Đêm qua một quả đồi sạt lở đã vùi nguyên một ngôi làng có 19 hộ dân với trên 49 người ở thôn 1 xã Trà Leng.

Sau Rào Trăng và Hướng Việt là Trà Leng và Trà Vân. Những vụ lở đất kinh hoàng này đã làm chết rất nhiều nhân mạng.

Đêm qua một quả đồi sạt lở đã vùi nguyên một ngôi làng có 19 hộ dân với trên 49 người ở thôn 1 xã Trà Leng. 4 người chạy thoát, còn 45 người nay vẫn chưa tìm ra.

Còn ở thôn 1 xã Trà Vân, một vụ sạt lở khác cũng đã vùi lấp 8 người. Hiện tại, đã tìm được 7 thi thể.

Bão vừa đi xong là lở đất, là lo lũ quét lũ ống sẽ tới. Khổ chồng chất khổ. Những dân nghèo, vùng ven biển và dân ở vùng sâu vùng xa, miền núi và hải đảo là những người tổn thương và thiệt thòi nhất trong vụ bão lũ này. Hậu quả từ phá rừng, tác động biến đổi khí hậu, từ thủy điện cóc thật khôn lường. Tiền thì vào túi bọn tham quan và đại gia lợi ích nhóm.

Hôm nay Sở chỉ huy tiền phương được lập ra tại Nam Trà Mi nơi có 2 vụ lở đất còn mất tích 45 nhân mạng. Máy móc được tập trung về đây đào bới. Hy vọng sống còn của những con người này thật mong manh. Ngay ở Rào Trăng vẫn còn 13 người mất tích chưa đào bới ra thì lại qua cơn bão mới phải ngưng tìm kiếm.

Chỉ biết cầu nguyện cho bà con có một cơ may sống sót.

– Nguyễn Thị Bích Hậu

Ps: Cơn bão số 9 đã được dự báo và cảnh báo về mức độ từ sớm, truyền thông chính thống cũng đưa tin các ban ngành từ T.Ư tới địa phương họp bàn đưa ra các biện pháp rà soát ứng phó với bão lũ… mà TẠI SAO vẫn để xảy ra những thảm cảnh đau thương thế này???

TIẾNG NÓI CỦA SỰ THINH LẶNG

TIẾNG NÓI CỦA SỰ THINH LẶNG

Gm. G.B. Bùi Tuần

    Sự gì phải đến sẽ đến.  Sự thinh lặng là điều tất nhiên phải đến với bất cứ ai. Tôi đón chờ nó.  Thánh ý Chúa muốn vậy.
Tôi đón chờ bằng tâm tình tạ ơn.

 Tôi tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho tôi.  Một trong những ơn tôi phải tạ ơn đặc biệt, đó là ơn sống đức tin.
Đức tin mà tôi đã lãnh nhận cũng giống đức tin Chúa ban cho mọi con cái Chúa.  Nhưng tôi sống đức tin ấy trong nhiều tình tiết khó khăn.  Những khó khăn ấy xem ra nhiều tín hữu cũng đã trải qua.  Nhưng họ không nói ra.

 Nếu hôm nay, tôi nói ra đôi chút, thì thiết tưởng đó cũng là tiếng nói chung của sự thinh lặng.  Sự thinh lặng như một hiện diện làm chứng và hiệp thông của tôi và của nhiều người.
Nhìn lại con đường sống đức tin trong lòng Quê Hương và Hội Thánh, tôi thấy đức tin của tôi và của nhiều người đã mang mấy điều sau đây.

1. Một đức tin mang dấu ấn sự sợ hãi
  Sự sợ hãi trong đời sống đức tin của nhiều người chúng tôi là một sự thật nên nói ra.  Bởi vì tin trong sợ hãi là điều xấu.
Ta hãy nhớ lại sự sợ hãi của Tiên tri Êlia.  Vì sợ bà hoàng hậu Ideven, Tiên tri Êlia đã đi trốn.  Ban đầu ông trốn vào sa mạc, rồi đi suốt 40 ngày đêm cho tới núi Khôrep.  Lúc thì ông ngủ dưới gốc cây, lúc thì ông ngủ trong hang (x. 1 V 19,3-9).  Êlia là tiên tri, mà còn sợ hãi đến mức đó.

Nếu cần thêm một minh chứng nữa về sự sợ hãi trong đức tin, chúng ta có thể nhìn lại các Tông đồ Chúa Giêsu.  Ở vườn cây dầu, khi thấy Thầy mình bị bắt, các ngài quá sợ, đã chạy thoát thân (x. Mc 14,50).  Sau khi Chúa phục sinh, các Tông đồ vẫn còn sợ.  Họ họp nhau trong phòng đóng kín cửa (x. Ga 20,19).
Còn chúng ta, khi gặp nhiều trường hợp khó khăn, có người như cảm thấy mất hết các điểm tựa quen thuộc.  Đức tin bấy giờ như chiếc xuồng nhỏ trôi giữa biển cả sóng cao gió mạnh.  Trong sợ hãi đức tin chúng tôi đã chỉ còn biết tìm về một mình Chúa mà thôi.  Và Chúa đã đến như Đấng Cứu Độ đầy tình thương xót.

2. Một đức tin mang dấu ấn sự đau khổ

Đức tin của chúng tôi không những đã trải qua nhiều sợ hãi, mà cũng đã nếm nhiều đau khổ.  Những đau khổ lớn nhất là do thử thách về sự vâng phục ý Chúa.
Để dễ hiểu khía cạnh này, chúng ta có thể nhắc đến trường hợp ông Abraham.  Ngài được Chúa dạy phải sát tế con mình là Isaac (x. St 22,1-19).  Một gương vâng lời nữa gây nhiều đau khổ là trường hợp Đức Mẹ Maria.  Mẹ vâng lời Chúa, nhưng vâng lời đó sẽ là một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ (x. Lc 2,35).

