“NÌNH ÔNG”XỨ MÍT THỜI NAY

              “NÌNH ÔNG”XỨ MÍT THỜI NAY

                                            Quốc Trần

        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mấy  bạn Úc đi Việt Nam CS về kể đủ thứ chuyện.

Mình hỏi một đứa:“Mày đi Việt Nam, cái gì làm cho mày ngạc nhiên nhất?”

Nó trả lời không hề đắn đo: “Quán nhậu!”

Mình hỏi: “Tại sao mày ngạc nhiên chuyện quán nhậu?”

Nó nói: “Tao đi gần hết thế giới, chưa thấy có quốc gia nào nhiều quán nhậu như ở Việt Nam CS. Tao đi từ Hà Nội vô tới Sài Gòn, dừng lại ở Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, không có thành phố nào mà không tràn ngập quán nhậu. Ở Ireland, nơi tao sinh ra và ở Úc, quê hương thứ hai của tao, mỗi thị trấn chỉ có một cái pub và dăm ba cái clubs, có thị trấn không có club. Đó là Úc và Ireland được xếp loại là dân uống rượu có tầm cỡ thế giới. Ở Việt Nam CS thì pub và club khắp nơi !.”

Mình hỏi: “Mày nghĩ quán nhậu ở Việt Nam CS nhiều như vậy là không tốt?”

Nó đáp: “Tất nhiên! một xã hội mà thanh niên và thiếu nữ không biết đi đâu, không biết làm gì khác ngoài việc đi vào quán nhậu bất kể giờ nào, thì đó là biểu hiện của sự bế tắc ở cấp độ từng cá nhân, và nếu có vô số những đám đông với những cá nhân như vậy, đó là sự bế tắc của cả xã hội. Họ tìm đến với cồn để tạm quên những vấn đề trước mắt !.”

Mình hỏi thêm: “Vậy thì mấy cái chỉ số đo lường hạnh phúc các quốc gia là sai?”

Nó nói: “Đúng và sai !. Đúng ở chỗ, dân Việt Nam tỏ vẻ hạnh phúc khi họ ngồi trước ly bia, mà tạm quên những thử thách trước mắt, nhưng sai ở chỗ, họ vẫn phải đối diện với những thử thách sáng hôm sau !!!.”

——————-

Mình tự hỏi, tại sao một thằng Úc thòi lòi có thể thấy và có thể nhận xét về xã hội Việt Nam CS ở mức độ bản chất như vậy?

Hoàng Ngọc Diêu

Chị Lucie gởi

Cô giáo quỳ xuống, tôn nghiêm sụp đổ

Cô giáo quỳ xuống, tôn nghiêm sụp đổ

LĐO | 06/03/2018

Khi đôi chân cô giáo Nhung quỳ xuống trong sự quay lưng của hiệu trưởng nhà trường cũng là lúc bức thành trì “Tôn sư trọng đạo” đã bị xô ngã, ít ra là ở Trường Tiểu học Bình Chánh.

Huỳnh Phi Long shared a link.
 
 
Khi đôi chân cô giáo Nhung quỳ xuống trong sự quay lưng của hiệu trưởng nhà trường cũng là lúc bức thành trì “Tôn sư trọng đạo” đã bị xô ngã, ít ra là ở Trường Tiểu học Bình Chánh.
 
LAODONG.VN|BY BÁO LAO ĐỘNG
 

ĐỨC CHA CASSAIGNE: Một đời hy sinh cho làng phong cùi ở Di Linh

Đức cha CASSAIGNE: 

Một đời hy sinh cho làng phong cùi ở Di Linh

     ** Tiếng Khóc Trong Rừng

Bên cạnh Làng Cùi Di-Linh, tỉnh Lâm Ðồng, có ngôi mộ của Ðức Giám Mục Jean Cassaigne (Gioan Sanh,) vị sáng lập giáo xứ và làng cùi tại Di-Linh. Trên bia mộ Ðức Giám Mục De Cassaigne, có khắc hai dòng chữ sau đây:

“Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi”

Ngay sau khi Ðức Cha Jean Cassaigne tấn phong Cha Simon Hòa Hiền (cựu Giám Mục Ðịa Phận Ðàlạt) năm 1955, thay vì về lại Pháp là nơi Ðức Cha Cassainge đã lớn lên, Ngài đã trở lại để vui sống với anh em bệnh nhân trại cùi, một làng nhỏ chính tay Ngài tạo dựng mấy mươi năm về trước. Tại làng nhỏ bé này, Ngài vừa làm Cha sở, Thầy giảng, Giám đốc, Y tá, chăm nom chu đáo cho tất cả bệnh nhân mọi tôn giáo, trẻ già, với sự cộng tác nhiệt thành của các sơ dòng Bác Ái Vinh Sơn. Ngài quyết tâm sống chết với con cái cùi hủi của Ngàị

Trong cuốn “Lạc Quan Trên Miền Thượng” [1] do Linh Mục Giuse Phùng Thanh Quang viết vội vào năm 1972 về cuộc đời hy sinh cho người cùi của Ðức Cha Cassaigne, lúc Ðức Cha Cassaigne đang đau quằn quại thê thảm với những cơn đau khủng khiếp cuối đời. Một đời hy sinh thật cao quý của Ðức Cha Cassaigne mà có lẽ nay còn rất ít người có biết và nhớ đến.

Cha Cassaigne được thụ Phong chức Linh Mục năm 1925 tại chủng viện Rue du Bac của Paris. Qua Sài Gòn ngay sau đó và nhận nhiệm sở thí điểm truyền giáo vùng ma thiêng nước độc Di Linh (DJIRING) năm 1927. Ngài đã yêu thương những người “Mọi cùi” đến độ đã sống giữa người cùi, tắm rửa, săn sóc cho những người cùi, đã thương yêu họ cho đến khi họ chết. Cha Cassaigne đã kể một câu chuyện có lần Ngài giúp những người cùi thức ăn gồm có gạo, muối, và thịt naị Có một bà cùi hàng tuần đến lấy phần ăn, nhưng tuần đó không thấy đến. Cha Cassaigne đến lều tranh tìm bà thì thấy bà ta sắp chết với mủ nhớt nhầy nhụa, mùi hôi thối không chịu được xông ra từ mảnh thân héo tàn đáng thương xót nàỵ Cha vội lo dạy bà những điều về Thiên Chúa và hỏi bà ta có muốn Cha rửa sạch những tội lỗi để bà được lên Trời sau khi chết không? Người cùi đáng thương đồng ý được rửa tội và nói với Cha Cassaigne rằng:

“Cau dờng! Ăn rơp kăh dơ mê dỡ ăn gũh rê hơ trồ”
” Ông lớn ơi! Tui sẽ nhớ đến ông khi tôi ở trên Trời”

Cái chết tội nghiệp nhưng tốt lành của bà Thượng cùi đã làm khích động thật sâu xa tâm hồn Tông Ðồ của vị Linh Mục Thừa Saị Câu nói “Tôi sẽ nhớ Cha khi được ở trên Trời” là viên đá đầu tiên được đặt xuống để khởi đầu công cuộc thành lập làng cùi tại Di Linh.

Trong khoảng thời gian đó, ở miền Trung cũng như ở miền Nam nước Việt cũng có những trại cùi với số người bệnh tương đối ít. Trong khi ở vùng đất xa xôi có đến hàng trăm người cùi, lại không có chỗ cho họ ở. Theo lời Linh Mục Phùng Thanh Quang kể lại.

Một ngày cuối Thu năm 1928, trong chuyến đi thăm một làng Thượng xa, đang băng qua rừng vắng thì bỗng có tiếng chân nhiều người dồn dập từ trong vùng tối âm u, nhiều giọng la ú ớ kêu Ngài dừng lại. Những bóng dáng quái dị xuất hiện như một đoàn ma đói. Thân hình xác xơ, kẻ mất tay, người sức mũi, miệng chảy nước lòng thòng và tất cả hầu như què quặt. Họ mặc dù có người khập khiểng, có người vừa bò vừa lết, và đói, cố đuổi theo Cha bao vây lấy Ngài và tất cả đồng gào lên thảm thiết:

“Ơ cau dơng! Ơ cau dơng! Dăn nđàc sơngit bol hi!”
Ới ông lớn! Ới ông lớn! Xin thương xót chúng tôi!

