Ngày về

Ngày về

Năm 1981, khi tôi còn bị giam trong trại cải tạo Z30C Hàm Tân, Thuận- Hải, cứ vào buổi chiều, tôi cùng vài anh bạn tù lại ngồi quây quần bên nhau trên sạp xi măng, nhâm nhi từng ngụm cà phê chế bằng cơm cháy, ôn lại chuyện đời cho nhau nghe.

Hầu như bữa nào cũng vậy, dù trời tạnh ráo hay mưa bão dầm dề, thế nào chúng tôi cũng được nghe tiếng guitar thánh thót của một nhạc sĩ tay ngang Cựu Thiếu Tá Hồ Văn Hùng, gốc Cảnh-Sát Quốc-Gia và tiếng ca trầm buồn ảo não của chàng ca sĩ ngang xương Cựu Thiếu Úy Nguyễn Văn Vinh gốc Biệt Cách Nhảy Dù.

Chúng tôi mất nước đã gần chục năm, xa nhà cũng đã gần chục năm, nên những lời buồn thảm, bi ai: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua…”- “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho ai…” vừa cất lên, thì người đàn, người hát, người nghe cùng chạnh lòng, nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ vợ, nhớ con, nhớ bạn bè, nhớ xóm giềng, và nhớ quê hương.

Anh nhạc sĩ Hồ Văn Hùng, xưa kia là Cảnh- Sát tỉnh Hậu-Nghĩa; nay bị giam cùng buồng, cùng đội lao động với tôi. Anh thuộc nhiều bài hát lắm. Tôi xin anh chép lại cho tôi trọn bộ lời Pháp của bài “Chanson d’Orphée”

Anh ta chỉ cần dạo nhạc cho tôi đôi lần, là tôi đã thuộc nhập tâm bài hát này ngay. Trong bài ca ấy, tôi thích nhất câu “Le ciel a choisi mon pays. Pour faire un nouveau paradis” (Thượng Ðế đã chọn quê hương tôi để dựng lên một Tân Thiên Ðường)

Ngày xưa Thượng Ðế đã ban cho tôi một Thiên Ðường, mà tôi lại vô tình không nhận ra, đó là đất nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Năm 1975 Thiên Ðường của tôi đã không còn nữa.

Một năm sau ngày được thả, đầu Thu 1989 tôi gặp lại Hồ Văn Hùng trước một sạp báo cạnh nhà thương Sùng Chính, Chợ- Lớn. Khu này quy tụ khá nhiều dân gốc “Ngụy”: Một sạp báo do anh cựu nhân viên Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo làm chủ, một thợ hớt tóc là cựu Hải quân Thiếu úy, kế đó là một ông già mài dao, mài kéo, xưa kia làm tới Phó Quận xuất thân từ trường Quốc-Gia Hành-Chánh.

Anh chủ sạp báo là bạn tù tôi quen trong thời gian bị giam giữ ở Z 30 D. Vì làm bạn với anh chủ sạp báo, nên dần dà tôi quen “lây” sang hai ông “Ngụy” kế bên. Lâu lâu tôi ghé chơi, thấy tóc tôi dài, ông Hải quân lại đè đầu tôi xuống hớt tóc giùm, không lấy đồng bạc nào.

Thấy yên sau xe đạp của Hùng chất đầy sách vở, tôi hỏi anh làm nghề quái quỷ gì mà nhiều sách thế thì anh vênh mặt lên,

– Tớ đi dạy.

– Dạy nhạc hả?

– Nhạc gì?

– Thì nhạc Việt, tân nhạc… hồi còn trong trại tù cậu và thằng Vinh Biệt Cách hay hát cho tớ nghe…

Hùng xua tay, lắc đầu quầy quậy,

– Tớ có biết nhạc với nhiếc con mẹ gì đâu? Guitar tớ học lóm, chẳng có thầy bà nào dạy cả! Nhạc lý, nhạc Pháp cũng làng nhàng. Hiện giờ tớ đi dạy Anh Văn!

Tôi nghi ngờ vặn lại,

– Anh Văn của cậu cỡ nào mà dám đi dạy?

Hùng cười hì hì,

– Ối trời ơi! Sao cậu ngây thơ thế? Bộ suốt đời lính không lúc nào cậu bị ở vào cái thế lang bang, không chức vụ hả? Cứ lang bang không chức vụ là được gởi đi học. Tớ biết khối thằng có đầy bằng cấp chuyên môn chỉ vì lý do không có chức vụ trong đơn vị nên cứ có lớp là bị tống đi học. Hồi xưa, lúc còn lang bang không chức vụ, tớ có dịp được đề cử theo học một khóa Anh Văn, rồi lại bị đưa đi học tu nghiệp ở Mã-Lai. Năm ngoái ra khỏi tù cải tạo, tớ kiếm hoài không ra việc, tưởng là phải chết đói. Ai ngờ gặp đúng lúc đổi đời, nhà nhà học Anh Văn, người người học Anh Văn. Tớ vội ôn lại văn phạm vài ngày là đi dạy kiếm cơm được rồi. Cả khu phố của tớ đều mù, tớ là thằng chột. Xứ mù, thằng chột làm vua! Tớ đếch cần làm vua, chỉ cần gạo thôi…

Tôi không phục cái ngai vàng trên nước mù và chột của người bạn thời đi tù cải tạo này, nhưng tôi thích tiếng đàn guitar của anh, thích giọng ca của Nguyễn Văn Vinh mà tôi đã được nghe trong những chiều buồn nơi lán trại của Z 30 C, Hàm-Tân năm nào.

Tôi kéo Hùng ngồi xuống bên bàn cờ tướng của ông thợ hớt tóc. Tôi giới thiệu Hùng với hai ông bạn “Ngụy” của tôi. Ông Hải quân mời Hùng uống trà; ông Ðốc Sự cũng xúm vào góp chuyện. Hùng là người Huế, ông Ðốc Sự cũng là dân Huế; chỉ vài phút sau hai ông đã ra chiều tương đắc.

Thấy trên tường có treo cây guitar của ông thợ hớt tóc, bên cạnh là cây đờn cò của ông mài dao kéo, giáo sư Hùng gật gù,

– Các cha ở đây có cả Tân, Cổ giao duyên vui quá há?

Nghe Hùng nói, tôi chợt nhớ chuyện xưa, nên cầm tay Hùng tôi khẩn khoản yêu cầu anh hát lại khúc “Những ngày thơ mộng” của Hoàng Thi Thơ cho tôi nghe.

Chiều ý tôi, ông giáo sư Anh Văn bỏ nón xuống bàn cờ tướng, ông uống cạn ly trà móc câu, ôm cây guitar kê lên đùi, so dây, lấy giọng, rồi bắt đầu: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua? Tìm đâu những ngày xanh như mộng?…

Khi Hùng vừa xuống giọng câu chót: “Tìm đâu? Biết tìm đâu? đâu giờ…” thì anh bắt ngay qua “Matin, fait lever le soleil…” (Buổi sáng, mặt trời lên…) của bài hát tiếng Tây “Chanson d’Orphée”

Hứng chí, ông thợ mài dao ôm cây đờn cò “í!a! í!a!…” phụ họa, còn ông thợ hớt tóc thì hai tay thủ hai cái giũa sắt múa “cạch! cạch! cành! cành!…” trên thành cái chậu nhôm chứa nước như một tay trống điêu luyện, lành nghề.

Người qua đường dừng lại mua báo, khách của bác thợ mài dao, khách của bác thợ hớt tóc đứng ngây nghe các bạn tôi đàn hát. Tiếng hát não nuột, tiếng guitar réo rắt, tiếng trống sắt rộn ràng, và tiếng đờn cò nức nở làm cho lá vàng rơi tới tấp trên đường Trần Hưng Ðạo một chiều Thu năm 1989. Mấy bé con tan trường từ một lớp tiểu học gần đó xì xào với nhau: “Nhạc vàng, nhạc ngoại, hay quá trời, lại nghe coi tụi bây ơi!”

Sau khi chấm dứt câu cuối, “Chante chante mon coeur. La chanson du matin. Dans la joie de la vie qui revient…”

(Hát lên, hát lên trái tim tôi. Bài hát của buổi mai. Trong niềm vui vừa trở lại…) thì Hùng chợt hốt hoảng la toáng lên,

– Ủa chi rứa? Bà con làm chi rứa?

Thì ra… bà con qua đường tưởng bốn thằng tôi là gánh hát dạo, họ bỏ tiền vào cái nón của giáo sư Hùng, cái nón nằm ngửa trên bàn!… cái nón đầy tiền loại 20 đồng màu tim tím…

Bốn anh cựu quân, cán, chính, Việt-Nam Cộng-Hòa nhìn nhau, miệng mếu xệch.

Mười bốn năm sau khi Miền Nam sụp đổ, hàng trăm ngàn cựu tù cải tạo đã lẫn vào và như đã biến mất trong cái xã hội hỗn mang, hạ cám thượng vàng. Họ chìm vào giòng đời dưới những bộ mã khác nhau: Ông Thiếu Úy Hải quân thành ông thợ hớt tóc; ông Thiếu Tá Cảnh Sát thành ông thầy dạy Anh Văn lưu động; ông Phó Quận Hành Chánh thành ông mài dao kéo; nhưng cái giá trị nhân bản tiềm ẩn trong con người họ vẫn còn đó. Trái tim họ vẫn không ngủ quên.

