TÂM LINH VÀ SỰ KIÊN ĐỊNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một điều gì đó bên trong khiến chúng ta chẳng thể hài lòng với những điều bình dị.  Có một điều gì đó nơi chốn bình thường khiến ta dễ nghĩ rằng những thói quen lặp lại, những nhịp sống gia đình và sự tận tụy với bổn phận có thể đè nặng, nhấn chìm và níu kéo chúng ta ra khỏi những dòng chảy tươi đẹp hơn của đam mê, lãng mạn, sáng tạo, khiêu vũ và lễ hội.

 Chúng ta thường hay đố kỵ và lên án những điều bình dị.  Tôi nhớ một sinh viên trẻ của mình từng chia sẻ trong lớp rằng nỗi sợ lớn nhất đời cô là đầu hàng trước những điều bình thường, “để rồi kết thúc bằng sự hài lòng khi trở thành một người nội trợ kiêm người mẹ nhỏ bé, vui vẻ làm quảng cáo bột giặt!”

 Nếu bạn là một nghệ sĩ hoặc có tâm hồn nghệ sĩ, bạn rất dễ rơi vào thứ cảm xúc này.  Đó là một trong những khuynh hướng của người làm nghệ thuật.  Chẳng hạn, Doris Lessing từng nhận xét rằng George Eliot có lẽ đã có thể trở thành một nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá coi trọng đạo đức.”  Điều mà Lessing muốn ám chỉ là Eliot đã giữ mình quá neo chặt vào những điều bình dị, quá an toàn, quá vững chãi và quá xa rời những bờ vực nguy hiểm.

 Kathleen Norris, trong tác phẩm tiểu sử The Virgin of Bennington, đã chia sẻ về việc khi còn là một người viết trẻ, cô từng là nạn nhân của tư tưởng này như thế nào: “Tôi từng tin rằng các nghệ sĩ quá nghiêm túc để có thể sống một cuộc đời tỉnh táo và bình thường.  Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể tránh khỏi trong một thế giới vô cảm, họ được định sẵn cho một cuộc đấu tranh không thể tránh, đôi khi chết chóc, nhưng luôn luôn cao thượng với sự u ám và diệt vong.”

 Một cuộc vật lộn đầy cao cả với nỗi u sầu và tuyệt vọng!  Điều đó nghe thật cuốn hút, nhất là đối với những ai trong chúng ta tự coi mình là người có tâm hồn nghệ sĩ, trí tuệ uyên bác hay thiên về đời sống tâm linh.  Đó là lý do vì sao vào một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy một sự thương hại trịch thượng đối với những người đạt được niềm hạnh phúc đơn sơ.  Chúng ta nghĩ: Thật dễ dàng cho họ, nhưng họ đang tự hạ thấp giá trị của mình!  Đó chính là tiếng nói của người nghệ sĩ bên trong chúng ta.  Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một nghệ sĩ đi đóng quảng cáo bột giặt!

 Xin đừng hiểu lầm tôi.  Không phải tất cả những điều này đều tồi tệ.  Chính Đức Giê-su cũng từng nói rằng con người sống không chỉ nhờ cơm bánh.  Không một nghệ sĩ nào cần phải giải thích điều đó.  Họ biết rằng những thói quen an toàn, trách nhiệm tẻ nhạt và một khoản thế chấp đã thanh toán hết chưa chắc đã tạo nên thiên đường.  Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp, sắc màu và sự ăn mừng.

 Doris Lessing, một nghệ sĩ vĩ đại, đã gia nhập đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng sau đó đã rời bỏ khi trưởng thành hơn.  Tại sao bà lại rời đi?  Một câu nói đã gói gọn tất cả.  Bà nói rằng mình rời bỏ đảng cộng sản “vì họ không tin vào sắc màu!”

 Đức Giê-su quả quyết với chúng ta rằng cuộc sống không được thiết kế để sống theo hai màu đen và trắng, tức là đơn thuần chỉ là một chuỗi tuần hoàn vô tận của việc thức dậy, tắm rửa, đi làm, hoàn thành công việc một cách trách nhiệm, trở về nhà, ăn tối, chuẩn bị những thứ cho ngày hôm sau và rồi lại đi ngủ.

 Thế nhưng, có rất nhiều điều đáng nói về nhịp điệu dường như tẻ nhạt ấy.  Nhịp điệu của những điều bình dị, đến cuối cùng, lại chính là nguồn cội sâu xa nhất để chắt lọc niềm vui và ý nghĩa.  Kathleen Norris, sau khi kể cho chúng ta nghe về sự cám dỗ thời trẻ là né tránh những điều bình thường để lao vào cuộc chiến cao quý hơn với sự ảm đạm và diệt vong, đã chia sẻ cách một người thầy tuyệt vời –  Betty Kray – đã giúp cô thoát khỏi cái bẫy đó.  Kray khuyến khích cô hãy viết ra từ niềm vui cũng như từ sự ảm đạm của mình, và hãy “từ bỏ sự lãng mạn hóa điên rồ như một trò giả tạo.”  Như Norris đã diễn tả: “Bà ấy đã cố gắng hết sức để thuyết phục tôi về điều mà những người bạn từng phải điều trị tâm thần của bà biết rất rõ: rằng sự trân trọng thuần khiết, đơn sơ đối với những điều bình dị, hằng ngày là một kho báu không gì trên đời so sánh được.”

 Đôi khi một người thầy khác lại dạy chúng ta bài học này.  Khi chúng ta phục hồi sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, phải nghỉ làm và rời xa những thói quen, nhịp điệu sinh hoạt bình thường, không có gì ngọt ngào bằng việc được trở lại với những điều bình dị – công việc, lịch trình và những điều quen thuộc của cuộc sống thường nhật.  Chỉ sau khi nó bị tước đoạt rồi được trả lại, chúng ta mới nhận ra rằng sự trân trọng đơn sơ, trong lành đối với những điều hằng ngày chính là kho báu quí giá nhất.

