Cẩm nang cai trị: Đa đảng nhưng vẫn độc tài

Cẩm nang cai trị: Đa đảng nhưng vẫn độc tài

 Minh Tâm

Putin và người tiền nhiệm Yeltsin của mình đã thành công trong việc tạo lập một sân chơi chính trị bất bình đẳng ở Nga thời hậu Sô Viết để duy trì quyền lực của mình. Ảnh: The Daily Beast.

Putin và người tiền nhiệm Yeltsin của mình đã thành công trong việc tạo lập một sân chơi chính trị bất bình đẳng ở Nga thời hậu Sô Viết để duy trì quyền lực của mình. Ảnh: The Daily Beast. 

ShareTweet

Khi nói đến dân chủ chúng ta thường nhắc đến các cuộc bầu cử đa đảng. Tuy nhiên, bầu cử đa đảng không đồng nghĩa với dân chủ, như thực tế cho thấy ở Cambodia, Singapore hay Nga.

Có nhiều cách để người cầm quyền bóp méo các cuộc bầu cử này nhằm duy trì quyền lực, trong đó phổ biến như gian lận bầu cử và đàn áp. Tuy nhiên, các biện pháp này có thể tổn hại đến tính chính danh của người cầm quyền cả trong nước lẫn quốc tế. Thực tế thì có một yếu tố quan trọng khác, thường không được chú ý đến, song góp phần quan trọng vào việc duy trì quyền lực của người cầm quyền, đó là sự tồn tại của một sân chơi không công bằng. Chính nhờ việc tạo ra một sân chơi như vậy, người cầm quyền có thể vô hiệu hóa phe đối lập đến mức mà thậm chí họ không cần phải sử dụng đến các biện pháp đàn áp hay gian lận ở trên để duy trì quyền lực.

Bài viết dưới đây dựa trên nghiên cứu có tên “Why Democracy Needs a Level Playing Field” của hai học giả Steven Levitsky và Lucan A. Way, được công bố trên Journal of Democracy tháng 1/2010.

Vậy thế nào là một sân chơi không công bằng?

Đó là một sân chơi trong đó người cầm quyền lạm dụng quyền lực nhà nước nhằm tạo ra sự bất công trong việc tiếp cận với nguồn lực, truyền thông và luật pháp khiến cho khả năng tổ chức và cạnh tranh bầu cử của phe đối lập bị thua kém một cách đáng kể so với người cầm quyền, và qua đó giúp anh ta tiếp tục chiến thắng trong các cuộc bầu cử cũng như tiếp tục duy trì quyền lực. 

Tiếp cận không công bằng với nguồn lực

Có nhiều cách để tạo ra một sự chênh lệch bất công về nguồn lực giữa người cầm quyền và phe đối lập.

Thứ nhất, những người cầm quyền có thể chiếm đoạt trực tiếp nguồn lực nhà nước. Chẳng hạn, ở Mexico vào đầu những năm 1990, Đảng Cách mạng Thể chế (PRI) được cho đã lấy từ ngân sách nhà nước khoảng 1 tỷ USD; ở Nga, hàng chục triệu USD trong các hợp đồng chính phủ được chuyển cho chiến dịch tái cử của Boris Yeltsin vào năm 1996; và ở Cameroon, phần lớn chi phí hoạt động của đảng cầm quyền lấy từ ngân sách nhà nước. 

Thứ hai, họ có thể sử dụng các tài sản công cho mục đích phe phái của mình từ nhà cửa, phương tiện, thiết bị truyền thông, cho đến giới công chức, bao gồm các quan chức cấp thấp, lực lượng an ninh, giáo viên, và bác sĩ. 

Thứ ba, họ có thể sử dụng quyền lực nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho phe nhóm của mình. Chẳng hạn, họ có thể sử dụng tín dụng công, quyền cấp phép, tư nhân hóa, cùng các công cụ chính sách khác để làm giàu cho các doanh nghiệp của hoặc có quan hệ thân thiết với đảng cầm quyền, như ở Malaysia và Đài Loan. 

Cuối cùng, họ cũng có thể sử dụng chính sách nhà nước để trừng phạt các doanh nghiệp cung cấp tài chính cho phe đối lập. Chẳng hạn, ở Ghana, các doanh nhân ủng hộ cho đảng đối lập “bị đưa vào danh sách đen, không nhận được các hợp đồng của chính phủ, cũng như công việc kinh doanh của họ thường bị phá hoại”. Ở Cambodia, đảng đối lập của Sam Rainsy (SRP) “bị kiệt quệ tài chính khi chính quyền nói với cộng đồng doanh nghiệp rằng việc tài trợ cho đảng này đồng nghĩa với tự sát về kinh tế.” 

Những biện pháp trên đã tạo ra khoảng cách lớn về nguồn lực giữa người cầm quyền và phe đối lập. Chẳng hạn, các đảng cầm quyền ở Malaysia và Đài Loan đã xây dựng các đế chế kinh doanh nhiều tỷ USD. Với tài sản ước tính khoảng 3 tỷ USD, Quốc Dân Đảng (KMT) được coi là “đảng giàu nhất trên thế giới, không tính các nước cộng sản”; và giữa những năm 1990, ngân sách hàng năm của nó là 450 triệu USD, lớn gấp 50 lần so với ngân sách của đảng đối lập, Đảng Dân Tiến (DPP). Ở Mexico, PRI được cho là đã chi nhiều gấp 20 lần chi tiêu tổng cộng của hai đối thủ chính trong cuộc bầu cử quốc hội vào năm 1994; còn ở Nga năm 1996, chiến dịch của Yeltsin chi nhiều gấp khoảng 30 lần so với lượng tiền mà phe đối lập được phép. Ở nhiều nước, như Belarus, Gabon, Malawi, Nga vào những năm 2000, phe đối lập nghèo túng đến mức nhiều đảng phải giải tán hoặc sáp nhập vào đảng cầm quyền. 

Tiếp cận không công bằng với truyền thông

Tiếp cận với truyền thông cũng bị bóp méo theo một vài cách có lợi cho người cầm quyền.

Thứ nhất, ở nhiều nước, bao gồm Botswana, Malawi, Mozambique, và Senegal, nhà nước độc quyền về truyền hình. Dù báo chí độc lập được tự do phát hành, song trong những nước có thu nhập thấp, chúng chỉ tiếp cận được một số lượng nhỏ người dân đô thị. Điều này khiến cho truyền thông nhà nước – vốn luôn thiên vị cho đảng cầm quyền – là nguồn thông tin chính cho người dân nông thôn.

Thứ hai, trong một số trường hợp khác, truyền thông tư nhân tồn tại nhưng có quan hệ mật thiết với đảng cầm quyền, thông qua ủy quyền sở hữu, hối lộ, và các biện pháp tham nhũng khác. Ví dụ, ở Peru vào cuối những năm 1990, những người chủ các đài truyền hình ký “hợp đồng” với các quan chức nhà nước, trong đó họ nhận được khoảng 1,5 triệu USD mỗi tháng để đổi lại việc giới hạn đưa tin về các đảng đối lập. Ở Malaysia, tất cả các báo đài lớn nằm dưới sự kiểm soát của liên minh cầm quyền. 

Nhìn chung, trong các nước như vậy, việc đưa tin về bầu cử là cực kỳ phiến diện. Một nghiên cứu về việc đưa tin trên truyền hình trong cuộc bầu cử ở Peru năm 2000 cho thấy phần đưa tin về Tổng thống Alberto Fujimori chiếm tới 90%, trong khi tin tức về phe đối lập đa phần là tiêu cực. Tương tự, trong cuộc bầu cử năm 1996 ở Nga, người đứng đầu đài NTV (một đài truyền hình tư nhân lớn) phục vụ với tư cách giám đốc truyền thông cho Yeltsin, trong khi các hãng truyền thông khác từ chối bán thời lượng quảng cáo cho Đảng Cộng sản đối lập. 

Tiếp cận không công bằng với luật pháp

Trong nhiều chế độ độc tài cạnh tranh, người cầm quyền không chỉ kiểm soát tư pháp, cơ quan quản lý bầu cử, và các tổ chức phân xử độc lập khác (thông qua hối lộ, đe dọa, và nhét người của mình vào trong các cơ quan này), họ còn sử dụng chúng để chống lại phe đối lập một cách có hệ thống. Việc kiểm soát mang tính chính trị đối với hệ thống luật pháp cho phép người cầm quyền vi phạm các thủ tục dân chủ mà không bị truy tố. Nó cũng đảm bảo rằng các tranh cãi lớn về bầu cử, pháp lý cùng nhiều thứ khác sẽ được giải quyết có lợi cho đảng cầm quyền.

Ví dụ như ở Malaysia năm 1988, một hệ thống tư pháp với đa số người của đảng cầm quyền đảm bảo rằng sự ly khai trong đảng được giải quyết có lợi cho Thủ tướng Mahathir, và một thập kỷ sau đó nó cũng cho phép Mahathir bỏ tù đối thủ chính của mình, Anwar Ibrahim, bằng một bản án mơ hồ. Hay ở Belarus vào năm 1996, Tòa án Hiến pháp ngăn chặn tiến trình luận tội Tổng thống Lukashenko do phe đối lập khởi xướng, tạo thuận lợi cho ông cố kết sự cai trị độc tài của mình. Còn ở Venezuela vào năm 2003, cơ quan quản lý bầu cử bác bỏ việc thu thập chữ ký kêu gọi trưng cầu ý dân chống lại Chavez, cũng như trì hoãn bầu cử đủ lâu để Chavez có thể tái xây dựng sự ủng hộ cho mình, và vì vậy tiếp tục nắm quyền trong cuộc bầu cử kế tiếp.

Đâu là hệ quả của sân chơi không công bằng?

Dù một sân chơi không công bằng thường khó thấy hơn so với các gian lận hay biện pháp đàn áp, song nó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng, không muốn nói là lớn hơn, đến sự cạnh tranh dân chủ.

Thứ nhất, nơi đâu mà phe đối lập không thể tiếp cận với các nguồn lực và truyền thông, thì ngay cả các cuộc bầu cử trong sạch họ cũng khó có thể chiến thắng. Chẳng hạn, dù cuộc bầu cử tổng thống Mexico vào năm 2004 không có gian lận, song lợi thế về nguồn lực và truyền thông của PRI quá lớn, đến nỗi Jorge Castaneda so sánh cuộc đua với “một trận đá bóng trong đó một đội thì có 11 cầu thủ cộng với trọng tài, còn đội kia thì chỉ có sáu hoặc bảy cầu thủ.” Cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 1996  – dù được thừa nhận rộng rãi là dân chủ – song với sự chênh lệch nguồn lực lớn khiến cho DPP cảm thấy “mình không bao giờ có thể chiến thắng”. 

Thứ hai, một sân chơi không công bằng cũng làm xói mòn khả năng của phe đối lập trong việc tổ chức giữa các cuộc bầu cử. Việc không có nguồn lực, cũng như khả năng tiếp cận với truyền thông đại chúng, các đảng đối lập thường không thể duy trì tổ chức ở quy mô quốc gia. Ngoài ra, việc không có khả năng cung cấp sự bảo trợ hay các khuyến khích vật chất khác cho các thành viên, khiến các đảng này thường xuyên đối mặt với sự đảo ngũ, khi các nhà lãnh đạo và các nhà hoạt động bỏ đảng và tham gia vào đảng cầm quyền nhằm tìm kiếm các lợi ích, quan hệ, cùng những đảm bảo hơn cho tương lai. Thực vậy, các đảng đối lập thường không có tổ chức, bản sắc, và sự ủng hộ của cử tri đủ mạnh, và chính sự sống còn của nó luôn bị đe dọa khi nhiều đảng đối lập nổi tiếng đã suy yếu theo thời gian, như Yabloko ở Nga, Semangat ở Malaysia, Mặt trận Dân chủ Xã hội ở Cameroon. 

Đối mặt với ám ảnh sụp đổ như vậy, các đảng đối lập thường xem việc tham gia vào liên minh cầm quyền là giải pháp khả thi duy nhất, như các đảng đối lập chính ở Cambodia, Cameroon, Nga, và Ukraine đã ngừng đối kháng, và hợp tác với đảng cầm quyền, nhằm đảm bảo nguồn lực cần thiết để duy trì sự tồn tại. Và khi các đảng “thực dụng” như vậy tham gia vào liên minh cầm quyền còn các đảng “kiên định” thì suy yếu, lực lượng đối lập giảm đi trông thấy. Chẳng hạn, ở Gabon, các đảng đối lập là một thách thức lớn đối với Tổng thống Omar Bongo vào những năm 1990, nhưng trong thập kỷ tiếp theo, Bongo sử dụng nguồn lực từ dầu khí để thu nạp gần như tất cả các đảng này. Vào năm 2005, 29 trong số 35 đảng đăng ký tham gia vào liên minh cầm quyền, trong khi các đảng không làm như vậy đối mặt với việc mất đi nguồn lực tài chính và người ủng hộ. Ở Cameroon cuối những năm 1990, hầu hết các đảng đối lập lựa chọn hợp tác với chính quyền của Tổng thống Paul Biya khiến cho phe đối lập chỉ còn một mình đảng SDF, vốn đang cạn kiệt nguồn lực, suy yếu đi.

Nhìn chung, hệ quả của sự chênh lệch bất công về nguồn lực này là rõ ràng, khi các đảng cầm quyền chiến thắng trong hầu hết các cuộc bầu cử. 

Đâu là nguồn gốc của sân chơi không công bằng?

Sân chơi không công bằng có xu hướng xuất hiện trong các điều kiện tạo thuận lợi cho người cầm quyền kiểm soát các thiết chế và nguồn lực xã hội quan trọng.

Thứ nhất, các điều kiện như vậy thường tồn tại trong các nước với sự chuyển đổi không hoàn tất từ chế độ độc đảng. Do các chế độ này đồng nhất đảng với nhà nước, khiến cho nhà nước bị chính trị hóa cao độ trong đó công chức cũng là đảng viên, tài sản quốc gia (doanh nghiệp, cơ quan truyền thông) cũng là tài sản của đảng, và các nguồn lực nhà nước được sử dụng một cách có hệ thống cho đảng. Sự chuyển đổi sang hệ thống đa đảng – thường đi cùng với một sự thay đổi về hiến pháp – không nhất thiết làm thay đổi thực tế trên. Ở các nước như Cambodia, Cameroon, Serbia, và Đài Loan vào đầu những năm 1990, sự chấm dứt của chế độ độc đảng không phá bỏ hữu hiệu mối liên kết giữa đảng và nhà nước, và điều này giúp người cầm quyền hậu chuyển đổi tái cố kết quyền lực của mình.

Thứ hai, một nguồn khác của sân chơi không công bằng là tài nguyên thiên nhiên. Nơi đâu mà việc xuất khẩu dầu khí cùng các tài nguyên thiên nhiên khác là nguồn thu nhập chính của quốc gia, thì việc kiểm soát được chúng, đồng nghĩa với việc kiểm soát mọi nguồn lực trong xã hội. Trong bối cảnh như vậy, như ở Botswana, Gabon, và Venezuela, việc xây dựng và duy trì phe đối lập là một thách thức lớn. 

Và cuối cùng, sân chơi không công bằng thường đến từ sự kém phát triển. Trong hoàn cảnh nghèo đói lan rộng và khu vực kinh tế tư nhân yếu, thì các nguồn lực tài chính, tổ chức và con người có sẵn cho phe đối lập thường rất hạn chế. Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế tư nhân như vậy, thì công việc, hợp đồng, và các nguồn lực khác trong lĩnh vực công có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp chính quyền thu nạp các chính trị gia, doanh nhân, và các nhà hoạt động, khiến họ không tham gia vào phe đối lập. Bên cạnh đó, nền kinh tế kém phát triển cũng ảnh hưởng đến sự tiếp cận truyền thông. Trong các xã hội nghèo đói, sản lượng báo giấy thường rất thấp, khiến cho phát thanh và truyền hình là nguồn thông tin duy nhất đối với đa số người dân. Và ở các nước  Mali, Moldova, Mozambique, chỉ tồn tại truyền thông do nhà nước sở hữu vào những năm 1990 và 2000. Ngay cả ở những nơi mà truyền thông tư nhân tồn tại, chúng thường phụ thuộc vào nhà nước, bởi quảng cáo của chính quyền là nguồn thu chính của họ. 

Làm sao để sân chơi trở nên công bằng?

Có nhiều tác nhân khiến cho sân chơi trở nên công bằng hơn. 

Thứ nhất, đến từ chính sự chia rẽ trong giới chóp bu cai trị. Khi người cầm quyền quá mạnh và dễ dàng thao túng sân chơi, thì thách thức khả dĩ nhất đối với quyền lực của anh ta đến từ bên trong. Không giống như các chính trị gia đối lập, các quan chức hàng đầu của chính quyền có thể tiếp cận với nhà nước và truyền thông. Khi các quan chức này chuyển sang phe đối lập, việc tiếp cận của họ với các nguồn lực như vậy có thể giúp làm giảm bớt một cách hữu hiệu lợi thế của người cầm quyền. Chẳng hạn, ở Ukraine, Viktor Yushchenko, người từng là thủ tướng dưới quyền Kuchma, đã tranh cử tổng thống thành công với sự giúp sức của các chính trị gia và giới đầu sỏ, những người cùng với Yushchenko, rời bỏ chế độ của Kuchma. 

Thứ hai, đến từ sự tham gia của phe đối lập vào liên minh nắm quyền. Việc thiếu cơ hội tiếp cận với tài chính và truyền thông, khiến các đảng và chính trị gia đối lập ở Armenia, Cambodia, Mali, Senegal, và Serbia áp dụng chiến lược này. Hành động như vậy thường bị xem là cơ hội, và đối mặt với rủi ro bị bất tín nhiệm bởi những người ủng hộ. Tuy nhiên, khi mà sân chơi bị bóp méo, thì việc tham gia vào liên minh cầm quyền có thể là cách duy nhất giúp duy trì sự sống còn. Khi cho phép mình cộng tác với liên minh cầm quyền ngày hôm nay, phe đối lập có thể có được các nguồn lực cần thiết cho sự sống còn, và cạnh tranh vào ngày mai. Chiến lược này đôi khi thành công: như ở Cameroon, đảng PDS của Wade tham gia chính phủ liên minh vào các năm 1991 và 1995, nhờ vậy tiếp cận được với các nguồn lực quan trọng. Tuy các đảng đối lập “thuần túy” không còn, song PDS trở nên mạnh hơn, và sau đó Wade giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2000.

Thứ ba, các tác nhân quốc tế có thể mang lại sự khác biệt. Sự hỗ trợ bên ngoài đúng lúc giúp các lực lượng đối lập vượt qua ảnh hưởng tiêu cực của sân chơi không công bằng. Chẳng hạn, ở Nicaragua năm 1990, sự hỗ trợ của Mỹ cho phép liên minh đối lập thuê nhân viên, mua phương tiện vận động, mở văn phòng trên khắp cả nước, và chạy một chiến dịch quy mô quốc gia – tất cả những điều này góp phần quan trọng trong chiến thắng của nó. Trong các nước nghèo, nơi mà chỉ một số phương tiện đi lại hay một số đài truyền thông nông thôn có thể mang lại sự khác biệt lớn, thì sự hỗ trợ bên ngoài trong việc làm phẳng sân chơi không đòi hỏi nhiều tiền. Bằng cách cho phép các nhóm đối lập vươn tới cử tri trên khắp cả nước, ngay cả những sự hỗ trợ khiêm tốn nhất cũng có thể gia tăng cơ hội thắng cử của các đảng này. 

Thứ tư, dù các trường hợp trên cho thấy người đương nhiệm có thể bị đánh bại ngay cả trong một sân chơi không công bằng, thì chúng không thực sự giúp làm phẳng sân chơi. Kết quả, sự chuyển giao quyền lực trong các trường hợp như vậy thường không thực sự mang đến dân chủ. Ở Belarus, Ukraine, và Zambia trong những năm 1990, hay Georgia, Kenya, và Senegal trong những năm 2000, sân chơi không công bằng vẫn tiếp tục tồn tại sau chuyển đổi, và các chính quyền kế nhiệm không thực sự là dân chủ.

Do đó, để dân chủ hóa thực sự, thường đòi hỏi các biện pháp tích cực nhằm mở rộng tiếp cận với nguồn lực và truyền thông, như đảm bảo tài chính công cho các đảng chính trị, cùng các quy định tăng cường sự độc lập của truyền thông. Chẳng hạn, ở Mexico, cải cách về tài chính và truyền thông thành công trong việc làm phẳng sân chơi sau năm 1996. Ngoài ra, và có lẽ là quan trọng nhất, đó phải thúc đẩy một nền kinh tế tư nhân phát triển. Bởi một nền kinh tế như vậy sẽ mở rộng nguồn lực sẵn có cho các đảng đối lập, cũng như tạo ra và duy trì cấu trúc truyền thông đa nguyên, qua đó giảm bớt tác động lạm dụng nhà nước của người cầm quyền. Chẳng hạn, ở Mexico và Đài Loan, phát triển kinh tế tạo ra một nền kinh tế tư nhân ngày càng độc lập và mạnh mẽ, qua đó cung cấp nguồn lực tài chính cho phe đối lập. Và vì vậy, dù PRI và KMT tiếp tục lạm dụng nhà nước trong những năm 1990s, song tác động của sự lạm dụng này giảm đi trong những thập kỷ gần đây.

Bulgaria ký thỏa thuận 5G với Mỹ, loại các công ty Trung Quốc

 

Bulgaria theo chân các nước Balkan khác ký một thỏa thuận với Hoa Kỳ về an ninh mạng không dây tốc độ cao nhắm mục đích loại trừ các nhà cung cấp phần cứng Trung Quốc.

Bulgaria tham gia cùng với Bắc Macedonia và Kosovo, hai quốc gia láng giềng cũng đã ký thỏa thuận an ninh “Mạng lưới sạch” vào thứ Sáu 23/10.

Đây là một phần trong nỗ lực của chính quyền của Tổng thống Trump nhằm loại trừ hãng công nghệ khổng lồ Huawei và các công ty Trung Quốc khác trong các mạng 5G.

Các quan chức chính phủ Hoa Kỳ đã và đang dẫn đầu một chiến dịch trên khắp châu Âu và các nơi khác chống lại việc trao hợp đồng cho Huawei, hãng này bị đưa vào danh sách đen vì gây ra mối đe dọa đối với an ninh quốc gia, cũng như vì hãng sử dụng công nghệ của mình để do thám hộ chính phủ Trung Quốc.

Trung Quốc đưa ra lập luận rằng nỗ lực của Hoa Kỳ có động cơ là những lo ngại về thương mại.

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sofia cho biết Bulgaria “tham gia một liên minh ngày càng đông đảo gồm các quốc gia và công ty cam kết bảo vệ mạng 5G của họ khỏi các nhà cung cấp không đáng tin cậy”.

Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ chuyên trách tăng trưởng kinh tế Keith Krach nói trong một video của chính phủ Mỹ ghi lại lễ ký kết hôm 23/10 với Bulgaria rằng thỏa thuận này rất quan trọng đối với an ninh quốc gia, sự thịnh vượng kinh tế và sự ổn định trong khu vực.

(AP)

Bulgaria ký thỏa thuận 5G với Mỹ, loại các công ty Trung Quốc

VOATIENGVIET.COM

Bulgaria ký thỏa thuận 5G với Mỹ, loại các công ty Trung Quốc

Bulgaria theo chân các nước Balkan khác ký một thỏa thuận với H

Việt Nam trả tự do sớm 10 năm cho Việt kiều Mỹ bị cáo buộc “hoạt động lật đổ”

 

Việt Nam trả tự do sớm 10 năm cho Việt kiều Mỹ bị cáo buộc “hoạt động lật đổ”

Ông Michael Phương Minh Nguyễn (Michael Phuong Nguyen) một người Mỹ gốc Việt bị chính quyền Việt Nam tuyên án 12 năm tù giam với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đã đoàn tụ với gia đình ở bang California, Hoa Kỳ vào chiều thứ Năm ngày 22-10-2020 trong tình trạng sức khoẻ bình thường.

Ông Mark Robert, em rể ông Michael Phương Minh Nguyễn, xác nhận thông tin này với Đài Á Châu Tự Do qua tin nhắn vào ngày 24-10-2020.

Ông Michael Phương Minh Nguyễn bị bắt vào ngày 7-7-2018 sau các cuộc biểu tình chống luật Đặc khu và An ninh mạng – là người bị tuyên án nặng nhất trong 3 người bị cáo buộc cùng tội danh vào tháng 6-2019.

Ông Michael được trả tự do khi đã ngồi tù khoảng 2 năm 3 tháng, trong khi hai thanh niên Việt Nam còn lại là Trần Long Phi và Huỳnh Đức Thanh Bình vẫn phải ngồi tù với thời hạn 8 năm tù và 10 năm tù.

Việc trả tự do cho ông Michael trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ là một hành động khá bất ngờ khi ngay trước đó đã bắt giữ nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng Phạm Đoan Trang chỉ vài giờ sau cuộc Đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ.

Không rõ vì sao chính quyền Việt Nam lại trả tự do cho ông Michael Phương Minh Nguyễn. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện vẫn chưa đưa ra bình luận gì về việc này.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xác định, vào năm 2018, ông Michael Phương Minh Nguyễn từ Hoa Kỳ về Việt Nam để lập nhóm “Quốc nội quật khởi” nhằm lật đổ chính quyền.

Theo cáo trạng, kế hoạch của những người trong nhóm là biểu tình kết hợp với kẹt xe, dự định lôi kéo 100 người biểu tình.

Cáo trạng cũng quy kết những người này đã mua sắm vũ khí để chống trả lại cơ quan chức năng, chuẩn bị lương thực và nơi lẩn trốn để sử dụng trong thời gian dài.

Vợ ông Michael Phương Minh Nguyễn là bà Helen Nguyễn đã từng điều trần trước Quốc hội Mỹ về tình trạng của chồng bà bị giam giữ và xét xử ở Việt Nam, bày tỏ lo lắng vì chồng bà đã không có được thủ tục tố tụng chính đáng.

Nhiều Dân biểu Mỹ cũng đã lên tiếng phản đối vụ bắt giữ và kết án tù ông Michael Phương Minh Nguyễn của chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Mỹ gây sức ép lên phía Việt Nam để trả tự do cho ông Michael Phương Minh Nguyễn.

Dân biểu Alan Lowenthal, người đã từng nhiều lần lên tiếng cùng các Dân biểu khác về trường hợp ông Michael, sau phiên sơ thẩm hồi tháng 6/2019 cũng ra thông cáo báo chí, cho rằng Việt Nam kết án nặng nề công dân Mỹ vì muốn răn đe những người Mỹ gốc Việt khác có ý định về Việt Nam truyền đạt những tư tưởng mà Cộng sản Việt Nam cho là “cực đoan” như dân chủ và nhân quyền.

Bạn nghĩ sao về thông tin này?

#RFAVietnamese #MichaelPhuongMinhNguyen #MichaelPhuongNguyen #Vietnam #VietnamHumanRights #HuynhducThanhBinh #TranLongPhi #Thelucthudich

Image may contain: 1 person

3 thói quen giúp bạn luôn lạc quan mỗi ngày

 Một trong những câu hỏi thông thường mọi người hay hỏi tôi là làm cách nào để có thể trở nên lạc quan hơn.

Vậy nên hôm nay tôi sẽ chia sẻ 3 thói quen hàng ngày đã giúp tôi giữ sự lạc quan trong hầu hết mọi trường hợp…

M.TRITHUCVN.ORG

3 thói quen giúp bạn luôn lạc quan mỗi ngày – Trí Thức VN

Một trong những câu hỏi thông thường mọi người hay hỏi tôi là làm cách nào để có thể trở nên lạc quan hơn.Vậy nên hôm nay tôi sẽ chia sẻ 3 thói quen…

3 thói quen giúp bạn luôn lạc quan mỗi ngày - Trí Thức VN
M.TRITHUCVN.ORG

SỰ HÌNH THÀNH LIÊN MINH “DOANH NGHIỆP LÂM TẶC VÀ QUAN CHỨC TỈNH”

Đỗ Ngà

SỰ HÌNH THÀNH LIÊN MINH “DOANH NGHIỆP LÂM TẶC VÀ QUAN CHỨC TỈNH”

Đỗ Ngà

Chạy theo chỉ tiêu kinh tế mà không quan tâm gì đến hệ lụy phát sinh về môi trường, xã hội là căn bệnh trầm kha của chế độ này. Nó tiêm nhiễm từ trung ương đến địa phương. Bản chất của ĐCS là bổ nhiệm quan chức lung tung (CS gọi là luân chuyển cán bộ). Nhiệm kỳ này họ bổ anh nọ về làm bí thư tỉnh 5 năm, sau đó họ kéo người ta về bộ làm bộ trưởng 5 năm, và sau làm bộ trưởng 5 năm thì đẩy về ban bí thư vv… chính sự bổ nhiệm loạn xạ như thế này nó tạo nên tâm lý “không chắc mình có thể ngồi đủ lâu để ra chính sách lớn” nên hầu hết các quan chức hình thành tư duy nhiệm kỳ kiểu “ăn xổi ở thì” như chúng ta đã và đang chứng kiến. Đã nói đến tư duy nhiệm kỳ là nói đến tư duy chỉ biết làm điều gì có lợi trước mắt để lấy thành tích còn hậu quả thì không quan tâm nên những gì có hại cho môi trường họ đều bất chấp.

Chính sách bổ nhiệm loạn xạ ấy là sai lầm một thì chính sách cho phép tỉnh quyền phê duyệt thủy điện nhỏ thì có thể nói đây là sai lầm mười. Chính sách này chẳng khác nào trao cỗ máy phá rừng về cho các quan cấp tỉnh cả. Vì sao tôi nói như vậy? Vì như ta biết, tại các tỉnh miền núi – nơi mà không có môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư như những tỉnh hoặc thành phố duyên hải thì quan chức tỉnh chỉ còn cách mang rừng ra làm mồi nhử để thu hút những nhà đầu tư. Từ đó họ hút những “doanh nghiệp lâm tặc” về đây làm dự án “thủy điện”. Điều này nó mang lại cho quan chức tỉnh nhiều cái lợi trước mắt: Cái lợi thứ nhất là chỉ tiêu kinh tế tăng lên, và đó được xem như điểm cộng để được trung ương ưu ái; Cái lợi thứ nhì, doanh nghiệp lâm tặc được phép phá rừng lấy gỗ sau đó lại quả cho quan chức. Từ đó, quan chức giàu có từ tài nguyên rừng quốc gia để vừa có tiền rủng rỉnh hối lộ trung ương mà tiến thân hoặc lo cho con cái du học và định cư.

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn cho biết thì con sông Rào Trăng dài chưa tới 30 km nhưng phải cõng trên mình nó 4 bậc thủy điện. Riêng với thủy điện Rào Trăng 3 thì theo lời tiến sĩ Trịnh Xuân Hòa -Phó viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho biết vào năm 2019, đơn vị đã điều tra hiện trạng trượt lở tại huyện Phong Điền, trong đó có khu vực thủy điện Rào Trăng 3 với tỷ lệ 1:50.000. Kết quả điều tra cho thấy tất cả các điểm trượt đều xảy ra khi có mưa hoặc trước đó có mưa lớn kéo dài; thống kê có 40/42 điểm trượt xảy ra tại taluy – sườn nhân tạo. Ấy vậy mà quan chức tỉnh Thừa Thiên Huế phớt lờ để dự án mà vẫn cứ tiếp tục và hậu quả cho đến hôm nay thì ai cũng thấy. Với quan chức tỉnh Thừa Thiên Huế thì sinh mạng dân là cỏ rác, chỉ thủy điện là “có ích” cho họ mà thôi.

Một ví dụ khác: Công ty Cổ phần Tập đoàn Xây dựng Thăng Long (gọi tắt là Công ty Thăng Long) có trụ sở ở huyện xã Thách Hòa, huyện Thạch Thất (Hà Nội) là một doanh nghiệp đăng ký 50 ngành ghề kinh doanh, trong đó có lắp đặt hệ thống điện (mã ngành 43210); Xây dựng các công trình kỹ thuật dân dụng” (mã ngành 42900); Khai thác gỗ (mã ngành 02210); Khai thác lâm sản khác trừ gỗ (mã ngành 02220); Thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác (mã ngành 02300); Hoạt động dịch vụ lâm nghiệp” (mã ngành 02400); Cưa xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (mã ngành 1610), Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác (mã ngành 16210)… nhưng trong đó hoàn toàn không có chức năng “xây dựng và khai thác thủy điện”. Ấy vậy mà năm 2016, công ty này được tỉnh Cao Bằng giao cho công ty Thăng Long này xây dựng 4 thủy điện, đó là: thủy điện Bản Ngà, xã Đình Phùng (huyện Bảo Lạc); thủy điện Bản Chiếu (huyện Nguyên Bình), thủy điện Bạch Đằng (huyện Hòa An); thủy điện Hồng Nam (huyện Hòa An).

Một công ty có chức năng khai thác rừng và chế biến gỗ và hoàn toàn không có chức năng xây dựng và khai thác thủy điện nhưng lại làm chủ đầu tư hàng loạt dự án thủy điện thì chúng ta cũng đủ hiểu mục đích của họ là gì. Sự liên kết giữa “doanh nghiệp lâm tặc” và quan chức tỉnh nó hình thành nên nhóm lợi ích “quyền lực-phá hoại” sống cộng sinh tương trợ lẫn nhau. Doanh nghiệp lâm tặc lại quả lớn cho quan chức, quan chức bảo kê cho danh nghiệp đầu tư trái ngành và hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để làm dự án. Được biết riêng dự án thủy điện Bạch Đằng có tổng vốn đầu tư là 176 tỷ đồng thì công ty Thăng Long được duyệt vay đến 125 tỷ đồng. Với 51 tỷ đồng của công ty bỏ ra ấy thì tiền khai thác gỗ của dự án dư khả năng bù vào rồi. Như vậy thì rõ ràng ở đây không phải tỉnh giúp các công ty đầu tư thủy điện tay không bắt giặc là gì? Mà giúp thế thì ắt được lại quả rất đậm thôi.

Ông bà xưa luôn dạy chúng ta rằng “dục tốc bất đạt”. Vâng! Hãy đừng bổ người lung tung mà để cho người ta quản lý một ngành hay một địa phương đủ lâu để họ có cơ hội theo đuổi một chính sách dài hơi để mang lại kết quả tốt. Với chính sách “luân chuyển cán bộ” và thêm chính sách “giao quyền phê duyệt dự án thủy điện nhỏ” cho tỉnh thì có thể nói, ĐCS đã tạo nên một cỗ máy phá hoại mà họ không hề lường trước. Với CS, cách điều hành đất nước của họ chỉ có biết “thích gì làm đó” mà không hề lường trước được hậu quả. Đã 75 năm rồi nhưng họ vẫn không hề nhận ra.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.thesaigontimes.vn/…/tu-rao-trang-3-nhin-lai…

https://infonet.vietnamnet.vn/…/chu-dau-tu-du-an-thuy…

https://baotainguyenmoitruong.vn/uu-ai-cho-doanh-nghiep…

https://www.thiennhien.net/…/uu-ai-cho-doanh-nghiep…/

Image may contain: outdoor, water and nature

TÌNH YÊU LÀ LẼ SỐNG 

TÌNH YÊU LÀ LẼ SỐNG  

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Đã có lần Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận từng nói với Bill Gate rằng: “Sự văn minh đích thực là không để ai ở lại phía sau.”  Và Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II cũng nói: “Sự văn minh đích thực là phục vụ sự sống.”  Thế nhưng, “những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”  Một thế giới quá chênh lệch giầu nghèo.  Một thế giới quá đề cao đồng tiền mà quên cả lương tri con người.  Một thế giới lấy kinh tế làm đầu nên đã làm đảo lộn biết bao thuần phong mỹ tục, và những giá trị đạo đức truyền thống của các tiền nhân.  Khoa học tiến bộ, nhưng đạo đức và phong hoá xuống cấp trầm trọng.  Sự tiến bộ của khoa học dường như đang giúp sức cho sự dữ gia tăng.  Khoa học tiến bộ đang phục vụ cho văn hoá sự chết hơn là phục vụ cho văn hoá sự sống.  Người ta tìm muôn nghìn cách thức để lừa đảo, gian manh và truỵ lạc.  Đứng trước viễn cảnh đen tối của xã hội hôm nay, Sĩ Phu Bắc Hà đã đúc kết thành bốn câu thơ:

Nhân phẩm từ đây giảm giá rồi

Chỉ còn lương thực tăng giá thôi

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực

Chân lý chân giò một giá thôi!

Một thế giới thượng vàng hạ cám đã làm lệch đi rất nhiều những giá trị của cuộc sống.  Một thế giới xem ra những nghĩa cử yêu thương thật hiếm hoi.  Đó chính là một thách đố cho người Kitô hữu chúng ta.  Liệu rằng chúng ta có dám sống triệt để giới răn mến Chúa yêu người giữa một xã hội loại trừ Thiên Chúa và thiếu thốn tình người hay không?  Liệu rằng chúng ta có dám chịu thiệt thòi để người khác hưởng thụ trên lòng quảng đại của chúng ta hay không?  Liệu rằng chúng ta có dám yêu người khi mà người ta đang chơi xấu, đang lợi dụng, đang làm hại chúng ta?  Đây là một thách đố và cũng là đòi hỏi triệt để, vì căn tính của người môn đệ Chúa là “yêu mến tha nhân như chính mình.”  Vì tình yêu là lẽ sống, là hơi thở của người Kitô hữu.  Không có tình yêu thì sức sống của người tín hữu đã không còn.  Không có lòng quảng đại thì không còn là nhân chứng cho Tin mừng Nước Trời của Chúa.  Chúng ta không thể nói yêu Chúa mà trong lòng vẫn còn thù ghét anh em của mình.  Chúng ta phải vượt lên trên lòng ích kỷ, sự hẹp hòi của nhân thế để làm chứng cho một tình yêu nhân ái, bao dung và vị tha.

Đây chính là sứ điệp mà Tin Mừng hôm nay muốn loan báo.  Chúa mời gọi chúng ta hãy yêu mến Chúa trên hết mọi sự.  Đồng thời Ngài cũng đòi buộc chúng ta phải yêu mến tha nhân như chính mình.  Chính Thầy Chí Thánh Giêsu đã làm gương cho chúng ta.  Chính Ngài khi bị treo trên thập tự giá đã giới thiệu cho nhân thế một tinh yêu tinh ròng đến nỗi “dám chết cho người mình yêu.”  Ngài đã chọn thập tự giá làm biểu tượng cho tình yêu tự hiến của mình.  Với thanh dọc, Chúa chấp nhận cực hình để tôn vinh Chúa Cha.  Với thanh ngang, Ngài muốn ôm trọn nhân loại trong tình thương của Chúa.  Người Kitô cũng được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy Giêsu khi chúng ta sống tôn vinh Chúa Cha, và yêu mến anh em như chính mình.

Chính tình yêu đó sẽ giúp chúng ta vượt thắng những tham lam bất chính, những thói hại người hại đời để tìm tư lợi riêng cho bản thân mà người đời vẫn đang sống.  Có thể là người, chúng ta cần địa vị, cần danh vọng nhưng vì lòng yêu mến Chúa chúng ta không thể bán rẻ lương tậm, không làm hại đồng loại.  Có thể chúng ta cũng cần của cải để sinh sống, nhưng vì Chúa, chúng ta biết sống quảng đại để mua lấy hạnh phúc Nước Trời.  Có thể đồng loại, vẫn mưu toan làm hại chúng ta, nhưng vì Chúa chúng ta nhịn nhục và nhẫn nại với nhau trong yêu thương và tha thứ.

Như vậy, chỉ có ở trong tình yêu Chúa, chúng ta mới dám sống yêu thương đồng loại như chính mình.  Chính nhờ tình yêu Chúa, sẽ giúp chúng ta trao ban sự sống sung mãn cho nhân thế qua những nghĩa cử yêu thương, bác ái và vị tha.  Chính tình yêu đối với Chúa, sẽ giúp chúng ta sống nhân ái và bao dung với tha nhân là hình ảnh của Ngài.

Ước gì giữa một thế giới đang băng hoại về tình người, chúng ta hãy thắp lên ngọn lửa của yêu thương, để sưởi ấm cho những ai đang cô đơn, thất vọng vì thiếu vắng tình thương, sự cảm thông và nâng đỡ của anh em.  Ước gì giữa một thế giới đang bán rẻ lương tri, người Kitô hữu hãy biết sống tôn trọng lẫn nhau, biết sống cho tình người cao quý, hơn là những của cải vật chất tầm thường.  Ước gì người Kitô hữu chúng ta, đừng vì danh lợi thú mà đánh mất nhân phẩm con người là hình ảnh Thiên Chúa.  Ước gì giữa một xã hội mà chân lý bị vùi giập, chúng ta dám sống cho sự thật, cho dẫu rằng, có bị nghi kỵ, hiểu lầm, kết án và tẩy chay.  Giữa một thế giới mà người ta có thể nhân danh quyền lợi của mình để giết hại người khác một cách phi nhân, ác đức, đặc biệt là các thai nhi vô tội, chúng ta hãy sống theo gương Thầy Giêsu dám chết cho người minh yêu, dám sống mình vì mọi người, và dám trở nên mọi sự cho mọi người như Thầy Giêsu.

Nguyện xin Chúa là tình yêu, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim yêu thương của Chúa.  Amen!

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

(Trích trong ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)

From: Langthangchieutim

httpv://www.youtube.com/watch?v=M6OstB6eRKo

Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống, Sẽ Ước Mong Chi? Kịp Làm Gì?-Cha Micae Phạm Quang Hồng

KỀN KỀN ĐANG CANH MỒI

KỀN KỀN ĐANG CANH MỒI

Đỗ Ngà

Theo Điều 5, Nghị định 64/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định: ngoài Mặt trận Tổ quốc, Hội chữ thập đỏ, cơ quan báo chí, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thì không một tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ. Nói cho dễ hiểu thì nghị định này cấm nhà hảo tâm cứu đói cứu ngặt cho người dân đang gánh chịu thiên tai. Tuy là văn bản dưới luật, nhưng chính quyền CS hoàn toàn có thể dựa vào nghị định này buộc tội những ai mà “tự ý làm từ thiện”.

Trong bài viết “Giấy Phép Từ Thiện” của tác giả Nguyễn Minh Đức đăng trên báo Vnexpress có yêu cầu dẹp bỏ giấy phép con là cái nghị định 64/2008/NĐ-CP khai thông hàng từ thiện để người dân được nhận đầy đủ và nhanh chóng. Đề nghị này rõ ràng vừa hợp tình vừa hợp lý, ấy vậy mà ngay ngày hôm nay ông Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương tổ chức, giám sát việc vận động quyên góp hỗ trợ, bảo đảm theo Nghị định 64/2008/NĐ-CP. Hay nói đơn giản, Nguyễn Xuân Phúc quyết dùng giấy phép con này chặn đường cứu trợ của của những nhà hảo tâm muốn trực tiếp đưa đến người dân gặp nạn.

Có người cho rằng, trong cái Nghị định 64/2008/NĐ-CP có cho phép “quỹ xã hội, quỹ từ thiện” làm từ thiện chứ không chỉ Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Chữ Thập Đỏ và cơ quan báo chí, mà “quỹ xã hội, quỹ từ thiện” ấy là người dân có thể lập nên. Đúng! Quỹ này đúng nghĩa là người dân tự lập nhưng không dễ. Để ngăn cản người dân tự lập quỹ này thì chính phủ đã ra thêm một giấy phép con nữa, đó chính là Nghị định 93/2019/NĐ-CP. Và trong nghị định này họ đã dựng những rào cản như sau:

Rào cản thứ nhất là quy định số tiền tối thiểu trong quỹ. Theo khoản 2 điều điều 14 thì quỹ hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh: 6.500.000.000 (sáu tỷ năm trăm triệu đồng); Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp tỉnh: 1.300.000.000 (một tỷ ba trăm triệu đồng); Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp huyện: 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu đồng); Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp xã: 25.000.000 (hai mươi lăm triệu đồng). Như vậy để cứu trợ đồng bào các tỉnh miền trung thì quy định tối thiểu phải là 6,5 tỷ đồng mới được cho lập quỹ. Theo nguyên tắc khi có giấy phép thành lập quỹ mới có thể kêu gọi quyên góp, vậy số tiền 6,5 tỷ này phải do những thành viên sáng lập quỹ góp vào vì nó là yêu cầu phải có trước khi xin giấy phép lập quỹ. Với số lớn như vậy thì bao nhiêu người đủ khả năng bỏ ra để lập?

Rào cản thứ nhì đó là thủ tục thành lập quỹ. Theo khoản 2 điều 11 của nghị định này thì tối thiểu phải có 3 người mới sáng lập được quỹ. Vậy nếu bạn rất giàu, chỉ một mình bạn có dư 6,5 tỷ để lập quỹ thì nếu có muốn, bạn cũng không thể tự thành lập được. Làm từ thiện dưới xã hội CS quả là không dễ. Chưa hết, theo Điều 17 quy định chính quyền có quyền ngâm hồ sơ xin phép thành lập quỹ đến 40 ngày. Kiểu này thì dù có tiền, đủ người, đủ thủ tục mà bị ngâm đến 40 ngày thì xem như dân đã chết đói.

Như đã nói, nghị định là loại giấy phép con dùng để cản chân việc thực thi luật pháp. Theo nguyên tắc, nhà nước chỉ được phép làm những luật cho phép, còn nhân dân thì có quyền làm bất cứ điều gì luật không cấm. Như vậy việc làm từ thiện “tự phát” ấy nếu căng theo luật là không vi phạm, người dân hoàn toàn có quyền vì luật không cấm. Tuy nhiên không như ở các nước dân chủ, nơi có tòa án bảo hiến sẽ có nhiệm vụ bác bỏ những sắc lệnh hành pháp vi hiến hay phạm luật thì Việt Nam lại không có. Thực chất, nghị định ở chính quyền CS nó thuộc loại văn bản dưới luật tựa như sắc lệnh hành pháp xứ dân chủ thôi, nhưng khác ở chỗ nghị định bị thả nổi không ai xét đến tính chất phạm pháp hay vi hiến của nó cả. Mà chính phủ thì hằng ngày vẫn cứ điều hành xã hội bằng thứ văn bản dưới luật ấy, vì vậy có thể nói Nghị định nó luôn là lưỡi đao giơ lên sẵn sàng “phập” xuống cổ người nào mà chính phủ muốn triệt hạ. Vậy nên, khi Thủy Tiên đã quyên góp được một số tiền khổng lồ mà quên xin phép chính quyền, thì rõ ràng cô ta vẫn luôn trong tình trạng “cổ nằm dưới đao” của chính quyền này.

Sẽ không có “phản động” nào hại được Thủy Tiên nếu Thủy Tiên cứ minh bạch thu chi số tiền mà những nhà đóng góp đã ủy thác. Về điều này tôi tin Thủy Tiên hoàn toàn có khả năng. Điều đáng nói là 2 lưỡi đao gồm Nghị định 64/2008/NĐ-CP và Nghị định 93/2019/NĐ-CP đang kề trên gáy cô ấy kìa. Nó là một rủi ro rất lớn. Hiện nay đã xuất hiện kền kền đang muốn kéo 80% số tiền cô đang giữ về có các hội đoàn thuộc sự quản lý của chính quyền. Và mới đây trên mạng đã xuất hiện văn bản của chính quyền muốn gom tiền cứu trợ về cho Mặt Trận Tổ Quốc và Hội Chữ Thập Đỏ. Điều này cho thấy kền kền đang đảo quanh cục tiền mà Thủy Tiên đang giữ. Chúng nó sẽ rỉa nếu có cơ hội. Hiện nay cả xã hội đang hướng về Thủy Tiên, nhất cử nhất động của cô đều được soi rất kỹ và tất nhiên nhất cử nhất động của bầy kền kền cũng được nhân dân để mắt tới, chính vì điều đó làm chúng e ngại mà chưa ra tay mà thôi. Không biết khi lòng tham nổi lên mạnh quá chúng có bất chấp hay không?! Bởi vì trong tay chúng có 2 cái nghị định kia nên chúng hoàn toàn có khả năng ra tay.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://vnexpress.net/giay-phep-tu-thien-4180245.html

https://vietbao.vn/…/thu-tuong-yeu-cau-giam-sat-viec…

https://thuvienphapluat.vn/…/Nghi-dinh-64-2008-ND-CP…

https://thuvienphapluat.vn/…/Nghi-dinh-93-2019-ND-CP-ve…

CHÚA CÓ THIÊN VỊ KHÔNG?

CHÚA CÓ THIÊN VỊ KHÔNG?

  Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chúa có thương một số người nào đó nhiều hơn những người khác không?  Chúa có thiên vị không?  

Đây là vấn đề tranh cãi từ hàng thế kỷ nay: Liệu có một chủng tộc nào được Chúa chọn?  Có phải một số người nào được định trước sẽ lên thiên đường hay xuống địa ngục không?  Có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu?  Có phải Chúa thương người có tội hơn người ngay thẳng?  Có phải Chúa thương người trinh tiết hơn người lập gia đình?  Ít nhất là nhìn bề ngoài, có vẻ như thánh kinh nói rằng Chúa thương một số người hơn những người khác.  Nhưng có đúng như vậy không?

Khó mà trả lời được câu hỏi này, vì phần nào đó là một câu hỏi sai lầm.  Thông thường, bất cứ khi nào chúng ta dựng lên những kiểu đối lập như thế (Có phải Chúa thương người này hơn người kia?), thì chúng ta đang lập ra một lối đi trên một con đường sai:

Ví dụ, khi Chúa Giê-su nói cả thiên đàng vui mừng khi có một người trở lại hơn là vui với chín mươi chín người không cần hối cải; thì không phải Chúa khẳng định thương người có tội sâu đậm hơn người ngay thẳng.  Đối với Chúa Giê-su, khi nói trong hoàn cảnh cụ thể này, là không hề ngụ ý nói tới người ngay thẳng.  Chỉ đang nói với kẻ có tội (những người cảm thấy cần phải trở lại) và những người tự cho là mình ngay thẳng (những người có tội nhưng chưa hiểu mình cần ăn năn hối lỗi).  Hối cải, ít nhất trong bối cảnh đặc biệt này, không phải là một điều kiện tiên quyết cho đời sống Ki-tô hữu.  Không hề có ngụ ý về người ngay thẳng ở đây, chỉ những người có tội, và hành trình Ki-tô luôn luôn là một hành trình của trở lại, một sự quay về ràng, như đàn chiên quay về chuồng.  Chúng ta mở lòng ra để nhận tình thương yêu của Chúa bất cứ lúc nào chúng ta nhận ra điều đó.  Chúa thật sự thiên vị những kẻ có tội, nhưng những kẻ có tội bao gồm tất cả chúng ta.

Điều này cũng đúng đối với chuyện có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu hay không.  Một cách xác quyết, Giê-su nói rằng Chúa ưu ái người nghèo, nhưng như vậy có phải là Chúa thương người giàu ít đi không?

Thêm một lần nữa, chúng ta phải cẩn trọng trong cách chúng ta đặt những phạm trù này tương phản với nhau: nghèo tương phản với giàu.  Điều được khẳng định ở đây không phải là khi chúng ta nghèo thì Chúa thương chúng ta hơn so với khi chúng ta giàu.  Mà đúng hơn, ý ở đây là Chúa thương chúng ta trong cái nghèo nàn của chúng ta, và khi chúng ta chấp nhận mình nghèo thì dễ dàng mở lòng ra để được yêu thương và dễ dàng bày tỏ lòng biết ơn hơn.  Đối với Chúa Giê-su, chỉ có hai loại người: những người nghèo và những người chưa tiếp xúc với cái nghèo nàn của mình.  Và cũng không phải là Chúa thích chúng ta nghèo và thương chúng ta hơn khi chúng ta nghèo.  Mà đúng ra, chính là khi chúng ta nghèo và tiếp xúc với cái nghèo của mình thì chúng ta dễ dàng mở lòng ra với tình thương hơn, kể cả tình thương của Chúa lẫn tình thương của người khác.  Chúa thật sự thiên vị người nghèo, nhưng, giá như chúng ta hiểu đúng tình trạng của mình, rằng những người nghèo bao gồm tất cả chúng ta.

Nguyên tắc này cũng cần được áp dụng đối với các vấn đề chung quanh vấn đề thiêng liêng và vấn đề tình dục.  Có phải Chúa thương chúng ta hơn khi chúng ta chưa trọn vẹn về mặt tình dục so với khi trọn vẹn không?   

Phúc âm nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, được chôn trong một nấm mồ chưa từng chôn ai, và vì thế, chúng ta được mời gọi để có một trái tim trinh trắng.  Bởi điều này mà trên con đường thiêng liêng Ki-tô cũng như trong các truyền thống linh đạo của mọi tôn giáo lớn trên thế giới, từ xưa đến nay vẫn luôn luôn có một dòng tư tưởng cho rằng cách nào đó Chúa ban phước cho những ai sống đời độc thân hơn những người lập gia đình, rằng sự trinh trắng là tình trạng tinh thần được ưu ái hơn.  Có phải Chúa thương chúng ta hơn nếu chúng ta là những người trinh trắng?

Chúng ta lại phải cẩn trọng trong cách đặt những phạm trù này tương phản với nhau: trinh trắng và không trinh trắng.  Lời dặn ở đây là Chúa thương những gì là trinh trắng trong bản thân chúng ta.  Mối quan hệ tương phản ở đây không phải là giữa những ai ngủ một mình và những người không ngủ một mình, mà là giữa những người bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân, và những người không làm như vậy; giữa những người có thể đổ mồ hôi máu để tiếp tục chịu đựng căng thẳng khi sống mà không tuyệt đích thoả mãn (tất cả mọi loại) và những người không làm như vậy.  Chính khi chúng ta bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân và khi chúng ta không bỏ qua những giai điệu thầm kín chính đáng của cuộc sống vì những căng thẳng của mình là lúc chúng ta mở lòng ra hơn để tiếp nhận tình thương yêu, tình thương yêu của Chúa và tình thương yêu của con người.

Chúa thật sự thiên vị những người trinh trắng, nhưng, nếu chúng ta sống với lòng khiêm cung và nhẫn nại đúng mực, thì những người trinh trắng đó gồm tất cả chúng ta.

Cũng có thể nói như vậy về việc Chúa Giê-su trân trọng trẻ con như những con người lý tưởng.  Không phải Người dạy rằng Chúa thương trẻ con hơn người lớn.  Sự tương phản này không phải là giữa trẻ con và người lớn, mà là giữa những ai, giống như trẻ con, biết họ cần được giúp đỡ, và những người vì kiêu căng hay vì tổn thương đã không còn thừa nhận họ cần Chúa hay cần ai khác.  Chính khi chúng ta thừa nhận sự thật sâu xa rằng chúng ta không thể tự mình mà đầy đủ thì chúng ta mới mở lòng ra để Chúa và người khác ưu ái.  Chúa thật sự thiên vị những ai giống như trẻ con, nhưng, hy vọng là trẻ con bao gồm tất cả chúng ta.

Chúa có đối xử thiên vị hay không?  Có, nhưng không phải là giữa những người khác nhau, mà là giữa những trạng thái khác nhau trong chính tâm hồn chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Jesus and his disciples.jpg