Ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ngồi ghế bí thư có là ‘hạnh phúc’ cho dân tộc?

RFA.ORG

Ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ngồi ghế bí thư có là ‘hạnh phúc’ cho dân tộc?

Báo chí nhà nước đăng phát biểu của phó trưởng Ban Tuyên giáo nói người quá tuổi là Tổng bí thư, là hạnh phúc của Đảng, của dân tộc. Liệu đây có phải là tín hiệu ‘báo trước’ ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục đảm trách vai…

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2) – Trí Thức VN

Thời đó, không có hai từ “giáo án” và cũng thực sự không có việc giáo viên soạn thảo bài dạy theo một tiêu chuẩn nào, trình cho một giới chức nào. Người dạy học thời đó dựa vào chương trình chính thức do Bộ Giáo dục soạn thảo và dạy học sinh theo cách thức riêng của mỗi người, miễn sao trong kết quả cuối năm, nhiều học sinh đạt điểm cao nhất trong môn họ đã dạy. #LeNguyen
***
Nếu quý độc giả click vào link và không xem được, thì thiết bị cần cài phần mềm ‘vượt tường lửa’. Có 

 

M.TRITHUCVN.NET

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2) – Trí Thức VN

Thời Đệ nhất Cộng hòa, không có hai từ “giáo án” và cũng thực sự không có việc giáo viên soạn thảo bài dạy theo một tiêu chuẩn nào, trình cho một giới chức nào.

Giới thiệu nhà thơ trẻ Trương Chi

Giới thiệu nhà thơ trẻ Trương Chi

 

  1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản

Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ

Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do

và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế

 

  1. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ

Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền

Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên

Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ

 

  1. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ

Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?

Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua

Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”

 

  1. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu

Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời

Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi

Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng

 

  1. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”

“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”

Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường

Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải

 

  1. Đất nước tôi có gì không độc hại

Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan

Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian

Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt

 

  1. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt

Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?

Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng

Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…

 

  1. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược

Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người

Những phát ngôn của quan chức nực cười

Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”

 

  1. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!

Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình

Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”

Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng

 

  1. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng

Còn hơn thời phong kiến, thực dân

Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành

Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ

 

  1. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”

Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm

Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn

Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc

 

  1. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc

Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa

Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà

Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả

 

  1. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa

Như mệnh trời muốn thử thách người Nam

Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”

Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”

 

  1. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh

Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn

Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”

Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”

 

  1. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng

Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…

Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người

Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết

 

  1. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết

Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai

Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai

“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt

 

  1. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng

Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn

Hít thở bầu khí quyển màu đen

Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản

 

  1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản

Nhưng tôi là một người Việt Tự Do

Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia

Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc

 

  1. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục

Và những người yêu Nước của hôm nay

Đã dấn thân vào những chốn đọa đày

Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu

 

  1. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu

“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam

Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang

Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc

 

  1. Hỡi những người trai, cô gái Việt

Hãy đứng lên vì non nước lầm than

Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn

Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi

 

  1. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi

Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương

Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương

Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.

THÀNH QUẢ CỦA NHỮNG PHU NHÂN SINH QUÁN NƯỚC NGOÀI: JACKIE BONG WRIGHT

THÀNH QUẢ CỦA NHỮNG PHU NHÂN SINH QUÁN NƯỚC NGOÀI: JACKIE BONG WRIGHT

Posted on May 28, 2020 by TamAn

LTS: Nhiều phụ nữ Việt (hay gốc Việt) qua những hoạt động tích cực về Xã hội, Văn hóa… đã gây tiếng tốt trong cộng đồng hải ngoại. Giới thiệu bài viết của tác giả Sheila Switzer về bà Jackie Bông Wright: “Tôi luôn cảm phục Jackie vì sự làm việc quên mình của chị ấy trong nhiều lãnh vực cho nhiều người, địa phương cũng như trên toàn thế giới.  Tôi yêu mến và tôn trọng Jackie và tất cả các bạn đã, với niềm tự hào, thay mặt nước Mỹ và xứ sở nguồn cội của các bạn.  Các bạn như một bó hoa đẹp, lạ đến từ khắp nơi trên thế giới.  Cám ơn các chị em phụ nữ, và cám ơn tất cả…”

Người phụ nữ này cũng đã thay mặt Họp Mặt Dân Chủ (HMDC) tổ chức thành công Hội thảo Quốc tế (Symposium) „Nhìn lại cuộc chiến Việt Nam“ tại Văn khố Quốc gia Hoa Kỳ, Washington DC, ngày 14.09.2018.

TT

*****

Thành Quả Của Những Phu Nhân Sinh Quán Nước Ngoài: 

Jackie Bong Wright

Association of American Foreign Service Women (AAFSW)

Foreign-Born Spouses (FBS)

By Sheila Switzer

Người dịch: Mai Trân

Tôi luôn tự hào để chia sẻ cùng quý vị công việc tuyệt vời mà hội AAFSW/Foreign Born Spouses thực hiện trên thế giới.  Tôi muốn ghi đậm công việc đáng kể của một trong những hội viên của chúng tôi đang làm trong thời gian khó khăn hiện nay khi tất cả chúng ta phải đối mặt với dịch bệnh COVID-19.

Đã nhiều năm tôi được hân hạnh gặp Jackie Bông Wright, gốc Việt Nam, tham gia nhóm AAFSW/FBS của chúng tôi.  Tôi làm việc cùng chị ấy trong nhiều chương trình có tầm ảnh hưởng lớn, chẳng hạn như bài thuyết trình mạnh mẽ chị trình bày cho hội AAFSW về “Nạn Buôn Người.”  Hai chúng tôi tổ chức một buổi Trình diễn Thời trang với những hội viên của nhóm FBS, mỗi người trình diễn y phục của nước mình để giúp Jackie trong công việc đáng làm này.

Tôi luôn cảm phục Jackie vì sự làm việc quên mình của chị ấy trong nhiều lãnh vực cho nhiều người, địa phương cũng như trên toàn thế giới.  Tôi yêu mến và tôn trọng Jackie và tất cả các bạn đã, với niềm tự hào, thay mặt nước Mỹ và xứ sở nguồn cội của các bạn.  Các bạn như một bó hoa đẹp, lạ đến từ khắp nơi trên thế giới.  Cám ơn các chị em phụ nữ, và cám ơn tất cả đã giữ liên lạc với tôi.  Chúc mọi người khỏe mạnh và an toàn.

Jackie đến Mỹ tháng Tư 1975 sau khi Miền Bắc Việt Nam Cộng Sản chiếm Miền Nam Việt Nam.  Là một goá phụ với ba con nhỏ dưới 10 tuổi, chị đã tranh đấu và vượt qua khó khăn để làm lại cuộc đời mới ở vùng Hoa Thịnh Đốn.  Năm 1976, chị lập gia đình với một nhà Ngoại Giao Mỹ chị quen biết từ khi còn ở Saigon, và theo chồng đến nhiều quốc gia Âu Châu, Á Châu, các đảo Caribbean, cuối cùng đi hơn 17 năm nước ngoài trong 44 năm chung sống.  Ngày trước, Jackie học tiểu học và trung học ở trường Pháp tại Việt Nam.  Từ khi còn là thiếu nữ, chị đã được các bà sơ thầy của chị khuyến khích dạy các trẻ mù chữ và giúp đỡ người bệnh ở nhà thương vào cuối tuần.  Sau khi học đại học ở Pháp chị trở về Saigon năm 1963. 

Chị lập gia đình với ông Nguyễn Văn Bông, giáo sư Luật Khoa Chính Trị Học và Hiến Pháp tại Đại Học Luật Khoa Saigon và Giám Đốc Viện Đại Học Quốc Gia Hành Chánh Nam Việt Nam.  Sau đó, ông thiết lập Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, một đảng đối lập chống cộng, ủng hộ dân chủ và chống tham nhũng.  Jackie dạy Pháp văn ở Alliance Francaise và tiếp tục công việc giúp đỡ các trẻ em nghèo cần trợ giúp.  Giữa lúc Chiến Tranh Việt Nam sôi động, giáo sư Bông nhận chức vụ thủ tướng theo lời mời của Tổng Thống Thiệu và lập chính phủ liên hiệp.  Nhưng ngay ngày hôm sau, 10 tháng Mười Một, 1971, giáo sư bị Việt Cộng ám sát.  Goá bụa ở tuổi 30, Jackie lãnh trách nhiệm nuôi hai con trai và gái song sinh bảy tuổi và con trai út 5 tuổi.