Vâng lời của nhiều người chúng tôi cũng đã gây nên những mất mát.  Chúng tôi vâng lời, mà không biết sự gì sẽ xảy ra, và mình sẽ được lợi gì.  Phép lành của Chúa không được hứa hẹn.  Cái hợp lý không xuất hiện với những lý luận tự nhiên.  Sự vâng lời như dồn mình tới tận cùng giới hạn sự am hiểu, mà mình cho là sáng suốt.
Nhưng khi đức tin chịu vâng phục ý Chúa với sự chấp nhận hy sinh, thì con người chúng tôi đã khám phá ra rằng: Đời sống đức tin không thể tách rời khỏi sự vâng phục ý Chúa.  Đó là một mầu nhiệm.  Chính ở điểm đó mà nhiều người chúng tôi mới trở thành chứng nhân âm thầm của đức tin.

3. Một đức tin mang dấu ấn sự cô đơn
  Ngoài đau khổ và sợ hãi, đức tin của chúng tôi còn mang dấu ấn của sự cô đơn.
Hình ảnh sống động nhất về sự cô đơn là hình ảnh Chúa Giêsu trên Thánh giá.  Lời Người kêu thảm thiết: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15,34) diễn tả một sự cô đơn khủng khiếp.

Trong các người tin theo Chúa, không thiếu người đã trải qua những trường hợp cô đơn ghê sợ.  Hoài nghi tiếp nối hoài nghi.  Nhưng hoài nghi lại nuôi đức tin.  Rồi đức tin lại nở sinh những hoài nghi mới.  Con người sống đức tin như bị rơi vào con đường hầm tăm tối.  Họ cầu nguyện, nhưng cảm thấy quá khô khan.  Họ tìm Chúa, nhưng cảm thấy như Chúa vắng mặt.  Họ nhìn xung quanh xem có ai tin được, nhưng hình như mọi người đều dửng dưng xa tránh.
Nếu ai hỏi họ tại sao đức tin họ lại cô đơn, thì họ không cắt nghĩa được.  Và đó là cảnh cô đơn mênh mông rùng rợn.  Nếu hỏi họ cô đơn nào nguy hiểm nhất?  Thì đôi khi họ chỉ nói trống là: Từ nội bộ.  Và đó là sự nghịch lý chua chát, mà Thánh Gioan đã nói ngay ở đầu Phúc âm của Ngài (x. Ga 1,11).
Xã hội và Giáo hội là chiến trường giữa thiện và ác.  Khi não trạng coi trọng của cải danh vọng hơn đức tin đức ái phát triển mạnh ở đó, thì những ai đi ngược lại sẽ bị cô đơn.  Sự cô đơn của đức tin thường hay bén nhạy.  Nó cũng dễ đưa con người tới những suy tư về ý nghĩa cuộc đời và các biến cố.  Những suy tư như thế là cửa mở ra về cõi đời đời.
Với “Tiếng nói của sự thinh lặng” trên đây, tôi muốn nói lên cảm tưởng này của tôi là: Đức tin ví được như một viên ngọc quý Chúa ban.  Viên ngọc quý này sẽ phải được giữ gìn, và sẽ được sáng lên nhờ những thử thách.  Có nhiều thử thách, nhưng nên để ý nhiều hơn đến sợ hãi đau khổ và cơ đơn.  Vì thế, việc mà Chúa muốn chúng ta thực hiện không phải là tránh được những thử thách đó.  Hành trình sống đức tin như thế sẽ phác họa lại lời Thánh Tông đồ Phaolô xưa:
“Kho tàng ấy, chúng ta lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi.  Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt.  Chúng tôi luôn mang trong thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống cũng biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2 Cr 4,7-10).
Với nhận thức trên đây, tôi xin tạ ơn Chúa vì hành trình đức tin.  Dù trong thing lặng, hành trình ấy chính là những vượt qua, nhờ cuộc thương khó của Chúa Giêsu là mục tử nhân lành.  Người luôn ở trong đời sống chúng ta.

Xin âm thầm tạ ơn Chúa trong cõi thinh lặng.
Xin âm thầm tạ ơn Chúa với những người thinh lặng.

Gm. G.B. Bùi Tuần

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

05 - Solitude 46.jpg

Quảng Nam: Sạt lở đất vùi lấp 53 người, 4 người thoát nạn, 7 thi thể được tìm thấy

Quảng Nam: Sạt lở đất vùi lấp 53 người, 4 người thoát nạn, 7 thi thể được tìm thấy - Trí Thức VN

Thông tin ban đầu, vụ sạt lở đất nghiêm trọng xảy ra tại hai thôn là thôn 1 xã Trà Leng và thôn 1 xã Trà Vân thuộc huyện Nam Trà My (Quảng Nam) đã vùi lấp 53 người. Trong đó, 4 người đã thoát nạn, 7 thi thể tìm thấy lúc 23h hôm 28/10. Hiện giới hữu trách đang tiếp tục tìm kiếm cứu nạn.

M.TRITHUCVN.ORG

MIỀN TRUNG- VÙNG ĐẤT KHỐN KHÓ

MIỀN TRUNG- VÙNG ĐẤT KHỐN KHÓ

Đỗ Ngà

Theo các chuyên gia thì nguyên nhân dẫn đến bão lũ ở miền Trung là do các cơn bão được hình thành từ biển Đông và gió mùa Đông Bắc. Dựa vào đặc điểm thời tiết miền Trung rất phù hợp để hình thành con đường di chuyển mắt bão nên nó như một điều kiện để dẫn các cơn bão đổ bộ vào. Chính vì vậy, hàng năm những trận bão biển và gió mùa Đông Bắc thường đổ bộ vào miền Trung nhiều hơn 2 miền còn lại.

Bờ biển miền trung dài 1200 km kéo dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, phía tây là dãy Trường Sơn tạo thành bức tường chắn. Vì dải đất miền trung hẹp nên độ dốc lớn, thêm vào đó là mạng lưới sông ngòi chằng chịt, chính vì vậy khi gió bão từ biển đổ vào ngoài sự tàn phá bằng gió thì nước mưa cũng có nguy cơ tạo thành lũ. Đã vậy bàn tay con người còn phá rừng không thương tiếc. Dốc lớn, sông nhiều, rừng bị phá nên việc xây đập thủy điện thường là tạo thành bom nước hơn là tác dụng điều tiết nước lũ. Thực tế cho thấy các đập này thường xả lũ cứu đập mỗi khi có mưa lớn. Được biết trên dải đất miền trung có 25 thủy điện lớn, 161 thủy điện vừa và nhỏ thì có thể nói bom nước được gài khắp nơi. Chính vì vậy bão đến thì thường dân miền trung chịu thiệt hại kép.

Miền Trung một vùng đất khốn khổ, lũ mới vừa hoành hành chưa dứt thì nay siêu bão lại ập đến. Mà năm nào cũng thế, dân miền trung cứ phải chấp nhận mất mát lớn để sống chung với thiên tai và nhân họa. Miền trung – một vùng đất đầy bất hạnh!

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://tintuc.vn/tai-sao-bao-o-viet-nam-thuong-do-bo-vao…

https://tintuc.vn/tai-sao-bao-o-viet-nam-thuong-do-bo-vao…

Image may contain: cloud, text that says 'msn.com/vi-vn/weather, Vệ tinh × Tam + Quang Tri Salavan Dà Nang QUAN DA HOANG S Attapu mpaşak Quang Ngai ab póng Cham Ho,ChiMinh Minh Ho ong Xuyên Can Thơ Earthstar Geographics SIO, 2020 Navinfo © 2020 TomTom © Teums Bing 2020 HERE, © 2020 Microsoft Carporation I 4:00SA SA 4:00 7:00 SA 6:00 SA Tu, Thg10 28'

BÉ CHẾT GIỮA TRỜI

Image may contain: 1 person

BÉ CHẾT GIỮA TRỜI

Lễ Thai Nhi 17:00 tại GX Bắc Hải 28/10

Một bé trai sơ sinh, dây rốn vẫn còn nguyên, bị bỏ lại bên đường tại Dầu Tiếng. Em đã chết giữa trời! Không người thân! Không giấy tờ! Kiến đang bò vào.

Có chị Tân Tòng đưa con đi học sớm, nhìn thấy, liền đi báo công an.

Lập tức em được đưa về, lập biên bản và khám nghiệm tử thi mổ dọc xương sống lưng.

Kết luận “Bé mới sinh, cổ họng của bé có một miếng giấy thấm!”

Vậy là cháu bị miếng giấy thấm đó làm nghẹt thở và bị đưa ngoài vệ đường rồi bỏ đi!

Chị tân tòng ấy đã bảo lãnh và đưa về nghĩa trang công viên thai nhi. Công an tháp tùng và đưa cháu giao lại cho ban Bảo Vệ Sự Sống chúng tôi an táng cháu.

Chẳng biết cháu từ đâu, chẳng biết cháu là ai! Cháu nằm giữa trời bất động, chỉ còn oan hồn cháu uẩn khuất kêu oan.

Em về với chúng tôi mà máu vẫn con chảy ra. Máu đó sẽ kêu thấu Trời xanh!

Đâu đó vẫn còn những cảnh đau lòng này xảy ra. Sự dữ vẫn luôn xuất hiện và được thực hiện bởi ngay chính người thân yêu nhất. Nỗi đau và oan khiên sẽ ám vào đất nước và con người chúng ta.

Chỉ có tấm lòng, chỉ có niềm tin vào Lòng Thương Xót Chúa để làm việc này mới mong tội lỗi con người được cơ hội tha thứ và sự huỷ diệt sẽ không đến.

Chúng ta đón nhận cháu, cầu xin ơn tha thứ, dâng cháu lên Trời và an táng cháu ở nghĩa trang Công Viên Thai Nhi tại giáo xứ Tây Hải.

Cháu đã được tẩm liệm và dâng lễ tại giáo xứ Bắc Hải lúc 17:00 Chúa nhật 28/10, chung với lễ thai nhi.

Làm việc này lâu, tôi nghe tiếng ai oán của các em rất mạnh và mong muốn được yêu thương của các em rất thiết tha.

Xin cháu bé tha thứ cho một lý do nào đó đã chặn hơi thở cháu. Xin máu oan của em ngừng chảy để ơn tha thứ đến với con người và cửa Trời mở ra.

Xin Lòng Thương Xót Chúa mở ra cho loài người tội lỗi chúng con.

Xin cám ơn cha xứ, cha phó và giáo xứ Bắc Hải. Xin cám ơn tấm lòng đã đưa cháu về đây. Xin cám ơn tất cả mọi người cùng với chúng tôi thắp lên ngọn lửa điều răn thứ năm “Chớ giết người”. Xin cho ngọn lửa ấy bùng cháy lên.

 Lm. Giuse Nguyễn Văn Tịch

TB BVSS

Nụ Cười Sơn Cước

Thưa quý vị:

“ Nụ Cười Sơn Cước” của NS Tô Hải (91 tuổi,1927- 2018) là một nhạc phẩm tiền chiến, sáng tác trước năm 1945 tại rừng Việt Bắc. Đây là một ca khúc thuần túy tình cảm lãng mạn (Amour Platonique) của một thanh niên khi qua bản làng của người thiểu số và yêu một cô gái sắc tộc có nụ cười xinh đẹp làm xao xuyến tâm hồn. Nhạc phẩm này được ưa chuộng và nổi tiếng ngang với những ca khúc trữ tình rất hay thuở đó như Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi, Buồn tàn thu, Đêm đông, Tiếng hát quay tơ.v.v.v.

Chỉ có một điều là thời đó ông đã theo Việt Minh vì nghĩ rằng  cần phải  chống Pháp nên ông có viết thêm một số nhạc đỏ như quân hành khúc… Nhưng những năm dài về sau, ông đã hiểu bản chất của chế độ Cộng Sản nên tự ý rời đảng, phản tỉnh, tự nhận mình đã lầm đường. Ông viết cuốn  “Hồi Ký của Một Thằng Hèntrong đó, ông chỉ trích chính bản thân  đã ‘lựa chọn sai đường’, tự nhận mình là một ‘thằng hèn’, ‘một kẻ cơ hội’, ca ngợi ‘đảng và chế độ’ để sống sót. Sau đó, ông gửi bản thảo qua Hoa Kỳ và Tập hồi ký này được Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ở Virginia in ra năm 2009 dưới bản quyền của chính tác giả.

Đài BBC (ký giả Trần Tiến Đức)

….”Rất tiếc là sau này tôi không được nghe những sáng tác mới của ông. Mãi sau này qua cuốn “Nhật ký một thằng hèn” tôi mới được hiểu thêm về ông, về con người ông.

“Đúng là ông và nhiều văn nghệ sĩ cùng thời với ông ở miền Bắc phải chịu sống hèn để có thể tồn tại, phải viết những gì mình không nghĩ, phải nói những gì mình không tin. Tôi nghĩ rằng đó chính là bi kịch lớn nhất của họ.

“Nhưng khác với nhiều người, nhạc sĩ Tô Hải dám nhận mình là hèn, và viết lên những gì ông cho là hèn. Tôi nghĩ rằng phải dũng cảm như thế nào mới dám công khai nhận mình là hèn.

“Tôi thì nghĩ rằng cái thể chế này đã bắt ông và nhiều đồng nghiệp phải sống hèn. Nhưng với những gì ông đã làm thì nhạc sĩ Tô Hải đã chết như một người không hèn, một người tử tế rất đáng kính trọng

“Từ Paris, xin thắp một nén nhang cầu mong cho ông được hưởng mọi niềm sung sướng ở cõi vĩnh hằng!,” nhà báo Trần Tiến Đức chia sẻ.

Kính mời quý vị thưởng thức nhạc phẩm tiền chiến “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải qua phần trình bày và minh họa 4k của Trần Ngọc A.

Xin bấm LINK để xem hình rõ nét:

httpv://www.youtube.com/watch?v=Hy3CnQgE-rA

 Cám ơn quý vị.

TN.A

Bốn Điều Cần Ghi Nhớ Để Vượt Qua Những Sóng Gió Trong Cuộc Đời

Bốn Điều Cần Ghi Nhớ Để Vượt Qua Những Sóng Gió Trong Cuộc Đời

Trên những đoạn khúc khuỷu của đường đời, chúng ta thường dễ trượt ngã và oán trách số phận: “Sao đời lại bất công như thế?”. Nhưng người Ấn Độ khác hẳn lại luôn dùng kim chỉ nam là 4 quy tắc tâm linh đầy sâu sắc dưới đây để đi qua những cơn sóng của niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống.

1Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp
Không ai ngẫu nhiên bước vào cuộc đời bạn mà không mang một ý nghĩa nào đó. Tất cả những người chúng ta gặp trên đường đời đều là những người “thầy” vô giá. Dù họ yêu thương bạn, bỏ rơi bạn, giúp đỡ bạn hay tranh đấu với bạn, tất cả chỉ để dạy bạn cách sống, cách yêu thương, cách bao dung và nhẫn nhường. Số phận luôn sắp đặt đúng người vào đúng thời điểm để tôi luyện ý chí và phẩm cách con người bạn, để bạn nhận ra đâu là giá trị cuộc sống và giá trị của bản thân mình. Vậy nếu bạn chỉ biết ơn những người trao cho bạn cơ hội mới, những người tặng bạn những khoảnh khắc ngọt ngào, và thù ghét những người để lại vết thương lòng trong bạn thì bạn mới chỉ hiểu một nửa thông điệp của tạo hóa

2.Bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc đời bạn đều là những điều nên xảy ra
Không có điều gì chúng ta từng trải qua trong cuộc đời mình đáng ra không nên xảy ra cả, kể cả những điều nhỏ nhặt nhất. Trước mỗi một sai lầm hay vấp ngã, chúng ta đều than thở “Giá như mình không làm thế thì mọi chuyện đã khác”. Nhưng không, chẳng có cái giá nào hết bởi vì những gì nên xảy ra thì đều đã xảy ra.
Qua đó, chúng ta rút ra được bài học để hoàn thiện, phát triển bản thân hơn. Thay vì ngồi đó bực tức, bất lực, trách mình vì đã đánh đổ nước cam lên chiếc laptop ban sáng, bạn hãy bình tĩnh chấp nhận, lau chùi nó rồi nó đem chiếc máy tính đi sửa và rút kinh nghiệm lần sau không bao giờ để nước vào túi đựng laptop nữa, có phải là tốt đẹp hơn không? Khi bị kẹt cứng trên một tuyến đường đông đúc trong lúc đưa con đi học, bạn cũng sẽ không nghĩ rằng nếu đi nhanh hơn thì một chiếc xe tải lao như bay trên đường có thể cướp đi sinh mạng của mình và con mình?
Bởi vậy mới nói, đừng ngồi mà ước “giá như”bởi chẳng có gì xảy ra trong cuộc đời là không có nguyên do. Nhẹ nhàng chấp nhận mới có thể ung dung, tự tại. Không có gì chúng ta trải qua lại có thể khác đi và đừng tốn thời gian để hối tiếc về những chuyện đã qua.

3.Chuyện gì đến, ắt sẽ đến
Tất cả mọi chuyện trên đời đều xẩy đến vào đúng thời điểm nó xẩy ra, không sớm hơn hay muộn hơn. Chúng ta không thể đoán trước điều gì sắp xảy ra, cũng không thể ngăn chặn nó vì nó đã ở đó và sẽ xảy ra vào một thời điểm mình không ngờ tới. Việc lo sợ vào một ngày nào đó một chuyện tồi tệ ập đến sẽ khiến bạn quên đi những giây phút đáng quý của hiện tại. Dù là niềm vui hay nỗi buồn, hãy học cách can đảm đón nhận nó. Bạn không thể kiểm soát thế giới xung quanh bạn. Chuyện gì phải đến cũng sẽ đến và phải học cách bình thản đối diện với những chuyện có thể bất ngờ xảy ra. Đôi khi, chúng ta phải chờ đợi rất lâu và trải qua rất nhiều những “chuyện sẽ đến” để hiểu hết ý nghĩa của thời điểm. Thời điểm luôn là món quà mà Thượng Đế trao cho những ai biết nhẫn nại, kiên trì và quyết tâm.

 4.Chuyện gì đã qua, hãy để cho nó qua
Quy tắc này rất đơn giản. Khi một điều gì đó đã kết thúc, thì có nghĩa là nó đã hoàn thành trách nhiệm giúp ta phát triển. Duyên phận của chúng ta với điều đó đã chấm dứt để nhường chỗ cho mối nhân duyên khác hội tụ.

Đôi khi chia tay một người hay rời bỏ một công việc chưa chắc đã là điều không tốt, bởi vì biết đâu đó lại là cơ hội để mình tìm được một công việc mới tốt hơn hay một người khác tử tế hơn.
Đó là lý do chúng ta phải biết buông bỏ, để lại sau lưng những muộn phiền và quá khứ để dành sức tiếp tục cuộc hành trình của đời mình. Để có thể an nhiên, mỗi người nên biết tùy duyên và thuận theo tự nhiên mà sống.

Không phải ngẫu nhiên mà bạn đọc được bài viết này bởi vậy nếu cảm thấy đúng, đừng giữ cho riêng mình mà hãy chia sẻ! Hãy yêu thương bản thân, sống an nhiên và luôn hạnh phúc nhé!

From: ngocnga_12 & Anh chị Th ụ-Mai

CHÌA KHOÁ HẠNH PHÚC

CHÌA KHOÁ HẠNH PHÚC

Nếu hạnh phúc là thứ dễ tìm thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy? Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian tìm kiếm?    

 1/. HẠNH PHÚC Ở NƠI ĐÂU?

– Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn?  

Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”. Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.    

– Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ?   

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương chỉ sao lại phí hoài nó cho hận thù”.       

Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy, bạn cho đi sự tha thứ cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.       

Không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau. Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao?      

Hạnh phúc nằm ở chỗ Cho chứ không phải chỗ Đòi.   

Hãy cho đi những thứ bạn muốn, rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những gì mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.    

Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này không để bạn chịu thiệt thòi đâu.      

2/. HẠNH PHÚC LÚC NÀO? 

Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ?   

Nói theo Đạo học là “Thái quá hay Bất cập đều là dở cả” (thái độ cực đoan là không tốt).

       Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.

Do đó, chúng ta thấy hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, mà nằm ngay nơi chính ta, và hạnh phúc cũng chẳng phải là cái đích đặt ra để chúng ta đi đến, mà là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta trong cuộc sống, chỉ vì ta quá hướng ngoại mà không quan tâm quên mất nó đi thôi.  

Vì thế, hạnh phúc của chúng ta hẳn phải do tự chúng ta xây lấy, chứ chẳng phải chạy theo một ai đó để xin ban. Thứ hạnh phúc xin ban chỉ là thứ hạnh phúc ảo, nó sẽ dần chết theo thời gian.

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ-Mai

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, người xây nhà tĩnh tâm giữa sa mạc

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, người xây nhà tĩnh tâm giữa sa mạc

 Vũ Đình Trọng/Người Việt

LUCERNE VALLEY, Califonia (NV) – Câu chuyện một linh mục từ Việt Nam sang Mỹ du học, rồi ở lại xây một đan viện trên một mảnh đất khô cằn rộng 80 mẫu, nằm trong vùng sa mạc, quả là một chuyện khó tin.

Đức Giáo Hoàng Francis chúc lành cho công trình Đan Viện Thánh Guise. Bên cạnh là Linh Mục Phạm Sĩ Hanh. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Càng khó tin hơn, khi trong tay ông không có một đồng nào, và các mối quan hệ xã hội, chỉ gói gọn từ linh mục bề trên, những người bảo lãnh ông du học, và một vài giáo dân thương mến ông.

Khởi đầu của Linh Mục M. Anthony Phạm Sĩ Hanh chỉ có thế!

Hành trình tìm mảnh đất xây dựng Đức Tin

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh thuộc dòng Xitô (O.Cist) Hà Tĩnh, Việt Nam. Năm 2001, ông nhận được một học bổng năm năm từ nhà dòng chiêm nghiệm Biển Đức ở tiểu bang Pennsylvania.

Ông kể: “Bắt đầu bề trên cho tôi học đan tu để hướng dẫn cho các thầy sau này hiểu được nguồn gốc đời sống đan tu, hướng đi, đánh giá của giáo hội. Sau một năm, bề trên kêu tôi đổi sang học chuyên về Kinh Thánh. Học Kinh Thánh được một năm thì đổi sang học làm nhà dòng.”

Học được gần hai năm, môt số giáo dân ở Mỹ gợi ý ông mở trung tâm tĩnh tâm. Đó là nhu cầu về tâm linh, họ muốn có nơi đến để tìm lại mình qua lời kinh cầu, qua suy ngẫm, để gội rửa vẩn đục tâm hồn.

“Giáo dân biết tôi ở dòng chiêm niệm, nên mới đề nghị như thế. Đó vừa là nhu cầu của họ, vừa là tình yêu mến giáo dân dành cho tôi. Chính gợi ý đó, bề trên của tôi họp, bàn tính, hỏi han. Thực sự tôi được đi du học để về nước làm thầy giáo. Theo đức tin, những chuyện tôi làm ở đây, đều là sự an bài từng bước của Chúa.”

Nếu có “sự an bài của Chúa” như tâm tình của Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, thì chắc chắn, “sự an bài đầu tiên” là cuộc gặp gỡ giữa ông và hai gia đình Công Giáo, anh chị Bằng-Hằng, và anh chị Hải-Hồng, tại Pennsylvania. Hai gia đình không chỉ “hối thúc” ông mua đất, mà còn sẵn sàng tặng ông 20% số tiền đặt cọc để làm thủ tục sang nhượng.

Không tìm được đất ở Pennsylvania, họ tiếp tục về California tìm tiếp, để rồi “sự an bài cuối cùng” về miếng đất xây đan viện xuất hiện.

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Vũ Đình Trọng/Người Việt)

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh kể: “Tháng Mười, năm 2004, tôi về Quận Cam (California) tham dự ‘Hành Trình Emmaus’ lần đầu tiên được tổ chức tại đây. Hai gia đình chị em Hồng và Hải cũng về đây chở tôi đi tìm đất. Ba ngày trời tìm mệt mỏi vẫn không có miếng đất nào phù hợp để mở đan viện. Tôi quyết định mai bay về Pennsylvania. Chuyện mua đất cứ để Chúa lo.”

Buổi chiều cuối cùng ở California, trên đường xem đất về, cả nhóm ghé vào một văn phòng địa ốc chào tạm biệt cô Teresa, người đã giúp đỡ họ rất nhiều trong thời gian qua. “Dù không mua được miếng đất nào, nhưng phải cảm ơn cô ấy vì sự nhiệt tâm đáng quý,” Linh Mục Phạm Sĩ Hanh nói.

“Đúng lúc chúng tôi đến, cô Teresa đang tiếp hai vợ chồng muốn bán miếng đất 80 mẫu của họ ở sa mạc.”

Linh Mục Hanh nghĩ “như một phép lạ,” vì đúng lúc gần như tuyệt vọng, ông lại nhận được “ánh sáng cuối đường hầm.” Ông quyết định dời ngày về Pennsylvania, để đi xem đất. Miếng đất nằm ở đằng sau đường cao tốc 247, “tuyệt đẹp” như ước muốn của ông: Rộng rãi, có núi, không bị ồn vì tiếng xe cộ, không một bóng nhà. vì chẳng có ai ở, nên không có hệ thống điện, nước.

“Tôi tin đây là cách Chúa đặt trách nhiệm vào tôi, bắt tôi khởi đâu bằng một nơi nắng gió, không điện, không nước. Chúng tôi bắt đầu tạo dựng đan viện như vậy đấy.”

Khó khăn chưa hết cho người “không đồng xu dính túi” như Linh Mục Hanh. Khó khăn đến, không từ người bán đất, mà từ cộng đoàn người Mỹ ở Pennsylvania, nơi bảo lãnh ông qua Mỹ du học.

“Họ không chấp nhận cho tôi mua đất vì tôi làm gì có tiền. Luật sư của họ giải thích rất rõ, rất có lý rằng, tôi mới qua Mỹ không người thân thích, tiếng Mỹ không rành, lại không làm ra tiền, nên rất phiền toái nếu sau này có chuyện gì liên quan đến pháp luật.”

“Ngày cả Cha Viện Phó Pier, cũng dùng thành ngữ ‘you’re dead meat’ để cảnh báo rằng tôi đang gặp một rắc rối nghiêm trọng.” Linh Mục Phạm Sĩ Hanh nói tiếp: “Tôi phải thuyết phục cha viện phó rằng hai gia đình giúp tôi qua Mỹ với hai bàn tay trắng. Giờ họ là triệu phú nhờ cố gắng làm việc cật lực. Họ cho tôi 20% tiền đặt cọc mua đất, tôi không nghĩ là họ ‘ngu ngốc.’”

Toàn cảnh Đan Viện Thánh Giuse tại vũng sa mạc Lucerne Valley, California. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Cuối cùng Linh Mục Hanh cũng thuyết phục được Viện Phó Pier đồng ý. Ông như trút được gánh nặng, dù “ngài không cho tôi đứng tên mua, vì nếu có chuyện gì sẽ ảnh hưởng đến nhà dòng của ngài.”

Cuộc hành trình thực hiện Đức Tin của Linh Mục Phạm Sĩ Hanh trên đất Mỹ chỉ mới bắt đầu. Còn hàng ngàn khó khăn trước mắt, đang đợi ông.

“Dấu chỉ của Chúa qua Thánh Lễ Di Cư”

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh chịu chức vào Tháng Năm, 2004, tại Pennsylvania. Tháng Mười, ông mua được miếng đất nằm giữa thung lũng Lucerne thuộc vùng sa mạc quận San Bernardino, California.

Để có tiền trả góp mua đất mỗi tháng $486, ông xin cha bề trên ở Việt Nam cho phép giữ lại tiền xin lễ của giáo dân, khoảng hơn $200 mỗi tháng. Giáo dân biết tin ông mua đất xây đan viện, họ không chỉ đóng góp tiền xin lễ, mà còn gởi thêm vào đó, mỗi lần năm ba chục đô la, để giúp ông đủ tiền trả nợ hàng tháng.

Trả được hơn một năm, qua hai gia đình hai chị em Hồng-Hải, ông quen một gia đình giáo dân ở Florida. Biết ông đang vất vả trả tiền mua đất hàng tháng, họ tặng ông $50,000, giúp ông trả hết tiền đất.

“Năm 2006, để chuẩn bị đón thêm các linh mục từ Việt Nam qua, tôi phải chắc chắn chỗ đó có nước.”

  Linh Mục Phan Sĩ Hanh nhớ lại: “Tôi mướn người đến khoan tìm, hai tuần sau mới tìm ra nguồn nước. Còn điện thì tôi mướn hệ thống điện solar. Thế là xong hai việc quan trọng nhất trước khi bắt đầu kế hoạch xây dựng.”

Đầu năm 2007, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh và bốn linh mục khác từ Việt Nam qua, về vùng đất “sa mạc” Lucerne Valley, California, “phó thác vào Chúa, và Thánh Giuse” như đức tin của ông, quyết tâm biến mảnh đất khô cằn thành nơi mọi người muốn tìm về để tĩnh tâm, khai sáng tâm trí.

Đài Thánh Guise (phải) và Thánh Giá Nguyện Đường (trên cao, bên trái) tại Đan Viện Thánh Giuse. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Ông kể: “Hai gia đình đã giúp tôi từ trước đến nay, lại thêm một lần nữa thể hiện tấm lòng của họ. Họ mua một căn nhà ở thành phố Vitorville, rồi cho chúng tôi ở 14 tháng, trong thời gian xây dựng đan viện. Mỗi ngày, 7 giờ sáng chúng tôi ra khỏi nhà đến ‘sa mạc’ làm việc đến 7 giờ tối.”

Họ mướn hai xe máy ủi, nhờ người lái, cùng nhau san đất, chặt cây, dọn dẹp mọi thứ để miếng đất thật quang đãng, sạch đẹp trước khi bắt tay vào xây dựng.

“Chúng tôi làm tất cả mọi việc có thể làm. Việc không làm được, tìm cách nhờ người giúp. Việc ngoài tầm tay thì mới đành chịu bỏ tiền đi mướn. Thứ nhất, chúng tôi không có tiền; thứ hai, nếu có tiền, chúng tôi vẫn phải tiết kiệm để xây đan viện sau này.”

Tháng Mười, năm 2007, nhờ sự giúp đỡ của một số giáo dân Nam California, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh tổ chức được một buổi tiệc gây quỹ. Công việc của ông, được cộng đồng công giáo vùng Orange County biết đến, nhờ đó cũng có thêm phần hỗ trợ đáng quý.

Năm 2008, ông mượn được $250,000 không phải trả tiền lời, mua hai căn mobile home, mỗi căn rộng 1,700 sqft. Một nhà là nơi các đan sĩ ở, một nhà dành cho khách đến tĩnh tâm.

Ngày 22 Tháng Ba, năm 2009, Đan Viện tổ chức lễ mừng Bổn Mạng Thánh Giuse, được Giám Mục Mai Thanh Lương làm chủ tế. Hai tuần trước, các đan sĩ đã chuẩn bị mọi thứ tươm tất, đắp đất, trồng cỏ, làm khán đài,… chuẩn bị cho ngày lễ trọng đầu tiên.

Linh Mục Phạm sĩ Hanh kể: “Hai giờ sáng ngày 22, trời bỗng nổi gió. Lạnh không thể tưởng. Rồi có mưa đá. Gió giật sập cả khán đài làm lễ. Tôi lo lắng vô cùng, nên ra chỗ tượng Thánh Giuse cầu nguyện. Lúc đó còn bức tượng nhỏ, chứ không lớn như bây giờ. Tôi nói với ngài rằng tại sao cả tuần nay trời đẹp, mà sao hôm nay lại như thế này? Rồi tôi thấy cuộc đời Thánh Giuse, như những thước phim chiếu trong đầu. Tôi như được soi sáng từ cuộc đời khổ hạnh của ngài, và hiểu rằng không có gì đạt được một cách dễ dàng cả. Tôi nói với ngài là nếu như đó là ý Chúa và ý Thánh Giuse, con chỉ xin một điều duy nhất là giữ cho tất cả những ai lên đây được bình an. Còn con thì Chúa muốn làm gì thì làm.”

Bản vẽ thiết kế hội trường tĩnh tâm tại Đan Viện Thánh Giuse. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Dự tính khai mạc lễ lúc 10 giờ, nhưng 12 giờ trưa, trời mới bớt gió, buổi lễ mới được bắt đầu. Vẫn chưa hết khó khăn, khi Giám Mục Mai Thanh Lương đọc xong bài đọc thứ nhất, thì gió lại bắt đầu thổi mạnh. Những cột cây chống bạt bị nhổ lên, những tấm bạt bay như diều đứt dây, khiến mọi người phải chạy vào nhà trốn gió.

“Chúng tôi tiếp tục làm lễ trong phòng khách của một căn nhà, sau buổi lễ mới đi tìm giáo dân tản mát các phòng để cảm tạ họ,” Linh Mục Hanh tiếp tục câu chuyện.

“Đức Cha Mai Thanh Lương đặt tên cho buổi lễ có một không hai này là ‘Thánh Lễ Di Cư.’ Khi nói lời cảm tạ các cha, tôi chia sẻ suy nghĩ như thế này: ‘Con không biết đây có phải là dấu chỉ mà Chúa qua Thánh Giuse muốn mình phải xây nhà thờ ở dây không?’ Ngay sau Thánh Lễ, rất nhiều người gọi điện thoại, gởi thư về đề nghị chúng tôi quyên tiền xây nhà thờ.”

Theo Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, việc xây nhà thờ không nằm trong kế hoạch của ông lúc đó, nhưng vì qua sự việc xảy ra trong Thánh Lễ, giáo dân ủng hộ “dấu chỉ của Chúa” nên ông nghĩ đó chính là thời điểm thuận lợi nhất thực hiện “ngôi nhà thờ Chúa” này.

“Tháng Mười, năm 2009, chúng tôi chính thức tổ chức quyên tiền xây nhà thờ. Cuối năm 2011 bắt đầu xây, và đến năm 2013 thì xong.”

Tiếp tục “chặng đàng Thánh Giá,” xây nhà cho người tĩnh tâm

Ngôi nhà thờ được xây dựng bằng sự cộng hưởng niềm tin của những đan sĩ và mọi người, bằng tình yêu thương, vì họ tin vào “dấu chỉ của Chúa.”

Nhớ lại những ngày khó khăn, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh cho biết: “Đó là công trình chung của mọi người. Từ việc mua đất, cho đến những công trình đã được xây dựng ở vùng đất sa mạc này, nếu tôi có ‘7 đầu, 14 tay’ cũng không chẳng làm nổi. Tôi cực thật, nhưng qua đó tôi thấy mình được Chúa chọn để thực hiện công trình của ngài. Thành quả như thế vượt quá sức tưởng tượng của chúng tôi.”

“Giờ tôi đang quyên tiền xây hội trường để có chỗ cho người đến tĩnh tâm.”

Mô hình tổng thể Đan Viện Thánh Guise khi hoàn thành. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Ông chia sẻ suy nghĩ nhẹ nhàng về công trình có trị giá xây dựng khoảng $4 triệu như thế. Bởi đó là việc phải làm, nếu không muốn nói đó là công trình chính để Đan Viện Thánh Giuse thực hiện nhiệm vụ của mình.

“Cái mobile home chỉ tiếp được một lúc 15 người thôi. Từ năm 2013 đến nay, mỗi năm chúng tôi tiếp đón 2,700 đến 3,500 người đến lễ giữa sa mạc này, trong khi sức chứa của nhà thờ theo quy định, chỉ được 100 người. Chính vì vậy chúng tôi phải xây hội trường, để đáp ứng nhu cầu tĩnh tâm của rất nhiều người.”

Theo thiết kế, công trình rộng 24,000 sqft., trong đó 13,000 sqft được dùng làm hội trường, phần còn lại là phòng ở, bếp, nhà vệ sinh, có khả năng tiếp đón cả ngàn người một lúc.

“Nếu tính theo giá bình thường, công trình này phải dự trù tới $9 triệu, nhưng theo dự định ban đầu của chúng tôi thì chỉ tốn khoảng $4 triệu mà thôi.”

Vẫn theo Linh Mục Hanh, sở dĩ ông tiết giảm được hơn một nửa giá trị xây dựng vì nhờ nhiều yếu tố: Người kiến trúc sư từng thiết kế không công nhà thờ nay tiếp tục giúp thiết kế hội trường trên tinh thần tự nguyện, các kỹ sư xây dựng cũng nhận đóng góp công sức, nhiều người có tay nghề tới giúp không lương, một số chủ cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng sẵn sàng bán giá vốn… và “sự đóng góp quý báu đó không thể quy ra tiền được.”

Hiện công trình đang thực hiện xong phần móng, do tình hình đại dịch COVID-19, nên công việc xây dựng chậm lại.

Linh Mục Hanh cho biết thêm, kinh phí vẫn còn thiếu khoảng 30%.

“Cái khó của chúng tôi là không có nguồn thu thường xuyên như các giáo xứ khác. Điều vui mừng là các giáo dân đến đây cầu nguyện hay tĩnh tâm, dù không có bổn phận đóng góp nhưng họ vẫn gởi tiền về. Chính điều này, tôi xem đây là công trình của bề trên, Chúa an bài cho chúng tôi. Và chắc chắn, nó sẽ tạo được rất nhiều lợi ích tâm linh cho mọi người, không chỉ là người Công Giáo.”

Tìm hiểu thêm về Đan Viện Thánh Giuse: http://www.saintjosephmonasteryca.org/ [kn]