Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!
Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!
Gần đây xuất hiện một số đề nghị liên quan cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự cho bộ máy đảng, chính phủ và cả quốc hội Việt Nam. Những đề xuất như thế có giúp cải thiện bộ máy điều hành đất nước Việt Nam hiện nay hay khô…
LƯƠNG THỰC THẦN LINH
LƯƠNG THỰC THẦN LINH
Là người Việt Nam, hầu như ai cũng biết, hoặc được nghe kể lại về nạn đói năm Ất Dậu 1945. Đây là một vết thương lớn không phai trong lòng người dân Việt. Một khi cơn đói cồn cào, họ tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể ăn được dù đó là những củ chuối ngoài đồng, hay các lá non của cây cỏ, thậm chí ngay cả đến những con rắn mối, thằn lằn họ cũng bắt và cho vào miệng ăn không chút đắn đo. Nhưng cuối cùng những con người xấu số ấy cũng bị tử thần cướp đi vì đói.
Ngày nay, chuyện chết đói nào đâu đã hết, các nước nghèo trên thế giới vẫn còn thảm cảnh này xẩy ra. Chúng ta hãy xét đến sự tương trợ nhau phát sinh từ tình yêu nhân loại. Tuy cũng có viện trợ và giúp đỡ nhưng vẫn chưa bù đủ vào con số đói nghèo trên thế giới.
Trong lãnh vực niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa, hôm nay lễ Mình và Máu Thánh Chúa. Đây chính là lương thực thần linh nuôi sống linh hồn tín hữu chúng ta. Trong tiếng La Tinh “Corpus Christi” nghĩa là “Thân Thể Chúa Kitô.” Chúng ta cùng nhau tìm hiểu tình yêu trao ban của Ngài đối với nhân loại chúng ta.
- Bánh nuôi nhân loại:
Trong bài đọc một, sách Đệ nhị luật đã trình thuật việc dân Do Thái được Thiên Chúa Giavê bảo vệ và dẫn đưa ra khỏi đất Ai Cập, thoát khỏi hoang địa và nọc rắn độc. Thiên Chúa đã khiến nước từ tảng đá vọt chảy ra và cho Manna nuôi dân sống để tiến về đất hứa. Còn trong Tin Mừng chúng ta cũng thấy những phép lạ được nhân lên qua bánh và cá. Với năm chiếc bánh và hai con cá đã trở thành lương thực nuôi được 5000 người, sau đó thu lại còn dư những 12 thúng vụn. Riêng bài Phúc Âm hôm nay Chúa không còn dùng hình bóng hay úp mở gì nữa mà Người đã xác định với dân của Ngài: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời, và bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống.”
Quá hiển nhiên và rõ ràng. Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài đã trở nên lương thực cho linh hồn ta ăn. Con Chiên vượt qua lại càng rõ và tiêu biểu hơn. Hình ảnh này được yêu chuộng đến độ chính Chúa Giêsu cũng được xưng tụng là: “Chiên Thiên Chúa.”
Đọc Tin mừng, cả ba tác giả của Phúc Âm nhất lãm đều đề cập đến bữa tiệc ly. Chính trong bữa ăn tối này Bí tích Thánh Thể được thiết lập, và một lễ vượt qua cũ được chuyển đổi sang lễ vượt qua mới. Biến cố làm nên nhiệm tích Thánh Thể chính là cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Qua tình yêu này chúng ta thấy Thánh Thể ban cho chúng ta ví như một tuyệt tác và tặng ân của Ba Ngôi Thiên Chúa, toàn thể Ba ngôi đều cộng tác vào việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể: Ngôi Con tự hiến, Ngôi Cha đón nhận hiến lễ, và nhờ Ngôi Thánh Thần Ngôi Con hiến tế cho Ngôi Cha.
- Thông hiệp với Mình và Máu Chúa Kitô.
Theo tự nhiên, khi chúng ta ăn thực phẩm, dạ dày sẽ bóp, nghiền và biến thành chất bổ để châu lưu nuôi sống con người. Khi chúng ta rước lễ, chúng ta cũng được thông hiệp với mình và máu Chúa Kitô. Thánh Phao lô đã viết: “Chén chúc tụng Ta cầm lên tạ ơn không phải là thông phần Máu Chúa Kitô sao? Và bánh Ta bẻ ra không phải là thông phần Mình Chúa Kitô sao?” (1 Cr. 10,16). Mỗi lần hiệp lễ linh hồn và con tim chúng ta trở nên cung điện của Chúa Ba Ngôi cực thánh, và khi Thiên Chúa đến, thì toàn thể thiên đàng cũng hộ giá và đến với chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa chiếm trọn tâm hồn và chúng ta bước vào sự thông hiệp nhiệm mầu, xác thực, sâu xa với cả Ba Ngôi.
