XIN TẠ ƠN BA ĐẤNG, GIÊSU – MARIA – GIUSE…

XIN TẠ ƠN BA ĐẤNG, GIÊSU – MARIA – GIUSE…

Trích EPHATA 641

Kính thưa quý độc giả Ephata, câu chuyện dưới đây đã xảy ra cách đây hơn hai năm, tuy nhiên tính thời sự vẫn cứ luôn nóng hổi nóng hổi. Chúng tôi đã đăng bài này trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 17 ra mắt tháng 2 vừa qua, nay lại xin gửi đến quý độc giả của Ephata số tân niên này, chỉ nhắm đến một điều là chúng ta cùng chia sẻ với nhau một niềm xác tín vào Thiên Chúa, lại khích lệ lẫn nhau cùng đứng vững trong tinh thần Bảo Vệ Sự Sống, như vậy mới mong đề kháng được với chủ trương phá thai, vừa duy vật lại vừa vô thần, hiện đang là chính sách của cả một chế độ xã hội, lại đã âm thầm xói món vào lương tâm của cả những người có tín ngưỡng tâm linh, nhất là người Công Giáo…

Ngày 14.11.2012, con có viết một E-mail nhờ cha Quang Uy cầu nguyện cho gia đình chúng con. Lý do vào thời điểm ấy, vợ chồng chúng con bị khủng hoảng và suy sụp do bác sĩ khám thai, bảo là thai nhi con của chúng con có nguy cơ dị tật Hội Chứng Down.

Cha Quang Uy đã cho chúng con lời khuyên là dứt khoát không nghe lời bác sĩ để bỏ thai nhi. Cha hứa sẽ cùng Nhóm BVSS, Nhóm Fiat hiệp ý cầu nguyện ngay. Đặc biệt sau đó, cha đã dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho con của chúng con vào lúc 20 giờ Lễ Xa Quê tại Nhà Thờ DCCT Chúa Nhật 18.11.2012.

Trong suốt thai kỳ của vợ con sau đó, chúng con da diết cầu nguyện nhiều hơn với Chúa Giêsu – Mẹ Maria – Thánh Giuse, chúng con cũng đặc biệt cầu nguyện với các Linh Hồn Thai Nhi và Thánh Giêrađô. Chúng con biết đến Thánh Giêrađô là do đọc kinh Bảo Vệ Sự Sống từ khi học Giáo Lý Hôn Nhân Agape của cha. Ngoài ra, khi con chợt nhớ đến bất kỳ Thánh nào, con đều cầu nguyện hết.

Thế rồi cha ơi, ngày 12.5.2013 vừa qua, vợ con đã sinh một bé trai 3,4 kg khỏe mạnh. Lúc đó, chúng con vỡ òa, rơi nước mắt vì hạnh phúc. Cảm tạ các Ngài đã nhận lời chúng con, và giờ bé rất kháu khỉnh, đêm về bé hơi khó chịu và hành mẹ chút xíu. Từ khi con của chúng con ra đời, chúng con có mệt hơn, cực hơn nhưng vui và hạnh phúc vô cùng, cha ạ !

Hằng ngày chúng con vẫn tiếp tục cảm tạ Chúa Giêsu – Mẹ Maria – Thánh Giuse, Thánh Giêrađô, các Thánh, các Thiên Thần, các Linh Hồn Thai Nhi, cũng như cầu nguyện xin tiếp tục gìn giữ ban bình an và khỏe mạnh cho con của chúng con. Chúng con đã chọn tên Thánh cho bé là Giêrađô Trần Đức Tín. Có lẽ chúng con tội lỗi, trước đây chúng con cũng ít đọc kinh tối và lười cầu nguyện nên Chúa muốn củng cố Đức Tin cho chúng con, đúng không cha ?

Cuối thư, con xin Chúa Giêsu – Mẹ Maria – Thánh Giuse và các Linh Hồn Thai Nhi đổ tràn hồng phúc cho quý cha trong Dòng. Con biết ơn cha Quang Uy đã dâng Thánh Lễ Tạ Ơn ngày 22.6.2013 ở Nhà Nguyện Hiệp Nhất DCCT và đích thân cử hành Bí Tích Thánh Tẩy cho cháu Đức Tín. Gia đình chúng con sẽ nhớ và cầu nguyện cho cha trong giờ kinh tối hằng ngày.

Giuse TRẦN VĂN THIẾT – Maria NGUYỄN THỤY MINH Ý

“MẸ ƠI, CON YÊU MẸ, YÊU TỪ HỒI THƠ BÉ…”

“MẸ ƠI, CON YÊU MẸ, YÊU TỪ HỒI THƠ BÉ…”

Trích EPHATA 641

Thằng nhóc người Mỹ phục vụ bàn tại nhà hàng mình làm là người theo đạo Cải Cách ( Reform Church ), nhánh Methodist. Bỗng dưng tuần trước, hỏi tôi: “Xếp ơi, xếp là người Công Giáo, có bao giờ xếp gặp Bà Maria chưa ?” ( Nguyên văn, thằng bé dùng từ “encounter” có nhiều nghĩa: chạm trán, gặp mặt, đối diện, chứng kiến một phép lạ của Mẹ Maria v.v… ).

Câu hỏi của cậu bé khiến mình suy nghĩ nhiều, cũng đến lúc mình nói lên chứng tá nhỏ bé của mình. Có lẽ sau “Jesus”, thì “Maria” là một tên gọi gây nên nhiều tranh cãi và nhạy cảm nhất. Lời mở đầu cuốn “More Than A Carpenter” của Josh McDowell, như sau: “…as soon as you mention Jesus, people often want to stop the conversation. Why have men and women down through the ages been divided over the question “Who is Jesus ?” ( ngay khi bạn đề cập đến Giêsu, người ta thường muốn ngưng đối thoại. Làm sao mà cả đàn ông lẫn phụ nữ trong mọi thế hệ cứ bị chia rẽ bởi câu hỏi này ?”

Mình muốn thay “Jesus” bằng “Maria” để minh họa khía cạnh ảnh hưởng rất sâu xa và rộng lớn của Mẹ Maria trong đời sống tâm linh và lý luận con người.

Điều gì đã làm cho một cái tên, một thôn nữ bình dị của làng quê Nazareth, được đề cập không nhiều trong Kinh Thánh, lại trở thành một tâm điểm cho nhiều lẽ sống, suy tôn, ca tụng, là cảm hứng cho mọi ngành nghệ thuật và cũng là chủ đề cho quá nhiều tranh luận và chia rẽ lớn lao ?

“Rất Thánh Mân Côi”, “Vô Nhiễm Nguyên Tội”, “Nữ Vương Hòa Bình”, “Mẹ đầy ơn phước” “Đấng Cầu Bầu”… Bao nhiêu là danh xưng, tước hiệu dành cho Mẹ Maria. Nhưng thú thật tôi lại rất say mê tước hiệu “Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Vì một lẽ đơn giản, sự hiện diện rất rõ ràng và sinh động của Mẹ trong đời sống thế gian và cảm nghiêm tâm linh con người chính tôi.

Bác tôi là một Linh Mục, cuộc đời của bác có không biết bao lần bàn tay Mẹ can thiệp rõ ràng. Tôi chỉ xin kể lần cuối cùng. Lúc đó, bác đã rơi vào trạng thái “thực vật”. Bác sĩ gọi chị tôi và sơ phụ trách chăm sóc vào để thông báo ông đã hoàn toàn ở “trạng thái sống cũng như chết”, vậy chỉ còn vấn đề quyết định có chọn “an tử” hay không, nghĩa là nếu quyết định rút một sợi dây, bác sẽ ra đi nhẹ nhàng, còn ngược lại thì cứ để bác nằm đó, thoi thóp tội nghiệp ngày này qua ngày khác với đủ thứ máy móc, dây nhợ, có khi cả vài năm mới xuôi tay !

Chị tôi và bà sơ không thể quyết định, đúng là tiến thoái lưỡng nan, bỏ thì thương, vương thì tội đầy đầu ! Họ chạy ra ngoài, quỳ xuống ngoài hành lang nhà thương, và đọc kinh Mai Khôi cầu nguyện, chỉ ít phút sau, bác ra đi nhẹ nhàng và thanh thản, chẳng cần đến chuyện “trợ tử”, “an tử” chi cả !

Thời còn chiến tranh, đợt pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, mấy chị em tôi nằm dưới cầu thang của tòa nhà, run rẩy vì sợ. Chị Cả nói tất cả hãy cùng đọc kinh Mai Khôi, vừa đọc vừa khóc. Sáng ra, nhìn cái chỗ hai anh em tôi vẫn chơi đùa, chi chít các loại đinh ghim có bốn cánh, khi bom nổ, bắn ra gây sát thương tàn bạo. Cái chỗ ấy chỉ cách chỗ ẩn nấp của chúng tôi một tấm vách gỗ mỏng mảnh mong manh !

Có lần tôi nhận giữ quỹ quyên góp cho người nghèo gửi về từ Mỹ. Sổ sách thế nào, khuyết mất 5.000 đôla. Một số tiền quá lớn lúc bấy giờ. Tôi lo đến tím tái cả người, làm sao bây giờ ? Tôi chả có bất kỳ chi tiết gì giúp hình dung số tiền đó ở đâu. Chả dám hé răng, cứ mê muội cả hai, ba tuần lễ liền. Thế rồi, trong trí nhớ chợt lóe ra một niềm hy vọng, tôi chạy đến trước pho tượng Mẹ Maria trong nhà, quỳ xuống cầu xin. Lạy Chúa tôi, tôi tìm ra ngay lập tức nguyên vẹn cái bao thư đựng tiền tôi làm rớt ngay dưới gầm cái tủ sắt, rất nhiều người làm ra vào, bất kỳ ai cũng có thể đã nhặt lấy và cầm đi cái phong bì ấy.

