Thích to để “tự sướng”

Thích to để “tự sướng”

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Trước hết để nói về hai chữ “tự sướng” gần đây hay được báo chí VN dùng trong nhiều trường hợp, nhất là những người tự chụp ảnh đều được cho là “tự sướng.” Trong năm 2013, từ này xuất hiện liên tục trên mạng Internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội, trở thành một từ thông dụng và thời thượng.
Thật ra từ ngữ này trước đây chỉ dùng trong trường hợp người ta tự làm một cách nào đó khiến mình sung sướng (tính từ). Xin lỗi bạn đọc, hành động này khiếm nhã nên tôi không dám viết rõ ở đây. Tôi thấy dùng từ ngữ “tự sướng” cho người tự chụp ảnh có vẻ không đúng chỗ. Thí dụ Tổng Thống Nam Hàn Lee Myung-bak chụp hình theo yêu cầu của nữ cầu thủ Ji So-yun có phải để “tự sướng” không? Tất nhiên là không rồi.

Mẹ già đau đớn bên đứa con bệnh tâm thần phải xích lại nhiều năm nay, trong khi chính phủ chi hàng chục triệu Mỹ kim chỉ để “tự sướng,” không ích lợi cho ai.

Tuy nhiên trong bài này lại có vẻ đúng, bởi người ta thích to để “tự sướng” với nhau hoặc che đi cái mặc cảm tự ti “nước mình nghèo và nhỏ quá” và bản thân dân mình cũng “rách như cái mền” nên cố phồng mang trợn mắt lên để tỏ ra “mình cũng sang như các anh ở nước giàu có.”
Thí dụ như hồi giữa tháng 8/2013, đại gia Lê Ân đã mua mua chiếc giường Hoàng gia với giá hơn 6 tỷ đồng (gần $280,000), sản xuất trong hơn ba tháng và sẽ vận chuyển bằng đường hàng không về Việt Nam.
Giải thích về việc bỏ ra một khoản tiền lớn để mua giường, ông Ân khẳng định, “Giá của chiếc giường với tôi không phải là cao. Trung Quốc mua được thì người Việt Nam cũng mua được. Tôi tìm cách đặt mua không phải để ngủ mà để thế giới biết rằng Việt Nam cũng có nhiều đại gia lắm tiền.”
Không dừng lại ở đó, đại gia Lê Ân còn cho tạc ba bức tượng của ba người vợ từng phụ bạc, ôm tài sản của ông ra đi trong khuôn viên Làng du lịch Chí Linh, Vũng Tàu.
Đã đành anh có tiền, miễn là đồng tiền lương thiện, anh chơi gì chẳng được nhưng trong khi ai cũng biết dân và nước VN còn nghèo, trong khi xã hội đều được khuyến cáo phải tiết kiệm thì những hành vi khoe khoang này trở nên xa xỉ, chướng mắt và lố bịch. Trước khi kể đến vài hiện tượng mang tính cách quốc gia nổi lên trong thời gian gần nhất, tôi kể vài kiểu chơi ngông của đại gia Việt khiến đại gia thế giới có lẽ cũng phải “chào thua” trước đại gia Việt.

Đặt trước mua quan tài $463,000

Quan tài có nhiều loại và tương đương với nó là “đẳng cấp” cùng với số tiền phải chi trả cũng khác nhau. Quan tài hạng bình thường thì không có gì phải nói và đầy rẫy. Hạng quan tài dành cho người trung lưu thì có khác hơn một chút. Còn các loại quan tài dành cho tầng lớp thượng lưu, quan chức, đại gia thì có sự khác biệt hoàn toàn. Một người am hiểu vấn đề này cho biết, với những người này, người ta sẽ đặt quan tài từ khi vẫn còn khoẻ mạnh, hoặc khi mới ngã bệnh, chứ ít khi qua đời rồi con cái mới chạy đi mua. Vì có sự chuẩn bị từ trước nên họ rất kỹ trong việc chọn lựa từ kiểu dáng, mẫu mã, vật liệu… Họ thường thuê hẳn một người thiết kế riêng, sau đó mới đưa bản vẽ đến để cửa hàng đóng.
Thường thì họ sẽ chọn gỗ Pơmu hoặc gỗ Sưa, hai loại gỗ này khá đắt tiền nhưng đúng là chất lượng tuyệt hảo. Muốn có một cỗ quan tài bằng gỗ này sẽ phải đặt trước ít nhất 3 tháng để gom nguyên liệu. Giá của nó thì thực sự là xứng tầm đại gia, ít nhất cũng phải $400,000 đến $600,000 USD/cỗ.
Đã từng có đại gia ở Hải Phòng lên tận Hà Nội đặt quan tài gỗ sưa, tiền không phải là vấn đề. Sau đó lại yêu cầu chạm khắc rồng phượng đủ thứ, dát vàng 18k, tổng chi phí rơi vào khoảng… 10 tỉ đồng ($463,000).

Kỳ công chọn nhà ướp xác và mộ phần khi còn sống

Ở Sơn Lâm, Lương Sơn, Hòa Bình, hầu như ai cũng biết đến biệt danh ‘Đức gấu.’ Ông Đức nổi tiếng không chỉ vì nuôi gấu mà còn tự mình xây dựng một trang trại, trong đó có khu lăng mộ chờ ướp xác mình. Hầm mộ ướp xác được ông Đức khởi công từ năm 2000, hoàn thiện năm 2006. Công trình nhằm hướng Tây Bắc, số bậc thang dẫn lên hầm mộ được các pháp sư tính toán cẩn thận. Ba pháp sư cao tay (hai người Việt Nam, một người Trung Quốc) cùng chọn hướng hầm mộ là Tây Bắc.
Trên quả đồi rộng trồng nhiều cây bách diệp và cây gỗ lát, phần nổi của hai hầm mộ là khối bê tông kiên cố, dài 12m, rộng 7.5m, chiều cao tính từ nền đất trang trại là 25m.
Trên bề mặt đặt thêm tấm bê tông lớn mô phỏng hình một bàn cờ tướng, bàn cờ này mới được làm thêm năm 2007. Vị trí đặt xác ông Đức được ông thiết kế sâu 18m và nằm sâu trong ngóc ngách lòng núi
Để tự ướp xác mình, ông Đức phải nghiên cứu đủ các loại tài liệu Việt Nam, nước ngoài. Những chuyến chu du hàng tháng trời tới Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc tốn hàng chục ngàn đôla để vào các bảo tàng, đến tận những trung tâm nghiên cứu ướp xác người để học hỏi kinh nghiệm.
Ông Đức cũng không ngại hao tốn công sức đi tìm các dụng cụ, nguyên vật liệu phục vụ cho việc ướp xác tốt nhất. Ông vào tận núi Bà Đen, Tây Ninh – nơi tìm thấy xác người còn nguyên vẹn để tìm hiểu địa chất, địa hình nơi đây, tìm mua tinh dầu Cổ Am, tinh dầu Gù Hương để tẩm xác.
Ông cũng tới Ninh Thuận rất nhiều lần để đặt mua than trai – một loại than rất hiếm đốt từ thân cây trai, một loài cây chỉ mọc ở Ninh Thuận, trồng cả chục năm nhưng thân cây chỉ bằng cổ chân.
Bột gạo nếp rắc lên thi thể, áo quan làm từ gỗ quý, tinh dầu ướp xác… đến nay tất cả đã được ông Đức chuẩn bị đầy đủ đặt tại lòng hầm mộ.

Chơi toàn thú dữ

Thời đại này chó Tây, chim hiếm, cá cảnh độc không còn là những con vật quý hiếm nữa. Giờ đây những vị mang thương hiệu đại gia thực thụ phải đi liền với nuôi… thú dữ. Vì thế, các đại gia cũng không ngần ngại trong việc tậu cho mình vài ba con trăn khổng lồ, rắn cực độc, gấu, hổ hay cá sấu cho “vui cửa vui nhà.”
Quan điểm của họ là mua được những con thú lạ, thú độc, càng đứng đầu danh sách đỏ càng tốt, vì thế, thú chơi này cũng được phân tầng bậc. Thường thường thì “chơi” đà điểu, heo rừng, hươu, sóc, khỉ… Còn thời thượng, tay chơi hơn thì trong bộ sưu tập phải có gấu, có hổ, báo, hay sư tử, tê giác, trăn, rắn độc… trong vườn nhà. Để củng cố thứ bậc và thể hiện đẳng cấp của mình, các đại gia sẵn sàng chi tài chính cho các chuyến săn hàng tận Lào, Campuchia, Ấn Độ hay sang tận cả các nước châu Phi. Số tiền bỏ ra không dưới hàng trăm tỉ.

Đại gia dùng 140 cây vàng dát nhà vệ sinh

Nghiện dát vàng từ thang máy tới căn nhà, ông Đường “bia” tên thật là Nguyễn Hữu Đường, Tổng giám đốc Công ty Hòa Bình (Hà Nội) đã bỏ ra 140 cây vàng để dát vàng cho cả toilet. Từ giá treo khăn, tới vòi hoa sen, vòi rửa thậm chí là cả hộp đựng giấy vệ sinh của phòng tắm được mạ vàng, khiến cho căn nhà trở nên độc và xa xỉ bậc nhất Việt Nam.

Đến kiểu chơi sang của nhà nước

Giữa tháng 3-2015, nhiều cư dân mạng chia sẻ hai tấm ảnh mang tính tương phản cao: Một chụp tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng vừa hoàn thành ở Quảng Nam với chi phí 411 tỉ đồng ($19 triệu Mỹ kim), một chụp một bà mẹ anh hùng khốn khó trong đời thực. Hình ảnh này khiến dư luận dậy sóng. Rõ ràng công luận có lý do để phẫn nộ bởi nếu dùng khoản tiền khổng lồ ấy để giúp đỡ những bà mẹ anh hùng đang sống trong cảnh khốn khó sẽ có ý nghĩa và hiệu quả hơn nhiều. Và ngay cả những bà mẹ VN không cần phải là anh hùng nhưng gặp hoàn cảnh vô cùng khó khăn cũng cần được giúp đỡ. Họ cũng là người mẹ VN. Chẳng thiếu gì những cành đời đau thương của các bà mẹ VN.
Thí dụ như hoàn cảnh của bà Lê Thị Kỷ 74 tuổi ở xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh hàng ngày người mẹ già khốn khổ phải đi lên rừng đốn củi, nhổ rau má về bán kiếm tiền nuôi đứa con tâm thần. Hôm nào mệt không đi được, không có tiền mua con mắm, bó rau là đứa con tâm thần không chịu ăn, đập phá, đá đổ nồi cơm. Một sợi xích dài được buộc vào chân người đàn ông đó, đầu kia thắt vào cột nhà, mỗi khi anh ta cất bước dậy đi là sợi xích căng lên, khiến anh đau điếng, la hét. Bà Kỷ chỉ còn ôm mặt khóc.
Hoàn cảnh như thế có đáng được cứu giúp không? Xây đài 411 tỉ đồng to nhất Đông Nam Á để làm gì? Mới khánh thành được vài ngày, nền gạch tượng đài Mẹ Việt Nam vỡ vụn. Rồi qua thời gian dãi nắng dầm mưa, pho tượng lại phải được trùng tu, sửa chữa, ngốn thêm bao nhiêu tiền của nữa? Đúng là kiểu khoe mẽ để các quan tự sướng với nhau thôi.

