Mừng kính Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787) – Cha Vương

Chúc bình an! Trong bài huấn từ của Đức Thánh Cha Giáo Hoàng Biển Đức XVI, ngài có nói về Kinh Mân Côi: “Trong thế giới hiện nay, rất phân tán, kinh này giúp đặt Chúa Kitô làm trung tâm, như Đức Trinh Nữ đã làm, Đấng suy niệm trong lòng tất cả những gì được nói về Con mẹ, và cũng những gì Người đã làm và đã nói. Khi đọc kinh Mân Côi, những thời điểm quan trọng và đầy ý nghĩa của lịch sử cứu độ được SỐNG LẠI. Những bước khác nhau về sứ vụ của Chúa Kitô được phát hiện. Với Đức Maria tâm hồn hướng về mầu nhiệm Chúa Giêsu.” 

Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới được bình an nhé. 

Tháng 8 rồi bạn ơi! Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình. Hôm nay 01/8 Giáo hội mừng kính Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787). Mừng Bổn Mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 01/08/2026     t 3: 2023

Thánh Anphonsô sinh năm 1696 tại Na-pô-li. Người từ bỏ nghề luật sư để làm linh mục, rồi sau lại nhận trách nhiệm giám mục để loan báo tình yêu của Chúa Ki-tô. Người đi giảng không mỏi mệt, siêng năng giải tội và rất nhân từ với các hối nhân. Người đã lập dòng Chúa Cứu Thế nhằm mục đích loan báo Tin Mừng cho dân các miền quê (năm 1732). Người đã giảng dạy luân lý và viết nhiều tác phẩm về đời sống thiêng liêng. 

    Hạnh tích kể rằng một trong các linh mục của dòng có cuộc sống rất trần tục, và cưỡng lại mọi biện pháp nhằm thay đổi lối sống ấy. Vị linh mục được Đức Cha Anphonsô mời đến, và ngay ở lối vào phòng của ngài, thánh nhân cho đặt một tượng thánh giá thật lớn. Khi vị linh mục do dự không dám bước qua, Đức Cha Anphonsô ôn tồn nói, “Hãy bước vào đi, và nhớ đạp lên thánh giá. Đây không phải lần đầu tiên mà cha đạp Chúa dưới chân mình.”

    Vào năm 71 tuổi, ngài bị đau thấp khớp khủng khiếp. Ngài đau khổ trong 18 tháng sau cùng với “sự tăm tối” vì sự do dự, sợ hãi, bị cám dỗ đủ mọi khía cạnh đức tin và mọi đức tính. Ngài qua đời ngày 01 tháng 8 năm 1787 tại Nocera de’ Pagani, Salerno.

    Để noi gương thánh nhân mời Bạn suy niệm và tự hỏi ngài đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì nhé:

(1) Ai cầu nguyện, thì được cứu rỗi.

(2) Lạy Mẹ Maria, xin hãy nhận con, như của riêng Mẹ, và cho Mẹ, xin hãy chăm lo phần rỗi của con.

(3) Bất cứ sự bất an nào, cho dù có lý do tốt cách mấy, cũng không thể phát xuất từ Thiên Chúa.

(4) Khi một tư tưởng xấu xa hiện lên trong tâm trí, chúng ta phải cố gắng lập tức hướng tư tưởng về Thiên Chúa hoặc một đều trung lập nào đó. Nhưng qui luật trước tiên là phải lập tức kêu cầu thánh danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria và tiếp tục kêu cầu cho đến khi cơn cám dỗ chấm dứt.

(5) Người không bỏ cầu nguyện thì chẳng thể kéo dài thói quen xúc phạm đến Thiên Chúa.

(6) Người nào tin tưởng vào bản thân sẽ hư mất. Người nào tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ làm được mọi sự.

(7) Hôm nay Chúa mời bạn làm điều tốt; hãy làm ngay hôm nay. Ngày mai bạn có thể không có thời gian, hoặc Chúa có thể không còn kêu gọi bạn làm điều đó nữa.

Câu nào đánh động bạn mạnh nhất?

From: Do Dzung

***************

Một mình con với Chúa – Diệu Hiền (St: Giang Ân)

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay giáo hội mừng kính Thánh Ignatio (I Nhã) Loyola Đấng sáng lập dòng Tên. Mừng lễ quan thầy đến những ai nhận Thánh Ignatio làm bổn mạng nhé.

Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới được an bình trong tình thương yêu của Chúa. Xin Thánh Ignatio Cầu bào cho chung ta nhé 

Cha Vương

Thứ 6: 31/07/2026.    (t7-21)

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). . Vị sáng lập dòng Tên này đang trên đà danh vọng và quyền thế của một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha thì một trái đạn đại bác đã làm ngài bị thương ở chân. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, vì không có sẵn các cuốn tiểu thuyết để giết thời giờ nên ngài đã biết đến cuộc đời Ðức Kitô và hạnh các thánh. Lương tâm ngài bị đánh động, và từ đó khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô.

       Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491 tại Loyola, Guipuzcoa, Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc. Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.

       Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, cuốn Những Thao Luyện Tâm Linh.

       Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Rôma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học hành ở Alcalá, Salamanca và Balê.

       Vào năm 1534, lúc ấy đã 43 tuổi, cùng với sáu người khác (trong đó có Thánh Phanxicô Xaviê) ngài thề sống khó nghèo và khiết tịnh và tất cả cùng đến Ðất Thánh. Các ngài thề quyết rằng nếu không thể ở đây thì sẽ dâng mình cho công việc tông đồ của đức giáo hoàng. Và đó là điều đã xảy ra. Bốn năm sau, ngày 15 tháng 8 năm 1534  Ignatio hợp thức hóa tổ chức của ngài. Tu Hội của Ðức Giêsu (The Constitutions of the Society of Jesus / Dòng Tên) được Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận năm 1541 và Ignatio được bầu làm bề trên đầu tiên.

       Trong khi các bạn đồng hành được đức giáo hoàng sai đi truyền giáo thì  Ignatio vẫn ở Rôma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi, cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội. Ngày nay Tu Hội của Đức Giêsu (Dòng Tên) phát triển trên 500 đại học với 30,000 thành viên khắp nơi trên thế giới và mỗi năm dạy trên 200,000 học sinh.

       Thánh Y Nhã đích thực là một vị thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo – Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên, ad majorem Dei gloriam – “để Thiên Chúa được vinh danh hơn.” Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện, vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà đức giáo hoàng đã sai đi vì sự cứu rỗi các linh hồn.

       Trong những năm tháng cuối đời, ngài phải chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật và qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 tại Rome, nước Ý. Đức Giáo Hoàng Pius V đã tôn phong Chân Phước cho Ignatio ở Loyola ngày 27 tháng 7 năm 1609 và Đức Giáo Hoàng Gregory XV đã tôn phong hiển thánh cho Ignatio ở Loyola ngày 12 tháng 3 năm 1622. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Patron Saints & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint, Vatican Blesseds và Santi-Beati-Testimoni)

Sau đây là những câu nói của Thánh Ignatiô Loyola. Mời Bạn suy niệm những lời này để nâng cao tâm trí và linh hồn đến Chúa.

❦ Việc làm đầu tiên là tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng làm như Chúa đang làm mọi sự và bạn không làm điều gì cả.

❦ Ai muốn làm cho những người khác tốt hơn thì vô ích, trừ khi người ấy bắt đầu từ chính mình trước.  

❦ Từ thiện và tử tế mà không có chân lý thì là sự giả dối và hư vô. 

❦ Sao bạn lại để mọi sự sang một bên cho tháng sau hay năm sau? Tại sao, tại sao bạn lại tin rằng bạn sẽ sống lâu như thế?

❦ Không nên nói hay làm điều gì mà không tự hỏi xem những điều ấy có làm Chúa vui lòng không, có ích lợi cho bạn và có làm ích cho người khác không?

❦ Nếu Chúa muốn cho bạn đau khổ nhiều, đó là dấu hiệu mà Chúa muốn bạn trở nên một vị thánh vĩ đại.

❦ Cẩn thận khi chê trách hành động của người khác. Hãy quan tâm đến ý nghĩ của người khác, có khi họ thành thật và vô tội, dù cho hành động của họ có vẻ xấu xa khi ta nhìn vào. 

(Nguồn HĐ đaminh)

Câu nói nào đánh động Bạn nhất, tại sao?

