MỘT CÂU CHUYỆN NHÂN VĂN

MỘT CÂU CHUYỆN NHÂN VĂN .
NÊN ĐỌC DÙ ĐÃ HAY CHƯA KẾT HÔN – DÙ ĐANG TUỔI TRẺ HAY ĐÃ ĐANG VỀ CÙNG GIÓ HEO MAY…
Khi tôi về đến nhà, vợ tôi đang dọn bữa tối. Tôi nắm lấy tay em và nói rằng, có chuyện này phải nói với cô ấy. Em ngồi xuống, không nói gì chỉ lặng lẽ ăn. Tôi nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt kia, dường như em cũng biết tôi định nói gì.
Quả thực lúc này tôi không biết phải mở miệng thế nào. Phải rất lâu tôi mới thốt lên được, tôi muốn ly hôn. Không quá ngạc nhiên, em chỉ hỏi nhỏ: “Tại sao?”.
Tôi tránh câu hỏi ấy, điều này đã làm em giận dữ. Em ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi: “Anh không xứng là đàn ông!”.
Đêm đó, chúng tôi đã không nói chuyện với nhau. Em muốn biết điều gì đang thực sự xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng thật khó để đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Chẳng lẽ phải nói thẳng rằng trái tim tôi đã thuộc về người con gái khác và rằng tôi không yêu em nữa, tôi chỉ thương hại em mà thôi.
Tôi biết mình là người có lỗi nên trong đơn ly hôn, tôi viết rõ em sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi cùng 30% cổ phần của công ty tôi. Em liếc nhìn và sau đó xé nó ra từng mảnh. Người phụ nữ đã gắn bó với tôi hơn 10 năm qua đột nhiên trở thành một người xa lạ. Cuối cùng, em cũng òa khóc, trái tim tôi cũng dằn vặt ghê gớm nhưng thực sự tôi yêu Jane – cô người tình bé bỏng của tôi rất nhiều.
Ngày hôm sau, tôi trở về nhà rất muộn và thấy em đang viết gì đó. Dù vẫn chưa ăn tối nhưng tôi không cảm thấy đói và đi thẳng vào phòng ngủ sau một ngày mệt mỏi đưa Jane đi chơi. Nửa đêm, có đôi khi tôi tỉnh dậy, vẫn thấy em ngồi ở bàn viết nhưng bây giờ với tôi, đó đâu phải là điều đáng quan tâm.
Sáng hôm sau, trong sự ngỡ ngàng của tôi, em đưa ra điều kiện ly hôn. Em không cần bất cứ thứ gì từ tôi, chỉ cần cần thông báo một tháng trước khi ly hôn và rằng, trong một tháng ấy, cả hai chúng tôi phải coi như không có chuyện gì xảy ra. Lý do rất đơn giản, con trai của chúng tôi sẽ có một kỳ thi quan trọng trong tháng tới và em không muốn con bị phân tâm bởi quyết định ly hôn của bố mẹ nó.
Ngoài ra, cũng trong một tháng ấy, em yêu cầu tôi nhớ lại cách tôi đã bế em vào phòng tân hôn trong ngày cưới của chúng tôi, rồi mỗi sáng lại bế em ra cửa phòng. Em đã khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, có lẽ cú sốc lớn này khiến đầu óc em không còn tỉnh táo. Tuy nhiên, với những gì tôi gây ra cho em, điều này không hề khó và tất nhiên tôi đồng ý với những yêu cầu kỳ quặc ấy.
Kể từ khi tôi có ý định ly hôn, giữa chúng tôi đã không còn sự đụng chạm thể xác. Vì vậy ngày đầu tiên khi tôi thực hiện điều kiện của em, cả 2 chúng tôi đều rất ngượng ngùng. Con trai chạy theo hò reo thích thú làm cho tôi bỗng nhiên có chút gì đó đau đớn. Tôi bế em từ phòng ngủ ra phòng khách, đặt xuống cửa và em ra ngoài đợi xe buýt, còn tôi lái xe đến văn phòng. Thế là kết thúc ngày thứ nhất.
