Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 

Trong nhịp sống cuồng loạn của thời đại ngày nay, chúng ta phải dừng lại trong giây phút hiện tại để sống thực sự cuộc sống trần thế của chúng ta. Chỉ có giây phút hiện tại chúng ta mới có thể xử dụng tự do nội tâm của mình cách chính xác, chúng ta mới thực sự tiếp xúc với thực tại và sự hiện hữu.

Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận đã được Giáo Hội Hoàn Vũ nâng lên Bậc Đáng Kính vào ngày 04.05.2017.

Khi còn là Tổng Giám Mục Saigon Việt Nam, vào lúc 2 giờ chiều 15.08.1975, Ngài được nhà cầm quyền cộng sản mời đến Dinh Độc Lâp rồi bắt Ngài và đem đi trên một xe hơi có hai công an kèm hai bên, đem nhốt tù luôn… Họ đưa Ngài về giam tại Cây Vông, Nha Trang. Thành phố Nha Trang nằm trên bãi biển rộng đẹp là cơ sở tiền nhiệm của Ngài.

Thời gian bị giam nơi đây, Ngài thương xót và nhớ đàn chiên của mình ở Nha Trang và ở Saigon đang không người chăn dắt. Hằng ngày nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên, hằng đêm nằm cô đơn nghe tiếng sóng biển, Ngài đã khóc khi nghĩ đến thân phận một giám mục trẻ mới 41 tuổi khỏe mạnh và có nhiều kinh nghiệm mục tử mà phải bị giam cầm nơi đây, Ngài nghĩ đến có thể một ngày nào họ sẽ đưa mình đi xa nên Ngài suy nghĩ, mình nên bắt chước Thánh Phaolô viết thư cho giáo dân.

 Hoang mang trong những cảm giác buồn sầu, sợ hãi, căng thẳng lẫn lộn trong tâm hồn, làm cho trái tim tan vỡ, Ngài đang phải chìm trong bóng tối dày đặc của những đêm kinh hoàng đó, Ngài được ánh sáng Chúa Giêsu Kitô soi rọi. Ngài từ từ tỉnh thức:

Tôi phải trực diện với thực tại. Tôi đang bị tù. Nếu tôi chờ đợi lúc nào có thời cơ sẽ làm việc lớn; không biết đời tôi thời cơ sẽ đến được mấy lần! Chỉ có một điều chắc chắn là tôi sẽ chết.

Hãy cướp thời cơ mỗi ngày để thực hiện cách phi thường những việc tầm thường .

 Niềm xác tín đó gây cảm hứng cho lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, con sẽ sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  (trích Chứng nhân Hy Vọng )

 Quá khứ và tương lai không hiện hữu trong cái rời rạc trừu tượng của chúng nên không đạt tới sự vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu chỉ quy hướng về giây phút hiện tại và chỉ được trao ban cho những ai hoàn toàn hiện diện vào lúc đó.

Chỉ trong giây phút này, ta mới đạt tới và sống trong hình ảnh của hiện tại vĩnh cửu  (Chứng Nhân Hy Vọng) a: P.Endokimov, Le Eta della Vita Spirituale (Các tuổi trẻ của đời sống thiêng liêng), Bologna 1968 tr.257-258)

Ngài dùng thời gian đó, sống giây phút hiện tại bằng cách viết lại những kinh nghiệm sống đức tin của Ngài để hướng dẫn con chiên của Ngài.

Giây phút hiện tại của Ngài là giây phút hy vọng.

Nhờ vậy ngày nay chúng ta có cuốn Đường Hy Vọng , một cuốn sách với 1001 câu hướng dẫn cách sống đức tin rất thiết thực.

Tại trại giam Cây Vông, anh công an gác cổng, người nào được anh cho phép mới được vào thăm, nhưng trẻ con thì không ai để ý. Có một em bé mỗi sáng đi lễ 5 giờ, cha ngoắc bé vào và dặn, về nhà nói mẹ mua cho cha những bloc lịch cũ nhé. Và từ đó Ngài viết vào ban đêm lên mặt trái của tờ lich cũ, mỗi ngày một tờ. Em bé này đem về cho các anh chị in ra phổ biến. Ngài viết trong một tháng rưỡi. Sau đó họ đưa Ngài cùng các quân nhân bị giam giữ ra ngoài Bắc.

Những giây phút sống hiện tại với tràn đầy yêu thương của Ngài trong mười một năm bị tù, có chín năm biệt giam trong phòng tối, chỉ có một lỗ nhỏ dưới sàn nằm, Ngài đã phải nằm sấp người để lỗ mũi hướng vào lỗ nhỏ đó mà hít thở không khí ngoài trời.

Vậy mà, với tình thương của Thiên Chúa, Ngài có thể thay đổi tâm hồn người khác, đã hoán cải được số đông các cán bộ công an có nhiệm vụ canh giữ Ngài, họ trở nên tốt hơn, họ biết quý trọng người khác. Họ được lãnh nhận tình yêu thương từ Ngài và tình yêu này giúp họ sống an hòa với tù nhân Nguyễn Văn Thuận. (trong tù không ai được gọi là cha Thuận hay linh mục Thuận, mà là tù nhân Thuận) Ngài dạy họ học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiêng Nga, và Latin, họ thích thú và vui vẻ lắm.

Trong khi bất cứ ai bị nhốt trong bốn bức tường trại cải tạo cũng đều chờ đợi ngày được trả tự do. Dưới chế độ tàn ác của việt công, tất cả tù cải tạo là những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những công chức cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều được phe thắng cuộc, việt cộng, bắt đi tù cải tạo. Ai ai cũng sống trong chờ đợi ngày được tự do, về với gia đình vì tất cả đều nghĩ, mình có tội tình gì đâu… Khi mời họ đi trình diện, việt công đã nói chỉ đi có 10 ngày nhưng họ đã đánh lừa tất cả. Có người 10 năm, có người 15 năm chưa ra khỏi cái trại khổ sai cải tạo của họ. Ông xã trưởng nhà tôi, nhờ vì bị thương tích nặng khi làm lao động nên mới hân hạnh, chỉ được khổ sai trong 5 năm ở trại cải tạo. Khi về đến nhà thì chỉ còn da bọc xương và nỗi sợ hãi luôn luôn ám ảnh anh trong giấc mơ, kể cả thời gian sống ở Hải Ngoại mà thỉnh thoảng vẫn mơ thấy mình bị ở tù.

Quá khứ trong tay Thiên Chúa, tương lai thì trong tay quan phòng của Thiên Chúa, chỉ có giây phút hiện tại là thời gian duy nhất hiện hữu  với chính mình, thời gian tràn trề ân sủng của Thiên Chúa.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến ngày tận thế .

Thiên Chúa hiện diện ở với, thì ta không thiếu thốn gì. Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu đã sống giây phút hiện tại trong yêu thương thắm thiết.

Thánh Nữ thốt lên: Ôi Giêsu, yêu thương chỉ có giây phút hiện tại .

Thánh Giacôbê: Trong khi các ngươi không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, các ngươi chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát rồi lại tan biến đi  (Gc 4,14)

Nếu ta ý thức được mình Chỉ là hơi nước trong giây lát rồi tan biến đi  thì mình chọn sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  là tuyệt vời nhất, là ý nghĩa nhất.

Muốn sống giây phút hiện tại chúng ta phải tập ý thứcnhững gì ở trước mặt chúng ta. Nếu những gì ở trước mắt chúng ta và xung quanh chúng ta mà ta không để ý, không hay biết, là ta đang sống không có ý thức.

Ý thức trong giây phút hiện tại là khả năng của đời sống tinh thần và là tinh hoa của đời sống tâm linh.

Khi tôi nấu cơm, nhặt rau mà tôi ý thức mình đang nấu cơm, đang nhặt rau cùng với Chúa Giêsu. Tôi đang trong giây phút hiện tại của tôi. Nói cách khác Thiên Chúa có mặt với tôi, sống một cách trọn hảo trong từng phút giây với tôi.

Sáng thức dậy tôi cám ơn Chúa đã gìn giữ tôi qua một đêm an lành. Làm mọi việc chuẩn bị cho một ngày sống và ý thức rằng mình đang làm việc nên rất an bình và vui.

Cuối ngày tôi làm phút hồi tâm, nhìn lại một ngày xem những gì mình đã làm đẹp ý Chúa, những gì mình nói hay làm sai trái hoặc mất lòng ai thì xin lỗi rồi cám ơn Chúa trước khi đi ngủ.

Ngài luôn hiện diện với tôi trong từng giây phút hiện tại.

Tôi cố gắng sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  với tất cả trân trọng trong từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc làm trong sinh hoạt hằng ngày.

Nhờ vậy, mỗi khi có lời nói hay cử chỉ phiền lòng ai, tôi nhận ra ngay và có cách sửa sai ngay.

Tôi sẽ luôn cảm nhận niềm vui sâu sắc và bình an trong tâm hồn. Tạ ơn Chúa.

Elisabeth Nguyễn (28.03.2018)

From: tramtubensuoi

THÁNH MARCÔ, THÁNH SỬ

THÁNH MARCÔ, THÁNH SỬ

Thánh Marcô, mặc dù mang tên Roma, nhưng lại là người Do Thái, và còn được gọi theo tên Do Thái là Gioan.  Tuy không thuộc nhóm Mười Hai Tông Đồ, nhưng rất có thể ngài đã quen biết Chúa Giêsu.  Nhiều văn gia Giáo Hội phát hiện ra chữ ký kín ẩn của thánh Marcô trong Phúc Âm của ngài, trong trình thuật người thanh niên bỏ chạy với một mảnh vải trên người, khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu: ý nghĩa ở đây là chỉ có mình thánh Marcô đề cập đến chi tiết ấy.  Điều này còn trùng hợp với một chi tiết khác: Marcô là con trai bà Maria, một góa phụ giàu có, sở hữu ngôi nhà, nơi các tín hữu Jerusalem tiên khởi thường tụ họp.  Theo một truyền thống cổ xưa, ngôi nhà này chính là ngôi nhà có phòng Tiệc Ly, nơi Chúa Giêsu đã ăn bữa Tiệc Ly và thiết lập bí tích Thánh Thể.

Marcô có bà con với thánh Barnabas; ngài đã đồng hành với thánh Phaolô trong cuộc truyền giáo lần thứ nhất, và ở bên cạnh vị Tông Đồ dân ngoại trong những ngày cuối đời của ngài.  Tại Roma, Marcô còn làm môn đệ của thánh Phêrô.  Trong Phúc Âm của ngài, với ơn linh hứng Chúa Thánh Thần, thánh Marcô đã trung thành trình bày giáo huấn của vị Tông Đồ trưởng.  Theo một truyền thống cổ xưa được thánh Jerome kể lại, sau khi hai thánh Phêrô và Phaolô chịu tử đạo, thánh Marcô đã sang Alexandria, giảng đạo, thành lập giáo đoàn và trở thành giám mục tiên khởi ở đó.  Vào năm 825, thánh tích của ngài được dời từ Alexandria về Venice, thành phố hiện nay nhận ngài làm quan thầy.

  1. Marcô, người phụ tá của thánh Phêrô.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Marcô đã thuộc vào nhóm các tín hữu tiên khởi ở Jerusalem, những người quen biết và được sống bên cạnh Đức Mẹ và các Tông Đồ.  Mẹ của ngài là một trong những phụ nữ đã lấy tài sản chu cấp cho Chúa Giêsu và mười hai Tông Đồ.  Marcô cũng có bà con với thánh Barnabas, một trong những nhân vật chính yếu trong thời kỳ đầu, và là người đầu tiên dìu dắt ngài trong công cuộc rao giảng Phúc Âm.  Marcô đồng hành với thánh Phaolô và thánh Barnabas trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, nhưng khi đến đảo Cyprus, Marcô cảm thấy không thể tiếp tục được nữa nên đã từ giã và trở về Jerusalem.  Thánh Phaolô dường như rất thất vọng về tính thay đổi của Marcô.  Về sau, khi trù định cho hành trình truyền giáo lần thứ hai, thánh Barnabas muốn đem theo Marcô, nhưng thánh Phaolô nhất định không chịu vì nhớ lại sự việc trước đó.  Cuộc tranh luận giữa thánh Phaolô và thánh Barnabas căng thẳng đến nỗi sau cùng hai vị đã chia tay, mỗi người tiến hành chương trình của riêng mình.

Khoảng mười năm sau, chúng ta lại thấy Marcô tại Roma, lần này ngài giúp đỡ thánh Phêrô.  Lời thánh Phêrô đã viết trong thư: con tôi là Marcô, minh chứng mối liên hệ lâu bền và gần gũi giữa hai vị.  Thời gian ấy, Marcô là thông dịch viên cho vị Tông Đồ trưởng, việc này đem lại một lợi điểm mà chúng ta nhận ra trong Phúc Âm được ngài viết sau đó ít năm.  Mặc dù không ghi lại một bài giáo huấn dài nào của Chúa, nhưng bù lại, thánh Marcô đã mô tả rất sinh động về những biến cố trong cuộc sống của Chúa Giêsu với các Tông Đồ.  Trong các trình thuật của ngài, chúng ta thấy hiện lên những thị trấn nhỏ ven bờ biển Galilê; chúng ta cảm nhận được những lời bàn tán của đám đông đi theo Chúa Giêsu, chúng ta như thể tiếp xúc với những cư dân của các địa phương ấy, nhìn thấy những việc kỳ diệu của Chúa Giêsu, và những phản ứng tự phát của nhóm Mười Hai.  Tóm lại, chúng ta thấy mình như giữa đám đông dân chúng, được chứng kiến các biến cố Phúc Âm.  Qua những mô tả sinh động, thánh Marcô đã in đậm vào linh hồn chúng ta một hấp lực dịu dàng nhưng không sao cưỡng lại của Chúa Giêsu mà dân chúng và các Tông Đồ đã cảm nghiệm được trong cuộc sống với Thầy Chí Thánh.  Thánh Marcô đã trung thành ghi lại những hồi tưởng thân mật của thánh Phêrô với Thầy Chí Thánh: những ký ức ấy không phai nhòa theo năm tháng, nhưng càng ngày càng sâu đậm và sinh động hơn, càng thấm thía và hứng thú hơn.  Có thể nói Phúc Âm thánh Marcô là tấm gương sinh động về giáo huấn của thánh Phêrô.

