáo lý về gia đình, chúng ta hướng về

con cái, những hoa quả tuyệt vời

do phúc lành mà Thượng Đế đã ban cho người nam và người nữ. Chúng ta đã nói về hồng ân cao cả của con cái.

Tuy nhiên, hôm nay chúng ta bắt buộc phải nói về

“những câu chuyện buồn” mà nhiều em đang phải trải qua.

Có quá nhiều trẻ em bị loại bỏ ngay từ trong trứng nước, bị coi thường, bị tước đoạt tuổi thơ và tương lai của các em.

Một số, có thể nói là, hầu hết đã tự biện minh rằng đem chúng vào thế giới này là một lầm lỗi.

Điều này rất đáng xấu hổ!

Làm ơn, xin đừng trút bỏ những lỗi lầm của chúng ta trên con cái!

Con cái không bao giờ là một “lầm lỗi”.

Sự đói khát của các em không phải là một sai lầm, cũng như sự nghèo túng của các em. Sự mỏng dòn của các em, tình trạng bị bỏ rơi các của em cũng vậy — quá nhiều em bị bỏ rơi trên các đường phố.

Cả tình trạng dốt nát hoặc thiếu khả năng của các em cũng thế — có nhiều em không biết đến trường học là gì.

Đó là những lý do để chúng ta thương các em hơn, với lòng quảng đại lớn lao hơn.

Chúng ta đang làm gì trong những tuyên ngôn long trọng về nhân quyền của con người và của các trẻ em, nếu chúng ta trừng phạt các em vì những lỗi lầm của người lớn?

Đối với những người có trách nhiệm để điều hành, giáo dục — nhưng theo cha, tất cả chúng ta là những người lớn có trách nhiệm đối với các em, và mỗi người trong chúng ta hãy làm những gì mà anh chị em có thể làm để thay đổi tình trạng này.

Cha đang nói đến “cuộc khổ nạn” của các em.

Mỗi một em bị bỏ rơi, gạt ra ngoài lề xã hội, sống trên vỉa hè ăn xin và bằng với tất cả phương cách, không học hành, không có sự săn sóc thuốc men, đang kêu lên đến Chúa và tố cáo hệ thống mà những người lớn chúng ta đã xây nên.

Và, bất hạnh thay, những trẻ em này là mồi ngon cho tội ác,

cho những kẻ khai thác các em vào những đường dây bất chính hoặc trục lợi, hoặc huấn luyện các em cho chiến tranh và bạo động.

Trong các nước được gọi là giầu có, dù thế, trẻ em cũng đang sống trong những thảm kịch khiến các em gặp phải khó khăn do thảm họa của gia đình, thiếu giáo dục và những điều kiện sống nhiều lúc vô nhân đạo.

Trong những trường hợp này, các em bị xúc phạm đến thân xác và linh hồn!

Tuy nhiên, Chúa Cha là cha trên trời không bỏ quên một em nào trong các em! Không giọt nước mắt nào của các em bị lãng quên.

Và Ngài cũng không bỏ qua những trách nhiệm của chúng ta, trách nhiệm xã hội của con người, của mỗi người chúng ta, và của các quốc gia.

Một lần Chúa Giêsu đã trách mắng các tông đồ vì các ông đã xua đuổi các trẻ em mà cha mẹ chúng đã dẫn đến với Ngài, để Ngài chúc lành cho các em.

Đoạn Tin Mừng đầy xúc động:

“Bấy giờ các em được mang đến với Người để Người đặt tay trên chúng mà cầu nguyện. Các môn đệ lên tiếng trách móc dân chúng; thế nhưng Chúa Giêsu đã nói: ‘Hãy để trẻ em đến cùng Thày, đừng ngăn cản chúng; vì ớc trời thuộc về những ai giống như chúng’. Và Người đã đặt tay trên chúng rồi ra đi” (Mathêu 19:13-15).

Sự tin tưởng của những cha mẹ này và câu trả lời của Chúa Giêsu dễ thương biết bao!

Cha mong ước biết bao cho đoạn Tin Mừng này trở nên câu truyện thường ngày của các em!

Điều xác thực là, cảm ơn Chúa, những trẻ em gặp những khó khăn trầm trọng thông thường có những cha mẹ phi thường, quảng đại sẵn sàng hy sinh.

Dù vậy, không nên để những phụ huynh này bị cô đơn. Chúng ta phải nâng đỡ nỗ lực của họ, chia sẻ với  họ những giây phút vui vẻ và cái hạnh phúc được quan tâm, để họ không trở nên mồi ngon cho những phương thức trị liệu lập đi lập lại.

Trong bất cứ trường hợp nào, khi đó là vấn đề liên quan đến trẻ em, chúng ta không chỉ nghe những luận điệu bao che của luật pháp, thí dụ:

“Dù sao, chúng tôi không phải là một cơ quan an sinh duy nhất”;

hoặc “Một cách riêng tư, mỗi người được tự do hành động theo ý mình”;

hoặc “Chúng tôi không chấp nhận điều này, nhưng chúng tôi cũng không thể làm gì hơn.”

Những lời lẽ như vậy không đúng trước một câu hỏi liên quan đến các em.

Rất thường xuyên những hệ quả của đời sống bị căng thẳng bởi sự bấp bênh hoặc công việc rẻ mạt, của những giờ giấc khác thường, của phương tiện di chuyển hạn hẹp, đều đổ trên các em…

Nhưng các em cũng trả giá cho những cuộc phối hợp thiếu trưởng thành, và những chia rẽ vô trách nhiệm:

Các em đã trở thành những nạn nhân đầu tiên.

Các em đau khổ do thành quả của nền văn minh bởi những quyền lợi chủ quan quá khích,

và rồi khiến các em trở nên những đứa trẻ ranh mãnh nhất.

Các em thường xuyên hấp thụ sự bạo động mà các em không thể “tiêu hóa” nổi, và dưới cặp mắt của những người lớn tuổi,

các em bị bắt buộc để trở thành dầy dạn với sự suy đồi.

Ở thời đại chúng ta cũng như trong quá khứ, Giáo Hội lấy tình từ mẫu mà phục vụ các em và gia đình các em. Giáo Hội đem lại cho cha mẹ và con cái của thế giới chúng ta phép lành của Thiên Chúa, sự dịu hiền từ mẫu, kiên định chối từ và kết án mạnh mẽ.

Chúng ta không nên đùa giỡn với các em.

Hãy nghĩ xem xã hội hội sẽ ra sao để quyết định thiết lập một và tất cả những nguyên tắc này:

“Sự thật là chúng ta bất toàn và rằng chúng ta có nhiều khuyết điểm.

Tuy nhiên, khi một nghi vấn về trẻ em đến với trần gian, thì không có sự hy sinh nào của người lớn được xem là quá đắt đỏ hoặc lớn lao,

nhằm tránh cho một em khỏi phải nghĩ rằng

em là một lầm lỗi, rằng em không có giá trị

và rằng em bị bỏ rơi trước những vết thương của cuộc đời và của sự ngạo mạn của con người.”

Tuyệt vời biết bao một xã hội như thế! Một xã hội như vậy đáng được tha thứ, những lỗi lầm vô số kể — nhiều lắm, thật vậy.

Thiên Chúa phán xét đời sống chúng ta bằng cách lắng nghe những gì các thiên thần trình lại cho Ngài về các trẻ em, các thiên sứ mà “hằng chiêm ngưỡng nhan Chúa Cha Đấng ngự trên trời” (xem Mátthêu 18:10).

Chúng ta phải luôn luôn tự hỏi:

Các thiên thần của các em sẽ nói gì với Thiên Chúa về chúng ta?

[Original text: Italian]

[Translation by ZENIT]

http://www.zenit.org/en/articles/general-audience-on-the-passion-suffered-by-children

Mời tiếp tục vào thăm trang nhà: www.giadinhnazareth.org

Quên mình là ai

Quên mình là ai

GS Nguyễn Văn Tuấn

Không biết các bạn thì sao, chứ mỗi lần nghe tin một ông/bà “lãnh đạo” đi thăm Tàu là tôi thấy… sờ sợ. Cái xứ đó có quá nhiều cạm bẫy, và họ cũng có truyền thống lâu đời bày mưu tính kế để hãm hại người khác (và họ làm rất tốt). Nhớ lần trước, khi ông Nông đi thăm Tàu và kí kết mấy dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, mà bây giờ chúng ta biết là đã sập bẫy của Tàu. Nay đến ông Nguyễn sang đó. Sau màn tay bắt (có khi dùng cả hai tay!) mặt mừng với “bạn”, ôngtuyên bố một cách khẳng định rằng “Việt Nam hoan nghênh và mong muốn TQ tăng mạnh đầu tư vào Việt Nam, nhất là có những dự án đầu tư lớn, công nghệ hiện đại tiên tiến, ưu tiên trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, chế tạo, công nghiệp phụ trợ” (*). Nghe qua thì chẳng khác gì rước họ về làm tất cả cho chúng ta. Đã hơn 60 năm qua, VN đã ăn quá nhiều quả đắng của kẻ thù truyền kiếp này, vậy mà nay lại có người muốn rước họ vào để có thêm quả đắng! Không có một logic nào, không có một lương năng bình dân nào, và không có một lợi ích dân tộc nào có thể giải thích cho sự mời mọc đó.

Điều càng buồn cười hơn là ngài tổng Nguyễn hình như quên mình là ai. Bằng chứng là ông “Thay mặt Đảng và Nhà nước Việt Nam” mời cái tên họ Tập thăm VN. Tôi cứ tưởng ông là đảng trưởng, chứ đâu phải là thủ tướng hay chủ tịch Nước đâu mà thay mặt Nhà nước được. Tôi nghĩ sự việc nhỏ này nó một lần nữa nói lên sự lẫn lộn, nhập nhằng giữa độc đảng và Nhà nước, và sự nhập nhằng đó thậm chí làm cho người trong hệ thống cũng đôi khi quên mình là ai!

Nếu các bạn đã quên thì xin nhắc lại rằng chính cái tên họ Tập mà ông tổng Nguyễn mời này nó đã cho giàn khoang HD-981 xâm phạm lãnh hải Việt Nam. Cũng không nên quên rằng trong thời gian “dầu sôi lửa bỏng” HD-981, khi ông tổng Nguyễn xin phép gặp nó thì nó từ chối không cho gặp, thậm chí nó còn từ chối nói chuyện qua điện thoại. Vậy mà, đùng một cái khi ông Nguyễn sắp đi thăm Huê Kì thì Tập gọi ông sang để nói chuyện! Phải nói đó là một cách thể hiện tư cách bề trên rất tuyệt vời. Nó (tên Tập) chọn thời điểm, chọn người, và chọn nội dung để nói chuyện, chẳng khác gì thượng cấp gọi thuộc hạ đến hầu chuyện vậy.

Thật ra, chuyện tên Tập thể hiện tư cách “bề trên” là chuyện của Tàu, nhưng vấn đề đặt ra là tại sao Việt Nam lại ngoan ngoãn để cho nó thể hiện cái tư cách bề trên đó và sẵn sàng trở thành diễn viên phụ trong vở kịch bề trên đó mới là chuyện chúng ta đáng phải suy nghĩ. Có lẽ vài lãnh đạo Việt Nam đã quên mình là ai và làm việc vì lợi ích của ai chăng?

N. V. T.
(*) http://vietnamnet.vn/…/viet-trung-duy-tri-dai-cuc-quan-he.h…

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Tại sao chúng ta vẫn lẳng lặng vui sống như không thấy gì bất thường xảy ra?*

Tại sao chúng ta vẫn lẳng lặng vui sống như không thấy gì bất thường xảy ra?*

Quốc dân tỉnh thức

Lê Doãn Cường

“Cuộc đời của chúng ta bắt đầu kết thúc khi chúng ta im lặng về những điều lẽ ra phải lên tiếng” – Martin Luther King Jr.

Đêm nằm thao thức, nghĩ về sự vụ đình công, biểu tình của hàng chục ngàn công nhân [theo một số nguồn tin là 90.000] ở công ty PouYuen, quận Bình Tân mà tâm trạng bất an, không thể ngủ được. Hôm nay đã sang ngày thứ năm rồi! Họ đang phản đối Điều 60 phi lý – bất công Luật Bảo hiểm Xã hội, thông qua ngày 20/11/2014, mà tôi cũng chưa có thời gian để rà soát, liệu còn những điều luật nào kiểu vậy nữa không trong các luật mới được thay đổi này. Vì từ ngày sửa đổi Hiến pháp năm 2013, hàng loạt các bộ luật, luật đã được Quốc hội chuẩn y, thông qua.

Thật không thể hiểu được! Khi mà luật còn đang trong quá trình thảo luận ở nghị trường, quý vị đại biểu của nhân dân, đại diện cho quyền lợi giai cấp công nhân đang nghĩ gì, ở đâu? Còn các luật sư, các nhà nghiên cứu luật pháp – những con người am tường về luật lệ nước Nam, các vị đang làm gì?

Đúng là không thể tưởng tượng!

Sinh ra làm gì cái bọn “đầy bồ” chữ nghĩa, cử nhân – thạc sỹ – tiến sỹ, mà suốt ngày chỉ biết bo bo vào máng ăn, chỗ ngủ, quẩn quanh trong chuồng như những con lợn. Mang danh phận là những kẻ có học thức – tri thức, bằng này chức nọ, ăn ngon mặc đẹp, ở nhà lầu đi xe sang nhưng lại đang sống nhờ hơi thở của chính những người công nhân, những người lao động nhọc nhằn, những người được xem là ít học, lương “ba cọc ba đồng”, sống chui rúc trong những ổ tò vò, công việc bấp bênh, cuộc sống bất định.

Họ – chính họ chứ không ai khác đang tranh đấu cho xã hội này công bằng và dân chủ hơn.

Càng nghĩ lòng dạ càng rối bời…

Suốt từ Bắc chí Nam, những tháng ngày qua đã xảy ra không biết bao nhiêu sự vụ từ giặc Tàu xâm lấn biển đảo, bắt bớ ngư dân, đánh phá tàu thuyền Việt Nam đến tham nhũng, bất công – bất cập hiện diện đầy trên mọi lĩnh vực: giáo dục, y tế, xây dựng, giao thông vận tải, tài chính – ngân hàng, giải tỏa đất đai – đền bù, tư pháp và cả lực lượng vũ trang… Không phải chỉ giai đoạn bây giờ mà bao nhiêu năm rồi, những cái ung nhọt – u thối đang phát tán, triển nở rộng khắp trên mọi mặt đời sống xã hội. Những ngày gần đây là kế hoạch chặt đốn 6700 cây xanh tại Hà Nội, hàng trăm công dân Thủ đô xuống đường tuần hành phản đối [1]. Sập giàn giáo tại khu công nghiệp Formosa, khu Kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh làm 13 người chết, đây chính là đặc khu kinh tế mà nhà đầu tư Đài Loan – Trung Quốc đã thuê trong thời hạn 70 năm [2]. Rồi việc tập đoàn Sun Group thuê 200 hecta đất trên Bà Nà khai thác du lịch, ngăn cấm mọi người đi bằng con đường bộ. Muốn lên Bà Nà người dân chỉ còn cách mua vé của Bà Nà Hills với giá 500 ngàn đồng (350 ngàn với người Đà Nẵng) bao gồm phí cáp treo và phí dịch vụ du lịch. Trong lúc ấy, người ta không hề có ý định muốn tham quan hay sử dụng dịch vụ của “mấy bác” Sun Group mà chỉ muốn lên Bà Nà thưởng ngoạn, đi dã ngoại hay viếng chùa Linh Ứng [3]. Rồi mưa lũ trái mùa, xả lũ thủy điện làm hàng ngàn hecta hoa màu ngập úng, nông dân Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi mất trắng mà chưa thấy thống kê thất thoát là bao nhiêu. Trong khi đó, tỉnh Quảng Nam cho khánh thành tượng Mẹ Việt Nam anh hùng với tổng kinh phí khoảng 410 tỷ đồng, Đà Nẵng thì chi hơn 18 tỷ đồng mở tiệc toàn thành phố mừng 40 năm ngày “giải phóng”, nghe đâu người ta còn chuẩn bị xây dựng tháp truyền hình cao nhất thế giới ở Hà Nội…

Tiếp theo là dự án Bôxít Tây Nguyên, dự án gây ra nhiều tranh cãi từ bảy, tám năm nay. Theo dự tính của các chuyên gia, dự án này đã “sập bẫy giá rẻ” của nhà thầu Trung Quốc [có thể lỗ hàng ngàn tỷ đồng] trong khi VTV vẫn truyền tin lời Thủ tướng là “quốc kế dân sinh” còn Bộ Công Thương thì báo cáo – “lỗ theo kế hoạch” [4]. Lợi nhuận dân sinh đâu chưa thấy nhưng hiển nhiên, chỗ nào cũng thấy có mặt, góp công sức, cắm dùi rễ của ông “bạn vàng” Trung Quốc. Phải chăng chúng ta đang tạo công ăn – việc làm, chốn định cư cho chính sách di dân của chính phủ Bắc Kinh [chuyển dịch tầng lớp nghèo, nhận thức thấp ra nước ngoài]? Tiếp nữa là vụ việc nước giải khát của đại gia Tân Hiệp Phát có cặn bẩn, ruồi nhặng, gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Đã thế, đại gia này lại còn rất “fair play” khi bắn tin cho cơ quan an ninh, bắt quả tang người tiêu dùng đang chơi trò “tống tiền” nhà sản xuất. Rốt cuộc, nạn nhân bị truy tố với tội danh “cưỡng đoạt tài sản”, trường hợp anh Võ Văn Minh ở An Giang, anh Nguyễn Quốc Tuấn ở TP Hồ Chí Minh [5]. Đến Đồng Nai thì có dự án lấp sông “Rất kinh khủng” của đại gia Toàn Thịnh Phát. Độ kinh khủng của dự án này ở chỗ, việc triển khai có thể dẫn đến phá vỡ kết cấu dòng chảy, tác động xấu đến môi sinh tự nhiên, nguy cơ gây ra lũ lụt, biến đổi khí hậu là hiển hiện, vậy mà các nhà chuyên môn, người dân trong vùng lại không được thông qua và không hề biết tới [6]. Ngay cả trên phương diện pháp lý, việc cấp phép cho dự án của UBND tỉnh Đồng Nai cũng không căn cứ trên Luật Tài nguyên nước. Trong lĩnh vực tư pháp, thời gian qua, các án “nghi oan sai” bị phanh phui hàng loạt, tiêu biểu điển hình có vụ anh Hồ Duy Hải ở Long An, ông Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Phòng, ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang [7]. Rồi công an – an ninh bức cung, dùng nhục hình gây chết người, nghi can chết trong đồn công an chưa rõ lý do, tiêu biểu là vụ án năm công an tỉnh Phú Yên dùng nhục hình dẫn đến cái chết của anh Ngô Thanh Kiều. Luật sư Võ An Đôn, người bảo vệ gia đình nạn nhân, vì các kiến nghị đề nghị khởi tố, yêu cầu từ chức đối với mấy vị lãnh đạo công an tỉnh Phú Yên mà bị các cơ quan Nội chính tỉnh nhà gây áp lực, thanh tra văn phòng luật và kiến nghị “đòi” rút giấy phép hành nghề. Từ vụ việc này, luật sư Võ An Đôn đã nổi tiếng trong và ngoài nước, qua đó, mới thấy giá trị công lý ở nước Nam ta là “đãi cát tìm vàng”, tiếng nói của một người dân là “thấp cổ bé họng” chừng nào.

