Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!

Bỏ phiếu bằng chân.Cái cột đèn biết đi nó cũng đi. Vì sao?

Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: ocean, sky, outdoor and water
Image may contain: text and outdoor

Hung Lee

Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam

Nguyễn Thị Oanh – 27/06/2018

NGU MÀ THÍCH THỂ HIỆN

Image may contain: 1 person, smiling, sunglasses and text
Ngô Trường An is with Trang Dang.

NGU MÀ THÍCH THỂ HIỆN.

Để anh nói cho bọn bò đỏ biết về chế độ VNCH mà đảng và bác Hồ của các em có nằm mơ cũng không bao giờ làm được đâu nè:
– Thứ nhất: Lương 1 công chức của VNCH dư sức nuôi sống gia đình (cả chục người) nè.
– Thứ 2: Học sinh trường công lập từ lớp vở lòng đến hết tú tài toàn phần, chẳng tốn một xu học phí nào, nè.
– Thứ 3: Bệnh viện công chẳng thu 1 cắc viện phí nào của người bệnh. Nếu bệnh nhân không có người nuôi, bệnh viện cử người phục vụ giặt giũ và cơm nước tử tế, nè.
– Thứ 4: Chính phủ xây viện dưỡng lão cho người già, xây viện cô nhi cho trẻ mồ côi. Tất cả đều được chăm sóc y tế định kỳ và có người phụng dưỡng luôn nè.
– Thứ 5: Chính phủ mở quán cơm xã hội phục vụ hoàn toàn miễn phí cho người vô gia cư, người lỡ độ đường ăn thoải mái nè.
– Thứ 6: Chính phủ bỏ tiền ra mua lại đất của các phú ông, điền chủ để cấp lại cho những người không có đất canh tác hoặc những người mới định cư ( luật người cày có ruộng) đây nè.
– Thứ 7: Người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, kể cả tự do chửi chính phủ luôn nè.
– Thứ 8: Người dân được quyền ra ứng cử hoặc được quyền đề cử người mình tín nhiệm. Và chính người dân chọn người lãnh đạo thông qua lá phiếu dưới sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức quốc tế. Phải không nè!

Chỉ sơ sơ 8 điều trên, chế độ VNCH đã thực hiện từ nửa thế kỷ trước, trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh, tang tóc. Còn hiện nay đất nước hòa bình và được sự viện trợ tối đa của toàn thế giới. Đảng và bác hồ của các em đã làm được như chính phủ VNCH chưa? Chúng em nói đi! Đảng đã làm được cái quần què gì cho dân tộc này?

Hãy nhớ rằng, nhờ đảng và bác Hồ nên Miền Bắc mới có chiêu ỉa ra rồi sử dụng lại. Món này có tên gọi là «phân bắc» chứ trong nam không có giống độc đó đâu! Biết phân bắc là gì chưa? Nó cũng giống như «hốt cứt mà ăn» vậy đấy!

Đã ngu còn cào bàn phím!

BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA LỐI SỐNG “MẶC KỆ NÓ”

Đỗ Ngà

BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA LỐI SỐNG “MẶC KỆ NÓ”

Lịch sử Việt Nam kéo dài nhiều ngàn năm là lịch sử chống chọi với thế lực Phương Bắc. Song song với những cuộc chiến chống đỡ kẻ thù Phương Bắc thì sự đánh chiếm và xâm lấn với láng giềng Phương Nam – Champa cũng xảy ra, nhưng lịch sử ở mảng này không được đầy đủ như lịch sử Việt- Hán.

Theo dòng lịch sử, thời Bắc thuộc trước năm 938, nước Việt ngày ấy bị teo tóp nhỏ xíu nằm lọt giữa nước Tàu phía Bắc và nước Đại Lý phía Tây Bắc, trong khi đó thời kì độc lập ngắn ngủi – thời nhà nước Vạn Xuân 544-602, biên giới phía bắc của nhà nước Vạn Xuân bao gồm vùng Quảng Tây – Trung Quốc.

