THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

Vị nữ tu Teresa thành Calcutta qua đời ngày 05.09.1997 đã được Hội Thánh tôn phong lên hàng Chân Phước ngày 19.10.2003, và ngày Chúa Nhật 04.09.2016 được tôn kính trên bàn thờ trong Hội Thánh Công Giáo là đấng Hiển Thánh.

Cuộc đời 87 năm trên trần gian của mẹ Thánh Teresa gắn bó với số phận của những người nghèo vừa về miếng ăn lương thực, quần áo, thuốc men chữ bệnh, nhà cửa, và vừa về gía trị nhân phẩm con người cùng đau khổ tinh thần của họ nữa.

  1. Gia đình, nôi nuôi dưỡng lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa mở mắt chào đời bên nước Albania, vùng phía Đông Âu châu, nằm trong liên bang Nam Tư Cộng sản cũ thời Thống Chế Tito.  Albania là một nước nhỏ đại đa số dân cư theo Hồi giáo, đạo Công Giáo chỉ là một thiểu số trong xã hội này.  Gia đình Mẹ Teresa là một gia đình khá giả nếp sống bậc trung lưu có cuộc sống hạnh phúc, theo đức tin Công Giáo truyền thống đạo đức.

Buổi sáng nào người mẹ gia đình Drana của Teresa cũng đều đưa ba người con của bà đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện dâng Thánh lễ.  Buổi chiều tối gia đình tụ tập lại lần chuỗi mân côi, dù bận rộn hay có khách.  Vì với gia đình đó là điều quan trọng hơn cả.

Ngay từ khi con còn nhỏ, người mẹ gia đình Drana đã dậy các con mình sống bác ái lòng thương xót theo phương hướng Phúc âm của Chúa: “Những gì các con làm cho một người bé nhỏ hèn mọn nhất trong các con, chính là các con làm cho Thầy” (Mt 25,40).

5,972 Mother Teresa Photos and Premium High Res Pictures - Getty Images

Rồi hằng tuần, người mẹ Drana của Teresa có thói quen thăm hỏi những người bệnh nạn trong khu phố, và mang cho những người nghèo quần áo cũng như thực phẩm cần thiết.  Bà muốn con mình ngay từ nhỏ đã biết cùng đồng hành với những người như thế.  Bà thường nói với các con mình: “Các con có phúc lắm, có nhà ở đẹp, có đầy đủ lương thực và quần áo.  Các không con thiếu gì.  Nhưng các con không được quên có nhiều người phải sống trong hoàn cảnh thiếu ăn, có những trẻ em không có quần áo, khi đau bệnh, chúng không có thuốc trị bệnh cần thiết để chữa bệnh.”

Đời sống gương sáng của người mẹ Drana đã ghi khắc dấu vết sâu đậm trong tâm khảm đời sống của Teresa ngay từ nhỏ.  Có lần Teresa lúc nhìn lại thời nhỏ còn ở nhà với mẹ mình đã tâm sự: “Tôi không biết phải nói gì hơn nữa, gương sống của mẹ tôi, hay nếp sống đạo đức chăm chỉ đi nhà thờ cầu nguyện của mẹ tôi đóng vai trò ảnh hưởng rất quan trọng cho ơn kêu gọi của tôi trưởng thành chín mùi.”  Chính trong bầu khí chan chứa lòng thương xót đó của gia đình với những người chung quanh Teresa đã lớn lên và trở thành vị Thánh, người mẹ lòng thương xót sau này giữa lòng xã hội con người.

  1. Con đường lòng thương xót

 Lúc Teresa lên 12 tuổi đã cảm nghiệm thấy mình có ơn kêu gọi vào sống tu trì trong nhà Dòng, và còn hơn thế nữa cảm nghiệm ra ơn kêu gọi trở thành một nhà truyền giáo sang Ấn Độ, bên Á Châu.

Năm 18 tuổi Teresa đã nói với mẹ mình và cha sở ý muốn đi truyền giáo sang Bengale bên Ấn Độ để cùng làm việc với các Cha Dòng Tên Chúa Giêsu đang sinh sống nơi đó.  Nhưng để thực hiện được ý muốn đó, Teresa phải nhập Dòng Đức mẹ Loreto ở bên Dublin nước Ái nhĩ Lan.  Các nữ tu dòng Đức mẹ Loreto thời đó cũng đang hoạt động truyền giáo bên Bengale.

Teresa nghe theo tiếng gọi con đường đó và trở thành nữ tu của Dòng Loreto, rồi năm 1928 được sai sang Ấn Độ đến vùng Himalaja sống thời gian nhà tập tu luyện, sau đó đến Calcutta học thêm và trở thành cô giáo môn lịch sử, địa lý trường trung học St. Mary’s High School của nhà Dòng.

Nữ tu Teresa làm công việc trí thức dạy học ở trường học nội trú với nhiệt tâm đầy đủ trách nhiệm, nhưng tâm hồn luôn nghĩ đến việc truyền giáo cho những người nghèo nhất nơi những người nghèo bên Ấn độ, mà vị nữ tu ngày đêm ấp ủ hoài bão lúc nào cũng mơ tưởng mong muốn được sống được làm.  Vị Nữ tu Teresa tâm sự: “Tôi là cô giáo, đây là một nếp sống mới với tôi.  Ngôi nhà trường nội trú này rất đẹp cùng thuận lợi cho các học sinh.  Tôi yêu thích việc dậy học.  Tôi chịu trách nhiệm trông coi cả nhà trường, các nữ học sinh yêu mến tôi…”

Nhưng trong khu nhà trường nội trú đó, vị nữ tu Teresa không gặp được một ai là người nghèo đói bị bệnh hoạn, bị bị bỏ rơi ngoài đường phố.

Ngày 10 tháng Chín 1946 nữ tu Teresa đáp xe lửa đi Darjeeling vùng phía Tây Bengale, nơi xưa kia Teresa đã sống thời gian nhà tập, đi tĩnh tâm.  Khi xe lửa đến nhà ga thành phố Calcutta, vị nữ tu cô giáo trường nội trú nhìn thấy tận mắt cảnh từng đám đông người nghèo, người đau khổ thiếu thốn nghèo khổ, bệnh tật đui què sống chen chúc vất vưởng ngoài đường, những bà mẹ trẻ bồng bế cõng con không quần áo trên lưng, trên vai ăn xin ngoài phố xá… thật là một cảnh hãi hùng thương tâm với vị nữ tu trẻ tuổi Teresa.  Tâm hồn vị nữ tu Teresa bồi hồi dao động vì cảnh tượng quá thương tâm như thế

Tâm hồn con mắt vị nữ tu Teresa càng mở ra to lớn hơn, và nữ tu Teresa đã có quyết định quay ngược lại với ơn kêu gọi mà chị đã cảm nghiệm được từ lúc còn ở quê nhà bên Albania: muốn trở thành nhà truyền giáo sống cho người nghèo khổ cùng cực bên Ấn Độ!

Chính mẹ Thánh Teresa sau này đã tâm sự nói về quyết định quay ngược lại tận căn rễ của mình: “Trong đêm hôm đó mắt tôi đã mở ra nhìn thấy cảnh thương tâm cùng cực của con người nghèo khổ xấu số, và tôi cảm thấy tận sâu thẳm sự gì là căn bản ơn kêu gọi của tôi.  Đó là tiếng gọi mới của Chúa nói với tôi, một ơn kêu gọi trong lòng ơn kêu gọi.  Chúa kêu gọi tôi không được từ bỏ đời sống là nữ tu, nhưng hãy thay đổi nếp sống.  Có thế mới phù hợp nhiều hơn với tinh thần phúc âm, với tinh thần truyền giáo, mà Chúa ký thác ban gửi cho tôi…  Tôi cảm nghiệm ra rằng Chúa muốn tôi bỏ nếp sống thanh bình yên lặng tiện nghi nhà Dòng của tôi, mà đi ra ngoài đường sống phục vụ những người nghèo khổ.  Với tôi sứ mạng đã rõ ràng: Tôi phải đi ra khỏi nhà Dòng và sống với những người nghèo khổ cùng cực.  Chúa đã gọi tôi đến sống với những người không có sự gì ở thành phố Calcutta này…. Cuộc tĩnh tâm của tôi ở Darjeeling là những ngày suy nghĩ về sứ mạng ơn kêu gọi mới của tôi, mà tôi đã tiếp nhận trên đường tới đây.  Sau đó về lại Calcutta, tôi quyết định thay đổi nếp sống đời tu.”  Con đường dấn thân cho lòng thương xót với con người cùng khổ, cùng đinh trong xã hội Calcutta bên Ấn Độ bắt đầu từ quyết định thay đổi ra đi đến với họ của mẹ Thánh Teresa.

  1. Nhà Dòng lòng thương xót: Dòng thừa sai bác ái.

Con đường thay đổi nếp sống của nữ tu Teresa để ra đi sống với và cho người nghèo cùng khổ không đơn giản dễ dàng.  Vì phải vượt qua những chặng thử thách có phép chấp thuận của nhà Dòng Loreto cho nữ tu Teresa ra đi, phép của Đức Giám Mục Calcutta, phép của Thánh bộ giáo sỹ tu sỹ bên Roma, và sau cùng phép phê chuẩn của Đức Thánh Cha cho mẹ Teresa lập Dòng mới như mẹ thỉnh nguyện xin.

Sau những năm tháng khảo sát điều tra, ngày 7.10.1950 Tòa Thánh đã phê chuẩn chấp thuận cho mẹ Teresa thành lập Dòng Thừa sai bác ái bên Calcutta Ấn Độ để giúp phục vụ người nghèo khổ cùng cực trong xã hội.

Thế là ơn kêu gọi phục vụ truyền giáo cho người nghèo của mẹ Teresa về phương diện pháp lý theo luật đạo thành sự.

Ơn kêu gọi hoài bão lòng mong ước đến sống truyền gíáo lòng thương xót giữa những người nghèo khổ, mà mẹ Teresa đã đón nhận ơn soi sáng từ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương, giờ đây thành hiện thực cho đời mẹ.

Như các Dòng truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo, Dòng của Mẹ Teresa cũng có ba lời khấn: khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, ngoài ra Dòng còn buộc các chị em nữ tu lời khấn thứ tư nữa: sống vị tha bác ái thương người.

Mẹ Teresa, vị sáng lập Dòng Thừa sai bác ái tâm sự: “Chúng tôi có trách nhiệm bổn phận với lời khấn phục vụ cho hết mọi người không đòi hỏi thù lao được trả công.  Lời khấn này có nội dung là chúng tôi không làm việc phục vụ cho người giầu có, không làm việc vì thù lao tiền bạc, chúng tôi không được nhận tiền bạc thù lao.”

Dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Teresa chọn áo Sari dài phủ kín thân thể của phụ nữ Ấn Độ vẫn thường mặc hằng ngày.  Áo Sari mầu trắng bằng vải thô, bên vành áo có ba vạch mầu xanh da trời nói lên ý nghĩa mầu của bầu trời.  Phía bên trái áo Dòng Sari có gắn cây Thánh Giá Chúa Giêsu, để nhắc nhở người nữ tu nhớ đến Chúa Giêsu.

Mẹ Teresa cắt nghĩa về áo dòng Sari: “Chiếc áo Dòng Sari giúp người nữ tu cảm nhận mình là người nghèo giữa những người nghèo, nhận ra mình cũng là người bệnh tật đau khổ, là trẻ em, là những người già yếu bị bỏ rơi.  Và với chiếc áo Dòng Sari cùng chia sẻ đời sống không có gì thừa tự để lại cho thế giới.”

Chiếc áo Dòng áo Sari hèn mọn theo kiểu của người phụ nữ bình dân trong xã hội Ấn Độ nói lên sâu đậm căn tính lòng thương xót cùng đồng cảm với con người của Dòng Thừa sai bác ái do mẹ ThánhTeresa sáng lập.

  1. Dụng cụ lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa lúc còn sinh thời đã thuật kể lại về nhà Dòng Thừa sai bác ái phục vụ cho người nghèo, trẻ con, người bệnh tật bị bỏ rơi trên toàn thế giới: Dòng chúng tôi có 3.500 chị em nữ tu nơi 95 quốc gia với 445 nhà, chúng tôi càng cần thêm nhiều ơn kêu gọi nữa do Chúa gửi đến…

Chúng tôi là dụng cụ của Thiên Chúa.  Những công việc phục vụ cho bác ái tình yêu là những công việc phục vụ cho hòa bình.  Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ về chính trị.  Chúng tôi chỉ muốn phục vụ giúp đỡ người nghèo khổ, vì họ cần đến tình yêu của chúng tôi…

Công việc dấn thân phục vụ người nghèo, người cùng khổ là chứng từ cụ thể cho đức tin.  Nó cắt nghĩa cho người người nghèo, người đau khổ về tình yêu Thiên Chúa trao tặng cho họ.  Ở Ấn Độ, một phóng viên người Hoa Kỳ quan sát tôi săn sóc người bệnh bị bệnh da lở loét rất nguy hiểm, anh ta nói với tôi: “Dạ, việc như vậy dù có cho tôi một triệu Mỹ kim, tôi cũng không làm!”  Tôi nói lại ngay: Đúng thế, tôi cũng chẳng làm dù có được một triệu Mỹ kim!  Nhưng tôi làm vì tình yêu Chúa.  Người nghèo khổ bệnh tật này với tôi là thân thể Chúa Giêsu Kitô…  Anh phóng viên nghe thế đứng yên lặng rất mủi lòng cảm động, và hiểu nhận ra sức mạnh nào đã kêu gọi cùng thêm sức nâng đỡ việc làm của chúng tôi…

Chúng tôi luôn nỗ lực cố gắng tìm đến nơi có những người lâm vào hoàn cảnh đau khổ mà không có ánh sáng niềm hy vọng.  Đó là nơi những người nghèo khổ, đói khát và bị bệnh tật, nhất là những người bị bỏ rơi sinh sống vất vưởng.  Chúng tôi đến những nơi đó do Chúa sai đến và chỉ cho chúng tôi việc phải làm…

Với Mẹ Thánh Teresa và Dòng của Mẹ, cầu nguyện với Chúa là suối nguồn kín múc sức mạnh cho việc làm bác ái lòng thương xót con người mà Chúa gửi sai đến: “Ngày sống làm việc của chúng tôi đặt trên căn bản cầu nguyện.  Dòng chúng tôi là Dòng chiêm niệm ở giữa lòng trần gian.  Vì thế cầu nguyện là căn bản đời sống nhà Dòng.  Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện khắp mọi nơi đang khi làm việc cũng như lúc đi dọc đường.  Nếu chúng tôi không liên lỉ sống kết hợp với Chúa, chúng tôi đâu có thể có sức lực để sống dấn thân hy sinh phục vụ được.”

Khi người ta xin Mẹ tấm thẻ địa chỉ của Dòng, Mẹ Thánh Teresa rút trong túi áo Dòng Sari ra một mảnh giấy nhỏ rẻ tiền mầu xanh, trên có in dòng chữ bằng tiếng Anh:

“Chúa Giêsu vui mừng hạnh phúc đến với chúng ta,
khi sự chân thật muốn được loan truyền,
khi sự sống muốn được cho bừng lên chỗi dậy,

khi ánh sáng muốn được bật chiếu tỏa lan ra,
khi tình yêu muốn được yêu mến,
khi niềm vui muốn được tiếp tục cho đi,
khi hòa bình muốn được xây dựng lan tỏa gieo rắc.”  (Mẹ Teresa)

Xin Mẹ Thánh Teresa cầu cho chúng con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Giáo dục XHCN Sẽ Tự Xóa Sổ Chế Độ

+3

Thưa Bà Con,

CSBV vừa khai giảng niên học mới 2020-2021. Ngày khai giảng đặc biệt của gần 23 triệu học sinh cả nước 05/09/2020 07:00 GMT+7

Sáng nay (5/9), gần 23 triệu học sinh khai giảng năm học 2020-2021. Để “Tất cả vì học sinh thân yêu” trong năm học này sẽ đòi hỏi tâm trí, thời gian, công sức mà các thầy cô dành cho mỗi giờ giảng, cho mỗi học trò nhiều hơn nữa.

Nói thì hay lắm …vì học sinh thân yêu, nhưng sự thật đây là một chương trình học nhồi sọ, tẩy não những mái đầu xanh, đặc căn bản trên sự hận thù, mù quáng tôn sùng lãnh tụ và cộng sản… mặc dù, CSBV hiện nay chỉ là chế độ độc tài man rợ!

Xin mời Bà Con đọc.

***

Giáo dục XHCN Sẽ Tự Xóa Sổ Chế Độ

Ngày 5/9 vừa qua là ngày khai giảng niên học 2018-19 ở Việt Nam. Đã 43 năm kể từ ngày CSBV tiến chiếm miền Nam, thu về một mối dưới ánh “hào quang quang vinh” của đảng, tình trạng giáo dục vẫn không thay đổi, nghĩa là những hình ảnh trong ngày tựu trường ở những vùng xa như thầy trò cùng leo đồi – lội sông – vượt suối như những hình ảnh minh họa dưới đây.

Nhưng mỗi năm, vẫn có những sự kiện mới trong ngày nầy, đặc biệt trong năm nay có thêm sự kiện mới nữa. Đó là:

  • Hàng năm vẫn phát hành hàng loạt sách giao khoa “mới” đề phân phối (thực ra là bán) tiêu tốn hàng chục ngàn tỷ ngân sách quốc gia, và vỗ béo cho hàng ngàn “cán bộ giáo dục”. Sách mới nhưng nội dung vẫn như cũ vẫn còn những lỗi phạm phải mà không hề có sửa chữa;
  • Điểm mới năm nay có thêm bộ tự điển tiếng Việt …lai Tàu của Bùi Hiền;
  • Và loạt sách đánh vần “kiểu mới” (văn minh và khoa học gấp vạn lần kiểu đáng vần cũ) áp dụng cho lớp 1.

Đó chính là giáo dục xã hội chủ nghĩa siêu việt!

Đề tìm hiểu thêm, người viết lần lượt trình bày hai nền giáo dục ở miền Nam trước đây (1955-1975) và hiện tại sau 43 năm dưới sự cai trị của CSBV.

1- Lãnh vực giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam

Vào năm 1958, một đại hội giáo dục toàn quốc (từ vỹ tuyến 17 trở vào) đã nghiên cứu và chấp nhận 3 nguyên tắc căn bản định hướng cho nền giáo dục Việt Nam là nhân bản, dân tộc, khai phóng. Và định hướng giao dục nầy được ghi rõ trong hiến pháp thời bấy giờ.

  1. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người;
  2. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan đến những cảnh huống sinh hoạt như gia đình, nghề nghiệp, đất nước và bảo đảm hữu hiệu cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia;
  3. Nền giáo dục việt Nam phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.

Đến năm 1970, thêm một nguyên tắc khác được đem vào làm chuẩn cho nền giáo dục Miền Nam. Đó là lấy sự tôn trọng tinh thần khoa học – như các quốc gia tân tiến trên thế giới – làm nền tảng cho mọi sự tiến bộ giáo dục tại Việt Nam.

Từ đó, giáo dục Miền Nam đã có những bước đi vững chắc trên nền tảng của Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học. Đây chính là kim chỉ nam giúp cho nền giáo dục Miền Nam liên tục thăng tiến, nâng cao phẩm chất giáo dục quốc gia, và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Miền Nam trở thành những thành viên ưu tú của đất nước trong suốt thời kỳ 1958 – 1975.

2- Còn tình trạng giáo dục Bắc Việt & Việt Nam sau ngày 30/4/1975 thì sao?

Trước năm 1975, tại miền Bắc, hệ thống giáo dục trung học phổ thông chỉ có 10 năm. Thực chất của CSBV là nhằm mục tiêu đưa các em thanh niên ra chiến trường. Đặc biệt hơn nữa, rõ ràng CSBV không hướng đến việc đào tạo kiến thức phổ thông mà đặt trọng tâm vào việc xây dựng một cán bộ cộng sản nhiều hơn.

Sau năm 1975, vì lý do cào bằng, CSBV đã “xuống cấp” giáo dục ở miền Nam, đặc biệt ĐBSCL. Thí dụ trước năm 1975, trình độ trung bình của thanh niên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ở lớp tuổi từ 14 đến 25 là lớp 7.5 theo thông kế của UNESCO. Cũng trong thời điểm nầy, trình độ của lớp tuổi trên ở Đồng Bằng Sông Hồng là 5.5. Hiện tại (2016), tình trạng đã đảo ngược, trình độ ở ĐBSCL là 5.0 và ĐBSH là 7.0.

Vì vậy, việc làm cấp bách cho Việt Nam tương lai là phải đặt trọng tâm vào việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục miền ĐBSCL, đồng thời với việc cải thiện hệ thống y tế công cộng của vựa lúa rất quan trọng này của cả nước.

Phải chăng đây là chính sách cào bằng và triệt hạ người dân miền Nam. Các trường học, ngoài việc thiếu thốn phòng ốc và tài liệu học tập (ngoại trừ các sách giáo khoa từ chương một chiều hạn chế tinh thần suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh) thậm chí không có nơi cho học sinh tiểu tiện. Học sinh phải nín tiểu, nín tiêu… tạo thành một hiện tượng trường ốc có một không hai trên thế giới?

  • Về nước uống cho học sinh hầu như không được để ý đến, học sinh phải nhịn khát. Nhiều nơi được các nhà thiện nguyện ngoại quốc và người Việt tỵ nạn giúp đỡ các bình lọc nước… nhưng các bình lọc nầy chỉ hiện diện ở trường học một thời gian ngắn rồi biến mất về nhà của… cán bộ.
  • Hiện tại, nước uống cho học sinh, bàn ghế, phấn viết, và nhiều dịch vụ khác đều nằm trong chi phí mà phụ huynh phải trả trước tri con em được vào lớp. Trong lúc đó, hiến pháp xhcn có ghi rõ ràng là “giáo dục trung tiểu học là cưỡng bách và miễn phí”!

Bây giờ nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta có thể hình dung một cách rõ ràng, qua báo chí cộng sản, trên các mạng lưới, hình ảnh thầy gạ dâm trò để nâng điểm cao hay cho biết đề thi, cảnh học sinh lớp 9 dở trò dâm ô với nhau trong khi cô giáo đang giảng dạy trên bảng, và hàng vạn tệ nạn khác xảy ra hàng ngày trên khắp các nẻo đường Việt Nam từ thành thị đến thôn quê.

Một thí dụ về Trường Nữ Trung học Gia Long trước 1975 và Trường Nguyễn Thị Minh Khai sau 1975: “Nội dung học tập của học sinh hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác, đặc biệt là trong lĩnh vực lịch sử và luân lý”. Con người xuất thân từ trường Gia Long có khái niệm về dân chủ, về chính thể tam quyền phân lập rõ ràng hơn. Còn học sinh Minh Khai thì coi chính sách độc đảng toàn trị là mô hình cai trị toàn hảo. Vì vậy mà sự hình thành nhân cách và lý tưởng của con người được đào tạo từ hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác. (Trích Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 129)

Xã hội Việt Nam hiện nay ngày càng băng hoại và chính hình ảnh nầy đã và đang đánh dấu buổi hoàng hôn của chế độ CS Bắc Việt.

Bây giờ hãy thử so sánh từng điểm của nền giáo dục trước năm 1975 với hiện trạng “giáo dục” ngày hôm nay, dưới chế độ CSBV, chúng ta thấy gì?

  1. Nhân bản: Nhân bản thời xã hội chủ nghĩa là tự do đàn áp, tra tấn và “cướp ngày”;
  2. Dân tộc: Dân tộc trong nghĩa Hán tộc đại đồng, chữ Tàu phải nằm trong chương trình giáo dục phổ thông;
  3. Khai phóng: còn có nghĩa là khai thông biên giới và chỉ tiếp cận với một văn minh duy nhứt là văn minh của Hán tộc;
  4. Và Khoa học: là khai thác, tận dụng tối đa sức lao động của người dân để cung phụng cho lý tưởng “đại đồng” của chủ nghĩa, tức là toàn đảng cùng giàu cùng hưởng thụ.

Vậy chính sách giáo dục quốc gia của Miền Nam trước 1975 khác xa HOÀN TOÀN giai đoạn giáo dục của xã hội chủ nghĩa hôm nay về căn bản và kết quả!

3- Thay lời kết

Qua những nhận định trên, chúng ta thấy sự khác biệt của hai nền giáo dục đặt trên căn bản xã hội pháp trị và xã hội chủ nghĩa đã đưa “đầu vào” (học sinh) và “đầu ra” (kết quả học tập) như thế nào rồi.

Vì vậy, bằng bất cứ giá nào mọi người con Việt trong và ngoài nước cần phải xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản của xã nghĩa CSBV hầu mang lại một chính sách giáo dục đúng đán cho các thế hệ Việt về sau.

Và điều nầy cần phải hành động cấp bách.

Và, một Việt Nam DÂN CHỦ PHÁP TRỊ tương lai cần phải có một nền giáo dục đặt nặng vào các mục tiêu sau:

  1. Giúp cho thanh niên thu thập được nền văn hóa phổ thông, đồng thời chuẩn bị cho họ bước vào các ngành chuyên môn ở bậc đại học và kỹ thuật.
  2. Khuyến khích việc học ngoại ngữ, chú trọng đến các sinh hoạt hội đoàn để học sinh quen sống tập thể, có tinh thần tháo vát, biết giúp ích mọi người, đồng thời rèn luyện những đức tính cần thiết cho đời sống thực tế của một công dân tương lai.
  3. Đặc biệt chú ý đến vấn đề sức khỏe của học sinh và phát động phong trào thể dục thể thao toàn quốc, nhằm thực hiện mục tiêu “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”.
  4. Và nhứt là đề cao môn đạo đức học và công dân giáo dục hầu tạo dựng một tầng lớp thanh niên ưu tú về khoa học, đạo đức, và ý thức công dân để kiến thiết quốc gia.

Nếu sự áp dụng chính sách quốc gia giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam được sáng suốt thi hành, và đặt trọng tâm trên nền tảng Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học, thế vào toàn bộ hệ thống giáo dục băng hoại của chế độ hiện hành, thiết tưởng một Việt Nam trong tương lai sẽ thoát khỏi sự thụt lùi trong một vài thập niên hậu Cộng sản.

Mai Thanh Truyết

Trích trong sách “Giải pháp cho Việt Nam”

Houston, 9/11/2018

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

+2

Mai Thanh Truyet Envirovn

Thưa Bà Con,

Có một số bạn yêu cầu gửi lại bài viết về Cụ Trần Văn Hương dưới đây:

Nhớ về một Nhơn sĩ Miền Nam

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm… Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27 tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm Cụ, tôi xin chia xẻ vài suy nghĩ về Cụ.

Khi “Cách mạng tháng Tám 1945” nổ ra, Cụ tham gia chánh quyền Việt Minh với tư cách nhơn sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chánh quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.

Xét về sự nghiệp chánh trị, Cụ Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chánh thủ đô Việt Nam Cộng Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt:

  • Lần đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết, do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;
  • Lần thứ hai, sau khi chánh quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Ðô Trưởng Sài Gòn.

Và hai lần được mời làm Thủ tướng và một lần Phó Tổng Thống:

  • Lần đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chánh trị vô cùng căng thẳng.
  • Lần thứ hai vào năm 1968, trước tình hình chánh trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).

Lần chấp chánh thứ ba của Cụ là Phó Thổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1971 -1975).

Trong bối cảnh chánh trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chánh trị đại chúng với danh nghĩa là một nhơn sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là “chẳng làm được gì”, Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo “ý dân”, qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.

Với tôi, Cụ là mẫu người có phong cách của một nhơn sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần, ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều “vô thường”, qua câu thơ bất hủ để đời ghi trong tập thơ “Lao trung lãnh vận” khiến ai đọc lên cũng cảm phục “ông già” trong cảnh tù đày.

Ðó là: “Ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn”. (một số bạn bè nói bản chánh của câu trên là “ngồi rù”…). Những người yêu thơ lãng mạn có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của tác giả.

Tính can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành trách vụ. Còn nhớ, trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, Cụ đã bất chấp thế lực của quân đội Mỹ, và sự hiểm nguy của bản thân, mở cuộc họp báo quốc tế, tố cáo thái độ bội ước và bỏ rơi chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa của quân đội Mỹ, khiến Chánh phủ Mỹ lúc đó phải lập tức ra lịnh cho các đơn vị Mỹ hành quân phải tiếp tục kế hoạch, và xin lỗi về việc này. Dịp này Cụ đã hãnh diện nhận lãnh tước vị ‘Hạ sĩ danh dự’ của binh chủng Nhảy Dù, ghi đậm lời tri ơn sâu xa của binh chủng này dành cho Cụ.

Trong tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyền là cố gắng xây dựng Ðại học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn nầy.

Một biến cố sau cùng của con đường “hoạn lộ” của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân thân cận với chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:”Là một quân nhân, vào những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Saigon đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp.

Ông đã nhận lấy chức vụ đứng đầu một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chánh quyền miền Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô Saigon. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chánh quyền miền Nam bằng sự thay thế một chánh quyền do cộng sản kiểm soát.

Trong thời gian bảy ngày sau khi bàn giao với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng Cụ Trần Văn Hương phải chấp nhận việc bàn giao cho tướng Dương Văn Mình theo diễn tiến như sau:

  • Ngày 21-4-75 tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Cụ Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
  • Ngày 26-4-75 đại sứ Martin yết kiến và thông báo cho Cụ Hương về áp lực cộng sản Bắc Việt và khả năng của cộng quân tấn công vào Saigon.
  • Ngày 27-4-75 quốc hội VNCH họp và biểu quyết việc trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh.
  • Ngày 28-4-75 vào lúc 5:00 chiều, Cụ Trần Văn Hương trao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh theo quyết định của quốc hội.

Trong bài diễn văn, Tổng thống Trần Văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26-4-75, chúng ta thấy rõ ràng Cụ Trần Văn Hương không thoát khỏi áp lực quá mạnh, một của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, và môt áp lực về phía cộng sản Bắc Việt mà tướng lưu vong Dương Văn Minh được xắp xếp như là một con cờ chính trị để làm nhiệm vụ xóa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng ta hãy nhớ lại những gì Cụ Hương đã phát biểu có tính cách lịch sử trong bài diễn văn tại quốc hội dưới sự hiện diện của đầy đủ dân biểu và thượng nghị sĩ. Cụ Hương đã cho biết rằng Cụ “chỉ muốn chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh trong vai trò thủ tướng, nhưng tướng Dương Văn Minh vẫn khăng khăng đòi Cụ Hương phải trao quyền để cho tướng Dương Văn Minh nói chuyện với phía bên kia”.

Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

1 – Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT “trăm tuổi già””.

Tổng Thống Trần Văn Hương mĩm cười trả lời:

– “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi”.

Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main” (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)

2 – Vào năm 1978, khi Việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi” đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản: “…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.”

3 – Sau cùng, trong hoàn cảnh cơ cực của thời đất nước bị đô hộ bởi Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, các Ðại sứ của các nước Pháp, Úc cho người đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với Cộng sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bịnh, nhưng cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông cùm Cộng sản.

Xin nghiêng mình trước tiết tháo của một nhơn sĩ miền Nam Việt Nam!

Khi Cụ qua đời, đám tang được tổ chức tại nhà do chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp trước kia trong hẽm 210 đường Phan Thanh Giản, bên cạnh trường Marie Curie.

Có một sự kiện thú vị cũng cần nên kể ra nơi đây là anh con trai trưởng của Cụ là Trần Văn Dõi đi ra phường để xin phép mua một cái hòm quốc doanh, nhưng người tài xế trung thành của Cụ chận ngang, và anh nầy chạy vào Chợ Lớn mua một cổ quan tài gỗ với giá 10.000 Ðồng (tiền Việt cộng bấy giờ). Anh Tàu nghe nói là mua cho Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nên bớt xuống còn 5.000 Đồng mà thôi.

Một trong những ước nguyền của Cụ là khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

Hôm nay, nhân ngày giỗ Cụ Trần Văn Hương, cúi xin dâng nén hương lòng tưởng niệm một người con Việt chân chánh miền Nam với niềm tin chắc chắn rằng Tuổi trẻ miền Nam sẽ tiếp nối bước đường Cụ đi và chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc dành lại quê hương từ tay bạo quyền Cộng sản.

Thành kính xin Cụ phò hộ cho Tuổi Trẻ Việt Nam trong công cuộc dành lại Quê Hương.

Mai Thanh Truyết

Người con Việt miền Nam

Tết Đinh Dậu – 2017

Phụ chú:

Thơ cố Tổng Thống Trần Văn Hương:

“Thân quèn xin gởi cùng sông núi

Xương mục chờ tiêu với cỏ cây”

“Xét thời trời còn lắm nỗi gian nguy

Ngẫm lại thêm buồn cho hậu thế;

Phù vận nước được vài phân ổn định,

May ra bớt thẹn với tiền nhơn”

Và câu dịch của Ngài càng thấm thía cho thân phận lưu vong khi nghe mưa về nơi đấtkhách: Cố hương qui mộng tam canh vũ – Lữ xá hoài ngâm tứ bích trùng

Ba canh mưa phủ mơ vườn cũ

Bốn vách trùng ngâm tủi xứ người!

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

Sau thời gian dài ngụp lặn trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp. Hoàn toàn sống dựa vào viện trợ của Liên xô.

Khi Liên xô sụp đổ, Việt Nam bị bao vây cấm vận về kinh tế. Trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc…

Tình thế bí bách buộc phải tìm cách để duy trì chế độ. Người cộng sản đã gạt qua mọi thể diện, chọn kẻ thù làm cứu cánh. Họ chạy lại với chính kẻ thù vừa gây ra cái chết trực tiếp cho hàng trăm ngàn đồng bào chiến sĩ ở biên giới phía bắc. Trước đó họ gián tiếp gây ra cuộc chiến giữa VN và Campuchia, hao người tốn của.

Hiệp ước Thành đô ra đời chính thức đặt ĐCSVN dưới sự bảo trợ của ĐCS TQ.

Từ lúc này VN đi theo mô hình kinh tế Trung quốc. Từ đây bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường có đuôi.

Chính trong thời gian này những người cộng sản đã dần biến chất. Họ đua nhau làm giàu bằng chính sách. Bằng quyền lực quản lý.

Mọi tài nguyên đều được đem ra làm ép phe để được lợi ích tối đa cho cá nhân. Bất kỳ dự án nào cũng mang lại lợi ích béo bở cho người được giao quản lý.

Họ đầu tư bất chấp hậu quả cho đất nước miễn là tiền chảy vào đầy túi họ.

Một thế lực tư bản đỏ ra đời bằng cách đi đêm với những bóng ma quyền lực. Họ cùng nhau nhai ngấu nghiến bất kỳ thứ gì miễn là thỏa mản lòng tham của những kẻ từng đói khát.

Đất đai là miếng mồi béo bở nhất, dễ ăn nhất vì nó sở hửu toàn dân đang ở trong tay quyền lực quản lý. Và từ đây tiếng kêu rỉ máu thấu trời của người dân bị cướp đất trở thành phổ biến. Khắp 63 tỉnh thành không ở đâu vắng bóng dân oan.

Những bất công đó đã đẩy người dân thành kẻ bị cai trị bằng dùi cui và họng súng. Họ đẩy những người trước đây từng giúp họ cướp chính quyền vào bần cùng, nếu phản kháng họ bị kết tội phản động, nghe thành phần thù địch để kết tội tống tù.

Họ độc quyền lãnh đạo, điều hành. Người dân mất quyền tự do kể cả quyền yêu nước.

Giờ đây đất nước đang ở trong một cơn áp thấp thường trực. Chỉ chờ điều kiện để thành bão.

Những người nắm quyền lực sau khi đã vun vén đầy USD đã cho con cái người thân tìm thẻ xanh ở các nước tư bản giàu có. Nếu thể chế thay đổi thì họ đã cao chạy, xa bay để lại một đất nước hoang tàn, một núi nợ cho dân đen gánh vác.

Ngày ấy không còn xa !

Cái mà ai cũng biết khi đã được Giang Trạch Dân huỵch toẹt ra rằng : Hai đảng có chung vận mệnh.

Nếu đúng thế thì dân tộc này buộc phải chờ cái vận mệnh của đảng cộng sản Trung Hoa còn bao xa.? .. Vì thế không lạ khi người Việt háo hức với cuộc chiến mà Trump phát động. Chỉ mong sao kinh tế Trung quốc sụp đổ mau chóng. Mong sao người Hong Kong thắng lợi đạt được tự do, độc lập. Chắc chắn họ sẽ thắng và là ngòi nổ xé Trung Hoa ra nhiều mảnh. Sẽ có một sự chia tách như thời Xô viết.

Nếu không thì người Việt phải tự gánh vác vận mệnh của tổ quốc mình.

Liên Trà

Image may contain: plant, flower, night, nature and outdoor
Liên Trà

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

  
Image may contain: text that says 'CHINA'S DEBT TRAP हिंदी में DEBT DEBT L DEBT এা্'

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

Chuyện đầu gấu cho vay nặng lãi và đòi hỏi kỳ hạn hoàn trả ngắn để ép con nợ đến đường cùng phải giao nhà giao sổ là chuyện thường thấy ở xã hội Việt Nam. Không ai muốn cho những kẻ không có khả năng trả nợ vay một khoản tiền lớn ngoại trừ bọn cho vay nặng lãi. Vì sao? Vì chỉ khi cho kẻ không có khả năng xoay trở vay thì mới đưa con nợ vào bẫy, và từ đó chiếm đoạt tài sản.Thủ đoạn như vậy người ta gọi là bẫy nợ.

Người tử tế thì cho vay với lãi suất hợp lý còn loại lưu manh thì chuyên cho vay cắt cổ. Tuy nhiên, để được vay các khoản vay tử tế, người chủ xét đối tượng vay rất kỹ, uy tín của người đi vay phải cao thì mới đảm bảo khả năng trả nợ. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Còn với loại lưu manh thì ngược lại, người đi vay có uy tín càng thấp nólại càng muốn cho vay miễn sao người đó phải có gì đó để nó chiếm đoạt, ví dụ như nhà cửa, ruộng vườn hay vợ đẹp chẳng hạn.

Trên thế giới cũng vậy, trong những nước cho vay thì cũng có quốc gia tử tế và quốc gia lưu manh. Tử tế thì cho vay để giúp đất nước người ta phát triển, còn lưu manh thì cho vay để tính đường gài bẫy. Đại diện cho thế lực lưu manh trên thế giới là Tàu Cộng.

Trên thế giới hiện nay có 3 tổ chức độc lập chuyên xếp hạng mức tím nhiệm tín dụng của từng quốc gia, đó là nhóm The Big Three gồm: Standard & Poor’s (S&P), Moody’s, và Fitch. Quốc gia nào được xếp ở mức tín nhiệm cao thì càng dễ được vay thương mại. Các nước độc tài, nghèo đói, có chỉ số tham nhũng cao thì thường bị xếp mức tín nhiệm thấp nên khó tìm được khoản vay lớn với lãi suất thấp và điều kiện rằng buộc thoáng. Những quốc gia có mức tín nhiệm thấp thường không có lựa chọn, và thế là họ tìm đến anh lưu manh Tàu Cộng.

Nếu muốn trả được tiền vay thì phải biết đầu tư vào công trình hữu ích và có khả năng sinh lời. Chỉ khi làm được như vậy thì khoản vay ấy nó sẽ giúp đất nước vừa phát triển vừa thoát nợ. Những nước được xếp hạng mức tín nhiệm tín dụng cao là những nước biết cách sử dụng đồng tiền, nên cho họ vay sẽ đảm bảo dễ thu hồi vốn. Những nước bị xếp vào mức tín nhiệm thấp là những nước có tỷ lệ rút rỉa vốn vay rất cao. Hầu hết dự án họ đầu tư hoặc bị tham nhũng xà xẻo hoặc lãng phí không hiệu quả kinh tế. Công trình đường sắt Cát Linh-hà Đông là một dạng dự án như thế, nó chỉ xảy ra ở những nước có mức tín nhiệm tín dụng thấp mà thôi. Với những loại công trình như vậy tràn lan, thì làm sao những nước tử tế dám cho Việt Nam vay những khoản tiền lớn được?

Nếu nói khả năng trả nợ của một người tùy thuộc vào túi tiền người đó, thì khả năng trả nợ nước ngoài của một quốc gia nó phụ thuộc vào nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia đó. Khi dự trữ ngoại tệ mà thấp hơn số nợ đáo hạn trong 1 năm thì xem như quốc gia đó có nguy cơ vỡ nợ. Hiện nay Lào đang rơi vào hoàn cảnh như vậy. Dữ trữ ngoại tệ của Lào dưới 1 tỷ USD không đủ trả nợ. Hiện nay Bộ Tài Chính lào đang đàm phán với chủ nợ lớn nhất của họ là Trung Cộng, và chắc chắn Tàu Cộng sẽ không bỏ lỡ cơ hội này ép Lào chấp nhận những yêu sách đầy toan tính của họ. Trước Lào thì Sri Lanka cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự và đã bị Tàu ép giao cảng nước sâu Hambantota cho Tàu sử dụng trong 99 năm. Trong bối cảnh Mỹ – Ấn đối đầu quân thì cảng Hambantota là một lợi thế nếu Trung Cộng sử dụng cảng này như một quân cảng.

Với chiến lược bẫy bẫy nợ, Trung Cộng đã từng bước tiến vào những quốc gia con nợ và cũng từng bước đưa bàn tay lông lá ra điều khiển các quốc gia này. Ở Biển Đông thì Tàu Cộng đã ngang ngược kiểm soát, còn ở phía Tây thì lào và Cam đang đứng trước nguy cơ dính bẫy nợ. Khi 2 quốc gia này dính bẫy, thì có thể nói ở phía Tây, Tàu Cộng phà hơi thở vào mặt hà Nội, điều đó cũng có nghĩa là sợi dây ràng buộc giữa Hà Nội và Bắc Kinh sẽ bị siết chặt hơn.

Theo báo Vietnamnet bản Tiếng Anh thì năm 2020 này, chính quyền CS cần 16 tỷ đô để trả nợ. Trong đó trả nợ nước ngoài chỉ 2,63 tỷ đô la. Như báo chí CS thông báo thì dữ trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước đến nay đã lên đến 84 tỷ đô la, vượt rất xa khả năng thanh toán các khoản nợ. Thế nhưng có một điều khó hiểu là, nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì sao lại phải bung tiền Hồ mua đô vượt quá ngưỡng quy định để rồi bị Mỹ quy xem xét dán mác “thao túng tiền tệ”? Vậy nên con số dự trữ ngoại tệ đến 84 tỷ đô đấy cũng là con số không đáng tin.

Đã nhiều năm nay, chính quyền CS Việt Nam luôn đi vay nợ mới để trả nợ cũ. Khoản tiền vay bao giờ cũng vượt khoản nợ phải trả để còn bù vào bội chi ngân sách. Cứ như vậy thì nợ công ngày một phình ra và kéo theo đó là khoản nợ phải trả hằng năm cũng tăng dần, trong đó có phần nợ nước ngoài. Nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì chính phủ cũng không nhất thiết phải đi vay quá nhiều vậy?! Vậy thì đây lại thêm một bằng chứng nữa là con số 84 tỷ đo la dự trữ ngoại tệ cũng không đáng tin. Dự trữ ngoại tệ thật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn là ẩn số. Dự trữ ngoại tệ càng thấp thì nguy cơ dính bẫy nợ của Trung Cộng càng cao.

Câu hỏi đặt ra là, nguồn vay từ Trung Cộng đã được ĐCS Việt Nam làm gì? Thực tế cho thấy, những đồng tiền vay đó phần lớn biến thành những đống sắt vụn hoặc khối bê tông vô dụng giữa lòng đô thị, hoặc những công trình gây ô nhiễm môi trường và kém hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, một phần rất lớn trong gói vay đó chảy vào túi quan chức. Rõ ràng những khoản vay này vỗ béo quan tham, bỏ lại cho xã hội những đống rác, để lại cho đất nước nguy cơ dính bẫy Trung Cộng. Nhẫn tâm với đất nước như vậy, chỉ có CS mới làm được.

Đỗ Ngà

Tham khảo:

https://vietnamnet.vn/en/business/vietnam-s-government-to-pay-us-16-billion-in-debts-in-2020-580231.html

https://www.thesaigontimes.vn/307808/lao-can-ke-nguy-co-vo-no-cong.html

https://dantri.com.vn/the-gioi/sri-lanka-nhuong-cang-chien-luoc-cho-trung-quoc-trong-99-nam-20170730091856256.htm

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50135030

https://vietnamfinance.vn/chinh-phu-da-vay-tra-no-the-nao-trong-nam-2018-20180504224223797.htm

https://infonet.vietnamnet.vn/thoi-su/ke-hoach-vay-tra-no-cua-chinh-phu-nam-2017-66536.html

https://vietnambiz.vn/du-tru-ngoai-hoi-viet-nam-dat-ki-luc-84-ti-usd-tam-dem-lon-de-on-dinh-ty-gia-2020041111130925.htm

 Chuyện bà già mang dép Lào

 Chuyện bà già mang dép Lào. 

 Khoảng năm 1981, 1982 đời sống giáo viên cực kỳ khó khăn. Tôi quyết định đi xe đạp thồ để có tiền mua sữa cho con. Chiếc xe đạp để đi dạy hàng ngày được bổ sung thêm cái giỏ phía trước và cái yên nệm mút phía sau bạc –ba- ga cho khách ngồi … êm đít!

Mỗi sáng cứ 5 giờ là ra đứng ở đầu hẻm trước nhà để chờ khách. Khi trời bắt đầu sáng thì bỏ con hẻm nơi khá gần trường đang dạy, rất dễ gặp học trò, chạy xuống đường Lý Tự Trọng hoặc Trần Cao Vân cách nhà độ 3 km đứng đón khách. Có khách hay không thì 10 giờ 30 phải quay về nấu cơm ăn để chiều …lên lớp.

Một buổi sáng đang bon bon trên đường Trần Cao Vân trước chợ Lầu Đèn, chạy về nhà chuẩn bị đi dạy thì có một bà cụ dáng rất nhà quê đón xe. Vừa mừng vừa lo. Mừng vì được một cuốc xe có thêm tiền. Lo vì sợ khách đi xa không về ăn cơm kịp để 12h30 vào dạy tiết 1. Tôi phanh xe và hỏi:

– Cụ đi mô.
Bà cụ nói
 – Đây xuống bến xe Vĩnh Trung mi lấy mấy?
 Thấy bà già nhà quê tôi chợt nhớ mẹ. Tuyến đường lại trùng với lộ trình về nhà của mình nên tôi nói:
 – Đúng giá là 1 đồng rưỡi. Còn chừ cụ cho mấy cũng được, cụ không có tiền thì con chở giúp cụ một đoạn, con đang trên đường về.
 Bà cụ cười dơ hàm răng chỉ còn toàn … lợi và nói:
 – Thằng ni đi thồ mà nói nghe vui hỉ!
 Nói xong bà cụ cúi xuống cầm đôi dép lào đã mòn lín. Hai cái gót đã thủng hai lỗ lớn bằng đồng bạc cào lưng. Cụ bỏ đôi dép vào giỏ xe của tôi và nói:
– Xuống bến xe mi nhớ nhắc tau lấy đôi dép ni chớ không phải mi đợi tau quên rồi lấy luôn nghe chưa!
 Tôi cười và bảo:
– Cụ yên tâm. Con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi dép ni mô!
 Lên xe chuyện qua chuyện lại mới biết bà cụ ở Thanh Quýt ra thăm, mang cho con trai đang làm công nhân ở cảng một ang gạo vì nghe nói gạo mua tiêu chuẩn ăn không đủ, bữa nào cũng chỉ lưng bụng mà đi làm. Còn bà thì biết tôi là thầy giáo cấp 3 đi xe thồ thêm ngoài giờ để mua sữa cho con. Nghe hoàn cảnh của nhau, cả hai bà cháu đều im lặng. Một chặp tôi nghe bà ngồi sau chép miệng rồi nói:
 – Răng ai cũng khổ hết trơn ri hè!
 Đến bến xe Vĩnh Trung, tôi quay lại dặn:
 – Cụ ngồi im, đừng lo, để con tìm xe Vĩnh Điện cho cụ đi. Bến xe đông sợ cụ tìm không ra.
 Tìm được xe đi Vĩnh Điện, tôi phanh xe đạp và nói với cụ:
 – Cụ nhớ lấy đôi dép. Con chở hộ cụ một đoạn thôi không lấy tiền.
 Bà trả lời:
 – Thằng ni nói nghe được. Tau không trả tiền xe nhưng chờ tau một xí (tí).
 Vừa nói cụ vừa lật lớp áo ngoài rồi mở cây ghim túi áo trong và lấy ra 3 đồng, đưa cho tôi.
 Tôi giẫy nẩy:
 – Con nói rồi. Con chở dùm không lấy tiền xe.
 Cụ bảo:
 – Biết rồi. Tau cũng không trả tiền xe. Tau cũng không cho mi. Mi có chưn có tay, có sức dài vai rộng mi làm mi ăn. Tiền ni tau gởi mi đem về mua sữa cho cháu tau. Mi không lấy tau la làng là mi móc túi của tau. Răng. Nhận đi con, cho bà vui.
 Nói xong cụ nhét tiền vào túi áo của tôi rồi cắp nách đôi dép lào đã mòn gót leo lên xe.
 Lần đó tôi đứng khóc một mình giữa bến xe Vĩnh Trung đông đúc cho đến khi chuyến xe đò rời bến… chạy khuất!
 

* * *
 Bà ơi. Bà đang ở cõi nào?
 Nay con có thể viết những quyển sách nhận nhuận bút hàng chục triệu đồng. Đứa cháu nhỏ thời đó nay đã là tiến sĩ làm giảng viên của một trường đại học danh tiếng. Nhưng có lẽ, cho đến lúc chia tay cuộc đời này con vẫn còn nợ bà … một hộp sữa!

 Sài Gòn, 26/5/2017
 LÊ THÍ

From: BS HANH VAN PHUNG

Socrates: Còn nếu như con lấy phải một người vợ dữ dằn thì con sẽ giống ta, trở thành một triết gia”

Nhà triết học vĩ đại Socrates có rất nhiều học trò.

Ngày kia, có một người học trò đến hỏi Socrates: “Thưa thầy, con chuẩn bị kết hôn, thầy có lời nào chúc phúc cho con không?”.

Socrates nói: “Con chuẩn bị kết hôn, ta chúc mừng con. Nếu như lấy được người vợ hiền từ thì con có thể sống những tháng ngày vui vẻ hạnh phúc. Còn nếu như con lấy phải một người vợ dữ dằn thì con sẽ giống ta, trở thành một triết gia”.

Lại có hôm, một học trò khác đến hỏi Socrates: “Thưa thầy, con sắp ly hôn, thầy có lời khuyên nào cho con không?”.

Socrates nói: “Nếu như cuộc sống trước đây của con rất hạnh phúc, vậy con đã giữ được những ký ức tốt đẹp, ta chúc mừng con. Còn nếu như cuộc sống hôn nhân trước đây của con không hạnh phúc, ta cũng chúc mừng con, bởi từ bây giờ con đã được tự do”.

*****

Có chàng trai nghe nói trên lưng chừng núi Himalaya có một vị hiền triết đức cao vọng trọng, trí huệ siêu phàm. Chàng trai muốn thỉnh giáo vị hiền triết nên quyết tâm trèo đèo vượt suối, trải qua trăm ngàn gian khó, cuối cùng cũng đến được lưng chừng núi Himalaya, nơi ở của vị hiền triết trong truyền thuyết.

Quả nhiên nơi sống của bậc hiền triết khác hẳn người thường, xung quanh là rừng núi bao bọc, mây xanh bao phủ, yên tĩnh an lành. Chàng trai nhẹ nhàng đến gõ cửa, không ngờ người mở cửa bước ra không phải là vị hiền triết mà là một bà lão với vẻ mặt dử dằn.

Chàng trai lễ phép hỏi: “Xin hỏi lão bà bà, ngài hiền triết có nhà không?”.

Lão bà bà nghe chàng trai nhắc đến vị hiền triết lại càng tỏ vẻ tức giận : “Ở đây không có vị hiền triết nào hết, mà chỉ có lão già vừa khùng khùng điên điên vừa ngu ngốc, cậu tìm ông ấy làm gì?”.

Nghe bà lão nói vậy, chàng trai vô cùng kinh ngạc, tại sao một vị hiền triết danh tiếng lẫy lừng khắp bốn bể năm châu mà trong mắt lão bà bà lại thành ra điên khùng ngốc nghếch là sao? Chàng trai không nhẫn được sự tò mò của mình mà hỏi: “Xin hỏi, lão bà đây có quan hệ thế nào với ngài hiền triết vậy? Sao lại gọi ngài hiền triết đáng kính là điên khùng ngốc nghếch?”.

Lão bà bà giương mắt nhìn chàng trai với vẻ mặt đầy oán giận nói: “Thật bất hạnh, ta chính là vợ của lão già ngu ngốc đần độn và điên khùng đó. Cái lão già đó cả ngày nói những lời mơ hồ khó hiểu, nói những lời chẳng chút mảy may liên quan đến cuộc sống, cái gì là linh hồn, cái gì là bản ngã, cái gì là hiện sinh, cái gì là duy vật, cái gì là duy tâm, cái gì là khai ngộ…. Có lúc lão ngồi bất động một mạch mấy ngày liền, vậy không phải là điên khùng đần độn là gì?”.

Lão bà bà càng nói càng hăng, càng nói càng giận: “Còn nữa, còn nữa, lão quỷ đó đã không biết cấy trồng lại không biết đốn củi. Trong nhà gạo hết cũng chẳng buồn quan tâm. Lão ấy không ở trong rừng đi bộ thì là lặng lẽ ngắm sao trời. Còn nếu không ngắm hoa dại bên đường thì lại chơi đùa với muông thú, nói chuyện với chúng. Đây chẳng phải đúng là những hành động ngu ngốc hay sao?”.

Lão bà bà không ngừng nói lời phỉ báng khiến chàng trai càng nghe càng thấy hồ đồ, không biết đây có đúng là nơi vị hiền triết ở không, hay đó chỉ là những tin đồn nhảm? Có nên gặp mặt vị hiền triết nữa không? Nhưng sau cùng nghĩ đến những gian nan khổ cực mà mình phải bỏ ra để đến được đây, bất luận là thật hay giả vẫn cứ phải gặp một lần cho tỏ rõ thực hư.

“Vậy xin hỏi lão bà bà, ngài hiền triết đang ở đâu vậy?”, chàng trai cất tiếng hỏi.

Lão bà bà đáp: “Tôi sai ông ấy vào rừng lấy ít củi về đây, đi cả ngày rồi chưa thấy tăm hơi đâu hết. Có lần đi một mạch mấy ngày trời mới chịu về, thật là đồ vô dụng!”.

Chàng trai quyết định thử vận may của mình, bèn chào bà lão rồi tiến về phía khu rừng để đi tìm vị hiền triết. Đi chẳng bao lâu cậu thấy một ông lão tóc bạc vừa đi vừa ca hát. Theo sau ông là hai con thú, một bên là chú hổ, một bên là chú tinh tinh to lớn. 

Khuôn mặt lão tiền bối hồng tươi tràn đầy sinh khí, cả người ông toát lên sự ấm áp, an lạc, thần thái tự đã thoát khỏi bụi trần.

Chàng trai vui mừng tiến lại gần chắp tay nói: “Lão tiền bối đây có phải đại hiền triết hay không?”.

Lão tiền bối cười lớn, nụ cười của ông trông thánh thiện, thuần khiết. Ông đáp: “Cậu không phải nghi ngờ gì cả, những gì cậu nhìn thấy đều là chân thật. Vợ ta, hổ và tinh tinh mà cậu thấy đều là thật cả đó.”

Chàng trai nghe vậy nói: “Thưa lão tiền bối, tiểu bối thật không hiểu. Nhìn lão tiền bối đây luôn toát ra sự thông minh trí tuệ, như là một hiền triết, như là một Thánh nhân. Cớ sao vợ ngài lại cho rằng ngài là kẻ điên khùng đần độn?”.

Ông lão đáp: “Việc này cũng không có gì lấy làm khó hiểu. Đối với người chỉ đam mê tiền bạc vật chất, thì những người xem trọng linh tính, xem trọng tâm hồn hơn vật chất đều là điên dại cả. Đối với người luôn tiêu tốn thời gian vào những việc hữu hình trong cuộc sống tạm bợ thế gian, thì người dành thời gian trân quý cho thế giới tâm linh, tìm về bản ngã chính mình trong nội tâm thì đều là kẻ ngốc. Lý lẽ đơn giản là vậy”.

Chàng trai lại hỏi: “Tiền bối đây có thể cảm hoá được muông thú hung dữ này, vậy tại sao lại không thể cảm hoá được vợ mình?”.

Ông lão cười nói: “Chàng trai trẻ, cậu sai rồi, chỉ có một người vợ như vậy mới là hoàn cảnh tu luyện tốt nhất. Tu luyện cảnh giới cao thâm bao nhiêu, chỉ có bản thân người trải qua nghịch cảnh mới thấu hiểu”.

Chàng trai nghe xong chợt hiểu ra mọi điều, lập tức quỳ xuống bái lạy lão tiền bối mong được làm đệ tử.

Theo Soundofhope

Minh Vũ biên dịch

From: TU-PHUNG

Mỹ: Các bang chuẩn bị phân phối vaccine COVID-19 sớm nhất vào cuối tháng 10

  Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) vừa yêu cầu các quan chức y tế công cộng tại các bang chuẩn bị phân phối một loại vaccine tiềm năng phòng ngừa virus corona cho nhóm người có nguy cơ cao vào cuối tháng 10, theo tài liệu do cơ quan này công bố hôm 2/9.

Hãng tin Reuters nói rằng thời điểm phân phối vaccine trở nên quan trọng về mặt chính trị giữa bối cảnh Tổng thống Donald Trump đang nỗ lực tái tranh cử sẽ được chung quyết vào đầu tháng 11 sắp tới, sau khi ông đã cam kết hàng tỷ đô la để phát triển vaccine phòng ngừa COVID-19, đại dịch đã giết chết hơn 180.000 người Mỹ.

Hãng thông tấn Anh dẫn lời một phát ngôn viên của CDC giải thích: “Theo mục tiêu kế hoạch ban đầu, CDC đưa ra cho các bang những giả định kế hoạch nhất định khi làm việc trên các kế hoạch cụ thể về việc phân phối vaccine ở tiểu bang, trong đó có cả việc có thể sẽ có một số lượng vaccine hạn chế vào tháng 10 và tháng 11”.

Tờ New York Times trước đó đưa tin rằng CDC đã liên hệ với các giới chức ở tất cả 50 bang và 5 thành phố lớn để cung cấp thông tin về kế hoạch.

Hôm thứ Tư, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm hàng đầu của Mỹ, TS. Anthony Fauci, nói với MSNBC rằng dựa trên tỷ lệ bệnh nhân đăng ký thử nghiệm vaccine COVID-19 hiện nay, có thể có đủ dữ liệu lâm sàng để biết rằng một trong các loại vaccine có an toàn và hiệu quả hay không vào tháng 11 hoặc tháng 12 .

Theo tài liệu mà New York Times đưa lên mạng cho thấy CDC đang chuẩn bị để đưa ra một hoặc hai loại vaccine COVID-19 với số lượng hạn chế vào cuối tháng 10.

Cơ quan này cho biết sẽ cung cấp vaccine miễn phí trước cho các nhóm có nguy cơ cao, bao gồm nhân viên y tế, nhân viên an ninh quốc gia, nhân viên và những người trong viện dưỡng lão.

Hiện các hãng điều chế thuốc Moderna, AstraZeneca và Pfizer đang dẫn đầu cuộc đua phát triển một loại vaccine COVID-19 an toàn và hiệu quả.

Mỹ: Các bang chuẩn bị phân phối vaccine COVID-19 sớm nhất vào cuối tháng 10
VOATIENGVIET.COM
CDC vừa yêu cầu các bang chuẩn bị phân phối một loại vaccine tiềm năng phòng ngừa virus corona cho nhóm người có nguy cơ cao vào cuối tháng 10 

Đại sứ quán Hoa Kỳ tiếp tục theo dõi sát vụ án Đồng Tâm

Đại sứ quán Hoa Kỳ tiếp tục theo dõi sát vụ án Đồng Tâm

RFA
2020-09-03

Hình minh hoạ. Đường vào Đồng Tâm bị chặn sau vụ người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 cán bộ làm con tin hồi tháng 4/2017

Hình minh hoạ. Đường vào Đồng Tâm bị chặn sau vụ người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 cán bộ làm con tin hồi tháng 4/2017

 Reuters

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội theo dõi sát diễn biến vụ Đồng Tâm và sẽ tiếp tục theo dõi vụ việc khi đi qua hệ thống tòa án Việt Nam.

Phát ngôn nhân Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội trả lời như vừa nêu khi được RFA yêu cầu bình luận về vụ án Đồng Tâm sắp được đưa ra xét xử.

Ngoài việc theo dõi sát sao mọi diễn biến, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội còn thúc giục chính phủ Việt Nam bảo đảm mọi hoạt động và tiến trình giải quyết tranh chấp quyền lợi về tài sản phải minh bạch và công bằng; tuân thủ đúng văn bản và tinh thần luật pháp trong đó có Bộ Luật Hình Sự và Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự; đồng thời nhất quán với các qui định về nhân quyền trong Hiến pháp Việt Nam và những nghĩa vụ cùng cam kết quốc tế mà Hạ Nội đã ký kết.

Theo dự kiến Tòa án Thành phố Hà Nội vào ngày 7 tháng 9 tới đây sẽ đưa 29 người dân Đồng Tâm ra xét xử với cáo buộc ‘giết người’ và ‘chống người thi hành công vụ’.

Những người này bị bắt kể từ khi xảy ra vụ lực lượng chức năng gồm mấy ngàn nhân sự tấn công vào làng Đồng Tâm vào rạng sáng ngày 9 tháng 1 vừa qua. Một người được cho là lãnh đạo tinh thần của người dân trong việc phản đối biện pháp thu hồi đất nông nghiệp giao cho doanh nghiệp quân đội làm kinh tế, cụ Lê Đình Kình, bị thiệt mạng trong vụ tấn công.

Ngoài ra cơ quan chức năng Việt Nam thông báo có 3 công an bị thiêu cháy trong đợt tấn công. Ba người này được đảng và chính phủ vinh danh là liệt sĩ; trong khi đó truyền thông Nhà nước Việt nam gọi những người dân phản đối thu hồi đất là ‘thành phần phản động, chống đối’.

25 trong số 29 người đang ở trại tạm giam bị cáo buộc tội giết người và 4 người còn lại với tội ‘chống người thi hành công vụ’.

Chiêu thổi giá thiết bị y tế, lừa đảo bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai.

Image may contain: text

Chiêu thổi giá thiết bị y tế, lừa đảo bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trong hàng loạt thiết bị y tế liên kết tại Bệnh viện Bạch Mai, có thiết bị chỉ 7,6 tỉ đồng nhưng đã bị các đối tượng kê khống thành 40 tỉ đồng và lấy làm căn cứ thu tiền bệnh nhân để khấu hao.

Với việc thổi khống giá trị máy lên gấp 4 lần giá trị thực, Công ty BMS và Bệnh viện Bạch Mai đã thu của bệnh nhân số tiền cao gấp nhiều lần số tiền họ phải trả. Trong đó, một ca phẫu thuật theo thiết bị này chỉ khoảng 4 triệu đồng nhưng đã bị đội lên thành 23 triệu đồng. Ước tính mỗi tháng có khoảng 20 trường hợp bệnh nhân sử dụng thiết bị này, tính từ khi lắp đặt robot Rosa tại Bạch Mai đến nay đã có hàng trăm bệnh nhân bị móc túi với số tiền không nhỏ.

– Hoàng Nguyên Vũ

 SỬA LỖI CHO NHAU

 SỬA LỖI CHO NHAU

  Lm Giuse Tạ Duy Tuyền  

Con người luôn có lầm lỗi.  Ai nên khôn mà không dại một lần.  Và chắc chắn là không chỉ một lần mà rất nhiều lần trong cuộc đời.  Phạm lỗi cũng không dừng lại ở lứa tuổi nào mà ở bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể phạm lỗi.  Có điều là chẳng mấy ai trong chúng ta dám nhận mình có lỗi.  Chẳng mấy ai dám thú nhận về những lầm lỗi của bản thân.

Đó là điều mà chúng ta cần phải được người khác sửa lỗi.  Nếu không được người khác sửa sai thì mình sẽ không bao giờ đứng lên làm lại cuộc đời.  Một đứa bé để có thể nói đúng, nói không sai chính tả cần được cha mẹ sửa giọng nhiều lần mới có thể nói không bị ngọng.  Về nhân bản con người cũng phải được người khác dạy bảo, sửa lỗi thì mới hoàn thiện chính mình.

Như vậy, sửa lỗi là bổn phận của cha mẹ, của thầy cô, của bạn bè và nhận được sự chỉ dạy là của từng người chúng ta.  Nếu chúng ta không sửa lỗi cho anh em là chúng ta đang có lỗi với chính mình vì chúng ta chưa sống tròn bổn phận của mình với tha nhân.  Đôi khi còn bị người mà mình đã không dậy dỗ oán trách lại chúng ta.

Có một đứa trẻ từ nhỏ đã thích ăn trộm.  Một hôm, nó đi học về, trong cặp có thêm một chiếc bảng học sinh.  Mẹ nó hỏi:

– Sao con lại có tới hai chiếc bảng?

Đứa con đáp:

– Một cái là của bạn cùng lớp với con.  Con đã lén lấy cho vào cặp đấy.

Bà mẹ vui mừng nói:

– Con của mẹ thật thông minh.  Hai cái bảng chắc chắn là tốt hơn một cái rồi.

Ít lâu sau, đứa con lại mang về một cái áo da, trị giá 50 quan tiền.  Đứa con đưa chiếc áo da cho mẹ, mẹ nó khen:

– Con trai của mẹ thật là giỏi, biết hiếu thảo với mẹ.  Ra mẹ thơm một cái nào.

Đứa con trai ngày một lớn lên, càng ngày càng lấy trộm những thứ có giá trị hơn.  Hôm nay ăn trộm bò, ngày mai ăn trộm ngựa, ngày hôm sau trộm vàng bạc châu báu.  Bà mẹ luôn luôn khen ngợi con, trong nhà thiếu thứ gì, liền bảo với con trai để nó đi trộm về.

Có một lần, đứa con ăn trộm đồ bị người ta bắt quả tang, giải lên quan phủ.  Vì hắn trộm quá nhiều thứ nên bị phạt tội chết.  Tên trộm bị trói hai tay ra sau lưng, giải ra pháp trường.  Mẹ hắn đi theo sau, khóc lóc thảm thiết.  Tại pháp trường, tên trộm xin quan cho hắn được nói với mẹ vài lời.  Khi bà mẹ bước tới gần, hắn liền cắn mạnh vào tai mẹ.  Mẹ hắn đau quá kêu toáng lên, lớn tiếng mắng con:

– Mày thật là đồ bất hiếu, tự mình phạm tội chết còn chưa đủ hay sao mà còn muốn làm mẹ thành tàn tật à?

Đứa con giận dữ nói với mẹ hắn:

– Lần đầu tiên tôi ăn trộm cái bảng về, nếu bà đánh tôi một trận và dạy bảo tôi thì tôi không đến nỗi như ngày hôm nay và đã không bị xử tội chết.

Hóa ra không dạy dỗ người khác có khi dẫn đến “gậy ông đập lưng ông.”  Dạy người khác sửa sai là giúp mình được sống bình an hạnh phúc.  Không dạy người khác sửa sai là mình đang “nuôi ong trong tay áo,” hậu quả sẽ là mình bị ong chích đầu tiên.  Thế nên, khi làm điều sai trái, dù là cái sai rất nhỏ, thì cũng phải kịp thời sửa chữa.  Nếu không, cứ để nó lớn dần lên thành cái sai nghiêm trọng thì có thể khiến mình phải hối hận cả đời.

Hôm nay Chúa nhắc chúng ta phải sửa lỗi cho nhau.  Sửa lỗi không phải chỉ trích.  Chỉ trích là công kích nhau, là rêu rao lỗi lầm của nhau.  Chỉ trích thường thiếu bác ái, thiếu tinh thần xây dựng cho nhau.  Sửa lỗi đòi hỏi sự tế nhị, kín đáo, thông cảm với yếu đuối lỗi lầm của nhau.  Sửa lỗi là một bổn phận, là bác ái mà chúng ta phải thực thi cho tha nhân.  Sửa lỗi trái ngược với bỏ mặc, và thiếu trách nhiệm với tha nhân.  Trong tinh thần bác ái và yêu thương chúng ta phải có bổn phận sửa lỗi cho nhau.  Cha mẹ sửa lỗi cho con cái.  Vợ chồng sửa lỗi cho nhau.  Thầy cô sửa lỗi cho học trò.  Bạn bè sửa lỗi cho nhau.  Tất cả phải có bổn phận giúp nhau thăng tiến.  Không bỏ mặc nhau nhưng luôn dìu nhau tiến bước.

Sửa lỗi cho nhau không chỉ với tội lớn mà ngay cả tội nhỏ cũng cần được nhắc nhở, được giúp cải thiện.  Bởi vì “nhỏ ăn trộm dây cột bò, lớn sẽ ăn trộm cả con bò.”  Vì phạm tội sẽ thành thói quen.  Phạm tội một lần thì sợ hãi, nhưng nhiều lần thì lương tâm đã chai lì, đánh mất sự sợ hãi lo âu.

Chúa Giê-su dạy ta cách sửa lỗi tiệm tiến với tình yêu thật tế nhị.  Sửa lỗi cách kín đáo bằng lời chân tình góp ý thẳng ngay với nhau.  Nếu thất bại cần thêm lời của nhân chứng để người được sửa lỗi càng nhận biết lỗi lầm của mình hơn.  Nếu vẫn thất bại thì cần đến cộng đoàn để nhờ sức mạnh của cộng đoàn giúp kẻ có lỗi ăn năn sửa đổi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết can đảm sửa lại những lỗi lầm.  Biết bỏ đi tính tự ái, cố chấp để lắng nghe lời góp ý chân thành của tha nhân.  Xin đừng vì cố chấp mà trở thành kẻ ngang bướng làm hại đến cộng đoàn.  Amen. 

  Lm Giuse Tạ Duy Tuyền  

From: Langthangchieutim