Thưa các bạn, tất cả mọi vấn đề đều ảnh hưởng, tác động đến quyền lợi của chúng ta, quyền tự do lựa chọn – quyết định các vấn đề xã hội, lợi ích xác đáng – hợp pháp của công dân. Thế nhưng, tại sao chúng ta vẫn lẳng lặng vui sống như không thấy gì bất thường xảy ra?

Liên quan đến vấn đề giao thông, cần nói trước tiên là sự nhũng nhiễu, vòi tiền của cảnh sát giao thông, vòi không được thì tìm cách “núp lùm” để bắt quả tang người dân sai phạm. Có lẽ, đây không phải là phương thức hành xử của những người muốn xây dựng xã hội văn minh, thượng tôn pháp luật; nó là cách thức để gặt hái chỉ tiêu hoặc muốn “kiếm tí” từ “ông chủ” của mình. Đã thế, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thuyên, Cục trưởng Cục CSGT Đường bộ – Đường sắt, còn phát biểu rất khẳng khái “nhận dăm ba chục, một vài trăm chưa thể gọi là tham nhũng”. Trong lúc đó, số người tử vong vì tai nạn giao thông năm 2014 là gần 9000 người, năm 2013 là 9369 người [8], vượt quá số tử vong vì chiến sự tại Ucraina – 6600 người [theo số liệu của chính quyền Kiev, còn số liệu của LHQ đến 11/2014 là 4317 người]. Rõ ràng, không thể nói cuộc sống ở Việt Nam là an toàn, là không bất ổn. Người dân đi ra đường không sợ tai nạn giao thông thì cũng lo trộm cắp, cướp giật. Trộm cắp, cướp, hiếp, chém giết thì thông tin nhan nhản, ngày nào cũng giăng đầy các mặt báo.

Nhìn đến kinh tế, giáo dục, là các lĩnh vực trọng yếu của xã hội, cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa. Từ lâu, trên thị trường, đã tràn ngập hàng hóa chứa hóa chất độc hại xuất xứ từ ông “bạn vàng” Trung Quốc, đủ các loại: rau, củ, quả, hàng tiêu dùng, may mặc, v.v. Chúng đa phần giá rẻ, phù hợp với lớp đối tượng thu nhập trung bình – thấp tại Việt Nam, và không ngoại lệ người giàu vẫn phải xài hàng Tàu độc hại. Nền kinh tế, một mặt, không chế tác được sản phẩm công nghiệp để bước ra sân chơi thế giới, mặt khác, cũng không sản xuất nổi sản phẩm công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp FDI. Cuối năm rồi, nhân việc tập đoàn Samsung đưa ra danh mục 170 phụ kiện cung ứng mà không tìm được nhà cung cấp Việt Nam thỏa mãn yêu cầu, ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, đã khẳng định với bàn dân thiên hạ “chúng ta sản xuất được ốc vít rồi!”. Sản xuất được đấy, nhưng có đáp ứng được các tiêu chuẩn công nghiệp và chuỗi giá trị của Samsung hay không là chuyện khác. Chúng ta đang “đá cùng sân” với các bạn quốc tế, chúng ta không thể tự sống, tự sản xuất hay tự tiêu dùng theo kiểu tự mình, theo các chuẩn mực của riêng mình được, thưa các đồng chí! Giờ đây, bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu chính là gạo, cà phê, thủy sản, dệt may và nguyên liệu thô, đất nước ta còn có thế mạnh về xuất khẩu lao động phổ thông, trọng về cơ bắp. Phụ nữ thì sang các nước láng giềng làm ô-sin, kẻ nhẹ dạ cả tin thì bị lừa làm gái, nhiều người ở trong nước làm hàng hóa cho quý ngài từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan sang chọn vợ [9]. Theo số liệu từ Đồng hồ nợ công thế giới tháng 3/2015, nợ công hiện tại của Việt Nam chiếm 46,7% GDP và tính trên đầu người là 972,2 USD, tốc độ tăng nợ hằng năm là 10,1%. Trong khi GDP bình quân đầu người là gần 2000 USD/năm, trong khu vực ASEAN ta hơn Lào, Campuchia, Đông Timo và Myanmar nhưng đồng thời, nợ công gộp trên GDP chỉ đứng sau Singapore, Malaysia và Lào [10]. Việt Nam, rõ ràng, không thể so sánh với Singapore và Malaysia khi GDP bình quân đầu người của họ khoảng 58.000 USD và 12.000 USD.

Tôi tự hỏi mình, chúng ta lấy gì để chi trả?

Mỗi người chúng ta một năm làm ra 2000 USD, trả nợ gần 1000 USD còn hơn 1000 USD, liệu có đủ trang trải cho mọi nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hay không? Đó là chưa kể, ngay từ lúc bạn sinh con ra, bản thân nó đã phải gánh trên mình món nợ 1000 USD mà người chi trả không ai khác chính là bạn. Người khác vay vì có năng lực tài chính, còn mình – năng lực gì mà đòi trả nợ? Nếu bạn là người ưu việt – xuất sắc, tôi không nói; bằng ngược lại, bạn cũng như tôi – những con người với trí tuệ và năng lực bình thường, một khi mà “rừng vàng biển bạc” không còn nữa, một khi mà môi trường dân sinh của chúng ta càng ngày càng tệ hại, khi đó bạn chỉ còn cách đem sức “trâu” ra để “cày cuốc” ngày đêm. Chưa trả được, món nợ này sẽ truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Từ năm 2011 lại đây, tốc độ nợ công tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ, mỗi năm bình quân 20% trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 5,8% [11]. Theo các chuyên gia kinh tế, cách tính nợ hiện tại là theo kiểu Việt Nam [theo định nghĩa của Luật Quản lý nợ công] còn theo định nghĩa quốc tế thì phải trên 100% GDP, vượt xa ngưỡng nợ công 65% GDP mà Chính phủ đưa ra [12]. Đó là các chỉ số vĩ mô còn trong thực tế, thuế phí vẫn tăng đều đều, vật giá liên tục leo thang…

Cách đây 6 tháng, Ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, đã có một phát khiến chúng ta không thể không suy nghĩ: “Cách đây bốn, năm mươi năm, Việt Nam và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, tôi rà lại tư liệu thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại Việt Nam và Việt Nam cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại Việt Nam làm ông chủ, làm quản lý, còn người Việt Nam ở Hàn Quốc thì chủ yếu làm ôsin”.

Thưa các bạn, vì đâu đất nước ta nên nỗi?

Cũng nhân vụ việc con “ốc vít” của tập đoàn Samsung, có người tếu táo rằng: “Việt Nam chỉ sản xuất được giáo sư, tiến sỹ chứ không giỏi làm sạc pin, ốc vít”. Thật vậy, theo thống kê năm 2013, Việt Nam có khoảng 9.000 GS và PGS, 24.300 TS, 101.000 thạc sỹ, trong đó có 5,6% GS/PGS công tác trong các trường đại học, hơn 9.000 TS là giảng viên các trường cao đẳng, đại học [13]. Vậy số GS/PGS, TS còn lại đi đâu? Câu trả lời chỉ có thể là ở các viện, các hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan chính quyền. Chưa có một số liệu thống kê cụ thể nào nhưng một điều chắc chắn rằng, người Việt ta vốn sính trọng bằng cấp, háo danh, sỹ hảo nên các vị chức vụ thấp bé chưa có hàm – vị thì mua điểm, chạy bằng, đi thầy. Khi có hàm – vị rồi thì không làm công tác giảng dạy, nghiên cứu [đương nhiên, vì làm gì có kiến thức] mà muốn trở thành nhà quản lý, lãnh đạo. Hàm – vị chỉ còn là cái mác để leo cao còn chức tước với họ mới là cái đích thật. Chức tước càng cao, oai quyền càng lớn, người ta càng hãnh tiến với đời.

Đây phải chăng là cái vòng luẩn quẩn của giáo dục Việt Nam, của trí thức xã hội Việt Nam?

Có người đã phải than, số lượng GS – TS chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á, nhưng không có trường ĐH nào vào “Top 500” trường ĐH hàng đầu của thế giới. Mới gần đây, Học viện Chính trị Bộ quốc phòng vừa trao bằng tiến sỹ các chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, chủ nghĩa Mác – Lê cho 36 vị “ưu tú” nữa. Có lẽ người ta đang chạy đua đến thành tích 20.000 TS vào năm 2020 của Bộ Giáo dục để đủ sức chắp cánh cho nền giáo dục Việt Nam. Người ta đang hậm hực vì một đất nước hơn 90 triệu dân mà số lượng các bài báo công bố quốc tế hằng năm chỉ khoảng bằng một trường đại học ở Thái Lan. Theo nguồn dữ liệu từ viện Thông tin Quốc tế ISI, trong năm 2012, Việt Nam có 1731 bài báo công bố quốc tế, trong khi của Thái Lan là 5804 bài, Malaysia – 7828 bài và Singapore – 10125 bài [14]. Theo thống kê của Bộ KH-CN, trong 5 năm (2006 – 2010) Việt Nam có 5 bằng sáng chế đăng ký tại Mỹ, năm 2011 không có cái nào, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á khác như Singapore – 647 bằng sáng chế, Malaysia – 161, Thái Lan – 53 và Philippines – 27 bằng sáng chế [15].

Trông lên rồi cũng phải trông xuống, trong nước, có người hai – ba bằng đại học, bằng cao học vẫn thất nghiệp dài. Cử nhân, thạc sỹ bươn chải đủ nghề để kiếm sống, làm bưng bê, bồi bàn, phụ bếp cũng không thiếu. Chất lượng đào tạo không đảm bảo, sinh viên ra trường thiếu kiến thức, kỹ năng, không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Sách vở giáo dục trẻ em bị khui ra hàng loạt những sai sót vô tất trách, thiếu nhân bản, mang tính dung tục, kích động bạo lực. Học sinh, sinh viên thuộc sử Tàu hơn sử Việt, hâm mộ diễn viên, người mẫu hơn các vị anh hùng dân tộc. Tình trạng bạo lực học đường xảy ra liên miên, nam sinh cũng như nữ sinh, từ đánh nhau đến đánh ghen, lột đồ, v.v. Học trò thì đánh chửi thầy cô, mà thầy cô thì cũng không thua kém, thậm chí còn làm tiền, làm tình từ những học sinh, sinh viên. Sách vở giáo khoa, chương trình học tập thì cải cách, sửa đổi liên tục. Nền giáo dục quốc dân rơi vào khủng hoảng hệ thống, thiếu triết lý giáo dục căn bản, áp đặt định hướng chính trị, không phát huy được tư duy tự do, phản biện, sáng tạo nên luôn loay hoay ở nhóm chót, bảng xếp hạng khu vực ASEAN. Những ai còn quan tâm đến giáo dục, xin hãy tìm đọc các bản kiến nghị năm 2004, 2009 của GS Hoàng Tụy cùng những trí thức khác để hiểu rõ hơn về thực trạng giáo dục Việt Nam.

Hiện tại, nhắc đến Việt Nam người ta hay nhắc đến kỷ lục. Chúng ta có rất nhiều kỷ lục “Top nhất” trong khu vực và thế giới như tô hủ tiếu lớn nhất, cái bánh chưng – bánh dày – bánh xèo to nhất, cây cầu đẹp nhất, ngôi chùa lớn nhất, giá bất động sản cao nhất, giá thịt heo – thịt bò, giá sữa, giá thuốc Tây đắt nhất, lãi suất “khủng” nhất, tỷ lệ nạo phá thai cao nhất, tai nạn giao thông nhiều nhất, trộm cắp vặt nhiều nhất, tiêu thụ bia nhiều nhất, GS – TS nhiều nhất, tướng lĩnh nhiều nhất, năng suất lao động thấp nhất, v.v. Nhưng các chỉ số phát triển thuộc về thế giới văn minh thì luôn trong “Top bét” [các chỉ số về chính trị, kinh tế, giáo dục, môi trường, sự thịnh vượng, phát triển con người].

Có thể nói, nhiều không kể xiết mà tôi chỉ có thể lược ra đây một số. Thực trạng xã hội Việt Nam rất cần đến sự quan tâm, sẻ chia thông tin và trao đổi nhận thức của mọi người, cần sự thức tỉnh của lương tri để gánh vác, xây dựng môi trường dân sinh [16].

Trong khi đó, chúng ta:

Nam thanh, nữ tú hâm mộ K-pop thì khóc lóc, sung sướng vì thần tượng xứ Hàn mà không biết những anh hùng “vị quốc vong thân” trong Hoàng Sa 1974, Biên giới Việt Nam 1979, Gạc Ma 1988. Nhớ đến những lễ tiệc đình đám, sự kiện rình rang của “hot girl”, “hot boy” showbiz mà quên đi những công lao to lớn của các bậc tiền liệt Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Thanh niên, sinh viên không lô đề, cá độ, bài bạc thì cũng nhậu nhẹt bù khú, chơi game thâu đêm suốt sáng, ngày nào cũng như ngày nào. Tiền của bố mẹ thì tiêu xài hoang phí, đua đòi theo những mốt thời thượng, quỹ thời gian không lo học hành tích lũy kiến thức mà thả hồn vào những thứ vô bổ, tụ tập ngắm gió, thưởng mây. Trong lúc đó, người là cha mẹ, là cô dì, chú bác, anh chị ngày này qua ngày khác chỉ biết đến tiền, nghĩ đến tiền, hùng hục kiếm tiền và chỉ cần tiền. Người ta lấy chữ “tiền” làm mục tiêu đeo đuổi, dùng chữ “tiền” làm phương tiện tiến thân, người ta xem nó như là một đức tin, cả xã hội tha hóa vì nó. Kẻ chức trách, cán bộ, Đảng viên thì tìm cách chạy chọt, đút lót, xây dựng ban bệ – ô dù, lo đường thăng quan tiến chức, miệng lưỡi phân bua, chối bỏ trách nhiệm, ganh ghét – đố kỵ lẫn nhau, lừa trên dối dưới, quỵ lụy với kẻ trên mà quan quyền với người dưới. Thân là công bộc của dân, hưởng lương từ nhân dân mà không đoái hoài đến cuộc sống quốc dân, âu lo việc nước, ưu tư xã hội. Lúc nào cũng chăm chăm tìm cách kiếm chác, vun vén tư lợi, “đục nước béo cò” rồi về vườn vui thú điền viên; kẻ giàu sang hơn thì xuất dương ra ngoại quốc, nhởn nhơ vui sống. Người làm đầu tư, kinh doanh thì “lót tay”, phong bì tạo mối quan hệ kiếm ăn, trục lợi, chân trong – chân ngoài cấu kết nhau, tranh chia phần trăm, đục khoét của công. Túm năm tụm bảy lại, nào là rượu bia, gái đẹp, chứng khoán, xe hơi, địa ốc; ngoài ra, chẳng còn đề tài gì hữu ích hơn để bàn. Đám được gọi học vấn, tri thức “đầy mình” – kẻ háo danh thì bon chen chốn quan trường thị phi, hưởng lộc dân mà tưởng nhờ ơn đảng, lúc nào cũng khư khư bảo vệ “sổ lương hưu”. Đứa bồi bút thì “khua môi múa mép”, đem chữ nghĩa lòe bịp thiên hạ, ức hiếp người trung chính. Kẻ hiểu biết thì tặc lưỡi “ốc không mang nổi mình ốc lại còn làm cọc cho rêu”, mặc kệ mớ đời, thân ta – ta cứ sống, không khi nào dám trườn mình ra khỏi vỏ. Lên mạng xã hội thì khoe ngực – khoe mông, khoe mẽ sự giàu sang sung túc, thú vui – tiêu khiển mà chẳng mảy may bận tâm gì đến thực tình quốc gia, thân phận con người. Bao nhiêu năm học hành, đèn sách mà chỉ chầu chực lương tháng – thưởng năm, tối về khuây khỏa vợ con, lấy “du sơn ngoạn thủy” làm niềm vui lẽ sống.