Cũng như trăm ngàn đồng ngũ Việt-Nam Cộng-Hòa khác, ngày về của tôi cũng là ngày đầu một cuộc sống mới, đầy ngỡ ngàng. Sau đó, tôi cũng từ từ lẫn vào, và biến mất trong dòng chảy của một xã hội hạ cám, thượng vàng. Tôi bắt đầu xây lại cuộc đời với một chiếc xe đạp thồ.

Cái xe đạp thồ của tôi quả là một con ngựa đa năng, đa dụng. Nó chẳng đòi ăn, đòi uống, nghỉ ngơi, giải trí, chuyện trò gì. Tôi chất bất cứ vật gì lên lưng nó, nó cũng im re, không than van nặng nhọc nửa lời. Nó giúp tôi buổi sớm tinh mơ chuyển hàng cho thân chủ từ Chợ-Lớn về Chợ Bến-Thành. Buổi tối, chở hàng từ Cầu Chữ Y sang đổ nơi bến xe Miền Ðông. Trời nắng chang chang, nó chở tôi và một giỏ cá khô từ Sài-Gòn lên Thủ-Ðức, len lỏi trong những con hẻm ngoằn ngoèo, để tôi rao bán lẻ từng ký cá khô, tôm khô.

Nó chở vợ chồng tôi từ Sài-Gòn đi Thủ -Ðức tới nhà anh bạn Ngô Văn Niếu của tôi để họp mặt anh em cùng khóa 20 Võ-Bị chào mừng mười cựu sĩ quan khóa 20 Võ-Bị mới được tha, trong đó có tôi. Dịp này nơi bãi cỏ đậu xe trước sân nhà anh Niếu, nó được đứng xếp hàng chung với những chiếc xe Dream, Honda, Vespa của các bạn tôi. Tôi thấy chiếc xe đạp thồ của mình có vẻ “oai phong” không kém gì chúng bạn, vì so chiều ngang, chiều dài, nó đâu có kém ai? Nhìn kỹ, tôi thấy nó còn có vẻ “phong trần bạt mạng” hơn mấy chiếc xe máy bóng loáng, kiêu sa, yểu điệu, của các ông bạn tôi nữa đó!

Tôi có anh bạn làm Trung Tá Cảnh Sát. Anh ấy và tôi được thả ra khỏi trại cải tạo cùng giờ, cùng ngày. Nhà anh bạn tôi ở gần Thảo Cầm Viên Sài-Gòn.

Mỗi lần tôi ghé thăm nhà anh, vừa thấy mặt tôi, bà mẹ anh đã đon đả gọi con,

– Bảo ơi! Có “Anh Long Xe Thồ” tới thăm con kia kìa!

Trung Tá Cảnh Sát Phan Trần Bảo, Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết là bạn tôi; mấy chục năm sau anh ấy còn nhớ cái tên “Anh Long Xe Thồ” mà mẹ anh ta đã đặt cho tôi.

Trước ngày lên đường đi Mỹ định cư, nếu tôi ra khỏi nhà thì thế nào con ngựa thồ của tôi cũng đi theo. Chỉ khi nào tôi lên rừng tìm vàng, đào thiếc, tôi mới chịu để nó ở nhà.

“Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe!” vợ tôi thường an ủi tôi như thế, mỗi khi thấy tôi có vẻ áy náy mời nàng dời gót ngọc lên yên sau con ngựa thồ để tôi chở đi đây, đi đó. Nàng lúc nào cũng giản dị bình thường. Có tôi bên cạnh, vợ tôi hết lo âu, nhìn đời lúc nào cũng đẹp. Sau những chuyến đi dài ngày đào thiếc, tìm vàng trên Cao-Nguyên, tôi trở về Sài-Gòn; vợ chồng tôi lại chở nhau trên lưng con ngựa thồ, lang thang rong chơi quanh phố. Ðường phố Sài-Gòn thời 1988-1990 thênh thang. Khu Nguyễn Cảnh Chân có nhiều giáo sư của Trường Trung Học Hưng Ðạo, nơi đứa con gái thứ nhì của tôi đang theo học. Qua những buổi họp phụ huynh học sinh, cô giáo hướng dẫn lớp con tôi đã quen mặt vợ tôi. Bà cũng biết rõ tôi là sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đi tù cải tạo.

Chắc chắn hình ảnh chiếc xe đạp thồ của tôi bay lượn trong khu Cao Thắng, Nguyễn Cảnh Chân đã lọt vào những đôi mắt tò mò. Một hôm, con tôi về nhà sau buổi học, nó cười: “Sáng nay cô giáo hướng dẫn lớp con vừa hỏi con rằng ba của em đã về chưa? Con nói bố em mới về. Lúc đó cô giáo con mới nói cô có thấy một người đàn ông lạ chở má bằng xe đạp đi qua nhà cô.”

Ðời sống riêng tư của những bà vợ trẻ của sĩ quan chế độ cũ luôn luôn là mục tiêu theo dõi dòm ngó của xóm giềng. Những câu hỏi dò la, tọc mạch, chận đầu, bắt nọn như thế không thiếu trong xã hội này. Tôi chạnh nghĩ, qua mười mấy năm dài, xã hội đảo điên dưới chế độ mới, giá trị của nếp xưa Khổng Mạnh cũng còn là chút gì đáng giá cho người ta lưu tâm. Rồi tôi thấy thương vợ vô cùng. Chuyện xe đạp nổ lốp giữa phố đối với cặp uyên ương này là thường xuyên. Lốp xe nổ, thì vợ chồng nắm tay nhau, dắt xe đi bộ, về nhà, vá lốp xe! Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe. Ngày xưa mình đi xe Jeep, ngày nay mình đạp xe thồ; ngựa xe nào cũng dùng làm phương tiện di chuyển có gì mà phải kén chọn, quan tâm? Ðiều quan yếu là: Ngày xưa mình có nhau, ngày nay mình vẫn còn có nhau. Mười ba năm, vật đổi, sao dời, mình còn nguyên vẹn như thế này là quý lắm rồi!

Một hôm có người mang đến cho cặp vỏ xe mới, mừng ơi là mừng! Anh bạn quý của tôi lúc này đang làm “gác-dan” cổng sau khách sạn Continental. Hắn chắt bóp mãi mới được món tiền mua tặng tôi cặp lốp mới. Hắn tên là Lê Văn Chánh, người Huế. Chánh vốn là một cựu sinh viên Dược Khoa Sài Gòn thời 1960s. Hắn có máu đàn ca và đã có lúc viết nhạc bán cho một nhạc sĩ đã thành danh để có tiền đi phòng trà Anh Vũ mỗi buổi tối. Học hành chật vật mãi vẫn chưa thành Dược Sĩ, hắn bị gọi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ- Bị Thủ- Ðức để cứu nước. Rồi hắn trở thành sĩ quan An- Ninh Quân- Ðội.

Tôi và Chánh gặp nhau và thân nhau ở Trại Nam-Hà A. Chúng tôi ăn chung mâm, ngủ cùng sạp một thời gian rồi cùng được thả ra cùng một ngày, sau mười ba năm bị giam giữ, tù đày.

Thời mới đi tù cải tạo về, tôi gặp hắn dễ lắm. Cứ đi ngang qua đường Lê Thánh Tôn, tới cổng sau Khách Sạn Continental là thấy chàng ta ngồi nơi góc.

Những lần về phố, tôi đều ghé thăm Chánh. Gặp nhau, bù khú một lúc, hai đứa lại rủ nhau ra tán dóc với anh thợ vá lốp, sửa xe bên đường Hai Bà Trưng. Anh vá lốp xe máy, sửa xe đạp này thời xưa làm Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Trung -Tâm Huấn- Luyện Chi- Lăng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Anh ta tên là Hoàng Trai xuất thân khóa 19 Võ-Bị. Ba chàng ngồi bên nhau, chuyện nổ như pháo. Hai bạn tôi chỉ quanh quẩn ở Sài-Gòn, nên thích nghe tôi kể chuyện đường rừng, mạo hiểm, như chuyện đào vàng, đào thiếc, chuyện bẫy khỉ, giữ lô, chuyện khai thác gỗ quý, săn ngải, tìm trầm…

Chánh kể cho tôi nghe rằng, nó có đứa con gái lớn tên là Lê Lâm Quỳnh Như. Cháu Quỳnh Như lớn hơn đứa con gái đầu của tôi một tuổi. Một ngày từ rừng trở về thành phố, tôi nghe bạn Chánh khoe, con gái anh vừa đứng đầu cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần thưởng mà con anh nhận được là cái dây chuyền 7 chỉ. Chánh nhìn tôi, cười, miệng xuýt xoa: “Thế là có tiền lo thủ tục hồ sơ đi H.O”

Sau đó khá lâu, gia đình Lê Văn Chánh đi Mỹ theo danh sách H.O 16. Qua tới Mỹ thì ca sĩ Quỳnh Như đổi tên là Như Quỳnh, danh tiếng nổi như cồn.

Thời gian đầu, khi Chánh còn cư ngụ ở Philadelphia thì tôi và Chánh vẫn thường xuyên liên lạc điện thoại thăm nhau. Bây giờ thì tình hình đã đổi thay nhiều. Chỉ có tôi và anh Trai là gặp nhau thường, vì hai đứa tôi cùng là cư dân Tiểu Bang Washington. Chúng tôi rất khó tiếp xúc với anh bạn cựu tù Lê Văn Chánh ngày xưa. Nghe đâu, cách đây vài năm, Như Quỳnh mua cho bố Chánh một căn nhà ở Cali, khu cư xá giống như một Fortress City, có rào cản, có cameras, hệ thống alarms cao cấp, security tuyệt hảo, phone của Chánh lại chuyển số luôn luôn, nên tôi và anh vá lốp xe đạp không chuyện trò với anh được. Lâu ngày không nói chuyện với nhau, chắc anh Chánh quên tôi rồi?