Vào ngày thứ hai, cả hai chúng tôi đã hành động tự nhiên hơn. Em dựa vào ngực tôi, tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của em. Chợt nhận ra rằng, đã lâu tôi không còn thói quen nhìn ngắm người phụ nữ này. Có vẻ như em đã không còn trẻ nữa, những nếp nhăn trên khuôn mặt xuất hiện, mái tóc cũng đã xơ xác hơn xưa. Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã lấy đi tuổi trẻ của em. Bỗng nhiên trong đầu tôi lóe lên câu hỏi: Tôi đã làm gì với em thế này?
Sang ngày thứ ba rồi ngày thứ tư, khi nhấc bổng em lên, tôi nhận thấy một cảm giác rất đỗi quen thuộc. Đây chính là người phụ nữ đã đi cùng tôi suốt 10 năm qua.
Vào ngày thứ năm và thứ sáu, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng, sự thân thiết tưởng chừng ngủ quên từ lâu nay bỗng nhiên trở lại. Tôi đã không nói với Jane về điều này.
Cho đến một ngày, tôi thấy em thở dài vì mọi trang phục thường ngày dường như rộng hơn. Tôi giật mình thấy em đã gầy đi rất nhiều. Có lẽ em đã phải giấu kín rất nhiều đau đớn và cay đắng trong tim. “Bố à, đến giờ bế mẹ ra rồi kìa”, lời nói của con trai khiến tôi bừng tỉnh. Đối với nó, hình ảnh này đã trở thành một phần thiết yếu hàng ngày. Tôi ôm em trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách rồi hành lang, tay em vòng qua cổ tôi nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm em thật chặt, giống như nhiều năm về trước, trong ngày cưới của chúng tôi.
Vào ngày cuối cùng, nhìn em trong vòng tay của mình, tôi khó có thể cất bước. Con trai chúng tôi đã đến trường. Tôi lái xe đi, nhảy ra khỏi xe thật nhanh quên cả đóng cửa. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào đều sẽ làm thay đổi tâm trí vì tôi đã có quyết định của mình…
Tôi bước lên thềm, Jane ra mở cửa với nụ cười tươi rói nhưng tắt ngay sau đó khi tôi đã nói với cô ấy: “Xin lỗi em, Jane, anh không muốn ly hôn nữa”.
Jane nhìn tôi, đầy vẻ ngạc nhiên và sau đó, sờ trán tôi hỏi: “Anh có bị sốt không?”. Tôi gỡ tay cô ấy ra: “Xin lỗi, Jane, anh sẽ không ly dị. Anh nhận ra cuộc hôn nhân của anh trở nên nhàm chán có lẽ vì cô ấy và anh không đánh giá cao những chi tiết tưởng chừng vụn vặt trong cuộc sống hôn nhân chứ không phải vì không còn tình yêu. Bây giờ anh nhận ra rằng, anh đã đưa cô ấy bước vào cuộc đời anh thì có chết cũng phải chết cạnh anh”. Jane há hốc miệng khi nghe tôi nói và đột nhiên cô ấy cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và bật khóc.
Tôi xuống cầu thang và lái xe đi, trong lòng nhẹ bẫng. Đi qua tiệm hoa bên đường, tôi mua một bó thật đẹp về tặng vợ. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết gì trên bưu thiếp, tôi mỉm cười và viết :”Anh sẽ bế em ra, vào mỗi buổi sáng, cho đến khi cái chết chia lìa”.
Tối hôm đó về đến nhà, với bó hoa trên tay và một nụ cười rạng rỡ đã rất lâu rồi bị quên lãng, tôi chạy lên cầu thang, mở cửa phòng và nhìn thấy em đang nằm đó. Tôi biết được sự thật khi đã quá muộn… thì ra, vợ tôi đã một mình chiến đấu với căn bệnh ung thư trong nhiều tháng qua, trong khi tôi quá bận rộn với Jane.
Em biết cuộc sống của mình không còn kéo dài bao lâu và cho đến ngày đó, ít nhất em muốn trong con mắt của con trai mình, tôi là một người cha tuyệt vời, một người chồng đầy lòng yêu thương.
ST.
@ Ngoc Han Thuyen
Tranh của họa sĩ Andrei Belichenko
Dây điện rơi chết người, chính quyền và ngành điện nói không có trách nhiệm
Dây điện rơi chết người, chính quyền và ngành điện nói không có trách nhiệm
TTO – Sau cái chết tức tưởi của 2 thanh niên khi bị dây điện mắc ngang đường rơi trúng người vào chiều 9-6 ở Phú Yên, nhiều người dân cảm thấy bất an khi đi dưới những dây điện người dân tự mắc.
Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng





Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng
Le Dinh
Posted on 27.09.2012
Nếu tôi có làm anh buồn, giận anh muốn chửi tôi là đồ ma-cô, đĩ điếm, quân chó đẻ, … hay những gì bỉ ổi xấu xa nhất cũng được, nhưng xin đừng bảo tôi mầy là thằng: Việt cộng.
Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng, … nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.
Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chửi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.
Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:
– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.
– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?
– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.
– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.
– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.
Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.
Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:
“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”
Hay hùng dũng, như:
“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”
Hoặc:
“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”
Và còn nữa:
“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”
Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:
“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”
Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương, … Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là … ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.
Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu, … Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.
Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình.
Tại sao và tại sao?
Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?
Nhưng tôi nghĩ: Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa.
Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ, … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác, …
Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ … 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng … 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.
Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng … thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do … con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiếng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu, … lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.
— Lê Dinh
https://saohomsaomai.wordpress.com/…/xin-dung-goi-toi-la-v…/
========
Vietnam 1970-71 by Inspector T. Xe đò trúng mìn. Thành tích của mấy ông ve chai.
Một chiếc cam-nhông (camion) bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc. 1968. A civilian truck that hit a mine as our convoy was passing. Photo and caption by Gary Grace.
Thành tích vẻ vang của quý ông ve chai. Xe đò đụng mìn trên Quốc lộ 14 năm 1969. Photo by Michael T. Cunningham.
Hình chụp tháng Bảy 1969 tại Vĩnh Bình. Một chiếc xe đò bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc.
Xe Lam đụng mìn Việt Cộng trên QL-1. This is a Lambretta that didn’t wait for us to complete a mine sweep of Ql-1. B Co 8th Engineer Bn 1st Cavalry. Photo and caption by Les White.
India Times: Các lãnh đạo ĐCSTQ cần phải bị buộc tội chống lại loài người
India Times: Các lãnh đạo ĐCSTQ cần phải bị buộc tội chống lại loài người
Thay cho hàng tỷ người dân thế giới đang bị tổn thương khi tôi viết bài này, tôi nguyện cầu rằng chế độ ĐCSTQ tà ác sẽ sụp đổ.
Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!
Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!
Gần đây xuất hiện một số đề nghị liên quan cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự cho bộ máy đảng, chính phủ và cả quốc hội Việt Nam. Những đề xuất như thế có giúp cải thiện bộ máy điều hành đất nước Việt Nam hiện nay hay khô…
LƯƠNG THỰC THẦN LINH
LƯƠNG THỰC THẦN LINH
Là người Việt Nam, hầu như ai cũng biết, hoặc được nghe kể lại về nạn đói năm Ất Dậu 1945. Đây là một vết thương lớn không phai trong lòng người dân Việt. Một khi cơn đói cồn cào, họ tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể ăn được dù đó là những củ chuối ngoài đồng, hay các lá non của cây cỏ, thậm chí ngay cả đến những con rắn mối, thằn lằn họ cũng bắt và cho vào miệng ăn không chút đắn đo. Nhưng cuối cùng những con người xấu số ấy cũng bị tử thần cướp đi vì đói.
Ngày nay, chuyện chết đói nào đâu đã hết, các nước nghèo trên thế giới vẫn còn thảm cảnh này xẩy ra. Chúng ta hãy xét đến sự tương trợ nhau phát sinh từ tình yêu nhân loại. Tuy cũng có viện trợ và giúp đỡ nhưng vẫn chưa bù đủ vào con số đói nghèo trên thế giới.
Trong lãnh vực niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa, hôm nay lễ Mình và Máu Thánh Chúa. Đây chính là lương thực thần linh nuôi sống linh hồn tín hữu chúng ta. Trong tiếng La Tinh “Corpus Christi” nghĩa là “Thân Thể Chúa Kitô.” Chúng ta cùng nhau tìm hiểu tình yêu trao ban của Ngài đối với nhân loại chúng ta.