Thử hỏi các người có hổ thẹn với các bậc tiền nhân của dân tộc hay không? Có thấy vô trách nhiệm với con cháu mình mai sau hay không? Các người có biết thẹn với chính lương tri của mình không?

Thưa các bạn!

Ông Napoléon người Pháp quốc đã từng nói: Thế giới chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của kẻ xấu mà là vì sự im lặng của những người tốt”.

Chúng ta, thấy việc chướng tai gai mắt, bất công – bất cập mà nhắm mắt làm ngơ, bàng quan vô tâm, tưởng giữ mình lấy phận thanh cao – là đang làm điều phi nghĩa. Chứng kiến những sai trái, xấu xa, phi pháp, phi nhân – yếu hèn không dám lên tiếng trung lương lại còn thu vén lợi riêng, hòa mình, tiếp tay là mang tội đồng lõa – đó là kẻ bất nghĩa.

Xã hội tha hóa không phải vì cái xấu, cái ác nhởn nhơ mà vì chính chúng ta – những con người nhu nhược không dám đấu tranh với chúng, không đủ khí dũng nói lên hai tiếng “công lý”.

Thưa tất cả các bạn!

Mặc định trong não trạng chúng ta là sự sợ hãi cường quyền, cố thủ trong căn tính chúng ta là chủ nghĩa vị kỷ, chúng ta vô tâm vì thiếu nhận thức tinh thần trách nhiệm.

Kính thưa các bạn!

Một dân tộc không thể tự cường khi người dân không có tinh thần tự cường. Một quốc gia không thể tự cường khi các công dân không có ý thức tự cường. Mỗi một công dân tự cường chính là nền tảng để xây dựng quốc gia tự cường, đó là tiền đề để kiến thiết quốc gia thịnh vượng.

Công dân tự cường – là người có tinh thần quốc dân, đó phải là sự kết hợp cân bằng – hài hòa giữa quyền lợi cá nhân, trách nhiệm xã hội và tự trọng dân tộc.

Cuộc sống cá nhân của con người luôn bao gồm hai nhu yếu căn bản là vật chất và tinh thần, vật chất thì hữu hình mà tinh thần thì vô hình. Vật chất – đó chính là cái “lợi” [nghĩa là cái ích lợi, cần thiết] mà bất cứ ai trong chúng ta cũng cần, cũng muốn có, muốn sở hữu nó để tồn tại. Đó là nhu yếu về tiền bạc, nhà cửa, lương thực – thực phẩm, áo quần, vật dụng cá nhân và gia đình. Có những cái vật chất là sở hữu riêng bạn [lợi riêng, lợi cá nhân], do công sức lao động của bạn tạo ra nhưng đồng thời – có những cái vật chất do thiên nhiên ban tặng, do sự chung góp lại một cách đồng thuận của tất cả mọi người để sử dụng cho mục đích chung, cho lợi ích toàn thể xã hội [lợi chung]. Đó chính là sông núi, đất đai, biển đảo, khí hậu và cũng có thể là cầu cống, đường xá, văn phòng, phương tiện đi lại trang thiết bị của nhóm hội, tổ chức, cơ quan nhà nước. Còn tinh thần là gì? Xin thưa, nó xuất phát từ chữ “quyền” của bạn. Chúng ta sinh ra, ai cũng có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [Tuyên ngôn Độc lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, 1776]. Tinh thần [tinh thần cá nhân] là nhu yếu thỏa mãn về cảm xúc cá nhân, an toàn cuộc sống, mong muốn tư hữu, được tôn trọng, được tự do thể hiện, tự do suy tưởng và mưu cầu hạnh phúc, lý tưởng cá nhân. Để đạt được tinh thần cá nhân chúng ta cần đến “quyền” [quyền cá nhân]. “Quyền” – là năng lực đòi hỏi, khát khao từ ý chí tự nhiên của con người. Đó là cái mặc nhiên ta có, không ai ban phát cho mà thành, không ai được phép tước đoạt nó trừ phi – bản thân mình tự hạn chế và chỉ mình – tự nguyện hạn chế nó để chung sống trong cộng đồng và xã hội. Và “quyền” là phổ quát, nghĩa là tất cả mọi người sinh ra đều có các quyền như nhau, đều cùng mong muốn, khát khao được tôn trọng, được tự do, được học tập, v.v. Không ai, không bất cứ một ai – được phép coi quyền cá nhân của mình tôn quý, giá trị hay uy quyền hơn của người khác [bình đẳng]. “Quyền” cũng chính là công cụ, là khí giới của mỗi người để tích lũy, duy trì và bảo vệ cái lợi cá nhân, cái “lợi” của cộng đồng và xã hội. Trên thực tế, hầu hết chúng ta chỉ lo nghĩ và vun vén lợi cá nhân chứ không phải quyền cá nhân. Thế nhưng, một khi miếng cơm manh áo [tức “lợi”] bị đụng chạm, xâm phạm trực tiếp – khi đó, người ta mới biết và sử dụng đến “quyền”. Trường hợp đình công ở công ty PouYuen, vụ anh Ngô Thanh Kiều và nước ngọt Tân Hiệp Phát là những ví dụ. “Lợi” có thể làm thõa mãn trước mắt nhưng “quyền” làm cho cuộc sống viên mãn lâu dài. Sở hữu “quyền”, bằng công sức lao động chính mình bạn sẽ thu được “lợi” một cách thỏa đáng. Ngược lại, không đủ “quyền” hoặc không có “quyền”, “lợi” – hoặc đã bị cắt xén mà chúng ta không hề hay biết hoặc chỉ còn là cái người ta ban phát cho mình. Như vậy, gốc rễ của quyền lợi cá nhân không phải nằm ở “lợi” mà nằm ở “quyền”, đấu tranh đạt được cái “quyền” là nền tảng để tích lũy cái “lợi”. Bởi vì, suy cho cùng, con người cần “lợi”, cần cái vật chất cũng chính để – đạt được tinh thần cá nhân. Trong xã hội, “quyền” và “lợi” cá nhân không thể tách bạch riêng rẽ mà phải phối hợp như một tổng thể điều hòa nhau để phát triển, cái này là bổ đề của cái kia và ngược lại. Quyền lợi cá nhân mỗi người nằm trong sự tương tác với toàn bộ xã hội.

Trước khi bàn về trách nhiệm xã hội và tự trọng dân tộc, tôi xin lưu ý ở đây,quyền lợi xã hội bao gồm “quyền xã hội”“lợi xã hội” [quyền lợi quốc gia quyền lợi dân tộc cũng theo nghĩa này]. Trong đó, “lợi xã hội” chính là lợi chung, đã được đề cập ở trên còn “quyền xã hội [tinh thần xã hội] – không gì khác, mà chính là quyền cá nhân [tinh thần cá nhân], trên cơ sở quyền cá nhân vì “quyền” là phổ quát. Xã hội là gì nếu không phải cấu thành từ những cá nhân? Quốc gia là gì nếu không phải hình thành từ những công dân? Không có dân tộc, quốc gia, xã hội nào mà không được hình thành từ những con người, những gia đình và những cộng đồng người. Không thể tồn tại bất kỳ kiểu “quyền lợi xã hội”, “quyền lợi quốc gia” nào mà đứng ngoài quyền lợi cá nhân vì mỗi một cá nhân đều là chủ thể của xã hội. Và với bất kỳ kiểu quyền lợi nào như vậy mà tồn tại trong thế giới này, điều đó, hẳn nhiên – là đi ngược quy luật tự nhiên của xã hội, nghĩa là không lấy con người làm trung tâm của xã hội. Xác tín vậy mới thấy rằng, quyền lợi xã hội, quyền lợi quốc gia phải xuất phát từ quyền lợi cá nhân, trong đó – lấy tinh thần cá nhân làm nền tảng kiến thiết xã hội, vì “quyền” là gốc rễ. Và như vậy, quyền xã hội phải là tổng hòa quyền cá nhân. Tổng hòa không phải là phép cộng số học thuần túy mà là sự hòa hợp các “quyền” có ý thức [một cách duy lý].

Thứ hai, trách nhiệm xã hội là gì? Đó là tinh thần cá nhân có ý thức [tinh thần trách nhiệm] về sự ràng buộc ý chí, tương hỗ lẫn nhau giữa các cá thể trong xã hội [17]. Nghĩa là “quyền” phải thực thi trách nhiệm của một hay nhiều cá nhân nhằm duy trì, bảo vệ “quyền” và “lợi” xã hội mà thực ra là quyền lợi của mỗi người. Bởi vì, “quyền” và “lợi” mỗi cá nhân luôn quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến “quyền” và “lợi” của các cá nhân khác [quyền phổ quát, lợi chung]. Nếu cái lợi chung, được sở hữu và sử dụng bởi mọi người, bị chiếm dụng, định đoạt [hợp pháp hay bất hợp pháp] mà hầu hết không ai dám lên tiếng [vô trách nhiệm], thì lợi chung đó – dần dần sẽ trở thành sở hữu của các nhóm quyền lực hơn hoặc lợi chung sẽ bị hao mòn, tàn phá. Đó là trường hợp 6700 cây xanh, lấp sông Đồng Nai hay Bà Nà Hills, Bôxit Tây Nguyên… Vì tính chất lan truyền của xã hội [tâm lý đám đông, hiệu ứng dây chuyền], ban đầu, có thể một thiểu số vô trách nhiệm [vì sợ hãi, yếm thế, tự ti], lâu ngày sẽ dần chiếm đa số. Nghĩa là, tinh thần trách nhiệm của mọi người trong xã hội đã bị xói mòn theo cả diện rộng và chiều sâu [vô trách nhiệm, sợ hãi trong chính nội quan mỗi người]. Khi đó, mất cái lợi chung này, ắt hẳn – nhiều cái lợi chung khác trước sau cũng sẽ bị chiếm dụng. Thay vì lợi chung được bảo tồn một cách hợp lý trong tinh thần trách nhiệm, lúc này, bạn và mọi người phải “cày bừa” cật lực để có tiền tu bổ hay mua lại quyền sử dụng nó [chủ sở hữu lúc này là nhóm thiểu số quyền lực nào đó]. Trong tình trạng xấu nhất, lợi chung đó mất đi hoặc bị chuyển đổi sang hình thức khác, con cháu bạn thậm chí chính bạn, các thế hệ nối tiếp nhau trả giá bằng chính sức lao động của mình nhằm tái tạo lợi chung vì “lợi” – luôn luôn là nhu yếu của chúng ta. Trường hợp “quyền” của một người bị xâm phạm [hợp pháp hay bất hợp pháp] mà đa số vô trách nhiệm, chắc chắn sẽ đến lượt người khác, quyền cá nhân cũng bị xâm phạm, bởi vì “quyền” là phổ quát. Một khi “quyền”của đa số hay tất cả mọi người trong xã hội đã bị cắt xén, xâm phạm thì lợi riêng, lợi chung cũng sẽ bị chiếm dụng, định đoạt bởi vì “quyền” là gốc rễ. Lúc đó, xã hội rơi vào trạng thái mất cân bằng về “quyền” và “lợi”, một hay một vài nhóm thiểu số sẽ nắm quyền lợi lớn hơn nhiều so với toàn thể xã hội [lũng đoạn về “quyền” và “lợi”]. Giữa các lớp đối tượng khác nhau trong xã hội cũng bị chênh lệch rất lớn về “quyền” và “lợi”. Đây chính là cội nguồn của bất bình đẳng xã hội, dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng kinh tế, bất bình đẳng giáo dục, mất cân bằng về nhận thức giữa các lớp dân cư, suy đồi về văn hóa – đạo đức. Một trạng thái mất cân bằng, bất bình đẳng đủ lớn sẽ đẩy xã hội vào tình trạng suy thoái toàn cục và vấn đề lệ thuộc ngoại bang về chính trị – kinh tế là điều khả dĩ [hình thái nô lệ hóa quốc gia kiểu mới]. Đó là sự sụp đổ của xã hội.

Sau cùng, tự trọng dân tộc là tinh thần cá nhân có ý thức [tinh thần tự trọng dân tộc] về sự ràng buộc ý chí, về cội nguồn xuất xứ trong tâm thức của mỗi người dân của cùng một dân tộc, mỗi công dân trong cùng một quốc gia [18]. Tinh thần cá nhân có ý thức ở đây chính là cảm thức về mối liên hệ trong tâm thức giữa những con người có cùng cội nguồn văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, lãnh thổ và do đó mà họ có tinh thần cá nhân tương tự nhau một cách tương đối. Tinh thần tự trọng dân tộc không phải là tự tôn dân tộc thuần túy mà cũng không phải một hình thức của chủ nghĩa dân tộc. Tự trọng dân tộc là cảm giác đau lòng, xót xa khi Tổ quốc bị xâm lăng, khi quốc gia nghèo đói – lạc hậu, khi đồng bào gặp bất hạnh. Đó là niềm tự hào, kiêu hãnh khi xã hội phồn vinh, khi cá nhân thành đạt. Là hân hoan, vui sướng khi mọi người dân cùng chung sống trong tinh thần tương thân, tương ái, tương trợ lẫn nhau. Tự trọng dân tộc còn là tinh thần cầu thị, ham học hỏi, yêu lao động, tiếp thu tri thức, tinh hoa văn hóa thế giới để phụng sự cho Tổ quốc. Ở xã hội ta bây giờ, tự trọng bản thân và tự ái cá nhân [đều là các dạng thức của tinh thần cá nhân] thì đếm không hết, còn tự trọng dân tộc là một điều xa xỉ.

Bàn về tinh thần tự trọng dân tộc, tôi phân biệt hai cấp độ hành vi [hành vi tinh thần], tiêu cực và tích cực. Hành vi tiêu cực [trách nhiệm nhỏ] là những phản ứng mang tính chất thõa mãn cảm xúc bản thân nhất thời [cãi lý, biện hộ, đánh nhau] khi đối tượng ngoại bang [cá nhân, tổ chức, quốc gia] xúc phạm, xâm phạm [bằng lời nói, hành động, truyền thông] đến quốc dân, lãnh thổ, văn hóa, lịch sử và truyền thống dân tộc. Hành vi tích cực [trách nhiệm lớn] là đóng góp công sức lao động bằng chính năng lực của mình thông qua quyền lợi cá nhân, phát triển môi trường dân sinh vững bền. Tất nhiên, không thể phủ nhận ở một phương diện nào đó, hành vi tiêu cực cũng tác động dẫn đến hành vi tích cực cho chính mình hay người khác [phạm vi bài viết chỉ đề cập đến hành vi tích cực].

Trong trường hợp, đất nước nghèo đói về kinh tế, lạc hậu về giáo dục, dân trí thấp, bất công – bất cập hiện tồn, mọi sự bàng quan, vô tâm [thiếu ý thức tinh thần tự trọng dân tộc] đều là nguy cơ dẫn đến bất bình đẳng xã hội, băng hoại về đạo đức – văn hóa, tất yếu dẫn đến sụp đổ xã hội [đã phân tích trong tinh thần trách nhiệm xã hội]. Còn khi ngoại bang xâm lấn, đã bị hoặc có xu hướng bị nô lệ hóa về kinh tế – chính trị hay nô dịch về văn hóa, khi đó, toàn thể quốc dân sẽ bị bóc lột sức lao động [lợi cá nhân], áp đặt về tư tưởng và thống trị về ý chí [quyền quốc gia]. Nếu không thức tỉnh kịp thời, cởi trói tư tưởng, khôi phục và phát huy văn hóa [quyền quốc gia] thì quốc gia tiêu vong là nhãn tiền. Khi này, mọi hành vi đều phải hướng đến tinh thần cá nhân [quyền cá nhân], vì quyền quốc gia là xuất phát từ quyền cá nhân. Khi đó, tinh thần tự trọng dân tộc chính là động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm xã hội, là “quyền” thực thi hành động nhằm duy trì và bảo vệ quyền lợi quốc gia mà chính là bảo vệ quyền lợi cá nhân mỗi người.

Như vậy, thông qua tinh thần quốc dân, tôi muốn gửi đến các bạn bốn điều. Đừng nghĩ gom góp cái “lợi” cá nhân thật nhiều thì cuộc sống của bạn, con cháu bạn sẽ sung sướng, hạnh phúc. Bởi như phân tích ở trên, “lợi” là xuất phát từ “quyền”, “quyền” là gốc rễ – đó là điều thứ nhất. Khước từ quyền là điều trái lẽ tự nhiên, là chấp nhận thân phận nô lệ suốt đời. Thứ hai, vì “quyền” và “lợi” cá nhân mỗi người luôn tác động điều hòa nhau và nằm trong sự tương hỗ với “quyền” và “lợi” của các cá nhân khác, do đó, góp phần xây dựng môi trường dân sinh bằng cách thực thi tinh thần trách nhiệm xã hội, tinh thần tự trọng dân tộc là tích lũy và duy trì quyền lợi cá nhân vững bền nhất. Toàn bộ các hệ thống của môi trường dân sinh, “quyền” của bạn và mọi người đều là công cụ và phương tiện hữu ích cho cuộc sống cá nhân. Vì thế, công sức lao động [lợi cá nhân] của mọi người gặt hái được sẽ là công bằng và thỏa đáng [giá trị bền vững]. Di sản để lại cho con cháu không chỉ là quyền lợi cá nhân trực tiếp từ bạn mà còn thông qua mọi kênh khác của xã hội. Thứ ba, chắc chắn thế hệ con cháu sẽ có những suy nghĩ tiến bộ hơn bạn. Bộ não con người có hơn 100 tỉ nơron thần kinh và một khi mà tiến trình xã hội hóa thông tin ngày càng trở nên mạnh mẽ – rộng khắp, cùng lúc đó là sự tiến triển trong nhận thức con người thì sự khát khao tinh thần cá nhân sẽ càng trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết. Các thế hệ mai sau thừa nhận thức để hiểu cái – thuộc về phần người [tinh thần cá nhân] là cần thiết như thế nào, khi đó, tài sản để lại – phỏng đâu có nhiều ý nghĩa. Thứ tư, không nên nghĩ “lực bất tòng tâm” hay “thân phận con người nhỏ bé” mà hãy xác tín rằng, tiến trình xã hội muốn liên tục vững bền cần phải có – tính kế thừa. Ở đó, những đóng góp nhỏ bé một cách chính đáng của mỗi cá nhân thông qua môi trường dân sinh sẽ là di sản quý báu cho mọi thế hệ con người. Hãy nhớ, lệ thuộc vật chất là mất tự do một phần, lệ thuộc tinh thần là mất tất cả.

Tóm lại, sự phối hợp cân bằng – hài hòa giữa quyền lợi cá nhân, trách nhiệm xã hội tự trọng dân tộc đó là tinh thần quốc dân. Tinh thần quốc dân của mỗi công dân tự cường chính là năng lượng cá nhân kết nối và hình thành năng lượng xã hội, năng lượng quốc gia – làm động lực chính yếu cho công cuộc cách tân và phát triển đất nước. Khiếm khuyết một trong ba yếu tố, tiến trình xã hội sẽ mất cân bằng. Trong tinh thần quốc dân, trách nhiệm xã hội và tự trọng dân tộc đều tương hỗ với quyền lợi cá nhân, trên nền tảng quyền lợi cá nhân. Trong quyền lợi cá nhân thì quyền – tinh thần cá nhân là gốc rễ.

Vậy, khởi thủy là quyền!

Kính thưa các bạn!

Dân số Việt Nam chúng ta hiện nay có hơn 90 triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới. Trong đó, nông dân chiếm khoảng 73%, công nhân khoảng 11%, gần 55 triệu người trong độ tuổi lao động (15 – 60 tuổi) và hơn 5 triệu lao động có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học trở lên [Báo cáo Lao động và Việc làm quý IV – 2014, Tổng Cục Thống kê].

Nghĩa là, một người có học vấn với ý thức tinh thần quốc dân cần phải chia sẽ thông tin, trao đổi nhận thức xã hội cùng 17 người khác. Nếu chỉ tính trong độ tuổi lao động, con số đó chỉ còn 10. Điều này là hoàn toàn có thể phải không các bạn?

Thực tâm, tôi vẫn nghĩ, còn đâu đó trong tiềm thức của dân ta vẫn là lòng trắc ẩn, vẫn là sự đồng cảm về thân phận con người. Trong tâm thức của mỗi quốc dân vẫn chảy dòng máu Việt, vẫn một tình yêu con cháu Lạc Hồng, vẫn một khát khao được đóng góp cho quê hương, xứ sở dẫu rằng – tinh thần đó đã nguội lạnh, đã lạc vào thế giới u minh bao năm rồi.

Mục sư Martin Luther King Jr., con người vĩ đại của nước Mỹ và nhân loại, người đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền, trong một bài giảng về Tinh thần dũng cảm tại Selma, Alabama – ngày 8/3/1965, có nói “Cuộc đời của chúng ta bắt đầu kết thúc khi chúng ta im lặng về những điều lẽ ra phải lên tiếng” [19].

Hãy xác quyết rằng, cuộc đời của bạn, của tôi, của tất cả chúng ta – Chưa từng khi nào kết thúc!

Vì quyền lợi của bạn, vì quyền lợi của tôi, vì quyền lợi của tất cả chúng ta – Mỗi người dân hãy tự cường cho đất nước tự cường!

Chia sẻ thông tin, trao đổi nhận thức, thức tỉnh lương tri, vượt thắng sợ hãi – Chung tay, góp sức, gánh vác việc hôm nay để Tổ quốc tự cường ngày mai.

Đà Nẵng, ngày 5/4/2015

L.D.C.

Tác giả gửi BVN

Chú dẫn:

[1].http://video.vnexpress.net/xa-hoi/hang-tram-nguoi-ca-hat-ve-tranh-keu-goi-bao-ve-cay-xanh-o-ha-noi-3160792.html

[2].http://infonet.vn/thanh-tra-chinh-phu-dong-y-de-ha-tinh-cho-nuoc-ngoai-thue-dat-70-nam-post160815.info

[3].http://www.thesaigontimes.vn/128044/Sun-Group-Moi-nguoi-dan-deu-co-quyen-len-nui-Ba-Na.html

[4].http://tamnhin.net/bo-xit-tay-nguyen-du-kien-lo-hang-nghin-ty-dong.html

http://petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/dien-dan-kinh-te/bo-cong-thuong-cac-khoan-lo-o-du- an-boxit-tay-nguyen-mang-tinh-chat-ke-hoach.html

[5].http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/ho-so-vu-an/them-nguoi-tieu-dung-phai-ngoi-tu-vi-doi-tien-tan-hiep-phat-a83780.html

[6].http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/229033/lap-song-dong-nai–vi-sao-chuyen-thanh–nhay-cam–.html

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/du-an-lap-song-dong-nai-lac-lu-tu-goc-20150329215338594.htm

[7].http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/truy-5-dai-an-nghi-oan-sai-2015031323155015.htm

http://nld.com.vn/cong-an-dung-nhuc-hinh.html

[8].http://www.vietnamplus.vn/nam-2014-gan-9000-nguoi-tu-vong-vi-tai-nan-giao-thong/298693.vnp

[9].http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/malaysia-giai-cuu-136-phu-nu-viet-trong-hop-dem-3129309.html

[10]. Tương lai nợ công Việt Nam: Xu hướng và thử thách, Đỗ Thiên Tuấn Anh, FETP 04/2013

[11].http://www.doisongphapluat.com/kinh-doanh/thi-truong/no-cong-tang-nhanh-ca-ve-quy-mo-va-toc-do-a62783.html

[12].http://vneconomy.vn/tai-chinh/chenh-venh-nhu-no-cong-viet-nam-20140727083659394.htm

[13].http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/164238/24-000-tien-si-viet-nam-dang-lam-gi-.html

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/220705/viet-nam-co-lam-phat-giao-su–pho-giao-su-.html

[14].http://www.hdcdgsnn.gov.vn/news/detail/tabid/77/newsid/331/seo/So-sanh-so-luong-bai-bao-dang-tren-tap-chi-khoa-hoc-quoc-te-cua-Viet-Nam-va-cac-nuoc-trong-khu-vuc-trong-5-nam-gan-day-2008-2012-/language/vi-VN/Default.aspx

[15].http://www.thanhnien.com.vn/giao-duc/vat-vo-nghien-cuu-khoa-hoc-ky-2-nhieu-tien-si-it-phat-minh-47145.html

[16]. “Môi trường dân sinh” là tổng thể các hệ thống, các lĩnh vực trong xã hội mà tác động đến cuộc sống của người dân: chính trị, văn hóa, kinh tế, pháp luật, giáo dục, y tế, môi trường…

[17]. “Tinh thần trách nhiệm xã hội” khác với “tinh thần trách nhiệm cá nhân” mà ta hay gọi là tính ích kỷ, tức là chỉ có trách nhiệm với những gì liên quan đến cuộc sống cá nhân của chính mình, mặc dù tinh thần trách nhiệm cá nhân cũng là một dạng thức của tinh thần cá nhân.

[18]. “Tinh thần tự trọng dân tộc” khác với lòng tự trọng mà ta hay nói đến, mặc dù lòng tự trọng cũng là một dạng thức của tinh thần cá nhân, tôi gọi đó là “tinh thần tự trọng cá nhân”.

[19]. Nguyên văn trích dẫn “A man dies when he refuses to stand up for that which is right. A man dies when he refuses to stand up for justice. A man dies when he refuses to take a stand for that which is true” được súc tích lại “Our lives begin to end the day we become silent about things that matter.”

http://www.etsu.edu/cas/history/documents/mlkselma.htm

(*) Tiêu đề BVN đặt thêm trích từ bài viết

Tôi, với những ngày đầu đến Mỹ

Tôi, với những ngày đầu đến Mỹ

Nguoi-viet.com

Horizon Ho
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Hai mươi tám tuổi, tôi đến Mỹ với một niềm háo hức, hân hoan về một xứ sở văn minh và giàu có.

Tôi được trải nghiệm sự văn minh của đất nước này ngay khi mới đặt chân xuống phi trường San Fransisco hào nhoáng để làm thủ tục nhập cảnh. Tại đây, tôi được nhân viên Hải Quan Mỹ chào đón với nụ một cười rạng rỡ và một thái độ lịch thiệp – thứ mà tôi ít khi bắt gặp ở cán bộ nhà nước trước đây của mình. Tiếp đến là sự giàu có của nước Mỹ hiện ra trước mắt tôi với hệ thống freeway “trùng trùng điệp điệp” và muôn vàn ánh đèn màu hào nhoáng, lấp lánh về đêm của cây cầu Golden Gate huyền thoại. Và tôi cứ như thế mà kỳ vọng về một cuộc đời sung túc trên mảnh đất này.

Ngoài kia, bên bờ biển của miền Nam California, bầu trời xanh, gió thật nhẹ, và ánh nắng chan hòa. (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt)

Một tháng sau khi đến Mỹ, tôi bắt đầu công việc mà phần lớn người Việt sống trên đất Mỹ đã, đang và sẽ làm: nail!

Tôi, một người phụ nữ 100 pounds, lần đầu tiên trong đời ôm cái chân của một người Mỹ nặng gần 200 pounds để hì hụi làm hết tất thảy các công đoạn cần thiết của công việc pedicure.

Tôi đã cố hết sức để bưng, bê, và bóp cho cái bàn chân to gấp nhiều lần với đôi tay nhỏ bé của mình. Nước mắt chảy ngược vào tim và thân xác rã rời hết ngày này sang ngày khác vì công việc khá nặng nề đối với tôi – người đã quen làm việc văn phòng.

Sáu tháng sau kể từ ngày đến Mỹ, tôi bị người thân đuổi ra khỏi nhà lúc nửa đêm vì những chuyện hiểu lầm không đáng có. Không xe, không nhà, không bạn bè, tôi co ro trên vỉa hè giữa đêm Ðông lạnh giá của miền Bắc Cali. Ngồi một mình cùng chiếc vali đồ ít ỏi, dán mắt vào màn đêm đen thẫm, tôi tự hỏi rằng: thiên đường của nước Mỹ là đây? Cuộc sống sung túc và đầy đủ mà tôi hằng ao ước là đây? Tại sao không ai nói cho tôi biết thực trạng mà tôi sẽ trải qua khi đến Mỹ? Ðể tôi vội vàng từ bỏ tất cả cuộc sống trước đây của mình: công việc, tình yêu, và bạn bè chỉ để kiếm tìm những giá trị ảo tưởng? Ðêm vẫn cứ rất sâu, mùa Ðông Sacramento vẫn lạnh buốt, và tôi vẫn ở đó chờ đợi một thứ “ánh sáng cuối đường hầm.”

Một năm trôi qua, tôi chuyển về miền Nam Cali và quay trở lại trường học với mong muốn tìm thấy một cái gì đó khác hơn, sáng sủa hơn cho cuộc sống ảm đạm ở Mỹ. Tôi nhận ra mình không thể ngụp lặn mãi trong nghề nail vì nghề đã không chọn tôi, tôi đã không tìm thấy niềm vui trong công việc cho dù đã cố gắng thân thiện và hòa nhập.

Tôi đi học với tâm lý nặng nề của một người Việt Nam chính gốc. Bởi ở Việt Nam có sinh viên nào ở cái tuổi 29? Ðó là cái tuổi đã phải lấy chồng, sinh con, và chăm sóc gia đình. Thêm vào đó lại phải học chung với một đám tuổi teen nhí nhố, chuyện trò rôm rả bằng thứ tiếng Mỹ rất đỗi xa lạ với tôi. Và mỗi giờ trôi qua trên ghế giảng đường là mỗi giờ tôi căng mắt, giỏng tai để cố gắng nghe và hiểu thầy giáo đang nói gì. Một lần nữa, tôi thấy mình cô độc và lạc lõng trên mảnh đất này. Nước Mỹ vẫn cứ là thứ ánh sáng mờ ảo trong tôi.

Hai năm trôi qua, tôi bắt đầu mạnh dạn hơn với vốn tiếng Mỹ ít ỏi của mình. Ở trường, tôi tự tin hỏi lại thấy giáo những gì mình không hiểu, ở tiệm nail tôi mạnh dạn hỏi khách hài lòng hay chưa thay vì chỉ “yes, yes, no, no” như trước đây. Rồi ba năm, rồi bốn năm trôi qua, tôi vẫn đang đến trường đầu tuần và đến tiệm nail cuối tuần. Tôi vẫn tiếp tục gồng hết sức mình để chiến đấu với bài vở, thi cử ở trường và cúi mình chịu đựng những lời tệ bạc, nhục mạ của chủ và thợ nails nơi tôi đang làm. Nhưng hơn hết, tôi nhận ra rằng, những khó khăn, rào cản ấy chỉ là tạm thời, là thử thách trên bước đường thành công của tôi mà thôi bởi “những thứ không giết ta được thì sẽ khiến ta mạnh mẽ hơn.”

Tôi không biết rồi mình sẽ làm được gì, sẽ sung sướng ra sao ở nơi này. Nhưng giờ đây, mỗi ngày tôi thấy mình hạnh phúc vì có cơ hội học hỏi và tiếp xúc với nền giáo dục hiện đại của Mỹ, mỗi giây phút trôi qua trong cuộc đời, tôi khám phá ra những nét độc đáo và nhân văn trong văn hóa Mỹ, và ngay khoảnh khắc này tôi lạc quan về một cuộc sống tươi đẹp và bình yên trên đất Mỹ.

Ngoài kia, bên bờ biển của miền Nam California, bầu trời xanh, gió thật nhẹ, và ánh nắng chan hòa.

150 năm kết thúc Nội Chiến Nam – Bắc Mỹ

150 năm kết thúc Nội Chiến Nam – Bắc Mỹ

Nguoi-viet.com

APPOMATTOX, Virginia (AP)Cách nay đúng 150 năm, Nội Chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ được coi là kết thúc sau “Battle of Appomattox Court House”, trận đánh tại làng Appotamox, Virginia.

Các lá cờ cắm trên mộ của Bắc quân và Nam quân tại công viên  Appomattox Court House National Historical Park ở Virginia trong dịp kỷ niệm 150 năm chấm dứt cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ. Thời gian ấy cờ Union mới chỉ có 34 sao, không hoàn toàn như lá cờ 50 sao trong hình. (hình: Win McNamee/Getty Images)

Tướng Robert E. Lee, tư lệnh binh đoàn Bắc Virginia của miền Nam, đầu hàng quân Liên Hiệp miền Bắc của tướng Ulysses S. Grant.với lực lượng đông gấp bội, sau một cuộc giao tranh ngắn ngủi trong ngày 9 tháng 4 năm 1865.

