Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-27

07272015-the-secret-of-the-communi-leaders.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

File photo

Ông Phùng Quang Thanh cuối cùng đã xuất hiện trong một buổi lễ tại Bộ quốc phòng vào tối ngày 27/7. Việc này xóa đi đồn đoán là ông đã bị chết vì bệnh tật hay bị ám sát. Tuy nhiên người ta vẫn đặt câu hỏi là tại sao những chuyện bình thường như đi chữa bệnh lại được truyền thông nhà nước Việt nam loan truyền một cách nhỏ giọt và không có hình ảnh nào trong thời đại của phim ảnh kỹ thuật số?

Và không chỉ là hành tung của ông Phùng Quang Thanh, mà đời sống của nhiều lãnh đạo trong thế giới cộng sản xưa và nay cũng thường được bao bọc bởi một lớp màn bí ẩn. Tại sao như vậy?

Sức khỏe lãnh tụ là bí mật quốc gia

Luật sư Nguyễn Văn Đài sống ở Hà nội, nhận xét về cách thức công bố không rõ ràng về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay:

Đó gọi là di sản hay cái gì đó từ xa xưa để lại. Tức là từ sức khỏe, từ đời sống cá nhân của những người cộng sản luôn luôn được giấu kín và bưng bít. Và tất cả những thông tin mà họ đưa ra nó phải theo ý đồ của ban tư tưởng trung ương, bây giờ là ban tuyên giáo. Họ không thể công khai cuộc sống của họ cho người dân biết được. Đấy coi như là bí mật quốc gia, ngày xưa xem như là bí mật quốc gia, sức khỏe hay là những hoạt động của các vị lãnh đạo của họ, qui định từ cấp nào, bộ chính trị hay là cấp nào đấy từ trung ương trở lên là thuộc hàng bí mật.”

Ngoài ra ông cũng nêu lên một giả thuyết về sự cạnh tranh quyền lực, theo đó các phe phái giấu diếm thông tin để chờ thời cơ. Ông lấy ví dụ là chuyện Đại tướng Lê Đức Anh đã từng biến mất một khoảng thời gian dài trước khi xuất hiện trở lại vào thời điểm mà các đối thủ chính trị của ông đã bị loại trừ.

Nhà văn Thùy Linh, sống ở Hà nội cho rằng con đường đi đến quyền lực của các viên chức cộng sản không bao giờ là chuyện minh bạch cho nên tất cả những gì bao quanh cuộc sống của họ cũng bí ẩn.

“Với những vị trí, những chức vụ trong đảng cộng sản, nó không có một sự minh bạch nào cả cho nên là tất cả những gì đi theo nó đều được phủ lên một cái màn rất bí ẩn. Cái ghế ngồi của từng vị trí không được chọn lựa một cách minh bạch. Những gì kèm theo vị trí đó, như cuộc sống cá nhân đều phải che phủ bởi sự bí ẩn.”

Sự bí ẩn là bản chất của chế độ cộng sản

Nhà bất đồng chính kiến Tiến sĩ Hà Sĩ Phu hiện sống ở Đà Lạt thì cho rằng chuyện không nói lên sự thật là bản chất của chế độ:

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015. Ảnh: Việt Dũng/TT

Về mặt vĩ mô mà nói thì cộng sản đương nhiên là phải nói dối, như lời của ông Gorbachev, ông ấy nói cộng sản đương nhiên phải nói dối. Đấy là cái tổng thể của cái chủ nghĩa. Còn riêng cái chuyện các lãnh tụ tại sao lại phải giữ bí mật, cái gì cũng bí mật, từ ông Nguyễn Ái Quốc trở đi, thì cái đó là họ phải bịp dân thôi, phải tạo ra cái hào quang. Cái đường đi nước bước của họ để vì đảng là chính. Quần chúng nhân dân mà biết thì sẽ không được, thế cho nên họ phải giấu.”

Về cái hào quang của người cộng sản mà Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nhắc tới, người ta đã từng nói nhiều đến việc thần thánh hóa các lãnh tụ của họ. Từ vị lãnh tụ đầu tiên thiết lập nhà nước cộng sản là Lenin ở Liên xô cũ trở đi. Cách đây khá lâu tờ báo An ninh thế giới của cơ quan công an tại Việt nam có đưa tin về một cơ quan lưu giữ và nghiên cứu bộ não của ông Lenin. Theo báo này thì về nguyên tắc Lenin là người xuất chúng nhất của nhân loại. Tại Triều tiên thì những câu chuyện huyền thoại về gia đình của lãnh tụ Kim Nhật Thành được tuyên truyền rất rộng rãi. Còn tại Việt nam thì ngay trong thế kỷ 21 này, việc tôn vinh ông Hồ Chí Minh là một vị thánh cũng rất phổ biến.

Các lãnh tụ độc tài và sức khỏe

Người ta cho rằng với thói quen dùng hình ảnh mạnh mẽ và thánh thần như thế, các lãnh tụ cộng sản, cũng như các vị đứng đầu các thể chế độc tài đều rất e ngại chuyện đưa hình ảnh bị bệnh tật của mình ra công chúng. Nhà báo Đoan Trang nhận xét rằng:

Tất cả các lãnh tụ ở các nước độc tài đều sợ bị dân chúng thấy là mình ốm yếu. Hoặc là sợ lộ những hình ảnh ốm yếu của mình trước dân chúng. Tức là họ sợ lộ ra là mình yếu thì không còn đủ sức để lãnh đạo dân chúng nữa, dân chúng sẽ lật đổ mình.”

Điều này cũng từng được một tác giả Mỹ là Giáo sư Bruce Bueno de Mesquita nhận xét trong một bài viết cách đây khá lâu. Trong bài viết về chuyện các nhà lãnh đạo độc tài thường hay giữ kín bệnh tật của mình được nhà báo Thủy Trúc dịch ra tiếng Việt cách đây 3 năm, ông Mesquita liệt kê một loạt những vị lãnh tụ độc tài từ thế giới cộng sản cũ cho đến các vị nắm độc quyền cai trị quốc gia ở Mỹ Latin, châu Phi, châu Á. Trong danh sách đó người ta thấy cả các vị đương còn sống như ông Tập Cận Bình bên Trung quốc, hay ông Fidel Castro bên Cuba.

Ông Mesquita cho là trong xã hội độc tài luôn có mầm mống một cuộc nổi dậy, cho nên nếu tin tức về sức khỏe suy yếu của lãnh tụ được loan truyền thì dễ có nguy cơ loạn lạc. Ông dẫn chứng chuyện trong một thời gian dài vào thập niên 1990 ở Trung quốc người ta không biết ông Đặng Tiểu Bình còn sống hay đã chết. Trước đó nữa, người ta cũng không biết ông Mao Trạch Đông sức khỏe như thế nào trước khi mất. Và tất cả những việc đó là nhằm để giữ ổn định cho đảng và nhà nước cộng sản Trung quốc. Ở Việt nam người ta cũng cho rằng hồ sơ sức khỏe của ông Hồ Chí Minh cũng bị giấu đi trước khi ông qua đời.

Song song với chuyện giấu giếm bệnh tật, các nhà lãng đạo độc tài cũng thường được cho là hay chứng minh sức mạnh thể lực cường tráng của mình như ông Putin hay biểu diễn những trò thể thao, còn ông Mao Trạch Đông, người sáng lập ra nhà nước cộng sản Trung quốc đã bơi qua sông Trường Giang vào tuổi 73 để chứng minh thể lực khỏe mạnh của mình.

Với sự xuất hiện của truyền thông điện tử, việc giữ sự bí ẩn của các lãnh tụ cộng sản trở nên khó hơn. Theo Luật sư Nguyễn Văn Đài thì sự minh bạch của những người cầm quyền ở Việt nam có khá hơn lúc trước.

Nhà văn Thùy Linh thì không đồng ý như thế vì bà cho rằng chủ nghĩa cộng sản luôn là tư tưởng lạc hậu so với thời đại. Và bà nói thêm là bà cũng không để ý đến câu chuyện vừa qua của ông Phùng Quang Thanh, chỉ khi nào các vị lãnh tụ Việt nam được bầu lên một cách minh bạch thì bà mới để ý đến.

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề  “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”.

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” (a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội  (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo,  nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire (bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010.

Đoàn Thanh Liêm

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát  mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là :  Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B –  Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông  đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng”          ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 :  Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

Vì yêu …

Vì yêu …

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

nguoi-yeu

Khi làm việc gì, ta thường được thúc đẩy bởi một động cơ nào đó. Động cơ ấy thêm sức cho ta, giúp ta được mạnh mẽ để thực thi và hoàn thành những dự tính của mình. Hơn bất kỳ một động cơ nào khác, tình yêu – vốn là một sự huyền nhiệm khôn tả – có một sức cuốn hút và khiến người ta trở nên “vô địch” trong những hành vi của mình. Chẳng ai biết tình yêu là gì, không ai có thể định nghĩa được tình yêu. Người ta chỉ có thể nhận ra nó như một cái gì đó từ một nơi bí ẩn xuất hiện vào lúc không ngờ làm điên đảo con người, làm mất hết lý trí, làm người ta chẳng hiểu nổi được mình. Đã có biết bao giai thoại về những câu chuyện tình lâm ly bi đát, hạnh phúc có, đau buồn có. Và cứ hệt như một điều được mọi người công nhận, áng thơ nào không có chút tình, áng thơ ấy chẳng có gì hay; câu chuyện nào chẳng có chữ yêu, câu chuyện ấy chẳng đủ sức làm co thắt lòng người. Vốn dĩ tình yêu đã là một điều khó hiểu trong số những gì khó hiểu nhất, càng suy nghĩ về nó, đào sâu, nghiên cứu về nó, ta lại càng như rơi vào một mê cung với bao điều khiến ta phải tròn xoe đôi mắt.

Vì yêu, ta sẵn sàng thay đổi chính mình. Một lối sống, một cung cách hành xử bị cho là thâm căn cố đế của ta, sẽ chẳng bao giờ ta chịu thay đổi cho đến khi ta yêu. Tình yêu ta dành cho ai đó sẽ khiến ta vui mừng và hớn hở lột xác khỏi con người cũ của mình. Ta bắt đầu chăm chút hơn về diện mạo. Ta tự nhận thấy mình phải đẹp hơn trong mắt người khác. Ta bỗng dưng sống có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn. Ta muốn mình phải giỏi hơn. Ta cũng có động lực phải vượt qua tất cả những khiếm khuyết của mình để làm hài lòng người mình yêu, để “lấy điểm” trong mắt họ. Ta bắt đầu nghĩ đến tương lai. Suy nghĩ của ta cũng trở nên chín chắn cách lạ thường… Tất cả những điều đó diễn tả một niềm vui lớn lao trào ứ trong con tim của ta. Phải, có một hạnh phúc nào đấy không tên đang khuấy động bên trong con người ta, khiến ta thấy trời đất như đổi khác, trời đông lạnh lẽo bỗng hóa nên nắng xuân ấm áp chan hòa. Yêu một người là muốn gắn kết đời mình với người ấy và một cách tự nhiên, ta tự nhủ mình phải gọt dũa mình để hai bên có thể hòa hợp với nhau. Bởi thế, nếu ai cho rằng mình yêu mà không có chút biến đổi nào, người ấy chưa thực sự yêu.