Thánh Jerome cho chúng ta biết, theo thỉnh nguyện của các tín hữu Roma, Marcô, môn đệ và thông ngôn của thánh Phêrô, đã viết Phúc Âm theo những gì ngài đã được nghe thánh Phêrô giảng dạy.  Và chính thánh Phêrô, sau khi đã duyệt bản Phúc Âm ấy, đã dùng quyền bính chấp thuận cho sử dụng trong Giáo Hội.  Đây thực sự là sứ mệnh chính trong cuộc đời thánh Marcô: trung thành ghi lại những lời giảng của thánh Phêrô.  Ngài đã để lại cho hậu thế biết bao ích lợi!  Ngày nay, chúng ta thực sự phải mang ơn thánh Marcô vì nhiệt tâm ngài đã đặt vào công việc và lòng trung thành với ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần!  Ngày lễ kính thánh Marcô là dịp để chúng ta xét lại việc hằng ngày chúng ta đọc Phúc Âm, lời Chúa nói trực tiếp với chúng ta, như thế nào.  Chúng ta có thể tự hỏi đã bao lần chúng ta đã sống như người con hoang đàng, hoặc áp dụng cho mình lời cầu khẩn của anh mù Bartimaeus: Lạy Chúa, xin cho con được nhìn thấy – Domine, ut videam!  Hoặc lời thỉnh nguyện của người cùi: Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, xin cho tôi được sạch – Domine, si vis, potes me mundare!  Bao lần chúng ta cảm thấy tận đáy lòng rằng Chúa Kitô đang nhìn và mời gọi chúng ta hãy sát bước theo Người, kêu gọi chúng ta hãy vượt thắng một thói xấu nào đó làm chúng ta xa cách Người, hoặc như các môn đệ trung thành, hãy sống nhân ái hơn nữa với những người khó hòa hợp với chúng ta?

  1. Là khí cụ của Chúa, chúng ta phải luôn sẵn sàng thực hiện một cuộc khởi đầu mới.

Thánh Marcô đã giúp đỡ thánh Phêrô nhiều năm tại Roma, ở đó, chúng ta còn thấy ngài phụ giúp thánh Phaolô nữa.  Quả thế, con người mà thánh Phaolô thấy không thể sử dụng trong hành trình truyền giáo lần thứ hai thì nay lại là một niềm an ủi, và là một người bạn trung thành.  Vào khoảng năm 66, thánh Tông Đồ đã viết cho Timothy: Con hãy đem Marcô đi với con, vì anh ấy rất hữu ích cho công việc phục vụ của cha.  Sự kiện đảo Cyprus một thời hết sức ảm đạm, thì nay dường như đã bị quên lãng hoàn toàn.  Giờ đây, thánh Phaolô và thánh Marcô là bạn hữu và đồng sự của nhau trong công cuộc quan trọng là mở rộng vương quốc Chúa Kitô.  Thực sự đây là một tấm gương lớn lao và cũng là một bài học tuyệt vời cho chúng ta học biết: đừng bao giờ kết luận dứt khoát về một ai, khi nào cần thiết một ai, chúng ta hãy biết cách nối lại mối dây thân hữu mà đã có lúc xem như đã tan rã hoàn toàn! 

Giáo Hội hôm nay nêu lên mẫu gương thánh Marcô.  Thật là một hy vọng và ủi an khi chiêm ngưỡng đời sống vị sử gia thánh thiện này.  Mặc dù có những yếu đuối, nhưng chúng ta vẫn có thể như ngài, tin tưởng vào ơn Chúa và sự phù trợ của Mẹ Giáo Hội.  Những thất bại và những hành vi nhát đảm của chúng ta, dù lớn hoặc nhỏ, phải làm chúng ta khiêm tốn hơn, liên kết chúng ta mật thiết hơn với Chúa Giêsu, và kín múc từ nơi Chúa nguồn sức mạnh mà chúng ta đang thiếu thốn.

Chúng ta đừng để những bất toàn nên cớ làm chúng ta xa cách Chúa hoặc từ bỏ sứ mạng tông đồ, mặc dù đôi khi chúng ta đã không đáp ứng đúng mức với ơn Chúa, hoặc chúng ta đã ngần ngại khi được nhờ cậy.  Những hoàn cảnh như thế, nếu có khi nào xảy ra, chúng ta không nên ngạc nhiên, bởi vì như lời thánh Phanxicô Salê đã nói, Không có gì phải ngạc nhiên vì bệnh tật là bệnh tật, yếu đuối là yếu đuối, và gian ác là giac ác.  Tuy nhiên, hãy hết sức gớm ghét điều bạn đã xúc phạm đến Chúa, và với lòng tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, hãy quảng đại quay lại con đường mà bạn đã từ bỏ.  

Những thất bại và những hành vi nhát đảm rất quan trọng.  Chúng khiến chúng ta trở về bên Chúa để nài xin ơn tha thứ và trợ giúp của Người.  Nhưng Chúa vẫn tin tưởng chúng ta, và chúng ta vẫn cậy trông ơn Chúa, nên chúng ta hãy lập tức làm lại và quyết tâm trung thành hơn trong tương lai.  Với ơn phù trợ của Đức Mẹ, chúng ta sẽ biết cách rút ra điều hữu ích từ những yếu đuối, nhất là khi kẻ thù, những kẻ không bao giờ nghỉ ngơi, ra sức làm chúng ta thất đảm và từ bỏ cuộc chiến.  Chúa Giêsu muốn chúng ta thuộc về Người mặc dù chúng ta đã có một lịch sử yếu đuối với những sai phạm.

  1. Sứ vụ tông đồ.

Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo.  Hôm nay, chúng ta đọc những lời này trong Ca Nhập Lễ.  Đây là sứ vụ tông đồ Chúa đã ban và thánh Marcô đã ghi lại.  Về sau, được ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, thánh nhân đã minh chứng lệnh truyền ấy đã được thực hiện khi ngài chép Phúc Âm: Các tông đồ ra đi và rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố tin mừng bằng những phép lạ kèm theo.  Đó là những lời thánh Marcô kết thúc Phúc Âm của ngài. 
Thánh Marcô đã trung thành với sứ vụ tông đồ mà ngài đã nghe qua lời giảng của thánh Phêrô: Hãy đi khắp thế gian.  Chính thánh Marcô và Phúc Âm của ngài đã là một thứ men hiệu quả cho thời đại ngài.  Chúng ta cũng phải trở nên một thứ men tốt cho thời đại chúng ta.  Nếu sau lần nhát đảm, thánh nhân đã không khiêm nhượng và dũng cảm làm lại, có lẽ giờ đây chúng ta không có những kho tàng lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu để thường xuyên suy gẫm, và nhiều người, nếu không nhờ ngài, chắc cũng chẳng bao giờ biết được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của nhân loại.

Sứ mạng của thánh Marcô – cũng như của các Tông Đồ, của các nhà truyền giáo, của các tín hữu tốt lành luôn ra sức sống đúng với ơn gọi của mình – chắc chắn không phải là một sứ mạng dễ dàng.  Chúng ta biết ngài đã chịu tử đạo.  Ắt hẳn thánh nhân đã trải qua kinh nghiệm chịu bách hại, mệt mỏi, và hiểm nguy trong việc theo bước Chúa.

Chúng ta hãy cám tạ Thiên Chúa, cũng như các tín hữu thời các Tông Đồ, vì sức mạnh và niềm vui Chúa Kitô đã được truyền lại đến ngày nay cho chúng ta.  Mọi thế hệ Kitô hữu, mọi cá nhân đều được mời gọi lãnh nhận sứ điệp Phúc Âm và truyền thụ lại cho người khác.  Ơn Chúa không bao giờ thiếu: Non est abbreviata manus Domini – Cánh tay Chúa không bị thu ngắn.  Người tín hữu biết Chúa đã thực hiện các phép lạ từ nhiều thế kỷ trước kia, và hiện nay Người vẫn đang thực hiện.  Với ơn Chúa giúp, mỗi người chúng ta cũng sẽ thực hiện những phép lạ nơi tâm hồn thân nhân, bạn bè, và những người quen biết, nếu chúng ta sống trong mối kết hợp với Chúa Kitô qua lời cầu nguyện.

****************************** *******

Lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con,

Có rất nhiều điều trong chúng con đã che lấp lời của Chúa

Và ngăn trở chúng con trở thành Giáo Hội thật sự của Chúa.

Hôm nay, chúng con cầu xin Chúa:

Xin hãy gọi chúng con, như Chúa đã gọi Máccô xưa kia,

Để chúng con nói và sống Lời Chúa.

Xin Chúa hãy linh ứng chúng con qua Chúa Thánh Thần

Và xin hãy dạy chúng con sống trong hy vọng

Rằng vương quốc của Chúa sẽ đến

Và ở lại giữa chúng con

Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con

Bây giờ và muôn đời.

 

Sưu tầm

HOẠNH TÀI

 

HOẠNH TÀI

Người ta nói của hoạnh tài là thứ của cải lấy không của kẻ khác. Cướp giết người để cướp lấy tài sản về mình là hoạnh tài. Gài bẫy để lấy tiền nạn nhân là của hoạnh tài. Lừa gạt lòng tin người dân lấy sạch tiền của họ bỏ trốn, người ta gọi là của hoạnh tài. Ở đâu có của hoạnh tài, ở đó có bất công.

Trong dân gian có câu nói “bạo phát thì bạo tàn”. Có nghĩa là dùng những thủ đoạn bất chính để hốt những thứ không thuộc về mình để có sự phát tài đột biến thì đó là bạo phát. Hậu bạo phát là sự trả sạch những thứ hoạnh tài một cách nhanh chóng người ta gọi là bạo tàn hay gọi là hoạnh tử. Đã hoạnh tài thì ắt hoạnh tử đấy là những gì dân gian đúc kết được. Cái bạo tàn có khi là sự vong mạng. Từ kinh nghiệm dân gian, người ta kết luận cái bạo phát là do nhân thì bạo tàn là do thiên, con người cướp thì trờ sẽ lấy lại.

Của cải của quan chức CS toàn là của hoạnh tài. Tất cả tài sản như nhà trăm tỷ, tiền con cái du học, tiền mua nhà Mỹ, tiền mua thẻ xanh, tiền gởi ở các tài khoản ngân hàng nước ngoài vv.. đều là tiền tước đoạt từ xương máu hàng triệu đồng bào mà ra.

Người nghèo bị bệnh không có tiền chữa trị phải về nhà nằm chờ chết. Bà mẹ khổ quá bảo con đập chết mình đi cho thoát khỏi kiếp trần ai. Những mạng sống này phải chết đi cho quan đầy túi, vì nếu không bị tham nhũng, số tiền đó đã có thể xây dựng một hệ thống y tế miễn phí cho dân nghèo. Thay vì cứu mạng dân nghèo, thì số tiền đó lại chui vào các biệt phủ, cách căn nhà bên Mỹ, các tài khoản ở ngân hàng Thụy Sỹ. Đồng tiền của quan chức nó chứa máu, nước mắt và cả mạng sống dân trong đó.

ĐCS, một đảng đang sống trên khối tài sản còm cõi của dân. Dân gần trăm triệu phải nghèo đi để nuôi vài vạn thằng quan chức ăn trên ngồi trốc. 73 năm, cướp có, giết có và đẩy đưa toàn dân đến đói nghèo để những người CS ngày một giàu khủng. 73 năm là thời gian quá dài với một đời người, các thế hệ CS vẫn chưa trả giá. Do đâu mà chúng nó bạo phát nhưng chưa bạo tàn? Do cái chủ thuyết của Lenin quá ác làm dân sợ. Mà dân càng sợ thì CS càng bền. Không biết ơn Lenin sao được? Nếu không có chủ thuyết này thì bọn họ làm sao giàu như ngày hôm nay? Nếu không có chủ thuyết này thì làm sao có triệu đô này đến triệu đô khác tự rót vào túi?

Và như là điều tất nhiên, tựa con bạc cầu cơ trúng số làm mâm cơm tạ ơn hồn ma đã mang lại tiền từ trên trời rơi xuống, thì những người CS cũng thế, họ xếp hàng và tạ ơn vong hồn ác quỷ Lenin đã mang lại cho họ nguồn tiền vô tận mà không phải trả giá cho cái ác. Đấy là lý do cả đám đến tượng đài Lenin thành kính dâng hương. Chúng ta khổ chúng ta kinh tởm con người Lenin và chủ thuyết tà ác của ông ta, nhưng người CS thì ngược lại.

CS chưa trả giá, nhưng chắc chắn phải trả. Có một triều đại tàn bạo với nhân dân nào mà tồn tại được bền lâu? 73 năm so với đời người thì quá dài, nhưng so với một triều đại của lịch sử thì ngắn ngủi thôi. Liên Xô và đông Âu đã từng bạo phát và có lúc kèn cựa với thế giới tự do. Nhưng cái bạo tàn của nó đã được chứng thực bằng sự đổ nhào nhanh chóng của những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. CSVN lẽ nào ngoài quy luật?

CHUNG THỦY (FIDELITY)

 

CHUNG THỦY (FIDELITY)

Trần Mỹ Duyệt

  Anh (em) nhận em làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng nhu lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”.

Trên đây là giao ước hôn phối mà hai người Công Giáo trao cho nhau trước sự chứng kiến của linh mục, hoặc một phó tế trong ngày thành hôn, cũng như trước cộng đoàn giáo dân trong thánh lễ thành hôn. Lời hôn ước này là một giao ước vĩnh viễn và bất khả phân ly: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mac 10:9). Điểm chính của nó là sự chung thủy. 

 CHUNG THỦY LÀ GÌ?