Trong dịp lễ kỷ niệm biến cố lịch sử này, bắt đầu từ hôm Thứ Tư 8 tháng 4, 2015 và kéo dài ba ngày, nhân vật lịch sử được nhắc tới không chỉ có hai vị tướng mà còn có một phụ nữ trước kia trong một thế kỷ rưỡi vẫn được coi là người  nô lệ cuối cùng chết trong Nội Chiến.

Bà Hannah Reynolds, 60 tuổi, là thường dân duy nhất thiệt mạng trong trận Appotamox khi một đạn trái phá rơi chúng căn lều của người nô lệ này. Nhưng những nghiên cứu gần đây xác định rằng bà Reymolds không chết ngay lúc đó mà chỉ qua đời vì thương tích ba ngày sau, ngày 12 tháng 4, khi ấy tất cả nô kệ đã được giải phóng. Và bà đã trở thành một người tự do.

Trong buổi lễ đêm Thứ Sáu sắp tới, sẽ có bài điếu văn đọc trước một quan tài gỗ đựng di hài của bà Reynolds, đội thánh ca 100 thành viên hát lễ và 4,600 cây nến tưởng niệm được thắp, tượng trưng cho 4,600 nô lệ ở Appotamox County được giải phóng. Với việc tướng Lee đầu hàng tướng Grant, các tiểu bang liên hiệp (Union) miền Bắc thắng các tiểu bang liên minh (Confederate) miền Nam, và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn chế độ nô lệ. (HC)

Việt Nam và trò chơi địa chính trị

Việt Nam và trò chơi địa chính trị

Nguyễn Hùng BBC Tiếng Việt

Ông Trọng tiếp thủ tướng Nga ngay trước khi thăm Trung Quốc và có thể sẽ thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm

Cụ Nguyễn Khuyến, người sống hầu hết cuộc đời trong thế kỷ 19, nổi tiếng với bài thơ trào phúng ‘ Hội Tây‘ trong đó có câu ‘Tham tiền cột mỡ lắm anh leo’.

Sang thế kỷ 21 với thái độ nghiêm túc hơn, Truyền hình Việt Nam vừa quyết định mở lại chương trình ‘ Hội nhập‘ sau nhiều năm gián đoạn vì theo họ “năm 2015 sẽ là năm của hội nhập vì trong năm nay Việt Nam dự định sẽ ký kết hiệp định thương mại tự do với EU, với Hàn Quốc, với liên minh hải quan Nga, Kazakhstan, Belarus và đặc biệt là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP.”

Ở tuổi 85, Đảng Cộng sản với người đứng đầu chuẩn bị bước sang tuổi 71 cũng đang đứng trước nhiều cột mỡ trong các mối quan hệ ngoại giao phức tạp và tiềm ẩn những rủi ro.

‘Trò chơi địa chính trị’

Điểm qua các hoạt động ngoại giao của Việt Nam riêng trong tháng Tư người ta có thể thấy Hà Nội dường như đang có vị thế ngày càng tăng trong con mắt các cường quốc đang ve vãn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc hôm 7/4 giữa lúc hai tàu chiến Mỹ do một Đại tá người Mỹ gốc Việt chỉ huy đang ở Đà Nẵng còn Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev tới Hà Nội cũng trong đúng ngày chiến hạm Hoa Kỳ cập cảng Tiên Sa hôm 6/4.

Cùng ngày 6/4, báo chí Việt Nam và quốc tế đưa tin lãnh đạo cơ quan an ninh quốc gia Ấn Độ, một đồng minh của Hoa Kỳ, nói Delhi sẵn sàng đào tạo các sỹ quan tình báo, hải quân và không quân cho Việt Nam khi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm 3/4.

Trong bối cảnh quan hệ Nga – Mỹ căng thẳng và Washington đang xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có lợi thế với tư cách là một quốc gia nằm ở vị trí quan trọng và có ảnh hưởng trong khu vực.

Ngay trong ngày đầu tháng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã điện đàm với Thủ tướng Tony Abbott, một đồng minh khác của Mỹ mà ông Dũng vừa tới thăm trong tháng Ba.

Trước đó một ngày Chủ tịch Trương Tấn Sang tiếp lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi sang thăm Việt Nam trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên minh Nghị viên thế giới mà Việt Nam có vẻ tổ chức đầy tốn kém với xe đưa rước và tiệc tùng khoản đãi hiếm thấy.

Ông Trương Tấn Sang cũng còn có chuyến thăm đã lên lịch tới Nga trong tháng Năm, tháng mà lãnh đạo Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng dự kiến sẽ tới Hoa Kỳ.

Trong bối cảnh quan hệ Nga – Mỹ căng thẳng và Washington đang xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có lợi thế với tư cách là một quốc gia nằm ở vị trí quan trọng và có ảnh hưởng trong khu vực.

Nhưng một nhà quan sát người Nga, Giáo sư Vladimir Kolotov, cũng vừa cảnh báo hôm 6/4 rằng Hà Nội chỉ là “con tốt” trong “trò chơi địa chính trị” giữa Mỹ và Trung Quốc, hai cựu thù của Việt Nam.

Và Nga cũng không chỉ đứng nhìn trò chơi này của hai nước đứng hàng thứ nhất và thứ ba về xuất khẩu vũ khí, lĩnh vực Nga cũng đứng hàng thứ nhì.

Hà Nội đã nhận ba trong số sáu tàu ngầm kilo trong hợp đồng vũ khí trị giá khoảng hai tỷ đô la mà ông Nguyễn Tấn Dũng ký khi thăm Nga hồi năm 2009.

Cũng phải nói thêm Việt Nam còn mua hai chiếm hạm lớp Sigma từ Hà Lan với giá được cho là chừng 600 triệu đô la sau khi vẫn thủ tướng Việt Nam đặt vấn đề về chuyện này từ năm 2010.

Quan hệ tay tư

Điều có thể dễ dàng thấy từ chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng tới Bắc Kinh là sự hiện diện đông đảo các nhân vật cao cấp của Việt Nam trong đoàn tháp tùng.

Kể cả ông Trọng, đoàn có năm ủy viên Bộ Chính trị trong đó bốn người gần như chắc chắn sẽ có mặt trong dàn lãnh đạo hậu Đại hội Đảng trong năm sau.

Người Mỹ hẳn sẽ nhìn vào phái đoàn thăm Trung Quốc để xem có bao nhiêu người sẽ cùng ông Trọng tới Hoa Kỳ trong chuyến đi có thể diễn ra trong thời gian tới.

Ông Trọng sang Trung Quốc với phái đoàn hùng hậu

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng thăm Hoa Kỳ và nhiều nước đồng minh nhưng chưa thăm chính thức Trung Quốc

Một điều khác cũng đáng chú ý trong bối cảnh chuyến thăm Trung Quốc của ông Trọng là đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người được cho là muốn ngồi vào ghế tổng bí thư trong năm sau, chưa từng thăm chính thức Trung Quốc dù đã thăm cả Hoa Kỳ và Nga trong hai nhiệm kỳ thủ tướng.

Mối quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh, Moscow và Washington luôn tiềm ẩn những thách thức ở các góc độ khác nhau.

Căng thẳng trên Biển Đông nơi hiện Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một góc của đảo Trường Sa sẽ luôn là cái gai trong quan hệ Việt – Trung.

Những văn bản được hai bên ký kết trong chuyến đi của ông Trọng tới Trung Quốc không có văn bản nào nói cụ thể về giải pháp tháo gỡ căng thẳng trên biển và lòng tin giữa hai bên vào những gì ký kết cũng không phải khi nào cũng cao.

Những văn bản được hai bên ký kết công khai trong chuyến đi của ông Trọng tới Trung Quốc không có văn bản nào nói cụ thể về giải pháp tháo gỡ căng thẳng trên biển và lòng tin giữa hai bên vào những gì ký kết cũng không phải khi nào cũng cao.

Ngay khi ông Trọng còn ở Trung Quốc, tờ New York Times nói Bắc Kinh vẫn tiếp tục mở rộng sự hiện diện của họ trên đảo Trường Sa sau khi chiếm một đảo từ tay Việt Nam hồi năm 1988.

Hoa Kỳ ở các mức độ khác nhau thường đặt ra vấn đề nhân quyền thậm chí với danh sách cụ thể các ‘tù nhân lương tâm’ mà họ muốn chính quyền trả tự do.

Trong năm 2014 hai nhân vật có trong danh sách, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ và blogger Điếu Cày, tức Nguyễn Văn Hải, đã được trả tự do nhưng mới đây một dân biểu Mỹ đã lại trao một danh sách khác cho Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Các lãnh đạo Việt Nam có vẻ vồn vã với Nga hơn cả do họ không bị ép về dân chủ, nhân quyền và cũng không có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải.

Nhưng Nga cũng là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Trung Quốc, nước trong thập niên 80 còn được chính quyền Hà Nội công khai coi là kẻ thù nguy hiểm nhất của Việt Nam.

Và quan hệ chặt chẽ chưa từng có trong lịch sử giữa Nga, nước đang bị phương Tây cấm vận, và Trung Quốc sẽ khiến Moscow khó có phản ứng mạnh mỗi khi Hà Nội và Bắc Kinh xung khắc.

Việt Nam đã ý thức được điều này và tăng cường quan hệ với nhiều đồng minh thân cận của Hoa Kỳ trong đó có Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Anh.

‘Ăn xin đến bao giờ’

Nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là nội lực của chính Việt Nam trong các mối quan hệ với bên ngoài.

Mới đây một quan chức Nhật Bản đã đặt câu hỏi đến bao giờ Việt Nam sẽ không cần đến viện trợ phát triển ODA của họ nữa sau khi đã nhận chừng 20 tỷ đô la trong 20 năm qua theo blogger Nguyễn Văn Tuấn.

Blogger này còn dẫn lời ông Lê Đăng Doanh thuật lại lời của một nhà tài trợ giấu tên hỏi rằng Việt Nam “định ngửa tay ăn xin đến bao giờ” trong khi tự hào là “người thông minh, có học”, có “truyền thống” cũng như “trí tuệ”.

Tháng Tư này cũng đánh dấu 40 năm kết thúc Cuộc chiến Việt Nam vốn đã khiến cả triệu người bỏ nước ra đi sau đó.

Tháng Tư này đánh dấu 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam

Nhưng chính những người mà đối với họ tháng này là “tháng Tư đen” và ngày 30/4 là “ngày quốc hận” cũng đóng góp vào số 80 tỷ đô la kiều hối mà Việt Nam nhận được chỉ trong 12 năm từ 1991-2013 theo các chuyên gia trong nước.

Những Việt kiều mà đa số sống ở Hoa Kỳ và nhiều con em của họ phục vụ trong quân đội nước này sẽ tiếp tục có ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam trong tương lai.

Người chỉ huy hai chiến hạm tối tân của Hoa Kỳ đang cập cảng Đà Nẵng là Đại tá người Mỹ gốc Việt Lê Bá Hùng.

Và điều có thể khẳng định là Việt Nam sẽ chỉ thực sự được nể trọng trong con mắt các cường quốc khi người dân Việt Nam, chứ không chỉ các quan chức, giàu có và có quyền đưa ra các quyết định quan trọng về hướng đi của đất nước trong đó có hướng đi của các mối quan hệ đa phương.

Và cũng chỉ như vậy sự hội nhập mới không như sự mô tả ‘Hội Tây’ của cụ Nguyễn Khuyến:

“Khen ai khéo vẽ trò vui thế, Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!”

Bộ phim Thuyền nhân: Võ sư Hóa đi tìm mộ

Bộ phim Thuyền nhân: Võ sư Hóa đi tìm mộ

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-03-26

03262015-master-hoa-requiem.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Bộ Phim Thuyền Nhân: Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ

Bộ Phim Thuyền Nhân: Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ

PhotoVAHF

Your browser does not support the audio element.

Master Hoa’s Requiem, Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, là bộ phim tài liệu về thuyền nhân Việt Nam, được Thin Line Film Festival Liên Hoan Phim Ảnh Thin Line trình chiếu ra mắt đầu tiên tại The Campus Theater thuộc UT North Texas, thành phố Denton bang Texas, trong ba ngày 19, 20 và 21 tháng Hai vừa qua.

Thin Line Film Festival chuyên về phim tài liệu cứ mỗi năm một lần trong khoảng thời gian tháng Hai, Thin Line Film Festival nhận phim tranh giải từ khắp nơi trên thế giới. Năm nay Thin Line Film Festival nhận được trên 300 phim dự thi đến từ 26 nước kể cả Hoa Kỳ. Phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ là một trong những phim họ chọn vào vòng chung kết. Tổng số vào chung kết là 49 phim.

Đó là lời nhà báo Triều Giang, một trong những người sáng lập Hội Bảo Tồn Lịch Sử Và Văn Hóa Mỹ Gốc Việt ở Texas:

Phim đã được hai giải, thứ nhất là phim tài liệu hay nhất mùa thu năm 2014 của đại hội điện ảnh Asian On Film và ngày 28 tháng Ba này thì Triều Giang sẽ sang bên California nhận giải đó. Cũng trong đại hội điện ảnh đó thì họ đề nghị mình cho giải phim hay nhất năm 2015 và cái đó chưa có kết quả.

Bộ phim do đạo diễn Hoa Kỳ Scott Edwards dàn dựng, sản xuất là Hội Bảo Tồn Lịch Sử Và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt:

Scott Edwards là đạo diễn, hai người khác nữa, Andrew Bennett làm về editing tức là lắp ráp, còn một người nữa là Megan Edwards, giúp Triều Giang về vấn đề viết script của phim. Hội Bảo Tồn Lịch Sử Và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt đứng ra làm công việc này và tôi trực tiếp là nhà sản xuất .

Vì hai chữ tự do

Vai chính trong bộ phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ không ai khác hơn võ sư Nguyễn Tiến Hóa thuộc Vovinam, môn phái Việt Võ Đạo cổ truyền của Việt Nam. Hãy nghe ông kể lại:

Chúng tôi đi vượt biên ngày 16 tháng Mười Một năm 1981. Trước khi đi chúng tôi cũng biết những gì xảy ra cho những người đi trước, tuy nhiên vì hai chữ tự do chúng tôi chấp nhận liều thân vượt biển.

Rồi tai họa cũng giáng xuống chiếc tàu vượt biên sau ba ngày chạy ra hải phận quốc tế:

Khi thấy một giàn tàu chúng tôi tưởng đó là bở biển Mã Lai và chúng tôi đi thẳng vào, tới nơi thì gặp năm cái tàu giàn hàng ngang, thật sự vì mưa bão họ neo thuyền gần với nhau. Tới nơi thì họ chuyển máy vòng quanh bao vây chúng tôi luôn. Họ nổ súng lên, bắt tất cả đàn ông thanh niên qua tàu họ, trói chúng tôi lại thành một xâu.

Tôi là người ở giữa thành ra khi nhìn thấy vợ con tôi bị hãm hiếp, hải tặc nắm giữ vợ con tôi, lột quần áo ra thì vợ tôi có kêu lên “Trời ơi, Chúa ơi, anh ơi cứu em”. Lúc đó tôi như người chết, tôi muốn cắn lưỡi tôi chết, tôi không làm cách nào được vì họ trói tôi trong một cái xâu giống như xâu cá thành ra tôi không thể nào hành động được.

“ Sau gần ba tiếng đồng hồ họ tới tàu của chúng tôi, tháo máy, trục máy lên, dục hết tất cả đồ ăn nước uống của chúng tôi đi. Sau đó thì họ đem đàn bà con gái trở về tàu rồi họ cho chúng tôi về tàu luôn và họ cắt dây, nổ máy và dùng tàu họ để húc cho tàu chúng tôi chìm

Võ Sư Hóa”

Quí vị tưởng tượng mỗi tàu đánh cá của Thái Lan có mưới lăm tới mười bảy người, mà năm cái tàu thay phiên nhau để hãm hiếp thì nó kéo dài bao lâu.

Sau gần ba tiếng đồng hồ họ tới tàu của chúng tôi, tháo máy, trục máy lên, dục hết tất cả đồ ăn nước uống của chúng tôi đi. Sau đó thì họ đem đàn bà con gái trở về tàu rồi họ cho chúng tôi về tàu luôn và họ cắt dây, nổ máy và dùng tàu họ để húc cho tàu chúng tôi chìm. Ngay lúc đó tôi quyết định một sống hai chết phải đánh. Tất cả mọi người chúng tôi đã dùng những mảnh ván tàu bị bể làm vũ khí tấn công. Thấy chúng tôi quyết tử họ bỏ chúng tôi họ ra đi.

Trải qua một đêm cho tới chiều ngày hôm sau thì tàu gặp hải tặc lần thứ hai:

Lúc đó chúng tôi không chờ nữa, khi hải tặc tới nơi, xáo vào tàu chúng tôi thì tôi nhảy lên và tôi đã đánh nhau với hải tặc từ mũi tàu cho tới phòng tài công, tôi đã hạ mười lăm tên và tôi cướp tàu của hải tặc. Sau đó tôi đưa những người trên tàu bị bể của chúng tôi sang tàu chúng tôi cướp được.

