Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.
Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.
Không thư.
Không tin.
Không biết còn sống hay đã chết.
Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.
Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.
Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:
“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”
Năm này qua năm khác.
Mái tóc của cha trắng thêm.
Đôi mắt của mẹ mờ đi.
Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.
Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.
Cha ít nói hơn.
Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:
“Chắc nó đói lắm…”
Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.
Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.
Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.
Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:
“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”
Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.
Không chỉ là những năm tù.
Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:
“Cha… Má… Con về rồi.”
Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.
Phạm Sơn Liêm