Chung là cuối. Thủy là khởi đầu. Chung thủy tức là từ lúc đầu đến lúc cuối. Từ khởi điểm đến hoàn thành. Một số những định nghĩa thông thường mà chúng ta vẫn nghe về chung thủy như:

Thủy chung: Trước sau vẫn một lòng, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi (Từ Điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức).

Fidelity: Sự, lòng trung thành, thành thật, chân thành, trung trực, trung tín. (English-Vietnamese Dictionary.  Anh-Việt Từ-Điển, Nhà sách Khai Trí, xuất bản lần thứ tư).

Fidelity: loyalty to your wife, husband, or partner by not having sex with other people. (Longman Dictionary of American English, New Edition).

Như vậy, dù xét theo ý nghĩa tôn giáo, ý nghĩa của văn hóa, xã hội, hoặc ý nghĩa của tâm lý thì trong hôn nhân để giữ được lòng chung thủy, người ta không được ngoại tình, không được ly dị, và chỉ dành tình yêu, tình cảm, nghị lực và con người của mình cho một người mình yêu, mà người đó là vợ hay chồng của mình. Ngoại tình dù là trong tư tưởng hay hành động đều được coi là không chung thủy, không trung thành, và không thành thật với nhau: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.”(Mt 5:27-28)

GIỮ LÒNG CHUNG THỦY DỄ HAY KHÓ?

Một người chồng trung niên thành công và có sự nghiệp. Trong văn phòng và dưới quyền anh có nhiều thiếu nữ trẻ, đẹp, duyên dáng, và nhất là luôn làm theo ý anh. Bỗng một ngày, anh nhận ra rằng mình đã có tình cảm và tình ý với một trong những nhân viên xinh đẹp ấy. Anh biện minh cho hành động của mình rằng anh vẫn là người chồng tốt, người cha có trách nhiệm. Anh không có ý bỏ vợ anh, và anh không muốn làm đau khổ cho các con anh. Anh chỉ hành động bình thường trong tư cách lịch sự, xã giao, và nếu có thì chỉ hơi một chút thân mật thôi. Anh là giám đốc, anh có quá nhiều sức ép của xã hội, của công ăn việc làm, nên anh cần một người hiểu anh để có thể chia sẻ với anh. Những điều đó gần đây anh không tìm thấy nơi vợ của anh.   

Và một câu chuyện khác mang ý nghĩa tương tự. Người đàn ông kia một ngày nọ đã khám phá ra những dấu hiệu ngoại tình c̉ua vợ. Anh hỏi vợ, và chỉ được một câu trả lời đơn giản: “Đó chỉ là quen biết thông thường. Sự quen biết của hai người cùng một ngành nghề và trong cùng một sở làm. Một tình cảm trong sạch.” Nhưng khi người chồng hỏi thêm về tình cảm trong sạch ấy thì người vợ luôn tìm cách tránh né, làm thinh hoặc cáu giận và cho là chồng không tin mình.

Những trường hợp như vậy vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hôn nhân của nhiều người, không phân biệt tuổi tác, thành phần xã hội, nghề nghiệp, học vấn, thành công hay thất bại. Đó là hành động ngoại tình, là không chung thủy, là phản bội tình yêu của nhau. Nhưng như một hậu quả đắng đót, là đàng sau những gian díu tình cảm, những yêu thương vụng trộm kia vẫn không khỏa lấp được trách nhiệm và lời thề chung thủy: “Dù nước đại dương cũng không thể cuốn trôi được tình yêu” (Diễm Tình Ca 8:7).

Theo tâm lý học, con người tìm kiếm tình yêu đích thực và trường cửu, và điều này nói lên sự trung tín của tình yêu, bởi vì tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Dan Gilbert, nhà tâm lý học thuộc Đại Học Harvard tác giả của tác phẩm “Vấp Ngã Trên Hạnh Phúc” (Stumbling on Happiness), đã thực hiện một khảo cứu trong đó hai nhóm người tham dự được chọn một trong hai cách thức thực hành một chủ đề. Nhóm đầu bị bó buộc phải trung thành với chọn lựa của mình, trong khi nhóm thứ hai có quyền thay đổi. Kết quả là những người trong nhóm thứ nhất cảm thấy hạnh phúc, vì đã trung thành với quyết định. Ngược lại những người trong nhóm thứ hai cảm thấy bất mãn về sự thay đổi.

Vẫn biết chung thủy dù xét theo ý nghĩa tâm linh hay ứng dụng của tâm lý là một bảo đảm của hạnh phúc, của tính bền vững trong hôn nhân, nhưng giữ được chung thủy vẫn luôn luôn là một điều khó, nhất là khi đã có những rạn nứt, những khủng hoảng đến từ người chồng hay người vợ.

LÀM SAO ĐỂ GIỮ ĐƯỢC LÒNG CHUNG THỦY

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để khi mình hoặc người phối ngẫu vướng vào những cám dỗ của ngoại tình, của phản bội rồi mới tìm cách chữa trị e rằng rất khó. Cách tốt nhất vẫn là đề phòng và ngăn ngừa. Nhưng làm thế nào để đề phòng cho mình cũng như người phối ngẫu trước những thử thách hầu duy trì được một tình yêu bền vững, chung thủy.  

1. Biết mình muốn gì:

“Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Binh pháp Tôn Tử dạy “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”. Trong giao tế thường ngày với những người chung quanh, đặc biệt, những người khác phái tính luôn luôn đòi hỏi sự tinh tế, và tế nhị. Xàm xở, lẳng lơ, hoặc buông thả là một trong những lý do rất dễ đưa đến ngoại tình.

Sự biết mình và biết người ở đây còn áp dụng ngay giữa tương quan vợ chồng trong đời sống hôn nhân thường ngày. Tình yêu không phải là một phép mầu cho phép chúng ta có thể biến hóa mọi thứ theo ý mình, nhưng là một ân sủng, và duy trì được tình yêu là một nghệ thuật. Không phải hễ bước vào hôn nhân là tự nhiên sẽ yêu nhau, và yêu nhau mãi mãi, sẽ không làm nhau buồn chán, hoặc buồn chán vì nhau. Nó đòi hỏi một ý thức và hiểu biết rõ ràng mình là ai? Mình muốn gì? Và mình làm gì giữa mối tương quan ấy. Dù đã kết hôn bao lâu đi nữa, thì tình cảm và lối đối xử của cái “thuở ban đầu lưu luyến ấy”, vẫn là những gì người chồng hoặc người vợ muốn có nơi người phối ngẫu, mặc dù cách ứng dụng có thay đổi theo thời gian.

2. Tâm lý nhàm chán:

Làm mới lại tình yêu. Tình yêu không bao giờ già, không bao giờ nhàm chán, nhưng cách thức vợ chồng hành sử và đối đãi với nhau làm cho tình yêu trở nên già nua, nhàm chán. Tâm lý nhàm chán là một tâm lý rất thực tế trong tình yêu, tình bạn, hoặc ngay trong việc giữ gìn một đồ vật. Người Việt Nam gọi tâm lý này là: “Có mới nới cũ”. Khi người ta có những cơ hội trước mặt, có những điều kiện thuận tiện, và có những đối tượng sẵn sàng đáp ứng sự thiếu thốn tình cảm, thì tâm lý nhàm chán chính là lý do thúc đẩy đi tìm những gì mới hơn, lạ hơn, và hợp với mình hơn. Và khi đã có cái mới, người ta bắt đầu chán bỏ cái cũ.

Tuy nhiên, tâm lý nhàm chán không phải luôn luôn xảy ra khi một đối tượng khiến cho mình cảm thấy nhàm chán. Đôi khi do chính thái độ ham của lạ, thích cái mới phát xuất từ tâm lý thiếu trưởng thành của một người lại chính là động lực dẫn đến những thay đổi, mặc dù trong nhiều trường hợp sự thay đổi ấy không hẳn là tốt hơn, đẹp hơn, và giá trị hơn chính cái mình đang có.

Như vậy, người vợ cũng như người chồng đều phải luôn tìm kiếm những cơ hội thuận tiện để làm mới mẻ lại tình yêu. Một trong những cách đó là đọc sách, học hỏi, tham gia những buổi hội thảo, những dịp hồi tâm, những khóa huấn luyện. Một quan niệm rất chủ quan và thiếu trưởng thành ở đây là tự cho mình biết hết tất cả, hiểu hết tất cả. Chỉ có những ai không có hạnh phúc, hoặc gia đình gặp trở ngại mới cần đến những phương tiện này. Dưới cái nhìn văn hóa thì tình yêu là một nghệ thuật. Học hỏi, tìm hiểu luôn luôn là những cơ hội tốt để tăng thêm và làm giầu cho nghệ thuật yêu đương. 

3. Xa chước cám dỗ:

“Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Lời cầu mà Chúa Giêsu đã dậy chứng tỏ rằng cám dỗ luôn luôn có đó. Và cám dỗ là những gì mà con người phải cố gắng xa tránh đừng để mình mắc phải. Bởi vì bản tính con người là yếu đuối, mà cám dỗ thì lại rất thu hút, và có mãnh lực chi phối ngay cả đối với những người tưởng mình là vững vàng.

Hình ảnh của cám dỗ, nhất là cám dỗ về sự thất trung, thay đổi, và phản bội trong hôn nhân được người xưa ví như yếu tố của củi lửa: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Trong hôn nhân yếu tố củi lửa này chính là bản năng và những ham muốn dục vọng. Môi trường, hoàn cảnh là những chất xúc tác khiến cho củi lửa bén mau hơn. Do đó, cách tốt nhất để tránh khỏi phải sa vào chước cám dỗ của ngoại tình là phải biết tự mình xa tránh nó.

Trong áp dụng thực hành, để người chồng hoặc người vợ khỏi rơi vào những cám dỗ thì người phối ngẫu phải làm gì? Dĩ nhiên, không được đẩy người phối ngẫu mình ra khỏi vòng tay yêu thương của mình, bằng những thái độ, cử chỉ và lối sống bảo thủ, ươn lười hoặc bất cần. Cái nguy hiểm ở đây chính là một khi người yêu đã vuột khỏi tầm tay mình thì tìm cách kéo lại là một điều rất khó, và rất vất vả.      

4. Biết ơn và tha thứ:

Anh còn nợ em . Công viên ghế đá. Lá đổ chiều êm.

Anh còn nợ em. Dòng xưa bến cũ. Con sông êm đềm.

Anh còn nợ em. Chim về núi nhạn.Trời mờ mưa đêm.

Anh còn nợ em nụ hôn vội vàng. Nắng chói qua song.

Anh còn nợ em. Con tim bối rối. Anh còn nợ em.

Và còn nợ em. Cuộc tình đã lỡ. Anh còn nợ em.

(Anh Còn Nợ Em. Nhạc Anh Bằng, thơ Phan Thành Tài)

Có bao giờ chúng ta nghĩ rằng khi bước vào tình yêu là chúng ta mang nợ nhau nhiều lắm không? Nợ những buổi chiều mơ màng, lãng mạn ngồi bên nhau. Nợ những nụ hôn vội vàng khiến cho tim mình, tim em, tim anh bối rối. Và nợ những giận hờn, những lãng quên để in sâu vào lòng nhau những kỷ niệm của một lần mới yêu nhau.

Nhưng hơn tất cả, và trên tất cả là nợ một lời thề, một giao ước để tự trói buộc vào cuộc đời của nhau. Một giao ước tự do, nhưng rất linh thánh. “Anh (em) nhận em làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh”.

 Rút ra từ cảm nhận về món nợ ấy, vợ chồng cần phải tha thứ và chấp nhận nhau. Để duy trì được tình yêu trong sáng và chung thủy, vợ chồng cần phải đọc hoặc hát cho nhau nghe, và chia sẻ với nhau lời Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô đã được nhạc sư Kim Long viết thành ca khúc bất hủ, trong đó có những ứng dụng thực hành rất tâm linh mà cũng rất tâm lý:

 Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

5. Đối thoại và chia sẻ:

Đây là điểm tâm lý thực hành rất cần thiết trong hôn nhân để giúp vợ chồng hiểu nhau, yêu nhau, và có thể tha thứ cho nhau cũng như chịu đựng lẫn nhau.

Không chỉ trong lãnh vực tình yêu, đối thoại để dẫn đến cảm thông là một qui tắc ứng xử hữu hiệu giúp giải quyết mọi khó khăn trong cuộc sống. Dù là vợ chồng với nhau ta cũng vẫn không nắm chắc là đã hiểu được nhau. Những khác biệt về tâm sinh lý, thể lý, văn hóa, giáo dục, nghề nghiệp, tâm linh… luôn luôn là những rào cản khiến nhiều lúc vợ chồng không hiểu và thông cảm được với nhau. Thành kiến tiêu cực nhưng rất tác hại cho tình nghĩa vợ chồng là quan niệm về “khắc khẩu”. Không cần biết phải trái, lý lẽ, nhiều cặp vợ chồng hễ mở miệng nói chuyện là bắt đầu tranh cãi, và cái lý do sau cùng để thỏa mãn nhu cầu tranh cãi ấy là “khắc khẩu”. Thầy bói nói vậy. Nhà tướng số nói vậy. Ông thầy tử vi nói vậy. Giữa tôi và cô có tướng khắc khẩu.

Trong tự điển hôn nhân, ta phải gạc bỏ hai chữ “khắc khẩu”. Bởi vì không có việc khắc khẩu mà chỉ vì hai vợ chồng không hiểu nhau, mà nguyên nhân ấy bắt nguồn từ sự thiếu lắng nghe và chia sẻ. Người ta chả tìm thấy hai chữ khắc khẩu trong những câu chuyện lúc mới quen nhau. Lúc đó người ta nói với nhau bằng tiếng nói con tim. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI viết trong Caritas in Veritate: “Sự thật là… đối thoại và đối thoại”.  Chúng ta cần những cuộc đối thoại trong yêu thương để duy trì và làm phong phú tình yêu giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, và giữa mọi thành viên trong gia đình.

6.Với Chúa:

“Gia đình cầu kinh. Gia đình bền lâu”. Khi hôn nhân gặp khó khăn, và đời sống hôn nhân gặp thử thách chúng ta cần phải suy nghĩ và hỏi mình: “Bình rượu tình yêu của tôi và của chúng tôi có còn hay đã hết!”