Riêng tôi, không bao giờ tôi quên “Chánh Phăng Si Ða”, anh bạn tù sốt rét kinh niên cùng buồng 16 ở trại Nam-Hà A Phủ- Lý của tôi. Sở dĩ Chánh có biệt hiệu “Chánh Phăng Si Ða” chỉ vì lúc nào trong túi anh cũng dự trữ sẵn một vỉ thuốc sốt rét cực mạnh mang nhãn hiệu Fansidar. Không rõ bạn tôi có hiểu rằng, trong mấy năm nay, anh chàng đào vàng trên rừng Nắp Bắc Ðà-Lạt và anh chàng sửa xe đạp trên đường Hai Bà Trưng Sài- Gòn nhớ nhung anh gác-dan Khách Sạn Continental không nguôi?

Những sự mất mát nhẹ nhàng như thế, những hình bóng mờ dần vì vô tình hay cố ý như thế, làm cho tôi thấy thương, thấy quý những giây phút bạn bè khăng khít bên nhau. Bây giờ, những sợi tơ thân thiết cột buộc chúng ta cứ mỏng dần, mỏng dần theo thời gian.

Ôi! Biết tìm đâu? Những ngày xưa thân ái! Biết tìm đâu xứ sở mà Thượng Ðế đã chọn làm một Thiên Ðường? Biết tìm đâu Việt-Nam Cộng-Hòa của tôi?

Vương Mộng Long – K20 
Seattle tháng Tư năm 2018

Tin tức thời sự (RFA)

httpv://www.youtube.com/watch?v=1kySjdnL-Us
Tin tức thời sự | Hội Thánh của Đức Chúa Trời phản bác cáo buộc của truyền thông trong nước

TIN MỚI THẬT BUỒN TỪ PHILIPPINES!

 
 
Maria Nguyen shared a post.
 
Image may contain: 1 person, flower
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people and outdoor
LE AN NT

TIN MỚI THẬT BUỒN TỪ PHILIPPINES!

Cha Mark Ventura, 37 tuổi, Chánh xứ thánh Isidoro, thuộc Tổng giáo phận Tuguegarao, Philippines, vừa bị bắn chết lúc 8 giờ sáng ngày hôm qua, 29/4/2018, ngay sau khi dâng lễ Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh.

Cha chết trong tư thế thật đẹp dưới chân Bàn thánh: Thân thể nằm nghiêng trên nền đất, tay vắt qua đầu bị bắn vỡ nát trên một vũng máu lớn. Máu đỏ thấm đẫm phần trên áo lễ Cha chưa kịp cởi ra, chỉ có dây stole vừa được gấp dở dang trên bàn thờ.

Cha lãnh chức linh mục chỉ mới 7 năm, nổi tiếng là người đầy nam tính, luôn bênh vực quyền lợi của người thiểu số nghèo và thường lên tiếng chống lại việc khai thác thiên nhiên bừa bãi. (Theo Missionary Albert)

VẪN CÓ MỘT ANH HÙNG TỬ ĐẠO ĐÔNG NAM Á,  NGAY TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA!    

Gần 5.500 người ra đường và không bao giờ trở về nhà trong 8 tháng

Lê Dũng Vova

 

Việt nam sống trong thảm hoạ quanh năm suốt tháng : tháng có gần chục ngàn chết vì ung thư, cả ngàn chết vì giao thông …

Thế nhưng Quốc hội 500 nghị, Chính phủ kiến tạo và minh bạch, đảng trường tồn, dân hạnh phúc vẫn hát ca quanh ngày ! 

Một đất nước kỳ lạ !

M.BAOMOI.COM
 
Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong tám tháng vừa qua (tính từ ngày 16/12/2016 đến 15/8/2017), toàn quốc xảy ra 12.775 vụ tai nạn giao thông, làm 5.422 người chết.
 
 

Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm?

 

Thế mà Anh Tô lâm tuyên bố với 800 tờ báo Việt Nam về TXT bị bắt cóc ở Đức , tôi chưa nghe tin gì cả ! Hố hố 
———-
Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh chấn động lớn, gây căng thẳng quan hệ ngoại giao Đức-Slovakia-Việt Nam – Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm?

Ông Peter Pellegrini Thủ tướng Slovakia sẽ đến nước Đức vào thứ Tư tới. Ông có những cuộc họp đã được lên kế hoạch với Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier và bà Thủ tướng Đức Angela Merkel. Một trong những nội dung của các cuộc họp sẽ là vấn đề vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Tờ Pravda nhấn mạnh, vụ bắt cóc này đã dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa Đức và Việt Nam, và hơn thế nữa giờ đây nó gây căng thẳng đối với quan hệ ngoại giao giữa Đức và Slowakia cũng như giữa Slowakia và Việt Nam./.

Thủ tướng Pellegrini nói. „Bộ Nội vụ Slovakia cũng liên lạc với phía Việt Nam để kiểm tra thành phần của đoàn Việt Nam và xác định xem có ai khác trên chuyên cơ của Việt Nam hay không. ?

BAOTHAMNHUNG.COM
 
Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh chấn động lớn, gây căng thẳng quan hệ ngoại giao Đức-Slovakia-Việt Nam – Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm? Ông Peter Pellegrini Th…

Việt Nam có thể đã lợi dụng lòng hiếu khách của Slovakia để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Việt Nam có thể đã lợi dụng lòng hiếu khách của Slovakia để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

2018-04-30

Trịnh Xuân Thanh (giữa) bị dẫn ra tòa ở Hà Nội hôm 22/1/2018

Trịnh Xuân Thanh (giữa) bị dẫn ra tòa ở Hà Nội hôm 22/1/2018

 AFP
 

Bộ Nội vụ Slovakia hôm 29/4 bày tỏ quan ngại về chuyến thăm của Bộ trưởng Công an Việt Nam Tô Lâm sang nước này hồi năm ngoái vì nghi ngờ chuyến thăm có thể được sử dụng nhằm mục đích khác hơn là thăm hữu nghị. Hãng tin TARS của Slovakia loan tin này hôm 29/4.

Bộ Nội vụ Slovakia đưa ra phản ứng này sau khi có thông tin từ báo chí Đức cho biết chuyến thăm của tướng  Tô Lâm đến Slovakia có thể là liên quan đến việc mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, một cựu quan chức ngành dầu khí lúc đó đang xin tỵ nạn tại Đức.

Thông báo của bộ Nội vụ Slovakia viết: ‘chúng tôi cho rằng những việc như vậy đáng ra phải được giải quyết theo cách khác, theo tiêu chuẩn. Từ tháng 8 năm ngoái đến nay, Bộ Nội vụ Slovakia đã làm việc chặt chẽ với các đối tác Đức để làm rõ vấn đề này, cung cấp các hợp tác tối đa thông qua hỗ trợ tư pháp quốc tế.

Bộ Nội vụ Slovakia cho biết nếu các thông tin được phía Đức công bố được xác nhận thì phía Slovakia sẽ xem việc làm của chính phủ Việt Nam là không công bằng với đối tác của mình, và lạm dụng lòng hiếu khách của Slovakia vào mục đích khác thay vì tình hữu nghị, và điều này sẽ làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Theo Bộ Nội vụ Slovakia, vào tháng 7 năm ngoái, Bộ trưởng công An Tô Lâm đã đén Slovakia và gặp Bộ trưởng Nội vụ Robert Kalinak tại khách sạn Borik ở Bratislava. Mục đích của chuyến thăm được nói vào lúc dó là để tăng cường quan hệ giữa hai nước.

Trong khi đó báo chí Đức cho gần đây cho biết Slovakia có thể có liên quan đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Berlin, Đức vào tháng 7 năm ngoái. Theo báo chí Đức, một số kẻ tình nghi tham gia vụ bắt cóc đã có mặt trong chuyến thăm Bratislava cùng tướng Tô Lâm.

Chính phủ Đức đã cáo buộc Việt Nam vi phạm luật pháp quốc tế và Đức khi cho mật vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Chính phủ Việt Nam bác bỏ cáo buộc này và nói rằng Trịnh Xuân Thanh đã về nước đầu thú.

Vào đầu năm nay, Việt Nam đã mở hai phiên tòa xét xử Trịnh Xuân Thanh về các tội cố ý làm trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng và tham ô với hình phạt án tù chung thân.

Hôm 23/4, tòa Thượng thẩm Đức đã mở phiên tòa xét xử một nghi phạm tham gia vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Cáo trạng đọc trước tòa cũng cáo buộc tướng công an Đường Minh Hưng đã đến Berlin, trực tiếp chỉ huy vụ bắt cóc.

Nhân ngày 30/4: Chút hồi ức về một người tù cải tạo

Nhân ngày 30/4: Chút hồi ức về một người tù cải tạo

Ảnh: internet

XIN LƯU Ý – Đây chỉ là vài ký ức vụn vặt, góp thêm mấy nét chấm phá trong bức tranh xã hội những năm tháng sau 30.4.1975. Xin nhắc lại đề nghị không đưa ra những bình luận cực đoan nhắm vào chính quyền hay chế độ hiện hành.