- Bánh nuôi nhân loại:
Trong bài đọc một, sách Đệ nhị luật đã trình thuật việc dân Do Thái được Thiên Chúa Giavê bảo vệ và dẫn đưa ra khỏi đất Ai Cập, thoát khỏi hoang địa và nọc rắn độc. Thiên Chúa đã khiến nước từ tảng đá vọt chảy ra và cho Manna nuôi dân sống để tiến về đất hứa. Còn trong Tin Mừng chúng ta cũng thấy những phép lạ được nhân lên qua bánh và cá. Với năm chiếc bánh và hai con cá đã trở thành lương thực nuôi được 5000 người, sau đó thu lại còn dư những 12 thúng vụn. Riêng bài Phúc Âm hôm nay Chúa không còn dùng hình bóng hay úp mở gì nữa mà Người đã xác định với dân của Ngài: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời, và bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống.”
Quá hiển nhiên và rõ ràng. Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài đã trở nên lương thực cho linh hồn ta ăn. Con Chiên vượt qua lại càng rõ và tiêu biểu hơn. Hình ảnh này được yêu chuộng đến độ chính Chúa Giêsu cũng được xưng tụng là: “Chiên Thiên Chúa.”
Đọc Tin mừng, cả ba tác giả của Phúc Âm nhất lãm đều đề cập đến bữa tiệc ly. Chính trong bữa ăn tối này Bí tích Thánh Thể được thiết lập, và một lễ vượt qua cũ được chuyển đổi sang lễ vượt qua mới. Biến cố làm nên nhiệm tích Thánh Thể chính là cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Qua tình yêu này chúng ta thấy Thánh Thể ban cho chúng ta ví như một tuyệt tác và tặng ân của Ba Ngôi Thiên Chúa, toàn thể Ba ngôi đều cộng tác vào việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể: Ngôi Con tự hiến, Ngôi Cha đón nhận hiến lễ, và nhờ Ngôi Thánh Thần Ngôi Con hiến tế cho Ngôi Cha.
- Thông hiệp với Mình và Máu Chúa Kitô.
Theo tự nhiên, khi chúng ta ăn thực phẩm, dạ dày sẽ bóp, nghiền và biến thành chất bổ để châu lưu nuôi sống con người. Khi chúng ta rước lễ, chúng ta cũng được thông hiệp với mình và máu Chúa Kitô. Thánh Phao lô đã viết: “Chén chúc tụng Ta cầm lên tạ ơn không phải là thông phần Máu Chúa Kitô sao? Và bánh Ta bẻ ra không phải là thông phần Mình Chúa Kitô sao?” (1 Cr. 10,16). Mỗi lần hiệp lễ linh hồn và con tim chúng ta trở nên cung điện của Chúa Ba Ngôi cực thánh, và khi Thiên Chúa đến, thì toàn thể thiên đàng cũng hộ giá và đến với chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa chiếm trọn tâm hồn và chúng ta bước vào sự thông hiệp nhiệm mầu, xác thực, sâu xa với cả Ba Ngôi.
Hơn nữa, chúng ta cũng có thể thấy rõ rằng: khi hiệp lễ, chúng ta mở cửa tâm hồn ra đón nhận Chúa Giêsu ngự vào. Ngài là vị thượng khách của linh hồn ta. Chúng ta cũng nhận ra khi thân xác đói khát sẽ trở nên thờ thẫn và yếu đuối, nhưng khi đã no nê thì trở nên nhanh nhẹn và tỉnh táo. Linh hồn một khi được no thỏa bởi Mình và Máu Thánh Chúa cũng vậy. Khi ấy, căn nhà tăm tối sẽ trở nên sáng láng, căn phòng lạnh lẽo sẽ trở nên ấm áp. Sự đói khát tình yêu sẽ bù đắp vào thay thế một hạnh phúc đầy tràn dư dật. Lúc ấy, hết thảy những ai lãnh nhận từ tình yêu cách chân thật, thì họ cũng ban phát tình yêu ấy một cách tràn đầy. Thánh Thể Chúa là lò sưởi ân tình. Chúa phán: “Hết thảy những ai đến với Ta, họ sẽ không còn đói khát.” Sở dĩ Chúa xác định cách cụ thể như vậy vì chính lúc đó họ đã hoà nhập với Đấng Toàn Yêu của họ, và cũng từ nơi ấy, họ học được Tình Yêu từ Thầy Chí Thánh của họ: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”