 Dù vậy, các nghệ sĩ vẫn có một phần đúng.  Những điều bình dị có thể đè nặng chúng ta, giữ chúng ta ở bên ngoài những vùng nước sâu hơn của sự sáng tạo, lãng mạn, sắc màu và sự hoang dại giúp ta cất bước nhảy múa.  Tuy nhiên, khi đã thừa nhận điều đó, mỏ neo và sức nặng cũng có một chức năng tích cực.  Chúng giữ cho chúng ta không bị cuốn trôi.  Chúng neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Chúng giữ cho chúng ta vững vàng.  Nhịp điệu của những điều bình dị có lẽ là mỏ neo mạnh mẽ nhất để giữ chúng ta trong sự tỉnh táo.

 Paul Simon, trong một bài hát thập niên 1970 có nhan đề An American Tune, đã hát về việc đối mặt với sự hỗn loạn, sai lầm, sự phản bội và những sự kiện làm tan vỡ sự bình yên của chúng ta.  Và ông kết thúc bản khúc ca khá buồn ấy một cách vô cùng bình yên bằng những lời ca: “Nhưng ngày mai vẫn sẽ là một ngày làm việc khác, và tôi đang cố gắng nghỉ ngơi một chút.  Tất cả những gì tôi đang cố gắng, chỉ là nghỉ ngơi một chút thôi.”

 Sự tuân phục mệnh lệnh đó giúp neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Có rất nhiều điều tuyệt vời để nói về việc trở thành một người bình thường, biết hài lòng, được neo giữ trong nhịp điệu của những điều bình dị, và cố gắng nghỉ ngơi một chút khi kết thúc một ngày làm việc mệt mỏi.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC VỖ TAY, NÓI CHUYỆN NỘP – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Con Người sắp bị nộp vào tay người đời!”.

“Chúng ta thản nhiên lao xuống vực sau khi đặt trước mắt một vật gì đó để khỏi thấy vực sâu!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời ngưỡng mộ cũng có thể che khuất một vực sâu. Tin Mừng hôm nay cho biết, giữa lúc mọi người kinh ngạc trước những việc Chúa Giêsu làm, Ngài nói với các môn đệ rằng Thầy của họ sắp bị nộp vào tay người đời – ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

“Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy”. Điều làm họ vấp váp là một nỗi sợ chưa gọi thành tên: Đấng vừa tỏ quyền năng trước mắt mọi người lại sắp rơi vào tay người đời. Có thể họ đã nhận ra một Đấng mạnh hơn sự dữ; nhưng chưa thể nhận ra Ngài trong dáng vẻ của một người không tự cứu mình. Họ muốn ở lại với hình ảnh một vị Thầy đầy quyền năng; lời “sắp bị nộp” làm hình ảnh ấy rạn ra. Vì thế, câu hỏi nghẹn lại trong cổ họ. Tiếng vỗ tay bên ngoài càng lớn, sự im lặng giữa Thầy và trò càng sâu.

Các môn đệ sợ hãi; Chúa Giêsu rồi cũng sẽ sợ hãi. Nhưng Ngài không giấu nỗi sợ, mà đưa nó vào cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con!”; rồi thưa tiếp: “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!”. Sự khác biệt không nằm ở chỗ ai can đảm hơn, mà ở chỗ nỗi sợ được đưa về đâu. “Chúng ta cần xin ơn để không chạy trốn khi thập giá đến!” – Phanxicô.

Giảng Viên cũng chỉ ra con đường không ai tránh khỏi: “Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới” – bài đọc một. Tác giả không gọi tuổi trẻ là phù vân vì nó đẹp; ông gọi nó là phù vân vì ngay lúc đang đẹp, nó đã trôi. Chúng ta không thể trú ẩn trong điều đang trôi khỏi tay mình. Đừng đợi thân xác hao mòn mới hỏi đời mình đi về đâu. Vì thế, lời đáp ca “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn” phải được cất lên từ bây giờ trong hoán cải và đổi mới.

Trong cuộc sống, như các môn đệ, một lời khen có thể giữ chúng ta ở lại với thành công lâu hơn chính thành công ấy. Nhưng một mất mát, một nỗi sợ bất ngờ nào đó vẫn có thể kéo chúng ta về với điều mình muốn chạy trốn. Hãy đem nỗi sợ ấy vào lời cầu nguyện và nhớ đến ngày cuối, ngày không làm hôm nay tối đi; nó nhắc chúng ta đang sống trước mặt Ai. “Người có niềm hy vọng sống khác đi; người hy vọng đã được ban tặng hồng ân của một đời sống mới!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Thập giá là nơi lời “nộp vào tay người đời” đi tới tận cùng. Tiếng tung hô đã tắt; từ tay người đời, Đức Kitô trao mình vào tay Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. Cha không cất cái chết khỏi Con, nhưng dang tay đón lấy Con. Phục Sinh là lời đáp của Cha, không cần một tiếng vỗ tay. Vực sâu vẫn còn đó; nhưng Con Thiên Chúa không đặt gì trước mắt chúng ta để che nó. Ngài đã đi qua và mở một lối về tay Cha. Không lạ gì, ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ngày con vui, cho con nhớ ngày cuối; ngày con sợ, cho con biết cầu nguyện; và khi phải buông tay, xin dang tay đón con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

 Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/26.html

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43b Khi ấy, đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Đức Giê-su làm, thì Người nói với các môn đệ rằng: 44 “Phần anh em, hãy lắng tai nghe cho kỹ những lời sau đây: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời.” 45 Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy.


 

ĐÚNG – VẪN PHẢI IM – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa!”.

“Thinh lặng là một thành phần thiết yếu của truyền thông; thiếu nó, những lời giàu nội dung không thể tồn tại!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, có những lời đúng vẫn cần thinh lặng cho đến khi có thể nói trọn nghĩa. Phêrô gọi Chúa Giêsu là “Đấng Kitô”; nhưng chỉ thập giá và Phục Sinh mới tỏ hết danh xưng ấy. Vì thế, Phêrô ‘đúng, vẫn phải im’.

Trước hết, câu hỏi “Anh em bảo Thầy là ai?” chỉ đến sau cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Luca ghi: “Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người”. Các ông ở bên Thầy, nhưng có lẽ chưa cùng Thầy cầu nguyện. Phêrô trả lời đúng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”; nhưng lời ấy xem ra chưa được sinh ra từ sự hiệp thông với Thầy trong cầu nguyện. Nó còn mang dáng dấp một kết luận từ những điều người ta truyền nhau về Thầy. Ông gọi đúng tên, nhưng chưa hiểu điều tên gọi ấy đòi hỏi. “Chúa Giêsu có nhiều người yêu mến Nước Trời của Ngài, nhưng ít người mang thập giá Ngài!” – Thomas à Kempis.