Vì yêu, ta dường như có đủ sức mạnh để nếm trải tất cả những gian lao thử thách. Cái kỳ lạ của tình yêu nằm ở chỗ, nó có thể khiến người ta hạnh phúc khi phải hy sinh. Chẳng ai thích hy sinh, vì hy sinh có nghĩa là chịu thiệt thòi, mất mát. Nhưng hy sinh trong tình yêu lại khiến cho người ta thấy hạnh phúc và hân hoan. Con đường xa, lầy lội vì cơn mưa lớn có là gì đối với hai người yêu nhau. Núi cao sông dài có là gì khi con tim đã trao nhau. Nghìn năm chờ đợi có là chi khi lòng ta đã tìm thấy chỗ đáp. Tình yêu là thế, nó làm cho người ta sẵn sàng bỏ đi cái tôi, cái ngã, cái cao ngạo của mình mà không hề cảm thấy quá khó khăn hay vất vã. Bởi thế, ta sẵn sàng bị chê là “sến” khi nói những lời ngọt ngào dành cho nhau. Ta chẳng ngại xấu hổ khi tỏ tình với nhau. Ta cũng nhanh chóng cúi mình nói lời xin lỗi, dù có khi ta chẳng có  lỗi gì. Tình yêu gắn liền với một chút nhịn, một chút hy sinh, một chút từ bỏ. Có lẽ vì thế mà hoa hồng có gai, sô-cô-la vừa ngọt lại vừa đắng. Và chính tình yêu cũng được lớn lên nhờ những điều ấy. Không có một tình yêu nguyên vẹn nào sẵn tồn tại từ trời rơi xuống. Tình yêu cũng hệt như một ngọn đèn, biết chăm chút cho nó thì nó cháy, bỏ bê nó thì nó lụi tàn. Mà để có thể chăm chút cho nó, ta phải hy sinh nhiều lắm!

Người ta thường nói, khi yêu, ta phải cố gắng cố gắng để có được nhau trong cuộc đời. Điều đó đúng lắm! Nhưng sự huyền nhiệm của tình yêu vốn dĩ không có nguyên tắc: có đôi khi, chính vì yêu mà ta phải mạnh dạn để cắt đứt, để chia tay. Yêu nhau và đến được với nhau là hai chuyện khác nhau. Ta luôn mong muốn chúng là một, nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng thỏa đáp mong muốn của ta. Yêu là tiếng nói của con tim, còn việc san sẻ cả cuộc đời với nhau lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Lý trí không thể điều khiển được con tim, nó không thể cấm cản hành vi của con tim, nhưng nó lại có đôi mắt sáng để rọi vào từng cảm xúc của con tim. Biết là sẽ đau, rất đau, nhưng ta đành phải chấp nhận để một cuộc tình dang dở có một cái kết buồn. Ta làm thế, không phải vì ta không còn yêu, nhưng chính vì chữ yêu mới khiến ta đi đến quyết định ấy. Vì sao ư? Vì yêu thì mong muốn điều tốt đẹp cho người mình yêu, là xem người mình yêu hơn cả mình, chứ không phải tìm thỏa mãn cho chính mình. Chia tay vì một điều tốt đẹp quý giá hơn, đúng đắn hơn là một sự chia tay rất cao cả. Nó đòi hỏi một nghị lực lớn, một sự trưởng thành và cả một tình yêu – sự hy sinh vĩ đại.

Còn có biết bao điều phải nói về tình yêu! Người ta đã viết về nó, nói về nó trong suốt cả một lịch sử dài rồi mà còn chưa diễn tả đủ. Mãi mãi, tình yêu luôn là cái khiến ta bận tâm, dù ta có muốn hay không. Ai đã yêu thì sẽ rõ: nó còn hơn những gì có thể được nói hay biểu lộ ra. Nó làm biến đổi người khác, nó khiến người khác thích hy sinh, nó giúp người khác can đảm để làm điều mà họ chưa bao giờ muốn làm. Nó mang đến hạnh phúc cho người ta, nhưng nó cũng là nhân tố khiến người ta đau đến vô cùng. Nó đến như một kẻ trộm, chẳng ai chờ ai mong, nhưng nó cứ ở lì trong trái tim ta, chẳng chịu buông rời. Thế giới này trở nên phức tạp cũng vì chữ yêu, nhưng nó cũng trở nên phong phú nhờ chữ yêu.

Vì yêu…

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

Dường như người Nhật Bản rất thấm nhuần và áp dụng giáo lý đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày, cho nên họ quí trọng xem con người đều bình đẳng vì cùng có Phật tánh như nhau, chứ không dựa vào dáng vẻ giàu nghèo bên ngoài, thường xuyên làm chuyện phải có lợi ích cho người khác, cũng như không dám trộm cắp, hại người, để được nghiệp quả tốt.

Chuyện thứ nhất: Trung thực

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ, túi xách.

Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Chuyện thứ hai: Không ồn nơi công cộng

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.

Chuyện thứ ba: Nhân bản

Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5 – 10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Chuyện thứ tư: Bình đẳng

Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức, cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.

Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày ở Nhật, bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Chuyện thứ 5: Nội trợ là một nghề.

Ở Nhật Bản, hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các tiêu chuẩn y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.

Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

Khi báo chí chỉ là công cụ của nhà cầm quyền

Khi báo chí chỉ là công cụ của nhà cầm quyền

Song Chi.

RFA

Giữa muôn vàn tin tức, sự kiện tiêu cực có, tích cực có (mà phần lớn là tiêu cực) xảy ra trong đời sống xã hội VN thời gian gần đây, thông tin về tinh trạng sức khỏe của ông Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong những thông tin khiến người Việt trong và ngoài nước hết sức quan tâm.
Sau hơn một tháng “biến mất” một cách bí ẩn mặc cho mọi lời đồn đoán, đến ngày hôm qua, 25.7, ông Đại tướng được báo chí VN loan tin đã về đến Hà Nội từ Paris sau chuyến đi điều trị bệnh tại Pháp. Dù báo chí đã đưa tin, và báo Tuổi Trẻ còn có được một tấm hình quý hiếm chụp từ xa hình dáng một nhân vật trông hao hao ông Phùng Quang Thanh tại sân bay Nội Bài, nhưng không vì thế mà dư luận bớt nghi ngờ. Bởi nếu thực sự ông Phùng Quang Thanh còn sống và khỏe mạnh, chỉ cần một động tác đơn giản là để báo chí chụp cận mặt ông ấy hoặc để cho ông ấy xuất hiện ít phút trên truyền hình, nhà cầm quyền cũng không làm được.
Nhưng khác với nhiều người cho rằng dư luận đã thắng thế và nhà cầm quyền hoàn toàn bị động, lúng túng, vụng về trong suốt màn kịch về sự “mất tích và xuất hiện cũng như không” của ông Phùng Quang Thanh, người viết bài này lại nghĩ khác.
Đúng là xung quanh sự việc của ông Đại tướng, báo chí “lề dân” và các trang mạng xã hội tha hồ thoải mái, nhanh nhạy đưa tin, bình luận, săm soi trong lúc báo “lề đảng” bị trói tay, đưa thông tin gì, bao giờ đưa, đưa như thế nào…hoàn toàn phụ thuộc vào sự cho phép của đảng và nhà nước. Và đúng là nhà cầm quyền lúng túng trước cơn bão dư luận, cứ phải biện minh, bào chữa, và hễ đưa ra thông tin gì để bào chữa thì bị dư luận cầm kính lúp soi, vạch ra đủ thứ phi lý, mâu thuẫn, sai sót, khiến người dân càng nghi ngờ thêm. Nhưng cuối cùng đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn dắt mũi được dư luận và đạt được mục đích của họ, đó là vẫn không ai biết được thực sự chuyện gì đã xảy ra cho ông Phùng Quang Thanh. Ông có thực sự phải vào bệnh viện Georges Pompidou ở Paris để trị bệnh không, và nếu có thì có đúng là bệnh về phổi, ông còn sống hay đã chết, sinh mạng chính trị của ông sắp tới sẽ ra sao cũng như nguyên nhân thực sự vì sao nhà cầm quyền phải ra sức giấu diếm, che chắn đằng sau câu chuyện này là gì.
Cũng giống như trước kia, với trưởng hợp của ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương, phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Cho dù báo chí “lề dân” có phanh phui được việc ông Nguyễn Bá Thanh đang điều trị ung thư tại một bệnh viện ở Mỹ, có cả hình, thậm chí còn có thông tin ông bị đầu độc phóng xạ, buộc nhà cầm quyền phải lên tiếng, hay các trang mạng biết trước cả thông tin ông sẽ được đưa về VN ngày giờ nào…Nhưng tóm lại, vẫn không ai được nhìn hay nghe thấy hình, tiếng trực tiếp từ ông Nguyễn Bá Thanh kể từ lúc ông bị bệnh, dù ở nước ngoài hay lúc đã về nước, ông có thực sự chết vì bệnh rối loạn sinh tủy như tin chính thức cho hay, và chết vào ngày giờ nào (vì có người còn đặt nghi vấn trên chiếc máy bay từ Mỹ về có một vật rất giống cái hòm)…
Nghĩa là mặc dù nhà cầm quyền bị động, phải vất vả hết phủ nhận, chối cãi đến biện minh, nhưng cuối cùng, kẻ bị dắt mũi vẫn là nhân dân.
Cũng may mà thời bây giờ có internet, có tai mắt của người dân ở khắp nơi trong và ngoài nước mà đảng “ta” còn dắt mũi được dư luận như vậy, huống gì trước kia khi chưa có internet.
Có thể có những người cho rằng chuyện ông Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết, chết vì lý do gì thì có liên can gì đến ai, thêm hay bớt một quan chức, lại là một ông quan có tiếng thân Tàu thì có gì là quan trọng. Khi cả một hệ thống độc đảng độc tài “hèn với giặc ác với dân” vẫn còn tồn tại thì việc sống hay chết, lên hay xuống của một cá nhân cũng chẳng thay đổi được gì. Có thể nhưng lại cũng không hẳn là thế. Bởi trong tình hình hiện nay, mỗi một biến động xảy ra cho một cá nhân thuộc hàng cao cấp trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN đều cho thấy tình hình nội bộ bên trong đang rối ren như tơ vò, đấu đá lẫn nhau quyết liệt để tranh giành quyền lực cũng như hé lộ những bước đi chập chờn, nghiêng ngả của họ trong sự lựa chọn giữa ngã ba đường quốc tế, có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước và dân tộc, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của từng người dân VN.
Quan trọng không kém, người dân cần phải biết rằng mình có quyền được biết sự thật mọi chuyện xảy ra cho đất nước và trong xã hội. Từ nguyên nhân vì sao giá xăng dầu tăng, tiền thuế của nhân dân đóng góp đi đâu, vì sao, cơ chế như thế nào mà một tay quan chức vụ không cao như Giang Kim Đạt (nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty TNHH MTV vận tải Viễn Dương Vinashin, thuộc Tập đoàn Vinashin) mà còn có thể tham nhũng đến gần 19 triệu USD và sẽ bị trừng phạt ra sao…cho đến tình trạng sức khỏe của một vị tướng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng…tât cả đều phải minh bạch. Bởi vì chính nhân dân chứ không phải cái đảng cộng sản mới là chủ nhân thực sự của đất nước này, chính người dân phải đóng thuế nuôi cái bộ máy cầm quyền này.
Sự việc thứ hai, cũng thu hút sự quan tâm của dư luận, là vụ thảm sát khiến 6 người trong một gia đình chết thảm tại Bình Phước. Hai sự việc chẳng liên quan gì đến nhau, và lý do quan tâm của người dân vì vậy cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng lại cho thấy những điểm chung mà hệ quả là từ một chế độ độc tài, không có một nền báo chí tự do, dân chủ. Đó là báo chí chỉ được đưa tin theo những gì mà nhà nước cho phép. Trong vụ sức khỏe của Đại tướng Phùng Quang Thanh là nguồn tin từ cấp nhà nước, còn trong vụ án mạng tại Bình Phước là tin tức do công an cung cấp.
Ở các nước tự do, dân chủ trong khi đang điều trị bệnh hoặc tệ nhất, sau khi điều trị xong trở về, một nhân vật cỡ Bộ trưởng Bộ quốc phòng như ông Thanh phải có “nghĩa vụ” xuất hiện trước truyền thông bằng cách này cách khác đề thông báo cho nhân dân an tâm rằng mình vẫn còn sống, vẫn minh mẫn, vẫn có thể tiếp tục làm việc. Còn trong những vụ án, đặc biệt án gây chấn động dư luận như vụ án tại Bình Phước, cảnh sát phải có nghĩa vụ họp báo ngay tức khắc để thông tin chính xác cho báo chí và sau đó thường xuyên cập nhật tin tức, chứ không phải đợi mấy ngày sau mới họp báo rồi còn trách báo chí đưa tin không đúng điểm này điểm kia.
Cả hai sự việc đều cho thấy lòng tin của người dân đối với nhà cầm quyền đã sút giảm một cách nghiêm trọng, trừ một thiểu số vẫn cứ nhà nước nói gì là nghe là tin nấy, bây giờ đối với đa số người VN nhà nước nói gì cũng không tin hoặc chỉ tin một phần nào. Trong câu chuyện về ông Phùng Quang Thanh, người dân hoàn toàn có lý do để nghi ngở bởi mới trước đó không lâu, nhà cầm quyền cũng tìm cách che chắn xung quanh vấn đề sức khỏe của một ông Thanh khác, ông Nguyễn Bá Thanh. Và lần này nhà cầm quyền cũng lại có thái độ loanh quanh dấu đầu hở đuôi, vụng về không khác. Còn trong vụ án Bình Phước, người dân nghi ngờ vì sao phá án quá nhanh, có bị tác động gì từ sức ép của dư luận không, vì sao có quá nhiều điểm còn nghi vấn, vì sao không cho thực nghiệm lại hiện trường… Nhưng lý do trên hết vẫn là vì từ trước tới nay đã có quá nhiều vụ án oan sai, người bị bắt thừa nhận tội ác dù không thực hiện chỉ vì bị nhục hình, bị bức cung.
Sự mất lòng tin này là hậu quả mà nhà cầm quyền xứng đáng nhận lãnh, bởi đã hàng triệu triệu lần dối trá bưng bít, bóp méo sự thật với nhân dân.
Trong một chế độ độc tài, số phận của mọi người dân-từ những thân phận tầm thường như những nghi phạm trong vụ án Bình Phước cho tới một nhân vật chính khách cấp cao như ông Phùng Quang Thanh đều hết sức mong manh. Càng leo cao càng bấp bênh. Đến lúc đảng không cần nữa thì cho sống hay chết, lúc nào mới được chết, cho thân bại danh liệt theo kiểu nào là tùy đảng. Số phận của ông Phùng Quang Thanh và phản ứng của số đông dân chúng trong suốt thời gian qua may ra có thể khiến cho những nhân vật khác trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN phải suy nghĩ, rằng trung với đảng có ngày cũng bị chính các đồng chí của mình hãm hại, mà dân thì oán ghét. Chi bằng trung với dân với nước, khi còn tại vị cố gắng sống cho tử tế, tìm cách thoát khỏi đảng hoặc ít nhất, tìm cách lái đảng đi theo con đường dân chủ hóa, thoát Trung, gần với các nước dân chủ để cứu nước, thì còn được lòng dân. Có dân bên cạnh lo gì không làm được tất cả.
Không phải đợi đến bây giờ, từ những vụ việc như thông tin về tình trạng sức khỏe và sinh mệnh chính trị của Đại tướng Phùng Quang Thanh hay vụ án Bình Phước, mới cho thấy sự cần thiết phải có một nền báo chí tự do dân chủ. Không có một nền báo chí tự do, độc lập, nhà cầm quyền còn dắt mũi người dân dài dài, đảng còn thao túng đất nước dài dài, từ cái thuở xa xưa xung quanh nhân thân, lý lịch, cái chết của ông Hồ Chí Minh cho tới tận bây giờ. Không có báo chí tự do dân chủ, một vụ án hình sự như Bình Phước, khó mà biết được liệu có oan sai hay ít nhất, có bỏ lọt tột phạm, nguyên nhân vụ án có thực là vì ghen tuông cộng với tiền bạc hay có ai đứng đẳng sau thuê giết người vì lý do khác…; cho tới những “nghi án chính trị” như kiểu Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh, có thực là những vụ triệt hạ lẫn nhau bằng đủ mọi cách mờ ám v.v…