Rồi tất cả sụp lạy Ngài và khóc rống. Cha Cassaingne vừa sợ hãi, vừa mủi lòng. Thì ra đây là nhóm người cùi bị xóm làng kinh tởm đuổi đi, họ tụ tập từng nhóm ngoài rừng xa, sống lây lất qua ngày để chờ chết. Có lẽ họ đã nghe lời đồn đãi về ông lớn làm thuốc và hay thương giúp người cùi này. Họ chờ Cha trên khúc đường vắng để nhờ Cha giúp đỡ. Vài ngày sau, đó, việc lập làng cùi Di Linh được xúc tiến ngay [3] Trong bài thuyết trình của Cha Cassaigne tại Sài Gòn năm 1943 về bệnh cùi khủng khiếp như thế nào, Ngài viết:

“Ở xứ Thượng cũng như hầu hết các xứ vùng nhiệt đới, nơi mà sự ăn ở sạch sẽ và phương pháp vệ sinh ít được lưu ý, thì con số người mắc bệnh cùi khá cao. Khi mà có thể còn làm việc được thì người mắc bệnh cùi vẫn còn được sống chung với gia đình. Nhưng đến khi thân tàn ma dại không làm gì được nữa, nhất là khi các vết ung thối bắt đầu phá miệng lở loét ra, mủ máu vấy đầy khiến những người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được, thì dân làng đưa họ vào rừng, cất cho họ một túp lều tranh để người cùi ở lại đó một mình sống chết sao mặc kệ! Rồi yếu liệt cô đơn trong túp lều hiu quạnh, người cùi không còn sức làm gì nữa để kiếm ăn vì tay chân cụt mất rồi! Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết đi vì đói lạnh, mà chẵng có ai hay biết…”

Trước khi mắc bệnh, mỗi lần thuyết trình đến đây, cha Cassaigne không sao cầm được nước mắt, phần thì thấy thương những người xấu số, phần thì chắc Ngài cảm thấy lo âu sợ sệt như linh cảm thấy trước định mệnh sẽ đến, Ngài run sợ như chính mình đang mắc chứng bệnh nan y nàỵ

Các việc làm nhân đức của Cha Jean Cassaigne đã đưa Ngài từ một căn lều tranh để phục vụ người hủi tới tận tai Tòa Thánh La Mã. Ngài được bổ nhiệm chức Giám Mục và Ngài phải tuân lệnh Toà Thánh về làm việc tại Ðiạ Phận Sài Gòn. Trong hơn 14 năm giữ chức vụ này Ðức Giám Mục Cassaigne đã đôn đốc thực hiện công cuộc bác ái, cứu trợ vật chất, ủy lạo tinh thần cho những người gặp cảnh bất trắc nghèo khó, di cư tị nạn, không phân biệt địa phương hay tôn giáọ Vì nhớ đám dân cùi, Ngài xin từ nhiệm chức Giám Mục Sài Gòn để trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những đứa con cùi hủi của Ngài tại làng cùi Di Linh.

Vì sống một đời sống quá khắc khổ trong rừng nên Ðức Cha đã mang nhiều bịnh nặng. Từ năm 1929, Ngài đã mắc bịnh sốt rét rừng. Năm 1943, bịnh cùi đã đến với Ngài vì sống gần gũi với người bịnh; từ năm 1957, bịnh lao xương không thuốc chữa làm Ngài đau đớn, và năm 1964, bịnh lao phổi trở lại hành ha thân Ngài. Ðức Cha đau đớn tột cùng với những cực hình thể xác, nhưng luôn luôn vững lòng chấp nhận để xin Chúa thương mà giảm bớt cái đau của những người hủi tại Việt Nam. Những ai may mắn sống gần Ðức Cha thường được nghe Người nói:

– “Ðời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau, và chịu chết ở đây, giữa những người Thượng của tôi”
(Je ne demande que trios choses: tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de mes Montagnards).

Chúa đã nhận lời cầu xin của Ðức Cha, đã cho Ngài mang lấy bốn chứng bệnh nan y. Ðã giúp sức cho Ngài chịu đựng quá lâu dài. Những ngày cuối cùng tuy đau đớn, nhưng Người vẫn đọc kinh cầu nguyện cho nước Việt Nam, cho các người cùi. Người nói:

“Suốt 47 năm dài, Cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này, và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sự dâng hiến toàn diện ấy”.

Theo lời từ biệt của ông Nguyễn Thạch Vân, đọc trong lễ an táng Ðức Cha Cassaigne tại Di Linh ngày 11 tháng 5, năm 1973 kể lại, Cha Cassaigne còn nói:

“Việt Nam chính là quê hương của Cha, bởi vì Chúa muốn như vậy”.

Khi nói đến câu: “Nước Việt Nam là quê hương của tôi”. Ðức Cha chấp tay như để cầu nguyện, và Ngài khóc! Ðây là giòng lệ Thánh cầu nguyện của một Tông đồ Truyền giáo, đã tận hiến đời mình cho lớp người khốn khổ, bất hạnh nhất trên cõi đời này.

Năm 1972, Ðức Cha đã được trao tặng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương trên giường bệnh và đã qua đời tại Di-Linh ngày 31-10-1973.

From Tu-Phung gởi

Đức truy tố nghi can Nguyễn Hải Long trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

 

Đức truy tố nghi can Nguyễn Hải Long trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Đức truy tố nghi can Nguyễn Hải Long trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh
Ảnh: Oberfalzischer Netz

Viện Công Tố Liên Bang Đức quyết định truy tố nghi can tiếp tay cho mật vụ CSVN bắt cóc Trịnh Xuân Thanh hồi tháng 7 năm ngoái.

Tờ Thờibáo.de ở Đức dẫn lời bà Petra Schlagenhauf, luật sư của ông Thanh, cho hay như vậy hôm Thứ Năm. Bị cáo là Nguyễn Hải Long, 46 tuổi, quốc tịch Việt Nam. Ông Long sinh sống tại thủ đô Praha của Cộng Hòa Czech, có một văn phòng chuyển tiền MoneyGram trong khu chợ Sapa của người Việt. Ông Long bị cho là đã thuê chiếc xe minivan mà toán mật vụ CSVN sử dụng trong vụ bắt cóc. Chiếc xe được cho là đã chở ông Trịnh Xuân Thanh vào tòa đại sứ CSVN ở Berlin, trước khi chạy sang Praha. Các nhà điều tra Đức nghi ngờ rằng chính nghi can Nguyễn Hải Long đã tự lái chiếc xe này trong vụ bắt cóc ngày 23 tháng 7.

Phía Đức đã yêu cầu Czech cho dẫn độ Nguyễn Hải Long vào tháng 8. Ông Long bị tạm giam từ đó tới nay. Khi hạn tạm giam sắp kết thúc vào ngày 2 tháng 3, Viện Công Tố Liên Bang Đức quyết định truy tố thay vì phóng thích ông Long.

Khi ra tòa, ông Long sẽ chỉ được coi như là một đồng phạm trong vụ bắt cóc. Người bị cho là nghi can chính là trung tướng CSVN Đường Minh Hưng, phó tổng cục trưởng tổng cục an ninh, bộ công an. Truyền thông Đức cho rằng, tướng Hưng đã thân hành cùng hai giới chức tình báo cao cấp khác sang Berlin trực tiếp chỉ huy vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Huy Lam / SBTN

Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)

Xin phép được cầu nguyện Ơn Trên: Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, Đức Phật, các Đấng Tối Cao linh thiêng quan phòng ban phước lành ban sức mạnh cho Thượng Nghị Sĩ John McCain, một Vị Đại Ân Nhân của hàng trăm ngàn quân nhân và gia đình VNCH tỵ nạn chính trị trên đất Mỹ, được vượt qua bạo bệnh và phục hồi sức khỏe. Xin cảm tạ các Ngài. Amen.

*Dear Heavenly Father, please heal Mr. John McCain’s body and soul. May his pain cease, may his strength increase, may his illness be released. Please lay your healing hand on his body and remove every cancer cell so that he may be healed! May blessings, love, and joy surround him. Thank You, God! In Jesus’ name, Amen*

☆☆☆ 
****TNS John McCain là một người bạn trung thành của VN.****
****Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)****

Mặc dù bị cộng sản Bắc Việt tra tấn tàn bạo hơn 5 năm rưỡi trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội từ gần cuối 1967-1973, nhưng ông John McCain không hận thù. Ông và John Kerry đã là những người có công đầu trong việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và nhà cầm quyền Hà Nội 1995.

Người VN tị nạn CS ở Mỹ mang ơn ông. Hàng trăm ngàn quân nhân VNCH và gia đình được đưa đến Mỹ là nhờ nhiều đời tổng thống Mỹ, các tướng lãnh, các TNS, dân biểu Mỹ, và đặc biệt nhất là ông John McCain vận động để xúc tiến chương trình H.O. giúp quân nhân công chức VNCH được rời khỏi VN 1990-1998. Tu chính án John McCain là để giúp cho con cái của VNCH trên 21 tuổi đã có gia đình được định cư ở Mỹ sau thời gian H.O. nói trên.

Ông cũng là người đấu tranh mạnh mẻ cho nền dân chủ và tự do ở Việt Nam. Nhiều tù nhân chính trị VN đã được ông can thiệp ra khỏi tù sớm, và nhiều người khác được định cư tại Mỹ.

Ngày nay, người VN còn sống ở trong nước đỡ bị công sản đàn áp hơn trước đó là nhờ Mỹ quan hệ với VN dùng chính sách “cây gậy và cử cà rốt” để làm cho cộng sản bớt man rợ và văn minh hơn khi đối xử với dân chúng, và thúc đẩy nhà cầm quyền VN phải thay đổi đường lối. Đó cũng là nhờ công lớn của John McCain và các bạn bè của ông trong quốc hội Mỹ.

Theo đài SBTN.TV, ông John McCain đã vận động đem nhạc sĩ Việt Khang đến Mỹ ngày 8-2-2018. Từ giữa năm 2017 đến nay, ông bị ung thư, ông có bướu ở não nên phải điều trị chemotherapy. Ông bị ung thư da ở mặt đã hơn 20 năm rồi. Và ung thư da đã di căn tới não. Hiện nay, ông vẫn là thượng nghị sĩ.”

Trần Hoàng 
https://www.voatiengviet.com/a/thuong-nghi-si-…/3951605.html
☆☆☆
***Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)****

Đó là ngày 26-10-1967, tôi chuẩn bị cho chuyến oanh tạc miền Bắc Việt Nam lần thứ 23 của tôi từ sáng sớm – đó là trận đánh đầu tiên vào thủ đô của địch, Hà Nội.

Mục tiêu của chúng tôi là nhà máy nhiệt điện ở gần một cái hồ nhỏ giữa thành phố. Trên độ cao khoảng 9000 feet (2700 mét), khi chúng tôi chuyển hướng vào phía trong thành phố để tới mục tiêu thì đèn báo động lóe sáng và tín hiệu báo có ra đa địch bắt đầu vang lên lớn đến nỗi tôi phải tắt nó đi.