Khi nhảy qua nhảy lại để đưa đàn bà và con nít thì chúng tôi còn một người em họ bị gãy chân đêm hôm trước. Chú em nằm trên tàu và tôi nhảy về. Trên đường nhảy về thì dây neo bị đứt và chiếc tàu tôi cướp được trôi đi.

Tàu trôi đi thì võ sư Hóa rớt xuống biển, ông đã lội trên biển như vậy mười mấy tiếng đồng hồ:

Tôi không biết đó là định mệnh Trời muốn tôi sống chứ thật sự tôi không có khả năng bơi lội trên sóng gió 18 tiếng đồng hồ.

May mắn cho ông là sáng hôm sau thì ông nhìn ra một bóng đen, là chiếc tàu vượt biên của ông bị hải tặc đâm vỡ:

Tôi mừng quá tôi bơi vào con tàu, sống trôi nổi trên tàu bể 21 ngày, không có lương thực, chỉ có nước mưa> hai mươi mốt ngày đó là vô vàn tàu hải tặc tấn công tôi liên tiếp. Họ đâm, chém, đánh đập, bắn tôi ba lần nhưng số tôi chưa chết.

Mổi một sáng thức dậy tôi gạch vào mạn tàu tôi đếm một ngày. Sau 21 gạch thì tôi gặp năm cái tàu Mã Lai. Tôi biết đã trôi tới Mã Lai, tôi đứng lên xin ăn. Họ bắt chéo tay và nói rằng “police”. Họ cho tôi một ly trà sữa, một bịch mì ăn liền, một túi bánh khô.

Từ trái võ sư Hóa, Andrew Bennett, Scott Edwards, nhà báo Triều Giang khi đến phi trường Thái Lan

Từ trái võ sư Hóa, Andrew Bennett, Scott Edwards, nhà báo Triều Giang khi đến phi trường Thái Lan

Nhờ chút đỉnh lương thực như vậy, võ sư Nguyễn Tiến Hóa lấy lại sức, bắt đầu lượm áo quần sót lại trên tàu làm một cánh buồm, tháo mạn tàu làm cột buồm rồi bánh lái để có thể bơi vào đất liền:

Làm xong thì hết gió, tôi phải nằm chịu trận một đêm cho tới ngày hôm sau tôi dùng lá buồm đó, tôi lái hai ba ngày gì nữa thì tôi vào bờ biển Mã Lai.

Sức chịu đựng của con người

Tới được Paula Bidong mà không biết số phận vợ con trên chiếc thuyền cướp được của hải tặc như thế nào, võ sư Hóa sống như một người không thiết sống. Đến một ngày, khi Cao Ủy trên đảo gọi ông lên, báo cho biết chiếc tàu cướp được của hải tặc đã bị chìm và tất cả những người trên đó đã chết hết:

“ Tôi mừng quá tôi bơi vào con tàu, sống trôi nổi trên tàu bể 21 ngày, không có lương thực, chỉ có nước mưa> hai mươi mốt ngày đó là vô vàn tàu hải tặc tấn công tôi liên tiếp. Họ đâm, chém, đánh đập, bắn tôi ba lần nhưng số tôi chưa chết

Võ Sư Hóa”

Tôi hét lên, đập bể cái bàn rồi từ văn phòng Cao Ùy tôi chạy ra ngoài bờ biển để tự vẫn. Cảnh sát Mã Lai khi vào bắt tôi thì bị tôi tấn công, sau đó họ quăng dây giất cho tôi té, bác sĩ chạy theo chích thuốc cho tôi mê và đưa vào trong bệnh viện Sic Bay. Họ còng hai tay tôi trên giường sắt và tôi vác cả giường sát tôi chạy. Sau đó họ còng cả hai chân tôi xuống giường sát luôn. Đấy là Nguyễn Tiến Hóa, một người sống sót đi tới Pulo Bidong năm 1982.

Được nhận vào Hoa Kỳ do trường hợp đặc biệt, võ sư Nguyễn Tiến Hóa vẫn còn điên loạn và phải nằm bệnh viện một thời gian. Dần dà, với tâm trí và nghị lực của một người được đào luyện võ thuật từ nhỏ, ông gầy dựng lại cuộc sống bình thường. Hiện tại ông là giám đốc trung tâm võ thuật Vovinam ở thành phố Dallas, Texas.

Ba mươi ba năm sau, khi cùng đoàn làm phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ trở lại Malaysia và Thái Lan để tái dựng thảm cảnh vượt biển lúc trước, võ sư Nguyễn Tiến Hóa gần như rơi trở lại trạng thái điên suốt thời gian quay:

Gần 3 tuần lễ quay phim thì ban ngày tôi là người tỉnh để đóng phim nhưng ban đêm tôi là một người điên. Tôi đã điên, tôi điên trên đất Mã Lai, tôi điên trên đất Thái Lan. Tôi đi lang thang ngoài đường phố cả đêm. Có những lúc tôi gặp những người con gái đi ăn xin mà tôi mường tượng đó là vợ con tôi đang thất lạc trên đất Thái Lan hay Mã Lai. Tôi đã cầm tiền cho họ giống như cho người thân của mình.

Đứng ở những bờ biển nghe tiếng sóng gào thì tôi nghĩ như vợ con tôi đang gào thét gọi tôi, tôi ở đâu và tôi làm gì, tại sao tới giờ phút này, sau 33 năm tôi mới trở về tìm vợ con?

Trở về câu hỏi vì sao phải gợi lại ký ức thuyền nhân tưởng đã lắng chìm qua bao tháng ngày dài? Phải lập lại, phải cho mọi người thấy, là câu trả lời của Hội Bảo Tồn Lịch Sử Và Văn Hóa Mỹ Gốc Việt:

Phim Master Hoa’s Requiem Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, hành trình đi tìm tự do của võ sư Nguyễn Tiến Hoa và gia đình ông là một trường hợp tiêu biểu để nói lên cái thảm cảnh thuyền nhân. Trong suốt mấy thập niên từ 70 cho tới 90, trên một triệu người ra đi và gần 500.000 người chết trên biển cả. Chuyện này nếu không ghi chép lại được ở thế hệ chúng ta thì sợ thời con cháu sẽ rất khó khăn khi đi tìm tài liệu, mình làm thành phim để có thể quảng bá đại chúng. Khi làm xong thì cũng có một số người đến điểm phim thì người ta đề nghị nên đưa những đại hội điện ảnh để dự thi. Cuối cùng mình được chọn vào vòng chung kết. Trên hai trăm khán giã, phần lớn người nước ngoài, đã xem buổi trình chiếu đầu tiên bộ phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, tiếp đó tham dự phần hỏi đáp khi cuốn phim kết thúc. Ghi nhận của nhà bào Triều Giang là nhiều khan giả bày tỏ sự bàng hoàng xúc cảm trước những cảnh thực trong phim mà họ cho là không thể tưởng tượng được:

“ Trong suốt mấy thập niên từ 70 cho tới 90, trên một triệu người ra đi và gần 500.000 người chết trên biển cả. Chuyện này nếu không ghi chép lại được ở thế hệ chúng ta thì sợ thời con cháu sẽ rất khó khăn khi đi tìm tài liệu, mình làm thành phim để có thể quảng bá đại chúng”

Nói chung thì khán giả đặt rất nhiều câu hỏi. Những cảnh Võ sư Hóa đi ngược trở lại để tìm vợ con và người thân, trên bước đường đó thì không thể tưởng tượng được có những hòn đảo không ai sống được vì ở đó không có nước ngọt, nhưng trên đó đã thấy hàng trăm mộ của thuyền nhân

Rồi có những làng trong đó dân chừng sáu bảy trăm người nhưng số mộ đếm được là trên một ngàn rưỡi. Rồi có những mộ tập thể ba bốn trăm người chôn cùng một chỗ. Có những mộ không còn bia, chỉ một cây cắm ở đó là biết có người nằm dưới mà thôi.

Những cảnh đó làm cho người xem xúc động, khán giả đã rơi lệ bởi vì cảnh võ sư Hóa từ sáng đến tối đi tìm cả chục cái nghĩa trang và đi kiếm hàng ngàn những ngôi mộ, tìm được mộ người thân nhưng mộ vợ con thì không. Nó buồn và nó xúc động đến phải nói khán giả bữa hôm đó ai đi ra mắt cũng đỏ.

Thế còn người thực hiện bộ phim thì sao. Trước khi được mời đến với phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, đạo diễn Scott Edwards chia sẻ là ông chỉ biết tới Việt Nam, nhất là miền Nam Việt Nam, qua hình ảnh của chiến tranh mà thôi. Ông nói ông đã phải tham khảo, nghiên cứu qua sách vở và trên mạng cho đến khi nhận thức được rằng miền Nam Việt Nam trước và sau chiến tranh, rồi thuyền nhân đi tìm tự do, là cả một trang sử đau thương, xúc tích, gợi hứng và xứng đáng được nhắc nhớ lại:

Suốt thời gian quay phim tôi đã thông cảm nhiều với võ sư Hoá, bởi gần như chúng tôi cùng trổi dậy mỗi ngày để đi tìm mộ cùng với nhau. Chúng tôi chứng kiến võ sư Hóa trong hồi ức tột cùng đau thương và xúc động, gần như chúng tôi cùng trổi dậy cùng đi tìm kiếm mộ người thân yêu. Khi đó tôi vừa có một cháu gái nhỏ 6 thang tuổi, tôi chợt hiểu là sẽ kinh hoàng đau đơn biết mấy nếu chuyện gì khủng khiếp xảy ra cho vợ con mình mà mình không thể làm gì được. Tôi như kinh qua thảm cảnh mà những thuyền nhân miền Nam đi tìm tự do phải gánh chịu, tôi thấu hiểu rằng chuyến đi về quá khứ như thế này quả là khó khăn cho võ sư Hnhư thế nào..

Tôi hiểu rằng phấn đấu, vượt thoát, tang tóc, mất mát là những điều khiến lịch sử miền Nam Việt Nam sau chiến tranh là một câu chuyện đáng nói. Tôi cảm nhận và khâm phục những con người từ nghịch cảnh bước ra như võ sư Hóa mà đã vươn lên, làm lại cuộc đời và cuộc sống xứng đáng của người Mỹ gốc Việt trên đất nước này.

Và điều nữa là bây giờ tôi có thể nói về chiến tranh, về miền Nam Việt Nam, tôi đã có cái nhìn căn bản và sâu sắc hơn về chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến đã quyết định thành bại cho không biết bao nhiêu người miền Nam đã chết và còn sống như những công dân Mỹ gốc Việt ở đất này.

Qua cuộn phim ngắn Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, hy vọng cộng đồng dòng chính, hiểu rất ít về cuộc chiến Việt Nam, cũng sẽ thông cảm được tất cả nỗi khổ đau của một dân tộc.

Đó là nội dung bô phim Võ Sư Hóa Đi Tìm Mộ, Master Hoa’s Requiem, đã được Thin Line Film Festival chọn trong hơn 300 bộ phim từ 26 nước, sắp nhận giải của Asian On Film thứ Bảy tuần này ở California, và hiện đang là ứng viên giải Remi Awards nổi tiếng trong những ngày tới.