Tất nhiên, có một nền báo chí tự do không đủ, phải có một thể chế chính trị đa đảng, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực trong tay một đảng lãnh đạo duy nhất.

Và cuối cùng về phía người dân, bài học nhỏ cho những ai còn một lòng một dạ tin vào nhà cầm quyền, vào hệ thống báo chí của đảng, đó là khi phải sống trong một chế độ độc tài toàn trị ở đó luật pháp hay báo chí đều nằm trong tay nhà cầm quyền, người ta phải tập cách “đọc giữa hai dòng chữ” từ những gì mà nhà nước nói, báo chí của đảng nói, tập phân tích, phán đoán sự việc bằng cái đầu của mình, thay vì cứ nhất nhất tin theo.

Những câu hỏi về ông Phùng Quang Thanh

Những câu hỏi về ông Phùng Quang Thanh

Nguyễn An Dân

27-07-2015

Ông Phùng Quang Thanh có xuống sân bay Nội Bài ?

Hơn một tháng kể từ khi ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam- Phùng Quang Thanh “mất tích” trước công chúng và truyền thông, sáng ngày 25/07/2015, theo báo đảng thì “Ông Thanh đã về đến sân bay Nội Bài và khỏe mạnh, vẫn giữ tác phong đĩnh đạc và tươi cười vẫy tay chào mọi người khi bước xuống cầu thang máy bay”.

Trong suốt thời kỳ ông Thanh “biến mất”, theo thông báo chính thức của Ban bảo vệ sức khỏe trung ương thì ông Thanh “đi Pháp từ ngày 24/06/2015 để chữa bệnh về phổi chứ không đi công vụ”.

Trong khi những lời diễn tả rất sinh động và gợi nên niềm tin trong lòng độc giả về việc trở về của ông Thanh tại sân bay thì phần hình ảnh lại trái ngược. Báo chí khi đưa hình đều chỉ đăng như nhau một hình ảnh “một người được gọi là Ông Phùng Quang Thanh” chụp từ xa, không rõ nét, của phóng viên báo Tuổi Trẻ đang chuẩn bị lên xe ở khu vực sân bay Nội Bài.

Cùng ngày, Báo Quân Đội Nhân Dân và website Bộ Quốc Phòng Việt Nam, đã không hề đưa tin gì về việc ông Thanh khỏe và đã về đến Việt Nam, hay là sức khỏe của ông đứng đầu Bộ Quốc Phòng không quan trọng đối với 2 cơ quan thông tin này, nên họ không cử phóng viên ra sân bay làm tin ?

Ngày 26/07/2015, một số báo chí Việt Nam có đưa tin tiếp là nhiều lãnh đạo đảng, chính phủ như ông Nguyễn Phú Trọng, Ông Trương Tấn Sang, Ông Nguyễn Xuân Phúc.. đến gặp và trò chuyện với ông Phùng Quang Thanh nhưng cũng không có hình ảnh nào khi các ông này gặp nhau.

Dư luận đang có nhiều đồn đoán về sự mất đoàn kết, chia rẻ giữa đảng và chính phủ, giữa các quan chức với nhau, đảng đã luôn nói “ đó là sự tuyên truyền sai trái của thế lực thù địch”. Như vậy một vài tấm hình các quan chức thăm viếng nhau sau hơn một tháng xa cách, sẽ là bằng chứng quan trọng thể hiện sự đoàn kết mà đảng luôn nhấn mạnh, tại sao không thực hiện và đưa lên cho công chúng xem để “phản bác thông tin sai trái của các thế lực thù địch” ?

Vì sao ông Thanh “biến mất

Bản tin chính thức cuối cùng về ông Thanh là trên báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 20/6/2015 đã loan tin là “ông Thanh thăm và làm việc với Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp hôm 19/6, kèm theo ảnh chụp. Sau đó là một sự vắng bóng hoàn toàn, thậm chí kết quả ông Thanh đi Pháp thế nào, cũng hoàn toàn không có báo chí nào nhắc đến. Tại sao lại thông tin về chuyến công du và hợp tác này bị “lờ đi” ?

Đến khi dư luận bắt đầu rộ lên về việc ông Phùng Quang Thanh “biến mất” ban bảo vệ sức khỏe trung ương phát biểu, mà phần lớn “phát ngôn chính thức” là ông bác sĩ Phạm Gia Khải. Ông Khải đã nói Ông Thanh đi Pháp trị bệnh từ ngày 24/6/2015 sau khi chúng tôi hội chẩn, chứ không có đi Pháp vì công vụ.

Tin từ báo Quân Đội Nhân Dân và ông Phạm Gia Khải đều được coi là “chính thức”, có lẽ nào ông Thanh ngày 19/06/2015 bắt tay Bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, ngày 20/06/2015 trở về Việt Nam, và sau 2 ngày “hội chẩn” thì ngày 24/06/2015 lại sang Pháp trị bệnh ? Vì sao ông Thanh đi Pháp công du giữa tháng 6/2015 mà ông Khải và truyền thông Việt Nam lại phủ nhận và “lờ đi” ?

“Thông tin chính thức” mà còn đá nhau như vậy nên đã làm rộ lên các thông tin đồn đoán, nào là Ông Thanh bị ám sát khi còn ở Pháp, cùng với các thông tin khác như bị bắt giam ở Việt Nam, đã tị nạn sang Trung Quốc vì “thuộc phe Thân Tàu”…

Về tin ông Thanh bị ám sát ở Pháp e rằng không thực tế. Ông Thanh đến Pháp trên tư thế quốc khách, nếu ông bị ám sát thật thì chính phủ và truyền thông Pháp phải vào cuộc và loan tin chính thức vì nó ảnh hưởng đến quốc thể của họ, đằng này phía Pháp không nói gì cả, cho thấy nhận định này thiếu sự hợp lý.

Về tin ông Thanh trốn sang Trung Quốc vì do bị “phe thân Mỹ” chèn ép thì cũng có đôi lời góp ý. Các phe phái trong đảng dù tranh chấp thế nào, nhưng trước công luận họ luôn giữ hình ảnh ổn định. Trung Quốc đang là kẻ xâm lược biển đảo Việt Nam, thì khả năng đảng để ông Thanh “sổng qua Trung Quốc” là rất thấp. Một vụ việc như thế lúc này sẽ làm quần chúng nhận định “có bao nhiêu quan chức cao cấp của đảng tư thông với địch”, điều này sẽ làm đảng mất uy tín nghiêm trọng và khó thể biện giải .

Nên tôi nhận định dù Ông Thanh có muốn trốn đi tị nạn chính trị ở Trung Quốc đi nữa, đảng cũng không cho phép điều đó xảy ra, dù phe thân Tàu hay thân Mỹ cũng thế.