Tôi đã nhìn thấy khói và bụi bốc lên từ mặt đất như những đám mây khổng lồ khi hỏa tiễn đất đối không bắn vào chúng tôi. Chúng tôi càng tới gần mục tiêu, hệ thống phòng không càng ác liệt hơn. Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh một cái hồ nhỏ và tôi nhào ngay xuống đó vừa lúc tín hiệu báo động ngưng kêu để báo cho tôi biết là hỏa tiễn địch đang lao vào tôi.

Tôi biết là phải cho máy bay lăn vòng ra phía ngoài và dùng thao tác tránh né – bay “luồn lách” theo cách nói của các phi công – nhưng chính đó là lúc tôi sắp sửa thả bom, và nếu tôi bay luồn lách thì tôi sẽ không bao giờ có thời gian, và chắc chắn là cũng không có cả can đảm để bay trở lại mục tiêu, một khi tôi thoát được quả hỏa tiễn đó. Như vậy là từ độ cao 1000 mét, tôi thả quả bom, rồi tôi kéo cần lái trở lại để bắt đầu cho máy bay vọt thẳng lên một độ cao an toàn hơn.

Trong giây phút chớp nhoáng, trước khi máy bay bắt đầu phản ứng thì quả hỏa tiễn đã thổi tung mất cánh máy bay bên phải. Tôi biết là máy bay của mình đã bị hỏa tiễn bắn trúng. Chiếc máy bay A-4 của tôi đang bay với tốc độ khoảng 900 cây số/giờ, đã lao nhanh xuống mặt đất theo vòng xoáy trôn ốc. Khi bị trúng hỏa tiễn, tôi đã phản ứng một cách máy móc là với lấy và kéo cái cần bật của ghế ngồi. Tôi bị đập vào máy bay làm gãy cánh tay trái, ba chỗ của cánh tay phải, đầu gối phải và ngất đi. Những người chứng kiến nói rằng cái dù của tôi chỉ vừa mở là tôi rớt ngay xuống chỗ nước nông của hồ Trúc Bạch.

Ðồ trang bị trên người nặng khoảng 25 ki-lô, tôi chìm xuống đáy hồ, và chạm đất bằng cái chân còn lành của tôi. Tôi không hề cảm thấy đau khi chạm đáy hồ, và tôi không hiểu tại sao tôi không thể dùng cánh tay để kéo cái chốt áo cứu đắm của tôi. Tôi lại bị chìm xuống đáy hồ một lần nữa. Khi chạm đáy hồ lần thứ hai, tôi đã cố gắng để bơm phồng cái áo cứu đắm của tôi bằng cách dùng răng để kéo cái chốt của nó ra. Sau đó tôi lại bị bất tỉnh một lần nữa. Lần thứ hai bị chìm thì tôi được kéo lên bờ bằng những cái sào tre. Một đám đông khoảng vài trăm người Việt Nam bu quanh tôi, lột trần tôi ra, khạc nhổ vào mặt tôi, đá và đánh tôi.

Sau khi quần áo và đồ trang bị của tôi bị lột ra hết, tôi thấy đau nhói ở đầu gối bên phải. Tôi nhìn xuống thì thấy cái bàn chân phải của tôi nằm ngay cạnh đầu gối bên trái của tôi ở một góc 90 độ. Tôi bật kêu lên: “Trời ơi! Cái chân của tôi!”. Một người nào đó đã dùng báng súng phang mạnh vào tôi làm xương vai của tôi bị gẫy ra. Một người khác thì dùng lưỡi lê đâm vào mắt cá chân và háng của tôi. Một người đàn bà, có thể là nữ y tá, đã cố gắng thuyết phục đám đông không nên hành hạ tôi thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng các thanh nẹp tre để kẹp chân và cánh tay phải của tôi. Tôi cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm khi chiếc xe tải của quân đội tới chỗ tôi bị bắt.

Mấy người lính đặt tôi vào cái cáng, mang lên xe tải và lái đi vài khu phố tới một nhà tù được xây cất theo kiểu Pháp, đó là Hỏa Lò mà tù binh chúng tôi gọi là khách sạn Hilton Hà Nội. Khi cánh cửa sắt đồ sộ được đóng lại vang lên tiếng loảng xoảng phía sau tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy khiếp sợ ghê gớm như vậy. Hôm đó là ngày 26 tháng 10, năm 1967. Lúc đó tôi 31 tuổi, và là thiếu tá Hải Quân Hoa Kỳ khi máy bay của tôi bị bắn rớt. Suốt hai thế kỷ, thanh niên trong dòng họ tôi được dạy dỗ để ra chiến trường với tư cách là sỹ quan trong quân lực Hoa Kỳ.
.
Tôi là con và cháu của các sỹ quan Hải Quân, và cha của tôi tin tưởng rằng mỗi khi gặp nghịch cảnh, tôi phải noi theo những tấm gương mà cha tôi đã nêu lên. Mấy người lính dẫn tôi vào trong một xà lim trống, đặt cái cáng tôi đang nằm trong đó xuống sàn và phủ cái chăn lên mình tôi. Trong vài ngày sau, tôi sống trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Những người hỏi cung gọi tôi là tội phạm chiến tranh, và khai thác tin tức quân sự. Họ đánh đập tôi liên hồi, và tôi bắt đầu cảm thấy đau khủng khiếp ở những chỗ chân tay bị gãy. Tôi bất tỉnh sau vài cú đánh.

Tôi nghĩ, nếu mình có thể chịu đựng được, họ sẽ mủi lòng và đưa tôi đi bệnh viện. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi nhận biết tình trạng của tôi đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi bị sốt nóng và thời gian bất tỉnh trở nên lâu hơn. Tôi nằm trong cái vũng của những thứ do tôi nôn mửa cùng với những thứ do cơ thể tôi bài tiết ra, và đầu gối tôi đã bắt đầu sưng tấy lên khủng khiếp và bị biến màu đi. Nhân viên y tế gọi Zorba tới bắt mạch cho tôi. Tôi hỏi rằng: “Các ông sắp đưa tôi đi bệnh viện có phải không? Ông ta trả lời: “Không, quá trễ rồi”. Nỗi kinh hoàng về cái chết ập tới bất thần. Người Việt Nam luôn luôn từ chối điều trị cho những người bị thương trầm trọng.

Thật là hạnh phúc, tôi lại rơi vào cơn mê. Một lúc sau tôi tỉnh lại khi viên trưởng trại, một tên chó đẻ hèn hạ tên là Bug (Bắc) xô vào xà lim của tôi với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng rằng: “Cha của anh là một đô đốc có uy tín lớn, bây giờ chúng tôi đưa anh đi bệnh viện”. “Xin Trời ban phước cho cha tôi”. Thật không thể hiểu được nếu không nhìn thấy họ đã sung sướng biết bao khi bắt được con trai của một đô đốc và tôi hiểu rằng chính cái địa vị của cha tôi đã trực tiếp liên can đến sự sống còn của tôi. Tôi được chuyển đến một bệnh viện ở trung tâm thành phố Hà Nội.

Tới hai ngày sau đó, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng bẩn thỉu, muỗi “nhiều như trấu” và chuột nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn và nước đọng thành vũng trong sàn nhà. Không có ai lưu tâm đến việc giúp tôi rửa những cáu ghét nhầy nhụa trên thân thể tôi. Tôi đã bắt đầu phục hồi được trí não, và những người thẩm vấn đã tới bệnh viện để tiếp tục làm việc. Sự đánh đập cũng giới hạn trong thời gian ngắn bởi vì tôi đã thốt ra những tiếng kêu thét rợn tóc gáy khi tôi bị đánh và những người thẩm vấn tôi tỏ ra lo ngại rằng nhân viên của bệnh viện có thể phản đối họ. Cuối cùng thì tôi cho họ biết tên chiến hạm của tôi và số hiệu của hạm đội. Khi bị hỏi về những mục tiêu dự trù trong tương lai, tôi kể tên những thành phố đã từng bị oanh tạc. 
.

Ðầu tháng 12, họ giải phẫu chân phải của tôi, cắt hết các dây chằng ở một bên đầu gối, chỗ đó không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn được. Tới cuối tháng 12, họ quyết định cho tôi xuất viện. Tôi bị sốt cao độ, tiêu chảy và mất khoảng 25 ký lô, chỉ còn nặng 45 ký lô thôi. Ngực tôi vẫn còn bó bột và chân đau nhừ tử. Tôi bị bịt mắt, đặt trong thùng xe tải và đưa tới một nhà tù gọi là Ðồn Ðiền (The Plantation). Thật là một niềm khuây khỏa lớn lao cho tôi, vì được giam chung xà lim với 2 người tù khác là hai thiếu tá không quân “Bud” Day và Norris Overly.

Có một điều không thể nghi ngờ được là chính Bud và Norris đã cứu mạng sống của tôi. Sau đó hai người này đã nói ra cái ấn tượng đầu tiên của họ khi gặp tôi là thấy tôi sinh lực kiệt quệ, mắt lồi ra, đờ đẫn vì sốt, đó là một người đứng trước ngưỡng cửa của tử thần. Hai bạn đó nghĩ rằng người Việt Nam đợi cho tôi chết và giao tôi cho hai bạn đó săn sóc tôi để họ khỏi bị lên án nếu tôi chết. Bud đã bị thương nặng khi nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy bay. Sau khi bị bắt, anh ấy đã trốn thoát gần tới một phi trường dã chiến của Mỹ thì bị bắt lại. Bọn người bắt anh ấy đã dùng vòng thòng lọng bằng dây thừng để cuốn quanh vai của anh ấy rồi xiết thật chặt cho tới khi hai bả vai của anh ấy hầu như sắp chạm vào nhau, rồi trói hai cánh tay của anh ấy lại và treo anh lên xà nhà của nơi tra tấn làm hai vai của anh ấy bị xé rời nhau ra.