Như vậy, sau ngàn năm Bắc thuộc cha ông ta giành lại một phần lãnh thổ cũ chứ không phải giành lại hoàn toàn. Miếng ăn đã vào mồm con thú dữ, thì chỉ có thể giành lại bao nhiêu hay bấy nhiêu mà thôi. Đấy cũng là kì tích của cha ông ta thời kì đầu độc lập. Rất nhiều quốc gia bị khai tử khi rơi vào bàn tay Tàu Đại Hán, trong đó có Đại Kim của người Mãn Châu đã từng cai trị Trung Quốc.

Từ khi độc lập 938, rồi sang thời nhà Lý thì Việt Nam mở rộng dần bờ cõi theo hướng Tây Bắc qua nhiều lần giao chiến với nước Đại Lý (chú ý triều đại nhà Lý của Đại Việt khác với nước Đại Lý thuộc tỉnh Vân Nam ngày nay của Trung Quốc). Nước Đại Việt từ đó mở mang bờ cõi. Trong thời kì độc lập có một giai đoạn Bắc thuộc ngắn ngủi 20 năm (1407-1427) dưới ách cai trị của quân Minh. Lúc đó, một số vùng đất mà nhà Lý và nhà Trần đã chiếm của Champa để sáp nhập vào Đại Việt đã bị Champa chiếm lại.

Và sau đó đến thời nhà hậu Lê, rồi sau này là thời kì Trịnh Nguyễn phân tranh. Tuy đó là thời kì nội chiến dai dẳng, nhưng chúa Nguyễn đã có công mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến mũi Cà Mau như hôm nay. Trong đó chúa Nguyễn đã thôn tính hoàn toàn Champa và chiếm một vùng rộng lớn nước Chân Lạp của người Kmer. Đến thời nhà Nguyễn, Việt Nam bị Pháp thuộc trăm năm.

Trong suốt dòng lịch sử, ta cần phân biệt Bắc Thuộc và Pháp thuộc. Bắc thuộc đi kèm 2 yếu tố, đó là dân tộc mất tự chủ và lãnh thổ bị cắt xén. Trong khi đó, Pháp thuộc chỉ mất tự chủ và lãnh thổ không mất một tấc đất nào. Đây là điều cảnh báo cho con đường ôm chân Tàu.

Việt Nam như một miếng mồi, cứ rơi vào miệng Tàu rồi cha ông ta lại vất vả rứt ra để giành lại 1 phần và bị Tàu nuốt 1 phần. Rồi ông cha ta phần giữ độc lập phần mở mang bờ cõi về phương Nam để có được Việt Nam như hiện nay. Đây là công lao to lớn vừa xây dựng và giữ nước.

Vào thời CS, dân tộc Việt Nam lại bị CS dắt mũi đẩy vào rọ Tàu. Và liên tục, thành quả ngàn năm mở rộng bờ cõi của cha ông đã bị Trung Cộng gặm dần. Một con mồi nếu bị thú dữ ngoạm, nó sẽ thấy đau và cố giật phần bị ngoạm ra khỏi miệng con mãnh thú. Dù rách thịt nhưng khi giật ra bị thương mà sống sót, còn hơn sợ đau mà chết.

Ngày nay, CS đã tiêm thuốc tê vào dân tộc Việt bằng hệ thống giáo dục nhồi sọ và tuyên truyền mị dân. Để chi? Để con thú dữ ngoạm vào chỗ nào thì dân tộc này không hề biết đau mà phản kháng. Tiêm thuốc tê để lóc thịt con mồi một cách êm dịu, đó là sự phối hợp giữa Việt Cộng và Trung Cộng. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước có thể sẽ bị tiêu tan ngay trong thế kỷ 21 này. Thức tỉnh hay không nó là bài toán tồn tại của một dân tộc. Cạnh Tàu mà sống mặc kệ nó là vô cùng nguy hiểm.