***

CUỘC GẶP LẠI CỦA HAI “CỐ NHÂN”

Lúc ấy, trại CT Long Thành có 13 ngôi nhà dài, mỗi nhà chứa khoảng 300 người, được ngăn thành 4 hay 5 phòng, thông với nhau bằng một ô cửa trống. Nhiều nhân vật “sừng sõ” của chế độ VNCH được phân bố rải rác ở các nhà. Ngôi nhà 2 nơi tôi ở còn có tên A14, có những gương mặt quen thuộc như:

– Ông Trần Minh Tiết, từng làm Ủy viên Nội vụ (Bộ trưởng), Chủ tịch Tối Cao Pháp viện

– Ông Lưu Văn Tính, từng làm Tổng Giám Đốc Ngân sách và Ngoại viện, Bộ trưởng Tài chánh và cuối cùng là Cố vấn tài chánh tại Phủ Tổng thống.

– Ông Nguyễn Đình Xướng, Tỉnh trưởng Vĩnh Bình thời Ngô Đình Diệm, Tổng Thơ ký Bộ Nội vụ, Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống.

– KTS Ngô Viết Thụ, giải Khôi nguyên La Mã, người tái thiết Dinh Độc lập.

– và một người là nhân vật chính của câu chuyện này: ông Nguyễn Xuân Phong. Ông Phong sống ở Pháp khá lâu, tháng cuối cùng của chế độ VNCH, ông bay về Sài Gòn đảm nhận chức vụ Quốc vụ khanh đặc trách Ngoại giao của chính phủ Nguyễn Bá Cẩn và kẹt lại sau 30.4. Ông được biết đến nhiều với vai trò Trưởng phái đoàn hòa đàm Paris của chính phủ VNCH, tham gia đàm phán với phái đoàn miền Bắc do ông Xuân Thủy đứng đầu và phái đoàn CPCMLT CHMNVN của bà Nguyễn Thị Bình. (Cố vấn chỉ đạo phái đoàn Mỹ là Henry Kissinger, của phái đoàn VNCH là Tổng trưởng Ngoại giao Phạm Đăng Lâm, của phái đoàn VNDCCH là ông Lê Đức Thọ).

Tại nhà 2 trại Long Thành, ông Phong ở chung một đội với tôi. Nước da ông ngăm đen, mũi cao, tính rất hiền hòa, ít nói, anh em ai cũng quý mến ông. Sau khi chúng tôi ở với nhau được khoảng 2 tháng, buổi trưa nọ, bỗng nhiên có lệnh bất ngờ: tất cả vào nhà hết, không ai được đi ngoài sân. Lúc đó cứ giữa hai dãy nhà dài thì có một khoảng sân rộng độ 8 mét. Mọi người tuân thủ lệnh cấm, song hồi hộp lắm, tập trung trước các ô cửa sổ to nhìn ra sân, xem động tĩnh gì. Được khoảng 20 phút thì thấy đầu sân xuất hiện khoảng 5-6 người, một người thấp lùn, trán hơi hói cắm cúi đi trước, những người kia khép nép theo sau. Khi họ đi đến gần tầm mắt, chúng tôi chợt nhận ra người đi đầu là ông … Xuân Thủy, từng là trưởng phái đoàn miền Bắc đàm phán với phía VNCH mà đại diện là ông Nguyễn Xuân Phong. Khi những người này vừa đi khuất tầm mắt, tôi đưa mắt liếc sang ông Phong đang đứng cạnh mình. Ông ở trần, chống hai tay lên hông, gương mặt bình thản đến lạnh lùng. Vậy mà cái hình ảnh lạnh lùng ấy cứ ám ảnh tôi một thời gian dài mỗi khi nhớ đến ông Nguyễn Xuân Phong.

Mới đây, đọc tin trên mạng, được biết ông Phong đã qua đời ngày 29.7.2017 tại bang Florida, Hoa Kỳ. Theo người viết bản tin về sự ra đi của ông thì “sau khi định cư tại Hoa Kỳ ông sống một cuộc đời ẩn dật. Ông từ chối tất cả những cuộc phỏng vấn và đề nghị viết hồi ký. Ông sống rất đạm bạc và khó khăn lúc cuối đời”. Những lời mô tả này rất phù hợp với nhân cách Nguyễn Xuân Phong trong thời gian là bạn tù của chúng tôi tại trại CT Long Thành.

TẤM LÒNG NGƯỜI DÂN MIỀN NAM ĐỐI VỚI KẺ NGÃ NGỰA

Tại trại Long Thành, trong năm đầu tiên, chúng tôi chưa là … tù, còn được gọi là “học viên”, gọi các cán bộ trại là “anh”, chứ chưa là “cán bộ”. Mãi đến một năm sau (1976), hồ sơ của chúng tôi mới được thanh lọc kỹ, ai “không có tội” hay “tội nhẹ” thì được về, đa số còn ở lại được long trọng công bố một quyết định “tập trung cải tạo ba năm”. Trong quyết định có nêu rõ một điều khoản: ai học tập tốt, lập công chuộc tội thì được tha về trước ba năm, ai còn ngoan cố, không chịu cải tạo thì sẽ phải thụ hình thêm nữa. Trong ba năm đó, lập công thì chả biết công ở đâu để lập, còn ngoan cố, chống đối thì bố bảo cũng không dám, chúng tôi cứ nhũn như con chi chi, bảo gì làm nấy. Vậy mà sau khi hết hạn ba năm (1978), không khí vẫn im lặng như tờ, cũng không có một quyết định nào khác về số phận của chúng tôi. Một vài lần họp trại, chúng tôi có rón rén nhắc lại tinh thần của quyết định “tập trung cải tạo ba năm” thì được giải thích đại khái ngoài xã hội còn rất phức tạp, nhân dân còn rất căm thù chúng tôi, vì thế về lúc bấy giờ sẽ rất nguy hiểm cho chúng tôi. Chúng tôi tin rằng đó là một lời giải thích có tình, có lý, vì lúc ấy, chúng tôi còn ở trong trại giam, được bảo vệ nghiêm ngặt như thế, mà “nhân dân căm thù” cũng đã ném tới tấp nào đậu hũ, nào hủ tiếu, nào thuốc lá, vào người chúng tôi rồi.

* Trong bốn năm còn ở trại CT Long Thành, một trong những việc mà chúng tôi vẫn làm thường xuyên là được chở xuống thị trấn Biên Hòa, khiêng vác gạch xây dựng, xi măng mang về làm hàng rào kiên cố bao quanh trại. Công việc cực nhọc đối với lũ “chân yếu tay mềm” chúng tôi, song đây là những dịp mà chúng tôi vẫn mong muốn xảy ra thường xuyên. Vì cứ mỗi lần như thế, bạn tù bu lại nhờ mua đậu hũ chiên ở chợ Biên Hòa. Món này xắt ra từng miếng nhỏ rồi kho lên là thức ăn tuyệt vời nhất của người tù.
Bữa nọ, chúng tôi chất gạch cát, xi măng lên xe xong, như mọi lần, xin với cán bộ áp giải (một súng ngắn, một súng dài) cho vào chợ Biên Hòa mua đậu hũ. Ghé lại một bà cụ bán hàng, mua xong, chúng tôi trả tiền rồi bước đi. Được chừng mươi thước, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu to của bà cụ bán hàng:

– Mấy cậu ơi, đứng lại! đứng lại!

Chúng tôi giật mình, quay lại, tưởng như mình vừa trả thiếu tiền cho bà cụ. Khi vừa bắt kịp chúng tôi, bà cụ nói trong hơi thở dốc:

– Tui cho mấy cậu tàu hũ về ăn, tui không lấy tiền đâu.

Vừa nói, bà cụ vừa nhét những đồng tiền vo tròn vào tay chúng tôi. Không tiện dẳng co trước mặt súng ngắn, súng dài, chúng tôi cảm ơn bà cụ rồi quay gót. Trên đường về chúng tôi đoán rằng sau khi bán đậu hũ cho chúng tôi xong, bà cụ hỏi các bạn hàng chung quanh và lúc đó mới biết chúng tôi là tù cải tạo.

* Một lần khác, sau khi bốc vác gạch cát xong, trên đường về lại trại Long Thành, mấy anh em thèm hủ tiếu quá, xin xe cho ghé lại một quán hủ tiếu ven đường. Khi chúng tôi ăn gần xong, anh chủ quán đến gần, nói nhỏ:

– Các anh ăn xong rồi đi đi, có người trả tiền cho các anh rồi.

Cũng như với bà cụ bán đậu hũ, chúng tôi không tiện dang ca với anh chủ quán, chỉ biết kín đáo nhìn anh bằng cặp mắt hàm ơn rồi trở ra xe. Cho đến sau này, bữa hủ tiếu ngày hôm đó, anh chủ quán không lấy tiền hay có một “mạnh thường quân” nào thương xót chúng tôi mà bỏ tiền ra thanh toán, chẳng ai trong chúng tôi biết cả.

* Theo “tiêu chuẩn” lúc bấy giờ, những người có chức vụ và cấp bậc như chúng tôi đều phải ra Bắc. Trong gần 3.000 người ở trại Long Thành, ngoài một số không nhiều được trở về nhà sau cuộc thanh lọc hồ sơ, số đông còn lại được đưa ra Bắc trong hai đợt, mà chúng tôi gọi là “bao bố 1” và “bao bố 2” (sẽ có dịp giải thích mấy từ này sau). Số còn lại chờ đi “bao bố 3” chỉ còn chưa đầy 150 người. May sao, năm 1978, Bộ Nội Vụ có nhu cầu mở một trại mới giữa rừng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chúng tôi dù là tù, cũng là tù “chén kiểu”, ít có nguy cơ bỏ trốn, nên một số người được đưa lên Xuyên Mộc lập trại mới. Trại lập xong, giữa năm 1979, gần 150 người còn lại ở Long Thành được đưa lên trại mới Xuyên Mộc. Thế là thoát được chuyến đi Bắc cuối cùng.