Tháp truyền hình VN sẽ cao nhất thế giới

Cùng thời điểm, báo chí cũng đưa tin về việc khởi công xây dựng tượng Phật Thích Ca cao nhất thế giới (cao 81 m) khắc vào vách núi Sam tại thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang), ngoài ra là tháp truyền hình Việt Nam phá kỷ lục thế giới (cao 636 m) tại Hà Nội, thậm chí còn cao hơn cả tháp Tokyo Sky Tree của Nhật.
Có thể vẫn có những người tự hào về hai kỷ lục sắp thành hiện thực đó nhưng nếu suy nghĩ kỹ, bạn sẽ thấy việc xây một biểu tượng Phật giáo bề thế đi ngược lại triết lý nhà Phật về việc hạn chế khoa trương, trong lúc tư duy xây tháp truyền hình bây giờ đã trở nên lạc hậu. Đang là thời truyền hình vệ tinh và tích hợp các dịch vụ truyền thông ứng dụng công nghệ cao, chẳng có quốc gia nào xây tháp truyền hình cao ngất như trước. Ngay cả các tháp truyền hình nổi tiếng như tháp Eiffel, tháp Tokyo, tháp Seoul hiện nay chỉ để khai thác làm điểm cho khách du lịch quan sát trên cao.
Đúng là một hội chứng “phát cuồng với những cái khổng lồ.” Theo một thống kê chưa đầy đủ, hội chứng phát cuồng với những cái khổng lồ được gọi chung là gigantomania rất được ưa thích ở Liên Xô thời Stalin, ở Đức thời phát xít và ở Bắc Hàn hiện nay và bây giờ thêm “ông Việt Nam” nữa!

Văn Quang

(3-4-2015)

Ðại Tá Lê Bá Hùng cùng 2 chiến hạm Mỹ thăm Ðà Nẵng

Ðại Tá Lê Bá Hùng cùng 2 chiến hạm Mỹ thăm Ðà Nẵng

Nguoi-viet.com

ÐÀ NẴNG (NV)Hai chiến hạm USS Fitzgerald và USS Fort Worth của Hải Quân Hoa Kỳ cập cảng Tiên Sa, thăm thành phố Ðà Nẵng, dưới sự chỉ huy của đại tá người Mỹ gốc Việt Lê Bá Hùng, gây chú ý dư luận Việt Nam.


Ðại Tá Lê Bá Hùng (phải) nhận hoa của Hải Quân CSVN. (Hình: GDVN)

Báo điện tử Giáo Dục Việt Nam đưa tin, ngày 6 tháng 4, hai tàu của Hải Quân Hoa Kỳ là khu trục hạm có tên lửa dẫn đường USS Fitzgerald (DDG 62) và chiến hạm USS Fort Worth (LCS 3) thuộc Liên Ðội Tàu Khu Trục (DESRON) cập cảng Tiên Sa, chính thức thăm thành phố Ðà Nẵng trong 5 ngày.

Báo này dẫn lời Ðại Tá Lê Bá Hùng, chương trình kéo dài trong 5 ngày, tập trung vào một loạt các sự kiện và các hoạt động trao đổi kỹ năng về quân y, tìm kiếm và cứu nạn, an ninh hàng hải, các hội thảo về luật biển, các buổi hòa nhạc, các hoạt động phục vụ cộng đồng và các hoạt động thể thao.

Ðặc biệt, hoạt động hợp tác trên biển sẽ có các hoạt động như tàu hải quân của hai nước thực hành Bộ Quy tắc Ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển (CUES), các kỹ thuật tìm kiếm và cứu nạn, và cách điều khiển tàu.

Tin cho biết, chiều 7 tháng 4, trên hai chiến hạm USS Fitzgerald và USS Fort Worth, đại diện lực lượng hải quân hai nước đã có những hoạt động đầu tiên.

Ðây là các hoạt động nằm một loạt các hoạt động hợp tác thường niên lần thứ 6 giữa Hải Quân Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trên khu trục hạm USS Fitzgerald, hải quân hai bên đã trao đổi trên sơ đồ một số thông tin liên quan đến bộ quy tắc ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển, các kỹ thuật tìm kiếm và cứu nạn, và cách điều khiển tàu.

Cùng lúc trên chiến hạm USS Fort Worth, hải quân hai nước đã có cuộc trao đổi về việc điều hành các máy bay trực thăng có người lái cũng như không người lái.


Lãnh đạo thành phố Ðà Nẵng và Hải Quân Việt Nam đón tiếp thủy thủ đoàn của Hoa Kỳ do Ðại Tá Lê Bá Hùng dẫn đầu ngày 6 tháng 4, tại cảng Ðà Nẵng. (Hình: báo Ðà Nẵng)

Các sĩ quan phi công thuộc Lữ Ðoàn Không Quân-Hải Quân 954 CSVN cũng đã lên buồng lái máy bay trực thăng SeaHawk để xem và trao đổi kinh nghiệm.

Bà Rena Bitter, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, cho biết, hoạt động của lực lượng hải quân 2 nước lần này là một trong những hoạt động quan trọng đánh dấu kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Theo bà Rena Bitter, đánh giá của chính phủ Hoa Kỳ về tiến trình bình thường hóa giữa 2 nước Mỹ-Việt nhanh nhất so với bất kỳ quốc gia nào.

Ðây cũng là hoạt động hợp tác hải quân thường niên lần thứ 6 (NEA) giữa hải quân hai nước, nhân kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ (1995-2015).

*Lần thứ 2 trở lại quê nhà sau 6 năm

Ðiều gây chú ý dư luận tại Việt Nam chính là sĩ quan cao cấp phụ trách hai chiến hạm này là Ðại Tá Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt, phó tư lệnh biên đội tàu khu trục số 7 của DESRON.

Cách đây 6 năm, khi còn là trung tá, hạm trưởng khu trục hạm USS Lassen, ông Lê Bá Hùng đã có chuyến trở về đầu tiên kể từ khi ông cùng gia đình di tản khỏi miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975.


Một phi công chuyên lái máy bay săn ngầm tàu tác chiến gần bờ thế hệ mới USS Fort Worth trao đổi kinh nghiệm với các phi công của Lữ Ðoàn Không Quân-Hải Quân 954 Việt Nam tại cảng Tiên Sa (Hình: Tuổi Trẻ)

Ðại Tá Hùng quê Thừa Thiên-Huế. Ông tốt nghiệp hạng ưu tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ năm 1992 với bằng cử nhân về kinh tế, từng làm sĩ quan chỉ huy trên nhiều chiến hạm, khu trục lớn của Hải Quân Hoa Kỳ, giành được nhiều giải thưởng về “Hoạt động tác chiến hiệu quả” (năm 2009); giải thưởng “Ðơn vị Hải Quân nổi bật” (năm 2010)…

Ðại Tá Hùng từng phục vụ tại Hạm Ðội 2, Bộ Tư Lệnh Liên Quân Hoa Kỳ, từng là trợ lý điều hành cho hai tư lệnh thuộc Hạm Ðội 7; phụ tá quân sự cho bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ…

Thân phụ của Ðại Tá Lê Bá Hùng là Hải Quân Trung Tá VNCH Lê Bá Thông, người mà ông Hùng coi là tấm gương để ông noi theo.

Sáu năm trước, trong lần trở về đầu tiên, trả lời phỏng vấn của báo Người Việt, ông Lê Bá Hùng nói rằng: “Tôi rất lấy làm tự hào là một công dân Hoa Kỳ và cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi. Là một trung tá của Hải Quân Hoa Kỳ, tôi có được đặc ân và vinh dự phục vụ tổ quốc mình cũng như cha tôi đã thực hiện điều đó khi ông là một hải quân trung tá của miền Nam Việt Nam.”

Ông nói thêm: “Ảnh hưởng của cha tôi đến việc tôi trở thành một sĩ quan hải quân khá sâu sắc. Cho dù cha tôi chưa bao giờ buộc tôi chọn nghiệp hải quân, nhưng bản thân cha tôi, một tấm gương cần cù, sự nhẫn nại và đức hy sinh – cả khi còn là một sĩ quan hải quân miền Nam Việt Nam lẫn khi là một thường dân Mỹ đi làm để chăm lo cho gia đình mình – là một điều to lớn. Tôi muốn nối gót cha mình trở thành một sĩ quan hải quân là vậy.” (Tr.N.)

Giật mình kế hoạch cắt tỉa cây xanh $2.7 triệu của Hà Nội

Giật mình kế hoạch cắt tỉa cây xanh $2.7 triệu của Hà Nội

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Để moi tiền thuế của dân đút túi riêng, nhà cầm quyền CSVN đã vẽ ra kinh phí cắt tỉa cây xanh tại thành phố Hà Nội lên đến 35 tỷ đồng hay khoảng $2.7 triệu đô la.

Để tìm cách ăn tiền thuế của dân, chính quyền Hà Nội lập kế hoạch cắt tỉa cây xanh hàng chục tỷ đồng. (Hình: báo Lao Động)

Theo truyền thông Việt Nam, kế hoạch cải tạo hệ thống cây xanh đô thị giai đoạn 2014-2016, nhà cầm quyền thành phố Hà Nội chi khoảng 55 tỷ đồng cho việc cắt tỉa và thay thế cây không đúng chủng loại cây đô thị. Trong đó, chỉ riêng việc cắt sửa, khống chế chiều cao của cây xà cừ đã hết khoảng 30 tỷ đồng.

Kế hoạch đầu tư phát triển cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước tại thành phố Hà Nội được đưa ra từ năm 2013, nêu cụ thể chương trình cắt tỉa, cải tạo, thay thế hệ thống cây xanh đô thị giai đoạn 2014-2016.

Theo tờ Lao Động, thời điểm đó, nhà cầm quyền thanh phố Hà Nội dự kiến tổng kinh phí chi cho việc cắt tỉa cây trên các tuyến phố là 35 tỷ đồng. Theo kế hoạch này, đơn vị chuyên môn sẽ cắt sửa nhẹ tán, cân tán, khống chế chiều cao đối với xà cừ, muồng và các cây cao nguy hiểm trong mùa mưa bão trên các tuyến phố cho 10,854 cây.

Số xà cừ nằm trong kế hoạch trên là 5,306 cây, muồng có 5,548 cây. Kinh phí dành riêng cho việc cắt tỉa xà cừ vào khoảng 30 tỷ đồng, cắt tỉa cây cao nguy hiểm khác khoảng 5 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, còn có kinh phí khoảng 9 tỷ đồng chi cho việc thay thế cây xanh không đúng chủng loại cây đô thị trên 9 quận nội thành trong 2 năm từ 2014-2016, với khoảng 2,208 cây tại các tuyến phố như Ba Đình, Đống Đa, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Hoàn kiếm, Thanh Xuân…Và 1,3 tỷ đồng để đánh mã số 44,225 cây xanh trên toàn thành phố để làm cơ sở xây dựng phần mềm quản lý hệ thống cây xanh đô thị.