Đây là câu chuyện của Thánh Kinh, câu chuyện cho tất cả mọi cuộc tình, mọi đời sống hôn nhân. Đó là trong lúc chúng ta đang vui vẻ, thì chính là lúc chúng ta không ngờ: Bình rượu tình yêu của chúng ta đã cạn: “Họ hết rượu rồi!” (Whenthe wine ran out, Jesus’ mother said to Him, “They have no more wine.” (Gioan 2:3)

Để tình yêu ngày càng thêm phong phú, để hạnh phúc lứa đôi được bền chặt, và để lời thề thủy chung được bảo đảm, vợ chồng cần phải có thời giờ cho nhau, và dĩ nhiên, cũng phải có thời giờ với Thiên Chúa. Hàng ngày hãy dâng lên Thiên Chúa những lời cầu mà Thánh Têrêsa Calcutta đã dậy: “Xin hãy biến đổi gia đình chúng con thành một gia đình Nazareth khác, nơi mà bình an, hoan lạc và yêu thương ngự trị”.

Nguyen Kim Bang gởi

Lời chứng của một luật sư mới theo Chúa: Ơn gọi của Thiên Chúa

Lời chứng của một luật sư mới theo Chúa: Ơn gọi của Thiên Chúa

#GNsP – Tôi là một người không có tôn giáo và luôn chỉ suy nghĩ, Đạo nào thì cũng dạy con người sống tử tế và lương thiện, lấy chữ Đức làm đầu. Nửa đời người trải qua nhiều sóng gió, vui buồn của cuộc sống, tôi vẫn tin rằng, dù thế nào ông Trời cũng sẽ không bỏ mình, ông Trời luôn công bằng!

Tôi làm dâu trưởng của một gia đình gắn bó với nhà Phật, trong họ tộc đã có người là Sư chủ trì, Sư bác, nhưng với tôi, đạo Phật chưa khi nào đánh thức được nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Mọi việc ma chay, hiếu hỷ, giỗ Tết, thờ cúng, mồ mả tôi đều rất chu toàn và không ai có thể chê trách, nhưng trong tôi, chưa bao giờ nhập tâm bất cứ một câu kinh kệ nào, mọi việc tôi làm là một nghĩa vụ, sau đó, tôi cảm thấy trôi tuột và tôi luôn có suy nghĩ nghi ngờ về những gì mình đã trải qua.

Cho đến một ngày, người bạn đặc biệt đó xuất hiện trong cuộc đời tôi, tôi cho rằng đó là sự sắp đặt của số phận, bởi có những bất ngờ mà tôi không thể lý giải nổi. Và Lễ Lá năm nay tôi đã cùng người bạn bước chân vào Thánh đường Nhà thờ Lớn Đức Bà Sài Gòn để dự Thánh Lễ.

Hơn hai tiếng thinh lặng, chiêm ngắm Thánh Lễ đã làm thay đổi tâm hồn tôi, làm biến đổi tôi từ trong nhận thức, tôi nhận thấy rõ ràng rằng, có một điều gì đó thật đặc biệt, thật thiêng liêng đã tràn ngập trong toàn bộ con người tôi.

Sau Thánh Lễ, tôi đã ngồi lặng đi, tôi thấy lòng mình chưa bao giờ nhẹ nhõm và thanh thản đến thế, xung quanh tôi tràn đầy một màu nắng rực rỡ, êm đềm. Và ý nghĩ sẽ trở thành Kitô hữu ập đến với tôi, tôi hiểu rằng việc trở thành Kitô hữu sẽ là mục đích của tôi, bắt đầu từ lúc này…

Trở lại Hà Nội, vào ngày Lễ Phục Sinh tôi đã đến Nhà Thờ Thái Hà.

Tôi đã ở Hà Nội 27 năm, nhưng tôi chưa bước chân vào cung thánh đường nào, dù những mái vòm nhà thờ cao vút, tĩnh lặng, trầm mặc, uy nghiêm luôn cuốn hút tôi.

Thánh Lễ Phục Sinh lại gieo vào lòng tôi sự an yên mà tôi chưa bao giờ cảm nhận được, dự thánh lễ mà lòng tôi rưng rưng xúc động!

Sau đó vào đầu tháng 5/2017, tôi đã đến Văn phòng giáo xứ để hỏi về lịch học Giáo lý Dự tòng, gặp tôi Cha Phượng đã hỏi “Sao chị lại muốn học giáo lý để trở thành người Công giáo?”

Thực ra, câu hỏi này bản thân tôi cũng đã tự hỏi mình, và ai biết tôi đang học Giáo Lý dự tòng cũng đều hỏi tôi như vậy.

Nhưng để trả lời cho câu hỏi này, tuy dễ mà cũng thật khó, bởi khi đã tự mình Giác ngộ Đức Tin, xác tín con đường Đức Tin mà mình sẽ đi thì mọi lý do để giải thích cũng rất thừa. Tự sâu thẳm trong tôi, thôi thúc tôi rằng, THIÊN CHÚA là ĐẤNG mà tôi sẽ nguyện đi theo trong những ngày tháng còn lại và mãi mãi sau này!

Khi vào học lớp Giáo Lý K53 cùng các anh chị em, được các Cha giáo khai tâm, tôi hiểu rằng, Tôi đã được lãnh nhận Ơn Mạc Khải của Thiên Chúa! Chính Ngài đã vén tấm màn nhận thức của tôi, đã ban ơn gọi để cho tôi thấy con đường đi đến với Ngài, con đường của Đạo Kitô!

Càng học, càng đọc những lời của Chúa, của Hội Thánh, tôi càng thấm hơn những lời giáo huấn, rao giảng của Ngài về ơn Cứu độ, về lòng thương xót, về đức hy sinh, sự khiêm nhường, sự dấn thân tận hiến của những người con dân Chúa, của các bậc tu trì.

Tôi càng NGỘ ra rằng Cuộc sống này nếu không có Đức tin, Đức mến của Thiên Chúa, cuộc sống sẽ là những chuỗi ngày vô vị và tăm tối. Tôi hiểu sâu sắc rằng, hình ảnh của mỗi con người trên hành tinh này, là hình ảnh của Thiên Chúa do Thiên Chúa tạo dựng nên, vô cùng thiêng liêng và đáng trân trọng. Vì vậy, để sống mà không hổ thẹn, để sống thật sự ý nghĩa cho một ngày mai sống lại trên Nước Trời, thì mỗi chúng ta phải luôn cố gắng thực hiện những điều răn của Thiên Chúa, những điều Hội Thánh dạy hàng ngày trong tư tưởng, lời nói, việc làm.

Nghề Luật sư của tôi cũng cho tôi tiếp cận và nhìn nhận rất nhiều mặt trái và sự bất công của xã hội hiện nay, sự xuống cấp tha hóa đạo đức một cách đáng báo động và điều đó lại càng làm tôi nhận thấy sự Màu Nhiệm của Thiên Chúa trong việc duy trì và phát triển Hội Thánh. Từ Mùa Phục Sinh, Chúa Nhật nào tôi cũng đến Nhà ờ để dự Lễ, kể cả những khi đi công tác hay đi chơi xa khỏi Hà Nội. Mỗi một giờ đi Lễ Chúa Nhật, tôi đều vô cùng tâm đắc với những lời suy niệm của các Cha dâng lễ. Sau những bon chen, mệt mỏi của công việc và đời sống, tôi đến Nhà Thờ để chiêm ngắm Thiên Chúa, Đức Cha Chí Thánh của nhân loại, chiêm ngắm Đức Mẹ Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ của Thiên Chúa và cũng là Mẹ của tất cả chúng ta, dâng lời cầu nguyện đến Chúa Ba Ngôi để xin được thương xót, được ban thêm ơn Thánh Thần để cho mỗi chúng ta và tôi đủ niềm tin và sức mạnh để vác ánh Giá đi theo Ngài đến Quê Trời!

Bây giờ và mãi mãi, tôi xác tín Đức Tin của tôi nơi Thiên Chúa! Tôi tin Thiên Chúa luôn hiện hữu trong tôi, tôi sẽ sống trọn với niềm tin này để xứng đáng trở thành một Kitô hữu công chính!

Tạ ơn Chúa! A men!

Thái Hà Mùa Phục Sinh năm 2018

Kiều Thị Hải Vân

Nguồn: Truyền Thông Thái Hà

Vụ ‘đất Thành Ủy’: Thế Thiên hành… ‘đạo’

Vụ ‘đất Thành Ủy’: Thế Thiên hành… ‘đạo’

Trân Văn

Chỉ trong vòng bốn ngày, từ 16 tháng 4 đến 20 tháng 4, Công ty Quốc Cường Gia Lai mất 730 tỉ trên thị trường chứng khoán. Tuy giá cổ phiếu của công ty này giảm liên tục nhưng không ai màng (1).

Không chỉ có gia đình bà Nguyễn Thị Như Loan (nắm giữ 57% cổ phiếu của Công ty Quốc Cường Gia Lai) gánh hậu quả vừa kể. Chắc chắn là những nơi, những người đang chia nhau 43% cổ phiếu của doanh nghiệp này cũng méo mặt.

Giá cổ phiếu của Công ty Quốc Cường Gia Lai rơi tự do sau khi Thành ủy TP.HCM ra lệnh cho Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 héc ta ở xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè cho Công ty Quốc Cường Gia Lai (2).

Lý do Thành ủy TP.HCM chỉ đạo như vừa kể vì báo giới phát giác Công ty Quốc Cường Gia Lai chỉ phải trả 419 tỉ đồng để được “quyền sử dụng” 34,2 héc ta mà giá trị được cho là tới 2.400 tỉ đồng. Trong thương vụ này, Công ty Quốc Cường Gia Lai lời chừng… 2.000 tỉ đồng.

Tuy nhiên trong kinh doanh, “khôn nhờ, dại chịu”, hà cớ gì Thành ủy TP.HCM phải can thiệp? Câu trả lời là phát giác của báo giới đẩy Thành ủy TP.HCM rơi vào thế “con dại, cái mang”: Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận là doanh nghiệp của Thành ủy TP.HCM và 34,2 héc ta đất mà doanh nghiệp này ã chuyển nhượng cho Công ty Quốc Cường Gia Lai không phải là tài sản do họ tạo lập. Thửa đất đó là… công thổ!

Song có một điểm cần phải lưu ý là bất kể thế nào thì cũng phải xếp chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM vào nhóm hành động táo tợn đến mức càn rỡ. Về bản chất, Thành ủy TP.HCM chỉ là đại diện cho một tổ chức chính trị (Đảng CSVN) ở Sài Gòn, thành ra không những không thể mà còn không được phép can dự vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, xâm hại quyền tự do kinh doanh.

***

Tự do kinh doanh vốn là một trong những quyền hiến định (Điều 3 Hiến pháp 2013: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm) và sau đó tiếp tục được minh đinh trong nhiều bộ luật như: Luật Dân sự (Điều 50: Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật), Luật Doanh nghiệp (Điều 5: Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng của các doanh nghiệp trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà nước công nhân và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính)…

Chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM chẳng khác gì công nhiên khẳng định, tự do kinh doanh thật ra chỉ là một thứ “đầu dê”, trong khi hệ thống công quyền Việt Nam chỉ bán… “thịt chó” – loại “thịt chó” chỉ có ở Việt Nam và được đặt tên là “pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

“Pháp chế xã hội chủ nghĩa” cho phép hệ thống công quyền Việt Nam tùy nghi biến công sản, công thổ thành tài sản của những cái gọi là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị – xã hội, của quân đội, công an, muốn “mua mắc” cũng được mà “bán rẻ” cũng chẳng sao. Khi cần, hệ thống công quyền Việt Nam sẽ can thiệp để hủy bất kỳ thương vụ nào mà hệ thống này muốn.

Thương vụ Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 công thổ cho Công ty Quốc Cường Gia Lai là một điển hình của bán rẻ.

Thương vụ Mobifone bỏ ra gần 9.000 tỉ đồng mua 95% cổ phần của An Viên Group (AVG), khiến công quỹ tổn thất hơn 7.000 tỉ đồng là một điển hình khác của mua mắc.

Dù cả hai thương vụ đều thuộc loại “thuận mua, vừa bán”, đều từng được khẳng định “đúng qui định pháp luật” nhưng cuối cùng đều gặp trục trặc vì có sự can thiệp thô bạo của Đảng CSVN.

Thương vụ giữa Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 công thổ cho Công ty Quốc Cường Gia Lai gãy đổ vì Thành ủy TP.HCM can thiệp. Thương vụ Mobifone mua 95% cổ phần của AVG được các bên “tự nguyện hủy bỏ” vì đó là lệnh từ Thường trực Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN (BCH TƯ Đảng CSVN) (3).

***

Ai cũng hiểu tại sao các thương vụ liên quan đến công sản, công thổ lại có chuyện “mua mắc, bán rẻ”.

Cũng vì vậy, dẫu AVG (bên bán) tự nguyện hủy bỏ hợp đồng được cho là mang lại cho AVG khoản lãi hơn 7.000 tỉ đồng, thậm chí ngoài vốn, AVG còn tự ngụyện hoàn trả cả lãi/số tiền mà Mobifone (bên mua) đã thanh toán nhưng không ai ghi nhận, ca ngợi “thiện chí” của AVG cả.

Cũng vì vậy, dẫu bà Nguyễn Thị Như Loan tuyên bố, bà đã tìm hiểu kỹ trước khi mua 34,2 héc ta đất, đã trả tiền đúng giá thị trường và chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM rõ ràng là gây thiệt hại cho Công ty Quốc Cường Gia Lai, bà Loan vẫn không có ý định nhờ Tòa án giải quyết nhưng chẳng có ai ngạc nhiên cả (4).

AVG hay Công ty Quốc Cường Gia Lai không trông vào luật pháp, không cậy vào hệ thống Tòa án và cả hai đều nhấn mạnh họ có “thiện chí” với lực lượng thế thiên hành… “đạo” – loại “đạo” không phải đạo lý, đạo giáo.

