HÌNH ẢNH MỘT VỊ SƯ GIÀ

HÌNH ẢNH MỘT VỊ SƯ GIÀ

THƯỢNG TỌA THÍCH QUẢNG LONG (THÍCH THANH LONG)

Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng. Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quảng Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh… và Thích Thiện… Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản. Thích Minh … đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện … thì thường được gọi là Ôn TĐ. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Quảng Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.
Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu. Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.

Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:
“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:
“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thế thôi!”.
Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:
“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.

Vũ Ánh Oakland, CA

From: Helen Huong Nguyen

KINH TẾ VÉ SỐ LÀ MŨI NHỌN?

KINH TẾ VÉ SỐ LÀ MŨI NHỌN?

Bạn có tin không khi nộp ngân sách của ngành Vé số lớn hơn hẳn ngành Hàng không và suýt soát ngành Dầu khí.

***

Hơi sốc khi đọc những thông tin dưới đây nhưng đời nhìn vậy nhiều khi đâu phải vậy, hoành tráng cho lắm chứ thua xa những việc không thể ngờ:

Năm 2019, cả ngành hàng không nhìn sang trọng như thế nhưng chỉ nộp ngân sách được khoảng 20.000 tỷ còn tổng thu từ vé số mà chủ yếu do người bán dạo một nắng hai sương góp vào lên tới 29.000 tỷ, gấp gần 1.5 lần!

Còn năm nay, QH phê duyệt thu từ xổ số lên tới 31.700 tỷ so với 34.000 tỷ của dầu thô. Rất trớ trêu, bán vé số gần bằng nguồn thu loại 1 quốc gia-dầu thô!

Quả là rất bất ngờ khi nghề được cho là thấp kém trong xã hội lại đóng góp cho quốc khố kinh khủng như thế, hơn rất nhiều ngành nghề “sang chảnh khác”!

So sánh nào cũng khập khiễng nhưng đã đến lúc phải công nhận bán vé số là 1 nghề hay nền kinh tế vé số đương nhiên là ngành mũi nhọn, hơn hẳn nhiều “đầu tàu” hay “nắm đấm” khác!

Cứ nhìn vào việc hàng loạt tỉnh thành ở ĐBSCL có nguồn thu từ xổ số cao chót vót như Bạc Liêu năm rồi là 4.465 tỷ so với thu ngân sách chỉ gần 3.200 tỷ đủ để thấy kinh tế vé số quan trọng như thế nào ở nhiều tỉnh, thành.

Không chỉ đóng vào ngân sách lượng tiền khổng lồ như thế mà ngành “mũi nhọn” này còn giải quyết hàng trăm ngàn việc làm cho những người mà khó ngành nào làm được vì đại đa số là người già, con trẻ, khuyết tật, nghèo khó, không có trình độ, chẳng nhiều vốn liếng…

TP HCM có 18.000 người bán vé số dạo, Long An hơn 8.000 người, Sóc Trăng khoảng 6.500, Bến Tre hơn 5.000… Một con số không thẻ cứ nhắm mắt làm ngơ để họ ngoài lề mãi được.

Tôi không cho rằng đó là con số đáng tự hào và cần khuyến khích hay phát triển vì thu càng nhiều từ vé số càng thấy những bất ổn trong xã hội cả về kinh tế lẫn tinh thần.

Tuy nhiên không thể chối bỏ ngành kinh tế “mũi nhọn” và lực lượng lao động hùng hậu nhưng luôn yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội này.

Họ cần và phải có những chế độ như ngành nghề khác về BHXH, BHYT hay trợ cấp nào đó chứ không thể mặc kệ như bây giờ. Để đến khi bệnh tật, ốm đau hoặc không còn hành nghề được nữa họ đàng hoàng hưởng tương xứng với những gì đóng góp chứ không phải cứ có chuyện lại trông chờ vào lòng hảo tâm của xã hội.

Họ cũng cần được xã hội ghi nhận và tôn trọng hơn.

Tôi nghĩ dù muộn còn hơn không, Nhà nước nên công nhận nghề mà hàng trăm ngàn người nghèo đang bấu víu vào vì “Cũng may là có nghề bán vé số này trên đời, chứ cậu thử nghĩ nếu không đi bán vé số, cái thân già bệnh tật này làm được gì để kiếm tiền?”

Số liệu lấy từ Tuổi trẻ cuối tuần số 32 ra ngày 23/8/2020.

P/s: Đó là tôi chưa kể niềm vui cùng hy vọng của hàng triệu người chơi lô đề phía Bắc và mua vé số chờ đến 16g30 để biết tương lai ra sao ở phía Nam.

Nhà báo HÀ PHAN

 

Vừa cướp chén cơm, vừa đá văng chén cháo, vừa miệt thị người ta, thì chỉ có thể là Cộng Sản! 

Vừa cướp chén cơm, vừa đá văng chén cháo, vừa miệt thị người ta, thì chỉ có thể là Cộng Sản! 

 Tác giả Đỗ Ngà

NguồnViet BF  

Một người bán hàng rong trên đường phố ở Việt Nam. (Hình: Maxim Marmur/AFP via Getty Images)

Trong một phóng sự sáng ngày 17 Tháng Tám, 2020, VTV (Đài Truyền Hình Việt Nam) đã gọi người bán hàng rong nghèo khó (ở Sài Gòn) là “ký sinh trùng,” một cách dùng từ đầy miệt thị đối với tầng lớp nghèo khổ của đất nước. Sau khi mạng xã hội phản ứng dữ dội thì xướng ngôn viên Anh Quang của đài này đã lên facebook xin lỗi với tư cách cá nhân.

Tuy VTV mang mác là “đài truyền hình quốc gia,” nhưng thực chất nó là đài truyền hình của đảng. Mọi bản tin trước khi lên sóng đều phải qua tay ban kiểm duyệt, vậy mà từ “ký sinh trùng” vẫn lọt qua và được lên sóng. Chỉ cần một ý nào của người soạn bài mà ban kiểm duyệt không đồng ý thì sẽ bị chặn lại ngay. Vậy nên, từ “ký sinh trùng” được lên sóng cho thấy một điều rằng, quan niệm của những người đang làm trong VTV là thống nhất, tất cả bọn họ đều xem người bán hàng rong là một thứ “ký sinh trùng” ăn bám.

Đây không phải là một “tai nạn” như lời xin lỗi mang tính chiếu lệ của tay xướng ngôn viên kia, mà nó là một tư tưởng mang tính hệ thống trong đảng Cộng Sản hiện nay. Tuy đảng Cộng Sản nhân danh giai cấp cùng khổ, nhưng chính nó lại là kẻ gây nên sự khốn cùng cho giai cấp cùng khổ chứ không ai khác.

Cộng Sản vì dân nghèo thì tại sao từ năm này qua năm khác họ cứ xua công an và đám dân phòng ưng khuyển đi đạp đổ cướp phá chén cơm những người bán hàng rong khắp mọi nơi trên đất nước này? Nếu họ vì dân nghèo thì họ đã không làm vậy. Vậy nên, câu miệt thị hôm nay trên VTV không phải là một tai nạn, mà là một câu nói ra tư tưởng vốn có của những người Cộng Sản.

Chính đảng Cộng Sản đã làm nghèo đất nước bằng cách như thế đấy! Và vì làm nghèo đất nước nên mới đẩy nhân dân phải bươn chải mưu sinh như vậy. Vậy thì nói cho cùng, Việt Nam xuất hiện một lượng người bán hàng rong đông đảo như hiện nay do chính Đảng Cộng Sản gây ra chứ không ai khác. Thực ra…

– Nếu không có Cộng Sản, thì đất nước này đã không mất tiền vì bọn quan tham bốc hốt.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước cũng đã không mất tiền cho những tượng đài ngàn tỷ, cổng chào trăm tỷ.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước đâu mất tiền cho vô số dự án thua lỗ hàng tỷ đô la.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước đâu mất tiền cho những trình vô dụng như đường sắt Cát Linh-Hà Đông,…

Trên thế giới, có nước nào tham nhũng cao mà dân được hưởng phúc lợi đâu ? Những nước như Úc, Canada, New Zealand,… đều là những nước có chính quyền trong sạch. Cứ như vậy, mức độ tham nhũng càng tăng thì nước càng nghèo, phúc lợi càng giảm. Như vậy rõ ràng là chính tham nhũng đã cướp mất phúc lợi của dân, đút đầy túi tham và đẩy họ vào thế phải tự bơi kiếm sống. Đã cướp nhà người ta, đẩy người ta đi bán hàng rong rồi miệt thị người ta là “ký sinh trùng,” thì còn gì khốn nạn bằng?!

Biên tập viên Anh Quang của VTV trong bản tin lúc 7 giờ sáng 17 Tháng Tám, đã gọi người bán hàng rong ở Sài Gòn là “ký sinh trùng.” (Hình: Facebook)

Thực ra buôn bán là hình thức mua đi bán lại để kiếm lời. Dù cho đó là công ty thương mại tỷ đô hay một người bán hàng rong có vốn chừng 50 đô, thì họ đều giống nhau về bản chất và chỉ khác nhau ở quy mô mà thôi. Vậy thì cớ sao gọi những người bán hàng rong là “ký sinh trùng”? Vậy EVN cũng mua đi bán lại, Petrolimex cũng mua đi bán lại, tại sao không gọi những ông đó là “ký sinh trùng” mà lại dùng từ này với những người dân nghèo?