Kén Chồng Cho Con

Kén Chồng Cho Con

Tác Giả: Hoàng Dũng Tuấn

Ở xứ Mỹ này, thời đại văn minh mà nói chuyện cha mẹ kén chồng cho con thì nghe lạ tai. Vậy mà chuyện đó lại xảy ra., chính tôi cũng có dính dáng vào. Chẳng phải ông bà giàu có, sợ gặp thằng rễ đào mỏ, cũng chẳng phải cô gái thuộc loại ngây thơ, e thẹn, kín cổng cao tường, không dám tiếp xúc với ai. Thực sự cô đã băm đi băm lại nhiều lần rồi và năm nay ắt cũng gần bốn mươi cái xuân xanh. Cô cũng xông xáo vào xã hội để kiếm sống, cũng nói năng giao thiệp rộng rãi. Cô lại đẹp nữa. Vậy mà gặp cậu nào còn độc thân là ông bà vui vẻ mời ghé nhà. Chẳng thấy ai quí khách hơn ông bà, nhưng sau đó, hình như không đạt tiêu chuẩn nào đó, ông bà lại mời chàng khác viếng thăm chuyện vãn. Những chuyện trên tôi chỉ nghe trong cộng đồng người Việt ở Virginia bàn tán thế thôi. Oâng bố cô gái tôi biết vì trước bảy lăm tôi là nhân viên dưới quyền ông. Cả đến cô gái tôi cũng biết nữa, nhưng hiện nay những tiêu chuẩn chọn khách đông sàng của ông bà thì ai cũng mù tịt. Đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi, job thơm, chống cộng? Tất cả chỉ là giả thiết. Sở dĩ tôi thêm tiêu chuẩn chống cộng vào đây vì trong các cuộc mít ting của người Việt đòi nhân quyền, tự do cho đồng bào trong nước, ông bà đều dẩn cô gái theo. Để tăng cường sức mạnh cho cộng đồng hay để ông bà chọn anh chàng nào tố cộng hăng say? Hay để cho cô dễ tìm chồng giữa chốn ba quân? Tất cả vẫn còn trong vòng bí mật. Chỉ có một điều là bọn con trai, từ mới lớn cho đến sồn sồn đều suýt soa là cô quá đẹp. Đẹp dịu dàng, đẹp quí phái, thấy cô chỉ muốn ngắm mãi rồi thở dài vì biết mình không hy vọng gì.
Tôi xin dài dòng về những gì tôi biết về ông bà và cô gái của họ.
Năm 1973 tôi tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, được bổ về làm phó quận một tỉnh miền Trung. Lúc đó ông ta là đại tá tỉnh trưởng. Tên ông ta có họ Tôn Thất, tức là bà con với các vua triều Nguyễn. Ở Huế, người ta thường gọi những người thuộc hoàng tộc là mệ. Mệ đây không phải để chỉ các bà già mà là những người, già, trẻ, lớn, bé có họ hoàng tộc đều là mệ tuốt. Các mệ đi đâu, ở đâu cũng vậy, đều có một phong thái rất đặc biệt. Dù giàu, nghèo, sang, hèn họ đều có cách sống phong lưu, cách nhìn, cách nói trịch thượng không cố ý. Nó như có sẵn từ trong máu, thứ máu di truyền hoàng tộc mà chính họ cũng không biết được.
Trong thời gian làm việc ở quận, thỉnh thoảng tôi phải về tỉnh họp. Thấy mệ đại tá tỉnh trưởng tôi nhận ra ngay phong thái đó. Mệ như một ông vua con với bá quan. Thân mật nhưng có khoảng cách rõ ràng. Mệ hết lòng với dân nhưng phục vụ dân như một thiên mệnh hơn là bổn phận, tưởng như chức tỉnh trưởng do Trời ban cho chứ không phải do tổng thống bổ nhiệm. Chẳng bao giờ mệ giữ kẻ điều gì. Mệ muốn là mệ làm. Tôi xin kể một chuyện thực. Một lần mệ báo sẽ ra quận thanh tra. Tay quận trưởng cùng đoàn tùy tùng trong đó có cả tôi ra bãi đáp nghênh đón mệ. Trực thăng hạ xuống, mệ xuống đứng yên vài phút cho tay quận trưởng trình diện, xong mệ lẵng lặng đi quanh hàng rào phòng thủ quận chi khu. Mệ đi trước, phía sau là phái đoàn rồng rắn đi lòng vòng qua các giao thông hào, ụ súng, vọng gác. Đột nhiên tay quận trưởng lùi lại, ra dấu cho tất cả cùng lùi lại, yên lặng. Trời ạ! Mệ đứng tè ở góc vọng gác. Chuyện này – chỉ có sai về thời gian thôi – tôi mà sáng tác, nói láo, xin Trời đánh tôi.
Mệ có một thói quen buồn cười mà ai cũng bàn tán. Khi làm việc ở tòa hành chánh tỉnh, mệ thường đến các ty phòng nội thuộc. Vừa nói mấy câu là mệ vỗ vỗ túi áo rồi hỏi “Có thuốc không?” Ai cũng biết trước nên thủ sẵn một gói thuốc mệ thường hút, đưa ra, mệ lại hỏi “Có quẹt không?” Đưa quẹt cho mệ, mồi thuốc xong mệ bỏ tất cả vào túi áo mình rồi đi nơi khác. Có điều lạ là không ai biết mệ vất thuốc với quẹt ở đâu mà ngay sau đó chính mệ tìm cũng không ra, rồi mệ lại hỏi “Có thuốc không?”. Mà chẳng phải mệ nghiện thuốc, mệ chỉ bặp bặp vài hơi là cắm điếu thuốc xuống cái gạt tàn, nói mấy câu, lại mồi thuốc, hút tiếp, lại dụi bỏ. Ngồi họp mà có mệ là tôi được cái thú đếm xem mệ hút bao nhiêu điếu thuốc trong buối họp. Đến ngày mất nước, mệ không bỏ chạy, mệ đi tù. Lúc ở trại Long Thành tôi có gặp mệ. Vẫn vẻ phong lưu, bất cần thiên hạ, nên trông mệ chẳng mất phong độ gì cả. Sau đó mệ được đày ra Bắc. Chẳng biết bao lâu, cuộc đời dâu bể – Khi tôi qua Mỹ, ở Virginia, tình cờ gặp mệ một lần. Chuyện này hồi sau sẽ rõ.
Còn chuyện tôi biết cô gái út của mệ cũng có nguyên do. Năm đó, gần đến Tết, tay thiếu tá quận trưởng của tôi ngồi than thở là tết nhất mà không có quà cáp cho xếp thì thật khó coi. Hắn ta rầu rĩ bảo “Nhưng trong túi moa, tài sản có mấy nghìn, biết mua cái gì bây giờ? Một cành mai thì chắc có đứa đem đến rồi, mà thứ mai chấm trần nhà kia, tiền đâu chịu thấu. Một cặp bông hồng hay vạn thọ thì hẻo quá!” Tôi đề nghị mua một món đồ cổ gì đó, các mệ chỉ thích đồ cổ để bày trong tủ thôi. Thế là hắn giao tôi nhiệm vụ đó. Tôi về đến tiệm đồ cổ, chỗ chân cầu Gia Hội mua một cái tô, không biết cổ thực hay giả, lơn tơn đến dinh tỉnh trưởng. Mệ đại tá không có nhà, chỉ có cô gái út ra tiếp. Cô mới mười lăm, mười sáu mà đẹp kỳ lạ. Tôi ngồi tán tỉnh tía lia, đáng lẽ để cái tô lại , nhưng tôi ôm về, hẹn với em hôm sau đến nữa. Dĩ nhiên tôi đến vào giờ công vụ thì làm sao ông bố có nhà. Thế là tôi và em nói chuyện sa đà, đến chiều tôi lại ôm cái tô về. Sở dĩ tôi đến được nhiều lần như thế là vì tôi về thuật lại với tay quận trưởng. Tay chịu chơi này sai tài xế lấy xe Jeep đưa tôi đến dinh tỉnh trưởng. Thấy xe quận quen thuộc, tay gác cổng không thắc mắc gì.
Tuy nhiên, một lần mệ tỉnh trưởng về sớm “Moa nghe mấy bửa ni toa cứ ôm cái tô vô ra đây mãi. Rứa là đủ rồi hỉ! Chờ ít năm, con Uùt Mai lớn chút nữa, lúc đó, mỗi lần đến đây, toa cứ nộp một cái tô, cái đĩa cổ chi đó là được. Moa hứa với toa nhưng không bảo đảm gì cả nghe!” Dù sao thì em cũng đã cho tôi hôn em một lần và chúng tôi cũng có tặng hình nhau gọi là “Để kỷ niệm những ngày mới quen nhau”. Hình em mặc váy đầm, tóc thắc bím, ôm búp-bê. Hình tôi tặng em là cảnh tôi đứng vênh mặt trước trường Hành Chánh, chụp hôm tốt nghiệp, coi rất bảnh trai. Sau tấm hình tôi ghi cho em một câu đúng điệu nhạc vàng”Anh hứa yêu em suốt một đời”.
Đáng lẽ cuộc tình của tôi với em còn dài, nhưng sau đó sập tiệm. Tôi đi tù, ông bố em cũng đi tù. Em như cánh chim giữa cơn bão, phiêu bạt về phương trời nào tôi không rõ. Hình em tặng tôi cũng đánh mất từ lâu. Cho đến khi nghe chuyện ông bà kén chồng cho em, tôi vẫn không hình dung được em ra sao, vì lâu quá, nhưng vẫn nhớ là em rất đẹp. Và nếu trước kia, đứng trước em tôi tự tin bao nhiêu thì nay tôi không dám gặp cả em nữa vì mặc cảm tự ti. Ra tù, thân tàn ma dại, qua xứ Mỹ tôi cũng chẳng hơn gì con gà mắc mưa: Tôi đứng bán Mc Donald.
Cho đến một sáng chủ nhật, tôi ghé tiệm chạp phô mua ít vật thực. Vừa ra khỏi xe tôi thấy một chiếc xe nhỏ chạy trước, xe cảnh sát chớp đèn chạy sau. Hai xe ngừng lại trước tiệm chạp phô. Tay cảnh sát xuống xe đến hỏi thăm sức khỏe người lái xe, có lẽ vi phạm giao thông gì đó. Hóa ra đó là vợ chồng mệ đại tá tỉnh trưởng của tôi ngày trước. Tôi thấy tay cảnh sát Mỹ xì xồ mấy câu nhưng mệ Tôn Thất của tôi vẫn tỉnh bơ, chẳng nói năng một tiếng cứ ngồi nhìn tay cảnh sát, như người xem TV nhìn cái quảng cáo. Không vui, không buồn, không sợ, không xun xoe…, và cứ trơ ra như thế. Có lẽ tay cảnh sát tưởng ông bà không biết tiếng Mỹ nên đến nhờ tôi thông dịch. Tôi nói “Sorry, he chinese, me Vietnamese, no talk, no hear!” Hắn ta chán cả tôi nên lắc đầu, lên xe bỏ đi. Lúc đó, mệ mới nhìn tôi cười chím chím rồi hai ông bà vô tiệm. Tôi có thể đến chào hỏi, tự giới thiệu để chuyện trò nhưng kẹt vì biết ông bà đang kén rễ nên tôi nghĩ tốt hơn đừng để họ tưởng mình có ý đồ gì. Nghe nói có mấy tên bác sĩ, kỹ sư đẹp trai, đi xe đắc tiền còn bị loại , sá gì đến tôi mà đèo bòng nên tôi phe lờ. Trong lúc tôi đứng trước quày đồ khô thì ông ta đến bảo:
“Toa thấy moa có lanh trí không, làm rứa là hắn chịu thua, mình khỏi bị ticket”.
“Tôi thấy đại tá mới biết cách đó. Cái khó là giữ vẻ mặt sao cho tay cảnh sát vừa chán nản vừa thông cảm mới được. Tôi mà làm thế hắn còng tay ngay”.
Ông ta ngạc nhiên.
“Ủa, răng toa biết moa?”
Lúc đó tôi mới bảo là tôi có làm phó quận trong lúc ông làm tỉnh trưởng. Thế là chúng tôi vui vẻ chuyện trò. Lát sau bà vợ ông ta đến, sau khi giới thiệu nhau, chúng tôi đã trở nên thân mật. Đàn bà đều giống nhau, thích tò mò chuyện đời tư người khác: “Chớ vợ con mô mà đi chợ một mình rứa?”
“Tôi chẳng có vợ con gì cả. Như lúc nãy, ông đại tá biết, tôi ra trường năm bảy ba, đến năm bảy lăm sập tiệm. Tôi đi tù về không ai thèm nhìn, đến khi có vụ HO thì chẳng hề quen biết mà cũng có người kêu gả con cho, tôi chán quá, không thèm lấy vợ nữa.” Ông ta xen vào:
“Moa mà như toa đi chợ chi cho mệt. Ghé tiệm, quán ăn nào đó, ăn xong trả tiền, khỏi phải chợ búa phiền phức”.
“Nhưng tôi còn bà mẹ, mọi khi tôi đưa bà cụ đi chợ, mấy hôm nay bà cụ mệt, dặn tôi mua các thứ về bà cụ nấu.”
Chuyện trò đến đấy thì tôi xin cáo từ, ông bà có mời tôi ghé nhà, cho số nhà, số điện thoại đàng hoàng. Tôi không có thì giờ thăm viếng linh tinh, vả lại tuổi tác chênh lệch mà gia cảnh cũng không thích hợp nên tôi quên luôn. Bẵng đi một thời gian, một sáng chủ nhật đi chợ, tôi lại gặp ông bà. Họ coi bộ mừng rỡ lắm, nhất định mời tôi ghé thăm nhà, uống trà nói chuyện cho vui. Nể tình, tôi theo họ về nhà. Đó là một căn apartment, chẳng giàu sang gì, nhưng cách bài trí sắp xếp trong nhà ra người phong nhã, trí thức. Lúc ngồi ở phòng khách, cô gái Uùt của ông bà có pha trà mời tôi. Tôi không dám nhìn, sợ bất nhã, nhưng thoáng thấy, tôi nhận ra ngay cô bé ngày xưa và cô vẫn đẹp, còn đậm đà hơn trước nữa.
Thực ra tôi biết thân phận mình nên dững dưng. Sáng hôm đó, ông bà nghe tôi nói lại những nhận xét, cảm tưởng của tôi lúc ông ta làm tỉnh trưởng, họ cười như chưa bao giờ vui đến thế. Dĩ nhiên tôi chẳng dại gì nhắc đến chuyện tôi tán tỉnh cô út của ông bà, coi nham nhở quá, vả lại cô ta mà nghe được, ghét tôi ra mặt thì chẳng vui gì. Những lần sau đó, ông bà có gọi điện thoại mời tôi tôi đến uống trà trò chuyện. Tôi không thích nhưng có cô gái út ra mời khách, nghe mấy tiếng “Mời chú ạ!” ngọt như đường và tuy chỉ thấy có hai bàn tay mà tôi đã vấn vương người đẹp rồi. Một lần nhân chủ nhà vô ý, tôi nhìn quanh tìm cô ta thì y như là cô đang làm gì đó ngay trong tầm mắt tôi. Lúc đó cô đăm đăm nhìn lại tôi và tặng tôi một nụ cười. Tôi chới với, ngất ngây như say rượu. Cả tuần lễ sau, hình ảnh người đẹp cứ ở mãi trong đầu tôi. Nhưng tôi đã lớn, lại ở tù ra nên chín chắn chuyện đời chứ không bộp chộp như mấy cậu thanh niên. Giá như tôi tốt nghiệp đại học Mỹ, có job thơm, tôi đã đường hoàng nhào vô một cách tự tin. Về ngoại giao thì tôi có chút cảm tình của ông bà rồi, đối với cô ta, nếu không mặc cảm tôi đâu có khù khờ, ú ớ như bây giờ. Thế nên tim tôi rung động nhưng đầu óc tôi tỉnh táo. Tôi cứ dặn tôi”Yêu thì cứ yêu cho đời có chút hương vị, nhưng chớ dại mà biểu lộ cho người ta biết, chắc chắn bị từ chối , lại rước thêm cái xấu hổ vào thân, nhớ nhé!” Có câu hát “Khi cố quên lại càng nhớ thêm. “. Tôi thì khác, hể cố quên là tôi quên bẵng. Tôi lại hay nãn chí, thấy chẳng hy vọng gì nên tôi cứ lơ là dần.
Cho đến một buổi sáng, tôi nghe điện thoại reo.
“Thưa chú, ba mạ cháu mời chú qua uống trà.”
Các cô gái Huế mà pha giọng miền Nam nói chuyện thì nghe như chim hót, ngọt ngào ngây thơ không thể tả. Tôi giả giọng Huế hỏi lại.
“Ba mạ cháu ở mô rứa?”
“Dạ ở nhà”.
“Còn cháu ở mô?”
“Dạ cũng ở nhà”.
“Rứa là biết rồi đó. Cám ơn cháu, chú qua ngay bây chừ.”
Tôi phân vân, tại sao ông bố không gọi mà để cô gái gọi tôi? Khi tôi đến, mọi việc vẫn như trước, người đẹp ra mời trà, rồi chuyện trên trời , dưới đất. Đến khi giả từ, ông bà lại hỏi:
“Bà cụ có mạnh giỏi không?”
“Dạ, cám ơn. Oâng bà già nào lớn tuổi không bệnh này thì bệnh kia.”
Tôi tố thêm một đòn về gia cảnh của tôi.
“Tôi đi làm không đủ tiêu, bà cụ phải giữ trẻ cho người ta. Tôi thật xấu hổ, không nuôi nổi mẹ.”
Tưởng ông bà dội ngược không ngờ lại hỏi địa chỉ và bảo sẽ đến thăm. Kể dài dòng chỉ tổ mất thì giờ. Đại khái họ đến thăm lúc tôi đi làm. Mẹ tôi chất phác nên gần như ông bà nắm vững gia phả và đời tư của tôi. Theo mẹ tôi kể, ông bà cứ suýt soa rằng tôi có hiếu, họ rất quí trọng những người con có hiếu. Oâng bà cũng nói về gia đình họ, về cô út đã lớn mà không chịu lấy chồng. Cứ bảo sợ gặp người không tốt, bỏ cha mẹ già không ai săn sóc tội nghiệp. Mẹ tôi vừa kể vừa cười coi bộ tôi lọt mắt xanh của gia đình kia rồi. Tôi không nói gì, sợ mẹ tôi buồn, nhưng tôi bắt đầu nghi ngờ về thái độ của họ. Họ có điên mới đem gả cô út xinh đẹp như hoa cho một thằng không ra gì như tôi. Còn cô út nếu bằng lòng thì thần kinh cũng không hơn gì bố mẹ. Nhưng rõ ràng họ đã lộ ý rồi. Tôi đánh cờ tướng loại khá, khi đối phương đi một nước cờ, nếu không hiểu mục đích của nước cờ đó, tuyệt đối tôi không tấn công. Tôi bắt đầu đưa giả thiết, nhưng không giả thiết nào đứng vững. Thế nên tôi rút quân về thủ bằng cách báo với họ ý định sẽ đi tiểu bang khác làm ăn, ở đây sống khó khăn quá (Tôi chuẩn bị đi thực). Xong tôi chờ đối phương đi nước thứ hai.
Hôm đó, thứ bảy đầu năm, cộng đồng Việt Nam có lệ chào quốc kỳ trước chợ Eden. Tối thứ sáu, đi làm về, tôi được điện thoại của mẹ cô gái gọi.
“Sáng mai Tuấn có đi chào cờ ngoài Eden không?”
“Dạ cháu cũng chưa có ý định, phải đưa bà cụ đi chợ, e trễ mất”.
“Tuấn cố gắng đưa bác và em Mai ra Eden sáng mai lúc chín rưỡi. Xe của em bị hư, còn ba nó phải ra sớm, chuẩn bị trước cho buổi lễ”.
