BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang

Từ Thức to TT GROUP
Bác sĩ Li là người đầu tiên đã đưa ra ánh sáng virus ở Vũ Hán. Chết vì virus, ông trở thành anh hùng của cà một dân tộc
Image may contain: one or more people
Hai Nguyen Dinh

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang

Bức thơ cuối cùng của bác sỹ Li Wenliang được dịch sang tiếng Việt, mời các bạn cùng đọc:

Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi vẫn còn có cha và mẹ
Và các con thơ
Người vợ đang mang thai sắp sinh,
Và nhiều bệnh nhân trong phòng khám.
Mặc dù sự trung thực không được tưởng thưởng,
Mặc dù con đường đã đến ngõ cụt,
Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục.
Ai bắt tôi chọn đất nước này, và gia đình này,
Biết bao nhiêu đau khổ,
Khi trận chiến này kết thúc,
Tôi sẽ nhìn lên trời mà lệ rơi như mưa.

Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi chỉ là một bác sĩ,
Tôi không thể đứng nhìn những vi-rút này
Làm tổn thương đồng nghiệp của tôi
Và rất nhiều người vô tội,
Mặc dù họ sắp chết,
Nhưng luôn luôn nhìn vào mắt tôi,
Với niềm hy vọng được sống.

Ai có thể nhận ra rằng mình sắp chết?
Linh hồn tôi ở trên thiên đàng,
Nhìn xuống chiếc giường trắng,
Với cơ thể của tôi nằm trên đó,
Và khuôn mặt quen thuộc.
Cha mẹ tôi ở đâu?
Và người vợ yêu dấu của tôi nữa,
Người mà tôi đã từng có một thời ráo riết theo đuổi.

Có một ánh sáng ở trên trời!
Và ở cuối sự sáng đó là thiên đường mà mọi người thường nói đến.
Nhưng tôi không muốn đến đó.
Tôi muốn trở về quê hương của tôi ở Vũ Hán.
Tôi có ngôi nhà mới mua ở đó,
Mà tôi vẫn đang phải trả tiền vay mỗi tháng.
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Khi đứa con duy nhất của cha mẹ tôi không còn
Thật là buồn biết bao?
Và người vợ yêu dấu không có chồng bên cạnh,
Làm thế nào để đối mặt với những thăng trầm trong tương lai

Tôi đã ra đi rồi.
Tôi thấy họ lấy cơ thể của tôi,
Đặt nó vào một cái túi,
Ở đó có nhiều đồng bào.
Cũng ra đi giống như tôi,
Bị đẩy vào lửa trong lò thiêu
Lúc bình minh.

Xin tạm biệt những người tôi yêu mến.
Xin chia tay Vũ Hán, quê hương tôi.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Có ai đó sẽ một lần nhớ đến,
Có người đã cố gắng cho họ biết sự thật càng sớm càng tốt
Cố gắng cho bạn biết sự thật càng sớm càng tốt.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Người ta học được đứng thẳng,
Không còn để những người tử tế,
Phải chịu đau khổ vô tận

Tôi đã đánh trận tốt lành,
Tôi đã xong sự chạy,
Tôi đã giữ được đức tin.

Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho tôi.” (II Ti-mô-thê 4:7-8a)
(b/s Lý với người vợ trẻ).

Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Accueil – Histoire de comprendre – Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien

Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Eric MartinPar Eric

“Partout en Chine, les gens parlent du Dr Li Wen Liang. C’est le médecin qui a découvert le nouveau coronavirus et au petit matin du 7 février à 2 h 58, il a été promu à la gloire et est parti vers notre Père céleste.

En décembre de l’année dernière, il a été arrêté pour avoir dénoncé des rumeurs sur une mystérieuse pneumonie comme un virus. Ce matin, nous avons découvert qu’il était en fait un frère en Christ. Nos cœurs sont profondément émus par son choix sacrificiel de faire connaître le virus malgré les risques auxquels il est confronté, en particulier pour sa réputation et sa propre santé.

Il a continué à soigner les patients jusqu’à ce qu’il soit lui-même infecté. Quel héritage laisser derrière lui ce que signifie être comme Jésus pour ceux qui souffrent en temps de crise.

Il a choisi d’être un exemple d’Emmanuel, «Dieu avec nous» pour les habitants de Wuhan.
Pouvez-vous imaginer la joie qu’il a dû ressentir en entrant dans l’éternité et en entendant les mots: “Bien joué, mon bon et fidèle serviteur”?

Alors aujourd’hui, veuillez prier pour sa famille, en particulier sa femme qui est également infectée et enceinte de 8 mois de leur deuxième enfant. Que Dieu les guérisse surnaturellement et leur donne grâce, paix, force et réconfort pendant cette période.

Le Dr Li Wen Liang a écrit un poème chinois profondément touchant sur la façon dont sa famille lui manquerait, son bien-aimé Wuhan Il a cité 2 Tim 4: 7-8 J’ai combattu le bon combat, j’ai achevé la course, j’ai gardé la foi. Désormais la couronne de justice m’est réservée ; le Seigneur, le juste juge, me le donnera dans ce jour-là, et non seulement à moi, mais encore à tous ceux qui auront aimé son avènement.”

LHCÂ tăng tốc chống tin thất thiệt: Trung Quốc bị chính thức nêu tên

Thuc Tran and 2 others shared a link.

Ủy Ban Châu Âu vào hôm qua 10/062020 đã loan báo một loạt biện pháp nhằm chống lại các hành vi loan tin thất thiệt chung quanh đại dịch Covid-19 ngày càng nhiều, xuất phát từ n…

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

Ngoc Luc

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

*
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian (Anh Quốc) rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông trong gần bốn tháng qua.

Ông Khảm, 70 tuổi, là công dân Úc gốc Việt, thành viên đảng Việt Tân, đang thi hành án 12 năm tù tại Việt Nam với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” mà ông phủ nhận.

Ông Khảm và những người bạn thuộc “Hội Anh Em Dân Chủ” tại Việt Nam, bị y án sơ thẩm qua một phiên tòa xử “án bỏ túi” tại Sài Gòn hồi đầu Tháng Ba năm nay. Luật sư và gia đình ông Khảm cho biết rằng tình trạng bệnh tật của ông khiến bản án 12 năm tù “giống như bản án tử.”

Em gái ông, người sống ở Việt Nam, cho biết đã đi thăm ông trong tù lần gần nhất là vào Tháng Hai, gửi tiền và các loại thuốc trị bệnh cao huyết áp và mức cholesterol, bệnh tăng nhãn áp và sỏi thận, theo The Guardian.

Thời điểm đó, gia đình được thông báo rằng ông Khảm không còn ở trại giam B34 của Bộ Công An CSVN tại Sài Gòn nhưng không cho biết nơi ông được chuyển đến. Vài tuần sau, gia đình ông được báo tin rằng ông ấy đã bị chuyển đến một nhà tù “cách Sài Gòn hơn ba giờ chạy xe” nhưng vẫn chưa được liên lạc với ông.

Các chuyến thăm lãnh sự của sứ quán Úc Châu dự trù diễn ra từ Tháng Hai đến Tháng Năm đều bị hủy bỏ vì lo ngại về sự lây lan của COVID-19. Giấy phép cho một chuyến thăm vào Tháng Sáu được ghi nhận “đang chờ phê duyệt.”

Anh Dennis Châu, được tờ báo dẫn lời: “Bố tôi bây giờ đã già yếu mà không được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tôi lo lắng sức khỏe và tinh thần ông bị suy sụp. Bây giờ, trước mắt bố tôi là một hành trình dài cho đến ngày được ra tù mà không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính phủ Úc, có vẻ như họ đã quên mất ông rồi.”

 

NGUOI-VIET.COM
Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí

Ngày 4/4/2020 (giờ Hoa Kỳ), báo Washington Post đưa tin cháu ngoại của dòng họ Kennedy, Maeve Kennedy Townsend McKean, 40 tuổi, và con trai, Gideon Joseph Kennedy McKean, 8 tuổi, bị chết đuối trong một vụ chìm ca nô tại vịnh Chesapeake, tiểu bang Maryland.

Maeve Kennedy Townsend McKean là cháu ngoại của Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy (1925-1968), em trai Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, John Fitzgerald  Kennedy (1917-1963). Sự nghiệp chính trị của cả hai anh em đều chấm dứt bởi những cuộc ám sát năm 1963 và 1968.

Trở lại với vụ chết đuối của Maeve Kennedy Townsend McKean và con trai Gideon, tờ báo cho biết nguyên nhân cái chết thương tâm chỉ vì một quả bóng cậu con trai bị rơi xuống nước. Hai mẹ con xuống ca nô để vớt bóng và sau đó bị chìm xuống dòng sông South River.

Theo lời David McKean, chồng của Maeve, kể lại lúc đó khoảng 4 giờ chiều, bọn trẻ đang đá banh và trái banh rơi xuống nước nên cả hai mẹ con xuống ca nô để nhặt banh. Lực lượng Tuần duyên cho biết gió tại khu vực xảy ra vụ chìm ca nô có tốc độ 30 dặm một giờ và sóng cao khoảng từ 1 đến 2 mét.

Gia đình Maeve Kennedy Townsend McKean, chồng David McKean và các con, trong đó cậu con trai Gideon Joseph Kennedy McKean

Một lần nữa, tai nạn chết người đã xảy đến cho gia tộc Kennedy. Có người còn gọi đó là “lời nguyền của dòng họ”. Câu hỏi được đặt ra là liệu các tai ương chỉ một mình gia tộc Kennedy gánh chịu, đặc biệt là hai vụ ám sát cướp lấy mạng sống của một Tổng thống và một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Người ta tự hỏi đó là định mệnh nghiệt ngã như một lời nguyền cho dòng họ hay chỉ đơn giản là những âm mưu có phối hợp chống lại gia tộc danh giá và quyền thế này. Chúng ta lần lượt điểm qua những tai ương bất hạnh đã xảy đến cho dòng họ Kennedy.

1941: Rosemary Kennedy (1918-2005), con thứ ba và là con gái đầu của Joseph P. Kennedy phải trải qua giải phẫu thuỳ não để chữa trị bệnh thiểu năng trí tuệ (mental retardation). Kết quả của cuộc giải phẫu là một thảm hoạ, và Rosemary phải sống trong một dưỡng đường cho đến khi qua đời năm 2005.

1944: Joseph P. Kennedy, Jr. (1915-1944), con đầu của Joseph P. Kennedy đã hi sinh trong một phi vụ vượt qua eo biển Manche trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

1948: Kathleen Kennedy (1920-1948), con thứ tư và là con gái thứ hai của Joseph P. Kennedy chết trong một tai nạn máy bay tại Pháp.

1956: Vợ của Tổng thống Kennedy, Jacqueline Bouvier Kennedy, sinh một bé gái đặt tên là Arabella, nhưng bị chết non. 

1961: Joseph P. Kennedy (1888-1969), người cha già của gia tộc Kennedy, bị đột qụy khiến mọi cử động của cơ thể trở nên cực kỳ khó khăn cho đến ngày chết.

1963: Patrick Bouvier Kennedy, con trai thứ hai của John F. Kennedy và Jacqueline Kennedy, sinh non tám tuần lễ và chết chỉ vài ngày sau khi ra đời.

Ngày 22/11/1963: Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, tiểu bang Texas, dù các cuộc điều tra chính thức qui cho Lee Harvey Oswald là thủ phạm, cho đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn về kết luận này.

Tổng thống John Fitzgerald  Kennedy (1917-1963)

Ngày 6/6/1968: Robert F. Kennedy (1925-1968), em trai của John và anh trai của Ted (Edward Kennedy), bị ám sát tại Los Angeles sau khi giành thắng lợi trong kỳ bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ tại California, trong khuôn khổ chiến dịch tranh cử Tổng thống của ông. Thủ phạm được cho là Sirhan Sirhan, song vẫn còn tồn tại nhiều nghi vấn xoay quanh vụ ám sát.

Thượng nghị sĩ Robert Fitzgerald Kennedy (1925-1968)

1969: Trong khi lái chiếc xe của Ted Kennedy (sinh năm 1932, con trai út của Joseph P. Kennedy) rơi khỏi cầu trên đường về nhà, người phụ nữ ngồi trong xe với Ted, Mary Jo Kopechne, trước đó là phụ tá cho Robert Kennedy, chết trong tai nạn này.

1973: Edward Kennedy, Jr. (con trai của Edward Kennedy) mất chân phải vì bệnh ung thư xương.

1973: Joseph P. Kennedy II, con trai của Robert và Ethel, gây tai nạn khi lái xe tại Cape Cod khiến một người ngồi trong xe, Pam Kelley, bị bại liệt hoàn toàn.

1983: Robert F. Kennedy, Jr. bị bắt giữ tại tiểu bang South Dakota vì tội tàng trữ heroin.

1984: David A. Kennedy, một con trai khác của Robert, chết vì dùng Demerol và Cocaine quá liều ở một khách sạn tại Palm Beach, tiểu bang Florida.

1986: Patrick J. Kennedy, con trai của Thượng nghị sĩ Ted Kennedy, bắt đầu điều trị cai nghiện cocaine.

1991: William Kennedy Smith, con trai của Jean Kennedy (sinh 1932, con thứ tám và là con gái út của Joseph P. Kennedy) bị cáo buộc cưỡng bức một phụ nữ tại Palm Beach, Florida, song Smith được xử trắng án.

1997: Michael Kennedy, con trai của Robert, chết trong một tai nạn trượt tuyết tại Aspen, tiểu bang Colorado.

1999: John F. Kennedy, Jr., cùng với vợ Carolyn Bessette Kennedy, và chị vợ Lauren Bessette, tử nạn khi chiếc máy bay riêng do Kennedy điều khiển rơi xuống biển trong một chiều đầy sương mù trên chuyến bay từ New York đến đảo Martha’s Vinyard.

2002: Michael Skakel, cháu của Ethel Skakel Kennedy, bị buộc tội giết Martha Moxley, một cô gái trẻ sống gần nhà.

2011: Kara Kennedy Allen chết vì bệnh tim trong khi tập thể dục tại một câu lạc bộ ở Washington, D.C. Chín năm trước cô mắc bệnh ung thư phổi, nhưng đã chữa khỏi.

2012: Mary Richardson Kennedy (vợ của Robert F. Kennedy) treo cổ tự sát tại nhà riêng ở Bedford, Westchester, New York.

Và cái chết của cô cháu gái Tổng thống Kennedy mới xảy ra đã một lần nữa khiến ta không khỏi rùng mình vì những biến cố trong dòng họ “danh gia, thế phiệt” Kennedy.

Gia tộc Kennedy, năm 1931, tại Gia trang Kennedy, Hyannis Port, Massachusetts, (John F. Kennedy, thứ hai bên trái và Robert F. Kennedy bên phải)

Ta thường có câu “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí” là vậy!

Nguyễn Ngọc Chính

From:Tu Phung

Thủ tướng Úc: Canberra không để Trung Quốc “bắt chẹt”

Căng thẳng gia tăng giữa Úc và đối tác thương mại quan trọng nhất là Trung Quốc. Ngày 11/06/2020 thủ tướng Úc Scott Morrison tuyên bố: Canberra không sợ Bắc Kinh dùng đòn kinh tế trả đũa Úc vì đã đòi điều tra về nguồn gốc virus corona.

Trả lời một đài phát thanh Úc, thủ tướng Scott Morrison nhấn mạnh: Canberra muốn duy trì mối quan hệ thương mại quan trọng với Bắc Kinh nhưng chính quyền Úc sẽ “không bao giờ run sợ trước những đòn uy hiếp”, hay “đánh đổi những giá trị của m

See More

Căng thẳng gia tăng giữa Úc và đối tác thương mại quan trọng nhất là Trung Quốc. Ngày 11/06/2020 thủ tướng Úc Scott Morrison tuyên bố: Canberra không sợ Bắc Kinh dùng đòn kinh tế trả đũa Úc vì đã…

Bài học “láng giềng”

Bài học “láng giềng”

04:07 | Posted by bxvn

Trần Trung Đạo

Các nhà lãnh đạo quốc gia phân tích tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên, như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh đạo đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó như là nguồn bảo đảm cho quyết định của mình.

Lịch sử nhân loại để lại những bài học trong quá khứ không thể bỏ qua. Ba Lan là bài học xương máu nhất. Các diễn biến chính trị, quân sự đang diễn ra tại Á Châu cho thấy Tập Cận Bình “yêu” láng giềng Việt Nam cũng giống như Hitler từng “yêu” láng giềng Ba Lan.

Trong diễn văn đọc trước Quốc hội Đức ngày 21 tháng Năm, 1935, Hitler ca ngợi tình láng giềng giữa Đức và Ba Lan: “Chúng tôi công nhận, với sự hiểu biết và tình hữu nghị thắm thiết của những người Quốc Xã dành cho Ba Lan, quê hương của một dân tộc ý thức quốc gia. Quốc Xã Đức, và đặc biệt chính phủ Đức hiện nay, không có mong muốn nào hơn là sống trong điều kiện hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước láng giềng”.

Nội dung tương tự, Tập Cận Bình ca ngợi tình láng giềng giữa Trung Cộng và Việt Nam khi phát biểu trước cái gọi là “Quốc hội Việt Nam” ngày 6 tháng 11, 2015: “Cổ nhân có câu “ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”… Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh”.

Ngay cả trong lúc nói những câu ân cần dành cho láng giềng Ba Lan, Hitler đã có ý định xóa bỏ quốc gia này trong bản đồ thế giới.

Lúc 4:45 phút sáng Thứ Sáu ngày 1 tháng 9, 1939, Hitler tung một đạo quân lên đến 1,5 triệu người thuộc nhiều binh chủng và áp dụng chiến thuật tấn công chớp nhoáng để tấn công Ba Lan từ cả hai hướng Bắc và Nam. Chỉ riêng lục quân đã lên đến 54 sư đoàn. Quân đội Ba Lan cũng lên đến một triệu nhưng chống cự chưa được bốn tuần lễ. Thủ đô Warsaw đầu hàng ngày 27 tháng 9, 1939. Hơn năm triệu, trong tổng số ba mươi mốt triệu dân Ba Lan bị giết trong Thế Chiến Thứ Hai.

Tại sao Hitler đánh Ba Lan trước?

 

Các sử gia đưa ra nhiều lý do nhưng nếu chọn một lý do, phần lớn đồng ý lý do hàng đầu là không gian sinh tồn của một Hitler đang ôm mộng đế quốc. Ba Lan, ngoài ra còn giữ vị trí chiến lược như một vùng độn (buffer state) ở phía Đông, và để tấn công Liên Xô, Đức phải tấn công Ba Lan trước.

Theo sử gia Tadeusz Piotrowski, tại Obersalzberg ngày 22 tháng 8, tức chỉ một tuần lễ trước khi tấn công Ba Lan, Hitler chỉ thị cho các tư lịnh mặt trận: “Mục đích của chiến tranh là tiêu diệt khả năng vật chất của kẻ thù. Đó là lý do tôi đã chuẩn bị, hiện nay mới chỉ từ phía Đông, các đơn vị SS với các mệnh lệnh giết không thương xót hay khoan dung tất cả đàn ông, đàn bà, và trẻ em con cháu dòng dõi Ba Lan hay nói tiếng Ba Lan. Với cách duy nhất này chúng ta mới có thể có được một không gian sinh tồn mà chúng ta cần”.

Ba Lan là quốc gia duy nhất Hitler không cần lập một chế độ bù nhìn, thay vào đó bị cai trị trực tiếp và vô cùng hà khắc dưới bàn tay của Hans Frank, một luật sư riêng của Hitler được cử sang cai trị Ba Lan. Tội phạm chiến tranh này bị treo cổ tại Nuremberg ngày 16 tháng 10, 1946. Hitler còn chủ trương đồng hóa dân tộc Ba Lan trong đó có cả việc thay đổi họ tên, ngôn ngữ, lễ nghi nhà thờ và gần như mọi phương tiện thông tin.

Tại sao Ba Lan đầu hàng chỉ trong vòng bốn tuần lễ?

Các sử gia đưa ra nhiều lý do, nhưng nếu phải chọn một, có lẽ nên chọn lý do Ba Lan không chuẩn bị chiến tranh về mọi mặt ở một mức độ như Đức Quốc Xã.

Vũ khí quá lạc hậu, trông cậy các đồng minh ở xa, quân đội trên danh nghĩa có cả triệu quân nhưng động viên chỉ mỗi một ngày trước khi các chiến xa Đức vượt biên giới dù Hilter đã nuốt sống Tiệp từ tháng Giêng, 1939.

Không cần phải phân tích dài dòng, chỉ thay Việt Nam vào Ba Lan trong bài viết sẽ thấy hiểm họa Trung Cộng đang đè nặng trên đầu dân tộc Việt.

Những kẻ độc tài thời đại nào cũng giống nhau vì đều là những con người có lòng tham quyền lực không đáy. Dưới mắt họ không có con người mà chỉ có đất đai và của cải.

Nếu Hilter chỉ muốn dừng lại ở Áo và Tiệp, có lẽ bản đồ thế giới ngày nay đã khác.

Tương tự, Trung Cộng sau 40 năm bán sức lao động của bảy trăm triệu người Trung Hoa để tạo một lượng thặng dư tài sản khổng lồ để khắp nơi trên thế giới nhưng không dừng lại. Tập Cận Bình nuôi mộng bá chủ thế giới và sẽ xua đàn kiến đỏ Tàu Cộng tàn phá Việt Nam trong một ngày nào đó.

Những gì xảy ra ở Ba Lan sẽ xảy ra ở Việt Nam với một mức độ thảm khốc hơn nhiều trong tương lai.

Vậy câu hỏi đặt ra là phải làm gì?

Về mặt lý luận, người viết đã phân tích trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, xin tóm tắt dưới đây:

  1. Việt Nam phải có dân chủ. Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến.
  2. Vượt qua mọi bất đồng để tạo thế đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài.
  3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Giống hệt vị trí của Ba Lan trước Thế chiến thứ Hai, Việt Nam hiện còn đang giữ vị trí chiến lược nhưng vì CSVN bám theo chân Tàu Cộng nên không chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia được. Mọi chính sách đối ngoại của CSN đều phải được Bắc Kinh chấp thuận và không được tự tiện đi ra ngoài chính sách đối ngoại toàn cầu của Trung Cộng.
  4. Ba Lan có liên minh quân sự với Anh và Pháp nhưng gần như không có sự hợp tác chiến lược cụ thể nào. Ngay cả sau khi tuyên chiến với Đức, các lãnh đạo Anh và Pháp vẫn còn tin vào một giải pháp chính trị hơn là một đương đầu trực tiếp bằng quân sự. Do dự là cha đẻ của mọi thất bại. Liên minh giữa Ba Lan với Anh, Pháp là những liên minh không đáng tin cậy và quốc gia nào có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy.

Bốn điểm nêu trên, chọn lựa dân chủ là quan trọng nhất.

Tổng thống Harry Truman đã không mạnh dạn gởi hàng không mẫu hạm USS Franklin D. Roosevelt và hạm đội tháp tùng hùng hậu vào Địa Trung Hải để bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ trong xung đột Eo Biển Thổ năm 1946 và nhất là không ủng hộ Thổ vào NATO nếu Thổ không cam kết một nền dân chủ.

Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu dân chủ và mọi người Việt dù ở đâu hãy nỗ lực cho mục đích tối cần thiết và quan trọng này.

T.T.Đ.

Nguồn: FB Chính luận Trần Trung Đạo

Ai nói Mỹ phân biệt chủng tộc

No photo description available.

Kimtrong Lam

Ai nói Mỹ phân biệt chủng tộc

Các bạn xem đi cái hình ở dưới rồi biết ở Mỹ như thế nào

Ai mà nói Mỹ phân biệt chủng tộc là điên rồ rồi

Hàng năm con số người Da Đen giết Da Trắng gấp 10 lần người Da Trắng giết Da Đen lận

Vậy mà còn than phiền phân biệt cái gì. Người Da Đen giết người Á Châu và Châu Mỹ Latin gấp hàng trăm lần lận và rất cao

Nhưng tại sao bọn nhà báo cánh tả ở đâu khi mấy người này bị dân Da Đen giết khác màu

Dĩ nhiên báo cánh tả thích đổ thừa Trump và chính phủ Trump là phân biệt chủng tộc để họ chiến thắng vào tháng 11 năm 2020

Tất cả có giàn dựng chớ không phải khơi khơi đâu

Đây là đúng lúc thời gian chúng ta phải đòi hỏi dân Da Đen không được kỳ thị người dân tộc khác như Trắng, Vàng và Nâu… chớ không phải dân tộc khác kỳ thị da đen

Ở Mỹ ai tài giỏi thông minh đều được xử dụng bằng nhau và không có chuyện kỳ thị như mấy người tưởng. Vâng có kỳ thị nhưng đó là cá nhân thì ai ngăn chặng được và trăm triệu người cũng cái trứng thối chơ

Đã đến lúc chúng ta cần đấu tranh đòi hỏi quyền làm con người cho da vàng, trắng và nâu và yêu cầu người da đen đối xử công bằng và không phân biệt chủng tộc khác

Đừng có giả dối “Black Lives Matter”… Đồ tào lao và hãy nhìn lại cái lưng mình đi mấy chú da đen và các chú bớt làm hài đi.

HÀNH ĐỘNG CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG VUA NỔI TIẾNG NÀY LÀ BÀI HỌC QUÝ GIÁ CHO TA

Image may contain: one or more people and text
Lm Trần Chính Trực

 

HÀNH ĐỘNG CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG VUA NỔI TIẾNG NÀY LÀ BÀI HỌC QUÝ GIÁ CHO TA

Ước nguyện cuối cùng của Alexander Đại Đế.

Trong giờ phút lâm chung, Alexander Đại đế triệu tập các cận thần của mình, và nói với họ 3 điều ước cuối cùng của ông:

1. Hãy để các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta.

2. Hãy rải tài sản của ta, bao gồm tất cả tiền, vàng, kim cương, đá quý trên đường đến nghĩa trang.

3. Hãy để đôi bàn tay của ta được thả lỏng và để nó bên ngoài cho tất cả mọi người thấy.

Một trong những vị tướng của ông đã rất bất ngờ trước những yêu cầu bất thường này, nên đã yêu cầu Alexander giải thích. Alexander Đại đế đáp lại:

Ta muốn các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng minh rằng, khi đối mặt với cái chết, ngay cả những ngự y giỏi nhất trên thế giới cũng không có sức mạnh cải tử hoàn sinh.

Ta muốn rải hết tiền vàng trên đường, để muốn mọi người biết rằng, sự giàu có về vật chất có được trên Trái Đất này, thì sẽ phải ở lại Trái Đất.

Ta muốn bàn tay ta đung đưa trong gió, để muốn mọi người hiểu rằng, chúng ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, thì chúng ta rời thế giới này cũng với hai bàn tay trắng.

Chúng ta sẽ không còn gì, sau khi tài sản quý giá nhất của chúng ta đã cạn kiệt, đó là SỨC KHOẺ và THỜI GIAN.

CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN

Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu rất cẩn thận. Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được. Nó mới nghĩ ra một cách: nhịn đói để gầy bớt đi.

Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng. Nó vào được trong vườn nho. Sau khi ăn uống no nê được một thời gian, con chồn mới phát hiện mình đã quá mập, không thể chui qua lỗ hổng để thoát ra ngoài. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.

Thoát khỏi vườn nho, nó ngẫm nghĩ: “Hỡi vườn nho, vào trong nhà người để được gì. Bởi vì ta đã đi vào nơi đó với hai bàn tay trắng, thì cũng phải trở ra bằng trắng hai bàn tay”.

Chúng ta xuất hiện trong cuộc đời này với hai bàn tay trắng và tiếng khóc oa oa; và kết thúc cuộc đời này cũng trắng hai bàn tay, mà người ta thường gọi là nhắm mắt xuôi tay!

 Tâm sự người vợ H.O.

 Tâm sự người vợ H.O.

 Tôi không phải là nhà văn. Tôi cũng không phải là nhà thơ. Tôi chỉ là một cô giáo già với tuổi đời đã gần 80 và tuổi nghề 35 năm trong ngành giáo dục. Nguyện vọng của tôi khi viết bài nầy là để lưu lại một kỷ niệm thân thương cho con cháu khi chúng muốn tìm lại cội nguồn, khi muốn nhớ lại người mẹ, người bà yêu mến, chúng sẽ đọc và sẽ tự hào là người Việt Nam.

Tôi không bao giờ quên được ngày 30 tháng 04 năm 1975, ngày (…) và cũng là ngày biến cố quan trọng của đời tôi. (…) Con phải mất cha, vợ phải xa chồng, gia đình phải ly tán nhau! Bao nhiêu máu đổ thây phơi, bao nhiêu trái tim tan nát…

(…………………)

Chồng tôi, Nguyễn Văn Quy, bị gọi đi trình diện và bị đi học tập cải tạo ở Cây Cầy (Tây Ninh). Một mình tôi ở nhà, vừa làm cha vừa làm mẹ, nuôi dạy bốn đứa con còn nhỏ dại, đứa con trai lớn nhứt mới mười một tuổi, đứa con gái nhỏ nhứt mới năm tuổi.

Tôi dạy ban ngày ở trường tiểu học Bạch Đằng. Ban đêm thì dạy lớp bổ túc văn hóa cho quý cô, quý bác lớn tuổi thất học (mù chữ). Chủ Nhật thì dạy kèm tại gia cho các học sinh học kém. Ông bà ta thường nói “nhất nghệ tinh nhất thân vinh.” Thân vinh đâu tôi không thấy mà tôi thấy tôi cực như trâu. Mà đúng vậy các bạn ạ. Tôi tuổi Sửu. Mà con trâu thì ban ngày kéo cày, tối được nằm nghỉ ngơi. Tôi còn cực hơn trâu các bạn ạ. Người ta thường nói “trâu ruộng bộn bề không bằng một nghề trong tay.” Với nghề dạy học, tôi bán chữ nuôi cha mẹ bịnh tật già yếu, nuôi chồng đang học tập cải tạo trong lao tù khổ sở, nuôi bốn đứa con nhỏ dại tiếp tục cấp sách đến trường.

Cha tôi, tám mươi lăm tuổi, bị té gẫy xương hông nên đã nằm liệt giường suốt năm năm qua. Mẹ tôi tám mươi tuổi, bị mổ bướu buồng trứng ba lần nên sức khoẻ rất yếu. Gánh nặng gia đình oằn xuống trên đôi vai gầy yếu của tôi.

Có một lần nọ, bốn đứa con lần lượt bị ban đỏ (bệnh sởi). Nhìn các con nằm rên xiết trên giường, tôi đau lòng quá! Tôi quẫn trí, định đưa các con lên cầu Bình Triệu (Thủ Đức) để mẹ con cùng nhảy xuống sông chết hết cho rồi!! Nhưng tôi sực nhớ lại, tôi còn cha mẹ già yếu đang cần đến sự chăm sóc của tôi, còn chồng tôi đang học tập cải tạo, đang cần đến sự thăm nuôi của tôi và nhứt là, bốn đứa con yêu quí của tôi đang rất cần đến bàn tay mẹ hiền. Tôi tự nhủ thầm rằng “ Tôi Phải Sống.” Bổn phận làm con, tôi phải báo hiếu cho mẹ cha. Bổn phận làm vợ, tôi phải lo tròn đạo phu thê. Bổn phận làm mẹ, tôi phải nuôi dạy các con khôn lớn nên người. Ròng rã suốt bảy năm trời thì cũng có ngày chồng tôi được trả tự do.

Ngày 21 Tháng Giêng năm 1982, ngày mà chồng tôi được ra khỏi tù (…..), ngày mà cả gia đình tôi đều nở nụ cười mừng rỡ. Nhìn chồng gầy ốm xanh xao, tóc đổi màu bạc trắng, tôi cay đắng, nghẹn ngào.Tôi chạy đến ôm anh, chỉ thốt ra được hai tiếng “Mình ơi,” rồi nước mắt tuôn ra thắm đẩm gò má và loang lổ trên ngực áo. Anh thì cũng chẳng thốt được lời nào, chỉ ôm chặt lấy tôi với khóe mắt rưng rưng đầy lệ.

Ôi làm sao tả xiết cảnh đoàn tụ sao bao năm dài xa cách. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Kể từ bây giờ tôi sẽ có người bạn đời bên cạnh để chia sẻ vui buồn, để chung nuôi con cái, để phụng dưỡng cha mẹ già.

Mỗi tháng anh phải viết báo cáo và trình diện tại phường 24 quận Bình Thạnh (nơi cư trú của gia đình tôi). Sau một năm, anh đi làm thư ký cho khách sạn bên Khánh Hội dưới sự kiểm soát của phường. Đến năm 1984, tôi nhờ một chị bạn làm tại bưu điện Saigon gởi hồ sơ của chúng tôi tới tòa đại sứ Mỹ bên Thái Lan, xin đi Mỹ theo diện H.O.. Chờ đợi mỏi mòn mười năm, hồ sơ được chấp thuận cho cả gia đình gồm cha mẹ và ba đứa con qua Mỹ (đứa thứ tư đã vượt biên năm 1988 và định cư tại Canada).

Làm sao để ta có thể giải thích được phước họa ở đời? Ngày 30 Tháng Chín năm 1994, vợ chồng con cái chuẩn bị đi phỏng vấn cho một cuộc đổi đời thì sự thay đổi oan nghiệt lại lù lù hiện tới: Mẹ tôi đột ngột qua đời! Hỡi ôi, thân nầy ví xẻ làm hai được! Tôi nên đi theo chồng con, hay ở lại lo hậu sự cho mẹ hiền? Thôi thì tùy duyên. Anh và con hãy đi trước đi. Anh ơi hãy cho em… Các con ơi hãy cho mẹ…một lần cuối cùng nhỏ lệ khóc thương đấng sanh thành.

Ngày 17 Tháng Mười, năm 1994, anh và ba đứa con ngậm ngùi từ giã quê hương. Đại úy Nguyễn Văn Quy của sư đoàn 25 Bộ Binh, dẫn theo ba con lên máy bay, đi Mỹ theo diện H.O. 23, để lại người vợ héo hon, người mẹ nát lòng. Sự sống của tôi đã theo đường bay trong đám mây ảm đạm kia mà mất dần, mất dần… Tôi ngã xuống trong chiếc xe mang tôi trở về. Cấp cứu của người bạn bác sĩ làm tôi tỉnh lại và bao lời khuyên lơn của bạn bè lối xóm, làm tôi thuyên giảm nỗi đau lòng. Tôi tự nhủ, thôi thì chỉ có xa nhau sáu tháng. Lo cho mẹ mồ yên mả đẹp rồi gia đình lại sẽ gặp nhau.

Anh và các con qua California ở nhờ nhà người bạn thân mà anh đã kết nghĩa anh em trong tù! Cùng nhau chia sẻ hoạn nạn, dằn vặt, nhục nhã, đói khát, anh và Thạch đã coi nhau như anh em ruột.

Thạch và Bảo, vợ Thạch, cùng các con đã đem hết tấm lòng thương yêu ra, giúp đỡ cho gia đình tôi. Cả nhà đi học ESL. Con trai tôi vì đã học hết hai năm tại trường sư phạm, môn Anh Văn, nên dễ dàng kiếm được việc làm. Cháu đạp xe đi làm nên người bạn Mễ cùng sở thương tình cho cháu quá giang khi mùa đông lạnh tới. Tuy không phải là người cùng chung huyết thống mà cậu ta xem con tôi như người bạn đã thân quen lâu đời. Rồi dần dần cả anh và hai đứa con gái cũng đều có việc làm.

Thế là Chủ Nhật cuộc gọi phone tưng bừng diễn ra. Ôi đại dương ơi, dù mi có xa xôi muôn trùng nhưng cũng không có quyền lực cách ngăn tình chồng nghĩa vợ, tình mẫu tử thiêng liêng. Nhưng hãng điện thoại thì có đủ quyền lực gởi cái “bill” đến với giá sáu trăm đô la! Ôi Chúa ơi, những lần sau tôi đều luôn miệng ngăn cản: “Thôi stop đi anh ơi. Thôi stop đi con ơi …” Tôi xin được phỏng vấn lại sau bốn tháng xa cách.

Ngày 17 Tháng Hai, năm 1995, tôi rời Việt Nam với một tâm hồn nặng trĩu, lớp lưu luyến nơi chôn nhau cắt rún, lớp lo lắng cho bệnh tình của cha già. Tôi không dám đến từ giã người, vì tôi sợ tôi bị xúc động rồi ngất xỉu đi thì sẽ không đi Mỹ được. Tôi bị bịnh cao máu nặng, mỗi khi tôi bị buồn rầu hay xúc động thì tôi bị ngất xỉu rất lâu mới tỉnh dậy. Máy bay cất cánh rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 12 giờ rưỡi và sau 20 tiếng đồng hồ, gia đình tôi xum họp lại tại Mỹ.

Ngày ngày tôi đến trung tâm St. Alsem để học Anh văn. Sau sáu tháng tôi phải đi mổ mắt. Trước khi đi mổ, tôi quỳ gối trước bàn thờ và thành tâm khấn nguyện: “Xin Đức Mẹ cho con thấy được rõ ràng sau khi mổ mắt. Nếu con bị mù chắc con tự tử chết quá, vì con không muốn làm khổ chồng và các con của con !” Có lẽ vì quá thương chồng và các con nên tôi mới có ý nghĩ điên cuồng như thế.

Đức Mẹ đã nhận lời cầu nguyện của tôi nên sau khi mổ, đôi mắt tôi rất sáng và trông thấy rõ ràng. Tôi có thể đọc sách mà không cần mang kiếng lão nữa. Con xin cám ơn Mẹ Maria, tôi xin cám ơn bác sĩ Minh, người đã mổ mắt cườm cho tôi. Tôi đặt chân lên đất Mỹ ở cái tuổi năm mươi tám, cái tuổi dở thầy, dở thợ, và không muốn đi ở đợ. Ở Việt Nam tôi làm cô giáo, qua Mỹ tôi “tháo giầy.”

Làm cô giáo 35 năm, hôm nay đổi đời tôi trở lại làm học trò! Thật là một kinh nghiệm sâu sắc và quí giá. Chồng tôi học Anh văn và Spanish vào buổi tối. Tôi học buổi sáng. Ban ngày anh đi làm việc ở tận Long Beach. Chiều về ăn vội vài chén cơm rồi đi ngủ để đến 10 giờ tối thì vợ chồng tôi lại đến xưởng phân phát báo Los Angeles Times, để xếp báo. Đến 5 giờ sáng thì cùng nhau đi bỏ báo. Địa điểm bỏ báo của chúng tôi ở gần biển nên mùa Hè thì dễ chịu, còn mùa Đông thì lại vất vả, khổ sở. Gió biển lạnh thấu xương. Tay xách, vai mang bị đựng báo, chúng tôi lê bước bỏ báo đến từng nhà, vì chúng tôi tuổi già, sức yếu, tay run nên không thể ngồi trên xe mà quăng báo một cách điệu nghệ như đám trẻ. Xong việc, anh đưa tôi tới Golden West để tôi tham gia lớp học, còn anh lại đi làm thêm.

Tôi học Anh văn rất khó khăn, nên mấy tháng đầu nghe thầy giảng mà như vịt nghe sấm! Phần lớn tuổi, phần đầu óc chậm tiếp thu, nên thay vì học lớp cắm hoa chỉ có hai năm, tôi phải mất bốn năm. Sau bốn năm miệt mài tôi cũng ra trường vào mùa hè 2001 với chứng chỉ Floral Design & Shop Management. Dù có chứng chỉ trong tay nhưng với số tuổi đời đã muộn nên không có tiệm hoa nào mướn tôi hết. Tôi đành ở nhà lo cơm nước cho chồng và các con. Đêm đêm cùng chồng đi bỏ báo cho đến lúc hưởng tiền già.

Tôi thuộc loại “Giamaha” (già mà ham). Ham học, ham làm chớ không ham đi shopping. Vì tiết kiệm ngân quỹ gia đình, tôi chỉ mặc đồ hiệu ‘”DOMIBO” (đồ Mỹ bỏ ) và “DOREMI” (đồ rẻ Mỹ). Ba đứa con tôi tiện tặn để dành tiền trong ba năm và mua được một căn nhà ba phòng ngủ, hai phòng tắm, giá $158,000 mà chỉ đặt tiền trước có $ 10,000.

Trước khi mua nhà chúng tôi tạm trú với Thạch. Sau một năm chúng tôi muớn một căn hộ hai phòng đường Magnolia để ra riêng. Sau khi ở được hai ngày, đứa con trai lớn xuống garage thì thấy xe đã mất. Tôi bủn rủn cả chân tay. Chiếc xe chưa trả hết tiền mà đã mất.

Nỗi khổ mất xe còn nóng hổi thì anh cả tôi bên ViệtNam kêu qua, báo tin ba tôi vừa mới qua đời sáng ngày 05 Tháng Tư, năm 1995. Con người có thể chịu đựng được bao nhiêu đau khổ dập dồn trong một thời gian ngắn ngủi hả bạn? Lòng tôi ray rứt, ăn năn. Phải chi tôi nán lại Việt Nam hai tháng thôi thì tôi đã có cơ hội mang chiếc khăn tang tiễn đưa ba tôi đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Phải chi tôi đừng vội vàng, tôi đã có thể quỳ bên giường bệnh và vuốt mắt đấng sanh thành trong lần tiễn biệt. Tôi khóc như mưa và khấn nguyện: “ Cha ơi, xin hãy tha cho con tội bất hiếu. Con không thể nào vẹn vẻ cả đôi đường… Xin cha hiểu cho con. Con thương cha nhiều lắm…” Tôi không thể về VN được nên gởi tiền về cho anh tôi lo ma chay. Trong sáu tháng tôi mồ côi cả mẹ lẫn cha !

Tôi ở nhà lo việc nội trợ, nấu nướng để khi chồng và các con về sẽ có bát canh nóng, chén cơm dẻo. Cả nhà sống trong hạnh phúc giản dị, chân thành. Các con ban ngày làm việc, tối học thêm ở Golden West College. Chúng hiện đã hoàn thành “ Giấc Mơ Mỹ” với công việc ổn định, nhà cửa đàng hoàng. Vợ chồng tôi chỉ ao ước sớm có cháu nội ngoại để ẵm bồng cho vui tuổi già. Các con tôi đều hiếu thảo, hiền ngoan. Gia đình tôi rất hạnh phúc. Cuối tuần xum họp, ăn uống và cùng nhau đi lễ ở nhà thờ Westminster. Chúng tôi tập cho các con biết thương yêu, chia sẻ và nâng đỡ nhau trong những khi tối lửa tắt đèn.

Sau mười sáu năm cùng nhau chia sẻ tất cả thăng trầm, buồn vui, khổ đau và hạnh phúc, ngày 14 Tháng Giêng, năm 2009, chồng tôi bỏ tôi ra đi, về với Chúa. Anh trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Fountain Valley vì nhồi máu cơ tim. Trước khi hôn mê, anh đã thì thầm với tôi: “Loan ơi, anh mệt lắm.” Nghe anh nói mà tim tôi đau nhói. Tôi cảm thấy như có muôn ngàn mũi tên đâm vào trái tim tôi. Tôi nắm tay anh, cố nén tiếng khóc. Đau khổ ơi, hãy chảy ngược vào tim đi, hãy nằm đó rã tan và thấm đậm. Rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ cùng nhau gặm nhắm từng phút, từng giây, từng nét rạch, từng đường vỡ để cho nước mắt nhỏ từng giọt xuống mộ bia lạnh lẻo, để người nằm đó nhắm mắt thở dài… Anh chăm chú nhìn tôi rất lâu mà không nói được cho đến khi hoàn toàn chìm vào hôn mê. Bác sĩ mời mẹ con tôi ra ngoài để họ dùng máy nhồi tim. Mẹ con tôi ngồi chờ trên đống lửa. Sau cùng ông ra, buồn rầu và nghiêm trang, nói: “Xin lỗi bà, chúng tôi đã làm hết sức. Ông nhà quá yếu…”

Các con dìu người mẹ khổ đau ngồi xuống ghế. Tình yêu, hạnh phúc, xum họp, chia lìa… Như những bọt nước…như những chiếc lá vàng… mênh mông… bềnh bồng… vô tận…

Chúng tôi được phép xuống phòng ICU để nhìn mặt anh lần cuối cùng. Sau khi Cha làm phép xức dầu và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Gioan Baotixita sớm về với Chúa thì y tá đến rút ống oxy. Tôi nắm bàn tay mềm mại và còn chút hơi ấm của chồng mà nước mắt tuôn rơi. Tôi than thầm: “ Mình ơi, sao mình nỡ đi trước, bỏ em lại bơ vơ một mình. Mình nhớ cầu xin Chúa sớm rước em đi theo mình nghen mình !”

Chúng tôi quàn anh tại nhà thờ Dilday Brothers ở đường Beach. Chúng tôi xin cảm tạ tất cả quý Cha, quý thân nhân, bằng hữu đã an ủi, thăm viếng và tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Chúng tôi cũng không quên cám ơn nước Mỹ đã cho những gia đình cựu quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà được tị nạn trên miền đất tự do nầy… được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do ứng cử và bầu cử, và được tự do biểu tình v..v..

Chúng tôi nguyện chọn nơi đây là quê hương thứ hai và chúng tôi cũng sẽ gởi nắm xương tàn tại non nước nầy, giống như người chồng, người cha yêu quý của chúng tôi vậy.

Nguyễn Kim Loan

From: TU-PHUNG