Thông tin còn lại duy nhất là hiện ông Thanh đang bị giam lỏng nên không xuất hiện được. Thông tin này theo tôi có cơ sở căn cứ vào những diễn biến trong đảng và cách đảng thông tin về ông Thanh hiện nay.

Tiến có thể công, lùi có thể thủ

Trong cách thông tin về “bệnh nhân Phùng Quang Thanh” của đảng có những nét khác với cách thông tin về “bệnh nhân Nguyễn Bá Thanh” trước đây mà bạn đọc cần lưu ý, dù rằng đảng đang nói hai người khi biến mất đều “ đi chữa bệnh” như nhau.

Đảng khi thông tin về ông Bá Thanh, phát ngôn lạc quan nhất, như “ăn hết một tô cháo”, cũng đều lưu lại một đường lùi cho đảng, đó là “ bệnh suy tủy rất khó trị và sẽ còn diễn biến phức tạp”. Chính câu này nên nhiều người đã đoán trước là sau đó, đảng sẽ công bố ông Thanh chết, và kết quả đúng y như dư luận đánh giá.

Ngược lại, dù hình thức thông tin là như nhau, nghĩa là ông Phùng Quang Thanh cũng bệnh, cũng biến mất như ông Bá Thanh kia nhưng đảng vẫn nói “ông Thanh khỏe lắm, và đã vào Bộ Quốc Phòng làm việc, có ông A, bà B đến thăm trò chuyện vui vẻ”…nhưng không có hình ảnh.

Như vậy chứng tỏ các cuộc thăm viếng trò chuyện này e rằng không có thực. Nhưng đảng vẫn kiên trì nói ông Thanh khỏe, đã làm việc lại kiểu “không chừa đường lùi” cho đảng là ông Thanh sẽ được công bố chết (vì đã chết), như kiểu mô tả ông Bá Thanh kia. Thành ra tôi nghĩ ông Thanh quân đội vẫn còn sống và khỏe mạnh, chỉ là bị giữ lại ở đâu đó, có cái gì đó chưa xong nên chưa được tự do trước công chúng.

Ai đã bắt giữ ông Phùng Quang Thanh ?

Trong đảng đang có sự tranh chấp đường lối giữa 2 phe thân Tàu-Thân Mỹ như chúng ta đã biết, thì việc người ta đánh giá ông Phùng Quang Thanh thuộc phe thân Tàu cũng có lý do của nó, căn cứ vào những phát ngôn và ứng xử trong quan hệ Việt-Trung của ông này lâu nay.

Cũng trong tình thế Trung Quốc đang lấn lướt Việt Nam, và có khả năng cũng đang giật dây Campuchia gây hấn vùng Tây Nam Việt Nam, thì việc một ông bộ trưởng quốc phòng có xu hướng “thân Trung Quốc” trong cơ cấu lãnh đạo an ninh tối cao là điều mà phe thân Mỹ dĩ nhiên quan ngại.

Dân chúng cũng quan ngại, trong tháng 5/2015, đã có nhiều ý kiến cử tri, nhất là ở thành phố Đà nẵng, kiến nghị quốc hội chất vấn ông Phùng Quang Thanh, trên tư cách người có trách nhiệm cao nhất về an ninh quốc gia, phải chịu trách nhiệm gì trước hiện trạng Trung Quốc bành trướng Biển Đông (6).

Một khi quan điểm chính trị cũa ông Thanh làm phe thân Mỹ và quần chúng quan ngại như thế, việc bắt giữ để buộc ông Thanh trao lại quyền lực là vấn đề phải làm, chỉ còn là làm như thế nào?

Tôi loại trừ khả năng ông Thanh bị ám sát chết vì những lý do sau đây

– Khác với cái chết đầy nghi vấn khác gần đây của tướng Ngọ hay ông Bá Thanh, được hồ nghi là để ngăn chặn mở rộng điều tra vụ án tham nhũng-hối lộ cực lớn có dính đến một số quan chức tầm ủy viên Bộ Chính Trị nên nó có khả năng là thanh trừng bịt miệng (nếu không do bệnh). Còn ở đây, việc loại trừ ông Phùng Quang Thanh hoàn toàn là thay đổi xu hướng đối ngoại. Chúng ta cần phân biệt rõ ám sát để bảo vệ phe nhóm thì hay diễn ra, còn thay đổi xu hướng chính trị thì chỉ cần chính khách buông ra quyền lực thì sẽ ít bị ám sát.

– Trong bối cảnh nhóm thân Mỹ cần sự ủng hộ rộng rãi của ban chấp hành Trung Ương vì bầu bán sắp đến, việc ám sát một quan chức thuộc phía đối lập chỉ vì khác quan điểm chính trị trong lúc còn thỏa hiệp được là điều rất không khôn ngoan, và nó có thể gây phản tác dụng. Các quan chức cùng thân Trung Quốc khác như ông Thanh biết ông đã bị ám sát chết thì chỉ mau chóng đẩy họ vào hoàn cảnh đường cùng phải tự vệ quyết liệt, và nó sẽ không hay cho phe thân Mỹ

Chúng ta thấy hiện nay trong đảng đang có sự chuyển giao quyền lãnh đạo quân đội từ phe Thân Trung sang phe Thân Mỹ. Và vì thế, ông Thanh cần bị cô lập để tiến trình này được xúc tiến yên ả. Cũng như việc cho ông Thanh rời ghế lãnh đạo quân đội trong bối cảnh an ninh quốc gia bị Trung Quốc và Campuchia đe dọa có vẻ là một quyết định hợp lòng dân.

Có một nhận định khác cho rằng dù trong hơn 1 tháng qua, quá trình chuyển giao có xong thì cũng chưa thả ông Thanh ra được, vì phe thân Mỹ muốn gieo rắt sự khó hiểu cho tình báo Trung Quốc. Một khi chưa biết rõ quyết định của nhóm thân Mỹ về ông Thanh, thì phía Trung Quốc sẽ khó đưa ra quyết định chính xác để giải quyết vấn đề Việt Nam. Việc Tập Cận Bình ngỏ ý muốn sang thăm Việt Nam sắp đến chính là một phần để giải tỏa nghi vấn này và dễ dàng đưa ra quyết định chính xác chăng ?

Về đối nội, việc phe thân Mỹ kiên trì bắt giữ ông Thanh và cứ công bố ông Thanh khỏe, phải chăng là để “vừa đe dọa vừa trấn an” những nhân sự cao cấp khác trong đảng thuộc phe trung lập không trở cờ vào kỳ bầu bán ở Đại Hội Đảng 12 sắp đến ? đại loại như “Cỡ Phùng Quang Thanh mà còn bị chúng tôi tạm giữ, các ông khác thì chúng tôi ngại gì nếu cần” ?

Cũng vậy, về phía phe thân Trung Quốc, tôi nghĩ họ đồng ý thỏa hiệp cùng phe thân Mỹ công bố thông tin Thanh còn khỏe cũng là để trấn an người của phe này, đại khái là “ dù nhóm thân Mỹ có bắt giữ ông Thanh, nhưng hãy yên tâm là ông Thanh còn sống”.

Thế là cả hai bên đều đồng ý cùng nhau thông tin “ÔngThanh đã khỏe và đĩnh đạc, đã về bộ làm việc lại” nhưng không có hình ảnh nào, như chúng ta đã thấy trên báo chí của đảng.

Khi nào ông Thanh xuất hiện là câu hỏi hiện nay đang nóng. Tôi không dám đưa ra dự đoán vì các quyết định chính trị trong các thể chế độc tài thường chỉ mang tính ngắn hạn và bất định, tuy nhiên tôi có thể đánh giá việc ông Thanh xuất hiện sớm hay muộn nó phụ thuộc vào cuộc thăm viếng cao cấp của Việt-Trung sắp đến, vào kết quả của Hội Nghị TW Đảng 12 vào cuối năm, vào diễn biến biên giới Việt Nam-Campuchia, vào diễn biến biển Đông.

Và cũng còn một khả năng cuối cùng, là một ngày nào đó, đảng sẽ thông tin là ông Thanh ra đi vì một bệnh cấp kỳ nào đó như tim mạch, đột quỵ vào lúc kết cuộc của bàn cờ chính trị Việt Nam, Khi mà vai trò con xe của ông Thanh trên bàn cờ an ninh quốc gia đã không còn cần thiết. Cái mốc kết thúc ván cờ chuyển đổi xu hướng chính trị lần này là Đại Hội 12 của đảng.

_____

Các thông tin dẫn trong bài:

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150725/dai-tuong-phung-quang-thanh-da-ve-den-ha-noi/782886.html

http://nguyentandung.org/tin-moi-nhat-ve-suc-khoe-dai-tuong-phung-quang-thanh.html

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150726/tong-bi-thu-truc-tiep-tham-dai-tuong-phung-quang-thanh/783360.html

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/quan-doi/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-gop-phan-thuc-day-quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-phap/365010.html

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bo-truong-phung-quang-thanh-se-dieu-tri-o-phap-2-3-tuan-2015070217103184.htm

http://nguyentandung.org/sao-khong-thay-quoc-hoi-chat-van-bo-truong-quoc-phong.html

Dư luận nghi ngờ việc Đại Tướng Phùng Quang Thanh về nước

Dư luận nghi ngờ việc Đại Tướng Phùng Quang Thanh về nước

Nguoi-viet.com
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Báo chí chính thống CSVN đưa tin “lịch làm việc dày đặc” của bộ trưởng Quốc Phòng vừa về Việt Nam trong khi dư luận vẫn chưa hết nghi ngờ tấm hình chụp ông “bước xuống máy bay ở phi trường Nội Bài” hôm 25 Tháng Bảy.

Tấm hình với chú thích, “Đại tướng Phùng Quang Thanh, mặc complet
màu nhạt chuẩn bị lên xe.” (Hình: Tuổi Trẻ)

Các báo điện tử VietnamNet, Tuổi Trẻ, Đất Việt, VnExpress đưa một số tin tiếp theo hôm Chủ Nhật 26 Tháng Bảy cho biết, vừa về tới Việt Nam sau một tháng ở thủ đô Pháp chữa bệnh, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN, không những bận rộn với sự đón tiếp, thăm hỏi của các lãnh đạo đảng và nhà nước, mà đã đến ngay Bộ Quốc Phòng “làm việc đến chiều” sau khi ghé qua nhà một thời gian ngắn.

Trong một bản tin hôm Chủ Nhật, tờ Tuổi Trẻ dẫn lại lời Trung Tướng Vũ Văn Hiển, chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng, cho biết, “Hôm qua 25 tháng 7, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sau khi điện đàm đã đến trực tiếp trò chuyện với anh Phùng Quang Thanh. Hôm nay 26 tháng 7, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc… cũng đến thăm.”

Tờ Tuổi Trẻ thuật lời ông Hiển cho hay, “theo lịch công tác dự kiến và đã được sự đồng ý của Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh, vào ngày 27 tháng 7, đại tướng sẽ làm trưởng đoàn đại biểu Quân Uy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng vào lăng viếng Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Tối cùng ngày, bộ trưởng dự kiến tham dự chương trình giao lưu nghệ thuật khát vọng đoàn tụ được tổ chức tại hội trường Bộ Quốc Phòng và được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình quốc gia và kênh truyền hình Quốc Phòng Việt Nam.”

Tuy nhiên, sau đó, trong một bản tin khác, tờ Tuổi Trẻ nói lại chuyện đến lăng ông Hồ Chí Minh là “do bộ trưởng bận công việc nên lịch trình này có thể thay đổi vào giờ chót, nếu có sự thay đổi thì Thượng Tướng Đỗ Bá Tỵ (Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội nhân dân Việt Nam) sẽ dẫn đầu đoàn.”