Tình trạng như thế kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ. Bud không bao giờ chấp nhận sự điều tra khai thác của người Việt Nam về những tin tức quân sự. Thà Bud để cho bọn đó đập gẫy cánh tay phải của anh lần thứ hai, đó là cánh tay vốn dĩ đã bị gẫy, và chúng còn dọa đập gẫy nốt cánh tay kia, chứ anh không hề cho chúng một mẩu tin nào. Vì những thương tích của Bud nên anh không thể giúp gì trong việc săn sóc thân thể của tôi. Norris là người có bản chất hòa nhã, nhẫn nhục, đã làm vệ sinh thân thể cho tôi, đút cho tôi ăn và giúp tôi đổ bô phân và nước tiểu.

Nhờ có hai người bạn này, tôi đã bắt đầu hồi phục. Tôi đã sớm tự đứng dậy và có thể dùng đôi nạng để đi lại trong cái xà lim đó.

Tháng 4 năm 1968, Bud bị chuyển đi nhà tù khác. Norris thì được trả tự do dưới cái gọi là “ân xá” và tôi còn bị giam riêng trong hai năm nữa. Mặc dầu tôi còn phải dùng đôi nạng để đi lại khập khiễng trong xà lim của tôi, hình dạng tôi vẫn còn thê thảm lắm, tôi không thể nhặt lên hoặc cầm bất cứ một cái gì. Bệnh kiết lỵ đã làm tôi khổ sở. Thức ăn và nước uống bị thải ra ngay tức khắc, và dạ dày bị đau quặn đã làm tôi rất khó ngủ. Cô độc là một vấn đề hãi hùng, nó đã đè bẹp tinh thần và làm suy yếu sức kháng cự của con người một cách có hiệu quả hơn bất cứ một hình thức hành hạ nào khác. Không có ai để tham vấn, con người bắt đầu nghi ngờ sự phán xét và can đảm của mình. Vài tuần lễ đầu tiên là gay go nhất.

Tuyệt vọng ập đến ngay tức khắc, và đó là một kẻ thù ghê gớm, tôi đã phải dựng lại trong trí nhớ những cuốn sách, những bộ phim mà tôi đã thưởng thức. Tôi đã thử viết sách và kịch bản về chính mình, trình diễn những chuỗi sự kiện trong cô đơn của xà lim. Tôi phải thận trọng ngăn ngừa trí tưởng tượng đã trở nên mãnh liệt đến nỗi thường xuyên đưa đẩy tôi tới một nơi trong tâm trí mà từ đó tôi không thể trở lại được nữa. Xà lim của tôi đối diện với phòng thẩm vấn ở bên kia sân. Giường nằm là một tấm ván, và một cái bóng đèn treo lủng lẳng trên sợi dây điện từ trần nhà thòng xuống. Bóng đèn thắp sáng suốt ngày đêm.

Cộng thêm với những khổ sở của chúng tôi là cái mái nhà lợp tôn đã làm tăng cái nóng của mùa hè lên khoảng 5 độ hoặc hơn thế.

Giữa tháng 6 năm 1968, viên trưởng trại gọi tôi tới gặp hắn, có bày ra bánh bích quy, thuốc lá và hỏi tôi có muốn về với gia đình không. Tôi muốn nói là có: Tôi bị mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ hãi. Nhưng cái quy tắc hành xử đã rõ ràng: “Những tù nhân Mỹ không thể chấp nhận tha có điều kiện, ân xá hoặc đặc ân”. Tôi nói là để tôi suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi hiểu việc phóng thích tôi sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cha tôi và các bạn đồng tù, và sau đó tôi được biết cái mà người Việt Nam hy vọng sẽ dành được. Ngày 4 tháng 7 cha tôi được thăng lên chức Tư Lệnh Thái Bình Dương.

Phía Việt Nam định chào mừng cha tôi bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí”. Hai tháng trôi qua, không có gì xảy ra. Và những đợt hành hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó 4 ngày. Từng đợt, bọn lính gác trở lại đánh đập tôi. Một tên giữ tôi cho những tên khác đánh đập túi bụi. Tôi bị gãy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân phải của tôi lại trở nên vô dụng, do đó tôi không thể đứng được. Tới đêm thứ ba thì tôi nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, tôi không thể chuyển động được.

Ba tên lính gác đỡ cho tôi đứng dậy rồi chúng đánh tôi cực kỳ khủng khiếp. Chúng để tôi nằm trên sàn nhà rên rỉ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gãy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát. Sau vài lần không thành công, tôi tìm cách để đứng dậy. Lật úp cái bô đựng phân và nước tiểu, tôi đứng lên đó, níu vào tường bằng cánh tay còn lành, tôi luồn cái áo của tôi qua cái cửa chớp và buộc thành vòng tròn. Khi tôi đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên lính gác nhìn thấy cái áo của tôi luồn qua cửa sồ, kéo tôi xuống và đánh tôi. Sau đó tôi lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ tư, tơi đành chịu thua.
.

Tôi đã ký vào bản tự thú rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và tôi đã thực hiện những công việc của một phi công”. Mấy tên lính gác bắt tôi cho thâu lời thú tội này vào trong băng ghi âm. Tôi từ chối, và bị đánh đập cho tới khi tôi đồng ý. Ðó là hai tuần lễ kinh khủng nhất trong đời tôi. Tôi rùng mình, như thể sự nhục nhã của tôi là một cơn sốt, và sẽ không còn ai nhìn tới tôi nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Việt Nam dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới chúng tôi, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để chúng tôi bị chết. Chúng tôi tin chắc rằng một số tù binh đã bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man.

Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiễm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng ngón tay cái bị xé rách toạc ra, và anh ấy bị châm bỏng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Việt Nam đánh giá chúng tôi như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì họ không có ý định giết chúng tôi khi họ tra tấn để buộc chúng tôi phải hợp tác với họ. Tới cuối năm 1969, những sự đánh đập thường lệ được ngừng lại, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh của chúng tôi không còn thảm khốc như những năm trước đó nữa. Tôi được trả tự do và trở về Mỹ khi chiến tranh kết thúc, tính tới tháng 3 năm 1973, tôi đã bị cầm tù trong 5 năm rưỡi.

Chúng tôi được dạy phải có niềm tin nơi Thượng Ðế, nơi tổ quốc, và tin nhau. Hầu hết chúng tôi đã sống như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin này – niềm tin vào nhau – là vũ khí phòng vệ tối hậu của chúng ta, là những thành lũy mà kẻ thù của chúng ta không thể vượt qua được. Ðó là niềm tin tôi đã ấp ủ từ trong Học Viện Hải Quân. Ðó là niềm tin của cha tôi, ông tôi. Trong nhà tù, tôi là một người dơ dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì tôi còn giữ lại trong phẩm hạnh của tôi là niềm tin của cha-ông tôi. Như vậy là đủ.

“Niềm Tin của Tổ Tiên Dòng Họ Tôi”.

Tác giả: JOHN McCAIN
NHL chuyển ngữ

+Đã đăng trên báo U.S. News & World Report lần đầu ngày 14-5-1973.

+Khi ra tranh cử Tổng thống 2008, bài này được tái đăng lại trên báo US News &World Report ngày 28-1-2008.
https://www.usnews.com/…/john-mccain-prisoner-of-war-a-firs…

********

Tàu sân bay Mỹ vào Vịnh Đà Nẵng

Van Pham

Tàu sân bay Mỹ vào Vịnh Đà Nẵng

Đây là lần đầu tiên một tàu sân bay Mỹ đến VN kể từ khi kết thúc chiến tranh VN, đánh dấu mối quan hệ chiến lược giữa hai nước từng là kẻ thù, vào thời điểm ảnh hưởng khu vực của TQ đang gia tăng, theo Reuters.

Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson có thể được nhìn thấy vào sáng thứ Hai 5/3 tại vùng biển ngoài khơi Vịnh Đà Nẵng, nơi tàu sân bay có lượng giãn nước 103.000 tấn và hai tàu khác của Hoa Kỳ bắt đầu chuyến thăm năm ngày.

Sự xuất hiện của USS Carl Vinson đánh dấu sự hiện diện quân sự quy mô nhất của Hoa Kỳ ở Việt Nam từ năm 1975 – nhưng cũng minh hoạ cho mối quan hệ phức tạp và tiến triển của Hà Nội với Bắc Kinh đối với khu vực tranh chấp trên Biển Đông.

Việt Nam đã nỗ lực hàng tháng trời để làm dịu bớt mối lo ngại của người láng giềng Trung Quốc đối với chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson và triển vọng hợp tác an ninh tăng cường giữa Hà Nội và Washington.

Các tàu sân bay Hoa Kỳ thường xuyên qua lại trên Biển Đông trong một đợt triển khai hải quân tăng cường, và hiện nằm trong sự theo dõi của các tàu hải quân Trung Quốc, giới chức hải quân khu vực cho hay.

Việc Trung Quốc nhanh chóng xây dựng trong quần đảo Trường Sa khiến Việt Nam và chính phủ các nước trong khu vực lo ngại khi nước này tìm cách thực thi tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn các khu vực đường thủy đang tranh chấp, nơi hàng trăm nghìn tỷ đô la thương mại đi qua mỗi năm.

Mặc dù không có tàu sân bay Mỹ nào đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc nhưng các tàu chiến nhỏ khác của Hoa Kỳ đã tiến hành các chuyến thăm cấp cao khi mối quan hệ được cải thiện trong những năm gần đây.