Ngoài ra, nhà cầm quyền thành phố Hà Nội còn có kế hoạch chi 25 tỷ đồng để bổ sung xe cộ, máy móc phục vụ chặt hạ, duy trì cây xanh. Trong đó phương tiện được đầu tư bổ sung gồm 2 xe cẩu Huyndai 10 tấn, 2 xe cẩu tự hành 5 tấn, 4 xe nâng đưa người làm việc trên cao. (Tr.N)

Việt Nam liệu đã có độc lập, tự do?

Việt Nam liệu đã có độc lập, tự do?

Văn Báu Gửi tới BBC từ Tp HCM

Chuyến đi của ông Trọng sang Trung Quốc diễn ra trước chuyến đi theo dự kiến của ông sang Hoa Kỳ.

Nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, tôi băn khoăn Việt Nam đã thực sự độc lập, tự do hay chưa.

Ngày 30/4/1975, nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, dân tộc Việt Nam được hưởng một nền độc lập tự do hoàn toàn. Đã thắng Pháp – đệ tứ cường quốc, thắng Mỹ – cường quốc số một thế giới rồi thì còn phải sợ ai nữa?

Nhầm to! Thắng do chúng ta trực tiếp chiến đấu, nhưng không có vũ khí đạn dược, xe tăng, máy bay, tên lửa… thì đánh bằng gì? Việt Nam có tự sản xuất được những thứ ấy không? Không có viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô, không dựa vào họ, chúng ta không thắng được Mỹ!

Chính vì thế mà Trung Quốc chẳng ngán gì cái tay vừa đánh bại được nước giàu nhất thế giới ấy mà sẵn sàng “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Láng giềng phương Bắc sau đó đã chủ động rút quân sau khi gây tổn thất nặng nề cho Việt Nam, lẽ ra Việt Nam nên lấy đó làm bài học thực sự mới phải. Phải hiểu rằng với sức của mình hiện tại, người ta muốn đánh lúc nào thì đánh, chả ai cứu được.

Đàn anh Liên Xô khi đó cũng có kịp làm gì đâu. Đến năm 1988 ở đảo Gạc Ma cũng vậy.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hiện đang thăm Trung Quốc, gọi là thăm nhưng thực ra là bị gọi sang một cách vội vã trước khi Việt Nam thăm Mỹ. Nó giống việc con cái phải hỏi ý kiến cha mẹ trước khi đi chơi với bạn vậy.

Nếu đã trưởng thành, có độc lập tự do thật sự thì không anh nào còn làm cái việc trẻ con ấy cả. Hóa ra Việt Nam mang tiếng là độc lập tự do (tính từ thời điểm năm 1975 thì cũng đã được 40 tuổi rồi đấy) nhưng làm gì cũng phải xin phép.

Kể cả Trung Quốc có mời sang, nhưng thời gian quá gấp cho một chuyến đi lớn như thế thì hoàn toàn có thể dời lại. Nếu đã quyết “đi chơi” với Mỹ thì cứ đi, nếu đã kiên quyết kiểu gì cũng phải thay đổi quan hệ với Mỹ thì “láng giềng thân thiết” có nói gì cũng mặc, đi về rồi tính.

Sang Trung Quốc bây giờ người ta sẽ lại ngon ngọt, vỗ về, hứa hẹn, liệu lúc đi về quyết tâm còn được bao nhiêu? Hay lại giống anh Chí Phèo định đến rạch mặt ăn vạ nhà Bá Kiến nhưng bị tay cáo già mời vào giết gà đãi rượu thấy xuôi tai rồi lại chịu làm tay sai suốt đời cho tên gian ác đó?

Không có hy vọng?

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có những cải thiện lớn trong quan hệ song phương.

Nhưng phải nói thật rằng kể cả có đi Mỹ trước, hiệu quả cũng không cao. Vì các lý do dễ thấy:

Thứ nhất: Mức độ Mỹ giúp đỡ chỉ tương ứng với mức độ Việt Nam cải cách. Nếu Việt Nam chỉ cải cách nửa vời hoặc hình thức thì các “gói cứu trợ” sẽ không đủ tác dụng. Việt Nam mà chưa thành đồng minh của Mỹ, nếu Việt Nam và Trung Quốc có xung đột Mỹ cũng không lấy làm buồn vì cộng sản anh em còn đánh nhau thì trách ai được nữa.

Nếu Việt Nam muốn Mỹ can thiệp mạnh, thì sự can thiệp ấy có thể sẽ đi quá mức, tức là có thể mất chế độ. Điều này lãnh đạo Việt Nam không cho phép xảy ra.

Lý do thứ hai: Đặt một khả năng viễn tưởng: Việt Nam thay đổi chế độ để làm đồng minh của Mỹ. Có Mỹ bảo trợ thì chắc chắn là hơn rồi. Nhưng cứ nhìn vào Đài Loan – đồng minh thực sự, đã bị Mỹ đẩy ra khỏi Liên Hợp Quốc sau chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc năm 1972 (chuyến thăm mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng) thì biết.

Trung Quốc dẫu sao cũng là nước lớn, và các nước quan hệ với nhau luôn phải đặt lợi ích lên trên hết. Khi cần thì những quân cờ nhỏ như quân tốt đều có thể hy sinh, đều có thể lấy ra để đánh đổi, để mặc cả.

Liệu Mỹ có thể mang quân hỗ trợ Việt Nam nếu có xung đột với Trung Quốc? E rằng là không. Nhưng nếu là Nhật Bản và Hàn Quốc thì có thể đấy, vì đây là 2 nước lớn và giàu có thuộc hàng nhất thế giới.

Ngoại giao cần phải khôn khéo, nhưng ngoại giao cũng chỉ hạn chế trên cái sức mạnh của quốc gia đó mà thôi. Mình có lớn mạnh thì tiếng nói của mình mới có trọng lượng, người ta mới nể mình.

Mới đây có ai đó nhắc lại tư tưởng độc lập của nhà yêu nước Phan Châu Trinh mà nhiều người thấy đúng quá:

“Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mưu cầu độc lập chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập.

Chỉ như vậy mới bảo đảm Việt Nam sẽ có một nền độc lập chân chính, lâu bền về chính trị lẫn kinh tế trong quan hệ với ngoại bang cũng như nhân dân sẽ được hưởng độc lập và tự do cá nhân trong quan hệ với nhà nước.”

Còn cứ nghèo, cứ lạc hậu thì mãi chỉ là quân tốt trên bàn cờ của các nước lớn mà thôi. Như đã nói ở trên: Có được tự do không dễ. Nghèo thì lấy đâu ra tự do. Luôn phải dựa vào người khác thì lấy đâu ra độc lập. Tại sao một nước nhỏ xíu như Singapore vẫn có vị trí đáng nể trên trường quốc tế với sức mạnh quân sự mà không cường quốc nào dám coi thường?

Tóm lại, hai khả năng để Việt Nam không sợ Trung Quốc: Thay đổi chế độ làm đồng minh với Mỹ và Phát triển thành cường quốc kinh tế đều là những khả năng xa vời.

Ngoại giao của Đảng Cộng sản cuối cùng cũng chỉ để kéo dài sự sống của chế độ và làm chậm lại quá trình gặm nhấm Biển Đông của Trung Quốc mà thôi. Nước Việt Nam rồi sẽ đi về đâu?

‘ Điều Việt Nam cần làm ngay bây giờ’

‘ Điều Việt Nam cần làm ngay bây giờ’

Giáo sư Tương Lai

“Việt Nam không thể đảm nhiệm vai trò địa chính trị quan trọng của mình cho tới khi kinh tế phát triển đầy đủ và cải cách chính trị mạnh mẽ hơn,” theo Giáo sư Tương Lai

Việt Nam cần phải tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một kế hoạch thương mại toàn diện được hỗ trợ bởi Mỹ. Hiệp định sẽ cho phép nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập hoàn toàn với thế giới hiện đại; và điều này sẽ đi cùng với viễn cảnh dân chủ hóa tốt hơn tại Việt Nam.

Quan trọng không kém, TPP, bao gồm 12 quốc gia Thái Bình Dương trừ Trung Quốc, sẽ điều chỉnh lại các mối quan hệ địa chính trị giữa các thành viên trong khu vực và giúp ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông – một đóng góp quan trọng cho chiến lược tái cân bằng của Mỹ đối với Châu Á.

Việt Nam có 3.500km đường bờ biển đối diện Biển Đông, một vùng biển mang tính trọng yếu đối với thương mại quốc tế. Gần 1/3 lượng dầu thô trên thế giới và trên một nửa lượng khí gas đã di chuyển qua đây trong năm 2013. Tuyến đường này cũng là con đường ngắn nhất từ phía tây Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương, một chặng đường thiết yếu của hải quân nhiều nước, kể cả Mỹ.

Những điều cần khắc phục

Nhưng Việt Nam không thể đảm nhiệm vai trò địa chính trị quan trọng của mình cho tới khi kinh tế phát triển đầy đủ và cải cách chính trị mạnh mẽ hơn. Và việc đáp ứng các yêu cầu của TPP – công đoàn tự do, giảm vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, tăng cường tính minh bạch – sẽ giúp Việt Nam đi theo con đường đó.

Sau nhiều năm cô lập về mặt kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiến ấn tượng sau năm 1986, khi bắt đầu mở cửa với thế giới bên ngoài. Việt Nam đã đạt được một trong những tỷ lệ tăng trưởng GDP cao của thế giới trong giai đoạn 1990 – 2010.

Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, và từ đó đã ký nhiều hiệp định thương mại quan trọng. Việt Nam đã từng là quốc gia xuất khẩu gạo và cà phê lớn thứ 2 trên thế giới trong năm 2013. Năm ngoái, Việt Nam là nước ASEAN xuất khẩu hàng đầu vào Mỹ tính bằng giá trị USD, vượt trên Malaysia và Thái Lan.

Nhưng đây chỉ là giai đoạn 1 của quá trình phát triển, dựa rất nhiều vào xuất khẩu nguyên vật liệu, các ngành công nghiệp dùng nhiều lao động và ít giá trị gia tăng. Việt Nam hiện tại đang đối mặt với nguy cơ vướng vào bẫy thu nhập trung bình. Tỷ lệ tăng trưởng GDP đã chậm lại khá đáng kể trong những năm gần đây.

Việt Nam đang đứng cuối trong số các ứng cử viên gia nhập TPP về mặt phát triển kinh tế, với GDP bình quân đầu người vào khoảng 1.910 USD, so với khoảng 6.660 USD của Peru, một quốc gia xếp hạn áp chót.

TPP cung cấp một lộ trình cho giai đoạn 2 của sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu vào tháng 2 năm nay, trích dẫn hiệp định này và các thỏa thuận thương mại khác, “Các hiệp định này đòi hỏi chúng ta phải cởi mở hơn. Do đó thị trường của chúng ta cần phải trở nên năng động và hiệu quả hơn”.

Ví dụ, TPP đồng nghĩa với một sự giảm thiểu đáng kể thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng may mặc của Việt Nam vào các thành viên TPP khác, điều này sẽ tăng cường tính cạnh tranh của các sản phẩm đó so với những mặt hàng tương tự từ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan. Nhưng Quy tắc Xuất xứ của TPP cũng đòi hỏi nguyên liệu sử dụng trong thành phẩm xuất khẩu cần phải được sản xuất tại địa phương.

