ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH,

 8 SÀI GÒN 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH, CUỐI ĐỜI RỐI LOẠN TÂM THẦN, KHÔNG CON CÁI, ĐI BÁN BÁNH DẠO…

Câu chuyện về Ân Phi Hồ Thị Chỉ (1902 – 1982) là một bi kịch. Bà yêu hoàng đế Duy Tân nhưng cuối cùng lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái. Sau khi vua qua đời, bà phải dọn ra khỏi hoàng cung, mắc bệnh t^mthần, sống cô đơn cho đến cuối đời.

Hồ Thị Chỉ là con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương. Bà lớn lên trong gia tộc danh giá bậc nhất xứ Huế. Những người anh em của bà đều là bậc trí thức nổi tiếng như Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm… Nhưng giữa gia đình hào môn ấy, cuộc đời Hồ Thị Chỉ lại sớm bị định đoạt bởi những mối dây vô hình của hoàng tộc và chính trị.

Người ta kể rằng, mùa hè năm 1913, khi vua Duy Tân còn là một thiếu niên, những buổi nghỉ mát ở Cửa Tùng đã vô tình mở ra một đoạn duyên kỳ lạ. Những đứa trẻ của gia đình Hồ Đắc Trung được đưa theo để bầu bạn với hoàng đế. Trong tiếng sóng biển rì rào và nắng hè chói chang, cô bé 11 tuổi Hồ Thị Chỉ mang vẻ đẹp e ấp, thẹn thùng đã khiến vị vua 14 tuổi chú ý.

Không phải một cuộc gặp gỡ của những lời thề non hẹn biển, không phải một khởi đầu được báo trước bằng nghi lễ, chỉ là một rung động âm thầm giữa hai đứa trẻ bị đặt vào vòng cung cấm của lễ nghi và thân phận. Về sau, chính sư bà Diệu Không, em ruột của Hồ Thị Chỉ, đã viết lại những ký ức ấy như một mảnh vỡ dịu dàng: Vua gọi các anh là “anh”, gọi Chỉ là “em”, ánh mắt dừng lại nơi bà nhiều hơn tất cả.

Mùa hè kết thúc, cuộc chia ly đến như một lưỡidao cắt ngang tuổi thơ. Hồ Thị Chỉ khóc. Vị vua trẻ lặng im. Và rồi lời hẹn “sang năm gặp lại” được thốt ra như một chiếc lá mong manh treo giữa trời, không ai biết sẽ rơi lúc nào.

Năm sau, khi Hồ Thị Chỉ đã lớn hơn, mẹ không cho phép bà trở lại Cửa Tùng gặp vua. Khi vua Duy Tân được hai bà Hoàng Thái Hậu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ. Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Không một sự an ủi nào đủ sức làm dịu đi nỗi sững sờ của gia đình họ Hồ. Và rồi chỉ ít lâu sau, vua kết hôn, ngồi trong kiệu hoa bước vào hoàng cung không phải Hồ Thị Chỉ, mà là một cô gái khác.

Sau này, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp, rồi bị bắt lưu đày. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ nghe vậy càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sốngchết vì vua.

Thế nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy.

Vua Khải Định bước lên ngai vàng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ngài nhìn thấy Hồ Thị Chỉ trong một cuộc gặp mang tính nghi thức. Lời cầu hôn được đưa ra không phải như một lời hỏi han, mà như một mệnh lệnh. Trong căn nhà họ Hồ, không khí nặng trĩu. Cha bà hiểu rằng đây không còn là chuyện tình cảm đơn thuần. Đây là lựa chọn giữa danh dự và tai họa. Giữa sự sống còn của cả gia tộc và ý chí của một người con gái.

Hồ Thị Chỉ khóc, nói muốn ở lại bên cha mẹ suốt đời, không muốn bước vào bất kỳ cuộc hôn nhân nào, vì trong lòng chỉ yêu vua Duy Tân. Nhưng tiếng khóc ấy, dù xé lòng, vẫn không thể chống lại sức nặng của “khẩu dụ”. Trong triều đình, một lời của vua không chỉ là lời nói, nó là số phận.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài như không có bình minh. Cả gia đình thay nhau thuyết phục. Cuối cùng, Hồ Thị Chỉ chấp nhận kết hôn với vua Khải Định.

Ngày 3 tháng 12 năm 1917, lễ nạp phi diễn ra long trọng. Hồ Thị Chỉ, 15 tuổi, trở thành Ân phi, Nhất giai Phi, bậc cao nhất trong hàng hậu cung, chỉ dưới Hoàng quý phi. Một danh vị mà người ngoài nhìn vào tưởng là vinh quang, nhưng với bà, đó là cánh cửa khép lại mọi con đường trở về.

Trong cung, bà được xem trọng do thông thạo chữ nghĩa, giỏi tiếng Pháp. Bà từng xuất hiện trong các buổi tiếp tân như gương mặt đại diện cho sự giao thoa Đông Tây. Nhưng phía sau những nghi lễ ấy là một đời tư trống rỗng. Không con cái. Không điểm tựa tình cảm. Không một tiếng gọi thân thuộc giữa bốn bức tường vàng son.

Một số giai thoại gây tranh cãi về vua Khải Định vẫn luôn khiến hậu thế xôn xao. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng ghi nhận những lời đồn rằng vị hoàng đế này có sở thích đặc biệt với nam giới, thậm chí trong suốt 10 năm trị vì (1916-1925) còn nuôi thị vệ Nguyễn Đắc Vọng bên cạnh. Ban đêm nhà vua thường gọi Vọng vào ngủ chung và ban thưởng hậu hĩnh. Các quan đại thần muốn đưa con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân), ai muốn tu thì cứ vào.”

Không dừng lại ở đó, nhiều tài liệu truyền miệng còn nói Khải Định đặc biệt mê hát bội nhưng chỉ chuộng gánh tuồng toàn nam, kể cả vai nữ cũng do nam giả trang. Bên cạnh đó, nhà vua còn bị mô tả là người ưa trang điểm, đeo trang sức cầu kỳ, ăn mặc sặc sỡ và thậm chí tự thiết kế y phục khác lạ, tạo nên hình ảnh một vị hoàng đế dị biệt.

Khải Định qua đời năm 1925. Triều đại đổi chủ. Bảo Đại lên ngôi, cải tổ nội cung. Những danh phận cũ bị sắp xếp lại như những quân cờ bị xáo trộn. Hồ Thị Chỉ phải rời khỏi hoàng cung. Không con cái, nỗi cô đơn ngày một lớn, bà mắc bệnh tr/cảm và rối loạn t^mthần.

Từ một Ân phi sống trong lầu son gác tía, bà trở thành một bóng dáng lặng lẽ, phiền muộn, sống lay lắt giữa đời. Mỗi ngày, bà mang một rổ bánh nậm ra chợ An Cựu, khi thì bán, khi thì cho, không màng lời lãi, áo quần và nơi ở xuề xòa, tạm bợ. Bệnhtinh thần theo năm tháng ngày càng nặng.

Năm 1975, cuộc đời bà như được kéo lại từ bờ vực khi hai người anh ruột là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di từ Hà Nội vào Huế, tìm gặp lại em gái sau bao năm xa cách. Từ đó, bà dần được chăm sóc, bệnh ổn định hơn, không còn đi lang thang ngoài đường như trước.

80 tuổi, Ân phi suy kiệt vì tiêu chảy và qua đời tại Bệnh viện Trung ương Huế. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khu lăngmộ họ Hồ trên đồi thông gần chùa Hồng Ân, nơi do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, em gái bà, sáng lập và trụ trì.

Cuộc đời bà, nếu nhìn bằng mắt thường, là một chuỗi vinh hiển: Từ con gái quan lớn, đến Ân phi quyền quý, rồi sống trong những dinh thự sang trọng. Nhưng nếu nhìn bằng trái tim, đó là một bi kịch kéo dài, bi kịch của một người phụ nữ bị đặt giữa những vòng xoáy của lịch sử, nơi tình yêu đầu đời bị cắt đứt, hạnh phúc bị định đoạt và cô đơn trở thành bạn đồng hành cuối cùng.

Trong những bức tường thành cung điện Huế hôm nay, đâu đó như còn vang lên tiếng thở dài rất khẽ của một người con gái từng sống một đời rực rỡ bên ngoài, nhưng cô quạnh, đau khổ sâu trong tâm khảm.

Thu Hằng (Tổng hợp)

SÀI GÒN KỶ – NIỆM


 

Được xem 2 lần, bởi 2 Bạn Đọc trong ngày hôm nay