Các chuyến thăm nói trên bao gồm chuyến thăm 2016 của tàu ngầm USS Frank Cable và tàu khu trục USS John S. McCain tới vịnh Cam Ranh, một khu hậu cần quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.

Một ban nhạc hải quân Hoa Kỳ sẽ trình diễn hòa nhạc tại Đà Nẵng trong chuyến viếng thăm của tàu Vinson, và thuỷ thủ từ tàu sân bay dự kiến sẽ tới thăm một trung tâm điều trị cho những người bị phơi nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh.

Tàu sân bay hạt nhân USS Carl Vinson sẽ neo đậu tại thành phố cảng Đà Nẵng, nơi quân đội Mỹ đổ bộ đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, khiến nơi đây trở thành một địa điểm mang tính biểu tượng cao.

Cuộc viếng thăm này nhằm minh chứng cho mối quan hệ quân sự ngày càng tăng của Việt Nam và Hoa Kỳ.

‘Thông điệp tới Trung Quốc’

Nhưng các nhà phân tích cho rằng việc này chắc chắn sẽ gửi một thông điệp tới Trung Quốc khi nước này tiếp tục bành trướng tại khu vực tranh chấp trên biển Đông.

Phóng viên BBC Jonathan Head hiện đang có mặt tại Đà Nẵng, cho biết mặc dù hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã tiến triển nhưng vẫn còn hạn chế, và Việt Nam cần kiểm soát chặt chẽ thông điệp của chuyến thăm này.

Trung Quốc hiện là một siêu cường trong khu vực và là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.

Vì vậy, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang rất thận trọng để tránh bất kỳ động thái nào có thể gây bất lợi cho mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ của mình, phóng viên Jonathan

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, bao gồm các rạn san hô và hòn đảo mà một số quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền. Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hoa Kỳ luôn tuyên bố không can thiệp vào các tranh chấp trên Biển Đông, nhưng Hải quân Hoa Kỳ đã liên tục có các hoạt động “tự do hàng hải” tại các vùng biển đang tranh chấp, một thách thức rõ ràng đối với các tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc.

Tàu USS Carl Vinson đã thực hiện nhiều chuyến đi đến khu vực rộng lớn hơn trong hàng thập niên qua.

Đà Nẵng là căn cứ quân sự chính của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Việc hàng không mẫu hạm Mỹ, có thể mang tới 90 máy bay, cập cảng Đà Nẵng, sẽ đại diện cho sự hiện diện quân sự quy mô nhất của Mỹ tại Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh và sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975.

Chiến tranh Việt Nam – cái mà Việt Nam gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ – kéo dài và đẫm máu. Chính phủ Việt Nam ước tính hàng triệu người, cả dân thường và lính Cộng sản, đều bị giết. Chỉ hơn 58.000 lính Mỹ chết hoặc mất tích trong cuộc chiến.

 
Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Carl Vinson đang thực hiện chuyến thăm lịch sử tại VN kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh VN.
 
BBC.COM
 

MẸ VÀ VỢ, CHỌN AI?

Image may contain: one or more people, people sitting, people eating and indoor

Thông Điệp Cuộc Sống.

MẸ VÀ VỢ, CHỌN AI?

Đọc và cùng suy ngẫm.

Con dâu nói : “Nấu nhạt tý bà lại chê nhạt nhẻo, giờ nấu mặn chút bà lại bảo nuốt không vô, rốt cuộc bà muốn sao đây?”

Mẹ nhìn thấy con trai vừa về đến nhà, một câu không rằng bèn gắp thức ăn bỏ vào miệng nhai. Cô ta hằn hộc nhìn chồng. Anh gắp thử một miếng ăn, nhả ra ngay tức thì.

Con trai nói : “Anh không phải đã dặn em rồi sao, mẹ bị bệnh không thể ăn quá mặn !”

“OK ! Mẹ là của anh, sau này do anh nấu nhé !” Con dâu giận dỗi đi thẳng vào phòng. Con trai chỉ còn cách thở dài, và quay sang nói với mẹ : “Mẹ, đừng ăn nữa, con đi nấu mì cho mẹ ăn.”

Mẹ nói : “Không phải con có chuyện muốn nói với mẹ sao, có thì giờ hẵn nói, đừng để trong lòng !”

Con trai nói : “Mẹ à, tháng sau con được thăng chức, con sẽ rất là bận … còn phần vợ con, cô ta nói muốn ra ngoài kiếm việc làm, cho nên ……”

Ngay lập tức mẹ hiểu ý con trai muốn nói gì : “Con trai ơi, đừng gửi mẹ vào viện dưỡng lão nhé con !” Giọng nói nức nghẹn như khẩn cầu van xin .

Con trai trầm tư nghĩ ngợi một hồi lâu, trong đầu anh ta như đang cố tìm một lý do tốt hơn để thuyết phục mẹ :

“Mẹ à, thật ra viện dưỡng lão không phải là một nơi không tốt, mẹ biết rồi đấy, khi vợ con kiếm được công việc, nhất định sẽ không còn thời gian chăm sóc mẹ chu đáo nữa đâu. Trong viện dưỡng lão vừa có cái ăn, vừa có chỗ ở, lại có người chăm sóc, không phải tốt hơn nhiều so với ở nhà hay sao ?”

Tắm xong, ăn tạm một tô mì gói, con trai bèn đi vào phòng sách. Anh thờ người đứng trước cửa sổ, có vẻ do dự. Ngày ấy mẹ còn trẻ đã ở góa, ngặm đắng nuốt cay nuôi anh khôn lớn nên người, và còn gửi anh ra nước ngoài du học.

Nhưng, bà chưa bao giờ dùng tuổi thanh xuân của mình đã một đời hy sinh vì anh đem ra uy hiếp mặc cả về sự hiếu thảo của anh, ngược lại là vợ đã đem hôn nhân ra uy hiếp anh ! Không lẻ phải cho mẹ vào viện dưỡng lão thật sao ? Anh tự hỏi bản thân, anh ta có chút không nhẫn tâm.

“Có thể cùng cậu đi hết cuộc đời là vợ cậu, không nhẽ là mẹ cậu sao ?” Con trai của bác Tài thường hay nhắc khẽ anh như thế.

“Mẹ cậu đã lớn tuổi như thế, tốt số thì có thể sống thêm vài năm, Tại sao không tranh thủ thời gian đó sống thật hiếu thảo với bà cơ chứ ? Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà người còn đâu!” Bà con họ hàng thường hay khuyên nhủ anh như thế.

Con trai không muốn suy nghĩ thêm nữa, sợ mình sẽ vì thế mà thay đổi quyết định. Ánh mặt trời tắt dần những tia nắng chói chang và khuất dần sau ngọn đồi, trả lại bầu trời một màn đêm u tịch. Một ngôi nhà quý tộc dành cho người già được xây dựng ở vùng ngoại ô trên đồi núi.

Đúng thật, tiền càng chi ra nhiều, con trai càng cảm thấy an lòng. Khi con trai dắt mẹ bước vào đại sảnh, một chiếc ti vi 42 inch mới tinh đang chiếu một bộ phim hài, nhưng người xem nơi ấy không hề nở một nụ cười.

Những người già mặc cùng một kiểu áo, tóc tai đều na ná nhau đang ngồi cô quạnh trên chiếc ghế sofa, thần sắc đờ đẫn đến u buồn. Có người thì đang ngồi lẩm bẩm một mình, có người thì đang chầm chậm cúi người xuống muốn nhặt lấy một mẫu bánh vụn đang nằm trên sàn nhà.

Con trai biết mẹ thích nơi tươi sáng, vì thế đã chọn cho bà một căn phòng đầy đủ ánh sáng. Từ cửa sổ nhìn ra ngoài, dưới bóng râm là một vườn cỏ thơm ngát. Mấy cô y tá đang đẩy những người già ngồi trên xe lăn, cùng họ tản bộ dưới ánh hoàng hôn, bốn bề tĩnh lặng khiến cho người cảm thấy xót lòng. Dù hoàng hôn có đẹp bao nhiêu, ánh chiều tà rồi cũng dần buông xuống, anh ngậm ngùi tiếc nuối.

“Mẹ ơi, con … con phải đi rồi !” Mẹ chỉ biết gật đầu.

Khi anh đi khỏi, đôi tay gầy guộc của mẹ giơ lên vẫy chào anh, miệng không còn một chiếc răng, đôi môi khô tái nhợt muốn lên tiếng gọi với anh, nhưng gọi không thành tiếng, lộ ra một ánh mắt ngập ngừng đậm vẻ u sầu.

Lúc này con trai chợt nhận ra mái tóc của mẹ đã bạc dần, đôi mắt sâu thẩm và khuôn mặt xuất hiện nhiều vết chân chim. Mẹ quả thật đã già đi rồi !

Anh chợt hồi tưởng lại một số chuyện ngày xưa. Năm đó anh mới 6 tuổi, mẹ có công chuyện phải về quê, không tiện dắt anh theo, nên đành phải gửi tạm nhà bác Tài vài hôm. Lúc mẹ sắp rời khỏi, anh sợ hãi ôm chặt lấy chân mẹ không chịu buông, khóc thật thê lương và kêu gào trong nước mắt : “Mẹ, mẹ ơi, đừng bỏ con mà đi ! Mẹ đừng có đi mẹ ơi !” Cuối cùng mẹ cũng không bỏ lại anh một mình ……

Anh vội rời khỏi phòng, tiện tay đóng cửa phòng lại, không dám ngoáy đầu nhìn lại, anh sợ, sợ cái ký ức ấy hiện về như bóng ma cứ lờn vờn bám lấy anh.