Lạy Thánh I Nhã, xin Cha Thánh cầu bầu cho con được ơn hiền lành, khiêm nhường và khôn ngoan. Amen.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ || TCVPV

ĐÔI NÉT VỀ THÁNH I-NHÃ LOYOLA – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 I-NHÃ CON NGƯỜI QUẢNG ĐẠI 

Trong cuộc tử thủ chống quân Pháp ở Pamplona, một mảnh đạn đại bác đã làm I-nhã gãy chân, và làm ngài dừng chân.  Biến cố ấy đã đổi hướng đi của ngài.  Đời I-nhã mở sang trang mới.  Phải được khuôn mặt của Đức Kitô thu hút, I-nhã mới dám bỏ và dám theo.  Bỏ những tham vọng của mình về chức tước, tiếng tăm.  Bỏ  giấc mơ chinh phục một tiểu thư quý phái.  Bỏ việc phụng sự cho một vị vua ở trần gian.  Bỏ lâu đài, gia đình và sự nghiệp….  Bỏ là điều kiện để theo.  Để bỏ, cần quảng đại.  Quảng đại là thái độ ta thường thiếu.  Chúng ta dè sẻn, tính toán khi sống cho Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Chúa quảng đại hơn mình.  Chúng ta còn có nhiều  nỗi sợ và tham vọng.  Thánh I-nhã đã định nghĩa quảng đại là: “Dâng trọn cả ý muốn và tự do của mình cho Chúa, để mặc Ngài sử dụng bản thân mình, cũng như mọi sự mình có theo ý Ngài”  (LT.5).  Chúng ta có nên thử một lần quảng đại với Chúa không?   

I-NHÃ, CON NGƯỜI SAY MÊ CHÚA GIÊSU 

Giêsu là vị thủ lãnh mới mà I-nhã khám phá được trong thời gian nằm trên giường bệnh, sau khi đọc sách về cuộc đời Đấng Cứu Thế.  I-nhã chỉ mong mau khỏi bệnh để đi Đất Thánh.  Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, I-nhã muốn ở lại và rao giảng trên nơi Đức Giêsu đã sống.  Một ơn lớn phải xin trong Linh thao Tuần hai, đó là ơn “Hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu, Đấng đã làm người vì tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn” (LT. 104).   Tình yêu Chúa Giêsu đã chi phối cuộc đời I-nhã. Một tình yêu vừa rất riêng tư, tha thiết, vừa đầy tính hành động cụ thể.  Giêsu là một vị Vua mà I-nhã muốn hiến thân phục vụ, muốn chia sẻ với Ngài sứ mạng chinh phục thế giới.  Tình yêu đòi nên giống người mình yêu, chọn bị nghèo khó sỉ nhục, bị coi là ngu dại, để nên giống Đức Kitô, Đấng đã chịu như thế vì tôi.  Chúng ta hãy để cho Đức Kitô  thu hút mình và mời gọi mình làm bạn đường của Ngài.  Hãy cùng Ngài đồng cam cộng khổ để đưa cả thế giới này về cho Chúa Cha.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA TÌNH BẠN 

I-nhã không độc quyền yêu Chúa Giêsu Ngài muốn tất cả trở nên bạn với Chúa.  Chính vì thế, đi đâu ngài cũng có bạn.  Ngài có khả năng tìm được những người cùng chí hướng, và quy tụ họ lại thành một nhóm thân thương.  Ở Barcelona, Alcala, Salamanca, Paris, đâu đâu I-nhã cũng có những người bạn.  Có những nhóm bạn không bền, nhưng cũng có nhóm bạn đã đi vào lịch sử.  Ở Paris, I-nhã đã giúp sáu bạn sinh viên làm Linh thao, thuyết phục họ quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, trong số đó có hai vị thánh Phanxicô Xavier và Phêrô Favre.  Dù quốc tịch, tuổi tác, tính  khí khác nhau nhưng họ có chung một lý tưởng, một ước mơ.  Ước mơ chịu chức linh mục để phục vụ con người.  Ước mơ đi Đất Thánh để giúp người Hồi trở lại.  Ước mơ đi Rôma để đặt mình dưới  quyền Đức Thánh Cha.  Ước mơ sống khó nghèo và khiết tịnh.  Hẳn I-nhã đã góp phần khơi lên những ước mơ, tiềm ẩn nơi những tâm hồn quảng đại.  Chúng ta cần xây dựng tình bạn trên nền Giêsu, cần mở rộng vòng tay đón những bạn mới.  Ước gì tình bạn làm bật dậy những ước mơ và làm cho ước mơ thành sự thật.   

I-NHÃ VÀ VIỆC HỌC 

Sau khi không được phép ở lại Đất Thánh, I-nhã thấy mình cần phải đi học một thời gian, để có khả năng giúp các linh hồn.  Như thế, việc tông đồ là lý do khiến ngài đi học trở lại.  Bằng cấp chỉ là phương tiện để phục vụ.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy I-nhã đi học ở tuổi 33, can đảm ngồi học chung với những chú nhỏ!  Trong thời gian học ở Alcala và Salamanca, I-nhã  lo dạy giáo lý và giảng Linh thao hơn là lo học.  Chính vì thế, ngài gặp rắc rối với giáo quyền, và việc học chẳng tiến bộ mấy.  Cuối cùng, I-nhã quyết định học tập nghiêm túc, kiếm tiền trợ cấp vào mùa hè để khỏi phải đi ăn xin.  Đến năm 44 tuổi, I-nhã mới tốt nghiệp Đại học.  Với mảnh bằng, ngài không còn bị làm khó dễ như xưa.  Mảnh bằng là giấy phép để tôi làm việc.  Kiến thức là chiếc cầu để tôi gặp gỡ tha nhân.  Ước gì tôi có khả năng đưa Chúa vào ngành chuyên môn, và đưa con người khoa học hôm nay đến với Chúa.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI YÊU MẾN HỘI THÁNH 

Hội Thánh thời I-nhã có nhiều vết nhơ.  Có những vị chủ chăn sa ngã nặng nề.  Nhiều linh mục, tu sĩ cũng sa sút và bất xứng.  Ông Luther đã đoạn tuyệt với Hội Thánh công giáo, sau khi phản đối việc bán ân xá một cách mạnh mẽ.  I-nhã không phải không thấy những lầm lỗi, nhưng ngài đã không chỉ trích Hội Thánh.  Ngài ở lại trong Hội Thánh để cải tổ, canh tân.  Dù đã có vị Giáo Hoàng mang nhiều khiếm khuyết, nhưng I-nhã vẫn coi Đức Giáo Hoàng là đại diện Đức Kitô, và chấp nhận được Người sai đi bất cứ đâu, để làm bất cứ việc gì xét thấy cần cho vinh danh Chúa và lợi ích cho con người hơn.  Chúng ta cần có lòng yêu mến Hội Thánh, Hãy bắt tay vào việc xây dựng Hội Thánh bằng những đóng góp nhỏ bẻ, vừa tầm của mình, để Hội Thánh đáp ứng được những nhu cầu thời đại, Hãy canh tân Hội Thánh từ bên trong bằng việc canh tân chính bản thân mình. 

 I-NHÃ, CON NGƯỜI BIẾT PHÂN ĐỊNH 

Lúc còn trên giường bệnh, I-nhã  đã có kinh nghiệm sau: Khi nghĩ đến chuyện trần tục, ngài cảm thấy vui thú, nhưng sau đó lại thấy buồn chán trống rỗng; còn khi nghĩ đến chuyện sống hết mình cho Chúa ngài cảm thấy niềm vui kéo dài.  Từ đó ngài khám phá ra tác động của Thiên Chúa và ma quỉ trong đời mình.  Lúc ở Manresa, I-nhã còn trải nghiệm nhiều thử thách khác: chán nản, khô khan, bối rối đến độ muốn tự tử.  Trong thời đi học, I-nhã cũng bị lôi cuốn bởi những tư tưởng đạo đức khiến ngài say mê đến nỗi không tập trung vào việc học được.  Dần dần ngài biết cách phân định để khám phá ra rằng đó không phải là tác động thực sự của Chúa.  Chúng ta rất muốn biết ý Chúa khi phải chọn lựa.  Có một vài tiêu chuẩn để chọn việc phải làm: nên chọn điều gì có ích lợi phổ quát hơn và lâu bền hơn, nên chọn chỗ nào có nhu cầu lớn hơn và khẩn cấp hơn, nên chọn chỗ nào có hy vọng sinh nhiều hoa trái hơn.  Ước gì chúng ta nhạy cảm với tác động của Chúa và không bị mắc mưu của ma quỉ xuất hiện dưới dạng thiên thần sáng láng.  

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA MAGIS ( HƠN NỮA) 

“Nhằm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa” đó là điều tâm niệm, là châm ngôn sống của I-nhã.  Tình yêu làm người ta say mê cái hơn nữa (magis).  I-nhã chẳng bao giờ chịu ngừng lại và mãn nguyện.  Hoàn cảnh đổi thay, con người cũng biến đổi.  Điều hôm nay là tốt nhất cho vinh danh Chúa thì ngày mai có thể lại không còn như vậy nữa.  Chính vì thế ta cứ phải suy nghĩ, tìm kiếm, cứ phải trăn trở, thích nghi…  Cái hơn nữa đưa ta đi vào một chuyển động.  Đó là khao khát khôn nguôi của I-nhã.  Làm sao để mọi người nhận biết Chúa, và nhận ra nhau là anh em?  Làm sao để vinh quang Thiên Chúa tràn lan trên mặt đất này.  Chúng ta đừng để mình rơi vào sự dễ dãi, và bằng lòng với cái tầm thường.  Làm sao để hôm nay của tôi hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay? 

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Thánh Mácta (Martha)  – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình một ngày đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Cầu nguyện cho nhau và cả thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 4: 29/7/2026.      (t3-25)

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc Âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

    Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc Âm Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

    Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. 

Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. 

Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

    Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

    Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

     Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc Âm đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

    Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm không chèo không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. 

Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này.

Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon. 

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp. (Nguồn: Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

From: Do Dzung

*****

Chén đắng – Xuân Trường (Ý Vũ)

Mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 6: 24/7/2026.    (n26-24)

TIN MỪNG: Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả. (Luca 8:15) 

SUY NIỆM: Cây tốt sinh trái tốt. Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Xem quả biết cây. Đức Maria là hoa quả của hai thánh Gioakim và thánh Anna. Tất cả những điều ấy muốn nói lên rằng Chúa luôn yêu thương những người biết tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Ngài. Đọc lại Kinh Thánh, ta không thấy Thánh Kinh thuật lại lai lịch, và cuộc sống của hai thánh Gioakim va Anna là song thân của Mẹ Maria. Nhưng các Thánh Truyền cho ta hiểu rõ rằng hai ông bà Gioakim và Anna luôn phó thác, cậy trông và tin tưởng vào Chúa. Hai ông bà đã già nua tuổi tác mà vẫn không có con, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương, chấp nhận lời khẩn nguyện, cầu xin của hai ông bà và cho hai ông bà cưu mang, hạ sinh người con yêu quý là Maria. Đây là hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho ông bà Gioakim và Anna. Cái phúc mà song thân của mẹ Maria đã lãnh nhận từ Thiên Chúa biến đổi cả cuộc đời của hai ông bà như lời Tv 23, 5 đã viết: ”Các Ngài được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng xót thương”. Thiên chúa đã chúc phúc cho hai ông bà bằng tình yêu vĩnh cửu, tình yêu không bao giờ tàn lụi, phai mờ, tình yêu hiến trọn cho người khác. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa, hai ông bà được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt và Maria là con hai ông bà đã được Thiên Chúa cất nhắc, để ý và tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính nhờ phúc lành Hai ông bà lãnh nhận nơi Thiên Chúa, qua các Ngài, phúc lành ấy cũng được đổ xuống cho muôn dân, muôn nước và từng người. (Nguồn-mạng Mến Thánh Giá Cái Mơn, hạnh các Thánh)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa xin cho con cháu trong các gia đình luôn biết sống thảo hiếu với Chúa và ngoan hiền với Ông Bà Cha Mẹ.

 LẮNG NGHE: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mátthêu 5:4)

 THỰC HÀNH: Hôm nay Bạn hãy gọi điện thoại hỏi thăm Ông Bà Cha Mẹ và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các đấng còn sống cũng như qua đời nhé.

From: Do Dzung

*****

Một bài hát tuyệt vời: Hạt Giống Tình Yêu

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373) – Cha Vương

Chúc bình an đến Bạn và gia đình, hôm nay 23/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn thánh nữ làm quan thầy nhé.  Không quyên cầu Nguyện cho nhau và thế giới được an bình nhé 

Cha Vương

Thứ 5: 23/07/2026.     (t4-25)

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển—từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các thị kiến ấy làm nền tảng cho đời sống của thánh nữ — luôn luôn chú trọng đến đức ái hơn là trông đợi các ơn huệ thiêng liêng.

     Thánh Bridget là một người trong hoàng gia Thụy Ðiển, được thừa hưởng sự đạo đức của cha mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã yêu quý sự thống khổ của Ðức Kitô. Khi mười bốn tuổi, vâng lời cha, ngài kết hôn với vua Thụy Ðiển là Magnus II và có tám người con (người con thứ là Thánh Catarina ở Thụy Ðiển). Sau khi nhà vua từ trần ngài sống một cuộc đời rất khổ hạnh.

     Trong thời gian hôn nhân, Thánh Bridget cố gắng ảnh hưởng tốt đến vua Magnus. Dù chưa hoàn toàn thay đổi, nhà vua cũng đã ban cho ngài đất đai và cơ sở để thiết lập một đan viện cho nam giới và nữ giới. Tổ chức này sau đó phát triển thành một tu hội, được gọi là Tu Hội Thánh Bridget the Order of the Most Holy Savior (Bridgettines) và được Đức Giáo Hoàng Urban V chuẩn nhận năm 1370 hiện vẫn còn.

     Vào Năm Thánh 1350, Thánh Bridget bất chấp bệnh dịch đang lan tràn khắp  u Châu, ngài thực hiện cuộc hành hương đến Rôma. Ngài không bao giờ trở về Thụy Ðiển và những năm ở Rôma thật không sung sướng chút nào vì bị chủ nợ săn đuổi và bị chống đối bởi sự thối nát trong Giáo Hội thời bấy giờ.

     Chuyến hành hương sau cùng của ngài đến Ðất Thánh thì bị hỏng vì đắm tầu và cái chết của người con trai. Ngài qua đời ngày 23 tháng 7 năm 1373 tại Rome, nước Ý. Ngài được chôn cất tại tu viện Vadstena, Thụy Điển. Thánh nữ Bridget được Đức Giáo Hoàng Bonifacius IX tôn phong hiển thánh ngày 07 tháng 10 năm 1391 và đặt là quan thầy của Thụy Điển.

Lời Bàn: Các thị kiến của Thánh Bridget, thay vì cô lập ngài khỏi các sinh hoạt của thế gian, đã đưa ngài can dự vào nhiều vấn đề đương thời, dù đó là chính sách của hoàng gia hay của giáo triều Avignon. Ngài không thấy sự mâu thuẫn giữa các cảm nghiệm thần bí và các sinh hoạt trần tục, và cuộc đời ngài chứng minh rằng SỰ THÁNH THIỆN CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC GIỮA NƠI THƯƠNG TRƯỜNG.

Sau đây mời bạn suy niệm những câu nói của Thánh Bridget:

❦  Nếu Thiên Chúa chịu đựng những trận đòn và sự hành hạ, thì ta nhiều khi phải chịu đựng những lời nói và những sự nghịch lý. 

❦  “Tội lỗi của một người cho dù có nặng nề đến đâu đi nữa, nhưng nếu họ trở về với Mẹ với trọn con tim và quyết tâm sửa cải thực sự thì Mẹ lập tức sẵn lòng tiếp nhận họ, Mẹ sẽ không kể bao nhiêu tội lỗi họ  đã phạm trước, nhưng chỉ nhìn đến thiện chí và việc họ trở về mà thôi. Người ta xưng tụng Mẹ là Hiền Mẫu nhân lành, và thực sự lòng từ nhân của Con Mẹ đã làm cho Mẹ hết sức nhân lành; và chỉ có những ai có thể mà lại không chịu đến với lòng nhân lành mới thực sự là kẻ khốn nạn.” (Lời Mẹ phán với thánh nữ Bridget nước Thụy Điển)

From: Do Dzung

***********

NHÓM THIÊN CA | CHÚA YÊU CON NHIỀU | TINA NGỌC NỮ | SÁNG TÁC: TIẾN NGUYỄN | THIÊN CA GROUP

 Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

 Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé. Câu nguyện cho nhau và cả thế giới chấm dứt chiến tranh và thiên tai nhé

Cha Vương

Thứ 4: 22/7/2026.       (t3-25)

Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:

– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)

– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)

– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới. 

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người. 

    Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.

    Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới.

  (Nguồn: Người Tín Hữu, hạnh các Thánh)

    Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.

Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trở Về Với Cha – Phan Hùng – Thế Thông – Nguyễn Hồng Ân – Ca Đoàn Sao Mai

THÁNH MARIA MADALENA – Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

Các giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.
Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39). 

Đàng khác, cũng chính việc Thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỷ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói chuyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18). 

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13). 

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

 Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ, nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quý giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” vào buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople. 

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

From: Langthangchieutim


 

Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) – Cha Vương

Chúc một ngày bình yên trong Chúa, mời bạn noi gương các vị Thánh trong lịch phụng vụ để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình nhé.

Cha Vương

Thư 2: 20/7/2026.     (n14-25)

Bạn có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

    Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

    Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. 

Ngày 21/10/2012, Đức Bênêdictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

    Bạn có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi bạn phải làm điều gì đó mà bạn sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp– và rồi bạn hãy làm điều bạn phải làm!   

    Thánh nhân nói: “Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Người là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Người sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế.”

Xin Thánh Kateri Tekakwitha, cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************

CÓ CHÚA CÙNG ĐI – Nguyễn Hồng Ân

Hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô,

Thao Teresa

Đây là một trong những vụ tử đạo tàn bạo nhất trong lịch sử Kitô giáo. Bị bắt chỉ vì một lý do duy nhất: rao giảng Chúa Giêsu Kitô.

Bây giờ hãy tưởng tượng những kẻ hành quyết lột da khỏi cơ thể bạn trong khi bạn vẫn còn sống.

Đó là hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô, một trong số Mười Hai Tông Đồ.

Nhưng ngay cả những tra tấn không thể tưởng tượng nổi cũng không thể khiến ngài chối bỏ Chúa Kitô.

Sau khi bị lột da sống, ngài bị chặt đầu, niêm phong chứng tá của ngài bằng chính máu của mình.

Đây là lý do tại sao nghệ thuật Kitô giáo thường miêu tả ngài cầm dao và mang theo chính da của mình, không phải để tôn vinh bạo lực, mà để nhắc nhở chúng ta về lòng can đảm phi thường của một người đàn ông đã yêu mến Chúa Kitô hơn cả mạng sống của chính mình.

Ngày nay, nhiều người trong chúng ta do dự khi nói về đức tin của mình vì sợ bị chế giễu, mất người theo dõi, hoặc bị không được ưa chuộng.

Thánh Bathôlômêô đã đối mặt với những điều tồi tệ hơn nhiều.

Cuộc đời ngài đặt ra cho chúng ta một câu hỏi đơn giản nhưng đầy thách thức:

Nếu các Tông Đồ sẵn sàng chết vì Chúa Kitô, thì chúng ta sẵn sàng chịu đựng điều gì vì Ngài?

Thánh Bathôlômêô, Tông Đồ và Vị Tử Đạo, xin cầu nguyện cho chúng con.

Nguồn Internet 


 

Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh.- Cha Vương 

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 15/7, Giáo hội mừng kính Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

https://youtu.be/QabvEw53W2k

Thứ 4: 15/7/2026.      (t3-25)

Thánh Bonaventura sinh tại Bagnorea miền Toscane năm 1221. Ngài trải qua thời niên thiếu tại dòng thánh Phanxicô Khó Khăn thành Assise (1243). Dưới sự hướng dẫn của Alexandre de Hales, ngài theo học văn chương và cũng thâu lượm nhiều kiến thức khoa học. Bảy năm sau, ngài cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Commentaire sur les 4 livres des sentences” và nhiều sách có giá trị khác.

Ngài có lòng dịu hiền tột bậc, lòng khiêm nhường sâu xa và lòng mộ mến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Năm 35 tuổi, ngài được bầu làm Bề Trên của dòng Phanxicô (1257). Với trọng trách nặng nề này, ngài được mọi người biết đến, không những vì học thuyết và sự thánh thiện nhưng còn vì sự thông minh và khôn khéo của ngài nữa. Chính vì vậy, năm 1273, Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô X đặt ngài làm Hồng Y coi địa phận Albanô. Ngài đã viết nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị và sau cùng ngài chết tại Lyon (1274), hưởng thọ 53 tuổi.

Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV nâng ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1482 và Ðức Giáo Hoàng Sixtô V đặt ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1588, vì ngài là cột trụ chống đỡ Giáo Hội, lưu tâm đến vấn đề hiệp nhất Hy Lạp và La Mã, đồng thời duy trì và củng cố dòng Phanxicô được lớn mạnh, vững vàng.

 (Nguồn: Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt, Vietnamese Missionaries in Asia)

Sau đây là những câu nói của Thánh Bonaventura:

(1) Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa.

(2) Tất cả của Mẹ là của con và tất cả của con là của Mẹ.

(3) Hỡi linh hồn các tín hữu, anh chị em muốn chứng tỏ tình yêu thật đối với người đã qua đời không? Anh chị em muốn gửi cho họ món quà trợ giúp quý nhất và chìa khoá mở cửa Thiên đàng không? Hãy năng rước lễ cho các linh hồn được an nghỉ.

(4) Nếu ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính Mừng thì Mẹ sẽ đáp lại ta bằng muôn ơn phúc.

(5) Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.

(6) Hạnh phúc cho những ai hiến dâng tâm hồn mình cho Mẹ! Hạnh phúc cho những ai hết tình phụng sự Mẹ!

(7) Ôi tình thương lạ lùng của Chúa! Muốn một ngày kia khỏi phải tuyên án tống giam chúng con vào ngục tuyệt vọng đời đời, Chúa đã ban Mẹ là Mẹ Chúa, là Chủ tối cao kho tàng ân sủng, làm Trạng sư bầu chữa chúng con.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 3 và 4.

From: Do Dzung

************

Chúa Yêu Con Nhiều

VỊ THÁNH 14 TUỔI VÀ LỜI TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ

Hội Thích Nghe Cha Lm. GB Phương Đình Toại – TGP Sài Gòn

VỊ THÁNH 14 TUỔI VÀ LỜI TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ

Nếu ai đó nghĩ rằng thế hệ trẻ ngày nay dễ lung lay trước những thử thách cuộc đời, thì câu chuyện về cậu bé José Sánchez del Río (thường gọi là Joselito) sẽ là một câu trả lời mạnh mẽ nhất về một đức tin kiên trung, không gì có thể đánh đổi.

Năm 1926, khi cuộc bách hại Giáo hội Công giáo nổ ra gay gắt tại Mexico, cậu bé José dù chưa đầy 14 tuổi đã khao khát được dấn thân để bảo vệ đức tin. Cậu nói với mẹ một câu nói để đời: “Mẹ ơi, chưa bao giờ cơ hội để chiếm lấy Thiên Đàng lại dễ dàng như lúc này, và con không muốn bỏ lỡ nó.”

Trong một trận chiến, vì nhường con ngựa duy nhất của mình cho vị tướng chỉ huy chạy thoát, José đã chấp nhận bị quân đội bắt giữ. Người ra lệnh bắt và xử lý cậu lại chính là người cha đỡ đầu của cậu. Người ta đã dùng mọi cách từ mua chuộc, dọa giẫm đến dùng những cực hình nặng nề nhất để ép cậu bé từ bỏ đạo, bởi họ không muốn ra tay với một đứa trẻ. Thế nhưng, cậu thiếu niên ấy vẫn một lòng sắt son với Chúa.

Đỉnh điểm là vào đêm định mệnh năm 1928, người ta đã lột phăng lớp da dưới lòng bàn chân của José, rồi ép cậu phải đi bộ trên con đường đá lởm chởm hướng ra nghĩa trang. Cứ mỗi bước đi rướm máu đầy đau đớn, những lính canh lại quát: “Nếu mày hét lên ‘Đả đảo Đức Kitô Vua’ thì mày sẽ được thả tự do!”. Nhưng đáp lại sự tàn nhẫn đó, cậu bé 14 tuổi chỉ dùng chút sức tàn cuối cùng để hô vang: “Vạn tuế Đức Kitô Vua! Vạn tuế Đức Mẹ Guadalupe!”

Trước giây phút ngã xuống, José đã dùng chính những giọt máu của mình vẽ một hình cây thánh giá lên mặt đất rồi gục đầu hôn kính. Cậu ra đi khi chưa tròn 15 tuổi, để lại một chứng tá đức tin hào hùng chấn động cả thế giới. Năm 2016, cậu đã chính thức được Giáo hội tôn phong lên hàng Hiển Thánh.

Hiện nay, hài cốt vẹn toàn của ngài đang được lưu giữ trang trọng tại quê nhà Mexico để các tín hữu đến kính viếng. Câu chuyện của vị thánh trẻ Joselito là lời nhắc nhở sâu sắc cho mỗi chúng ta hôm nay: Đừng để tuổi tác hay sự nhỏ bé làm giới hạn lòng mến yêu dành cho Chúa.

Thánh José Sánchez del Río, xin cầu cho chúng con!