Hơn nữa, chúng ta cũng có thể thấy rõ rằng: khi hiệp lễ, chúng ta mở cửa tâm hồn ra đón nhận Chúa Giêsu ngự vào. Ngài là vị thượng khách của linh hồn ta. Chúng ta cũng nhận ra khi thân xác đói khát sẽ trở nên thờ thẫn và yếu đuối, nhưng khi đã no nê thì trở nên nhanh nhẹn và tỉnh táo. Linh hồn một khi được no thỏa bởi Mình và Máu Thánh Chúa cũng vậy. Khi ấy, căn nhà tăm tối sẽ trở nên sáng láng, căn phòng lạnh lẽo sẽ trở nên ấm áp. Sự đói khát tình yêu sẽ bù đắp vào thay thế một hạnh phúc đầy tràn dư dật. Lúc ấy, hết thảy những ai lãnh nhận từ tình yêu cách chân thật, thì họ cũng ban phát tình yêu ấy một cách tràn đầy. Thánh Thể Chúa là lò sưởi ân tình. Chúa phán: “Hết thảy những ai đến với Ta, họ sẽ không còn đói khát.” Sở dĩ Chúa xác định cách cụ thể như vậy vì chính lúc đó họ đã hoà nhập với Đấng Toàn Yêu của họ, và cũng từ nơi ấy, họ học được Tình Yêu từ Thầy Chí Thánh của họ: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”
- Cảm nhận của Tình Yêu:
Trong lời nói chậm rãi và trịnh trọng, tựa như một di chúc vọng ra sự truyền khiến, căn dặn tràn ngập ân tình: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta.” Chúng ta có nhận ra đây là một kho tàng, gia tài vô giá mà Thiên Chúa đã để lại qua “Di chúc” của Ngài. Thử hỏi xem có người con hiếu thảo nào lại không thi hành di chúc của cha mẹ? Xét về lãnh vực thiêng liêng đây là kho báu Đức Giêsu Kitô để lại cho nhân loại. Kho tàng tình yêu không bao giờ tàn phai hay hủy hoại. Kho tàng Thánh Thể Chúa Kitô. Cảm nhận tình yêu của Chúa đối với chúng ta, thì chúng ta cũng có sự đáp lại ân tình ấy. Thánh Thể Chúa đợi mong ta từng giây phút, ao ước ta no thoả Ngài trong mọi phút giây. Ngài là Tình Yêu, mà đặc tính của tình yêu là trao tặng, cho đi. Đáp trả ân tình, chúng ta hãy đến với Thánh Thể bằng sự chiêm niệm với tâm tình người con hiếu thảo. Thánh Thể và Chiêm niệm là hai con đường dẫn linh hồn người tín hữu đến tận hưởng Thiên Chúa, làm cho linh hồn kết hợp mật thiết với Chúa cách hạnh phúc và no thoả. Tuy nhiên Thánh Thể mang tính khách thể, còn Chiêm niệm thiên về niệm hướng. Tuy có phần khác biệt hay độc lập nhau chút ít thế nhưng cốt lõi vẫn là một trao đổi tình yêu. Bảo rằng tôi kính thờ Thánh Thể nhưng không bao giờ hướng lòng chiêm ngưỡng thì sao gọi được là đầy tràn tình yêu? Thủy triều càng dâng cao thì những vẩn đục của giòng sông sẽ loãng lỏng dần rồi trở nên trong sạch hoàn toàn. Do đó tính phủ bọc và tha thứ của Thánh Thể tình yêu cũng luôn biến đổi chúng ta như thế. Miễn là chúng ta biết đáp trả lại tiếng gọi “Ta khát” liên tục phát ra trong nhà tạm hằng giây, hằng phút. Tiếc thay! Ngày nay cũng như ngày xưa, sự thờ ơ, lãnh đạm của tâm dạ con người thường hay đổi thay như chong chóng. Vào thời Chúa Giêsu, dân chúng cũng đã tung hô Ngài, nhưng sau đó lại hô to tiếng: “Đóng đinh nó vào thập giá.” Thì ngày nay trong các nhà tạm trên thế giới, Chúa Giêsu Thánh Thể cũng vẫn luôn cô đơn và chờ đợi. Phải, Ngài chẳng cô đơn sao được khi chính những con cái Ngài thương yêu hết mực lại quay đầu chống lại Chúa. Một Giuđa đã chứng minh cho nhân loại nhận ra sự bội phản không một chút thể hiện sám hối. Hơn nữa, những linh hồn sống trong tội lỗi vẫn chưa trở lại giao hòa với Chúa, họ tiếp tục sống trong tình trạng chết phần linh hồn. Những thái độ này là nguyên nhân làm cho Thánh Thể Chúa tiếp tục “khát.” Vậy hỡi nhân loại! Hãy mau thay đổi và hoán cải, và tức tốc an ủi Chúa đang ngày đêm cô đơn, giam cầm trong nhà tạm vì thiếu sự đáp trả tình yêu của loài người.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con ao ước và quyết tâm sống kết hợp mật thiết với Chúa, con luôn cố sống trong sạch để linh hồn con trở thành nhà tạm và đền thờ chứa Chúa Thánh Thể. Con tin Thánh Thể Chúa chính là Con Đức Chúa Cha xuống thế làm người đã giáng sinh ở Belem vào đêm đông giá lạnh. Con tin Tấm Bánh thần linh ngự trong các nhà tạm thánh chính là Đấng đã chết treo trên thập giá trên đồi Golgotha để qua cái chết, Chúa hủy diệt tội lỗi. Con vững tin hơn cả qua sự phục sinh của Chúa để hủy diệt sự chết. Tất cả là tình yêu, tất cả vì sự cứu độ trần gian.
Lạy Mẹ Maria, bằng tiếng Xin Vâng, Cung lòng Mẹ đã trở nên nhà tạm để Chúa Giêsu cư ngụ. Xin Mẹ cầu cho chúng con luôn biết trang điểm nhà tạm linh hồn mình bằng những quà tặng của đức bác ái để xứng đáng cho Chúa Giêsu con của Mẹ mãi mãi hiện diện trong tâm hồn con.
Br. Nguyễn Kim Thanh
From: Langthangchieutim
Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ
Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ
Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.
Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.
Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.
Người Minh Hương cầm quân chống Pháp
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.
Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.
Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.
Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.
Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:
“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.
Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).Theo Con đường Thiên lý
From: TU-PHUNG
Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

LONG AN, Việt Nam (NV) – Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan, từ công an đến điều tra viên, luật sư, nhân chứng.
Mới đây, hôm 10 Tháng Sáu, ông Trần Thanh Lâm, 38 tuổi, phó công an xã Nhị Thành, đột ngột tử vong trong lúc đang trực đêm tại trụ sở.
Theo báo Long An, buổi sáng cùng ngày, ông Lâm “đi tuần tra với các công an viên ở xã và có than đau đầu.” “Khi đang nằm võng xem TV thì các dân phòng nhìn thấy ông Lâm gồng người lên mấy lần, giống như bị khó thở. Mọi người lại kiểm tra thì phát hiện ông Lâm bất tỉnh và tím tái nên đưa đi cấp cứu nhưng ông đã tử vong. Suy đoán ban đầu là ông Lâm bị suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong đột ngột,” báo Long An tường thuật.
Báo Long An cũng cho hay gia đình ông Lâm thuộc diện khó khăn, hai con ông còn nhỏ. Hiện nhà chức trách đã giảo nghiệm tử thi và “đang điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân cái chết của ông Lâm.”
Liên quan vụ này, bản tin trên báo VOV của Đài Tiếng Nói Việt Nam tiết lộ: “Một đồng nghiệp trực chung ca cho biết, sau khi vào ngủ tầm 15 phút thì mọi người nghe có tiếng động mạnh tại giường ông Lâm nằm. Các đồng nghiệp chạy vào bật đèn thì thấy ông còn thở nhưng rất yếu và lịm đi sau vài phút. Sức khỏe của ông Lâm ngày thường rất tốt, hay đi tuần tra đêm cùng đồng nghiệp và về sinh hoạt bình thường.”
Xã Nhị Thành là nơi đặt bưu điện Cầu Voi, nơi xảy ra vụ án Hồ Duy Hải vào đêm 13 Tháng Giêng, 2008.
Facebooker Hoàng Dũng cho hay trên trang cá nhân rằng ông Trần Thanh Lâm vào ngành công an năm 2007. Ngày 21 Tháng Ba, 2008, ông Lâm thời điểm đó là công an viên, được ghi nhận “phát hiện ra đống than nằm giữa lối đi từ nhà bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải, sang nhà người dì của anh Hải.”
Liên quan tình tiết này, một số báo nhà nước dẫn cáo trạng nói anh Hải “khai nhận đống than là do đốt quần áo phi tang sau khi giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi.”
Cổng vào xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. (Hình: longan.gov.vn)
Hôm 23 Tháng Năm, nhà báo Trương Châu Hữu Danh, phóng viên trang Báo Sạch, tiết lộ trên trang cá nhân rằng ông Nguyễn Thanh Long, nhân chứng cuối cùng nhìn thấy một trong hai nạn nhân ở bưu điện Cầu Voi, người ký bút lục 262, đã qua đời hồi năm ngoái ở tuổi 47.
Trước đó, hồi Tháng Mười Hai, 2019, Luật Sư Trần Hồng Phong, người trợ giúp pháp lý cho anh Hồ Duy Hải tại phiên xử “giám đốc thẩm,” kể trên trang cá nhân về hiện tượng “kỳ lạ” – bốn người tham gia trong vụ án Hồ Duy Hải đều bị đột tử. Đó là Huỳnh Văn Minh (công an viên xã Nhị Thành, đột tử trong lúc đang trực đêm vào năm 2009), Nguyễn Thanh Hải (công an viên chết năm 2010 vì tai nạn giao thông), Phạm Văn Tiến (phó ban chuyên án, trưởng phòng Cảnh Sát Điều Tra, người phát ngôn với báo chí về vụ Hồ Duy Hải, đột tử tại trụ sở cơ quan vào năm 2012) và ông Trần Ngọc Lẫm (kiểm sát viên cao cấp thuộc Viện Kiểm Sát Tối Cao tại Sài Gòn, người giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xử Hồ Duy Hải, đột tử năm 2013 tại tư gia).
Ngoài ra còn một cái chết khác là Luật Sư Võ Thành Quyết, người từ công an chuyển sang làm luật sư và được chỉ định bào chữa cho anh Hải. Tờ Lao Động hồi Tháng Năm cho biết ông Quyết đã qua đời, “nhưng những gì còn lưu lại cho thấy ông đã không cố ‘cãi’ cho Hồ Duy Hải vô tội.”
Diễn biến mới nhất của vụ Hồ Duy Hải trên báo đảng là hôm 31 Tháng Năm, Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội thông báo đã tiếp nhận đơn cầu cứu mới nhất của bà Nguyễn Thị Loan. (N.H.K) [qd]
NGUOI-VIET.COM
Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải
Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan.
Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt
Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.
Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang vào tối ngày 12 tháng 6 xác nhận tin vừa nêu với Đài Á Châu Tự Do:
“Người nhà báo, Lê Hữu Minh Tuấn bị triệu tập làm việc rồi bị bắt đưa về Trại giam Chí Hòa. Đã có lệnh bắt.Tuấn là một người ôn hòa, kín tiếng và không phải là một nhà bất đồng chính kiến.”
Theo nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang thì anh Lê Hữu Minh Tuấn, 30 tuổi, thường được gọi là Lê Tuấn, ghi danh tham gia Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam từ năm 2015.
Anh Lê Hữu Minh Tuấn đã tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Lịch sử tại Đại học Đà Nẵng. Hiện anh đang học thêm tại Đại học Luật Hà Nội.
Trong thời gian qua, sau khi chủ tịch Hội Nhà Báo Độc lập Việt Nam Phạm Chí Dũng bị bắt, anh Lê Hữu Minh Tuấn thường xuyên bị cơ quan an ninh mời, triệu tập làm việc.
Chủ tịch Hội Nhà báo Độc Lập Phạm Chí Dũng bị bắt vào ngày 21 tháng 11 năm ngoái và vào ngày 23 tháng 5 vừa qua, phó chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Nguyễn Tường Thụy cũng bị bắt đưa từ Hà Nội vào giam tại Chí Hòa.
Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt
Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.
Thứ chính trị bỉ ổi
Hoang Le Thanh
Nhà báo Hoa Kim Ngo
Một kẻ nghiện người da đen và bị bắt vì tiêu tiền giả. Cứ cho là cảnh sát cố tình đè cổ đến chết vì kỳ thị màu da, để sau đó làm phẫn nộ người dân dẫn đến biểu tình đòi không kỳ thị người da màu.
Nhưng những kẻ lợi dụng cái chết này làm chính trị tôn y lên làm anh hùng thì là một thứ chính trị bỉ ổi.
Cũng giống những kẻ lợi dụng để đánh bóng tên tuổi khi đi biểu tình, những kẻ cướp phá được những kẻ bệnh vực đánh đồng là tự do biểu thị ý kiến.
Tởm nhất là chính những kẻ thổi phồng, lợi dụng và đánh đồng những người tử tế với những kẻ cơ hội. Đó chính là bọn đạo đức giả và vô lương. Chính quyền vào tay bọn này thì những giá trị đích thực đạo đức và quyền con người bị bọn này làm cho đảo lộn.
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2935849699975145&id=100006504312070



VNTB – Đã không biết sao lại bắt dân chúng chờ cả trăm năm?
Minh Phuong Nguyen and 3 others shared a link.
Mỹ Thuận (VNTB) – “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao lâu, có mấy chặng đường cần tiếp tục làm rõ” là tựa bài viết trên tờ Thanh Niên điện tử, số phát hành ngày 10-6-2020. Bài báo có đoạn tường thuật: “Có lần nào Tổng bí thư …

Ông Pompeo sắp hội nghị với bà Thái Anh Văn, Hoàng Chi Phong
Minh Phuong Nguyen and 2 others shared a link.
(PLO)- Việc ông Pompeo, bà Thái Anh Văn, và Hoàng Chi Phong cùng dự một hội nghị chắc chắn sẽ làm Trung Quốc nổi giận.
BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang
Bức thơ cuối cùng của bác sỹ Li Wenliang được dịch sang tiếng Việt, mời các bạn cùng đọc:
Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi vẫn còn có cha và mẹ
Và các con thơ
Người vợ đang mang thai sắp sinh,
Và nhiều bệnh nhân trong phòng khám.
Mặc dù sự trung thực không được tưởng thưởng,
Mặc dù con đường đã đến ngõ cụt,
Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục.
Ai bắt tôi chọn đất nước này, và gia đình này,
Biết bao nhiêu đau khổ,
Khi trận chiến này kết thúc,
Tôi sẽ nhìn lên trời mà lệ rơi như mưa.
Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi chỉ là một bác sĩ,
Tôi không thể đứng nhìn những vi-rút này
Làm tổn thương đồng nghiệp của tôi
Và rất nhiều người vô tội,
Mặc dù họ sắp chết,
Nhưng luôn luôn nhìn vào mắt tôi,
Với niềm hy vọng được sống.
Ai có thể nhận ra rằng mình sắp chết?
Linh hồn tôi ở trên thiên đàng,
Nhìn xuống chiếc giường trắng,
Với cơ thể của tôi nằm trên đó,
Và khuôn mặt quen thuộc.
Cha mẹ tôi ở đâu?
Và người vợ yêu dấu của tôi nữa,
Người mà tôi đã từng có một thời ráo riết theo đuổi.
Có một ánh sáng ở trên trời!
Và ở cuối sự sáng đó là thiên đường mà mọi người thường nói đến.
Nhưng tôi không muốn đến đó.
Tôi muốn trở về quê hương của tôi ở Vũ Hán.
Tôi có ngôi nhà mới mua ở đó,
Mà tôi vẫn đang phải trả tiền vay mỗi tháng.
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Khi đứa con duy nhất của cha mẹ tôi không còn
Thật là buồn biết bao?
Và người vợ yêu dấu không có chồng bên cạnh,
Làm thế nào để đối mặt với những thăng trầm trong tương lai
Tôi đã ra đi rồi.
Tôi thấy họ lấy cơ thể của tôi,
Đặt nó vào một cái túi,
Ở đó có nhiều đồng bào.
Cũng ra đi giống như tôi,
Bị đẩy vào lửa trong lò thiêu
Lúc bình minh.
Xin tạm biệt những người tôi yêu mến.
Xin chia tay Vũ Hán, quê hương tôi.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Có ai đó sẽ một lần nhớ đến,
Có người đã cố gắng cho họ biết sự thật càng sớm càng tốt
Cố gắng cho bạn biết sự thật càng sớm càng tốt.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Người ta học được đứng thẳng,
Không còn để những người tử tế,
Phải chịu đau khổ vô tận
Tôi đã đánh trận tốt lành,
Tôi đã xong sự chạy,
Tôi đã giữ được đức tin.
Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho tôi.” (II Ti-mô-thê 4:7-8a)
(b/s Lý với người vợ trẻ).
Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Accueil – Histoire de comprendre – Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Eric MartinPar Eric
“Partout en Chine, les gens parlent du Dr Li Wen Liang. C’est le médecin qui a découvert le nouveau coronavirus et au petit matin du 7 février à 2 h 58, il a été promu à la gloire et est parti vers notre Père céleste.
En décembre de l’année dernière, il a été arrêté pour avoir dénoncé des rumeurs sur une mystérieuse pneumonie comme un virus. Ce matin, nous avons découvert qu’il était en fait un frère en Christ. Nos cœurs sont profondément émus par son choix sacrificiel de faire connaître le virus malgré les risques auxquels il est confronté, en particulier pour sa réputation et sa propre santé.
Il a continué à soigner les patients jusqu’à ce qu’il soit lui-même infecté. Quel héritage laisser derrière lui ce que signifie être comme Jésus pour ceux qui souffrent en temps de crise.
Il a choisi d’être un exemple d’Emmanuel, «Dieu avec nous» pour les habitants de Wuhan.
Pouvez-vous imaginer la joie qu’il a dû ressentir en entrant dans l’éternité et en entendant les mots: “Bien joué, mon bon et fidèle serviteur”?
Alors aujourd’hui, veuillez prier pour sa famille, en particulier sa femme qui est également infectée et enceinte de 8 mois de leur deuxième enfant. Que Dieu les guérisse surnaturellement et leur donne grâce, paix, force et réconfort pendant cette période.
Le Dr Li Wen Liang a écrit un poème chinois profondément touchant sur la façon dont sa famille lui manquerait, son bien-aimé Wuhan Il a cité 2 Tim 4: 7-8 J’ai combattu le bon combat, j’ai achevé la course, j’ai gardé la foi. Désormais la couronne de justice m’est réservée ; le Seigneur, le juste juge, me le donnera dans ce jour-là, et non seulement à moi, mais encore à tous ceux qui auront aimé son avènement.”
LHCÂ tăng tốc chống tin thất thiệt: Trung Quốc bị chính thức nêu tên
Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’
Ngoc Luc
Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’
*
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian (Anh Quốc) rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông trong gần bốn tháng qua.
Ông Khảm, 70 tuổi, là công dân Úc gốc Việt, thành viên đảng Việt Tân, đang thi hành án 12 năm tù tại Việt Nam với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” mà ông phủ nhận.
Ông Khảm và những người bạn thuộc “Hội Anh Em Dân Chủ” tại Việt Nam, bị y án sơ thẩm qua một phiên tòa xử “án bỏ túi” tại Sài Gòn hồi đầu Tháng Ba năm nay. Luật sư và gia đình ông Khảm cho biết rằng tình trạng bệnh tật của ông khiến bản án 12 năm tù “giống như bản án tử.”
Em gái ông, người sống ở Việt Nam, cho biết đã đi thăm ông trong tù lần gần nhất là vào Tháng Hai, gửi tiền và các loại thuốc trị bệnh cao huyết áp và mức cholesterol, bệnh tăng nhãn áp và sỏi thận, theo The Guardian.
Thời điểm đó, gia đình được thông báo rằng ông Khảm không còn ở trại giam B34 của Bộ Công An CSVN tại Sài Gòn nhưng không cho biết nơi ông được chuyển đến. Vài tuần sau, gia đình ông được báo tin rằng ông ấy đã bị chuyển đến một nhà tù “cách Sài Gòn hơn ba giờ chạy xe” nhưng vẫn chưa được liên lạc với ông.
Các chuyến thăm lãnh sự của sứ quán Úc Châu dự trù diễn ra từ Tháng Hai đến Tháng Năm đều bị hủy bỏ vì lo ngại về sự lây lan của COVID-19. Giấy phép cho một chuyến thăm vào Tháng Sáu được ghi nhận “đang chờ phê duyệt.”
Anh Dennis Châu, được tờ báo dẫn lời: “Bố tôi bây giờ đã già yếu mà không được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tôi lo lắng sức khỏe và tinh thần ông bị suy sụp. Bây giờ, trước mắt bố tôi là một hành trình dài cho đến ngày được ra tù mà không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính phủ Úc, có vẻ như họ đã quên mất ông rồi.”








