LUẬT SƯ VŨ VĂN MẪU

Image may contain: 1 person, eyeglasses and closeup
Image may contain: 1 person, smiling, suit
No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.
+2
Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng and 2 others.

LUẬT SƯ VŨ VĂN MẪU

(Theo tài liệu Ls. Đoàn Thanh Liêm)

Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một học giả lớn về Luật Việt Nam, một Chính trị gia nổi tiếng trước năm 1975 ở Sài Gòn.

Ông từng là Thượng Nghị sĩ trong Liên danh Hoa Sen, Khối Dân tộc, từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra ông còn là Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn, Giáo sư Thực thụ Đại học Luật khoa Sài Gòn.

Ông sinh ngày 25-7-1914 tại Hà Nội. Như mọi thanh niên thuộc gia đình danh giá thời bấy giờ, ông được gia đình đưa sang học ở Pháp và tốt nghiệp Đại học Luật khoa Paris, Pháp. Ông tiếp tục theo học tại đây cho đến khi lấy được bằng Thạc sĩ và trở về hành nghề luật tại Hà Nội.

Hồi trước 1945, ông làm Tri huyện Đông Anh, Tỉnh Phúc Yên. Cha vợ ông là Cụ Cử Sen Hồ Hoàng Gia Luận, em trai Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu.

Năm 1954, ông cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và tham gia Giảng dạy Khoa Luật tại Đại học Sài Gòn. Ông trở thành Trưởng khoa người Việt đầu tiên của khoa này và được công nhận là một Chuyên gia về Pháp luật Dân sự và Lịch sử.

Sau khi thực hiện Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, tân Thổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ và mời ông giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa.

Ông giữ chức vụ này trong 8 năm, từ 1955 đến 1963. Trong cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, ông đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối. Khi ông cố gắng rời Việt Nam Cộng Hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn Độ, thì bị bắt và bị quản thúc.

Vốn là một nhà kỹ trị, ông hầu như đứng ngoài mọi biến động của thời cuộc bấy giờ. Tuy nhiên, là một Phật tử với pháp danh Minh Không, ông phản đối những biện pháp đàn áp của chính phủ Ngô Đình Diệm với Phật giáo. Ông cạo trọc đầu và sau đó từ chức Bộ trưởng ngày 22-8-1963 để phản đối hành động tấn công các chùa Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Suốt thời gian biến động miền Nam 1964-1967, ông hoàn toàn không tham gia vì công tác ở Đại sứ ở nước ngoài. Mãi đến khi Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền Tổng thống, ông mới được triệu hồi về nước. Ông trở thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1972, ông tranh cử Thượng nghị sĩ trong liên danh Hoa Sen và đắc cử.

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông luôn hoạt động tích cực cho phong trào hòa bình và hòa giải cho dân tộc. Chính vì vậy, khi tướng Dương Văn Minh trở thành Tổng thống, ông được đề cử cho chức vụ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa với mục đích tham gia thương lượng chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, ông chỉ ở trong chức vụ chỉ vỏn vẹn được “1 ngày” thì Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào tay của quân đội Miền Bắc. Ông phải cùng Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện để tránh đổ máu thêm nữa. Cũng như Tướng Dương Văn Minh, nhà cầm quyền mới tuy thực hiện các biện pháp hạn chế nhưng không quá khắt khe với ông. Sau khi tình hình ổn định, họ cho phép ông được xuất cảnh sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời.

Ông mất ngày 20-8-1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.

Ông là một Học giả lớn về Luật của Việt Nam, uyên thâm cựu và tân học, biết nhiều thứ tiếng như: Anh, Pháp, Hán và là một Giáo sư giảng giải Luật rất hấp dẫn. Tác phẩm của ông còn được René David và John E.C Brierley trích dẫn trong cuốn sách nổi tiếng về luật so sánh Major Legal Systems in the World Today.

XIN NÓI THÊM:

Hơn 50 năm trước, lớp sinh viên tốt nghiệp văn bằng Cử nhân Luật khoa Saigon khóa năm 1958, thì chỉ có chừng 60-70 người. Đây là khóa đầu tiên của Trường Luật khoa Saigon dưới sự điều hành và giảng dạy của các giáo sư Việt nam, mà mới được người Pháp chuyển giao cho bên Việt nam, bắt đầu từ niên khóa 1955-1956.