- Cảm nhận của Tình Yêu:
Trong lời nói chậm rãi và trịnh trọng, tựa như một di chúc vọng ra sự truyền khiến, căn dặn tràn ngập ân tình: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta.” Chúng ta có nhận ra đây là một kho tàng, gia tài vô giá mà Thiên Chúa đã để lại qua “Di chúc” của Ngài. Thử hỏi xem có người con hiếu thảo nào lại không thi hành di chúc của cha mẹ? Xét về lãnh vực thiêng liêng đây là kho báu Đức Giêsu Kitô để lại cho nhân loại. Kho tàng tình yêu không bao giờ tàn phai hay hủy hoại. Kho tàng Thánh Thể Chúa Kitô. Cảm nhận tình yêu của Chúa đối với chúng ta, thì chúng ta cũng có sự đáp lại ân tình ấy. Thánh Thể Chúa đợi mong ta từng giây phút, ao ước ta no thoả Ngài trong mọi phút giây. Ngài là Tình Yêu, mà đặc tính của tình yêu là trao tặng, cho đi. Đáp trả ân tình, chúng ta hãy đến với Thánh Thể bằng sự chiêm niệm với tâm tình người con hiếu thảo. Thánh Thể và Chiêm niệm là hai con đường dẫn linh hồn người tín hữu đến tận hưởng Thiên Chúa, làm cho linh hồn kết hợp mật thiết với Chúa cách hạnh phúc và no thoả. Tuy nhiên Thánh Thể mang tính khách thể, còn Chiêm niệm thiên về niệm hướng. Tuy có phần khác biệt hay độc lập nhau chút ít thế nhưng cốt lõi vẫn là một trao đổi tình yêu. Bảo rằng tôi kính thờ Thánh Thể nhưng không bao giờ hướng lòng chiêm ngưỡng thì sao gọi được là đầy tràn tình yêu? Thủy triều càng dâng cao thì những vẩn đục của giòng sông sẽ loãng lỏng dần rồi trở nên trong sạch hoàn toàn. Do đó tính phủ bọc và tha thứ của Thánh Thể tình yêu cũng luôn biến đổi chúng ta như thế. Miễn là chúng ta biết đáp trả lại tiếng gọi “Ta khát” liên tục phát ra trong nhà tạm hằng giây, hằng phút. Tiếc thay! Ngày nay cũng như ngày xưa, sự thờ ơ, lãnh đạm của tâm dạ con người thường hay đổi thay như chong chóng. Vào thời Chúa Giêsu, dân chúng cũng đã tung hô Ngài, nhưng sau đó lại hô to tiếng: “Đóng đinh nó vào thập giá.” Thì ngày nay trong các nhà tạm trên thế giới, Chúa Giêsu Thánh Thể cũng vẫn luôn cô đơn và chờ đợi. Phải, Ngài chẳng cô đơn sao được khi chính những con cái Ngài thương yêu hết mực lại quay đầu chống lại Chúa. Một Giuđa đã chứng minh cho nhân loại nhận ra sự bội phản không một chút thể hiện sám hối. Hơn nữa, những linh hồn sống trong tội lỗi vẫn chưa trở lại giao hòa với Chúa, họ tiếp tục sống trong tình trạng chết phần linh hồn. Những thái độ này là nguyên nhân làm cho Thánh Thể Chúa tiếp tục “khát.” Vậy hỡi nhân loại! Hãy mau thay đổi và hoán cải, và tức tốc an ủi Chúa đang ngày đêm cô đơn, giam cầm trong nhà tạm vì thiếu sự đáp trả tình yêu của loài người.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con ao ước và quyết tâm sống kết hợp mật thiết với Chúa, con luôn cố sống trong sạch để linh hồn con trở thành nhà tạm và đền thờ chứa Chúa Thánh Thể. Con tin Thánh Thể Chúa chính là Con Đức Chúa Cha xuống thế làm người đã giáng sinh ở Belem vào đêm đông giá lạnh. Con tin Tấm Bánh thần linh ngự trong các nhà tạm thánh chính là Đấng đã chết treo trên thập giá trên đồi Golgotha để qua cái chết, Chúa hủy diệt tội lỗi. Con vững tin hơn cả qua sự phục sinh của Chúa để hủy diệt sự chết. Tất cả là tình yêu, tất cả vì sự cứu độ trần gian.
Lạy Mẹ Maria, bằng tiếng Xin Vâng, Cung lòng Mẹ đã trở nên nhà tạm để Chúa Giêsu cư ngụ. Xin Mẹ cầu cho chúng con luôn biết trang điểm nhà tạm linh hồn mình bằng những quà tặng của đức bác ái để xứng đáng cho Chúa Giêsu con của Mẹ mãi mãi hiện diện trong tâm hồn con.
Br. Nguyễn Kim Thanh
From: Langthangchieutim
Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ
Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ
Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.
Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.
Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.
Người Minh Hương cầm quân chống Pháp
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.
Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.
Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.
Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.
Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:
“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.
Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).Theo Con đường Thiên lý
From: TU-PHUNG
Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

LONG AN, Việt Nam (NV) – Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan, từ công an đến điều tra viên, luật sư, nhân chứng.
Mới đây, hôm 10 Tháng Sáu, ông Trần Thanh Lâm, 38 tuổi, phó công an xã Nhị Thành, đột ngột tử vong trong lúc đang trực đêm tại trụ sở.
Theo báo Long An, buổi sáng cùng ngày, ông Lâm “đi tuần tra với các công an viên ở xã và có than đau đầu.” “Khi đang nằm võng xem TV thì các dân phòng nhìn thấy ông Lâm gồng người lên mấy lần, giống như bị khó thở. Mọi người lại kiểm tra thì phát hiện ông Lâm bất tỉnh và tím tái nên đưa đi cấp cứu nhưng ông đã tử vong. Suy đoán ban đầu là ông Lâm bị suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong đột ngột,” báo Long An tường thuật.
Báo Long An cũng cho hay gia đình ông Lâm thuộc diện khó khăn, hai con ông còn nhỏ. Hiện nhà chức trách đã giảo nghiệm tử thi và “đang điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân cái chết của ông Lâm.”
Liên quan vụ này, bản tin trên báo VOV của Đài Tiếng Nói Việt Nam tiết lộ: “Một đồng nghiệp trực chung ca cho biết, sau khi vào ngủ tầm 15 phút thì mọi người nghe có tiếng động mạnh tại giường ông Lâm nằm. Các đồng nghiệp chạy vào bật đèn thì thấy ông còn thở nhưng rất yếu và lịm đi sau vài phút. Sức khỏe của ông Lâm ngày thường rất tốt, hay đi tuần tra đêm cùng đồng nghiệp và về sinh hoạt bình thường.”
Xã Nhị Thành là nơi đặt bưu điện Cầu Voi, nơi xảy ra vụ án Hồ Duy Hải vào đêm 13 Tháng Giêng, 2008.
Facebooker Hoàng Dũng cho hay trên trang cá nhân rằng ông Trần Thanh Lâm vào ngành công an năm 2007. Ngày 21 Tháng Ba, 2008, ông Lâm thời điểm đó là công an viên, được ghi nhận “phát hiện ra đống than nằm giữa lối đi từ nhà bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải, sang nhà người dì của anh Hải.”
Liên quan tình tiết này, một số báo nhà nước dẫn cáo trạng nói anh Hải “khai nhận đống than là do đốt quần áo phi tang sau khi giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi.”
Cổng vào xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. (Hình: longan.gov.vn)
Hôm 23 Tháng Năm, nhà báo Trương Châu Hữu Danh, phóng viên trang Báo Sạch, tiết lộ trên trang cá nhân rằng ông Nguyễn Thanh Long, nhân chứng cuối cùng nhìn thấy một trong hai nạn nhân ở bưu điện Cầu Voi, người ký bút lục 262, đã qua đời hồi năm ngoái ở tuổi 47.
Trước đó, hồi Tháng Mười Hai, 2019, Luật Sư Trần Hồng Phong, người trợ giúp pháp lý cho anh Hồ Duy Hải tại phiên xử “giám đốc thẩm,” kể trên trang cá nhân về hiện tượng “kỳ lạ” – bốn người tham gia trong vụ án Hồ Duy Hải đều bị đột tử. Đó là Huỳnh Văn Minh (công an viên xã Nhị Thành, đột tử trong lúc đang trực đêm vào năm 2009), Nguyễn Thanh Hải (công an viên chết năm 2010 vì tai nạn giao thông), Phạm Văn Tiến (phó ban chuyên án, trưởng phòng Cảnh Sát Điều Tra, người phát ngôn với báo chí về vụ Hồ Duy Hải, đột tử tại trụ sở cơ quan vào năm 2012) và ông Trần Ngọc Lẫm (kiểm sát viên cao cấp thuộc Viện Kiểm Sát Tối Cao tại Sài Gòn, người giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xử Hồ Duy Hải, đột tử năm 2013 tại tư gia).
Ngoài ra còn một cái chết khác là Luật Sư Võ Thành Quyết, người từ công an chuyển sang làm luật sư và được chỉ định bào chữa cho anh Hải. Tờ Lao Động hồi Tháng Năm cho biết ông Quyết đã qua đời, “nhưng những gì còn lưu lại cho thấy ông đã không cố ‘cãi’ cho Hồ Duy Hải vô tội.”
Diễn biến mới nhất của vụ Hồ Duy Hải trên báo đảng là hôm 31 Tháng Năm, Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội thông báo đã tiếp nhận đơn cầu cứu mới nhất của bà Nguyễn Thị Loan. (N.H.K) [qd]
NGUOI-VIET.COM
Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải
Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan.
Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt
Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.
Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang vào tối ngày 12 tháng 6 xác nhận tin vừa nêu với Đài Á Châu Tự Do:
“Người nhà báo, Lê Hữu Minh Tuấn bị triệu tập làm việc rồi bị bắt đưa về Trại giam Chí Hòa. Đã có lệnh bắt.Tuấn là một người ôn hòa, kín tiếng và không phải là một nhà bất đồng chính kiến.”
Theo nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang thì anh Lê Hữu Minh Tuấn, 30 tuổi, thường được gọi là Lê Tuấn, ghi danh tham gia Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam từ năm 2015.
Anh Lê Hữu Minh Tuấn đã tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Lịch sử tại Đại học Đà Nẵng. Hiện anh đang học thêm tại Đại học Luật Hà Nội.
Trong thời gian qua, sau khi chủ tịch Hội Nhà Báo Độc lập Việt Nam Phạm Chí Dũng bị bắt, anh Lê Hữu Minh Tuấn thường xuyên bị cơ quan an ninh mời, triệu tập làm việc.
Chủ tịch Hội Nhà báo Độc Lập Phạm Chí Dũng bị bắt vào ngày 21 tháng 11 năm ngoái và vào ngày 23 tháng 5 vừa qua, phó chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Nguyễn Tường Thụy cũng bị bắt đưa từ Hà Nội vào giam tại Chí Hòa.
Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt
Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.
Thứ chính trị bỉ ổi
Hoang Le Thanh
Nhà báo Hoa Kim Ngo
Một kẻ nghiện người da đen và bị bắt vì tiêu tiền giả. Cứ cho là cảnh sát cố tình đè cổ đến chết vì kỳ thị màu da, để sau đó làm phẫn nộ người dân dẫn đến biểu tình đòi không kỳ thị người da màu.
Nhưng những kẻ lợi dụng cái chết này làm chính trị tôn y lên làm anh hùng thì là một thứ chính trị bỉ ổi.
Cũng giống những kẻ lợi dụng để đánh bóng tên tuổi khi đi biểu tình, những kẻ cướp phá được những kẻ bệnh vực đánh đồng là tự do biểu thị ý kiến.
Tởm nhất là chính những kẻ thổi phồng, lợi dụng và đánh đồng những người tử tế với những kẻ cơ hội. Đó chính là bọn đạo đức giả và vô lương. Chính quyền vào tay bọn này thì những giá trị đích thực đạo đức và quyền con người bị bọn này làm cho đảo lộn.
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2935849699975145&id=100006504312070



VNTB – Đã không biết sao lại bắt dân chúng chờ cả trăm năm?
Minh Phuong Nguyen and 3 others shared a link.
Mỹ Thuận (VNTB) – “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao lâu, có mấy chặng đường cần tiếp tục làm rõ” là tựa bài viết trên tờ Thanh Niên điện tử, số phát hành ngày 10-6-2020. Bài báo có đoạn tường thuật: “Có lần nào Tổng bí thư …