Người ta đưa ra tấm hình này để nêu nghi vấn ông này đóng thế cho
ông Phùng Quang Thanh. (Hình: Facebook-TTXVA)

Tương tự như vậy, “việc Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh tham dự chương trình giao lưu nghệ thuật Khát vọng đoàn tụ được tổ chức tại hội trường Bộ Quốc Phòng hiện mới là dự kiến, chưa được khẳng định chính thức,” tờ Tuổi Trẻ viết lại.

Một số báo, kể cả TTXVN, thuật lời đưa tin hãng thông tấn Đức DPA gửi thư xin lỗi ông Phùng Quang Thanh đưa tin sai nói ông đã chết một tuần trước đó, hôm Thứ Bảy, 19 Tháng Bảy.

Nhiều báo ở Việt Nam đưa tin ông Phùng Quang Thanh từ Pháp về đến Hà Nội sáng Thứ Bảy 25 Tháng Bảy sau một tháng vào bệnh viện George Pampidou tại Paris cắt “khối u” ở phổi. Chỉ có tờ Tuổi Trẻ là có tấm hình duy nhất với chú thích: “Đại Tướng Phùng Quang Thanh, mặc complet màu nhạt chuẩn bị lên xe.”

Tấm hình hơi mờ nên một số người cho rằng người trong tấm hình của tờ Tuổi Trẻ chỉ là người khác “đóng giả” Phùng Quang Thanh. Nhiều tờ báo đồng loạt đưa tin ông Phùng Quang Thanh về đến Hà Nội sáng Thứ Bảy, 25 Tháng Bảy, nhưng hoặc đưa các tấm hình cũ, hoặc không có hình gì cả.

Một số trang mạng xã hội phổ biến trên Facebook cho rằng có người “đóng thế” cho ông Phùng Quang Thanh ở phi trường, và nói rằng đó là ông Nguyễn Thanh Bình, một người có chiều cao và nét mặt hơi giống với ông Thanh.

Ông Nguyễn Thanh Bình (sinh 1957) hiện đang là ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XI, phó trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương, nguyên bí thư Tỉnh Ủy, chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh. Ông là bí thư tỉnh đầu tiên tại Việt Nam trúng cử theo phương thức đại hội bầu trực tiếp.

Hồi ông Nguyễn Bá Thanh, trưởng Ban Nội Chính Trung Ương Đảng CSVN, bị bệnh viện Mỹ điều trị ung thư khuyến cáo về nhà nằm chờ chết vì họ đã hết cách, không thấy báo chí trong nước đưa tin cho tới khi có một tấm hình nói rằng đó là hình ông trong một bệnh viện ở Mỹ được tung ra trên các diễn đàn thông tin “lề trái.” (TN)

Tướng Phùng Quang Thanh không tham dự ngày Thương Binh Liệt sĩ Việt Nam?

Tướng Phùng Quang Thanh không tham dự ngày Thương Binh Liệt sĩ Việt Nam?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-27

07272015-futher-rumor-abt-gener-thanh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Báo Tuổi Trẻ loan tin phóng viên của tờ báo này chứng kiến Đại tướng Phùng Quang Thanh trong bộ complet màu xám nhạt bước xuống cầu thang máy bay, ông Thanh tươi cười bắt tay những người ra đón và lên xe ôtô mang biển số quân sự TH -28 -09 đang chờ sẵn.

Báo Tuổi Trẻ loan tin phóng viên của tờ báo này chứng kiến Đại tướng Phùng Quang Thanh trong bộ complet màu xám nhạt bước xuống cầu thang máy bay, ông Thanh tươi cười bắt tay những người ra đón và lên xe ôtô mang biển số quân sự TH -28 -09 đang chờ sẵn.

Screenshot

Đồn đoán về tình trạng sống chết cũng như sinh mệnh chính trị của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tiếp tục râm ran trong nước; đặc biệt hôm nay ông không xuất hiện trong đoàn lãnh đạo đảng và chính phủ tham gia các hoạt động nhân ngày Thương Binh Liệt sĩ Việt Nam như được cho biết trước đó.

Thông báo ‘nước đôi’ từ Bộ Quốc Phòng

Mọi tin đồn về tình hình sức khỏe của đương kim bộ trưởng quốc phòng Việt Nam- đại tướng Phùng Quang Thanh tưởng như bị dẹp tan vào sáng ngày 25 tháng 7 khi truyền thông trong nước khẳng định lời của trung tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, là ông Phùng Quang Thanh về nước, sức khỏe ổn định sau đợt đi trị bệnh u phổi ở Pháp.

Tuy nhiên, chỉ có một bức ảnh chụp xa không rõ hình hài của ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Việt Nam lại làm dấy lên những đồn đoán khác.

Các quan chức của Bộ Quốc Phòng Việt Nam gồm trung tướng Võ Văn Tuấn và trung tướng Vũ Văn Hiển, chánh văn Phòng Bộ Quốc Phòng tiếp tục cho biết ông đại tướng bộ trưởng vừa dưỡng bệnh vừa làm việc và lịch làm việc khá dày đặc. Theo lịch thì vào ngày Thương binh Liệt sĩ 27 tháng 7 ông Phùng Quang Thanh sẽ dẫn đầu đoàn Quân Ủy Trung ương, Bộ Quốc Phòng vào viếng lăng Hồ Chủ tịch cũng như tối ngày 27 sẽ có cuộc giao lưu được trực tiếp truyền hình. Thế nhưng sau khi thông báo về lịch làm việc như vừa nêu, chánh văn phòng Vũ Văn Hiển nói lại là lịch trình có thể thay đổi vào phút chót.

Sáng ngày 27 tháng 7, trong đoàn lãnh đạo đảng, chính phủ đến dâng hương, đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ  trên đường Bắc Sơn và vào lăng viếng chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đại tướng Phùng Quang Thanh không có mặt.

Chúng tôi nêu câu hỏi với vị tướng về hưu, từng là chỉ huy của đương kim bộ trưởng quốc phòng, ông Nguyễn Quốc Thước về việc liên lạc sau khi có tin đại tướng Phùng Quang Thanh về nước, cũng như sự vắng mặt trong các đoàn sáng ngày 27 tháng 7 thì được trả lời như sau:

“ Chắc đại tướng về khách khứa nhiều lắm; nên tôi chỉ có một điện trực tiếp đến đồng chí thư ký, bí thư của đại tướng để chúc mừng thôi. Nhưng đến bây giờ, thời khắc này do công việc rồi những vị lãnh đạo khác đến thăm nên tôi không muốn làm phiền. Chứ còn không có vấn đề gì, chắc bây giờ về thì vừa làm việc, vừa điều dưỡng vì mới có một tháng sau khi phải phẫu thuật lớn mà.”

Khi được hỏi vì sao lại không có hình ảnh hay video clip của người đang được dư luận chú ý, thì trung tướng về hưu Nguyễn Quốc Thước từ chối bình luận:

“ Điều đó tôi không trả lời vì tôi không phải người của cơ quan đại tướng. Tôi chỉ là một tướng lĩnh đã qua cuộc chiến tranh nên tôi quan tâm đến đại tướng. Lý do vì người đứng đầu bộ quốc phòng trong tình hình đất nước của chúng tôi như thế này má vắng mặt, ốm đau thì chúng tôi lo là chuyện bình thường thôi; những tướng lĩnh mà phải qua chinh chiến mấy chục năm để bảo vệ thành quả này nên chúng tôi quan tâm thế thôi!”

Trong đoàn lãnh đạo đảng, chính phủ đến dâng hương, đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ  trên đường Bắc Sơn và vào lăng viếng chủ tịch Hồ Chí Minh không thấy có đại tướng Phùng Quang Thanh

Trong đoàn lãnh đạo đảng, chính phủ đến dâng hương, đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trên đường Bắc Sơn và vào lăng viếng chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 27-7-2015 không thấy có đại tướng Phùng Quang Thanh

Đồn đoán

Cư dân mạng tiếp tục xôn xao khi ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng không xuất hiện vào sáng ngày Thương binh Liệt sỹ 27 tháng 7.

Sau khi xuất hiện tấm ảnh đón ông Phùng Quang Thanh tại sân bay Nội Bài trên báo Tuổi Trẻ, nhiều cư dân mạng nghi ngờ người được nói là ông Thanh mặc chiếc áo vét xám không phải chính ông ta. Thế rồi, nhiều người còn nêu thắc mắc tại sao có báo lại đăng hình một chiếc máy bay của Vietnam Airlines khác trước đây chứ không phải hình chiếc máy bay từ Pháp về Nội Bài hôm ngày 25 tháng 7.

Nhận định

Đại tá Bùi Văn Bồng, nguyên trưởng đại diện báo Quân đội Nhân dân tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đưa ra nhận định về vấn đề đưa tin ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh hiện nay như sau:

“ Bởi vì người ta giấu sự thật nên nói những điều mà thực tế không có để trấn an dư luận tạm thời. Thế rồi sau đó sự việc lại không xảy ra và người ta (lại) tìm lý do, nói vì lý do này, lý do kia nên phải thay đổi kế hoạch… Bây giờ xác định chính xác thông tin là khó vì các  báo được điều hành, chỉ đạo. Theo chỉ đạo báo nào đưa thì báo đó đưa, báo nào không được đưa thì không được đưa.

” Các tờ báo đưa tin ông Thanh còn sống, đi làm việc chỗ này, chỗ kia mà không đưa ra bằng chứng xác thực đánh tan nghi ngờ của dư luận, chính là những tờ báo đang mang uy tín, danh giá của một lãnh đạo cao cấp ra làm trò dền dứ, câu nhử dư luận. Như thế là đang xúc phạm, sỉ nhục, lăng mạ một đại tướng

Người Buôn Gió”

Cũng như trước nói sẽ xuất hiện chỗ này, chỗ kia nhưng nay không xuất hiện thì họ lại bảo lý do này, khác.

Khi người ta đã giấu sự thật thì khó tìm ra một cách nhanh chóng. Còn về lâu dài cũng có thể tìm được, hiểu được cho đúng; nhưng cũng có những cái có khi trở thành bí mật mãi luôn.

Cứ lùng nhùng thành gây ra tranh luận, tranh cãi. Chỉ cần đưa ra một video clip chừng 1-2 phút với đặc tả khuôn mặt của ông Thanh, đừng gán ghép, đừng ghép ảnh, đừng đưa ảnh cũ chú thích khác đi, ghép phim… Chỉ cần đưa một đoạn vài phút lên VTV1 hay một phương tiện thông tin chính thức nào khác thì dư luận ‘đỡ’. Đằng này cứ giấu giấu, giiếm giiếm thì dư luận càng phức tạp; càng phức tạp thì đồn đoán càng nhiều. Càng đồn đoán nhiều thì mất uy tín của chính đảng, của nhà nước và của những người phát tin ra mà không có thực tế chứ chẳng của ai khác.

Tôi quan niệm minh bạch, công khai, rõ ràng là quan trọng nhất. Còn vì lý do gì đó mà người ta giấu, mà đã giấu thì giấu luôn, chứ nói ra mà không thực thì tự vả vào mồm mình. Đồng thời dư luận cũng biết đó là trò đóng kịch.

Cung cách đưa tin và giải quyết vấn đề cân đối giữa việc của nội bộ, việc công khai hóa, minh bạch hóa lâu nay báo Việt Nam vẫn vậy thôi!”

Nhà báo Phạm Thành cũng có nhận định:

“Thông qua vụ này có người nói rằng ông Thanh có thể chết thật, hoặc có thể chưa chết; thế nhưng về mặt chính trị coi như ông ta đã chết rồi, vì trước tin ông ta chết toàn bộ cư dân người ta hân hoan, vui mừng.

Nhờ có Internet mà người dân biết những tin nào người ta tin cậy, tin nào không tin cậy. Người ta có đủ khả năng đánh giá tin này độ chính xác tới đâu và sự tráo trở như thế nào. Đó là một trong những trưởng thành trong nhận thức của người dân; đặc biệt là giới trẻ.

Phải nhấn mạnh thêm là lối đưa tin bịp bợm, xảo trá của cộng sản xưa nay thất bại rồi, còn nhìn vào vụ ông Phùng Quang Thanh càng thất bại: tin họ đưa không ai tin, không ai nghe mà còn vạch ra những điều không đúng.”

Blogger Người Buôn Gió trong bài viết ‘Sự nhục mạ uy danh đại tướng’ kết luận rằng “ Các tờ báo đưa tin ông Thanh còn sống, đi làm việc chỗ này, chỗ kia mà không đưa ra bằng chứng xác thực đánh tan nghi ngờ của dư luận, chính là những tờ báo đang mang uy tín, danh giá của một lãnh đạo cao cấp ra làm trò dền dứ, câu nhử dư luận.

Như thế là đang xúc phạm, sỉ nhục, lăng mạ một đại tướng.

Những đoạn kết… buồn hiu!

Những đoạn kết… buồn hiu!

Nguoi-viet.com

Huy Phương

Cô đào thương biết lúc phải giã từ sân khấu lúc mình về già, khi nhan sắc đã tàn phai, giọng hát đã rã rời, đứt đoạn. Dù sự ra đi ấy có đem lại những thiệt thòi, đau xót, người trong cuộc cũng phải đành chấp nhận. Chính người hâm mộ cũng không bao giờ muốn thấy thần tượng của mình lúc xế chiều, mà họ muốn giữ lại cái hình ảnh đẹp đẽ của những ngày xưa.

“Đoạn kết của những Ông Bình Vôi.” (Hình minh họa.
Tư liệu của Huy Phương)

“Limelight” là cuốn phim nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin, một phim rất cảm động về tình đời. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về… chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ, “Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn, chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng…”

Chúng ta thương xót cho cuộc đời nghệ sĩ lúc về chiều, không còn ai hâm mộ, chết trong lãng quên, nhưng chúng ta cũng không muốn người nghệ sĩ kéo dài năm tháng trên sân khấu khi nhan sắc đã về chiều, tẻ nhạt và buồn phiền.

Người ta thường tự kết liễu thanh danh của mình bằng những đoạn kết… buồn.

Trong những con người đó chúng ta có thể kể đến Phạm Duy, một tên tuổi hay nói ví von hơn, là một “ cây cổ thụ” trong làng âm nhạc Việt Nam, đã có một đoạn kết dở, khi ông đã tự phủ nhận tất cả chính kiến của mình để xoay chiều 180 độ. Những người đó, cũng là Trịnh Công Sơn, người đã được sự yêu thương của tất cả người Việt Nam, đã có một đoạn kết… buồn, khi dưới bạo lực… mềm, ông đã kéo dài thêm một quãng đời, khi đồng bào rên xiết, ông đã reo vui bằng những câu hát mê muội, “Em ở nông trường anh ra biên giới,” “ Huyền thoại Mẹ,” “Ra chợ ngày thống nhất,” và tệ hại hơn là “Ánh sáng Mạc Tư Khoa,” được xem như một bản “báo cáo công tác” sau khi ông được ân huệ của Cộng Sản trả công bằng một chuyến “tham quan” Liên Xô.

Liệu những “thiên tài” hay “đại thụ” có cần kéo lê thêm một đoạn đời như thế không?

Có những ca sĩ tên tuổi, được sự yêu mến của mọi người, giờ đây muốn thêm một kịch bản gọi là phần hai cho đời mình. Dù dưới mục đích cao đẹp “cần về quê hương hát cho đồng bào mình nghe,” hay thực tế là họ cần tiền và còn kiếm được tiền, thì những đoạn kết ấy cũng không mấy tốt đẹp, đánh mất tất cả niềm tin và sự thương yêu lâu nay người đời đã dành cho họ.

Nói như Nguyễn Du, “Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời !”

Tiểu thuyết Trà Hoa Nữ (La Dame Aux Camélias) được chuyển thành kịch bản là một tác phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới, nhưng nếu chẳng may có ai đó dựng nên kịch bản “Hậu Trà Hoa Nữ” để cho Marguerite Gautier có dịp gặp tái hồi cùng Duval, như lấy nhau, thì vở kịch chán chường lố bịch biết bao.

Người đời thường thích những chuyện có “hậu” và phải hiểu đây là thứ hậu vuông tròn, đẹp đẽ (happy ending.) Chính vì vậy mà Nguyễn Du kéo dài truyện Kiều, nên nhân gian có thành ngữ “tái hồi Kim Trọng.” Trong phần tái hồi này Kim Trọng để chàng phải nài nỉ, phân bua “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,” cũng tính chuyện “động phòng.” May mà Thúy Kiều cứng rắn, cho mình là “hương dưới đất, hoa cuối mùa,” từ chối quyết liệt, Kim Trọng mới thẹn thùng đổi chuyện chăn gối ra chuyện cầm thơ.

Có nhiều người không tự biết mình, hay soi gương cũng chẳng thấy khuôn mặt mình, nhưng như vậy không có nghĩa là không ai thấy mình. Đó là những người chưa chết nhưng đã tự chôn mình. Họ cố ôm lấy những danh vọng hão, hết chức vụ này lại muốn nhảy sang cầm lấy chức vụ khác, hết làm chủ tịch thì quay sang làm cố vấn, họ nghĩ không có họ thì ai còn khả năng đứng ra cứu nước!

Trong khi ông nọ hết nhiệm kỳ làm tổng thống lại lui về chức thủ tướng chờ thời, rồi trở lại làm tổng thống, bà nọ không còn là thị trưởng thì ứng cử lấy chức nghị viên thành phố, người kia oanh liệt một thời cấp tiểu bang nay lại công danh thụt lùi về lại quận hạt. Như vậy còn chỗ nào cho người khác, trẻ tuổi và tài năng tiến thân. Cái giỏ cua bây giờ cua bò lên không bị ai kéo trở lại, nhưng đóng nắp rồi thì cũng không ai còn tìm được con đường tiến thân. Biết chấm dứt kịp lúc, đúng thời, đối với họ quả là chuyện khó khăn.

Lê Đạt trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1956, đã có bài thơ “Ông Bình Vôi” để phê phán những cán bộ sống lâu lên lão làng nhưng “càng lớn càng đặc,” ôm lấy các chức vị, trong đó có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại…”

Nhà văn Phan Khôi, nhân mấy câu thơ của Lê Đạt, có viết một bài văn cũng mang tên là “Ông Bình Vôi” có những câu như: “vật gì sống lâu và to xác thì gọi bằng ‘Ông’ để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.” Trong cộng đồng chúng ta bây giờ không thiếu những “Ông Bình Vôi!”

Ở Việt Nam có quy định tuổi về hưu cho các cấp chỉ huy, nhưng gần đây người ta cho tái bổ nhiệm một bà với một lý do rất buồn cười là vì bề ngoài, trong bà còn trẻ! Người ta trau chuốt công lao của bà và gần như đi đến kết luận, trong lúc này chưa ai thay thế được bà.

Ở Mỹ nếu một ông tổng thống làm đến 3 nhiệm kỳ thì… chán chết, trong khi đó, “Ong Bình Vôi” (*) Phạm Văn Đồng của “ta” ôm chức thủ tướng Việt Cộng tại vị lâu nhất đến 32 năm (1955-1987).

“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu!”

Ai muốn nhìn một hoa hậu về già, tóc bạc, miệng móm?

Ông tướng chết giữa chiến địa có đoạn kết cho đời mình bi hùng, trong khi ông tướng về hưu chết trong nhà dưỡng lão có một đoạn kết… buồn hiu!

(*) “bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa…”

Tôi có người em nhỏ

“Tôi có người em nhỏ”,

Xanh xanh đôi hàng mi

Môi hồng vừa đương độ

Chưa biết sầu biệt ly.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – Người Em Nhỏ)

Trần Ngọc Mười Hai

(Êphêsô 5: 1-2)

Nghe anh hát, tôi lại bảo: có người Em nào mà chẳng nhỏ lại vẫn “xanh xanh đôi hàng mi” cơ chứ! Nếu không thì, ai ai cũng sẽ gọi người ấy là “em họ” hoặc “Em” theo nghĩa học trò, người xa kẻ lạ ít tuổi hơn. Ngôn-ngữ người mình văn-hoa là như thế. Văn hoa, có nghĩa như gió thoảng/mây trôi lại mang tính thi-ca, ngọc ngà ướt mượt. Chả thế mà, nghệ sĩ nhà mình lại sẽ hát thêm:

“Ngày tôi đi vàng nắng

Nghiêng nghiêng một hàng cau

Mai ta nhìn mây trắng

Gửi lời về thương nhau

Chiều nay buồn viễn xứ

Nhớ người em gái xưa

Tôi thấy phương trời cũ

Giăng giăng một hàng mưa.

Mơ về đôi môi thắm

Cười ngày tôi lên đường

Quê ta chừng xa lắm

Giờ em có nhớ thương.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – bđd)

Hỏi rằng: “Giờ Em có nhớ thương”, hay còn hỏi gì đi nữa, cũng bằng thừa. Bởi, đã là người em rất nhỏ rồi, thì chắc hẳn ai cũng đều thương, đều nhớ. Thương và nhớ, cả một thánh hội toàn những người/anh người chị thân thương, đầy ý-nghĩa.

“Giờ Em có nhớ thương” hay sao đó, vẫn là nỗi nhớ niềm thương của người em hoặc anh hoặc chị cứ là dắt tay nhau đi vào vùng trời ở Vương Quốc Nước Trời nay gần gũi có những lời nhắn-nhủ, dài muôn thuở, như sau:

“Anh chị em hãy bắt chước Thiên Chúa,

vì anh chị em là con cái được Người yêu thương,

và hãy sống trong tình bác ái,

như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta

và vì chúng ta,

đã tự nộp mình làm hiến lễ,

làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.”

(Êphêsô 5: 1-2)

Hôm nay đây, người người trong nhà Đạo lại vẫn nhớ không chỉ mỗi lời nhắn của đấng thánh hiền tên gọi Phaolô mà thôi, nhưng còn nhớ cả những lời của Đức Giáo Tông Phanxicô hôm rồi gửi đến bà con, những lời như sau:

“Hôm 21 tháng 5 năm 2015, Đức Phanxicô có nhắn-nhủ bà con thân thuộc của vị sĩ-quan Cảnh Sát bị bắn chết hoặc bị thương trầm trọng, những lời như: Xã-hội hôm nay, còn mắc nợ gia đình ta sự thể là người thân của quí vị đây, đã sống đời chân-phương, ngoan-cường, trật-tự.” Đức Phanxicô lại đã ca ngợi các vị đang làm việc trong cơ-quan công-quyền vẫn có lòng quả-cảm giúp giùm người bị nạn cũng như đã ngăn chặn các can-phạm hùng hổ, tấn-kích người hiền ở xã hội. Các sĩ-quan đây như người thân của quý vị, đã không quản-ngại mọi hiểm nguy có thể xảy đến với mình, cả mạng sống có khi lại mất đi cũng không nản lòng trong khi thi-hành phận-sự trong công-quyền. Tiếc rằng, ở xã hội khác, nay lại để mất đi quyết-tâm quả-cảm ấy nên mới gây tai-hại cho mọi người…” (xem tin tức trong tuần trên The Catholic Weekly ngày 31/5/2015, tr. 3)

Lời nhắn nhủ, từ các đấng bậc ngoan-hiền ở thánh hội, lâu nay thì như thế. Trong đời đi Đạo của mỗi người và mọi người, chắc chắn việc này từng xảy ra cũng không thiếu. Bởi thế nên, nghệ-sĩ hôm nay lại có ý/lời ca-tụng những người “em nhỏ” trong đời những lời êm ái sau đây:

“Tôi có người em nhỏ

Xanh xanh đôi hàng mi

Môi hồng còn đương độ

Đã biết sầu biệt ly.”