Anh về đến nhà, nhìn thấy vợ và mẹ vợ đang hăng tiết vứt bỏ tất cả những vật dụng trong phòng của mẹ với khuôn mặt khoái chí vui mừng.

Một chiếc huy chương —– đó là chiến lợi phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi viết văn hồi tiểu học của anh với chủ đề “MẸ CỦA TÔI” ; Một quyển từ điển Anh – Việt —– đó là món quà đầu tiên mẹ đã dành dụm tiền chi tiêu cả tháng trời để mua tặng anh ! Và còn nữa, chai dầu gió mẹ phải xoa trước khi đi ngủ, không có anh xoa dầu cho bà, gửi bà đến viện dưỡng lão thì còn ý nghĩa gì nữa kia chứ ?

“Đủ rồi, đừng vứt nữa !” Con trai tức giận.

“Rác nhiều như thế, không đem vứt đi, thì sao có thể chứa được đồ của tôi.” Mẹ vợ thở hổn hển nói.

“Thì đúng rồi đấy ! Anh mau mau đem cái giường cũ nát của mẹ anh khiên ra ngoài đi, ngày mai tôi sẽ mua cho mẹ tôi một chiếc giường mới !”  

Một đống ảnh lúc ấu thơ chợt hiện ra trong mắt anh, đó là những tấm ảnh mẹ đã dẫn anh đi sở thú chụp lưu niệm.

“Tất cả đều là tài sản của mẹ tôi, một thứ cũng không được bỏ !”

“Anh tỏ thái độ gì vậy hả ? Dám lớn tiếng với mẹ tôi ư, tôi bắt anh phải xin lỗi mẹ tôi ngay lập tức !”

“Tôi cưới cô là có nghĩa vụ yêu thương mẹ cô, tại sao ? Cô lấy tôi thì không thể yêu thương mẹ tôi được sao ?”

Cơn mưa sau đêm tối mang một chút hơi lạnh lẽo, đường phố vắng lặng đìu hiu, xe cộ và người đi trên đường thưa thớt dần. Một chiếc xe hơi đang chạy vượt đèn đỏ và phóng qua những biển cấm nguy hiểm, không ngừng tăng tốc phóng nhanh trên đường.

Chiếc xe hơi ấy chạy thẳng đến viện dưỡng lão được nằm trên lưng chừng đồi núi, anh ngừng xe và phóng nhanh lên lầu, mở cửa phòng ngủ của mẹ. Anh đứng nhìn bất động, mẹ đang lấy tay xoa đôi chân phong thấp của mình âm thầm khóc trong đêm.

Bà nhìn thấy con trai đang cầm trên tay chai dầu gió, cảm thấy an ủi và nói : “Mẹ quên lấy đi, cũng may con mang đến cho mẹ !”

Anh bước vội đến bên mẹ và quỳ xuống.

“Tối rồi, tự mình mẹ có thể xoa được mà, ngày mai con còn phải đi làm, hãy về nhà đi !”

Anh ngập ngừng một hồi lâu, nhưng cuối cùng không nhịn được khóc và nói : “Mẹ ơi, con xin lỗi, xin………. lỗi……..”

P/S : Cảm ơn bạn đã đọc bài, nếu thấy hay và ý nghĩa thì đừng quên chia sẻ cho mọi người cùng đọc,và chia sẻ để nhận chia sẻ nhiều hơn bạn nhé…

Sưu tầm.

Nghiên Cứu: Có Thể Đảo Ngược Bệnh Lãng Trí

Nghiên Cứu: Có Thể Đảo Ngược Bệnh Lãng Trí

05/03/2018

Sau nhiều thập niên của những khám phá đầy thất vọng trong nghiên cứu về bệnh Alzheimer’s, các nhà khoa học đã đạt tới điều mà nhiều chuyên gia tin là cách mới đầy hứa hẹn để đảo ngược điều kiện mà có thể như là một thay đổi đáng kể trong việc điều trị bệnh mất trí nhớ.

Nghiên cứu mới của bệnh viện Cleveland Clinic cho thấy rằng các mảng amyloid protein đã tích tụ trong não, là những dấu hiệu của bệnh Alzheimer’s, được loại bỏ khi các nhà nghiên cứu lấy ra chất men đang xuất hiện tự nhiên – được gọi là BACE1 – từ não của chuột được thí nghiệm.

“Với kiến thức của chúng tôi, đây là sự quan sát đầu tiên của sự đảo ngược kỳ diệu sự tích tụ chất amyloid như thế trong bất kỳ nghiên cứu nào như vậy về những mẫu con chuột mắc bệnh Alzheimer’s,” theo nhà nghiên cứu kỳ cựu Riqiang Yan cho biết trong cuộc họp báo về nghiên cứu này, mà được đăng trong Tạp Chí Journal of Experimental Medicine.

Theo Hội Alzheimer’s Association, sự tích tụ của mảng amyloid là đóng góp chính để làm cho tế bào chết và mất mô bào trong những người mắc bệnh Alzheimer’s. Nếu những khám phá được giữ lại trong phòng nghiên cứu của bệnh viện, thì chúng có thể mở đường cho các trị liệu mới mà có thể đảo ngược bệnh rối loạn não này.

Yan nói với Newsmax Health rằng ông và các đồng nghiệp trong nhóm tại Bệnh Viện Cleveland Clinic phát hiện rằng khi chất men BACE1 được loại bỏ, thì mảng hiện đang có trong não của chuột cũng tan rã. Nhưng ông cho biết thêm rằng các nhà nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự hình thành của mảng amyloid cũng ngưng, cho thấy BACE1 có thể là cơ bản cho việc điều trị mới và cũng là các chiến lược ngăn ngừa.

Ông ‘Lá Bối’ một đời bị ‘sách… ám?’

 

Ông ‘Lá Bối’ một đời bị ‘sách… ám?’

Du Tử Lê/Người Việt

Thầy Từ Mẫn. (Hình: dutule.com)

Nhớ lại những ngày đầu, khi quyết định sẽ in bộ tiểu thuyết nổi tiếng thế giới “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Lev Tolstoy, thầy Từ Mẫn kể, đại ý: Khi hay tin Lá Bối sẽ in “Chiến Tranh và Hòa Bình,” bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Trần Phong Giao (5), đã nói với ông Từ Mẫn rằng: “Ngay cả khi có tiền tôi cũng sẽ không in ‘Chiến Tranh và Hòa Bình’…”

Thầy Từ Mẫn nói, nhà văn Trần Phong Giao đâu biết, khi tiếp nhận nhà Lá Bối từ tay thầy Thanh Tuệ thì đó là lúc tình hình tài chánh của Lá Bối đang rơi vào vòng xoáy khó khăn nhất. Nhưng vì: “Chính tôi cũng muốn được đọc bộ tiểu thuyết này bằng tiếng Việt, nên tôi đã phải nhờ tới sự tiếp tay, vay mượn (không có lời) của một số học trò thầy Nhất Hạnh, những người đã ra trường và thành đạt…,” thầy Từ Mẫn tâm sự.

Trả lời câu hỏi duyên-khởi của việc dịch giả Nguyễn Hiến Lê (6) nhận dịch bộ tiểu thuyết và sự nhận lời in của nhà Lá Bối, người kế tục sự nghiệp xuất bản sách của nhà Lá Bối cho biết: Ông tình cờ đọc được một bài viết của dịch giả Nguyễn Hiến Lê trên một tờ nguyệt san xuất bản ở Sài Gòn mà bây giờ ông không nhớ tên, kể rằng, vị dịch giả từng ngỏ ý với hai nhà xuất bản lớn nhất miền Nam thời đó là nhà sách Khai Trí và nhà xuất bản Sống Mới về việc ông sẽ dịch bộ “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Tolstoy nếu họ nhận in… Tiếc thay cả Khai Trí lẫn Sống Mới đều im lặng.

Thầy Từ Mẫn nhấn mạnh, ông nghĩ nhà Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương (7) dù muốn cũng không thể nhận in vì số bản thảo ông ấy đã mua, ối đọng trong kho quá nhiều, không biết tới năm nào mới có thể in cho hết. Nhưng nhà Sống Mới thì ông không hiểu lý do. Chỉ biết, chính vì hai nhà xuất bản lớn kể trên từ chối, mà ông có cơ hội nhận in bộ truyện dịch giá trị này.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng, ông “Lá Bối” không hề quen biết dịch giả Nguyễn Hiến Lê trước đó. Và, ông cũng không muốn nhờ ai giới thiệu. Nên, một buổi sáng, ông tự tìm tới nhà riêng của dịch giả, ở đường Kỳ Đồng. Người bạn đời của dịch giả ra mở cửa hỏi ông là ai? Cần gặp ông Lê cho việc gì? Ông “Lá Bối” nói, mang ít sách tặng ông Lê và nói chuyện về việc dịch bộ truyện “Chiến Tranh và Hòa Bình.” Bà mời ông trở lại vào buổi sáng hôm sau.

Đúng hẹn, ông trở lại. Lần này, ông được dịch giả Nguyễn Hiến Lê tiếp đón trong tinh thần tương kính giữa nhà xuất bản và dịch giả…

Dù ông Nguyễn Hiến Lê, nói rõ, để hoàn tất việc chuyển ngữ, ông cần ít nhất một năm rưỡi. Tuy nhiên, thực tế, vẫn theo lời của thầy Từ Mẫn thì, chỉ sau một năm thôi, ông đã nhận được bản dịch bộ truyện “Chiến Tranh và Hòa Bình” của dịch giả Nguyễn Hiến Lê.