Những chuyện thần thoại của những tên “đầy tớ” ở thiên đường xã nghĩa Việt Nam thật ly kỳ

Nguyễn Sỹ Kỷ (Phó Ban Nội chính Tỉnh ủy Đắk Lắk) cho biết thời trẻ hắn chạy xe ôm thâu đêm để tích cóp tiền xây căn biệt thự hai tầng!?

Trẩn văn Truyền tổng thanh ta CP cộng sản VN đã Làm thối móng tay và bạn bè bà con góp cho mỗi người một cục đá để xây những tòa biệt thự khủng, nguy nga tráng lệ…rộng hàng ngàn m2.

Phạm sỹ Quý GĐ sở tài & môi Yên Bái bán chổi đót, buôn lá chít, nuôi heo chăn bò …kiếm tiền xây biệt phủ như thiên đường …Những chuyện thần thoại của những tên “đầy tớ” ở thiên đường xã nghĩa Việt Nam thật ly kỳ! Đúng là đất nước “HẠNH PHÚC HẠNG NHÌ THẾ GIỚI”.

Đầy tớ mà như thế thì “CHỦ” như thế nào? Chắc ai cũng biết! Với cái đà này thì đội ngũ xe ôm, buôn chổi ngoài chợ cùng đám trẻ trâu chăn trâu, chăn bò… mấy chốc sẽ ngự trong những cung điện thật nguy nga. Thiết nghĩ học hành mười mấy hai mươi năm làm chi? Mở trường làm gì cho tốn kém? Để dành tiền xây tượng đài cho cán bộ đảng viên khỏi tâm tư.

Con em thứ dân học xong ra thất nghiệp, cầm đơn chạy đi xin việc như hành khất nếu không cầm cố nhà cửa để có tiền đút lót thì chỉ có con đường về quê chăn vịt, chăn trâu, chạy xe ôm mà thôi. Nhưng nào ngờ từ những nghề này mà có ối người xuất thân là đầy tớ là ở đợ đã xây biệt phủ, đi xe siêu sang…

rõ là “cái học ngày nay đã hỏng rồi!
Mười người đi học chín người thôi…” chăn bò, ở đợ một bước sẽ lên hương…

Thiên Đức

Trung Quốc di dời toàn bộ hệ thống nhà máy nhiệt điện sang Việt Nam dưới vỏ bọc đầu tư

  • Hiện nay trên thế giới không còn quốc gia nào xây dựng mới nhà máy nhiệt điện than, duy chỉ có Việt Nam. 

    Red China đã bắn một mũi tên đạt được 2 mục đích :

    1/ Xuất khẩu ô nhiễm sang Việt Nam để dân Việt tự diệt vong ( Sách lược ‘Bất chiến tự nhiên thành’ ). VN nhập “phế liệu” với giá cao làm tăng nhập siêu, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế .

    2/ Trong thời gian lắp đặt nhà máy, TQ dễ dàng cài đặt các chip điều khiển từ xa, nhằm Kiểm soát và khống chế nhà máy trong suốt quá trình vận hành về sau (Uy hiếp an ninh năng lượng ). Đây là vấn đề cực kỳ nguy hiểm cho an ninh QG (*), một khi có chiến tranh xảy ra.
    —–
    Ps:(*) Cùng thời điểm xảy ra cuộc biểu tình phản đối TQ đưa giàn khoan HD 891 vào thềm lục địa VN 6/2014, trạm biến áp TBA 500KV Hiệp Hoà ( Cấp điện cho 6 tỉnh vùng Đông Bắc_ Bắc Bộ, do TQ cung cấp thiết bị và lắp đặt) ” bỗng dưng” bị sự cố và dừng hoạt động.

    Đây là đòn dằn mặt mà TQ muốn gửi đến VN trong đợt biểu tình chống TQ năm ấy.

    https://m.baomoi.com/su-co-tram-bien-ap-500-…/c/14047650.epi

LÊ MỸ HẠNH BỊ HÀNH HUNG GIỮA PHỐ – CÔ TA CÓ BẠO ĐỘNG?

Van Pham shared a post.
LÊ MỸ HẠNH BỊ HÀNH HUNG GIỮA PHỐ – CÔ TA CÓ BẠO ĐỘNG?

Ỷ y qúa… đi đâu cũng phải đề phòng, vì mình luôn là đối tượng theo dõi và trấn áp của bọn côn đồ Côn an.!!!!

Nên mang theo cây dù để che mưa, nắng, làm gậy chống đi đường và khi cần nó là 1 vũ khí tự vệ khá tốt. Nhớ bit đầu cây dù bằng thép nhọn.

4,860 Views

Nguyễn Ngọc Lan is with Van Pham and 11 others.

Côn an mặc thường phục hành hung chị Lê Mỹ Hạnh trên phố khi chị mặc áo và đội nón có in logo Nhân quyền.

Hành hung xong bọn chúng hả hê đăng trên trang nhà chúng như thành tích lấy điểm với cấp trên.

https://www.facebook.com/fanpagechongphandong/videos/426587261175429/

ĐỈNH CAO CỦA SỰ MAN MỌI

LS Lê Luân: ĐỈNH CAO CỦA SỰ MAN MỌI

Đánh đập hay tấn công tàn bạo người già, trẻ em, phụ nữ, không những thế còn ra tay đánh đập dã man cả người khuyết tật khi họ quan tâm đến vận mệnh dân tộc và đất nước. Còn điều gì mà chúng không thể làm nữa không? Sự man mọi và bất nhân đã lên đến đỉnh điểm của một xã hội vốn ngày càng suy mạt một cách trầm trọng. Nó đã tạo ra những loài thú chứ không còn là con người nữa.

Một xã hội chỉ còn thấy bạo lực là phương cách giải quyết đầu tiên và cũng là cuối cùng đến mức thường xuyên, một xã hội mà người tử tế không thể sống yên ổn và tốt đẹp, thì sự loạn lạc của xã hội ấy chẳng còn khả năng và cơ hội nào để cứu chuộc được nữa. Nó đã mất hết đi toàn bộ thứ gọi là nhân tính tối thiểu cần có của loài người.

(Luật sư Lê Luân)

Image may contain: 1 person, standing, shoes, child and outdoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people, closeup and indoor
Image may contain: one or more people

Lê Mỹ HạnhFollow

ĐỈNH CAO CỦA SỰ MAN MỌI

Đánh đập hay tấn công tàn bạo người già, trẻ em, phụ nữ, không những thế còn ra tay đánh đập dã man cả người khuyết tật khi họ quan tâm đến vận mệnh dân tộc và đất nước. Còn điều gì mà chúng không thể làm nữa không? Sự man mọi và bất nhân đã lên đến đỉnh điểm của một xã hội vốn ngày càng suy mạt một cách trầm trọng. Nó đã tạo ra những loài thú chứ không còn là con người nữa.

Một xã hội chỉ còn thấy bạo lực là phương cách giải quyết đầu tiên và cũng là cuối cùng đến mức thường xuyên, một xã hội mà người tử tế không thể sống yên ổn và tốt đẹp, thì sự loạn lạc của xã hội ấy chẳng còn khả năng và cơ hội nào để cứu chuộc được nữa. Nó đã mất hết đi toàn bộ thứ gọi là nhân tính tối thiểu cần có của loài người.

(Luật sư Lê Luân)

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 13 thường niên năm B 01/7/2018

(Mc 5: 21-43)

 Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ÀAi đã sờ vào tôi?” Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.41 Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha kum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

&  &  &

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

“Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

            Phượng vẫn đỏ, nhỏ một màu huyết. Nhỏ xuống lòng người những giọt châu! Có lẽ, đây cũng là ý tưởng được thánh Máccô đưa vào trình thuật kể về hoạt động của Chúa, đầy trân châu!

Trình thuật, thánh Máccô nay nói về đời hoạt động của Chúa rất công khai, sinh động. Hoạt động của Ngài, là sinh hoạt sống động rất tính người, mở ra với mọi người; để rồi sẽ đánh động những người quẩn quanh bên Chúa. Chí ít, là các tông đồ, thừa tác viên, và nữ phụ. Tất cả đều hợp lòng cùng Chúa ra đi rao báo Nước Trời ở trần thế.

Trích đoạn hôm nay có nói về cháu bé nhỏ là con gái ông Giaia sắp ra đi hoặc đã chết. Câu chuyện được phối kết với truyện kể về một nữ phụ không rõ danh tánh đang bị chứng xuất huyết. Và phối hợp với truyện người cha của cô gái nhỏ đang lâm bệnh khiến ông cứ tìm cách luẩn quẩn gần bên Chúa. Vai trò cùng chức năng của ông được thánh sử tả là chức sắc lo việc ở đền thờ, tuy không là đấng bậc lừng lẫy ở huyện thành, nhưng cũng được Chúa đoái hoài.

Sở dĩ Đức Giêsu quyết định đến thăm ông, là vì tình trạng nguy ngập của người con nhỏ. Khi tin tức loan về cái chết của cháu bé này, người thân cận với Giaia đã khuyên Chúa đừng đến chữa cho cháu bé còn nhỏ kẻo gặp rắc rối. Có điều lạ, là: theo ngôn ngữ của người phương Đông, thì đó là cách hay nhất để khích bác Chúa hãy ra đi tìm đến những nơi nào nhiều rối rắm mà giải quyết theo cung cách của Đấng Bậc cao cả. Kết quả là, Chúa quyết đến với những nơi nào thường gây phiền toái hầu chữa trị cho cháu bé còn nhỏ tuổi, dù là con của chức sắc đền thờ. Quả là, ngôn từ của người Đông phương thích chọn cung cách nghịch ngạo chống cưỡng những gì mình mong muốn, tựa như câu nói mà nhiều người vẫn nghe như: “Anh cứ hẹn, nhưng anh đừng có đến…” Hoặc: “Xin Chúa hãy rời xa nơi tôi…”, nhưng kỳ thực vẫn muốn.

Cũng tựa như thái độ của nữ phụ bị xuất huyết những muốn đạt điều gì mình mong được Chúa đoái hoài mà chấp nhận lời van nài, khẩn khoản. Nhằm đạt kết quả, bà lại đã sử dụng phương cách khích bác của người Đông phương và sự khôn khéo của nữ giới với kỹ năng khác người, là sờ chạm gấu áo của Ngài. Bà thừa biết rằng bà không thể đạt những gì bà cầu mong mà lại không đánh động lòng xót thương của Chúa. Nói cách khác, bà muốn Chúa biết sự việc bà đang làm. Và, biết cả ước nguyện của bà là đạt thành quả từ Ngài không chỉ mỗi việc chữa chạy thể xác nhưng điều bà cần hơn cả, là: sự chữa lành niềm tin khiến bà lành lặn trở lại, để yên hàn. Điều này chứng tỏ là bà biết cách hành xử sao cho kết quả hầu đạt trọn vẹn lòng thương xót, vẫn có từ Chúa.         

Cách kể truyện theo kiểu trên là văn phong độc đáo của thánh Máccô. Ở đây, cũng nên biết, là: động thái Chúa vẫn làm cho các nữ phụ trong Tin Mừng thánh Máccô thường thánh sử kể về động thái cho thấy rõ sự khôn khéo của nữ phụ phương Đông quyết làm những chuyện lạ kỳ để đạt kết quả mình mong ước, như: ở đoạn trước đó thánh sử kể về tài khéo léo của Hêrôđia là lấy được đầu của thánh Gioan Tiền hô đặt trên dĩa, và phân nửa đất nước do Hêrôđê chiếm giữ. Chương 7 Tin Mừng thánh Máccô còn kể về sự kiện nữ phụ người Syro-phênixy bị quỉ ám cũng có tài thuyết phục Chúa ra tay chữa lành cho con gái của bà, tức những điều Chúa không định làm vào lúc đầu.

Nhiều truyện kể tương tự trong Cựu Ước cũng đã nhấn mạnh đến uy lực và tài khéo léo của phụ nữ giúp các bà đạt kết quả về những gì các bà có quyết tâm. Sách Giuđita kể truyện dân Chúa chọn đã chiến thắng quân thù nhờ vào sự can thiệp của phụ nữ. Bà Giuđita đã vượt thắng tính hèn nhát của dân con trong xứ sở, đã dám quở trách lãnh tụ lúc đó thiếu lòng tin. Bằng vào lời nguyện cầu, bà chạy đến cùng tướng Hôlôphênê dùng nhan sắc cùng tài trí khôn ngoan của nữ giới đã cắt được đầu của ông tướng. Bà Esther cũng từng làm thế, khi tướng A-man tìm cách bóp nghẹt sự sống của dân Do thái đang sống đời lưu lạc xứ Syria. Thoạt thấy bà, nhà vua nói: “Thiên Chúa đã biến đổi lòng trí ông, đem thần khí sống động đến khiến dân con đất nước của ông được an lành…”

Ở đây nữa, cũng nên nhìn vào diện mạo của Đức Giêsu được thánh Máccô tả ở Tin Mừng. Thánh sử không hề viết đến một chữ việc Chúa giáng hạ. Với Tin Mừng thánh sử Máccô, người đọc chỉ biết Chúa vào lúc Ngài công khai hoạt động vì con người, với con người. Đó là lúc Ngài trưởng thành, phát triển và học được tính chất rất “người” từ hoàn cảnh của đời người. Ngài không là hữu thể trên cao nay mặc hình hài bên ngoài của con người, nhưng đã sống thực tận trong con người, Ngài nhận thức rõ những gì đang xảy đến và những gì Ngài sắp phải làm. Ngài rất mạnh, nhưng đôi lúc cũng không nắm chắc cả đôi điều. Tức, Ngài không rõ những gì Ngài làm có khiến người khác khuynh loát được Ngài theo cung cách không định trước, hay không. Nhiều người thấy Ngài giống người bình thường như ta.

Có thể nói, ở nơi Ngài, có cả tính duy thực lẫn tâm tánh dịu hiền trong cung cách. Đức Giêsu ở Tin Mừng thánh Máccô là nhân vật thánh thiêng sống trong hoàn cảnh dẫy đầy bão táp, mưa sa rất hiện thực. Ngài không có vóc dáng của bậc vĩ nhân ở trần thế. Ngài là Đấng Bậc chẳng mang dáng vẻ của vị anh hùng cái thế giống giòng dõi La Mã, Hy Lạp hoặc Do thái. Ngài ít khi là người thắng cuộc, rất thẳng thừng. Với ai trông mong ở Ngài tính chất cao cả của bậc vĩ nhân, thì Ngài lại mang đến cho họ sự thất vọng, chán chường, cả đến sững sờ vì Ngài không có khả năng khống chế mọi người. Với họ, ngôn từ Ngài sử dụng ra như bối rối, phức tạp. Ngài như khiến cho đồ đệ mình lẫn lộn nhiều thứ đến tận cùng.

Với nhiều người hằng trông mong Ngài trở thành người con dễ thuần thục hoặc theo đúng qui ước vẫn sáng chói trong chiến thắng lẫy lừng đầy dũng cảm, thì họ không dễ dàng gì mà chấp nhận con người như Đức Giêsu được. Nhưng, Ngài lại là người có óc thực tế rất cao vời, như chưa có người như thế. Ngài nhìn thẳng mặt vào uy lực của sự chết, nhưng không nhất quyết chinh phục lực hút ấy. Thật ra, ta thấy nơi Ngài có sự hiền dịu, nhào quyện với sự bất toàn trong việc đứng lên hành động chống đối, vào nhiều lúc. Nơi Ngài, ta thấy chính sự hiền dịu trỗi dậy từ sự chết… Nơi Ngài, chừng như có hai diện mạo, và Ngài ra như không biết cách hoà quyện hai diện mạo ấy thành chính Ngài…

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu vừa “chạnh lòng thương” (tiếng Hy Lạp là Splanchnistheis) những người bị ngã qụy (Mc 6: 34, 8: 2 và 9: 22-23) và dễ “nổi giận” (tiếng Hy Lạp là “orgistheis”) khi con người không tin vào Ngài (Mc 3: 5 và 9: 23). Và tiếng Hy Lạp tả về động thái “chạnh lòng thương” nếu dịch từng chữ là “thấy xúc động tận tâm can”. Còn “dễ nổi giận” nếu dịch sát là ở vào trạng thái bùng nổ đến điên cuồng mà tiếng Việt mình gọi là “giận điên” không thực sự kềm chế được.  

Có điều lạ, là người cuối cùng chép lại Tin Mừng theo thánh Máccô lại bỏ đi các cụm từ ấy, có lẽ vì họ không muốn Đức Giêsu mang tâm tính đó. Và, cũng chẳng muốn đấng bậc thần thánh như Ngài mà lại có thái độ như thế, cũng không nên. Xem thế thì, nhiều dân con Đạo Chúa thấy có nhu cầu biến Đức Giêsu ít đúng thực và cũng ít chất “người” hơn là Ngài vẫn thế. Họ cũng muốn Ngài “hội nhập” nhiều hơn. Họ chẳng bao giờ muốn để các nữ phụ cứ khuynh loát, lèo lái tính nhân hiền tử tế của Ngài hết. Thành thử, rất nhiều khi, Ngài cũng chẳng biết sau đó phải làm thế nào cho vừa lòng mọi người.

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu là ngôn sứ “chuyền chéo” rất Galilê, và Ngài thăm Giuđêa coi như động thái quyết đạt đến giai đoạn thách thức lại thập giá của La Mã. Khi viết Tin Mừng, thánh sử không gộp chung các sự kiện này vào với nhau. Nhưng, điều mà thánh sử cần tả là việc Ngài hoà trộn với chúng dân và nhiều lúc đã để họ dẫn đưa Ngài vào con đường mà Ngài không có khả năng đảm trách chỉ một mình. Đấng biết mình chết cho con người không nhất thiết phải là người cần hội nhập cuộc sống đầy cảm xúc của Ngài.

Thật ra, đó không là đòi hỏi hỏi của phục sinh. Là, con dân của Chúa, chúng ta cũng không buộc phải làm thế. Như Đức Giêsu, ta vẫn có thể đến với mọi người bằng tư cách của chính mình, mà vẫn được cất nhắc khỏi sự chết. Nói cho cùng, theo văn phong thể loại của thánh sử Máccô, thì chừng như Đức Giêsu vẫn mở rộng ra để nữ giới lãnh đạo và dẫn dắt. Thật ra, có thể nói, Ngài bị giới hiền dịu và tử tế đã hơn một lần từng khuynh loát Ngài. Nhưng có khuynh loát hay không, điểm tới vẫn ở trước mặt cho cả lãnh tụ lẫn người bị dẫn dụ, và khuynh loát.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên cùng với nhà thơ ngâm nốt câu ca, mà rằng:

            “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

            Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

            Sao bông phượng nở trong màu huyết,

            Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

            (Hàn Mặc Tử – Những Giọt Lệ)

Giọt châu hay giọt máu cũng vẫn là giọt lệ. Của giới nữ vẫn đem nhà thơ bỏ “dưới trời sâu.” Ở nơi đó, nhà thơ cùng người người lại sẽ thấy bông phượng nở trong màu huyết, có Đấng Hiền Dịu cũng một  tâm trạng như đàn con từng nhỏ giọt châu đỏ, lẫn máu đào, để thương nhau. Mãi một đời.           

                             Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –            

                           Mai Tá lược dịch