Vì thế, Chúa Giêsu nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai. Ngài không bác lời Phêrô; Ngài thanh luyện ý nghĩa ông đặt vào đó. “Đấng Kitô” rất dễ gợi vinh quang và quyền lực. Ngay sau đó, Ngài nói đến đau khổ, sự loại trừ, cái chết và Phục Sinh. Trước khi rao giảng Đấng Kitô, Phêrô phải cùng Thầy sống trọn danh xưng ấy. Bằng không, ông có thể dùng một lời đúng để loan báo một Đức Kitô không đúng. Bởi thế, ông ‘đúng, vẫn phải im’.

Giảng Viên gọi đúng khoảnh khắc ấy: “Một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng”. Phêrô đang đứng giữa hai thời: đã có lời đúng, nhưng chưa đến lúc nói, vì chưa hiểu trọn nghĩa. Sự im lặng không xoá lời tuyên xưng; nó để Thiên Chúa “làm mọi sự hợp thời nên xinh đẹp”. Có những lời cũng phải được thời gian của Chúa làm cho chín. Trong khi chờ đợi, Thánh Vịnh đáp ca chỉ cho người môn đệ biết phải nương vào đâu: “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn”. Tựa vào Núi Đá, người môn đệ không cần đi trước giờ của Thiên Chúa.

Như Phêrô, chúng ta có thể nói về Chúa khi chưa sống đủ lâu với Ngài. Điều đáng sợ không chỉ là nói sai, nhưng còn là nói đúng quá sớm: miệng đã tuyên xưng, đời sống chưa theo kịp. Có lúc, im lặng không phải hèn nhát, nhưng là thành thật nhận rằng mình còn phải hoán cải cho kịp lời mình nói. “Thà im lặng mà sống thật, còn hơn nói mà đời mình không như thế!” – Ignatiô Antiôkia.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ giải nghĩa danh xưng ấy bằng lời; Ngài sống nó đến cùng. Trước những người kết án, Ngài không biện hộ; trên thập giá, Ngài để tình yêu nói Ngài là ai. Phục Sinh là lời Chúa Cha nói sau sự vâng phục đến chết của Người Con. Từ đó, lời Phêrô không còn dựa trên điều người ta nói, nhưng trên những dấu đinh, ngôi mộ trống và câu hỏi của Thầy bên bờ hồ: “Con có yêu mến Thầy không?”. Trước Vượt Qua, ông ‘đúng, vẫn phải im’; sau Vượt Qua, ông không thể không nói.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con im khi chưa hiểu; ở lại khi chưa đến giờ; và biến lời tuyên xưng thành chứng từ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://tonggiaophanhue.net/loi-chua/bai-doc-trong-thanh-le/…

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

18 Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng : “Dân chúng nói Thầy là ai?” 19 Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.” 20 Người lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa.” 21 Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.

22 Người còn nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.”


 

Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa. (1 Tm 6:11)- Cha Vương

Tạ ơn Chúa, một ngày mới để yêu thương và được yêu thương trong Chúa. Đừng quên nhau và thể’ giới này trong lúc cầu nguyện nhé

Cha Vương

Thứ 6: 25/09/2026.    (CN-22)

TIN MỪNG: Phần anh, hỡi người của Thiên Chúa, hãy tránh xa những điều đó; hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa. (1 Tm 6:11)

SUY NIỆM: Là một người Kitô hữu, có bao giờ bạn nghĩ rằng những hành động và lựa chọn trong ngày của bạn có ảnh hưởng đến những người chung quanh không? Cuộc đời của bạn cũng giống như là một “bài giảng”.  Mình xin lỗi trước nhé, những ví dụ sau đây không có ý chỉ trích các nhà giảng thuyết đâu nhưng để diễn tả cuộc đời của mỗi người mà thôi. Như mình đã nói, cuộc đời của bạn cũng giống như là một “bài giảng”. Có những bài giảng dài thật dài nhưng lại rỗng tuếch, có những bài giảng thật xúc tích đánh động tâm hồn của người nghe, có những bài giảng như là một buổi kể truyện… hết chuyện này rồi qua truyện khác, từ chuyện của mình rồi đến chuyện của người khác, rồi lại có những bài giảng như là một chương trình hài kịch ngắn làm cho người nghe cười khúc khích, lại có những bài giảng như là một ca truy tố—soi bói, lên án, vạch  áo cho cả làng xem lưng, rồi lại có những bài giảng toàn nặng về lý thuyết sách vở nhưng nhẹ vệ` ứng dụng làm người nghe cảm thấy nặng đầu, có những bài giảng thật đơn sơ, xúc tích, chân thành mà người nghe cảm thấy như là một quyển Kinh Thánh sống—lời nói đi đôi với việc làm và làm những gì họ dạy và tin . Ví dụ như Mẹ Thánh Teresa, tất cả những gì ngài làm đều  được Phúc Âm hoá, ngài sống và thi hành những điều ngài tin và trở thành nhà giảng thuyết hùng hồn qua những lựa chọn và hành động đơn sơ đúng với tinh thần của Phúc Âm. Có những câu nói của ngài tuy rất đơn sơ nhưng làm cho các nhà phóng viên và giới trí thức phải thinh lặng. Là một người theo Chúa, bạn được mời gọi mỗi ngày để sống và rao truyền tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa qua việc bạn quan tâm đến những người xung quanh, đặc biệt là những người đang cần sự giúp đỡ của bạn.

LẮNG NGHE: 

CHÚA giải phóng những ai tù tội,  

CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà. 

CHÚA cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, 

CHÚA yêu chuộng những người công chính. (Tv 145-đáp ca, CN 26)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin dạy con biết việc con phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.

THỰC HÀNH: Tập đặt người khác lên trên ý riêng của mình hôm nay.

Nhạc Sống  Yêu  Thương..