Tại Thái Lan, chính quyền nơi đây không bao giờ cho cảnh sát đi cướp phá, đạp đổ chén cơm người bán hàng rong như Cộng Sản đang làm ở Việt Nam. Nhà nước đã không lo cho họ được đã là một lỗi lớn, cớ sao đạp đổ chén cơm của họ?! Vừa cướp mất chén cơm người nghèo, vừa tàn ác, đạp đổ tô cháo loãng trên tay của họ, vừa miệt thị họ là “ký sinh trùng” ăn bám thì có thể nói, chỉ có Cộng Sản mới làm được. Phải vừa tham lam tột cùng, vừa vô trách nhiệm đến tột cùng, vừa khốn nạn đến tột cùng mới có thể làm được như vậy.

Đất nước Cộng Sản cai trị, những kẻ ăn cướp thì được vinh danh là anh hùng, những người làm ăn chân chính thì bị xem là “ký sinh trùng” ăn bám. Thời mạt pháp! Khốn khổ cho đất nước, khốn khổ cho dân tộc.

VĂN TẾ THẬP LOẠI QUAN THAM

VĂN TẾ THẬP LOẠI QUAN THAM

(Kẻ hậu sinh cung kính lạy cụ Đồ Chiểu)

Hỡi ơi! Thuế nặng phí dày, lòng dân bải hoải.

Trăm năm công đánh giặc, chưa chắc mà nay ở ngôi cao,

Mấy đời móc túi dân, thân tuy béo tiếng tham như chó

Nhớ quân bay xưa:

Con cái nhà ai,

Ăn no dửng mỡ.

Quen thân nhung lụa, đâu biết lòng dân,

Chỉ biết chọi nhau, tranh giành quyền lực.

Việc hát, việc hò, việc lừa, việc cướp… thân vốn quen rồi,

Học ăn, học nói, học đức, học nghề… mắt đâu thèm ngó.

Nghiệp ăn hại kết tinh từ kiếp trước, cha quan to thì con tất quan to,

Mùi tham lam đã ngấm tận cao lâu, thích hối lộ như mèo hoang thích chuột.

Đứng thấy đường xe đông như nước, muốn lập trạm thu;

Ngồi xem ngân sách cạn như chùi, muốn nâng giá điện.

Một mối lợi danh ngồn ngộn, há sợ ai cướp mất của ai,

Hai tầng quyền lực ngút trời, đâu dung lũ dân đen khốn khó.

Nào sợ ai đòi, ai bắt? phen này xin thỏa sức tung hoành,

Chẳng thèm biết ngượng, biết ghê, chuyến này quyết ra tay vơ vét.

Khá ngon thay:

Vốn chẳng phải quan to, quan nhỏ, khối thằng theo đóm được ăn tàn,

Chẳng qua là con bạc, con buôn, quan hệ tốt thiếu gì dự án.

Mười tám môn hối lộ, nào biệt phủ, nào nhà…

Chín chục triệu dân đen, cứ tha hồ móc túi.

Ngoài cật đã có tờ quyết định, nào đợi dân kịp trở tay,

Trong xe chồng một đống hồ sơ, đâu cần đến lương tri, công lý.

Cửa quan đã đẻ ra cơ chế, liền sinh ra nhóm nọ nhóm kia,

Nhân danh người nhà tướng, nhà quan, chả cần vốn cũng tay không bắt giặc.

Chi nhọc thương thảo với giá này, giá nọ, lấn vườn, cướp ruộng, coi giặc cũng như dân,

Nào sợ thằng Vươn bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, dễ dàng như tập trận.

Kẻ dùi cui, người roi điện, làm cho dân lành, con nít hồn kinh,

Bọn hè trước, lũ ngõ sau, thương thay lão già gãy cẳng.

Tấm gương đạo đức đâu rồi?

Ai biết tính người vội bỏ.

Một kiếp quan trường rằng chữ lợi, ai hay quả báo nhãn tiền,

Trăm năm địa ngục ấy chữ nguy, nào đợi nhân nào quả nấy.

Núi sông mờ mịt, mà cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Thiên hạ thái bình, để già trẻ hai hàng lệ nhỏ.

Bên ngoài giặc cướp, Hán gian đầy rẫy, mặc biển khơi đã chết còn dày đặc âm binh,

Bên trong quan tham, giữ ghế hành dân, mà hiệu lực nhất nhất theo kim tiền chỉ đạo.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất ngọn rau ơn xương máu, tài bồi cho cả nước nhà ta,

Bát cơm manh áo sống ở đời, tối mắt mấy đời cha con nó.

Vì ai khiến dân đen khốn khổ, thuế phí chồng nhau,

Vì ai xui vườn ruộng tan tành, động mồ động mả?

Sống làm quan tham lam vô đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn,

Chết làm ma ở chốn cửu tuyền, ngửi phân lợn, uống nước đồng, nghe càng thêm hổ.

Thà chưa thác mà đặng lòng sám hối, ăn năn may tổ phụ còn vinh;

Hơn sống dai mà chịu chữ cẩu quan, ở với nhân dân cũng ngượng.

Thôi đi thôi!

Đường quan lộ, năm năm ư một khóa, có tham lam cũng lưu lại chút tình,

Nẻo công danh, một kiếp đặng một lần, cẩn thận kẻo sa phải vòng lao lý.

Đau đớn bấy! người tình ngồi tiếc của, buổi vàng son sung sướng đâu rồi,

Não nùng thay! vợ mướp chạy nuôi chồng, con xế cũ đậu ngoài song sắt.

Ôi!

Một khóa quan tham;

Nghìn năm nhục nhã.

Giặc cướp vẫn giăng đầy đâu đó, ai làm cho bốn phía mây đen,

Ông cha ta còn gửi cốt nơi đây, ai cứu đặng mấy phường con đỏ.

Sống mà cả nước non đều hận, oan gia đầy, muôn vạn kiếp còn theo,

Thác đừng trông đền miếu để thờ, tiếng gian trải muôn đời ai cũng chửi.

Sống tạo nghiệp, thác thì trả nghiệp, âm hồn theo ám cháu con, muôn kiếp không ngóc đầu lên được,

Sống thờ giặc, thác phải thờ ma, lời Phật dạy đã rành rành, một chữ “đọa” đủ mà cảnh tỉnh.

Hỡi ơi!

Nước mắt dân lành lau chẳng ráo, thương vì hai chữ dân oan,

Cây hương liệt sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu bội nghĩa.

Hạ xuống mà hưởng!

(FB Phạm Lưu Vũ )

———

*Ảnh trên mạng, copy chống trôi bài

 

BÀ NGHĨA CẦN PHẢI XÉT NGHIỆM ADN!

BÀ NGHĨA CẦN PHẢI XÉT NGHIỆM ADN!

Bà ts Vũ Thị Nghĩa – trường chính trị tỉnh Đồng Nai nói rằng: “VN không cần và không chấp nhận đa đảng”. Bà nhấn mạnh: “đây là sự lựa chọn của dân tộc, của nhân dân”?!

Xin thưa! Bà hồ đồ bỏ mẹ! Căn cứ vào đâu mà bà nói dân tộc VN lựa chọn độc đảng? Trên thế giới này có dân tộc nào lại thích sự độc quyền, độc tài cơ chứ? Bà sinh năm 1977 cho dù trong thời bao cấp (độc quyền) chưa biết gì thì cha mẹ bà cũng đã biết thời đó nhân dân sống như thế nào rồi chứ!

Để tui nói cho bà nghe về sự độc quyền kinh tế ở MNVN từ năm 1975 đến năm 1986 như thế nào, và thời mở cửa tự do sản xuất kinh doanh sau đó như thế nào, để xem bà chọn môi trường độc quyền hay tự do cạnh tranh nha.

Trong thời bao cấp, nhà nước độc quyền sản xuất, quản lý và phân bổ tất cả các loại hàng hóa. Người dân muốn mua hàng gì thì chỉ được loại hàng đó thôi chứ không có quyền chọn lựa sản phẩm mình thích. Ví dụ, bà muốn mua 1 mét vải quần, bà đến cửa hàng tổng hợp, mậu dịch sẽ đưa cho bà đúng 1m vải. Bà không được chọn loại vải, màu sắc, chất liệu. Hoặc bà muốn mua 1 kg thịt heo, đến cửa hàng người bán sẽ đưa cho bà cân thịt. Bà không được chọn thịt đùi, thịt vai hay thịt 3 chỉ…miễn là người ta đã đưa cho bà đủ 1 kg thịt…..

Đó là thời nhà nước độc quyền về kinh tế, còn sau năm 1986 đến nay nhà nước xóa bỏ độc quyền, cho mở cửa hội nhập, tư nhân được quyền tự do sản xuất, kinh doanh, buôn bán. Từ đây, các doanh nghiệp thi nhau cạnh tranh hàng hóa dồi dào. Doanh nghiệp nào cũng thi nhau khuyến mãi, hạ giá sản phẩm, nâng cao chất lượng để cho các bà tha hồ chọn lựa.

Như vậy, bà đã hiểu thế nào là cạnh tranh, thế nào là độc quyền chưa? Vậy thì, là con người, bà chọn môi trường nào? Cạnh tranh hay độc quyền? Bà nói đi! Nói, để tôi còn biết bà ăn thứ gì mà tồn tại được trên trái đất này như thế!

Môi trường kinh tế là thế. Môi trường chính trị cũng vậy! Đa đảng tất có cạnh tranh. Đảng nào muốn được lòng dân thì đảng đó trước hết phải trong sạch, phải có những chính sách đem lại cơm no áo ấm cho nhân dân, đem lại sự phồn thịnh cho đất nước. Tóm lại, người dân sống trong đất nước đa nguyên, đa đảng như người lữ khách bước vào nhà hàng, nơi đó, sẽ có những món hợp khẩu vị với họ, và họ sẽ lựa chọn món mình ưa thích. Ngược lại, người dân sống trong chế độ độc tài, độc đảng như người hành khách lỡ độ đường bước vào quán cầy tơ. Nơi đây, chỉ có mỗi món chó thôi, hợp khẩu vị hay không thì cũng phải nuốt!

Kết: Bà lựa chọn gì là quyền của bà, nhưng không được áp đặt cho dân tộc này, dân tộc này đâu có ngu như vậy. Và bà cũng nên đi xét nghiệm ADN đi ạ. Biết đâu trong thời bao cấp đói khổ, có thể, mẹ bà đã bị quyến rủ bởi thằng cha ba tàu bán hủ tiếu dạo…

Từ Việt Nam, từ vùng dịch, nghĩ về Donald John Trump…

Từ Việt Nam, từ vùng dịch, nghĩ về Donald John Trump…

Nguyễn Quang Chơn 

Trời âm u, mưa rả rích, Đà nẵng như chìm trong nỗi buồn của sự tái nhiễm cúm tàu. Dân ĐN kiên cường, nhưng dường như dân ĐN hơi chủ quan, để lọt những kẻ tình báo hoa nam mang bom vũ hán nhập vào. Để dịch nhiễm ra cộng đồng, để đất nước hoang mang…

 Từ sự kiện này, lại nghĩ đến vị tổng thống thứ 45 Hoa Kỳ. Vị tổng thống tỷ phú đầu tiên của nước Mỹ. Vị tổng thống dùng twitt như một phương tiện truyền thông. Vị tổng thống nói thẳng thừng: “Trung cọng là bịp bợm”, Tập là… “không đàng hoàng”. Vị tổng thống không e ngại phê phán các vị tiền nhiệm đã lơ là, chủ quan, để tàu cọng bước vào nước Mỹ, thâm ngập vào mọi ngóc ngách đời sống…, để ăn cắp, để trục lợi, để âm mưu xây trung cọng thành một đế chế toàn cầu Hitler, và đã, hình thành được giai đoạn cơ bản đầu tiên! 

Việc thẳng thừng. Việc không úp mở. Việc “Thiếu chính trị” của vị tổng thống này đã khiến thế giới xôn xao. Giới truyền thông không ủng hộ. Người đồng đảng phẫn chí. Kẻ đối đảng chê bai. Người gốc Mỹ hoan hô. Dân định cư chửi rủa. Dân da đen xuống đường… 

Bởi vì ông, lãnh tụ thế giới đều ngẫm nghĩ nhìn lại mình, nhìn lại tàu cọng, Tập Cận Bình hoang mang, nao núng!

 Phàm ở đời. Có ai thẳng thắn mà được lòng người! Con người ta vốn thích được bưng bê, thích kẻ ba phải, thích lời tụng xưng… 

Donald Trump, ví tổng thống đương nhiệm Hoa kỳ đã quá thẳng thắn để mích lòng nhiều người, ông có biết không? Biết chứ. Một người con gốc New York, theo gia đình kinh doanh từ nhỏ, tài sản hàng tỷ đô la, viết bao cuốn sách về nghệ thuật đàm phán, kinh doanh, thành công trên mọi lãnh vực đầu tư. Há không biết chuyện cỏn con: Vạch trần sai trái kẻ khác sẽ bị họ chửi mắng. Chỉ ra âm mưu kẻ khác, sẽ bị họ thù hằn… Nhưng lợi ích nước Mỹ là trên hết. Trên cả danh dự cá nhân, lợi ích gia đình…

 Trump có cần gì tiền. Trump có cần gì danh. Trump có cần gì được chiều chuộng yêu mến. Ông có quá nhiều rồi, quá đủ rồi. Trump đâu có cần làm tống thống, ông chỉ cần du lịch đến một nước nào, lãnh tụ nước đó sẽ tiếp ông, đó là điều chắc chắn, bởi ông giàu có, ông uy tín!… Thế nhưng cái ông cần trên hết là nước Mỹ thân yêu của ông phải thức tỉnh lại sau những năm tháng bị các vị tiền nhiệm ru ngủ quên, để cọng sản trung quốc, mà hiện tại là tên độc tài đầy mưu mẹo Tập Cận Bình đang thao túng, đang lộng hành, vì vậy ông cần phải làm tổng thống nước Mỹ, lèo lái, dựng nước Mỹ great again, hỗ trợ thế giới đập tan tàu cộng!… 

Từ bên này bờ đại dương. Ở giữa lòng thành phố miền trung đang bị tái dịch cúm tàu. Tôi đang uất giận những tên tàu giặc, những kẻ Việt đồ Hán gian, thì tôi lại nghĩ đến ông. Biển Đông chúng tôi có được bình yên để ngư dân dong thuyền ra biển? Biên giới chúng tôi có bình yên để người người trồng trọt cuốc cày? Đất nước chúng tôi có bình yên để thở làn không khí tự do, dân chủ?  

Có lẽ sẽ nhờ những hành động quyết liệt của ông, thẳng tay trừng trị cọng tàu. Cọng mà tan thì tàu sẽ yên. Tàu mà yên thì Việt sẽ sống. Việt sẽ sống thì con cháu chúng tôi mới được hạnh phúc làm người… 

Và, tự nhiên tôi đặt niềm tin vào ông, thưa ông Trump kính mến. Tôi sợ ông bịnh. Tôi sợ ông thất cử. Tôi sợ cái phe nào đó bước lên sẽ vuốt ve bợ đỡ tàu… Nên tôi cầu mong ông khoẻ mạnh, ông chiến thắng. Tôi viết những lời này từ trái tim để nếu những người dân Mỹ đọc được, sẽ suy nghĩ kỹ càng thêm, khi cầm lá phiếu trên tay chuẩn bị bỏ vào thùng phiếu… 

Đất nước tôi kiên cường. Dân tộc tôi anh hùng. Hơn bốn ngàn năm nay chúng tôi đâu sợ giặc tàu. Nhưng hôm nay tôi cảm thấy rất cần một đồng minh vững mạnh. Tôi nhìn quanh. Không một ai khác, ngoài một lũ đu dây, chờ đợi gió chiều nào để vặn mình đổ theo chiều đó. Chỉ có ông. Lừng lững. Tự tin…

 Một người Mỹ cho tôi nhiều hy vọng!… 

Chúa sẽ phù hộ ông, Donald kính mến! 

Nguyễn Quang Chơn

31.7.20

 From:Cam Tuyet & KimBang Nguyen

CÓ DỄ LẮM KHÔNG CON ĐƯỜNG LÊN TRỜI?

CÓ DỄ LẮM KHÔNG CON ĐƯỜNG LÊN TRỜI?

Tuyết Mai

— Chẳng ai trên đời mê tìm kiếm của cải, sống gian xảo, hãm hại người lại nghĩ rằng mình lành thánh đến độ đứng ưỡn ngực cách kiêu ngạo như ông pharisêu đứng trong nhà thờ kể công với Chúa là ông luôn tròn trách nhiệm và bổn phận đối với Thiên Chúa chớ không như người thu thuế tội lỗi đứng ở cuối nhà thờ kia; người mà ông muốn ám chỉ ấy là phường thu thuế tội lỗi luôn đắc tội với Chúa và với hết thảy mọi người.

— Nhưng quả thật, ngay chính họ, cả hai đâu có biết ai có cơ hội lên Trời cách chắc chắn đâu nếu cả hai cùng chết trong một ngày!? Cuộc đời trần thế và tình yêu Thiên Chúa thật khác nhau một trời một vực. Vì Đường Hướng và Nước Trời của Thiên Chúa đi ngược hẳn với cuộc sống nơi trần gian này. Dễ hiểu nhất là Đường Lên Trời thì chúng ta phải được nhẹ nhõm thanh thản, giống như trẻ sơ sinh khi mới được sinh ra đời.

— Có nghĩa ai muốn được lên Trời thì cần phải học buông bỏ mọi thứ ở trước cánh cổng thành Nhà Chúa (thời La Mã xưa). Mà đường vào Đền Thánh Chúa còn rất xa không thể đi bộ được, cần phải có lạc đà cỡi người ta đến đó. Nên người ấy phải có quyết định là bỏ lại mọi thứ trên lưng con con lạc đà thì nó mới có thể lọt qua được cái cổng nhỏ xíu. Điển hình nhất là các tông đồ đã quyết tâm từ bỏ mọi sự mà theo Chúa như điều kiện đòi hỏi khó khăn của các dòng tu.

— Đó là 3 lời khấn: Vâng Lời, Khiết Tịnh và sống khó nghèo. Thiết nghĩ giáo dân ai có thể theo được thì quý lắm thay! Vâng cũng giống với hình thức mà Chúa Giêsu ao ước muốn cho các môn đệ của Chúa sống trọn một cuộc đời phục vụ và yêu thương. Là các con hãy Ra Đi (từng cặp một) chớ có mặc 2 áo, chớ có mang theo bao bị, chớ mang theo bạc tiền và đến nhà nào thì chỉ ở nhà nấy, họ cho ăn gì thì biết ăn nấy vì ai làm việc Nhà Chúa thì sẽ được thưởng công.

— Cứ dựa trên đường lối mà Chúa Giêsu tuyển chọn các tông đồ của Ngài thì trong mọi thời đại không khó để không nhìn ra những ai bám bên mình những của cải trần gian; chúng ta thấy rõ là họ nặng nề lắm lắm. Nào xe, nào lap top, phôn loại hiện đại nhất, có người hầu kẻ hạ; đi theo cầm dù để che nắng che mưa và có lỉnh kỉnh bao nhiêu thứ khác mang theo bên mình rất không cần thiết.

— Thời gian cuối của một đời người thiết tưởng sẽ có 2 nhóm người rất rõ rệt là vì họ tham của cải mà chịu ở lại để chết với cái của cải của họ. Và một nhóm người biết quý mạng sống của mình thì quyết định bỏ lại tất cả để được thảnh thơi đến một vùng đất mới có sữa và mật ong. Cũng giống như thời di cư vào năm 54 và năm 75 vậy. Những người này họ đã sáng suốt quyết định Bỏ Lại tất cả để có cuộc đời thăng hoa mà giờ đây cả 3 thế hệ đều sống thật hạnh phúc trong ấm no.

— Nhưng để tóm gọn thì Thiên Chúa cho chúng ta sự hiểu biết cách đơn giản không có khó để hiểu lắm đâu, vì khó hiểu sao được khi Chúa toàn dùng những dụ ngôn về ruộng nương và về cuộc sống dân dã để dạy dỗ con cái Chúa …. là Đường lên Trời đòi hỏi con người luôn sống cậy dựa vào một Thiên Chúa Đấng duy nhất chúng ta phải tôn thờ, còn mọi thứ khác Người sẽ ban cho và định liệu cho tất cả. Cách thích hợp và hay nhất cho từng người, từng khả năng mà Chúa thấu biết.

— Chúa muốn vô cùng cho xác thân chúng ta luôn được nhẹ nhõm và sống thoải mái. Chúa chưa bao giờ để con cái người phải bị đói bao giờ vì sao đói được nếu chúng ta ra công sức mà làm việc như người được mời vào làm Vườn Nho cho Chúa hay như nghề sống hèn mọn của thánh cả Giuse và Chúa Giêsu sống về nghề thợ mộc.

— Có làm thì mới có lương. Có làm thì mới là người hữu dụng cho chính bản thân mình. Có làm thì gia đình mới có được ấm no hạnh phúc và được Chúa ban cho hằng ngày dùng đủ. Có làm thì mới có dư để mà giúp đỡ cho những người không có vì họ không có khả năng như người bình thường. Và có làm thì mới hiểu sự bất công của những người bị chủ đì và bị đầy đọa, đánh đập cách dã man, v.v…

— Lạy Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại, xin giúp hết thảy chúng con nhận ra đâu là giá trị của bản thân và của linh hồn sống đời của chúng con. Ích chi khi chúng con cứ mãi tích lũy và sống như người gian ác. Ích chi để chúng con sở hữu những gì mà chúng con không cần đến. Ích chi để lòng dạ chúng con chỉ tham muốn tích góp của người vào cho đầy lẫm của mình… NHẤT LÀ ở thời buổi của dịch bệnh Covid-19 này… Mà mất linh hồn và cuộc sống đời đời trên Thiên Đàng. Amen.

Y tá con của Chúa,
Tuyết Mai
22 tháng 8, 2020

LỜI KHẲNG ĐỊNH CHO MỘT LÒNG TRUNG THÀNH

LỜI KHẲNG ĐỊNH CHO MỘT LÒNG TRUNG THÀNH

– Đỗ ngà

Phương châm 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” được Wikiapedia giải thích là “do lãnh đạo Trung Quốc đưa ra xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước Việt – Trung trong thế kỷ mới”. Nói tóm lại, phương châm này do Giang Trạch Dân đưa ra, và năm 1999 trong một chuyến thăm (thực chất là đi chầu) của Lê Khả Phiêu sang Bắc Kinh, ông ta đã mang chỉ đạo này về triển khai trong ĐCS trong suốt thế kỷ 21.

Sau này Nông Đức Mạnh mang về thêm “4 Tốt” về cũng để triển khai trong đảng. Kể từ khi xuất hiện ở Việt Nam, “16 Chữ vàng” và “4 Tốt” thường xuyên được đài truyền hình Việt Nam và báo Nhân Dân lặp đi lặp lại. Mà như ta biết, những bản tin chính trị của 2 tờ báo này chính là mệnh lệnh cho hơn 800 tờ báo khác thi hành. Và đó là lý do tại sao, mọi tờ báo đều cứ lải nhải “16 Chữ vàng” và “4 Tốt” trong mọi bản tin có liên quan đến Trung Cộng. Đây rõ ràng là một chính sách nhồi sọ dân Việt. ĐCS Tàu muốn dân Việt biết ơn ĐCS Tàu thay vì yêu nước chống Tàu như ngàn năm nay ông cha ta đã làm.

“Tá Đao Sát Nhân” là kế thứ 3 trong danh sách 36 kế của Tôn Tử Binh Pháp, nghĩa tiếng Việt là “Mượn dao giết người”. Thông qua chỉ thị “16 chữ vàng” và “4 tốt”, Bắc Kinh đã mượn một con dao rất bén của ĐCS Việt Nam là bộ máy tuyên truyền. Nếu ví ĐCS Việt Nam là bàn tay của Trung Cộng, thì rõ ràng bộ máy tuyên truyền khổng lồ dưới dự điều hành của Ban Tuyên Giáo Trung Ương là con dao bén, đồng thời việc triển khai kế hoạch nhồi sọ dân Việt chính là nhát dao muốn đâm thẳng vào tim dân tộc Việt. Mục đích không gì khác là để con tim yêu nước của dân tộc này ngừng dập. Nhưng may thay, đã có những con người mà ĐCS Việt Nam cho là “phản động” đã chặn nó lại. Họ đã không quản ngại hiểm nguy đánh thức ý thức người dân để hun đúc lòng yêu nước của họ lên nên đã giúp cho dân tộc này tránh đòn dao oan nghiệt của kẻ thù Phương Bắc và bàn tay CS Ba Đình.

Thực ra ĐCS Tàu quá tham lam khi mà vừa giao nhiệm vụ tẩy não dân tộc Việt cho ĐCS Việt Nam mà vừa muốn gây sự ở biển Đông. Đó là nhiệm vụ bất khả thi đối với ĐCS Việt Nam. Nếu không có những trò gây sự trên Biển Đông, thì chưa chắc gì dân Việt có thể giữ được con tim yêu nước như cha ông ta từng có. Với 800 tờ báo các loại và một hệ thống đài phát thanh với loa phường loa xóm giăng ra dày đặc trên khắp mọi nơi hang cùng ngõ hẻm trên toàn lãnh thổ Việt Nam, thì ĐCS Việt Nam có thể dễ dàng nhồi tư tưởng thuần phục Tàu vào sọ toàn dân rồi. Tham quá thì hóa thâm là rất đúng với Tàu Cộng trong trường hợp này. Việc gây sự đã phá hỏng kế hoạch nhồi sọ mà ĐCS Tàu đã giao phó cho ĐCS Việt Nam.

Sau khi người dân xuống đường phản đối Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng vào ngày 10/06/2018 và sau đó là xuống đường diễn ra ở Bình Thuận ngày 17/06/2018 thì chúng ta thấy chỉ thị “16 chữ vàng” và “4 tốt” đã không còn được phổ cập rộng rãi nữa. Thực tế là vậy, còn nguyên nhân của nó thì chúng ta không khó để đoán ra. Thực tế là giặc Tàu luôn giở trò ngoài Biển Đông mà trên bờ ĐCS vẫn lải nhải “16 chữ vàng” và “4 tốt” thì chỉ kích thêm cho lòng yêu nước bùng lên mãnh liệt hơn mà thôi. Không thể để lòng yêu nước bùng phát nên ĐCS đã tạm gác chuyện nhồi sọ, điều này chắc là Bắc Kinh hiểu cho đàn em Hà Nội.

Với động thái co vòi tạm gác chuyện lảm nhảm “16 chữ vàng” và “4 tốt”, đồng thời những năm gần đây Mỹ “ve vãn” Việt Nam khá thường xuyên, thì nhiều người cũng bắt đầu tin rằng “đảng đã dần rời xa Bắc Kinh và xích lại gần Mỹ”. Thế nhưng thực chất có phải vậy không? Thì đó là câu hỏi câu hỏi mà chúng ta cần phải đi tìm lời giải đáp. Muốn có câu trả lời xác đáng thì chúng ta cần phải xâu chuỗi lại những hành động xuyên suốt của ĐCS. Quan sát-phân tích-đúc kết là 3 bước của một quá trình tìm kiếm sự thật. Việc giải mã bản chất thật ẩn đằng sau các hiện tượng chúng ta dùng phương pháp này.

Được biết, ngày 17/08/2020 Mỹ có tổ chức cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) 2020 tại Honolulu – Hawaii, trong đó họ đã mời Việt Nam tham gia mà không mời Trung Cộng. Được biết ý nghĩa của cuộc tập trận này là duy trì các mối quan hệ hợp tác để đảm bảo an toàn cho các tuyến đường biển và an ninh trên các đại dương trên thế giới. Nguyên nhân Tàu Cộng bị loại thì rõ ràng không có gì khó hiểu, vì hiện nay nước này là nguyên nhân chính làm mất an ninh ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Cuộc tập trận này được tờ Hoàn cầu Thời báo cáo buộc rằng “Mỹ muốn thể hiện và phô trương sức mạnh quân sự, và quan trọng hơn là để thử thách lòng trung thành của các đồng minh và đối tác”. Mà như ta biết, tờ Hoàn Cầu Thời báo là nơi phát ra tiếng nói của ĐCS Tàu. Ai tham gia tập trận với Mỹ thì Tàu quy kết “trung thành với Mỹ” thì rõ ràng đây là thuốc thử nặng đô cho lòng trung thành của Hà Nội. Nếu tham gia là phản thầy, còn không tham gia được xem là không dám phản, nhưng có trung thành hay không thì còn xem xét hành động khác nữa. Và Việt Nam đã không tham gia.

Để biết CS Việt Nam có trung thành Tàu Cộng hay không thì hãy nhìn sang Hội thao Quân sự Army Games 2020 thì biết. Hội thao này sẽ diễn ra tại Nga từ ngày 23/08/2020 có Tàu tham dự. Và kết quả là Việt Nam cũng vẫy đuôi chạy theo. Như vậy qua đây chúng ta thấy, rõ ràng ĐCS Việt Nam đã chọn cách quấn quýt chủ Tàu và chấp nhận ăn những thứ bã thải của chủ thay vì sang sân nhà của Mỹ tham gia vào những phần ăn bổ dưỡng hơn nhiều. Đây là một bằng chứng rõ ràng bác bỏ những ngộ nhận ngây thơ rằng “ĐCS Việt Nam đã dần tách rời Tàu và sang quỹ đạo Mỹ”. ĐCS mà, họ được sinh ra để làm vậy chứ làm gì có cách chọn khác?! Một quyết định minh triết với ĐCS là thứ xa xỉ. Đừng hy vọng để rồi thất vọng.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/vietnam-opt-out-of-rimpac-exercise-08202020121555.html?

https://www.joint-forces.com/world-news/30391-army-international-games-2020-planning-continues

https://www.voatiengviet.com/a/vietnam-trung-quoc-tham-gia-hoi-thao-quan-su-army-games-2020-tai-nga/5552632.html

https://en.wikipedia.org/wiki/Exercise_RIMPAC

SỐ TỬ VONG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN “TA” LÀ BAO NHIÊU ?

 

Hung Pham

 SỐ TỬ VONG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN “TA” LÀ BAO NHIÊU ?

Từ trước đến nay, đảng ta giữ bí mật con số thanh niên nam nữ mà đảng đã đưa vào miền Nam cho B52 rải thảm. Chỉ úp mở về con số mất tích là ba trăm nghìn, để cân bằng với con số binh sĩ miền Nam tử trận đã được thống kê chính xác trên giấy tờ.

Binh sĩ miền Nam chết trên ba trăm nghìn, cộng với số đồng bào miền Nam được bộ đội miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng “giải phóng” trên trăm nghìn. Ám sát, giật mìn xe đò, pháo kích… Riêng vụ Mậu Thân ở Huế, đảng ta, theo lời chúc Tết của bác Hồ “Tiến lên chiến sĩ đồng bào. Chôn sống dân Huế, Xuân nào vui hơn…”, đã “giải phóng” gần chục nghìn rồi. Đây là thành tích của bộ đội nhân dân anh hùng dâng lên Bác và Đảng nhân dịp Xuân Mậu Thân.

“Chí căm thù. Đợi lệnh truyền ra ta giết hết. Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi….”. (bài hát của quân đội nhân dân, trong đó có Dép Râu tôi).

Giết đồng bào miền Nam vô tội là chiến công hiển hách của quân đội nhân dân anh hùng. Thế nhưng, đánh nhau với Trung Cộng thì chỉ thắng bằng mồm. Sau bài học đó, đến những trận đánh ở núi Lão Sơn (1984-1989) Trung Cộng dần cho phù mỏ, chiếm luôn lãnh thổ Việt Nam mà đảng và nhà nước ta câm mồm.

Bác Hồ kính yêu đã từng dạy “Thà mất nước chứ không để mất đảng. Phải giữ gìn sự đoàn kết của đảng như giữ gìn con ngươi của mắt!”. Nhớ năm 1979, Trung Cộng cho đảng ta một bài học, đem quân tràn vào sáu tỉnh phía Bắc Việt Nam, chúng chơi một cú thật đau cho Bác Hồ (li tinh) kính yêu: Bọn lính Trung Cộng vào ỉa trong hang Pắc Pó rồi đặt mìn giật sập luôn. “Hồn bác Hồ” đang ngủ trong hang thất kinh phóng chạy thục mạng. Vừa là đồng chí vừa là anh em, môi hở răng rụng. Bây giờ, cái hang chồn cáo đó đã thuộc về đảng và nhà nước Trung Cộng quản lý “tạm thời trong vĩnh viễn”?

Bất cứ quốc gia nào, quân đội chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là bảo vệ lãnh thổ, riêng quân đội nhân dân Việt Cộng anh hùng giết dân mình để bảo vệ đảng. Lãnh thổ, đảo, biển, là tài sản riêng của đảng Cộng Sản Việt Nam vinh quang, đảng muốn dâng cho nước nào, bán cho bọn tư bản nào, quân đội nhân dân không được biết đến. Mấy tên tướng tá Việt Cộng, đảng cho vài cái biệt thự, khoanh cho vài mảnh đất để bán cho tư bản là im re. Các đồng chí thủ trưởng trong quân đội phát biểu “Các đồng chí muốn cắt đất dâng biển cho ai, cứ tùy tiện, khỏi cần hỏi chúng tôi mất thì giờ”.

Trong chuyến về Việt Nam vừa rồi, tôi ghé Huế, vô thành nội, thấy có con đường tên Xuân Mậu Thân. Để tên con đường đó là chứng tỏ vụ tàn sát đồng bào Huế của đảng ta là chính nghĩa sáng ngời, cần được vinh danh, đồng thời nhắc nhở cho dân Huế rõ: “Coi chừng, sẽ có những vụ đập đầu, chôn sống nữa giống như Mậu Thân chứ chưa hết đâu”. Chỉ thấy cái bảng tên đường đó, dân Huế xanh mặt, không dám nhìn rồi tự hỏi: “Không biết đến khi nào thì được đảng và quân đội nhân dân anh hùng đập đầu chôn sống mình đây?”.

Vụ sập tiệm năm 1975, nếu Dương Văn Minh không đầu hàng thì quân đội Nhân Dân anh hùng đã san bằng Sài Gòn thành bình địa, theo tính toán của đảng ta, dân Sài Gòn cũng sẽ được giải phóng thêm vài trăm nghìn nữa.

Sau khi chiếm được Sài Gòn, đã tạm ổn định, đảng ta cho ngụy quân, ngụy quyền vô tù cải tạo, đồng thời phát động học tập cho dân ngụy hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của đảng ta. Lúc đó tôi được chỉ định về chợ Cầu Muối, họp tổ dân phố, cho bà con học tập “Mười Bài”, trong đó có bài: “Đế Quốc Mỹ và tay sai đã thất bại hoàn toàn, vĩnh viễn và triệt để”. Đại ý, tôi nói, nhờ cách mạng về giải phóng mà đồng bào thoát khỏi tay đế quốc Mỹ bóc lột, giết hại đồng bào… Sau đó đồng bào được lên phát biểu. Một bà già đứng lên nói:

– “Công ơn của Cách Mạng, thiệt, không biết kể sao cho hết. Nhờ Cách Mạng vô giải phóng kịp, chớ trễ ít ngày, Việt Cộng pháo kích vô đây thì chết liệt địa. Năm Mậu Thân, Việt Cộng vô bắn giết, đốt nhà. Ôi thôi…”.

Tôi vội ra bảo bà ta ngồi xuống, đừng nói nữa! Một đồng chí của tôi, công tác ở Quảng Nam kể lại. Khi Cách Mạng vừa giải phóng tỉnh Quảng Nam, đã phát động “Tam cùng”, kiểu “thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ xâu chuỗi, cụng đầu tố khổ…” giống như thời Cải Cách Ruộng Đất ngoài Bắc năm 1954, mục đích tìm bắt, giết để trả thù, những kẻ (không phải ngụy quân, ngụy quyền) nhưng có tội ác với cách mạng. Một lần đồng chí đó vào nhà một nông dân, chuyện trò rồi hỏi một em bé gái tuổi độ chín, mười tuổi:

– “Con có sợ Việt Cộng không?”.

Con bé trả lời:

– “Dọa có!” (dạ có).

– “Tại sao con sợ Việt Cộng?”.

– “Hén oác lắm!” (hắn ác lắm).

– “Ác như thế nào mà con sợ?”.

– “Túi hén dô nhòa bét người toa đem đi két họng. Nhiều lắm!”. (Tối hắn vô nhà bắt người ta đem đi cắt họng. Nhiều lắm!).

Sau ngày “giải phóng” bảy lăm, ở thôn quê, các đồng chí du kích về làng, lôi người ta ra bắn giết để trả thù là chuyện bình thường. Mỗi làng năm bảy mạng, coi như số lẻ. Có làng, chính quyền cách mạng, (sau khi chiếm được miền Nam) tính tổng cộng có bao nhiêu đồng chí du kích bị giết trước bảy lăm thì, sau bảy lăm, đem bọn ngụy (cán bộ xã ấp) ra bắn một số lượng tương tự. Một đổi một! Còn lại bao nhiêu, cho vô tù cải tạo.

Trở lại chuyện số tử vong của bộ đội nhân dân anh hùng đã chết trong miền Nam là bao nhiêu? Ai cũng thắc mắc, nhưng không ai biết. Chỉ các đồng chí trong Bộ Chính Trị là nắm rõ, nhưng giữ rất bí mật. Đế quốc Mỹ cũng biết, nhưng không nói ra, sợ bị chửi là giết người nhiều quá.

Thời may, trong cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng, đài BBC, ngày 23 tháng 12 năm 2008, đồng chí Bảy Vân, vợ anh Ba Duẫn (tổng bí thư Lê Duẫn), vô tình tiết lộ (dĩ nhiên không có số lẻ) con số thiệt hại về nhân mạng của miền Bắc. Con số đó, tôi không tiết lộ ngay, để bạn phải kiên nhẫn đọc cho hết bài nầy. Vì nếu bạn biết rồi thì còn đọc tiếp làm gì nữa. Nếu bạn không tin tôi thì bạn cứ lên email hoặc gọi điện thoại, hỏi ông Xuân Hồng đài BBC, để ông ta xác nhận. Bài phỏng vấn đó, tôi nghe xong, hôm sau mở website ra, không còn nữa, có thể đảng ta đã yêu cầu đừng đưa lên truyền thông. Vì bài phỏng vấn trực tiếp, đảng ta đâu có bịt miệng bà Bảy Vân kịp. Tuy nhiên, tối hôm 23 tháng 12 năm 2008 đó, ít nhất cũng gần chục triệu người Việt Nam đã mở BBC và nghe được.

Chủ đề buổi phỏng vấn là Xuân Hồng (đài BBC) muốn biết tình hình bang giao giữa đảng và nhà nước ta với Trung Quốc trong thời kỳ chống Mỹ ra sao. Thời đó Lê Duẫn là tổng bí thư, nhưng ông ta đã chết rồi, chỉ còn cách hỏi lại người “dưới” đồng chí tổng bí thư thôi. Dưới tổng bí thư, dĩ nhiên là vợ tổng bí thư. Vợ chồng với nhau, (ngoài chuyện anh Ba Duẫn mèo mả gà đồng) thì chuyện gì anh Ba không kể cho vợ nghe.

Nhân đây, tôi xin lạc đề chuyện anh Ba Duẫn trồng cây si cô đào cải lương Thanh Nga. Không biết “tình hình bang giao” anh Ba và Thanh Nga đến đâu nhưng đồng chí Bảy Vân (vợ anh Ba) không chấp nhận. Không có mối thù nào sâu sắc, tàn bạo bằng mối thù giữa hai người đàn bà giành một người đàn ông. Thế nên chị Bảy Vân mới lịnh cho các đồng chí ở Cục Bảo Vệ Chính Trị giết Thanh Nga. Vợ chồng Thanh Nga bị ám sát chết, đảng ta bèn rêu rao rằng bọn cướp muốn bắt cóc con Thanh Nga để đòi tiền chuộc. Trước đó, bọn chúng đã giàn dựng một vụ bắt cóc con Kim Cương, (bọn chúng bắt) rồi trả lại con cho Kim Cương. Làm vậy để chúng có giết Thanh Nga cũng đổ cho bọn bắt cóc như trường hợp trên. Nếu bảo rằng bọn cướp thì sao chúng bắn một phát là chết ngay? Chỉ có bọn giết người được huấn luyện thành thạo, chuyên nghiệp như các đồng chí sát thủ trong cục bảo vệ chính trị mới bắn giỏi như thế.

Trở lại câu hỏi:

– “Có bao nhiêu bộ đội đã bỏ mình vì đã vào miền Nam giết đồng bào?”.

Đứng về phía đảng và nhà nước ta thì cứ lấy con số đã đưa vào Trường Sơn trừ cho con số còn sống sót sau năm 1975 là ra con số “vĩnh biệt”.

Vì rằng đã vào Trường Sơn là không có trở về lại miền Bắc. Ngay cả bọn B. Quay (vào chiến trường trong Nam nhưng đào ngũ, tìm đường ra Bắc) khi chưa tới quê nhà đã bị bắt, bị tập trung cải tạo, đứa nào xung phong vào Nam thì cho vào lại, đứa nào không chịu thì hành hạ đến chết, thân nhân không hề hay biết.

Loại thứ hai là thương bệnh binh, cũng không được về Bắc. Đọc nhật Ký Thùy Trâm ắt biết (Thùy Trâm là sinh viên y khoa, nghe lời đảng dụ dỗ, xung phong vào Nam để “cùng người yêu chiến đấu chống Mỹ cứu nước”, nhưng đảng không cho gặp, đành làm cứu thương, vài năm sau bị Mỹ bắn chết). Theo nhật ký Thùy Trâm, thương binh nào không chạy theo đơn vị được thì được dồn tạm vào một trạm xá nào đó, chỉ ít lâu sau, bị nhiễm trùng vì không thuốc men, bị bỏ đói rồi chết, may mắn lắm mới được Mỹ ngụy bắt làm tù binh. Đối với Việt Cộng, bị thương, không đi theo đơn vị được (đi không nổi) mới gọi là thương binh. (Quân đội Mỹ, bốn bị thương, một chết. Quân đội VNCH, ba bị thương, một chết. Quân đội nhân dân anh hùng, bốn bị thương, ba chết). Chiến trường miền Nam, phía Việt Cộng, không có hậu phương nên không có quân y viện. Bị thương thì khiêng giấu trong bụi, bỏ vật vạ và chờ chết vì không có thuốc men, không có y tá, bác sĩ.

Loại thứ ba là tù binh. Năm 1973, tù binh Việt Cộng được trao trả, lập tức bị cách li, không cho thân nhân biết. Sau khi được bồi dưỡng và học tập, lại được đưa vào chiến trường miền Nam, tiếp tục chiến đấu cho đến chết mất xác.

Lý do đơn giản là đảng ta sợ CIA gài người, cứ một nghìn tù binh chỉ cần thuyết phục được một chiến sĩ chịu làm tình báo cho CIA Mỹ là đủ chết cả lũ. Giống như Do Thái đã gài điệp viên vào trong các lực lượng Palestine, đầu não của các lực lượng võ trang Palestine đến đâu là máy bay Do Thái theo dội bom đến đó. Miền Bắc Việt Nam cũng gặp trường hợp tương tự. Lúc đó (chưa có handphone) mà không hiểu sao, một lần Lê Duẫn về làng thăm cha mẹ, chỉ mười lăm phút sau, máy bay Mỹ đến ném bom ngay nhà cha mẹ Lê Duẫn. Đồng chí tổng bí thư phải bò xuống giường núp.

Cũng may, Mỹ không tin lắm về nguồn tin nên ném bom đại khái. Điều tra ra là phe ta chơi phe mình. Vụ đó bị ém nhẹm nhưng các đồng chí truyền miệng nhau, rằng phe ta (có cộng tác viên của CIA), quyết giết cho được Lê Duẫn nên đã làm như thế.

Trở lại “chủ đề”:

– Số thiệt hại của quân đội nhân dân anh hùng là bao nhiêu?

Từ thời chiến tranh chống Pháp, đảng ta vẫn theo chiến thuật biển người của Trung Quốc vĩ đại “Hễ ta chết mười mà địch chết một là coi như ta chiến thắng”. Qua chiến tranh chống Mỹ, ta vẫn theo chỉ tiêu đó. Cứ một tên Mỹ hay ngụy bị tiêu diệt mà ta mất mười chiến sĩ là được biểu dương. Nhưng Mỹ là tên điếm, chúng không chờ đụng độ. Chúng chờ quân ta vừa từ miền Bắc vào đến Trường Sơn là đem B 52 đến trải thảm. Mặc dù mỗi khi B 52 cất cánh là Liên Xô báo động để ta kịp phân tán, nhưng chạy bộ làm sao kịp với máy bay? Hầm chữ A để chống B 52, nói chơi cho vui, cho các chiến sĩ yên tâm mà chui vào và sau đó có ai còn sống đâu mà làm chứng tác dụng chống B52 của hầm chữ A hiệu quả hay không? Chỉ riêng sức ép thôi đã đủ ói máu mà chết, đâu cần phải trúng bom! Mỗi đợt chuyển quân vào Nam, ít nhất phải cỡ trung đoàn, xe cộ phải mấy chục chiếc. Bom mà rải đúng thì chẳng còn ai sống sót. Rải thảm xong, chúng chờ cho (dân công) thanh niên xung phong đến lấp hố bom, vừa thông đường là chúng lại rải thảm một đợt nữa. Lại chết người, cháy xe tiếp.

Tổng bí thư Lê Duẫn đã đặt nhiệm vụ của Quốc Tế Vô Sản lên trên mạng sống của người dân miền Bắc. Chết bao nhiêu cũng không quan tâm, cứ đẩy hết lớp nầy đến lớp khác vào lò lửa chiến tranh ở miền Nam.

Trong trận Khe Sanh 1968, tướng Giáp đưa ba sư đoàn vây Khe Sanh, tưởng như trận Điện Biên Phủ. Không ngờ bị Mỹ dội bom, chỉ còn một sư đoàn (trừ). Tướng Giáp thân bại danh liệt, mất uy tín, về sau được đảng cho làm “chuyên viên cai đẻ”, là một cách hạ nhục ông ta.

Đến trận Cổ Thành Quảng Trị, theo Trần Khải Thanh Thủy kể. Tướng Giáp đề nghị chiến thuật, chiến lược gì đó bị Lê Duẫn đập bàn quát:

– “Thế là làm giảm sút ý chí chiến đấu…”. Tướng Giáp kể “Cứ 5 giờ 30 phút chiều, một đại đội ta lặng lẽ bơi sang sông Thạch Hãn để đánh vỗ mặt Cổ Thành… 8 giờ 30 phút bơi trở về, chỉ còn 5, 7 người. Như vậy trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (135 người) và 60 ngày đêm tấn công thành cổ, ta mất gần một vạn người. (một sư đoàn (!), chỉ riêng cho việc bơi qua sông đánh vỗ mặt Cổ Thành!)

Nhưng tại sao những người đã vào Nam thì không được trở về Bắc?

Lý do đơn giản là về Bắc, chỉ cần nói thật về chiến trường miền Nam là không cô cậu nào còn tinh thần vào Nam chiến đấu. Riêng chuyện B 52 rải thảm thôi đã kinh hoàng rồi. Tất cả đồng bào ngoài Bắc đều được đảng tuyên truyền láo khoét là “Miền Nam đã được giải phóng rồi, các đồng chí chỉ vào tiếp thu mà thôi”. Rồi thì những bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn”, “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”, “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”… tả cảnh Trường Sơn thơ mộng, đẹp đẽ, có chàng và nàng bên bờ suối, bắc võng nằm nhớ nhau… tuyệt nhiên không thấy bom đạn, B52 dội bom, không thấy lính Mỹ ngụy lùng sục, đuổi chạy sút quần. Rồi thiếu đói, bịnh hoạn, sốt rét rừng… giết chết dần, quân số hao hụt chỉ còn số lẻ, trước khi thực sự đụng độ với địch.

Nhưng con số thiệt hại của miền Bắc là bao nhiêu?

Tên trá hàng Bùi Tín, trong một tác phẩm tuyên truyền hạng bét, văn chương sọt rác, đã viết:

– “Lê Duẫn từng khoe: Tôi gặp ông Mao, tôi nói thẳng rằng Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, thì chúng tôi sẽ phải hi sinh thêm 1 đến 2 triệu người, chúng tôi không sợ và cuối cùng chúng tôi vẫn thắng”.

Kinh khiếp thay đồng chí Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Xem vài triệu mạng sống của đồng bào, đồng chí, bộ đội, thanh niên xung phong… như số lẻ, như mấy xu trong túi quần, có móc ra vất đi cũng không bận tâm.

Nhưng câu nói trên của Lê Duẫn đã bị bóp méo, cắt xén phần quan trọng nhất. Đó là con số nhân mạng “đã” thiệt hại là bao nhiêu triệu?

“Đồng chí” Bảy Vân, vợ Lê Duẫn, trong cuộc phỏng vấn ngày 23 tháng 12 năm 2008, đã trả lời Xuân Hồng, phóng viên đài BBC rằng:

– “Anh Ba (Duẫn) nói với lãnh đạo Trung Quốc rằng”: Chúng tôi đã hi sinh 10 triệu người rồi, nếu Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, chúng tôi dù phải hi sinh vài triệu người nữa, chúng tôi vẫn thắng Mỹ”.

Tôi lại xin lạc đề vài câu nữa. Ông Xuân Hồng đài BBC hỏi bà Bảy Vân, đại ý rằng, có nên tiếp tục “xã hội chủ nghĩa không? Đồng chí Bảy Vân kính mến trả lời rằng:

– “Phải tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa, vì chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn”.

Tại sao ông Xuân Hồng không hỏi tiếp:

– “Thế giai cấp giàu là những người nào? Còn bọn nghèo khổ là những ai?”. Giai cấp giàu là đảng viên (riêng đồng chí Bảy Vân “phải” chui rúc trong “túp lều” giá trên hai triệu đô la Mỹ), còn giai cấp nghèo là lũ dân đen mà các đồng chí đảng viên đang ngồi trên đầu đó!

Như thế, trong chiến tranh chống Mỹ, phải trên mười triệu người dân vô tội miền Bắc Việt Nam đã bị đảng ta đẩy vào Trường Sơn cho B52 dội bom. Một con số khủng khiếp. Lê Duẫn đem số lẻ vài triệu (bổ sung) vàoNam không phải để đánh nhau, mà để cho B52 dội bom, số sống sót mới thực sự đối diện với quân miền Nam mà đánh nhau.

BaÏn muốn biết con số đó khủng khiếp đến bực nào thì thử rải mười triệu xác chết lên một nghìn cây số từ Bắc vô Nam, trên đường mòn Hồ Chí Minh (con đường Bác đi là con đường bi đát).

Mỗi cây số có bao nhiêu xác bộ đội nhân dân anh hùng? Mười nghìn (10.000) xác bộ đội trên một cây số đường mòn Hồ Chí Minh. Mỗi mét đường có mười xác chết.

Bọn Cộng Sản học tập rằng. Loài người từ khỉ mà ra. Chúng xác tín như vậy nên chúng học tập, sinh hoạt, đối xử với nhau sao cho “càng không giống con người chừng nào thì càng tiến bộ chừng nấy”.

Bọn Việt Cộng không phải con người, chúng là ác thú.

“Chí căm thù. Đợi lịnh truyền ra ta giết hết. Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi”!

Ta đi giết đồng bào ta!.

Jimmy N Reed

THƯ NGỎ GỬI EM VŨ THỊ NGHĨA

Lã Minh Luận

THƯ NGỎ GỬI EM VŨ THỊ NGHĨA

TS Trường Chính trị Đồng Nai

Em Nghĩa thân mến!

Có phải vừa rồi em có một phát ngôn ngáo quá phải không em? Chị hỏi lại cho chắc vì chị thấy cộng đồng mạng lại rực ruột về em. Họ bảo em nói thế này: “Việt Nam không cần, không chấp nhận chế độ đa đảng, chế độ một đảng ở Việt Nam hoàn toàn không phải do sự áp đặt từ phía đảng hay một đảng chính trị nào, mà là SỰ LỰA CHỌN CỦA DÂN TỘC, CỦA NHÂN DÂN.” Và em kết luận: “Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam cho phép khẳng định: ở VN không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng”. Ôi em ơi! Sao em nỡ dại mồm dại miệng thế! Yếu thì đừng ra gió mà no đòn với thiên hạ. Chị biết thói kiêu ngạo của các em là khinh dân lắm, chả bao giờ lên mạng mà nghe dân họ chửi đâu. Đúng như cái ông Thuận Hữu nói đấy: “Mở mạng ra là nghe dân chửi, chửi từ trên xuống dưới, chửi không chừa một ai.” Có bao giờ các em tự hỏi vì sao bị dân chửi không? Các em cứ cái thói ấy, chả trách được…!

Em có biết thiên hạ chửi em sao không? Nào là con ngáo đá, con điên, con khùng, quên uống thuốc; nào là con lú lẫn, ngu ngục; nào là tự vả vào mồm đi, đồ ngựa cái! Nào là định leo lên chức gì đây mà “ngạo nghễ tuyên bố” thế…! Đồ mất dạy! Đồ dối trá! Độc đảng để dễ bề thống trị dân, ăn không thiếu thứ gì của dân phải không? Dân tộc, nhân dân nào lựa chọn đảng là người dẫn dắt? Không mở mắt ra mà nhìn thế giới, các nước đa đảng họ văn minh thế nào, đảng của họ điều hành đất nước ra sao, dân họ thực sự được sống trong xã hội hoà bình, dân chủ thế nào? Nói câu trước, câu sau đã tự vả vào mồm mình, ngu hết phần thiên hạ… Giời ơi em ơi! Chị đứng ngoài mà rát ràn rạt cả cái bản mặt đây này! Phải là chị thì chị có thể nhảy cầu vì xấu hổ rồi… Tội em quá!

Em thương!

Đừng hiểu lầm rằng chị thấy em có danh TS Trường Chính trị… mà chị chị em em, thấy người sang bắt quàng làm họ em nhé! Chị hoàn toàn không đứng chung hàng ngũ với em mà chị ở bên người cần lao cùng khổ, thấy em ăn nói ngáo ngơ thì thương em thôi. Chị chỉ có mỗi cái bằng Cử nhân giản dị nhưng chị xin hỏi em mấy câu hỏi vụn, mong em trả lời nhé!

1- Bằng TS là em mua phải không?

2- Em có hiểu gì về chủ nghĩa “Mac xít-Lê-nin-nít” không? Em có hiểu gì về qui luật phát triển xã hội loài người phải tuân theo các giá trị phổ quát và qui luật chọn lọc, qui luật đào thải không em?

3- Em có hiểu gì về lịch sử chiến tranh Việt Nam, về lịch sử tổ chức chính trị (ĐCS) của em, về lịch sử thế giới (khoảng mấy ngàn năm trở lại đây) không em?

4- Em có hiểu gì về thời đại Công nghệ – thời đại 4.0, thời đại của hội nhập toàn cầu, nó đã tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực cuộc sống của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam không em?

5- Em có biết cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Cộng sẽ có tác động mạnh mẽ tới chính trường Việt Nam thế nào không, mà bỗng dưng em và một loạt các bạn trong tổ chức (của các em) lại nói năng bạt mạng như vậy?

Chị tin rằng dù cái bằng tiến sĩ chính trị của em thật hay giả thì nó cũng chẳng có giá trị gì cho xã hội, cho nhân dân, dân tộc này cả. Vì nó chỉ là một phương tiện để giúp các em leo cao, đớp nhiều, hại dân, hại nước mà thôi.

Cuối thư chúc em và gia đình an vui ! Thắc mắc gì thì chị mời ra Hà Nội đối chất với chị em nhé!

(Ảnh dưới: trích dẫn nguyên văn câu nói của em Nghĩa)

No photo description available.

MỘT SỐ NGHỊCH LÝ TRONG GIÁO DỤC VIỆT NAM…

 

 8 SÀI GÒN

MỘT SỐ NGHỊCH LÝ TRONG GIÁO DỤC VIỆT NAM…

Một nhìn nhận chung nhưng có thiên về môn ngữ văn nhiều hơn.

  1. Giáo viên dạy văn nhưng không viết văn. “Viết” là một trong những năng lực cơ bản mà giáo dục phải hình thành cho người học, nhất là đối với giáo dục nặng về thi cử như Việt Nam, và chỉ thi viết, nhưng kỳ lạ là giáo viên dạy học trò viết văn hay nhưng chính giáo viên lại không viết bao giờ. Gần như phải đến 90% giáo viên chưa từng viết 1 bài nào hoàn chỉnh, nghiêm túc sau cả chục năm đi dạy. Đó là 1 sự kiện kỳ quặc và có lẽ chỉ có trong nền giáo dục của chúng ta. Khi quan sát đã thấy như vậy; và để kiểm tra tôi trực tiếp hỏi nhiều bạn dạy văn về điều này và đa số họ xác nhận rằng mình chưa từng viết 1 bài nghị luận nào! Đó là một điển hình của căn bệnh lý thuyết, hình thức và giáo điều trong giáo dục Việt Nam.

Giáo viên dạy toán nhưng không hiểu bản chất của công thức; giáo viên dạy hóa nhưng không biết “hóa trị” thực ra là cái gì (trong khi giải toán và cân bằng hóa học nhanh như chớp); giáo viên dạy sử nhưng không “nghiên cứu” lịch sử. Đa số giáo viên ở các môn tự nhiên không thể tự mình sáng tạo ra đề/bài tập mà chủ yếu sưu tầm và cóp nhặt từ nhiều nguồn; giáo viên các môn xã hội thì ra đề nặng về hướng “học thuộc”, ít có khả năng kích thích tư duy…

  1. Học nhưng không sử dụng. Học rất nhiều với tham vọng giáo dục “toàn diện” nhưng hầu hết kiến thức nặng về giáo điều, ít tính thực tiễn, chủ yếu “học thuộc”; thi xong là quên. Ở THPT với 13 môn học nặng nề nhưng chủ yếu học để phục vụ cho các kỳ thi chứ không mấy khi được dùng trong cuộc sống cá nhân của người học; thậm chí lúc cần dùng đến thì cơ bản không biết dùng thế nào vì kiểu học nhồi nhét kiến thức dẫn đến lõm bỏm hoặc không vận dụng được. Phần lớn kiến thức dạng này là vô dụng, nếu không nói là có hại.

Càng học càng ù lỳ, càng học càng mất đi tinh thần hiếu tri; theo thời gian, niềm ham thích hiểu biết chuyển dần thành sự đối phó; càng học càng “lùn” đi.

  1. Quy trình ngược. Khó học trước, dễ học sau; công cụ lý thuyết không trang bị nhưng lại yêu cầu khai thác tri thức… Chương trình văn học trung đại có khoảng cách văn hóa xa hơn nên khó hơn văn học hiện đại nhưng lại học trước (“quốc tộ”, “cáo tật thị chúng”… mà dạy cho học sinh lớp 10 trong khi “Việt Bắc” dạy cho học sinh 12… là những ví dụ). Chương trình phổ thông năng mà đại học nhẹ; phổ thông khó mà đại học dễ; phổ thông và đại học bị đứt gãy, ít có tính liên tục. Những tri thức phổ thông sẽ bỏ lại gần hết khi bước chân vào cổng trường đại học…
  2. Dạy làm người nhưng chính mình lại méo mó. Dạy học trò trung thực, chính trực, trọng nghĩa khinh tài, thương yêu nhân ái… nhưng chính giáo viên lại là nhóm người “nhát” nhất, tủn mủn, “nhiều chuyện”, thị phi và vạch vãnh. Thấy bất công “không dám kêu đòi”; bưng tai bịt mắt trước cái xấu, cái ác… Rất ít có một tổ chuyên môn nào (đặc biệt là tổ ngữ văn trong các trường phổ thông) cơm lành canh ngọt. Từ những mâu thuẫn cá nhân tủn mủn rồi chia nhóm chia phe, rạn nứt âm ỷ và xé to ra theo thời gian.

Nạn hối lộ, từ hối lộ vặt (quà cáp) đến chạy việc, chạy chức; xu nịnh, bè phái, đấu đá lẫn nhau… đang diễn ra phổ biến trong các nhà trường và trong hệ thống ngành giáo dục.

THÁI HẠO

Tây Lạc Viên, 23/8/2020

Nhìn dinh cơ sơn son thếp vàng ngạo nghễ, thói tiêu tiền như rác của cán bộ cấp xã…

Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting and indoor

Nhìn dinh cơ sơn son thếp vàng ngạo nghễ, thói tiêu tiền như rác của cán bộ cấp xã, cấp huyện, chưa nói tới các đỉnh cao trí tuệ trung ương, người ta nghĩ chắc lương bổng của họ phải khủng khiếp lắm.

Sự thực, lương bổng của các quan chức VN thấp nhất thế giới. Theo Vexcash , cơ sở dịch vụ tài chánh ở Berlin, lương của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chẳng hạn, chỉ tới 6492 euros một năm, khoảng 540 euros một tháng ( trên 600 dollars ). Không bằng 1 phần mười lương người phu quét đường Thuỵ Sĩ, 68.720 CHF (francs suisses),trên 70 ngàn US dollars

Một người già không lợi tức ở Pháp lãnh trợ cấp xã hội 803 Euros một tháng, không kể các trợ cấp nhà cửa, y tế vv..Trợ cấp có thể gấp hai ở nhiều nước Bắc Âu. Mặc dầu vậy, nhà cửa của họ không bằng nhà bếp của các quan lớn VN

Thế giới phải ngả mũ khâm phục tài nghệ quản trị của các đỉnh cao trí tuệ loài người. Quản trị ngân sách gia đình như vậy, quản trị đất nước, chắc chắn quốc gia sẽ phú cường. Không ai thay thế nổi, các cụ, các bác đành phải ở lại phục vụ nhân dân tới hơi thở cuối cùng. Còn thở, còn phục vụ

Các cụ xứng đáng khi băng hà được làm quốc tang, xác chôn trong lăng vĩ đại, mông mênh bằng vài ngàn nơi an nghỉ của các quốc trưởng ngoại quốc, thường thường chì là một nấm mộ nhỏ, với một tấm bia ghi tên, ngày sinh, ngày mất.