Có trong tay toàn bộ bản dịch “Chiến Tranh và Hòa Bình,” với ông “Lá Bối” đã là một hạnh phúc. Ông còn cảm thấy hạnh phúc hơn nữa, khi biết dịch giả tuy dịch theo bản Pháp Ngữ, nhưng có những đoạn cần kiểm chứng thì ông ấy dùng bản Anh Ngữ, để so sánh. Điều này cho thấy dịch giả rất trân trọng với tác phẩm vĩ đại “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Lev Tolstoy.

Phần thưởng lớn, bất ngờ mà ông “Lá Bối” nhận được là chỉ một thời gian sau, “Chiến Tranh và Hòa Bình” đã được tái bản…

Sư kiện này như một thứ thuốc bồi giúp nhà Lá Bối tự tin, hăng hái với những tác phẩm lớn hoặc khó “nuốt” như bộ “Sử Ký Tư Mã Thiên” mà Lá Bối chọn để xuất bản sau đó.

Dịch giả của bộ “Sử Ký Tư Mã Thiên” vẫn là học giả Nguyễn Hiến Lê. Dịch giả biết rằng, trước ông, nhà văn Nhượng Tống thời tiền chiến đã làm công việc chuyển ngữ. Nhưng khác hơn dịch giả Nhượng Tống, dịch giả Nguyễn Hiến Lê sẽ dịch những chương, đoạn trong bộ “Sử Ký” mà ông Nhượng Tống loại bỏ và, ngược lại, ông cũng sẽ lược bỏ một vài chương, đoạn mà nhà văn Nhượng Tống đã chọn dịch. Nói cách khác, tổng quát thì phần lớn nội dung tác phẩm được hai dịch giả chọn để chuyển ngữ, giống nhau, chỉ có một đôi chỗ khác nhau mà thôi, ông “Lá Bối” nhấn mạnh.

Trả lời câu hỏi trong suốt thời gian điều hành nhà Lá Bối, với khoảng trên, dưới 150 đầu sách đủ loại, đa phần kén người đọc, có cuốn sách nào khi in ra bị lỗ không? Thì ông Từ Mẫn cho biết, hầu như cuốn nào cũng có lời. Kể cả những cuốn bán không hết. Và, dù là loại sách gì thì số lượng mỗi cuốn ngay lần in thứ nhất, ở Lá Bối, căn bản vẫn là năm ngàn (5,000) ấn bản.

Về tác quyền dành cho các tác giả (trừ Thượng Tọa Nhất Hạnh không lấy) thì, theo ấn định của chính thầy Nhất Hạnh: Tác quyền được tính theo nguyên tắc 10% trên giá bán, trên số in; không phân biệt tên tác giả.

Thầy Từ Mẫn nói thêm:

“Tuy có lời, nhưng không bao giờ Lá Bối có dư tiền, vì tất cả tiền lời có được đều được đắp đỗi cho việc in những tác phẩm kế tiếp…”

Ông cũng bày tỏ lòng biết ơn độc giả, những người có lòng tin cậy, cho Lá Bối vay tiền làm sách, không lấy lời… Luôn cả những người tiếp tay một cách cụ thể về phương diện đại diện phát hành, mà không nhận một đồng thù lao, như trường hợp nhà thơ Thành Tôn…

Ông Thành Tôn đã nhận đại diện cho nhà Lá Bối nhiều năm ở miền Trung. Đó là nơi có số lượng tiêu thụ sách cao nhất tính chung cả miền Nam, như thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam.

Nhà thơ Thành Tôn nói, ông cộng tác với tạp chí “Giữ Thơm Quê Mẹ” của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, tự những số đầu tiên của tờ báo này. Nên khi nhận được đề nghị của thầy Thanh Tuệ, nhờ tiếp tay với Lá Bối, ông đã nhận lời…

Hoặc những độc giả trung thành như ông Lê Phú Giáp thời còn là sinh viên, hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County, cho biết, ngay tự những ngày đầu của Lá Bối, ông đã luôn tìm tới địa chỉ gốc của nhà xuất bản, để được bớt tới 40% mỗi đầu sách, dù mua bao nhiêu cuốn…

Trước tấm lòng quên mình, ăn ở, sống chết với sách, có người đã không ngần ngại nói rằng: “Nếu có người một đời bị quỷ… ám thì, cũng có người một đời bị sách… ám. Trong số những người này, có thầy Từ Mẫn…” (Du Tử Lê)

Chú thích:

(5) Theo trang mạng Wikipedia thì nhà văn Trần Phong Giao (1932-2005) tên thật Trần Đình Tĩnh, sinh tại Nam Định, bút hiệu Trần Phong, Thư Trung, Mõ Làng Văn. Ngoài tư cách nhà văn, ông còn là một dịch giả uy tín ở miền Nam. Năm 1954, di cư vào Nam, từ 1960 tới 1963, ông làm thư ký tòa soạn báo Tin Sách do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam chủ trương. Thời gian này, ông cũng bắt đầu dịch một số tác phẩm văn chương, triết học của các nhà văn nổi tiếng thế giới, như Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Paul Gallico,… Cuối năm 1963, ông làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn. Năm 1971, thôi tạp chí Văn, ông lập nhà xuất bản và tạp chí Giao Điểm, rồi Chính Văn; nhưng không thành công… Cuối cùng ông trở lại công việc dịch sách và làm quản thủ thư viện Đại Học Cửu Long cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975. Ông mất tại Sài Gòn ngày 13 Tháng Tư, 2005, hưởng thọ 73 tuổi.

(6) Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một nhà văn, dịch giả độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tính tới ngày từ trần. Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Chánh Hà Nội, được bổ làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Năm 1952, ông bỏ nghề công chánh, về Sài Gòn mở nhà xuất bản, dịch sách, sáng tác và viết báo. Những năm trước cũng như sau 1975, Nguyễn Hiến Lê là một cây bút được tiếng làm việc miệt mài nghiêm túc và là một nhân cách lớn. Ông mất ngày 22 Tháng Mười Hai, 1984, tại bệnh viện An Bình, Chợ Lớn, Sài Gòn, hưởng thọ 72 tuổi.

(7) Ông Nguyễn Văn Trương (bút hiệu Nguyễn Hùng Trương) nhưng mọi người vẫn quen gọi là ông Khai Trí, sinh năm 1926 tại Thủ Đức. Thuở nhỏ, ông thường nhịn ăn sáng, dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc… Nhờ cố gắng làm việc không mệt mỏi, tiết kiệm từng đồng nên đến năm 1952 ông có đủ vốn để mở một hiệu sách nhỏ tại 62 đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi), đặt tên là nhà sách Khai Trí (sau 1975 là nhà sách Sài Gòn). Đây là nhà sách đầu tiên ở Việt Nam bán hàng theo kiểu tự chọn, khách có thể đứng đọc tại chỗ hàng giờ rồi đi ra mà không bị ai làm phiền… Ông Khai Trí cũng đầu tư trong lãnh vực xuất bản tất cả các loại sách, nhiều nhất là tự điển… Cùng nhà văn Nhật Tiến, ông xuất bản tuần báo Thiếu Nhi và là soạn giả của nhiều đầu sách giá trị. Ông mất tại Sài Gòn ngày 11 Tháng Ba, 2005, thọ 80 tuổi. (Nguồn Diễn Đàn Sách Xưa – Wikipedia – Mở)

Sao gì cũng giải được, trừ sao vàng

Sao gì cũng giải được, trừ sao vàng

 
Kết thúc lễ dâng sao giải hạn, hàng ngàn người chen lấn, xô đẩy nhau để xin lộc. Ảnh: VnE

Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) – Việc dâng sao giải hạn không nằm trong giáo lý nhà Phật. Nó được cho là bắt nguồn ở Trung Quốc từ nhiều năm nay, và du nhập vào Việt Nam. Tất nhiên, không riêng gì hình thức dị đoan này, nhiều tập tục, hủ tục khác trong đời sống sinh hoạt của người Việt đều bị ảnh hưởng, du nhập từ phương Bắc qua nhiều đời nay. Việc dâng sao giải hạn, thật không may đã bị vu khống hoặc lầm tưởng là đặc trưng của đạo Phật. Việc lầm tưởng và u mê đó (cũng thật không may) lại là cơ hội trục lợi, làm ăn, thậm chí làm giàu của nhiều nhà Chùa, nhiều ông sư quốc doanh. Sở dĩ phải chỉ đích danh “sư quốc doanh” vì những đối tượng này ngoài lợi dụng việc đi tu để thỏa mãn lối sống cá nhân tầm thường, còn chịu sự quản lý, sai khiến (đương nhiên cả sự nuông chiều) của chế độ, bóp méo về giáo lý và niềm tin tôn giáo. Thậm chí, nhiều ông sư trụ trì còn là những tay an ninh cao cấp. Đương nhiên, cần nói thêm cho rõ rằng, không phải vị sư nào cũng là “sư quốc doanh” theo nghĩa ở trên cho dù thuộc “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” tức là chịu sự quản lý chung của Nhà nước cộng sản.

Bài này không định phân tích về giáo lý nhà Phật vốn là một đề tài quá sức của người viết. Càng không đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với tập tục của người Việt. Nó chỉ như một sự lướt qua khi nghĩ về tâm lý bệnh hoạn của đa số người Việt nhân chuyện dâng sao giải hạn đầu năm. Cớ sự cũng từ hình ảnh hàng vạn người chen lấn, xô đẩy nhau để được dâng sao giải hạn ở chùa Phúc Khánh, Hà Nội hôm mồng 8 tết (15/2/2018). 