Có đến năm, sáu lần xảy ra những chuyện liên quan đến tiền nong tương tự, và chỉ sau lời cầu nguyện Mai Khôi, Mẹ lại giải quyết ổn thỏa, cứ như đùa, không tin không được !

Một người xếp cao cấp công ty dược phẩm kia, thân với tôi, ông gặp vấn đề xung khắc tinh thần, vì công ty ông sản xuất thuốc tránh thai, thuốc giục thai, thuốc phá thai, mà ông lại là người Công Giáo. Ông hỏi tôi: “Tôi nên làm thế nào ?” Cái tên kém cỏi về Giáo Lý như tôi làm sao mà đủ tư cách trả lời bây giờ ! Tôi hỏi cha Quang Uy, Cha nói: “Anh bảo ông ta cứ cầu nguyện xin Mẹ Maria hướng dẫn”. Tôi thậm chí bực mình vì cha Uy đã không đưa ra được một lời khuyên nào cụ thể, chứ nói như thế thì quá đơn giản, ai chẳng nói được. Nhưng rồi tôi cũng vâng lời làm theo đúng chỉ dẫn. Tôi tặng ông một chuỗi Mai Khôi, đem vào Nhà Thờ Phủ Cam, Huế, nhờ cha Sở thánh hóa… Chỉ ít lâu sau, ông xin nghỉ việc ở công ty dược phẩm kia một cách bất ngờ, và bây giờ, ông đang vận hành một công ty tư vấn riêng, rất thành công. Thỉnh thoảng ông vẫn gửi email cảm ơn vì đã “nhắc tôi cầu nguyện với Mẹ Maria, điều mà tôi không hề nghĩ là sẽ giải quyết được vấn đề cách trọn vẹn đâu ra đấy như thế !”

Những năm 1994, 1995 gì đó, ở Việt Nam rộ lên loại tội phạm chuyên bắt cóc người đem sang bán bên Kampuchia, con bé em lần đầu tiên lên Sàigòn học luyện thi Đại Học. Hẹn nó ở ngã tư Hàng Sanh, tới giờ, ra đón chả thấy đâu, nghĩ nó kêu xe ôm, chạy về nhà ở đường Hồ Biểu Chánh cũng chả thấy, lại chạy ra Hàng Sanh, rồi lại chạy về nhà… cứ thế cả gần bốn, năm vòng mà em thì cứ mất tăm. Vợ ngồi sau xe cứ sụt sịt khóc vì lo sợ. Vòng cuối cùng, tôi bảo vợ: “Thôi, phải đi báo Công An thôi”. Nhưng từ Phú Nhuận, tôi vòng qua Nhà Thờ Đức Bà và đọc một kinh Mai Khôi với lời cầu nguyện “xin Mẹ cho chúng con bằng an” rồi lại vòng lên Văn Thánh, về nhà, định bụng sẽ tới đồn Công An luôn, tự nhiên thấy đèn trên lầu sáng, gọi với lên, con bé em thò đầu ra… Hú vía, quát đứa em mà lòng bay bổng lên tới Mẹ Maria.

Khi vợ chồng tôi sinh cháu đầu lòng, cháu bị cái gì đó, không ra “phân su”. Vợ tôi là bác sĩ phán cho một câu bàng hoàng ngay trong nhà thương: “Anh ơi, nếu sau vài giờ nữa, không thấy ra phân su, con mình sẽ phải… đại phẫu !” Chúa ơi, sợ ơi là sợ, nhìn con khóc, bụng trương phình mà thắt cả ruột gan. Chạy một mạch ra Nhà Thờ Phú Hạnh gần đó, quỳ bên đài Đức Mẹ và nói lời cầu nguyện rối bời chả giống ai: “Mẹ ơi, xin Mẹ cho con của con nó chịu ra… phân su”. Về đến nhà thương, vừa đúng lúc, thấy bà ngoại đang giúp con thải ra một đống phân su đen và quánh đặc như nhựa đường. Lúc đó, tôi dường như muốn sụp xuống quỳ lạy Mẹ Maria một cách vô thức.

Và còn nữa, nhưng cũng chỉ là chuyện bé bỏng của cá nhân tôi…

Các Thầy Dòng Phanxicô luôn mang theo một chuỗi Mai Khôi lòng thòng ngay chỗ thắt lưng có sợi dây thừng màu trắng thắt ba cái nút tượng trưng cho ba lời khấn, ai cũng hiểu rằng, các Thầy coi đó là vật hộ thân, Đức Mẹ sẽ bảo vệ các thầy trên đường đời hành đạo, đi trên lưng lừa ngựa qua những con đường xa xôi, nguy hiểm để tới những nơi truyền giáo. Nhưng có lẽ, ít người biết một điều khác, và điều này các Thầy vẫn đang làm. Ngày xưa, khi cưỡi lưng ngựa, lừa, la đi trên con đường dài tới nơi cần, các Thầy dùng chuỗi Mai Khôi cầu nguyện và con đường sẽ trở nên ngắn hơn, hành trình như nhanh hơn. Các Thầy gọi đó là “The Franciscan way”. Lời cầu kinh Mai Khôi luôn làm cho các con đường đi trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Và bản thân tôi, khi lái xe tới chỗ làm hay từ chỗ làm lái xe về nhà hàng ngay, tôi vẫn làm Dấu Thánh và đọc Kinh Mai Khôi: “Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ…”

Ks. THÁI VŨ, Texas ( Hoa Kỳ )

TUỔI THƠ

Nguyện cầu cho những hình ảnh này bây giờ và mãi mãi không còn tồn tại trên qủa địa cầu và nhất là nơi quê hương VN thân yêu !!!.

TUỔI THƠ

Cho tôi một vé tuổi thơ
Về thăm xóm mẹ đợi chờ bấy lâu
Đường quê lầy lội nông sâu
Áo thô miếng vá bạc mầu nắng mưa
Chìm trong giấc mộng ban trưa
Bụng không uống ngụm nước mưa qua ngày
Đầu khô tóc cháy bay bay
Da trần gió bụi trắng tay kiếp nghèo
Nhọc nhằn vất vả đeo theo
Mồ hôi muối bạc mốc meo phận người
Tuổi thơ thiếu mất nụ cười
Sân trường phấn bảng hổ ngươi được gì
Qua rồi tuổi mộng mơ đi
Qua rồi giọt nắng xuân thì bay xa
Còn đâu nước mắt ruột rà
Còn đâu tiếng mẹ bóng cha ngõ về
Lung linh xó tối u mê
Co ro côi cút ê chề đắng cay…

Liverpool.6-3-2015
Song Như.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Trên bãi rác ngập đến đầu người bốc mùi hôi thối, hàng trăm người vẫn trèo lên đào bới, tìm kiếm ve chai bán lấy tiền sinh sống qua ngày.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Từ sáng sớm, hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau đưa rác từ trung tâm TP về bãi Khánh Sơn (phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng). Khi xe đổ rác xuống bãi, hàng trăm người dân ở các phường Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Bắc ào tới tranh nhau lùng sục, đào bới tìm bất cứ thứ gì có thể bán được. Mỗi ngày bãi Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân TP.
Tại bãi rác này thường xuyên có hơn 100 người hành nghề nhặt rác để nuôi sống bản thân và gia đình họ. Mỗi ngày bãi rác Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân toàn TP Đà Nẵng.
Dụng cụ bới rác là một chiếc cuốc 3 chĩa nhỏ. Những người này lượm từng bao nylon, giấy vụn, phế liệu, chai nhựa… thậm chí cả xương động vật, thức ăn thừa.
cho biết hầu hết các loại rác thải nhặt được đều có thể bán. Vừa nói, bà Lan vừa phân loại từng thứ một, bao ni-lông hay gọi là lông giòn bán 800 đồng/kg, sắt phế liệu thì tùy loại có giá khác nhau, xương (heo, bò) cũng có giá 800 đồng/kg…
Sau khi rác được phân loại, họ mang bán cho các cơ sở thu gom. Theo đó, 1 kg nylon có giá 800 đồng, xương heo và bò 800 đồng/kg, còn sắt phế liệu thì tùy từng loại có giá khác nhau…
Ban đầu chỉ có vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng về sau hình thành cả đội quân chuyên nhặt rác. Trong đó, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau với nghề .
Ban đầu chỉ vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng ngày càng nhiều, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau sống với nghề lượm phế liệu ở Khánh Sơn.
Ông Hà Văn Thái - Giám đốc xí nghiệp cho biết, về nguyên tắc là sẽ cấm người dân nhặt rác, nhưng do những người nhặt rác tại bãi rác này phần lớn là dân địa phương, có hoàn cảnh nghèo khó nên đã cho họ làm đơn xin nhặt rác.
“Vẫn biết rất nguy hiểm và lây nhiễm bệnh tật nhưng vì nghèo khó nên chúng tôi phải chấp nhận sống trên bãi rác này chứ biết làm gì bây giờ”, ông Nguyễn Văn Đắc (trú Hòa Khánh Nam) cho hay. Theo tìm hiểu, nhiều người đã có hơn 20 năm làm nghề nhặt rác ở bãi này.
Nhiều gia đình có vợ, chồng và các con đều nhặt rác ở đây. Theo lời kể của họ thì trước đây họ đều làm nông. Nhưng sau đó chính quyền đã thu hồi ruộng của họ để quy hoạch bãi rác này (khoảng 38 ha) nên họ phải lên đây nhặt rác mưu sinh.
“Ai cũng nói sao không kiếm cái nghề gì sạch sẽ hơn chút để làm tiền, thiếu gì chỗ mà chui lên bãi rác bẩn thỉu này. Nhưng nhìn rứa chứ bãi rác này nuôi sống được biết bao nhiêu gia đình. Đây không phải là nghề xấu xa nên tôi không ngại gì”, một người nhặt rác nói. Ông Hà Văn Thái – Giám đốc xí nghiệp Quản lý bãi và xử lý chất thải Đà Nẵng (thuộc công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Đà Nẵng) cho biết về nguyên tắc là cấm người dân vào bên trong, nhưng do những người nhặt rác ở đây phần lớn là dân địa phương, nghèo khó nên… ai làm đơn thì xí nghiệp cho vào.
Ông Hà Văn Thái, Giám đốc xí nghiệp cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Có những trường hợp họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… họ đều tìm đến tận nơi để nộp mà không hề đòi hỏi gì cả.
Ông Thái cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Nhiều lần họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… đều tìm đến tận nơi để giao lại mà không hề đòi hỏi gì cả.
Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Theo ông Thái, việc người dân vào bãi rác để mưu sinh không có phương tiện bảo hộ rất dễ sinh bệnh. “Nếu cấm người dân nhặt rác cũng đồng nghĩa chặn hết đường sống của họ. Nguyện vọng của tôi là muốn TP đầu tư dây chuyền xử lý và phân loại rác. Lúc đó, chính quyền có thể tận dụng người nhặt rác làm công đoạn phân loại thủ công để cuộc sống của họ không bấp bênh như hiện nay ”, ông Thái tâm tư.
Những người nhặt rác thường ăn, ngủ luôn tại bãi rác. Họ làm từ mờ sáng và đến tối mới về nhà.
Những người này làm từ mờ sáng đến tối mới về nhà.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ hạ lưng nghỉ ngơi ngay tại bãi rác rồi sau đó lại tiếp tục làm việc.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ nghỉ ngơi ngay tại bãi rác, sau đó lại tiếp tục làm việc.
Phóng to 

Bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, cho biết địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn những người nhặt rác đều có trình độ thấp và đã lớn tuổi nên khó tìm được công việc thích hợp.

Theo bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn họ đều có trình độ thấp và lớn tuổi nên khó tìm được công việc phù hợp

MÙA CHAY, MÙA ĐỔI MỚI

MÙA CHAY, MÙA ĐỔI MỚI

LM Phêrô Nguyễn Văn Hương

lent

Mùa Chay là thời gian thuận tiện nhất để mỗi người kitô hữu đổi mới con người và đời sống của mình. Đổi mới là quy luật của sự phát triển và tiến bộ.  Chúng ta quan sát thiên nhiên trong những ngày mùa đông giá lạnh, cây cối trở nên cằn cỗi, trơ trụi và xem ra như không còn sức sống.  Nhưng khi mùa xuân về, khí trời ấm áp, cây cối bừng dậy sức sống, chúng đâm chồi nảy lộc, trổ hoa muôn màu sắc trông thật đẹp mắt.  Thiên nhiên và sự sống xung quanh chúng ta thật kỳ diệu!  Qua sự kiện này, chúng ta nhận thấy rằng đổi mới là quy luật của phát triển nơi thiên nhiên.

Đối với người kitô hữu, đổi mới là quy luật của sự nên thánh.  Vì thế, Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải đổi mới mỗi ngày, đổi mới liên lỉ, đặc biệt khi chúng ta bước vào một năm mới và nhất là bước vào Mùa Chay thánh.  Tuy nhiên, chúng ta thử hỏi rằng chúng ta cần phải đổi mới như thế nào?

Thiên Chúa không muốn chúng ta chỉ đổi mới ở bên ngoài như thay đổi dáng dấp, cách ăn mặc, hay nơi chốn sinh sống, nhưng Ngài mời gọi chúng ta phải đổi mới triệt để từ bên trong, đổi mới toàn bộ con người và đời sống của chúng ta.

Để thực hiện được điều đó, thánh Phaolô trình bày về sự đổi mới triệt để và toàn vẹn mà chúng ta có thể tóm tắt qua 3 bước sau đây:

 

1/ Bước thứ nhất, đổi mới là cởi bỏ con người cũ

Thánh Phaolô mời gọi: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham hố lừa dối” (Eph 4, 22).  Theo thánh Phaolô, cởi bỏ con người cũ là cởi bỏ “con người thuộc hạ giới,” con người sống theo xác thịt với những hành vi: “Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống vậy.  Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5, 20-21).

Danh sách các thói xấu mà thánh Phaolô đưa ra ở đây chỉ có tính cách tượng trưng, nhưng các tính hư tật xấu này cũng đủ để cản ngăn con người tiến lên với Thiên Chúa.  Chúng là các dây xích cầm buộc con người trong vòng tục lụy và gây ra biết bao nhiêu hậu quả khổ đau cho cuộc sống mỗi người.

Mùa Chay là cơ hội quý báu để chúng ta cởi bỏ con người cũ, từ bỏ các thói hư tật xấu này trong chúng ta.  Nếu không từ bỏ chúng, sẽ không có sự tiến bộ về nhân đức, và như thế chúng ta sẽ không được thừa hưởng hạnh phúc Nước Trời.  Chính vì thế, Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải lột bỏ con người cũ với các tội lỗi và đam mê xấu xa nguy hại ấy để mặc lấy đời sống mới theo Thánh Thần hướng dẫn.

 

2/ Bước thứ hai là “phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em” (Ep 4, 23)

Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba quyền năng và cùng một bản tính như Ngôi Cha và Ngôi Con.  Ngài là Đấng đồng hành với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế.”  Ngài hoạt động trong chúng ta trong mọi trạng huống: như cuồng phong biến đổi, như nước thanh tẩy, như hơi thở ban sự sống, như lửa “đốt cháy” tâm can, như dầu tăng sức mạnh.

Chúng ta cần Chúa Thánh Thần biến đổi con người yếu hèn của mình, đổi mới tâm trí của chúng ta. Bởi vì mọi sai lầm bắt nguồn từ suy nghĩ sai và thiếu hiểu biết của chúng ta đối với đường lối của Thiên Chúa.  Chúng ta hãy để cho Chúa Thánh Thần biến đổi tâm trí, nghĩa là biến đổi cái nhìn, tư tưởng, quan điểm, nghĩ suy của con người cũ, để có cái nhìn và suy nghĩ của Thiên Chúa, hướng tới sự thật và tình yêu, để thăng hoa trở nên người mới mạnh mẽ, hăng say, đầy tràn nhiệt huyết hơn.

 

3/ Bước thứ ba là mặc lấy con người mới trong Chúa Kitô

“Anh em hãy mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Eph 4, 24). Thánh Phaolô quả quyết rằng: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được Rửa tội để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô (Gl 3, 27). Ngài cũng mời gọi: Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm 13, 14).

Quả thế, Đức Giêsu là con người mới và kiểu mẫu cho chúng ta.  Mỗi người kitô hữu được tạo dựng và tiền định để trở nên giống Chúa Kitô.  Nếu cởi bỏ con người cũ là lột bỏ những thói hư tật xấu, thì trở nên con người mới là mặc lấy Chúa Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, mặc lấy trong mình những tâm tình của Chúa Kitô, đó là lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và tha thứ cho nhau (x. Cl 3, 12-14).

Vì thế, chúng ta được mời gọi từ bỏ đời sống cũ, mặc lấy đời sống mới bằng cách rèn luyện các nhân đức, thực hành những giá trị Tin Mừng mà Chúa Giêsu đã dạy, sống như Chúa đã sống.  Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới có thể được biến đổi toàn bộ con người chúng ta theo khuôn mẫu là Chúa Kitô, từ suy nghĩ, phán đoán, tình cảm, con tim, động lực sống và cả cách hành xử của chúng ta.  Đó là con người mới, nhân cách mới, đời sống mới trong Chúa Kitô.

 

Kết luận

Cha Anthony de Mello trong cuốn “The Song of the Bird” có kể câu truyện về Sufi Bayazid, ông nói về chính mình như sau: Tôi là nhà cách mạng, khi tôi còn trẻ và tất cả lời cầu nguyện của tôi với Chúa là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để con thay đổi thế giới.”   Khi tôi tới tuổi trung tuần và nhận thấy rằng nửa đời người đã qua đi mà không đổi thay được một tâm hồn nào.  Tôi đã thay đổi lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi những người liên hệ và gặp gỡ con, như gia đình và bạn bè của con và con sẽ được an lòng.”  Bây giờ, tôi đã già và ngày giờ sắp hết, lời cầu của tôi: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi chính con.”  Nếu tôi cầu nguyện điều này ngay từ khởi đầu, tôi đã không phí uổng cuộc đời của mình.

Câu chuyện trên đây muốn nói với chúng ta rằng: sự thay đổi chính mình là sự thay đổi quan trọng nhất.  Nếu muốn thay đổi thế giới, chúng ta phải bắt đầu từ sự thay đổi chính mình.  Mùa Chay là mùa đổi mới.  Hội Thánh kêu gọi các tín hữu canh tân cuộc sống, từ bỏ lối sống cũ, con người cũ, để sống đời sống mới, công chính và thiện hảo hơn theo mẫu gương Chúa Kitô.

Ước mong mỗi người kitô hữu biết sử dụng và sống thời gian Mùa Chay thánh này như là cơ hội để đổi mới chính mình trở nên thành con người mới trong Chúa Kitô.


LM Phêrô Nguyễn Văn Hương

Mùa chay 2015

Chút ánh sáng cho cuộc đời,

“Chút ánh sáng cho cuộc đời”,
Cất tiếng hát cho một Người.
Có mắt biếc soi nụ cười.
Tươi như cánh hoa tình ái.