(Nguyễn Hiền – bđd)

“Sầu biệt ly” đây, có thể là nỗi sầu cũng khó hiểu, do ngộ nhận hoặc sao đó. Nhưng, “sầu ly biệt” này có thể là thứ “sầu buồn” như nhận-định của đấng bậc chủ-quản ở chốn chop bu nhà Đạo khi ngài nói về tình-trạng của xã-hội hôm nay.

“Sầu biệt ly” hôm nay, không chỉ vì Facebook, Twitter, SMS hoặc nhiều thứ trên vi-tính hoặc điện-thoại khôn-ngoan từng đem lại cho cuộc sống vội vàng, chụp-giựt, lười suy-nghĩ.

“Sầu ly-biệt” hôm nay và mai ngày, còn là mối sầu khó tả cứ lai rai, trải dài nơi cuộc sống gia-đình không còn theo khuôn phép cũ/xưa, nhưng rất khác. Khác, về tập-tục lẫn lề-luật cùng cung-cách phụng-thờ, tin-tưởng, khiến nhiều bậc thức-giả trong Đạo, ngoài đời từng bận-tâm tìm nhiều phương-cách để giải-quyết.

Một trong các phương-cách rất thức-thời được đấng bậc chủ quản khi xưa từng tỏ bày bằng những ảnh-hình so-sánh cuộc sống có niềm tin với vụ nổ ở vũ trụ năm nào, như sau:

“Khoa học từng nói cho tôi biết thế giới hiện ta đang sống, lại đã bắt đầu bằng vụ nổ Big Bang từ lâu lắm. Trong khi đó, niềm tin đi Đạo lại bảo tôi, rằng: Big Bang, chính là vụ nổ do Thượng-Đế làm để tỏ-bày Tình Thương của Ngài đối với ta.

Tôi không có khả-năng đưa ra đây bất kỳ chứng-cứ nào mang tính tính khoa-học về niềm tin của ta, nhưng đó là một trong các giải-thích đem đến với mọi người sự thoả-mãn tốt đẹp nhất tìm thấy được ở quanh ta, cả vũ-trụ vật chất lẫn tâm-tư, cũng như tâm-can của chính mình.

Trước nhất, là lượng-mức lớn-lao vẫn trộn lẫn với nhau cách hài-hoà nơi nhân-sinh vũ-trụ, vạn-vật. Và rồi, qua khoảng cách thời-gian kéo dài tưởng chừng như vô-tận, nhiều sự-vật vững-chãi/chắc-nịch lại đã thành-hình như trăng, sao, tinh-tú, cùng các giải ngân-hà lại đã đi vào hiện-thực. Thề-giới vẫn được sắc-màu tuyệt-vời, lộng-lẫy; nhưng lại không có tư-duy, cảm-xúc nào thực-tế khả dĩ đáp trả lại tình Thương yêu Ngài từng tạo ra chúng.

Nhiềy tỷ năm qua, mãi cho đến thời mà hành-tinh địa-cầu mở rộng ra để đón chào mọi hình-thái của sự sống ban đầu mà hiện-hữu. Và rồi, từ biển-khơi, sinh-vật đủ mọi loại cũng từ đó bắt đầu chinh-phục đất liền. Và xảy ra, là: tất cả mọi loại-hình cây cối cùng loài thú, cứ thế phát-triển nhưng không một hữu-thể nào dù sinh-động cách mấy lại có được ý-thực ứng-đáp lại Tình Thương Yêu của Thượng Đế.

Cuối cùng thì, chỉ một số rất ít loài thú mới khởi-sự đứng trụ trên đôi chân hiền của mình mà phát-triển sự sống có ý-thức của chúng. Con người, cũng từ từ biến-hoá theo dạng-thức có tư duy, xúc-cảm để rồi cuối cùng cũng tự mình biết đáp-ứng với Tình Thương Yêu của Chúa Trời là Đấng tạo-dựng nên mình.

Từ vụ nổ Tình Thương Yêu rất Big Bang đến giai-đoạn đáp trả đầy ý-thức đối với Tình Thương Yêu của Chúa Trời lại đã kéo dài những 13,8 tỷ năm liền và ngang qua thời-gian dài đằng d0ẵng ấy, Chúa Trời vẫn cứ đợi và cứ đợi. Ngài vẫn đợi mãi, mà không xen vào mọi chuyện của bất cứ loài nào. Ngài vẫn kiên-tâm đến vô cùng vô tận, nên đã cho phép mọi sự được triển-khai theo nhịp-độ và cung-cách của chính nó.

Con người lâu nay, vẫn rắp ranh tìm-hiểu gốc-nguồn và ý-nghĩa của thế-giới, với thế-gian, mặc dù lần rắp ranh đầu thường chỉ dính-dự bằng truyện kể về các thần-linh tranh-chấp với các anh-hùng cùng siêu-nhân.

Và rồi, dân con Israel lại đã biết tin tưởng vào chỉ một Chúa Trời và phát-triển niềm tin-tưởng ấy viết lại cuộc hành-trình đầy đạo-đức lẫn tâm-linh của mình thành truyện kể. Hành-trình này khởi từ ý-tưởng về sự lớn lao/cao cả và trả đũa với hận-thù (Kn 4: 17-24), và rồi tuần tự dấy lên ý-tưởng tôn-trọng phẩm-cách của mọi giống nòi cùng quyền-lợi của loài khác từng tuôn chảy từ phẩm cách này như sách Xuất hành từng nói đến (Xh 20: 1-17). Rồi từ đó, lại có ý-tưởng diễn-tả đòi hỏi mọi loài phải yêu-thương kẻ đồng-loại cùng như phải yêu thương lẫn nhau như sách Lêvi còn viết dặn (Lv 19:18), và cả việc thương yêu Chúa Trời như Ngài từng yêu-thương hết mọi loài (ĐNL 6: 4-9); (Giôna 4: 9-11).

Từ đó đến nay, vẫn có những bước chân âm-thầm tiến về phía trước hoặc lui về dĩ-vãng, như truyện kể về sự tăng-trưởng đạo-đức cũng như tâm-linh phản ánh sự tăng-trưởng trong thiên-nhiên.

Có một vị tên là Giêsu, đến từ Đức Chúa, đã tiếp-nhận mọi sự tốt đẹp từ truyện này, nhưng Ngài còn đưa câu truyện tạo-dựng của Chúa Trời đi xa hơn bằng cách trưng cho thế-giới một mức-độ thương yêu từng phản-ánh từ vụ nổ tình-thương của Đức Chúa trong tạo-dựng. Ngài làm thế, để rồi có hy-vọng là mọi người và mọi loài lại sẽ noi gương bắt chước tình thương yêu này và phát-triển nó trong tăng-trưởng.

Đức Chúa xưa nay, vào mọi lúc, vẫn đợi chờ cho sự tăng-trưởng này được thành-tựu; và nếu cần, Ngài còn chờ, còn đợi mãi bao lâu kế-hoạch thiên-định được thực-hiện. Thiết tưởng, mục-tiêu tối hậu của kế-hoạch Ngài đưa ra là loài người sẽ phải tiếp-tục tặng-trưởng mãi cả về mặt đạo-đức lẫn tâm-linh, theo cách nào đó, cho đến khi biến thế-giới trở về lại với tình thương-yêu từ đó nó xuất xứ. Thật ra, chẳng ai biết được sự việc ấy mang hình-thức như thế nào, nhưng ai cũng tin tưởng là đó là mục-tiêu tối-hậu của loài người. Dù có trải dài thêm 13 hoặc 14 tỷ năm hoặc hơn nữa, cũng được đi, vì Đức Chúa đã biết chờ, thì Ngài sẽ còn chờ, còn đợi mãi cũng không sao.

Đức Giêsu khi xưa từng sống chỉ cách nay có hơn hai ngàn năm, tức một khoảnh-khắc rất nhỏ so với cả tỷ năm tạo-dựng. Và Đức Chúa vẫn cứ đợi cứ chờ bao lâu người theo chân Đức Giêsu cần phát-triển và áp-dụng ý-định của Ngài theo cách-thức nào toàn thể-thế-giới có khả-năng phát-triển cách an-toàn đi vào mục-tiêu tối hậu này.

Mọi chứng-cứ sẽ chỉ-dẫn để ta thấy rằng vào những ngày sớm-sủa nhất ở truyện kể của Đạo Chúa, như nó từng là thành-phần của truyện kể bảo rằng: thế-giới này sẽ quay về với tình thương-yêu là gốc-nguồn từ đó nó được sinh ra.” (x. Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod, The Crucial Questions: Divorce & Homosexuality  ATF Press 2015, tr. 2-5)

Trích-dẫn nhận định của đấng-bậc chủ-quản từng chủ-trì Tổng Giáo-phận Sydney, hôm nay, chính là để bạn và để tôi, ta có một cái nhìn chín-chắn về sự tin-tưởng trong sống Đạo giữa đời, có nhiều lời bàn ra tán vào về nhiều thứ.

Trích và dẫn, không chỉ dẫn và trích những gì được nói hoặc được viết trên giấy trắng mực đen, thôi.

Trích và dẫn, còn là dẫn-giải về nhiều thứ chuyện trong đời của con người. Những sự và những việc có liên quan đến đời sống của nhiều người trong ngoài Đạo Chúa hay đạo Bụt, ở mọi nơi. Trích và dẫn, còn là cứ dẫn và cứ trích những sự vụ hoặc lời kể ở nhiều nơi, vẫn gửi vể để bà con ta có chút gì mà nhớ mà thương, như sau:

“Có 5 điều mà các bậc cha mẹ nên học từ các bạn bên đạo Bụt tiếp tục phát triển rộng ở nhiều nước bên phương Tây ít nhiều thì giáo lý của Đạo cũng đã và đang được đưa vào thảo luận quanh đề-tài “Làm sao Trở Thành Bậc Cha Mẹ Tốt. Các khái-niệm về Thiền, Từ Bi, và Chánh Niệm dễ dàng đi vào suy nghĩ của chúng ta; nhưng các khái niệm này thực sự có nghĩa gì trong thực tập?

Tác giả cuốn sách có tựa đề là ‘Brave Parenting’ (Bậc Cha Mẹ Dũng Cảm), lấy hứng từ đạo Bụt về vấn đề làm cha làm mẹ, đã vui thích kết hợp triết lý đạo Bụt với việc làm cha mẹ trong đời sống hằng ngày. Một trong những nguyên tắc rút từ phương pháp này là kích thích sự chín chắn nơi cảm xúc và khả năng tự lực cánh sinh của trẻ/bé. Trong khi đó, việc cha mẹ chu-toàn bổn-phận cũng ngày một dễ dàng hơn.