“Dạ cháu sẽ cố gắng đưa bác và cô Mai ra đúng giờ.”
Nước cờ đến đây đã rõ mục đích. Họ đẩy cây xe ngon lành đến trước miệng con chốt, nhưng nguyên nhân vẫn còn trong vòng bí mật. Oâng bố đã lùi một bước để bà mẹ đứng ra đạo diễn, rủi thất bại vẫn giữ được tướng an toàn.
Sáng đó, thấy tôi ăn mặc tươm tất, mẹ tôi lại cười. Đàn bà nhạy cảm chuyện này lắm, huống gì đó là một bà mẹ. Bà biết tôi đã yêu cô gái. Chính tôi cũng không hiểu mình yêu cô ta từ lúc nào. Tình yêu không đến trực tiếp từ cô gái mà đi vòng từ bố mẹ cô ta. Tôi không cần biết nguyên nhân, nhưng sự sắp xếp của họ khiến tôi cảm động và tôi tin chắc rằng sự sốt sắng đó đã được thúc đẩy từ cô gái cưng của họ. Nhưng tôi với cô ta đâu có tình ý nhau bao giờ?
Đến nơi tôi để hai mẹ con vào đứng với đồng bào. Tôi thối thác chào quốc kỳ. Khi mới đặt chân lên đất Mỹ, lần đầu thấy lại lá cờ vàng ba sọc đỏ, tôi đứng khóc ngon lành như một đứa trẻ. Ngày Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi cũng khóc cả buổi mà không hiểu sao lòng mình tan nát đến như vậy. Ngày đầu tiên cắp sách đến trường, tôi đã chào cờ hát quốc ca…Tình yêu nước đến lặng lẽ trong tim tôi theo thời gian như tình tôi thương mẹ, khi mất nước , mất mẹ mới thấy mình bơ vơ. Kẻ mất nước như mất hồn, như người thất tình.
Quên thì thôi, nhớ lại lòng cứ thẩn thờ, ngơ ngẩn.”Ôi! ngựa Hồ hí gió Bắc”…Một lý do nữa là tôi nghĩ “Đứng cạnh cô thì thích quá rồi, nhưng rủi cô xích ra xa tôi hoặc bỏ đi chỗ khác thì có nước độn thổ mới hết nhục.” Thấy người ta tử tế tưởng bở” Tôi yêu cô, ông bà tử tế với tôi , nhưng chuyện cô yêu lại tôi là viễn vong, vô căn cứ. Cho nên khi nghe tôi bảo sợ bị xúc động khi chào cờ phải đi tránh chỗ khác, bà mẹ thông cảm nhưng cô gái xụ mặt lại. Thấy cô như giận, tôi mừng trong bụng, muốn đổi ý nhưng đã muộn rồi nên đành lãng ra, vào một tiệm sách tìm đọc vớ vẫn nhưng hồn vía để cả ngoài kia, lòng tự trách “Chào quốc kỳ chảy nước mắt có gì mắc cỡ. Dễ gì được đứng gần người đẹp. Dại quá! Biết bao giờ mới có dịp như thế này”. Nghe chào cờ xong, tôi đi ra, định cà rà theo nói chuyện với cô ta nhưng mẹ cô nhờ tôi đưa bà về sớm, còn cô gái thì ở lại với bố. Tôi đành vâng lời. Về đến nhà, bà mẹ lại bảo tôi vô nhà nhờ chút chuyện. Tôi lại vâng lời. Tôi ngồi ở phòng khách. Chẳng cần rào đón, sau khi hỏi tôi sẽ đi tiểu bang nào, ngày nào đi, đột nhiên bà vào thẳng vấn đề. Bà nói về cô út hiếu thảo của bà không chịu vượt biên, ở lại với mẹ, vất vả, tần tảo để thăm nuôi bố. Qua xứ Mỹ, nói gì cô cũng không chịu lấy chồng, sợ bỏ cha mẹ già không ai săn sóc. Cô ra điều kiện chỉ lấy người có hiếu với cha mẹ thôi. Nay thấy tôi thương mẹ , cô đồng ý ngay. Tôi nghe mà tưởng mình mơ. Đời nay mà có cha mẹ hạ mình năn nỉ gả con gái xinh đẹp, nết na cho một thằng chẳng ra gì như tôi!? Tôi biết ông bà sốt ruột thật vì cô gái đã lớn mà cứ ở vậy, nhưng lý do chữ hiếu hình như là cái cớ thôi, chứ nguyên nhân nội vụ thì chưa rõ. Thế nên tôi xin phép bà được gặp riêng cô Mai để nói chuyện thông cảm nhau trước khi tôi quyết định về ân sũng đó. Bà mẹ chịu liền. Thế rồi một buổi chiều, tôi đến gõ cửa, cô ra mở cửa. Cô chào tôi mà không cười, vẻ mặt nghiêm trang, nhưng tôi nhận được từ đôi mắt cô những tia nhìn như reo vui.
“Chào chú ạ!”
“Chú đến thăm Mai”.
“Dạ, mời chú vào”
Cô lùi lại, tôi bước vào, cô gần như đứng sát bên tôi. Cô mặc một bộ đồ lụa trắng, hơi rộng nên trông thướt tha. Mặt cô bầu bỉnh, có đánh chút phấn hồng, mắt đen nhánh. Vì cô thấp hơn tôi nên khi cô ngước nhìn , đôi mắt cô đẹp hết sức, vừa long lanh vừa như ngạc nhiên điều gì.
“Có ông bà cụ ở nhà không?”
“Dạ không, mời chú ngồi”
Cô ngồi đối diện. Cô rót nước trà rồi mở hợp bánh ra.
“Mời chú”
Tôi cầm tách trà lên nhấm nháp rồi làm bộ suýt soa như bị nóng lắm. Bấy giờ cô mới cười. “Trà còn nóng, cháu vừa mới pha”
Tôi cầm tách trà nửa chừng và nhìn cô. Cô cúi mặt xuống. Chúa ơi! Cô đẹp thế kia, trong trắng thế kia sao lại chịu đi bên cạnh cuộc đời bầm dập của tôi được. Thật khó tin. “Mai biết vì sao chú đến thăm Mai không?
“Dạ không”.
“Thế mạ có nói chuyện này không?”
“Dạ có”.
Không khí như căng thẳng, tôi phải sửa giọng nhẹ nhàng hơn. “Chú xin lỗi làm Mai bối rối. Bây giờ chú đề nghị thế này, mình kể chuyện linh tinh gì đó cho vui.”
“Dạ”
“Trước hết chú kể chuyện của chú cho Mai nghe. Chú học hành chánh ra trường làm phó quận được hơn một năm thì đi tù sáu năm.. Ra tù, chú làm đủ nghề:đạp xích lô, bán vé số…Qua đây chú đi chùi nhà rồi bán Mc Donald. Kể ra thời đi học có vui chút đỉnh , đi làm cũng vui nhưng sau đó chán ngấy, hết đi tù thì làm những nghề mạt hạng.” “Chú lập gia đình sẽ hết buồn ngay”.
“Không đơn giản như Mai tưởng đâu. Muốn tiến đến hôn nhân phải có tình yêu. Vì có yêu người ta mình mới chịu đựng được những va chạm, khó khăn khi sống với nhau. Cho nên phải cẩn thận khi muốn lập gia đình. Không yêu thà sống một mình còn hơn.” Cô ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Chú đã lập gia đình và đã thất bại, đã tan vỡ rồi phải không?”
“Chú chưa lập gia đình, và chú có yêu ai đâu”.
“Cháu không tin, tuổi chú mà chưa yêu ai, cháu không tin”
“Chú cũng không tin cả mình nữa. Có người có biết bao nhiêu mối tình, nhưng chú thì chẳng có gì, khi đi làm có yêu chút đỉnh, nhưng sau đó chẳng còn nhớ nhau nữa. Nước mất nhà tan, vui thú gì mà yêu với đương”.
“Chú tính xem đã yêu bao nhiêu người và bây giờ còn nhớ người nào?”
“Trước kia cũng có quen một cô, cũng anh anh em em vài câu, nhưng chỉ khoảng vài tuần. Cô ấy có cho chú hôn một lần trên trán. Rồi nước mất, tình cũng mất luôn. Cô ấy đã quên hẵn chú rồi. Lâu quá rồi! Thế Mai có mối tình nào lâm ly kể cho chú nghe với”. “Chuyện của cháu cũng chẳng lâm ly gì. Lúc đó cháu mới lớn, có yêu một anh, rồi cũng như chú , khi mất nước, quá khổ, tâm trí đâu mà yêu ai.”
“Nghe nói sau bảy lăm, Mai không vượt biên, ở lại Việt Nam với mạ kiếm tiền thăm nuôi ba trong tù.”
“Lúc lộn xộn, trước ngày đầu hàng, mạ cháu bán được căn nhà. Hú vía, nếu trễ mấy ngày là bị chúng vô tịch thu rồi. Nhờ thế, mấy chị của cháu mới có tiền vượt biên, nhưng sau đó thì nghèo lắm. Cháu với mạ cháu phải ra đường bán quần áo cũ, bọn công an rượt chạy muốn chết.”
Kể đến đấy cô lại cười, thật hồn nhiên. Tôi biết cô đã hết bối rối rồi.
“Có lẽ cũng giống như chú, sau đó không nhớ nhau, không gặp nhau, không nghĩ đến nhau nữa. Thế là xù. Phải không?”
“Đâu có như chú gì cũng quên. Mấy năm sau đó, cháu biết được anh ấy vẫn ở Saigon, cháu đến thăm mấy lần”
“Gặp nhau mừng mừng tủi tủi, kể lễ tâm sự nhớ thương nhau. Chà, mùi dữ”. “Anh không biết cháu, ảnh không nhớ ra cháu, cháu cũng không nhắc nữa. Thật bực mình, người đâu mau quên”.
“Chỉ cần nhắc vài câu là anh ta nhớ ra ngay”.
“Gần cả chục năm, biết đâu anh ấy đã lập gia đình thì sao. Nên cháu chỉ đi ngang qua, nhìn cho đỡ nhớ mà không nói chuyện bao giờ. Đến khi dọ hỏi được biết là anh ấy còn độc thân thì tìm không ra. Anh ấy đã đi HO rồi.”
Rồi cô thở dài.
“Bây giờ cháu cũng còn bực. Tức muốn chết được.”
“Chú biết rồi, vì thế nên Mai giận đời, định đón một chiếc xe hoa nào đó, leo đại lên cho đỡ cô đơn chứ gì?”
“Cháu cũng muốn thế cho bỏ ghét, nhưng cháu yêu anh ấy…Rồi lại giận anh ấy, thấy cháu rõ ràng mà không thèm nhìn”.
“Để chú đoán có đúng không nghe. Đó là một chàng sĩ quan Đà Lạt đẹp trai, hào hoa, làm dưới quyền ông cụ. Anh ta gặp cô nữ sinh đẹp quá, hai người yêu nhau. Theo chú có lẽ anh chàng cũng ở tù mút mùa như bọn chú. Nhưng sau khi ra tù, nhờ gia đình khá giả, anh ta đi buôn loại mánh mung như thuốc Tây, trầm, vàng chẳng hạn. Nghề này mau giàu lắm. Anh ta đi xe Dream, hút thuốc có cán. Lúc đó Mai ngồi bên đường với mạ bán quần áo cũ nên mặc cảm không nhìn mặt. Còn anh ta vì lâu quá nên quên người đẹp thuở nào, vả lại khi có tiền thì bao người đẹp khác chạy theo, phải không?”
“Chú đoán đúng một phần. Anh ấy cũng đi cải tạo, nhưng sau về nghèo lắm. Bán vé số ở Saigon.”
“Chú cũng từng bán vé số, cứ nói tên, nói chỗ anh chàng hành nghề là chú biết ngay.” Cô cười bí mật.
“Đố chú biết đó. Anh ấy bán vé số chỗ nhà thờ Đức Bà, trước Bộ Xã Hội cũ”.
“Chú có ngồi đó, chú biết rõ. Có phải đại úy Minh, thiếu tá Tuấn, trung úy Đại…Cũng không phải luôn. Chú chịu. Nhưng những người đó đều có gia đình cả rồi mà.” Tôi nhìn đồng hồ.
“Bây giờ cho chú nói lý do chú đến gặp Mai. Hôm chú được mạ Mai nói về chuyện chú với Mai, chú rất bất ngờ và cảm động. Chú cám ơn lòng tốt của Mai đã để ý đến chú. Vì chú sắp đi xa nên nhân tiện chú nói vài điều mong Mai thông cảm. Về phần chú, thú thực chú có yêu Mai, tình yêu đâu từ trước kia bây giờ sống dậy, nhưng chú biết thân phận mình nên yên lặng. Rồi bất ngờ nghe đề nghị đó chú không hiểu vì sao. Chú thua sút mọi người về mọi phương diện, chú cháu mình cũng chưa hề chuyện trò, tình ý gì nhau và chú chắc Mai cũng không hề yêu chú. Vậy thì lý do nào? Xin Mai cho chú motä thời gian, hy vọng chúng ta tìm hiểu nhau rồi sẽ quyết định cũng không muộn. Tuần tới chú sẽ rời Virginia, chúc Mai ở lại tìm được một tình yêu, và lời chú khuyên Mai nên sống cho con tim mình, cho tương lai của mình. Ba mạ đâu có sống đời với mình, phải không? Phải có tình yêu trước khi quyết định tiến đến hôn nhân, chứ đừng nghe lời ba mạ, sau này hối cũng không kịp”. Nói xong tôi định đứng dậy. Cô ngước nhìn tôi vẽ giận dữ.
“Thật, xin lỗi chú chứ chú … ngu quá! Chú khuyên cháu nên lấy người mình yêu. Vậy chứ cháu yêu chú thì sao?”
“Trời đất! Làm gì có chuyện đó…Không lẽ chỉ mấy lần bưng nước trà mới chú mà lại yêu chú được?!”
“Chú nói thật không? Cháu cho chú biết điều này. Theo cháu. Đi ngã này.”
Cô đi trước, tôi rụt rè theo sau. Căn apartment chỉ có hai phòng, cô mở cửa một phòng đi vào.
“Vô đây”.
Tôi sợ quá, chỉ dám đứng ở cửa nhìn vào. Cô chỉ vào một tấm hình cở tấm bưu thiếp để trên bàn nhỏ cạnh đầu giường:
“Chú biết ai đây không? Sau tấm hình viết gì không?”
“Chú đâu thấy gì, xa quá. Hình như anh chàng nào đứng đấy. Cho chú xem kỹ, có thể chú nhận ra anh chàng bán vé số tốt phước được lọt vào mắt xanh của Mai”.
Cô gỡ tấm hình trong khung ra, đưa tôi.
“Nhìn kỹ xem là ai”.
Tôi không tin ở mắt mình. Đó là hình tôi, chụp hôm tốt nghiệp trước trường Hành Chánh, sau tấm hình vẫn còn rõ câu hát nhạc vàng “Anh hứa yêu em suốt một đời”. Tấm hình tôi tặng cô cách đây hơn hai mươi năm cô vẫn còn giữ, hình cô tặng tôi thì tôi vất nơi nào, lúc nào không rõ.
“Oái!hình chú đây mà!”
Cô ngồi trên giường, xây lưng về phía tôi, hai chân co lên, trên đầu gối là cái gối. Cô úp mặt vào gối yên lặng. Vai cô rung lên nhè nhẹ. Cô khóc, có lẽ vì giận tôi vô tình. “Cho chú xin lỗi. Chú vẫn nhớ chuyện cũ, nhưng tưởng Mai đã quên. Sao không nhắc, một câu thôi là chú hiểu ra ngay”.
“Đâu có dịp nào. Hôm chào cờ ở Eden cũng bỏ đi…Mà biết còn nhớ người ta không hay đã yêu ai rồi?”
“Chú nhớ chứ, nhưng chú mặc cảm, đâu có dám mơ đến giây phút này. Hỏi thực Mai, rủi chú bảo đã yêu ai rồi thì sao?”
“Mặc kệ…Người ta tìm muốn chết!”
Yên lặng một lát.
“Hôm nào đi?”
“Bây giờ có họa là điên mới bỏ đi. Trúng số độc đắc chú cũng không mừng bằng. Chú không biết nói gì để cám ơn Mai. Chú..chú…”
Cô quay lại, mắt còn đỏ hoe. Cô chỉ cái khung hình còn nằm trên giường.
“Chú, chú hoài. Bộ ai ăn thịt sao cứ đứng ngoài đó. Bỏ hình lại vào khung, để lại trên bàn cho em, rồi ngồi xuống đây, em hỏi. Lúc ở tù ai thăm nuôi anh?”
“Có thăm chứ không có nuôi. Mẹ anh nghèo quá, các anh của anh cũng ở tù cả”. “Em cũng đoán vậy nên cố tìm mà không biết anh ở trại nào, gia đình ở đâu để thăm nuôi. Em lo quá!”
Rồi cô lại cười, nhưng nước mắt chảy dài trên má.
Đây là chuyện cổ tích đẹp nhất trong những ngày buồn thảm nhất của nước Việt Nam Cộng Hòa. Cũng còn nhiều chuyện cổ tích sáng ngời hơn, đẹp đẻ hơn, ai cũng biết nhưng không bao giờ kể ra. Đó là quả tim của những bà mẹ, những bà vợ, những người con dành trọn cho con, cho chồng, cho cha đang ngắc ngoải trong ngục tù Cộng Sản.
Nhưng chuyện cổ tích nào cũng phải có tiên, Phật xuống hóa phép mầu cho những người hiếu hạnh , chung thủy được viên tròn hạnh phúc. Ở đây mấy cô tiên là chị của vợ tôi. Các cô vượt biên, học thành bác sĩ, tiền vô như nước. Thương cô em ở lại cùng mẹ nuôi cha, các cô bao thầu hết mọi chi phí đám cưới – dĩ nhiên tôi cũng chẳng có xu teng nào – lại còn giúp em một cơ sở nhỏ làm ăn…Hôm đám cưới, mấy chị em mừng rỡ, tíu tít chuyện trò có khi quên cả chàng rễ.
Vợ chồng tôi phải đi từng bàn tiệc chào mừng quan khách, bà con, bạn bè. Mỗi nơi, cô dâu chú rễ phải uống với khách một ly rượu nhỏ. Vợ tôi chỉ thấm môi nên tôi phải uống hết. Nhiều ly nhỏ thành ly cối. Tôi không biết uống rượu nên say mềm. Bố vợ tôi cũng say. Oâng say vì vui nên nói hơi nhiều. Khi khách khứa đã về cả rồi, ông đến bên cạnh, vỗ vai tôi lè nhè.
“Cụ mi rứa là tốt phước. Không có ai chung tình như con út Mai của moa. Cụ mi biết không? Hắn hành vợ chồng moa đi tìm cụ mi chết xác luôn. Bốn năm đi bốn nơi. Nam Cali tìm cụ mi, Bắc Cali tìm cụ mi, xuống Texas tìm cụ mi, qua đây tìm cụ mi. Chỗ mô cũng tham gia cộng đồng, cũng hội họp. Hắn nói moa có hứa với cụ mi rồi thì phải tìm cụ mi cho hắn. Nhưng moa có nhớ hứa hẹn chi mô. Mà vợ chồng moa không biết cụ mi là ai, mặt mũi ra răng. Tấm hình, mấy chục năm, có ai trẻ mãi không già! Rứa mới chết chớ. Rứa là gặp đứa mô tuổi bằng cụ mi cũng rước về nhà cho con nhỏ ngó mặt. Hú vía, hắn còn đòi đi Canada và Úc tìm cụ mi nữa đó. Mà moa nói có ai đi HO qua đó mô… Đáng lẽ tôi còn dài dòng, nhưng tạm chấm hết ở đây vì tôi nghe vợ tôi nôn oẹ, ói mữa gì trong phòng tắm. “Trăng mật cho cố, bây giờ ói mật xanh mật vàng. Rõ khổ!”.