From: Do Dzung

*****

SỐNG YÊU THƯƠNG_LOVE | D.O.N.G | QUỐC KHÁNH-NENITA-SA ANH-THÁI BẢO TRÂM-PHƯỢNG NGHI | VHOPE

3 THÀNH VIÊN TRONG CÙNG MỘT GIA ĐÌNH THUỘC 3 TÔN GIÁO KHÁC NHAU

Con Tin Chúa Ơi

3 THÀNH VIÊN TRONG CÙNG MỘT GIA ĐÌNH THUỘC 3 TÔN GIÁO KHÁC NHAU

Câu chuyện đặc biệt này xảy ra trong gia đình cha Phêrô Giuse Maria Hà Thiên Trúc, đương kim Chánh xứ Martinô thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn — một gia đình mà ba người, ba niềm tin tôn giáo khác nhau.

Thân phụ của cha là cụ Hà Văn Phủ, đạo danh Đạt Truyền, một tín đồ Đạo Cao Đài (sinh năm 1938, từ trần lúc 20g15 thứ Ba ngày 4.11.2014, hưởng thọ 77 tuổi). Thân mẫu là bà cố Đỗ Tý, pháp danh Diệu Tường, người sùng đạo Phật (sinh ngày 27.10.1936 tại Chợ Lớn, đã tạ thế lúc 11g25 thứ Sáu ngày 11.10.2013, nhằm ngày 7.9 âm lịch). Còn cha Hà Thiên Trúc lại được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và bước vào Giáo Hội Công giáo.

Dù khác biệt tôn giáo, nhưng trong gia đình ấy luôn có sự tôn trọng sâu sắc dành cho nhau. Cả thân phụ lẫn thân mẫu của cha đều sống đạo nghiêm túc theo niềm tin của mình, đồng thời tôn trọng sự chọn lựa tâm linh của con cái. Chính vì thế, khi người con trai quyết định gia nhập Công giáo, ông bà vẫn chấp thuận với một thái độ rất vô tư và nâng đỡ.

Ngay từ nhỏ, cha Trúc đã được giáo dục trong môi trường đề cao đời sống đạo đức và tri thức. Thân phụ đặt tên ngài là “Thiên Trúc”, tên gọi cổ của Ấn Độ — cái nôi của Phật giáo — với ước mong con mình trưởng thành vững vàng về tâm linh. Về phía thân mẫu, bà thường dẫn các con đi quy y, nghe thuyết pháp; chính cha Trúc cũng từng được quy y Phật từ năm học lớp 6, với pháp danh “Thiện Tuấn”.

Trong hành trình trưởng thành, cha Trúc có cơ hội tiếp xúc với đời sống đức tin Công giáo, được nghe biết về Chúa Giêsu cách sâu xa và đầy thuyết phục. Từ đó, ngài đã thành tâm tìm hiểu và quyết định gia nhập Công giáo năm 19 tuổi, với sự chấp thuận và ủng hộ của gia đình. Năm 1989, ngài được lãnh nhận Bí tích Rửa tội tại Giáo xứ Tân Định, Sài Gòn.

Không dừng lại ở đó, cha Trúc còn cảm nhận ơn gọi linh mục. Trước khi bước vào đời sống tu trì, ngài vốn là một bác sĩ y khoa tận tâm, đồng thời cũng là một ca sĩ hát rất truyền cảm. Dù có một tương lai rộng mở, ngài vẫn chọn dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa — từ việc chữa lành thể xác, trở thành người chăm sóc đời sống tâm linh cho tha nhân.

Ơn gọi ấy được nâng đỡ qua sự hướng dẫn của cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn và cha sở Gioan Baotixita Võ Văn Ánh, để rồi sau hành trình đào luyện, bác sĩ Hà Thiên Trúc đã được truyền chức linh mục.

Cha chọn khẩu hiệu đời linh mục là lời ca tụng của Đức Mẹ Maria: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa” (Lc 1,46). Ngài mang ba tên thánh vì lòng yêu mến Thánh Phêrô, lòng sùng kính Đức Mẹ và để tri ân cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn.

Hiện nay, cha Trúc còn là thành viên tích cực của Ủy ban Đối thoại Liên tôn thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn — như một nhịp cầu nối kết giữa các tôn giáo, xuất phát chính từ kinh nghiệm sống của gia đình mình.

Cuộc đời cha là một chứng từ sống động cho thấy: hồng ân Thiên Chúa luôn được ban xuống trên mọi người, không phân biệt. Và bất cứ ai thành tâm tìm kiếm, đều có thể được đón nhận dồi dào ơn Chúa.

Chúng ta cùng nhau cúi đầu tạ ơn Chúa, chúc mừng cha, cầu cho cha Thiên Trúc và chúng ta ngày càng gần trái tim Chúa hơn. Amen.

* Theo: Nhà Thờ Lớn Hà Nội


 

 “Anh em hãy nên thánh, vì ngày mai ĐỨC CHÚA sẽ thực hiện những kỳ công giữa anh em.” (Gs 3:5) – Cha Vương

Ngày thứ 5 đầy  bình an và hạnh phúc trong Chúa và Mẹ nhé. Hãy cầu nguyện cho nhau và  thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 24/09/2026.    (t7-22)

TIN MỪNG: Ông Giô-suê nói với dân: “Anh em hãy nên thánh, vì ngày mai ĐỨC CHÚA sẽ thực hiện những kỳ công giữa anh em.” (Gs 3:5)

SUY NIỆM:

1/ Linh hồn: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh rất sốt sắng, không những Mẹ sớm hiến dâng cho Đức Chúa Trời, mà còn tận hiến hồn xác nữa. Mẹ đã dâng tính tự do cho Chúa và vâng thánh ý Người trong mọi việc. Mẹ luôn luôn gắng sức làm đẹp lòng Chúa, và chỉ ước nguyện một mình Chúa. Không khi nào Mẹ dám lỗi lời thề hứa, cương quyết bước trên đường lối Chúa vạch sẵn.

   Gương trong sáng Mẹ làm cho con vô cùng tủi hổ vì trễ nải trong sự làm tôi Chúa. Con không kiên tâm kính mến, nhưng Chúa lại tỏ lòng thương yêu con luôn.

2/ Đức Mẹ: Hỡi con, đã tiến tới thế, sao con ngừng chân nghỉ bước? Phải chăng nay Chúa không còn là đấng cao trọng khả kính khả ái như xưa? Tại sao con không cung kính mến Người luôn? Tại sao con không suy phục Chúa trước sao sau vậy? Hay là không có luật đòi con phải trung thành với Người? Càng thêm tuổi, ơn Chúa càng gia tăng cho con. Nếu thế phải giữ nghĩa và trung thành với Người luôn mới phải.

   Chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng lòng con và tạo dựng vì Người. Bởi thế, Người là Chúa lòng con. Người không bảo: hãy cho Cha mượn lòng con. Nhưng Người ước mong, “con hãy dâng lòng con cho Người”. Nếu con vâng lời Chúa nâng tâm hồn cho Người, còn lý gì đòi lại được?

(x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:6:1-2) 

LẮNG NGHE: Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. (Rm 12:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, thật là một lỗi lầm rất lớn cho cho khi con bỏ cả giờ đồng hồ để coi phim ảnh trên mạng nhưng lại không có lấy ít phút để cầu nguyện và đọc Kinh Mân Côi. Sau này con phải trả lời với Chúa trong ngày phán xét như thế nào? Xin Mẹ giúp con quay về với Chúa luôn để tận hưởng nguồn hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Đàng với Chúa.

THỰC HÀNH: Hôm nay mời bạn bỏ ra 15 phút để cầu nguyện hoặc đọc Kinh Mân Côi cầu nguyện cho người tội lỗi được ăn năn trở lại với Chúa.

From: Do Dzung

*****

Con Xin Dâng Mẹ – Mai Thiên Vân

BƯỚC TỪ LỜI THƯA“VÂNG” ĐẾN VIỆC LÀM – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Có những lời “vâng” được chúng ta nói ra thật dễ dàng, nhưng để biến lời “vâng” ấy thành hành động cụ thể lại là cả một hành trình.  Cũng có những lúc chúng ta nói “không” với Chúa, tưởng như đã khép lại cánh cửa của lòng mình; thế nhưng, nếu biết khiêm tốn nhìn nhận sai lầm và trở về, chúng ta vẫn có thể mở ra một con đường mới.

 Phụng vụ Lời Chúa tuần này dẫn chúng ta đi vào một vấn đề rất gần gũi với đời sống đức tin: sự hoán cải: Thiên Chúa không chỉ nghe những gì môi miệng chúng ta nói, Ngài nhìn đến sự thật của con tim biết biến đổi được thể hiện qua chính cuộc sống và việc làm của chúng ta.

 Tiếng gọi hoán cải

 Qua miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en, Thiên Chúa khẳng định rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về điều mình lựa chọn.  Khi dân Ít-ra-en phải gánh chịu những hậu quả của tội lỗi và chứng kiến kẻ gian ác dường như vẫn sống bình an, họ đã than trách: “Đường lối của Chúa không chính trực” (Ed 18,25).  Nhưng Thiên Chúa cho họ thấy một sự thật khác.  Ngài không xét xử con người chỉ dựa trên quá khứ, cũng không quy trách nhiệm của người này cho người khác.  Chúa nhìn vào thái độ của mỗi người trong cuộc sống hiện tại.

 Thiên Chúa là Đấng công minh, nhưng cũng là Đấng giàu lòng thương xót.  Ngài không tra vấn con người để tìm lý do kết án, nhưng để mở cho con người một con đường trở về.  Vì thế,: ” Chúa phán: ‘Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống’ ” (Ed 33, 11).  Đây chính là niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại.  Không ai bị khóa chặt mãi mãi trong quá khứ của mình.  Người từng yếu đuối vẫn có thể đứng dậy.  Người sai lầm vẫn có thể bắt đầu lại.  Một tâm hồn từng xa Chúa vẫn có cơ hội trở về.  Nhưng muốn trở về, trước hết phải biết khiêm nhường.  Khiêm nhường chính là cửa ngõ để đón nhận ơn Chúa.

 Lời Thánh vịnh gia cầu nguyện: “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con lối bước của Ngài” (Tv 25,4-9).  Lời ấy rất đơn sơ, nhưng thật sâu sắc.  Bởi nhiều khi chúng ta xa Chúa không phải chúng ta không biết đường, nhưng vì quá tự tin vào đường lối của mình, muốn Chúa làm theo ý mình hơn là xin cho mình sống theo ý Chúa.

 Người khiêm nhường là người không ngại thưa với Chúa: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa.”  Và chính khi biết cúi xuống, con người lại được Thiên Chúa nâng lên.

 Từ lời “vâng” suông đến hành động

 Tin Mừng hôm nay kể Dụ Ngôn Hai Người Con được cha sai đi làm vườn nho.  Người con thứ nhất ban đầu trả lời: “Con không đi” (Mt 21,29), nhưng sau đó anh hối hận và đi.  Người con thứ hai thì thưa: “Thưa cha, vâng, con đi!” (Mt 21,30), nhưng rồi lại không đi.  Chúa Giê-su đặt một câu hỏi rất đơn giản: “Ai trong hai người đã làm theo ý cha mình?” (Mt 21,31).  Câu trả lời thật rõ ràng: người đã làm theo ý cha.

 Dụ ngôn này chạm đến mỗi người chúng ta, bởi có lúc chúng ta giống người con thứ hai luôn nói những lời đẹp lòng Chúa: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa.”  Chúng ta đọc kinh, đi lễ, tham dự các việc đạo đức.  Nhưng trong đời sống hằng ngày, chúng ta lại dễ nóng giận, ích kỷ, xét đoán, thiếu tha thứ, hoặc làm ngơ trước nỗi đau của người bên cạnh.

 Trái lại, có những người tưởng như đang ở rất xa Thiên Chúa, nhưng một ngày kia họ nhận ra sai lầm, sám hối, thay đổi và bắt đầu sống tốt hơn.  Vì thế, Chúa muốn chúng ta không chỉ là lời thưa “vâng” trên miệng, nhưng là cuộc đời biết thực thi ý Chúa.  Chính Chúa Giê-su tuyên bố: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21).

 Người còn nói một điều khiến những người đương thời bấy giờ phải suy nghĩ: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,23).  Lý do đơn giản vi họ đã tin vào lời Gio-an và thay đổi cuộc đời, trong khi có những người tưởng mình đạo đức lại không chịu hoán cải.  Điều đó cho thấy trước mặt Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là mình đã từng như thế nào, mà là hôm nay mình đang trở nên người nào.

 Hoán cải trong đời sống hôm nay

 Lời mời gọi trên không chỉ dành cho những người được coi là “tội lỗi”, mà dành cho tất cả chúng ta.  Trong đời sống đạo, chúng ta rất dễ tự mãn vì mình là người “đạo gốc,” siêng năng đi lễ đều, đọc kinh nhiều, giữ những tập tục đạo đức…  Những điều ấy đều quý giá, nhưng sẽ trở nên thiếu trọn vẹn nếu không biết yêu thương, phục vụ và thứ tha.

 Có khi chúng ta thưa “vâng” với Chúa trong nhà thờ, nhưng lại nói “không” với người thân bằng thái độ lạnh lùng.  Chúng ta cầu xin Chúa tha thứ cho mình, nhưng lại không muốn tha thứ cho người khác.  Chúng ta xin bình an, nhưng chính mình lại đem sự bất hòa đến cho người khác.

 Vậy, có lời “vâng” nào chúng ta đã nói mà chưa thực hiện không?  Có điều tốt nào Chúa đang mời gọi mà chúng ta cứ lần lữa không?  Có lỗi lầm nào chúng ta cần sửa đổi không?

 Hoán cải không nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc thật lớn lao.  Đôi khi chỉ là biết nói một lời xin lỗi; biết nhường nhịn, tha thứ cho người đã làm mình tổn thương; giúp đỡ một người đang cần; hay biến một lời kinh thành việc bác ái cụ thể.  Đó chính là lúc lời “vâng” của chúng ta trở thành một lời “vâng” có sức sống.

 Điều Chúa mong đợi là chúng ta biết trở về.  Người con từng nói “không” vẫn có thể bước vào vườn nho.  Người đã từng lạc đường vẫn có thể tìm lại con đường.  Người từng sa ngã vẫn có thể đứng lên.  Điều quan trọng là đừng cố chấp ở lại trong cái sai, nhưng hãy khiêm tốn trở về với Chúa.

 Xin cho mỗi người chúng ta không chỉ biết nói “vâng” bằng môi miệng, nhưng biết nói “vâng” bằng cả cuộc đời.  Amen.

 Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

BIẾT NHÌN LẠI MÌNH – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu (Mt 21, 28-32) Chúa nhật 26 thường niên)

Dụ ngôn Tin mừng Mát-thêu thuật lại rằng: Từ sáng sớm, người cha gọi đứa con thứ nhất đến và bảo: “Nầy con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha.”

Nó vốn ham chơi, lười lao động, nên trả lời ngay: “Con không đi!”

Nhưng nó chợt hồi tâm, nhớ công lao cha mẹ: Cha mẹ lo cho mình từng miếng cơm manh áo. Khi đau ốm cha mẹ chạy chữa thuốc men, khi buồn phiền, cha mẹ ủi an nâng đỡ… Nếu để cha lao động vất vả một mình mà không giúp đỡ, mình là con bất hiếu. Thế là sau một lát hồi tâm, phản tỉnh, nó quyết định vác cuốc ra vườn cùng làm với cha.

Còn người con thứ hai, sau khi nghe cha gọi đi làm vườn, nó dạ dạ vâng vâng cho qua chuyện, rồi sau đó, bỏ mặc cha lao động một mình.

Thế là, nhờ biết hồi tâm, nhìn lại mình, người con thứ nhất trở thành người con ngoan thảo; trái lại, vì thiếu hồi tâm, không biết nhìn lại mình, người con thứ hai trở thành đứa con hư hỏng và bất hiếu.

Qua dụ ngôn nầy ta thấy rằng: Người khôn ngoan không phải là người không bao giờ mắc lỗi, mà là người nhận ra lỗi của mình đủ sớm để sửa chữa.

Ngoài ra, nhà hiền triết Socrates cũng để lại cho đời một tư tưởng rất sâu sắc như sau:

“Đời sống không được xét lại thì không đáng sống.”

Sống trên đời, ai cũng mắc phải lỗi lầm, không ai vô tội. Tuy nhiên, người ta có thể vượt qua lỗi lầm để trở nên người tốt.

Những ai biết nhìn lại mình, nhận ra lầm lỗi mình và quyết tâm sửa đổi thì sẽ trở nên người tốt. Ngược lại, nếu không nhìn lại mình để phát hiện lầm lỗi và không quyết tâm sửa đổi thì không thể nên tốt được.

Tiếc thay, mọi người đều có mắt nhìn ra ngoại giới để nhận biết sự vật chung quanh, nhận ra đủ thứ lỗi lầm của người khác… trong khi đó, ít người có khả năng nhìn vào nội giới, vào nội tâm để thấy những sai trái của bản thân; vì thế, không thể cải thiện đời sống được.

Cần soi gương

Tấm gương soi tuy đơn sơ nhưng vô cùng hữu dụng. Nhờ soi gương, ta có thể nhận ra đầu tóc rối bù của mình để chải vuốt lại, nhận ra những vết dơ trên khuôn mặt để lau chùi sạch sẽ, nhận ra bộ râu tua tủa để tỉa xén cho gọn gàng… Nếu suốt cả chục năm trời không một lần soi gương, chắc là khuôn mặt ta trông “ghê” lắm!

Biết thế, nên nhà nào cũng sắm gương, người nào cũng soi gương để trang điểm khuôn mặt mình.

Tuy nhiên, việc soi tâm hồn, soi nhân cách để thấy được điều xấu trong đời mình quan trọng hơn soi mặt rất nhiều.

Ta có thể soi tâm hồn, soi hành vi của ta bằng cách phản tỉnh, tức là tự nhìn mình, tự xem xét phê phán mình.

Hãy nhìn lại mình như nhìn một đứa bé đang chơi, một con kiến đang bò… Hãy soi xét chính mình như ta đang xét xem người khác.

Soi thái độ của ta: có trịch thượng, cha chú… hay lịch sự, khiêm nhường?

Soi cung cách ứng xử của ta: có gần gũi hay xa cách người khác?

Soi hành vi của ta, xem có văn hóa hay thiếu chuẩn mực?

Soi lời ăn tiếng nói xem có ôn tồn, nhã nhặn hay cộc cằn, thô lỗ…? Vân vân…

Khi soi mặt, thấy có vết dơ, người ta rửa sạch liền không trì hoãn.

Tương tự như thế, khi tự soi mình, phát hiện nhân cách mình xấu xa, đáng trách… người ta sẽ quyết tâm cải thiện không chậm trễ.

Nhưng nếu không chịu soi nhân cách, ta không thể thấy những nết xấu của mình và hậu quả là sống chung với tật xấu suốt đời.

Lạy Chúa Giê-su,

Không gì làm Chúa vui lòng cho bằng thấy đoàn con biết chừa bỏ thói xấu, cải thiện cuộc đời, trau dồi nhân đức.

Xin giúp chúng con luôn soi mình mỗi ngày, để thấy được những hành vi sai trái mà chừa bỏ; nhờ đó, chúng con sẽ sống đẹp lòng Chúa hơn. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****

Tin mừng Mát-thêu (21, 28-32)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: ‘Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!’ Nó thưa lại rằng: ‘Con không đi’. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: ‘Thưa cha, vâng, con đi’. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?” Họ đáp: “Người con thứ nhất”. Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài”.

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHÔNG GÌ MỚI – TRỪ NGÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?”.

“Đức Giêsu Kitô luôn luôn trẻ trung và là nguồn mạch bất tận của sự mới mẻ!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Hêrôđê thắc mắc về Chúa Giêsu; ông tìm lời giải nơi những cái tên của quá khứ. Nhưng không tên gọi cũ nào chứa nổi sự mới mẻ của Ngài. Giữa một thế giới “dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ”, Lời Chúa hôm nay mở ra một ngoại lệ: ‘không gì mới – trừ Ngài’.

Trước hết, điều làm Hêrôđê bận tâm không hẳn là Chúa Giêsu, nhưng là nỗi bất an của mình. “Ông Gioan, chính ta đã chém đầu”, lời ấy cho thấy tội ông đã phạm vẫn sống trong ông như một món nợ chưa thanh toán. Vì thế, nghe nói về Ngài, ông lập tức quay về với những bóng hình cũ. Câu hỏi “Ông này là ai?” rất đúng; nhưng lòng ông chỉ muốn thoả sự tò mò, không muốn đổi đời để nhận ra Ngài.

Ông “tìm cách gặp Chúa Giêsu”; nhưng mong gặp chưa hẳn đã muốn tin. Ông muốn thấy một phép lạ, mà không nhận ra điều mới mẻ không phải là việc Ngài làm, nhưng chính là Ngài – ‘không gì mới, trừ Ngài’. Về sau, Chúa Giêsu đứng trước mặt ông; ông hỏi nhiều điều, nhưng Ngài không đáp một lời. Hêrôđê đã gặp mà vẫn không thấy: Chúa ở rất gần, nhưng lòng ông vẫn ở rất xa. “Thiên Chúa vẫn ở nhà; chính chúng ta mới đi vắng!” – Meister Eckhart.

Giảng Viên gọi đúng tên thế giới của Hêrôđê: “Dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ”. Quyền lực vẫn sợ sự thật, người công chính vẫn mất đầu. Mọi sự trở về lối cũ, như mặt trời mọc rồi lặn, như gió đi rồi trở lại. Thiên Chúa không ngừng làm điều mới; Chúa Giêsu đã đến, nhưng lòng Hêrôđê không đổi, nên Ngài cũng chỉ còn là một tin đồn. Nhưng Thánh Vịnh không để tiếng thở dài ấy khép lại: “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!”. Mọi sự chóng qua; chỉ nơi Đấng không qua đi, con người mới có chỗ trở về.

Điều xảy ra nơi Hêrôđê cũng có thể xảy ra trong đời sống đức tin: chúng ta giữ Chúa Giêsu trong những điều giáo lý đã thuộc từ tấm bé. Lời Ngài không còn khiến lòng xao động; sự hiện diện của Ngài không còn đòi một đổi thay. Ngài không còn là Đấng đang đến, nhưng chỉ còn là Đấng chúng ta tưởng mình đã biết. “Thế giới đầy ắp sự hiện diện của Thiên Chúa; Ngài bước đi khắp nơi trong dáng vẻ ẩn danh!” – C. S. Lewis.

Anh Chị em,

Đức Kitô là sự mới mẻ của Thiên Chúa bước vào lịch sử. Trên thập giá, Ngài mang lấy câu chuyện muôn thuở của nhân loại: người công chính chịu sát hại, tình yêu dường như thua cuộc, sự chết tưởng có lời sau hết. Nhưng Phục Sinh không đưa Ngài trở lại đời sống cũ; Phục Sinh khai mở một tạo thành mới. Ngài không phải Gioan trở lại, cũng không phải một ngôn sứ xưa trỗi dậy; Ngài là Người Con đã đi qua sự chết để mở cho nhân loại con đường vào sự sống của Thiên Chúa. Từ đó, giữa lòng lịch sử có một khởi đầu không bao giờ cũ – ‘không gì mới, trừ Ngài’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những vòng quay luẩn quẩn của đời con, xin mở một lối mới; giữa mọi điều chóng qua, cho con tìm về Ngài – nguồn mạch bất tận của sự mới mẻ; để bắt đầu lại mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

 Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/24….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

7 Khi ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe biết tất cả những gì đã xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy, có kẻ nói: “Đó là ông Gio-an từ cõi chết trỗi dậy.” 8 Kẻ khác nói: “Ông Ê-li-a xuất hiện đấy!” Kẻ khác nữa lại nói: “Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại.” 9 Còn vua Hê-rô-đê thì nói: “Ông Gio-an, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Rồi vua tìm cách gặp Đức Giê-su.


 

THỂ HIỆN NGÀI HƠN LÀ NÓI VỀ NGÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người sai các ông đi”.

“Đây là cách người ta nên rao giảng: thể hiện Chúa Giêsu hơn là nói về Chúa Giêsu. Và chúng ta thể hiện Chúa Giêsu như thế nào? Bằng chứng ngôn của chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói rất đúng về Đức Giêsu mà vẫn làm Ngài khuất đi. Lời Chúa hôm nay cho thấy: ơn gọi của người môn đệ không phải để người ta nhớ đến mình, nhưng để họ nhận ra Đấng đã sai mình – ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’.

Trước hết, để rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ phải ở lại với Đấng khai mở Nước ấy. Luca cẩn thận ghi: “Đức Giêsu tập họp Nhóm Mười Hai lại”. Chuyển động đầu tiên của sứ vụ không phải là đi ra, nhưng là đi vào; không phải lên đường, nhưng là đến gần; không phải nói, nhưng là nhận. Ở lại với Đức Giêsu không nhằm có thêm những điều để nói, nhưng để nhận lấy cách nhìn, cách chạm và cách yêu. Chỉ lúc ấy, người môn đệ mới không trình bày một ý tưởng về Ngài, nhưng để dung mạo Ngài hiện ra nơi mình. “Hãy để ánh sáng của Đức Kitô chiếu toả trong đời sống các bạn!” – Gioan Phaolô II.

Tiếp đến, người môn đệ trở nên trong suốt trước Đấng Sai Đi. Họ ra đi không gậy, không bao bị, không bánh, không tiền. Chính sự nghèo khó của sứ giả thể hiện rõ quyền năng Thiên Chúa. Quyền năng ấy càng sáng tỏ vì những gì họ sở hữu không đủ sức giải thích; điều họ không mang bên ngoài trở thành chứng từ cho điều họ đã nhận bên trong. Trước khi cất lời về Nước Thiên Chúa, cách họ hiện diện đã bắt đầu loan báo Nước ấy. Vì thế, người ta có thể nhận ra Đức Giêsu nơi họ trước cả khi nghe họ nói về Ngài.

Và rồi, người môn đệ phải trung thành với Lời đã nhận. “Đừng thêm thắt chi vào lời Người phán dạy!” – bài đọc một. Cám dỗ của người rao giảng không chỉ là nói sai, nhưng còn là thêm mình vào Lời đến mức người ta nhớ người nói mà quên Đấng đã phán. Lời không cần tô điểm; Lời cần một đời sống. Thánh Vịnh đáp ca gọi “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước!”. Ngọn đèn ấy phải soi bước người môn đệ trước khi soi lối cho người khác. Khi đời sống bước theo Lời, chứng ngôn sẽ nói phần còn lại. “Công việc quan trọng hơn việc nói hay viết về công việc; chính qua những việc thương xót mà tình yêu được biểu lộ!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói Chúa Cha yêu con người; Ngài cho tình yêu ấy một gương mặt và một thân thể. Lời đã trở nên xác phàm; đôi tay chạm người hủi, đầu gối quỳ dưới chân môn đệ, thân mình trao trên thập giá. Khi lời nói lặng đi, cách Ngài chết lại nói về Chúa Cha rõ nhất. Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài mang chúng vào vinh quang, thể hiện quyền năng của Chúa Cha: tình yêu có tiếng nói sau cùng. Vì thế, ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’ không phải một kỹ thuật rao giảng, nhưng đi theo chính con đường của mầu nhiệm Nhập Thể: điều người môn đệ loan báo phải mang lấy hình hài Đức Kitô trước hết trong đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở lại với Chúa trước khi ra đi; sống điều con loan báo trước khi nói; và để dung mạo Ngài hiện ra qua đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

********

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/23….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Khi ấy, Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2 Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3 Người nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4 Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5 Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” 6 Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi.


 

KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

 KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

1.Kinh Kính Mừng

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc“

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyền tin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có Thiên Chúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận : ” Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc“. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy được đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời… và trong giờ lâm tử”.

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với “Đức Maria đầy ơn phúc“. Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : “Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi“. Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn.

  1. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô : “Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết“.

Thánh Bênađô nói : “Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ“.

Còn thánh Bônaventura nói : “Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng“.

Theo thánh Montfort “Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị Kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi“.

Thánh Anphongsô “Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng“.

Kinh Mân côi là kinh chính Ðức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục : “Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày“. Và nhất là : “Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình“.

  1. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, khiến ngày mùng 07 tháng 9 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô phải mời gọi cả Hội Thánh ăn chay cầu nguyện cho hòa bình tại Syria và những nơi bạo lực đang hoành hành. Lời cầu của Hội Thánh đã được nhận lời, chiến tranh đe dọa Damacus đang qua đi, nhưng tại Trung Đông, Ai Cập, Triều Tiên và cả Thánh Địa xem ra Hòa Binh vẫn vắng bóng. Năm nay, năm 2014, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới nhiều lần cầu nguyện cho Irắc, không những kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình tại Israel và Palestin mà còn tổ chức cầu nguyện với nguyên thủ quốc gia cả hai nước. Trong tình hình hiện nay, chỉ biết chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt  qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng về Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ ra bất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúp phải đến từ Trời. Chính Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, Ðấng đem chúng ta trở lại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng ta thường cảm thấy bất lực. Khi nghĩ đến sức mạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầu nguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. Ðức Maria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tình mẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đường đến với Chúa Cha, Ðấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùng phục thánh ý của Người.

Vậy kinh Mân Côi càng có lý do hơn nữa để xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.

Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

 

 Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại?- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình tràn đầy ơn lành và bình an của Thiên Chúa và Mẹ nhé. Không quên cậ`u nguyện cho nhau và thế giới  luôn nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 22/9/2026.    (t5-22)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại? Chúng ta tin kẻ chết sẽ sống lại vì Chúa Giêsu đã phục sinh từ trong kẻ chết, Người sống luôn mãi, và Người làm cho chúng ta tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Người. (YouCat, số 152)

SUY NIỆM: Khi có ai qua đời, xác họ được chôn hoặc thiêu. Nhưng ta tin rằng họ có một đời sống sau khi chết. Chúa Giêsu phục sinh đã tỏ mình ra như Chúa của sự sống. Lời của Người đáng tin cậy: Tôi là sự sống lại. Ai tin Tôi dù có chết vẫn sẽ sống (Ga 11,25b).(YouCat, số 152 t.t.)

LẮNG NGHE: Sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại thì Đức Kitô đã không chỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. (1 Cr 15,12-14.19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “Nơi Người, niềm hy vọng sống lại vinh phúc đã chiếu toả trên chúng con, để những ai buồn sầu, vì số phận chắc chắn phải chết cũng được an ủi, vì Chúa đã hứa ban phúc trường sinh bất diệt sau này. Vì, lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn trên trời.” (Kinh Tiền Tụng cầu cho tín hữu qua đời)

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng cầu cho các linh hồn trong luyện ngục.

From: Do Dzung

*****

Sự sống thay đổi mà không mất đi