Quà tặng thứ 3 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương vâng phục Thánh ý Chúa-Cha Vương
Quà tặng thứ 1 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, Cha nuôi Đấng Cứu Thế – Cha Vương
Thánh Barnabas tông đồ – Cha Vương
Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo – Cha Vương
Thánh A-tha-na-xi-ô – Cha Vương
THÁNH GIUSE – ĐƯỜNG NÊN THÁNH – Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời. Đó là hoa hướng dương. Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để tỏa hương khoe sắc. Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý. Thánh Giuse được sách Tin Mừng gọi là “người công chính.” Theo Kinh Thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2, 4; Rm 1, 17; Gal 3, 11). Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham. Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm. Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa. Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.
Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa. Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành.
Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm. Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách.” Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1, 20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa” Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).
Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Ai Cập sống kiếp lưu đày. Trước mắt là gian truân vất vả, đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).
Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng. Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi. Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 21). Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn. Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Ai Cập, từ Ai Cập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự. Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1, 38).
Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại. Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11,3).
Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người. Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường. Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị. Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống. Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường. Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn. Những người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến là “bác thợ mộc.” Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy. Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã tạo được thiện cảm và lòng yêu mến của nhiều người. Ngày nay có bao nhiêu người chức nọ, quyền kia, có học vị, có địa vị, rất giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ… Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng. Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình… Thánh Giuse là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm,” một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó. Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên Ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.
Theo gương thánh Giuse, sống đạo là tin tưởng, cậy trông, yêu mến Thiên Chúa. Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác nguyện cầu và sống theo Ý Chúa.
Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse. Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse. Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống, tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.
Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi. Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá. Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người. Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.
Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại.” Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành. Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình. Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống thường ngày.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
From: Langthangchieutim
Thánh Giuse Thợ – Cha Vương
Thánh Catarina ở Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380)-Cha Vương
ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA – Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP
Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP
Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P. Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380. Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị. Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy. Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV.
- Thời thơ ấu
Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con. Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm. Thân mẫu là bà Lapa. Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina. Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt. Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.
Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang. Điều này không gì lạ nơi các thánh. Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.” Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.” Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn. Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina. Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura. Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời. Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina. Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan.
Đâu là ý nghĩa của thị kiến này? Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ:
- Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại. Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa. Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.
- Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô. Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.
Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội. Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch. Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội.
Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa. Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina. Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh. Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ. Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện. Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu.
- Sống yêu thương
Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.” Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay. Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân. Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa. Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina. Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa. Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.
Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa. Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ. Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân. Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina. Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm. Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng. Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội. Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.
Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa. Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài. Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa. Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân… Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng. Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).
Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động. Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường. Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ. Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa. Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn. Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa. Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân. Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.
Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa. Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh.
- Lòng yêu mến Giáo hội
Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ. Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.
Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo. Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh. Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội. Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm. Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối. Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.
Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh. Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376. Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị. Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên. Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.” Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon. Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI. Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình. Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội. Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo.
- Giai đoạn cuối đời
Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma. Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao. Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn. Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ. Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội. Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.” Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà. Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người. Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội. Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”
Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi. Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma. Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa. Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena. Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma. Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô. Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila. Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu. Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật.
Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP
From: Langthangchieutim
Thánh Mác-cô – Cha Vương
Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo
Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo, hoà bình và một tình yêu lớn dành cho người nghèo nằm trên đỉnh Serra da Formiga ở Riachuelo, Brazil .
Hẳn mọi người còn nhớ lời Kinh Hoà Bình được sáng tác theo linh đạo của Thánh Phanxico Assisi mà các bạn khác đạo vẫn gọi là Kinh Đòi Đất.
“Đem yêu thương vào nơi oán thù
Đem thứ thứ tha vào nơi lăng nhục
Đem an hoà vào nơi tranh chấp
Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”