(Nhạc: Les amoureux qui passent – Lời: Nam Lộc – Một thời để yêu)

Trần Ngọc Mười Hai

(Gv 7: 13-15)

“Chút ánh sáng cho cuộc đời”, là thời để yêu sao? Có chắc thế không, hỡi bạn già tên Nam Lộc? Sao tôi đây, hát cũng nhiều lời lẽ của bạn vẫn từng viết, hoặc trích-dịch, mà vẫn cứ thấy cuộc lại ra khác, như câu hát tiếp theo do bạn diễn-tả:

“Đã biết nói yêu một lần
Sẽ thấy đớn đau thật gần
Sẽ thấy nắng phai nhạt dần
Khi vương vấn trong tình yêu.”

(Lời Việt của Nam Lộc: Một Thời để Yêu – bđd)

Thôi thì, cứ coi là thế đi. Thôi thì, cứ coi như hành-xử của Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa mới đây, đối với Giáo-triều La Mã, cũng hệt thế.  Thôi thì, cũng cứ hát như thế để rồi ta lại thêm vào đó lý-do khiến mình hát nó vào lúc này, để làm nền. Như câu tiếp, còn đáng kinh khiếp hơn:

“Đời là một thời để yêu
Yêu trong bóng đêm lẻ loi
Yêu cho bao nỗi đắng cay
Yêu cho quên từng ngày tháng

Tình là một lần được mơ
Mơ trong bóng đêm lẻ loi
Có những chiếc lá úa rơi
Rồi chơi vơi vào trời tối ..”

(Lời Việt của Nam Lộc: Một Thời để Yêu – bđd)

Phải thế không? “Tình là một lần được mơ? Mơ trong bóng đêm lẻ loi”? Mơ sao được, khi tình còn đó rất thực, chứ chẳng phải là giấc mơ hay giấc mộng gì ráo trọi.

Phải thế không? Khi chính đấng chủ quản Giáo Hội ở Rôma, lại đã dám dùng dao nhọn mổ xẻ để dứt bỏ khối u của căn bệnh? Mơ thế nào đây, khi chính miệng Đức Giáo chủ lại nói ra lời lẽ rất đáng khiếp sợ, tương tự như:

“Giáo-triều được kêu gọi cải-tiến, luôn cải-tiến và tăng-trưởng trong hiệp-thông, thánh thiện và khôn ngoan để chu toàn sứ mạng. Nhưng Giáo triều cũng như mỗi thân thể con người cũng có thể bị bệnh, hoạt-động không tốt, bị yếu liệt. Và ở đây, tôi muốn liệt-kê vài căn-bệnh có thể xảy ra, là những bệnh của Giáo triều. Đó là những bệnh thường xảy ra trong đời sống của Giáo-triều chúng ta. Đó là những bệnh tật và cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ của chúng ta đối với Chúa. Tôi nghĩ rằng”danh sách” các bệnh này sẽ giúp chúng ta, như các Đấng Tu Hành trong sa-mạc vẫn thường làm danh sách mà chúng ta nói đến hôm nay: danh sách này giúp chúng ta chuẩn-bị lãnh-nhận bí-tích Hoà-giải, là một bước tiến tốt cho tất cả chúng ta để chuẩn bị lễ Giáng Sinh…” (x. Mười Lăm Căn Bệnh của Giáo triều Rôma cần chữa trị www.chuacuathe.com 22/12/2014 ở “các mục chính”

15 căn bệnh của Giáo triều đã được kể. Con dao mổ xẻ đã và sẽ được dùng đến để làm công việc của vị chữa lành, trong Hội thánh. Vấn-đề ở đây hôm nay, không là: kể đi kể lại những bệnh-tật của Giáo-triều hay cá nhân nào ở trong đó, để rồi sẽ bị dứt bỏ, như từng thấy hôm trước qua sự việc “Đức Phanxicô cách chức tư lệnh vệ-binh Thụy Sỹ” (x. www.bbc.co.uk.anzeigen 22/12/2014)

15 căn-bệnh nói ở đây, không chỉ là bệnh của Giáo-triều La Mã, như mọi người từng biết đến. Nhưng, (lại chữ “nhưng” rất đáng sợ) vấn-đề cần cứu xét ở đây, là câu kết thúc của Đức Phanxicô, về căn-bệnh ấy, như sau:

“Căn bệnh và cơn cám dỗ ấy cũng là nguy-cơ của mỗi Kitô-hữu, mỗi giáo-xứ, cộng-đoàn, dòng tu, các phong-trào Giáo-hội trên bình diện cá-nhân và cộng-đoàn. Đức Giáo Hoàng mời gọi tất cả mọi người hãy sống theo chân-lý trong sự thật, nhất là trong mùa Giáng Sinh này…” (xem thêm Trần Đức Anh OP, tin Vatican 22/12/2014 đọc vào những ngày rong chơi ở Tibet & Nepal cuối năm 2014)

Điều cần bàn ở đây, là ta cứ “phiếm” thêm cho rộng đường dư-luận để rồi đi đến một kết-cuộc khá tốt đẹp, trong đời người.

Điều, mà bạn và tôi, ta cứ muốn bàn và cứ thế mà làm vào lúc này, là nhìn vào những chuyện vui tươi, tích cực có giòng chảy thi-ca, âm-nhạc để gợi hứng cho một cuộc sống đầy lạc quan hơn.

Nghĩ thế rồi, xin mời bạn và mời tôi, ta hát tiếp những câu ca đầy ý-nghĩa, rất như sau:

“Có biết đắng cay một lần

Mới tiếc nuối ân tình này

Mới biết nhớ mong từng ngày

Như khi thấy nhau lần cuối


Hết đắm đuối trong cuộc tình

Hết đứng ngóng trông Người tình

Sẽ thấy đớn đau một mình

Như khi tiễn nhau lần cuối ..


Những phút cuối trong cuộc đời

Vẫn thấy nhớ thương một Người

Lúc nhắm mắt xin nụ cười

Thay cho chiếc hôn lần cuối.”

(Lời Việt của Nam Lộc: Một Thời để Yêu – bđd)

Nói thế rồi, bần đạo nay xin “phiếm” tiếp về những chuyện xảy ra trong đời mình/đời người, như sau:

Bần đạo có người anh rể cũng họ Phạm tên đệm có chữ Duy nhưng tên gọi lại Cử, Phạm Duy Cử hẳn hòi, chứ không không phải Duy Cường, Duy Quang hoặc Duy Nhượng rất nổi cộm xưa nay… Giáng Sinh 2014 vừa rồi, anh viết cho bần đạo những giòng chữ “để đời” về tình hình và tâm tính của người cao niên, như thế này:

Tôi và chị của chú vẫn bình thường, rất rảnh việc nên hay tranh cãi (không phải là cãi nhau đâu) về đủ mọi thứ việc thời sự, quốc nội, quốc ngoại, chuyện ngày nay/ngày xưa. Ai cũng muốn thắng. Phán bảo như cha cố, là bệnh của người già. Tôi có đi hỏi các bạn già của tôi về chuyện này, thì mọi người cho biết đây là bệnh rất hay lây, nhà nào cũng bị không biết bên đó có bị vậy hay không?” – và hình như các bà đều thắng cả mà mấy ông bạn tôi cũng y hệt như thế.” (Trích thư viết tay của người anh rể họ Phạm trong gia đình họ Trần, hôm 24/12/2014 đang ở Mỹ)

Rất đúng là như thế, phải không hỡi bạn và tôi? Nay, hãy đi vào đời, sẽ  được nghe những truyện kể rất dễ nể, nhưng ít được nghe. Vậy thì, xin mời bạn mời tôi, ta cứ thử nghe xem rồi suy nghĩ về câu chuyện cũng thoáng chốc như sau:

“Tôi ngồi cùng người bạn trong một quán cà phê nổi tiếng tại một thị trấn lân cận của Venice, Ý, thành phố của ánh sáng và nước.

Khi chúng tôi thưởng thức cà phê, một người đàn ông bước vào và ngồi xuống chiếc bàn trống bên cạnh chúng tôi. Anh gọi người phục vụ và nói:

– Hai ly cà phê, một ly trên bức tường kia.

Chúng tôi khá quan tâm khi nghe gọi thức uống như thế và quan sát thấy người đàn ông được phục vụ một ly cà phê nhưng trả tiền cho 2 ly. Khi anh đi khỏi, người phục vụ dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.

Trong lúc chúng tôi còn ngồi đó, hai người đàn ông khác vào quán và gọi 3 ly cà phê, 2 ly trên bàn và 1 ly trên tường. Họ uống 2 ly cà phê nhưng trả tiền cho 3 ly và rời đi. Lần này cũng vậy, người phục vụ làm tương tự, anh dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.

Có điều gì đó làm chúng tôi thấy lạ và khó hiểu. Chúng tôi uống hết cà phê, trả tiền rồi rời đi. Vài ngày sau, chúng tôi có dịp quay lại quán cà phê này. Trong lúc chúng tôi đang thưởng thức cà phê, một người đàn ông ăn mặc tồi tàn bước vào. Khi anh ngồi xuống ghế, anh nhìn lên tường và nói:

– Một ly cà phê trên tường.

Người phục vụ mang cà phê đến cho anh với sự tôn trọng như thường lệ. Người đàn ông uống cà phê và đi khỏi mà không trả tiền. Chúng tôi ngạc nhiên chứng kiến tất cả sự việc, lúc người phục vụ tháo một mảnh giấy trên tường và bỏ nó vào thùng rác.

Giờ thì chúng tôi không còn ngạc nhiên nữa – sự việc đã rất rõ ràng. Sự tôn trọng tuyệt vời dành cho người nghèo được thể hiện bởi các cư dân ở thị trấn này đã làm đôi mắt chúng tôi đẫm lệ. Hãy suy ngẫm những điều người đàn ông này mong muốn. Anh bước vào quán cà phê mà không phải hạ thấp lòng tự trọng… Anh không cần xin một ly cà phê miễn phí… không cần hỏi hay biết về người đang cho anh ly cà phê này… anh chỉ nhìn vào bức tường, gọi thức uống, thưởng thức ly cà phê của mình và rời khỏi quán. Một ý nghĩ thật sự đẹp. Có lẽ đây là bức tường đẹp nhất mà bạn từng nhìn thấy. (truyện kể rút từ điên thư trên mạng năm 2015)

Kể như thế, là kể về những sự-kiện xảy ra trong đời, với mọi người. Tiếp đến là những đoạn ngắn cũng được kể trên mạng do bạn bè chuyền cho nhau trong lúc “trà dư tửu hậu” rất một “thời để yêu và để…cãi” như truyện kể ở bên dưới:

Một ông nhà binh nhanh chân phát biểu truớc:

– Các ông có biết không?  mỗi cuối tuần tôi chở vợ đi chợ, tôi đẩy xe theo sau bà.  Mua đầy xe, tôi hỏi bả “Về chưa?”  Bả nói ông chở cho tôi lại chợ khác mua một chai nước mắm.  Tôi hỏi  “Sao bà không mua ở đây luôn.”  Bả nói:  “Ở đây nước mắm tới $2.99, còn chợ kia chỉ có $2.88”. Từ chợ nầy đến chợ kia lái xe 45 phút, bả quên tính tiền xăng. Tôi với bả bắt đầu… cãi.

Ông nhà binh chen vô:

– Còn tôi, khi lái xe, tôi quẹo tay phải, bả nói sao ông không quẹo tay trái. Tôi chạy nhanh, bả kêu tôi chạy chậm lại. Tôi chạy chậm, bả nói ông chạy như rùa bò. Tôi nói: “để tôi order hãng xe Toyota chế cho bà xe có 2 tay lái, để bà khỏi lái xe bằng miệng”.  Và, thế là cãi nhau.

Ông nhà bếp lắc đầu và kể chuyện ông nghe đuợc như sau:
– Có ông kia lái xe chở bà vợ ngoài xa lộ,chạy nhanh, bị cảnh sát quay đèn chận lại.  Cảnh sát hỏi “Ông có biết lỗi gì không?”  ông chồng chưa kịp trả lời, bà vợ tươm tướp la lên!  “Tôi đã nói ông rồi, ông chạy bạt mạng 7, 8 chục miles có ngày bị phạt mà ông không chịu nghe.”
Ông chồng  giận dữ la bà vợ:
– Để tôi lo, bà im cái mồm bà lại đi.
Không ngờ ông Cảnh Sát này là người Việt, nghe được tiếng Việt, hỏi bà vợ:
– Bộ ông chồng bà ở nhà cũng nạt nộ bà như vậy phải không?
Bà vợ liền trả lời:
– Đâu có.  Bữa nào ổng uống rượu say, ổng mới la như vậy.

Ông chồng nhận 1 ticket vượt tốc độ và 1 ticket uống rượu lái xe. Thế là vợ chồng lại cãi nhau.

Ông nhà binh nghe nói nãy giờ nhảy vô:
– Bà ngoại con Tép của tôi cũng không thua ai.
Bả nói với tui: “Sao tôi thấy ông ở Mỹ mấy chục năm rồi mà không hội nhập đuợc gì hết.”
Tôi tức quá:
– Bà không thấy tôi hội nhập sao? Ai cao máu, tôi cũng cao máu, ai cao mỡ, tôi cũng cao mỡ, ai tiểu đường, tôi cũng tiểu đường, tôi còn hơn nguời ta cái thấp khớp nữa.  Bà còn muốn tôi hội nhập gì nữa?
– Bà ngoại còn  nói: “Ý tôi muốn nói là ông không biết galant như nguời Mỹ, mở cửa xe cho vợ, mua bó hoa tặng vợ ngày Birthday, ngày Valentine.” …
– Trời ơi! Tôi cũng  muốn mở cửa xe cho bà lắm chứ, nhưng sợ người ta nhìn vào, người ta nói: “Thân bà một đống, cọp ăn 3 ngày không hết, bộ bà đó bị bịnh bại liệt gì mà không mở cửa xe được”. Còn birthday của bà, tôi mua cho bà 1 bó rau muống, 1 bó hành, 1 bó ngò, bà còn muốn gì nữa.

Thế là ông bà ngoại của con Tép bắt đầu cãi.

Ông nhà văn nãy giờ ngồi trầm ngâm,cuời mím chi, chậm rãi kể:
– Có một ông chồng đi sau xe chở quan tài của vợ đưa ra nghĩa trang. Ông bạn đi gần bên thấy ông này sao cái miệng nhép nhép như đọc kinh. Ông bạn tò mò đến gần hơn, thì nghe ông này không phải đọc kinh, mà ông ấy đang hát. Ông bạn hỏi: “Đám tang vợ vui vẻ gì mà ông hát?”
Ông chồng trả lời:

– Từ ngày cuới bả đến giờ, chỉ có hôm nay tôi đi chung với bả mà không cãi nhau”

Ông nhà bếp chen vô một chuyện khác.Ông kể năm rồi, ông phải mổ van tim. Bà vợ ngồi kế bên than:  “Ông ơi, ông chết tôi chết theo”

Ông hoảng hồn: “Thôi bà ơi, để tôi đi một mình cho thanh thản, khỏi phải đi chung, khỏi phải cãi với bà.” (lại vẫn trích những câu truyện vụn vặt trên mạng)

Kể gì thì kể. Truyện gì cũng kể và cũng cứ kệ. Bạn và tôi ta cứ bàn và cứ kể cho nhau những chuyện vui buồn trong ngoài nhà Đạo, để còn sống. Sống vui tươi, mạnh-mẽ đời hôn-nhân vợ-chồng, cũng nên thêm đôi điều từ nhà mô-phạm nọ ở Úc rất như sau:

“Ngày nay, khi lấy nhau, người ta lại cứ chịu áp-lực từ nhiều phía. Với nền văn-hoá chú-trọng nhiều vào sự chất đầy cho bản thân mình được nhiều thứ, những thứ đòi có sự đồng-đều cho mọi người và mọi nhà, thì khó có thể duy-trì tình thương-yêu được sống sót. Thành thử ra, mọi kỳ-vọng trước đây ở hôn-nhân cũng đổi thay đã rất nhiều. Và từ đó, mỗi bên mỗi phía trong các cặp phối-ngẫu ở nhiều nơi, nay khác biệt nhiều về những trông mong và kỳ vọng cho chính mình. Kỳ vọng, có được sự quân-bình tinh-tế giữa sự phụ-thuộc và độc-lập. Giữa cả việc chăm lo săn sóc cho người phối ngẫu phiá bên kia, lẫn việc người kia phải lo phải chăm cho chính mình, phía bên này. Những kỳ vọng về nhu-cầu riêng rẽ lẫn rất chung của cả hai. Thành thử, trong hôn-nhân luôn có sự dè chừng và căn dặn: đừng phá bỏ con tàu chuyên chở hai chúng mình là hai người đồng hội đồng thuyền, suốt cả đời. Bởi, nếu bạn làm vậy thì một trong hai chúng ta sẽ bị chìm. Thật cũng không đáng để làm thế”. (xem thêm Margie Ulbrick, Keeping Love Alive, The Majellan Family October-December 2014, tr. 13-15)

Mỗi lần nhắc đến “một thời để yêu và để ghét, có…cãi vã”, bần đạo đây lại nhớ Sách Giảng Viên ở Cựu Ước, có những đoạn và những câu nói rất rõ về lập trường tư-tưởng còn sớm sủa, chưa ai nghĩ. Những lời tương-tự còn hằn in trong tâm trí của mỗi người.

Nhưng, giở sách này ra đọc, bần đọc lại cứ dán mắt vào những câu, như sau:

Hãy ngắm xem việc Thiên Chúa làm :
Người đã bẻ cong, nào ai uốn thẳng được ?
Ngày gặp may mắn, hãy cứ vui hưởng.
Ngày bị rủi ro, hãy gẫm mà xem :
Ngày nào cũng do Thiên Chúa làm nên,
vì thế con người không thể khám phá
những gì sẽ xảy ra sau khi mình nhắm mắt xuôi tay.
Xét lại quan điểm truyền thống về sự thưởng phạt
Trong đời phù du, tôi đã thấy hết cả:
có người công chính bị tiêu vong dù sống công chính,
có kẻ gian ác lại sống lâu dù làm điều ác.

(Gv 7: 13-15)

Thế mới biết, như câu đầu tiên dẫn vào Sách này, lại thấy nói:

“Đây lời ông Côhelét, vị vua ngự ở Giêrusalem, đã từng nói:

“Phù vân, quả là phù vân.

Tất cả chỉ là phù vân.

Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả

dưới ánh nắng mặt trời?

Thế hệ này đi, thế hệ kia đến,

nhưng trái đất mãi mãi trường tồn.5

Mặt trời mọc rồi lặn;

mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên.”

(Gv 1- 1-4)

Thế mới biết, cả đến trời trăng, tinh tú hùng-hổ là thế, cũng đều phù-vân, chóng qua.

Thế mới hay, có là gì đi nữa, rồi cũng hết và cũng chóng qua/giả dối, thế mới tỏ. Bởi, có là gì đi nữa, rồi thì cái “gì” đó cũng qua đi, như con người và cuộc đời. Vậy thì, tội gì mà không nghĩ và hát những lời hay ho, ý-nhị như tác giả trên từng mời hát những lời như thế:

Hết đắm đuối trong cuộc tình

Hết đứng ngóng trông Người tình

Sẽ thấy đớn đau một mình

Như khi tiễn nhau lần cuối ..

(Lời Việt của Nam Lộc: Một Thời để Yêu – bđd)

Hát thế rồi, hỡi bạn và tôi, ta cứ thế mà hãnh-tiến, hiên ngang mà sống mãi. Sống như những người từng hãnh-diện về cuộc sống của chính mình, trong giản đơn, hài hoà, đầy sức sống. Sống thế rồi, ta và người lại sẽ hiên ngang cùng đứng lên cùng người khác sống vui, sống mạnh, sống rất vững trong Đạo/ngoài đời cũng vui tươi, đáng sống cả một đời.

Bần đạo đây chắc chắn một điều là: dù có “một thời để yêu và để…cãi”, thì giờ phút cuối vẫn cứ như câu kết trong bài hát:

“Những phút cuối trong cuộc đời

Vẫn thấy nhớ thương một Người

Lúc nhắm mắt xin nụ cười

Thay cho chiếc hôn lần cuối.”

(Lời Việt của Nam Lộc: Một Thời để Yêu – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn quan-niệm là như thế.

Mãi trong đời.

Chơi vơi trong khí hậu, chín từng mây,

Tin Mừng Ga 3: 14-21

Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa”.

“Chơi vơi trong khí hậu, chín từng mây,”

“Ánh sáng lại sẽ tan vào hư lãng,

Trời linh thiêng; cao cả gợi nồng say…”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

Mùa Chay hôm nay, nhà thơ thấy chơi vơi trên chín từng mây, đầy khí hậu. Trời linh thiêng, ánh sáng tan vào hư lãng, đổi sắc mầu. Tan, là để kêu gọi dân con rày cải hối.

Trình thuật thánh Gioan hôm nay, kêu gọi mọi người hãy cải hối. Hối cải, trong tuân giữ mọi điều răn. Điều răn hôm nay, Thầy Chí Thánh chú trọng đến tình thương đặc biệt, rất đặc biệt:“Thương yêu Thầy, sẽ được Cha của Thầy yêu mến.” (Ga 3: 21).

Trình thuật, nay cũng đề cập một lúc hai chủ đề: hăng say cải hối/ yêu mến giữ giới răn. Ở bình diện cao hơn, thánh Gio-an có nói: Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Ngài trở nên nhân-tố cứu độ của Chúa Cha. Ngài cứu độ, không phải duy nhất cho phạm nhân nào đó, từng nên tội. Mà, toàn bộ tình huống đầy lỗi phạm, của thế trần. Chúa nhật hôm nay, còn là Chúa nhật Hồng, nhằm dẫn dắt ta đến gần hơn, vào với ơn cứu độ, rất đích thực.

Trình hôm nay, thánh sử lại đã so sánh Đức Chúa với Môsê. Cả hai đấng, là nhân-tố trong chương trình cứu độ, cho dân Ngài. Cụ thể, là Do Thái dân xưa cũng từng phiền than/oán trách cảnh huống mình hứng chịu. Chính vì thế, Môsê mới giơ cao “rắn đồng trên gậy”, như được kể trong Cựu Ước: “Nếu rắn cắn nhằm ai, người ấy cứ trông lên rắn đồng này, là được sống.” (Ds 21: 9)

Thánh sử còn thấy nơi đây, cũng một ảnh hình việc Chúa nâng cao chính mình Ngài, như rắn đồng. Với thánh Gio-an, “nâng cao” ở đây, bao gồm việc Ngài tự nâng chính Ngài trên thập giá. Và cả, việc Ngài được tự nhấc mình lên cao với Chúa Cha. Trong quang vinh. Vĩnh hằng. Bằng vào tiến trình cứu độ trọn vẹn, ai tự nâng nhấc/ngước mình lên với Chúa qua tin yêu/giùm giúp, sẽ lĩnh nhận cuộc sống vĩnh cửu, Ngài hứa ban. Và, cuộc sống thân thương Nước Trời như thế, sẽ không bị lấy đi.

Ở đây, tất cả đều là dấu hiệu chứng tỏ tình yêu của Đức Chúa. Tình yêu Ngài, được thể hiện qua việc Cha hy sinh Người Con của Ngài, để con người hưởng được cuộc sống an vui, vĩnh cửu. Đức Chúa chấp nhận hy sinh, là để cứu/chữa, chứ không phải để phê bình/lên án thế giới loài người. Quả vậy, chẳng người nào tự nhấc mình đặt để nơi vòng tay yêu thương của Đức Chúa, mà lại bị phê bình, lên án. Và, cũng chẳng khi nào là “quá trễ” để ta đặt mình vào động thái tự nâng nhấc, trong niềm tin yêu, của Nước Trời.

Trái lại, ai khước từ, dù chỉ một niềm tin thôi, cũng sẽ bị lên án ngay khi đó. Việc lên án, không nhằm đeo đuổi hướng nhắm những người đang theo niềm tin nào khác. Đạo khác. Tín ngưỡng khác. Hoặc, cả đến thị kiến khác, về cuộc sống. Việc phê bình/lên án chỉ xảy ra, đối với ai cương quyết chọn bóng tối, hơn là lựa sự sáng. Chọn bóng tối, tức: sống đời tệ bạc, có những hành vi phi luân lý. Như: giận hờn, ghét ghen, thay vì yêu thương. Hận thù/trả đũa, thay vì tha thứ. Hoặc, như: tham lam bạc tiền/vơ vét của cải, thay vì san sẻ. Nhận thật nhiều, cho thì ít. Ít cho, những gì liên quan đến sự sống. Ít cho, những gì mình trân quý.

Chúa Tình Yêu trọn vẹn, Ngài không phê bình/lên án, bất cứ ai. Người bị kết tội, thật ra, chỉ vì đó là chọn lựa của chính họ. Chọn tha hoá, tách rời khỏi Tình Thương Yêu của Đức Chúa. Và, thánh Gio-an còn viết: “Ai tự mình làm điều xấu xa gian ác, ắt sẽ ghét bỏ ánh sáng”, và sẽ chọn những gì là tối tăm.

Ai sống trung thực, biết tôn trọng phẩm giá con người, ắt không sợ ánh sáng. Chẳng có gì phải giấu diếm. Chẳng có gì phải hổ ngươi, mặc cảm. Người sống trung thực, sẽ là “muối trong đời. Là, thành luỹ ở đồi cao. Là, nến ngọn chiếu sáng, đặt trên đèn. Nhờ có thế, người người thấy được điều tốt lành từ nơi họ. Sẽ cùng họ, tiến về cùng Chúa.       

Tuy thế, cũng có loại hình tối tăm khác, trong đó con người vẫn lặn ngụp. Tối tăm, là những tủi nhục rất tăm tối, trong tình đời. Là sự việc tốt lành mình muốn sẻ san, nhưng chưa dám. Là, làm việc gì vì người, và cho người, vẫn chưa dám. Chưa, vì sợ ngườ ingười lên án. Phê bình. Sợ bị từ chối. Sợ, người đời chế giễu, mỉa mai. Cũng tựa như trường hợp không người nào dám đến ủi an/đỡ đần cô gái trẻ mới vừa phát giác ra mình đã mang thai, mà không chồng. Hoặc, không có cưới hỏi, ở nhà thờ. Và tự thân, cô cũng chẳng dám chuờng mặt cùng chòm xóm. Với thành viên gia đình. Với thành phần của Hội thánh Chúa, nữa.

Tệ hơn nữa, là trường hợp của những người “đồng tính luyến ái”. Bị người đời khinh chê/ghét bỏ. Đành lủi thủi trong tối tăm, tách biệt. Tách, hết mọi người. Biệt, cả với bạn bè, người thân.

Đó, mới chỉ là hai trong số các trường hợp cụ thể, dễ nhận thấy. Ở đây nữa, tác nhân của tối tăm/sự dữ, lại là người ngồi mát ăn bát vàng. Chỉ biết những chê bai. Lên án. Bình phẩm. Chính những người này, cũng đang trong cảnh tranh tối/tranh sáng của những tối tăm/sự dữ. Bởi những thành kiến. Huý kỵ. Và ghét ghen. Thông thường, đây là triệu chứng của những hãi sợ và bất an. Trong nội tâm.

Bài đọc 2, gợi nhớ người đọc về mọi sự tốt lành của ta/ở trong ta. Đó là ân huệ Chúa tặng ban. Quà Chúa ban, chẳng có gì để mình phải vênh váo, và kể công. Tốt lành của ta/ở trong ta, chính là tốt lành/trọn hảo do Ngài toả chiếu. Ngang qua ta, mà thôi.

Nay, ta hãy ngước nhìn về Đức Chúa, Đấng đang nâng cao chính mình Ngài, trên thập tự. Trong vinh quang. Hãy nhìn vào Tình Yêu cao cả Chúa luôn ban. Tình yêu ấy, vẫn sáng rực ở trên đó. Hãy mở lòng mình, với Tình Yêu. Và, để cho Tình Ngài thấm nhập thân mình, hầu đem lại sự sống cho mọi người.

Ánh sáng nơi ta phải sáng rực chiếu sáng mọi người. Chiếu sáng, như Chúa vẫn dặn dò. Ngài dặn kỹ, nơi Bài Giảng về Phúc Thật, ở trên núi. Rực sáng, để người người thấy điều tốt lành, ta đang làm. Có như thế, người người sẽ được đưa dẫn về với Tình Yêu Thương cao cả, của Đức Chúa. Đấng vẫn ban cho ta nhiều ân sủng, mới được thế.

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

Nhà nước pháp quyền: chìa khóa vực dậy nền văn hóa xuống dốc tận đáy của Việt Nam

Nhà nước pháp quyền: chìa khóa vực dậy nền văn hóa xuống dốc tận đáy của Việt Nam

Vietnam map

Vietnam map

Trà Mi-VOA

06.03.2015

Văn hóa, đạo đức của người Việt đã xuống dốc tới mức ‘chạm đáy.’ Đó là nhận xét của một Giáo sư-Tiến sĩ Khoa học danh tiếng trong nước chuyên nghiên cứu văn hóa-xã hội Việt Nam trên 20 năm nay.

Bình luận của Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận-Ứng dụng thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, Trần Ngọc Thêm, được đưa ra giữa lúc cách hành xử hung hãn, bạo lực, giành giựt của người Việt đang gia tăng báo động và hình ảnh người Việt càng ngày càng trở nên xấu xí hơn trong mắt của nhau và của bạn bè quốc tế.

GS-TS Trần Ngọc Thêm đã dành cho VOA Việt ngữ cuộc trao đổi phân tích nguyên nhân và đề ra những khuyến nghị nhằm giải quyết vấn nạn xã hội nhức nhối này.

GS-TS Trần Ngọc Thêm: Cách hành xử của con người càng ngày càng tệ hại. Nguyên nhân thứ nhất là do việc chạy theo đồng tiền, chạy theo vật chất. Cái này dính tới kinh tế thị trường, nhưng kinh tế thị trường không phải làm nên cái này. Cũng là kinh tế thị trường nhưng ở nhiều nước phát triển khác không có những chuyện lộn xộn như thế. Vấn đề ở chúng ta là các hệ giá trị đang bị đảo lộn. Các giá trị văn hóa truyền thống vốn thích nghi với môi trường ổn định, làng xã, nông nghiệp-nông thôn đang bị phá vỡ. Cái cần phải có, hệ giá trị mới của một xã hội đô thị, công nghiệp, hội nhập chưa hình thành xong. Vì vậy, xung đột dẫn tới sự đảo lộn. Lẽ ra phát triển kinh tế phải song hành với văn hóa. Văn hóa là nền tảng cho phát triển kinh tế. Nhưng ở ta, đáng tiếc là vế thứ hai chưa làm được.

VOA: Làm thế nào có thể thoát khỏi những cái chưa hay, chưa đẹp của nền văn hóa nông nghiệp trong thời đại xã hội công nghiệp hiện nay, thưa GS?

GS-TS Trần Ngọc Thêm: Chúng ta thoát là thoát khỏi những tật xấu không còn thích hợp nữa, những hậu quả của văn hóa truyền thống mà giờ không thích hợp trong môi trường mới. Cần phân tích đầy đủ các nguyên nhân. Nguyên nhân kinh tế không đi cùng văn hóa là một. Nguyên nhân khác nữa là luật pháp của ta không nghiêm. Cho nên, cần phải thúc đẩy sự phát triển văn hóa, xây dựng văn hóa con người và phải xây dựng một nhà nước pháp quyền, tất cả tuân thủ theo luật pháp. Việc thứ ba, về mặt quản trị xã hội, do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, trong mọi mối quan hệ có sự thiêng vị, không công bằng, không minh bạch, dẫn tới người dân có những uẩn ức, không hài lòng nhưng không giải thoát ra được ở đâu, kết quả là rất dễ xảy ra những điều như đang thấy. Cũng từ văn hóa truyền thống tạo ra tính cộng đồng ‘hội chứng đám đông.’  Ví dụ khi tham gia lễ hội, chỉ cần một người dùng sức mạnh chân tay thì dễ lây lan.

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Đặng Hoàng Giang Gửi tới BBC Tiếng Việt từ Hà Nội

  • 4 tháng 3 2015

BBC

Cảnh phân phát quà cho trẻ em dân tộc thiểu số

Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi.

Buổi tối, ở quảng trường nhà thờ, nhạc disco được mở to hết cỡ, tiếng bass làm vạt áo rung bần bật. Các buổi sáng, du khách chen lấn nhau để xuống thung lũng “thăm quan” các bản, lượng iPad nhiều hơn số lợn con nằm vầy đất ven đường.

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi “cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn”. Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch.

Đi du lịch là một sở thích khá mới của người Việt. Tới tận giữa những năm 1990, Sapa vẫn còn là một thị trấn xanh, yên tĩnh và thanh bình, du khách chủ yếu là người nước ngoài. Hồi đó, không có một người Kinh nào quan niệm leo lên đỉnh Phan Si Pang là một việc đáng làm, đấy là việc chỉ người Hmong “phải” làm để mưu sinh.

Cũng giống như ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ II, phong trào đi du lịch của người Việt dần dần lớn mạnh khi có đủ ba yếu tố hội tụ.

Thứ nhất, thu nhập đã vượt qua những nhu cầu tối thiểu. Thứ hai, quỹ thời gian rộng rãi hơn, người ta không phải đầu tắt mặt tối lo cho cuộc sống nữa. Thứ ba, cơ sở hạ tầng, nghĩa là phương tiện đi lại, dịch vụ khách sạn và ăn uống, đã tốt lên, để cho việc xê dịch không còn vất vả nữa.

Những yếu tố đó làm thay đổi thái độ của người ta với việc di chuyển, chuyển từ quan điểm “xểnh nhà ra thất nghiệp” tới chỗ coi việc ra khỏi nhà như một thú vui, một sự hưởng thụ.

Thậm chí, để thoát khỏi cái buồn chán của cuộc sống công sở hàng ngày ở một thành phố lớn, người ta còn tìm tới cái vất vả như một cuộc chạy trốn ngắn ngủi, tất nhiên bởi người ta biết là cái vất vả này là hữu hạn về mặt thời gian, và các rủi ro nằm trong vùng được kiểm soát. Các phong trào phượt, phong trào đạp xe, phong trào “leo Phan” ra đời.

Lũ lượt đi chơi

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó.

Giờ đây, tình hình đã khác hẳn. Năm ngoái có gần 4 triệu lượt người Việt đi du lịch nước ngoài, cộng với 40 triệu lượt khách nội địa, tổng lại là bằng một nửa dân số quốc gia. Nhìn xung quanh, ta thấy mỗi gia đình đều lên kế hoạch cho một vài chuyến đi trong năm. Với người Việt trung lưu, du lịch đã trở thành một sinh hoạt cơ bản, như mua sắm hay đi nhà hàng.

Khoảng khắc cho đồ đạc lên ô tô để lên đường bao giờ cũng là một trong những khoảnh khắc phấn khởi nhất của cả gia đình trong năm, và hình ảnh người bố trẻ lái xe trên xa lộ, người mẹ trẻ gọt hoa quả ở ghế bên cạnh, ở đằng sau là hai đứa con chụm đầu chơi iPad, truyền tải một trong những cảm giác sống viên mãn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ 21.

Du lịch là con ngỗng đẻ trứng vàng với nhiều địa phương, họ giàu có lên trông thấy nhờ vào nguồn thu từ du khách, nếu “giàu có” được đo bằng số lượng nhà cao tầng mới xây và số ô tô chạy trên đường. Cái mất mát thì không ai lượng hoá được. Thờ ơ hoặc không ý thức được mặt trái xấu xí của du lịch, phần lớn các chính quyền địa phương tiếp tục cổ suý vô điều kiện cho “ngành công nghiệp không khói” này như một hướng phát triển văn minh và tiến bộ.

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó. Chính sách này có thể được gói gọn trong một mục tiêu: càng nhiều khách càng tốt. Để tiếp tục với ví dụ Sapa: số lượng khách tới đây vào năm 1991 là 2 000.

Năm 2002, con số này là 60 000 người. Nhưng riêng trong đợt nghỉ Tết Nguyên đán 2015 vừa rồi số du khách đã là 50.000 người.

Sapa đang bị phá hủy vì cách làm du lịch?

Trong cuốn “Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ”, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc cũng có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hoá và cộng đồng.

Số phận của các địa điểm du lịch tầm cỡ khác của Việt Nam cũng tương tự như Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.

Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác.

Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn loè loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đới lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường” bê tông nhân tạo.

Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của những nước này, cả từ nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý yếu kém hơn. Ở Angkor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ nước của các khách sạn liên tục tăng lên.

Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái làng nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các bar trải dài 4 km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong xăm ô tô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.

Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu dùng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà” (mega-mass tourism) để mô tả hiện tượng này.

Đầu thế kỷ 21, Giáo hoàng John Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hoá, các nghi lễ tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành những sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hoá bản địa.

Thật vậy, trong trường hợp Sapa, điều quan trọng nhất với các du khách là câu hỏi ăn lẩu cá hồi ở đâu và mua rượu táo mèo chỗ nào. Không ít người lên đây vì bạn rủ đi để “có người uống cùng cho khỏi buồn.” Văn hoá, thể hiện qua đám người dân tộc ăn mặc sặc sỡ và những cái ruộng bậc thang, sẽ chỉ là cái phông cho các bức selfie.

Chả ai bỏ công ra tìm hiểu về lịch sử, tín ngưỡng, xung đột xã hội, hoàn cảnh kinh tế của người dân ở đây. Có lẽ yếu tố “văn hoá” duy nhất mà khách quan tâm là cái chợ tình như là cái gì man di đáng yêu của “bọn nó”, nhưng đằng nào nó cũng biến mất từ nhiều năm nay rồi – cũng vì du lịch.

Đấy là chưa nói tới chuyện sắp tới sẽ có nhiều hội thảo, tập huấn, tổng kết, liên hoan v.v… được tổ chức ở Sapa, ngạch này gọi là du lịch – công việc (business tourism). Loại du khách này thường không đi cùng gia đình, nên chắc lúc đó sẽ mọc lên nhiều tiệm massage và karaoke thư giãn với các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ về cạnh tranh với con gái địa phương.

Chầu rìa trên quê hương?

Nhìn những gì người ta đang tiếp tục làm với Sapa mà thấy đau lòng. Các khách sạn khổng lồ tám, chín tầng vẫn đang xẻ núi mọc lên, nhiều khi chỉ cách cái bên cạnh một con phố nhỏ, xe không quay được đầu.

Đảo qua một vòng trên báo chí, cũng thấy nhắc tới các “thách thức” du lịch ở Sapa, nhưng hoá ra đó chỉ là các vấn đề “cháy” phòng và khan hiếm chỗ đỗ xe. Chính quyền địa phương cam kết sẽ ưu tiên giải quyết để “Sapa ngày một vui hơn.”

Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Cáp treo lên đỉnh Phan Si Pan cũng đang được thi công. Ở độ cao 3000 m, người ta đang phá đá để tạo ra một khu vực rộng gần 8 ha, một diện tích rất lớn ở độ cao chênh vênh đó. Quần thể ga đến sẽ có “khu dịch vụ du lịch, khu tham quan, công viên văn hoá tâm linh và một tượng Phật khổng lồ”.

Cáp treo có công suất 2000 người một giờ, nghĩa là khi đi vào hoạt động sẽ cho phép mười mấy nghìn người lên đỉnh núi mỗi ngày, quanh năm, ngày nào cũng như ngày nào, thay vì con số hiện nay chỉ là mấy chục người một ngày leo đường bộ, và chỉ trong 6 tháng mùa khô.

Còn những người dân tộc, những người thực ra là chủ từ bao đời của vùng núi này, họ được gì từ tất cả những cái này? Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Người thiểu số đang ra rìa ngay trên quê hương họ

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ. Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Họ sẽ không để cho du khách yên, sẽ táo tợn, sẽ đeo bám quấy rầy cho tới khi khách mua hàng mới thôi, sẽ hét “no money, no photo.”

Buổi trưa, khi các đoàn khách bận rộn với món lợn mán nướng bên trong các quán ăn, họ sẽ ngồi trên bậc thềm bên ngoài, ngước nhìn lên để thấy ngọn “Hủa Xi Pan” của mình, một biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, nóc nhà chung của họ từ hàng trăm năm nay, bỗng nhiên trở thành một điểm hành hương Phật giáo mới để cho những người ở đâu tới khấn lậy và nhét tiền vào tay tượng, xa lạ và thô bạo với không gian văn hoá của họ.

Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển” này được không? Tôi không chắc. Bởi nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì say lợi nhuận. Chính quyền thì say tăng trưởng GDP.

Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữa rừng già mà vẫn đi guốc cao gót được, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.

Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá huỷ hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kỳ tăng trưởng nóng vô độ.

Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả từ Hà Nội.

 

Vì an ninh quốc gia, Manila tẩy chay chuyên gia Trung Quốc

Vì an ninh quốc gia, Manila tẩy chay chuyên gia Trung Quốc

Trọng Nghĩa

media

Yêu sách của Bắc Kinh Biển Đông khiến người Philippines cảnh giác với Trung Quốc. REUTERS/Romeo Ranoco

Phủ Tổng thống Philippines vào hôm nay 28/02/2014, đã chính thức lên tiếng bảo vệ quyết định mới đây của Bộ Năng lượng nhằm đình chỉ sự tham gia của kỹ thuật viên Trung Quốc vào sự phát triển và vận hành của màng lưới điện quốc gia Philippines. Lý do được nêu lên là vấn đề an ninh quốc gia, nhưng giới quan sát cũng gắn liền quyết định này với tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila về Biển Đông.

 

Theo báo chí Philippines, trên một đài phát thanh địa phương, Phó Phát ngôn viên của Tổng thống Aquino, bà Abigail Valte khẳng định rằng : Khi quyết định không triển hạn công tác cho 16 cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang làm việc tại Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Philippines NGCP, Bộ Năng lượng Philippines đã có nghiên cứu kỹ lưỡng về những ưu và khuyết điểm của vấn đề.

Bà Valte đã tuyên bố như trên sau khi Bắc Kinh lên tiếng đòi Manila phải xử sự công bằng đối với Tập đoàn NGCP – có 40% vốn Trung Quốc – vào việc xây dựng màng lưới điện toàn quốc của Philippines. Theo Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi, thì tập đoàn này đã có nhiều đóng góp quan trọng, và Manila phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của tập đoàn đó.

Tranh cãi đã nẩy sinh từ hôm thứ Tư, 25/02 khi Bộ Năng lượng Philippines loan báo là sẽ chấm dứt công việc của số cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang làm việc trong hệ thống điện toàn quốc, vì những lý do đặc biệt về an ninh quốc gia.

Phát biểu với hãng tin Pháp AFP, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Jericho Petilla xác nhận là 16 kỹ thuật viên Trung Quốc đang công tác tại Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Philippines NGCP sẽ không được triển hạn visa vào tháng 7 tới đây và sẽ phải hồi hương.

Là một công ty tư nhân Philippines, NGCP có tới 40% phần hùn đến từ Tập đoàn Lưới điện Nhà nước Trung Quốc, tập đoàn quốc doanh đang quản lý hệ thống phân phối điện tại Trung Quốc.

Khi được hỏi là phải chăng vấn đề an ninh quốc gia bị đe dọa đã khiến cho chính quyền Manila quyết định như trên, vị Bộ trưởng Philippines đã xác nhận rằng vấn đề đó « hiển nhiên là một mối quan tâm ».

Đối với chính quyền Manila, màng lưới điện quốc gia Philippines phải do chính người Philippines điều hành và người Philippines hiện có đủ năng lực chuyên môn để đảm trách phần việc do người Trung Quốc thực hiện.

Ngoài lý do an ninh nói trên, một số nhà quan sát đã gắn liền quyết định không cho chuyên gia Trung Quốc tiếp tục làm việc trong màng lưới điện quốc gia Philippines với hồ sơ tranh chấp Biển Đông giữa Manila và Bắc Kinh.

Các hành vi lấn lướt của Trung Quốc nhắm vào Philippines trong những năm gần đây, từ vụ giành quyền kiểm soát thực tế trên bãi cạn Scarborough Shoal, cho đến vụ phong tỏa đường tiếp tế cho lính Philippines đồn trú trên bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), đã làm quan hệ song phương xấu hẳn đi.

Theo báo chí Philippines, hôm thứ tư vừa qua, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Philippines cũng thừa nhận rằng tranh chấp Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc đã tạo nên mối quan ngại về sự có mặt của chuyên gia Trung Quốc trong một tập đoàn chiến lược như tập đoàn lưới điện NGCP

NHCR quan ngại vụ Campuchia trục xuất 36 người Thượng VN

NHCR quan ngại vụ Campuchia trục xuất 36 người Thượng VN

Người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam vượt biên giới vào Campuchia ẩn náu trong các khu rừng rậm ở đông bắc Campuchia vì sợ nhà chức trách Campuchia sẽ trục xuất họ. (Ảnh: Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR )

Người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam vượt biên giới vào Campuchia ẩn náu trong các khu rừng rậm ở đông bắc Campuchia vì sợ nhà chức trách Campuchia sẽ trục xuất họ. (Ảnh: Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR )

05.03.2015

Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR hôm nay bày tỏ quan ngại trước việc Campuchia cuối tháng rồi cưỡng bách trục xuất 36 người Thượng Tây Nguyên từ Việt Nam chạy sang lánh nạn.

Bộ Nội vụ Campuchia nói 36 người Thượng bị bắt trả về Việt Nam hồi tuần trước là “người nhập cư bất hợp pháp.”

Tuy nhiên, giới hoạt động nhân quyền nói nhóm người sắc tộc thiểu số Việt Nam vượt biên giới qua Campuchia trốn trong các khu rừng rậm ở tỉnh Ratanakkiri chờ được tiếp xúc với Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc là những người đi tìm đường tị nạn vì bị đàn áp tôn giáo.

Ông Chhay Thy, điều phối viên cho tổ chức nhân quyền Adhoc ở tỉnh Ratanakkiri, cho biết 36 người sắc tộc Jarai bị bắt trục xuất hôm 25/2 khi tìm cách tới thủ đô Phnom Penh.

Trong một điện thư gửi ban Khmer đài VOA, phát ngôn nhân của Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc ở Campuchia, bà Vivian Tan, cho biết cơ quan của bà đã chính thức gửi thư tới giới hữu trách Campuchia bày tỏ quan ngại về hành động này.

Bà Tan nói trả người tị nạn về nước mà không cho họ tiếp cận với các tiến trình quyết định tình trạng tị nạn là đi ngược lại luật quốc tế.

Bà Tan cho biết cơ quan của bà sẽ tiếp tục thúc đẩy Campuchia cho phép người tị nạn được tiếp cận với các quy trình về người tị nạn như nhóm 13 người Thượng Việt Nam trước đây.

Mười ba người Thượng Việt Nam mà bà Tan nhắc tới đã được nhà chức trách Campuchia đề nghị cho tị nạn, và đang chờ Bộ trưởng Nội vụ nước này phê duyệt.

Nhóm 13 người này, trong đó có một phụ nữ, trốn vào rừng ở tỉnh Ratanakkiri hồi cuối năm ngoái và đã được đưa đến Phnom Penh  với sự hỗ trợ của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn.

Người Thượng Việt Nam lâu nay than phiền bị đàn áp vì đấu tranh đòi quyền lợi đất đai và quyền tự do tôn giáo.

Vào năm 2000 và 2001, hàng ngàn người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam đã bỏ trốn sang Campuchia. Nhiều người đã bị bắt hồi hương và một số người khác cuối cùng được cho tị nạn tại Mỹ và các nước phương Tây.