Hai tháng sau, chị bỏ việc dạy Pháp văn, và trở thành Giám Đốc Văn Hoá Hội Việt Mỹ (VAA,) một trung tâm song ngữ dưới sự bảo trợ của USIS (U.S. Information Services) ở Saigon.  Nơi đây, chị tổ chức những buổi thuyết trình, hội nghị, hòa nhạc, triễn lãm, và các lớp dạy nghề. Trong thời gian này, chị cũng hỗ trợ các hội phụ nữ.  Phụ nữ thời đó có từ năm đến tám đứa con họ nuôi không nổi.  Những góa phụ mà người chồng bỏ mình nơi trận mạc có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.  Qua Hội Phụ Nữ Việt Nam, chị Jackie đã giúp kêu gọi các chủ nhân trả thêm hai tuần lương cho những phụ nữ còn ở nhà nuôi con sau thời kỳ sinh sản.  Trong một nỗ lực phi thường, chị ủng hộ chương trình kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt quan trọng, vì lựa chọn khác là phá thai, đang lan tràn và nguy hiểm.  Năm 1973, chị và nhóm của chị vận động hành lang với Ủy Ban Y Tế Quốc Hội Việt Nam Cộng Hoà để thay đổi một luật cũ có từ thời thuộc địa, cho một luật mới hầu cho phép dùng thuốc ngừa thai như một phương cách trong kế hoạch hóa gia đình. Luật mới dù bị chống đối kịch liệt và cá nhân chị bị chỉ trích nặng nề, được thông qua và thi hành năm 1974.

Một giai đoạn mới của chiến tranh Việt Nam bắt đầu năm 1973 với Hòa Đàm Ba Lê, cho phép Bắc Việt Cộng Sản được cầm súng ở lại miền nam chiến đấu làm Nam Việt Nam sụp đổ vì Hoa Kỳ cúp viện trợ cho Miền Nam vào tháng Tư năm 1975.  Jackie đang làm việc trong một cơ quan Mỹ khi đó, không có lựa chọn nào khác hơn là ra đi.  Chị và các con đã qua ba trại tỵ nạn, ngủ trên ghế bố vải trong lều ở Phi Luật Tân, Guam, và Trại Pendleton, California.  Cuối cùng cả gia đình được ông Sanford McDonnell, Chủ Tịch công ty McDonnell Douglas Aircraft từng quen biết Jackie trong một chuyến thăm viếng Việt Nam năm 1966, bảo trợ và chị cùng các con đã về sống với gia đình của ông ta ở St. Louis ba tháng. 

Đại Sứ Ellsworth Bunker, một người bạn thân của vợ chồng Jackie trong sáu năm ông làm việc ở Việt Nam khuyên chị dời về Hoa Thịnh Đốn, nơi có nhiều bạn bè của chị sinh sống.  Hai trong số bạn bè của chị dành cho chị một căn nhà ở Alexandria, Virginia, và Jackie cùng các con dọn về đó vào mùa thu năm 1975.  Jackie đi làm ở Lacaze Gardner School ở Hoa Thịnh Đốn, nơi đây chị giúp nhóm người tỵ nạn Việt Nam đầu tiên học nghề mới như kế toán, dịch vụ thư ký, bấm thẻ điện tử, sửa máy truyền thanh và truyền hình.  Sau khi họ tốt nghiệp, chị giúp họ tìm được việc làm.  Một năm sau, chị lập gia đình với Lacy Wright, một viên chức ngoại giao và cùng chồng chị bắt đầu công việc ngoại giao đầu tiên, tại Tổng Lãnh Sự Quán Mỹ ở Milan, Ý Đại Lợi.  Năm 1978, họ trở về Virginia, định cư lần này ở Falls Church.

Khi ấy đang giữa cuộc khủng hoảng thuyền nhân tỵ nạn.  Hàng trăm ngàn ngưòi Việt, Khmer, và Lào đến các trại tỵ nạn ở Hong Kong, Indonesia, Mã Lai và Thái Lan.  Jackie chung tay với Hội Phụ Nữ Thái Bình Dương Á Mỹ (Asian Pacific American Women), Pan Asia, vận động hành lang với Quốc Hội Mỹ giúp đỡ và tái định cư nhiều người trong số này.  Nhiều ngàn người đã đến vùng Hoa Thịnh Đốn trong làn sóng tỵ nạn thứ hai này.  Jackie đến làm việc với Sở Xã Hội ở Quận Fairfax, rồi đến Alexandria City, giúp thuyền nhân ở Virginia tư lực cánh sinh.  Một năm sau, Jackie thiết lập Dịch Vụ Xã Hội Tỵ Nạn Đông Dương IRSS (Indochinese Refugees Social Services), một hội phi vụ lợi, và mở nhà tạm trú cho những người, trong dự án lớn chuyển tiếp khó khăn, đã bị bỏ quên.  Chị tổ chức lớp huấn nghệ dạy làm vệ sinh nhà cửa, làm vườn, sửa ống nước, và xây cất mà những chủ nhân địa phương cần tới.

Một kết quả không định trước sau 5 năm làm công việc khiêm nhượng nhưng sáng giá này đã đưa Jackie ra khỏi sụ trầm cảm của chính mình.  Từng đau khổ sống đời góa bụa, mất quê hương, mất nhà và nếp sống cũ, lòng tự trọng và tên tuổi bị tổn thương trầm trọng, chị nhận thấy những người khác cũng đau khổ như mình có khi còn hơn mình, chị tìm an ủi và sức mạnh trong công việc giúp đỡ họ vượt qua những thử thách đã từng làm đảo lộn cuộc đời chị. Chị tri ân gương sống của những người tỵ nạn ít học, ít tài và không tiền, nhưng kiên cường và sẵn lòng làm lại từ đầu bằng những công việc nhỏ mọn để sống còn.  Chị cũng rất phấn chấn thấy thái độ cởi mở đón nhận người tỵ nạn của nhiều gia đình Mỹ.

Mặc dù lòng từ bi sau những năm dài mệt mỏi cùng những dèm pha chỉ trích từ một vài phía, chuyện tỵ nạn chung cuộc là một sự thành công.  Những người tỵ nạn dần dần thiết lập được một mạng lưới hội đoàn trợ giúp nhau trong toàn quốc.  Họ lập nhà hàng ăn, tiệm làm móng tay, dịch vụ vệ sinh và làm vườn, làm công việc xây cất và rắp láp dây chuyền trong các hãng xưởng.  Ở một mức cao hơn, nhiều người trở thành bác sĩ, dược sĩ, luật sư, và nhà giáo.  Con cái họ, không biết một tiếng Anh nào lúc khởi đầu, trở thành học trò đứng nhất lớp.  Jackie nhận ra rằng làm việc trong cộng đồng của mình, giống như cá sống trong nước, là liệu pháp tốt nhất và là phương cách chắc chắn nhất để chị phục hồi cân bằng của mình.  Chậm rãi và an toàn, chị đã tìm lại được bình an cho mình. 

Ở tuổi 41, Jackie quyết định đi học lại.  Chị ghi danh ở Đại Học Georgetown và vào năm 1984, đậu bằng Cao Học về Bang Giao Quốc Tế.  Và từ năm 1985 đến 1997, chị theo chồng tới những nhiệm sở nước ngoài, nơi đó chị làm việc bán thời gian cho sứ quán Mỹ với tư cách viên chức liên lạc cộng đồng (CLO – Community Liaison Office) và trợ lý pháp lý lãnh sự quán, phỏng vấn những người xin chiếu khán.  Chị cũng gây quỹ huấn nghệ cho những phụ nữ kém may mắn và làm việc giúp đỡ trẻ em thiếu dinh dưỡng trong những hoạt động xã hội và giáo dục.  Vì công việc này, chị đuợc Thị Trưởng thành phố Kingston, Jamaica, trao tặng Chìa Khóa Danh Dự của Thành Phố năm 1995, người thứ hai được vinh dự này sau Đại Tướng Colin Powell có cha mẹ là người Jamaica. 

Nhiệm sở cuối cùng của Jackie trước khi ông xã nghỉ hưu là Ba Tây.  Từ Brasilia, chị xem đài CNN về chuyến thăm Việt Nam của Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, đi Hà Nội xin lỗi Đại Tướng Võ Nguyên Giáp vì nước Mỹ đã tham gia “một cuộc chiến sai lầm.”  Jackie muốn hỏi ông Bộ Trưởng, có phải 58.000 lính Mỹ và hàng triệu người Việt từ Bắc chí Nam đã chết một cách vô ích trong thời chiến tranh khi ông tại chức?  Bóng ma của Chiến Tranh Việt Nam trở lại với Jackie, không phải những cơn ác mộng, mà là một cuốn phim sống động quay từ từ trong óc chị.  Giữa đêm khuya hôm đó, chị mở máy vi tính và bắt đầu viết.

Kết quả là, hai năm sau, quyển Autumn Cloud:  From War Widow to American Activist, phát hành năm 2001.  Sách kể lại bốn thế hệ của gia đình Jackie qua bốn cuộc chiến: một ngàn năm đô hộ Tàu, một trăm năm thuộc địa Pháp, 5 năm bị Nhật chiếm đóng, và 10 năm quân đội Miền Nam Việt Nam và Mỹ bảo vệ xứ sở chống lại Bắc Việt Nam.  Trải nghiệm của chính chị, trong và sau cuộc chiến, là trung tâm điểm của quyển sách.  Quay lại Virginia mùa thu năm 1997, Jackie nêu lên vấn đề của nạn buôn người, được khơi dậy từ một mẩu tin trên eBay tìm khách mua các cô gái trẻ Việt Nam với giá $4.500 Mk mỗi cô.  Chị bắt đầu vận động hành lang Quốc Hội Mỹ và chung tay với Bộ Ngoại Giao Mỹ về Nạn Buôn Người để họ làm việc với chính phủ Việt Nam hầu truy tố bọn buôn người cũng như để bảo vệ những công nhân Việt Nam bị gởi ra nước ngoài làm việc như nô lệ và bị nô lệ tình dục.  Như một phần trong nỗ lực này, Jackie thấy cần nói lên việc chính phủ Việt Nam xuất cảng lao động sang nước ngoài, những công nhân này cuối cùng bị bóc lột sức lao động trong các xưởng may dài giờ, các nhà chứa gái điếm, và những vấn đề liên quan của “cô dâu” bán cho đàn ông Đài Loan, Trung Quốc, Mã Lai, và Thái Lan.  Nạn buôn người khi đó được nhìn nhận như một phần của doanh nghiệp tội ác lớn thứ ba trên thế giới, sau ma túy và khí giới.  Jackie tổ chức hội nghị về nạn buôn người tại ThượngViện Mỹ và tại các trường đại học tại California và Pennsylvania, mời chuyên gia, viên chức địa phương, hội đoàn cộng đồng, và cơ quan truyền thông để nâng cao nhận thức về dịch tội ác đang ảnh hưởng không những đến Việt Nam mà còn đến toàn thế giới.   

Để tìm hỗ trợ cho nỗ lực chống nạn buôn người, Jackie cũng đặt tiêu điểm vào cộng đồng Á Mỹ của mình.  Chị bắt đầu viết bài cho báo Asian Fortune News trong Hoa Thịnh Đốn, trở thành nhà binh luận cho một dài truyền thanh Viêt Nam, và nói chuyện trên đài truyền hình Vietnamese American Television (VATV) và Saigon Broadcasting TV Network (SBTN-DC).  Sau ngày 9/11, Jackie tham gia dự án ở Virginia do FEMA tài trợ để cung cấp tư vấn cho người Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp bị ảnh hưởng vì đại nạn này.  Một năm sau, để giúp sức mạnh và giúp tiếng nói cho người Mỹ gốc Việt đã thành công trong sự nghiệp và kinh doanh, chị thành lập Hội Cử Tri Việt Mỹ (Vietnamese-American Voters’ Association).

Với sự giúp đỡ của những người tình nguyện, chị ghi tên cử tri tại các trung tâm mua bán, trường học, và những nơi hội họp của người Việt.  Năm 2003, tạp chí Washingtonian vinh danh chị là Washingtonian of the Year vì chị đã ghi tên được 4.000 cử tri mới trong hai năm liên tiếp.  Đại Hội Đồng Quốc Hội tiểu bang Virginia, đã hai lần vinh danh chị bằng văn bản nhìn nhận việc làm xuất chúng của chị trong những dịch vụ xã hội và hoạt động chống nạn buôn người. Nhà phát hành tạp chí Asian Fortune News yêu cầu chị viết bài về Lễ Trao Giải Thưởng Olympics của Người Cao Tuổi ở Falls Church, Virginia.  Tại đó chị đã gặp gỡ một nhóm người cao tuổi, thành viên của một cuộc thi, đang giúp vui cử toạ bằng các bài hát, bài múa.  Họ thúc đẩy chị, như một người Á Đông, dự thi cùng với 13 phụ nữ khác ̉̉từ 60 tuổi trở lên để tranh chức Hoa Hậu Ms. Virginia Senior America 2004.

 Muốn chứng tỏ rằng người Á Đông đang đóng góp văn hóa của họ vào đời sống xã hội Mỹ, chị ghi tên dự thi và chiếm giải Hoa Hậu.  Trong thời gian một năm, chị đại diện tổ chức Ms. Senior America tại Virginia, tình nguyện giúp vui giải trí tại nhà thờ, trường học, nhà thương, và trung tâm người cao tuổi.  Đó là một trong những trải nghiệm bổ ích nhất của cuộc đời ở tuổi 63, chị đã đem nụ cười điểm trên môi của không biết bao người.  Từ năm 2012 đến 2014, Jackie theo chồng đến một nhiệm sở sau khi nghỉ hưu nhận công việc của sứ quán Mỹ ở Vientiane, Lào.  Tại đây, chị làm việc với tư cách là viên chức liên lạc cộng đồng của sứ quán (CLO) và hỗ trợ sứ quán giúp trung tâm điều trị ma túy chính của Lào. 

Với những tình nguyện viên trong nhóm Women’s International Group địa phương, chị đến viếng khu dành cho phụ nữ tại trung tâm, một số người đã từng dùng methamphethamine, và tổ chức hàng tuần các lớp dạy nấu ăn, may vá, làm bánh, vẽ, vũ line dancing, và thiền.  Giờ đây, trở về Virginia, chị có chương trình hàng tuần phát đi toàn quốc của VATV (Vietnamese American Television), “The Voice of Vietnamese Voters” bình luận về chính sách của chính quyền gồm có di dân, thương mại, giáo dục và sức khỏe.  Chị năng động dấn thân làm việc với CAPAVA (Coalition for Asian Pacific Americans in Virginia), mà chị là hội viên Hội Đồng Quản Trị không liên tục, trong 20 năm qua.  CAPAVA ủng hộ lợi ích về xã hội, kinh tế, văn hóa và thương mại cho người Mỹ gốc Châu Á-Thái Bình Dương.  Như một dịch vụ công cộng trong mùa đại dịch, nhóm CAPAVA gây quỹ và quyên tặng hàng ngàn khẩu trang và thiết bị bảo hộ cá nhân các loại cho bệnh viện và nhân viên chống dịch tuyến đầu ở miền bắc Virginia.  Jackie chịu trách nhiệm khu vực Alexandria, nơi chị cư ngụ, và đã tự mình đem khẩu trang giao cho cảnh sát và nhân viên chữa cháy địa phương.  CAPAVA đã tặng 35.000 khẩu trang cho vùng Hoa Thịnh Đốn.  Quyển tự truyện Autumn Cloud của chị do nhà Capital Books, Inc. phát hành năm 2001.  Phiên bản bìa mềm được phát hành một năm sau.  Chị là một trong 15 người được vinh danh Washingtonian of the Year 2003 của Tạp Chí Washingtonian cho 27 năm hoạt động cộng đồng liên tục và tham gia sinh hoạt công dân của chị.

Sheila Switzer AAFSW Program Chair & Foreign-Born Spouse State Liaison

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Luật sư đề nghị Công an giải thích vì sao 4 bút lục bị “mất tích” mà trước đó ông không được tiếp cận – Bão Lửa

 

TAMBAO.NET

The New York Times và The Washington Post – Cả hai đều nhận hàng triệu đô la từ Bắc Kinh.

Image may contain: text
No photo description available.

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

The New York Times và The Washington Post – Cả hai đều nhận hàng triệu đô la từ Bắc Kinh.

Bắc Kinh đã hủ hóa hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: The New York Times và The Washington Post.

Những tờ báo chính thống, trung thực và đáng đọc: The Washington Times, The Epoch Times và các nguồn truyền thông khác không bị Bắc Kinh hủ hóa.

*

Hôm 29/1/2020, Trong buổi thuyết trình trên đồi Capitol (Quốc Hội – Hoa Kỳ), Dr. John Lenczowski cho biết:

Các hoạt động gây ảnh hưởng và tuyên truyền của Trung Cộng.

(Trích):

“… Trung Cộng có các hoạt động tuyên truyền lớn đang diễn ra trên khắp thế giới…

” Họ có khoảng 3,000 đài truyền hình, 2,500 đài phát thanh. Họ kiểm soát hàng ngàn tờ báo, ít nhất sáu tờ báo tiếng Anh. Họ đang phát sóng bên trong đất nước này, từ trong biên giới của chúng ta và từ Mexico . Họ đang lũng đoạn phương tiện truyền thông của chúng ta.

” Chúng ta đều biết về các kỹ thuật truyền thông để báo cáo từ các nước toàn trị. Đó là trường hợp ở Liên Xô , ở Tàu cũng vậy, các nhà báo của chúng ta không viết về những gì tôi gọi là bốn điều cấm kỵ.

” Bốn điều cấm kỵ là gì ?

1- Đừng viết về quân đội Trung Cộng ;
2- Đừng viết về gián điệp của họ ;
3- Đừng viết về các biện pháp thi hành, tuyên truyền và hoạt động lén lút của họ ; và
4- Đừng viết về vi phạm nhân quyền của họ.

” Nếu bạn tự kiểm duyệt tất cả những điều đó, nếu bạn không làm gì quá xúc phạm đối với các quan chức ở Bắc Kinh thì họ có thể để bạn báo cáo những điều tầm thường hơn nhiều.

” Xin nói thêm là các học giả Mỹ cũng tự kiểm duyệt, bởi vì nếu họ viết về bất kỳ điều gì trong bốn điều cấm kỵ quá mức xúc phạm tới Bắc Kinh, thì họ sẽ không được cấp thị thực vào Trung Cộng. Vì vậy, cả nhà báo và các học giả đều bị chi phối bởi hạn chế thị thực và các hạn chế tiếp cận khác.

” Hiển nhiên các phóng viên sẽ phải tự kiểm duyệt, nếu họ không muốn văn phòng ở Bắc Kinh của họ bị đóng cửa. Nhưng những người giỏi nhất sau đó sẽ về Mỹ và có lẽ viết một cuốn sách với sự thật mà họ không thể báo cáo trên các trang nhất của tờ New York Times và The Washington Post.

The New York Times và The Washington Post.

” Nói về hai tờ báo đó, hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: Cả hai đều lấy hàng triệu đô la từ Bộ Tuyên truyền Bắc Kinh để đăng tải phụ trương định kỳ China Watch, tài liệu tuyên truyền cố hữu của Cộng sản. China Watch ảnh hưởng mọi người đến mức nào? Tôi không dám nói chính xác. Tôi nghĩ rằng nó phải ảnh hưởng một phần nào.

” Điều nó thực sự làm là nó khai thác sức mạnh của phương tiện truyền thông để bỏ qua, và cơ bản là nó mua chuộc giới truyền thông để tuân thủ bốn điều cấm kị.

” Các phương tiện truyền thông lớn khác, chẳng hạn như các mạng truyền hình, cũng làm theo New York Times và The Washington Post.

” Nếu quý vị muốn tìm hiểu bất cứ điều gì về một số vấn đề trong số bốn chủ đề cấm kỵ này, quý vị phải đọc The Washington Times, The Epoch Times và các nguồn truyền thông khác không bị Bắc Kinh hủ hóa.”.

Tiến sĩ John Lenczowski

Hình 1&2: Bắc Kinh đã hủ hóa hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: The New York Times và The Washington Post.

========

Mời các bạn cùng đọc toàn văn buổi thuyết trình của Tiến sĩ John Lenczowski

CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ ĐỂ ĐÁP ỨNG MỐI ĐE DỌA NGÀY CÀNG TĂNG CỦA TRUNG CỘNG.

*** U.S. STRATEGY FOR THE GROWING CHINA THREAT.

Wed, January 29, 2020
Dr. John Lenczowski
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1194569527549080&id=100009881313541

CHUYỆN MAY RỦI…

CHUYỆN MAY RỦI…

Trong cuộc sống có những may rủi, họa phúc khó lường. Đời tôi có những cái may mắn bất ngờ mà cho đến nay, tôi không thể nào quên được.

Nhớ mùa hè năm 1969, trong một lần tôi chở người bạn đến Thị xã Tân An trên đường Phan Đình Phùng để sao y giấy tờ. Tôi sơ ý đánh rơi cái bóp đựng giấy tờ tùy thân gồm: căn cước, giấy lược giải cá nhân và giấy hoản dịch vì lý do học vấn.

Sau năm 1968, lệnh tổng động viên ban hành. Nếu không có lý do hoãn dịch thì lứa tuổi của tôi phải trình diện nhập ngũ. Tôi hoang mang và lo sợ vô cùng. Tôi chạy tìm khắp nơi mà không kiếm được cái bóp. Lúc này, những góc đường thường có quân cảnh và cảnh sát chốt chặn để kiểm tra giấy tờ.

Tôi làm tờ cớ mất giấy tờ tùy thân và không biết làm cách nào để xin lại bản chánh. Mấy ngày liền, tôi ở suốt trong nhà. Đến tối chủ nhật, có cuộc hành quân cảnh sát kiểm tra tờ khai gia đình. Một chú cảnh sát kiểm tra tờ khai gia đình, khi thấy tuổi của tôi phải trình diện nhập ngũ đã hỏi về giấy hoãn dịch. Tôi trình bày đã bị mất và chờ xin cấp lại. Chú yêu cầu tôi về bốt để xác minh.

Trong lúc chuẩn bị về bốt thì có chú cảnh sát khác bước vào. Khi nghe tên tôi và giấy tờ tùy thân bị mất. Chú bảo: cách đây vài ngày, chú trực ở phòng thì có người nhặt được cái bóp của tôi và đưa cho chú. Bóp không có tiền, chỉ có giấy tờ tùy thân. Thật vô cùng may mắn và tôi đã vỡ òa niềm vui. Tôi không phải về bót và sáng mai được hẹn lên nhận lại giấy tờ.

Lần may mắn thứ 2 cũng thật hy hữu.

Năm 1970, tôi đi học bằng xe Honda SS 66 và dựng phía sau khu văn phòng của trường Nông Lâm Súc Cần Thơ. Tôi khóa xe bằng cái ổ khóa vòng. Thời này, nhà trường không có bãi giữ xe cho học sinh, nên học sinh tự bảo quản xe của mình. Đến buổi chiều tan học thì phát hiện chiếc xe bị lấy cắp. Chiếc khóa vòng bị cắt ra và vứt lại. Giai đoạn này, phong trào ăn cắp xe Honda nở rộ và việc tìm kiếm thì vô vọng. Tôi làm tờ cớ và gởi ở phòng cảnh sát tư pháp trong tâm trạng không có chút hi vọng gì. Chủ yếu để tránh trách nhiệm khi xe được sử dụng trong cướp giật hay khủng bố.

Hai tháng sau, cảnh sát tư pháp gởi giấy mời tôi lên và thông báo xe tôi đã được tìm thấy và tạm giữ ở Long Xuyên. Tôi mang giấy tờ xe đi Long Xuyên, đến cuộc cảnh sát thì được biết: Trước đó nửa tháng, có người thanh niên chạy chiếc xe của tôi va chạm trong giao thông.

Anh ta đã để lại xe vì quên giấy tờ xe ở nhà nhưng sau đó thì anh ta biến mất. Cảnh sát nghi là xe bị lấy cắp đã lập biên bản và gởi xe vào kho tang vật của Tòa Án. Cảnh sát cũng thông báo cho các Tỉnh trong cả nước.

Được sự hướng dẫn của cuộc cảnh sát. Tôi tìm qua Tòa Án Long Xuyên. Đến phòng Lục Sự. Vì là buổi chiều, gần hết giờ làm việc. Chú nhân viên phòng Lục sự hẹn tiếp tôi vào sáng ngày mai. Tôi trình bày với chú là tôi ở Cần Thơ và đang đi học nên nhờ chú tìm giúp hồ sơ. Sau nửa giờ tìm kiếm, với khuôn mặt lấm tấm mồ hôi, chú đã tìm được hồ sơ mà cuộc cảnh sát chuyển qua.

Nhìn sự tận tụy của chú mà tôi xúc động vô cùng. Chú hẹn tôi 1 tuần sau trở lại. Đúng hẹn, tôi trở lại và nhận chiếc xe của mình. Chiếc xe nguyên vẹn, chỉ bị lấy mất nắp bình xăng. Tôi đem xe ra ngoài tu bổ lại và thong dong chạy về Cần Thơ.

Bây giờ, ngồi ngẫm lại: sao nền hành chánh ngày xưa gọn nhẹ mà hiệu quả. Không như, hôm nay, đi đâu cũng nghe than: Hành là Chính.

ĐỖ TRÍ

Image may contain: 1 person, motorcycle and outdoor

CHẾT VÌ MONG MUỐN CÔNG BẰNG…

Image may contain: text
Image may contain: one or more people and text

8 SÀI GÒN

CHẾT VÌ MONG MUỐN CÔNG BẰNG…

Vì sao một nền tư pháp minh bạch, công bằng, rõ ràng lại quan trọng đến thế? Chiều nay, một người đàn ông ở Bình Phước đã bị kết án 3 năm tù vì bị quy lỗi trong một vụ tai nạn giao thông năm 2017.

Vụ tai nạn đã khiến bạn anh-người anh chở sau xe mất. Sau khi tòa phúc thẩm tuyên án, anh đã post lên Facebook cá nhân anh về việc muốn cái chết của mình thức tỉnh nền tư pháp Bình Phước. Sau đó, anh đi đến tòa án, lên tầng 2, nhảy xuống. Anh chọn cái chết thay vì việc chấp nhận 3 năm tù giam.

Sự minh bạch, công bằng của nền tư pháp sẽ không chỉ giúp không có án oan mà còn cứu người ta khỏi những cái chết từ bên trong như thế. Những cái chết ẩn nấp, cựa quậy, được nuôi dưỡng bằng sự tuyệt vọng về việc không tìm thấy sự công bằng, chân lý, không thể chấp nhận được sự phi lý của sự việc.

Mong muốn công bằng, mong muốn được hiểu đúng, mong muốn được lắng nghe luôn là điều cần có ở mỗi con người.

Chấp nhận 3 năm tù trong một bản án không thuyết phục được mình – sống mãi với sự oan khuất không cách giãi bày, và cái chết, điều nào dễ hơn?

Đa phần, có lẽ, như tôi, sẽ chọn sống. Như một con người, tôi thương tiếc quãng đời bị đánh mất của anh, như một con người, tôi cảm phục sự lựa chọn của anh.

THUAN VUONG TRAN

***

KÊU OAN VÀ NHẢY LẦU TỰ SÁT…

Sáng nay, Toà án tỉnh Bình Phước tuyên y án sơ thẩm kết tội một người đàn ông.

Mặc dù Luật sư của anh đã động viên và tính soạn đơn kiến nghị lên cấp cao hơn, nhưng có lẽ vì niềm tin nhỏ nhoi vào nền tư pháp đã cạn kiệt, nên trong một buổi chiều buồn thảm, anh đã đến chính trụ sở của Toà án tỉnh, nơi vừa kết thúc phiên toà để gieo mình từ trên cao xuống.

Tự chấm dứt cuộc đời mình và mang theo nỗi tuyệt vọng ngay dưới bóng của thần công lý..

Tôi không thể biết, nên không thể nói được bản án của anh là đúng hay sai. Nhưng tôi tin vào lời nói cuối cùng của anh đã nhắn lại cuộc đời này.

Mức án cho anh ấy chỉ có 3 năm tù, và tôi tin rằng số năm tù đó không phải là nguyên nhân, mà chính sự cạn kiệt niềm tin và sự thất vọng quá lớn đã đẩy anh đến quyết định đau lòng đó.

Xin cho một người vừa nằm xuống, thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang.

Mong ai đó thức tỉnh…

LS NGUYỄN HÀ LUÂN

***

NẾU MỘT CÁI CHẾT CỦA TÔI LÀM THỨC TỈNH NỀN TƯ PHÁP TỈNH BÌNH PHƯỚC THÌ CŨNG ĐÁNG LẮM CHỚ!

Đây là status cuối cùng của anh Lương Hữu Phước, sau đó anh đến trụ sở tòa án Bình Phước và nhảy lầu tử vong.

Bị tòa sơ thẩm kết án 3 năm cho án tai nạn giao thông, anh Lương Hữu Phước kháng cáo kêu oan lên tòa tỉnh Bình Phước.

Hôm nay 29/5 Tòa tỉnh xử phiên phúc thẩm, bác kháng cáo, y án sơ thẩm3 năm, nhưng chưa thi hành án ngay.

Luật sư Dương Vĩnh Tuyến chia sẻ: Sáng nay, ngày 29/5/ 2020, sau khi nghe Hội đồng xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên án, tôi cùng anh về văn phòng của tôi. Anh em đang tính soạn đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm bản án và thứ 2 đi nộp. Sau đó, anh về nhà.

Chiều nay, tôi đến tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài để chụp hồ sơ vụ án 39,5 mét vuông đất một mạng người xảy ra ở khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài mấy năm về trước, nay tòa thụ lý lại do Tái thẩm hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm.

Vừa ra khỏi tòa, điện thoại reo và nhận hung tin: Chiều nay, anh Lương Hữu Phước đã đến trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước và nhảy lầu…

Người thân của anh vừa báo cho tôi: Anh đã chết. Tôi vô Facebook của anh thì thấy anh đăng dòng trạng thái …!

Ai di đà!

HOÀNG LINH

***

CÁI CHẾT CỦA NIỀM TIN…

Đây là một cái chết có thật: bị cáo chỉ bị tuyên án với mức 3 năm tù giam. Và ông đã nhảy từ trên tầng cao xuống mặt đất để kết thúc cuộc đời mình.

Nhưng vấn đề là họ không còn niềm tin vào “công lý” vừa được dành cho ông, và vì thế, ông đã lựa chọn cái chết ngay tại chính toà án, nơi mà đã tuyên án cho ông, với lời nhắn: cái chết này có làm cho toà án ở đây thức tỉnh lương tâm của mình không.

Có cái chết, đơn giản, chỉ để chứng minh rằng, bản án mà họ phải nhận là hoàn toàn phi lý. Vì thế, nó là một nỗi oan ức có tính nhục nhã mà không thể chịu đựng.

Sống với oan ức, chỉ 3 năm, nghe về mặt thời gian thì có lẽ nó có thể là một định lượng không quá lớn so với án tử hình hay chung thân. Nhưng ở đây là lựa chọn giữa sống với danh dự và tự do chính đáng của con người có lương tâm. Chứ không thể chịu nhục để sống với sự tù đày mà họ nhận thấy là sự oan nghiệt vô lối.

Sinh mạng của một con người đã bị quyết định bởi bản án chỉ 3 năm tù giam. Nhưng đó là sức nặng của sự bất công, chứ không còn là mức hình phạt của tội danh nữa.

Những ngôi trường nào cũng dạy về công lý và toà án nào cũng trang hoàng cho mình những chiếc áo thụng đẹp đẽ. Nhưng trước giá công lý, chẳng ai có đủ sự trong sạch trong tâm hồn để nói về “lẽ công bình”.

Xin được chia buồn với ông và gia đình. Cái chết của ông, có thể chưa chắc đã thức tỉnh được những thẩm phán mà ông muốn nhắn nhủ, nhưng nó đã thức tỉnh những con người đang dửng dưng sống qua ngày ngoài xã hội.

Luật sư LÊ VĂN LUÂN

Hội Từ Thiện Arpan

Hội Từ Thiện Arpan

– Chào anh Nguyễn Bình. Nhận email của anh, tôi ngạc nhiên lắm. Có thật là anh đã đến một vùng đất mà nơi đó không hề có dấu tích của các phương tiện tối thiểu của cuộc sống, mà theo như anh viết, anh đã sống những chuỗi ngày thật bình yên nơi ấy? – Mình hiện là nha sĩ tại Orange County. Năm nay là lần đầu tiên mình tham gia làm công tác thiện nguyện với hội Arpan. Mấy năm trước thì mình thường đi với SAPVN. Nhờ vậy mà mình có dịp đi qua nhiều nước lắm, thấy và học được nhiều điều hay, cũng như tích lũy cho mình rất nhiều kinh nghiệm sống…
– Anh có thể nói sơ về hội Arpan?
– Arpan Global Charity là một tổ chức y tế từ thiện quốc tế được thành lập năm 2005. Theo tiếng Ấn Độ thì Arpan có nghĩa là “cho tặng”. Đây là một tổ chức thiện nguyện gồm các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá cùng các thiện nguyện viên. Hằng năm Arpan đều được các nước kém hay đang phát triển mời đến để giúp đỡ các ca chẩn đoán và khám bệnh, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn tại nước ấy. Mọi thành viên, như mình chẳng hạn, phải tự túc vé máy bay. Nước “mời” mình đến chỉ lo về vấn đề ăn ở. 
– Nếu ai muốn tham gia cộng tác với Hội Arpan thì liên lạc ở đâu?
– Bạn có thể vào website:http://www.arpanglobal.org/. Các chuyến đi sắp tới của hội sẽ là chuyến đi Lagos tại nước Nigeria vào tháng 10-2012 hay đi Ecuador vào năm tới 2013.
– Thế trong email anh có nói về vùng đất nào đó với cái tên lạ lắm. Anh Bình có thể nói rõ hơn được không?
– À, mình vừa đi Ấn Độ về. Chuyến đi của mình dài 2 tuần. Tuần đầu mình đi theo hội Arpan đến thành phố Deesa thuộc miền Đông Ấn Độ. Năm nay thì hội đến đây theo lời mời của bệnh viện Mahadma Gandhi Lincoln Memorial. Tuần lễ thứ nhì thì mình tự mua vé bay qua Calcutta, một thành phố rất nhỏ ở miền Tây Ấn Độ.
– Anh Bình kể cho mọi người về hai tuần “du lịch” kỳ thú này được không anh?

Tình nguyện viên làm gì?

– Tuần lễ đầu tiên tụi mình chia xẻ kinh nghiệm với các nha sĩ Ấn Độ, trả lời các câu hỏi nếu có, và giúp khám, chẩn đoán những trường hợp phức tạp. Các bác sĩ trong đoàn thì thực hiện các ca mổ xương cho các trẻ em bị ung thư xương. Các dược sĩ thì hướng dẫn cách tổ chức một hiệu thuốc như thế nào để phân phát thuốc mau lẹ và hiệu quả nhất. Sau đó cả đoàn đi thăm cô nhi viện các trẻ em bị bệnh AIDS, thăm nơi nuôi dưỡng trẻ em tàn tật, bại liệt và đến thăm các trung tâm chăm sóc người già bị bỏ rơi cùng các trẻ mồ côi.

 – Thế anh có nhận xét gì về những người chuyên môn (bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá) tại Deesa?

– Họ rất giỏi. Không phải mình cứ nghĩ rằng Ấn Độ là nước nghèo mà thành phần “professional” của họ có trình độ thấp đâu. Họ luôn luôn trau dồi học hỏi thêm qua internet nên trình độ họ khá lắm. Chỉ có điều là họ còn thiếu dụng cụ và tỉ lệ thành phần này, so với số lượng dân, còn quá ít.
– Thành phố Deesa thì sao?
– Deesa là một thành phố nhỏ ở miền Đông Ấn Độ. Cứ tưởng tượng như một thị xã ở miền Tây Việt Nam mình vậy. Nhưng họ được trang bị một số dụng cụ khá đầy đủ hơn Việt Nam. Năm 2009, mình có về Việt Nam khám, chẩn đoán và điều trị cho đồng bào miền Tây ở mấy trạm xá nhà quê. Mình còn nhớ, mới chạng vạng 4 giờ chiều là không còn thấy gì cả, vì trời tối, mà không điện nước, cả lửa cũng không, thử hỏi làm sao tiệt trùng dụng cụ? Nên đành đi về vậy. Còn ở Deesa thì khá hơn, có các phương tiện đó.
– Ngoài đường phố thì thế nào?
– Đường nào cũng có 2 lối (lane) cho xe chạy. Thành phố có một bệnh viện lớn với một bác sĩ gia đình thường trực. Mỗi tuần thì có vài bác sĩ chuyên môn từ các thành phố lớn về đây khám và chữa trị các trường hợp đặc biệt.
– Thế còn tuần lễ thứ hai tại Calculta?

Giấc mơ của Mẹ…

– Đúng ra thì mình chỉ tháp tùng theo hội Arpan có một tuần mà thôi. Nhưng chuyện là thế này, ông anh mình bị bệnh. Mình nghe nói nhiều về thành phố Calcutta – nơi có ngôi mộ Mẹ Teresa, nên mới mua vé bay qua đó, mục đích là đến viếng mộ Mẹ và cầu nguyện cho anh. Thật sự mà nói, tuần lễ thứ hai đã để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng mình. Nhắc đến Ấn Độ thì phải nói tới hai ngôi mộ lớn. Thứ nhất là ngôi mộ Taj Mahal để tưởng niệm một bà hoàng hậu rất được đức vua sủng ái từ ngàn năm trước của đất nước này. Đây được xếp loại là một trong các kỳ quan của thế giới. Thứ hai là mộ của Mẹ Teresa ở thành phố Calcutta thuộc miền Tây Ấn Độ. Mình theo đạo Công giáo, và có được nghe câu chuyện về giấc mơ của Mẹ. Có một đêm Mẹ Teresa nằm mơ. Mẹ thấy Đức Chúa Trời hiện đến và giao cho Mẹ một trọng trách là tìm đến và giúp đỡ những kẻ nghèo nhất trong những người cùng khổ (The poorest of the poor). Thức dậy Mẹ đã suy nghĩ rất nhiều và sau cùng đã chọn thành phố Calcutta vì nơi đây là miền đất của những người nghèo khổ nhất, bất hạnh nhất và bị bỏ rơi nhất tại Ấn Độ. Mẹ Teresa đã sáng lập ra hội từ thiện Missionary Sisters of Charity. Ban đầu thì hội chỉ gồm các nữ tu, nhưng sau này thì đã có thêm sự đóng góp của các thiện nguyện viên trên toàn thế giới. Mình đến đây ban đầu chỉ có ý định cầu nguyện cho người anh, nhưng ngay hôm đầu tiên mình lại quyết định tham gia công tác thiện nguyện một tuần – thử xem sao. Thật buồn cười, khi mới đến, mình tự giới thiệu ngay, ra vẻ oai vệ lắm: “Tôi tên Bình Nguyễn. Nha sĩ, tôi đến từ Mỹ”. Mình cứ tưởng các nữ tu và mọi người sẽ xuýt xoa khi nghe mình đến từ Mỹ, lại là nha sĩ nữa chứ. Ai dè. Không một ai quan tâm điều đó. Họ nhỏ nhẹ hỏi rằng mình dự định sẽ ở đây bao lâu, để họ tiện phân công việc… 

– Tại sao thời gian lưu lại là cần thiết khi sắp xếp công việc hở anh?
– Mình được giải thích như thế này. Có những bé gái nhỏ bị hiếp dâm chẳng hạn, chắc chắn là tâm hồn các bé bị hoảng loạn và lo sợ cùng cực. Cho nên những người giúp chăm sóc cho bé phải là người nữ, và phải ở đó từ một tháng trở lên, chứ cứ vài ba ngày mà lại thay đổi người thì ảnh hưởng đến tâm thần các cháu bé lắm. Có tiếp xúc một thời gian đủ dài với cùng một bệnh nhân thì mới tạo được sự ổn định thần kinh và giúp gây tình thân trong lòng các em, như thế việc điều trị mới dễ có kết quả.
– Thế anh Bình ở một tuần thì công việc của anh là gì?
– Mỗi sáng thức dậy thì ai ai cũng được phát một lát bánh mì, một trái chuối nhỏ và một ly nước. Rồi ai nấy đều được giao công việc giặt đồ. “Đồ” ở đây bao gồm quần áo dơ, tã dính cứt của các người bệnh. Khi đó mình bị “shock” lắm, vì không ngờ nha sĩ ở Mỹ qua mà lại bị giao đi giặt tã cứt. Nhưng sau đó mình hiểu ra rằng với các nữ tu thì trước mặt Thượng Đế, mọi người đều bình đẳng như nhau.

Những người cùng khổ…

Người nghèo nơi đây nhiều lắm, đa số là các trẻ cô nhi, tật nguyền, bại liệt, mắc bệnh Down, nói chung là thành phần bị gia đình, xã hội ruồng rẫy, bỏ rơi và các “sơ” (soeurs – theo tiếng Pháp) lượm về chăm sóc. Bên đây người ta gọi thành phần này là “untouchable”, có nghĩa là “không ma nào thèm đụng tới nữa”, là thành phần “vứt đi”, tức là họ đã hoàn toàn sống bên lề rìa của xã hội. Mình còn nhớ ngày đầu tiên “bị” phải giặt đồ, lại không hề có máy giặt, mà phải giặt hoàn toàn bằng tay, mình gớm quá, kinh hãi quá đi. Mình xắn ống quần lên, giậm hai bàn chân lên đống đồ dơ bẩn trong thau, mà miệng thì cứ ợ lên ợ xuống vì… nhợn. Mới vừa giậm mấy cái thôi thì nước trong thau đã đen thùi lùi như… nước cống. Mình hãi quá, nhảy ra khỏi thau, lật đật đổ nước ra, múc nước mới vô, giậm giậm vài cái nữa thì hỡi ôi… lại đen ngòm và hôi rình. Chính vào giây phút đó, mình muốn khóc. Thượng Đế ơi, tại sao có những miền đất mà con người ta nghèo đến vậy và cơ cực đến vậy? Nơi đây, các sơ ai cũng chỉ có hai bộ đồ luân phiên để mặc, một đôi dép, vậy thôi. Không nhà, không tiền, không điện thoại, không cell, không computer, không laptop, không son phấn, không cả cái bàn, cái ghế để ngồi. Họ giống nhau ở một điểm duy nhất là “không có gì để lo, để nắm, để giữ, hay để sợ mất”. Các nữ tu cũng như mình vậy, họ cũng phải giặt mấy thau tả dính đầy cứt đái, nhưng họ khác mình, vì họ làm điều “dơ bẩn” đó từ năm này qua năm khác, mà họ không ợ lên ợ xuống, họ không giậm bằng chân mà thản nhiên ngồi xuống dịu dàng dùng hai bàn tay vò giặt. Mỗi sáng ai cũng đều làm công việc đó trong vòng 2 tiếng đồng hồ. 

Mất khả năng tự lo…

Sau đó mình được phân công đút các em ăn sáng. Hàng ngàn trẻ tật nguyền bại liệt được các thiện nguyện viện dìu hay bế ra một chỗ trống rất rộng, giúp các em ngồi trên dãy ghế gỗ thật dài và mớm thức ăn cho các em. Riêng khu vực mình làm thì có hơn 40 em, gái trai đều có, mù, câm điếc, tàn tật, nói chung những gì bất hạnh nhất mà chúng ta có thể nghĩ ra thì nơi đây mình đều thấy tận mắt. Hầu hết các em đều không còn tự lo cho mình được. Công việc nghe qua thì đơn giản, nhưng thật ra lại không dễ chút nào. Có khi cần hơn một tiếng đồng hồ để đút cho các em ăn xong một bát cháo nhỏ xíu. Nơi đây nghèo lắm, đồ ăn của các em không gì ngoài khoai và rau nấu nát nhừ ra như cháo. Nhiều em trông thật tội, đầu cổ cứ ngoẹo sang một bên, có em bại liệt cả cột sống, cả người nhũn hết ra, và không còn điều khiển nổi một cơ phận nào trên cơ thể. Một tay mình vịn nâng đầu em lên, tay kia thì mình vừa nhấp nhấp đụng vào cằm, vào miệng, thậm chí có khi đụng nhẹ vào lưỡi để khích thích các em nuốt. Nhiều trẻ không còn khả năng nuốt, mình phải vừa đút, vừa xoa cổ lên xuống, rồi vuốt ngực cho thức ăn dễ trôi xuống, và cuối cùng xoa bụng để giúp tiêu hóa. Có lần, một em bé ọe ra trên tay mình, nhão nhoẹt. Nhưng lúc ấy mình không cảm thấy ghê nữa, mà trong thâm tâm, mình lại cám ơn Thượng Đế là mình còn biết nuốt, biết nhai, biết ăn và còn cái hạnh phúc cảm nhận được thế nào là món ăn ngon hay dở.

Tâm tư thay đổi…

Ngày một, ngày hai trôi qua, mình bắt đầu nhận ra nhiều điều thay đổi trong tâm mình. Mỗi sáng, mình đứng nhìn dòng người dài ngoằn đang xếp hàng để được phân chia công tác. Có một hôm mình tò mò đứng đếm, trên 200 người mỗi ngày. Họ từ khắp nơi đổ về đây để làm từ thiện. Mình hỏi thăm, thì có người đến từ Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Chile, Brazil, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật, vân vân… và họ thuộc đủ mọi tôn giáo khác nhau. Ai ai cũng đều tự móc tiền túi ra để mua vé đến nơi này làm việc thiện. Mình đã tự hỏi rằng: “Tại sao? Công việc của các nữ tu trong Hội của Mẹ Teresa có gì mà hấp dẫn đến vậy? Hội chưa hề bao giờ quảng cáo, kêu gọi đóng góp, xin tiền… hay gì gì cả. Thế mà mọi người vẫn biết đến và tìm về”. 

Mỗi Thứ tư đều có ngày “hướng nghiệp” (orientation day). Thành phố Calcutta có 7 cơ sở, nói cho oai chứ thật ra là 7 căn nhà được phân loại ra theo thành phần cần giúp đỡ: những bệnh nhân sắp chết, những người mắc bệnh AIDS, những trẻ em không có khả năng tự lo, những trẻ tật nguyền nhưng còn biết chút chút, vân vân…

Bí quyết sống vui?

Tối về mình không ngủ được, cứ tự hỏi tại sao trên đời có nhiều người bất hạnh đến thế và lại có nhiều người hy sinh đến vậy? Động lực nào đã giúp các sơ luôn luôn mỉm cười mỗi ngày và vui sống? Tò mò lắm, nên mình đã sống và làm theo y hệt công việc của một nữ tu hằng ngày. Bảy ngày trôi qua đã giúp mình tìm ra đáp số. Có những đến 3 phần tạo nên câu trả lời đầy đủ nhất:

1. Nguyện cầu trong cuộc sống:

Mỗi sáng sớm, các sơ đều tập trung tại nhà chính để đọc kinh và cầu nguyện. Các thiện nguyện viên đều vậy. Họ đến, không phân biệt tôn giáo, im lặng, ngồi bệt dưới đất và cùng nhau cầu nguyện. Họ cầu nguyện hết sức chân thành và liên tục trong 2 tiếng đồng hồ. Mỗi chiều sau khi xong công việc, các sơ lại họp nhau nơi đây và tiếp tục cầu nguyện trong một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi mới đi ngủ. Mình đã tham dự những buổi cầu nguyện như vậy, và lần nào mình cũng đều xúc động. Mình biết là ở trên cao, Mẹ Teresa luôn mỉm cười khi các con của Mẹ đã và đang tiếp tục làm tròn nhiệm vụ Mẹ giao. Và mình hiểu ra rằng nhờ có sự che chở ban phước lành của Ơn Trên, các sơ mới làm được những điều vĩ đại ấy.

  1. Sự đơn giản:

 Bạn cứ thử hình dung ra một buổi hội họp với hơn 200 người trong vòng 2 tiếng đồng hồ mà không hề có một tiếng phone reo? Con người ở đây sống với sự đơn giản tuyệt đối. Không cell phone, không máy fax, không wifi, không computer, không laptop, không internet, cũng không cần texting hay iPod. Họ không có cả cái ghế để ngồi. Ghế của họ là sàn đất, không xi măng, không gỗ, không thảm. Bởi thế suy nghĩ của họ đơn giản hơn chúng ta nhiều lắm. Không tính toán, không lo toan, không ích kỷ, không ganh tỵ hẹp hòi, không thù hằn đố kỵ. Và vì vậy đầu óc họ cũng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm. Không sợ mất nhà, mất tiền, mất job, không sợ tai tiếng thị phi, không sợ cả cái chết dù ngày mai có đến.

  1. Niềm vui tự có:

Lúc mới tới đây mình gớm công việc giặt đồ quá đi. Đã có lúc muốn bỏ về. Nhưng khi tiếp xúc với các em, mình mới nhận ra là mình hạnh phúc hơn nhiều người lắm. Mình không phải nghèo (the poor), còn họ lại là những người nghèo khổ nhất (the poorest). Họ không ăn được, không tự đái ỉa được, không tự lo được, thì còn gì là cuộc sống. Vậy mà đã có em bé nhìn mình cười. Nụ cười vô tư và dễ thương làm sao. Mình cười, nhưng tim mình thắt lại, và lòng mình chùng hẳn đi. Liệu em có hiểu biết gì không, có cảm nhận được gì không khi tặng mình nụ cười vô tư ấy? Có một buổi chiều khi làm xong hết việc, sắp đi về ngủ thì tình cờ mình trông thấy một bông hoa nở bên một khe lạch. Mình chạy lại xem ngay, và mừng rỡ đứng ngắm thật lâu bông hoa lạ kia. Hạnh phúc và niềm vui tự đâu cứ tràn về. Mình happy quá, vì mình còn đôi mắt để nhìn, để ngắm, còn đôi chân để chạy lại xem, còn hai tai để nghe tiếng nước chảy tí tách. Và mình chợt hiểu ra rằng niềm vui không phải là những trò game trên máy tính, không phải là những bữa ăn buffet anh ách cả bụng, cũng không phải là những text message cứ trao đổi nhau mỗi ngày xoành xoạch. Đừng tính toán cho cái tôi của mình nhiều quá. Khi không tìm thì niềm vui sẽ tự đến. Bảy ngày đã mang đến cho mình biết bao là niềm vui nho nhỏ…

Vui cứ đến mỗi ngày nho nhỏ
Như từng nụ hoa đỏ mọc bên hồ
Vui cứ đến tự bao giờ chẳng rõ
Như suối nguồn trăm ngách chảy trăm nơi…


Không xin – Không từ chối…

Mình xin kể một kỷ niệm gây “shock” nữa đây. Hôm cuối cùng sắp sửa về, vì quá xúc động trước những điều tai nghe mắt thấy, mình và người bạn tìm đến gặp một nữ tu, nói lời từ biệt rồi ngỏ ý muốn đóng góp chút tiền cho hội. Sơ chỉ tay về phía mộ Mẹ Teresa và bảo tụi mình đến bỏ tiền vào thùng đó (nơi mộ Mẹ có một thùng nhỏ bằng gỗ, không hề khóa, để mọi người tùy hỉ đóng góp). Mình nói to: “Con giúp một ngàn đô!” (mà trong lòng đinh ninh rằng sơ tưởng mình tặng món tiền nhỏ nên mới bảo bỏ vào cái thùng ấy, chứ cả ngàn đô thì… lỡ ai rinh thùng đó đi luôn thì sao?). Sơ gật đầu và vẫn chỉ tay về hướng ấy. Mình lập lại lần nữa to hơn: “One thousand dollars!”. Sơ gật đầu, mỉm cười cúi chào rồi… tiếp tục rảo bước. Mình ngạc nhiên cùng cực, không lẽ nơi đây không ai tham và ăn cắp? Sau đó trên chuyến bay về lại Mỹ, mình có dịp trò chuyện với một thiện nguyện viên người Nga. Cô cho biết cô đã đến Calcutta đây là lần thứ ba. Khi mình kể lại món quà “một ngàn đô”, cô cười và giải thích: “Hội Missionary Sisters of Charity do Mẹ Teresa sáng lập có một câu phương châm, đó là: Không xin. Không từ chối (Ask for nothing. Refuse nothing). Nghĩa là: Chúng tôi không quảng cáo, không kêu gọi đóng góp. Nhưng nếu bạn có lòng, thì chúng tôi nhận tất cả những gì bạn tặng: tiền bạc, thời gian, công sức, một lời cầu nguyện, hay ngay cả một nụ cười”. Giờ nhớ lại, mình vẫn còn thấy ngượng cho danh tự xưng “nha sĩ từ Mỹ” mà mình tự khoe với mọi người, cũng như về món quà “to tát một ngàn đô” mà mình “sợ mất giùm cho các nữ tu”.
Có dịp trò chuyện với các thiện nguyện viên đến từ khắp nơi, mình đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một cô bé đến từ Trung Quốc, chừng hơn hai mươi tuổi, nói rằng cô đến đây là lần thứ hai. Mình tò mò hỏi lại: “Cô sống tại một nước cộng sản chưa đủ khổ hay sao mà còn tìm đến đây giúp đỡ?”. Cô cười: “Có đến nơi này, tôi mới biết là không nơi đâu nghèo khó và cùng cực như ở Calcutta và cũng không nơi đâu có thể tìm thấy những con người hơn cả vĩ đại như các nữ tu nơi này”.

Việt Nam- Ấn Độ: Giống và
khác?

– Câu chuyện quá hay. Nếu như so sánh giữa Việt Nam và Ấn Độ, thì anh Bình có thấy điểm gì giống và khác nhau không?
– Nhiều lắm. Cho phép mình nói về điều hay lẫn điều chưa hay nhé. Mình đã về Việt Nam, rồi lại qua Ấn Độ, nên mình chỉ có sự so sánh rất cá nhân như thế này. Tại Ấn Độ, giới chuyên môn như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ rất thiếu, vì dân số đông quá, nhưng phải nói rằng họ rất giỏi vì họ ham tìm tòi, học hỏi trên mạng, tham dự các khóa huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn từ các nước tiên tiến như Mỹ, Canada… hằng năm đều qua Ấn. Việt Nam mình thì thành phần professional tràn đầy, nhưng phẩm chất thì chưa được như Ấn. Ở xứ sở này, dường như không có nạn ăn cắp, móc túi, cò mồi, hay ép giá. Người Ấn Độ có vẻ hiền lành hơn, không thừa nước đục thả câu mà bắt nạt du khách. Mình đã về miền Tây Việt Nam, rồi nay đi thăm miền Tây lẫn miền Đông Ấn Độ, nói thật, đi ngoài đường tại thành phố Deesa hay Calcutta cho mình cái cảm giác bình an hơn ở Việt Nam nhiều lắm, mặc dầu mình rành tiếng Việt, trong khi không biết một chữ tiếng Ấn và người dân Ấn thì hầu như chỉ có một thiểu số rất ít biết bập bẹ tiếng Anh. Xứ Ấn rất nóng, nhưng mình không thấy ai ở trần hay mặc quần đùi ra đường, trong khi ở Việt Nam thì… (cười) đầy ra đấy. Phụ nữ tuy không che mặt như ở các nước Hồi giáo nhưng ăn mặc rất cổ điển và hết sức kín đáo.
Còn điều chưa hay, bạn cứ tưởng tượng xem các đường phố Việt Nam bây giờ chen chúc và kẹt xe như thế nào, thì ở Ấn Độ, mình hãy nhân lên gấp 10 lần như vậy. Người đâu mà đông khủng khiếp. Nếu ai có than phiền rằng dân Việt Nam chạy ẩu, bất chấp luật giao thông, đậu xe bừa bãi bất kể nơi nào, thì dân Ấn tệ gấp 10 lần hơn thế. Ai cằn nhằn rằng sao bây giờ ở Việt Nam rác rến đầy đường thì xin thưa, Ấn Độ dơ gấp 10 lần hơn vậy. 
Còn hai điểm nổi bật nhất mà ai đến Ấn Độ dù không cần để ý cũng nhận ra ngay. Thứ nhất phải nhắc tới Bò. Bò đâu mà đầy đường đầy sá. Quay tới quay lui bốn hướng nơi đâu cũng thấy bò. Chúng đi nhan nhản khắp nơi, và xe cộ, người đi đường phải tránh chúng. Nghe nói bò là loài thú được người dân Ấn tôn thờ.

Thứ hai phải nhắc tới Người. Dường như bên này “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”, nên không bao giờ nhìn thấy một người nam đi sát một người nữ, dù là vợ chồng hay cha con, thì nói chi đến chuyện nắm tay hay hôn hít. Ngược lại ở Việt Nam thì đầy những cảnh các cô nắm tay dung dăng dung dẻ, hay các cậu bá vai, ôm eo cười giỡn, Chính mắt mình thấy hai người đàn ông nằm sát rạt trên một chiếc xe lam, đắp chung cái mền và họ ngủ khò sung sướng. Có lẽ đó là do phong tục tập quán khác nhau ở hai nước.
 

Còn về vật giá thì trung bình một người dân lao động đi làm cả ngày quần quật cũng chưa kiếm nổi 5 Mỹ kim, trong khi một nhà trọ cho các du khách thì giá khoảng 15 Mỹ kim một ngày? Một Mỹ kim bằng 53 rupee.

Hạnh phúc xả ly…

– Thế chuyến đi Ấn Độ vừa qua đã giúp anh Bình điều gì?
– Hai tuần ở hai thành phố nhỏ nơi miền Tây và miền Đông Ấn Độ đã tặng cho mình một kinh nghiệm sống tuyệt vời. Lúc rời Mỹ, tôi cứ tưởng mình tới đó để “dạy cho người ta, ban phước cho người ra, bố thí cho người ta”. Hai tuần trôi qua,mình mới nhận ra là mình may mắn đã “học được rất nhiều từ người ta, được người ta ban phước và được người ta bố thí”. Các nữ tu và những con người cùng khổ nhất trong những người nghèo khổ đã tặng cho mình một món quà vô giá: giúp mình hiểu thế nào là Hạnh Phúc Xả Ly.Con người ta thường cho rằng hạnh phúc là “Có”: có tài sản, có quyền lực, có danh vọng, có địa vị… Khi chưa có thì muốn có, và làm đủ mọi cách để mà có. Khi có rồi thì sợ mất hay lại muốn đòi có cái khác cao hơn, mắc hơn, xịn hơn. Nếu không có thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở.

Hạnh phúc: Có và Không!

Nhưng với các nữ tu nơi đây thì “không có” là một hạnh phúc. Họ nghèo hơn chúng ta nhiều lắm, vì tài sản của họ chỉ là hai bộ đồ và hai bàn tay trắng. Nhưng họ giàu hơn chúng ta biết bao, bởi họ thật sự có trái tim và tấm lòng.Và những người bất hạnh cũng vậy. Với họ, sống được thêm một ngày đã là một niềm vui. Có những em bé mồ côi khi mình tắm cho, em ôm lấy mình bi bô câu gì đó, rồi em cười hạnh phúc. Có những ông cụ gầy giơ xương khi được phát trái chuối thì bẻ ngay một mẫu cho vào miệng móm mém nhai một cách ngon lành. Có những bà cụ già bị bỏ rơi, khi mình kéo tấm chăn lên ngực thì bà nhắm mắt ngủ ngay một giấc thật ngon. Ở quốc gia này, chẳng thấy ai cần đến thuốc an thần hay thuốc trị trầm cảm. Phải chăng sự đơn giản đã giúp tâm hồn người dân nơi đây thanh thản hơn chúng ta?

Đi hai tuần trở về, mình nghiệm ra một điều rằng: Trong cuộc sống, có những thứ “Cho đi” là “Đón nhận”. Phải chăng hạnh phúc khi “Không” chính là “Có”? Nắm giữ cho nhiều rồi khi nhắm mắt thì Có cũng thành Không…

Quà tặng cuộc sống…

– Cuối cùng thì anh Bình còn điều gì muốn chia sẻ?
– Về lại Mỹ, mình có suy nghĩ khác đi. Mình sắp xếp lại thời khóa biểu cho công việc, gia đình và cho chính bản thân. Dành thêm thời gian quan tâm đến người khác, và tự cho phép mình có những giây phút thảnh thơi – một mình, với thiên nhiên, hay… chẳng làm gì cả. Mình tập bỏ bớt các sự ham muốn, sự bám víu vật chất bên ngoài. Bớt ngồi chít chát meo, bớt đổi iPad, iPhone mỗi lúc ra mặt hàng mới. Mình cũng bớt cưng chiều các con quá đáng như xưa, dành thời gian dạy dỗ các con về giá trị thật của hạnh phúc và con người. Mình kể về hai chuyến đi này chỉ mong mọi người hiểu rằng: Ở một nơi thật xa -những góc rất khuất của cuộc đời, vẫn có những con người – tuy bất hạnh nhưng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm, tuy tay trắng nhưng lại giàu có hơn chúng ta biết bao.Nếu có thể, hãy tự thưởng cho mình hay cho con cháu một vé đi Ấn Độ, thay vì tự mua một chiếc xe mới, hay tặng cho con một cái laptop đắt tiền. Chỉ một tuần thôi, chắc chắn sẽ thay đổi hoàn toàn cái nhìn của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc trong đời. Chắc chắn đây là món quà mà mình sẽ tặng cho các con khi chúng 18 tuổi.

From: Nghia Truong