Lực lượng thế Thiên đó nắm trong tay toàn bộ công sản, công thổ và không ai biết chính xác là bao nhiêu. Chỉ thỉnh thoảng, khi hữu sự, chẳng hạn như năm ngoái, lúc dư luận sôi sùng sục vì không thể mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất do vướng sân golf, người ta mới biết, tính đến năm 2015, riêng Bộ Quốc phòng nắm trong tay khoảng 250.000 héc ta đất. Đáng chú ý là từ năm 2000 đến năm 2010, đất giao cho Bộ Quốc phòng tăng thêm 106.000 héc ta nhưng từ 2010 đến 2015, diện tích đất do Bộ Quốc phòng nắm giữ giảm xuống 43.000 héc ta nhưng lực lượng thế Thiên chẳng thèm giải thích tại sao (?) (5)

Tuy công sản, công thổ thuộc quyền sở hữu toàn dân nhưng không người dân nào có quyền hỏi, có quyền kiểm tra xem việc sử dụng số công sản, công thổ ấy ra sao.

Quốc pháp, gia quy không bằng giữ “đạo” với lực lượng thế Thiên. Ứng xử cho phải “đạo” thì không thiếu cơ hội.

Tin mới nhất cho biết, ngoài 34,2 héc ta đất ở xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận còn bán cho Công ty Quốc Cường Gia Lai khoảng hai héc ta đất ở phường Tân Phong, quận 7. Thành ủy TP.HCM có bao nhiêu công sản, công thổ và đã bán bao nhiêu, bán như thế nào? Tổ chức Đảng của các địa phương khác chắc cũng như thế! Đặc quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối có thể có nhiều hạn chế nhưng có những điểm “hay”, duy trì, không chia sẻ là đúng rồi!

Chú thích

(1) https://news.zing.vn/quoc-cuong-gia-lai-mat-them-220-ty-dong-sau-lum-xum-dat-phuoc-kien-post835927.html

(2) http://www.nguoitieudung.com.vn/vu-ban-324971-m2-dat-cong-san-gia-re-mat-lo-nhieu-sai-pham-thanh-uy-tphcm-hop-khan-chi-dao-huy-hop-dong-d66857.html

(3) https://tuoitre.vn/thuong-vu-mobifone-mua-avg-tra-het-cho-nhau-20180403105923185.htm

(4) https://news.zing.vn/ba-nguyen-thi-nhu-loan-toi-mua-dat-phuoc-kien-dung-gia-thi-truong-post836097.html

(5) https://tuoitre.vn/dat-quoc-phong-ranh-gioi-nao-1343881.htm

(6) http://bizlive.vn/doanh-nghiep/dau-tu-va-xay-dung-tan-thuan-da-ban-2-du-an-khung-cho-quoc-cuong-gia-lai-gia-bao-nhieu-3445397.html

Thủ tướng phê duyệt kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018

Thủ tướng phê duyệt kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018

2018-04-23
 

Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.

Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.

 Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.
 

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định 437/QĐ-TTg về kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và các hạn mức vay nợ năm 2018.

Báo Chính Phủ loan tin cho biết, kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018 là 384 ngàn tỷ đồng bao gồm: vay trong nước gần 276 ngàn tỷ đồng và vay nước ngoài khoảng 108 ngàn tỷ đồng.

Kế hoạch trả nợ của Chính phủ được Thủ tướng phê duyệt trong năm 2018 là gần 257 ngàn tỷ đồng. Trong đó, trả nợ trực tiếp của Chính phủ là khoản trên, tức 257 ngàn tỷ đồng; phần khác là trả nợ của các dự án vay lại khoảng 18 ngàn tỷ rưỡi.

Trước đó, báo Vnexpress vào ngày 11 tháng 3 loan tin cho biết Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước chuyên đề kiểm toán nợ công công bố nợ công của Việt Nam tính đến cuối năm 2016 là gần 2,9 triệu tỷ đồng. Trong đó, nợ của Chính phủ là 2,37 triệu tỷ đồng, chiếm 83% nợ công. Riêng nợ nước ngoài của Chính phủ là 947 ngàn 500 tỷ đồng, chiếm khoảng 40% nợ công.

Kiểm toán nhà nước cũng nói, đến cuối năm 2016, dư nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương của Việt Nam bằng 63,7% GDP.

Cơ quan này của Chính phủ Việt Nam còn nhận định trên tờ Vnexpress rằng: Chính phủ vẫn đảm bảo thanh toán nợ; tuy nhiên, tình trạng nợ công tiếp tục gia tăng so với năm 2015 và hệ số thanh toán trả nợ cao, có xu hướng gia tăng đang gây áp lực cho ngân sách.

Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?

Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?

Phi Cảnh
2018-04-23

Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975

Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975

 AP
 

Người Việt Nam Cộng sản cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã thua trận thì chẳng còn tư cách gì để nói người khác. Nhưng thắng thua liệu có phải là tất cả?

Cuộc chiến không công bằng

Một cuộc đấu võ đúng tinh thần thể thao phải diễn ra trên võ đài với đầy đủ luật lệ và yêu cầu về hạng cân thì mới công bằng. Đương nhiên cũng có loại đánh nhau trên đường phố bất chấp luật lệ. Giống như thời La Mã, ngoài võ sĩ trên đấu trường thì còn có những võ sĩ thi đấu vô luật lệ dưới hầm mỏ.

Nhưng không phải chiến thắng nào cũng như chiến thắng nào. Ngoài đường phố nếu dùng mọi trò bẩn hoặc thắng một đối thủ quá chênh lệch thì có gì vinh hạnh? Võ sĩ La Mã chỉ có thể giành được vinh quang trên đấu trường, chứ không phải chiến thắng vô luật lệ ở hầm mỏ – nơi dơ bẩn và bị khinh bỉ.

Trong chiến tranh cũng thế, đâu phải cứ là chiến tranh thì anh có thể dùng bất cứ thủ đoạn nào để giành phần thắng. Nếu nói cứ đánh nhau là bất chấp luật lệ, thì anh còn ngồi vào bàn để ký mấy cái hiệp định làm chi? Nếu là một tổ chức tự phát như tổ chức khủng bố chẳng hạn, thì không cần luật lệ; còn khi đã là một quốc gia thì phải có luật chứ. Sau này Việt Nam Cộng sản chẳng xin vào các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO… để nâng cao vị thế là gì? Và đã xin vào thì phải chấp nhận luật của người ta, đâu dùng luật rừng được nữa.

Có nghĩa là gì, nếu muốn được tôn trọng như một quốc gia thì phải có luật pháp và tôn trọng luật pháp. Kể cả chiến tranh cũng vậy.

Chiến tranh Việt Nam không phải là chiến tranh quy ước – loại chiến tranh mà các lực lượng tham chiến của mỗi bên đã được xác định rõ. Phe Việt Nam Cộng sản trộn lẫn vào trong dân gây khó khăn cho Việt Nam Cộng hòa, vì bản chất của chiến tranh là tiêu diệt đối phương, nhưng nếu giết dân thì thế giới lại lên án. Khi không thể xác định rõ kẻ thù thì đánh kiểu gì?

Rất nhiều người nghĩ rằng kiểu “Chiến tranh du kích” ấy là bình thường. Nó không bình thường đâu! Mỹ cũng có một cuộc nội chiến Nam – Bắc. Khi phe miền Nam sắp thua cuộc, Bộ tham mưu của tướng Lee đề nghị phân tán lực lượng, ẩn nấp trong nhà dân, trong rừng núi để đánh du kích nhưng vị tướng chỉ huy quân đội miền Nam đã từ chối vì “Chiến tranh là nghiệp của người lính, là nhiệm vụ của chúng ta, không được đẩy trách nhiệm này vào người dân vô tội. Cho dù ta là tướng bại trận cũng không thể dùng cách này, nếu phải dùng sinh mạng của mình để đổi lấy bình an cho người dân miền Nam thì ta thà lựa chọn trở thành tội phạm chiến tranh và chịu hành quyết còn hơn”.

Nó khác hẳn với Chủ nghĩa Cộng sản sẵn sàng “hy sinh tất cả” hay “phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để đạt được mục đích. Phía Bắc Việt huy động mọi thành phần dân tộc tham gia cuộc chiến gồm cả phụ nữ, trẻ em lẫn người già – một đối tượng là phái yếu cần được bảo vệ, một đối tượng cần phải cho ăn học, một đối tượng đã đến lúc nghỉ ngơi mà phải chịu đói khổ, dấn thân vào nguy hiểm chết người. Cái gọi là cuộc chiến “của toàn dân tộc” ấy chẳng có gì đáng để tự hào cả.

Người Việt Nam Cộng hòa không coi chiến tranh là tất cả, không dồn tất cả để đánh nhau, họ còn phải sống, làm việc và phát triển; vì thế, tất nhiên chỉ có quân đội chiến đấu. Trong quân đội ấy chỉ có nam giới đủ tuổi đi quân ngũ, không người già, không trẻ em và phụ nữ không phải tham gia tác chiến. Lực lượng tham chiến hai bên như vậy đã không rõ ràng (phía Cộng sản), lại còn không cân bằng.

Việc cho cả trẻ em, người già tham gia chiến tranh còn một mục đích khác, đấy là tạo nên sự thương sót của dư luận nếu những đối tượng này tử trận. Nó giống việc đặt các cơ sở quân sự gần các khu dân cư, bệnh viện… vậy. Người dân đáng lẽ ra là đối tượng được bảo vệ thì lại bị đem ra làm bia đỡ đạn.

Cuộc chiến còn không công bằng ở chỗ Việt Nam Cộng hòa là một đất nước tự do dân chủ, người dân có quyền chỉ trích, biểu tình, mà có nước tự do dân chủ nào mà lãnh đạo làm hài lòng được người dân? https://www.rfa.org/vietnamese/news/ReadersOpinions/what-if-the-republic-of-vietnam-survived-04132018130758.html

Việt Nam Cộng hòa tất nhiên còn tự do báo chí – điều tối kỵ trong chiến tranh. Thế nên mới có chuyện ông Nick Út được đi theo lính miền Nam để chụp ảnh, máy bay đánh bom tiêu diệt Cộng sản nhưng ai ngờ lính miền Bắc xâm nhập chui vào nơi có dân để chốn. Dân chạy ra cầu cứu lính Việt Nam Cộng hòa thì bị Nick Út giơ máy ảnh lên chụp xong đăng lên toàn thế giới mà ai nhìn vào cũng nghĩ rằng “lính Mỹ ăn thịt trẻ em Việt Nam”. Vậy mà bức ảnh ấy cũng có thể trở thành biểu tượng của chiến tranh Việt Nam được?

Bức ảnh chỉ nói lên một nửa sự thật ấy khi về Mỹ được trao giải Pulitzer – giải thưởng danh giá bậc nhất cho báo chí để rồi cả nước Mỹ lên án cuộc chiến. Như thế thì còn đánh đấm gì?

Mai Chí Thọ từng nói toạc với tù nhân chính trị rằng: “Hồ Chí Minh có thể là một kẻ độc ác, Nixon có thể là một người vĩ đại. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng tôi có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, rằng Nixon là một kẻ giết người và người Mỹ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx-Lenin là có thể làm được điều đó”.

Chính vì sự giả dối ấy nên những vụ giết người của Bắc Việt với cách thức không khác gì khủng bố như đánh bom nhà hàng Mỹ Cảnh, ném lựu đạn vào dân đang xem hát ở Cần Thơ hay thảm sát Huế Mậu Thân chẳng hạn thì bị xem nhẹ, dường như người nào sống ở miền Nam đều đáng chết cả. Còn khi người Cộng sản bị chết thì lại thành sự kiện nổi tiếng.

Quân đội Mỹ luôn tin vào chính nghĩa nên luôn hành động chính trực, thẳng thừng giữa thanh thiên bạch nhật, chính vì vậy nên dễ bị hiểu lầm. Họ đã thua trên mặt trận tuyên truyền trước những kẻ nham hiểm.

Tại sao dám vu khống Mỹ xâm lược khi họ chỉ giúp giữ chế độ tự do dân chủ ở miền Nam? Việt Nam Cộng hòa chỉ lo phòng thủ chứ đâu có đánh ra Bắc. Mỹ chỉ ném bom vì miền Bắc đã xâm phạm miền Nam.

Trong khi Mỹ vẫn xử phạt binh lính nếu có hành động đi quá giới hạn thì Bắc Việt lại trao huân chương cho những kẻ đánh bom khủng bố chết dân thường. 2 thái cực hoàn toàn trái ngược cho thấy truyền thông đã hết sức bất công. Trong một cuộc chiến mà trọng tài chỉ bênh một bên thì bên kia có cơ hội giành phần thắng?

Một ví dụ nữa là phe Cộng sản luôn cố tình tạo cho người ta cảm giác rằng họ với vũ khí thô sơ phải đánh nhau với một phe được trang bị vũ khí hiện đại. Thực tế bộ đội miền Bắc không hề thiếu vũ khí, ra trận là có đạn “bắn thoải mái” do Nga Tàu cung cấp; đó là sự hỗ trợ tương đương nhưng kín đáo. Chính vì vậy nói rằng miền Nam không làm được gì khi không có Mỹ là không công bằng, miền Bắc nếu không được viện trợ từ nước ngoài thì chắc chắn phải cưỡi ngựa bắn cung để ra trận, vì họ đâu có tự sản xuất ra được đạn dược, xăng dầu…

Thắng rồi để làm gì?

Người Việt coi việc Nhật Bản “phải chấp nhận để Mỹ đóng quân” là kém cỏi, nhưng gặp người Nhật thì không khác gì gặp thánh sống. Người Việt cũng xem việc Triều Tiên không thể thống nhất đất nước là không bằng Việt Nam, nhưng bây giờ thậm chí không dám mơ có ngày được như Nam Triều Tiên.

