CÔNG HAY TỘI?

 +Bài viết của tác giả Trần Gia Phụng về nhân vật Hồ Chí Minh.

CÔNG HAY TỘI?

Trần Gia Phụng

Khi tìm hiểu công hay tội của một nhân vật lịch sử, người ta thường xét hoạt động hay công việc của người đó đóng góp như thế nào cho đất nước, dân tộc. Vậy thử áp dụng nguyên tắc nầy để đánh giá Hồ Chí Minh là người có công hay có tội trước lịch sử Việt Nam?

1.- DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

Hồ Chí Minh (HCM) là đảng viên đảng Cộng Sản Pháp năm 1920, đến Moscow và vào học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East) năm 1923. Cuối năm 1924, Liên Xô gởi HCM qua hoạt động ở Quảng Châu (Trung Hoa). Năm 1930, vâng lệnh Liên Xô, HCM thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tại Hồng Kông. Sau vài tháng, do lệnh của Liên Xô, đảng CSVN đểi tên thành đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1945, HCM cùng đảng CS cướp chính quyền và thành lập nhà nước CS đầu tiên ở Á Châu.

Khi mới du nhập vào Việt Nam, chủ nghĩa CS được tuyên truyền là chủ nghĩa “TAM VÔ”, gồm có “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Khi nói đến “tam vô” thì có vẻ mơ hồ. Có lẽ cần nhìn vào hoạt động của đảng CS thì sẽ rõ ràng hơn tính năng của chủ nghĩa “tam vô” của CS.

Do chủ trương vô gia đình, trong Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Bắc Việt Nam đảng CS khuyến khích con tố cha, vợ chồng tố nhau, anh chị em tố nhau. Riêng cuộc CCRĐ giai doạn 5 vào 1955-1956, CS giết hại hơn 170,000 người. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975, Hà Nội, Nxb. Khoa Học Xã Hội, tr. 85), do đấu tố kiểu “vô gia đình”.

Chính HCM cũng hành xử một cách “vô gia đình”. Trong di chúc trước khi chết, HCM viết : “…tôi để sẵn mấy lời nầy, phòng khi tôi đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin…” (Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, có xem lại và bổ sung, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 171.) Sau khi chết, Hồ Chí Minh chỉ muốn đi gặp mấy ông tổ CS người Đức, người Nga, mà không nghĩ đến tổ tiên, cha mẹ, anh chị của mình bởi vỉ người CS “tam vô”.

Tổ quốc Việt Nam đã trải hơn hai ngàn năm thăng trầm, qua bao lần bị ngoại bang xâm lược, mà vẫn tồn tại, nên không thể có chuyện người Việt vô tổ quốc để tiến lên thế giới đại đồng. Chỉ có tên CS Tố Hữu mới ca tụng Trung Cộng theo kiểu “vô tổ quốc”: “Bên ni biên giới là mình,/ Bên kia biên giới cũng tình anh em.” (Tố Hữu, “Đường sang nước bạn”.) (Nguồn: Thơ Tố Hữu, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2003.)

Người Việt tin tưởng vào sự hiện hữu của linh hồn ngưới quá cố, từ thời lập quốc đã có tục thờ cúng ông bà. Người Việt cho đến thế kỷ 20 theo bốn tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Thiên Chú giáo, nên không chấp nhận vô thần. Các tôn giáo đều có nhiều tín đồ. Nhằm tranh giành quần chúng của các tôn giáo, nên CS chủ trương vô tôn giáo, tấn công, tàn phá chùa, nhà thờ, di tích lịch sử và giết hại, bắt giam, ngược đãi tu sĩ, tín đồ tôn giáo.

Như thế, chủ nghĩa CS do HCM du nhâp vào Việt Nam hoàn toàn đối nghịch với văn hóa dân tộc. Chẳng những thế, chủ nghĩa CS cũng đi ngược lại với các nền văn hóa trên thế giới, nên Quốc hội của Hội đồng Âu Châu (Parliamentary Assembly of Council of Europe) trong phiên họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg (Pháp) đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị CS đã vi phạm nhân quyền tập thể. Điều 2 của nghị quyết 1481 viết: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể.”

2.- CẦU VIỆN TRUNG CỘNG

Người Việt vốn có tinh thần độc lập tự chủ, chống ngoại xâm. Từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, người Việt liên tục nổi lên chống Pháp, mà không cầu viện ngoại bang. Trong khi đó, HCM và đảng CSVN cầu viện Trung Cộng để chống Pháp. Người Pháp sinh sống ở miền ôn đới, không hợp phong thổ Việt, không ở lại Việt Nam vĩnh viễn, trước sau gì người Pháp cũng ra đi. Sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới dần dần giải thực một cách ôn hòa, chứ không dẫm máu, đau thương như Việt Nam.

Trái lại, Trung Cộng rất hiếu chiến, chủ trương trường kỳ xâm lăng, và bành trướng lâu dài. Khi HCM cầu viện Trung Cộng năm 1950, Trung Cộng giúp đỡ một cách hào phóng CSVN, không phải vô vị lợi mà theo lời Lưu Thiếu Kỳ thì Trung Cộng sẽ đòi lại sau khi CSVN thành công. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Noth Carolina Press, 2000, tr. 19.) Như thế có nghĩa là không có việc Trung Cộng cho không, biếu không; không có việc Trung Cộng viện trợ không hoàn lại, mà Trung Cộng giương bẫy nợ và đưa HCM cùng CSVN vào tròng của Trung Cộng ngay từ thời chiến tranh 1946-1954. Đó là chưa kể Trung Cộng ngầm xúi CSVN đánh nhau với Pháp để Trung Cộng hưởng lợi.

Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng để chống Pháp để rồi CS quốc tế, Liên Xô và Trung Cộng thế chỗ của Pháp khống chế Việt Nam, thi như người xưa đã nói: “đuổi cọp cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.” (Cổ văn: “Ninh thụ vô công chi danh, bất khả đồ hữu công nhi tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang, dĩ di họa ư hậu thế”. Tạm dịch nghĩa: “Thà không có công danh, không thể mưu đồ lập công mà đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.”) Còn Phan Châu Trinh thì đã viết một cách đơn giản cho HCM: ““quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX: Nxb. Chuông Rè, 2000, tt. 39-40.)

3.- GIẢI PHÓNG DÂN TỘC?

Đảng Cộng Sản, những tác giả CS và những người thiên cộng thường ca tụng HCM là kẻ đã có công “gỉải phóng dân tộc”. Theo nghĩa tầm nguyên, “giải” là mở ra, “phóng” là thả ra, buông ra, không ràng buộc. Như thế, giải phóng là đưa một đối tượng từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến trình trạng được thoát ly, tự do, tức từ chỗ xấu đến chỗ tốt hơn. Ngang đây, có hai vấn đề cần đặt ra: 1) HCM và đảng CS giải phóng ai? 2) Đối tượng mà HCM và đảng CS nói rằng được CS giải phóng có thật sự được thoát gông cùm nô lệ hay ngược lại là bị đưa vào tròng nô lệ mới?

Khi cướp được chính quyền và ra mắt chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-1945, HCM đưa ra các lời thề quyết liệt chống Pháp nếu Pháp trở lại Việt Nam, nhưng khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ, tiến ra Trung Kỳ, rồi đe dọa Bắc Kỳ, thì HCM sợ bị Pháp lật đổ, nên bỏ qua lời thề ng ày 2-9, ký với Pháp hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, thừa nhận việc Pháp đem quân vào Việt Nam. Để chắc chắn hơn, HCM qua Pháp ký Tam ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, để cho Pháp tái lập các hoạt động của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Như thế có nghĩa là HCM không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp để duy trì quyền lực.

Quân Pháp đến Hà Nội càng ngày càng đông, đòi kiểm soát an ninh Hà Nội. Nếu để cho Pháp kiểm soát an ninh Hà Nội, thì sinh mạng HCM và lãnh đạo đảng CS nằm trong tay Pháp, nên HCM triệu tập hội nghị trung ương đảng CS tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp. (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504) để có lý do chính đáng trốn khỏi Hà Nội.

Cướp được chính quyền thì đảng CS chủ trương độc tôn quyền lực. Khi Pháp trở lại Việt Nam thì CS thỏa hiệp với Pháp để giữ vững quyền lực, không chống Pháp. Khi bị Pháp áp lực nặng nề và có thể bị Pháp tiêu diệt, đảng CS mới quyết định tuyên chiến với Pháp và chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc, vì sự sống còn của HCM và đảng CS, chứ không phải để giải phóng dân tộc.

Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở sông Bến Hải, ngang vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam (BVN) theo chế độ CS. Nam Việt Nam (NVN) theo chế độ Cộng Hòa. Trước khi ký hiệp định Genève, tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ ngày 3 đến 5-7-1954, Châu Ân Lai đã khuyên HCM chôn giấu võ khí và lưu cán bộ, quân đội ở lại NVN để tiếp tục cuộc chiến. Hồ Chí Minh liền thi hành kế hoạch nầy, nghĩa là HCM và CSVN chủ ý sẽ tiếp tục tấn công NVN, còn việc HCM va BVN đưa ra hai khầu hiệu “Giải phóng miền Nam” và “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là hai chiệu bài để my dân và phỉnh gạt dư luận thế giới mà thôi.

Năm 1954 và năm 1975, thành công xong, Hồ Chí Minh và CS đã áp đặt miền BVN (1954) và sau đó NVN (1975) dưới chế độ CS, độc tài đảng trị, toàn trị, theo chính sách kinh tế chỉ huy, làm cho dân chúng Việt Nam càng ngày càng cùng khổ. Do đó, không thể nói HCM và đảng CS đã giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, mà phải nói là HCM và đảng CS đã nô lệ hóa đất nước trong gông cùm cộng sản.

4.- CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC?

Để có lý do gây chiến, xâm lăng Nam Việt Nam sau năm 1954, HCM và CSVN cầu viện các nước CS để thực hiện chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô chiếm các nước Đông Âu, Trung Cộng chiếm Tân Cương, Tây Tạng. Ngược lại, tuy chiến thắng Đức, Nhật Bản, Nam Hàn, nhưng Hoa Kỳ không chiếm các nước nầy, mà trao trả độc lập và giúp các nước nầy phục hưng kinh tế nhanh chóng, tiến bộ vượt bậc, nghĩa là Hoa Kỳ chủ trương giúp các nước khác trên thế giới cùng phát triển với Hoa Kỳ. Chính bản thân diện tích nước Hoa Kỳ quá rộng, dân số chưa đủ để canh tác cho hết đất của Hoa Kỳ. Hàng năm, Hoa Kỳ còn cho nhiều người ngoại quốc nhập cư, thì Hoa Kỳ cần gì phải xâm lăng nước khác như Trung Cộng bị nạn nhân mãn mãn tính.

Hồ Chí Minh và các lãnh tụ đảng Lao Động dư biết những điều trên đầy, nhưng vì vâng lệnh Châu Ân Lai tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954, nên HCM đưa ra chủ trương “chống Mỹ cứu nước” ngay trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam vì chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, giúp đỡ Nam Việt Nam tái thiết sau năm 1954, , nhằm chống lại sự bành trướng của CS chứHoa Kỳ không có tham vọng đất đai. Nhờ thế, Nam Việt Nam phồn thịnh nhanh chóng hơn các nước Đông Nam Á. Khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược, bắt tay với Trung Cộng, Hoa Kỳ nhanh chóng rút hết quân về nước.

Còn HCM cầu viện Trung Cộng, rước 320,000 quân Tàu vào trấn giữ miền bắc sông Hồng, thì ngày nay Việt Nam phải gánh nỗi khổ Trung Cộng, mất đất (Hoàng Sa, Nam Quan), mất biển (10,000 Km2 Vịnh Bắc Việt), và Biển Đông bị Trung Cộng đe dọa triền miên. Đó là kết quả kế hoạch “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422ct. Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN (1991 đến 2000), tiết lộ lời của Lê Duẩn trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.

KẾT LUẬN: HỒ CHÍ MINH = TỘI ĐỒ DÂN TỘC

Qua những hoạt động trên đây, thì HCM là một đảng viện CS Pháp, vâng lệnh Liên Xô và Trung Cộng, thành lập đảng CS Việt Nam, phá hoại nền văn hóa dân tộc, bành trướng chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á, và chủ động gây ra hai cuộc chiến liên tiếp từ 1946 dến 1975. Theo thống kê của tạp chí Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013, trong 24 năm cầm quyền (1945-1969), HCM đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người dân Việt.

Như thế, cân nhắc những hoạt động và việc làm cu thể của Hồ Chí Minh, thì Hồ Chí Minh chỉ có công với cộng sản quốc tế, với Liên Xô, với Trung Cộng. Ngược lại Hồ Chí Minh là kẻ có tội với đất nước Việt Nam, và Hồ Chí Minh là TỘI ĐỒ số 1 của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, gây nhiều tội ác nhứt trong lịch sử Việt Nam. Không chối cãi vào đâu được.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 01-09-2020)

Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”….

  Trí thức Miền Nam và Sinh viên học sinh Sài Gòn đã bị CS lợi dụng như thế nào!?:

http://ydan.org/showthread.php?t=22844http://ydan.org/showthread.php?t=22844

Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức: Un choix malheureux – Một chọn lựa bất hạnh:

http://dcvonline.net/2015/08/11/duong-van-ba-ho-ngoc-nhuan-ngo-cong-duc-mot-chon-lua-bat-hanh-ket/

Thân phận dư thừa của một người trí thức thiên tả, thành phần thứ ba:

https://hon-viet.co.uk/NguyenVanLuc_ThanPhanDuThuaCuaNguoiTriThucThienTaThanhPhanThuBa2.htm

Ăn cơm Quốc Gia Thờ ma Cộng Sản – Ăn cơm Quốc Gia Thờ ma Cộng Sản:

http://ydan.org/showthread.php?t=20701http://ydan.org/showthread.php?t=20701

Việt cộng nằm vùng trong văn phòng Tổng tham mưu Trưởng và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH:

https://hon-viet.co.uk/TrucGiang_VietcongNamVungTrongVanPhongTongThamMuuTruongVaPhuDacUy….htm

From: Thanhlam Le, Date: Sun, Aug 30, 2020 at 12:15 PM.

Subject: Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”….

Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”…Không biết có Chu Tử (Chu Văn Bình) và con rể Đằng Giao không? Sau ngày 30-4-1975 cả dân tộc Việt Nam bị đi ăn mày vì bọn ký giả tranh đấu đòi đi ăn mày thành công…Riêng Dương Văn Ba bị dính vụ ăn hối lộ vì vụ làm “kiểm lâm” gì đó, không biết oan hay ưng (bị VC gài độ?) Riêng Ngô Công Đức thân cộng nên bị đuổi ra Bắc với VC, khi về Miền Nam (sau 30-4-1975), Ngô Công Đức im re (chắc lúc đó đã biết Cộng Sản là gì, không phải thiên đàng xã hội chủ nghĩa!!!), còn Hồ Ngọc Nhuận thì không biết ra sao, chắc cũng được Ngô Công Đức cho biết VC là gì, nên im luôn… Ngày đó, tôi có tìm đến Báo Đại Dân Tộc xem mặt Hồ Ngọc Nhuận, đến dòm mặt, chẳng nói gì, đi luôn, trong lòng nghĩ sao mi ngu si quá vậy?.. Nguyễn Văn Binh thì bị LM Nguyễn Hữu Lễ tố cáo là Công Giáo VC… Còn các ký giả đi ăn mày ngày đó gồm có ai… không biết bao người vượt biên được, bao người được ăn mày dưới chế độ cộng sản?

On Friday, August 28, 2020, 01:41:14 PM PDT, Patrick Willay wrote:

Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 418 (Đời Nay ra ngày 28.8.2020)

Ký giả ăn mày

Ngày nay, trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại không mấy người còn nhớ câu chuyện “ký giả ăn mày”, hay ký giả đi ăn mày, trừ những người từng sống ở Sài-Gòn vào những năm đầu thập niên 1970.

Khoảng năm 1972, chính quyền VNCH đã cho áp dụng luật báo chí mới, Sắc Luật 007, với quy định số tiền ký quỹ khá lớn làm cho báo không có tiền ký quỹ đành phải tự đóng cửa. Cũng theo luật này, tờ báo nào bị tịch thu lần thứ hai do có bài vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Luật này nhằm kiểm soát sinh hoạt báo chí tại miền Nam chặt chẽ hơn và ngăn ngừa sư xâm nhập của VC vào làng báo, đặc biệt là tại Sài-Gòn. Vài tờ báo đã bị đóng cửa, chủ báo bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, một số ngừoi làm báo còn bị truy tố ra tòa, và bị kết án tù. Trước tình hình đó, giới báo chí tại Sài-Gòn đã tập hop lại để tìm biện pháp đối phó, cùng hành động nhằm chống lại việc thi hành Luật 007.

Ngày 8 tháng 9 năm 1974, một cuộc họp đã được hội chủ báo tổ chức, với ba đoàn thể ký giả tham dự, đã bầu ra Ủy ban Đấu tranh đòi Tự do Báo chí do ông Nguyễn Văn Binh, dân biểu đối lập, đại diện báo Đại Dân Tộc làm chủ tịch.

Hình thức đấu tranh “ký giả xuống đường đi ăn mày” được hội nghị biểu quyết chấp thuận. Ban tổ chức quyết định chọn ngày 10 tháng 10 năm 1974 làm ngày xuống đường biểu tình. Nón lá, bị, gậy (các vật dụng của ăn mày) được chuẩn bị sẵn. Các khẩu hiệu làm sẵn đeo trên ngực, kẻ trên nón lá dòng chữ “10.10.1974, ngày ký giả đi ăn mày”. Trong khi chính thức thông báo trước cho chính quyền biết cuộc đi ăn mày để phản đối Luật 007, ban tổ chức cũng còn bố trí lực lượng kín theo vòng trong, vòng ngoài, sẵn sàng đối phó với sự đàn áp của an ninh chìm nổi.

Suốt trong ngày 9.10.1974, nhiều thành phần trong giới báo chí, quần chúng cảm tình với báo chí, nghị sĩ, dân biểu… đã đến Câu lạc bộ Báo chí (số 15 Lê Lợi) để bày tỏ cảm tình, và tiếp tế thức ăn, đồ uống, kể cả thuốc lá. Tháng 10 năm 1974 cũng là lúc Bộ Chính Trị đảng CSVN tại Hà-Nội nhóm họp do Lê Duẩn chủ tọa để lên kế hoạch cho cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975, dồn toàn lực “giải phóng” miền Nam, sau khi Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm hầu hết viện trợ quân sự cho VNCH từ 1.7.1974.

Trên các mặt trận khắp miền Nam cũng đang diễn ra những trận đánh ác liệt, từ Hồng Ngự đến Cửa Việt, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Bình Long…

Sáu tháng sau, VNCH bị xóa tên vào ngày 30.4.1975, làng báo bất khuất của Sài-Gòn cũng nằm xuống theo cái chết của Tự Do tại miền Nam Việt Nam. Báo chí không còn. Ký giả thất nghiệp nằm nhà, muốn đi…ăn mày cũng chẳng ai cho, dù là… vài điếu thuốc lá, được “Giải phóng” thương tình, cho đi “học tập” trong các trại tù mà có người gọi là “Đại Học Máu”, vừa được lao động, vừa được ăn những cao lương mỹ vị như thằn lằn, ếch nhái và rau cỏ trong rừng. “Đại học máu” thường là từ 5 năm tới 10 năm mới tốt nghiệp. Có người không bao giờ ra, vì lỡ ăn phải rau lá hay cóc nhái độc địa, hay chết vì bạo bệnh, vì tai nạn, hay bị đánh đập, hành hạ dã man…

Những khổ đau nhục nhã trong bao nhiêu năm “học tập” đã được những người may mắn … tốt nghiệp, được trả tự do, và được sang Mỹ sang Tây viết ra, thuật lại trên hàng chục cuốn hồi ký, hàng trăm, hàng ngàn bài báo.

Nói cho đúng, những thảm họa, khổ đau mà giới báo chí Sài-Gòn phải trải qua chỉ là một phần của những thảm họa khổ đau to lớn hơn mà dân tộc Việt Nam đã và đang chịu đựng từ ngày 30,4,1975 cho đến nay. Và, có một số người đã chê trách việc “đi ăn mày” của ký giả Sài-Gòn năm 1974 cùng với những rối loạn khác ở hậu phương đã góp phần làm cho miền Nam VN suy yếu và đi đến sụp đổ trước cuộc tổng tấn công của CSBV.

Buộc tội như thế kể cũng không…oan cho giới ký giả Sài-Gòn, nhưng có thể Quân lực VNCH chiến đấu can trường, vẫn bảo vệ dược miền Nam Tự Do, nếu (chữ nếu chết người), tại “hậu phương lớn” Hoa Kỳ đừng có bọn nhân danh “phản chiến” nhưng lại hoan hô hcm và cổ võ cho cuộc xâm lăng của CSBV, và, nếu (lai nếu), đừng có bọn ký giả thân cộng đâm vào sau lưng Quân đội Mỹ đang chiến đấu tại VN, hoan hô bọn phản chiến, và gây áp lực trên chính trường Mỹ đưa đến việc Mỹ rút quân, bỏ rơi đồng minh và cúp việc trợ.

Ngày nay, không còn ai tranh cãi về sự thật lịch sử: “Mỹ đã không thua CSBV trên chiến trường Việt Nam, nhưng đã phải tháo chạy vì bị truyền thông báo chí Mỹ đâm sau lưng”.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, một nhà khoa học chính trị tại Mỹ đã nhiều năm nghiên về lịch sử mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trong một bài được phổ biến vào ngày 12.7.2020 đã viết như sau:

Theo TT Nixon cho biết, những lãnh tụ then chốt của phong trào phản chiến là những người thuộc phe Tân Tả Phái (New Left). Họ là nhửng trí thức trong các viện đai học, truyền thông báo chí, các nghị sĩ và dân biểu tại Quốc Hội, những lãnh tụ chính trị, những quân nhân hay giới sinh viên đại học, các tài tử Hollywood, hoặc các danh ca, cũng như các quan tòa và giới luật sư. Những người này chủ trương tổ chức các cuộc biểu tình bạo động (violent protester) để gây sự hỗn loạn tơi bời trên nước Mỹ. Họ thù ghét nước Mỹ, và mục đích của họ là làm thế nào cho Hoa kỳ thảm bại nhục nhã tại VN. Họ không hề che giấu sự tôn sùng cộng sản. Họ công khai phất cờ Việt Cộng trong các cuộc biểu tình, và hô to: hồ…hồ…hồ chí minh, sẽ chiến thắng. Ngoài ra mục đích của họ là phá cho tan tành hệ thống xã hội dân chủ của Mỹ. Họ phải sử dụng bạo lực và bạo động để đạt mục tiêu ấy.

Các sinh viên biểu tình đã bắn vào cảnh sát và những nhân viên cứu hỏa, bắt làm con tin các viên chức đang điều hành viện đại học, phá hoại các cao ốc, mang súng shotgun, đốt các cao ốc, đập vỡ các cửa sổ, vứt rác vào mặt các viên chức chính quyền, và đặt bom trong các phòng học. Từ niên khóa 1969 đến 1970 đã có tới 1800 cuộc biểu tình. Số biểu tình bị giam giữ là 7500 người, 247 người chuyên đi phóng hỏa đốt nhà, 462 người bị thương, nạn nhân 2/3 là cảnh sát, trong đó có 8 người chết. Bạo động không chỉ giới hạn tại các viện đại học, mà lan tràn khắp quốc gia. Từ tháng 1.1969 đến 1970, đã có 40.000 vụ bom nổ, hoặc dùng bom để đe dọa. những tổn thất về tài sản lên tới 21 triệu, cả trăm người đã bị thương, và có 43 người bị chết. Đám biểu tình gọi Hoa Kỳ là “quốc gia con heo” (pig nation), và họ muốn Hoa Kỳ chấm dứt Chiến tranh VN.

Từ 1969, Nixon và chính quyền của ông phải đối diện với bao nguy hiểm khi các nghị sĩ và dân biểu Tân Tả Phái thuộc đảng Dân Chủ làm luật để buộc TT Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Các nghị sĩ và dân biểu chống chiến tranh đưa ra nghị quyết buộc Nixon phải rút quân để đổi lấy các tù binh Mỹ.

Giới truyền thông báo chí Hoa Kỳ, tuyệt đại đa số theo Tân Tả Phái nên tìm mọi cách để đổ dầu vào lửa từ Việt Nam đến Washington. Họ rất bất lương, xuyên tạc và bóp méo tất cả sự thật mọi nguồn tin tức từ Việt Nam. Họ tấn công tàn nhẫn và tàn bạo chính quyền VNCH và Hoa Kỳ.

TT Nixon tuyên bố: Tôi rất cảm phục và yêu mến những người dân miền Nam VN. Miền Nam là một quốc gia can đảm phi thường (courageous nation). Họ đã phải gánh chịu bao đau khổ chồng chất trước kẻ thù quá sức độc ác và tàn bạo, kể cả đối với đàn bà và trẻ em, cũng là những mục tiêu tàn sát của CSBV.

Trong năm 1969, khi đắc cử tổng thống, Nixon muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng không phải bằng cách đầu hàng để cho Cộng sản áp đặt lên miền Nam VN một chế độ độc tài vô luân lên đầu người dân Đông Dương. Nixon muốn chấm dứt chiến tranh trong danh dự. Theo TT Nixon, Hoa Kỳ đã tham gia vào Chiến tranh VN để bảo vệ Miền Nam VN không rơi vào vòng nộ lệ của Công sản.

… Vào cuối 1960 và đầu 1970, tầng lớp trí thức Mỹ đứng lên chống lại mạnh mẽ cái họ gọi là khuynh hướng tư bản Hoa Kỳ. Họ cho Hoa Kỳ là quốc gia “Fát-xít” như Hitler, và là kẻ thù của thế giới. Họ phát động phong trào chống Mỹ trong Chiến tranh VN, và công khai hỗ trợ mạnh mẽ Cộng sản VN và Cộng sản Hoa Luc.

Trong mấy thập niên qua, những lãnh tụ phong trào phản chiến chống Chiến tranh VN như Bill Clinton, Hillary Clinton hay John Kerry, Joe Biden… trở thành lãnh tụ và tổng thống nước Mỹ, vì họ là những anh hùng chống chiến tranh VN. Sự thật lịch sử cho thấy những chính sách sai lầm của phe Dân Chủ Tả Phái từ 1960 tới 2016 đã đưa nước Mỹ càng ngày càng đi xuống trên mọi phương diện chỉ vì không hiểu gì về nước Tàu nên đã nỗ lực không ngừng để giúp cho một nước Tàu nghèo đói và lạc hậu vào 1960, trở thành cường quốc kinh tế. Về quân sự và chính trị thì khuynh đảo cả vùng Á Châu TBD và cả thế giới sau khi Hoa Kỳ tháo chạy và bỏ rơi tiền đồn hiểm yếu Việt Nam.” (ngưng trích)

Hiện tình chính trường nước Mỹ trong mấy năm gần đây cũng đang cho thấy có những dấu hiệu tương tự như những năm cuối của cuộc Chiến tranh VN, với sự xuất hiện nổi cộm của những thành phần tả phái cực đoan được sự cổ võ nhiệt tình của truyền thông phe đảng song song với các vụ bạo động, rối loạn kéo dài trên đường phố đang trên đà gia tăng trước ngày tổng tuyển cử 3.11.2020.

Qua Đại hội đảng Dân Chủ kéo dài năm ngày vừa chấm dứt, những khuôn mặt đã nhẵn trong cái “đầm lầy ở Washington”, với quá khứ đầy tì vết, đã nối đuôi nhau xuất hiện trước ánh đèn sân khấu không bao giờ biết hổ thẹn, để tự khoe tài, khoe giỏi và nói những điều hay đẹp nhưng trống rỗng, có khi chính mình cũng không tin. Tệ hơn nữa, có những kẻ bất cố liêm sỉ, bất cần sự thật, đã bịa đặt, dựng đứng điều gian để vu cáo, đả kích nặng nề thâm độc người kế nhiệm mình trong chức vụ tổng thống. Chắc không nói tên, người đọc cũng biết kẻ ấy là ai. Ông ta đã uốn lưỡi ca tụng Joe Biden, cựu phó của mình, lên tận mây xanh, dù khi Joe ghi danh ứng cử, ông ta đã công khi can ngăn: “Joe đâu có cần phải ra.” Vì sao? Vì ông ta thừa biết Joe mà ra thì chỉ mệt thân già mà chẳng nên cơm cháo gì!

Cựu TT Omaba vừa dứt lời tức thì được các “đại ký giả” của các hệ thống truyền hình phe tả xúm vào xun xoe tâng bốc, nào đúng là một tổng thống vĩ đại, nào một chính khách siêu hạng quốc tế, một nhà trí thức uyên thâm, vân vân và vân vân…

Ngày hôm sau, ông Trump chỉ đáp lễ nhẹ Obama một câu: “Nếu Obama tài giỏi như ông ta nói thì tôi đã không cần ra ứng cử và không đang làm tổng thống.”

Bỉnh bút Charles Hurt của Nhật báo The Washington Times thì viết: “Vợ chồng Obama nhắc cử tri Mỹ lý do vì sao họ đã bỏ phiếu bầu cho Donald Trump” (Obamas remind American voters why they elected Donald Trump). Và, ông ta giúp trí nhớ cho Obama:

“Trong tám năm, ông Obama đã phục vụ cho bạn như là một giáo sư kênh kiệu và một ông vua đức độ, khiêu vũ với các minh tinh âm nhạc và mê hoặc thế giới với những bài diễn văn hoa mỹ tạ tội cho quyền lực của nước Mỹ và ngay cả sự hiện hữu.

Và rồi bạn đã bầu cho một tên ngốc.

Về Tổng thống Trump, ông Obama nói: “Bây giờ đã gần hết bốn năm, ông ta không chứng tỏ sự quan tâm tới công việc, không quan tâm tới việc tìm một lãnh vực chung, không quan tâm tới việc dùng quyền lực đáng sợ của chức vụ để giúp đỡ bất cứ ai ngoài chính ông ta và bạn bè ông ta, không quan tâm tới việc xem chức vụ tổng thống như bất cứ cái gì khác hơn là thêm một sự thật để chứng tỏ ông ta có thể dùng để được sự chú ‎ý ông ta cầu xin.”

Những lời lẽ trên đây đã phát ra từ mồm của cùng một kẻ mà guồng máy hành chánh của hắn đã tung ra một điệp vụ ở cấp cao nhất của chính quyền liên bang để dò thám nhắm vào những đối thủ chính trị của ông Obama để hủy bỏ một cuộc bầu cử tự do và công bằng.

Những lời lẽ trên đây đã phát ra từ mồm kẻ đã tổ chức những tiệc tùng xa hoa tại Tòa Bạch Ốc với những ông hoàng bà chúa của Hollywood và đã biến chức vụ tổng thống của ông ta thành những hợp đồng với Netflix và những nhà xuất bản sách khác để có những thỏa thuận ngọt ngào lên tới 100 triệu đô-la.

Nói bất cứ điều gì anh muốn về ông Trump, nhưng ông ta đã vào Tòa Bạch Ốc khi là một kẻ rất giàu. Ông Obama chưa bao giờ kiếm được bạc triệu cho đến khi ông ta rời Tòa Bạch Ốc. (ngưng trích)

Charles Hurt là một trong số ít nhà báo chân chính và đã can đảm vạch trần những sự thật mà cái gọi là “truyền thông dòng chính” cố bưng bít. Về phía truyền hình, hầu như chỉ có Fox News là loan tin trung thực và bình luận vô tư, khách quan. Trong thời gian qua, những “cây nói” như Tucker Carlson, Sean Hannity, Laura Ingraham…đã liên tiếp tố cáo đám MSM (mainstream media) truyền thông dòng chính Mỷ là thiên lệch, che đậy và bóp méo sự thật, bình luận một chiều. Những đài CNN, MSNBC, ABC…đã bị nêu đích danh cùng với những đoạn phim tài liệu cho thấy các “bình luận gia” của các đài này xúm nhau tâng bốc những “thần tượng” xã nghĩa trong mơ của họ, những chính trị gia chuyên nghiệp yêu nước thương dân bằng mồm, những kẻ mà Tổng thống Reagan lúc sinh thời đã so sánh với những cô nàng đưa người cửa trước rước người cửa sau trong giới thanh lâu.

Chính những “chính trị gia thanh lâu” và những “ký giả ăn mày” này đã giết chết Tự Do tại Việt Nam 45 năm trước và đang mưu toan mở cửa nước Mỹ để rước Tàu cộng vào.

“Ký giả ăn mày” đây không phải là kỷ giả Sài-Gòn đi ăn mày vào năm 1974, nhưng là đồng nghĩa với “trí thức ăn mày” như trong bài của ông Nguyễn Văn Thông viết cách đây không lâu.

Ký Thiệt.

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

Tuyết Mai

— Của cải vật chất chỉ cho chúng ta hạnh phúc tạm thời, thỏa mãn được thân xác nhưng hầu hết chúng ta không ai dại gì mà từ chối nếu có cơ hội để làm giàu còn những lời lý lẽ biện minh, lời nghe ra vẻ đạo đức thì thực tế chỉ vì chúng ta chỉ đủ ăn và không có dư.

— Mà rất thường tình nếu ai vô tình tìm được ngọc quý trên thửa ruộng của người thì cũng im lặng giấu đi để rồi tìm cách đi vay mượn tiền để mua cho được thửa ruộng ấy vì đó là cái khôn ngoan của người trần gian là vậy. Nhưng hậu quả của sự làm giàu từ của người khác mà không do tự mình đổ mồ hôi làm ra thì rồi cũng sẽ cho chúng ta nhiều phiền phức.

— Vì chúng ta đã chọn bỏ mọi thứ quý trọng hơn là của cải đó là nhân cách con người, trái tim biết rung động trên người bất hạnh và Linh Hồn sống đời của chúng ta chỉ để cho có được những cái vật chất rất bề ngoài như ráng mua xe mắc tiền; quần áo, giầy ví, đồng hồ, nữ trang, v.v… tất cả đều phải là tên hiệu nghe rất kêu thì mới thỏa lòng.

— Nhưng thực tế phũ phàng cho thấy người càng giàu bao nhiêu, sống trong lâu đài lộng lẫy như một vị vua (dù là vua trong vùng nhỏ như các ông lớn ở VN ngày nay) thì những người này chắc chắn họ không thể có hạnh phúc được đâu vì thiếu sự ấm áp, thiếu tình thương gia đình nếu có thì mọi người cũng chẳng ai quan tâm đến ai đâu.

— Tâm hồn của họ thì luôn cảm thấy trống rỗng, vô vị và vô nghĩa vì của cải vật chất chúng không thể mang lại cho chúng ta một trái tim biết yêu thương hay muốn chia sẻ cho ai. Như trong các phim bộ tình cảm xã hội cho chúng ta thấy những nhân vật chính giàu có thì thường họ phải mượn rượu uống cho say để giải sâu; thêm chích choác để cảm được những ảo tưởng lâng lâng sung sướng mà đời thường không cho được.

— Có phải của cải vật chất đã biến con người chúng ta tự nguyện muốn trở thành nô lệ muôn đời cho những thứ mà chúng ta ao ước để có như được làm minh tinh, ca sĩ hay những nhân vật nổi tiếng mà ngày ngày bị stress, chạy quần quật đừ người để làm show y như con chuột chạy vòng quanh trong chiếc lồng mà thỉnh thoảng chúng ta nghe tin là họ tự tử chết.

— Nhưng có phải dòng đời là những mời gọi, là những đam mê của thế gian mà chúng quỷ thôi miên hay bỏ bùa ngải trong đồ ăn thức uống nên có mấy ai nhận ra là mình đang dần trở thành nô lệ cho chúng đâu; nên rất vui vẻ để ký giấy hợp đồng tự nạp mình để chúng sẽ hứa cấp cho thuốc nghiện để dùng suốt cả đời.

— Do đó mà chẳng ai thấy được rằng của cải vật chất là vô nghĩa, bạc bẽo và giết chết người bất cứ lúc nào. Nguy hiểm nhất là chúng quỷ đã nắm lỏng linh hồn sống đời của chúng ta và dần đưa chúng ta đến gần tới miệng của Hỏa Lò mà nào có thấy biết.

— Của cải vật chất đã làm cho chồng vợ nhanh chóng bỏ nhau; gia đình tan nát. Vợ chồng đã thế thì thử hỏi các con chúng sẽ sống ra sao?. Đã thế mà hằng ngày chúng con cái học bắt chước theo những gương mù gương xấu của cha mẹ để rồi chúng cũng sẽ đi theo y con đường xấu xa tương tự ấy … là tự dẫn thân mình đi tìm đến chỗ chết muôn đời.

— Thử hỏi từ một gia đình như thế thì cả một xã hội sẽ đi về đâu? Còn đâu là sự sống cho đúng nghĩa với những gì Thiên Chúa mong mỏi trông đợi ở nơi tất cả con cái của Người?. Còn đâu là hạnh phúc đích thực?. Là Con Đường dẫn đến Nước Trời, Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời?.

— Lạy Mẹ Maria, Mẹ hiền mẫu của chúng con – Xin thương giúp chúng con có được con mắt Đức Tin để thấy được những sự ác độc thâm hiểm của bóng tối nhất là khi màn đêm buông xuống. Giúp chúng con siêng năng lần Chuỗi Mân Côi và đọc Lời Chúa … Là hai bửu bối quan trọng luôn gìn giữ thân xác và linh hồn sống đời của chúng con, cách an toàn nhất.

— Nhờ có Mẹ mà chúng con hết thảy sẽ có được cuộc sống yên hàn hơn, kiên nhẫn hơn trong sự chờ đợi ngày Chúa đến đón chúng con ra khỏi cuộc đời này và thưởng ban cho được lên Trời với Chúa. Xin Mẹ Maria tiếp tục giúp chúng con cố gắng từng ngày để sống trong yêu thương, hy sinh và tha thứ cho nhau cùng vác Thánh Giá đời mình. Để mỗi bước đi của chúng con sẽ luôn có Ánh Sáng Chúa chỉ ra con đường về Nhà Chúa ngày càng rõ nét hơn. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

2 tháng 9, 2020

————————————————

Xin bấm vào mã số dưới đây để hát theo:

Đường Về Thiên Đàng

Tỷ lệ ủng hộ ông Trump tăng mạnh tại ‘bang chiến trường’ California

Tỷ lệ ủng hộ ông Trump tăng mạnh tại ‘bang chiến trường’ California

image

Cuộc thăm dò mới nhất cho thấy tỷ lệ ủng hộ ông Trump đã tăng lên mức kỷ lục 52%. 

Một số lượng lớn người Mỹ gốc Phi và đảng viên Đảng Dân chủ đã quay sang ủng hộ Trump, và xếp hạng chấp thuận của sáu bang chủ chốt cũng tăng lên, theo Epoch Times.

Cử tri độc lập ủng hộ

Theo thống kê của chương trình truyền hình trực tiếp C-SPAN, lượt theo dõi Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa đêm đầu tiên là khoảng 440.000 người, gấp 6 lần lượt theo dõi đêm đầu của Đại hội toàn quốc của Đảng Dân chủ (DNC) với 76.000.

Trong tuần qua, đông đảo cử tri gốc Hoa ở Nam Canada cũng bày tỏ quan điểm của mình trên mạng xã hội, trong đó thường xuyên đăng tải các bài viết “Chúa phù hộ nước Mỹ, ủng hộ Trump tái đắc cử”.

Cử tri độc lập của California, ông Lưu cho rằng mình thường có quan điểm tương đối trung lập về chính trị và ông ấy thẳng thắn thừa nhận, nhận thức về hội nghị hai bên là khác nhau. Ông cảm thấy rất khó chịu khi xem Đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ.

Ông nói: “Tôi đã thật vất vả cuối cùng cũng xem xong hội nghị của Đảng Dân chủ đầy căm thù và u ám này. Nhiều người bày tỏ cảm xúc tại hội nghị. Họ ủng hộ bạo lực và căm ghét đối thủ. Điều quan trọng nhất là họ đã hạ thấp truyền thống và thành tựu của Mỹ, bỡn cợt nó không đáng một đồng”.

Tuy nhiên, sau khi xem Đại hội Đảng Cộng hòa, ông Lưu cảm thấy: “Tôi phải thừa nhận rằng Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hòa đã thể hiện phong cách mà Hoa Kỳ nên có. Mọi thứ đều rất tích cực. Trái tim của tất cả các nhóm sắc tộc đều liên kết và họ thực sự yêu mến Hoa Kỳ, họ tôn trọng lẫn nhau, có niềm tin và cũng đang duy trì Hiến pháp Hoa Kỳ, hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ tốt đẹp hơn. Như Phó Tổng thống Pence đã nói, cuộc bầu cử này không còn là một cuộc tranh chấp lưỡng đảng, mà là liệu Hoa Kỳ có thể duy trì nền dân chủ Mỹ hay không“.

Một cử tri người Hoa khác, bà Lư, cho rằng ngày tổng tuyển cử đang đến gần và xuất phát điểm của chính sách hai đảng ngày càng rõ ràng, một là con đường dẫn tới nền dân chủ Mỹ mà Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa muốn duy trì, hai là con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Dân chủ muốn đi. Bà tin rằng, như ông Trump đã nói, cuộc bầu cử tổng thống năm nay là cuộc bầu cử quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ. Bà cũng tin rằng những cử tri Mỹ có tư duy độc lập sẽ có những lựa chọn sáng suốt.

ĐCSTC là một chủ đề lớn trong lần tranh cử này của Hoa Kỳ

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nói chuyện với các phóng viên trên Không lực Một khi ông từ New Hampshire trở về Washington, Hoa Kỳ ngày 28/8.

Trong cuộc bầu cử Mỹ năm nay, quan hệ Mỹ – Trung cũng trở thành tâm điểm chú ý của thế giới bên ngoài. Vào một ngày trước đại hội của Đảng Cộng hòa, chiến dịch tái tranh cử của ông Trump đã ban hành mười chương trình nghị sự chính sách lớn cho nhiệm kỳ thứ hai của ông là “chiến đấu vì bạn”, bao gồm một chương riêng về chính sách đối với Trung cộng.  

Khi chấp nhận đề cử của Đảng Cộng hòa, Trump nói rằng ông sẽ không bao giờ quên việc ĐCSTC đã che giấu tác hại của dịch bệnh gây ra cho Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đã nhiều lần nhấn mạnh trong các bài phát biểu trước công chúng rằng Tổng thống Trump sẽ yêu cầu ĐCSTC phải chịu trách nhiệm về dịch bệnh, trục xuất các gián điệp ngoại giao và chấm dứt các thỏa thuận thương mại không công bằng để chống lại các mối đe dọa của ĐCSTC.

Tuy nhiên, ứng cử viên Đảng Dân chủ Biden và ứng cử viên phó tổng thống Kamala Harris chỉ đề cập đến Trung cộng một lần trong bài phát biểu của họ, càng không đề cập đến việc ĐCSTC phải chịu trách nhiệm về việc che giấu dịch bệnh.

Lam Thuật, một nhà bình luận các vấn đề thời sự và chuyên gia về Trung cộng sống ở California, nói rằng quan hệ Mỹ-Trung và các chính sách đối với ĐCSTC là chủ đề không thể không có trong cuộc bầu cử lần này. “Mục tiêu của Trump khi nhậm chức là làm cho Hoa Kỳ hùng mạnh trở lại, nhưng sự tồn tại của ĐCSTC lại trở thành trở ngại lớn nhất đối với sức mạnh của Hoa Kỳ. Chẳng hạn như thương mại không công bằng, đánh cắp thông tin tình báo của Mỹ, đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ, che giấu dịch bệnh,… Bạn phải biết rằng trước khi có dịch bệnh, chắc chắn nền kinh tế Hoa Kỳ đang ở thời kỳ tốt nhất trong vòng 50 năm”.

ĐCSTC thâm nhập vào mọi tầng lớp xã hội ở Hoa Kỳ thông qua nhiều phương tiện khác nhau, xuất khẩu tư tưởng ý thức hệ của mình, đàn áp dân chủ và tự do, và đã bị chính quyền Trump trừng phạt.

Nhiều tài liệu, giấy tờ đã được hủy trước khi các nhân viên ngoại giao Trung cộng rời đi.

Lam Thuật nói: “Tất cả các biện pháp trừng phạt mà nhóm Trump áp đặt lên ĐCSTC chỉ nhằm chống lại chế độ độc tài của ĐCSTC. Các biện pháp trừng phạt như vậy không phải là ngắn hạn, càng không phải chỉ là khẩu hiệu tranh cử, mà đại diện cho sự nhận thức ra bản chất của ĐCSTC từng bước một của toàn bộ giới học thuật và chính trị Hoa Kỳ. Để khắc phục bản chất bất hảo của ĐCSTC, Trump đang điều chỉnh chính sách sai lầm của Hoa Kỳ đối với ĐCSTC đã kéo dài trong 30 năm qua“.

Ông tin rằng nếu Hoa Kỳ muốn vĩ đại trở lại thì phải đối phó với ĐCSTC, nếu không ĐCSTC sẽ tiếp tục đe dọa Hoa Kỳ. “ĐCSTC vẫn còn ảo tưởng về cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ. Họ tưởng tượng rằng Biden sẽ có thể lên nắm quyền để xoa dịu quan hệ Mỹ-Trung và sẽ cố gắng can thiệp vào cuộc bầu cử Hoa Kỳ. Một khi Biden lên nắm quyền, mọi chuyện có thể thực sự phát triển theo hướng mà ĐCSTC mong đợi”.

Từ những hành động trong quá khứ của Biden với tư cách là thượng nghị sĩ và phó tổng thống, cũng như lịch sử bỏ phiếu tại Quốc hội, chuyên gia Lam Thục nói: “Có thể thấy rằng ông ấy vẫn chưa nhận ra bản chất của ĐCSTC là một chế độ độc tài phản nhân đạo. Đây cũng là vấn đề lớn nhất mà nhóm vận động tranh cử năm nay phải đối mặt”.

Linda Jiang, Epoch Times _ Phụng Minh

Ông Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trở lại run rẩy và đi lại khó khăn

Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam hôm 1-9 xuất hiện trở lại sau khoảng thời gian vắng mặt nhằm kỷ niệm 75 năm quốc khánh, tuy nhiên các đoạn clip do báo chí nhà nước đăng tải cho thấy tay chân ông run rẩy, đi lại khó khăn.

Bạn nghĩ sao?

0:13 / 1:28

VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC TRONG TAY NHỮNG KẺ BỆNH HOẠN

VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC TRONG TAY NHỮNG KẺ BỆNH HOẠN

Hệ thống luật pháp quốc gia văn minh nó vận hành từ trên xuống theo thứ tự hiến pháp là luật cao nhất, tiếp theo là luật pháp và sau cùng là sắc lệnh hành pháp (sắc lệnh hành pháp là văn bản dưới luật). Những văn bản luật thấp hơn bị luật cao hơn loại bỏ nếu nó mâu thuẫn với luật ở bậc cao hơn. Đấy là xứ văn minh, còn với hệ thống luật pháp CS thì sao? Về hình thức vẫn quy định vậy nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại.

Ở chế độ CS, Hiến pháp bị vô hiệu bởi luật pháp, luật pháp bị vô hiệu hóa bởi nghị định, và nghị định thì bị vô hiệu hóa bởi thông tư. Ví dụ như điều 25 Hiến pháp quy định công dân có quyền biểu tình, nhưng luật biểu tình chưa thông qua mà ai biểu tình thì chính quyền xem họ như là kẻ “phạm pháp”. Hay như khi luật pháp ban ra mà chưa có nghị định triển khai hoặc thông tư hướng dẫn thì xem như đạo luật ấy bị treo không thể thi hành được.

Nếu nói hiến pháp là phép vua thì những thứ văn bản dưới luật như: nghị định, quyết định, thông tư vv… chính là những thứ lệ làng. Cách vận thành ngược đời của hệ thống luật pháp CS nó cho phép lệ làng vô hiệu hóa được phép vua. Bộ máy nhà nước CS có cơ cấu vận hành kiểu này được ví như một cơ thể có kết cấu đảo lộn so với bản thiết kế của tạo hóa vậy, bộ óc thì nằm ở trực tràng còn chất thải của hệ tiêu hóa thì được chứa ở hộp sọ. Với một kết cấu như thế này thì làm sao ĐCS dẫn dắt được đất nước “sánh vai cùng cường quốc năm châu” được đây? Hoang đường! Thay vì cơ quan đầu não chưa những neron thần kinh- một loại tế bào thuộc loại tinh hoa của một cơ thể thì ở đây nó lại chứa shit. Vận mệnh đất nước này rồi sẽ ra sao khi bị shit điều khiển?

Ngày 15/11/2018 Quốc hội CS đã thông qua luật Bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó sức khỏe lãnh đạo đảng và nhà nước CS được liệt vào hàng bí mật quốc gia. Đáng lý ra luật này được áp dụng ngay. Nhưng không! Nó phải đợi nghị định cho phép. Luật phải đợi xin phép văn bản dưới luật cho phép. Được biết ngày 24/08/2020, Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 1295/QĐ-TTg về danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực y tế, trong đó hồ sơ bệnh án, thông tin, kết quả khám bệnh, chữa bệnh, kiểm tra sức khỏe của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng được liệt vào diện “tối mật”. Nghĩa là, kể từ đây, ai đưa tin về bệnh tật lãnh đạo mà chưa được phép thì đều có thể bị truy tố. Lúc này thì xem như bộ công an đã được bật đèn xanh sẵn sàng bắt bớ những ai dám công bố sức khỏe lãnh đạo khi chưa cho phép.

Như đã nói, cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền CS thực chất nó chỉ là nơi chứa chất thải của hệ tiêu hóa của cơ thể nên những quyết định nó đưa ra mang màu sắc bẩn bựa chứ không bao giờ có tính minh triết. Luật xem sức khỏe lãnh đạo là bí mật quốc gia cùng với nghị định xem sức khỏe lãnh đạo vào diện tin tức tối mật đã đặt số phận đất nước này vào tay những con người hoặc bệnh hoạn, hoặc điên khùng. Và tất nhiên, đất nước này phải trả giá cho những điều đó.

Hãy tưởng tượng, một xe bus chở hàng chục người mà giao tay lái cho một người bệnh cầm lái thì hậu quả sẽ ra sao? Một con tàu chở hàng ngàn người mà giao cho người bệnh cầm lái thì sẽ ra sao? Chắc chắn không ai chấp nhận vì nó sẽ mang đến tai họa cho hành khách. Vậy thì nếu có một phương tiện chuyên chở 100 triệu người mà giao tay lái cho một người bệnh hoạn thì hậu quả sẽ ra sao chắc là không cần phải giải thích.

Số phận đất nước cần phải được lèo lái bởi con người minh mẫn nhất chứ không thể rơi vào tay một kẻ lú lẫn hoặc một kẻ bệnh hoạn hoặc một kẻ điên khùng. Luật và nghị định được viết ra kia về bản chất, nó chỉ nhằm mục đích làm thỏa mãn tính háo danh của những người cộng sản chứ nó không giúp ích gì cho lợi ích quốc gia cả. Một tên bệnh hoạn cầm lái con tàu 100 triệu dân và được giấu giếm cẩn thận tình hình bệnh tình của y thì quả thật rất đáng sợ. Đấy chính là lý do tại sao đất nước này luôn tụt hậu mãi và ngày một phụ thuộc kẻ thù truyền kiếp mà không cách nào thoát ra. Một kẻ minh mẫn trong ĐCS Việt Nam khi đứng trước thiên triều Tàu Cộng còn không biết làm gì chứ đừng nói chi kẻ bệnh hoạn?!

Hình ảnh thủ tướng Nhật với tướng tá còn chắc khỏe bỗng nhiên từ chức vì sức khỏe không cho phép so với hình ảnh Nguyễn Phú Trọng mò mẫm bước từng bước nặng nề nhưng cố bám ghế cùng với hình ảnh nước Nhật cường thịnh và Việt Nam nhu nhược đã nói lên tất cả. Một đời lãnh đạo bệnh hoạn nắm vận mệnh đất nước đã là nguy, đằng này với ĐCS thì nhiều đời lãnh đạo như thế.

Ví dụ như trường hợp Lê Đức Anh, sau Đại hội 8 chỉ vài tháng ông ta bị đột quỵ. Bệnh xuất huyết não khá nặng nhưng ĐCS đã ém nhẹm để giữ ghế chủ tịch nước cho riêng ông ta. May cho ông ta là hơn ba tháng sau hệ thống y tế CS chữa cho ông hồi phục, rồi ông xuất hiện trên truyền và đài phát thanh đọc lời chúc mừng năm mới năm 1997 như không có chuyện gì xảy ra.

Đỗ Mười là kẻ có tiền sử bệnh tâm thần. Nặng đến mức, năm 1963 ông ta phải sang Tàu Cộng chữa bệnh, thế nhưng ông ta vẫn được đảng giao cho nhiều trọng trách lớn. Giữa thập niên 1990 khi đang là Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (tên gọi cũ của chức danh thủ tướng chính phủ), thì cánh nhà báo nhiều lần chứng kiến ông ta họp báo với quần tây không được kéo khóa. Ông ta mắc chứng đãng trí khá nặng, thế nhưng sau đó ông ta lên tổng bí thư và giữ ngai đến 6 năm rồi mới trao lại cho Lê Khả Phiêu.

Như ta biết, các lãnh đạo CS đời đầu như Hồ Chí Minh và Lê Duẩn đều chết khi còn đang giữ ghế. Điều đó có nghĩa là trước khi chết một thời gian, số phận đất nước này bị nắm trong tay của một kẻ kẻ bệnh hoạn. Với hàng loạt những kẻ bệnh hoạn nối tiếp nhau tiếp nhận việc cai trị đất nước thì đất nước này đi về đâu?

Không một quốc gia tiến bộ nào mà ra tầng tầng lớp lớp luật để tạo điều kiện cho những kẻ bệnh hoạn nắm giữ vận mệnh đất nước, chỉ có ĐCS mới làm thế. Để ĐCS cai trị, tất đất nước này sẽ chẳng có tiền đồ sáng sủa nào cả. Vận mệnh của đất nước không bằng tham vọng của kẻ bệnh hoạn. Là công dân một nước như thế chúng ta nghĩ sao về hoàn cảnh trớ trêu này?

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://nld.com.vn/thoi-su/thong-tin-suc-khoe-cua-uy-vien-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-la-toi-mat-20200830180410665.htm

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-1295-QD-TTg-2020-Danh-muc-bi-mat-nha-nuoc-linh-vuc-y-te-451024.aspx

https://www.sggp.org.vn/suc-khoe-lanh-dao-cao-cap-cua-dang-nha-nuoc-la-bi-mat-nha-nuoc-559266.html

https://danluat.thuvienphapluat.vn/nghi-dinh-va-thong-tu-cai-nao-co-gia-tri-phap-ly-cao-hon-95348.aspx

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem . Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20).  Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình.  Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.  Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu?  Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không?

Phêrô
Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó.  Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia.  Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma.  Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma.  Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê
Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp.  Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X.  Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)
Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo.  Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.  Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2).  Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này.  Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela.  Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan
Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo.  Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su.  Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9).  Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê
Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên.  Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô
Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô.  Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau.  Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.

Tôma
Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ.  Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi.”  Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)
Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài.  Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải  trước khi tử đạo ở Êthiopia.  Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)
Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.  Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô
Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi.  Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.”  Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng.  Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành
Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai người cùng nhau giảng đạo như một cặp.  Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm.  Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia
Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi.  Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó.  Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.
________
Chú thích:
(1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu.  Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên.  Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.  Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi.  Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên.  Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa.  Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình.  Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng.  Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5.  Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”.  Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên.  Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm!  Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau.  Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài.  Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

12 Tong Do 2.jpg

Nghiệp

Nghiệp

“Thầy còn mong muốn gì hơn là tạo ra Thiên đường chỉ có ánh sáng và hạnh phúc cho tất cả mọi người?” Người nói. “Chẳng lẽ con không hiểu chính vì điều này mà thầy xuống dưới nhân gian để dạy con người hãy thương người như thương mình? Vì chừng nào họ không thương yêu nhau, thì dù ở trên trời hay ở dưới thế họ cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được nơi chốn nào để họ có thể tránh được mọi khổ đau.” 

Selma Lagerlöf – Trần Quốc Việt (Danlambao dịch) – Chuyện xảy ra vào thời Chúa Giê su và Thánh Phê rô mới đến Thiên đường sau nhiều năm lang thang và chịu nhiều gian khổ đau thương trên trần thế.

Ta có thể tưởng Thánh Phê rô sung sướng xiết bao trước sự đổi đời này! Ta có thể hình dung cảnh ngồi trên Núi Thiên đường và nhìn ra khắp thế gian quá khác xa với cảnh đi lang thang hết nhà này sang nhà khác như kẻ ăn mày. Đi dạo trong vườn Thiên đường tuyệt đẹp cũng thật khác biết bao với đi rong ruổi khắp thế gian, mà chẳng biết dừng chân trú lại nơi nào vào đêm mưa bão hay lại phải tiếp tục đi trên đường trong bóng đêm giá lạnh. 

Ta tưởng sau cuộc hành trình như thế chắc hẳn ông sung sướng vô cùng khi được đặt chân đến nơi chốn hằng mơ ước. Chắc chắn trước đấy Thánh Phê rô không phải lúc nào cũng tin tưởng mọi sự rồi sẽ kết thúc tốt đẹp. Đôi khi ông không thể nào mà không cảm thấy rất nhiều hoài nghi và lo lắng, vì Thánh Phê rô đáng thương đã không thể nào hiểu nếu Chúa Giê su là chúa của cả thế gian thì tại sao họ lại phải trải qua muôn vàn gian khổ ở trần thế. 

Bây giờ, chẳng mơ ước nào có thể còn hành hạ ông nữa. Ta có thể vững tin ông lấy làm sung sướng trước sự giải thoát này. 

Giờ đây ông thực sự mới thấy tất cả những khổ đau ông và Chúa Giê su đã phải chịu đựng, hay cuộc sống rất thiếu thốn họ phải vui vẻ chấp nhận trước đây thảy đều chẳng đáng gì. 

Ngày xưa lúc họ rơi vào hoàn cảnh thê thảm đến mức Thánh Phê rô tưởng như ông không thể nào chịu đựng được nữa, Chúa Giê su đã đưa ông đến một dãy núi rất cao, và bắt đầu lên núi mà không bảo ông biết lên núi để làm gì. 

Họ đi lang thang ngang qua các thành phố dưới chân núi, và qua những lâu đài trên núi cao. Họ đi qua những trang trại và túp lều, và bỏ lại phía sau lưng cái hang cuối cùng của người tiều phu. 

Cuối cùng họ đến nơi núi đứng sững sững trần trụi, chẳng bóng cây hay lá cỏ nào, nơi một tu sĩ ẩn dật dựng cái chòi để ở và biết đâu để giúp cho lữ khách lỡ đường có nơi tá túc. 

Sau đó, họ đi băng qua những đồng tuyết, nơi những con sơn thử ngủ vùi, rồi đến nơi những vách băng lớn chất chồng lên nhau nằm chênh vênh bên sườn núi mà ngay cả sơn dương cũng rất khó vượt qua được. 

Ở đấy Chúa Giê su thấy một con chim nhỏ có ức đỏ nằm chết cóng trên tuyết, và Người liền nhặt chim lên và nhét chim vào ngực Người. Thánh Phê rô nhớ lại lúc đấy ông không biết phải chăng chim nhỏ ấy là thức ăn chiều của họ. 

Hai thầy trò đi lang thang rất lâu trên những khối băng trơn tuột, và Thánh Phê rô tưởng như ông càng lúc càng đi đến rất gần địa ngục, vì gió lạnh buốt kinh hồn và sương mù đen kịt liệm kín họ, và ông cố nhìn thật xa nhưng chẳng thấy bất kỳ sự sống nào. Tuy nhiên họ chỉ mới lên được lưng chừng núi. 

Rồi ông van Chúa Giê su hãy quay trở lại. 

“Chưa về được,” Chúa Giê su đáp, “vì thầy muốn chỉ cho con thấy điều này để con có can đảm mà chịu đựng mọi đau thương.” 

Rồi họ tiếp tục đi mãi qua sương mù và băng giá cho đến lúc họ không đi được nữa vì gặp một bức tường thành cao vô cùng tận chắn ngang trước mặt. 

“Bức tường này bao quanh núi,” Chúa Giê su nói, “và con không thể vào được bên trong dù ở bất kỳ chỗ nào. Không có bất kỳ sinh vật nào có thể nhìn vào được bên trong bức tường, vì thiên đường bắt đầu từ chính nơi đây và từ nơi đây lên đến đỉnh núi là nơi ở của những người chết được hưởng chân phúc.” 

Nhưng Thánh Phê rô không thể nào mà không lộ vẻ hoài nghi. 

“Ở trong ấy không có bóng tối và cũng chẳng có giá lạnh,” Chúa Giê su nói, “nhưng lúc nào cũng là mùa hè với ánh sáng rực rỡ của mặt trời và các vì sao.” 

Nhưng Thánh Phê rô cảm thấy không thể nào tin được điều này. 

Rồi Chúa Giê su lấy con chim Người mới nhặt được trên băng ra, nghiêng người ra phía sau, ném chim qua bức tường, để chim rơi xuống Thiên đường. 

Ngay lập tức sau đấy Thánh Phê rô nghe tiếng kêu ríu rít mừng rỡ, sung sướng. Ông nhận ra đúng tiếng hót của con chim sẽ ức đỏ, và cực kỳ kinh ngạc. 

Ông quay sang Chúa Giê su và nói: “Thầy và con hãy trở lại trần thế và chịu đựng tất cả những gì phải chịu đựng, vì bây giờ con nhận thấy thầy nói sự thật, và con đã thấy nơi mà Sự sống cuối cùng thắng được sự chết.” 

Thế rồi họ xuống núi và lại bắt đầu đi nay đây mai đó. 

Bao nhiêu năm trường trôi qua từ độ Thánh Phê rô thoáng thấy thiên đường; nhưng ông vẫn luôn luôn ao ước nơi chốn bên kia bức tường. Rồi cuối cùng ông đến được nơi ấy, và không còn phải nỗ lực và khao khát nữa. Bây giờ suốt ngày dài ông có thể uống thỏa thích hạnh phúc tuyệt vời từ những dòng suối bất tử. 

Nhưng Thánh Phê rô ở trên Thiên đường mới được hai tuần thì thiên thần đến gặp Chúa Giê su nơi Người ngự trên ngai, cúi đầu chào Người bảy lần, rồi báo cho Người biết Thánh Phê rô chắc phải sầu thảm lắm. Ông chẳng chịu ăn uống gì và mắt ông đỏ rực vì nhiều đêm mất ngủ. 

Nghe vậy Chúa Giê su liền đứng lên đi tìm Thánh Phê rô. 

Người tìm thấy ông ở một chỗ xa khuất, ở nơi ngoài cùng của Thiên đường, nơi ông nằm xuội ra trên mặt đất, tưởng chừng như chẳng còn sức để đứng lên, và ông xé quần áo của mình và rắc tro lên tóc. 

Khi Chúa Giê su thấy ông quá đau khổ, Người liền ngồi xuống đất bên cạnh ông, và nói chuyện với ông tựa như ngày xưa Người vẫn thường ngồi bên cạnh ông trò chuyện vào thuở họ đi nay đây mai đó khắp nơi trên trần thế khốn khổ này. 

“Thánh Phê rô ơi, điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi. 

Nhưng Thánh Phê rô chẳng thể đáp lại vì ông đang quá đau khổ. 

“Điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi lần nữa. 

Lúc Chúa Giê su nhắc lại câu hỏi, Thánh Phê rô tháo vương miện vàng ra khỏi đầu mình rồi ném nó xuống dưới chân Chúa Giê su như muốn nói ông sẽ không dự phần vào danh dự và vinh quang của Người nữa. 

Nhưng, tất nhiên, Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô đau khổ đến độ ông không biết mình làm gì. Người không lộ vẻ giận ông. 

“Con phải nói cho thầy biết điều gì khiến con âu sầu,” Người nói hết sức nhẹ nhàng như ngày xưa, giọng nói Người càng chan chứa thương yêu hơn nhiều. 

Nhưng đến đây Thánh Phê rô đứng phắt dậy; thế rồi Chúa Giê su nhận thức ông không chỉ quá đau khổ, mà còn rất phẫn nộ. Ông bước đến Chúa Giê su với đôi bàn tay nắm chặt lại và với ánh mắt giận dữ. 

“Bây giờ con không muốn phục vụ thầy nữa!” Thánh Phê rô nói. “Con cũng không muốn ở thêm một ngày nào nữa trên Thiên đường.” 

Chúa Giê su cố gắng làm cho ông bình tâm trở lại, như Người trước kia đã từng làm thế rất nhiều lần mỗi khi Thánh Phê rô nóng giận. 

“Thì con chắc chắn có thể ra đi, “Người nói, “nhưng trước tiên con hãy nói cho thầy biết điều gì khiến con không vừa ý.” 

“Con cho thầy biết con đã chờ đợi tự bao lâu phần thưởng tốt hơn như thế này khi cả hai thầy trò chúng ta chịu dựng đủ mọi thứ đau khổ ở dưới trần thế.” 

Chúa Giê su thấy lòng của Thánh Phê rô chất chứa đầy sân hận, nhưng Người chẳng giận ông. 

“Thầy bảo con tự do muốn đi đâu tùy ý,” Người đáp, “thầy chỉ mong sao con cho thầy biết điều gì khiến con khổ não.” 

Rồi, cuối cùng, Thánh Phê rô cho Chúa Giê su biết tại sao ông rất đau khổ. 

“Con có mẹ già,” ông thổ lộ, “mẹ con mất cách đây vài ngày.” 

“Bây giờ thầy biết tại sao con sầu não,” Chúa Giê su nói. “Con rất đau khổ vì mẹ con không được lên Thiên đường.” 

“Đúng như thế,” Thánh Phê rô nói xong bỗng cảm thấy đau khổ vô cùng liền than khóc thảm thiết. 

“Con nghĩ ít ra con cũng đã xứng đáng để cho mẹ con được lên đây chứ,” ông nói. 

Nhưng khi Chúa Giê su biết điều làm cho Thánh Phê rô đau đớn như thế, đến lượt Người cũng trở nên phiền muộn. Mẹ của Thánh Phê rô không phải là hạng người có thể lên được Nước Trời. Bà chỉ biết ky cóp tiền bạc chứ không bao giờ nghĩ đến điều gì khác, và bà chẳng bao giờ cho những người nghèo đến nhà bà nhờ vả dù chỉ một đồng xu hay một miếng bánh. Nhưng Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô không thể nào thấu hiểu được rằng mẹ ông là người quá tham lam và bủn xỉn nên không được hưởng chân phúc. 

“Thánh Phê rô này,” Người nói, “làm sao con biết chắc mẹ con sẽ cảm thấy vui vẻ khi ở đây với chúng ta?” 

“Đấy, bây giờ thầy lại nói như thế để không phải lắng nghe lời cầu nguyện của con,” Thánh Phê rô đáp. “Thử hỏi ai chẳng hạnh phúc khi ở trên Thiên đường?” 

“Những ai không vui với hạnh phúc của người khác thì không thể vui hưởng hạnh phúc ở đây,” Chúa Giê su đáp. 

“Như vậy ngoài mẹ con ra còn có những người khác cũng không nên ở đây,”Thánh Phê rô nói, và Chúa Giê su biết ông đang nghĩ về Người. 

Rồi Người chợt cảm thấy phiền muộn vì Thánh Phê rô đã đau khổ đến mức ông không còn biết mình nói năng gì. Người đứng một lát và mong Thánh Phê rô ăn năn, và hiểu mẹ ông không xứng đáng được lên Thiên đường, Nhưng lòng Thánh Phê rô vẫn không lay chuyển. 

Rồi Chúa Giê su gọi thiên thần đến và sai thiên thần bay xuống địa ngục để đưa mẹ của Thánh Phê rô lên Thiên đường. 

“Thầy hãy cho con thấy thiên thần đưa mẹ con lên đây bằng cách nào,” Thánh Phê rô nói. 

Chúa Giê su cầm tay Thánh Phê rô và dẫn ông đến vách núi cao dựng đứng tựa mà nghiêng về một bên. Và Người chỉ cho ông thấy ông chỉ cần cúi người ra vách đá chỉ một chút thôi là có thể nhìn thẳng xuống địa ngục. 

Khi Thánh Phê rô nhìn xuống, thoạt đầu ông không thấy gì giống như ông nhìn vào cái giếng sâu hun hút. Ông tưởng như vực thẳm vô cùng tận mở ra ngay dưới chân mình. 

Hình ảnh đầu tiên ông có thể nhận thấy lờ mờ là thiên thần đang bay xuống âm phủ. Thánh Phê rô thấy thiên thần bay rất nhanh xuống bóng tối dày dặc mờ mịt bên dưới mà không mảy may sợ hãi, chỉ vươn cánh ra một chút để không rơi xuống quá nhanh. 

Nhưng khi đôi mắt Thánh Phê rô đã hơi quen dần với bóng tối ông bắt đầu càng lúc càng thấy nhiều hơn, Trước tiên, ông thấy Thiên đường nằm trên dãy núi hình tròn bao quanh vực thẳm mênh mông, và đáy vực thẳm này là nơi ở của những âm hồn của những kẻ tội lỗi. Ông thấy thiên thần rơi, rơi hoài và rơi mãi mà vẫn chưa tới đáy vực. Ông chợt khiếp sợ vô cùng trước độ sâu khủng khiếp của vực thẳm. 

“Cầu mong thiên thần bay lên lại với mẹ con!” ông nói. 

Chúa Giê su chỉ nhìn ông với ánh mắt rất buồn. 

“Không có sức nặng nào nặng đến mức mà thiên thần của thầy không mang nổi.” Người nói. 

Sâu thăm thẳm dưới tận âm phủ nơi ánh sáng mặt trời không thể nào chiếu đến là nơi bóng tối ngự trị. Nhưng dường như thiên thần khi bay chắc mang theo ánh sáng bên mình nên nhờ đó Thánh Phê rô có thể thấy cảnh vật ở dưới đáy. 

Đó là sa mạc đá đen vô tận. Dưới đáy phủ kín toàn là những ngọn đá dựng đứng lởm chởm sắc nhọn. Giữa những ngọn đá này là những vũng nước đen lấp lánh. Không có một ngọn cỏ, không có một bóng cây, không có một dấu hiệu của sự sống. 

Nhưng hồn bị đọa đày lúc nhúc lổn nhổn khắp mọi nơi trên những ngọn đá sắc nhọn này. Họ bám trên đỉnh những vách đá dựng đứng mà họ đã trèo lên tới được ấy với hy vọng thoát ra được khỏi vực thẳm, nhưng khi họ thấy không còn chỗ nào để trèo tiếp lên được nữa, họ vẫn đu bám ở trên đấy, dù họ cực kỳ sợ hãi vì tuyệt vọng đau khổ. 

Thánh Phê rô thấy nhiều hồn ngồi hay nằm với hai cánh tay vươn ra trong niềm khao khát vô tận và mắt nhìn đăm đăm nhìn lên bên trên. Còn những hồn khác lấy hai tay che mặt lại như không muốn nhìn thấy cảnh ghê sợ tuyệt vọng chung quanh họ. Tất cả họ đều bất động; chẳng một ai đi lại. Nhiều hồn nằm hoàn toàn im lìm bất động trong những vũng nước, chẳng mảy may cố gắng đứng lên. 

Nhưng điều đáng sợ nhất là có hằng hà sa số những âm hồn bị sa đọa. Tưởng như dưới đáy vực thẳm chỉ toàn là thân với đầu chen chúc sát nhau. 

Thánh Phê rô chợt cảm thấy thêm mối lo sợ khác. 

“Thầy thấy đấy thiên thần không thể nào tìm ra mẹ con được.” Ông nói với Chúa Giê su. 

Chúa Giê su nhìn Thánh Phê rô vẫn với ánh mắt thật buồn như trước. Tất nhiên Người biết Thánh Phê rô không cần phải lo lắng cho thiên thần. 

Nhưng Thánh Phê rô thấy thiên thần dường như không thể nào tìm ra mẹ ông trong biển linh hồn bị đọa đày đông không kể xiết ấy. Thiên thần xoải cánh bay tới bay lui trên địa ngục để tìm mẹ ông. 

Bất ngờ một trong những hồn bị đày đọa đáng thương ấy chợt thoáng nhìn thấy thiên thần, ông ta liền nhảy lên và vươn hai tay về phía thiên thần và kêu to: 

“Hãy mang tôi đi với! Hãy mang tôi đi với!” 

Rồi bất ngờ cả biển hồn ấy sống lại. Tất cả hàng muôn ức triệu và hàng muôn ức triệu hồn bị đày đọa trong địa ngục tức thì cùng bừng tỉnh lại, và cùng giơ tay thật cao lên trên và đồng thanh kêu van thiên thần hãy đưa họ lên thiên đường chân phúc. 

Tiếng gào thét của tất cả các hồn từ đáy vực vang vút lên đến tận nơi Chúa Giê su và Thánh Phê rô đứng. Cả hai nghe mà thấy lòng mình đau như cắt. 

Thiên thần khẽ nghiêng qua nghiêng lại bên trên những hồn bị đọa đày; nhưng khi thiên thần bay tới bay lui tìm hồn, tất cả các hồn đều chạy ào như bị gió lốc cuốn theo sau thiên thần. 

Cuối cùng thiên thần chợt nhìn thấy hồn mình đang tìm. Thiên thần xếp cánh trên lưng lại và lao vút xuống như tia chớp. Thánh Phê rô bật ra tiếng reo vang sung sướng khi ông thấy thiên thần vòng tay quanh mẹ mình và nhắc bà lên. 

“Phúc thay cho ai đưa mẹ con lên với con thầy ơi!” ông nói. 

Chúa Giê su đặt nhẹ tay lên vai Thánh Phê rô như muốn khuyên ông biết đừng quá vội vui mừng. 

Nhưng Thánh Phê rô chực khóc vì quá sung sướng khi thấy hồn mẹ đang được cứu vớt. Ông hiểu giờ đây chẳng còn điều gì khác có thể chia lìa mẹ con. Hơn nữa niềm vui của ông càng tăng lên gấp bội khi ông thấy dù thiên thần nhắc mẹ ông lên rất nhanh nhưng một số hồn bị đọa đày vẫn bám được theo hồn mẹ ông mà sắp được cứu vớt, để họ cũng có thể tái sinh cùng với bà trên Thiên đường. 

Chắc có hơn chục hồn bám vào hồn mẹ già ông. Thấy thế Thánh Phê rô nghĩ đây quả là vinh hạnh rất lớn lao cho mẹ khi giúp đưa được nhiều chúng sanh đáng thương bất hạnh thoát ra khỏi đia ngục. 

Thiên thần cũng chẳng làm gì để ngăn cản những hồn này. Dường như hoàn toàn chẳng màng đến gánh nặng trên mình, thiên thần càng lúc càng bay bổng lên cao, và chuyển động hai cánh rất nhẹ nhàng tựa như mang con chim nhỏ đã chết lên trời. 

Nhưng rồi Thánh Phê rô thấy mẹ ông bắt đầu tìm cách thoát ra khỏi những hồn bị đọa đày đã bám vào bà. Bà nắm chặt tay họ để gỡ họ ra, thế rồi lần lượt từng hồn một rơi xuống lại địa ngục. 

Thánh Phê rô có thể nghe rõ tiếng họ khẩn cầu và van xin mẹ mình; nhưng bà già chẳng muốn bất kỳ ai chỉ ngoại trừ bà được cứu vớt. Bà càng lúc càng gỡ được nhiều hồn bám vào mình, và để họ rơi chìm xuống lại khổ đau. Khi họ rơi xuống, tiếng than van và nguyền rủa vang dậy khắp không gian. 

Rồi Thánh Phê rô gọi mẹ thật to để cầu khẩn mẹ hãy rủ lòng thương người, nhưng bà không chịu lắng nghe mà vẫn tiếp tục làm như vậy. 

Thánh Phê rô nhận thấy thiên thần khi mang càng nhẹ thì lại bay càng lúc càng chậm dần. Thánh Phê rô bỗng sợ hãi vô cùng đến độ chân đứng không vững nên phải quỳ xuống. 

Cuối cùng, chỉ còn một hồn bị đọa đày duy nhất vẫn bám cổ mẹ Thánh Phê rô. Hồn này là phụ nữ trẻ ôm cổ bà và van xin khóc lóc không ngừng vào tai bà để xin được bay cùng với bà lên Thiên đường hạnh phúc. 

Lúc này thiên thần đã mang họ đến gần sát Thiên đường đến độ Thánh Phê rô đã giơ tay ra sẵn để đón mẹ. Ông nghĩ thiên thần chỉ cần phải đập cánh thêm hai hay ba lần nữa là lên đến được đỉnh núi. 

Nhưng bất ngờ đôi cánh thiên thần hoàn toàn bất động, và sắc mặt thiên thần đổi sang màu đen như bóng đêm. 

Vì lúc này bà già đã vòng tay ra sau lưng và nắm lấy hai cánh tay của hồn phụ nữ trẻ đang ôm cổ bà, và rồi bà bấu và cấu xé mãi cho đến khi bà gỡ được hai bàn tay ôm cổ bà ra, để cuối cùng bà cũng thoát ra khỏi hồn cuối cùng đu bám theo mình. 

Khi hồn bị đọa đày ấy rơi xuống thiên thần như chẳng còn sức cất cánh trở lại cũng chìm xuống theo gần chục mét. 

Thiên thần nhìn bà già với ánh mắt rất buồn, rồi thả lỏng tay ôm quanh lưng bà ra, và thiên thần để cho bà rơi xuống như thể vì chỉ còn một mình bà thôi nên bà trở nên quá nặng đến mức thiên thần không thể nào mang nổi. 

Ngay sau đấy thiên thần đập cánh lần cuối rồi bay vút vào thiên đường. 

Nhưng Thánh Phê rô vẫn nằm ở nơi đấy thật lâu và khóc nức nở không thôi. Chúa Giê su đứng im lặng bên ông. 

“Thánh Phê rô này,” cuối cùng Chúa Giê su nói, “Thầy đã không bao giờ nghĩ con sẽ khóc như thế này sau khi con đã lên Thiên đường.” 

Lúc ấy người phục vụ già của Chúa Giê su ngẩng đầu lên đáp: 

“Thiên đường gì ở đây hở thầy, nơi con nghe bao tiếng than van của người thân yêu nhất và thấy muôn vàn khổ đau của đồng loại!” 

Mặt Chúa Giê su đượm vẻ buồn não vô cùng. 

“Thầy còn mong muốn gì hơn là tạo ra Thiên đường chỉ có ánh sáng và hạnh phúc cho tất cả mọi người?” Người nói. “Chẳng lẽ con không hiểu chính vì điều này mà thầy xuống dưới nhân gian để dạy con người hãy thương người như thương mình? Vì chừng nào họ không thương yêu nhau, thì dù ở trên trời hay ở dưới thế họ cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được nơi chốn nào để họ có thể tránh được mọi khổ đau.” 

Selma Lagerlöf (1858-1940) là nhà văn Thụy Điển. Bà là nhà văn nữ đầu tiên nhận Giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1909. 

Nguồn: Từ tác phẩm Christ Legends của nhà văn Selma Lagerlöf, bản dịch tiếng Anh của Velma Swanston Howard, nhà xuất bản Henry Holt And Company, 1908, trang 203-219. Tựa đề tiếng Anh “Our Lord and Saint Peter”. Tựa đề tiếng Việt của người dịch. 

Toàn bộ tác phẩm Christ Legends qua bản dịch của Velma Swanston Howard được đưa lên mạng ở địa chỉ sau: 

http://www.holybooks.com/wp-content/uploads/Christ-Legends-by-Selma-Lagerl%C3%B6f.pdf

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh & Tầm Gửi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh & Tầm Gửi

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Họa sỹ Lê Huy Cầm cho biết: “Vừa dứt xong cái tranh cho cựu sinh viên Đại Học Dalat sẽ đấu giá kiếm tiền cho sinh viên nghèo trong ngày họp mặt 20 năm.” Bên dưới thông tin này là lời nhắn của FB Hue Chau (“Nếu dành cho cựu SV ĐH Dalat pre 75 thì trên tháp chuông nhà Nguyện Năng Tĩnh kg phải là cái… ơi Lê Huy”) và hồi đáp của tác giả: “Sinh viên ra trường năm 2000 nên vẽ như vậy.”

Tôi rời Viện Đại Học Đà Lạt đã lâu, ngay sau Mùa Hè Đỏ Lửa, vào năm 1972. Gần nửa thế kỷ đã vụt đi với không biết bao nhiêu là nước suối, nuớc sông (cùng với nước mưa/nước mắt) đã ào ạt qua cầu và qua cống. Nhìn lại hình ảnh trường xưa không khỏi có thoáng chút bồi hồi, và cũng thấy có hơi hụt hẫng.

Tuy thế, tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích thượng dẫn của tác giả bức tranh. Thấy sao thì vẽ vậy thôi. Mà sao vàng và cờ đỏ thì được “gắn” vào tất cả những công trình kiến trúc ở VN (trường học Yersin, nhà ga Đà Lạt, bưu điện Sài Gòn, Toà Đô Chính, Dinh Gia Long, Dinh Độc Lập …) chớ có sót chỗ nào đâu.

Ngó riết rồi cũng quen mắt thôi mà!

Chỉ riêng có “chỗ” này thì phải công nhận là nhìn hơi quá chướng, theo nhận xét của một nhà văn miền Nam – lần đầu đặt chân đến Hà Nội – hồi năm 1989:

“Ô nhưng cái gì thế kia? Trên đỉnh Tháp Rùa có một ngôi sao! Cái này ra ngoài dự kiến của tôi về cảnh trí ở đây. Tôi chợt hiểu và liên tưởng ngay đến các ngọn tháp chuông ở điện Cẩm Linh mà tôi thấy trên báo chí Liên Xô, trên mỗi tháp cũng có gắn một ngôi sao. Dấu hiệu của Cách Mạng.

Chỉ tiếc khi nhìn ngôi sao trên đỉnh tháp Rùa thì trí tưởng tượng của tôi về câu chuyện con rùa đòi thanh gươm của Lê Lợi không thể nào hoạt động được, nó tê cứng như con chuột bị con rắn thôi miên vậy.

Tôi tự hỏi có phải trong trường hợp nào cũng cần phải đem cái hiện tại đè lên trên cái cổ truyền như thế không. Thỏa mãn một nhu cầu nhất thời có khi lại làm hại một sự thành tựu đã lâu đời. Và nếu ‘ý chí’ muốn rằng cái nhất thời phải thành vĩnh viễn trong tương lai thì nên tạo ra một công trình mới, ở chỗ khác, chứ sao lại sống tầm gửi vào những gì đã thành lịch sử như thế.” (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. NXB Thế Kỷ: Westminster 1994).

Ah, thì ra thế! Thế ra là chủ trương “sống tầm gửi” có nguồn gốc tuốt bên Nga, quê hương cách mạng tháng mười, từ hồi đầu thế kỷ trước lận (và đã trở thành truyền thống chung của khối anh em vô sản trên toàn thế giới) chớ đâu có phải là chuyện tình cờ hay cá biệt! Tuy thế, khách quan mà nói, chính sách “tầm gửi” khi vào đến Việt Nam thì mới phát huy được thêm hai “mảng” mới tinh: đám thuyền nhân (boat people) và bọn công nhân xuất khẩu.

Những kẻ trôi sông lạc chợ này sinh sống gần như là một loài cá vậy, cá hồi. Họ được (hay bị)  Đảng và Chính Phủ đẩy ra khỏi nước, tứ tán khắp nơi, tha phương cầu thực. Tất cả đều chăm chỉ cần mẫn mưu sinh, và cần kiệm từng đồng, để mỗi khi hồi hương thì có được một mớ đô la nặng túi. Đó là chưa kể số tiền gửi về hàng qúi, hay hàng tháng, cứ như thể là đóng hụi (chết) vậy.

Theo trang VnEconomy: “Việt Nam tiếp tục trong top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Kiều hối chuyển về năm nay ước đạt 16,7 tỷ USD … tăng nhẹ so với 16 tỷ USD của năm 2018.” Nếu không có những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi (và nước mắt) của hàng triệu khúc ruột xa ngàn dặm thì cái  “chính phủ tầm gửi” hiện hành, chắc chắn, đã không thể nào tồn tại được tới ngày nay.

Trong cái đám dân bá vơ này (thảng hoặc) cũng có vài cá nhân nổi bật, được Nhà Nước VN đặc biệt quan tâm. Nghệ sỹ dương cầm Đặng Thái Sơn là một người như thế. Từ Nga, có lần, ông gửi thư về cho thân phụ (một nhân vật bất đồng chính kiến – nhà thơ Đặng Đình Hưng) với những dòng chữ nhạt nhoà nước mắt:

“Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…” (Thế Giang. “Cây Đắng Nở Hoa.” Thằng Người Có Đuôi. Nguời Việt: Westminster 1987).

Ngay sau khi “cây đắng nở hoa” thì … thánh đế hồi tâm. Đặng Thái Sơn được trao  danh hiệu Nghệ Sỹ Nhân Dân, cùng với nhiều lời tung hô thái quá (tung toé) trên khắp những trang báo quốc doanh:

  • Âm thanh thế kỷ 20 dưới tiếng đàn Đặng Thái Sơn
  • Huyền Thoại Dương Cầm Đặng Thái Sơn
  • Cánh chim tìm về tổ
  • Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn
  • Đặng Thái Sơn, những nổi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập

Bên cạnh câu chuyện đắng cay này, có không ít những lời bình vô cùng cay đắng:

  • Đặng Chương Ngạn“Tiền đi thi không cho, đến cả cái danh xưng thí sinh Việt Nam cũng không cho, nhưng sau khi đoạt giải lại nhận ông ấy là người Việt Nam.”
  • Lê Công Định: “Tôi nhớ ngày anh Đặng Thái Sơn đoạt giải về nước, cả hệ thống truyền thông bu lại ca ngợi đảng và nhà nước đã hun đúc tài năng của dân tộc!”
  • Hoàng Khởi Phong: “Cha anh, nhạc sĩ và nhà thơ Đặng Đình Hưng được nhìn thấy con ông như một con cá kình, quẫy thủng cái lưới mà thoát ra biển khơi.”
  • Nhat Vu Hong:“Chính vì sự bội bạc đó nên Đặng Thái Sơn không về VN mà định cư tại Canada.”
  • Son Nguyen & Bùi Phi Hùng: “Cũng giống như Ngô Bảo Châu, người Việt được chăm bón, vun trồng ở tận đẩu tận đâu rồi thành quả, về ‘báo công’ cho nhà nước hít hà, phả ra đầy khí quyển những lời hào sảng hết cỡ; đưa tất cả lên đỉnh, tưởng chừng như thế gian này chỉ còn có người Việt; người Việt sẽ làm cho TG thăng hoa…”

Trường hợp của G.S Ngô Bảo Châu thì tương đối vẫn còn mới mẻ, rất nhiều người biết nên cũng chả cần phải rườm lời, trừ sự kiện này: ông không phải là một con cừu nên không quen bám lề, và thỉnh thoảng lại đi “trật đường rầy” một khoảng (hơi) xa. Có lẽ xa nhất là lời bình luận của ông vào hôm 19 tháng 5 năm 2016, nhân ngày sinh nhật lần thứ 126 của Hồ Chí Minh: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.”

Thế là Nhà Nước VN sùy chó ra cắn ngay:

  • Ngô Bảo Châutiếp tục cổ súy cho các hành động sai trái chống phá đất nước của những tên phản động như Lê Công Định, Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Mẹ Nấm…
  • Ngô Bảo Châumột con trâu biết làm toán
  • Ngô bảo Châuđã tìm cho riêng mình một con đường khác, đi ngược lại con đường mà đảng, Bác Hồ cùng nhân dân đã chọn hơn 70 năm qua…
  • Ngô Bảo Châutrên con đường ngụy dân chủ phản bội dân tộc.

Ngó bộ thì lũ chó này chưa chắc đã cắn rách được gấu quần của nạn nhân nhưng tư cách của đám chủ thì ai cũng nhìn thấy rõ: đồ ăn hại và phường vô lại.

Nguyễn Đức Chung và ‘họa anh hùng’

Nguyễn Đức Chung và ‘họa anh hùng’

Sự kiện ông Nguyễn Đức Chung, Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, Chủ tịch thành phố Hà Nội kiêm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội bị tạm giam hôm 28 tháng 8 vì “chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” đã tô vẽ thêm cho đại họa về… “anh hùng”.

***

Ông Chung trở thành “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân” năm 2004 và từ đó thăng tiến không ngừng: Phó Giám đốc, Giám đốc Công an Hà Nội, Chủ tịch thành phố Hà Nội, ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội…

Theo những thông tin do Bộ Công an công bố hồi cuối tuần trước, ngoài vụ án vừa kể, dường như, ông Chung sẽ còn bị khởi tố để điều tra thêm về một số hành vi phạm tội nữa vì là đồng phạm trong ba vụ án khác.

Vụ án thứ nhất “Vi phạm quy định về kế toán – rửa tiền, Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Nhật Cường. Vụ án thứ hai: “Buôn lậu, Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng – rửa tiền. Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường, Sở KH-ĐT Hà Nội và một số đơn vị liên quan. Vụ án thứ ba: “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Hà Nội (1).

Trên thực tế, cả công luận lẫn công chúng đã đề cập đến việc ông Chung có dấu hiệu phạm nhiều tội từ lâu, ít nhất là từ giữa thập niên 2010, khi Công ty Nhật Cường đột nhiên được chọn làm nhà thầu cung cấp các giải pháp kỹ thuật, công nghệ cho việc thực hiện kế hoạch quản trị – điều hành ở Hà Nội bằng mạng máy tính. Hay khi Công ty Arktic trở thành doanh nghiệp độc quyền cung cấp RedOxy-3C (sản phẩm xử lý ô nhiễm nguồn nước) cho Hà Nội (2)…

Tuy nhiên ông Chung vẫn… vô sự như ông Phan Văn Vĩnh – một “anh hùng” khác của “các lực lượng vũ trang nhân dân” … Ông Vĩnh trở thành “anh hùng” trước ông Chung vài năm và giống như ông Chung, ông Vĩnh thăng tiến không ngừng bất kể điều tiếng: Đại tá Giám đốc Công an tỉnh Nam Định, Thiếu tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Trung tướng Tổng cục Trưởng Tổng cục Cảnh sát,…

Một năm sau khi nghỉ hưu, “anh hùng” Phan Văn Vĩnh mới bị khởi tố rồi bị tống giam với cáo buộc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” – bày ra, sắp đặt để Công ty Đầu tư Phát triển An ninh công nghệ cao (CNC) tổ chức đánh bạc qua mạng Internet trên phạm vi toàn quốc. Thêm một năm nữa sau khi bị phạt chín năm tù vì tội vừa kể, ông Vĩnh bị khởi tố thêm tội “Ra quyết định trái pháp luật” (3).

Cho đến bây giờ, bảy năm sau khi ông Vĩnh ra lệnh bán vật chứng (615 khối gỗ trắc) của một “vụ án buôn lậu”, hệ thống tư pháp vẫn chưa thể khắc phục được hậu quả của quyết định càn rỡ ấy vì tòa xác định, các bị cáo chỉ buôn chứ không… lậu!

***

Ngoài những cá nhân… “anh hùng” đã xộ khám, Việt Nam còn có những tập thể… “anh hùng”. Nhìn một cách tổng quát, số “anh hùng” cá nhân hay “anh hùng” tập thể phá hơn… giặc càng ngày càng nhiều!

Sau khi xảy ra vụ thảm sát tại bãi đá Gạc Ma và để mất thêm hàng loạt bãi đá ở khu vực quần đảo Trường Sa, năm 1989, quân chủng Hải quân của Quân đội nhân dân Việt Nam được phong tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”. Tuy được phong tặng danh hiệu được xem là cao quý này sau hải quân hàng chục năm nhưng sau hàng chục vụ tai nạn xảy ra đối với các phi cơ quân sự. đến 2010, quân chủng Phòng không – Không quân cũng trở thành “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”.

Năm ngoái và năm nay, hai quân chủng “anh hùng” này nổi như cồn vì thi nhau bán công thự, công thổ, chỉ đạo tham gia các chương trình liên kết, liên doanh “trời ơi, đất hỡi”… Các Tư lệnh của quân chủng phòng không – không quân và hải quân người thì bị cách chức (Thượng tướng Phương Minh Hòa), người thì bị phạt tù (Đô đốc Nguyễn Văn Hiến), toàn bộ Ban Thường vụ Đảng ủy của các quân chủng phòng không – không quân (4), hải quân (5) cũng bị xử lý kỷ luật.

Bên cạnh những “Anh hùng các lực lượng vũ trang”, những cá nhân, tập thể là… “Anh hùng lao động” cũng y như thế. Ông Trương Văn Tuyến, Tổng Giám đốc VINASHIN, “Anh hùng lao động” đầu tiên của ngành dầu khí bị truy tố vì “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” (6). Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) trở thành tập thể “Anh hùng lao động” năm 2011 và phá sản vì thua lỗ hơn 3.000 tỉ đồng.

Ê ẩm vì PVC tập thể “Anh hùng lao động” và Trịnh Xuân Thanh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVC, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phải thu hồi danh hiệu “Anh hùng lao động” của PVC và “Huân chương Lao động” đã cấp cho ông Thanh (7).

Việc tước danh hiệu “anh hùng” dẫu hi hữu nhưng không phải là chưa có tiền lệ. Năm 2014, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã từng tước danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang” của ông Hồ Xuân Mãn (8).

Ông Mãn được tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang” năm 2010 lúc đang là Bí thư tỉnh Thừa Thiên Huế. Các cựu chiến binh là đồng đội của ông Mãn mất bốn năm gặp gỡ nhiều người, tố cáo với nhiều nơi, rằng ông Mãn – điển hình của việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên toàn quốc – “khai man thành tích” và được cả tổ chức đảng lẫn hệ thống công quyền tiếp sức để trở thành… “anh hùng” giả!

Cuối cùng, do có rất nhiều nhân chứng còn sống, nhiều tài liệu còn được lưu giữ cẩn thận, cả đảng và nhà nước phải nhìn nhận ông Mãn đã… man khai. Trong 17 thành tích mà ông Mãn liệt kê và được tổ chức đảng cũng như hệ thống công quyền ở Huế xác nhận, chỉ có 2/17 là đúng. Tuy nhiên một trong hai không được đồng đội của chính ông Mãn đồng tình xem là thành tích…

Năm 1972, khi còn là du kích, ông Mãn đã xả súng vào một đám giỗ ở ấp Phò Ninh (xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế) để giết Trưởng ấp. Tuy vụ xả súng vào đám giỗ – có cả ông nội của ông Mãn ngồi tại đó – giết được Trưởng ấp nhưng làm chín thường dân (bao gồm ba đứa trẻ) mất mạng, tám người bị thương và toàn bộ nạn nhân không phải bà con thì cũng là hàng xóm nhưng lúc báo công, ông Mãn vẫn xếp toàn bộ nạn nhân vào loại ác ôn, có… nợ máu với nhân dân (9)…

***

Chẳng rõ trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, có nơi đâu, thời nào, “anh hùng” liên tục gieo rắc đại họa cho dân lành như lúc này ở Việt Nam. “Anh hùng” từ đâu mà ra và vì sao lại thế?

CHẶN DÂN ĐỦ ĐƯỜNG…

8 SÀI GÒN

CHẶN DÂN ĐỦ ĐƯỜNG…

Nhân dân chẳng lẽ không còn cái quyền cơ bản với một đại biểu quốc hội (dân biểu) đang đại diện cho chính mình, dù đó chỉ là mặt hình thức?

Ít ra, chính các cơ quan công quyền phải ngay lập tức cho điều tra số tiền mua quốc tịch của đại biểu quốc hội để làm rõ có hay không việc rửa tiền, tham nhũng hoặc vấn đề khác.

Tuyên giáo thành uỷ của một thành phố có thẩm quyền gì để nói về vấn đề tài sản của đại biểu trước nhân dân?

Ông ta đã đi quá xa với số tiền khổng lồ không rõ nguồn gốc, trong khi vị này lại khuyên nhủ nhân dân đừng nên đi quá xa một vấn đề nghiêm trọng.

Bảo sao tham nhũng chẳng những không giảm mà còn thách thức cả chính phủ như đã từng thừa nhận chính nó không thể chống được tham nhũng.

Đây là một lời tuyên chiến chống lại việc chống tham nhũng của chính Đảng của các ông khơi mào và hô hào thực thi.

LUÂN LÊ

***

TIẾC GÌ CÁI THỨ NHƯ…

Ông Phạm Phú Quốc?!

Mặc dù đích xác Phạm Phú Quốc là kẻ hai lòng, không trung thực với tổ chức, gian dối với nhân dân.

Nhưng chiều nay, khi lãnh đạo TP.HCM họp thông tin sau nhiều ngày im lặng, tôi đọc chỉ nghe thấy lãnh đạo toàn tiếc nuối với mong đừng suy diễn thêm về trường hợp của Phạm Phú Quốc.

Tình thương đặt không đúng đối tượng chính là nhẫn tâm với đám đông còn lại.

Hay là tương lai sẽ xét lại vua Lê Chiêu Thống là hôn quân hay minh quân, nhỉ?!

Chứ lẽ ghét thương của quan nhân khó dzị, thứ dân phải sống làm sao.

Sát nhân thì báo giới bắt đầu bằng, “… ở nhà là một đứa trẻ ngoan, lễ phép hay giúp đỡ hàng xóm”.

Quan nhân đương nhiệm lừa dối hai quốc tịch, ăn cây táo rào cây sung thì, “…lấy làm tiếc”.

Tôi đọc bao nhiêu lời dạy của tiền nhân, hoá ra đều sai cả ư?!

Ai lại đi tiếc cho kẻ làm quan lại sở hữu thêm một quốc tịch sơ-cua bao giờ?!

Hay là tiếc cho chính bản thân vì dự tính theo chân, nhưng phút chốc bỗng xa diệu vợi.

Lãnh đạo thành phố tiếc cho Phạm Phú Quốc không bằng thiếu niên tiếc vì idol Khá Bảnh đi tù đâu.

Thân làm lãnh đạo mà đến xác định đối tượng ghét yêu còn sai lệch, thì lấy gì Phạm Phú Quốc không nhơn nhơn, “Tui có hai quốc tịch là do vợ bảo lãnh”.

Sao lãnh đạo thành phố không tiếc cho niềm tin của nhân dân dành cho tổ chức đã bị Phạm Phú Quốc công nhiên cướp mất?!

NGÔ NGUYỆT HỮU

TAO BỊ TÂM THẦN MÀ MẦN TỔNG BÍ THƯ ĐÓ! ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG TAN HOANG MỚI LẠ!

TAO BỊ TÂM THẦN MÀ MẦN TỔNG BÍ THƯ ĐÓ! ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG TAN HOANG MỚI LẠ!

__________________________________________________

Thông tin Đỗ Mười từng mắc bệnh tâm thần đã được nhiều tài liệu ghi lại. Trong sách Bên Thắng Cuộc, phần 2 – Quyền Bính, nhà báo Huy Đức viết:

“Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa bước từ toilet ra, Tổng Bí thư Đỗ Mười, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nước nhỏ đặt phía sau Hội trường Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi đã từng bị thần kinh đấy”. Không phải ông nói đùa, theo ông Nguyễn Văn Trân, Bí thư Trung ương Đảng khóa III, người từng hoạt động với ông, có thời gian ông Đỗ Mười bị bệnh thần kinh, gần như không thể làm việc, có lúc lên cơn, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc người ta thấy ông Đỗ Mười một mình leo lên cây… Năm 1963, ông đã phải đi Trung Quốc chữa bệnh tới mấy năm mới về Việt Nam làm việc”

Còn trong quyển sách Đèn Cù, quyển 2, nhà văn Trần Đĩnh cũng ghi lại rằng:

“Các lão thành hỏi nhau có nhớ hồi nào Đỗ Mười điên nằm Việt – Xô. Lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết.”

Có lẽ do di truyền, nên con cháu của Đỗ Mười cũng đều bị mắc bệnh tâm thần tương tự.

Dù có tiền sử bị bệnh tâm thần, nhưng Đỗ Mười vẫn là một nhân vật đầy quyền lực trong chế độ CSVN. Sau năm 1975, ông này là nhân vật cầm đầu chiến dịch đánh tư sản, đổi tiền… khiến toàn bộ nền kinh tế miền Nam xụp đổ, tài sản nhân dân bị mất trắng.

Nhờ những ‘chiến tích’ này, Đỗ Mười đã leo lên đến chức thủ tướng CSVN từ năm 1988 đến 1991, sau đó trở thành tổng bí thư cho đến mãi tận năm 1997.

Đỗ Mười cũng là nhân vật chịu trách nhiệm chính về thỏa ước bán nước năm 1990 tại Hội Nghị Thành Đô cùng với Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh.

Dân gian kể rằng, thời trước ‘cách mạng’, Đỗ Mười có nghề gia truyền là thiến heo, hay còn gọi là hoạn lợn. Từ năm 1961 đến 1967 thì bệnh tâm thần tái phát nên phải sang Trung Cộng chữa trị.

Theo nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, Đỗ Mười tiết lộ ‘bí quyết’ chữa khỏi bệnh tâm thần là nhờ… đi bộ.

(Từ Bên Thắng Cuộc & Đèn Cù)

__________________________

Ảnh đen trắng: Nhà toán học Ngô Bảo Châu báo cáo trước nhà tâm thần Đỗ Mười. Há há há!

Ảnh màu: Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh chú thích trên facebook như sau: “Cái nầy cũng là đồ cũ cách đây hơn 20 năm, chừ dọn lại nhà mới thấy. Lúc ấy đang chọc giận ông ĐM. Qua vụ phỏng vấn nầy ông tiết lộ với tui, ông từng bị bệnh tâm thần sau nhờ chơi môn thể thao là đi bộ thì mới chữa hết bệnh.”