Quy định này sẽ buộc Việt Nam phải phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và mở rộng cơ sở sản xuất của mình – cùng lúc giúp Việt Nam bớt lệ thuộc vào Trung Quốc hơn, trong bối cảnh Trung Quốc hiện đang cung cấp phần nhiều nguyên vật liệu dùng trong ngành dệt may Việt Nam.

Hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn đang áp đảo trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế – như ngân hàng thương mại, sản xuất năng lượng và vận tải – sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nạn tham nhũng đầy rẫy.

TPP cũng yêu cầu những thành viên của mình chấp nhận công đoàn lao động tự do, quyền sở hữu trí tuệ và minh bạch trong pháp luật, trong quy định và thực thi. Có lẽ điểm nổi bật nhất đối với Việt Nam là kỳ vọng của các quốc gia TPP sẽ không có các đối xử đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước, nếu không nó sẽ tạo ra những biến dạng trong thương mại. Điều này có nghĩa là cần giảm thiểu một cách đáng kể vai trò của các công ty thuộc loại này tại Việt Nam.

Hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn đang áp đảo trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế – như ngân hàng thương mại, sản xuất năng lượng và vận tải – sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nạn tham nhũng đầy rẫy.

Việc hạn chế ảnh hưởng của các doanh nghiệp này sẽ gây nên các cuộc đối đầu trực diện với một số cán bộ cao cấp có quyền lợi tài chính và bám chặt vào “ý thức hệ” để duy trì quyền lực gắn với lợi ích. Một bộ phận không nhỏ trong thế lực ấy hiện nay vẫn cố trì kéo việc chuyển đổi, nhằm đeo đuổi tình hình tồi tệ này, một phần cũng bởi vì bộ máy hành chính hoạt động kém hiệu quả.

Điều này có nghĩa là hiện nay Việt Nam đang còn, tuy không nhiều, những trở ngại gia nhập TPP.

Chẳng hạn như, nhà nước đã đồng ý cho phép công đoàn lao động độc lập tại xí nghiệp. Chính phủ gần đây cũng nỗ lực tuân theo các quy chuẩn quốc tế về nhân quyền mà trước đây họ vẫn lẩn tránh, trả tự do cho một vài nhà hoạt động xã hội nổi bật và hạn chế bắt giữ những người bất đồng quan điểm. Chính phủ cũng đang thực thi quyền sở hữu trí tuệ, với việc lực lượng công an thực thi khám xét những cơ sở hoạt động vi phạm luật bản quyền.

‘Lực cản từ Trung Quốc’

Nếu nói đến lực cản Việt Nam gia nhập TPP thì duy nhất chính là sự phá rối từ phía Trung Quốc và những người hậu thuẫn cho mưu toan đó.

Giới lãnh đạo Việt Nam đang có nhiều chuyến công du quốc tế nổi bật

Bắc Kinh đang cố chống lại chiến lược tái cân bằng của Washington đối với Châu Á – chính sách được gọi là trọng tâm của Chính phủ Obama – bằng cách thúc đẩy khu vực thương mại tự do của họ, quảng bá Giấc mơ Châu Á – Thái Bình Dương, mở ra một ngân hàng đầu tư khu vực và rót hàng tỷ đô vào các dự án cơ sở hạ tầng to lớn.

Trung Quốc cũng đang đặt rất nhiều áp lực lên các nhà lãnh đạo Việt Nam để Việt Nam không gia nhập TPP, cũng như họ đã từng làm trước khi Việt Nam ký Hiệp định WTO và hiệp định thương mại song phương với Mỹ.

Một ví dụ nổi bật là khi các thông tin với độ tin cậy ngày càng cao gần đây về chuyến đi của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Mỹ vào tháng 6 thì Bắc Kinh cũng bất ngờ mời Tổng Bí thư sang Trung Quốc tham dự cuộc họp cấp cao trong tuần này.

Chính vì vậy, với nhiều lý do về kinh tế, chính trị và chiến lược, Việt Nam không thể không gia nhập TPP.

Nhưng để làm được điều đó sẽ đòi hỏi nhiều thay đổi khó khăn về chuyển đổi cơ cấu về nhiều mặt trong đố nội, và sự chống trả với sức ép từ phía Trung Quốc đang ngày một dữ dội. Việt Nam cần, và xứng đáng nhận được tất cả sự hỗ trợ có thể từ phía Mỹ. Phải có một nỗ lực phối hợp nhất quán để đẩy lùi tham vọng bành trướng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Bản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên báo Mỹ New York Times hôm 6.4.2015.

Nên CHO hay NHẬN ?

Nên CHO hay NHẬN ?

Chuacưuthe.com

– Tin nổi bật, Công Giáo Trẻ

VRNs (07.4.2015) – Sài Gòn –  Sách Huấn Ca dạy: “Con ơi, đừng tước đoạt miếng cơm manh áo của người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi. Đừng làm cho kẻ đói phải buồn tủi, đừng chọc tức ai khi họ phải ngặt nghèo. Một tâm hồn đang bực bội, con đừng làm khổ thêm, đừng bắt kẻ túng thiếu đợi lâu mới được con giúp đỡ. Kẻ khốn khổ nài xin, con đừng từ chối, gặp người nghèo, con đừng ngoảnh mặt đi. Đừng làm ngơ không nhìn đến kẻ thiếu thốn, kẻo nên cớ cho người ta nguyền rủa con” (Hc 4:1-5).

CHO là TRAO TẶNG, TRAO BAN, HIẾN DÂNG,… với cả tấm lòng trân trọng và yêu quý. Một động từ đẹp, không đẹp về cách viết mà đẹp về ý nghĩa đầy tính nhân bản, đầy tình thương xót, đầy lòng thứ tha,… KHÔNG CÓ thì không thể CHO, vì người ta chỉ có thể CHO những gì mình CÓ – dù vật chất hay tinh thần.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngoài Tám Mối Phúc Thật (Mt 5:3-10), một trong những ĐẠI PHÚC khó tin nhất được đề cao trong Kinh thánh là: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Người cho lại hạnh phúc hơn người nhận ư? Có lộn không? Thật là ngược với trực giác và bản năng của chúng ta. Tuy nhiên, đó lại là sự thật với 5 lý do xác định lý do nên CHO hơn NHẬN.

Tuy nhiên, cũng nên nhớ lại câu nói ý vị của người Việt Nam: “Của cho không bằng cách cho”. Một câu nói rất NHẸ nhưng rất ĐAU, nhắc nhở chúng ta đừng vội… “chảnh” khi CHO ai bất kỳ thứ gì!

1. CHO LÀ VÂNG LỜI THIÊN CHÚA

Cựu ước có nhiều mệnh lệnh hơn đối với việc CHO về tài chính – cho ai, cho khi nào, cho bao nhiêu, cho cách nào, Tân ước ít mệnh lệnh này. Có thể các tác giả Tân ước chỉ cho rằng Thiên Chúa đã CHO chúng ta quá nhiều – thậm chí đã CHO chính Đức Kitô làm giá cứu độ muôn dân, nhưng việc CHO của chúng ta nên hợp lý và thoải mái. Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Anh em đã được CHO KHÔNG, thì cũng PHẢI CHO KHÔNG như vậy” (Mt 10:8). Một mệnh lệnh xem chừng quá “nhẹ” nhưng lại khó thực hành!

2. CHO LÀ PHỤC TÙNG THIÊN CHÚA

Vâng lời (vâng phục, tuân phục, thanh tuân) là một nhân đức. Vâng lời liên quan việc “từ bỏ mình”, tức là khi vâng lời thì người ta phải bỏ ý riêng, đề cao ý người khác, vì khi vâng lời là “chết” cho chính mình. Vâng lời cũng là một trong ba lời khấn chính của các tu sĩ. Mỗi động thái vâng lời đều có giá trị cao trong cuộc đời Kitô hữu: “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Chúa Giêsu cũng hành động chỉ vì vâng lời: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Đó là vâng phục.

3. CHO LÀ THỂ HIỆN TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

CHO là động thái tốt đẹp và hoàn hảo: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1:17). Quả thật, xét cho cùng thì “tất cả đều là Hồng Ân” (Rm 4:16). Những gì không thuộc về mình, vậy tại sao cứ GIỮ khư khư làm “tư sản” mà lại không muốn CHO? Miệng nói YÊU Thiên Chúa mà lại không muốn CHO thì làm sao có thể gọi là tình yêu đúng nghĩa? Nếu chỉ nói suông thì chúng ta chỉ là “thùng rỗng kêu to” (x. 1 Cr 13). Người ta nói: “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân”. Vậy chúng ta nghĩ gì về Thiên Chúa khi chúng ta dùng tiền bạc?

4. CHO LÀ RAO TRUYỀN THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ

Thiên Chúa là Đấng-tự-hiến, sẵn sàng trao ban tất cả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Đó là lý do mà Tông đồ Phaolô muốn khuyến khích chúng ta nên CHO, dẫn chứng sống động bằng chính Đức Kitô: “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8:9). Chúa Giêsu giàu đức tin, giàu yêu thương,… nên Ngài muốn chúng ta cũng phải như thế. Khi chúng ta hy sinh, chịu đau khổ, nhịn nhục,… vì lợi ích của người khác, đó là chúng ta biết CHO vì đức ái, là loan báo Tin Mừng và nên giống Đức Kitô.

5. CHO LÀ TIN TƯỞNG THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG

Nỗi sợ là rào cản khiến chúng ta không muốn CHO. Tại sao? Sợ cho quá nhiều, sợ uổng phí, sợ mình bị thiếu hụt,… Khi biết CHO là biết hy sinh, chúng ta bày tỏ đức tin và niềm tín thác vào Thiên Chúa vì chắc chắn Ngài luôn quan phòng và lo liệu đủ cho chúng ta. Đây KHÔNG là ĐIÊN RỒ, mà là ĐỨC TIN. Nhiều Kitô hữu đã tìm được niềm vui trong công việc từ thiện, công việc tông đồ. Đó là cách bẻ tấm-bánh-cuộc-đời-mình và TRAO CHO tha nhân: “Cơm bánh của bạn, hãy đem thả trên mặt nước, về lâu về dài, bạn sẽ tìm lại được” (Gv 11:1). Thiên Chúa quan phòng sẽ lo liệu nếu chúng ta vâng lời Ngài và tin tưởng: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 22:).

Có những điều nghịch lý được Kinh Thánh đề cập: “Có khi lâm nạn lại thành công, gặp may mà hoá thiệt thòi. Có lúc cho đi mà con không được lợi, có lúc cho đi lại được trả gấp đôi. Đôi khi vinh quang đem lại nhục nhã, kẻ thấp hèn lại được ngẩng đầu hiên ngang. Có kẻ sắm nhiều mà tốn ít, nhưng thực ra phải trả gấp bảy lần. Người khôn ngoan nói ít cũng gây được thiện cảm, lời hoa mỹ của kẻ ngu đần chỉ là thứ đổ đi. Ích gì cho con quà biếu của đứa khờ dại: nó biếu một mà trông được mười. Nó cho thì ít, trách mắng thì nhiều, miệng oang oang như thằng mõ, hôm nay cho mượn, ngày mai đã đòi” (Hc 20:9-15). Vậy mà không phải vậy. Trong đó đầy triết lý sống mà chúng ta phải miệt mài học cả đời!

Biết CHO là sống khôn ngoan, bởi vì “khôn ngoan chính là cây sự sống đối với người nào nắm được khôn ngoan” (Cn 3:18). Sự sống đề cập ở đây là sự sống đời đời, sự sống vĩnh hằng.

TRẦM THIÊN THU

MỜI SUY NGẨM

MỜI SUY NGẨM

Mỗi ngày chúng ta chỉ có 24 giờ để sống và mỗi ngày trôi qua, cuộc đời chúng ta ngắn đi 24 giờ đồng hồ. Cho dù có sợ chết, có tìm mọi cách để sống mãi, chúng ta cũng vẫn không qua khỏi quy luật tự nhiên của Tạo Hóa đó là “Sinh-Lão-Bệnh-Tử”. Vậy chúng ta phải làm gì với những thì giờ còn lại trên thế gian này ?
Khi sắp chết, Alexander Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình :
1 – Quan tài của ngài phải được khiêng đi bởi chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất của thời đó.
2 – Tất cả các báu vật của ngài (vàng, bạc, châu báu…) phải được rải dọc theo con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài.
3 – Đôi bàn tay của ngài phải được để lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài để cho mọi người đều thấy.
Một vị cận thần rất ngạc nhiên về những yêu cầu kỳ lạ này, đã hỏi Alexander lý do tại sao ngài lại muốn như thế.

Alexander giải thích như sau:
1 – Ta muốn chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ (là những người tài giỏi nhất) cũng không có tài nào để cứu chữa.
2 – Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để cho mọi người thấy rằng của cải, tài sản mà ta gom góp được ở trên thế gian này, sẽ mãi mãi ở lại trên thế gian này một khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời.
3 – Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.

Trang mạng tạp chí Forbes loan báo ông Albert Gubay, 82 tuổi, một tỷ phú chủ một hệ thống siêu thị tại Anh đã tặng 786 triệu Úc kim, tức hầu như toàn bộ tài sản của ông cho một tổ chức Công giáo để lo cho các chương trình liên quan đến Giáo hội Công giáo. Ông chỉ giữ lại khoảng 10 triệu bảng Anh để sử dụng trong tuổi già. Ông Gubay nói : “Tôi đã mượn 100 bảng Anh và giao kèo với Chúa như sau: Xin hãy làm cho con trở thành triệu phú và Chúa sẽ có phân nửa tài sản của con”. Ông không chỉ trao tặng phân nửa tài sản, mà còn cho đi hầu như toàn bộ tài sản của mình (London Cathnews 24/3/2010).
Như Alexander Đại Đế, như nhà tỷ phú Albert Gubay, hay như nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy… cõi vĩnh hằng là điểm hẹn của mỗi người, và của tất cả mọi người phải đến, phải có mặt ở đó. Lúc đó ta sẽ biết “Những gì sẽ đem theo vào cõi chết”. Ai không có mặt ở “điểm hẹn” ấy là coi như uổng công cả một cuộc đời. Điểm hẹn đó là nấm mồ, và sau nấm mồ vô tri ấy là gặp được Con Người quyền năng và đầy lòng thương xót, đó là Đức Giêsu Kitô.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Xin Sống Lại Một Lần.

Xin Sống Lại Một Lần.

Nếu tôi được sống thêm lần nữa
Sẽ về ngồi lắng đọng giữa chiều quê
Bên sông nhỏ trôi qua làng tĩnh lặng
Soi bóng mình, nghe lúa hát ven đê.

Nếu tôi được sống thêm lần nữa
Với bạn hiền cùng dạo phố sau mưa,
Tìm một chỗ bên dòng đời vội vã
Ngắm chiều rơi.. đồng vọng tiếng chuông chùa..

Nếu có thể xin thuyền đời trôi ngược
Chở tôi về thắm lại buổi hoa niên.
Sống hiện tại thong dong không ràng buộc
Không ” thả mồi bắt bóng ” để truân chuyên.

Giá như được sống thêm lần nữa
Sẽ mỉm cười chấp nhận nỗi đau riêng
Lưng cúi xuống bên những đời bất hạnh
Mắt tình thương xin xóa dịu ưu phiền..

Nếu có thể, xin bắt đầu Sống lại
Thôi tháng ngày rồ dại.. chuốt ăn năn
– Dẫu biết kiếp nhân sinh là hữu hạn
Lòng tôi còn chan chứa tận nghìn năm!

Xin sự sống cho tôi lần cơ hội
Để tâm tình mở lối, biết khoan dung
Nhìn nhân thế khộng vội vàng kết tội

Hiểu và Thương mong trải đến vô cùng…

Thích Tánh Tuệ

(Viết thay cho tâm trạng của một người đang cận tử bởi cancer)

Những kinh nghiệm tôi học được từ người Do Thái

Những kinh nghiệm tôi học được từ người Do Thái

Nguoi-viet.com

Luật Sư Trần Thái Văn

LTS – Luật Sư Trần Thái Văn có bằng hành nghề ở California từ năm 1994, và hiện đang hành nghề luật tại Newport Beach, California. Từ năm 2004 đến năm 2010, ông là dân biểu tiểu bang California đại diện Địa Hạt 68 ở Orange County, và là người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ làm việc trong quốc hội một tiểu bang. Trước đó, ông là nghị viên và là phó thị trưởng thành phố Garden Grove, California.

Luật Sư Trần Thái Văn. (Hình: Trần Thái Văn Facebook)

Không ai có thể lớn lên mà không trải qua điều mà các nhà khoa học xã hội và nhà tâm lý học gọi là ngày “định mệnh.” Đó là một ngày, có thể do lịch sử hoặc cá nhân tạo ra, mà nó có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với số phận, cá tính, và tương lai, của một con người. Đối với hầu hết người Việt Nam ở hải ngoại, nhất là những người còn nhớ những định mệnh trong cuộc đời, chắc chắn họ không bao giờ quên ngày 30 Tháng Tư, 1975, ngày mà Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Đây cũng là ngày chúng ta rời bỏ quê hương đi tìm tự do.

Ngày 25 Tháng Tư, 1975 là một ngày định mệnh đối với tôi, khi gia đình tôi vội vã rời Sài Gòn, trên chiếc phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Mỹ, vào lúc sáng sớm, bay ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất. Lúc đó, tôi chỉ mới 10 tuổi, và đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy quê hương.

Tháng Tư tới đây sẽ là ngày tôi xa quê hương 40 năm. Tuy vậy, trong ký ức của mình, ngày định mệnh đó vẫn còn khắc sâu trong tiềm thức của tôi, như thể là nó mới xảy ra hồi tuần trước.

Thời gian trôi nhanh, vào Tháng Tư, 1988, đúng 13 năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, tôi lại có một cơ hội chứng kiến sự vui mừng và hiểu ý nghĩa thật sự một nền độc lập quốc gia, của một dân tộc từng bị khuất phục và bị trục xuất ra khỏi quê hương của họ trong hơn 2,000 năm. Dân tộc này, được gọi một cách mỉa mai là “dân tộc được Chúa chọn,” ý nói đến người Do Thái, giống như cuộc di tản của người Việt Nam hải ngoại, có mặt hầu như ở khắp nơi trên thế giới trong nhiều thế kỷ. Ngày nay, có cả người Hoa gốc Do Thái, hoặc có người gốc Do Thái sinh trưởng tại Ethiopia.

Chính lúc gặp người Do Thái ở Israel mà tôi nghiệm ra được niềm tự hào của một dân tộc từng bị đàn áp, nhưng vẫn tranh đấu và có được độc lập, trong khi số phận lại không mỉm cười với dân tộc Việt Nam, vẫn còn sống trong chế độ độc tài và tham nhũng, và chế độ này vẫn tiếp tục đàn áp chính người dân của mình. Cả hai sự kiện lịch sử trái ngược này lại tái hiện trong cùng một tuần lễ tôi có mặt tại Israel.

Tháng Tư, 1988, tôi và tám nhà lãnh đạo cộng đồng gốc Châu Á khắp Hoa Kỳ được tổ chức World Zionist Organization (WZO) mời sang thăm Israel trong 10 ngày. Đây là một tổ chức quốc tế góp phần vào việc thành lập quốc gia Israel ngày nay. WZO gọi đây là một “chuyến đi nghiên cứu” (study tour). Phái đoàn chúng tôi có một cố vấn cao cấp của Thống Đốc California George Deukmejian, một chỉ huy cảnh sát ở Philadelphia, và một giám sát viên ở San Francisco County.

Trên thực tế, chính phủ Israel, qua các tổ chức bán chính phủ như WZO, thường mời nhiều phái đoàn chính trị đến Israel như là một cách hiệu quả vận động ý kiến của người dân Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng các chính sách với các quốc gia Ả Rập, trong khi tạo nên mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ qua các chuyến đi như vậy.

Tôi không biết tại sao mình được WZO mời đi trong chuyến này. Lúc đó, tôi mới 23 tuổi, là một phụ tá đặc biệt cho Thượng Nghị Sĩ California Ed Royce, và cũng là thành viên trẻ nhất trong phái đoàn. Tuy nhiên, tôi chấp nhận lời mời. Trong phái đoàn còn có một người Việt Nam khác nữa mà trước đó tôi chưa bao giờ gặp, nhưng sau này nhanh chóng trở thành người bạn thân. Đó là nhạc sĩ và MC nổi tiếng Nam Lộc, lúc đó là giám đốc chương trình phục vụ người tị nạn của tổ chức thiện nguyện Catholic Charities, thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles. Chúng tôi là hai người Việt Nam duy nhất trong phái đoàn thăm viếng một quốc gia có một lịch sử đầy biến động, người dân trải qua nhiều hy sinh, nhưng hồi sinh nhanh chóng và tạo được cho đất nước một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Đối với tôi, chuyến thăm Israel giúp tôi khám phá nhiều sự ngạc nhiên vô cùng ý nghĩa, cùng với nhiều phát hiện rất sâu sắc.

Luật Sư Trần Thái Văn (thứ ba từ phải) ngồi trong nhà hàng
Đại La Thiên ở Jerusalem, Israel. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Chúng tôi bay máy bay của hãng El Al, một hàng không quốc gia Israel, và nhóm chúng tôi đáp xuống phi trường Ben Gurion nằm ở ngoại ô Tel Aviv vào ngày 26 Tháng Tư. Lúc đó, người Do Thái đang chuẩn bị kỷ niệm quốc khánh lần thứ 40, từ năm 1948 đến năm 1988. Đó là một chuỗi sinh hoạt kỷ niệm kéo dài cả năm trời, không chỉ cho sự tồn vong trong 40 năm, mà còn là một sự thừa nhận những thành tựu của người Do Thái khắp thế giới.

Điều gây chú ý nhất và đầu tiên của tôi đối với đất nước này, một nơi có thời tiết nóng và khô giống như San Bernardino County, là những quốc kỳ có ngôi sao của David – biểu tượng của quốc gia – bay phất phới dọc đường từ phi trường về đến trung tâm Jerusalem, dài khoảng 35 dặm. Ngôi sao của David, màu xanh dương, là điều gây ấn tượng sâu đậm của Israel đối với tôi. Tôi có cảm tưởng rằng, người Do Thái cũng vô cùng tự hào với lá cờ của họ. Và họ có quyền treo, bất cứ ở đâu.

Trong thời gian ở Jerusalem, thủ đô của Israel, chúng tôi được đi thăm nhiều tòa nhà chính phủ, với các viên chức chính quyền và quốc hội, gọi là “Knesset.” Chúng tôi cũng thăm một số bệnh viện, viện bảo tàng, và trường học. Qua tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội Do Thái, từ chính trị gia cho tới giới giáo dục, phái đoàn biết được thêm nhiều về lịch sử của Israel, cuộc đấu tranh của họ, và cuộc xung đột đang xảy ra với các quốc gia láng giềng Ả Rập, đe dọa xóa sổ quốc gia nhỏ bé này.

Có một điều lý thú là anh Nam Lộc và tôi khám phá có hàng trăm người tị nạn Việt Nam đang sinh sống ở Israel. Chúng tôi được biết, sau năm 1975, trong số người Việt Nam ra đi tìm tự do khắp thế giới, có một số đến định cư tại Israel. Lúc đó, Thủ Tướng Menachem Begin đồng ý nhận gần 300 người Việt từ các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Dù bị nhiều người Do Thái phản đối, Thủ Tướng Begin nhắc nhở họ rằng Israel có bổn phận đạo đức giúp những người tị nạn Việt Nam này. Ông nói rằng, trước đó không lâu, chính người Do Thái sống không tổ quốc ở Châu Âu và Bắc Phi vì họ cần lánh nạn, để không bị Đức Quốc Xã giết hại. Quyết định của Israel nhận người Việt Nam là một hành động nhân đạo cao đẹp mà chỉ có dân tộc từng bị đàn áp mới thấu hiểu nổi số phận của một dân tộc khác đang bị đàn áp.

Trong một buổi ăn tối ở Jerusalem, chúng tôi được mời ăn tại một nhà hàng Trung Hoa địa phương, nhưng người chủ và điều hành nhà hàng lại là một người Việt tị nạn, tên Lê Quang Phong, cựu phi công QLVNCH, từng lái trực thăng trong cuộc chiến Việt Nam. Không ai trong chúng tôi biết nhà hàng này, hoặc chủ nhân của nó, trước khi đến ăn. Quả là một sự tình cờ là nhà hàng này do một người Việt điều hành. Anh Phong rất vui mừng khi gặp anh Nam Lộc và tôi, những đồng hương từ Hoa Kỳ xa xôi đến thăm Jerusalem và ăn tối ở nhà hàng của anh, tên là Đại La Thiên. Ngay lập tức, cả ba chúng tôi chia sẻ sự gắn bó đặc biệt biệt này, từ một nơi rất xa quê hương Việt Nam. Tuy nhiên, vì là đồng hương với nhau, chúng tôi có những điểm giống nhau về chính trị, văn hóa, di sản, và ngôn ngữ.

Vào lúc đó, tự nhiên tôi cảm thấy buồn kỳ lạ, ba chúng tôi, cũng như hàng triệu người Việt Nam khác, sống rải rác tại khắp các quốc gia, cách Việt Nam cả ngàn dặm, và lúc đó, chúng tôi đang ở Israel, sắp sửa chứng kiến hai sự kiện quan trọng – quốc khánh lần thứ 40 của Israel và ngày miền Nam Việt Nam thất thủ – trong cùng một tuần lễ. Tôi thắc mắc, tại sao lịch sử lại tàn nhẫn đến thế. Niềm vui của một quốc gia này lại xảy ra cùng lúc với nỗi đau của một quốc dân khác.

Tôi còn nhớ rất rõ một chuyện xảy ra trong lúc ăn tối ở Đại La Thiên, làm nhiều người trong phái đoàn rơi lệ, nhất là ba người Việt Nam chúng tôi – anh Phong, anh Nam Lộc, và tôi. Đó là lúc anh Phong bước ra khỏi nhà bếp để gặp một thực khách. Thế là anh Nam Lộc và tôi đề nghị chúng tôi cùng hát một bài hát bằng tiếng Việt tặng cho các bạn gốc Châu Á trong phái đoàn và các bạn người Do Thái. Tôi báo cho mọi người biết chúng tôi sẽ hát một bài hát để tưởng niệm ngày miền Nam Việt Nam thất thủ, đúng vào ngày hôm sau. Cả ba chúng tôi bước đến giữa bàn và bắt đầu hát, kiểu “A cappella,” bài hát duy nhất mà tôi còn nhớ lời. Đó là bài

“Việt Nam, Việt Nam.”
Việt Nam, Việt Nam, nghe từ vào đời,
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi,
Việt Nam nước tôi…”

Chắc chắn đây không phải là chỗ hát bài này, nhưng đối với tôi, sự kiện này vô cùng ý nghĩa. Sau khi chấm dứt, tôi ngồi xuống, cảm thấy nghịch lý và vô cùng xúc động. Tôi đang ngồi trong một nhà hàng Trung Hoa ở Jerusalem, do một người Việt Nam tị nạn làm chủ, mừng ngày độc lập lần thứ 40 của Israel, trong lúc nhớ lại ngày kỷ niệm số phận của quê hương tôi, qua cái ngày số phận nghiệt ngã đã đến với hàng triệu đồng bào của tôi. Tôi nhận ra rằng, cho dù tôi ở đâu, hoặc đang làm gì, trong thâm tâm, tôi vẫn là người Việt Nam.

Tất cả những cảm nhận trái ngược của tôi khi ở Irael cũng cho tôi một hy vọng cho đồng bào tôi. Tôi suy luận, nếu người Do Thái phải mất đến 2,000 năm lưu vong trước khi trở về cố quốc, vậy thì, cộng đồng người Việt hải ngoại có thể đạt được điều này, hy vọng với thời gian ngắn hơn, để giúp Việt Nam thật sự có tự do, độc lập, và dân chủ. Tôi rất ngưỡng mộ người Do Thái, nhưng tôi cũng rất tin tưởng vào những người Việt Nam rất kiên nhẫn và tháo vát.

Đêm không ngủ tại bờ biển Tel Aviv, Israel. Người ôm đàn là nhạc sĩ Nam Lộc. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Anh Phong rất vui khi gặp anh Nam Lộc và tôi, và anh muốn dành thời gian nhiều hơn cho chúng tôi. Anh đề nghị mời những người Việt Nam sống ở vùng Jerusalem-Tel Aviv, rồi tổ chức một “đêm không ngủ” vào đêm tối 29 Tháng Tư. Anh Nam Lộc và tôi đồng ý ngay vì chúng tôi cũng muốn biết về đời sống của người Do Thái gốc Việt.

Khoảng 20 người Việt địa phương vui vẻ gặp chúng tôi tại một điểm hẹn trên bờ biển Tel Aviv, có đàn guitar, lửa trại, dầu, và nhiều thức ăn như thịt bò, cá, cua, và bánh mì, để nướng dã chiến. Thực ra, dù chúng tôi tưởng niệm ngày mất nước, nhưng ai cũng được no bụng!

Đối với tôi, một thanh niên Việt Nam mới 23 tuổi, ngồi trên bãi cát trắng ở bãi biển Tel Aviv, nhìn ra biển Địa Trung Hải, cùng đồng hương nói lên lòng khao khát cho quê hương, một quốc gia bị mất và bị lỡ cơ hội, qua những âm thanh buồn của đàn guitar, là một kỷ niệm không bao giờ quên được. Chúng tôi ngồi ở bãi biển suốt đêm, cho tới trước khi bình minh, chia sẻ những câu chuyện và kinh nghiệm cá nhân, tái xác quyết nguồn gốc Việt Nam của chúng tôi. Chúng tôi tâm sự. Chúng tôi hát. Chúng tôi cười. Chúng tôi khóc. Anh Nam Lộc hát một trong những bài hát nổi tiếng nhất do anh sáng tác, bài “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt,” với lời hát vô cùng thấm thía về người Việt lưu vong sau khi cuộc chiến kết thúc. Giống như người Do Thái ở Israel, chúng tôi muốn nghiêm túc chia sẻ những ước vọng này, cho một đất nước và thế hệ mai sau tươi sáng hơn.

Trong suốt thời gian ở Israel, tôi kết bạn với một hướng dẫn viên người Do Thái trong đoàn, tên là Ben Edelstein, sinh ra và học ở bên Anh. Tôi không thể bao giờ quên được người đàn ông này, một người Anh lịch thiệp, có kiến thức rộng về Israel, cả về lịch sử và chính trị từ cổ xưa cho đến hiện đại của Israel. Ông nói tiếng Anh với một giọng Anh phong nhã và độ chừng hơn 60 tuổi. Ông nói với tôi rằng ông từng chiến đấu chống lại Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến. Ông cũng tình nguyện và được huấn luyện trở thành phi công Hoàng Gia Anh, lúc ở khoảng tuổi tôi. Chuyến bay đầu tiên của ông là đối đầu với không quân Đức Quốc Xã.

Thời gian phục vụ trong quân đội của ông Ben Edelstein trong Đệ Nhị Thế Chiến rất đáng chú ý, nhưng lại không lý thú và vô cùng ý nghĩa bằng việc ông định cư tại Israel khi tôi khai thác ông qua đề tài này. Ông nói với tôi rằng, là một công dân Anh, ông và gia đình thực ra không liên quan gì, thậm chí không cần phải đến sống ở Israel, từng thuộc về Palestine trước năm 1948. Tuy nhiên, vì là người gốc Do Thái, ông cảm thấy có trách nhiệm phải tham gia bảo vệ độc lập quốc gia, giúp thành lập một nhà nước Israel cho những người cùng dòng máu Do Thái khắp thế giới.

Trong cuộc chiến giành độc lập từ năm 1946 đến năm 1948, ông tình nguyện gia nhập tổ chức Haganah, tiền thân của Lực Lượng Phòng Vệ Israel (IDF), chiến đấu trong việc thiết lập quốc gia Israel ngày nay. Với kinh nghiệm thời Đệ Nhị Thế Chiến, ông đã đáp lời kêu gọi của chính phủ Israel để huấn luyện các phi công mới ra trường, vì đây là một lực lượng rất quan trọng trong việc bảo vệ Israel.

Điều làm tôi đáng nhớ nhất về ông Ben Edelstein không chỉ là tài năng và kinh nghiệm quân sự của ông, mà ông có một bề dày đáng kể. Chắc chắn, chính ông là người giúp xây dựng lực lượng IDF hiện đại. Bài học đáng nhớ nhất mà tôi học được từ người đàn ông người Anh này là ông rất tự hào và cảm thấy vinh dự về nguồn gốc Do Thái của mình. Ông không ngại hy sinh cho chính nghĩa của người dân, cho ngay cả một quốc dân trước đây không có gì cả. Ông chiến đấu cho những gì ông tin là dân tộc của ông muốn và xứng đáng được hưởng. Ông nói với tôi rằng, trong thời gian chiến đấu cho độc lập của Israel, có nhiều thanh niên và thiếu nữ trẻ gốc Do Thái, những người giống như ông, từ khắp nơi ở Châu Âu và Châu Mỹ trở về Palestine, để cống hiến cho công cuộc hồi phục quê hương Do Thái, ngay cả họ chưa bao giờ đặt chân lên mảnh đất được biết tới là Israel.

Câu chuyện cá nhân của ông Ben Edelstein giúp tôi ghi nhận được những gì đang xảy ra cho công cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ của người Việt, đang được tiếp diễn tại hải ngoại và quốc nội. Xét về một mặt nào đó, người Việt may mắn hơn người Do Thái vì đã có một quốc gia rồi. Chúng ta không cần tạo ra một quốc gia khác. Chúng ta chỉ không có một chính quyền hợp pháp đại diện cho các khát vọng của dân tộc Việt Nam. Trước năm 1948, người Do Thái không có gì cả. Thế nhưng, bây giờ họ có cả hai, dù trải qua các cuộc tàn sát và diệt chủng của Đức Quốc Xã và tại các quốc gia họ sinh sống trong 2,000 năm lưu đày.

Israel là miền đất hứa của người Do Thái, và người Do Thái khắp thế giới, cho dù đang sống cách xa Jerusalem bao nhiêu, họ luôn có ý định giữ lời nguyền xây dựng một quốc gia cho chính họ. Ông Ben Edelstein có chia sẻ truyền thống Do Thái này với tôi, đặc biệt là thời kỳ trước khi nhà nước Israel ngày nay được thành lập, bằng một điệp khúc có hàng thế kỷ, mà người Do Thái mỗi khi gặp nhau thường trao đổi, đó là, “Hẹn gặp ở Jerusalem năm tới!” Đây là một lời cam quyết rất quen thuộc, nó có ý nghĩa tinh thần nhiều hơn là chuyện có mặt ở Jerusalem, một miền đất mà người Do Thái coi rất linh thiêng, giống như một lời cầu khẩn mong tất cả người Do Thái sống trong hòa bình, công bằng, và công lý. Đây là một cam quyết về danh tánh của người Do Thái và những gì họ mong muốn. Đó là lý do tại sao họ nói với nhau một cách hùng hồn: “Hẹn gặp ở Jerusalem năm tới!”

Để tưởng niệm 40 năm ngày miền Nam Việt Nam thất thủ, chúng ta nên tận dụng cơ hội này, như là một thời điểm để tái xác quyết sự đòi hòi cho tự do và dân chủ tại Việt Nam. Đối với người Việt Nam, 40 năm có thể là một thời gian chờ đợi quá lâu, nhưng lại không thấm vào đâu so với 2,000 năm chờ đợi của người Do Thái trước khi họ đến được miền đất hứa. Bổn phận và trách nhiệm tiếp tục cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ tại Việt Nam phải được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong lúc thế hệ cha anh chúng ta đang từ từ qua đi.

Thực ra, chúng ta cần có hàng ngàn người Việt Nam có tinh thần vững chắc như ông Ben Edelstein. Chúng ta đang có nhiều người Việt như ông Ben Edelstein, cả ở trong lẫn ngoài nước, và họ cần sự giúp đỡ của chúng ta. Mỗi người chúng ta, những người Việt hải ngoại, có trách nhiệm không được quên tại sao chúng ta có mặt ở đây, và cần làm gì cho những đồng bào còn đang sống mỏi mòn dưới ách Cộng Sản. Trách nhiệm này còn bao gồm dạy dỗ con cháu chúng ta không bao giờ được quên mình là ai, bài học lịch sử đau khổ của các bậc cha anh, và trách nhiệm của mình trong việc tạo ra một sự an bình, công bằng, và công lý, trên quê cha đất tổ.

Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải thay đổi để tốt hơn. Bánh xe lịch sử và sự phát triển của văn minh sẽ nghiền nát bất cứ ai cản trở con đường này. Vấn đề chỉ là thời gian, và phần lớn, nó tùy thuộc vào các nhà lãnh đạo Cộng Sản ở Việt Nam có đủ sự can đảm và thực sự muốn hủy bỏ cái lý thuyết dựa trên sự chuyên chế, dối trá, và tàn bạo. Thời gian không đứng về phía họ. Là những người yêu chuộng tự do, chúng ta hãy chia sẻ với tất cả người Việt Nam sự khao khát này, bằng câu nói, “Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn năm tới!” Tôi chắc chắn ông bạn Ben Edelstein của tôi sẽ hoàn toàn đồng ý.

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Lê Diễn Đức

Trong sự tồn tại của một dân tộc, có những giai đoạn lịch sử vinh quang, nhưng cũng có giai đoạn tăm tối, không tương xứng với tầm vóc và sự phát triển của dân tộc. Giai đoạn tăm tối ấy có thể xem là thời gian bị đánh mất.

Nước Cộng hoà Ba Lan có một truyền thống dân chủ lâu đời. Bản Hiến pháp được thông qua vào ngày 3 tháng 5 năm 1791, là bản Hiến pháp hiện đại đầu tiên ở châu Âu và thứ hai trên thế giới (sau Hiến pháp năm 1787 của Mỹ).

Quốc hội Ba Lan thông qua Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 – Ảnh tư liệu

Ba Lan giành lại độc lập năm 1918, sau Thế chiến thứ nhất, với tư cách nền Cộng hoà Ba Lan II.

Ngày 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba lan, mở màn cho Chiến tranh Thế giới II. Chính phủ Ba Lan buộc phải rời khỏi Ba Lan và thành lập Chính phủ lưu vong có trụ sở ở London trong những năm 1939-1990, là sự tiếp nối hợp pháp của nền Cộng hoà II.

Chiến tranh Thế giới II kết thúc, thoát khỏi ách đô hộ của phát xít Đức thì Ba Lan lại bị gạt qua sự áp bức khác không kém phần khắc nghiệt: đất nước bị áp đặt sự cai trị của một nhà nước Cộng sản độc tài toàn trị, được gọi là “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan”, từ năm 1945 đến 1989.

Chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989. Sau cuộc bầu cử tổng thống tự do với thắng lợi thuộc về Lech Walesa, nhà chức trách của Cộng hòa Ba Lan lưu vong kết thúc nhiệm vụ và Tổng thống lưu vong R. Kaczorowski đã chuyển giao quốc hiệu cho Tổng thống dân cử Lech Walesa.

Tổng thống Cộng hoà Ba Lan lưu vong R. Kaczorowski trao quốc hiệu cho Tổng thống Lech Walesa – Ảnh: PAP

Nhà nước Ba Lan dân chủ ra đời và về mặt chinh thức, được gọi là nền Cộng hoà Ba lan III.

Như vậy thời gian từ 1945 đến 1989, nhà nước “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan” đã không được ghi vào sự kế tục của Nhà nước Cộng hoà. Một thời gian 44 năm bị đánh mất trong lịch sử của dân tộc Ba Lan!

Nước Việt Nam kém may mắn hơn!

Ngày 17 tháng 4 năm 1945 Chính phủ của “Đế quốc Việt Nam” đứng đầu là Trần Trọng Kim được thành lập và được vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất trên danh nghĩa và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.

Mặc dù đây là thể chế do Nhật dựng lên, không có thực quyền, nhưng có thể là một cơ hội cho Việt Nam chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc, giống như nhiều nước châu Á khác.

Tuy nhiên, Đế Quốc Việt Nam chỉ tồn tại trong 5 tháng, từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945 cho tới khi bị Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 xoá bỏ.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đưa đến việc ký kết hiệp định Geneve và từ năm 1954 Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền cai trị trên miền Bắc, còn ở miền Nam một chính thể Cộng hoà ra đời. Mặc dù đây là một chính quyền thân Mỹ nhưng nó đảm bảo những yếu tố cơ bản của một nhà nước Cộng hoà.

Ở một khía cạnh nào đó có thể xem nền Cộng hoà ở miền Nam là sự kế tục nền Cộng hoà “Đế quốc Việt Nam” của Thủ tứơng Trần Trọng Kim.

Quốc kỳ cho Việt Nam Cộng hoà được sử dụng khá tương đồng với quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam, nền vàng ba sọc đỏ.

Quốc kỳ của “Đế quốc Việt Nam” năm 1945 – Ảnh: Wikipedia

Theo Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam và cắt viện trợ quân sự khiến Việt Nam Cộng hoà phải đương đầu với cuộc đánh chiếm miền Nam bằng bạo lực của Bắc Việt và cả khối cộng sản.

Tháng 4 năm 1975, Bắc Việt chiến thắng. Đảng Cộng sản Việt Nam thống trị trên cả nước. Nền Cộng hoà non trẻ của Việt Nam tại miền Nam chấm dứt.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện tập thể hoá nông nghiệp, di dân đi kinh tế mới, cải tạo công thương, ngăn sống cấm chợ, áp dụng chế độ phân phối lương thực trên cả nước, bắt giam giữ cải tạo hàng trăm ngàn quân cán chính của Việt Nam Cộng hoà và phân biệt đối xử tàn bạo với gia đình và con em họ… Chủ trương và chính sách khắc nghiệt này đã khiến cả triệu người phải dứt bỏ quê hương, đối diện với cái chết, ra đi tìm tự do ở xứ sở khác.

Khó chính xác để nói có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển. Có nguồn dẫn con số 200 ngàn nhưng một số nguồn khác ước tính 500 ngàn – 600 ngàn người chết ngoài biển. Năm 1981 hội Chữ thập đỏ quốc tế ước đoán phân nửa số người vượt biển chết dưới tay hải tặc.

Một cộng đồng người Việt hải ngoại được tạo nên, ngày mỗi lớn mạnh và có ảnh hưởng tại các nước bản xứ. Sự căm thù và bất hợp tác với nhà nước cộng sản của cộng đồng này xuất phát từ những mất mát nêu trên.

Nhà nước Cộng sản đã áp đặt một bộ máy công an trị trên cả nước, dùng bạo lực để đàn áp mọi tư tưởng phản kháng, tước đoạt các quyền cơ bản của con người mà trước hết là quyền bầu cử tự do, tự do ngôn luận, tự do lập hội…

Có thể nói không cường điệu rằng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, nơi mà an ninh theo dõi kiểm soát, chi phối từng hoạt động của mỗi người. Chỉ sự ngoan ngoãn, tuân phục mới có thể mang lại yên lành. Một chế độ bất nhân và vong bản, chỉ đáp ứng ít nhiều về vật chất nhưng hoàn toàn giam hãm tư tưởng của con người trong một của học thuyết ngoại lai, không tưởng: học thuyết Mác-Lenin.

Chẳng biết khi nào chế độ Cộng sản ở Việt Nam mới sụp đổ, nhưng là một chế độ đi ngược với xu thế của nhân loại tiến bộ, chắc chắn sẽ bị xoá sổ. Đã hình thành những tiếng nói phản kháng, đã có sự thức tỉnh của nhiều đảng viên trong guồng máy và sự chán nản của dân chúng đối với nhà nước cộng sản.

Nếu giống như Ba Lan, khi chế độ cộng sản được thay thế bằng một nhà nước Cộng hoà dân cử. Lúc ấy nhìn lại lịch sử chúng ta có thể kết luận rằng, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam là thời gian bị đánh mất. Một thời gian bi thảm, chứa chất đầu thù hận, chia rẽ và đau thương của người Việt.

© Lê Diễn Đức

VN xử lại vụ công an đánh chết người

VN xử lại vụ công an đánh chết người

  • 7 tháng 4 2015

Bản án sơ thẩm hồi năm ngoái đối với các 5 sỹ quan công an đã khiến dư luận phẫn nộ vì bị cho là quá nhẹ

Tòa án tỉnh Phú Yên bắt đầu xét xử sơ thẩm lần hai vụ năm công an dùng nhục hình gây chết người.

Trong khi đó, luật sư bảo vệ cho bên bị hại nói ông hy vọng phiên tòa lần này sẽ đưa ra bản án ‘nghiêm minh hơn’.

Năm bị cáo trình diện trước tòa sáng 7/4, trong đó có bốn cựu công an TP Tuy Hòa và một cựu lãnh đạo trinh sát tỉnh Phú Yên, bị truy tố về tội ‘Dùng nhục hình’, theo các báo trong nước,

Ông Lê Đức Hoàn, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra công an TP Tuy Hòa, người từng xuất hiện trong những lần xét xử trước với tư cách nhân chứng, cũng bị truy tố về tội ‘Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng’ trong phiên tòa lần này.

Báo Thanh Niên dẫn cáo trạng được đọc tại tòa cho biết ngày 13/5 năm 2012, năm bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành, Phạm Ngọc Mẫn, Nguyễn Tấn Quang, Đỗ Như Huy, Nguyễn Minh Quyền đã bắt giữ ông Ngô Thanh Kiều vì nghi ngờ trộm cắp.

“Do bức xúc trước thái độ khai báo của Kiều, các bị cáo đã có hành vi khóa tay, dùng gậy cao su đánh, không cho Kiều ăn dẫn đến hậu quả Ngô Thanh Kiều tử vong”, cáo trạng cho biết.

“Hành vi của các bị cáo trên đủ yếu tố cấu thành tội ‘Dùng nhục hình’, Điều 298 Bộ luật hình sự.”

Phiên tòa sơ thẩm hồi năm ngoái đã gây phẫn nộ cho dư luận trong nước sau khi đưa ra mức án chỉ từ 1 năm án treo đến 5 năm tù cho các bị cáo.

Kết quả phiên xét xử này đã bị tòa phúc thẩm hủy bỏ sau đó.

‘Nghiêm minh hơn’

Trả lời BBC ngày 7/3, Luật sư Võ An Đôn, người bảo vệ cho bên bị hại, nói ông hy vọng rằng phiên tòa lần này sẽ “nghiêm minh hơn lần trước”.

“Các phiên tòa trước đó đã bỏ sót nhiều tội danh và các bản án được đưa ra cũng không thỏa đáng”, ông nói.

” Sự ủng hộ từ công chúng đã giúp tôi mạnh mẽ và quyết tâm nhiều hơn để đấu tranh cho công lý

Luật sư Võ An Đôn, người bảo vệ cho bên bị hại”

“Thi thể nạn nhân có tổng cộng 72 vết thương, 12 vết trên đầu, nội tạng bị đánh dập hết.”

“Trong khi đó, các bị cáo chỉ nhận đánh mỗi người có 2 đến 3 cái, còn vết thương trên đầu thì không ai nhận”.

“Cần phải có người bị quy trách nhiệm cho những vết thương này”.

Đến dự phiên tòa sáng 7/4 có vợ, con, các chị và cha mẹ của nạn nhân, ông Đôn cho biết.

Cũng theo ông, các bị cáo xuất hiện tại phiên tòa lần này với khuôn mặt ‘nghiêm trang, sợ sệt hơn trước”.

Phiên tòa sơ thẩm lần này dự kiến sẽ kéo dài từ 3 đến 5 ngày, ông nói thêm.

‘Quyết tâm hơn nhờ dư luận’

Hồi tháng 12 năm ngoái, truyền thông trong nước dẫn thông tin từ Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư Phú Yên cho biết công an, Viện Kiểm sát và Tòa án Nhân dân TP Tuy Hòa đã gửi kiến nghị “xử lý vi phạm” của Luật sư Đôn trong quá trình tranh tụng bảo vệ bên bị hại trong vụ án.

Văn bản cáo buộc ông Đôn “có lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm đến người tham gia tố tụng vụ án và nhiều đồng chí đương nhiệm” và “tạo thành điểm nóng không tốt trong dư luận xã hội”.

Luật sư Đôn xác nhận với BBC đã bị gây áp lực sau phiên phúc thẩm hồi năm ngoái.

Tuy nhiên ông cũng cho biết sự ủng hộ từ dư luận đã khiến ông “quyết tâm” hơn.

“Sau phiên phúc thẩm lần trước, phía công an và viện kiểm sát tỉnh đã muốn tịch thu chứng chỉ hành nghề của tôi,” ông nói.

“Nhưng sau khi bị dư luận gây sức ép, họ đã không dám làm gì nữa.”

“Sự ủng hộ từ công chúng đã giúp tôi mạnh mẽ và quyết tâm nhiều hơn để đấu tranh cho công lý.”

NIỀM VUI PHỤC SINH

NIỀM VUI PHỤC SINH

Những ngày u ám đã qua.  Những đòn roi, tiếng hò hét đòi đóng đinh, những tranh luận gay gắt, tiếng chửi rủa, sỉ vả, tiếng búa chan chát, những giọt máu, vòng gai… chỉ qua một đêm là đã trở thành dĩ vãng.  Người thỏa mãn với quyền lực của mình thì vui tươi vì đã loại trừ được một cái gai trong mắt. Người sợ hãi thì giam mình trong những gian phòng tối.  Những cao trào hay ồn ào của sự kiện một người nổi tiếng bị đóng đinh cũng qua đi.  Mọi người lại trở về với cuộc sống bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy đến.  Lịch sử của cuộc đời Giêsu tưởng là đã chấm hết với những khăn liệm và ngôi mộ lạnh lẽo thê lương.  Ai ngờ, chính từ nơi cõi chết ấy, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng của Người.  Từ lòng đất âm u, Người đã cho bừng dậy muôn nơi những phúc ân rạng rỡ.

Sáng sớm hôm ấy, có một số người phụ nữ yêu mến Giêsu lặn lội chạy ra mồ khi trời còn chưa tỏ.  Trên đường đi, các bà còn lo lắng không biết phải đẩy tảng đá lấp mồ như thế nào, để có thể vào trong xức dầu thơm cho xác Chúa.  Trong nhãn quan của các bà, rõ ràng là Giêsu đã chết.  Nhưng vừa ra đến mồ, các bà kinh hãi vì tảng đá đã được dịch sang chỗ khác.  Lại còn có các Thiên Sứ sáng chói ánh hào quang cho biết là Đức Giêsu đã sống lại rồi.  Các bà vội chạy về báo cho các môn đệ.  Hai ông Phêrô và Gioan cũng vội vã chạy ra và chứng thực những gì mà các bà kể lại.  Bà Maria Madalena chưa kịp hoàn hồn, cứ ngỡ ai đánh cắp xác của Thầy mang đi.  Bà đứng đó mà khóc.  Sau khi được tiếng gọi của Đức Giêsu lay động, bà vui mừng hớn hở, chạy về loan tin khắp nơi.  Một niềm vui khác hẳn chợt bừng lên trong bà và những ai chứng kiến, một niềm vui có âm vị chưa từng có trong đời.  Niềm vui ấy là niềm vui do cảm nghiệm được sự sống thần linh, niềm vui được cảm nếm trước hạnh phúc Thiên Đàng, nếm được một sự sống thật, sự sống của chính Thiên Chúa.

Các bạn trẻ thân mến,

Sự kiện Chúa chết và sống lại đã xảy ra cách đây khá lâu xét về mặt lịch sử.  Nhưng ơn phục sinh của Ngài vẫn luôn có đó và tuôn tràn khắp nơi, trong con tim và khối óc của mỗi người.  Có một hạt giống bị chôn vùi vào lòng đất, nay trổ sinh thành một chồi non mơn mởn, chứa đựng bên trong bao sức sống khác.  Mùa đông đã qua đi, mùa xuân đến kéo theo muôn chim vui ca hót tưng bừng, ngàn hoa đua nhau khoe sắc.  Xã hội có thể có những lúc khủng hoảng, nhưng rồi mọi chuyện cũng tốt lên.  Cuộc sống của chúng ta có thể có những khoảng thời gian u ám, tưởng như không sao vượt qua được, nhưng rồi một tia hy vọng chợt đến, giúp ta lấy lại thế quân bình, và tiếp tục sống những ngày tháng vui và hạnh phúc.  Thánh Thần chưa bao giờ thôi hoạt động.  Những sự sống mới lúc nào cũng nảy sinh.  Nơi góc đá khô cằn bên sườn núi, ta vẫn thấy có những cành hoa dại cố gắng vươn ra.  Nơi những triền dốc chơ vơ giữa trời, thấp thoáng vẫn có nhành cây nhỏ uốn mình theo gió.  Nơi sa mạc khô cháy và hoang vu, vẫn có những ốc đảo xanh rì rợp bóng mát.  Những dấu hiệu tự nhiên như thế cũng tỏ lộ phần nào quyền năng mãnh liệt của Thiên Chúa vượt lên trên sự chết rợn người.

Sự phục sinh của Giêsu cho chúng ta thấy những gì mà trước kia Ngài nói với chúng ta không sai chút nào.  Rằng nếu con người chịu chết đi cho những lụy tục của mình, con người sẽ được sống.  Rằng muốn đi đến vinh quang, con người phải đi qua thập giá.  Rằng niềm tin và tình yêu sẽ chiến thắng tất cả.  Rằng quyền năng của Thiên Chúa là vô đối vô song.  Rằng chỉ cần ta một lòng tín thác vào Chúa và vâng nghe Lời Người thì Người sẽ cho ta thấy Người tuyệt diệu biết bao khi dẫn ta qua những màn đêm của chết chóc.  Dẫu có khi đứng trước những hy sinh, ta có phần sợ hãi, buồn phiền, thậm chí là chùn chân, nhưng nếu ta tiếp tục tín thác và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp trong tay Chúa, ta sẽ được Người thưởng công bội hậu.

Để có thể trở thành một con bướm xinh, con sâu phải chịu đau đớn chui ra khỏi cái kén.  Để có thể trở thành một con chim sải cánh giữa trời bao la, những mệt mỏi khi cố gắng thoát ra khỏi cái vỏ là điều không thể tránh đối với nó.  Thành công nào cũng đòi phải có hy sinh.  Phục sinh nào cũng đòi phải bước qua thập giá.  Ước gì Chúa Phục Sinh ban thêm sức cho chúng ta, để chúng ta dám vượt thắng con người ù lì và nhát đảm của mình, dám hy sinh vì công lý, vì đạo nghĩa, vì Đức Kitô ngõ hầu chúng ta có thể được cùng Người sống lại trong vinh quang.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