Tho Nguyen and 3 others shared a post.


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!
Do Cty Huê Phong ở Gò Vấp nơi chị Nguyễn Thị Kiều làm công nhân giảm đơn hàng nên thu nhập của chị chỉ còn hơn 3,2 triệu đồng/tháng.
Sau khi trừ tiền nhà trọ, điện, nước hết 1,7 triệu, chị còn 1,5 triệu đồng để trang trải chi phí ăn uống.
Như vậy tổng chi cho ba bữa ăn sáng, trưa, tối của ba mẹ con chị không được quá 50.000 đồng!
Tương đương với một bát phở, cho cả ba người ăn, ba bữa trong ngày.
Ba mẹ con thống nhất mỗi ngày ăn uống không được quá 50.000 đồng.
Chị chia sẻ, thực đơn những ngày hậu dịch Covid-19 của ba mẹ thường trực “rau là rau”.
Chị cười: “5.000 đồng rau muống, 2 quả trứng chiên hoặc luộc, lấy nước rau làm canh. Vậy là xong một bữa”.
Bữa thịt gần đây nhất của ba mẹ con cách đây đã gần 1 tuần. “Tôi mua 40.000 đồng thịt gà về kho sả ớt, ăn cả ngày. Muốn có vị thịt heo thì mua 20.000 đồng da heo về phi tỏi ớt cũng ra một món.
Muốn có vị thịt bò thì mua 20.000 đồng bò viên hoặc gân bò về xào đậu ve. Sáng một gói mì tôm hoặc 5.000 đồng xôi” Tằn tiện như thế rồi bữa ăn bữa thèm cũng qua.
Chị Kiều quê Quảng Nam. Chị vào TP.HCM làm công nhân gần 20 năm. Chồng chị bỏ đi theo người khác khi đứa con gái nhỏ được 4 tuổi. Chị ở vậy gần 10 năm qua, một mình nuôi hai con.
Chị Kiều dù ở SG nhưng đã nghèo, nghèo quá rồi chứ k phải cận nghèo như những nhà ở Thanh Hóa nữa!
Tôi k biết anh chị thế nào chứ đưa tôi 50.000 đ để xoay xở 1 bữa cho 3 người thôi đã khó vô cùng tận chứ huống gì 3 bữa!
Người như chị Kiều những ngày này tôi nghĩ có lẽ không phải ít vì như chị nói “Dịch ập tới, ai cũng khổ hết, nên ba mẹ con cùng bảo nhau cố gắng thôi”. Riêng ở Huê Phong đã cắt giảm hơn 2000 lao động.
Còn tôi nghĩ, thôi thì cứ an ủi nhau ăn rau là sở thích như mấy đứa bé người Mông ăn ve sầu trên Đắk Lắk vậy!
Nguồn: Cuocsongantoan.vn
Fb Hà Phan

Chế độ « cộng sản » Trung Quốc đang ngày càng trở thành mối đe dọa hàng đầu đối với nhiều xã hội. Từ dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán, dự án « Con đường tơ lụa mới », đến bành trướng quân sự trên biển… Nhưng với nhiều chuyên gia, đe dọa lớn nhất đến từ chế độ toàn trị Trung Quốc. Theo quan điểm này, chế độ toàn trị Trung Quốc là gốc rễ của vô số các hiểm họa đe dọa phần còn lại của thế giới, và đối với chính xã hội Trung Quốc.
Nhận diện cho đúng chế độ toàn trị hiện nay tại Trung Quốc là cơ sở cho phép các nền dân chủ có được đối sách đúng. Tuy nhiên, nhận diện đúng không phải là điều dễ. Do tính chất khép kín của chế độ này, do những đặc thù của nền văn hóa lâu đời của Trung Quốc. Khó nhận diện cũng có phần do thế đối đầu Mỹ – Trung hiện nay có xu hướng thổi bùng lên những mâu thuẫn mang tính quốc gia, vô hình chung đẩy lùi vấn đề mô hình xã hội – toàn trị, dân chủ hay độc tài – vào tuyến hai. Vấn đề chế độ chính trị có xu hướng được đơn giản hóa, để đáp ứng nhu cầu tuyên truyền trước mắt. Chỉ trích của nhiều chính trị gia các nước dân chủ tập trung vào tính chất « cộng sản » của chế độ chính trị hiện hành, mà coi nhẹ những gốc rễ của chế độ toàn trị trong chính truyền thống Trung Hoa nghìn năm.
Tuy nhiên, giới chuyên gia về Trung Quốc, về chính trị quốc tế, vẫn tiếp tục có các nghiên cứu. Học giả Mỹ Francis Fukuyama tháng 5/2020 vừa qua công bố bài phân tích : « What Kind of Regime Does China Have? » – tạm dịch : «Trung Quốc có chế độ kiểu gì? » (1), tìm cách giải mã các cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc, một số đặc điểm căn bản của mô hình chính trị Trung Quốc thời cộng sản, từ thời Mao, Đặng… cho đến Tập Cận Bình (2). Tác giả cũng đề xuất một triển vọng được coi là khả thi hơn cả cho sự trỗi dậy của dân chủ tại Trung Quốc. Sau đây, RFI tiếng Việt xin giới thiệu một số nét chính của bài phân tích.
***
CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ LÀ GÌ ?