Báo “lề đảng” đưa tin, có đến gần 1000 công an, cảnh sát cơ động, dân phòng, thanh tra giao thông được huy động để bảo vệ ba vòng xung quanh ngôi chùa này trong buổi lễ cầu an, dâng sao giải hạn. Chi tiết này hẳn là làm cho nhiều người dân, nhất là những người từng đi biểu tình ôn hòa bày tỏ lòng yêu nước, phản đối Trung cộng xâm lược, bảo vệ môi trường, đòi dân chủ nhân quyền và công bằng xã hội phải rớm nước mắt. 

Cũng lực lượng công quyền này đã có mặt trên đường phố, nhưng không phải là để bảo vệ mà là để đàn áp, để đánh đập và bắt người. Những con người còn biết xót thương cho thân phận của đồng bào mình, biết trăn trở với vận mệnh của đất nước mình. Nhiều người ước rằng, giá như đám đông hàng ngàn người đang chen lấn, xô đẩy đi dâng sao giải hạn kia là một cuộc biểu tình đòi dân quyền, dân sinh. Và lực lượng công an, bộ đội thay vì đàn áp, bắt bớ thì bảo vệ những công dân bày tỏ lòng yêu nước, bày tỏ trách nhiệm với dân tộc. Thay vì bảo vệ cho những trò dị đoan mê tín, trục lợi bất chính thì cần ngăn chặn và dẹp bỏ. Song nếu như thế, thì xã hội này đâu còn là xã hội cộng sản. Sự trói buộc, mất quyền tự do đưa dẫn người ta đến thói u mê, tăm tối. Thay vì tin vào Chúa, tin vào Phật, người ta tin vào ma quỷ và những trò tà mị. Chỉ có một chính quyền bất xứng mới muốn người dân sa đà vào những điều như thế để dễ bề cai trị.

Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến câu chuyện về người bạn của bố tôi. Ông là một người hiền lành, tốt bụng. Nhưng mấy năm nay ông hay đi cúng bái và dâng sao giải hạn cho người ta. Cúng nhưng không lấy tiền của ai, thậm chí gia chủ mời cơm ông cũng từ chối. Chỉ xin một cốc nước lọc, uống lấy giọng để khấn. “Mình được ăn lộc Thánh thì phải giúp người, tích đức cháu ạ”. Ông hay nói với tôi như thế mỗi lần chú cháu gặp nhau. Tôi quý ông nhưng không đồng tình với những việc ông làm. Ông có một người con trai lớn thuộc diện có chức quyền ở thành phố. Anh này hay đi cúng bái, lễ lạt và “có khả năng đặc biệt về tâm linh” theo như lời ông kể với tôi. Ông phải đi cúng giúp người một phần là nhờ tác động của con trai mình. Ông không bao giờ chửi chế độ, cũng không khen. Năm ngoái tôi về giỗ mẹ, gặp ông thì được biết anh con trai đã bị chuyển công tác, không còn giữ chức vụ cũ nữa. Nghe đâu là liên quan đến chuyện đấu đá nội bộ gì đó. Căn nhà mà vợ chồng ông đang ở cũng bị rơi vào diện giải tỏa. “Chúng nó (chỉ bọn cầm quyền thành phố) gần như cướp trắng cháu ạ. Lấy đất với giá rẻ như bèo và không cho người dân chỗ tái định cư”, ông than thở với tôi như thế. Và mỉa mai:” Sao nào chú cũng giải được, từ Thái bạch, Kế đô đến La hầu chú chả ngán sao nào. Riêng có sao vàng thì chú chịu. Sao vàng cờ đỏ thì chẳng thịt mồi, chẳng giấy sớ bùa bả gì giải được, cháu ạ”. 

Đúng rồi, sao vàng cờ đỏ không phải là hạn, nó là đại họa, đại họa của dân tộc. Muốn giải sao này, không còn cách nào khác là phải bước qua sợ hãi, dũng cảm đấu tranh dẹp bỏ nó. Và để giải thể nó, không cần phải thịt mồi, rượu trắng, không cần ông thầy cúng nào mà chính mỗi người dân chúng ta đều có thể tự làm được bằng chính sức của mình, bằng lòng can đảm và ý thức trách nhiệm với dân tộc.

Đã đến lúc người dân Việt Nam phải nhận thức được rằng đại họa cộng sản là nguyên nhân sâu xa dẫn đến mọi tai họa khác trong đời sống xã hội. Đúng, ở đất nước nào cũng vậy, dù văn minh, giàu có như Mỹ và một số nước phương Tây khác, vẫn có người nghèo, vẫn có người chết vì bệnh tật, ung thư, tai nạn giao thông, giết người. Nhưng tử vong với số lượng kinh hoàng về các nguyên nhân trên như ở Việt Nam thì không còn là điều bình thường nữa. Tham nhũng, quản lý yếu kém, ô nhiễm môi trường, đạo đức suy đổi, tội ác hoành hành… là sản phẩm đặc trưng của chế độ độc tài. Và là căn nguyên dẫn đến các tai họa khác mà dân chúng phải gánh chịu. 

Đút lót thần thánh, mua chuộc chư Phật không phải là cách để được bình an. Càng không phải là vốn để dành sau này được lên thiên đàng. Sống tử tế, nhân ái, biết dấn thân cho lẽ phải thì không cần một thủ tục cầu xin, cúng bái gì cũng sẽ thấy bình an cho dù trong phải sống trong nghịch cảnh hay phải đối mặt với chông gai cuộc đời.

Đại họa lớn nhất của dân tộc là họa cộng sản mà không lo dẹp bỏ thì sao có thể hoá giải được các hạn khác mà con người đang phải gánh chịu.

Người dân Việt chúng ta, bao giờ mới hết u mê?

Phạm Thanh Nghiên

danlambaovn.blogspot.com

Người Mỹ lạc quan nhất kể từ năm 2000

 Ky Nguyen‘s post.

Ky Nguyen

Người Mỹ lạc quan nhất kể từ năm 2000, Tổng thống Trump nói ‘những điều vĩ đại đang diễn ra’

Niềm tin của người tiêu dùng Mỹ đang ở mức cao nhất trong nhiều năm, và điều đó đã được Tổng thống Donald Trump dùng để miêu tả rằng những thứ vĩ đại đang xảy ra dưới thời của ông.

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Mỹ do tổ chức nghiên cứu kinh doanh Conference Board tổng hợp đã tăng mạnh từ 124,3 điểm vào tháng 1/2018 lên 130,8 điểm trong tháng 2, mức cao nhất kể từ tháng 11/2000, trang tin USA Today đưa tin ngày 27/2.

Chỉ số này phản ánh đánh giá của người tiêu dùng về các điều kiện hiện tại và quan điểm của họ trong 6 tháng tới. Người tiêu dùng Mỹ đang cảm thấy tốt hơn về nền kinh tế hiện tại.
Trump

Các biện pháp cắt giảm thuế của Tổng thống Trump ngày càng được ủng hộ. (Ảnh: Steven Senne/AP)

Ngay sau khi số liệu này được công bố, Tổng thống Trump đã đăng tải trên mạng xã hội với bình luận rằng “những điều to lớn đang xảy ra!”

“Người tiêu dùng Mỹ đang lạc quan nhất kể từ năm 2000… Tỷ lệ thất nghiệp đã xuống mức thấp nhất trong 17 năm”, ông Trump đăng trên trang Facebook.

Theo USA Today, các biện pháp cắt giảm thuế của chính quyền Trump vào năm ngoái đang bắt đầu được phản ánh vào hầu bao của người tiêu dùng.

“Khi người dân ngấm dần chi tiết của gói cải cách thuế, các cuộc thăm dò dư luận ​​cho thấy các biện pháp cắt giảm thuế đang ngày càng được nhiều người ủng hộ hơn”, USA Today dẫn lời một báo cáo của công ty chứng khoán Amherst Pierpont Securities đánh giá.

Thị trường lao động cải thiện đang thúc đẩy niềm tin của người tiêu dùng. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã xuống mức 4,1%, thấp nhất trong 17 năm như Tổng thống Trump đã đề cập.

Theo Conference Board, “nhìn chung người tiêu dùng Mỹ vẫn rất tin tưởng rằng nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ nhanh trong những tháng tới”.

Các chuyên gia kinh tế thường theo dõi sát báo cáo của Conference Board vì chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ chiếm khoảng 70% GDP của nước này.

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Mỹ hồi phục sau khi chạm đáy tại mức 25,3 điểm vào tháng 2/2009 khi nước Mỹ đang trong giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc Đại Suy thoái.

Minh Tuệ

Bỏ ngay cái việc lãnh đạo mà lại xin rút kinh nghiệm.

Quoc Vo is with Haiviet Hoang.

TUOITRE.VN

  

Bỏ ngay cái việc lãnh đạo mà lại xin rút kinh nghiệm.

Đã là 1 lãnh đạo thì chỉ có đúng và sai và từ chức nếu sai chứ không có chuyện rút kinh nghiệm, vì cái sai của lãnh đạo sẽ làm lụn bại đất nước và dân tộc mà nếu đã sai thì còn ngồi đó làm gì mà không từ chức, vì hết cái sai này sẽ tiếp theo những cái sai khác.

Đó là chưa nói tới lòng tự trọng của một trí thức, nhất là ở bộ giáo dục, thì lại càng không thể tha thứ, và nếu là trí thức thì hãy che mặt mà từ chức.

VC không chỉ là những kẻ tham quyền cố vị, dốt nát những không chịu từ chức, mà còn thiếu cả phong cách của 1 trí thức.

TTO – Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ giao Thanh tra Bộ xác minh, làm rõ các trường hợp hồ sơ chưa đủ tiêu chuẩn hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo và sớm công…
TUOITRE.VN