Hôm chuyển trại, chúng tôi được đưa đi bằng phương tiện là loại xe chở … trâu bò ở Hậu Giang. Đó là mô tả sự thật thôi, chứ thời đó, phương tiện rất khó tìm, việc chở tù bằng loại xe nào cũng chẳng có gì đáng kinh động cả. Thời đó, xe chở khách tư nhân thường chạy bằng than, đeo lủng lẳng một bình than cao quá đầu người ở đuôi xe, xe chạy, than bắn tung tóe trên đường, người ngồi sau xe như ngồi trong lò lửa. Vì thế chở tù bằng xe nào là chuyện không có gì quan trọng, điều đáng nói là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi biết cái còng số 8 mùi gì. Di chuyển xa, mà mỗi xe chở tù chỉ có một cán bộ áp giải ngồi ở thùng xe phía trước, vì thế để tránh trường hợp tù nhảy trốn trên đường di chuyển, chúng tôi được chia sẻ với nhau cứ hai người chung một còng số 8. Một vài cụ lớn tuổi như cụ Nguyễn Bá Lương, nguyên Chủ tịch Hạ viện, cụ Nguyễn Văn Tho, nguyên Trưởng khối Dân tộc Thượng viện … được miễn còng tay, nhưng phải ra ngồi nơi áp sát với cabin trước (dành cho tài xế, phụ xế và cán bộ áp giải). Hài hước nhất thuộc về trường hợp một người bạn đồng môn của tôi là anh Huỳnh Viết V. (hiện sống ở Mỹ). Anh V. sót lại cuối cùng, được hưởng một mình một còng số 8, và để tránh bất an, người ta treo cánh tay đeo còng của anh lên tấm bửng đóng lại phía sau xe. Và cánh tay này của V. trở thành lời giải thích chính xác nhất cho công chúng hai bên đường khi đoàn xe chúng tôi chạy qua họ và nhiều người nhìn theo mà thắc mắc chưa biết xe chở thứ gì. Có đoạn đường, chúng tôi nghe họ nói với nhau: xe chở tù chị ơi, anh ơi …

Thời đó, con đường đi đến vùng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu bụi đỏ mù mịt, chưa đến nơi mà tóc tai, quần áo chúng tôi nhuộm đỏ cả. Xe đang chạy ngon trớn, bỗng anh phụ xế ló đầu nhìn vào thùng xe qua một ô nhỏ giữa thùng xe với cabin, rồi nói to:

– Các anh xê ra cho tôi xem can xăng có đó không

Tụi tôi nhìn quanh chẳng thấy can xăng đâu, gân cổ cãi lại với anh, song anh vẫn một mực:

– Có can xăng đây mà

Vừa xong câu nói, anh quăng nhanh xuống sàn xe ba gói thuốc hút Đà Lạt, Hoa Mai. Đến lúc đó, chúng tôi mới bật ngửa: anh phụ xe muốn cho chúng tôi thuốc hút nhưng sợ vi phạm lệnh cấm tiếp xúc với tù, nên mới phải bày ra trò tìm kiếm cái can xăng!
Đêm hôm đó, lần đầu tiên sống giữa rừng Xuyên Mộc, chim kêu vượn hú, nhiều anh tù thấy ấm lòng với những điếu thuốc mà một người lao động nghèo như anh phụ xe ấy đã chia sẻ cho mình.

* NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI TÙ ĐƯỢC TRỞ VỀ ĐÊM 30 TẾT

Anh Phạm Văn Đ. là tù cảnh sát. Anh hơn tôi nhiều tuổi, tính tình hiền hòa nên dù mới gặp nhau ở Xuyên Mộc, chúng tôi đã sớm trở thành những người bạn thân. Trong thời gian anh ở tù, cô con gái, cháu Phạm Tuyết Tr., mới 17-18 tuổi, bị đau nặng. Vào những lần gia đình lên thăm nuôi năm 1981, anh cứ hỏi con đâu, nhà trả lời là cháu đau không lên thăm bố được. Cuối năm ấy, anh được thả về đúng đêm giao thừa. Còn niềm vui nào hơn sự đoàn tụ vào giữa đêm giao thừa sau nhiều năm xa cách? Tối hôm ấy, anh hí hửng xách túi bước vào nhà, mọi người bu lại. Nhìn quanh không thấy Tr. đâu, anh Đ. gặng hỏi, vợ anh òa khóc rồi chỉ lên bàn thờ, con gái anh đã ngồi ở đó tự bao giờ! Từ thế giới cực lạc bước vào thế giới bi thương chỉ trong một bước chân, anh Đ. ngã khuỵu xuống giữa nhà.

Nhiều năm qua, cả gia đình anh Đ. đã sống ở bang California, Mỹ (diện HO), ngôi mộ cháu Tuyết Tr. ở một khu đất chùa Bình Hưng Hòa không người thân chăm sóc. Và cứ thế, hàng năm, vào mỗi sáng mùng một tết, thương bạn, tôi lại lọ mọ lên ngôi chùa này, cắm vào mộ cháu một bó hoa, thắp cho cháu mấy nén hương. Nhìn lên mộ bia và hình ảnh của cháu, thấy thương lắm, cháu mất năm 1981, lúc mới 18 tuổi, nếu còn sống, bây giờ cháu cũng đã 55 tuổi rồi!

* ĐÊM SAY CUỐI CÙNG Ở TRẠI XUYÊN MỘC

Trại Xuyên Mộc những năm 1978 – 198.., có nhiều thành phần tù lắm: sĩ quan cấp úy từ các trại CT Vườn Đào (Mỹ Tho), Phước Long chuyển tới, văn nghệ sĩ vụ “Hồ Con Rùa” 1976 (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Đằng Giao …), tù hình sự, tù “hiện hành” (chống phá chính quyền mới sau 30.4.1975) và viên chức dân sự chúng tôi, 145 người từ trại Long Thành chuyển đến.

Cho đến Tết năm 1982, trong số 145 người từ Long Thành lên, đã có 140 người được trả tự do, chỉ còn sót lại 5 người, trong đó có tôi. Nói thế để biết rằng, trong tù, nếu thiếu ý chí, sẽ khó trụ vững lắm. Nhưng dù có vững cách nào, chúng tôi cũng phải “ngã” trong đêm giao thừa, là thời khắc thiêng liêng của mọi gia đình. Tết năm Nhâm Tuất 1982 ấy, chúng tôi nhờ mấy cán bộ mua giúp được nhiều rượu đế. Họ giúp chúng tôi việc này hoặc vì thông cảm cho cảnh nhớ nhà dịp tết của chúng tôi, hoặc vì chút lợi lộc, hoặc cả hai thứ. Gần đến phút giao niên, ai cũng buồn hết, có người khóc rưng rức. Có người ôm cây guitar đàn và hát nho nhỏ một mình. Song phần lớn tìm đến rượu. Họ lặng lẽ đến những can rượu để ở các góc nhà, rót một chén rồi mang về chỗ nằm, nốc cạn, chẳng ai mời ai cả. Rượu ngấm dần, họ cũng lịm dần, song trước đó, còn kịp tỉnh để kê miệng lên một chiếc thau nhỏ đặt trên giường. Họ vẫn còn biết sợ chất nôn ói vương vải trên chỗ nằm và từ giường trên chảy xuống giường dưới. Hình ảnh đó nhớ lại thật bi hài, cứ mỗi người gác mỏ lên một cái thau như thế trong suốt đêm trừ tịch.

Đêm đó có một gã không quen rượu, nhưng cũng nốc một chén đầy cho đủ chếnh choáng hơi men, song vẫn còn tỉnh để lấy tờ giấy trắng trên chỗ nằm, nguệch ngoạc mấy dòng thơ … rác:

SAY PHÚT GIAO THỪA

Uống đi cho rượu cháy lòng,
Nửa đêm trừ tịch pháo hồng nổ ran,
Chập chờn giấc mộng trùng hoan,
Ngón tay rỏ máu, điệu đàn chơi vơi.
Ngoài kia thiên hạ đang vui,
Còn đây nỗi nhớ muôn đời riêng ta.

***
Uống đi những kẻ xa nhà,
Cho quên một thuở niên hoa ngậm ngùi.
Uống đi, nằm đó say vùi,
Men cay cháy bỏng bờ môi lạnh lùng.
Uống đi, nhạc đã vang lừng,
Sương giăng bãi vắng, núi rừng xôn xao,
Uống cho máu nóng sôi trào,
Rồi đem tâm sự gửi vào hư vô.
Uống cho lệ chảy thành thơ,
Con thuyền phiêu bạt bến bờ là đâu?
Uống cho tan tác cơn sầu,
Đêm nay thức trắng ngẩng đầu …cười vang
(Rừng Xuyên Mộc, giao thừa Xuân Nhâm Tuất 1982)

Cảm ơn các bạn, xin hẹn 30.4 năm sau nhé

Một cách hiểu về chiến dịch đốt lò của ông Trọng

Một cách hiểu về chiến dịch đốt lò của ông Trọng

Nguyễn Anh Tuấn
RFA
2018-04-29
 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại văn phòng trung ương Đảng ở Hà Nội hôm 6/10/2016

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại văn phòng trung ương Đảng ở Hà Nội hôm 6/10/2016

 AFP
 

Lửa từ đâu đến?

Hai năm qua kể từ sau Đại hội, nhân vật nổi bật nhất trên chính trường Việt Nam không ai khác chính là Nguyễn Phú Trọng.

Màn đốt lò của ông là chiến dịch chính trị đáng chú ý nhất trong nội bộ đảng cầm quyền vài ba thập kỷ trở lại đây, chẳng những đã  thiêu rụi sinh mệnh chính trị của hàng chục cán bộ, tướng tá cao cấp, mà lúc đạt nhiệt độ cao nhất thậm chí còn hóa củi một đương kim ủy viên Bộ Chính trị.

Trong khi các nhà quan sát có thể nhanh chóng đồng thuận về mức độ chưa có tiền lệ của chiến dịch chính trị này, không dễ để có được tiếng nói chung về động cơ và viễn cảnh của nó.

Không ít người tin rằng mục tiêu hàng đầu của chiến dịch là chống tham nhũng, theo đúng cách mà ông Trọng muốn dư luận nhìn nhận. Tuy nhiên, chẳng cần là quan chức chính quyền để nhận ra tham nhũng ở Việt Nam đặc thù cho hệ thống chính trị thiếu vắng kiềm chế và đối trọng hiện hành và được biện minh như là giải pháp cho một chế độ lương bổng bất hợp lý; bởi vậy, sẽ chẳng thể nào có chuyển biến chỉ bằng việc bỏ vài thanh củi vào lò, trong khi những nguyên nhân căn bản tạo ra quá trình “củi hóa” trên diện rộng vẫn chưa được giải quyết.

Ngay cả khi có nghe được những lời tán dương trong nội bộ, hơn ai hết, ông Trọng thừa hiểu đa phần những đồng chí đang tung hô và đứng về phía ông trong chiến dịch gọi là chống tham nhũng này – các đảng viên cao cấp – đều vượt tiêu chuẩn trở thành đối tượng của chính chiến dịch. Việc họ chọn chỗ đứng như thế đơn giản chỉ vì ‘ở đời phù thịnh chứ ai phù suy’, còn ông Trọng, như bao chính khách khác, luôn cần đồng minh cho chiến dịch chính trị của mình.

Nhưng không phải vì thế mà có thể cho rằng ông Trọng giống đa số những đồng chí cùng thời với ông, tức là chỉ đang tìm kiếm lợi ích kim tiền cho cá nhân, gia đình và phe nhóm của mình. Ngay những người hồ nghi nhất cũng khó có thể tin là ông Trọng đang làm mọi thứ vì tiền bạc, trong khi chẳng có dấu hiệu gì dù là nhỏ nhất cho thấy ông đang sắp đặt một vương triều cho thân nhân tiếp quản.

Chuyện thâu tóm quyền lực để ôm ghế suốt đời như Tập Cận Bình lại càng xa lạ với thực tế chính trị Việt Nam khi mà bộ máy được thiết kế để chẳng ai có đủ quyền để làm điều gì đó lớn, như là kết quả từ cơn ám ảnh chưa bao giờ dứt về bóng ma Gorbachez trong lòng người cộng sản Việt Nam.

Cũng có nhiều đồn đoán chiến dịch của ông Trọng nhắm trực tiếp vào cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và mạng lưới thân tín của ông ta, song thực tế chiến dịch cho thấy phạm vi, tính chất của nó chẳng hề giới hạn nơi một cá nhân cụ thể nào.

Vậy thì động lực thực sự của chiến dịch là gì? Hay nói cách khác, lửa đốt lò từ đâu mà đến?

Ngoài đảng chẳng có trời

Để trả lời câu hỏi trên, trước tiên cần một nỗ lực phác thảo chân dung ông Trọng. Không khó để nhận ra qua các bài viết, bài nói và cả hành động của ông Trọng một cán bộ quan liêu cộng sản kiểu cũ điển hình – một kiểu người mà ngoài Đảng ra thì không có trời.

Đắm chìm cả đời trong phương pháp luật mác-xít về chính trị, nhãn quan chính trị của ông Trọng bị kẹt trong trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản, nơi mà “sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng” được diễn dịch là “sự lãnh đạo tuyệt đối của hệ thống quan liêu trong Đảng – tức các thiết chế nội bộ Đảng như các Ban đảng” (có thể tạm gọi là “Phe Đảng”). Trật tự này gắn liền với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nơi chỉ thị và nghị quyết của cấp ủy đảng là công cụ điều hành xã hội chính yếu, và đồng nghĩa với đó, các Ban đảng trở thành nơi tập trung quyền lực của hệ thống.

Tất cả đã khác đi khi Việt Nam bắt đầu chuyển đổi mô hình sang kinh tế thị trường (một phần), dẫn đến nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội bằng pháp luật. Mà muốn thế thì vai trò của các cơ cấu tạo ra và thi hành pháp luật trở nên ngày một quan trọng. Từ Võ Văn Kiệt đến Phan Văn Khải đã chứng kiến sự chuyển dịch quyền lực từ Văn phòng Trung ương Đảng sang Văn phòng Chính phủ. Quá trình chuyển dịch này đạt cao điểm dưới thời Nguyễn Tấn Dũng khi hàng loạt Ban Đảng đã phải giải thể hoặc sáp nhập.

Phe Chính phủ bằng cách đó đã hình thành và lớn mạnh bằng một tốc độ gây chóng mặt Phe Đảng. Họ chiếm cứ lợi ích kim tiền gắn liền với vai trò quản lý nguồn lực quốc gia mà họ được giao phó, chỉ nhường lại Phe Đảng những trận địa truyền thống bao gồm nhân sự, tổ chức bộ máy và tuyên truyền. Thậm chí, dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, Phe Chính phủ còn không ít lần lấn sân cả sang cả những trận địa này.

Sự suy yếu của Phe Đảng ngay lập tức gia tăng mức độ ly khai của các cơ cấu khác khỏi vòng kiềm tỏa của nó, trong đó nổi bật lên là Phe Công an, Phe Quân đội và Thế lực địa phương với động lực đến từ xung đột cấu trúc (structural conflict) cố hữu cộng với mức độ tự chủ nhất định của các thế lực ly khai, nhất là về mặt tài chính.

Nếu xu hướng này tiếp tục, trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản như nó nên là trong nhãn quan Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ sụp đổ. Bởi thế, chẳng phải tham nhũng, cũng không hề là một cá nhân cụ thể, hay động lực kim tiền, mà chính nguy cỡ đổ vỡ trật tự khi mà các cơ cấu ly khai khỏi vòng kiềm tỏa của Phe Đảng, mới đích thị là mối bận tâm lớn nhất của ông Trọng khi người bôn-sê-vích cuối cùng của Việt Nam này tin rằng ông đang mang trọng trách bằng mọi giá phải giữ cho Đảng được trường tồn.

Bốn hướng tấn công

Không cần đợi đến Đại Hội XII, ông Trọng, trong vài năm trước đó, đã có những động thái nhằm tái lập trật tự: Chuyển Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tham nhũng từ Chính phủ sang Đảng, tái lập Ban Nội chính và Ban Kinh tế TW, trước khi dùng lá bài luân chuyển cán bộ đưa hàng chục Ủy viên TW là Bí thư các tỉnh thành về củng cố quyền lực cho các Ban Đảng.

Tuy nhiên, phải đến sau Đại Hội với sự thúc thủ của đối thủ chính trị nguy hiểm nhất, ông Trọng mới rảnh tay để thực hiện những bước đi chiến lược. Là bậc thầy về quy chế Đảng, ông Trọng dễ dàng có được sự đồng thuận của BCHTW đối với các nghị quyết khẳng định quyền lực tối cao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với sinh mệnh chính trị của tất cả đảng viên cao cấp. BCHTW, dưới quy chế mới, sẽ chẳng thể nào làm phao cứu sinh thêm được nữa cho những cán bộ đã bị Bộ Chính trị quyết định kỷ luật, như từng xảy ra với Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ trước đây.

Sắp xếp quy chế nội bộ chưa đủ, ông Trọng còn phải tiến hành những đợt tấn công ra bên ngoài để thu phục các thế lực ly khai. Có 4 hướng tiến công chính:

Đầu tiên để kiểm soát Phe Chính phủ vốn được coi là nguy hiểm nhất, ông ủng hộ một người mà ông tin là dễ bảo nhất – Nguyễn Xuân Phúc. Để an tâm hơn, ông trực tiếp tham gia Phiên họp Chính phủ thường kỳ trong một động thái có tính biểu tượng, đồng thời tước quyền của Thủ tướng trong việc bổ nhiệm lãnh đạo các Tập đoàn nhà nước, chuyển về cho Phe Đảng.

Tiếp theo ông nhắm vào các thế lực địa phương được coi là cứng đầu nhất (nhiều lần bất tuân trung ương), bao gồm Đà Nẵng và TPHCM, đào xới tận gốc rễ mạng lưới cố kết quyền lực tại từng địa phương này nhằm gửi thông điệp tới các địa phương khác.

Hai thế lực Công an và Quân đội chắc chắn khiến ông Trọng nhức đầu hơn rất nhiều, đơn giản là cả hai đều có súng. Bởi thế, đầu tiên ông dọa hất đổ nồi cơm của Quân đội bằng cách nói gần nói xa về việc cấm làm kinh tế. Tuy nhiên đây chỉ là đòn gió để thu phục Phe Súng Lớn, để rồi sau đó dùng nó để tấn công Phe Súng Bé – Công an.

Đối với Phe Súng Bé, một mặt ông tham gia Đảng ủy Công an Trung ương để dễ bề kiểm soát từ nhân sự, tổ chức cho tới vận hành, mặt khác tấn công ngay vào mạng lưới kinh tài của họ – các công ty bình phong. Mất chỗ dựa tài chính, việc các tướng công an phải quy phục Phe Đảng chỉ còn là vấn đề thời gian.

Chưa có dấu hiệu gì cho thấy 4 hướng tấn công này sẽ sớm ngưng lại, nghĩa là, nhiều khả năng sẽ tiếp tục ít nhất đến hết nhiệm kỳ này. Riêng Phe Súng Lớn – Quân đội, trong nửa nhiệm kỳ đầu, vì nhiều lý do mà chưa bị nhắm đến nhiều dù nguy cơ và mức độ ly khai chẳng hề kém cạnh Phe Công an, được dự đoán sẽ chứng kiến nhiều đợt tấn công hơn, với nhiều hơn những tướng tá bị đưa vào lò.

Tóm lại, trong một thời gian không quá dài, bằng việc âm thầm cải sửa quy chế nội bộ lẫn dồn dập tiến công chính trị theo 4 hướng trên, ông Trọng đã tương đối thành công trong việc ngăn chặn xu hướng ly khai của các thế lực cơ cấu trong hệ thống, đồng thời từng bước tái lập trật tự kiểu cũ với Phe Đảng làm trung tâm. Tuy nhiên thành công này lại tiềm ẩn bên trong một thất bại nghiêm trọng: Đã chẳng có bất kỳ cải cách đột phá nào về mặt thể chế nhằm chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả trong khi vẫn giữ được vị thế độc tôn của đảng. Điều này buộc ông Trọng phải quay về với giải pháp lỗi thời là kêu gọi đức trị và tự mình, dựa trên thanh danh bản thân, sắm vai minh quân với một mức độ tập trung quyền lực cao hơn. Nhưng đó cũng là lúc ông Trọng lót đường cho một cuộc khủng hoảng người kế nhiệm trong hơn hai năm tới, khi mà chiếc áo đức trị ông để lại có vẻ quá rộng với tất cả các ứng viên, còn quyền lực của vị trí Tổng Bí thư thì lại không ngừng được mở rộng trong suốt nhiệm kỳ.

Nghĩa là, vấn đề ‘hôn quân’ (‘bad emperor’ problem) – vấn đề cốt tử của mọi nền chính trị thiếu vắng bầu cử tự do dân chủ, sẽ nhanh chóng xuất hiện với những hệ quả chưa thể báo trước.

TẤM HÌNH LÀM RƠI NƯỚC MẮT

 
 
Hung Tran shared a post.

Đây chính là thành quả cách mạng của đảng và nhà nước.

 
Image may contain: one or more people and people sitting
Việt Tân

TẤM HÌNH LÀM RƠI NƯỚC MẮT

Có những tác phẩm mà chỉ cần nhìn vào, người xem biết được cả một câu chuyện và đây là tấm hình, không biết tác giả là ai nhưng nó đã cho chúng ta biết được nhiều điều.

Biết nhà em nghèo, em phải đi bán vé số. Nhưng em không nghèo bình thường mà nghèo tận mạng mới phải đi bán đến kiệt sức, ngã lăn ra đường mà ngủ thế này.

Biết được em đang sống trong một xã hội vô cãm. Bán vé số là phải bán chỗ đông người, ngay giữa đường phố nhưng em ngủ ngon lành thế, người qua lại vẫn để mặc em nằm đó mà ngủ, chẳng ai đưa em vào một nơi an toàn hơn, chỗ nằm dễ chịu hơn. Họ đều vô cảm hay cả xả hội đều khốn khổ như em?

Biết được nhà nước này chẳng màng đến chuyện trẻ em phải lao động kiếm miếng ăn, không được đến trường, cũng chẳng quan tâm gì đến tuổi trẻ là tương lai đất nước. Họ vô tâm hay họ không đủ khả năng, hay cả hai?

Dù là câu trả lời nào thì cái trách nhiệm lo cho dân cơm no áo ấm vẫn là trách nhiệm của nhà nước, của những người ôm chặt vị trí lãnh đạo từ nhiều chục năm nay không cho người dân có quyền chọn lựa.

Nguồn ảnh: Phương Nguyễn

“Tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

“Tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

 Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo được thói quen đọc sách và yêu sách.

Hai câu chuyện về cái “tủ sách” và cái “tủ rượu”

Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. Ông vừa cất xong ngôi nhà (biệt thự thì đúng hơn) và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi nhà, ập vào mắt tôi chính là chiếc tủ rượu hoành tráng được gắn sát chiếm diện tích gần nửa bức tường chính diện. Thôi thì đủ thương hiệu rượu danh tiếng: từ Chivas, Hennessy, Napoleon, Johnnie Walker cho tới Vodka xịn tận bên Nga… được gia chủ bày khá ngay ngắn trên kệ. Ông đi giới thiệu cho chúng tôi xuất xứ từng chai rượu: chai này thằng bạn đi nước ngoài về tặng, chai kia đồng nghiệp cho, chai nọ do cấp dưới biếu với giọng khá hào hứng cũng như thể hiện sự am hiểu về rượu ngoại.

Sau khi dẫn chúng tôi đi tham quan quanh khuôn viên nhà, cùng với mấy câu chuyện hỏi thăm nhạt thếch, ông tá nhanh chóng nhập sòng oánh “phỏm” với mấy “thằng đệ”. Trong lúc mấy vị đang say sưa sát phạt, chúng tôi cũng đang ngó nghiêng thứ này thứ kia của căn nhà thì xảy ra một chuyện. Thằng con đầu (con vợ hai, ông đã ly dị vợ cả, hiện đang sống với cô vợ hai kém mình cỡ vài chục tuổi) của ông, tầm 8 tuổi, tranh thủ lúc mọi người trong nhà đang tập trung chuyên môn, lén vào phòng lục túi bố nó lấy mấy tờ 500 ngàn và bị bà nội tóm cổ xách ra báo với phụ huynh.

Một điều khiến chúng tôi khá bất ngờ, đó là lòng “vị tha” của quý phụ huynh. Ông chỉ đánh nó mấy cái nhè nhẹ (chắc sợ thằng bé đau) và mắng nó mấy câu quen thuộc rồi lại tiếp tục lao vào sòng, cách xử lý của ông khiến tôi có lý do để tin thằng bé thực hiện hành động này không phải lần đầu và chắc chắn không bao giờ là lần cuối.

Câu chuyện thứ hai tôi muốn đề cập với các bạn thói quen đọc sách của người Do Thái.

“Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác. Tủ sách phải được đặt ở vị trí đầu giường để trẻ nhỏ dễ nhìn, dễ thấy từ khi còn nằm nôi. Để sách hấp dẫn trẻ, phụ huynh Do Thái thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý.” 

Tác giả Nguyễn Hương trong bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện” (đăng trên trang tin điện tử Cinet.com của Bộ VH-TT-DL) kể với chúng ta như vậy.

“Mặc dù chỉ có 8 triệu dân nhưng ở Israel có tới hơn 1.000 thư viện công cộng với nhiều sách quý. Bên cạnh việc hình thành, xây dựng thói quen đọc sách từ khi nằm nôi cho trẻ nhỏ, người Do Thái hiện vẫn sử dụng hình ảnh con lừa thồ sách để dạy các con mình: nếu chỉ dừng ở việc đọc mà không biết ứng dụng thì trí tuệ đó cũng chỉ là trí tuệ chết. Và để có thể ứng dụng, trẻ em Do Thái không ngừng đọc sách và tích lũy kiến thức từ nhiều ngành, lãnh vực khác nhau.”

Đó là hai câu chuyện về “tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái, hay nói khác hơn là câu chuyện về “văn hóa đọc” của hai dân tộc cách xa nhau cả về địa lý lẫn khoảng cách văn minh.

Mối tương quan giữa “văn hóa đọc” và sự phát triển

Trong một lần nói chuyện với Giáo sư Chu Hảo, một học giả gạo cội của Việt Nam và đang là Giám đốc Nhà Xuất bản Tri Thức, tôi đưa ra câu hỏi:

“Trên cương vị một học giả và một người làm sách, ông có cảm nhận như thế nào khi người Việt hiện đang chuộng chưng ‘tủ rượu” hơn là ‘tủ sách’ cũng như xin ông cho nhận xét về văn hóa đọc của người Việt hiện nay?” 

Giáo sư trả lời:

“Đó là tư duy của ‘trọc phú’ – ham chuộng vật chất, khoe mẽ hơn là hiểu biết, tri thức,” – về văn hóa đọc của người Việt, ông nhấn mạnh hai chữ “đau lòng”.

Ông và nhà xuất bản Tri Thức hiện đang dịch và phát hành các đầu sách tinh hoa (Tủ sách tinh hoa) của nhân loại như: “Tâm lý học đám đông” (Gustave Le Bon), “Bàn về tự do” (John Stuart Mill)… nhằm giới thiệu và lan tỏa các giá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại đến với người Việt. 

Thế nhưng, vị học giả cho biết, một đất nước 90 triệu dân như Việt Nam lại tiêu thụ chưa đầy 1000 cuốn sách dạng trên, trong khi đó tại Nhật Bản thời cải cách Minh Trị – Thiên Hoàng (1866-1869), 30 triệu dân Nhật lại tiêu thụ tới hàng trăm ngàn cuốn sách tinh hoa đó!!!

Ông nói thêm, thế nhưng các loại sách tình cảm hời hợt, thậm chí kích dục lại có số lượng tiêu thụ 5000 – 10000 cuốn ở Việt Nam. “Văn hóa đọc của người Việt hiện nay quá kém.” – giáo sư kết luận.

Ở các nước Âu – Mỹ, lấy ví dụ ở Pháp hiện nay, trung bình một người dân Pháp đọc tới 20 cuốn sách mỗi năm, đối với người dân sống ở thành phố, tầng lớp tri thức, con số đó lên tới 30-50 cuốn mỗi năm (Nguyễn Hương, bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện”). 

Ở Nhật, như đã nói ở trên, ngay từ thời Cải cách Minh Trị, chỉ với 30 triệu dân mà tiêu thụ tới hàng trăm ngàn cuốn sách dạng tinh hoa, “khó nhằn”.

Ở một quốc gia gần hơn trong cộng đồng ASEAN, đó là Malaysia, số lượng sách được đọc trên đầu người là 10-20 cuốn/người/năm (2012, số liệu từ ông Trần Trọng Thành, công ty sách điện tử Aleeza).

Và ở Việt Nam, theo con số do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công bố ngày 12/04/2013 ngay trước thềm sự kiện “Ngày hội Sách và Văn hóa Đọc”, số lượng sách một người Việt đọc trong một năm là… 0,8 cuốn, nghĩa là người Việt Nam đọc chưa đầy 1 cuốn sách trong 1 năm!!!

“Đọc sách là quá trình làm cho con người hòa hợp về mặt tinh thần với những khối óc vĩ đại của tất cả mọi thời đại, mọi dân tộc.”(M. Gorki) Sách là phương tiện chuyên chở những giá trị tiến bộ, tri thức, những luồng tư tưởng của nhân loại từ ngàn đời nay. Đọc sách giúp chúng ta hiểu biết về thế giới, về bản thân cũng như trang bị cho chúng ta công cụ quan trọng nhất để phát triển – tri thức. 

Đối với cá nhân, nó trang bị cho ta hiểu biết về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa… và nhất là trang bị nền tảng kiến thức cho mỗi cá nhân, trang bị những kĩ năng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, giúp chúng ta có được tư duy độc lập, biết phản biện. Sách giúp chúng ta có thể nhận ra các giá trị, phân biệt chân-giả, cũng như biết nhận định độc lập về một vấn đề, ý kiến nào đó.

Đối với một quốc gia, sách cung cấp nền tảng để phát triển mọi mặt: kinh tế, xã hội, bảo tồn văn hóa cũng như các giá trị tiến bộ và giúp đào tạo nên những con người có đầy đủ kỹ năng để cống hiến cho tổ quốc và xã hội. Bước vào nền kinh tế tri thức, với sự bùng nổ của công nghệ và “đám mây kiến thức”, khi kiến thức, tri thức là nguồn lực chính cho mọi sự phát triển, thì nâng cao và lan tỏa “văn hóa đọc” trong cộng đồng là nhiệm vụ mấu chốt trong chính sách của mọi quốc gia.

Có sự tương quan rõ ràng giữa văn hóa đọc và sự phát triển của một quốc gia. Với những con số ở trên, dễ hiểu vì sao nước Pháp lại có một nền kinh tế, văn hóa và nghệ thuật rạng rỡ như vậy. 

Và nước Nhật có thể đứng dậy thần kỳ sau Thế chiến 2 cũng như vươn lên quật khởi sau bao thiên tai liên miên, hiện đang là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới với nền khoa học-công nghệ tiên tiến bậc nhất. 

Malaysia đang là ngôi sao mới ở khu vực ASEAN với những chính sách đổi mới và mở cửa đột phá gần đây. Và người Do Thái với câu chuyện ở đầu bài, 

“Một dân tộc 13 triệu dân nhưng sinh ra gần 40% chủ nhân của các giải Nobel; 
– 1/3 trên tống số các nhà triệu phú đang sống và làm việc tại Mỹ là người Do Thái; 
– 20% giáo sư tại các trường đại học hàng đầu hiện nay;
– 3 nhân vật sau Công nguyên cho đến hiện tại có tác động lớn nhất đến lịch sử nhân loại là Chúa Jesus, Karl Marx và Alber Einstein…là người Do Thái.”

Mỗi người Việt chưa đọc nổi 1 cuốn sách/năm, ai có thể khẳng định không liên quan đến tình trạng suy thoái toàn diện từ kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội cũng như nhân cách con người hiện nay ở Việt Nam?

Thái độ của người trẻ Việt với “văn hóa đọc”

Thế hệ trẻ chính là những người kế thừa và phát triển, là tương lai của đất nước. Tuổi trẻ cũng là khoảng đời mà con người có tinh thần học hỏi và sáng tạo nhất, là thời kì hoàn thiện về chất, vì vậy là thời kì đòi hỏi con người phải đọc sách nhiều nhất. 

Với số liệu Bộ VH-TT-DL đưa ra ở trên, người trẻ Việt hiện đang làm gì? Xin thưa, phần lớn họ đang ngồi đồng suốt ngày nơi quán game, chém gió tại quán cà phê, để bình phẩm mông, ngực của hot girl này, người mẫu nọ, dành thời gian và “tâm huyết” quan tâm đến mấy vụ kiểu như “Kiều nữ Hải Dương”…

Tiến sĩ Alan Phan, người có hơn 25 năm làm việc ở nhiều quốc gia trên thế giới, người Việt đầu tiên đưa một công ty lên sàn chứng khoán, nhận xét: 

“Ở các nước Âu – Mỹ, thời gian rảnh sinh viên họ thường ngồi trước computer đọc tin tức, tìm thông tin hay đọc sách. Còn sinh viên Việt Nam, họ đang bận “ngồi đồng” chém gió tại các quán cà phê, trà đá.” Tại các nước phương Tây hoặc Nhật Bản, hình ảnh chúng ta thường thấy trên xe buýt, tàu điện ngầm hay ngay cả trên đường phố là hình ảnh các bạn học sinh, sinh viên say sưa với cuốn sách trên tay.

Mỗi lần theo dõi các cuộc tranh luận của giới trẻ Việt Nam về các vấn đề “hot” trên các diễn đàn, mạng xã hội, chúng ta sẽ thấy rõ sự thiếu hiểu biết, thiếu văn hóa cũng như trình độ… ngụy biện bậc thầy của các bạn trẻ. 

Các bạn không tự trang bị được cho mình một nền tảng kiến thức, tư duy độc lập, lập luận thuyết phục cũng như kĩ năng, văn hóa tranh biện. Tâm lý bầy đàn luôn thể hiện rõ nhất ở những sự kiện như vậy. Sự kiện cô bạn trẻ Huyền Chip và cuốn “Xách ba-lô lên và đi”, một trong những sự kiện nóng và được giới trẻ tranh luận nhiều nhất trong năm 2013, là một ví dụ điển hình.

Có hai luồng tranh luận chính trong sự kiện Huyền Chip, một luồng ủng hộ và một luồng phản đối. Tuy nhiên, với cả hai luồng, để tìm được những tranh luận văn minh, thuyết phục, dẫn chứng rõ ràng là vô cùng hiếm hoi. Chỉ toàn thấy comment (bình luận) mang tính “ném đá”, mạt sát, hạ nhục cá nhân.

Ngay cả những trí thức như Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cũng bị các bạn trẻ chúng ta dọa “vả vỡ mồm”!!! Đâu đó cũng có những người học hành bài bản, như một chàng Fulbrighter nọ, tham gia cuộc tranh luận và lôi kéo đám đông mù quáng bằng những luận điệu rẻ tiền và vô văn hóa, nghe đâu đó là một chiêu PR trước khi anh ta ra cuốn sách mới của mình.

Trước mỗi sự kiện truyền thông đưa ra, các bạn trẻ không thể phân biệt được đâu là tin thật, đâu là tin giả, đâu là chiêu PR. Một bộ phận như những con cừu ngoan ngoãn, họ chỉ biết bám đuôi nhau và gật đầu. Bộ phận còn lại nghe cái gì cũng kêu “bậy” dù chẳng có dẫn chứng, cơ sở nào để phản biện lại.

Họ đang bị cuốn theo “cơn lốc thông tin” cũng như sự dắt mũi của một bộ phận giới truyền thông thiếu đạo đức và liêm sỉ, đang “nhồi sọ” người đọc với những tin tức dạng “sốc, hiếp, giết”, kiếm tiền dựa trên sự ngu muội của người khác.

Ai có thể phủ nhận đó không phải là hậu quả của việc lười đọc sách và học hỏi?

Kết

Câu chuyện về cái “tủ rượu” của ông tá hải quân trong câu chuyện đầu bài và cái “tủ sách” của người Do Thái, hay câu chuyện “văn hóa đọc” của người Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách phát triển hiện tại giữa chúng ta với thế giới. 

Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo thói quen đọc sách và yêu sách. Muốn phát triển như Âu-Mỹ, Nhật hay người Do Thái, trước hết phải học hỏi văn hóa đọc từ họ. Phải làm sao nhà nhà đều có “tủ sách” để tự hào và gieo hạt, chứ không phải là “tủ rượu” để khoe mẽ vật chất và phô trương cái tư duy trọc phú. Mọi thay đổi phải bắt đầu từ thế hệ trẻ.

 

Theo “Triết Học Đường Phố”