Thuật ngữ « toàn trị » do hai nhà chính trị học Mỹ, Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski, chế tác ra vào những năm 1950, để chỉ các xã hội theo « mô hình Liên Xô » và « phát xít ». Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski phân biệt các chế độ « toàn trị » với các chế độ gọi là « độc đoán ». « Toàn trị » là các chế độ do một đảng duy nhất lãnh đạo, với một ý thức hệ bao trùm, sử dụng quyền lực công an trị để buộc mọi người dân trong xã hội phải trung thành tuyệt đối với ý thức hệ chính thống, với việc « kiểm soát chặt chẽ mọi khía cạnh riêng tư nhất của các thành viên trong xã hội ». Các chế độ này hy vọng « cắt đứt toàn bộ các liên hệ xã hội trước đó, để buộc tất cả mọi người phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền ». Đảng thực thi vai trò « tẩy não » dân chúng một cách triệt để, « đến mức họ không còn nhận ra những xiềng xích cột họ vào Đảng ». Một hình tượng tiêu biểu cho thành công của chế độ toàn trị Xô Viết là nhân vật người thiếu niên Pavel Morozov, được lãnh tụ Staline nhiệt liệt biểu dương, do đã có công tố cáo cha mẹ mình với công an mật.
ĐÂU LÀ CỘI RỄ CỦA CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ TẠI TRUNG QUỐC HIỆN NAY ?
Học giả Mỹ Francis Fukuyama nhấn mạnh : xã hội Trung Quốc là « một trong những xã hội có lịch sử liên tục dài nhất thế giới, và có rất nhiều sự tiếp nối xuyên qua các triều đại, cho đến chế độ hiện nay ». Trung Quốc là « nền văn minh đầu tiên trên thế giới tạo lập ra một bộ máy Nhà nước mang tính hiện đại », tức một bộ máy Nhà nước được coi như vận hành độc lập với các quan hệ cá nhân, dù là với hoàng đế, với gia tộc hoàng đế hay với các thân hữu của hoàng đế. Một bộ máy Nhà nước vận hành theo các quy tắc riêng, tập quyền cao độ. Bộ máy này ra đời vào dưới triều đại nhà Tần, triều đại đầu tiên thống nhất các vương quốc tại khu vực trung tâm lãnh thổ Trung Quốc hiện nay (vào năm 221, trước Công nguyên). Thời Tần Thủy Hoàng chỉ tồn tại chưa đầy 20 năm, nhưng để lại các hệ quả vô cùng lớn trong xã hội Trung Hoa suốt hơn 2.000 năm sau. Triều đại nhà Hán, kéo dài hơn 4 thế kỷ sau đó, đã kế thừa phương thức tổ chức Nhà nước tập quyền của Tần Thủy Hoàng, và bổ sung vào đó vai trò hàng đầu của Khổng giáo, của tầng lớp quan lại theo Nho giáo, được phó thác sứ mạng lãnh đạo một trong các đế chế lớn nhất thế giới thời đó. Một đặc điểm tiêu biểu khác của chế độ chính trị thời Tần, rồi đến thời Hán, là : trong các đế chế hùng mạnh này tại Trung Hoa chưa bao giờ có các định chế chính trị mang tính đối trọng, như Nhà nước pháp quyền, hay trách nhiệm giải trình mang tính dân chủ (democratic accountability), mà chủ yếu dựa vào tầng lớp lãnh đạo điều hành đất nước, thông qua con đường « giáo dục ».
Bộ máy Nhà nước tập quyền và không có đối trọng, do một tầng lớp quan lại được tuyển chọn thông qua học vấn vận hành, đó là các đặc điểm tiêu biểu của nền chính trị Trung Hoa suốt 2.000 năm. Thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực là thách thức mà chính quyền Trung Hoa liên tục gặp phải. Hoàng đế phải sử dụng tầng lớp quan lại để điều hành bộ máy Nhà nước, nhưng ai kiểm soát bộ máy này, khi bộ máy bị hư hỏng? Tầng lớp hoạn quan đã được sử dụng làm nhiệm vụ này. Đến đời nhà Minh, lại phải lập ra cả một bộ phận riêng để kiểm soát các hoạn quan, do sự lộng hành của nhóm này. Vấn đề tương tự cũng đặt ra hiện nay, khi đảng Cộng Sản kiểm soát chính quyền, Ban Tổ Chức của Đảng kiểm soát Đảng. Và dưới thời Tập Cận Bình, đến lượt Ủy Ban Kỷ Luật Trung Ương được giao nhiệm vụ kiểm soát Ban Tổ Chức…
Tuy nhiên, nếu như có những điểm kế tục giữa phương thức cai trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay với các triều đại trước đây, thì cần phải nhấn mạnh là đảng Cộng Sản Trung Quốc đã kế tục truyền thống toàn trị thời Liên Xô của Staline, nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào khác trong lịch sử Trung Hoa trước đó. Phương thức toàn trị Xô Viết, với hệ thống tuyên huấn, dân vận, trại cải tạo, trại tập trung, mạng lưới những tay chân của chế độ có mặt khắp nơi theo dõi dân chúng…, rút cục đã phá sản. Tuy nhiên, « tham vọng toàn trị không chết, tham vọng kiểm soát hoàn toàn người dân, từ tinh thần đến thể xác, đã được truyền từ đảng Cộng Sản Liên Xô sang đảng Cộng Sản Trung Quốc ».
Mao Trạch Đông đã tái tạo mô hình toàn trị Liên Xô bằng các phương tiện tương tự, với đỉnh điểm là cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Tuy nhiên, nỗ lực này rốt cục đã thất bại, buộc giới tinh hoa trong Đảng, chuyển hướng sang con đường hiện đại hoá theo kiểu tư bản. Theo Francis Fukuyama, lãnh đạo kế nhiệm Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu giải thể Nhà nước toàn trị, để thay bằng « Nhà nước độc tài ».
CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC DƯỚI CÁC THỜI MAO, ĐẶNG VÀ TẬP, CÓ GÌ KHÁC, GÌ GIỐNG ?
Theo Francis Fukuyama, giai đoạn 1978 đến 2012, tức là từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động « hiện đại hoá », cho đến khi Tập Cận Bình lên cầm quyền, là một giai đoạn mà người dân Trung Quốc được hưởng nhiều quyền tự do cá nhân, kinh doanh, đi lại tự do, bày tỏ quan điểm tự do… khác hẳn trước. Đảng giảm nhẹ sự can thiệp vào kinh tế và bộ máy Nhà nước… Nhiệm kỳ lãnh đạo cao cấp được giới hạn. Với việc Tập Cận Bình lên cầm quyền, bộ máy chính trị Trung Quốc có xu thế làm sống lại mô hình toàn trị thời Mao. Chủ nghĩa Mác-Lê theo tư tưởng Tập Cận Bình đã được đưa vào Hiến Pháp, được giảng dạy trong trường học. Bộ máy công an có thêm nhiều quyền lực chưa từng có. Đảng xâm nhập trở lại mọi mặt của đời sống. Nhiều bài hát của Hồng vệ binh thời Cách Mạng Văn Hoá được phổ biến trở lại. Đàn áp ở quy mô lớn, với hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ bị đưa vào các trại cải tạo….
Tuy nhiên, Francis Fukuyama cũng nhấn mạnh là, cho dù tham vọng kiểm soát trở lại theo kiểu toàn trị, « Tư tưởng Tập Cận Bình » cũng chỉ là một bản sao mờ nhạt của tư tưởng Mao, với cuốn Sách Đỏ nổi tiếng. Tập Cận Bình đã không đủ sức đưa ra một ý thức hệ mang tính nhất quán như Mao, đủ sức dấy lên niềm tin cuồng tín của hàng triệu người Trung Quốc. Nhưng ngược lại, chính quyền Tập Cận Bình lại có được các phương tiện công nghệ tinh vi, hùng hậu của kỷ nguyên công nghệ số, cho phép dễ dàng kiểm soát dân chúng, khác hẳn thời Mao hay Staline. Cũng khác với thời Mao, chủ yếu dựa vào đàn áp, đe dọa, giờ đây chính quyền thời Tập dựa nhiều hơn vào việc chiêu dụ được một tầng lớp trung lưu, dễ bảo nhờ các món lợi vật chất…
So sánh để nhìn ra các điểm giống giữa Mao, Đặng và Tập, học giả Mỹ Francis Fukuyama vừa lưu ý đến tính nối tiếp của nhiều truyền thống toàn trị trong xã hội Trung Hoa với chế độ toàn trị cộng sản hiện nay, nhưng cũng vừa nhấn mạnh đến tính mâu thuẫn giữa các truyền thống Trung Hoa. Chế độ cai trị tàn bạọ thời Tần, đặt cơ sở cho các chế độ toàn trị sau này, chỉ tồn tại được ít năm. Các triều đại Trung Hoa sau này trị nước một cách tinh vi hơn.
Francis Fukuyama chia ra hai mạch cai trị trong truyền thống Trung Quốc, gọi là « toàn trị » và « độc đoán » (như định nghĩa của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski). Về toàn trị, Mao Trạch Đông và Tần Thủy Hoàng là trên cùng một mạch. Về chế độ « độc đoán » , theo tác giả, chính quyền Đặng Tiểu Bình hay Giang Trạch Dân gần với các triều đại Trung Quốc sau này hơn nhiều. Nhìn chung, theo Francis Fukuyama, di sản Mác-Lê thời Xô Viết (theo kiểu Staline), được đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng, nằm trong thế xung đột sâu sắc với nhiều truyền thống bắt rễ tại Trung Quốc, trong đó có Khổng giáo, vốn nhấn mạnh nhiều đến các quan hệ con người.
NỀN CHÍNH TRỊ ĐCS LÃNH ĐẠO TẤT YẾU DẪN ĐẾN MỌI QUYỀN LỰC THÂU TÓM TRONG TAY MỘT LÃNH ĐẠO DUY NHẤT TẬP CẬN BÌNH ?
Theo Francis Fukuyama, thì việc Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo Trung Quốc, với xu thế ngả sang toàn trị « không phải là điều không thể tránh khỏi ». Vào thời điểm Tập Cận Bình chưa trở thành lãnh đạo, trong giới tinh hoa Trung Quốc đã có nhiều người hy vọng là chế độ Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tập sẽ vừa chống được nạn tham nhũng, vừa xác lập các cơ sở cho một xã hội Trung Quốc tự do hơn, trước khi họ hiểu ra.
Dù sao, chế độ Tập Cận Bình chưa phải đã áp đặt được lý tưởng toàn trị lên toàn bộ xã hội. Xã hội Trung Quốc hiện nay khác xa Bắc Triều Tiên. Lịch sử Trung Quốc cho thấy hai nỗ lực xây dựng xã hội toàn trị một cách tàn bạo dưới thời Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông không kéo dài. Việc dân chúng tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng hiện nay xuất phát từ « tự nguyện » do lợi ích được thỏa mãn, hơn là « do bị đe dọa ». Khả năng các công nghệ số kiểm soát dân chúng đến đâu cũng còn là vấn đề để ngỏ. « Tư tưởng Tập Cận Bình » hay « chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Hoa » cũng không hấp dẫn đến mức có nhiều người sẵn sàng chết cho lý tưởng, như thời Mao.
TRUNG QUỐC CÓ CƠ HỘI DÂN CHỦ HOÁ HAY KHÔNG, NẾU CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHẢ THI HƠN CẢ ?
Theo Francis Fukuyama, trước hết các nền dân chủ phương Tây phải nhận thức được là tại Trung Quốc, « có một chế độ toàn trị mới đang hình thành », giống như Liên Xô giữa thế kỷ XX, chứ không phải là « một chế độ tư bản theo phong cách độc đoán », như giai đoạn trước đó. Bởi tại Trung Quốc hiện nay, Nhà nước gần kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, kể cả với các doanh nghiệp được gọi là « tư nhân », như Tencent hay Alibaba. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ và các nền dân chủ tự do cần phải dần dần rút các cơ sơ kinh tế khỏi Trung Quốc. Đại dịch Covid-19 cho thấy sự nguy hiểm của việc phụ thuộc vào Trung Quốc.
Riêng đối với Trung Quốc, trong tình hình hiện nay, khi bộ máy đàn áp của chế độ hiện hành là rất lớn, « rất ít có khả năng thay đổi sẽ diễn ra từ bên dưới, với một phong trào quần chúng rộng khắp ». Nếu như xảy ra, thay đổi chỉ có thể đến từ « bộ phận thượng tầng của ban lãnh đạo Đảng ». Cụ thể là những người bị ảnh hưởng do việc Tập lên nắm quyền. Cả một hệ thống vận hành từ hơn 30 năm, bị Tập Cận Bình thay thế, để về phần mình, trở thành lãnh đạo trọn đời.
Chế độ đa đảng, theo Francisco Fukuyama, sẽ không đến sớm với Trung Quốc, như tại Hàn Quốc và Đài Loan trong những 1980, « con đường thay đổi tối ưu tại Trung Quốc hiện nay là thông qua hệ thống pháp lý, giống như nhiều nước châu Âu trong thế kỷ XIX và XX ». Chuyển từ một Nhà nước pháp trị (rule by law) sang Nhà nước pháp quyền (rule of law), một Nhà nước chịu sự kiểm soát của luật pháp. Cần thiết lập các quy định rõ ràng áp dụng cho người dân thường, cho đến các quan chức cấp thấp hơn, rồi với cả chính bản thân Đảng. Việc thực thi quyền lực cần phải được khống chế, kiểm soát thực sự về mặt Hiến Pháp. Tư pháp phải có quyền tự trị rộng rãi. Người dân phải được có thêm quyền tự do, ít nhất là cũng giống như so với thời trước Tập Cận Bình.
Về phía Hoa Kỳ, học giả Francisco Fukuyama lưu ý là, cần nhớ rằng đối thủ của Mỹ hiện nay không phải là Trung Quốc, mà là đảng Cộng Sản Trung Quốc đang trên đường toàn trị hóa, hoàn toàn khác so với giai đoạn trước năm 2012. Và trước khi toan tính giúp Trung Quốc thay đổi, người Mỹ phải thay đổi chính nước Mỹ để xác lập trở lại vị trí của Hoa Kỳ, như « ngọn hải đăng của các giá trị dân chủ, tự do ».
GHI CHÚ
1 – Bài « What Kind of Regime Does China Have? » đăng tải trên tạp chí The American Interest, 18/05/2020.
2 – Trái ngược với quan điểm của Francis Fukuyama về chế độ toàn trị Trung Quốc, về sự đối lập giữa « giai đoạn Đặng Tiểu Bình » (từ 1978 đến 2012) với « giai đoạn Tập Cận Bình », nhiều chuyên gia cho rằng, trên thực tế thời kỳ Đặng Tiểu Bình, trong quan điểm của đảng Cộng Sản Trung Quốc tương tự với giai đoạn Kinh tế Mới, mà Lênin chủ trương, để tranh thủ kinh tế tư bản, và đây chỉ là một sự nhân nhượng mang tính sách lược, trước khi chế độ cộng sản chuyển sang giai đoạn toàn trị hoàn toàn. Trong tác phẩm mới đây, « Rouge vif » (2019), một chuyên gia về Trung Quốc người Pháp, Alice Ekman, đã chỉ ra « những ảo tưởng về một quá trình dân chủ hoá, nhờ tự do hoá kinh tế », theo chủ trương của Đặng Tiểu Bình.

Lòng tốt không cần đánh giá
Giám Đốc Walter đã chọn rất nhiều sinh viên từ các trường nghệ thuật để tham gia thử vai diễn, nhưng ông vẫn chưa tìm được người ông hài lòng.
Một ngày nọ, vì mục đích này, Walter đã đi đến ngoại ô phía tây của thành phố, ở đây ông bắt gặp một cậu bé đánh giày trong hàng chục người ở quảng trường nhà ga. Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có cần đánh giày không?”
Walter nhìn xuống đôi giày ông vừa đánh bóng và lắc đầu từ chối. Ngay khi Walter quay đi, ông đột nhiên thấy cậu bé đuổi theo với khuôn mặt đỏ bừng, và ánh sáng hy vọng hiện lên trong mắt cậu bé: “Thưa ông, cháu đã không ăn gì cả ngày nay. Ông có thể cho cháu mượn tiền được không? Cháu sẽ cố gắng hết sức để đánh giày vào ngày mai và hứa sẽ trả lại tiền cho ông vào một tuần sau nữa!”
Walter nhìn cậu bé rách rưới và co rúm trước mặt, ông cảm thấy vô cùng đáng thương, ông lấy ra một vài đồng xu để vào tay cậu bé. Cậu bé nói cảm ơn ông rồi bước đi một cách nhanh chóng.
Walter lắc đầu, bởi trên đường phố những kẻ nói dối như vậy vô cùng phổ biến. Nửa tháng sau, Walter đã quên mọi thứ về việc cho vay tiền với cậu bé. Thật bất ngờ khi ông đi qua ga xe lửa phía tây ngoại ô thành phố một lần nữa, ông nhìn thấy dáng người gầy gò quen thuộc, cậu bé vẫy tay với ông và nói: “Thưa ông, xin vui lòng đợi ạ”
Cậu bé mướt mải mồ hôi, móc từ trong túi ra vài đồng xu và trao trả lại cho ông. Walter nhận ra rằng đây là cậu bé đánh giày đã mượn ông tiền lần trước.
Cậu bé thở hổn hển nói: “Thưa ông, cháu đã chờ đợi ông từ lâu và cuối cùng cháu có thể trả lại tiền cho ông rồi”. Walter nhìn những đồng xu dính mồ hôi ướt đẫm trên tay cậu bé, trái tim ông bỗng nhói lên.
Walter nhìn cậu bé trước mặt một lần nữa và đột nhiên ông thấy rằng cậu bé này phù hợp với nhân vật chính trong phim của ông. Walter nhét một vài đồng xu vào túi của cậu bé: “Tôi cho cháu như một món quà nhỏ chân thành, không cần phải trả lại tôi.”
Walter mỉm cười bí ẩn và nói: “Ngày mai cháu đến văn phòng đạo diễn của công ty phim ở trung tâm thành phố, tôi sẽ cho cháu một bất ngờ lớn.”
Sáng sớm hôm sau, người gác cửa nói với Walter rằng bên ngoài có một nhóm lớn trẻ em. Khi ông ra ngoài ông vô cùng ngạc nhiên, ông thấy cậu bé chạy lên đầy phấn khích và nói một cách ngây thơ, “Thưa ông, những đứa trẻ này giống như cháu không có cha mẹ, và họ cũng rất mong muốn có những điều ngạc nhiên!” Walter thực sự không ngờ tới một đứa trẻ nghèo và lang thang sẽ có một trái tim nhân hậu như vậy!
Qua nhiều lần quan sát và sàng lọc, Walter nhận thấy rằng trong số những đứa trẻ này, thực sự có một vài đứa thông minh hơn cậu bé, và phù hợp hơn với vai nhân vật chính trong kịch bản, nhưng cuối cùng ông vẫn chọn cậu bé và ký hợp đồng với cậu bé. Chỉ có một vài từ được viết trong cột lý do tuyển cậu bé: Sự tử tế không cần phải được đánh giá!
Bởi vì ông cảm thấy rằng cậu bé thật tốt bụng, khi cậu bé phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cậu bé vẫn vui vẻ chia sẻ hy vọng của mình với người khác, đây thực sự là tấm lòng nhân hậu, thuần khiết và vô tư.
Cậu bé được gọi là Vennischi de Oliveira. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Walter, Vennischi đã đóng thành công nhân vật chính của cậu bé trong vở kịch, và hãng phim của Walter đã giành được nhiều giải thưởng lớn bao gồm: Giải thưởng Gấu vàng của Liên hoan phim quốc tế Berlin.
Vài năm sau, Vinnischi cậu bé năm xưa, người đã trở thành chủ tịch của một công ty văn hóa điện ảnh và truyền hình, đã viết một cuốn tự truyện “Sự nghiệp diễn xuất của tôi.” Trên trang tiêu đề của cuốn sách là dòng chữ ký của Walter: Sự tử tế không cần phải được đánh giá.
Sau đây là đánh giá của ông về Vinnischi: “Đó là tấm lòng nhân hậu, anh ấy sẵn sàng trao cơ hội của mình cho những đứa trẻ khác, những cơ hội khiến người được nhận không bao giờ quên anh ấy.”
Thành công của một người không nhất thiết phải có năng khiếu hay hiểu biết nhiều, mà bởi anh ta có đủ thiện lương, tấm lòng nhân hậu và sự cố gắng.
(Sưu tầm)
From: Bác Sĩ van hanh phung
Những ngày tháng cuối đời của ca sĩ Ngọc Lan.
Tiếng hát trữ tình truyền cảm của Ngọc Lan đã mang đến và để lại trong tâm thức của người thưởng ngoạn những âm điệu ngọt ngào, lôi cuốn. Tính tình cô nhu mì, điềm đạm với dáng dấp mảnh mai và một ánh mắt u buồn. Ngần ấy những đức tính và tài năng của cô đã đủ để giới thưởng ngoạn đánh giá cao và sẵn sàng dành cho Ngọc Lan một cảm tình sâu đậm, và một chỗ đứng cao trong lòng giới mộ điệu âm nhạc.
Nhưng không ngờ, định mệnh khắt khe và đầy nghiệt ngã đã cướp lấy của chúng ta một con người tài hoa nhưng mệnh bạc.
Ngọc Lan có một đời sống gần như bí ẩn, ngoài thời gian trình diễn, cô ít xuất hiện trong đời thường và cũng không có bạn bè nhiều, nên đã có không ít những huyền thoại thêu dệt chung quanh cuộc sống của cô. Bài viết này mong rằng sẽ đánh tan những ngộ nhận vô căn cứ và là điều không công bằng đối với người đã khuất. Xin hãy trả về những sự thật cho cô.
Ngọc Lan tên thật là Lê Thanh Lan, tên thánh là Maria. Cô sinh ngày 28/12/1956 (Bính Thân), lớn lên tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, là người con thứ 4 trong gia đình 11 anh chị em, con của ông bà Lê Đức Mậu. Ông đã phục vụ trong ngành Truyền Tin của Sư Đoàn Bộ Binh VNCH. Thuở nhỏ Lê Thanh Lan học trường Trung Học Lý Thường Kiệt tại Quang Trung (Hóc Môn). Cô có người chị ruột là nhà văn nữ Lê Thao Chuyên mất năm 1993. Từ bé cô đã có khiếu ca hát và ngâm thơ, từng hát trong ca đoàn nhà thờ ở Việt Nam, cô cũng từng là học trò của nhạc sĩ Lê Hoàng Long (tác giả bài hát nổi tiếng “Gợi Giấc Mơ Xưa”).
Năm 1980 Ngọc Lan đến Thái Lan tị nạn. Thời gian này cô có hoạt động văn nghệ trong trại cùng với MC Trần Quốc Bảo, sau đó định cư tại Hoa Kỳ, thời gian đầu cư ngụ tại Minnesota. Hai năm sau, Ngọc Lan về California và khởi sự tham gia các hoạt động văn nghệ tại Orange County.
Còn nhớ vào năm 1982, tại Cali chỉ có vài quán cà phê trong cộng đồng Việt Nam như Café Lan, Đỉnh Thiêng, Hoài Hương… Các nơi này Ngọc Lan đều góp mặt với giọng hát của mình và nhanh chóng trở thành một trong những ca sĩ hàng đầu tại hải ngoại. Ngọc Lan hát được nhiều thể loại nhạc, từ nhạc Việt đến nhạc Pháp, Mỹ, tiếng hát của cô như có một ma lực quyến rũ người nghe, như lời thì thầm kể lể của người tình với nhau.
Ngọc Lan đã từng cộng tác với hầu hết các Trung Tâm Băng Nhạc tại hải ngoại, nhưng giữa lúc sự nghiệp ca hát của cô đang lên đến đỉnh cao của danh vọng thì bỗng nhiên cô dần ít xuất hiện sau năm 1993 (sau cái chết của người chị ruột). Có thể nói Ngọc Lan là một hiện tượng mà ở mỗi nơi cô trình diễn, khán giả đã đứng chật sàn nhảy, không phải là khiêu vũ mà là để theo dõi từng lời ca và lối trình diễn của cô.
Đầu năm 1994, Ngọc Lan trở lại sân khấu vẫn với tiếng hát buồn muôn thuở, nhưng ánh mắt thẫn thờ như không còn thiết tha với cuộc đời. Đến tháng 12 năm đó, cô quyết định kết hôn với Mai Đăng Khoa (có tên Kelvin Khoa, một nhạc sĩ xử dụng keyboard trong ban nhạc Bolero, ban nhạc này có xuất hiện trong băng Video Thúy Nga Paris số 15 với 2 M.C. Kim Anh và Trần Quốc Bảo). Sau thời điểm đó Ngọc Lan đã vắng bóng sân khấu. Biết mình mang chứng bệnh hiểm nghèo nên cô không muốn có con, khác với lời đồn là cô có hai con, sự thật Ngọc Lan chưa lần nào sinh nở.
Đám cưới Ngọc Lan – Kevin Khoa
Vào khoảng năm 1999, tại Việt Nam có tin đồn Ngọc Lan đã qua đời vì chứng bệnh Diabetic, nên MC, nhạc sĩ Nam Lộc đã dành một cuộc phỏng vấn cho vợ chồng Ngọc Lan trong chương trình truyền hình của đài Văn Nghệ VN Television vào một sáng thứ Bảỵ
Có nhiều lời đồn về bệnh tình của Ngọc Lan khi người ta thấy mắt cô bị kém thị lực. Nhưng sự thật cô bị bệnh thuộc dạng “The Demyelinating Diseases”, mà trong danh từ y khoa Medical Term là M.S. – có nghĩa là Multiple Sclerosis. Bệnh này phá hỏng hệ thống thần kinh, làm cho các vỏ bao bọc dây thần kinh bị hủy hoại. Đây là một loại bệnh chưa có thuốc chữa, chỉ dùng thuốc Prednisone để kéo dài thời gian. Bệnh này hiếm thấy ở người Á Châu và Phi Châu, và thường có tỉ lệ cao đối với phụ nữ.
Triệu chứng mắc bệnh (First Symtoms of MS in 937 patients):
Cho đến nay giới y khoa vẫn chưa biết nguyên nhân của bệnh này, có vẻ như một loại virus lạ xâm nhập vào não bộ và phá hủy lớp vỏ ngoài của dây thần kinh làm mất dần thị giác.
Đầu năm 2001, Ngọc Lan trở bệnh, được đưa vào bệnh viện Vancor, và đột ngột từ trần vào 8 giờ 25 phút sáng thứ Ba ngày 6/3/2001, hưởng dương 44 tuổi. Hơn 500 khán thính giả ái mộ và nghệ sĩ thân hữu đã đến làm lễ tiễn đưa Ngọc Lan tại Thánh Đường Thánh Linh và Ngọc Lan đã được an táng tại nghĩa trang Chúa Chiên Lành, Huntington Beach vào sáng thứ Bảy 10/3/2001 trong niềm thương tiếc của mọi người. Sự ra đi đột ngột của Ngọc Lan là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam.
Tại nhà quàn để thăm viếng Ngọc Lan, mọi người thấy cô nằm đó, chung quanh là những nụ hoa hồng đỏ thắm, trên đầu là chuỗi ngọc nữ trang màu bạc, che phủ mái tóc đen trên gương mặt của một tuyệt thế giai nhân. Hôm tiễn đưa Ngọc Lan lần cuối, lúc hạ huyệt mọi người đã ném những đóa hoa như gởi đến nàng những lời tiếc thương cuối cùng trước lúc chia tay. Tôi đứng lại, bỗng chợt nhìn thấy một cây tùng phía sau mộ có hình dáng như một tàng cây ngả rạp về một phía, giống như một cơn gió mạnh vừa thổi qua – “Gone with the Wind”.
Ngồi viết những giòng này, ngoài trời đêm lấm tấm mưa. Như trời đất cũng tiếc thương cho một người tài hoa bạc mệnh đã trở về với cát bụi. Lòng tôi ngậm ngùi khi nghĩ đến cô.
“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”
Vĩnh biệt Ngọc Lan
“Một ánh sáng chói lọi đã tắt”.
Nguồn: Đặng Hùng Sơn – Trẻ Magazine 2001
From: TU PHUNG
Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử
Ngô Sách Tuân (1648-1697) là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng bậc nhất lúc bấy giờ. Bản thân gia đình Ngô Sách Tuân có cha và anh trai cùng đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều.
Ông đỗ tiến sĩ năm Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông khi 29 tuổi, làm quan thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn, từng được thăng tới chức Hữu thị lang bộ Lại. Khi trấn giữ vùng Lạng Sơn, ông đã lập công lớn trong việc dùng mưu bắt được dư đảng nhà Mạc lẩn tránh tận Trung Quốc.
Nhưng chỉ vì một sai lầm trong việc chấm bài thi mà cuộc đời cũng như danh tiếng của ông đã tiêu tan thành bọt nước. Không những phải mất mạng, Ngô Sách Tuân còn để lại một “vết đen” trong lịch sử khoa bảng nước nhà.
Các thí sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài.
Chuyện bắt đầu từ tháng 7-1694, Ngô Sách Tuân tố cáo Tham tụng Lê Hy lên triều đình về chuyện ông này lén lút đưa người con là Lê Thuyên và học trò là Tô Hinh vốn không có năng lực vào quan trường. Sự việc được tấu trình lên nhưng nhà vua xét thấy không đủ bằng cớ để kết tội Lê Hy nên đã giáng chức Ngô Sách Tuân. Hai người giữ mối hiềm khích kể từ đó.
Sau này, khi Ngô Sách Tuân giữ chức Phó chủ khảo trường thi ở Thanh Hóa thì trước khi đi ông có đến yết kiến Lê Hy.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (quyển 34) chép lại nội dung câu chuyện này như sau:
Lê Hy bèn đem hình dáng giấy đóng quyển thi của các con mình cho Sách Tuân biết.
Nhưng, sau vì thấy quyển thi của các con Lê Hy không được xếp vào hạng trúng cách Sách Tuân muốn nhân dịp này xoá mối hiềm khích với Lê Hy, bèn lấy quyển thi của con Lê Hy đưa cho các quan giám khảo, bảo họ phê lấy đỗ.
Quan Đề điệu trường thi này là Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện, có thề với Sách Tuân là sẽ giấu kín việc này nhưng quan Tham chính Thanh Hóa là Phan Tự Cường phát giác được, tâu lên.
Triều đình giao cho các quan văn võ họp bàn, khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (bắt phải thắt cổ mà chết), Ngô Hải vì không biết lòng chính trực nên bị bãi chức, các quan giám khảo và phúc khảo đều bị phạt, còn Tự Cường được thăng chức Thiêm đô ngự sử.
Chép xong chuyện này, các sử gia thời Nguyễn đã có Lời cẩn án rất sắc sảo như sau:
Lê Hy làm Tể tướng một nước, thế mà gởi gắm con mình cho viên quan giữ việc chấm thi và Sách Tuân xu nịnh với riêng bậc đại thần mà mình nhận lời kí thác, đặt trong phép nước mà xét thì tội hai người như nhau, vậy mà chỉ mình Sách Tuân bị trị còn cha con Lê Hy thì không ai xét hỏi gì đến, như thế thì còn gọi là phép nước làm sao được nữa!
Phan Tự Cường biết hạch tội Sách Tuân mà không một lời nào đả động đến Lê Hy, thế thì so với người nịnh hót Lê Hy cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu vậy. Tự Cường cũng cùng một loại với Sách Tuân mà thôi.
Có lời bình rằng:
Có mỗi một khoa thi Hương, kẻ đỗ cao nhất cũng chỉ là Cử nhân, vậy mà hỏng một cách thảm hại lại là bốn vị Tiến sĩ lừng danh: Lê Hy, Ngô Sách Tuân, Phan Tự Cường và Ngô Hải, nhục thay! Chư vị sử gia thời Nguyễn, sắc sảo thì quả là thật sắc sảo, song chừng như chư vị chỉ muốn mượn Lời cẩn án để kí thác chút tâm sự với thời cuộc đó thôi.
Tự cổ, búa rìu của phép nước vẫn giáng từ trên xuống, có đâu lại vung từ dưới lên, vung lên như thế, lỡ bay đầu Tể tướng, bay luôn đầu cả Chúa lẫn Vua, thiên hạ như gà con mất mẹ, biết nương tựa vào đâu. Vả chăng, vung lên lâu ngày quen tay thành tật, chư vị ngồi trong kinh thành, nhỡ bị họa lây thì lấy ai mà viết sử?
Kẻ hậu sinh này viết tới đây, ngẩn ngơ mà tình cờ dừng lại, ngắm mãi cái gì đen đen trong trang sử cũ, một lúc sau mới chợt nhận ra đó chính là xác Tiến sĩ Ngô Sách Tuân đang treo lủng lẳng, khô như một nét sổ của trang chữ Hán lạnh lùng. Mạo muội dịch ra quốc ngữ, lại nhìn kĩ lần nữa, thì chao ơi, cái xác treo lủng lẳng ấy bay vào trang đánh máy, chẳng khác gì cái dấu chấm than. Hóa ra, dấu chấm hết cuộc đời của Tiến sĩ Ngô Sách Tuân lại là dấu chấm than!
Tổng hợp theo bài viết “Dấu chấm hết cuộc đời Ngô Sách Tuân”
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
Đăng tại tạp chí Quê Hương Online (quehuongonline.vn)

https://www.facebook.com/100049437699386/videos/139512701039986/?t=8


Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.
07.06.2020
Tuyên ngôn thành lập “N H À N Ư Ớ C L I Ê N B A N G T R U N G H O A M Ớ I” gây chấn động đã khiến T.rung C.ộng điên cuồng ngăn chặn mọi tìm kiếm truy cập thông tin.
Chập tối ngày 03/6/2020, có ít nhất 5 chiếc máy bay, bay theo vòng tròn quanh thành phố Hudson ở bang Iowa, Hoa Kỳ, mang theo thông điệp “Chúc mừng Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới”.
Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới cũng được tuyên bố thành lập vào ngày 04/6/2020 theo giờ Bắc Kinh. Ông Hác Hải Đông (Hao Haidong) – cựu ngôi sao bóng đá người Trung Hoa đã tuyên đọc tuyên ngôn “Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới” phiên bản tiếng Trung.
Buổi lễ được phát sóng lúc 7 giờ tối theo giờ New York. Người khởi xướng và thực hiện bản tuyên bố này bao gồm: Kyle Bas – Nhà sáng lập kiêm Giám đốc đầu tư của Quỹ đầu tư Hayman Capital Management có trụ sở ở Dallas (Mỹ), Steve Bannon – chiến lược gia trưởng và cố vấn cấp cao nhất của Tổng thống Trump, và ông Quách Văn Quý – tỷ phú người Trung Hoa hiện đang sống lưu vong tại Mỹ.
Đây là buổi lễ tuyên ngôn kiến lập “Nhà nước Liên bang mới của Trung Hoa” do tỷ phú Quách Văn Quý khởi xướng. Trong buổi lễ, cựu cố vấn chiến lược Nhà Trắng Steve Bannon đọc bản tuyên ngôn bằng tiếng Anh, trong khi cựu ngôi sao bóng đá người Trung Hoa Hác Hạo Đông đọc bản tuyên ngôn bằng tiếng Trung. Hác Hạo Đông đã liệt kê hết thảy những tội ác của Trung cộng sau khi thành lập chính quyền, và tuyên bố thành lập Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới, đồng thời nói rõ cương lĩnh lập quốc.
Ông Quách Văn Quý và ông Steve Bannon đứng cạnh nhau trên thuyền, đằng sau họ là Tượng Nữ thần Tự do ở New York.
Ông Quách Văn Quý cắn rách ngón tay, dùng máu in lên bản tuyên ngôn tỏ rõ ý chí. Ông nói rằng phải lật đổ Trung cộng, xây dựng đất nước theo đường lối pháp trị và tự do để người Trung Hoa sống một cuộc sống có phẩm giá, có tôn nghiêm.
Ông Steve Bannon nói rằng Trung cộng là một tổ chức lưu manh, và nó không được phép nô dịch người Trung Hoa thêm nữa.
Ngôi sao bóng đá Hác Hải Đông, có thể nói là người mà mỗi gia đình ở Trung Hoa đại lục đều biết đến, đã liệt kê một loạt các tội ác phản nhân loại của Trung cộng như: Phớt lờ nhân quyền, hủy hoại nhân tính, chà đạp dân chủ, vi phạm pháp luật, hủy bỏ hiệp ước, tắm máu Hồng Kông, giết hại người dân Tây Tạng, xuất khẩu tham nhũng và mang lại nguy hại cho toàn cầu.
Ông nói: “Lật đổ chế độ Trung cộng là cần thiết để phá bỏ xiềng xích của người dân Trung Hoa và là điều thật sự cần thiết để mang lại hòa bình yên ổn cho thế giới. Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới không có Đảng Trung cộng là điều cần thiết cho toàn thể người dân và là điều cần thiết để gây dựng một xã hội phồn vinh hùng cường”.
Chỉ trong một ngày 4/6, lượng tìm kiếm cụm từ “Hác Hải Đông” trên WeChat đột nhiên tăng nhanh chóng mặt, lên đến 2148,3%, và lượt tìm kiếm Google cho cụm từ “Liên bang Trung Hoa mới” hơn 1,1 tỷ lần. Tài khoản Twitter “Sự thật Tài chính” cho biết, số lượt tìm kiếm cụm từ “Hác Hải Đông” trên WeChat vào ngày 4/6 cao gấp 9,87 triệu lần. So với dữ liệu 430.000 vào ngày 3/6, nó đã tăng 2195,34% chỉ trong một ngày.
Trung cộng đang khẩn trương thực hiện các biện pháp phong tỏa thông tin về Hác Hải Đông và Diệp Chiêu Dĩnh, WeChat và Weibo của cặp đôi này đều bị chặn, tin tức của Sina Sports về Hác Hải Đông hiện đã bị đóng chức năng bình luận. Khu vực bình luận tài khoản Weibo con trai Hác Nhuận Trạch cũng bị chặn sau khi xuất hiện một số lượng lớn các cụ từ như ”Thái tử điện hạ” và “Thái tử Liên Bang”…
Hiện tại ở Trung Hoa Đại Lục, “Hác Hải Đông” đã trở thành những từ nhạy cảm, truyền thông chính phủ thậm chí không dám nhắc đến tên đầy đủ, mà phải thay thế bằng chữ “H” đầu tiên của họ Hác để lên án và chỉ trích ông.
_____
Nguồn :
1- ĐKN : Link bị chặn cả trong comment. Xem hình bên dưới ạ.
2 – Trí Thức Việt Nam : Link đã chia sẻ dưới comment vì nếu không sẽ bị chặn đăng bài luôn.
3- https://twitter.com/caijingxiang/status/1268761324672020481…
Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê
Năm 1975 đa số cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không còn giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.
Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.
Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.
Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất hai năm trước.
Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Ða số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.
Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.
Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Ðể cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh. Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.
Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định giá 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!
Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không đủ cho dân sống, dân phải xoay sở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa có một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.
Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Ðồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.
Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.
Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)