Tác-giả khẳng định điều đó không có nghĩa mình phải giữ yên tịnh và tĩnh tâm vào mọi lúc. Đây là việc chuyển hóa quan hệ đơn thuần của ta với con cái để có mặt thật sự với con mình. Đây còn trải-nghiệm các cấp-độ cảm xúc mà không tạo phản ứng.

Dưới đây là năm nguyên tắc căn bản lấy hứng từ đạo Bụt hầu giúp bạn trong hành trình sống:

1. Thấy được tâm định tĩnh là tâm vững vàng

Theo đạo Bụt, cuộc sống là một giòng chảy liên tục. Chính vì thế sự ổn định không có từ ngoại cảnh, mà từ cung-cách ta tiếp-cận với nó thế nào: ta có thể gieo trồng hạt giống của tâm định tĩnh.

Hầu hết chúng ta đều có trạng-thái tinh-thần hứng-khởi rồi huỷ-diệt trong các hoạt động thường ngày. Ta tiếp-cận chúng với động-thái xấu/tốt lẫn lộn. Chẳng hạn như, bằng cách ôm hôn, cười với con là đều tốt; cả khi bị kẹt xe và trễ giờ đi họp có thể là xấu. Đạo Bụt khuyên ta nên xem các sự việc ấy bằng tâm xả. Vạn vật đều như thế. Và chính mình cũng cảm nhận cách sâu sắc sức mạnh nằm ở việc chấp nhận như thế. Bạn có thể dạy con cái mình bằng tấm gương của chính mình. Thiền tập như thế là cách hay nhất để nuôi dưỡng hạt giống tâm-định rất tĩnh.

2. Mỉm cười với vô thường

Văn hóa của ta, phần lớn đều lo ngại do bởi ý niệm vạn-vật vẫn liên hồi thay đổi. Ta thích lề thói, tập quán và mọi sự vĩnh cữu. Nhưng, Bụt dạy: vạn vật vẫn liên-tục vận-động và hơn nữa, tất cả đều vô thường.

Ta không muốn bị bệnh tật hoặc chết chóc, nhưng chính những cái ấy là một phần của cuộc sống. Có sinh có diệt. Điều đó là chuyện tự nhiên của kiếp người, thôi! Ta có thể dạy con biết điều này không làm cho chúng sợ  mà cho chúng hiểu về quá-trình của kiếp sống: hoa cũng tàn, cây trái cũng có ngày bị hư hoại, lá vẫn rơi rụng vào mùa thu.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta học cách chấp nhận hơn là lo sợ, đó là sự chuyển vận to lớn. Ta dạy cho con cái biết: thay đổi là việc tự nhiên. Và cách tốt nhất để am-hiểu lẽ vô thường nơi vạn-vật là thái độ cảm-hoá biết ơn vào mỗi ngày mình sống, bởi mỗi ngày đều duy nhất, rất khác biệt.

3. Hãy nói ‘Cũng tốt thôi!’ với những điều mình đang lo lắng

Người thường đều rõ biết, do tính vô thường mà nỗi-niềm lo lắng luôn tiềm-ẩn, tồn tại. Nỗi niềm ấy là dấu hiệu cho thấy có cái gì đó ‘không ổn’; nó là trải nghiệm của tình trạng sống trong thế giới vô thường này. Thế nên, đây không là những gì ta có thể tự ‘chỉnh sửa’ nơi người mình, cũng như nơi con em của ta. Nỗi-niềm lo-lắng là cảm xúc thường-tình mà mỗi người đều cảm nhận. Nỗi-niềm chịu đựng sự việc như thế sẽ chóng tiêu tan khi ta nhận diện và chấp nhận nó.

4. Biết quan tâm đến những cảm xúc của trẻ; các cảm xúc ấy được Đạo khuyến khích ta quan tâm ngang qua những thăng trầm của cuộc sống và nhận biết rằng ta đang trải qua giai-đoạn đó. Chính vì thế, mà mọi cảm xúc đều không xấu, không tốt. Người người nên nhận biết cho đúng cảm xúc ấy để hiểu được rằng: chúng là những ‘nhân tố’ báo cho ta biết tình trạng hiện thời của ta ra sao.

Hiểu được sinh khởi và hoại diệt của cảm xúc, ta sẽ dạy cho con cái mình biết đối diện với cảm xúc của chúng theo cách tự nhiên nhất. Đó là  bình-an trú-ngụ trong hiện tại và trải nghiệm được cảm xúc ấy cho tới khi chúng biến mất. Bậc cha mẹ không cần xen vào việc tiến-trình này để chỉnh-sửa hay chuyển-đổi cảm nhận của con cái.

5. Tin rằng con mình đủ sức tự lập

Trong đời sống hàng ngày, dĩ nhiên có mất mát và thất vọng. Các bậc phụ-huynh ngày nay thương yêu bảo bọc con em mình khỏi mặt trái của cuộc sống và đây là bản năng tất yếu, không thoát khỏi. Tuy nhiên, ta cũng thách-thức bậc phụ huynh để cho con mình tự giải quyết các vấn đề do chúng mắc phải.

Các vấn đề mà trẻ thường hay mắc phải là sự thất vọng trong sinh hoạt hằng ngày, chúng thấy khó khăn khi mang bài tập về nhà, hoặc cứ cãi vã với anh chị, bạn bè, hoặc chống-đối nội quy, công việc, v.v…. Khi con em được phép đấu tranh, chúng có xu hướng khởi-đầu giải quyết vấn đề và tập sống tự lực trước mọi khó khăn cũng như các thuận lợi của cuộc sống mà không cần cha mẹ giúp đỡ.

Đại sư Tịch Thiên từng dạy, là: ‘Đi trên đất với đôi chân trần bạn có thể bị đứt. Bạn có thể trải miếng da trên đường đi, hoặc bao bọc chân mình bằng miếng da gọi là giày dép.’

Làm cha mẹ, ta đang bọc lót các miếng da bảo vệ con cái mình, hơn là dạy chúng biết cách tự làm giày để chúng biết xoay sở trước những trở ngại và để chúng phát huy tính tự lực cánh sinh của chùng. (Theo mindbodygreen.com)

Kể thế rồi, nếu như bạn và tôi, ta vẫn chưa thấy thuyết phục cho lắm về các ý-kiến này, nay lại xin gửi đến tôi và đến bạn truyện kể mang tên “Kẻ lang thang muốn đổi chỗ cho Bụt ở Chùa, giống thánh hiền Đạo Chúa đứng ngồi như tượng thần, cũng rất thần và rất tượng như sau:

Có một kẻ lang thang, đi vào chùa, thấy Bụt ngồi trên Đài Sen nhận cúng bái của mọi người, anh ta vô cùng ngưỡng mộ. Kẻ lang thang nói với Bụt:

Tôi có thể đổi chỗ ngồi với Người một lát không?”

Bụt trả lời:

-Chỉ cần anh không mở miệng.

Kẻ lang thang ngồi lên Đài Sen. Trước mắt anh là cả một ngày hỗn loạn và ầm ĩ, người đến viếng hầu hết đều cầu điều này chuyện nọ. Anh vẫn cố chịu đựng trước sau không mở miệng. Một ngày nọ, có phú ông đến. Phú ông xin:

-Cầu Bụt ban cho con đức tính tốt.

Nói xong ông dập đầu, đứng dậy, ví tiền rớt xuống mặt đất. Kẻ lang thang vừa muốn mở miệng nhắc nhở, nhưng kịp nhớ đến điều kiện do Bụt đưa ra, nên lại thôi.

Sau khi phú ông đi, có người nghèo nọ bước vào, nói:

-Cầu Bụt cho con ít tiền. Người nhà con lâm bệnh nặng, đang rất cần tiền ạ.

Cầu xong ông dập đầu, đứng dậy, nhìn thấy một túi tiền rơi trên mặt đất. Người nghèo thốt lên câu:

-Bụt đây quả thật rất linh.

Ông cầm túi tiền cất bước ra đi. Kẻ lang thang muốn mở miệng nói không phải linh với hiển gì đâu, mà chỉ là đồ người ta đánh rơi, nhưng anh nhớ đến điều kiện do Bụt đưa ra, nên lại thôi. Lúc này, lại có ngư-dân bước vào. Ngư dân cầu xin cùng Bụt như sau:

-Cầu Bụt ban cho con bình an, ra biển không gặp sóng gió.

Đoạn dập đầu, đứng dậy, ông vừa muốn đi, lại bị phú ông túm chặt áo đòi lại túi tiền. Chỉ vì túi tiền, mà hai người đánh nhau túi bụi. Phú ông cho rằng ngư-dân này đã lấy túi tiền của ông, còn ngư-dân lại thấy oan-ức không chịu nổi. Kẻ lang thang, ngồi trên nhìn xuống không thể nhịn được nữa, anh liền hô to:

-Dừng tay! Nói thế rồi, anh đem hết câu truyện kể lại cho hai người hiểu. Nhờ thế, hai người này không còn tranh chấp, cãi vã hoặc đánh nhau nữa, nên đã yên.

Lúc ấy Bụt bèn nói:

-Ngươi thấy làm như thế có được không? Hãy tiếp tục làm kẻ lang thang đi mà sống đúng chức-năng của mình! Ngươi mở miệng, tự cho mình là công bằng, nhưng người nghèo vì vậy mà không có tiền chữa-trị người thân; người giàu không có cơ-hội tu-thân tạo đức hạnh; ngư-dân ra biển gặp sóng gió chôn thân dưới đáy biển. Nếu ngươi không mở miệng, mạng sống người nhà của kẻ nghèo sẽ được cứu; người giàu có tốn chút tiền thật đấy, nhưng lại giúp được người khác hầu tích đức; ngư dân cũng vì dây dưa không cách nào lên thuyền, tránh được mưa gió, bão bùng có thể còn sống sót.”

Kẻ lang thang im lặng bước ra khỏi chùa chiền, suy-nghĩ rất nhiều. Nghĩ rằng: nhiều sự việc trong đời, nó có thế nào vẫn là như thế. Cứ để nó tiến-triển theo luật tự nhiên, kết quả sẽ tốt hơn. Khi đối mặt với sự việc, ai biết được kết quả đem lại cho mình và cho người, chứ? Cứ yên-lặng theo dõi mọi diễn biến, đó chính là năng-lực có thực! Thuận theo luật tự nhiên, lại cũng là một loại hạnh phúc, ở trên đời! (truyện kể do Minh Quân dịch)

Truyện kể hay những đoạn trích-dẫn ở trên, vẫn dẫn đưa bạn và tôi trở về tình-huống có lời ca tiếng hát vẫn nhắc nhở mọi người, bằng ca-từ đầy ý-tứ như sau:

Ngày tôi đi vàng nắng

Nghiêng nghiêng một hàng cau

Mai ta nhìn mây trắng

Gửi lời về thương nhau

Chiều nay buồn viễn xứ

Nhớ người em gái xưa

Tôi thấy phương trời cũ

Giăng giăng một hàng mưa.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – bđd)

Hát thế rồi, tôi và bạn lại cứ hiên ngang đầu cao mắt sáng cứ tiến thẳng về phía trước, không sợ đớn đau, sầu buồn hoặc trở ngại ở đâu đó, dù rất khó.

Hát thế rồi, nay xin bạn và tôi, ta lại sẽ triển-khai những gì học được từ đấng bậc rất hiền lành, ở trong Đạo hoặc ngoài đời, rất thức thời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những quyết tâm

Sẽ học mãi hết mọi người

Cả trong Đạo lẫn ngoài đời