CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Kính chuyển quí Thân hữu đọc (hoặc lưu trữ & nghiên cứu) : Một tài liệu lịch sử đặc biệt, mới tìm ra: Đó là Bức thư của Cụ Trần Trọng Kim viết năm 1947, gửi Cụ Hoàng Xuân HãnTrong thư có nhận định về Việt Minh vào thời gian tổng nổi dậy (gọi là Cách mạng Tháng 8/1947)  TQB

~~~ ~~

Tài liệu lich sử đặc biệt:

 CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Thủ bút của Cụ Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

ảnh chụp nguyên bản:

Lời ngỏ của ông Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm),

người phát hiện ra tài liệu lịch sử trên đây

—–o0o—–

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư việnĐối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt (tức 4 trang).  (đánh máy lại theo nguyên bản – các số thứ tự và phần ghi chú do ông Nguyễn Đức Toàn viết) – Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471

 Ông Hãn2

Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預

心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,

Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

Đất khách mơ – màng những thở – than,

Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

Nay kính thư

Trần Trọng Kim [tr4]

Trần Trọng Kim [tr4]

Phần Chú thích :

  1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
  2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
  1. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
  1. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng TạiLạiThế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
  1. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
  1. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
  2. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
  3. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
  1. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  2. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
  3. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
  1. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
  1. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
  1. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
  2. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
  3. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
  1. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
  1. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
  2. Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
  3. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
  1. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
  2. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
  3. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chươnglà tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.

_____________

Thư mục tham khảo

1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969

  1. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
  2. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
  3. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
  4. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Nguồn: Blog Yêu Hán Nôm

From: markq. Trinh & My Tran

TỞM LỢM Truyền thông bẩn !

Image may contain: text

Vũ Nam is with Nam Vu.

TỞM LỢM

Truyền thông bẩn !

Chính bọn báo đĩ mới dàn dựng và vu oan cho dân lành. Sau bài báo “Mẹ Hồ Duy Hải yêu con mù quáng”, thì bây giờ nhiều bài báo lồng lộn tấn công mẹ con cháu bé lớp 1 bị đứng ngoài nắng 40°C.Đièu này càng làm cho người dân càng tởm lợm hơn với trình độ và nhân cách của một số báo nô.

Chẳng có cha mẹ nào điên rồ đến mức là dàn dựng để vu oan cho nhà trường. Thực tế cha mẹ học sinh chạy trường, chạy lớp, nịnh và đút tiền cho giáo viên còn chẳng xong huống hồ lại đi gây chuyện.

Theo các tin tức đang tràn ngập trên báo chí hiện nay thì vụ việc là do mẹ cháu bé dàn dựng, chứ không phải do lỗi của cô giáo và nhà trường ( bằng chứng là có cả cái clip dàn dựng của mẹ cháu bé được quay bằng camera giám sát phía đối diện với cổng trường).

Nhưng chắc có lẽ là quá ngu hay nghiệp vụ quá non kém, mà những kẻ vẽ ra cái kịch bản này không biết rằng hình ảnh lúc đầu mẹ cháu bé đăng lên thì cổng trường đã đóng và không có ai qua lại, còn cái clip được cho là mẹ cháu bé dàn dựng thì cổng trường mở toang và người ra vào tấp nập.

Vậy chắc chắn trong vụ việc này đã có dàn dựng. Nhưng câu hỏi đặt ra là AI DÀN DỰNG? Mẹ của cháu bé hay nhà trường và cô giáo?

Nghe nói chồng của cô giáo là sĩ quan cấp cao trong quân đội.
https://m.docbao.vn/…/lo-dien-clip-dan-dung-chau-be-lop-1-d…
Stt của Nguyen Minh và Nguyễn Phúc Khang.

Nguyễn Khoa Phước

Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.

Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.

Từ xưa tới nay, chuyện rắn hổ mang mò vào chuồng gia súc, gia cầm của nhà dân là chuyện không hề hiếm. Tuy nhiên, việc một con gà đứng ra tấn công lại loài rắn ma mãnh để bảo vệ đàn con của mình thì không phải ai cũng được chứng kiến.

Trong clip, một con rắn hổ mang đã mò vào chuồng gà của một nhà dân để săn mồi. Phát hiện thấy đàn gà con, con rắn hổ mang từ từ tiến đến. Ngay lập tức gà mẹ đã xua đàn con của mình và những con vịt con vào một góc, sau đó nó lao về phía con rắn rồi đe dọa.

Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình

Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình.

Cuộc chiến tưởng chừng như không cân sức này diễn ra vô cùng kịch tính và thú vị. Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình. Thậm chí, nó bành mang rồi tấn công gà mẹ.

Gà mẹ cũng không chịu thua khi liên tục đập cánh, đá chân để xua đuổi con rắn ra xa đàn con của mình.

Kết thúc cuộc chiến, con rắn đành lặng lẽ bò đi chỗ khác, trong khi đó không một con gà nào bị thương, thậm chí gà mẹ cũng không hề bị nọc độc của con rắn hổ mang làm hại. Đây thực sự là một cuộc chiến không cân sức nhưng lại tạo được kết quả vô cùng bất ngờ.

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

About this website

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

  • Đông Vy
  • Thứ Hai, 25/05/2020 • 19.2k Lượt Xem
  • Không biết từ lúc nào, có lẽ chỉ vài năm trở lại đây thôi, những người tôi gặp luôn nói về Sài Gòn trong những cuộc trò chuyện. Dù bên bàn cà phê, trong quán ăn hay ở nhà riêng, thậm chí, trong thư điện tử và trên mạng xã hội, tôi cũng có cảm tưởng như mình chẳng thể nào thoát được chủ đề đó. Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn xưa. Có người bàn về lịch sử, có người tìm ký ức thành phố trong kiến trúc cũ, có người lục lọi sách vở.

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Rất nhiều lần, tôi tự hỏi cớ sao lại như vậy?

Một buổi tối nọ, chúng tôi ghé thăm căn hộ một người bạn bên quận 7, rồi cà kê uống rượu tới khuya với mấy người quen của anh. Những câu chuyện của chúng tôi, dù thay đổi từ chủ đề kinh tế, y khoa, âm nhạc hay con cái, vẫn nhiều lần quay trở lại với Sài Gòn.

Đột nhiên, giữa câu chuyện đó, người phụ nữ xinh đẹp trong nhóm – người từng được vinh danh về nhan sắc nhưng thậm chí còn nhận được nhiều sự tôn trọng hơn bởi sự hiểu biết của mình – bỗng thổ lộ lý do khiến cô rời xứ sở. Cái thành phố ở hợp chủng quốc mà cô đang sống đó, không phải là nơi hoàn toàn tốt đẹp, như rất nhiều thành phố khác trên thế giới này, nó vẫn đang đối mặt với vô số vấn đề rắc rối và mâu thuẫn nọ kia. “Nhưng anh chị biết không” – cô nhìn chúng tôi với đôi mắt mở to, trong và buồn – “dù thế nào đi nữa, ở đó, tôi thấy có hy vọng.”

Chúng tôi nâng ly để chia sẻ sự đồng tình với cô, rằng: “Người ta có thể chết vì rất nhiều thứ, nhưng có ít nhất một thứ khiến người ta muốn sống. Hy vọng.”

Nghe cô nói, tôi chợt nghĩ về cái chủ đề mà gần đây tôi dường như không thể thoát khỏi: Sài Gòn. Có lẽ nào, người ta cũng đang nói về Sài Gòn như một cách tìm kiếm hy vọng. Chúng ta nói gì khi nói về Sài Gòn? Chúng ta nói về hy vọng.

Rất nhiều người Sài Gòn tôi gặp mang tâm trạng của chàng du khách trong thơ Nguyễn Bính, “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Thật lạ lùng, vì không chỉ người già mới hoài nhớ quá khứ, mà người trẻ cũng vội vã tìm về hôm qua. Khi nói đến hy vọng chúng ta thường nghĩ đến tương lai, nhưng bây giờ ở Sài Gòn, có vẻ mọi người hy vọng nhiều hơn khi nghĩ về quá khứ.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Những người già ở Sài Gòn kể rằng thành phố này từng có một thời, khi mà Sài Gòn không-chỉ-là-đất-làm-ăn, khi mà người Sài Gòn không cố trở thành ông chủ hay thương gia hết thảy. Có một thời, ở xứ này người nào làm việc nấy, chuyên tâm với chức trách và luân lý nghề nghiệp của mình một cách hãnh diện. Nhờ đó, giá trị được tạo ra một cách quân bình ở mọi lãnh vực và phương diện khác nhau chứ không chỉ thể hiện trên hàng hoá. Thương gia thì buôn bán. Giáo sư thì dạy học. Nghệ sỹ trình diễn. Triết gia suy tưởng. Chính khách lo kinh bang tế thế. Quân nhân bảo vệ đất nước. Các đảng phái giám sát lẫn nhau. Thầy thuốc thì chữa bệnh. Thợ may làm ra quần áo đẹp. Cha mẹ nuôi dạy con. Trẻ nhỏ thì vô lo và nghịch ngợm. Mục đích của việc dành dụm không nhất định là để được xếp vào hạng thượng lưu, mua thêm đất tậu thêm nhà hay phô trương thanh thế, mà để được hưởng thụ đời sống tinh thần ở mức cao hơn, và giúp người. Xã hội có người giàu và người nghèo. Nhưng người giàu không quá khinh mạn, người nghèo dù khốn khổ vẫn có thể giữ lòng tự trọng, cũng như hy vọng. Giữa những lo lắng phập phồng bên lề chiến tranh và nhiệt thành bối rối của thời dân chủ sơ khai, giữa những chật vật về miếng cơm manh áo, là sự hiện hữu có thực của hy vọng.

Hy vọng chăm chỉ làm lụng thì có thể dư dật. Hy vọng học hành giỏi giang sẽ có ngày thành danh. Hy vọng tuân thủ luật pháp thì sẽ được nhà nước bảo vệ. Hy vọng nghệ thuật và tri thức được tôn vinh. Hy vọng lẽ phải và sự thật là điểm tựa cũng như cứu cánh của mọi cuộc tranh luận. Hy vọng người chính trực sẽ được bênh vực. Hy vọng tài năng được coi trọng hơn tiếng tăm. Hy vọng danh dự và liêm sỉ được coi trọng hơn tiền tài và quyền lực. Hy vọng Sài Gòn mãi là đất lành, nơi mà người lương thiện có thể an tâm dâng tặng giá trị của riêng mình cho đời sống.

Những hy vọng đẹp đẽ đó, chúng ta còn giữ được không?

Cũng như cái tâm thế thong dong của người Sài Gòn, không ít giá trị từng là điểm tựa của đời sống xã hội ở đô thị này đang tan biến dần đi trong sự xâm lấn mạnh mẽ của những đặc trưng văn hóa khác và cả những thứ phản giá trị tựa như đám nấm độc đang trồi lên khắp chốn, bởi thời thế hay số phận. Hiện thực đó khiến tôi lắm lúc có cảm giác vô phương cứu vãn. Nhưng những người Sài Gòn, tôi biết, họ vẫn âm thầm giữ hy vọng. Họ buồn bã và giữ hy vọng. Họ phẫn nộ và giữ hy vọng. Họ làm việc và giữ hy vọng.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Còn tôi, tôi hy vọng gì? Ngày qua ngày, Sài Gòn vẫn tiếp tục lướt trên những làn sóng văn hoá xô đến dồn dập, tiếp tục gồng mình chống chọi trước những cơn lốc đổi thay khó cưỡng, và đô thị này vẫn đang lớn nhanh hơn bao giờ hết, cao hơn, rộng hơn. Tôi chỉ mong nó đừng phát triển như một tòa cao ốc, mỗi tầng là một chốn tách biệt, mà tầng nào cũng tràn ngập thương gia.

Sài Gòn, xin hãy lớn lên như một cái cây, có lá, có hoa, dù vươn cao đến đâu, tỏa rộng chừng nào vẫn có thể cảm nhận được dòng nhựa sống từ đất đai và gốc rễ – những giá trị đã từng là niềm hãnh diện của mỗi cư dân trong quá khứ. Sài Gòn – xin hãy là một đô thị nuôi dưỡng được nguồn hy vọng cho cả xứ sở này.

Và Sài Gòn – như một cái cây. Lại cây!

Trích lược
Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Theo Facebook Sài Gòn – Chuyện đời của phố

Xem thêm các tác phẩm khác của vợ chồng nhà báo Phạm Công Luận – Đặng Nguyễn Đông Vy tại đây.

M.TRITHUCVN.NET

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn…

MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!

No photo description available.
Nguyễn Đình Ngọc

MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!

Đài RFI cho hay (trích) : Cắt đứt với truyền thống của nền kinh tế kế hoạch hóa từ nhiều năm qua, chế độ cộng sản Trung Quốc giờ đây từ bỏ việc ấn định mục tiêu tăng trưởng cho năm 2020…

Trong bài diễn văn hết sức ngắn – chỉ có 55 phút – lần đầu tiên từ 30 năm qua, ông thủ tướng không đưa mục tiêu tăng trưởng cụ thể cho năm 2020. Tăng trưởng quý I giảm đến 6,8%, điều chưa từng thấy kể từ khi Trung Quốc cho công bố GDP từng quý vào đầu thập niên 90.

Từ nhiều tuần qua, các nhà kinh tế và chính khách tranh luận về việc liệu Trung Quốc có ấn định mục tiêu tăng trưởng năm 2020, hay một mục tiêu chung cho cả năm 2021 nhằm giấu bớt thất bại trong năm nay, hoặc ngược lại không đưa ra mục tiêu nào cả. Hôm nay Lý Khắc Cường cho biết đó là do sự bất định về diễn tiến của dịch bệnh và trạng huống kinh tế thế giới.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tăng trưởng của Trung Quốc trong năm nay có thể chỉ đạt 1,2%, so với con số chính thức của năm 2019 là 6,1%.(hết trích) http://www.rfi.fr/…/20200524-trung-quoc-tang-truong-kinh-te…

Trung Cộng đeo đuổi nền kinh tế phi thị trường kể từ 1949 đến nay hơn 70 năm. Họ mù quáng tin rằng với đầu óc “trùm thiên hạ” cùng văn hóa hơn 5.000 năm, hoàn toàn có thể điều khiển cả thế giới.

Chết là chỗ đó! Tại sao? Vì phản khoa học, phản tiến bộ và chống nhân loại.

Bởi nền kinh tế phi thị trường luôn phản ánh Ý THỨC HỆ( độc đoán, độc quyền sinh ra => độc tài) trong khi kinh tế thị trường KHÔNG PHẢI LÀ NHƯ VẬY.

Chính đầu óc đó đã tàn phá Trung Cộng nhiều năm qua. Dù kinh tế của họ có lúc thăng trầm nhưng kinh tế phi thị trường luôn bị méo mó trước thực tế sống động và thay đổi liên tục.

Kinh tế phi thị trường luôn có 1 trung tâm điểm (bộ chính trị già nua, chậm chạp, suy nghĩ viển vông…) làm cho toàn bộ nền kinh tế nặng nề, cồng kềnh, vô cùng khó khăn xoay trở trước những biến động của thị trường.

Khi Trung Cộng không còn quan tâm đến những con số hào nhoáng nghĩa là họ đã nhận ra sai lầm (không còn cứu vãn nổi) từ những con số tầm bậy tầm bạ, vốn chỉ nhằm vỗ về cho những giấc mơ hão huyền. Chính những giấc mơ đó đã đẩy họ vào tình thế hiện nay => Bị thế giới xa lánh – tẩy chay – cô lập.

Ngày tàn của Trung Cộng đang được đếm lùi tính bằng không quá… 5 năm!

Mời đọc lại: Có kinh tế thị trường là có tất cả – https://www.rfa.org/…/ReadersOp…/mar-eco-05032019145709.html

Ông trùm truyền thông Hồng Kông Jimmy Lai : Tôi đã sẵn sàng hy sinh cho Tự Do của Hồng Kông

Image may contain: 2 people, text

Võ Hồng Ly 

25.05.2020

Cách đây vài giờ, ông trùm truyền thông Hồng Kông Jimmy Lai đã đăng dòng Twitter bằng tiếng anh :

“Bất cứ ai đang tìm cách di cư đến Đài Loan xin hãy ghi nhớ trong tâm trí rằng, máu và nước mắt đã được hy sinh để xây dựng nền dân chủ và tự do của Đài Loan. Đó là hoàn cảnh tương tự mà chúng ta đang phải đối mặt tại #HongKong bây giờ. Đã đến lúc phải hy sinh. Chúng ta đã chuẩn bị hy sinh máu và nước mắt cho tự do trong tương lai của chúng ta chưa ? Tôi đã sẵn sàng !”

❤️ Hồng Kông !

“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Image may contain: 1 person
Ngô Thứ

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình

“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Vâng, đó là câu nói của nhà văn, nhà báo Phạm Thành khi được mọi người hỏi việc nhà cầm quyền sẽ có bắt ông hay không? Nhiều người phì cười vì câu nói này, nhẹ nhàng hơn thì lắc đầu, im lặng. Tất nhiên, nếu hiểu nghĩa đen, tức là bắt Phạm Thành ngày 21/5, ngày 22 chế độ sụp đổ thì quả là nực cười. Nhưng nếu hiểu ngày hôm sau là một tương lai gần, rất gần thì sao? Đó chưa chắc là điều đáng buồn cười, vì Phạm Thành đã từng có những quả quyết mà rất nhiều người phản đối, cuối cùng đã thành sự thật. Ít nhất chúng ta được chứng kiến hai sự việc mà Phạm Thành đi ngược lại dư luận, trong lúc cao trào, nhưng cuối cùng đã đúng. Việc đầu tiên về MC Phan Anh trong việc kêu gọi giúp đỡ đồng bào lũ lụt miền Trung năm 2016. Khi đó, mọi người tung hô Phan Anh, Phạm Thành đã cảnh báo về việc người dẫn chương trình này nhiều khả năng là chim mồi và sẽ gây ra Scandal thì quả nhiên sau đó vụ việc Phan Anh đã là cú sốc cho rất nhiều người. Nhưng việc thư hai mới là độc đáo.

Chúng ta biết việc ông Nguyễn Phú Trọng đã có chương trình và kế hoạch thăm Hoa Kỳ vào tháng 10/2019 từ cuối năm 2018. Khi đó, những dấu hiệu lạc quan về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ xuất phát từ cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều giữa tổng thống D.Trump và chủ tịch Kim Jong Un được tổ chức tại Việt Nam và những chỉ dấu cho thấy việc xích lại gần nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Một số động thái của Việt Nam khi đó cho thấy có thể có sự xoay trục, tức là Việt Nam tìm kiếm đồng minh từ Hoa Kỳ, như vậy có nghĩa là xa rời Trung Quốc, thoát Trung. Không ít người hi vọng vào điều này, và có lẽ đó là mong mỏi chung của người dân Việt Nam không chỉ lúc đó mà cả hiện nay. Tuy nhiên, nhà báo Phạm Thành đã khẳng định chắc nịch, ông Trọng không thể đi Mỹ và không bao giờ đi Mỹ được! Rất nhiều người dã ngạc nhiên.

Tháng 4/2019, ông Nguyễn Phú Trọng vào Kiên Giang và bị đột quỵ. Việc ông Trọng mắc bệnh đột ngột đã là một sự giật mình về dự đoán của nhà báo Phạm Thành. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều hay nhất.

Ngay sau một thời gian được chữa trị tích cực, ông Nguyễn Phú Trọng đã hồi phục. Tuy sức khỏe suy giảm, nhưng đã xuất hiện trong các cuộc họp bàn quan trọng của đảng và nhà nước chỉ sau đó mấy tháng. Việc đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng lại được hâm nóng trở lại. Cùng với đó là những hi vọng lại được nhen nhóm. Nhưng Phạm Thành lại một lần nữa bác bỏ thẳng cánh việc này. Là người chơi khá thân với nhà báo Phạm Thành, nên tôi đã chứng kiến trong một cuộc gặp, hầu như những người ở đó đều có ý kiến việc ông Trọng đi Mỹ là khả thi, sẽ diễn ra thì Phạm Thành vẫn khăng khăng ông Trọng không thể đi Mỹ! Không ít những vụ cá cược đã xảy ra Phạm Thành một mình một vế.

Cuối cùng như tất cả đều biết, ông Nguyễn Phú Trọng đã không đi Mỹ! Phạm Thành đã đúng! Có thể mọi người cho rằng nhà báo Phạm Thành chỉ đoán mò và may mắn đúng. Nếu như vậy thì sẽ không có gì đáng nói và sẽ không có bài báo này. Anh Phạm Thành giải thích như sau. Ông Trọng muốn đi Mỹ thì bắt buộc phải đồng ý làm đồng minh của Mỹ trước khi đặt chân tới Mỹ. Đối với các đời tổng thống trước, và không phải D.Trump, thì việc ỡm ờ đu dây của Việt Nam có thể được chấp nhận, ông Trọng có thể đi Mỹ thoải mái. Kết quả ra sao không quan trọng lắm đối với một chuyến đi. Nhưng với ông D.Trump thì khác, không bao giờ có chuyện tiếp nguyên thủ quốc gia mà chưa có kết quả rõ ràng. Và như vậy, việc ông Trọng đã không quyết đoán trong việc làm đồng minh với Mỹ thì không thể có chuyện đặt chân tới Mỹ một lần nữa!!!

Qua việc nhận định và dự đoán này, chúng ta thấy sự sắc xảo và chính xác của nhà báo Phạm Thành đối với ông Nguyễn Phú Trọng, đối với tổng thống D.Trump và mối quan hệ Việt – Mỹ. Việc nhìn thấu tâm can tổng bí thư, chủ tịch nước cũng như xuất bản cuốn sách Thế Thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo cũng chính là giọt nước tràn ly dẫn tới việc nhà báo Phạm Thành bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 21/5 vừa qua.

Trở lại với tiêu đề bài báo, với tuyên bố của anh Phạm Thành về việc mình bị bắt chưa chắc đã là một tuyên bố ngông cuồng. Vẫn còn dự đoán của anh Trần Huỳnh Duy Thức về mốc 2020, đó là năm tận của chu kỳ 2010 Vong và 2020 Tận theo cách tính số gian Lục Thất và số gian Thập Phân về chế độ cộng sản Việt Nam (trong bài viết: Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam). Trên thực tế, sự suy giảm của nền kinh tế do đại dịch Covid-19, những đấu đá trước thềm đại hội XIII của đảng cộng sản, cộng với sự phức tạp nảy sinh do thế giới truy cứu trách nhiệm của Trung Quốc về đại dịch sẽ là một thách thức thực sự đối với sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam. Cuối cùng, như lời anh Phạm Thành nói, Anh là hồn thiêng sông núi, động vào Anh là động vào hồn thiêng sông núi, sẽ phải trả giá bằng chính sự tồn tại của chế độ này. Chúng ta hãy cùng chờ xem./.

Hà Nội, ngày 25/5/2020

N.V.B

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2729231453853478&id=100002999510575

Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo

httpv://www.youtube.com/watch?v=7v_XtbSzJe0

TAPS ACROSS AMERICA The National Moment of Remembrance Memorial Day Taps 2020

Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo

Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. Cuộc nội chiến Nam – Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12/4/1861. Bốn năm sau, ngày 9/4/1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng, nhưng đáng chú ý hơn cả là hành xử của lãnh đạo hai miền, để lại bài học hòa hợp dân tộc cho cả quốc gia. 

Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. (Ảnh qua Tri Thức Mở)

See the source image

Ảnh minh họa: Andy Van

See the source image

See the source image

Cách đây 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ,

Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: Phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant, nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Hoa Kỳ

Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của Tổng Thống Lincoln từ năm 1861 đến 1865 với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là Tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và Tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly khai bầu ra một Tổng Thống Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền Nam chính là Tướng Lee. Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point. 

Tháng 4/1861 khởi chiến Nam Bắc, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành. Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất thủ, ông đã quyết định đầu hàng. 

Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ “Cuốn Theo Chiều Gió” mà chúng ta đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu. Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là tài liệu được đem dạy ở trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.

Bài học bắt đầu từ việc đầu hàng

Nói về câu chuyện đầu hàng. Sau chiến tranh, nước Mỹ sưu tầm và dựng lên khắp miền Ðông hàng trăm viện bảo tàng. Mỗi tiểu bang ít nhất là một viện bảo tàng. Mỗi trận đánh trên chiến trường xưa cũ với các di tích đều có một viện bảo tàng. Bằng hội họa, nhiếp ảnh, dữ kiện, thêm vào âm thanh ánh sáng, người ta dựng lại lịch sử các cuộc thương thuyết, các cuộc điều binh và các trận chiến ác liệt.

Quân đội hai bên Nam Bắc, quân phục màu xanh, quân phục màu xám, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và dân chúng. Những cái chết đau thương và anh hùng của cả hai bên, những mối tình bất hủ, tràn đầy hình ảnh em hậu phương, còn anh nơi tiền tuyến. Không phải hàng trăm mà có đến hàng nghìn tác phẩm điện ảnh về chiến tranh Nam Bắc. Cả những phim vĩ đại mới ra đời trong vài năm gần đây vẫn còn hình ảnh của cuộc nội chiến ngày xưa. Nhưng có điều lạ là người ta không ca ngợi người chiến thắng là những anh hùng thần thánh để miệt thị người chiến bại miền Nam như những kẻ phản quốc, mà chính những người miền Nam lại ngẩng cao đầu. 

Sự thật là vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ, thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng nhất, vì dựng lên ngay tại một ngôi nhà mà Tướng Lee đã đến ký văn bản đầu hàng năm 1865. Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết ra, thậm chí hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.

Lịch sử ghi lại, sáng ngày 9/4/1865, thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui. Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng, ông nói: “Nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần”. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng, nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng, ông gửi cho Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

Tướng Grant nhận được thư hết sức vui mừng và nhắn lại, đề nghị tướng Lee có thể chọn địa điểm thương thuyết mà ông muốn. Cuối cùng, căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn (ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House). Đồng thời, vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam bại trận.

Tranh vẽ lại theo bức ảnh chụp thời đó- Tướng Grant (áo sậm) bắt tay tướng Lee (áo xanh nhạt). (Ảnh qua Tri Thức Mở)

Trưa ngày lịch sử 9/4/1865, hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico (cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ). Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ, câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

Những binh lính miền Nam sẽ không bị coi là quân đội phản quốc (treason) 

Những binh lính miền Nam sẽ không bị đi tù (imprisonment)

Chính phủ không được đụng tới hoặc làm họ phiền hà nếu họ chấp hành tốt luật lệ nơi cư ngụ.

Kỵ binh được quyền mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình họ cày cấy vào mùa xuân. 

Binh lính được quyền giữ lại khí giới cá nhân để giúp họ bảo vệ gia đình (nên nhớ là trong hiến pháp Mỹ, mọi người dân được quyền mang khí giới để tự vệ).

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta”. Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng, ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích binh lính miền Nam. 

Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng Lee đồng ý, nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ cấp như lính miền Bắc. Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản, nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.

Hành xử văn minh của những người quân tử

Ngày 12/4/1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí… Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta”.

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm … Một sự im lặng đến nghẹt thở. Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.

Khi tướng Lee ra về thì tướng Grant và mọi tướng lãnh khác đều đứng nghiêm trang chào. Một điều đáng nói nữa là sau khi chiến thắng, các binh sĩ miền Bắc muốn “ăn mừng chiến thắng”, tướng Grant đã ra lệnh cho mọi người không được ăn mừng (no celebration), ông nói: “Họ bây giờ đã là người dân của mình”. Chính nhờ lời nhắc nhở ấy mà 20 vạn binh miền Nam đã được an lành trở về với gia đình trong sự tôn trọng của những người chiến thắng.

Còn Robert E. Lee, dù đầu hàng nhưng vẫn “ngẩng cao đầu” và không một ai ở phía thắng trận khi nhắc tới ông không tràn đầy thán phục và sự ngưỡng mộ về nhân cách lớn lao trong thất bại của Lee. Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên cùng dồn vào cho cuộc chiến đã gây ra sự phân hóa khắc nghiệt trong bao năm qua, giờ đây cần phải được dùng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù”. Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại.

Tướng Ulysses Simpson Grant

Tướng Robert Edward Lee.

Bài học nghĩa trang và mộ phần của các tử sĩ phe chiến bại tại Hoa Kỳ.

Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng nghìn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial. Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.

Vết thương nào rồi cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt, họ chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng. Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch, chớ không phải phá tan nghĩa trang và đào mồ cuốc mã của người ta như những kẻ tiểu nhân bỉ ổi ở những nước lạc hậu.

Việt Anh (t/h)

CHIẾN BINH THỜI ĐẠI

Image may contain: 1 person
Hoang Le Thanh

CHIẾN BINH THỜI ĐẠI

Donald J. Trump – Một tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ – quyết tâm tiêu diệt Xã Hội Chủ Nghĩa.

Khi 100.000 người dân Mỹ chết – sự đau thương đủ làm bùng nổ cơn giận, trở thành tàn bạo – đây là lúc Mỹ phải tiêu diệt cộng sản Tàu.

Ngày 20/5/2020, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Trách nhiệm của các công ty nước ngoài (The Holding Foreign Companies Accountable Act – HFCAA).

Thực chất đạo luật này dành quyền Kiểm soát và loại bỏ tất cả các công ty ChinaZi trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ !!!

Rất chóng, đạo luật sẽ được Tổng Thống Donald Trump ký ban hành.

Mục đích tổng thể đạo luật nầy là loại Trung Quốc ra khỏi thị trường vốn, bảo vệ các nhà đầu tư và thị trường việc làm của Hoa Kỳ. Đây cũng được xem là “đòn trừng phạt” dành cho ĐCSTQ vì các chính sách lạm dụng thương mại và nguồn vốn của Hoa Kỳ.

Con số vốn này trị giá 1,2 nghìn tỷ USD (MỘT NGÀN HAI TRĂM TỶ ĐÔ LA).

Bị khóa sổ chứng khoán ở Mỹ, chứng khoán tạị Thượng Hải sẽ không còn tác dụng – 45% tổng số vốn của Trung cộng – nguồn tiếp viện nuôI sống guồng máy kinh tế cho Tàu cộng nhiều thập niên qua bị cắt đứt đồng nghĩa là Trung cộng sẽ trắng tay sẽ khánh kiệt, cái chết “Trung Hoa Mộng” sẽ xảy ra đồng loạt !

Trước khi có hành động quân sự, phải bóp chết đường máu huyết mạch của kẻ thù !

Trung cộng là tác nhân chế tạo vũ khí vi trùng đã giết hại gần 350 ngàn dân lành vô tội của nhân loại.

Tập Cận Bình và bè đảng gian ác sẽ đền tội trước nhân loại

*
Tin Sét Đánh Vào Đầu ChinaZi

Hoan nghênh và ủng hộ Mr. Donald J. Trump – người chiến binh thời đại !

Ông ta chiến đấu cho tất cả chúng ta !

He fights for you !

Công lý không phải diễn viên hài, còn “nhân quả” luôn nằm trong tay ta

Công lý không phải diễn viên hài, còn “nhân quả” luôn nằm trong tay ta

 Chúng ta nợ Hồ Duy Hải và gia đình anh một thứ công lý đúng nghĩa.

By  Y Chan

Gia đình Hồ Duy Hải: cô Hồ Thị Thu Thủy (em gái) và bà Nguyễn Thị Loan (mẹ). Ảnh: Lê Thế Thắng/Báo Sạch.

Khi nghe phán quyết cuối cùng của Hội đồng thẩm phán về vụ án tử tù Hồ Duy Hải, trái tim của hàng triệu người đã bị bóp nghẹn.

Nhưng có nghẹn đến đâu, nó chắc chắn cũng chỉ như một vết kim đâm so với nỗi đau không bút mực nào tả xiết của cô Nguyễn Thị Loan, người mẹ trong suốt 12 năm qua đã lặn lội ngược xuôi Nam Bắc kêu oan cho con.

Và cho dù không nhiều người nhắc đến, nỗi đau của những người nhà nạn nhân cũng thật khó tưởng tượng.

Chừng ấy năm trời, trong khi công lý cho những người thân xấu số của họ chưa thấy đâu, thì một thứ công lý dị dạng, nấp sau vô số lần phẫu thuật thẩm mỹ, bơm mông độn má cho khớp với cái não trạng của những kẻ nắm quyền sinh sát, lại được vô tư chụp lên đầu người khác.

Hàng ngàn năm trước, những người Hy Lạp xưa có lẽ đã biết đến sự tồn tại của những giống sinh vật này.

Procrustes, một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là chủ nhân một ngôi nhà ở Attica, nằm trên đường đi giữa Athens và Eleusis. Truyện kể rằng Procrustes có một chiếc giường sắt đặc biệt, chuyên dùng tiếp đãi các vị khách ghé thăm. Procrustes muốn khách nằm vừa vặn hoàn toàn trên chiếc giường đó. Vậy nên với người có cơ thể quá ngắn, hắn kéo dài các chi của họ ra cho khớp. Gặp những người cơ thể quá dài, hắn chặt bớt chân để vừa với chiếc giường. Chỉ cần lọt vào tay của Procrustes, ai cũng sẽ “được” cắt gọt để vừa vặn với chiếc giường đó. Tất cả nạn nhân đều chết, còn chiếc giường của Procrustes thì luôn hoàn hảo.

Trong khi Procrustes của Hy Lạp chỉ là một nhân vật tưởng tượng, các “Procrustes xứ Việt” ngày nay lại là những cơn ác mộng hãi hùng rất thực của biết bao người.

Họ là các điều tra viên tài ba, dùng đủ mọi cách dọa dẫm, ép cung, bắt nghi phạm “tập đi tập lại các động tác [giết người] từ trong trại giam để đi thực nghiệm tại hiện trường”, như lời của người tù oan nổi tiếng Nguyễn Thanh Chấn kể lại.

Họ là những cán bộ mẫn cán, “phá án” từ lời nói đùa của một người say xỉn, sau đó còn “dấn thêm bước nữa” đánh đập, mớm cung buộc người đó “nhận luôn” một vụ án giết người nhiều năm trước chưa bị phá, như trường hợp của “người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén.

Đó chỉ là những trường hợp may mắn, theo đúng nghĩa đen của từ, được minh oan một cách hoàn toàn tình cờ nhờ vào việc nghi phạm thật sự bỗng nhiên xuất hiện. 

Còn biết bao nhiêu trường hợp oan khuất khác vĩnh viễn không được cất tiếng nói?

Và giờ đây chúng ta có vụ án Hồ Duy Hải, nơi mà những người cầm cân nảy mực ở cấp độ cao nhất trong hệ thống tư pháp của đất nước, dù thừa nhận có “sai sót tố tụng” nhưng vẫn khẳng định chắc nịch 100% (hay 17/17) rằng những cái sai đó “không thay đổi bản chất vụ án”, và quyết định giữ nguyên án tử.

Nói cách khác, sau khi xem xét các “chứng cứ” đã được cắt chỗ này gọt chỗ nọ kéo chỗ kia, các Procrustes xứ Việt hài lòng kết luận Hồ Duy Hải nằm vừa khít hoàn hảo với chiếc giường tội phạm.

Hồ Duy Hải có vô tội hay không? 

Nhiều người đã đặt ra câu hỏi như vậy, và đó là cách đặt vấn đề ngược đời, sai hoàn toàn ngay từ đầu.

Hồ Duy Hải hay bất kỳ ai cũng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội.

Cơ quan điều tra hay bất kỳ ai muốn buộc tội người khác mới là người phải đưa ra bằng chứng để chứng minh cho điều họ nói.

Một khi bằng chứng có vấn đề (hoặc nói chính xác như trong vụ án này, là có rất nhiều vấn đề), thì lời buộc tội đó của họ là vô giá trị.

Họ không thể chỉ dựa vào lời khai “nhận tội” của người khác để xoay đảo các “chứng cứ” cho khớp với “bản chất của vụ án”.

Vì sao vẫn còn quá nhiều người đặt câu hỏi ngược đời như trên?

Đó là vì họ mặc định rằng “chính quyền là cha mẹ”, mà cha mẹ đã nói thì hoặc là “luôn đúng”, hoặc là “phải có lý do nào đó mới vậy chứ”.

Họ không thể tưởng tượng, hay chấp nhận sự thật, rằng chính quyền, cha mẹ, hay bất kỳ ai, cũng chỉ là người, và luôn luôn có thể sai, thậm chí là cố tình nhắm mắt đẩy đưa để tạo ra cái sai phục vụ cho những mục đích cá nhân của mình.

Sự thật là những “chứng cứ” đã được công khai cho tới nay trong vụ án sẽ không thuyết phục được bất kỳ một bồi thẩm đoàn được lựa chọn ngẫu nhiên nào.

Trừ phi còn những “chứng cứ bí mật” khác mà vì lý do nào đó vẫn phải “độc quyền” không công bố, thứ công lý mà chính quyền đang cố chụp lên đầu những người có liên quan trong vụ án chỉ là thứ công lý què quặt của những chuyên gia nằm giường.

Có thể khẳng định vào lúc này, câu hỏi Hồ Duy Hải có tội hay không là vô nghĩa. 

Nếu chấp nhận thứ công lý dị dạng được dùng để buộc tội Hải, thì bất kỳ một Nguyễn Văn A hay Trần Thị B nào đó, chỉ cần xui xẻo lọt vào mắt xanh của các điều tra viên, nhờ vào các “biện pháp nghiệp vụ” tùy tiện vô nhân tính, cũng đều có thể biến thành tử tù.

Có chấp nhận thứ công lý dị hợm đó hay không, hoàn toàn là quyền của chúng ta.

Từ “justice” (công lý) của tiếng Anh có gốc từ chữ iustus của tiếng Latin. Từ này lại có gốc từ chữ ius với nghĩa là “quyền”. Công lý vì vậy là một thứ quyền lựa chọn của mỗi người.

Ngay cả khi những ngả đường pháp lý hạn hẹp cuối cùng còn lại cũng bị đóng sập, vẫn luôn có những lựa chọn khác.

Thể chế luật pháp nếu ngay từ đầu đã biến thái bệnh hoạn như chiếc giường của Procrustes, sớm muộn nó cũng phải bị phá bỏ. Giống như kết cục của Procrustes, sau khi giết hại bao nhiêu người, cuối cùng bị đặt trên chính chiếc giường sắt, và bị người khác chặt đầu để ăn khớp với chiếc giường hoàn hảo của mình. 

Có nhiều người đặt hy vọng vào “nhân quả”, viện dẫn cái chết “kỳ lạ” của những điều tra viên liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải. Mỗi người đều có một niềm tin riêng. Nhưng sẽ không có thay đổi nào trên đời nếu ai cũng ngồi chờ “nhân quả” rớt từ trên trời xuống như vậy.

Người thân của Hồ Duy Hải đã dành ra suốt 12 năm qua, bán hết gia sản để tìm công lý cho anh. Người thân của những nạn nhân trong vụ án cũng đã phải mòn mỏi chờ đợi công bằng.

Chúng ta nợ tất cả họ một thứ công lý đúng nghĩa.

Ta không thể trả cho họ bằng một thứ công lý bệnh hoạn ăn khớp với đầu óc biến thái của một nhúm người, càng không thể khoanh tay ngồi chờ phép màu từ trên trời rớt xuống.

Chúng ta nợ họ một thứ công lý thật sự, dựa trên sự thật, và công bằng cho tất cả.

Chúng ta nợ thế hệ tương lai một thứ công lý khác với tên của một diễn viên hài, và một thứ “nhân quả” phải do chính mình tạo ra.

NẶNG VỚI QUÊ HƯƠNG MỘT TẤM LÒNG

No photo description available.
Image may contain: text
Hoang Le Thanh

NẶNG VỚI QUÊ HƯƠNG MỘT TẤM LÒNG

@Trần Trung Đạo

Giới thiệu bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ LM Nguyễn Hữu Lễ

Giới thiệu: Dưới đây là bài thu gọn của bài viết khá dài để giới thiệu bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ khi Cha đến Boston để ra mắt tác phẩm vào ngày 1 tháng 11, 2004. Nhân dịp Cha đăng lại tác phẩm trên Facebook, tôi tóm tắt bài viết của mình như một cách giới thiệu tác phẩm của Cha một lần nữa sau 16 năm. Trong phần phụ đính tác phẩm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ cũng có thêm toàn văn bài viết. Anh chị em và các cháu sẽ có cơ hội đọc. Trong không gian Facebook tôi chỉ xin thu ngắn.

—————–

Cách đây hơn bốn năm, cũng tại thành phố Boston này, lần đầu tiên tôi có duyên được nghe Linh mục Nguyễn Hữu Lễ nói về những áp bức nhân quyền và đấu tranh tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam. Dựa theo những ý chính trong buổi nói chuyện của Cha, tôi đã viết thành một bài tâm bút có tên “Theo Bước Chân Người Linh Mục”. Trong bài viết, tôi nhiều lần lập lại câu nói ngày nay đã trở thành quen thuộc của Cha Nguyễn Hữu Lễ: “Trước khi trở thành linh mục, tôi là người Việt Nam”.

Câu nói đó thật ra không phải là một khám phá thiên tài mà trái lại rất bình thường. Ai cũng có thể nói được và ai cũng biết đó là sự thật. Tuy nhiên biết đúng và sống đúng với những điều mình biết nhiều khi là hai chuyện khác nhau.

Tôi nghĩ rằng, hơn bao giờ hết, những người Việt Nam yêu thương đất nước mình không chỉ biết nói lớn như Cha Nguyễn Hữu Lễ mà còn phải biết sống vì đất nước như Cha Nguyễn Hữu Lễ, biết quý cái tổ mà chúng ta đã được ấp thành người dù chiếc tổ đó làm bằng rơm rạ Việt Nam chứ không phải bằng chăn êm nệm ấm xứ người.

Tôi nhận rất nhiều điện thư hồi đáp về bài viết Theo Bước Chân Người Linh Mục. Đa số hồi đáp rất tích cực. Bài viết đã dựng nên một nhịp cầu cảm thông, không những chỉ giữa cá nhân tôi và Cha, không những giữa các thế hệ Việt Nam ở hải ngoại, mà cả nhiều tín đồ của hai tôn giáo lớn. Bởi vì chúng ta, trước khi trở thành bất cứ một cương vị nào trong xã hội hay trong tôn giáo, đều là người Việt Nam, và trước hết phải có bổn phận đối với sinh mệnh của dân tộc Việt Nam.

Trong số những hồi đáp tôi cũng nhận được là một câu hỏi của một nữ sinh viên Việt Nam: “Cám ơn anh đã nhắc lại câu nói của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, trước khi trở thành linh mục ông là người Việt Nam. Thế nhưng tôi thắc mắc là sau khi trở thành linh mục rồi, ông có còn là người Việt Nam nữa hay không?”

Tôi trả lời cô, theo tôi, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ chịu đựng gian lao tù tội không phải vì ông là linh mục nhưng là vì cái tội ông đã yêu thương mảnh đất từng nuôi ông lớn, vì cái tội ông kính trọng các truyền thống đạo đức, tôn giáo tốt đẹp mà tổ tiên ông đã để lại, vì cái tội ông đã đeo đuổi cuộc đấu tranh cho một xã hội công bằng bác ái, dân chủ, tự do cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Tóm lại ông bị tù đày vì ông là người Việt Nam yêu nước.

Dù sao, câu trả lời cũng chỉ dựa theo hiểu biết giới hạn của tôi về những chịu đựng, gian nan mà Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã trải qua trong nhà tù Cộng Sản. Hôm nay, tôi tin rằng cô nữ sinh kia và quý đồng hương quan tâm ở trong cũng như ngoài nước, đã nhận được câu trả lời rõ ràng hơn và đầy đủ chi tiết hơn về hành trình gian khổ của Cha Nguyễn Hữu Lễ, được tích chứa trong bút ký dài 650 trang, Tôi Phải Sống, của ông.

Hồi ký rất cần thiết và rất giá trị. Nhưng có lẽ điều khó khăn và cần thiết nhất của một hồi ký là giữ được đặc tính khách quan, không phải chỉ khi mô tả bối cảnh đất nước, khi viết về người khác mà quan trọng hơn khi viết về chính tác giả. Nếu không, các thế hệ Việt Nam tương lai khi vẽ lại hình ảnh đất nước qua những hồi ký của ông cha, họ sẽ phải bâng khuâng và đặt nhiều nghi vấn.

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã vượt qua những chướng ngại quá khứ nặng nề đó.

Ngay khi cầm bút viết dòng đầu tiên “Kính dâng lên Mẹ Việt Nam”, ông đã không có ý định viết để đổ thừa, không có ý định viết để khoe khoang thành tích tù đày, và cũng không có ý định về mình hay viết cho mình. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ viết cho những người Việt Nam còn biết đau nỗi đau của đất nước dù họ đang ở đâu trên trái đất này. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ muốn tặng cho các thế hệ Việt Nam tương lai một cơ hội để nhìn khuôn mặt còm cõi của nhau, để nếm mùi nước mắt cùng mặn đang lăn trên má của nhau. Cuộc đời trầm luân thống khổ của ông từ trước cổng trời cho đến tầng cuối của địa ngục nhân gian, nói cho cùng, không phải là lý do của tác phẩm nhưng đó chỉ là cái cớ cho cuộc hành trình chữ nghĩa của ông mà thôi. Ông đã dùng khổ đau của mình để gióng kêu tiếng kêu trầm thống của dân tộc Việt Nam.

Tập bút ký được chia làm 3 phần. Phần thứ nhất với tiểu đề Cuộc Đời và Bóng Đen.

Trong phần này tác giả mô tả hình ảnh đầu đời của ông, sinh ra từ một gia đình nông dân và lớn lên trong bóng mát của ngôi nhà thờ Bưng Trường nhỏ nhoi xinh xắn, thuộc vùng quê của tỉnh Vĩnh Long. Thời thơ ấu của tác giả giống như các trẻ em miền Tây, gắn liền với đồng ruộng, với những đàn cá tung tăng trên sông rạch và những đàn chim, đàn chuột trên đồng. Cho đến khi 10 tuổi, lần đầu tiên cậu bé Lễ chứng kiến cảnh cốt nhục tương tàn xảy ra cho chính gia đình cậu khi hai người bà con, một đi lính cho Pháp và một đi kháng chiến chống Pháp đã giết nhau trên bờ ruộng. Thảm cảnh như một cơn bão nhỏ, tuy qua đi, nhưng tâm hồn của cậu bé Lễ cũng từ đó không còn vô tư trong trắng nữa. Cậu miên man suy nghĩ về lý do, về chính nghĩa, về Việt Minh, về thực dân Pháp. Họ là ai, họ từ đâu đến, bao giờ chiến tranh sẽ tàn trên quê hương cậu? Một ước muốn hiến dâng và tinh thần phục vụ con người, cũng từ đó, bắt đầu nhen nhúm trong lòng cậu. Tháng 8 năm 1963, cậu xin phép cha mẹ, từ giã đời sống của một thiếu niên trong gia đình nông dân êm ấm để trở thành một chủng sinh với tâm nguyện trở thành Linh Mục Thiên Chúa Giáo.

Khoảng thời gian ba năm, từ khi ông được thụ phong linh mục vào năm 1972 cho đến 1975, linh mục hai mươi bảy tuổi Nguyễn Hữu Lễ đã chứng kiến một thực tế xã hội miền Nam chiến tranh điêu linh với tất cả các phó sản tiêu cực do cuộc chiến tạo ra. Ông đã chứng kiến những bất công xã hội, nạn tham nhũng lộng hành trong các quận huyện hẻo lánh. Ông nhìn thấy cảnh máu Việt Nam đổ trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Dù bên này hay bên kia, như ông đã viết trong Tôi Phải Sống, những giọt máu bất hạnh đó “đều có chung một huyết thống đó là Dòng Máu Việt Nam.”

Trên hành trình phục vụ, ông đã chọn đứng về phía những kẻ bị áp bức, những người dân thấp cổ bé miệng, những con người bị ngược đãi không được ai quan tâm chăm sóc. Ông không được ưa chuộng trong hàng linh mục thời bấy giờ, bởi vì ông thẳng thắn chống lại những kẻ gây nên hay bao che cho những bất công sai trái, dù họ là ai.

Biến cố ba mươi tháng Tư năm 1975 đã làm thay đổi khuôn mặt đất nước. Ba mươi tháng Tư như một nhát dao chém xuống cuộc đời đầy hy vọng của tuổi thanh niên. Ba mươi tháng Tư như cơn bão quét ngang qua những ngọn cây xanh vừa mới đâm chồi.

Từ buổi chiều cuối tháng 5 năm 1976 cho đến cuối năm 1988 là thời gian mà tác giả Nguyễn Hữu Lễ gọi là Chiếc Lá Giữa Dòng.

Ông đã dành trên 400 trang trong phần 2 của tập bút ký, để kể lại hơn 12 năm trôi nổi giữa dòng đời, từ trại tạm giam đầu tiên ở Ban Mê Thuộc đến An Ninh Nội Chính, Phan Đăng Lưu, Gia Rây, Nam Hà, Cổng Trời, Thanh Cẩm.

Nếu độc giả nào nói với tôi rằng vị đó có thể đọc một mạch toàn bộ tác phẩm dày 650 trang của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ như đọc một truyện dài đầy ly kỳ gay cấn, tôi sẽ không tin. Mặc dù rất dễ bị cuốn hút vào câu chuyện hồi hộp và đầy bi tráng của ông, tôi đã nhiều lần phải dừng lại, để sách xuống và bước ra vườn. Tôi cần được thở, cần một chút gió và cần lấy lại bình tĩnh trước khi cùng đi với tác giả cho đến bước cuối cùng trong hành trình gian khổ của ông.

Trước mắt tôi, hình ảnh của Linh mục Vũ Đức Khâm đang dọn mình rửa tội trong những lời kinh đọc vội vàng của Cha Lễ. Trước mắt tôi hình ảnh một tù nhân Nguyễn Hữu Lễ ốm yếu trong manh áo rách tả tơi, nằm co ro trong ngục đá của trại Cổng Trời, giữa cái rét căm căm của mùa đông Việt Bắc. Trước mắt tôi thân hình đẫm máu của cố Dân Biểu Đặng Văn Tiếp và tiếng kêu đau xót của ông gởi về miền Nam xa xôi cho người mẹ già đang chờ đợi ông “Chắc con chết mất mẹ ơi” trước khi tắt thở dưới bàn tay độc ác của Bùi Đình Thi. Và bao nhiêu câu chuyện khác, chi tiết khác đã làm trái tim tôi nặng hơn, làm lòng tôi chùng xuống.

Tôi rất thường ca ngợi từ bi, bác ái và kêu gọi lòng nhân bản, bao dung trong những bài thơ, bài viết, bài nói chuyện của mình. Nhưng khi đọc tác phẩm Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ tôi cảm thấy nghi ngờ sự thành thật và giá trị đạo đức trong lời kêu gọi của chính mình.

Tôi chưa bước vào tù. Tôi chưa hề cầm súng. Tôi chưa ai hề bị ai đánh đập, chửi mắng, lăng mạ, bỏ đói, rẻ khinh. Việc nhân danh những điều tốt đẹp nhất trên đời, vì thế, đối với tôi là một việc dễ dàng. Nhưng liệu tôi có thể tiếp tục ca ngợi từ bi, bác ái sau khi bị biệt giam suốt ba năm trong phòng kỷ luật ở trại tù độc ác nhất thế gian như trại tù Cộng Sản hay không? Liệu tôi còn có thể tiếp tục kêu gọi bao dung tha thứ sau khi bị đánh chết đi sống lại suốt ngày đêm hay không? Tôi không dám hứa.

Nhưng Cha Lễ đã chịu đựng được, đã đứng lên được, không chỉ đứng lên như một linh mục, không chỉ đứng lên như một người Việt Nam, nhưng còn là một Linh Mục trung thành với lý tưởng cao cả của mình và như một người Việt Nam có con tim đầy ắp lòng nhân bản, vẫn ôm chặt vào lòng mảnh quê hương khốn khổ của ông.

Suốt 650 trang trong tác phẩm của một linh mục Công Giáo Việt Nam, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, cũng để mô tả một điều tương tự, rằng, từ trong tầng cuối cùng của địa ngục trần gian đen tối, ông đã tìm thấy một viên kim cương tình thương, bao dung, nhân bản mà dân tộc Việt Nam đang cần có. Từ vết thương đã mọc lên những bông hoa tuyệt mỹ của lòng bác ái và tâm hồn hướng thiện. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ bước ra khỏi trại tù không phải như một kẻ được tha nhưng là một người chiến thắng. Đất nước đang lầm than nhưng đất nước vẫn còn đó và tấm thân của tác giả tuy trầy trụa, đau thương nhưng hơi thở chưa tắt và niềm tin chưa chết.

Để kết thúc tác phẩm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ viết: “Những năm tù cũng cho tôi có dịp chia sẻ và sống với nỗi đau thương chung của Dân Tộc, mà nếu không trải qua kinh nghiệm đó, có lẽ tôi không biết hoặc biết rất hời hợt về số phận đau thương của đồng bào Việt Nam. Qua đó, tôi thương và gắn bó với dân tộc tôi nhiều hơn.”

Đúng vậy, tôi rất đồng ý với Cha. Mẫu số chung tinh thần dân tộc vượt lên trên mọi hiệp định, mọi vĩ tuyến, mọi chia cách, mọi tôn giáo, thế hệ, trong hay ngoài nước. Cái chung tinh thần đó, có thể đang sôi sục trong lòng Cha hay tạm ngủ quên trong lòng tôi, lòng anh chị nhưng chắc chắn đã và đang hiện hữu trong mỗi người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước. Nếu chúng ta biết đánh thức cái chung tinh thần đó dậy, sống trọn vẹn với cái chung đó, tôi tin rằng đại gia đình dân tộc Việt Nam sẽ sớm một ngày đoàn viên trong hạnh phúc.

Trong cùng tâm thức đó, tôi xin được trân trọng giới thiệu đến quý vị và độc giả bốn phương tập bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.

Trần Trung Đạo

Link: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3276818645675432&id=100000419874304

Hai người thày

Image may contain: 6 people, people standing
Image may contain: one or more people
Lê Vi

Hai người thày

Hôm qua thấy hình ảnh tay thày giáo trưởng phòng khảo thí của Sở Giáo dục Hòa Bình tay giơ dấu chữ V chiến thắng cười tươi bước ra khỏi pháp đình, cho dù gánh án 8 năm tù, tôi chợt nhớ tới một thày giáo khác.

Ông tên là Kang Min-kyu, Hiệu phó trường Trung học Danwon, Korea dẫn đầu đoàn 325 học sinh đi trên chuyến phà Sewol vào tháng 4/2014. Phà chìm do lỗi của nhà vận chuyển, 200 học sinh của ông mất tích và chết. Ông được cứu sống nhưng sau đó tự vẫn. Trong thư tuyệt mệnh dài 2 trang, ông có viết rằng “Sống sót một mình thật quá đau đớn trong khi 200 người vẫn đang mất tích. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự việc này. Một lần nữa, tôi sẽ lại trở thành thầy giáo của những học sinh đã mất tích ở bên kia thế giới”

Một người thày tham gia vào vụ gian lận điểm số thi cử nhục nhã tới mức ghi dấu trong lịch sử giáo dục nước nhà. Một người mà vì hành động của mình cùng đồng nghiệp đã giết chết bao nhiêu niềm tin của học trò, của phụ huynh học sinh, của các thày cô giáo có lương tâm và trung thực. Anh ta phải vào tù, còn sống, nhưng ung dung cười nói và bày tỏ niềm tự hào. Không còn liêm sỉ, không biết phải trái.

Một người thày không thể sống tiếp dù sự việc xảy ra không hề do lỗi của ông. Nhưng trách nhiệm, lương tâm và liêm sỉ của một người thày khiến ông tự chọn cái chết. Ông không thể rời bỏ học sinh bất luận giá nào.

Dù tôi không mong thày Kang Min Kyu phải có lựa chọn đau đớn này. Nhưng tôi kính trọng nhân cách và liêm sỉ của ông. Vì cách hành xử của ông để lại cho mọi người sự kính trọng. Và hiểu rằng trên đời này Liêm sỉ là một điều quan trọng lắm. Nó có thể lớn hơn cả mạng sống. Nên người ta để bảo vệ chữ Liêm sỉ sẵn sàng hy sinh thân mình.

Trong sách giáo khoa giờ đây không thấy có bài nào dạy về Liêm sỉ. Nhưng sách Cổ học tinh hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có dạy thế này:

“Liêm, sỉ là tính rất hay của loài người, vì người mà không liêm thì cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm. Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất những bậc đứng chủ trương việc nhà, việc nước mà vô liêm, sỉ thì nhà phải suy bại, nước phải nguy vong.

Nghĩ cho kĩ, thì sỉ cần hơn liêm: người không liêm làm những việc bất nghĩa, căn nguyên cũng ở vô sỉ mà ra.”

Nhìn vào hành xử của 2 người thày, thì tự hiểu những nguồn cơn bại hoại, suy vong hay thịnh vượng của giáo dục thế nào. Vì dù họ là thày, họ đều là sản phẩm của giáo dục, của xã hội họ đang sống.

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu