Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

 

Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

Gần đây, sau bài viết “Khoe khoang kiểu Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam khác gì nhau” đăng tải trên Trí thức VN, không ít người đã bình luận và liên tưởng đến quan điểm sống, cách “khoe khoang” cũng như tiêu chí đo lường thành công của người Tây phương, đặc biệt là người Mỹ.

Dường như nếu tại một số nước phương Đông, nhà lầu và xe hơi được coi là tiêu chí đo lường thành công, thì điều này khác biệt hoàn toàn ở Mỹ. Vì sao lại có sự khác biệt như vậy?

Thứ nhất, quan điểm của những người trẻ đã trở nên thay đổi

Hiện tại, những người trẻ ở Mỹ có quan niệm khá khác biệt so với những người thế hệ trước, họ có hệ giá trị quan của mình. Những người thành công không sử dụng tài sản để mua nhà, mua xe hay tiến hành đầu tư nữa. Với họ, thành công tức là phải tự làm cho bản thân mình phong phú, đi du lịch nhiều nơi, chơi nhiều môn thể thao mạo hiểm và phải tự gây dựng sự nghiệp của mình.

Hơn nữa, những người trẻ tuổi cũng không có nhu cầu muốn ổn định, họ thậm chí còn muốn có nhiều không gian sinh hoạt sao cho có thể duy trì sự độc lập về kinh tế và tự chủ trong cuộc sống.

Thứ hai, thích lối sống tự do

Người Mỹ bản thân tính cách sôi nổi, thích trải nghiệm những môi trường sống khác nhau, thay đổi công việc của người Mỹ cũng lớn, mỗi lần như vậy đều có thể chuyển cả chỗ ở. Điều này trái ngược hoàn toàn so với văn hóa “an cư lạc nghiệp” của người phương Đông.

Ngoài ra, bởi vì những nhân viên người Mỹ tính lưu động cũng lớn, do đó các công ty cũng thường khuyến khích nhân viên tìm nhà ở gần chỗ làm để tiện cho công việc. Trong nhiều trường hợp, đi thuê nhà sẽ phù hợp với sự lưu động của tính chất công việc.

Thứ ba, người Mỹ làm cho chúng ta “tròn mắt” về quan niệm nhân sinh

Nói đến nước Mỹ, rất nhiều người chưa từng đến Mỹ đều cho rằng đây là một đất nước hiện đại hóa, nhịp sống rất nhanh, khắp nơi là đô thị, quán bar nhà hàng, tụ điểm ăn chơi… cho rằng Người Mỹ ai ai cũng chỉ âm mưu tranh đấu, tình người lạnh nhạt, khái niệm về gia đình không mạnh, tình dục hết sức cởi mở, tiền là thượng đế…

Nhưng nếu đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện ra những gì trong tưởng tượng đó lại chỉ phù hợp với tình hình của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, không hề giống như nước Mỹ vốn có.

  1. Bị bệnh vẫn cố đi làm được xem là một hành vi vô trách nhiệm

Đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện rằng, bị bệnh thì nên nghỉ ngơi, không nên cố đi làm. Khi bị bệnh mà vẫn cố đi làm thì được xem là một hành vi vô trách nhiệm đối với cả bản thân mình và người khác.

Chẳng hạn nếu bạn bị cúm, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn nên ở nhà, cần phải tự cách ly bản thân trong thời gian bao lâu, bởi khi đến nơi công cộng bạn sẽ lây bệnh cho những người khác. Đây còn là một chủng đạo đức công cộng, chính là biểu hiện có trách nhiệm với xã hội.

  1. Nhà lầu xe hơi không phải là thứ mà người giàu nhất định phải sở hữu

Ở Mỹ khi nói đến mua nhà, cơ bản là mua nhà độc lập (giống như cái gọi là “biệt thự” trong suy nghĩ của nhiều người Việt). Những người bình thường cũng có thể mua nhà loại này, chứ không phải những người giàu. Ngoài ra còn một loại nhà xây theo từng phố (chúng ta gọi là biệt thự liền kề) giá rẻ hơn và thuộc quyền sở hữu của chủ nhà.

Điều này không giống với ở Trung Quốc và Việt Nam, người bình thường có để dành tiền cả đời cũng khó mua được biệt thự. Ở Trung Quốc chỉ có thể sở hữu tối đa 70 năm, còn quyền sở hữu vĩnh viễn thuộc về nhà nước, còn ở Việt Nam chỉ mua được quyền sử dụng đất.

  1. Chính trị gia cũng không có gì đáng kể

Trong suy nghĩ của nhiều người chúng ta, nếu được chụp ảnh riêng với chủ tịch nước, thủ tướng hay thậm chí giám đốc tỉnh, thành phố thôi cũng là một điều đáng để tự hào. Nhưng ở Mỹ thì quan chức chính phủ là do cử tri bầu cử. Bạn sẽ có nhiều cơ hội gặp họ khi họ tiến hành chiến dịch vận động tranh cử. Nếu bạn muốn chụp ảnh, khẳng định là họ sẽ phải cười vui vẻ và thể hiện thái độ thân thiện nhất với bạn, sau đó còn phải cảm ơn bạn đã ủng hộ cho họ. Các nghị sĩ và quan chức sau khi được bầu chọn, bạn viết thư cho họ nhất định sẽ nhận được hồi đáp. Nếu như trong giờ làm chưa giải quyết hết công việc, họ sẽ phải ở lại muộn để trả lời từng lá thư một.

  1. Gia đình là số một: Công việc và tiền bạc đều phải nhường chỗ cho gia đình

Rất nhiều người hiện nay bị cuốn vào công việc và tiền bạc đến nỗi không có thời gian dành cho gia đình. Có những người làm việc cả ngày lẫn đêm, họ coi trọng của cải vật chất hơn bất cứ thứ gì khác, sẵn sàng bỏ bê vợ con, con ốm cũng không đưa đi bệnh viện được, đến khi cha mẹ qua đời có thể còn không kịp đến gặp mặt lần cuối cùng…

Ở Mỹ, nếu làm như vậy thì sẽ bị người khác khinh thường. Nhiều người Mỹ thường đặt ảnh chụp chung của gia đình trên bàn làm việc. Sau giờ làm và cuối tuần họ đều dành thời gian cho gia đình. Hàng năm cũng có những kỳ nghỉ mà toàn bộ thành viên gia đình tham gia cùng nhau.

Người Mỹ cho rằng gia đình là số một, ngay cả tiền bạc và công việc đều phải nhường chỗ cho gia đình (Ảnh: Pixabay)

  1. “Phú” không đồng nghĩa với “quý”

Nhiều người cho rằng cuộc sống quý tộc chính là ở biệt thự, đi xe Bentley, chơi gôn, chi tiêu nhiều tiền hay đầu tư vào nhà đất… Thực tế thì đây không phải là tinh thần quý tộc. Đây mới chỉ là bước khởi đầu.

Tại Mỹ, rất dễ đánh giá sai một người nếu chỉ nhìn bề ngoài. Người giàu họ không chú trọng thương hiệu, không dùng xe hơi, nhà lớn, mà chú trọng phong thái, ra đường phải chỉnh tề (rất quan trọng), làn da phải màu nâu rám (có tiền để đi tắm nắng), thể hình phải rắn chắc (có phòng tập thể dục)… Một điều quan trọng nhất chính là khoản tiền đóng góp hàng năm cho các hiệp hội từ thiện và nhà thờ. Ở những trường đào tạo quý tộc thực sự, học sinh phải ngủ ở giường cứng, ăn uống cũng đạm bạc, mỗi ngày đều phải đào tạo huấn luyện cực kỳ gian khổ, thậm chí còn khổ hơn ở những trường bình dân. Trong ý thức người Trung Quốc, phú và quý là như nhau, không có khác biệt, nhưng sự thật thì hoàn toàn khác nhau, phú là ở vật chất, còn quý là ở tinh thần.

Người Mỹ theo đuổi các giá trị tinh thần, chứ không chạy theo bạc tiền vật chất, do đó với họ thì việc mua nhà lầu xe hơi chắc chắn không phải là thước đo thành công hay giá trị của một người giàu có.

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…TRONG CUỘC ĐỜI MÌNH.!!!

 

GÓC SUY GẪM…

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…TRONG CUỘC ĐỜI MÌNH.!!!

Một người đàn bà nghèo khổ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai :”

Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính”.

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: “ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính !”.

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại.

Trong cuộc đời chúng ta cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:

“ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH”.

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: đó là chăm chút đời sống tâm linh, cho gia đình, cho những người thân yêu là cha mẹ con cái chồng vợ… là giá trị của đạo đức làm người.

Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn…!!!

Image may contain: one or more people, cloud, sky, twilight and outdoor

Cuối năm, nhìn đất nước từ một cuộc thi Marathon

Cuối năm, nhìn đất nước từ một cuộc thi Marathon (RFA)

Thứ Tư, 12/30/2020

VietTuSaiGon

Cuộc thi chạy marathon tại cố đô Huế vào ngày 27 tháng 12 năm 2020 làm dậy sóng truyền thông bởi các vấn đề liên quan đến “thuần phong mỹ tục”, “phản cảm”, “phi thể thao”, “làm ảnh hưởng đến hình ảnh chiếc áo dài Huế”… Và, đáng sợ hơn là hầu hết các trang báo nhà nước đều đưa tin có nội dung như đã nêu. Hơn nữa, về phía người tham gia chạy với trang phục “cosplay” khi trả lời báo chí đều cho thấy họ không có bất kì thông điệp nào, chỉ đơn giản vui là chơi, mặc cho đẹp… Riêng ông Giám đốc sở Du lịch và Thể thao Thừa Thiên – Huế còn trả lời rằng ông không khuyến khích mặc trang phục kiểu này khi tham gia chạy, hay nói khác đi là ông không đồng tình với việc này. Với hàng loạt trang báo đưa tin, với hàng loạt câu trả lời như vậy trong một đường chạy cuối năm của một năm có quá nhiều tai ương, tự dưng tôi nhớ đến hai câu thơ của Tản Đà: Dân hai mươi triệu không người lớn/ Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con. Vì sao?

Vì khi thế giới đã lên đường từ lâu, dường như tâm thức người Việt vẫn chưa bao giờ thoát khỏi bụi chuối mụt măng. Cái tâm thế hiện đại không ra hiện đại, cổ điển không ra cổ điển, cởi mở không ra cởi mở mà cố chấp cũng không phải cố chấp này bàng bạc khắp dòng máu Việt, từ người Việt trong nước cho đến người Việt hải ngoại. Nói gần nhất, tại cuộc chạy đua marathon Huế 2020 này, người mặc trang phục cosplay không hiểu ý nghĩa của việc ăn mặc của mình, nhưng cứ thấy thích là làm, ban tổ chức cũng không hiểu được ý nghĩa của nó nhưng cứ thấy lạ, được rỉ tai rằng hay thì cứ nhắm mắt để cho làm nhưng không hiểu vì sao lại để người ta làm.

Ngay cả báo chí, hàng loạt trang nhảy vào đưa tin, ném đá dựa trên cái gọi là thuần phong mỹ tục trong khi cũng chính các tờ báo đó, hằng ngày ra rả đưa tin về vấn đề “giao lưu, hội nhập văn hóa thế giới”. Sở dĩ có sự mâu thuẫn đồng bộ như thế này bởi tầm nhìn bị hạn chế. Đương nhiên sống trong một quốc gia độc tài, tầm nhìn bị hạn chế là điều tất yếu, nhưng đó phải là người dân, ít có điều kiện tìm hiểu, tham khảo, nghiên cứu ra bên ngoài. Còn với giới quản lý, chi phí đi học hỏi ở nước ngoài hằng năm tính bằng triệu đô, với báo chí, chi phí tổ chức một tờ báo cũng tính bằng triệu đô, toàn tiền thuế cả dân cả. Thế nhưng họ đã mở rộng cái gì cho người dân?

Xin thưa là họ không những không mở rộng tầm nhìn cho nhân dân mà cứ mỗi sự kiên văn hóa diễn ra, dường như chính họ là kẻ trực tiếp bịt tầm nhìn của người dân, họ áp đặt những thứ “khuôn vàng thước ngọc thuần phong mỹ tục” một cách vô tội vạ. Để rồi hôm sau, không ai khác, chính các tờ báo này đưa tin cô hoa hậu này về làng ra sao, vòng eo bao nhiêu, vòng ngực đẹp cỡ nào, chân dài mét mấy, thậm chí, nếu có cơ hội, họ sẽ làm hot trang báo của mình bằng hình ảnh cô chân dài nào đó “lỡ tay” trong ăn mặc hoặc một cái tin giật gân nào đó có liên quan đến chân dài và những thứ thuộc về điều tế nhị của chân dài… Vậy họ đã giữ thuần phong mỹ tục?!

Và giới quan chức, những người nghe dư luận ném đá thì ngay tức khắc rụt đầu, chối bỏ mọi thứ trách nhiệm, giới báo chí được nước làm tới, tuổi trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ Huế không tiếc lời chì chiết, mạ lị… Không khí trở nên lộn xộn và bát nháo một cách không đáng có. Bởi chuyện này, thế giới đã làm từ lâu với đầy đủ ý nghĩa, thông điệp của nó. Ví dụ như một vận động viên (cosplay) với bộ áo quần phi hành gia, hay bộ áo quần giống như trái chuối, bộ áo quần cô dâu chú rể… để tham gia đường chạy với thông điệp về không gian vũ trụ bí ẩn đang cần con người tiếp tục khám phá hoặc thân phận nhỏ nhoi của con người trước vụ trụ, thông điệp về thực phẩm sạch, về vấn đề bình đẳng giới, về vấn đề chống phá thai, chống bạo lực gia đình… Nó khác với cuộc thi marathon tại Huế là người ăn mặc cosplay lại chẳng có thông điệp, chỉ có khuynh hướng ham vui, mà nói đúng hơn là học đòi.

Cho đến lúc này, tôi không hiểu vì sao không ủng hộ mà lại để xảy ra (cho dù sự không ủng hộ ấy đúng hay sai thì cũng cần một sự quyết đoán từ nhà quản lý, không thể mập mờ bước chân nam chân chiêu như vậy được), và đáng sợ hơn là hầu hết các tờ báo trong nước đều xúm vào đánh theo kiểu hội đồng, mượn các phát ngôn của những facebooker để thay quản điểm tờ báo trong khi các phát biểu này vô thưởng vô phạt.

Đáng buồn là chỉ riêng một cuộc chạy marathon thôi cũng có lắm điều để nói, trong đó, câu chuyện ếch ngồi đáy giếng vẫn còn nguyên giá trị. Đây là chuyện ngoài sức tưởng tượng nếu như muốn Việt Nam đi vào thời đại kinh tế 4.0. Bởi khi thế giới phẵng, thế giới của trí tuệ nhân tạo hiện hữu, có mặt tại Việt Nam và chi phối mọi hoạt động tại Việt Nam, nó có thể xô dạt mọi giá trị truyền thống nếu như các giá trị này không đủ trọng lực trong tâm hồn người Việt. Thế nhưng, với thực trạng văn hóa Việt Nam, mọi thứ xô bồ và hổ lốn, rất khó để tin rằng người Việt có thể trụ nổi trước thời đại 4.0 nếu nó diễn ra. Bởi loại tư duy bụi chuối mụt măng, mất gà mất qué thì la làng, thì chửi đã ăn dằm trong hệ thống quản lý và cả trí thức Việt Nam.

Chính vì vậy mà các sự kiện truyền thông, người Việt Nam luôn làm rất thành công và rình rang, các vấn đề truyền thông, đụng đến người Việt thì mọi chuyện trở nên kì vĩ. Thế nhưng các sự kiện khoa học, nghệ thuật, khi đụng tới người Việt, mức độ thành công rất thấp và chỉ hạn chế trong một nhóm người đặc biệt. Vì sao? Vì thứ tư duy “truyền thống” đã chi phối, thứ hành vi ném đá tập thể, té nước theo mưa, thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào, nói theo cấp trên, nói theo người nổi tiếng, thậm chí lớn theo người nổi tiếng, lớn theo bề trên… đã trở thành nọc độc trong tâm hồn người Việt.

Và cuộc chạy marathon tại Huế với nhiều chuyện lình xình kéo theo không phải là chuyện lớn, bởi chuyện lớn nằm trong một cuộc chạy marathon khác mang tầm quốc gia, thậm chí có tính quốc tế mà cả dân tộc Việt Nam đang phải chạy, mỗi người tự trang bị cho mình một bộ áo quần không giống ai để được nhìn thấy giữa đám đông xô bồ, hỗn độn mà không hiểu được mình mặc như vậy để làm gì, nó gửi gắm thông điệp gì cho thế giới. Bởi chúng ta mặc dù không còn ở dân số hai mươi triệu như những năm 1930, chúng ta không còn tính độ tuổi lịch sử bằng bốn ngàn năm hay sáu ngàn năm nữa. Mà thời đại của chúng ta đang sống là thời đại của dân sáu tỉ riêng chung trong địa cầu chật hẹp, lịch sử của chúng ta được tính bằng độ tuổi trưởng thành về văn hóa, chính trị, kinh tế và vị thế trong mặt bằng trí thông minh nhân tạo và cả trí thông minh con người.

Nhưng, hình như năm 2020, chúng ta vẫn hành xử với nhau theo cách của người man rợ, người ta sẵn sàng giết cả một gia đình bằng công an, quân đội, rồi sau đó tiếp tục phi tục phi tang, vu khống, ghép tội, đẩy vào chốn lao lý… Dường như chúng ta luôn nghe nói về thời đại 4.0 và những thành tựu kinh tế, văn hóa, thể thao, khoa học vượt bậc, thần kỳ. Thế nhưng những thành tựu ấy được đánh đổi bằng sự nổi giận của thiên nhiên và khi sự cố xảy ra, chúng ta thúc thủ, trở lại thời nông nghiệp, khắc phục bằng những biện pháp hết sức thô sơ và hàng ngàn lổ hổng về khoa học, kinh tế, y tế, giáo dục, văn hóa hiện ra trước mắt. Và đến lúc bí bách, chúng ta lại hành xử với nhau như những kẻ lâu năm quen giành giật bụi chuối, mụt măng, con gà con qué…

Năm 2020 chỉ còn đúng một tờ lịch nữa là khép lại. Năm 2021 lại mở ra với hàng hàng lớp lớp những gì tồn đọng từ 2020. Liệu có ai đủ dũng cảm để tin rằng năm 2021 sẽ tốt hơn, sẽ dễ thở hơn nếu như mọi thứ vẫn còn mắc kẹt giữa nếp nghĩ của thế kỉ trước?!

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Bà là một góa phụ lớn tuổi, chồng bà đã qua đời sau một tai nạn xe hơi. Kể từ đó, bà sống khép kín, không khóc than, không tâm sự với bất kỳ ai về cái chết của chồng. Hầu như ngày nào, bà cũng ngồi nhìn ra cửa sổ một cách vô định, không nấu ăn, không chăm sóc khu vườn và cả bản thân của mình nữa

Con gái bà đã tìm mọi cách giúp mẹ vượt qua tình trạng bế tắc này nhưng thật vô vọng. Nhiều bác sĩ đã chẩn đoán và điều trị chứng trầm cảm của bà nhưng vẫn hoài công, và đến một ngày người con gái dẫn bà tới gặp một bác sĩ tâm lý.

Lúc đầu, bà và bác sĩ chỉ ngồi quan sát nhau mà không trò chuyện. Trông bà khá trẻ so với cái tuổi bảy mươi, nhưng dường như trong bà không còn chút sức sống.

Người bác sĩ bắt đầu gợi chuyện, hỏi tại sao bà lại đến đây.

– Chồng tôi đã mất – Im lặng một lúc, bà nói tiếp – Các con tôi muốn tôi được khuây khỏa sau cái chết của cha chúng. Nhưng không ai có thể hiểu được cả.

– Tôi hiểu bà như mất đi một nửa cuộc sống của mình. Chỉ có chồng bà mới hiểu được nỗi mất mát ấy. Và cũng chỉ ông ấy mới biết được cuộc sống của hai người trước đây đã hạnh phúc đến nhường nào. – Bác sĩ nói.

Bà quay lại nhìn bác sĩ, đôi mắt màu nâu đen của bà không có một tia sáng nào cả.

– Nếu như lúc này ông ấy đang có mặt tại đây, bà sẽ nói gì?

Bà nhìn bác sĩ một lúc lâu rồi từ từ nhắm mắt lại. Bà bắt đầu nói – như thể đang nói với người chồng thân yêu của mình – về cuộc sống của bà từ khi không có ông. Bà kể cho ông nghe cảm giác của bà khi phải tự mình làm mọi việc mà trước đây hai người cùng làm. Bà cảm thấy thật sự khó khăn khi phải chấp nhận rằng ông thực sự không còn nữa. Bà thấy rằng còn nhiều điều bà chưa kịp làm và chia sẻ cùng ông… Và bà đã khóc, bà khóc rất nhiều như chưa bao giờ được khóc.

Đợi bà qua cơn xúc động, bác sĩ hỏi liệu có còn điều gì mà bà chưa nói với ông không. Bà bảo rằng bà rất giận ông vì ông đã để bà phải sống một mình khi về già, rằng ông đã không thực hiện lời hứa với bà.

– Ông ấy đã dạy cho tôi biết thế nào là tình yêu cuộc sống…

– Bà tiếp tục kể. Vị bác sĩ vô cùng xúc động và ngạc nhiên khi nghe câu chuyện tình lãng mạn của hai người.

– Giả sử ông ấy đang ngồi đây, trước mặt bà, là tôi đây. Ông ấy sẽ hỏi bà điều gì về cuộc sống của bà trong suốt hai năm qua? – Bác sĩ hỏi.

– Anh ấy sẽ hỏi tôi “Tại sao em lại nhớ anh bằng một nỗi đau đớn vô bờ và hành hạ bản thân mình như vậy? Điều mong muốn lớn nhất trong cuộc đời của anh là mang đến cho em niềm vui mà”. Khi nói xong điều đó, một tia sáng hiếm thấy lấp lánh trong ánh mắt bà. Bà dường như được trở về với chính mình hai năm trước đó.

Qua lần trò chuyện đó, bà dần hiểu rằng không phải cứ đau buồn đắm chìm trong ký ức và giam mình trong một cuộc sống khép kín mới là tưởng nhớ đến nhau. Khoảng một năm sau, bà gửi cho bác sĩ tâm lý một tập gồm các bài viết trích từ tờ báo địa phương về tổ chức từ thiện mà bà đang tham gia – trong đó có những người như bà – cùng lời đề tặng: “Từ trong tuyệt vọng, tôi đã quyết định nhổ neo, căng buồm và lướt sóng ra khơi”.

Đứng trước mỗi một nỗi đau, mất mát nào đó, chúng ta dường như phải lựa chọn cuộc sống một lần nữa. Chúng ta không bắt buộc phải quên đi mọi thứ, nhưng thời gian sẽ chữa lành tất cả, để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Helen Keller

Tình yêu thì còn mãi

Tình yêu thì còn mãi

Một năm trước khi chết, nhà văn Tiệp khắc Franz Kafka (1883-1924) đã có một trải nghiệm đặc biệt. Đi dạo trong công viên Steglitz ở Berlin ông gặp cô gái nhỏ Elsi đang khóc vì tuyệt vọng: cô ấy đã đánh mất con búp bê Brigida yêu thích của mình. Kafka đã đề nghị giúp cô ấy đi tìm và hai người đã hẹn là sẽ gặp nhau vào ngày hôm sau.

Biết là không thể tìm thấy, nhà văn đã giả giọng con búp bê viết một bức thư cho cô bé và mang nó theo khi họ gặp nhau: “Xin đừng khóc, tôi đang đi du lịch để nhìn xem thế giới và sẽ kể cho bạn nghe về những chuyến phiêu lưu này…”, Ông đã bắt đầu bức thư như vậy.

Khi gặp nhau, ông đã đọc bức thư, trong đó mô tả thật kỹ những cuộc phiêu lưu tưởng tượng của con búp bê Brigida. Cô bé Elsi cảm thấy mình được an ủi, và trước khi chia tay, nhà văn Kafka có tặng cho cô bé một con búp bê. Dĩ nhiên con búp bê này khác với con búp bê bị mất, nó được kèm theo một ghi chú để nhằm giải thích: “Cuộc hành trình dài đã làm tôi thay đổi”.

Nhiều năm sau, khi cô gái Elsi đã trưởng thành, một hôm cô tìm thấy một mảnh giấy khác giấu trong lòng con búp bê: “Tất cả những gì bạn yêu bạn đều có thể sẽ đánh mất nó, nhưng cuối cùng tình yêu sẽ chuyển đổi trong một hình thức khác”. (Người gửi: Franz Kafka)

“Cuộc đời vô thường, ta không thể giữ mãi những gì ta yêu quý nhưng tình yêu còn lại mãi…”

Theo Blog Radio

Hình của songdep

Image may contain: 3 people

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Phương Tây ngả mũ trước nỗ lực gìn giữ nền dân chủ của một đất nước châu Phi bé nhỏ.

30/12/2020

By  JASON NGUYEN

Cử tri Malawi mừng chiến thắng của Tổng thống tân cử Lazarus Chakwera trong cuộc bầu cử lịch sử năm 2020. Ảnh: Amos Gumulira/ AFP.

Năm 2020, tổ chức Freedom House đánh giá rằng tình hình dân chủ đã xấu đi ở ít nhất 80 nước, trong đó có cả nước Mỹ.

Theo đó, các giá trị dân chủ đã xói mòn trong bối cảnh đại dịch. Nhiều quốc gia đã có những động thái như giới hạn tự do truyền thông và ngôn luận, trì hoãn nhiều cuộc bầu cử quan trọng, cũng như tăng cường giam giữ những tiếng nói đối lập – tất cả với lý do phòng chống dịch bệnh.

Duy chỉ có một đất nước có điểm số dân chủ tăng lên, đó là Malawi. Tạp chí The Economist (Anh) mới đây đã trang trọng gọi đất nước châu Phi này là quốc gia của năm.

Tình hình dân chủ xấu đi ở nhiều quốc gia trong năm 2020. Malawi là điểm sáng duy nhất. Đồ họa: The Economist.

Theo nhận định của Freedom House, câu chuyện ở Malawi đã “nêu bật tầm quan trọng của các thiết chế nhà nước độc lập cũng như một khu vực xã hội dân sự năng động trong việc duy trì tính toàn vẹn và dân chủ của bầu cử, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các cuộc bầu cử tương tự trong khu vực”.

Câu chuyện về mặt hồ phát sáng

Malawi là một quốc gia còn khá xa lạ với nhiều người trên thế giới, không riêng gì với người Việt Nam. Nằm giữa vùng Đông Nam châu Phi với dân số khoảng 19 triệu người, Malawi tiếp giáp với ba quốc gia là Mozambique, Tanzania, và Zambia.

Thu nhập bình quân đầu người của Malawi vào năm 2019 chỉ là 411 USD, theo số liệu của World Bank. Mức thu nhập này chỉ bằng ⅙ của Việt Nam. Malawi, theo đó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ánh bình minh phản chiếu trên mặt hồ Malawi khi các ngư dân trở về nhà sau một đêm làm việc dài. Ảnh: Marcus Westberg/ New York Times.

Địa danh nổi tiếng nhất tại quốc gia này có lẽ là hồ Malawi – một trong những hồ nước ngọt chứa lượng cá phong phú nhất thế giới. Dù có diện tích tương đối nhỏ (chỉ bằng một nửa Việt Nam), Malawi sở hữu đến 1/3 diện tích nước ngọt của cả châu Phi. Tên gọi của quốc gia này phản ánh đặc trưng đó. Malawi trong tiếng bản địa nghĩa là “vùng nước phát sáng” (flaming waters), tượng trưng cho hình ảnh mặt hồ Malawi phản chiếu những tia nắng mặt trời.

Malawi chỉ trở thành tên gọi chính thức khi quốc gia này giành độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 6/7/1964, thay cho tên cũ là Nyasaland (mang nghĩa “vùng nước rộng lớn” – broad waters).

Vào ngày độc lập, hơn 40.000 người đã đổ ra Quảng trường Trung tâm (Central Stadium) tại thủ đô Lilongwe và hô vang ‘Ufulu! Ufulu’ (‘Tự do! Tự do!) cho một khởi đầu mới của đất nước, và của chính họ.

Trong một khu vực vẫn còn mang nặng quá khứ thuộc địa, Malawi được xem là một hình mẫu khá thành công. Khi các quốc gia châu Phi khác vẫn đang phải đắm chìm trong xung đột giữa các bộ tộc, Malawi đang từng bước vững chãi chuyển mình sang thể chế dân chủ hậu thực dân.

Thăng trầm dân chủ hóa

Không lâu sau khi giành được độc lập, một cuộc tranh chấp quyền lực xảy ra giữa thủ tướng lúc bấy giờ là Hastings Kamuzu Banda và các bộ trưởng trong nội các chính phủ. Ba bộ trưởng sau đó bị bãi nhiệm, ba người khác từ chức.

Vào ngày 6/7/1966, Malawi trở thành một nước cộng hòa, và Banda được bầu làm tổng thống. Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm tổng thống trọn đời. Hiến pháp cũng chính thức công nhận Đảng Quốc hội Malawi (Malawi Congress Party – MCP), lúc bấy giờ do tổng thống Banda lãnh đạo, là chính đảng duy nhất tại đây.

Tuy là đảng phái lâu đời nhất và có sức ảnh hưởng tại Malawi, nhưng bên cạnh công trạng lớn trong việc đưa quốc gia này thoát khỏi thuộc địa Anh và thúc đẩy phát triển kinh tế, MCP được cho là dùng phần lớn thời gian trong suốt 31 năm cầm quyền của mình để củng cố quyền lực và xây dựng một chế độ độc đảng.

Tổng thống đầu tiên của Malawi từ ngày giành độc lập – Hastings Banda, cùng với Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Blantyre, Malawi vào ngày 22/7/1979. Ảnh: Popula.com/ AP.

Mọi chuyện chỉ thay đổi từ ngày 8/3/1992, khi một lá thư mục vụ (pastoral letter) của Hội đồng Giám mục Công giáo Malawi được đọc tại các nhà thờ trên khắp đất nước.

Nội dung lá thư bày tỏ mối quan tâm về tình hình nhân quyền tồi tệ, nạn nghèo đói, và những ảnh hưởng nghiêm trọng của chúng đến cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Xuất hiện vào một thời điểm không thể thích hợp hơn, lá thư này như một luồng gió khích lệ với các đảng phái đối lập đang hoạt động ngầm. Họ chờ đợi cơ hội khơi mào một chiến dịch cải cách dân chủ.

Thổi thêm vào luồng gió này là áp lực từ quốc tế, khi chính phủ các quốc gia viện trợ đe dọa sẽ cắt các nguồn trợ cấp nếu Malawi không chịu đa nguyên hóa thể chế chính trị.

Các yêu cầu cải cách đã có một chiến thắng vang dội.

Vào cuối năm 1992, hai đảng phái đối lập trong nước là Liên minh cho Dân chủ (Alliance for Democracy) và Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front – UDF) chính thức được thành lập và ra mắt công chúng.

Tháng 5/1994, cuộc bầu cử tự do đầu tiên chính thức diễn ra tại Malawi sau 30 năm kể từ ngày giành độc lập. Thủ tướng Banda sau đó bị ứng cử viên Bakili Muluzi của đảng đối lập UDF đánh bại. Đảng UDF cũng đã giành được đa số ghế trong quốc hội sau cuộc bầu cử này.

Năm 1995, một hiến pháp mới ra đời, đặt những viên gạch nền tiếp theo giúp Malawi chuyển mình sang một xã hội dân chủ. Hiến pháp mới cũng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống Malawi xuống tối đa là hai, với mỗi nhiệm kỳ kéo dài 5 năm.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Muluzi đã tiến hành những cải cách dân chủ sâu rộng hơn, thúc đẩy các quyền tự do cơ bản như quyền tự do ngôn luận và hội nhóm. Đó là một giai đoạn trái ngược hoàn toàn với thời kỳ lãnh đạo của cựu tổng thống Banda.

Tưởng chừng mọi việc đã an bài, thế nhưng, nền dân chủ của Malawi lại bị đe dọa một lần nữa.

Muluzi tái đắc cử tổng thống vào năm 1999, nhưng nhiệm kỳ thứ hai của ông không suôn sẻ như nhiệm kỳ đầu. Kết quả bầu cử bị đặt nghi vấn, kéo theo đó là một giai đoạn của các cuộc biểu tình, bạo lực, và cướp bóc.

Tổng thống Muluzi bị các tiếng nói cả trong và ngoài nước chỉ trích vì đã có những động thái ngày càng chuyên quyền. Không muốn bị giới hạn chỉ trong hai nhiệm kỳ, ông cũng đã nỗ lực sửa đổi hiến pháp nhằm gia hạn thời gian cầm quyền của mình, nhưng bất thành.

Bingu wa Mutharika và Bakili Muluzi, hai tổng thống của Malawi. Ảnh: Maravipost.com.

Không thể tiếp tục nắm quyền, vào cuộc bầu cử tiếp theo (năm 2004), Muluzi đề cử một ứng viên khác của Đảng UDF là Bingu wa Mutharika. Ông Mutharika sau đó đắc cử tổng thống.

Mutharika, giống như những người tiền nhiệm của mình, là đại diện cho một tình trạng đáng lưu tâm trong tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia châu Phi. Đó là việc người lãnh đạo trở nên chuyên quyền sau một thời gian tại vị.

Là một trong những thành viên sáng lập chủ chốt của Đảng UDF, Mutharika có một nền tảng học thuật và hoạt động công ích vững chắc. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới trước khi bước vào chính trường.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Mutharika, Malawi trải qua nhiều thách thức lớn. Đất nước nhỏ này phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dịch bệnh HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các đòn bẩy kinh tế, mất cân bằng an ninh lương thực, nền giáo dục xuống cấp, và cơ sở hạ tầng yếu kém.

Giống những người tiền nhiệm, Mutharika đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, ông tập trung vào việc chống tham nhũng và thiết lập các chính sách kinh tế bền vững để giúp đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Còn về chính trị, Mutharika tập trung vào quá trình cải thiện tình hình nhân quyền và pháp quyền với một tôn chỉ: vì người dân Malawi.

Thế nhưng vào nhiệm kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 2009, chính sách của Mutharika đã quay ngoắt 180 độ so với những gì ông cố thực hiện trước đó. Có thể nói, Mutharika của năm 2004 và 2009 là hai phiên bản đối nghịch của nhau.

Mutharika ngày càng trở nên chuyên quyền và kém khoan dung trước những lời chỉ trích. Ông cách chức tùy tiện các quan chức chính phủ, sách nhiễu các nhà hoạt động phản đối chính sách mình đưa ra, công khai tuyên bố rằng sẽ “xử lý” và bỏ tù những người tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chế độ của mình.

Biểu tình lớn ở Malawi năm 2011. Ít nhất 19 người đã chết trong cuộc đụng độ với quân đội. Ảnh: VOA.

Vào tháng 7/2011, sức ép lên chính quyền của Mutharika càng lên cao. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra tại Malawi vì người dân bất mãn với giá lương thực tăng cao và cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn quốc. Quân đội được triển khai để trấn áp. 19 người biểu tình bị giết chết, hàng trăm người khác bị thương.

Ngày 5/4/2012, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Mutharika đột ngột qua đời vì một cơn đau tim.

Cái chết của vị tổng thống chỉ được công bố chính thức hai ngày sau đó. Lý do là vì các quan chức chính quyền (vốn theo Mutharika) không muốn phó tổng thống lúc bấy giờ là Joyce Banda thế vào chỗ trống theo hiến pháp. Tấm thảm dẫn tới ghế tổng thống lúc đó đã được trải sẵn cho cậu em trai Peter Mutharika. Tuy vậy, với sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong nước và quốc tế, Banda vẫn nhậm chức tổng thống tạm quyền.

Đến cuộc bầu cử năm 2015, Peter Mutharika giành thắng lợi với 36,4% số phiếu bầu. Ông vượt qua Lazarus Chakwera, ứng cử viên của đảng MCP, và Tổng thống tạm quyền Banda (đạt lần lượt là 27,8% và 20,2% số phiếu). Mặc dù Banda cáo buộc có gian lận bầu cử, Tòa án Tối cao Malawi đã bác bỏ cáo buộc này.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi sự tập trung không dành cho người về nhất, mà lại đổ dồn vào người về nhì: Lazarus Chakwera.

Khi người dân quyết tâm giành lại cuộc bầu cử

Lazarus Chakwera là một cái tên khá mới mẻ trong chính trường Malawi. Cuộc đời ông lẽ ra đã được định sẵn để trở thành một mục sư, chứ không phải là tổng thống.

Sinh ra trong gia đình có cha là một nhà truyền giáo, Chakwera theo học và tốt nghiệp cử nhân triết học tại Malawi, sau đó theo học thạc sỹ ngành thần học (theology) tại Nam Phi và Hoa Kỳ. Ông quyết định xông pha vào chính trường khi nhận thấy rằng đất nước của mình đang lâm vào khủng hoảng và trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết trong suốt 25 năm qua.

Dáng dấp của Chakwera gợi nhớ đến một trong những nhà lãnh đạo dân sự vĩ đại nhất nước Mỹ – mục sư Martin Luther King Jr. – và bài phát biểu “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) nổi tiếng. Trong các bài diễn thuyết của mình, Chakwera thậm chí còn truyền đi những hy vọng táo bạo hơn.

“Đã đến lúc chúng ta vươn xa hơn những giấc mơ của mình”, ông nói. “Tất cả phải thức dậy, bởi vì đây chính là thời điểm để thoát khỏi giấc ngủ dài và biến giấc mơ của chúng ta thành hiện thực”.

Đó cũng chính là thời khắc người dân Malawi chợt thức tỉnh.

Lazakrus Chakwera gợi nhớ đến huyền thoại Martin Luther King Jr. Ảnh: Reuters.

Vào cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2019, cái tên Peter Mutharika lại được xướng lên là người chiến thắng với 38,57% số phiếu, theo sau là Chakwera với 35,41%. Thế nhưng, chiến thắng lần này của ông Mutharika không kéo dài được lâu.

Ủy ban Bầu cử Malawi (MEC) nhận được 147 báo cáo về gian lận bầu cử, trong đó có việc sử dụng hóa chất Tipp-Ex để tẩy xóa các phiếu bầu của ứng cử viên đảng đối lập. Các đảng đối lập đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp, còn người biểu tình Malawi thì tràn ra đường để cất lên tiếng nói ủng hộ quyết định trên.

Vào tháng 2/2020, Tòa án Tối cao Malawi đưa ra phán quyết rằng đã có những sai sót “lớn, mang tính hệ thống, và nghiêm trọng” trong quá trình bầu cử; đồng thời yêu cầu tổ chức lại một cuộc bầu cử mới trong vòng 150 ngày.

Lần này thì hàng triệu cử tri Malawi quyết tâm không để gian lận bầu cử lặp lại.

Đại dịch COVID-19 ngăn cản các quan sát viên quốc tế đến giám sát cuộc bầu cử mới, nhưng điều này chẳng thành vấn đề. Các tổ chức dân sự, phóng viên, và các nhà hoạt động xã hội địa phương đã thay phiên giám sát từng quá trình, từ vận động, bầu chọn, cho đến kiểm và đếm phiếu.

Để đảm bảo không có gian lận xảy ra, người dân tuần hành “hộ tống” các thùng phiếu đến các trung tâm kiểm phiếu. Quân đội lại được triển khai, nhưng giờ đây là để bảo vệ dòng người biểu tình đang diễu hành đòi công lý.

Tháng 6/2020, cả đất nước trải qua giai đoạn hồi hộp nhất kể từ ngày độc lập. Người người chăm chú bên chiếc radio trong hàng tháng trời để dõi theo từng diễn biến của cuộc bầu cử mới.

Sau biết bao chờ đợi, người dân Malawi đã có lý do để ăn mừng. Kết quả cuối cùng không phụ lòng họ.

Người dân Malawi đón mừng phán quyết của Tòa án Tối cao tại thủ đô Lilongwe. Ảnh: The Economist/ AP.

Trong cuộc bầu cử “sạch” này, ứng cử viên Lazarus Chakewra đã chiến thắng với 59% trong tổng số 4,4 triệu phiếu bầu, bỏ xa đối thủ Mutharika.

Đây không chỉ là chiến thắng của riêng Chakewra, mà còn là của cả người dân Malawi trong nỗ lực bảo vệ nền dân chủ của mình.

Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của các thiết chế vững chãi đối với những quốc gia đang bước đầu xây dựng nền dân chủ: một hệ thống tòa án độc lập, một khu vực xã hội dân sự sôi động, một nền báo chí dấn thân, và một quốc hội đủ mạnh. Tất cả kết hợp lại sẽ khiến cho những kẻ đam mê quyền lực khó lòng bám trụ vào ảo tưởng của mình.

Đây cũng là một bài học cho tất cả các quốc gia khác – những nước xét về quy mô dân số và điều kiện phát triển đều hơn hẳn quốc gia châu Phi nhỏ bé này.

Người Malawi đã lựa chọn dân chủ. Họ không viện dẫn cái nghèo để thờ ơ với chính trị, hay để những kẻ chuyên quyền tước đi các quyền dân sự cơ bản nhất của mình: quyền được cất lên tiếng nói, quyền được bầu chọn người lãnh đạo, và quan trọng hơn hết, quyền được tiếp cận sự thật.

Malawi đáng được ngưỡng mộ vì lẽ đó. Tạp chí The Economist vinh danh họ là quốc gia của năm 2020 với một phát biểu hùng hồn:

“Dù đất nước còn nghèo, nhưng người dân Malawi không chấp nhận làm đối tượng bị cai trị. Họ là những công dân tự do.”

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện đời sống của những công dân tự do nơi đây. Nhưng trước mắt họ đang là rất nhiều hy vọng.

Tham khảo:

How Malawi saved its democracy, The Continent

Which is The Economist’s country of the year?, The Economist

A historic day for Malawi’s democracy, The Economist

Malawi’s re-run election is a victory for democracy, The Economist

Nyasaland Becomes Malawi, 37th Free African Country; New Name Helps Mark Shift of Control From Whites to Black Majority, New York Times

History of Malawi, Britannica
The Erosion of Democracy in Malawi: President Bingu wa Mutharika’s Unholy Conversion, Brookings Institution

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

RFA
2020-12-29

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

Khu vực bờ kênh bị gãy vỡ.                VNExpress/ RFA Edited

Bờ kênh trị giá 4300 tỷ đồng Bắc sông Chu – Nam sông Mã bất ngờ bị đứt gãy khiến gần 150.000m3 nước tràn ra ruộng đồng trồng lúa và hoa màu của người dân.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam hôm 29/12 loan tin dẫn báo cáo của Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Thuỷ lợi 3 cho biết như vừa nêu. Cụ thể đoạn bờ kênh bị đứt gãy dài đến 70m (ban đầu báo cáo 50m) thuộc thôn Minh Lải, xã Phùng Minh, huyện Ngọc Lặc.

Thống kê ban đầu đoạn bờ kênh bị gãy khi đang cấp nước khiến nước chảy cuốn theo đất cát vùi lấp hơn 3 hecta đất nông nghiệp và nhiều tài sản khác của một số hộ dân sống gần khu vực đó.

Ngoài ra, nước còn cuốn trôi 25.000m3 đất, làm hư hỏng 40 tấm bê tông mái và đáy, khoảng 400m3 đá xây gia cố bờ kênh bị xói lở.

Ông Lê Đức Giang, phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thanh Hoá cho biết, lịch trình sản xuất địa phương bắt đầu từ ngày 29/12 sẽ lấy nước đợt 1 nhưng đoạn bờ kênh bất ngờ đứt gãy khiến việc cấp nước sản xuất bị chậm so với lịch trình trước đó và điều này ảnh hưởng lớn tới việc cung cấp nước cho hơn 28.000 ha đất nông nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, gửi lời xin lỗi đến người dân Thanh Hoá vì vụ việc vừa nêu và yêu cầu Ban Quản lý đánh giá thiệt hại, đền bù, khắc phục sự cố cả ngày lẫn đêm hoàn thành trong 3 ngày để cấp nước trở lại cho người dân.

Dự án kênh Bắc sông Chu – Nam sông Mã lấy nước từ hồ chứa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá với tổng chiều dài hơn 370 km, tổng vốn đầu tư hơn 4.300 tỷ đồng. Công trình được xây dựng từ năm 2014 và 2016 đưa vào vận hành, phục vụ cung cấp nước tưới cho hơn 31.000 ha đất ông nghiệp và cung cấp nước sạch cho hàng vạn hộ dân vùng hạ lưu.

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

RFA
2020-12-31

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

Vụ án mạng xảy ra tại quán lẩu bò 868 tỉnh Bình Dương.    Photo: RFA

Hai nhóm thanh niên đánh nhau tại một quán nhậu ở Bình Dương làm ba người chết. Truyền thông trong nước đưa tin hôm 31 tháng 12 năm 2020.

Tin cho biết, khi đang ăn nhậu tại một quán lẩu bò ở xã An Tây, Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, hai nhóm thanh niên xảy ra mâu thuẫn rồi dùng hung khí đâm chém nhau khiến nhiều người bị thương. Ba thanh niên bị thương nặng được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu nhưng không qua khỏi.

Cũng tại tỉnh Bình Dương, hôm 7 tháng 6 năm 2020, một nhóm thanh niên khoảng 10 người đi trên nhiều xe máy bất ngờ dừng trước cửa quán nhậu nằm trên đường Lê Hồng Phong. Nhóm này xông vô chém tới tấp chủ quán và một số người khác rồi nhanh chóng rút lui. Chủ quán tử vong sau đó do bị thương quá nặng.

Cũng tin liên quan sử dụng vũ khí đánh nhau, chiều 31 tháng 12 năm 2020, Công an Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ra quyết định tạm giữ hình sự đối với Lê Ký Nghiệp để điều tra về hành vi tàng trữ vũ khí trái phép.

Trước đó, vào tối ngày 29 tháng 12, một tổ công tác của Công an phường Trần Quang Diệu (Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định) kiểm tra xe ô tô do Lê Ký Nghiệp cầm lái. Công an thu giữ 4 khẩu súng ngắn kiểu dáng Rulo, 164 viên đạn, 2 điện thoại di động và 5 triệu đồng trên xe. Tài xế khai nhận do có mâu thuẫn với một nhóm thanh niên ở Thành phố Quy Nhơn nên Nghiệp cùng nhóm bạn ở huyện Vân Canh chở theo súng, đạn đi tìm đối thủ để giải quyết mâu thuẫn.

Cũng tại phường Trần Quang Diệu (Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định), hồi tháng 3 năm nay, hai nhóm thanh niên ẩu đả tại một quán cà phê với một khẩu súng hoa cải, một khẩu súng ngắn và nhiều dao, rựa. Công an bắt tạm giam kẻ cầm đầu.

CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦ

  Image may contain: text that says 'Pluralism'

 
CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦĐỗ Ngà

Đa nguyên về bản chất nó là dựa trên nguyên tắc “tất cả đều hòa thuận”. Nguyên tắc này được nêu ra từ rất xa xưa bởi các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Họ cho rằng chủ nghĩa đa nguyên là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, nó cho phép và thậm chí khuyến khích sự đa dạng của chính kiến. Để phát triển được chủ nghĩa đa nguyên thì mỗi người có phẩm chất “biết chấp nhận sự khác biệt”. Tuy nhiên để có con người biết chấp nhận sự khác biệt thì giáo dục thời cổ đại không thực hiện nổi. Chính vì vậy mà dù chủ nghĩa đa nguyên đã có từ lâu nhưng đợi đến thế kỷ 17 nó mới bắt đầu nảy nở và từ đó các nền dân chủ mới hình thành và phát triển.

Để đi đến bản hiến pháp tọa dựng nên nền dân chủ cho Hoa Kỳ thì tháng 10 năm 1787, 3 người thuộc đảng Liên Bang gồm Alexander Hamilton, James Madison và John Jay viết loạt sách có tựa The Federalist Paper, mỗi cuốn là một bài tiểu luận có giá trị. Nó là những bài phản biện sắc sảo để chuẩn bị viết nên bản Hiến pháp nổi tiếng. Trong đó có nhiều bài James Madison đã phản biện lại lỗ hổng mà Montesquieue đã viết trong cuốn Tinh Thần Pháp Luật nổi tiếng. Có tất cả 85 bài luận.

Trong bài luận The Federalist Paper số 10, James Madison đã cho rằng, nếu không có chủ nghĩa đa nguyên thì chính chủ nghĩa bè phái sẽ đưa đất nước đến các cuộc giao tranh chính trị cố hữu của và nó sẽ làm tan rã nền cộng hòa mới của Mỹ. Madison lập luận rằng, chỉ khi cho phép nhiều phe phái cạnh tranh bình đẳng để tham gia vào chính phủ thì nước Mỹ sẽ tránh kết quả thảm khốc này. Nghĩa là những đảng mạnh phải chấp nhận luật chơi công bằng, không dùng thế để loại bỏ đảng yếu hơn. Chính James Madison đã dựa vào chủ nghĩa đa nguyên xây dựng nên một nhà nước dân chủ và qua 245 năm, nó đã quá vững chắc.

Chính dựa trên nền tảng chủ nghĩa đa nguyên mà nền giáo dục nước này tạo ra cho nước Mỹ một nền tảng dân chủ vững chắc vì người dân Mỹ biết chấp nhận khác biệt. Chủ nghĩa đa nguyên nó giúp con người giảm căng thẳng với nhau, giúp con người chấp nhập sự thật rất dễ dàng. Một tổng thống hôm hay làm đúng, ngày mai ông ta lại trở thành kẻ phá hoại nền dân chủ thì với con người theo chủ nghĩa đa nguyên, họ sẽ dễ dàng vứt bỏ việc mến mộ và chuyển sang chỉ trích. Đó là lý do tại nao người dân Mỹ dồn phiếu cho Joe Biden trong cuộc bầu cử vừa qua. Nền dân chủ nước Mỹ được các vị khai quốc đặt nền tảng trước đây 2,5 thế kỷ giờ nó đã mọc rễ rất sâu trong lối sống người Mỹ rồi, phá không nổi dù cho người đó là tổng thống đầy quyền uy.

Chủ nghĩa CS nó nảy nở trên đất nước này qua 75 năm tạo ra tác hại ghê gớm. Bộ máy nhà nước CS không chấp nhận sự tồn tại của các đảng phái khác, không chấp nhận sự chỉ trích từ phía người dân đã đành, nó còn dựng nên một nền giáo dục thối tha mà nó gọi là “giáo dục XHCN”. Nền giáo dục này nó nặn ra con người phục tùng thiếu tư duy độc lập. Nếu nói ở Mỹ chủ nghĩa đa nguyên nó tồn tại trong bộ máy nhà nước lẫn trong tâm thức người dân thì tạo Việt Nam ngược lại nó chẳng tồn tại được ở chỗ nào cả. Nền tảng cho dân chủ Việt Nam vẫn là con số zero. Đó là lí do tại sao người Việt Nam dễ sùng bái lãnh tụ và dễ bị dắt mũi bởi những loại tin giả.

Có thể nói với nước Mỹ thì không ai đá đổ nổi nền dân chủ, còn với Việt Nam thì ngược lại, rất rất khó có thể gầy dựng nên một nền dân chủ được. Chỉ khi nào con người Việt Nam biết chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên, thì khi ấy dân chủ mới nảy nở và lớn mạnh được.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.thoughtco.com/pluralism-definition-4692539

https://www.history.com/topics/early-us/federalist-papers

 

Ông Mike Pence, phó Tổng thống Mỹ, vừa yêu cầu thẩm phán bác bỏ vụ kiện (VOA)

VOA Tiếng Việt 

Ông Mike Pence, phó Tổng thống Mỹ, vừa yêu cầu thẩm phán bác bỏ vụ kiện nhằm trao cho ông quyền bác bỏ phiếu đại cử tri để đảo ngược kết quả bầu cử có lợi cho Tổng thống Donald Trump tại phiên họp của lưỡng viện Quốc hội vào ngày 6/1 tới.

Tại phiên họp này, ông Pence với tư cách là Chủ tịch Thượng viện có nghĩa vụ kiểm các lá phiếu đại cử tri mà các tiểu bang gửi đến và tuyên bố ông Joe Biden là tổng thống thứ 46 của Mỹ.

Vụ kiện, do dân biểu Cộng hòa Louie Gohmert của bang Texas khởi xướng, lập luận rằng Hiến pháp cho phép phó tổng thống ‘thẩm quyển duy nhất để quyết định xem phiếu đại cử tri mà các bang gửi đến có hợp lệ hay không’. Do đó, dân biểu này yêu cầu thẩm phán liên bang nói với ông Pence rằng ông ‘có quyền tuyên bố rằng những lá phiếu đại cử tri bỏ cho ông Joe Biden và đã được chính quyền các tiểu bang chứng thực là không hợp lệ và thay vào đó công nhận những đại cử tri tự xưng của ông Trump’.

Vụ kiện này thách thức một quy trình xác nhận lá phiếu của cử tri đã tồn tại trên 130 năm qua với sự đồng thuận của lưỡng đảng mà chưa từng có ai đặt nghi vấn.

Lập luận mà luật sư ông Pence đưa ra để yêu cầu tòa bác bỏ vụ kiện này là ‘ông Pence không phải là bị đơn đúng nghĩa trong vụ kiện’ vì nó nhằm để mở rộng quyền của ông chứ không phải để chống lại ông.

Động thái này được các nhà quan sát nhận định là dấu hiệu cho thấy ông Pence không có ý định diễn giải lại vai trò của ông trong phiên họp xác nhận kết quả bầu cử tổng thống.

Vụ kiện này đã bị chính các thành viên trong Đảng Cộng hòa chống đối. Thượng nghị sỹ Ben Sasse của bang Nebraska cho rằng đó là ‘nỗ lực tước bỏ lá phiều của hàng triệu người Mỹ chỉ vì họ đã bầu cho một người thuộc đảng phái bên kia’.

“Khi chúng tôi nói chuyện riêng, tôi chưa từng nghe thành viên Đảng Cộng hòa nào ở Quốc hội cho rằng kết quả bầu cử là có gian lận – không một ai nói hết. Thay vào đó, tôi nghe họ nói là họ lo lắng những cử tri nhiệt thành nhất của ông Trump sẽ nhìn họ như thế nào,” ông Sasse viết trong lá thư ngỏ gửi đến các cử tri của ông được Washington Post dẫn lại.

Theo các bạn liệu ông Trump có thể lật ngược được thế cờ vào ngày 6/1 tới hay không?

Image may contain: 1 person, closeup

Thang Nguyen 

Theo bản tin của anh Lê Phát Được đưa lên FB là đúng như ý kiến của Phó TT Mike Pence. Như vậy là hy vọng cuối cùng của TT Trump kể như không còn cửa nào hết? Hôm qua tôi có người bạn hỏi tôi về chuyện vận động bạn bè ở TX lên DC ngày 6-1-2021, để ủng hộ cho TT Trump, có nên đi hay không? Có hy vọng gì hay không? Tôi có trả lời là tùy theo mọi cá nhân, thấy cần đi thì đi, tuy nhiên nên thận trọng để ý, nếu có sự Bạo Động thì phải nhanh chân tránh xa ngay, vì nghe nói Cảnh Sát ở DC có sự chuẩn bị đối phó Bạo Động, lúc đó khó phân biệt ai là ai? Good Luck cho mọi người trước thềm năm mới.

Món quà giáng sinh

Món quà giáng sinh

Tác giả: O-Henry 

Đây là truyện ngắn của nhà văn Mỹ nổi tiếng O-Henry. Truyện được xuất bản lần đầu vào ngày 10 tháng 4 năm 1906, không những được các độc giả phương Tây lúc bấy giờ yêu thích mà nó đã nhanh chóng được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Câu chuyện có nội dung sâu sắc khiến người đọc không khỏi xúc động bồi hồi khi suy nghĩ về cuộc sống, về tình yêu, tình cảm vợ chồng.

Cả hai nhân vật trong câu chuyện đều là những người giàu lòng thương yêu, biết suy nghĩ cho người khác. Della và James là đôi vợ chồng trẻ tuy cuộc sống của họ còn nhiều vất vả nhưng họ luôn muốn dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất, kể cả hi sinh lợi ích của bản thân. Những thách thức mà họ gặp phải khi bí mật mua quà Giáng Sinh cho nhau chính là điểm hấp dẫn của câu chuyện. Chúng ta hãy cùng đọc và cảm nhận, để rồi trân trọng những yêu thương đang ở cạnh bên mình.

Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn

cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhầm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu và ngày mai sẽ là Lễ Giáng sinh. Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi.

Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở. Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK. Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm ‘Jim’, James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.

Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ. Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho James của cô một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh. Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tường. Mắt cô sáng lên. Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della. Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.

Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu “Madame Eloise” Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ “Eloise” nào cả. Della cất tiếng hỏi:

– Bà mua tóc tôi không?

– Tôi chuyên mua tóc mà – bà ta đáp và bảo: “Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi”

Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.

– Hai mươi đồng – bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.

– Hãy cắt nhanh đi! Và đưa tiền cho tôi – Della nói.

Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho James trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là một sợi dây đồng hồ bằng vàng. James rất quý chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó. Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.

Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: “Mình có thể làm gì với nó đây?” Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. “Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!”. Cô tự nhủ: “James sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?” Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần

xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt James. Thế rồi cửa mở, James bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. James nhìn chằm chằm vào Della.

Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên James òa khóc: “Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói “Giáng sinh vui vẻ”, em có một món quà rất hay cho anh này!”

– Em đã cắt mất tóc rồi à? – James hỏi.

– Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà! – Della nói. James nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn:

– Em nói là em đã bán tóc à?

– Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh!

Chúng ta có thể ăn tối được chưa, James?

Chợt James vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn.

– Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung sướng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa! Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc.

– Tóc em sẽ chóng dài ra thôi James – nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho James và chạy đi lấy.

– Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, James, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.

Nhưng James không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: “Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em.

Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu.”

Tác giả: O-Henry 

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?

Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?

Hồi đầu thế kỷ, nhân dịp 25 năm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hollywood sản xuất nhiều cuốn phim về đề tài này. Ngoài phim về chiến tranh, còn có phim về nước Việt Nam, và một số phim về người Việt Nam tại Mỹ.

image

Một trong những cuốn phim về chiến tranh làm ra vào thời đó, là phim We Were Soldiers, làm năm 2002 với Mel Gibson trong vai chính. Ngay trong cuối tuần đầu tiên khởi chiếu, cuốn phim đã thu về hơn $20 triệu tiền vé. Chuyện của phim này là trận Ia Drang.

image

Một cuốn phim về người Việt Nam di tản năm 1975, là cuốn Green Dragon, do Timothy Linh Bùi đạo diễn, một cuốn phim độc lập, sản xuất không qua các studio lớn, nhưng cũng kéo được sự tham gia của hai diễn viên lớn là Patrick Swayze (phim Ghost) và Forest Whitaker (giải Oscar 2007).

image

Tài tử Đơn Dương trong phim We Were Soldiers, đóng vai viên trung tá chỉ huy quân đội Bắc Việt trong trận Ia Drang.

image

Một diễn viên Việt Nam xuất hiện trong cả hai phim đó, là Đơn Dương. Trong We Were Soldiers, một đội quân Mỹ 365 người bị một sư đoàn Bắc Việt bao vây và cả hai bên đều chiến đấu dũng cảm. Cuốn phim chuyển qua chuyển lại giữa cái nhìn của bên Mỹ và cái nhìn của bên Bắc Việt. Mel Gibson đóng vai trung tá chỉ huy phía Mỹ. Đơn Dương đóng vai Trung tá (sau này là tướng) Nguyễn Hữu An, người chỉ huy bên Bắc Việt.

image

Trong Green Dragon, Đơn Dương đóng vai một ông bố đưa gia đình đi di tản sau 30 tháng 4. Họ tới được trại tỵ nạn trong Camp Pendleton. Patrick Swayze đóng vai viên sĩ quan phụ trách người tỵ nạn, còn Forest Whitaker đóng vai một anh lính đầu bếp, anh dùng tranh vẽ của mình để làm quen với một em bé tỵ nạn và qua em bé học thêm về văn hóa Việt Nam. Trong phim, có một đoạn Đơn Dương cầm ghi ta hát bài “Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhà văn Nguyễn Đình Toàn: “Sài Gòn ơi, ta nhớ người như người đã mất tên, như dòng sông nước quẩn quanh buồn.”

image

Niềm vui với hai cuốn phim Hollywood chưa trọn, khi Đơn Dương về tới Việt Nam thì bị hạch sách quấy nhiễu.
Báo chí thời đó chạy nhiều bài viết tố cáo Đơn Dương bằng những lời lẽ rất nặng – loại lời lẽ mà có thể khiến Đơn Dương bị tù, bị kết án tử hình – những chữ như “phản động,” “phản bội,” “bán nước.” Cả các con Đơn Dương cũng bị đấu tố, và quán nhậu nơi Đơn Dương mở chung với gia đình bị đập phá.

image

Phim “Mê thảo thời vang bóng,” chỉ vì có Đơn Dương đóng trong đó, cũng gặp khó khăn khi muốn được chiếu ở các đại hội điện ảnh, liên hoan phim ở ngoại quốc.
Những điều này khiến Hollywood để ý. Giới đạo diễn, diễn viên, các nhà báo chuyên đề Hollywood, xưa nay vốn ít quan tâm đến chính trị ở nơi xa xôi, hoặc có cảm tình với nước Việt Nam sau chiến tranh, bỗng nhìn thấy một sự thật khác ở đất nước đó.
Một thỉnh nguyện thư, mang những chữ ký nổi tiếng của giới điện ảnh Mỹ, được chuyền tay nhau kêu gọi Việt Nam ngưng áp bức gia đình Đơn Dương.

image

Đồng thời, họ liên lạc với các chính trị gia Mỹ, yêu cầu chính phủ Mỹ can thiệp.
Trong số tài liệu Wikileaks lộ ra, tên tuổi Đơn Dương xuất hiện nhiều lần. Một trong những lần sớm nhất là công điện đề ngày 1 tháng 10, 2002, mang tựa đề “Cuộc họp với Trợ lý Bộ trưởng Hùng.”
Mục đích của cuộc họp giữa ông Nguyễn Đức Hùng (sau này là đại sứ ở Singapore và ở Canada) là chuẩn bị cho hội nghị APEC, nơi Thủ tướng Phan Văn Khải sẽ gặp Tổng thống George W. Bush. Tuy nhiên, ông Hùng đã phải nghe Đại sứ Ray Burghardt nêu vấn đề Đơn Dương.
Ông Burghardt nói “báo chí quốc tế cũng như rất nhiều thư từ các nhân vật điện ảnh Hollywood” cho rằng Đơn Dương bị tịch thu hộ chiếu và bị dọa sẽ còn bị phạt nặng hơn nữa. Rồi ông yêu cầu ông Hùng hỏi bên văn hóa sự thật là thế nào.

Cũng khoảng cùng lúc đó, bên Mỹ chuẩn bị sắp xếp để Đơn Dương có thể đi định cư được nếu muốn. Một công điện 2 ngày sau, đề ngày 3 tháng 10, là công điện của tòa đại sứ tại Hà Nội xin Bộ Ngoại giao phê chuẩn hồ sơ tỵ nạn cho diễn viên Bùi Đơn Dương, vợ, và hai con. Công điện này cho biết trước đây bà Suzie Bùi, chị của Đơn Dương và là mẹ của hai đạo diễn Timothy Linh Bùi (Green Dragon) và Tony Bùi (Ba Mùa), đã có làm giấy bảo lãnh rồi nhưng sau này không tiếp tục nữa nên hồ sơ đã đóng. Miêu tả tình hình của Đơn Dương, tòa đại sứ viết:

“Bùi bị đối diện với cả một phong trào lớn tiếng chống lại cá nhân ông, hầu hết vì vai đóng trong phim ‘We Were Soldiers’ của Mỹ nhưng cũng vì các vai trước đây trong hai phim quốc tế ‘Three Seasons’ và ‘Green Dragon.’ Ông bị tố cáo không chính thức vào tội ‘phản bội tổ quốc,’ một lời tố cáo đáng quan ngại tại Việt Nam, nơi mà hiến pháp bắt buộc mọi công dân ‘bảo vệ thống nhất đất nước.'”
Bản công điện viết tiếp:
“Hộ chiếu của Bùi đã bị tịch thu, ông dường như đã bị cấm ra nước ngoài đóng phim vào tháng 11, và có những nỗ lục để cấm ông diễn – nghề kiếm sống duy nhất của ông – trong ít nhất 5 năm nữa.”
Không chỉ dùng pháp luật áp chế, Đơn Dương còn bị sách nhiễu như trong một cuộc đấu tố:
“Ông bị quấy nhiễu mỗi tối với điện thoại của an ninh gọi tới, bị theo dõi mỗi khi ra khỏi nhà, và cho biết bạn bè và hàng xóm lo sợ tránh né. Ông bị công an thẩm vấn hôm 2 tháng 10 và tỏ vẻ lo sợ là sắp bị bắt giam, mặc dù lý do để bắt thì không ai nói rõ cho ông trừ những điều đã nói ở trên. Ông đã bị gọi là ‘kẻ phản bội’ trong báo chí của nhà nước và của đảng Cộng sản.”

image

Nửa năm sau, Đơn Dương được xuất ngoại với vợ con. Cùng đi với gia đình ra Tân Sơn Nhất là nhân viên tòa tổng lãnh sự, và họ về kể lại trong công điện ngày 10 tháng 4, 2003, với tựa đề nặng nề: “Sách nhiễu tới phút chót.”
Đó là sau khi Đơn Dương đã bị sách nhiễu, các con ông cũng bị làm khó dễ trong trường, và côn đồ tới phá nhà hàng của gia đình ông, bản công điện viết. Ông bị gọi lên công an phường, ông khất, rồi cuối cùng ra đi mà không lên gặp công an.
Khác với nhiều lần trước, lần này hải quan không cho nhân viên tòa tổng lãnh sự vào trong để tiễn người. Khi được hỏi tại sao thì mỗi người trả lời mỗi khác. Có người bảo nhân viên lãnh sự “chỉ được tiễn công dân nước họ.” Có người bảo “khu vực hải quan không cho phép nhân viên lãnh sự vào” – trong khi thật ra thì “mới thứ Sáu tuần trước thì không có luật đó.” Rồi khu vực công an cửa khẩu cũng được cho là không cho phép vào, và “một lần nữa, mới thứ Sáu tuần trước thì không như thế.”Một người quay phim, tự xưng là của Truyền hình Việt Nam, theo quay phim gia đình Đơn Dương rời nước, đi qua luôn chặng kiểm soát.
Đến chỗ khai hải quan, nhân viên tòa tổng lãnh sự bị chặn lại. Lý do này nọ được đưa ra. Nhân viên tổng lãnh sự quán bảo, mới thứ Sáu tuần trước chúng tôi không bị chặn, thì hải quan chỉ nhún vai lắc đầu bảo, luật trên thay đổi rồi.
Hai người cấp trên tới, nhưng thay vì giải quyết cho lãnh sự vào trong, một trong hai người bắt đầu khám xét hành lý gia đình Đơn Dương “một cách chậm chạp và ôi trời ơi kỹ càng làm sao,” công điện viết. Một nhân viên lãnh sự Úc cũng tới và cũng không được cho vào trong.
Tuy không được vào, nhưng nhân viên lãnh sự cũng đứng nhìn và thấy gia đình bị đưa vào một phòng nhỏ, nơi có ít nhất 8 viên hải quan bu vào lục soát hành lý gồm 6 va li và 3 thùng. Họ lục từng món hàng. “Họ chụp nhiều tấm ảnh của đồ đạc, quần lót bị giơ lên soi ánh đèn.”

image

Sau một giờ lục soát, hải quan cho phép gia đình gói đồ lại, lại chạy qua X-ray, rồi đẩy đi. Đơn Dương được đưa qua một quày khác, rồi bị bắt phải ký một xấp giấy tờ – “phải hứa hẹn cái gì thì chúng tôi không biết,” công điện viết.
Hãng EVA đã phải giữ máy bay lại trong 15 phút để chờ gia đình Đơn Dương. “Qua cửa kính, nhân viên lãnh sự quan sát thấy gia đình đi qua được hành lang xuất phát, đi thẳng tới cầu qua máy bay. Người ‘quay phim’ tiếp tục quay cho tới phút chót, trong khi một đám đông nhân viên an ninh đứng đầy phòng đợi của người đi.”
Chuyến bay cất cánh lúc 3:15, với gia đình Đơn Dương trên đó, bay qua California với bà Suzie Bùi, chị ông.
Ông đã, như công điện viết, bị chính quyền “xua đuổi ra khỏi quê hương mình.”

Vũ Quí Hạo Nhiên

From: TU-PHUNG