Vị khoa trưởng tiên khởi lúc đó là Giáo sư Thạc sĩ Vũ Văn Mẫu. Vào thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, thì Giáo sư Mẫu lại còn giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao nữa. Cho nên ông thường đến giảng dạy vào buổi sáng sớm hay buổi chiều, ngoài giờ làm việc của công sở, và lúc nào cũng có vệ sĩ đi theo để bảo vệ an ninh.

Hồi đó, chương trình Ban Cử nhân Luật khoa chỉ học có 3 năm, và hầu như vẫn còn giữ nguyên hệ thống giáo dục của Pháp. Chỉ có hai môn Dân luật và Kinh tế, thì phải học trong cả ba năm, còn các môn khác, thì chỉ học trong một hoặc hai năm mà thôi. Cho đến nay, sau trên nửa thế kỷ, thì hầu hết các vị giáo sư của trường Luật hồi đó đã ra đi về bên kia thế giới rồi. Và hiện theo chỗ tôi được biết, thì chỉ còn hai giáo sư môn kinh tế học vẫn còn sống, mà còn hăng say hoạt động dù đã xấp xỉ ở tuổi cửu tuần rồi, đó là Giáo sư Vũ Quốc Thúc hiện ở Paris nước Pháp và Giáo sư Nguyễn Cao Hách hiện ở San Diego, California.

Tất cả các môn sinh chúng tôi đều biết ơn các Vị Thầy đã rất tận tâm, chu đáo trong việc giảng dạy, hướng dẫn cho lớp hậu sinh có đủ khả năng chuyên môn để nối tiếp được sự nghiệp xây dựng và phát triển quốc gia trong các lãnh vực luật pháp, kinh tế tài chánh, quản trị hành chánh v.v…

Nói chung, thì tất cả các vị giáo sư đều soạn bài rất kỹ, dẫn giảng cho sinh viên rất rành mạch. Vì là bước đầu chuyển ngữ bằng tiếng Việt, nên các giáo sư hay phải “chua thêm” tiếng Pháp, để giúp sinh viên chúng tôi dễ tra cứu, tham khảo nơi sách, tạp chí xuất bản tại Pháp. Và ngay cả các bản án thời trước ở Việt nam, thì cũng đều viết bằng tiếng Pháp. Lớp sinh viên chúng tôi thời đó, thì đều thông thạo tiếng Pháp, nên việc nghiên cứu cũng dễ dàng.

– GS Vũ văn Mẫu thật là uyên bác, thành thạo cả tiếng La tinh và chữ Hán.

– GS Vũ Quốc Thúc giảng bài thật sáng sủa, gọn gàng dễ nhớ, dễ thuộc.

– GS Nguyễn Cao Hách lại còn nghiên cứu nhiều sách báo tiếng Anh và chỉ dẫn cho sinh viên làm quen được với các lý thuyết kinh tế hiện đại mà phần đông là do các tác giả người Anh hay Mỹ đề xướng.

– Luật sư Vũ văn Hiền, thì giảng dạy rất chu đáo, khúc chiết về môn Luật Di sản và Hôn sản trong các gia đình Việt nam, rút từ kinh nghiệm lâu năm hành nghề luật sư suốt từ Bắc vào Nam.

– GS Nguyễn Độ dạy môn Luật Hành chánh và Hình luật, thì cũng rất uyên bác. Bài giảng của ông đề cập nhiều về lý thuyết có tính cách triết học về luật pháp, nên sv phải dày công theo dõi, thì mới có thể thấu triệt hết được.

– Giáo sư Lưu văn Bình dạy môn Luật Hiến pháp và Quốc tế Công pháp ngay vào năm thứ nhất.

– Giáo sư Vũ quốc Thông dạy môn Pháp chế sử vào năm thứ nhất và môn các Định chế chính trị vào năm thứ ba.

– Luật sư Bùi tường Chiểu dậy về Luật Dân sự Tố tụng vào năm thứ ba.

– Luật sư Nguyễn huy Chiểu thì dậy môn Luật Hình sự đặc biệt cũng vào năn thứ 3.

– Giáo sư Lê đình Chân thì dạy môn Tài chính công vào năm thứ ba (Public Finance).

– Môn Quốc tế Tư pháp khá là phức tạp với các vụ Phân tranh Luật pháp (Conflit des lois), thì phải nhờ đến tài năng của giáo sư Vũ văn Mẫu chúng tôi mới có thể lãnh hội rõ ràng được.

Cả bốn Giáo sư Vũ văn Mẫu, Vũ quốc Thúc, Nguyễn cao Hách và Nguyễn Độ đều đã lần lượt kế tiếp nhau giữ chức vụ Khoa trưởng của trường Luật trong nhiều năm, theo như trí nhớ của tôi còn ghi nhận được.

Về phía sinh viên chúng tôi, thì phần đông lúc đó đang ở lứa tuổi hai mươi.

Có một số học cả bên Học viện Quốc gia Hành chánh. Nên số sinh viên học full-time vào năm thứ ba, thì chỉ có chừng 30 người. Số sinh viên lớn tuổi đang đi làm, thì cũng phải chiếm đến trên một phần ba. Người lớn tuổi nhất là hai bác Võ văn Diệu làm ở Nha Ngân sách, và bác Tăng khánh Đáng làm ở Ngân hàng Quốc gia. Năm nay nếu còn tại thế, thì hai bác có thể đã vào tuổi bát tuần rồi. Người sau này giữ chức vụ cao nhất là anh Châu kim Nhân, hồi năm 1971-73 đã làm Bộ trưởng Tài chánh. Có ba người làm Thẩm phán là anh Trần trung Hậu, Dương Lân ở ngạch Tư pháp, và anh Nguyễn cao Quyền bên ngạch Tòa án Quân sự.

Số làm Luật sư thì khá đông, có đến ít nhất là 15 người. Cụ thể như các LS Nguyễn tường Bá, Bùi chánh Thời, Nguyễn công Hoàng, Lê thị Hồng Điểm, Phạm xuân Định, Nguyễn phuợng Yêm, Lê trọng Nghĩa, Nguyễn minh Toàn, Trần thiện Hải, Đoàn văn Lượng, Đỗ Doãn Quế, Lê bạc Xăng, Đoàn Ý, Trần tiễn Tự, Đoàn thanh Liêm. Có ba anh gia nhập ngành Ngoại giao, đó là Nguyễn hữu Trụ, Đỗ quang Năng và Nghiêm Mỹ.

Có đến 7-8 người học lên bậc Tiến sĩ và làm giáo sư Đại học như các Chị Quách thị Nho, Lương mỹ Đức (dạy tại trường Luật Saigon). Riêng anh Cao huy Thuần thì dạy Luật ở bên Pháp và hình như anh Phạm Chung cũng dạy học đâu ở bên Mỹ, nhưng lâu ngày không có tin tức gì về anh ấy cả. Còn các anh Nguyễn quốc Trị (giữ chức vụ Viện trưởng Quốc gia Hành chánh thay thế Giáo sư Nguyễn văn Bông), Lê công Truyền (cũng dạy tại QGHC), Lê Quế Chi (dạy tại trường Luât Saigon), Vũ trọng Cảnh (Viện trưởng Viện Tu nghiệp Quốc gia).

Còn lại, thì một số đi dạy ở trường Sư phạm như anh Vũ ngọc Đại, Bùi văn Hiệp, hay làm viên chức tại các bộ như chị Nguyễn thị Nga ở Bộ Tài chánh, anh Vũ quang Vân ở Bộ Kinh tế, Mai như Mạnh thì làm ở Phủ Tổng ủy Dinh Điền. Tại Ngân hàng quốc gia, thì có anh Ngô vi Bảo. Tại Ngân hàng Việt nam Thương tín, thì có anh Nguyễn đình Thảng. Riêng chị Lê Mỹ Nhan thì làm trong ngành Thư viên v.v…

Trên 50 năm đã trôi qua, với bao nhiêu tang thương đổ vỡ trên quê hương đất nước Việt nam, nhưng cái mối duyên lành, cái tình bạn hồn nhiên, trong sáng giữa các đồng môn chúng ta với nhau, từ cái thời còn chung học dưới mái trường thân yêu tại con “Đường Duy Tân Saigon”, thì vẫn mãi mãi còn là một kỷ niệm thân thương nhất, sâu đậm nhất trong cuộc đời tình cảm của mỗi cá nhân chúng ta vậy.

(Theo tài liệu Đoàn Thanh Liêm).

——————————
Nguồn: Nguyễn Vô
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1833725203406216&id=100003062636866

Bài này đã được đăng trong Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.