Nói đâu xa, Việt Nam Cộng hòa bị coi là “đu càng” , nhưng những cư dân “đu càng” như cầu thủ bóng đá Lee Nguyễn, đầu bếp Christine Ha thì được trọng vọng hơn bất cứ đồng nghiệp nào tại Việt Nam. Thù lao mà Lee Nguyễn nhận được khủng khiếp đến mức cho đến nay không ai biết đích xác là bao nhiêu, chỉ biết rằng trong 2 năm ngắn ngủi ở Việt Nam, cầu thủ “đu càng” này nói rằng đã kiếm đủ cho phần đời còn lại. Chắc chắn không một cầu thủ Việt Nam Cộng sản nào dám mơ có một ngày đội bóng quê hương sẽ trả mức lương như vậy cho mình.

Gia đình Việt Nam Cộng sản cũng co ro cúm rúm khi tiếp đón gia đình Việt Nam Cộng hòa “đu càng” từ Mỹ, Pháp… trở về, đi ăn cũng gia đình “đu càng” trả tiền. Vậy thì ai thắng ai? Ai mang tư thế của người chiến thắng?

Thái Lan không dám đánh nhau, Nhật Bản từng thua trận, Đức cũng thua, Pháp thì khỏi nói: nổi tiếng về đánh nhau kém. Nhưng hỡi ôi, đánh nhau quan trọng đến thế ư? Chỉ những anh choai choai mới khoái đánh nhau như thế. Chả trách mà Tản Đà làm thơ: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.”

Mà ngay trong cái việc đánh nhau thôi, tại sao anh không tiếc xương máu lúc đánh nhau với Pháp, Mỹ, mà giờ động đến một chữ Trung Quốc cũng không dám? Suốt ngày tự hào đánh Pháp đánh Mỹ nhưng nếu có ai nhắc đến giặc Tàu là cả quan lẫn dân đều nạt ngay: “Thế muốn chiến tranh hay hòa bình? Nó mà đánh cho thì…”.

Chao ôi, dân tộc “Việt Nam anh hùng” đây ư? Té ra việc chửi giặc Pháp giặc Mỹ hàng ngày là do biết chúng nó là người quân tử, chúng nó người lớn không thèm chấp mình, chứ chẳng phải mình anh dũng anh hùng gì cho cam.

Cái giá của thủ đoạn đê hèn

Nói tóm lại rằng: bất chấp luật lệ, dùng mọi thủ đoạn để thắng không phải hành động của người quân tử. Việt Nam Cộng hòa cũng như các nước văn minh khác: tôn trọng pháp luật ngay cả trong thời chiến – lúc mà đáng lẽ có thể áp dụng tình trạng khẩn cấp hay thiết quân luật để siết chặt quyền tự do dân chủ.

Người Cộng sản có thể mãi hát bài ca chế giễu phe thua cuộc nhưng trên thực tế, người Việt Nam Cộng hòa lên tiếng chỉ vì họ còn có tâm với đất nước đấy thôi. Sau năm 1975 họ được các nước giàu có văn minh dang tay đón nhận, họ có cuộc sống sung túc ở nơi mà chỉ số ít doanh nhân và chủ yếu là con cháu quan chức Cộng sản mới có cơ hội đặt chân đến.

Người Việt Nam Cộng hòa ừ thì “thua” đấy, nhưng họ được sống cùng những người quân tử. Còn những người “chiến thắng” ở lại, khi anh không phải người quân tử, sẽ có thằng không quân tử khác trị anh.

Thủ tướng Armenia từ chức sau nhiều ngày đối mặt với biểu tình.

Image may contain: 2 people, people smiling, outdoor
Image may contain: 4 people, people smiling, sky and outdoor
No automatic alt text available.

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 2 others.

Ông Sargsyan, 63 tuổi, từng giữ chức tổng thống Armenia trong 10 năm (2 nhiệm kỳ). Ông tiếp tục giữ chức Thủ tướng (do Quốc hội bầu).

Theo hiến pháp sửa đổi của nước này, thủ tướng là người nắm giữ nhiều quyền lực nhất trong khi vị trí tổng thống chủ yếu mang tính nghi thức.

Nhân dân Armenia biểu tình yêu cầu ông Sarksyan từ chức. Hôm nay, áp lực đè lên Thủ tướng Armenia càng nặng khi những người lính không vũ trang tham gia vào cuộc biểu tình.

Ông Serzh Sargsya buộc phải từ chức sau khi hàng chục nghìn người biểu tình phản đối vì cho rằng ông tham quyền.

Theo Reuters, hôm nay 23/4, Thủ tướng Armenia – ông Serzh Sargsyan – chấp nhận từ chức và phát biểu:

– “Có một số giải pháp trong tình hình hiện tại, nhưng tôi sẽ không chọn bất kỳ giải pháp nào. Đó không phải là phong cách của tôi. Tôi sẽ từ bỏ vị trí thủ tướng Armenia”,

Tại nước Cộng hòa Armenia, nhân dân đã biểu tình liên tiếp ngày thứ 11, mỗi ngày cuộc biểu tình thường nổ ra kéo dài hơn mười giờ từ trưa đến tối. Người dân yêu cầu thủ tướng Sarkisian phải từ chức. Họ cần một thủ tướng mới do chính lá phiếu của nguòi dân bầu lên,

Nhân dân đã chiến thắng !!!.
Xin Chúc mừng thắng lợi của nhân dân Armenia !!!

Armenia là quốc gia từng thuộc Liên Xô nằm ở vùng Nam Caucasus. Armenia, tên chính thức Cộng hoà Armenia, là một quốc gia nhiều đồi núi nằm kín trong lục địa ở phía nam Kavkaz. (Wikipedia).

Nguồn: https://www.aljazeera.com/…/armenia-prime-minister-serzh-sa…

Một thần đồng làm thế giới sửng sốt

Một thần đồng làm thế giới sửng sốt

Phạm Việt Hưng

Ngay khi Hawking rời khỏi thế gian, một em bé thần đồng ở Mỹ làm cho thế giới vật lý sửng sốt. Em tuyên bố lý thuyết của Hawking về vũ trụ hình thành tự phát là sai, và Chúa thực sự hiện hữu. Đó là bé trai William Maillis, 11 tuổi, một sinh viên đại học đam mê nghiên cứu vật lýthiên văn. Lập luận của William có nhiều khả năng đúng vì nó phù hợp với Định lý Gödel…

 1/ Thần đồng 11 tuổi William Maillis

William Maillis là một bé trai sinh năm 2007, sống tại Penn Township, Pennsylvania, Mỹ cùng với cha là ông Fr. Panteleimon Ilias Maillis, một mục sư chính thống giáo, mẹ là bà Presvytera Nancy. William có một chị gái và một anh trai.

William đã tốt nghiệp phổ thông trung học từ Tháng 5 năm 2016, lúc 9 tuổi. Sau đó em theo học đại học cộng đồng Community College ở Allegheny County, rồi nhập học Đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh từ mùa thu năm ngoái (2017).

Mặc dù mới 11 tuổi nhưng William đã có định hướng rõ ràng cho cuộc sống: chứng minh sự hiện hữu của Chúa thông qua khoa học!

Khó tưởng tượng được một em bé 11 tuổi nhưng đam mê nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ, đọc và hiểu những sách vật lý cáo cấp về vũ trụ, quyết tâm se lấy bằng tiến sĩ về vật lý thiên văn (Astrophysics), hăng say giải thích trong những cuộc phỏng vấn tại sao lỗ đen không phải là “siêu khối lượng” mà các nhà khoa học lão thành như Albert Einstein hay Stephen Hawking từng nói,…

Đièu lạ lùng là em có những lập luận khoa học hồn nhiên phù hợp với Định lý Gödel: “Tôi muốn chứng minh với mọi người rằng Chúa thực sự tồn tại, bằng cách chỉ ra rằng chỉ có một sức mạnh bên ngoài vũ trụ mới có khả năng tạo ra vũ trụ”, William nói.

Cha của William, ông Peter Maillis cho biết về cậu con trai William của ông:

  • 6 tháng tuổi, bắt đầu nhận dạng được chính xác các con số.
  • 7 tháng tuổi, nói được những câu hoàn chỉnh.
  • 21 tháng tuổi, biết làm tính cộng.
  • 2 tuổi biết làm tính nhân, đọc được sách dành cho trẻ em, và viết được một cuốn sách 9 trang của chính mình, nhan đề “Chú mèo hạnh phúc” (Happy Cat).
  • 4 tuổi, học đại số, ngôn ngữ ký hiệu, đọc tiếng Hy Lạp. “Nó luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt đến các con số”, ông Peter nói.
  • 5 tuổi, đọc toàn bộ một cuốn sách giáo khoa hình học dầy 209 trang chỉ trong một đêm và lúc thức dậy vào sáng hôm sau đã giải những bài toán về chu vi, bộc lộ thiên hướng toán học rõ rệt.
  • Lúc 7 tuổi, là một chuyên gia về lượng giác…

Nhà tâm lý học Joanne Ruthsatz ở Đại học Tiểu bang Ohio tuyên bố cậu bé này là một THIÊN TÀI theo nghĩa đen.

Aaron Hoffman, giáo sư lịch sử của William ở đại học, nói cậu bé giống như tất cả các sinh viên khác ở đại học. Ông nói: “Chúng tôi không miễn trừ cho cậu ấy bất kỳ một chủ đề nào: từ Hitler, Mussolini, đến trại tập trung, chiến tranh… Nếu đã học ở đây, cậu ấy sẽ phải học mọi môn ở trình độ đại học”.

Điều khác biệt duy nhất ông nhận thấy ở William là em không ghi chép như các sinh viên khác, mà chỉ lắng nghe, đọc và thẩm thấu kiến thức.

Nhưng điều làm cho ông Peter ngạc nhiên nhất là con trai mình sớm có định hướng hiến dâng cuộc đời cho vật lý thiên văn, với ý định chứng minh sự hiện hữu của Chúa. Và không chỉ mong muốn, cậu đang thực sự tiến bộ trên con đường thực hiện mơ ước: Cậu đã có một số nghiên cứu khảo sát về một số lý thuyết ở trình độ cao. Những nghiên cứu này bắt đầu cho thấy nhà vật lý Stephen Hawking sai về vấn đề nguồn gốc vũ trụ.

Thực ra ngay từ trước khi kết thúc phổ thông trung học, William đã bắt đầu tìm hiểu một số lý thuyết theo những chủ đề mà em quan tâm. Em đã đọc một số sách của Stephen Hawking, kể cả cuốn “Grand Design” (Thiết kế vĩ đại), một cuốn sách rất khó hiểu đối với ngay cả những người lớn có trình độ khoa học. Trong cuốn này, Hawking nói rằng vũ trụ có thể tự tạo ra nó từ hư không, tức là vũ trụ cố thể hình thành một cách tự phát, và do đó Chúa là không cần thiết. Nhưng William có những lý lẽ để bác bỏ quan điểm của Hawking.

Một tờ báo viết: “Không có nhà khoa học lớn nào có thể an toàn với cậu bé này”.

Đến nay, William đã trải qua một năm nghiên cứu vật lý thiên văn. Một số người nói có thể trong hai năm nữa em sẽ bắt đầu viết sách về những gì em đã nghiên cứu. William tự tin nói: “Tôi đang chứng minh rằng chỉ có Chúa mới có khả năng sáng tạo ra vũ trụ này; dữ liệu của tôi là chính xác… Nghiêncứu của tôi đã tiến triển được 70% và ngay khi tôi hoàn thành tôi muốn chia sẻ nó với thế giới”.

Một tờ báo khác viết:

Khát vọng của William muốn trở thành một nhà vật lý thiên văn bắt nguồn từ đức tin mạnh mẽ của em. William không tán thành với những lý thuyết của Einstein và Hawking về lỗ đen và có quan điểm riêng của mình để chứng minh sự ra đời của vũ trụ.

Là con trai của một linh mục Chính thống giáo Hy lạp, William muốn chứng minh rằng một lực bên ngoài vũ trụ là thứ duy nhất có khả năng sáng tạo ra vũ trụ, điều đó có nghĩa là “Chúa thực sự tồn tại”. Điều này hoàn toàn trái với tư tưởng của Stephen Hawking. Nhà vật lý nổi tiếng này nói:

Trước khi chúng ta hiểu khoa học, điều tự nhiên là chúng ta tin rằng Chúa sáng tạo ra vũ trụ, nhưng hiện nay khoa học cung cấp một sự giải thích thuyết phục hơn. Cái mà tôi ngụ ý khi nói ‘chúng ta sẽ biết được ý Chúa’ là chúng ta sẽ biết được mọi thứ mà Chúa có thể biết, nhưng không có Chúa. Tôi là một người vô thần[1].

Cha mẹ của Williams nói họ không bao giờ thúc ép con trai mình nghiên cứu hoặc cố gắng chứng minh Chúa, mà chỉ mong con mình là một cậu bé 11 tuổi “bình thường”. “Chúng tôi là những người bình thường”, ông Peter giải thích. “Và William là một cậu bé bình thường. Bạn không thể phân biệt nó với những đứa trẻ 11 tuổi khác. Nó thích thể thao, các chương trình TV, computer và video games như mọi đứa trẻ khác”.

Nhưng thực tế William vẫn khác với những đứa trẻ cùng tuổi khác: định hướng chủ yếu cho cuộc sống của William hoàn toàn rõ ràng. Khi hỏi “ước mơ” của em là gì, cậu bé thần đồng khồng do dự trả lời.

Em muốn trở thành một nhà vật lý thiên văn để làm sao có thể chứng minh cho thế giới khoa học rằng Chúa thực sự tồn tại”, William nói trong một cuộc phỏng vấn mới đây tại Đại học Hellenic College Holy Cross.

Khi được hỏi tại sao cậu cảm thấy cần phải chứng minh điều đó cho các nhà khoa học, William trả lời sâu sắc hơn:

Vâng, bởi vì có những nhà khoa học vô thần cố nói rằng không có Chúa, trong khi trên thực tế thì để tin không có Chúa phải có nhiều đức tin hơn là tin có Chúa… Bởi vì có một cái gì đó tạo ra vũ trụ sẽ hợp lý hơn là vũ trụ tự tạo ra nó. Để nói rằng vũ trụ tự tạo ra nó đòi hỏi phải có nhiều đức tin hơn là nói rằng có một cái gì đó bên ngoài vũ trụ tạo ra vũ trụ, bởi vì như thế sẽ logic hơn[2]

 

 

 

 

 

 

Điều lạ lùng là ham muốn của William về việc chứng minh sự hiện hữu của Chúa đã xuất hiện ngay từ “khi em mới khoảng 5 hoặc 6 tuổi”, William bộc lộ, và mong muốn này đã dần dần tiến triển thành một lý thuyết phức tạp mà em hy vọng một ngày nào đó sẽ chứng minh được. Em nói rõ ràng là “khoa học và thần học không tách biệt với nhau… tri thức khoa học là một quà tặng từ Chúa, giống như mọi quà tặng khác. Chúng ta phải học hỏi thêm về đức tin của chúng ta và về việc chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ… Chúng ta cần trau dồi tài năng của chúng ta, quà tặng mà chúng ta đã nhận được từ Chúa, chứ đừng chôn vùi nó”.

Sẽ là quá sớm để khẳng định một điều gì về tương lai của William Maillis. Nhưng trực giác và sự hiểu biết của tôi nói với tôi rằng William sẽ thành công, vì quan điểm của em phù hợp với Định lý Bất toàn của Kurt Gödel.Điều lạ lùng là ham muốn của William về việc chứng minh sự hiện hữu của Chúa đã xuất hiện ngay từ “khi em mới khoảng 5 hoặc 6 tuổi”, William bộc lộ, và mong muốn này đã dần dần tiến triển thành một lý thuyết phức tạp mà em hy vọng một ngày nào đó sẽ chứng minh được. Em nói rõ ràng là “khoa học và thần học không tách biệt với nhau… tri thức khoa học là một quà tặng từ Chúa, giống như mọi quà tặng khác. Chúng ta phải học hỏi thêm về đức tin của chúng ta và về việc chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ… Chúng ta cần trau dồi tài năng của chúng ta, quà tặng mà chúng ta đã nhận được từ Chúa, chứ đừng chôn vùi nó”.

2/ Định lý Gödel ủng hộ quan điểm của William

Trước hết, William hoàn toàn đúng khi bác bỏ quan điểm của Hawking về “vũ trụ có thể tự tạo ra nó từ hư không”. Không rõ lập luận của William thế nào, nhưng theo Định lý Gödel thì quan điểm của Hawking là sai lầm, vì cái hệ thống VŨ TRỤ TỰ TẠO RA VŨ TRỤ của Hawking chính là một HỆ THỐNG TỰ QUY CHIẾU (Self-Referential System).

Theo Định lý Gödel, mọi hệ tự quy chiếu đều dẫn tới mâu thuẫnChính Hawking, trong bài báo “Gödel và Sự kết thúc của Vật lý[3] đã nói rằng các lý thuyết vật lý về vũ trụ đều là những hệ tự quy chiếu, và do đó sẽ không nhất quán và không đầy đủ. Nói cách khác, không bao giờ có một lý thuyết nào có thể mô tả vũ trụ một cách đầy đủ và chính xác.

Vậy giả thuyết VŨ TRỤ TỰ TẠO RA VŨ TRỤ là giả thuyết về một hệ vũ trụ tự quy chiếu, do đó giả thuyết ấy ắt sẽ dẫn tới mâu thuẫn.

William Maillis càng đúng hơn nữa khi em khẳng định rằng chỉ có một lực bên ngoài vũ trụ mới có thể tạo ra vũ trụ. Ý tưởng này cũng hoàn toàn phù hợp với Định lý Gödel.

Định lý này nói rằng một hệ A không thể tự phán xét nó một cách đầy đủ và nhất quán. Muốn phán xét một hệ A một cách đầy đủ hơn và chính xác hơn, phải đi ra ngoài A.

Vậy muốn “phán xét” vũ trụ phải đi ra bên ngoài vũ trụ. Hiểu rộng ra, có thể nói, muốn TẠO TÁC VŨ TRỤ phải có một TÁC ĐỘNG TỪ BÊN NGOÀI VŨ TRỤ.

Thuyết đa vũ trụ dường như cũng tìm cái bên ngoài vũ trụ. Nhưng vì họ không thừa nhận Chúa nên buộc họ phải sáng tác ra các thế giới vật chất bên ngoài vũ trụ. Đó là cái mà họ gọi là những “vũ trụ khác” hay “vũ trụ song song”. Đó là GIẢ THUYẾT TƯỞNG TƯỢNG 100%, KHÔNG THỂ VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ KIỂM CHỨNG ĐƯỢC. Chỉ có những người mắc bệnh tôn sùng khoa học một cách mù quáng mới tin vào những giả thuyết siêu hình đó. William Maillis hoàn toàn đúng khi nói rằng để tin vào những giả thuyết hoang đường đó, phải có nhiều đức tin hơn là tin vào Chúa.

Tôi không rõ William Maillis đã biết đến Định lý Gödel hay chưa. Tôi sẽ tìm cách liên lạc với em để thông báo cho em rằng Định lý Gödel sẽ là trợ thủ đắc lực cho em để hạ bệ các giả thuyết siêu hình của Hawking và ủng hộ lý thuyết của chính em.

  PVHg 12/04/2018

CHÚ THÍCH

[1] Before we understood science, it was natural to believe that God created the universe, but now science offers a more convincing explanation,” once said the renowned physicist. “What I meant by ‘we would know the mind of God’ is we would know everything that God would know if there was a God, but there isn’t. I’m an atheist

[2] Well because there’s these atheists that try to say that there is no God, when in reality it takes more faith to believe that there’s no God than it does to believe that there is a God… Because it makes more sense that something created the universe than that the universe created itself. It takes more faith to say the universe created itself than to say something other created the universe because that is more logical

[3] Đã đăng trên Khoa học & Tổ quốc Tháng 04/2012

NGUỒN TÀI LIỆU:

 From: Cam Tuyet & Nguyen Kim Bang

Southwest tặng hành khách chuyến bay bị nổ động cơ $5,000/người

Southwest tặng hành khách chuyến bay bị nổ động cơ $5,000/người

Hành khách trên chuyến bay 1380 của Southwest Airlines. (Hình: Marty Martinez via AP)

DALLAS, Texas (NV) – Một số hành khách đi trên chuyến máy bay Southwest Airlines số hiệu 1380 nhận được chi phiếu $5,000, sau khi một động cơ của máy bay chở họ bị nổ làm máy bay phải đáp khẩn cấp xuống Philadelphia.

Chiếc máy bay này hôm Thứ Ba phải đáp khẩn cấp sau khi bay được 20 phút từ New York đến Dallas.

Mảnh vụn của động cơ bị nổ làm bể kiếng một cửa sổ, làm bà Jennifer Riordan gần như bị hút ra khỏi máy bay.

Một số hành khách tìm cách kéo bà lại vào bên trong máy bay, nhưng bà qua đời sau đó tại một bệnh viện ở Philadelphia.

Trong một lá thư gởi cho các hành khách của chuyến bay, Southwest bày tỏ “lời xin lỗi chân thành” vì tai nạn xảy ra, đồng thời kèm theo tấm chi phiếu, ông Kamau Siwatu, hành khách đi trên chuyến bay này, nói với CNN.

Ông Siwatu là một trong ít nhất ba hành khách nhận được lá thư của Southwest.

“Chúng tôi trân trọng quý vị, hành khách của chúng tôi, và hy vọng quý vị cho chúng tôi một cơ hội lấy lại niềm tin của quý vị đối với Southwest trong lúc quý vị tin tưởng chúng tôi khi cần đi lại,” lá thư gởi cho ông Siwatu nói như vậy. “Trong tinh thần này, chúng tôi gởi quý vị một tấm chi phiếu $5,000 để quý vị có thể chi trả cho bất cứ nhu cầu tài chánh cần thiết nào.”

Ngoài số tiền này, hành khách còn được một “voucher” trị giá $1,000 để đi máy bay Southwest, lá thư cho biết.

Chuyện hãng máy bay tặng tiền hành khách như trong trường hợp này là điều không lạ, theo bà Mary Schiavo, chuyên phân tích về hàng không cho CNN.

“Số tiền này nhiều khi để hành khách chi trả cho dịch vụ cố vấn hoặc các nhu cầu khác,” bà Schiavo nói.

CNN có tìm cách liên lạc Southwest Airlines để phỏng vấn, nhưng chưa được hồi âm. (Đ.D.)

Nghĩ về 30/4 _TS.Mai Thanh Truyết .

Nghĩ về 30/4 _TS.Mai Thanh Truyết .

TÁC PHẨM-TÁC GIẢ – TIẾN SĨ MAI THANH TRUYẾT

 

Mài gươm mãi đến bao giờ nhỉ

Bao giờ chém chết nỗi đau thương

Nỗi đau vẫn đó ngày Quốc Hận

30 tháng 4 sông núi ngẩn ngơ!

Thơ Huỳnh Công Ánh

 

Không biết tự lúc nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng tôi dường như chùng xuống. Trước khi về hưu vào năm 2012, công việc hàng ngày vẫn chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho dịch vụ tư vấn về môi trường của tôi, cũng như thì giờ cho các buổi phỏng vấn hay ngồi suy tư và viết bài hoặc đi đó đi đây…tôi đã cảm nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi. Nhưng bây giờ, mặc dù đã giã từ nợ cơm áo, nhưng niềm u uẩn trên vẫn tiếp tục còn trong tôi ngày càng…dai dẳng hơn thêm, càng cô đọng hơn nữa đến nỗi nhiều khi tôi chỉ muốn nói… một mình!

 

  1. Tại sao lại có hiện tượng như vậy trong tôi?

 

 

Có lẽ, vì tuổi đời ngày càng cao, và niềm hy vọng về một ngày mùa xuân nở hoa trên quê hương còn xa vời vợi…cho nên nỗi buồn của tôi càng thêm ray rứt và điểm thêm đôi nét tuyệt vọng trong tâm tư?

 

Mà cũng có lẽ, theo lời của một người bạn xưa, Ngộ Không nhận xét về tôi trong bài “Thằng… chào cờ” là: “Thêm một lần với biệt hữu thiên địa phi nhân gian, và ông hiểu là gã làm như đang sửa soạn cho một chuyến đi xa… Lại thêm một lần sau ánh mắt xa vắng như vắt ngang dòng sông Bến Hải đang lặng lờ với nước chẩy đôi dòng. Dòng sông vẫn tiếp tục trôi đi, ở giữa dòng có một giải phân cách ý thức hệ tích tụ đã bao năm. Cùng một cảm hoài, ông cảm thấy thanh thản ở cái tuổi cổ lai hy nên hiểu được cuộc đời là dòng sông đã gần đến cửa biển. Mà biển là tàng thức chứa chấp mọi nhân sinh. Thời gian trên những dòng sông chính là những mảnh đời. Qua ánh mắt thằng Nam Kỳ quốc dường như đã mệt mỏi. Ông nhìn thấy ánh mắt ấy vắt qua một khoảng không gian nào đó mà gã đã từng hoài bão, kể cả những hoài vọng thầm kín như giấc mơ của một đời người với … mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự, giầy cỏ, gươm cùn ta đi đây. (Nguyễn Bính)”.

 

– Bỏ qua những ngày tháng nghiệt ngã còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên sau 30/4/1975, phải thành thật mà nói, lúc đó tôi không có thì giờ để “buồn” như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mãi lo “tìm đường ra đi” (cứu nước?) cho một gánh nặng với 4 đứa con dại…

 

– Bỏ qua những năm đầu tiên sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy cũng như không có thì giờ để buồn…như nỗi buồn hôm nay vì một đời sống tạm dung nơi xứ người.

 

Nhưng chỉ trong vòng 30 năm trở lại đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường, tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn đó càng se sắc hơn, ngậm ngùi hơn, vì nghiệm thấy con đường mình đang đi vẫn còn quá xa…mà ước mơ một ngày Việt Nam ơi! Quê hương réo gọi – Những người con Việt hẹn nhau về – Chung vai vá lại dư đồ rách – Cùng nhau xây đắp mảnh Tình Quê …vẫn còn quá xa…

 

  1. Buồn để mà buồn một mình!

 

Không thể nào nói tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do:

 

 

– Đất Nước còn điêu linh,

 

– Và Bà con mình vẫn còn chìm đắm trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

 

Nhìn lại những ngày bắt đầu từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình hình… mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối, nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi đô la, làm…áp phe, hay do là tin tức tìm đường ra đi. Tin tức đồn đãi nhiều khi trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn.

 

Nhưng nỗi buồn của tôi thực sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau khi làm “thủ tục”…ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của một “ông giáo trẻ” đầy nhiệt huyết, mà khi về lại Việt Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt Nam. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975.

 

Tới thứ hai tuần sau đó, vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng tư, lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi gặp mấy anh chàng “CIA” trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà vừa xuống chợ Tây Ninh, cho tôi biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi lại thêm một lần “phiêu diêu” nữa.

 

 

  1. Đi? hay Ở?

 

Hai chữ nầy ám ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày 30/4 năm đó.

 

Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn trong đầu. Hình ảnh một ông giáo già đã về hưu từ lâu, căm cụi viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu diện gửi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp, để con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm trời sau khi tôi du học bên Pháp cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày chủ nhật và thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba viết trước khi nhận được điện tín của anh tôi.

 

 

Còn Má tôi. Một người mẹ già gặp lại và sống với con chưa đầy hai năm…sau khi tôi về nước. Mà cũng chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những “đam mê” cho cuộc sống, mải mê chuẩn bị cho con đường “công danh” của mình… thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có lỗi với má tôi nhiều và nỗi ân hận vẫn còn ray rứt mãi trong tôi. Và giờ đây, khi viết những dòng chữ nầy, tôi chỉ còn biết mỗi đêm nhìn ảnh mẹ để sám hối.

 

 

Trở lại thời gian giữa tháng 4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trang nửa Ở nửa Đi.

 

– Đi không đành cũng vì mẹ già đơn côi.

 

– Đi không đành cũng vì bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ níu kéo lại để làm một “cái gì” cho quê hương.

 

– Và đi cũng không đành vì một suy nghĩ non dại (mà chắc cũng có nhiều người suy nghĩ như tôi), đó là “Mình có thể đối thoại với người cộng sản, vì trước khi họ là cộng sản, họ cũng là người Việt Nam với đầy đủ dân tộc tính; vì vậy mình có thể hợp tác được”.

 

Một khi đã biết sai lầm thì đã muộn, tôi phải trả cái giá gần 8 năm trong nhà tù lớn Việt Nam dưới chế độ nầy. Biết là sai lầm trong giai đoạn đó, nhưng tôi không bao giờ hối hận vì quyết định trên. Vì sao? Vì chính cái sai lầm oan nghiệt nầy đã làm cho tôi hiểu được người cộng sản Bắc Kỳ như thế nào…và chính điều sau này làm cho tôi dứt khoát hơn là chúng ta, những người con Việt hiền hòa không thể nào sống chung với những người luôn mang não trạng chuyên chính vô sản và không có tình người.

 

Cái sai lầm nầy cũng giống như cái sai lầm của người thầy giáo Tạ Ký dạy Văn chương của mái trường thân yêu của người miền Nam; đó là Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, mà thời tôi đi học có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký – LPK. Anh Ký khi đi “tù” về cùng ngồi uống rượu với Gs Tôn Thất Trung Nghĩa bên Trường Luật và tôi tại Chợ Đuổi nằm tại góc đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp năm 1981 như sau:“Hai mươi năm mới biết chuyện xưa lầm. Thì tuổi trẻ đã biến thành uất hận!”

 

Chiều thứ hai 28/4, khi một tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây, vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương) dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn vong niên trên cư xá giáo chức ở đường Tự Đức. Đó là GS Nguyễn Văn Trường, vừa qua đời ngày 3/1/2018 tại Houston.

 

 

Ngay từ những ngày đầu còn chập chững bước vào ngưỡng của trường ĐH Sư Phạm Sài Gòn với tâm thức đầy tự tin, Anh đã từng khuyên tôi:”Cuộc sống vốn bất toàn. Vì thế mà con người cầu toàn. Vì cầu, và muốn cho bằng được, cho nên mới có thất vọng. Cuộc sống vốn vô thường, không ngừng biến đổi. Nhưng ta lại muốn ngưng giòng đời, gói nó trong những ước vọng của ta, cho nên mới có khổ đau. Vọng tâm là duyên tạo thành, và biến đổi tùy duyên, ta lại đồng nhất mình với nó, cho nó là chân lý, căn cứ vào nó để phê phán thiệt hơn, đúng sai, phải trái. Thế thì làm sao ta không nhìn sai lệch, không sống trong giả tưởng của vọng. Cho nên, nhà Phật dạy vô trụ. Đừng trụ vào bất cứ một niệm nào, Đừng trụ vào Phật Tánh, Chân Tâm, Thiên Đàng, Địa Ngục. Đừng trụ ngay cả vào cái ý niệm vô trụ”.

 

  1. Tôi đã chứng kiến được gì và đã học được gì?

 

Xin ghi lại vài dòng để chiêm nghiệm nỗi đau thương, nhục nhằn của những người con Việt trước cảnh quốc phá gia vong trong những ngày cuối cùng của Miền Nam. Đó là:

 

– Hình ảnh một Trung tá TQLC chạy từ Đà Nẵng về nhà người anh cũng ở cùng cư xá, hình ảnh giọt nước mắt lưng tròng khi anh cổi chiếc áo trận và cắt từng nút áo cũng như hai bông mai bạc trên cầu vai. Anh nói với người anh qua giọt nước mắt và trong từng tiếng nấc “Anh xem như em đã chết ngày hôm nay”;

 

– Hình ảnh từng đoàn trực thăng Mỹ chiếu đèn sáng rọi vào mặt chúng tôi trên sân thượng của cư xá trong lúc tháo chạy và chở người di tản đi ra hạm đội;

 

– Hình ảnh những người lính tôi không còn nhớ Dù tiếp tục chiến đấu ở cầu Phan Thanh Giản trên con đường đi ra Ngã tư Hàng Xanh. Tiếng súng bắt đầu ngay sau khi tướng Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 37 phút sáng 30/4. Và tiếng súng chỉ im lặng lúc xế trưa, có nghĩa là tất cả anh em binh sĩ đã chiến đấu cho đến quả lựu đạn cuối cùng.

 

Chuyện ĐI và Ở đã được tôi quyết định ở khúc quành định mệnh nầy, không khác chi khúc quành của nhân vật Thiệu “phải” rời bỏ khúc quành của con sông Đuống đầy kỷ niệm tuổi thơ với Yến, người bạn thời trẻ thơ mà sau nầy trở thành…người tình muôn thuở cho đến cuối đời, để di cư vào Nam tìm tự do. (trong quyển tiểu thuyết “Dòng sông định mệnh” của nhà văn Doãn Quốc Sĩ).

 

  1. Những ngày sau đó

 

Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh trên radio yêu cầu (bắt buộc thì đúng hơn) mọi công chức phải đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó, tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện vào Trường Sư phạm xem tình hình.

 

Mọi sự có vẻ êm xuôi vì “họ” chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số “cơ sở” địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và làm đảo lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một ngày, nay đã mang “băng đỏ cách mạng” từ cung cách hướng dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng phỉ nhổ nhứt là những người nầy ngày nào thưa anh, xưng em với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẻn. Có những chị giáo sư thước tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chân bàn đạp ga xe nữa. Thế mà, rốt cuộc, họ cũng phải liều thân vượt thoát và hiện đang sống rải rác tại Canada, Hoa Kỳ, Pháp, và Úc châu. Thật là nẽ bang cho chính họ!

 

Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời gian chưa đầy hai năm ngắn ngủi của tôi, đã xem tôi như “thần tượng” mặc dù biết rằng tôi đã lập gia đình rồi, thường xuyên đi ăn uống chung. Tết đến, cô cũng không quên hái vài trái xoài trước nhà để biếu tôi, thậm chí đã dám cùng tôi “nhậu thịt chó” nữa…Người đó bây giờ là một “công thần” của chế độ. Chính là Tôn Nữ Thị Ninh.

 

– Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt I ngày 22/9/1975, đổi 1Đ tiền “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam” tức tiền “ngân hàng Việt Nam” lấy 500Đ tiền Việt Nam Cộng Hòa hay “tiền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam”. Người dân chỉ đổi được mỗi gia đình 100.000Đ mà thôi.

 

– Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt II ngày 3/5/1978, đổi 1Đ “tiền thống nhứt XHCN” tức tiền “ngân hàng nhà nước” lấy 1Đ tiền “ngân hàng Việt Nam” và mỗi gia đình chỉ được đổi 100Đ mà thôi.

 

 

– Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt III ngày 14/9/1985, đổi 1Đ tiền ngân hàng nhà nước cũ lấy 1Đ tiền ngân hàng nhà nước mới (tiền thống nhứt Bắc Nam).

 

– Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt I ngày 11/9/1975, cướp của và tịch thu nhà những người được cho là tư sản cùng bắt đi vùng kinh tế mới. Chiến địch nầy gọi là X1;

 

– Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt II, tức chiến dịch X2, từ tháng 3/1978 tới cuối năm 1990 nhắm vào tư sản tiểu thương, những nhà tiểu thủ công nghệ, ước tính trên 14.000 gia đình tại Sài Gòn;

 

 

– Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt III tức chiến dịch X3, song hành với chiến dịch X2 tại Sài Gòn nhằm mục đích trục xuất người củ ra khỏi nơi ở và điền khuyết vào bằng gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Đây là một âm mưu thâm độc nhằm “Bắc kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Tính đến tháng 9/1989, ước tính có đến 950.000 người bị đuổi khỏi Sài Gòn, và có khoảng 150.000 gia đình cán bộ Bắc kỳ được điền khuyết vào;

 

– Làm sao tôi quên được những đợt bị bắt buột đi “học tập cải tạo”, đáng kể nhứt là đợt cuối cùng vào tháng 6/1975, kêu gọi công quân cán chính tập trung mang theo lương thực cho một tháng…để rồi tất cả bị lường gạt và phải chịu lao động khổ sai từ một hai năm cho đến hơn 17 năm đối với những cán bộ hành chánh và quân đội cao cấp của Việt Nam Cộng hòa…. 

 

  1. Những ngày hôm nay và sắp tới

 

Một người bạn trong nước vừa viết những nhận định của anh về CSBV như sau:

 

– Cuộc Cách mạng Môi trường hiện tại chưa phải là “ý chí của cả dân tộc”, đứng dậy, dứt khoát và trực diện “đối đầu” với một đảng độc tài đang đi dần đến sự tự hủy! Vì vẫn còn nhiều chữ “nếu” “nếu toàn dân đã ý thức được vận mệnh đất nước, tương lai của mình mà nổi dậy, biểu tình lớn thì …”

 

– Thế trận hiện tại trong nước: Thành phần trong Đảng CSBV chống đối với nhau tới cùng …” chứ không hẳn phải “thành phần thứ ba luôn “quyết tử” với đảng …”

 

– Đảng viên: niềm tin lý tưởng đảng Cộng sản hiện nay không phải là mối liên kết hay trở lực lớn, vấn đề chính chi phối mọi người là quyền lực và quyền lợi. Lý tưởng đảng hiện nay đã trở nên vật trang trí rẻ tiền cho toan tính quyền lợi…”

 

– Lớp cầm quyền: Lớp lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, Lớp doanh nhân ăn theo, Lớp hy vọng hưởng lợi, Lớp công lực: công an, quân đội;

 

– Tầng lớp muốn thay đổi: cuộc sống bế tắc, ủng hộ thay đổi;

 

 

– Người Việt trong nước: Đây là một trở lực lớn khi mà người dân trong nước sau bao nhiêu năm sống trong môi trường thiếu tin tức, đã bị nhiễm độc âm mưu tuyên truyền của Cộng Sản, xem những thành phần chiến đấu cho dân chủ tại Hải Ngoại là hoạt động chống phá nhà nước, rước ngoại bang để chịu hàng phục làm nô lệ! Tuy nhiên, ngoài lực cản như trình bày thì lực lượng trí thức của người Việt nước ngoài đông đảo mang nguồn tư tưởng dân chủ tiến bộ là một nguồn lực vô cùng quí giá sẵn sàng cổ vũ sự thay đổi, xây dựng lại đất nước sau ách toàn trị.

 

– Quốc nội: Số ít chưa nhận ra đại họa Tàu Cộng. Trong số Dân đã nhận thức được đại họa của Quốc Dân, thì đa số Dân quá ù lì thụ động, kể cả hàng ngũ Chức Sắc các Tôn giáo, Nhân sĩ, Trí thức, chỉ thở dài thất vọng hoặc khóc, mà không biết nên làm gì (?)

 

– Cái khó là nhìn thấy hướng đúng, hướng phù hợp với từng người! Cái khó vạn nan kế tiếp là hăng hái bước lên đi vào hành động.

 

Qua sự nhận xét của một người con Việt trong nước cùng với những lời biện bạch trên, người viết xin diễn lại bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong những ngày quốc phá gia vong và suy nghĩ miên man sau 43 năm trong cuộc hành trình chưa thấy …Điểm đến!

 

Xin chia xẻ cùng bà con. 

 

Đây không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình.

 

Nơi đây tôi chỉ muốn nói lên vài điều suy nghĩ của một người con Việt mà thôi.

 

Đó là:

 

– Đừng bao giờ mơ tưởng những người Việt cộng sản Bắc kỳ là người Việt Nam.

 

Và để thoát khỏi ý nghĩ tiêu cực trong những ngày đau thương của Đất và Nước, tôi tự điều hướng cho chính mình cần phải hành xử trong tương lai như:

 

– Đứng trước quá khứ, hãy ngả mũ. Đứng trước tương lai, hãy XẮN TAY ÁO (H.L.Mencken) và chúng ta phải tiếp tục giữ lửa Quê Hương trong lòng mãi mãi.

 

 

– Lời ca của cố nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã kéo tôi về với thực tại, bài “Không phải là lúc”, bắt đầu bằng “Không phải là lúc ta ngồi đặt vấn đề”, để rồi kết thúc bằng một quyết tâm dứt khoát “…Làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và mê, cứ bắt tay gan lỳ, chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây nghĩ lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết khi nào mới làm xong!”

 

Và cũng chính vì mang quyết tâm trên mà tôi vẫn “Không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn đứa con Việt nầy dứt khoát đặt vấn đề những người đang tàn phá Đất và Nước của Ông Cha để lại.

 

Và tôi ”đặt vấn đề” với người Cộng sản Bắc Kỳ, đã và đang chấp nhận và tiếp tục đóng vai trò “thái thú biết nói tiếng Việt” cho Trung Cộng thực thi “Đại Họa Mất Nước” để hoàn tất công cuộc Bắc thuộc lần thứ V.

 

 

Nhưng tôi cũng không quên dứt khoát đặt vấn đề với những kẻ cuối đời vẫn còn bon chen – danh lợi, bất kể cố ý hay vô tình, bị rơi vào cái bẫy lợi danh của Cộng sản, cái bẫy của “cây gậy và củ cà rốt” với cây gậy đập trên đầu mà củ cà rốt vẫn không cho ăn, cái bẫy của Cộng sản muốn mượn tay người Quốc gia “bôi đen” người Quốc gia chống Cộng, cái bẫy “gây rối cộng đồng” do những tay ăn bã của cộng sản; những kẻ dễ đánh mất thân phận làm “người” của mình, bất kể đó là loại “người” gì; lắm khi đó là những con “ếch” muốn làm con “bò”, cho dầu “ếch” hay “bò”, “nhỏ” hay “lớn”, vẫn không phải là… “người”.

 

 

Xin ghi lại và góp phần vào những Ngày Buồn Tháng Tư của những người con Việt.

 

Mùa Quốc hận tại Ottawa ngày 30/4/2018

 

  1. Mai Thanh Truyết 

   © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

    © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam