Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ của Matteo Ricci

No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

Tập Cận Bình nói cái gọi là Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của ông cố nội 100 đời nhà nó để lại.

Hãy đợi đấy !.

Phuc Dinh Kim
Đinh Kim Phúc

Nhà Nghiên cứu Biển Đông.

Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ của Matteo Ricci

Một tấm bản đồ thế giới có tuổi đời hơn 400 năm, vừa được trưng bày tại thư viện Quốc hội Mỹ.

Báo China Daily cho biết, Matteo Ricci ‒ một nhà truyền giáo, người Italy ‒ vẽ tấm bản đồ vào năm 1602 theo yêu cầu của vua Minh Thần Tông. Nó là một trong hai bản sao còn được giữ ở trạng thái tốt. Một người sưu tầm tại Nhật Bản đã giữ nó trong nhiều năm trước khi bán cho Quỹ James Ford Bell vào tháng 10 năm 2009 với giá 1 triệu USD. Với mức giá đó, nó trở thành tấm bản đồ đắt giá thứ hai từng được bán. Do đây là một trong những bản đồ quý và dễ hư hại nên nó đã được in lên 6 tờ giấy gạo cỡ lớn.

Theo hãng tin AP, tấm bản đồ có kích thước 3,65 m x 1,52 m. Chất liệu của tấm bản đồ này được làm bằng giấy hồ ‒ một loại chất liệu được sử dụng rất phổ biến ở Trung Quốc vào thế kỷ XVII.

Nó biểu thị nhiều khu vực trên thế giới bằng hình vẽ và lời chú giải. Ricci đề tên nhiều nước tại châu Mỹ, như Chih-Li (Chile), Wa-ti-ma-la (Guatemala) và Ka-na-ta (Canada). Bang Florida của Mỹ được mô tả là “vùng đất của các bông hoa”. Châu Phi được chú thích là “nơi có dãy núi cao nhất và dòng sông dài nhất thế giới”.

Ford W. Bell ‒ một trong những người quản lý Quỹ James Ford Bell ‒ nói với tờ Pittsburgh Tribune Review rằng bản đồ được trưng bày trong thư viện Quốc hội Mỹ là một trong số hai bản đồ cổ có chất lượng tốt nhất.

“Ricci là một nhà truyền giáo cực kỳ thông thái. Ông đặt Trung Quốc vào trung tâm của thế giới mới để ghi nhận sự quan trọng của đất nước này. Tất nhiên, Ricci là người phương Tây đầu tiên tới Bắc Kinh. Người Trung Quốc kính trọng Ricci và khi mất ông được chôn tại Trung Quốc”.

Không có bất kỳ phiên bản nào của tấm bản đồ Ricci được tìm thấy tại Trung Quốc. Hãng tin AP cho biết thêm, chỉ có vài bản sao chép được lưu giữ trong các thư viện của Toà thánh Vatican và các nhà sưu tầm ở Pháp, Nhật Bản.

Theo kế hoạch tấm bản đồ của Matteo Ricci cũng sẽ được số hoá để đưa lên mạng.

Matteo Ricci (1552 – 1610)

Matteo Ricci sinh năm 1552 tại Macerata, ông bắt đầu học thần học và luật tại trường Thiên Chúa Giáo Roma. Năm 1577, ông đăng ký trở thành thành viên của một đoàn thám hiểm tới Ấn Độ và chuyến đi bắt đầu từ tháng 3 năm 1578 từ Lisboa, Bồ Đào Nha. Ông tới Goa, một thuộc địa của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, vào tháng 9 năm 1578 và bốn năm sau đó được đưa tới Trung Quốc.

Năm 1582, Ricci bắt đầu học về ngôn ngữ và phong tục Trung Quốc tại Ma Cao, một trạm giao thương của Bồ Đào Nha ở miền Nam Trung Hoa, và trở thành một học giả phương Tây hiếm có đã học được văn bản chữ viết cổ điển của Trung Quốc. Năm sau, 1583, thì Ricci bắt đầu du thám vào sâu đại lục, nhờ chuyến thăm tới Triệu Khánh thuộc Quảng Đông, từ lời mời của Tổng trấn Triệu Khánh thời đó là Wang P’an, người đã nghe về tài toán học và vẽ bản đồ của Ricci. Ông ở đó từ năm 1583 tới năm 1589 trước khi phải rời đi sau khi bị trấn tổng mới nơi này trục xuất. Chính tại Triệu Khánh, Ricci đã vẽ bản đồ thế giới đầu tiên bằng tiếng Hoa.

Trong các chuyến du hành sau đó, Ricci tới Nam Kinh và Nam Xương năm 1595, Thông Châu năm 1598 và sau đó tới Bắc Kinh lần đầu tiên vào ngày 7 tháng 9 năm 1598. Tuy nhiên, do cuộc chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên vào thời điểm đó nên ông không được thăm cung điện hoàng gia. Sau hai tháng chờ đợi, Ricci rời Bắc Kinh để tới Nam Kinh và rồi dừng chân tại Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô.

Năm 1601, Ricci trở lại Bắc Kinh, tuy lần đầu ông không được diện kiến hoàng đế Trung Hoa nhưng sau khi tặng hoàng đế chiếc đồng hồ rung chuông, Ricci cuối cùng cũng được phép tận tay trao món quà cho hoàng đế Minh Thần Tông tại cung điện và Ricci cũng chính là người phương Tây đầu tiên được mời vào Tử Cấm Thành của Trung Quốc.

Dù cho Ricci được quyền tự do vào Tử Cấm Thành nhưng ông lại không được gặp mặt Minh Thần Tông, nhưng bù lại ông được Minh Thần Tông trao cho chức vụ Tổng giám mục về Thiên chúa Giáo tại Trung Quốc. Nhờ đó mà Ricci có cơ hội được gặp nhiều quan chức cũng như các nhân vật hàng đầu về văn hoá tại Bắc Kinh thời đó.

Ricci học rất nhiều về lịch sử và văn hoá Trung Hoa và ông cũng là người phương Tây đầu tiên tìm hiểu về cộng đồng người Do Thái ở Trung Hoa. Ông từng được liên hệ riêng bởi một thành viên của cộng đồng dân Do Thái tại Bắc Kinh vào năm 1605. Dù không bao giờ gặp mặt cộng đồng này ở Hà Nam một cách chính thức nhưng Ricci cũng gửi một người truyền giáo tới đó ba năm sau vào năm 1608, đây là một trong rất nhiều nhiệm vụ được uỷ quyền bởi Giáo hội.

Ricci sống tại Trung Quốc cho tới khi ông qua đời ngày 11 tháng 5 năm 1610 tại Bắc Kinh.

Trong tấm bản đồ này, các chú thích được ghi bằng hai ngôn ngữ: tiếng Hán và tiếng Nhật, tại phần lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã được ghi chú, phần ghi chú này rất quan trọng.

Dòng chữ Hán được ghi chú trên vùng biển Đông này có nghĩa là:

“Thanh danh văn vật [triều] Đại Minh thịnh vượng, nhiều nước trong bốn biển ‒ ở khoảng 15 độ đến 42 độ ‒ đều đến triều cống. [bức] tổng đồ này [chỉ] diễn tả chung về núi, sông, tỉnh, đạo. Không thể vẽ tường tận cụ thể như [sách] Nhất Thống chí, Tỉnh chí ghi chép”.

Và 4 chữ [hàng dọc] đọc là: Vạn Lý Trường Sa.

Dòng chữ Hán được ghi chú trên vùng Biển Đông có một điểm tồn nghi cần được các nhà ngôn ngữ học phân tích. Bởi vì nếu ghi chú này do người Nhật chú thêm vào bản màu chép lại của Ricci thì có thể hiểu là :

“Đại Minh nghe rằng các nước bốn bể chung quanh từ 15 độ đến 42 độ, … đều giàu có và tất cả đều là nước triều cống. Bản đồ tổng quát nầy giản lược không ghi các tỉnh, đạo, núi, sông, … không thể chép hết chi tiết tỏ tường như Đại Minh Nhất Thống Chí, Tỉnh chí”.

Điều này có thể hợp lý bởi trong bản gốc bản đồ thế giới của Matteo Ricci, tại khu vực biển Đông của Việt Nam ngày nay không có một ghi chú nào cả !

Điểm thứ nhất:

Chúng ta cần đặc biệt chú ý, Ricci đã sáng tác tấm bản đồ thế giới đầu tiên bằng chữ Hán theo bản đồ được vẽ ở Châu Âu, hiện nay tấm bản đồ nầy đã thất lạc. Viên quan nhà Minh tên là Lý Chi Tảo (李之藻) đã dày công vẽ lại thành “phiên bản Lý Chi Tảo” với tên gọi là “Khôn Dư vạn Quốc toàn đồ”.

Bản đồ “Khôn Dư vạn Quốc toàn đồ” hiện lưu trữ tại viện bảo tàng tỉnh Miyagi (Nhật Bản) là 1 trong hơn 20 tấm được xác nhận nơi lưu trữ. Nhiều địa danh, chú thích được tu chỉnh, viết so với bản gốc của Lý Chi Tảo, có thể được vẽ lại sau năm 1664 tại Nhật Bản.

Trong thời kỳ Nhật Bản “bế môn tỏa cảng” (1793-1858), phiên bản nầy đã được du nhập vào Nhật Bản, gây ảnh hưởng lớn đến nhận thức thế giới của người Nhật trong thời Edo (1603-1868). Nguyên tác là bản vẽ một màu nhưng phiên bản (vẽ trên gỗ) sang Nhật Bản được sao lại và được tô thành nhiều màu, và một phần địa danh được sửa lại, vì vậy trong bản đồ phổ biến hiện nay có những địa danh phiên âm theo tiếng Nhật (Katakana).

Tại Nhật Bản hiện nay, bản khắc trên gỗ có 6 tấm nhưng phiên bản nầy chỉ có 2 tấm đông-tây và có 3 nơi hiện đang lưu trữ: Thư viện Đại học Tohoku, Viện Bảo tàng tỉnh Miyagi và Viện Bảo tàng Kyoto. Tấm một màu được in lại từ bản khắc gỗ gồm 6 tấm ghép lại được cho là gần với bản gốc Lý Chi Tảo vẽ. Những tấm tô màu có nhiều điểm khác tấm một màu. Đặc biệt ở tấm màu có vẽ quần đảo Vạn Lý Trường Sa (万里長沙) còn tấm một màu thì không và cũng không có những chữ phiên âm (Katakana). Điều nầy có thể hiểu được là bản đồ khắc lại tại Nhật Bản đã được thêm vào 4 chữ “Vạn Lý Trường Sa” cùng với những chữ phiên âm và vài phần chú khác nữa.

Điểm đặc biệt thứ hai:

Là bản đồ của Ricci khi đi vào Nhật Bản không chỉ có phiên bản của Lý Chi Tảo mà nó có đến 16 phiên bản khác nhau và những ghi chú trên bản đồ phiên bản này cũng không giống nhau. Nhưng bản đồ của Ricci được sao chép nhiều lần này đã cung cấp cho mọi người lúc bấy giờ một thế giới quan mới, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và học thuật.

Trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có 4 chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời Nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không biết đến sự tồn tại trong phần lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ. Hơn thế nữa người Nhật vẽ thêm “Vạn Lý Trường Sa” cho thấy trong nhận thức của người Nhật nầy thì dãy đảo “Vạn Lý Trường Sa” nằm rải rác trên biển Đông, dọc theo Chiêm Thành (Lâm Ấp) nơi có nhiều thuyền buôn qua lại mà trong thời kỳ nầy loại thuyền “Shuninsen” (Chu ấn thuyền) tấp nập đến Phố Hiến, Hội An, Chiêm Thành, … mua bán (trầm hương, sừng tê giác, yến sào, gốm sứ, …) kéo dài trong gần 40 năm mà thị xã Hội An với phố cổ Nhật Bản ngày nay là một bằng chứng.

Cũng có một điểm đáng chú ý khác nữa là lần đầu tiên vùng biển giữa Triều Tiên và Nhật Bản được ghi là biển Nhật Bản (Nhật Bản Hải) có lẽ vì là phiên bản lưu hành tại Nhật Bản nên đã được thêm vào?

Điều đáng lưu ý là theo bản đồ của Ricci (bản do Nhật Bản vẽ lại) vùng biển dọc theo bờ của lục địa Trung Quốc, nằm dưới dãy đảo nước Nhật Bản được ghi là ”Đại Minh Hải” chứ không phải là biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa và trong Đại Minh Hải nầy không bao gồm vùng biển Đông ngày nay và những hòn đảo trong khu vực này chứng tỏ nhà Minh lúc bấy giờ đã không xem biển Đông và những đảo ấy là của mình.

Như vậy, tấm bản đồ này được Matteo Ricci hoàn thành vào đầu thế kỷ XVII trong lúc bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ như thế nào ?

Ở đây, cần nhắc lại quá trình Nam tiến trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1471 khi đi đánh Champa, lấy được kinh đô Vijaya, Lê Thánh Tông có ý dừng lại, chia làm cương vực ở đó. Mặc dù bấy giờ như ta đã biết, vương triều Vijaya đã suy mà Đại Việt thì đang trong thời thịnh trị. Nhà Lê không muốn và chắc chắn cũng sẽ không nghĩ tới việc cố thôn tính một quốc gia khác mà chỉ mong sự yên ổn lâu dài trên biên giới phía Nam.

Vua Lê thân chinh, theo như tuyên bố, là vì Champa đã quấy nhiễu biên giới, cũng vì một quan niệm là “Đại Chiêm và Cổ Luỹ trước là đất của ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nên lấy lại được hết, sai các ngươi trấn thủ”. Vua đã lấy cả vùng Vijaya nay là Bình Định liền một dải với Cổ Luỹ để có địa giới tự nhiên hiểm trở ở phía Nam là đèo Cù Mông, lập nên đạo Quảng Nam, nhằm thực hiện ý định đó. Trong cuộc hành quân này, quân Đại Việt còn vượt qua đèo Cù Mông, tiến tới núi Bia Đá (Thạch Bi).

“Núi này có một chi, đến bờ biển thành hai, … có một khối đá lớn, quay đầu về phía đông như hình người, … (Vua Lê) sai mài vách núi dựng bia đá để chia địa giới với Chiêm Thành”.

Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lấy lại phần thượng nguyên ở phía tây Hoa Anh – vùng Che Reo để lập nước Nam Bàn. Như vậy, Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuy nhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển.

Đầu thế kỉ XVI, nhà Lê suy yếu, tiếp đến việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527), rồi đến việc họ Trịnh làm Chúa, nắm quyền và việc Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ phương Nam để tránh tị hiềm.

Lúc đầu (năm 1558), Nguyễn Hoàng được nhận trấn thủ Thuận Hoá (gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), tiếp đó lại xin được giao thêm quyền trấn thủ Quảng Nam (từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay – năm 1570).

Ngay khi vừa nhận thêm quyền trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã cử Lương Văn Chính làm Tri huyện Tuy Viễn (một trong hai huyện của tỉnh Bình Định, giáp giới Hoa Anh) và giao nhiệm vụ giữ yên phía Nam.

Năm 1578, Lương Văn Chính cầm quân tiến vào Hoa Anh, vây và hạ thành An Nghiệp – thành kiên cố và đồ sộ nhất trong lịch sử Chiêm Thành, đẩy họ về cương giới cũ ở phía Nam đèo Cả. Vua Chiêm Thành, theo niên giám là Po At (1553 – 1579), có lẽ đã bị chết trong thời điểm này. Trận đánh chỉ mới nhằm lập lại trật tự cũ, tuy nhiên Lương Văn Chính cũng đã tiến thêm một bước trong việc đưa dân lưu tán vào khai khẩn miền đất này, rải rác từ phía Nam đèo Cù Mông đến đồng bằng sông Đà Diễn.

Trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ XVI và đầu thế kỉ XVII, Chiêm Thành lại lấn đất Hoa Anh, giết và đuổi những người nông dân Việt vào cư trú khai khẩn miền đất này. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai Nguyễn Phong làm tướng, đem quân vào đánh lại, Chiêm Thành bị thua, vua là Po Nit (1603 – 1613) phải bỏ Hoa Anh rút quân về phía Nam đèo Cả. Lần này họ Nguyễn đã lấy hẳn đất Hoa Anh, lập ra một phủ mới là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, lập dinh Phú Yên, đóng quân để phòng giữ. Lương Văn Chính đươc cử làm tham tướng dinh Trấn Biên, sau đó là dinh Phú Yên.

Như vậy, với việc lập phủ và dinh Phú Yên, chúa Nguyễn muốn xác lập hẳn quyền cai trị của mình trên một miền đất đã có sự góp sức khai khẩn của nông dân Việt trong mấy chục năm, muốn chấm dứt sự tranh chấp trên một vùng đệm để có thể yên tâm đối phó với cuộc chiến tranh chinh phạt của chúa Trịnh, một thử thách quyết liệt không thể tránh khỏi đối với chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Xác định lại thời điểm lịch sử kể trên để thấy rằng, vào năm 1602 (năm mà Matteo Ricci hoàn thành tấm bản đồ của mình), Vạn Lý Trường Sa không thuộc về lãnh thổ của nhà Minh.

Cũng từ nội dung được ghi chú tại khu vực biển Đông trên tấm bản đồ này đã cho chúng ta thấy rằng tư tưởng Hoa Di (Đại Hán) là truyền thống của các triều đại Trung Quốc (Hán, Đường, Tống, Minh, …) từ ngàn xưa.

Còn tên Vạn Lý Trường Sa đầu tiên xuất hiện vào năm nào và ai là tác giả ? Đây tiếp tục là nhiệm vụ của các học giả chuyên nghiên cứu về các vấn đề của Biển Đông.

Nhìn lại quá trình hoạt động của Matteo Ricci ở Trung Quốc và vai trò của ông đối với triều Minh lúc bấy giờ, tấm bản đồ thế giới mà Matteo Ricci đã vẽ sẽ là một điều lý thú cho những ai nghiên cứu mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia Đông Nam Á và các quốc gia Đông Bắc Á với “Thiên triều” trong thế kỷ XVI – XVII.

Nguồn: FB Đinh Kim Phúc Phuc Dinh Kim
https://www.facebook.com/phuc.dinhkim.7/posts/2647000188852947

TÌNH YÊU THỜI COVID-19

TÌNH YÊU THỜI COVID-19

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Năm 1985, văn hào được giải Nobel, Gabriel Garcia Marquez đã viết quyển sách có tên Tình yêu thời Thổ Tả (Love in the Time of Cholera).  Ông kể câu chuyện đầy màu sắc về tình yêu có thể sinh sôi, bất chấp nạn dịch.

Vậy mà thứ đang bủa vây thế giới chúng ta bây giờ không phải là dịch tả mà là dịch coronavirus, Covid-19.  Trong cả cuộc đời của tôi, tôi chưa bao giờ thấy thế giới bị tác động đến tận căn như bởi con vi-rút này.  Nhiều nước đóng trọn cửa, trường học đóng cửa, học sinh về nhà học trực tuyến, chúng ta không còn muốn ra khỏi nhà, không còn muốn mời ai về nhà, và chúng ta xin đừng ai đụng đến mình, và thực hành “cách ly xã hội.”  Bình thường, thời gian ngừng lại.  Chúng ta ở trong một mùa, mà không có thế hệ nào, có thể kể từ nạn dịch năm 1918, từng trải qua.  Hơn nữa, chúng ta chưa biết được khi nào sẽ chấm dứt tình trạng này.  Không ai, kể cả các nhà lãnh đạo, các bác sĩ cũng không có được chiến lược để thoát ra khỏi tình trạng này.  Không ai biết khi nào và cách nào nạn dịch này sẽ chấm dứt.  Tuy nhiên như những người lên con tàu Nô-ê, chúng ta bị nhốt lại và không biết khi nào nước sẽ rút xuống để sống cuộc sống bình thường.

Làm thế nào sống trong giai đoạn lạ thường này?

Vậy mà tôi đã có chỉ dẫn riêng về chuyện này cách đây 9 năm.  Mùa hè năm 2011, bác sĩ cho biết tôi bị ung thư ruột già, tôi phải mổ để cắt bỏ bướu, rồi trải qua hai mươi bốn tuần hóa trị.  Dĩ nhiên tôi hãi sợ khi đứng trước sự hoang mang không biết hóa trị sẽ tác động như thế nào trên cơ thể.  Hơn nữa tôi mất kiên nhẫn khi trong hai mươi bốn tuần là sáu tháng, thời gian tôi phải trải qua mùa “bất thường” này.  Tôi muốn chấm dứt nhanh cho rồi.  Vì thế, tôi đối diện nó giống như đối diện với hầu hết các thất bại khác trong cuộc sống của tôi, tôi có thái độ khắc kỷ: “Mình sẽ vượt qua nó!  Mình sẽ chịu đựng được!”

Tôi giữ những gì có thể được gọi là nhật ký, chỉ đơn thuần ghi lại những gì tôi làm mỗi ngày, ai và những gì tôi gặp trong ngày.  Và thế là tôi anh hùng bắt đầu buổi hóa trị đầu tiên, tôi đánh dấu các ngày này trong nhật ký Daybook của tôi: Ngày Một, rồi Ngày Hai…  Tôi làm con tính và tôi biết phải cần168 ngày để kết thúc mười hai liều hóa trị, liều này cách liều kia hai tuần.  Cứ như thế tiếp tục trong vòng bảy mươi ngày đầu tiên, tôi kiểm con số mỗi ngày, cố giữ cuộc sống và hơi thở để chờ ngày tôi có thể viết Ngày 168.

Rồi một ngày giữa chặng đường hai mươi bốn tuần, tôi có một thức tỉnh.  Tôi không biết chính xác điều gì nảy sinh, một ơn từ trên cao, một cử chỉ tình bạn của ai đó, một cảm giác mặt trời trên cơ thể tôi, một cảm giác tuyệt vời của một loại nước uống mát lạnh, có thể là tất cả những chuyện này, nhưng khi thức dậy, tôi nhận ra tôi đã để cuộc đời treo lơ lửng, tôi không thật sự sống, tôi sống chỉ để chịu đựng mỗi ngày, để kiểm và để cuối cùng đạt đến cái ngày thứ 168, ngày tôi có thể bắt đầu sống trở lại.  Tôi nhận ra tôi đã lãng phí một nửa mùa cuộc đời mình.  Hơn nữa, tôi nhận ra những gì tôi đã sống đôi khi còn phong phú hơn nhờ tác động của hóa trị trong cuộc đời tôi.  Thế là tôi được lên tinh thần một cách đáng kể, dù hóa trị tiếp tục hành hạ nặng trên cơ thể tôi.

Tôi bắt đầu chào đón mỗi ngày với sự tươi mát, phong phú với những gì cuộc sống mang lại cho tôi.  Bây giờ tôi nghĩ lại, tôi xem ba tháng cuối (trước ngày 168) như một trong ba quãng thời gian phong phú nhất đời tôi.  Tôi kết với một số bạn cho cả đời, tôi học một vài bài học kiên nhẫn mà tôi cố bám vào và nhất là tôi học các bài học từ lâu tôi đã học về lòng biết ơn, sự mến chuộng, sức khỏe, tình bạn, công việc, những thứ mình không được xem mỗi khi có là có mãi mãi.  Đó là niềm vui đặc biệt tìm lại đời sống bình thường sau khi đã sống 168 ngày “xa-bát”; nhưng những ngày “xa-bát” này cũng thật đặc biệt dù nó đặc biệt theo một cách khác.

Con coronavirus đã bắt chúng ta nghỉ xa-bát và bắt những người bị nhiễm phải theo một loại hóa trị riêng của nó.  Và nguy hiểm là chúng ta ngưng sống khi qua giai đoạn lạ thường này, chúng ta chịu đựng với những gì xảy ra trong mùa không mời mà đến này.

Đúng, sẽ có thất vọng, sẽ có đau đớn khi sống trong cảnh này, nhưng điều này không phải là không tương hợp với hạnh phúc.  Bác sĩ tác giả Paul Tournier (1898-1986) đã mất vợ, đã chịu cảnh tang chế sâu đậm, sau đó ông hòa nhập nỗi đau đớn này vào đời sống mới, ông mới viết được những hàng chữ sau: “Tôi thực sự nói tôi rất đau buồn và tôi là một người đàn ông hạnh phúc.”  Những chữ đáng suy gẫm để chúng ta chiến đấu chống con coronavirus này.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nguồn:  http://ronrolheiser.com/tinh-yeu-thoi-covid-19/#.Xp6AiMhKguU

https://www.abccolumbia.com/2020/03/25/students-make-virtual-orchestra-and-sing-what-the-world-needs-now-is-love/

From: Langthangchieutim

Sau ngày 30-4-1975

Sau ngày 30-4-1975

Trần Gia Phụng

21-4-2020

Sau ngày 30-4-1975, Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.

1.- TIÊU DIỆT NHÂN LỰC VNCH

Trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (đảng CS) từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: “Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Los Angeles: Osin Book, 2012, tr. 39.)

Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền CS kêu gọi sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên, công chức cao cấp, và cán bộ chuyên viên VNCH ở các thành phố và các tỉnh thành từ Quảng Trị vào đến Cà Mau, trình diện và chuẩn bị lương thực, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong ba ngày, hay một tuần hay một tháng tùy cấp bậc và tùy địa phương. Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện (còn có một thiểu số người bỏ trốn), thì tất cả bị đưa đi giam giữ trong các trại tù gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn.

Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau biến cố năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người. Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại.(Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602.) Một tác giả trong nước cho biết rằng: “Ở Sài Gòn, 443,360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9,306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4,162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá.” (Huy Đức, sđd. tr. 37.)

Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.)

2.- TIÊU DIỆT KINH TẾ VNCH

Song song với việc tiêu diệt nhân lực VNCH, CS tiêu diệt luôn tiềm lực kinh tế VNCH, để VNCH không thể hồi sinh. Đầu tiên, CS chiếm ngay số vàng của VNCH ở trong và ngoài nước. Ở trong nước, sau ngày 30-4-1975, từ đầu tháng 5-1975, CS kiểm kê 16 tấn vàng trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn. (Google: Huỳnh Bửu Sơn “16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa”.) Lúc đó, CS tung tin thất thiệt rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem số vàng nầy ra nước ngoài. Ở ngoài nước, trước ngày 30-4-1975, VNCH ký gởi 5,7 tấn vàng tại ngân hàng Bank fur Internationnalen Zahlung Sausgleih ở Thụy Sĩ. Số vàng được đưa qua Tiệp Khắc (lúc đó còn CS), và CSVN nhờ Tiệp Khắc bán để lấy ngoại tệ. (Wikipedia.)

Về mặt xã hội, CS áp dụng kế hoạch kinh tế mới, nói là để phân phối lại dân số sau chiến tranh, nhưng thực tế là nhắm mục đích phân tán dân thành phố, buộc dân những thành phố lớn, như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ đi về nông thôn, để cướp nhà cửa và tài sản của họ ở thành phố. Những gia đình có thân nhân bị bắt đi học tập cải tạo phải đi kinh tế mới, thì được hứa hẹn thân nhân sẽ được sớm trở về đoàn tụ gia đình. Những quân nhân, công chức, cán bộ chế độ VNCH nếu được thả ra từ các trại tù cải tạo, đều không được về ở các thành phố đã sinh sống trước đây, mà phải đi kinh tế mới. Những gia đình tư sản bị kiểm kê, dù là tư sản mại bản hay tư sản dân tộc, đều phải đi kinh tế mới. Mục đích của CS là trả thù, trù dập, cướp của, cướp nhà.

Khi đến vùng kinh tế mới, mỗi gia đình (CS gọi là hộ khẩu) được cấp 500m2 đất để sản xuất riêng. Ngoài ra, những người trong độ tuổi lao động, không đau ốm phải tham gia sản xuất trong hợp tác xã, làm công tính điểm và được trả lương theo số điểm. (Lâm Văn Bé, “Những biến động dân số Việt Nam”, tạp chí Truyền Thông, số 37-38, Montréal: 2010, tt. 132-133.)

Theo tài liệu trong nước: “Chỉ trong vòng vài năm, chúng ta [nhà cầm quyền CS] đã đưa được 1,300,000 người từ các nơi trong cả nước đến các vùng kinh tế mới và đã khai hoang, phục hóa được ngót một triệu hecta đất. Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn vạch kế hoạch đưa trên trên một triệu đồng bào không trực tiếp lao động sản xuất đi xây dựng vùng kinh tế mới. Hơn một năm sau, đến tháng 6-1976, Sài Gòn đã tổ chức cho gần 30 vạn dân đi các vùng kinh tế mới, lập thành 94 xã, trong đó 82 xã ổn định về đất canh tác và thổ cư.” (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 282.) Một thống kê khác cho thấy từ năm 1976 đến năm 2000 (25 năm), có 5 triệu người bị cưỡng bách di dân đi vùng kinh tế mới. (Lâm Văn Bé, bđd. tr. 134.)

Tuy nhiên, sau một thời gian ở vùng kinh tế mới, nhiều người kiếm cách trở về thành phố. Kế hoạch kinh tế mới không thành công, ngoài việc nhà nước CS cướp nhà cửa, tài sản các nạn nhân.

Ngày 10-9-1975, CS mở chiến dịch đánh “tư sản mại bản” (comprador) đợt 1. Theo CS, tư sản mại bản là những nhà đại tư bản trước năm 1975, chuyên xuất nhập cảng hoặc làm ăn buôn bán với người ngoại quốc, mà CS tố cáo giới nầy đã dựa vào thế lực nước ngoài để bóc lột dân chúng.

Ngày 22-9-1975, CS ra lệnh đổi tiền, 500 đồng tiền VNCH đổi lấy 1 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam tức loại tiền mới của nhà cầm quyền CS. (Viện Kinh tế – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 237.) Mỗi gia đình (hộ khẩu) được đổi tối đa 200 đồng mới. Tiền cũ còn dư phải gởi vào ngân hàng, rút ra và đổi từ từ.

Đây là một biện pháp nhằm cướp đoạt tài sản và làm nghèo dân chúng NVN. Lúc đó, xuất hiện câu ca dao: “Năm đồng đổi lấy một xu,/ Người khôn đi học [tập], thằng ngu làm thầy.” [Cộng sản đổi tiền lần thứ hai ngày 3-5-1978 và đổi tiền lần thứ ba ngày 14-9-1985. (Viện Kinh tế, sđd. tt. 237, 240.)]

Nhà nước CS mở chiến dịch đánh tư sản mại bản đợt 2 bắt đầu ngày 4-12-1975, nhắm vào những nhà tư sản nhỏ hơn, nhưng vẫn còn giàu có. Vào đầu năm 1978, CS mở chiến dịch đánh “tư sản dân tộc” do Đỗ Mười cầm đầu, gọi là “công tư hợp doanh”. Tư nhân phải đem cơ sở sản xuất hay kinh doanh riêng của tư nhân, vào hợp doanh với nhà nước. Tất cả doanh gia đều phải vào công tư hợp doanh (CTHD) mới được kinh doanh.

Nói là “công tư hợp doanh”, nhưng nhà nước không bỏ vốn, chỉ đứng ra quản lý, điều hành. Người chủ cũ (tư nhân) sẽ là một thành viên và lãnh lương theo quy định chức vụ hay cấp bậc. Nếu bị cất chức, chủ cũ xem như mất trắng tài sản của mình. Dân chúng mỉa mai gọi CTHD là “Của Tôi Họ Dành”.

Ở nông thôn thì CS thực hiện nền kinh tế chỉ huy nhanh chóng hơn, chủ trương “ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhưng do nhà nước quản lý.” Tất cả ruộng đất tư nhân đều bị quốc hữu hóa và nông dân, điền chủ đều phải vào hợp tác xã nông nghiệp hoàn toàn do cán bộ CS điều hành.

3.- TIÊU DIỆT VĂN HÓA MIỀN NAM

Chủ trương nhuộm đỏ toàn dân NVN, CS buộc toàn dân học tập chủ nghĩa CS. Cộng sản xóa bỏ nền văn hóa, giáo dục VNCH, bãi bỏ nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng ở miền Nam, thay bằng nền giáo dục phục vụ chế độ và đảng CS, nhằm đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, biết vâng lời đảng CS hơn là biết suy nghĩ. Học sinh phải học thuộc lòng “Năm điều” do Hồ Chí Minh đề ra là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.” Không có điều nào dạy trẻ em có hiếu với cha me, thương yêu anh chị em, lễ độ, nhân ái và tín nghĩa với mọi người, tức không dạy đức dục cho trẻ em, vì CS chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc. Vào năm cuối trung học, học sinh phải học và thi tốt nghiệp môn chủ nghĩa CS, lý thuyết Mác-Lê, lịch sử đảng CS Việt và CS thế giới. Sau khi tốt nghiệp, môn học nầy chẳng ứng dụng được gì vào đời, nên học sinh không thích học, thầy giáo không thích dạy.

Dưới chế độ CS, không có tự do ngôn luận. Cộng sản kiểm soát toàn bộ các sinh hoạt văn hóa, điều khiển chặt chẽ ngành truyền thông, Báo chí đều do cơ quan đảng xuất bản. Cộng sản đốt hết sách báo NVN mà CS cho là đồi trụy, kiểm duyệt kỹ càng các tác phẩm nghiên cứu, văn chương, ca nhạc…

Về tôn giáo, CS chủ trương vô tôn giáo, và CS muốn tiêu diệt các tôn giáo nhưng không nổi, nên CS tìm cách kiểm soát, ngăn chận các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động các tu sĩ, và lập ra các giáo hội quốc doanh do CS điều khiển, gây chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo. Cộng sản không thể lập giáo hội Công giáo quốc doanh, cũng không ngăn chận được hoạt động các giáo sĩ, nên CS bí mật tìm cách phá hoại, khủng bố, và mua chuộc một số giáo sĩ. Với các hệ phái Tin Lành, các hội thánh riêng lẻ, độc lập, tự trị, hoạt động nhiều ở miền núi và cao nguyên vắng vẻ, nên CS theo dõi, hạn chế, uy hiếp hay bắt giam các giáo sĩ.

KẾT LUẬN

Đảng CS cưỡng chiếm được NVN, nhưng CS không chinh phục được lòng dân. Chủ trương tiêu diệt tiềm lực VNCH sau ngày 30-4-1975 nói chung là thất bại. Đúng như câu đồng dao dân chúng truyền tụng “Cộng Hòa chôn mà chưa chết”. Ngoại trừ việc CS chận đứng các lực lượng đối kháng, giữ vững chế độ CS, còn lại CS đều thay đổi theo VNCH. Đảng CS chỉ còn giữ cơ cấu độc tài đảng trị để duy trì quyền lực. Cũng đúng như dân chúng nói “Cộng sản chết mà chưa chôn”.

Trong khi đó, các trại tù cải tạo của CS không cải tạo được ai, mà chỉ gây thêm hận thù. Ra khỏi tù, ai cũng tìm cách vượt biên hoặc theo các chương trình ODP hay HO ra nước ngoài. Ra khỏi nước, người Việt tập hop thành những cộng đồng chống cộng. Ở trong nước, dầu bị CS kềm kẹp khắc nghiệt, vẫn xuất hiện nhiều nhà tranh đấu, đòi tự do dân chủ, chống CSVN, và chống mưu đồ xâm lăng của Tàu cộng.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19-9-2018 ở Hòa Bình, tù nhân lương tâm Đào Quang Thực tuyên bố lời cuối cùng sau khi bị kết án 14 năm tù giam, 5 năm quản chế: “Tôi đấu tranh cho tự do dân chủ và quyền con người cho đất nước tôi. Tôi đấu tranh cho đất nước tôi được sống trong môi trường trong lành. Tôi không ân hận.” (http//www.facebook.com/VOATiengViet) (Đài phát thanh VOA ngày 19-9-2018).

Về kinh tế, chính sách kinh tế chỉ huy của CS không kích thích nổi sự phát triển kinh tế, nên đất nước suy sụp. Lo sợ dân chúng nổi dậy, năm 1986, CS bắt đầu “đổi mới” kinh tế, bãi bỏ kinh tế chỉ huy, trở lại nền kinh tế thị trường, nay do CS kiểm soát, gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế chỉ huy là nền tảng của chủ nghĩa CS. Bãi bỏ kinh tế chỉ huy có nghĩa là chủ nghĩa CS hoàn toàn thất bại.

Về văn hóa, trước 30-4-1975, NVN vốn chủ trương văn hóa dân tộc cổ truyền, mở cửa đón nhận tinh hoa văn hóa thế giới. Sau năm 1975, CS truyền bá văn hóa Mac-xít, nhưng vô hiệu. Văn hóa cổ truyền vả tinh thần VNCH vẫn tiềm tàng trong dân chúng. Người BVN, kể cả toàn bộ cán bộ CS cao cấp, chuyển đổi hoàn toàn theo nếp sống văn minh và văn hóa NVN, ngoại trừ duy trì tổ chức độc tài CS.

Trong chiến tranh, CS đưa ra chiêu bài chống Mỹ cứu nước. Nay CSVN lại rước Mỹ giúp nước. Ngày 3-2-1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và bình thường hóa ngoại giao ngày 11-7-1995. Từ đó, các nước tư bản bắt đầu vào Việt Nam đầu tư. Tuy nhiên, do CS không có cán bộ đủ năng lực quản lý nền kinh tế thị trường, nên tham nhũng tràn lan khắp nước.

Trong thời gian nầy, ngành INTERNET xuất hiện đúng lúc, làm bộc phát thông tin trên mạng lưới toàn cầu. Những bài viết của người Việt trong và ngoài nước phô bày thực trạng độc tài đảng trị, lệ thuộc Tàu cộng, kinh tế yếu kém, bóc lột, tham nhũng, tệ nạn xã hội … đều được đưa lên internet.

Để duy trì quyền lực, CS duy trì độc đảng, độc quyền chính trị, văn hóa, truyền thông, với nền giáo dục phục vụ CS, và chỉ nới lỏng dần dần những luật lệ không quan trọng. Trộm cướp, đĩ điếm bộc phát, xã hội xáo trộn. Dân chúng không còn sợ nhà nước CS như trước, đua nhau khiếu kiện trên toàn quốc, và tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Cộng đe dọa Biển Đông. Nhà cầm quyền CS đàn áp biểu tình, đàn áp tinh thần yêu nước của dân chúng, làm lộ rõ thêm bộ mặt phản quốc của CS.

Trong lúc đang khó khăn, thì thiên tai ập đến. Đồng bằng sông Cửu Long từ từ nhiễm mặn, khô cằn nứt nẻ. Vựa lúa của dân tộc bị đe dọa. Ngoài nước, cuộc thương chiến Hoa Kỳ-Trung Cộng từ 2018; dịch siêu vi khuẩn Vũ Hán (Trung Cộng) bùng phát đầu 2020, ảnh hưởng đến Việt Nam, vì kinh tế Việt Nam gắn liền với kinh tế Trung Cộng. Nếu tình trạng nầy kéo dài, Việt Nam có thể sẽ bị khủng hoảng trầm trọng.

Ngày nay, sau 45 năm thống trị Việt Nam, dầu CS tuyên truyền thế nào đi nữa, thì dân chúng cũng không còn tin tưởng CS. Kinh tế suy thoái, ngân quỹ cạn kiệt, nợ nần tràn ngập đến hồi phá sản, đàn anh Tàu Cộng liểng xiểng, ghế dựa của CSVN lung lay.

Trước khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, CSVN đã nhảy trước tại hội nghị Thành Đô tháng 9-1990, bỏ Liên Xô chạy theo Trung Cộng để tự cứu. Ngày nay, Trung Cộng đang khó khăn lụn bại, và lâm nguy, không còn dựa hơi được nữa, là cơ hội để CSVN nhanh chân thoát Trung, nhảy thêm bước nữa.

Có hai tấm gương trước mắt: 1) Từ năm 1990, các nước Đông Âu vĩnh viễn từ bỏ các chế độ CS. Chỉ sau vài thập kỷ, các nước Đông Âu hầu như bắt kịp các nước Âu Mỹ. 2) Hiện nay, trong nước, sinh viên, học sinh Việt Nam du học nước ngoài, đều chọn du học các nước Âu Mỹ. Trên 38,000 du học sinh Hoa Kỳ. Đó là chưa kể du học Anh, Pháp, Nhật, Úc. Chỉ một số rất ít được học bỗng mới qua Trung Cộng. Tuổi trẻ rất sáng suốt. Chuyến tàu đổi mới do sinh viên cầm lái đã khởi động. Các toa dân chúng đã đầy ắp. Chỉ toa dành cho lãnh đạo CS còn trống. Thiên thời đã sẵn sàng. Cơ hội không phải dễ có.

Vậy lãnh đạo CSVN hãy can đảm nhanh chân theo con em mình kẻo trễ. Còn hơn là lú lẫn ôm mãi cái chủ nghĩa CS lỗi thời, giữ chút hư danh và quyền lợi, cản đường dân tộc, lại lệ thuộc bắc phương, bị bắt nạt trên Biển Đông. Lâu lâu, Trung Cộng ngứa tay tát tai vài cái giải trí. Thật nhục nhã mà vẫn ngậm miệng ăn tiền. Rồi sẽ có lúc không tránh khỏi số phận Nicolae Ceausescu (Romania) chập chờn đâu đó!

(Texas, tháng 4-2020)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Bình Thủy Nước Sôi & TBT (to be) Trần Quốc Vượng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Bình Thủy Nước Sôi & TBT (to be) Trần Quốc Vượng

Nguồn: RFA

Thứ Năm, 04/16/2020   tuongnangtien

Nếu bạn để chính phủ điều hành sa mạc Sahara, trong 5 năm chúng ta sẽ thiếu cát.

Milton Friedman

Tôi sống hơi dai, trải dài từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nên đã có dịp đưa tiễn khá nhiều vật dụng tân kỳ (máy đánh chữ, máy fax, máy ảnh chụp phim, radio, akai cassette, DVD …) về nơi an nghỉ cuối cùng. Cứ tưởng như thế là tất cả đều đã mồ yên mả đẹp, và sẽ tiêu diêu nơi miền cực lạc nhưng thực tế lại không hẳn thế.

Bữa rồi, đang liếc mạng tôi chợt thấy loáng thoáng mấy từ (“các phích, bình thủy nước sôi”) trong một stt ngắn của FB Nguyễn Đình Bổn mà không khỏi ngạc nhiên:

Chuyện… không thể tin được tại một bệnh viện lớn nhứt miền Bắc! Bênh viện Bạch Mai, hiện đang là ổ dịch số một tại VN, và đang lây nhanh ra cộng đồng, dự báo những ngày tới sẽ bùng phát mạnh hơn. Nguyên nhân được cho là từ… các phích (bình thủy) nước sôi mà dân phải mua từ công ty Trường Sinh, mà công ty này cung cấp dịch vụ cho khoa Dinh dưỡng.Tôi thực sự không hiểu sao cái thời mà mọi cán bộ đều dùng cụm từ “chúng ta đang ở thời kỳ…4.0” mà cái bệnh viện số một la mã này vẫn… đun nước, rót vô bình để bán cho bệnh nhân theo cách 4.. thủ công như vậy?

Trời! Phích nước (thermos) hay còn gọi là bình thủy được phát minh từ năm 1892, và trở thành mặt hàng thương mại thông dụng trên toàn cầu từ đầu thế kỷ thứ XX lận. Đã hơn trăm năm qua rồi, bây giờ thì còn đào đâu ra được cái thứ đồ antique đó nữa – hả Giời?

Ở chỗ nào khác thì không biết, chớ ở miền Nam VN thì cái phích là một vật dụng  quen thuộc trong mọi gia đình cho tới khoảng giữa thập niên 1960. Đến thời điểm này thì không chỉ bếp điện mà cả bếp ga cũng đã tràn lan nhiều nơi. Nấu một ấm nước sôi chỉ cần vài phút đồng hồ thôi nên cái thermos đã trở thành demodée, và đã đi vào nghĩa địa lâu lắm rồi mà. Sao nó có thể lại đội mồ sống dậy (và sống hiên ngang) giữa một cái bệnh viện lớn nhất Hà Nội, vào Thế Kỷ XXI được vậy cà?

FB Nguyễn Đình Bổn cho biết thêm:

Nếu nằm viện, người nhà bệnh nhân sẽ phải đăng ký nhận nước sôi hàng ngày. Phải trả tiền “thế chân” 100.000 đồng/phích, mỗi lần thay nước 5.000 đồng. Ngày thay 1-2 lần. Nếu ra viện, trả lại phích thì lấy lại được tiền thế chân! Đây là bệnh viện lớn, luôn có bệnh nhân trên số ngàn, riêng việc này nhân lên là biết. Và cũng chính vì phải luân phiên đi tới đi lui đổi trả cho hàng ngàn người, các nhân viên công ty Trường Sinh một khi nhiễm bệnh sẽ trở thành con thoi, đi khắp các khoa, phòng, tiếp xúc mọi nơi.

Té rứa!

Rứa mới biết không phải mọi thứ cổ lỗ đều bị thiên hạ vứt vào thùng rác. Hoá ra đời không thiếu chi những người hoài cổ hay hiếu cổ, chứ chả riêng gì Bà Huyện Thanh Quan. Thường Trực Ban Bí Thư (& TBT to be) Trần Quốc Vượng là một người như thế.

Ngày 9-03-2020 vừa qua, nhân vật này thay mặt bộ chính trị, ban hành kết luận “tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa IX về đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã.” Ông khiến cho lắm người hốt hoảng, và trong cơn hoảng hốt không ít kẻ đã “lỡ lời” xúc phạm đến những vị lãnh đạo cấp cao:

 Phạm Minh Vũ: “Thế hệ Vượng, một thế hệ vứt đi!”

 Ngô Trường An: “Đ* móa! Kinh tế tập thể thì đã từng thực hiện hàng chục năm rồi, dân từng đói rã họng rồi, đổi mới gì nữa mấy cha? Cướp thì nói cướp đi. Chiêu này xưa rồi Diễm!”

Mạc Văn Trang: “Cái kinh tế tập thể là thiết yếu theo nghị quyết của Bộ Chính trị làm cho nhiều người rất là sợ hãi. Bởi vì cái chữ ‘kinh tế tập thể, hợp tác xã’ ở Việt Nam diễn ra từ năm 1960 cho đến những năm 1986. Trong gần 30 năm, nó khủng khiếp quá. Người ta nghĩ rằng hợp tác xã, kinh tế tập thể là khủng khiếp lắm, vì kết quả đã làm cho toàn dân phải đói.”

Nguyễn Tiến Dân: “Bế tắc về Lý luận, tất yếu, sẽ thất bại trên thực tế. Mọi giải pháp ‘hay ho’ nhất đã được đưa ra từ cái bọn ngạo mạn, tự mạo nhận là ‘đỉnh cao trí tuệ của nhân loại’. Trong đó, có cả ‘người giời’ Phú Trọng. Giờ, thất bại toàn tập, đành phải quay trở về với cái máng lợn sứt vậy.”

Phạm Thành :“Cái hợp tác xã, sau gần 30 năm tồn tại, đến cứt nát cũng không còn để phân phối, nếu năm 1986 mà không bỏ nó đi, không cho nông dân mượn lại đất để sản xuất thì 1/3 người dân Việt Nam đã phải bỏ mạng vì đói ăn, rách mặc rồi. Trần Quốc Vượng, tên cộng sản lại giống độc ác.”

Lê Công Định:“Đảng cầm quyền Việt Nam vẫn đang điều hành nền kinh tế hiện đại bằng tư duy của các lãnh tụ Cộng sản thuộc thế hệ hơn 100 năm trước.”

Ơ hay! Thế cái thremos không đã từng xuất hiện cả trăm năm trước à? Trăm năm sau nó vẫn sống hùng (sống mạnh) ngay giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại, và vẫn có vai trò tích cực đấy thôi! Đồ cổ nếu biết xử dụng đúng cách thì vẫn hữu dụng như thường. Phải đặt mọi thứ – từ cái Nghị quyết T.Ư cho đến cái thermos – trong bối cảnh của nó thì mới hiểu được mọi chuyện một cách ngọn ngành!

 Ai chả biết là đặt những máy lọc nước nóng/lạnh là chuyện rất đơn giản và tiện lợi nhưng làm thế thì mất đi một nguồn lợi đáng kể cho rất nhiều người. Tương tự, mô hình kinh tế tập thể/hợp tác xã tuy không hiệu quả nhưng mức lại quả thì rất hấp dẫn, và chả gây thiệt hại cho ai cả:

Chục tỉ chứ ngàn tỉ khó đòi cũng chả khiến ai phải chịu trách nhiệm gì ráo trọi, và vì cha chung nên cũng chả ai buồn khóc. Chủ trương “phát triển kinh tế tập thể/hợp tác xã” tuy sẽ lại đưa kinh tế quốc gia vào cái vòng (bần cùng) lẩn quẩn nhưng cũng sẽ giúp cho xã hội toàn trị ổn định như thời xa xưa cũ.

Với kiểu cơ cở hạ tầng kiểm soát toàn tập này thì mới có thể ngang nhiên xếp sẵn ghế ngồi (trên đầu thiên hạ) trước khi bầu bán và “các anh ở trên” mới có thể tiếp tục múa gậy vườn hoang (“hiến pháp đứng sau cương lĩnh của đảng” , “bộ công an hiệp đồng với quân đội góp phần bảo vệ đảng bảo vệ chế độ”) mà không bị chúng vả cho vỡ mồm ra.

Tiện lợi mọi mặt và mọi đường như thế nên với bất cứ đồng chí lãnh đạo nào thì “phát triển kinh tế tập thể” cũng đều là “xu thế tất yếu” cả, chứ chả riêng chi Tổng Bí Thư (to be) Trần Quốc Vượng. Dưới chế độ toàn trị hiện nay ở Việt Nam thì con chó nào mà không ăn cứt!

ĐỂ LÒNG BÌNH AN GIỮA ĐẠI DỊCH BỆNH

ĐỂ LÒNG BÌNH AN GIỮA ĐẠI DỊCH BỆNH

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Con người luôn có tính xã hội và thường bị ảnh hưởng của đám đông.  Đó là điều rất tự nhiên mà chúng ta thấy khi đại dịch xuất hiện, ngày càng có nhiều người hoang mang.  Nhất là khi gia đình có người là nạn nhân của con virus này, sự buồn bã và lo âu chắc tăng lên gấp bội.  Làm sao để cho tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến là điều không dễ chút nào.  Ai cũng thuộc lòng câu: “Dù ai nói ngả nói nghiêng… lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”, nhưng mấy ai làm được?

Chắc hẳn ai cũng có cách để thích nghi với dịch bệnh.  Khi ở nhà, mỗi người đã có những sáng kiến để giữ cho bầu không khí gia đình được bình an.  Dù virus có đảo lộn mọi thứ, tác động khủng khiếp đến mọi khía cạnh của đời sống, nhưng ai cũng trấn an để mong cùng nhau vượt qua thách đố này trong an bình.  Đó là khao khát muôn thuở của con người.  Không chỉ trong đại dịch lần này, nhưng mọi bôn ba của kiếp người chẳng phải để tìm được bình an đó sao?

Chắc ai cũng hiểu bình an là sự yên ổn, êm đềm của cuộc sống.  Ở đó không có hận thù, sợ hãi và hoang mang.  Bình an trong tiếng Do Thái còn có nghĩa là an lạc, hạnh phúc.  Người Do Thái thường chào nhau với hai chữ: Bình an (Sa–lom).  Chào như thế vì họ không chỉ thể hiện tương quan với nhau, nhưng quan trọng hơn, họ có chung một Thiên Chúa là nguồn bình an cho con người.

Chúng ta thấy khung cảnh lúc Đức Giêsu chết cũng không khác nhiều bối cảnh lúc này.  Các môn đệ hoang mang cực độ.  Nơi các ông ở lúc đó đều cửa đóng then cài.  Phần vì các ông buồn bã trước cảnh tượng người ta giết thầy Giêsu, phần vì sợ người ta có thể ám hại cả các ông nữa.  Tính mạng của các ông không mấy an toàn lúc này, nếu ở những nơi công cộng.  Các ông buộc phải cách ly trong hoang mang!  Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các ông.

Chúng ta sẽ ngạc nhiên với câu nói đầu tiên của Đức Giêsu: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19).  Đó không chỉ là lời chào thăm, nhưng còn là nguồn động viên, “xốc” lại tinh thần của các ông.  Đức Giêsu biết lúc này các ông thực sự cần bình an.  Dù ngoại cảnh có nhiều nguy hiểm, nhưng một khi tâm hồn được bình an, người ta có thể đón nhận được mọi thứ trong thanh thản.  Kết quả là các ông đã mở toang cửa để loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho toàn dân.  Các ông đến nơi đâu, cũng nói về câu chuyện Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại.  Chính Tin Mừng ấy trao rất nhiều bình an cho thính giả thời bấy giờ.  Bởi thế mà Giáo Hội sơ khai tuy chịu nhiều bách bớ, nhưng người con của Chúa luôn cảm thấy bình an để làm chứng cho Tin Mừng này.

Thật đẹp khi trong cảnh khốn cùng, rất nhiều người thốt lên với Đức Giêsu Phục Sinh: “Lạy Chúa xin ban bình an cho chúng con và toàn thế giới.”  Thiên Chúa là nguồn của mọi bình an (Ep 2,14).  Bình an của Thiên Chúa không như thế gian ban tặng.  Đó là bình an của tâm hồn, của niềm vui nội tâm và của tình yêu giữa thụ tạo với Đấng Tạo Thành.  Đó là quà tặng của Thiên Chúa cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài.  Nói cách khác, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta được một niềm vui sâu xa, một sự bình an bên trong và tự do.  Đừng quên bình an nội tâm là nền tảng của sự bình an trong gia đình, trong xã hội và trên thế giới.

Chắc hẳn khi ở nhà quá lâu, sống trong cảnh dịch bệnh kéo dài, nguy cơ mất bình an là có thật.  Bởi đó, người ta dễ dàng tìm thấy nhiều lời hướng dẫn hữu ích để tạo cho mình được bình an.  Là người Công Giáo, chúng ta may mắn có Thiên Chúa luôn trao bình an cho mỗi người.  Dĩ nhiên bình an ấy không dành cho những ai lười biếng ngồi chờ sung rụng.  Thiên Chúa đòi con người cộng tác một chút, Ngài hứa sẽ ban bình an thật nhiều.  Bằng cách nào?

Trong câu hỏi trên, tôi tin ai cũng có câu trả lời cho riêng mình.  Giáo Hội mời gọi con cái mình cầu nguyện, hướng đến đời sống nội tâm nhiều hơn lúc này.  Mỗi ngày dành cho Thiên Chúa chút không gian và thời gian, để cùng với Chúa vun đắp bình an cho tâm hồn mình.  Thực ra bất kỳ ai liên kết với Thiên Chúa, người ấy đều có được bình an đích thực.  Khi có bình an, người ta sẽ biết mình nên làm gì và cần phải làm gì trong thời gian đại dịch.  Hãy để sự bình an của Chúa cư ngụ trong tâm hồn mình và để Ngài cất bỏ những lo âu phiền muộn.  “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28).  

Hẳn là chúng ta được an ủi trước câu hỏi này: “Trong kế hoạch, Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không?”  An ủi vì: “Thiên Chúa không muốn cho con người phải đau khổ và phải chết.  Từ khởi thủy Thiên Chúa đã muốn cho con người sống nơi Địa Đàng, được sống mãi mãi, bình an giữa Thiên Chúa, mọi người, và vạn vật chung quanh.  Bình an giữa nam và nữ.” (Youcat số 66).  Tiếc là khi rời Vườn Địa Đàng, người ta luôn có nguy cơ mất sự bình an này.

Với chủ đề trên đây, hy vọng mỗi người nhắc mình cần bình an lúc này.  Thực tế là nhiều người quên mất mình đang sống trong bất an.  Cảm giác ấy khó chịu vô cùng!  Hãy dừng lại đôi chút để đọc xem điều gì đang diễn ra trong tâm hồn mình lúc này?  Những nhà thiêng liêng chỉ cho chúng ta cách để tìm lại được bình an: “Hãy giữ tâm hồn bạn bình an.  Hãy để Thiên Chúa hành động trong bạn.  Hãy đón nhận mọi tư tưởng nâng tâm hồn bạn lên tới Chúa.  Hãy mở rộng cửa tâm hồn bạn.” (Thánh Inhaxiô Loyola).  Nếu bạn đang thực sự bình an, hãy tạ ơn Chúa và tiếp tục vui sống với hồng ân của Chúa. Nếu lòng bạn đang biến động giữa xáo trộn vì Covid–19, thử áp dụng vài phương cách như thế cùng với Chúa xem sao?  

Chúng ta cùng cầu chúc cho nhau để mỗi người đón nhận được lời chúc lành của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em!  Hy vọng bình an nội tâm sẽ là sức mạnh để mỗi người, cùng với Chúa và với nhau, vượt qua những khó khăn, bức xúc và phức tạp của hoàn cảnh hiện tại.  Mong thay!!!

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/04/17/de-long-binh-an-giua-dai-dich-benh/

5 câu châm ngôn từ Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh có thể giúp bạn vượt qua đại dịch coronavirus

VIETCATHOLIC.NET
Cha Thánh Piô là một nhân vật đầy ấn tượng rồi, nhưng ngài có một mối… 

Nguyên bản tiếng Anh: These 5 Maxims from Padre Pio Will Help You Get Through Coronavirus – Laura Dittus, National Catholic Register.

5 câu châm ngôn này có thể được tóm tắt bằng câu nói được Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng và đừng lo lắng”

Laura Dittus

 Đặng Tự Do

Đầu năm nay, tôi đã tìm đọc một số sách tiếng Tây Ban Nha để cải thiện các kỹ năng ngôn ngữ và nghĩ rằng sẽ tốt hơn khi đọc một tiểu sử truyền cảm hứng. Tôi thực không ngờ Chúa đã quan phòng cách kỳ diệu cho tôi, để tôi chọn một cuốn sách nói về Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh thành Pietrelcina.

Cha Thánh Piô không chỉ là một vị thánh được mang Năm Dấu Thánh Chúa, nhưng còn đặc biệt hơn là ngài còn có khả năng xuất hiện ở cả hai nơi cùng một lúc. Ngài có các đặc sủng khi giải tội và trong nhiều trường hợp khác nữa. Tuy nhiên, có một điều không mấy khi được nhắc đến, nhưng có tính chất thời sự đối với chúng ta trong giai đoạn này, là ngài đã từng sống qua đại dịch cúm Tây Ban Nha kinh hoàng, một đại dịch tàn khốc xảy ra vào đầu thế kỷ 20. Thật là an ủi trong thời đại hiện nay khi có những vị thánh đã sống qua thời kỳ dịch bệnh này để chúng ta chạy đến nhờ các ngài cầu thay nguyện giúp, đồng thời học hỏi từ những vị thánh ấy những câu nói truyền cảm hứng và những tấm gương về một cuộc sống đạo đức. Cha Thánh Piô là một trong những vị này này.

Cha Thánh Piô là một nhân vật đầy ấn tượng rồi, nhưng ngài có một mối quan hệ đặc biệt với thời điểm đại dịch này vì chính ngài đã nhiễm virus H1N1 là con virus đã gây ra đại dịch Cúm Tây Ban Nha, kéo dài từ tháng Giêng 1918 đến tháng 12, 1920, lây nhiễm 500 triệu người, tức là 1 phần 3 dân số thế giới vào thời đó, và giết chết ít nhất 17 triệu người, có các tài liệu còn cho rằng có đến 50 triệu trường hợp tử vong. Ngài đã nhiễm virus H1N1 sau khi có Năm Dấu Thánh Chúa trên người không bao lâu. Một vài vị thánh đã nhiễm virus H1N1 và đã chết vì con virus đó như hai thánh Francisco và Jacinta Marto, là hai trong ba trẻ đã được thấy Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Cha Piô bị nhiễm virus nhưng đã hồi phục và tiếp tục sống một cuộc đời linh mục đầy hoa trái và hương thơm thánh thiện sau giai đoạn đó của cuộc đời.

Sau khi tìm hiểu một chút về cuộc sống của Cha Piô, tôi muốn tìm hiểu sâu hơn một chút về các tác phẩm của ngài. Khi đọc các bài viết của Cha Piô, tôi tình cờ gặp một số câu thật khôn ngoan, thật đáng khích lệ trong ánh sáng của những gì đang xảy ra trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay, mặc dù tôi đã đọc những lời ấy vài tháng trước khi “social distance”, hay “khoảng cách xã hội”, trở nên một cụm từ thông dụng tại Mỹ. Một trong những trích đoạn trong những lá thư của Cha Piô mà tôi đọc lại vào tháng Hai năm nay được viết vào năm 1917 cho một trong những cô con gái tinh thần của ngài, là cô Antonietta Vona. Trong bức thư đó, ngài viết như sau:

Đừng lo sợ về bất kỳ tác hại nào trong tương lai có thể xảy ra với con trên thế giới này, bởi vì có lẽ điều đó có thể sẽ không xảy ra với con, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào nếu nó đến với con, Chúa sẽ cho con sức mạnh để chịu đựng nó… Nếu Chúa để con phải trải qua vùng nước đầy bão tố của nghịch cảnh, đừng nghi ngờ, đừng sợ hãi. Chúa luôn bên cạnh con. Hãy có can đảm và con sẽ được bình an. (Thư III, trang 833)

Đoạn văn này đưa ra cho chúng ta nhiều ủi an. Chúng ta được khuyên đừng “sợ hãi trước bất kỳ tác hại nào trong tương lai” vì nó có thể không bao giờ xảy ra. Chúng ta cũng được khuyên “hãy có can đảm”. Ở đây, ta nhớ rằng những lời mà Cha Piô viết là vào năm 1917, có thể không liên quan gì đến đại dịch sẽ xảy ra sau này ở Ý, từ 1918 đến 1919, nhưng được đưa ra trước sự kiện đó và vì thế chắc chắn đã an ủi cô con gái tinh thần của ngài khi trận dịch xảy ra.

Trong cùng một bức thư, Cha Piô cũng đưa ra cho Antonietta một số cụm từ nhất định để in sâu vào tâm hồn cô: “Đây là điều cha cảm thấy phải nói với con hôm nay trong Chúa: Để có thể sống một cuộc đời đạo đức liên tục, con hãy ghi nhớ một số câu châm ngôn xuất sắc và mạnh mẽ này trong tâm hồn con.” (Thư III, tr. 830)

Năm câu châm ngôn mà Cha Piô dành cho cô trong bức thư này là:

“Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rôma 8:28)

“Thiên Chúa là Cha chúng ta”

“Các con có thiếu thốn gì không?” (Luca 22:35)

“Đời đời”

“Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gal 6:14)

Những câu châm ngôn này tốt cho bất kỳ dịp nào, nhưng ta có thể thấy giá trị đặc biệt của những châm ngôn ấy khi phải sống trong tình huống đại dịch này. Sự thật rằng “Thiên Chúa là Cha chúng ta” mang lại niềm an ủi rằng chúng ta luôn ở dưới sự chăm sóc quan phòng của Ngài, được yêu thương và bảo vệ, và rằng, ngay cả nếu chúng ta phải kinh qua những tình huống khó khăn, Chúa luôn ở với chúng ta.

Tôi thấy các châm ngôn trên thật là hữu ích vào thời điểm này, thêm vào đó tôi cũng muốn nhắc đến một cụm từ thường được Cha Piô lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng, và đừng lo lắng.” Những lời này có thể đóng vai trò như một phương châm nổi bật cho thời gian này, và thật sự đối với bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta luôn được kêu gọi để cầu nguyện, để tin tưởng vào Chúa, và đừng đầu hàng trước những lo lắng của chúng tôi.

Xin Cha Piô cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, và cho chúng ta nhận ra đang được sống khoảnh khắc hiện tại trong sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có thể nghe vang vọng những lời này của ngài – “Quá khứ của con, lạy Chúa, xin dâng lên lòng thương xót Chúa; hiện tại của con, xin phó dâng cho tình yêu Chúa; và tương lai con, xin tín thác nơi sự quan phòng của Người” – và hãy lấy những lời này làm những lời cầu nguyện của chúng ta, và phó thác cho sự bảo vệ của Cha chúng ta ở trên trời, cùng với sự cầu bầu của Mẹ Thiên Chúa.

Source:National Catholic Register These 5 Maxims from Padre Pio Will Help You Get Through Coronavirus

Báo BILD của Đức đòi Trung Quốc bồi thường cho Đức 149 tỷ Euro vì COVID-19 | Tiếng Dân

Hôm nay 20/4 báo chí quốc tế rầm rộ đưa tin về vụ tờ báo BILD của Đức lập hóa đơn, đòi Trung Quốc bồi thường cho Đức 149 tỷ Euro (160 tỷ USD) về những thiệt hại kinh tế mà đại dịch virus corona Vũ Hán gây ra cho nước Đức.

Vụ việc này xảy ra hồi tuần rồi, cách đây 5 ngày báo BILD, nhật báo có nhiều độc giả nhất nước Đức, trong số báo ra ngày 15/4 đã đăng một bài viết với tựa đề “Trung Quốc hiện đang nợ chúng ta những gì – Tờ BILD lập hóa đơn Corona”, trong đó hóa đơn được lập rất chi tiết, nêu từng khoản mục của thiệt hại kinh tế do virus Vũ Hán gây ra, chẳng hạn: 24 tỷ Euro cho doanh thu du lịch bị thiệt hại; 7,2 tỷ Euro cho ngành công nghiệp điện ảnh Đức; 1 triệu Euro mỗi giờ cho hãng hàng không Lufthansa của Đức; 2 tỷ Euro mỗi tuần cho hãng ô tô Volkswagen; và 50 tỷ Euro cho các doanh nghiệp nhỏ của Đức.

Ngoài ra, trong hóa đơn cũng ghi rõ rằng, nếu GDP của Đức giảm 5,1% thì mỗi người dân Đức sẽ chịu thiệt hại khoảng 2.160 Euro.

Bài báo viết, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại này “cũng bởi vì giới lãnh đạo Trung Quốc đã bưng bít thông tin quan trọng trong nhiều tuần“, và “Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)“. Trong bài, báo BILD cũng căn cứ vào lời Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo nói về trách nhiệm của Trung Quốc.

Phản ứng của Trung Quốc

Ngay lập tức cùng ngày 15/4, Đại sứ quán Trung Quốc tại Berlin gửi một bức thư ngỏ đến ông Julian Reichelt, Tổng biên tập báo BILD. Bức thư mở đầu với giọng điệu không phải là giọng điệu bình tĩnh của những nhà ngoại giao:

Thưa ông Reichelt và các thành viên của Tổng biên tập báo BILD

Với một ít ngạc nhiên, hôm nay tôi đã đọc bài báo của ông về đại dịch corona nói chung và về những khoản nợ gán cho Trung Quốc nói riêng.

Chưa cần nói đến điều rằng chúng tôi coi đó là một phong cách khá tồi tệ, quy trách nhiệm cho một quốc gia về đại dịch đang gây hại cho cả thế giới và sau đó đưa ra một hóa đơn chi tiết các khoản nợ gán cho Trung Quốc, …

Phần cuối bức thư ngỏ, Đại sứ quán Trung Quốc đã dùng những ngôn từ hết sức nặng nề, chứng tỏ một sự giận dữ:

Cuối cùng, cho phép tôi đưa ra nhận xét cá nhân: chúng tôi coi phong cách mà ông ‘chiến đấu‘ chống Trung Quốc trong bài báo hôm nay của ông trên trang 2 là bỉ ổi.

Bài báo của ông không chỉ thiếu hoàn toàn các sự kiện cốt yếu và diễn tiến thời gian chính xác, mà còn thiếu sự thận trọng tối thiểu và sự công tâm của báo chí. Kẻ nào tính toán tiền nợ như ông đã làm trên nhật báo BILD ngày hôm nay thì kẻ đó chính là người kích động chủ nghĩa dân tộc, là có định kiến và bài ngoại cũng như thù nghịch Trung Quốc.

Nó không đúng đắn cho tình hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc, cũng không phù hợp với sự hiểu biết nghiêm túc về báo chí. Đứng trước sự việc trên, tôi tự hỏi, từ đâu trong tòa soạn của ông có ác cảm với nhân dân chúng tôi và nhà nước chúng tôi? …

Phản ứng của báo BILD

Sau khi nhận được bức thư ngỏ của Đại sứ quán Trung Quốc tại Đức, ngày 16/4, báo Bild đăng bức thư ngỏ của Tổng Biên tập Julian Reichelt, trả lời Tập Cận Bình. Đây là bản dịch lá thư ngỏ: TBT báo Đức gửi thư cho Tập Cận Bình: “Ông đang gây nguy hiểm cho toàn thế giới”.

Ngoài ra, báo BILD còn phổ biến 2 clip video (tiếng Đức và tiếng Anh) do chính Tổng biên tập báo BILD Julian Reichelt đọc. Đặc biệt, clip video tiếng Đức có phụ đề tiếng Trung. Đây là clip tiếng Anh với phụ đề Việt ngữ:

Video Player

00:00

03:27

Phản hồi của Đại sứ quán Trung Quốc tại Berlin

Giống như lần trước, ngay lập tức trong ngày 17/4, Đại sứ quán Trung Quốc tại Đức đã viết một bài phản hồi trên trang web của mình, giọng điệu vẫn hằn học như cũ. Sau đây là bản dịch (chữ in đậm do dịch giả nhấn mạnh):

“Bằng một thư ngỏ ngày 17 tháng 4, Tổng biên tập tờ BILD đã trả lời thư ngỏ của chúng tôi phản bác bài báo kích động, trong đó những điều dối trá và vu khống chính trị Trung Quốc lại một lần nữa diễn ra. Điều này cho chúng tôi lý do để nhắc lại sự bác bỏ kiên quyết của chúng tôi.

Kể từ khi dịch bệnh corona mới bùng phát, Trung Quốc đã hành động một cách cởi mở, minh bạch và có trách nhiệm bằng cách báo cáo dịch bệnh cho WHO sớm như có thể, làm việc với các nước khác và thực hiện các biện pháp toàn diện, chặt chẽ và kỹ lưỡng nhất. Chúng tôi không chỉ đạt được những thành công từng bước quan trọng bên trong Trung Quốc, mà còn tranh thủ được thời gian cho các quốc gia khác, cũng như thu thập kinh nghiệm. Đây là những sự thật không thể phủ nhận, đã được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi.

Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính phủ Trung Quốc ưu tiên hàng đầu cho sức khỏe và sự an toàn của dân chúng. Điều này được người dân Trung Quốc coi trọng, và các biện pháp nghiêm ngặt, rất tiếc dẫn đến thiệt hại kinh tế khổng lồ, cũng được người dân Trung Quốc ủng hộ và tán thành. Những gì xảy ra ở Trung Quốc, tốt hơn là hãy để nhân dân Trung Quốc đánh giá. Chúng tôi không cần ai chỉ tay từ bên ngoài.

Nguồn gốc của virus là một câu hỏi khoa học mà các nhà khoa học và chuyên gia y tế cần nghiên cứu. Đại diện của WHO và các chuyên gia y tế nổi tiếng đã nhiều lần chỉ ra rằng các tuyên bố như “thoát khỏi phòng thí nghiệm” là không có cơ sở khoa học.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng, theo thông tin của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới vào ngày 7 tháng 4, Trung Quốc đã đăng ký nhiều bằng sáng chế nhất ở PCT (Thỏa thuận hợp tác sáng chế) trong năm 2019.

Bất chấp tất cả những sự thù địch này, may mắn thay, chúng tôi cũng đã thấy rằng Trung Quốc và Đức đang ngày càng trao đổi chặt chẽ, hợp tác với nhau, hỗ trợ lẫn nhau và cứu giúp nhau trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh. Điều này củng cố sự hiểu biết giữa hai dân tộc và mở rộng hơn nữa sự hợp tác.

Một vài đại diện truyền thông hình như không nhận thấy điều đó, nhưng như một sự an ủi, tôi xin trích dẫn, một công dân Đức đã viết cho chúng tôi: “BILD không phải là Đức! Lạy Chúa tôi!

Chúng tôi hy vọng rằng tất cả các phương tiện truyền thông tập trung vào cuộc chiến chống lại COVID-19, họ không chính trị hóa dịch bệnh và làm việc mang tính xây dựng cho cuộc chiến quốc tế chống virus.

_____

Nguồn:

https://www.bild.de/bild-plus/politik/ausland/politik-ausland/bild-praesentiert-die-corona-rechnung-was-china-uns-jetzt-schon-schuldet-70044300,view=conversionToLogin.bild.html

https://www.bild.de/politik/ausland/politik-ausland/corona-krise-bild-chef-schreibt-an-chinas-staatschef-70087876.bild.html

http://www.china-botschaft.de/det/sgyw/t1771000.htm

BAOTIENGDAN.COM

Báo BILD của Đức đòi Trung Quốc bồi thường cho Đức 149 tỷ Euro vì COVID-19 | Tiếng Dân

Báo BILD của Đức đòi Trung Quốc bồi thường cho Đức 149 tỷ Euro vì COVID-19 Bởi AdminTD – 20/04/2020 Hiếu Bá Linh, tổng hợp 20-4-2020 Bài trên báo BILD ra ngày 15/4/2010 và hóa đơn đòi Trung Quốc bồi thường Hôm nay 20/4 báo chí quốc tế rầm rộ …