ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN – Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Thông thường người Công giáo là người được sinh ra trong gia đình mà cha mẹ, ông bà là người có đạo nên được rửa tội từ thuở nhỏ và lớn lên mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, tham dự thánh lễ là một chuyện tự nhiên, bình thường. Hoặc khi lấy vợ, lấy chồng là người Công giáo, rồi học đạo, làm lễ ở nhà thờ cũng trở thành người Công giáo. Còn số người lớn cảm nhận về đạo Công giáo thấy yêu mến đạo, yêu mến Chúa Kitiô và Đức Mẹ Maria, rồi theo đạo cũng không phải là ít. Thường những người lớn tuổi này đến với nhà thờ Công giáo, đến với Chúa Giê-su và Đức Mẹ thông qua nhiều nguyên nhân thường do ảnh hưởng từ bạn bè là những người Công giáo sống đức tin, đạo hạnh hay ảnh hưởng từ gương sống của các Thầy cô dạy ở trung học hay Đại học hay gương lành của các tu sĩ, Linh mục hay các Sơ đã hy sinh đời mình phục vụ cho tha nhân, nhất là phục vụ cho những người kém may mắn như những người bị bịnh phong cùi, người tàn tật đui mù, bịnh sida v.v…hoặc có được ơn riêng, Thiên Chúa đánh động họ để họ tìm về cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa tình yêu. 

Khoảng năm 1533, đạo Thiên Chúa truyền bá sang nước ta cho đến ngày hôm nay, đã trải qua nhiều sự thăng trầm. Những lúc đạo Chúa bị bách hại dữ dội nhất lại thường nuôi dưởng và phát triển tinh thần bác ái, yêu thương và sản sinh ra nhiều vị Thánh tử đạo…  

Bài này chỉ nói đến một vài nhân vật đã đến với Đạo Chúa như sự kiện bình thường nhưng ẩn tàng bên trong là một sự chuyển biến lâu dài về tâm lý, tình cảm, lý trí rất phức tạp của con người để đến hay nói đúng hơn trở về nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa toàn năng. 

Minh Đức Vương Thái Phi: (1558-1649) 

Bà là vợ thứ 10 của Chúa Nguyễn Hoàng. Lúc sinh Hoàng Khê bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn Hoàng 64 tuổi. Bà được lảnh bí tích Rửa tội vào năm 1625 (lúc ấy bà chừng 51, 52 tuổi) tên thánh là Maria Ma-da-Lê-Na, tại Phước Yên do Cha Francesco di Pina, Dòng Tên người Ý.  

Theo cha Đắc Lộ, người có mặt Lễ Rửa tội của bà Minh Đức, thì trước kia bà là người rất sùng đạo Phật. Khi đã theo Công giáo bà lại đem hết mình phụng sự đức tin mà còn sốt sắng hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ đã là nhân chứng về đời sống đạo của Bà: 

“Trong Dinh của bà, bà lập ra một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong cơn cấm đạo ngặt nghèo. Bà mở rộng cửa cho các giáo hữu của tỉnh đến cầu nguyện…Bà đã dùng các lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với Đức tin Công giáo trong số đó có cả những người họ hàng với nhà chúa. 

Trong thời gian này, ngày 26-7-1644 thầy giảng An rê chịu tử đạo làm bà Minh Đức rất là đau đớn. Nhưng nỗi đau đớn nhất là con bà, ông Hoàng Khê, để lấy lòng chúa Thượng, đã cho phá nhà nguyện của mẹ ngày 20-2-1645. Năm sau, ngày 22-8-1646 ông Hoàng Khê qua đời không được rửa tội. Cái chết chưa được rửa tội của con càng làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng. 

Theo các tài liệu bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649 như vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.  

nguồn:  http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/14.htm    

 Thi sĩ Nguyên Sa – Giuse Trần Bích Lan:(1932  – 1988) 

Nguyên Sa là nhà thơ lớn, nhà giáo nổi tiếng dạy triết học tại trường trung học Chu văn An và mở những lớp Triết riêng để luyện thi Tú tài 2. Ông dạy rất nhiều trường tư thục lớn ở Sài gòn. Tôi đã say mê Nguyên Sa từ những bài thơ trong tạp chí Hiện Đại khoảng năm 1961, 1962. Những câu thơ như: 

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông …

 Hôm nay Nga buồn như con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển.

 Hay: 

Tôi đã gặp em từ bao giờ

Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya

Kể từ gió thổi trong vừng tóc

Hay lúc thu về cánh nhạn kia.

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay…  

đã như đi sâu vào tâm hồn của đa số người dân miền Nam yêu thơ thời đó nhất là người Sài gòn thích thơ trong đó có tôi. 

Trong bài “Vài kỹ niệm với nhà thơ”, nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc viết: “Câu chuyện lan man đi qua vấn đề tôn giáo. Nguyên Sa nói: “Nhân tiện có anh và anh Q.T. là người theo đạo Công giáo. Tôi hỏi các anh, nếu tôi muốn theo đạo thì phải làm sao?” 

Tác giả viết: “Tôi nói: Dễ thôi. Anh Q.T. hoặc tôi sẽ giới thiệu anh đến một vị Linh Mục, vị này là linh hướng cho anh….Vị Linh Mục sẽ giải thích những lẽ chính trong Đạo và đưa anh một cuốn sách nhỏ dặn anh về đọc và ghi nhớ. Rồi vị Linh Mục hỏi xem anh có nhập tâm và tin – nhất là tin – những điều đó không? Sau khi đã qua những chặng chuẩn bị tâm hồn anh được chịu phép Rửa tội và được rước Chúa vào tâm hồn. Có 10 điều răn của Đức Chúa Trời và 6 điều răn của giáo hội, anh cứ theo như thế, tức là trở thành tín hữu tốt. Ngày thi sĩ Nguyên Sa chịu phép Rửa tội, anh có viết thiệp báo tin cho tôi. ..” 

Tác giả viết tiếp: “Tôi biết anh đã ra đi yên ổn vì anh có tâm sự với tôi lúc còn sống anh chỉ ước ao được chết Lành như một tín hữu Công giáo. Năm đó là năm 1998, anh thọ được 66 tuổi”. 

nguồn:  http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=294&ia=9417    

Ca sĩ Duy Khánh: (1936- 2003) (Micae Nguyễn văn Diệp). 

Trong báo: “Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” số 200, tháng 3 năm 2003, Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng có viết bài: “Ca Sĩ Duy Khánh & Cuộc trở lại Đạo cuối đời” cho biết Duy Khánh tên là Nguyễn văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh của Duy Khánh là Cụ Nguyễn văn Triển, Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH, pháp nhiệm 1 (1967-1971). 

 Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết: “Buổi tối ngày lễ Giáng sinh 25-12-2002 anh Văn Đức Thạnh đã gọi điện thoại cho tôi biết “Duy Khánh muốn gặp một Linh Mục”.Vì là ngày lễ lớn nên các nhà thờ đều bận rộn… mãi đến sáng hôm sau, ngày 26-12-2002 tôi mới liên lạc được với Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ, Quản nhiệm cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại nhà thờ Anaheim. 

Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, anh Văn Đức Thạnh đã lái xe đưa Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ đến tại bịnh viện Fountain Valley, phòng số 110 để gặp Duy Khánh. Tôi cùng bà Thơm đi theo xe của anh Thạnh đến thăm Duy Khánh luôn. Bên cạnh Duy Khánh lúc đó chỉ có người con gái của anh (cô Tiên) và chúng tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với Duy Khánh. Anh Thạnh giới thiệu Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ là người đồng hương đến thăm. 

Linh Mục đã hỏi Duy Khánh:

-“Có phải anh muốn gặp Linh Mục người Việt nam hay không?”

Anh Duy Khánh trả lời:

-“Đúng như vậy, tôi muốn gặp một Linh Mục Việt Nam để xin theo đạo Công giáo”. 

Linh Mục nói chuyện với anh khoảng 15 phút xác nhận lúc đó anh còn tỉnh táo và còn sáng suốt để trả lời những câu hỏi của Linh Mục. Sau đó Linh Mục cử hành nghi thức “Rửa tội” cho anh Nguyễn văn Diệp tức ca nhạc sĩ Duy Khánh. Người đỡ đầu là anh Văn Đức Thạnh.Tên Thánh được chọn cho Duy Khánh là Micae (Michael) cũng là tên Thánh của anh Thạnh… 

Nghe tin anh đã theo đạo Công giáo, một người bạn đến thăm và hỏi anh: 

-“Bây giờ anh có hối hận gì về quyết định xin theo đạo và chịu phép Rửa tội hay không?”

Anh đã trả lời: 

-“Tôi không hối hận gì.” 

Mấy ngày sau đó, sức khỏe của anh khả quan hơn trước nhiều. 

Ngày mùng Một Tết Nguyên Đán (Quý Mùi), Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ và một số bạn bè đến thăm, thấy sức khỏe của anh bình thường. Nhưng kể từ ngày mồng hai Tết trở đi, sức khỏe của anh ngày càng xấu đi. 

Lúc 12 giờ 05 trưa thứ tư, 12 tháng 02 năm 2003, Anh Micae Nguyễn văn Diệp tức Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh đã từ giả mọi người để vĩnh viễn ra đi qua bên kia thế giới. 

GS Nguyễn Lý Tưởng viết: “Hơn hai mươi năm trước, khi nhạc sĩ Vũ Thành An trở lại Đạo Công giáo ở trong nhà tù Cộng sản tại Hà Tây (miền Bắc Việt nam), tôi có nói rằng người nghệ sỹ chân chính luôn khao khát Chân, Thiện, Mỹ và họ sẽ được gặp Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa hay Thượng Đế hay ông Trời là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ. Tôi nghĩ rằng Duy Khánh cũng ở trong trường hợp đó. 

Tang lễ của anh được cử hành tại cộng đoàn tam biên (nhà thờ Sait Callitus) lúc 9:30 sáng thứ bảy 22-2-2003. 

Cựu hoàng Bảo Đại: (1913 – 1997).

Trong bài “Bất trắc và bất ngờ trong lịch sử ” đăng trên báo Dấn Thân, bộ 5 số 12 tác giả Linh Mục Nguyễn Thái Hợp có viết: “Sau khi bị truất phế qua cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 ông sống lưu vong tại Pháp.  

Vào giai đoạn cuối đời ông sống đạm bạc ở Paris trong một căn hộ thuộc chung cư ở đường Fresnel, quận 16. Chung cư này nằm cạnh khu đồi của công viên Trocadero. Những ngày đẹp trời ông thường đi dạo chung quanh khu công viên Trocadero. Thỉnh thoảng cũng ghé vào nhà thờ Saint Pierre de Chaillot nằm gần đấy để thăm Linh Mục Argomathe, chánh xứ Chaillot, một chuyên gia về lịch sử, khởi đi từ những câu chuyện văn hóa và thời sự vô thưởng vô phạt. Cùng với thời gian, cuộc đàm đạo càng ngày càng đi sâu vào lảnh vực tư tưởng và tâm linh, đặc biệt về Kitô giáo. Cựu hoàng tìm gặp nơi niềm tin Kitô giáo ý nghĩa, niềm vui và lẽ sống ở đời. Chính vì vậy bất chấp ý kiến không đồng thuận của một số người, ông nhất quyết xin gia nhập Đạo Chúa. Ngày 17 tháng 4 năm 1988 ông chịu phép thanh tẩy tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot với tên Thánh là Jean Robert. Liền theo đó, ông chịu phép thêm sức và cử hành lễ hôn phối với bà Monique Baudot.  

Năm 1995 chính cựu hoàng Bảo Đại với tư cách là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn và đồng thời là người Công Giáo đã xin yết kiến Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã chính thức thay mặt nhà Nguyễn nói lên lời xin lỗi Chúa và Giáo hội.Trong lá thư đề ngày 31 tháng 03 năm 1995 gởi cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II để xin yết kiến, cựu hoàng đã viết: “Đây là dịp hạnh phúc cho chúng tôi được quỳ bên cạnh Đấng kế vị thánh Phêrô để cầu nguyện cho Việt nam và Giáo hội đang chịu đau khổ ở đó. Và qua sự kiện chúng tôi đã chịu phép thanh tẩy đem lại cho đồng bào chúng tôi niềm xác tín vào tình thương vô biên của Thiên Chúa qua Đức GiêSu Kitô, Đấng an ủi những người đau khổ. Ngày 24-6-1995 ông và phu nhân được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến riêng tại Vatican… 

Linh mục chánh xứ Chaillot cho biết sau khi gia nhập đạo cựu hoàng Bảo Đại rất ngoan đạo. Ông thường đến nhà thờ cầu nguyện và đặc biệt sùng kính Đức Mẹ Maria. 

Cuối tháng 6 năm 1997 cựu hoàng Bảo Đại được đưa vào Quân Y Viện Val De Grace ở Paris. Ông từ trần lúc 5 giờ sáng ngày 31- 7- 1997 hưởng thọ 84 tuổi.  

Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot ngày 5 -8-1997 với sự chủ sự của Linh Mục Guyard, đại diện Hồng Y Giám Mục Paris.  Bài “Magnificat” mà ông thích nhất một lần nữa đã trang trọng ngân vang trong thánh đường theo đúng ý nguyện của người quá cố. 

Chủ tịch nước Việt nam ông Hồ Chí Minh cũng đã có Rửa tội?

Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng viết trong bài “Đi gặp Mác – Ănghen hay lên Thiên đàng?” như sau: 

“Có lời đồn Bác đã chịu phép rửa tội Công giáo khi bị bắt ở Hồng Kông, lời đồn đó có thể đúng, vì những người cộng sản họ có kiêng nể gì đâu. Họ khai thác triệt để câu châm ngôn “Mục đích biện minh cho phương tiện”. Có thể làm bất cứ cái gì, chịu phép rửa tội đôi ba lần cũng được, miễn là đạt mục đích mong muốn. Chịu phép rửa tội để ra khỏi tù chứ đâu là trở nên tín hữu công giáo.”… 

  “Vào năm 1986 có cuộc họp của Ban Thường Vụ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Không hiểu sao cha Huấn cũng có mặt ở Hà nội. Cha già Huấn là người già lão, đã trăm tuổi, mặc dầu rất tinh khôn, nhưng người ta vẫn cho Ngài là lẩm cẩm, lẩn thẩn. Ngài lại hay đi sâu vào các vấn đề huyển bí. Những người đến hỏi số phận người nhà đã qua đời lên Thiên đàng hay ở luyện ngục thì Ngài trả lời ngay lập tức: thường là đang ở luyện ngục…. Hỏi về người đi vắng, như bộ đội còn sống hay chết: Ngài cũng chỉ cho họ biết người đó đang ở đâu, sắp về v.v. Rất nhiều người đến xin khấn để tìm thấy của đã mất. Ngài cho biết hiện của lạc mất đang ở đâu. 

Cha Huấn kể việc Bác lên Thiên đàng: “Một hôm con làm lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, (nơi ngài đang ở, vừa làm việc, vừa hưu) chợt thấy bác Hồ hiện ra nét mặt ủ rủ nói với con: Cụ quên tôi à? Tôi là Hồ Chí Minh, tôi đã được rửa tội. Cụ không cầu nguyện cho tôi à?. Sáng hôm sau, tôi làm lễ cho người. Lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, lại thấy Bác Hồ hiện ra, mặt mày vui vẻ người sáng láng cám ơn con, rồi lên thiên đàng.” 

Câu chuyện cha Huấn làm lễ cho Bác là vì Bác yêu cầu. Bây giờ Bác ở đâu? Bác ở lăng có thật không?. Còn linh hồn ở với Mác- Ănghen hay ở trên Thiên đàng? Chỉ có Chúa biết. Nếu ở trên Thiên đàng thì phục vụ cho dân tộc Việt nam nếu ở với Mác- Ănghen thì là tai họa cho dân tộc khổ sở này, đem những thái quá của Mác-Ănghen đến gây muôn vàn tai họa cho Việt nam.” 

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=73862  

Linh Mục Sảng Đình Nguyễn văn Thích: (1891-1978). 

Nữ tu Mai Thành viết: “Linh mục Nguyễn văn Thích là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn văn Mại. Cụ Mại đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn, Bình Định, làm quan đến chức Thượng thư. Cụ bà là Thân thị Vỹ làng Nguyệt Biều, tỉnh Thừa Thiên một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như cụ Thân Trọng Huề, Thượng Thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.

Từ 4 tuổi cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chổng đi thi Hương, cậu Thích cũng học chữ Pháp và chữ quốc ngữ rồi vào trường Pelerin gọi là trường dòng do các sư huynh Lasan điều khiển và giảng dạy. Trường này thành lập năm 1904 và học sinh Nguyễn văn Thích được học cả đạo lẫn đời. Nơi đây cậu ấm được học hỏi trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lý Kitô giáo. 

Trong thời gian học tại Pelerin, học sinh Thích lại có những liên hệ ngày càng mật thiết với Linh Mục tuyên úy Léculier hay cố Lựu nên đức tin vào Đức Giê Su Kitô đấng Cứu thế con Thiên Chúa làm người được thấu hiểu ngày càng thấm đậm trong tâm thức và trí tuệ của chàng thư sinh khao khát Chân, Thiện, Mỹ. 

Với bằng Cao Đẳng tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hoà tháng 02 năm 1911. Bốn tháng sau ngày 29 tháng 6, thầy nhận bí tích rửa tội để trở nên con cái Chúa với tên thánh là Giuse Maria tại nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang do Linh mục Charles Eugène Saulcoy tên Việt là Cố Ngoan. 

Được tin sét đánh này cụ Thượng cầm roi đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Sau đó cụ Thượng nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà xin Đức Cha can thiệp làm mai mối với con gái cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên số phận. Nào ngờ đâu khi được “hung tin” này, môn đệ của Đức GiêSu lấy quyết định từ giả gia đình quí tộc. Một đêm thanh vắng thầy Giuse Maria hóa trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi sáng sớm tháng 9 năm 1917, trực chỉ đến tiểu chủng viện An Ninh tại cửa Tùng, tỉnh Quảng trị. Tiểu chủng viện chỉ nhận từ 12 đến 14 tuổi mà thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Giám mục Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo này, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo Linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Sau đó thầy được gởi vào Đại chủng viện Phú Xuân Huế, 6 năm sau được thụ phong Linh mục ngày 18 tháng 12 năm 1926. 

Cha là nhà giáo từ lúc 20 tuổi. Cha dạy các Thiếu nhi Tiểu học ở Khánh Hoà, dạy các tu sĩ dòng Thánh Tâm Huế, tiểu chủng viện An ninh, Quảng trị, Trung học Khải Định.  

Trong thời gian làm Cha xứ họ Đạo Kim Long Huế, Cha dạy trường Quốc học và các trường tư thục Công giáo Huế. Từ năm 1958 Cha dạy Hán văn các trường Đại học Đà lạt, Huế Sài gòn. Năm 1959 dạy Triết Đông tại viện Hán học. Cha có sáng tác nhiều bài thơ phổ biến trong “Sảng Đình thi tập”. 

Nữ tu Mai Thành viết:“ Ngày 10 tháng 12 năm 1978 Linh mục Giuse Maria Nguyễn văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, hội ngộ cùng Đấng Chân- Thiện- Mỹ mà Linh mục đã hiến thân phục vụ đến trọn đời, trọn tình, trọn nghĩa. Phút lâm chung Ngài còn vui vẻ hát ca. Chắc hẳn là những ngày, những giây phút chuẩn bị cuộc ra đi, ngài đã ngắm nhìn bức tranh Đức Maria mà chính tay Ngài đã kính cẩn họa ra với lời ca Ngài đã sáng tác:

                        Bao giờ tôi được lên Trời,

                        Ở cùng Đức Mẹ thì tôi phỉ nguyền. 

Nguon: http://www.chungnhanduckito.net/tacgia/Mai%20Thanh/lm.nguyenvanthich.htm  

 Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.(1930- 2009) 

Trong quyển “Đất nước tôi”, Hồi ký chính trị của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đuợc biết ông sinh tại Cần Thơ năm 1930, năm 1951 động viên khóa 1 sinh viên Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức.1953 trúng tuyển khóa 1 Học viện Quốc Gia Hành Chánh. 1957 tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

1958 Quận Trưởng Cái Bè, Định Tường.

1959 -1967 Phó Tỉnh Trưởng Định Tường, Phước Tuy và Long An.

1967-1971 Dân biểu Hạ Nghị Viện.

1971-1975 Chủ tịch Hạ Nghị Viên.

1975 Thủ tướng VNCH. 

Ký giả Hạnh Dương viết: “Trong cuộc phỏng vấn cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã cho hay rằng dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lúc ông làm Quận trưởng Cái Bè, Phó Tỉnh Trưởng Định Tường và Phó Tỉnh trưởng Phước Tuy, ông đã nhiều lần được đảng Cần lao yêu cầu ông trở lại đạo Công giáo, ông đã quyết liệt từ chối. Nhưng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, sau khi con gái của ông tử thương vì tai nạn, ông đã buồn, khóc rất nhiều và mắt của ông gần như bị mù. Nghe nói Đức Mẹ Lộ Đức (Lourdes) tại Pháp là nơi linh thiêng và nhiều người khấn xin, đuợc Đức Mẹ chửa lành, nên phu nhân của ông đã đưa ông qua Pháp để đến cầu nguyện tại nơi Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette từ ngày 11-2-1858 đến ngày 16-7-1858 trong 18 lần khác nhau. … 

 Cho đến nay sau ba lần khai mở hầm mộ của nữ tu này để khám nghiệm, làm thủ tục phong Thánh thì điều rất ngạc nhiên xác của nữ tu Marie Bernard này vẫn nguyên vẹn và mềm mại như người đang ngủ. Hiện nay thi thể của nữ tu được bỏ trong quan tài bằng kính trong suốt và để trong nhà nguyện cho mọi người đến kính viếng cầu nguyện. 

Cựu Thủ Tướng nói rằng ông chỉ đi theo đề nghị của vợ ông mà thôi chứ chẳng có tin tưởng gì. Nhưng sau khi thấy những điều kỳ diệu như thế nên ông đã cầu nguyện và không ngờ là sáng hôm sau, sau khi thức dậy, hai mắt ông bừng sáng như chưa hề bịnh tật gì. Và từ đó ông đã xin theo đạo Công giáo và được  thanh tẩy tại Lộ Đức ở Pháp và trở lại Hoa Kỳ đi nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, rất sùng đạo, sống bình dị cho đến giờ phút ông vĩnh biệt gia đình và cộng đồng người Việt tự do tại Hoa Kỳ và Hải ngoại. 

Ông mất ngày thứ tư 20-5-2009. 

Thánh lễ cầu hồn cho linh hồn Phêrô tại nhà thờ Maria Goretti lúc 10 giờ ngày thứ tư 27 tháng 5 -2009,  hạ huyệt tại nghĩa trang Oak Hill, San José. 

nguồn: http://ngothelinh.tripod.com/Nguyen_Ba_Can.html 

Giáo Sư Nguyễn Khắc Dương.  

Nguyên là Giáo sư viện Đại Học Đà Lạt năm 1965-1976. Sinh ngày 24-9-1925 tại Vinh, nguyên quán Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tỉnh.

Là bào đệ của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện một đảng viên nồng cốt của đảng Cộng sản Việt nam, thân phụ là Nguyễn khắc Niêm, nguyên Án Sát tỉnh Nghệ an vào năm 1930, về hưu  năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng Thư. 

Năm 1938 đậu tiểu học, theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu, trường tư thục có giá trị nhất thời đó. Tác giả viết: “Cái quyết định của mẹ tôi là do sự xếp đặt của Thiên Chúa, có vậy mới biết đến Chúa Giêsu, mới là tín hữu của Ngài”. 

Sau tú tài II tác giả từ giả Huế về quê với tâm niệm mình là một Phật tử với ý nguyện sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện. Trên đuờng về quê tác giả ghé thăm anh Vương đình Lương, lúc ấy làm Hiệu trưởng trường tư thục Đậu Quang Lĩnh Anh Lương mời cộng tác. “Thế là tôi lại trở vế với môi trường tư thục Công giáo. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu Huế. Tôi như một cây héo rũ bỗng được hồi sinh. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp, tôi thường liên lạc với các linh mục, các đại chủng sinh giúp nhà xứ Nghĩa Yên. Dần dần tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi”. 

Vào năm 1948 tác giả quyết định gia nhập đại gia đình Công giáo. Trong tâm tư thì vậy nhưng đi đến thực hiện quả là còn cách núi ngăn sông. Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính mình nhất là cảm tưởng phải xa lìa tất cả, xa lìa gia đình, bạn bè, hàng xóm rồi cả mấy mươi năm truyền thống văn hóa.” Trở ngại khách quan khác lớn lao hơn nhiều:  “Đối với nhà nho cỡ lớn ở đất Nghệ Tỉnh có đứa con theo đạo là sự sĩ nhục… thằng con trai  đã bỏ truyền thống của cha ông để đi theo “Tây Dương Tả Đạo” nhất là tôi là con là cháu được khen là hiếu thuận.”   

Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1948, tôi đến Đức Thọ  thăm gia đình anh Vương Đình Lương. Ngày hôm sau được Linh mục Vương Đình Ái mời dự bửa cơm mừng lễ với các giáo viên dạy trường Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa cơm tôi thưa với Cha Ái về ý muốn lảnh nhận bí tích rửa tội.  

Và ngày Rửa tội là ngày 9 tháng 1 năm 1949, Linh mục rửa tội là Linh mục Nguyễn ngọc Bang  cha xứ Nghĩa Yên. Cha đỡ đầu là Linh Mục Vương đình Ái. 

Nguyễn Khắc Dương vào dòng Phanxicô sống đời dự tu đầu tiên khóa 1949-1950. Tháng 04 năm 1954 rời khỏi nhà dòng vì bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trong thời gian này thân phụ bị đấu tố, kết án 20 năm tù và đi cải tạo vài hôm thì từ trần.  

Sau hơn hai năm quân vụ, tháng 10 năm 1956 được tu viện Phanxicô cho sang Pháp học thần học tại Paris (1956-1957). Ra khỏi dòng, học Sarbonne 1957-1960, tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Thử tu tại dòng Biển Đức ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ (1961-1963) nhưng không thành vì lý do sức khỏe. Từ năm 1963 đến 1965 dạy học ở nhiều trường trung học Công giáo ở Paris. 

 Cuối năm 1965 Nguyễn Khắc Dương trở về Miền Nam Việt nam. Năm 1966 Linh Mục Nguyễn văn Lập Viện trưởng Viện Đại Học Đà Lạt mời ông lên dạy triết tại đó. 

Khi cộng sản tiếp thu Viện Đại học Đà lạt ông cũng bị đi học tập cải tạo 16 tháng. 

Năm 1975 đến 1986 đổi cư trú trên 10 lần, không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí gì cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình và ngoài xã hội.  

http://www.conggiaovietnam.info/index.php?m=module3&v=chapter&ib=46&ict=578 

http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=197&ict=1409  

Nhạc sĩ Vũ Thành An: 

Theo ký giả Hạnh Dương cho biết Nhạc sĩ Vũ thành An kể rằng: “Từ khi có trí khôn tôi vẫn thao thức với câu hỏi: Mình ở cuộc đời này để làm gì?” 

Vũ Thành An kể: “Tôi đã khốn đốn trong các trại giam tại Bắc Việt. Một trong những khốn khổ mà tôi phải chịu là chứng mất ngủ. Từng đêm dài tôi đã thức trắng, sức khỏe dần yếu đi, không có thuốc để chữa chạy. Tình trạng này kéo dài cả năm từ đầu năm 1980 đến 1981. Một tối kia đa số anh em trong phòng đã say ngủ tôi nghe hai anh nói chuyện với nhau chỉ cách chỗ tôi nằm chừng hai thước. Tôi nghe anh Nguyễn văn Lai nói: “Khi nào tôi khó ngủ tôi chỉ cầu nguyện bằng cách chỉ đọc vài Kinh Kính Mừng là ngủ được ngay.” 

Nhạc sĩ Vũ Thành An kể tiếp mặc dầu anh chưa có đạo nhưng Kinh Kính Mừng thì tôi đã biết. Năm 17 tuổi tôi có người bạn gái, lúc đó sự liên lạc của chúng tôi là những trang thư và những buổi hẹn hò trong sân nhà thờ. Gặp chỉ để nói với nhau đôi câu. Một hôm đôi tay rất đẹp trinh trắng của Uyên đã trao tôi trang giấy có ghi bài Kinh Kính Mừng với nét chữ thật nắn nót. Uyên bảo tôi học thuộc đi và tôi đã thuộc. … Cho đến bây giờ tôi cũng không biết Uyên ở đâu, nhưng Kinh Kính Mừng thì ở lại.”   và trong cơn tuyệt vọng ở trại tù Bắc việt, anh đã nhẩm đọc Kinh Kính Mừng và đêm đó anh đã ngủ ngon.giấc. Và sau đó tôi đã ngủ khoảng một tuần lễ liên tiếp. Một buổi sáng thức dậy nhìn qua cửa sổ phòng giam thấy nắng xuân vàng ấm chiếu trên luống rau cải xanh do các bạn tù trồng ngoài sân tự nhiên tôi nói với bố Vũ công Định nằm bên cạnh:” Bố Định ơi, chắc là con theo đạo Chúa quá. Bố Định là một tù nhân không có đạo, ít nói, nghe vậy bố chỉ cười. Bố Định bảo Vũ Thành An đến gặp Thượng Nghị Sĩ Nguyễn văn Mân cùng ở chung phòng 1 tại trại giam Hà Tây để hỏi vì cụ Mân là người Công giáo. 

Vũ Thành An kể tiếp: “món quà đầu tiên sau khi tôi cầu cứu Đức Mẹ là bịnh mất ngủ đã không còn hành hạ tôi nữa.” 

Sau đó anh em đạo Thiên Chúa đã cho tôi tình thân ái mà trước đó tôi không có.và đã hướng dẫn cho tôi chờ ngày Rửa tôi. Nhưng đến ngày ấn định tôi xin ngưng lại. Tôi chưa sẳn sàng về tâm lý và sợ… Nhưng bắt đầu sáng tác thánh ca như “Cha là Ngôi Trời có thật”  “Mẹ ơi cứu con ra khỏi nơi này”  “Hãy nhìn lên Trời cao”. Sau hơn một tháng suy nghĩ, tôi đã xin anh em trong tù định ngày rửa tội cho tôi là ngày 19-3-1981. 

Buổi lễ diễn ra nghiêm trang dường như cả phòng đều biết nên đã giữ yên lặng khác thường. Khi bác Nguyễn thành Tiên vừa dội nước vừa đọc “Tôi rửa anh  nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì chừng một hai giây sau đèn điện chớp hai lần rồi bật sáng hẳn.  

Sau buổi lễ rửa tội đó, cán bộ trại đã gọi anh lên thẩm vấn anh lý do anh “gia nhập “đạo Công giáo. Tìm xem Linh mục nào dám rửa tội trong trại vì nếu truyền giáo và hành đạo ở trong trại sẽ bị cùm giam vào sà lim. 

Nhạc sĩ Vũ Thành An qua định cư tại Portland, Oregan theo diện HO. Anh đã xin đi tu và được tòa Giám Mục Portland cho theo khóa Đại học thần học và được Đức Tổng giám Mục John G. Vlazny chủ tế lễ truyền chức Thánh Phó tế vĩnh viễn ngày thứ bảy 23-11-2002.  

Hiện nay Phó tế Vũ Thành An sáng lập và phụ trách Quỹ từ thiện Têrêsa đang trợ cấp cho trên 2000 cụ già ở Việt nam. Nếu tiếp tay cho Quỹ từ thiện xin gởi về: TÊRÊSA P.O.Box 13237 Portland, OR 97213 

nguồn: www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=65627 

Linh Mục Nguyễn Viết Chung: 

 Một ngày vào năm 1973 các tờ báo ở Sài gòn đồng loạt đưa tin vế cái chết của Jean Cassaigne một giám Mục Công giáo người Pháp, nguyên làm Giám Mục Sài gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo heo hút gió trên đường từ Sài gòn đi Đà Lạt. Nguyễn Viết Chung đọc tiểu sử của vị cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu anh lại mong muốn được nên giống Ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh chẳng biết gì về Đạo Công giáo thế mà Đức Cha Cassaigne lại là thần tượng của anh. 

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Đường Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh là giáo sư bác sĩ Lichtenberger, người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưởng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị Giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ…. 

Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình.  

Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng.  

Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:  

-“Anh có điên không hay là anh bị cùi?”.

-“Nếu tôi cùi thì bà đã thấỳ rồi.Còn có điên hay không thì tôi không biết nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.” 

Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình. 

Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu nữ Tử Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ.  Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.  

Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được cha chính xứ Bến Sắn, Linh mục Trần Thế Thuận làm lễ rửa tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung chưa hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.  

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đườngTrần Phú, Đà Lạt. Ngày lễ truyền tin 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung qua lễ đặt tay của Giám mục Giuse Vũ Duy Thống tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn. 

 Ngày  3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi. 

Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dõng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”.   

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẻ trên ơn gọi của cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói. 

nguồn:  http://www.chungnhanduckito.net/chungnhan/saubathapnien.htm 

Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:  

“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.” 

http://www.tiengnoigiaodan.net/lcht/lcht_098.html                     

                             Linh mục Nguyễn Viết Chung

                              479/15 Nguyễn Kiệm

                             Phường 9, Quận Phú Nhuận (Sài Gòn) 

 Tạ Phong Tần:  

Tạ Phong Tần là cựu Đại Úy? ngành Công an của nhà nước cộng sản Việt nam. Đã rời khỏi cơ quan nhà nước và làm việc văn phòng luật sư Lê Trần Luật. Bà đã được Rửa tội ngày 14 -6-2009 tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 38 đường Kỳ Đồng Quận 3, Sài gòn, lúc bà 41 tuổi. Bà đã viết nhiều bài báo về thực trạng xã hội Việt nam trong “ Blog Công lý và Sự Thật” mà bà đang chủ trương. 

http://conglysuthat.blogspot.com/2009/07/thanh-le-rua-toi-cho-maria-ta-phong-tan.html   

Nhiều trường hợp gia nhập đạo với nhiều lý do khác nhau như Bác sĩ, Nghị sĩ Đặng văn Sung, Chủ nhiệm báo Chính Luận trước năm 1975, ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh, ca sĩ Thanh Lan (chịu phép thánh tẩy tại Vatican vào năm 2003)… Ở trong nước còn nhiều người nữa như Học giả Cao Xuân Huy, Nhạc sĩ Văn Cao…  

Theo Vietcatholic news (18 Oct 2009) Giáo phận Xuân Lộc đón nhận 1114 tân tòng và hơn 2000 người là thân nhân, họ hàng, bạn bè của các tân tòng. Chủ sự Thánh lễ, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh chủ chăn của giáo phận Xuân Lộc cùng đồng tế có Đức cha Micaen Hoàng Đức Oanh Giám mục giáo phận Kon tum  v.v.… và hơn 50 cha trong giáo phận.

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=72201 

Ở mỗi giáo xứ hay mỗi nhà thờ hàng năm đều có làm lễ “Rửa tội” cho người lớn thông thường con số cũng vài chục người. Trong số những người nhận Bí tích thanh tẩy, con số không nhỏ là những người trí thức.

  Con đường đến với Thiên Chúa tình yêu, đến với Hội Thánh Chúa bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương mời gọi tìm về suối nguồn tình yêu là Thiên Chúa toàn năng, để được an ủi, để được hạnh phúc đời này lẫn hạnh phúc vĩnh cữu đời sau, sau khi mất. 

Phùng văn Phụng

mùa Giáng Sinh 2009

(27 tháng 12)

(tri’ch Sách: “Tâm Tình Gởi lại” cùng tác giả)


 

Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)-Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình ngày Chúa Nhật tràn đầy bình an và sức sống 

Xin Chúa mở tâm trí bạn để có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh đang sống trong những người bạn gặp gỡ hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và toàn thể giới nhé.

Cha Vương

CN: 19/04/2026    (n23-23)

TIN MỪNG: Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)

SUY NIỆM: Người chết sống lại là một biến cố thực sự gây hốt hoảng, khó tin. Khi Chúa hiện đến, các tông đồ đã kinh hồn bạt vía vì tưởng là ma. Chúa Giê-su đã trấn an các tông đồ và minh chứng cho việc phục sinh trước hết bằng các thương tích trên thân xác và ăn uống trước mặt các ông. Con người không phải là thiên thần và càng không là ma quỉ để làm cho người khác phải hốt hoảng ngờ vực về những việc khác thường. Nhiều khi con người lầm tưởng phải là siêu nhân mới có thể làm được những việc siêu nhiên. Con Thiên Chúa đã hoàn tất chương trình cứu độ bằng chính cuộc sống như con người bình thường như bạn vậy. Thân phận con người yếu đuối của bạn đã được Con Thiên Chúa vực dậy bằng cách đóng đinh nó vào thánh giá và phục sinh nó trong địa vị người con của Thiên Chúa. Vững tin vào tình yêu của Đấng Phục Sinh, bạn sẽ bước đi từng bước vững vàng. Do đó khi bạn sống cuộc đời thường nhưng sống thật hoàn hảo theo tinh thần Tin Mừng, trong niềm tin vào Đức Ki-tô phục sinh, tức là bạn đã bước vào lãnh vực siêu nhiên, đã có thể cùng Chúa Giê-su mang ơn cứu độ đến cho thế giới. 

LẮNG NGHE: Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. (1 Cr 2:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh để dạy con sống thật tốt cuộc sống Chúa đã trao ban hôm nay. Xin giúp con chu toàn cùng với Ơn Thánh Chúa ban.

THỰC HÀNH: Tình nguyện làm việc người khác không muốn làm.

From: Do Dzung

***************************

TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU – sáng tác: Lm Thành Tâm / tiếng hát: Ý Hiền-Phạm Phương

ĐÓI CHO ĐẾN KHI NO – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn!”.

Allen Gardiner, nhà truyền giáo tại cực nam Nam Mỹ, qua đời năm 1851 trong đói khát và cô đơn. Bên cạnh thi thể ông là cuốn nhật ký; dòng cuối run rẩy: “Tôi choáng ngợp vì sự tốt lành của Thiên Chúa, và đó là điều duy nhất có thể thoả mãn một linh hồn đói!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy cơn đói đích thực của linh hồn: sự tốt lành của Thiên Chúa – chính Ngài. Càng có Ngài, linh hồn càng choáng ngợp; nhưng cũng càng đói hơn – ‘đói cho đến khi no’.

Trong Gioan, “lương thực thường tồn” không còn là vật chất, nhưng là cibus permanens – lương thực ở lại. Chúa Giêsu không phủ nhận cơn đói thể lý; nhưng Ngài mở ra một chiều kích khác: con người không chỉ đói bánh, nhưng đói chính Thiên Chúa. Vì thế, vấn đề không còn là có ăn, nhưng ăn gì; không phải lấp đầy, nhưng là được nuôi sống. Và chỉ nơi Ngài, cơn đói ấy mới chạm đến điều nó thực sự tìm kiếm; vì “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa; và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” – Augustinô.

Chúa Giêsu coi trọng “lương thực mau hư nát”; Ngài không chịu cảnh hàng ngàn người đói giữa đồng vắng, bởi lẽ cơm bánh dù chóng qua vẫn luôn có sức hấp dẫn. Nhưng con người dễ nuôi mình bằng của ăn, tiền bạc, thành công, quyền lực; và càng tích luỹ, càng tưởng mình đã no. Vậy mà tận sâu thẳm, cơn đói vẫn còn đó; không biến mất, chỉ bị che lấp. Vì những gì mau qua không thể trở thành lương thực ở lại. Vì thế, con người tiếp tục tìm, tiếp tục lấp đầy, tiếp tục đói – ‘đói cho đến khi no’.

Chúa Giêsu không chỉ nói về một thứ lương thực; Ngài tự đặt mình như lương thực ấy: panis vitae – bánh sự sống. Vì thế, tin vào Ngài không chỉ là một chọn lựa, nhưng là một cách sống: sống trong Ngài, sống nhờ Ngài và sống cho Ngài. Têphanô là người đã đi đến tận cùng cơn đói ấy. Khi bị ném đá, ông không tìm một lối thoát, nhưng ngước nhìn: “Kìa, tôi thấy trời mở ra!”. Không còn là lương thực, nhưng là thị kiến; không còn là thiếu thốn, nhưng là no thoả. Ở đó, ‘linh hồn đói’ không còn bị che lấp, nhưng được chạm đến tận căn; và chính khi đối diện cái chết, ông no thoả. “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cơn đói đạt đến chiều sâu cuối cùng: Ngài đói Chúa Cha và được no thoả trong Cha; cũng chính vì thế, Ngài mang lấy cơn đói của Cha – đói các linh hồn. “Ngài khao khát!” – Mẹ Têrêxa. Nơi Ngài, cơn đói không còn là thiếu thốn, nhưng là một tình yêu đi tìm, cách riêng các tội nhân; không còn là khoảng trống, nhưng là hiệp thông được mở ra. Và ai ở trong Ngài, không chỉ được no thoả, nhưng còn bắt đầu chia sẻ với Ngài chính cơn đói ấy – ‘đói cho đến khi no’; vì “được hiệp thông với Đức Kitô là được tham dự vào chính ước muốn của Ngài!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chưa biết đói Chúa; xin cho con được no trong Ngài, và biết đói điều Ngài đang đói: linh hồn con và bao linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần III Phục Sinh

Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,22-29

22 Sau khi Đức Giê-su cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ. Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi. 23 Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. 24 Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. 25 Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói : “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ?” 26 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. 27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” 28 Họ liền hỏi Người : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” 


 

Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ! Trong những bận rộn của ngày cuối tuần, hy vọng Bạn đừng quên món quà cao quý của Chúa Thánh Thần. Hãy bắt chước Đức Mẹ Maria tại cửa nhà của Elizabeth, hãy mang niềm vui sướng của Chúa Thánh Thần đến cho những người mình gặp hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và cho thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 18/04/2026.   (n20-24)

NĂM SỰ MỪNG: Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước tâm trạng buồn sầu, chán nản của các tông đồ sau khi nghe Chúa Giêsu báo trước về việc Ngài sẽ bị bắt, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá (x. Ga 13; Mt 20: 17-19). Đặc biệt, trong lời tâm sự với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly trước khi chịu chết để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu trấn an họ và hứa sẽ xin Chúa Cha gửi Chúa Thánh Thần đến ở với họ mãi mãi, và Ngài gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo trợ, Đấng Bào Chữa (Ga 14:16;16:7). Vậy mỗi khi buồn sầu, chán nản, yếu đuối, bối rối, hoặc gặp thử thách, Bạn hãy xin ơn Chúa Thánh Thần để Ngài truyền sức mạnh, soi sáng và hướng dẫn Bạn sống Đức Tin của mình mỗi ngày. 

Hôm nay qua việc suy gẫm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy xin cho được lòng đầy rẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi. (Cvtđ 2:1) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. (Cvtđ 2:2) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. (Cvtđ 2:3) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. (Cvtđ 2:4) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. (Cvtđ 2:5) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Bấy giờ, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói. (Cvtđ 2:14) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. (Cvtđ 2:38) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo. (Cvtđ 2:41) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất (Tv 103:30). Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Lạy Chúa Thánh Thần, xin xuống tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong lòng họ. Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay… 

From: Do Dzung

***********************

THÁNH THẦN XIN HÃY ĐẾN || Sáng Tác: Lm. Thành Tâm || Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Diệu Hiền

NHẬN RA ĐẤNG BIẾN MẤT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất”.

“Đấng Phục Sinh được nhận ra trong việc bẻ bánh!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, hai môn đệ Emmaus đi với Chúa Giêsu mà không nhận ra Ngài; đến khi nhận ra, Ngài lại biến mất. Không phải họ chưa từng thấy Ngài, nhưng chỉ khi mất đi, họ mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’.

Vậy điều gì đã xảy ra? Tin Mừng nói rõ: “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Ngài”; một passivum divinum, thể bị động thần linh, như thể chính Thiên Chúa trì hoãn việc nhận ra. Không phải họ chưa thấy, nhưng cái thấy chưa trở thành nhận biết. Họ đi với Đấng Phục Sinh, nghe Ngài, mà vẫn không nhận ra; cũng như chúng ta nhiều khi nghe, hiểu, mà vẫn không chạm tới Ngài. Và chính trong những lúc như thế, khi chúng ta tưởng mọi sự đã tắt, niềm hy vọng chỉ còn tro tàn; bên dưới lớp tro nguội vẫn còn một đốm than hồng, chỉ chờ được thổi bùng. Chỉ khi mọi sự đã qua, lúc mọi sự đã lắng xuống, chúng ta mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’, như Đức Phanxicô nói: “Chỉ sau biến cố, các môn đệ mới hiểu điều họ đã trải qua!”.

Chính trong hành vi bẻ bánh, mọi sự bắt đầu thay đổi. Không phải trong lúc đi đường hay nghe giải thích, nhưng trong một cử chỉ quen thuộc, mắt họ mở ra. Truyền thống gọi đó là một nhận biết mang tính bí tích: recognitio in fractione panis, “sự nhận ra trong việc bẻ bánh”. Ngài không được nhận ra bằng cái thấy, nhưng trong một hành vi trao ban chính mình. Vì thế, việc nhận ra không đến từ nỗ lực hiểu biết, nhưng từ một hành vi được cử hành; cũng như trong đời sống chúng ta, chính những điều quen thuộc lại là nơi Ngài ẩn mình. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” – Josemaría Escrivá.

Điều đã xảy ra trên đường Emmaus tiếp tục trong chính cấu trúc đời sống của Hội Thánh. Khi Lời được công bố, Ngài mở trí để hiểu; khi bánh được bẻ ra, Ngài được nhận ra. Không phải một ký ức, nhưng là một hiện tại đang diễn ra; Hội Thánh lắng nghe, tuyên xưng, và rao giảng cho muôn dân “biết đường về cõi sống” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính Phêrô đã nói: “Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại” – bài đọc một; và chúng ta được cứu chuộc “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô” – bài đọc hai. Vậy mà ngay giữa những điều được cử hành mỗi ngày, nhiều khi chúng ta vẫn chưa nhận ra Ngài ngay trong chính đời sống mình.

Anh Chị em,

Và tất cả quy về Chúa Kitô. Ngài đang sống với Chúa Cha nhưng vẫn hiện diện giữa Hội Thánh, giữa lòng thế giới; Ngài tỏ mình cho từng người, nâng dậy những tâm hồn mỏi mệt, những ai đang thất vọng ‘đi về hướng tây’, quay lưng và không còn muốn trở lại. Qua các chứng nhân phục sinh, Ngài đang nhen lên ngọn lửa đã tắt, đưa họ trở về Giêrusalem, ‘hướng mặt trời mọc’, nơi họ từng không còn muốn quay về. “Đức tin là một ngọn lửa phải luôn được nhen lại!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bỏ đi, xin kéo con về; khi con tắt lửa, xin đốt lại tim con; và khi con không thấy, cho con nhận ra Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*****************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III PHỤC SINH – NĂM A

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 24,13-35

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.


 

HOÁ RA LÀ NGÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ông hoảng sợ”.

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ”. Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết. Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài’.

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ? Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt. Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang. Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma. Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài. “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” – Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi – “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum. Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình. Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt. Điều họ tưởng là đe doạ, ‘hoá ra là Ngài’ – Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai. Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh. Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống – bài đọc một. Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu. “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá. Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ. Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm’, chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa – ‘hoá ra là Ngài’, “đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần II Phục Sinh

Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,16-21

16 Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, 17 rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. 18 Biển động, vì gió thổi mạnh. 19 Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. 20 Nhưng Người bảo các ông : “Thầy đây mà, đừng sợ !” 21 Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.


 

 Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)- Cha Vương

 Một ngày hạnh phúc trong Chúa nhé.

Chúc bình an! “Tôi khuyến khích anh chị em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày, anh chị em hãy ký thác với lòng tin tưởng vào bàn tay của Mẹ Maria,” Giáo hoàng Benedicto XVI nói. Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a đặt hết niềm tin tưởng và Chúa. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhất là các cập lãnh đạo ngay cả các tôn giáo nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 17/04/2026.   (n21-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (Ga 6:1-2)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn tự nghĩ rằng: Tôi theo Chúa để được ích lợi gì? Tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật rằng trước khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, “Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ”. Lúc này uy tín và ảnh hưởng  của Chúa đang lên cao. Cho nên họ theo Chúa vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật. Vậy trong cuộc sống đạo hàng ngày và qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, là một người Công Giáo, bạn nhận thức được điều gì trong tâm hồn? Nếu chỉ nhẩm đi nhẩm lại mấy câu kinh như đọc những câu thần chú để được vào Thiên Đàng thì ai làm chẳng được. Phải không bạn? Nếu hôm nay có người nào hỏi, điều gì làm cho người Công Giáo hãnh diện nhất? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này là gì? Bạn đã và đang làm gì để trưởng thành trong đời sống đức tin? Theo Chúa là một hành trình dài vượt qua những danh lợi ảo tưởng. Bạn hãy nhìn vào các môn đệ của Chúa coi. Từ những kẻ nhút nhát và thất học, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm, dám dùng cái chết để làm chứng cho Tin Mừng phục sinh. Sự thay đổi triệt để này của các môn đệ chính là bằng chứng khả tín cho một đức tin sống động và mạnh mẽ. Nếu được như vậy bạn hãy tìm gặp Chúa hàng ngày trong các Bí Tích do chính Thiên Chúa thiết lập để được biến đổi nhé. 

LẮNG NGHE: Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi phút giây trong cuộc sống trần gian là một chuẩn bị dài lâu cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, xin giúp con luôn tìm kiếm Chúa trong các Bí Tích là “máng thông ơn” qua đó Chúa ban ân sủng để giúp con trở nên giống Chúa mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn. 

From: Do Dzung

********************************

Hạnh phúc đời con – tinmung.net

LẮNG NGHE – R..Veritas

Một người da đỏ rời bỏ nơi cư trú ở thôn quê để về thành phố thăm lại người bạn da trắng. Anh nhìn thấy cuộc sống náo nhiệt và xô bồ của thành phố đã tạo cho anh không ít ngạc nhiên và thích thú. Lúc hai người đang dạo chơi trên đường phố, thình lình người da đỏ chợt dừng lại và đập nhẹ vào vai người bạn da trắng và nói nhỏ:

– Chúng ta hãy dừng lại tí chút, anh có nghe thấy gì không?

Người da trắng quay lại và mỉm cười nói với bạn:

– Tiếng máy nổ, tiếng còi, tiếmg của xe buýt, tiếng bước chân của người qua lại. Còn anh, anh nghe thấy gì?

– Tôi nghe thấy tiếng kêu của một chú dế mèn gần đâu đây đang gáy

Anh bạn da trắng đứng lại, lắng tai và chăm chú nghe kỹ hơn, nhưng rồi lắc đầu đáp:

– Tôi nghĩ là anh đang đùa, làm gì mà có dế mèn ở đây. Mà dù cho có đi nữa thì làm sao anh có thể nghe được tiếng nó gáy giữa muôn vàn náo động của thành phố sầm uất nhộn nhịp này.

Người da đỏ nghiêm trang trả lời:

– Có mà, tôi nghe tiếng nó gáy chỉ đâu đây thôi.

Nói rồi anh bước lại gần bức tường cách đó vài thước, một dây nho dại đang bò trên vách tường, dưới gốc nho là một bụi cỏ và vài chiếc lá khô đủ để cho một chú dế ẩn nấp và đang cất tiếng gáy.

Cuối cùng anh bạn da trắng cũng thấy được con dế. Bấy giờ anh gật đầu thán phục:

– Lỗ tai của người da đỏ các anh quả thật là thính hơn bọn da trắng chúng tôi nhiều

Thế nhưng, người da đỏ lắc đầu đáp lại:

– Chẳng phải vậy đâu. Tôi sẽ chứng minh cho anh thấy.

Đoạn anh ấy rút trong túi ra một đồng tiền và lăn nhẹ trên vệ đường, tiếng va chạm leng keng của đồng tiền cũng thật nhỏ, tưởng chừng như mất hút giữa những tiếng động ồn ào của thành phố. Vậy mà như có một hiệu lệnh, đồng tiền lăn đến đâu thì mọi chiếc đầu, mọi cặp mắt đều quay về đó. Lượm đồng tiền lên và cho vào túi, người da đỏ mỉm cười nói với bạn mình:

– Lỗ tai của người nào cũng nghe rõ như nhau, nhưng có khác chăng là nó chỉ nghe quen với âm thanh và những điều người ta lưu tâm đến.

***

Thông thường thì khả năng nghe biết của mọi người như nhau và có những giọng nói thật giống nhau. Tuy nhiên, giữa những giọng nói giống nhau đó, có giọng được cất lên, có giọng lại như chìm vào trong thầm lặng.

Thật vậy, trong ba năm theo Thầy trên đường rao giảng Tin Mừng, chắc hẳn các môn đệ đã quá quen thuộc với giọng nói của Thầy mình. Thế mà vì những nhọc nhằn suốt đêm chẳng bắt được một con cá nào, các ông đã không nhận ra Ngài, chỉ có lòng mến sắt son mới cho phép người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nhận ra Thầy mình, và ông đã thốt lên bằng một câu nói thật vắn gọn: “Chúa đó”.

Trước đây, chỉ vì lòng mến đã thôi thúc Gioan chạy đến mồ trước, nhưng ông lại đợi Phêrô để cả hai cùng vào để xác nhận việc Thầy mình đã sống lại. Cũng chính do lòng mến mà các ông đã giới thiệu cho các bạn hữu biết việc Chúa Kitô Phục Sinh. Đây là điều mà Kitô hữu ở mọi thời đại đều phải bắt chước gương của các tông đồ. Vì đến với Chúa là một điều tốt, nhưng sẽ tốt hơn nếu có những người khác cùng đến với Ngài.

***

Lạy Chúa, không biết con có thể nhận ra được tiếng Chúa nói giữa muôn vàn tiếng động ồn ào náo nhiệt của cuộc sống không? Không biết con có thể lắng nghe được gì qua tiếng nói yếu ớt hắt lên từ lương tâm con? Xin Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh luôn nâng đỡ con như Ngài đã nâng đỡ các môn đệ xưa để con có thể nghe được tiếng Ngài nói với con mỗi ngày trong cuộc sống qua những người xung quanh. Xin giúp con biết dành thì giờ nói chuyện với Chúa mỗi ngày để con quen dần với tiếng nói thân thương của Ngài.

Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài từng theo bước đời con. Xin cho con biết sẵn sàng chờ đợi và vâng nghe theo Chúa. Xin cho con biết sẵn sàng thực hành lời Chúa đã truyền ban.

R..Veritas

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

KHÔNG CHỈ ĐỦ , NHƯNG DƯ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ liền đi thu những miếng thừa…, và chất đầy được mười hai thúng”.

“Thiên Chúa ban ân sủng theo lòng quảng đại của Ngài, không theo công trạng của chúng ta!” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể một phép lạ thết năm ngàn người ăn, nhưng mặc khải một cách thức: Thiên Chúa không ban theo công trạng hay mức cần thiết; Ngài ban dẫy đầy, ‘không chỉ đủ – nhưng dư’.

Trong Gioan, chi tiết “mười hai thúng” không chỉ là phần dư, nhưng là dấu chỉ mang chiều kích toàn thể: duodecim – con số của Israel, của Dân Chúa trong sự viên mãn. Như thế, điều còn lại không phải là phần thừa vô nghĩa, nhưng là phần không được giữ lại, vì tự nó đã hướng tới việc được trao đi. Ân sủng chỉ thực sự dư đầy khi không bị giữ lại. Không phải vì Thiên Chúa ban ít, nhưng vì con người không dám mở ra. Chính tại đây, một lệch hướng dễ xảy ra: điều được ban để trao đi bị giữ lại; từ đó, sự dư đầy dần mất ý nghĩa của nó. Vì thế, phép lạ không chỉ đáp ứng một cơn đói, nhưng mặc khải một logic: Thiên Chúa không hành động theo sự thiếu thốn của con người, nhưng theo sự phong phú của chính Ngài – ‘không chỉ đủ, nhưng dư’.

Thánh Augustinô coi “mười hai thúng” không như phần dư vật chất, nhưng như dấu chỉ của một sự phong phú vượt quá khả năng lãnh hội: Thiên Chúa không ban ít; chính con người không thể đón nhận hết. Vì thế, phần còn lại vượt quá tầm hiểu; có những điều chỉ được mở ra khi “về nhà”, Ngài giải thích riêng. Khoảng cách, vì thế, không nằm ở ân sủng, nhưng ở tương quan; ai ở lại, người đó đi sâu hơn vào sự dư đầy. Và chính những người ở lại sẽ trở thành trung gian phân phát: ân sủng không dừng lại nơi việc lãnh nhận, nhưng lưu chuyển. Đó không phải là điều xa: nhiều khi chúng ta chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để hiểu, mà không bước vào để sống, để ra đi phân phát. “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao đẹp, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, ân sủng không còn là điều được ban, nhưng là chính Ngài. Ngài không chỉ trao ban, nhưng là sự sống được trao; không dừng lại ở mức đủ, nhưng trở thành dồi dào. “Tôi đến cho chiên tôi được sống, và sống dồi dào”. Sự sống ấy trước hết nuôi dưỡng con người trong cơn đói sâu sắc; rồi chạm đến những đổ vỡ để chữa lành; và cuối cùng mở ra ơn tha thứ, nơi con người được tái tạo từ bên trong. Vì thế, “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan”. Vấn đề không phải là thiếu, nhưng là không dám sống từ sự dư đầy ấy. Vậy mà chúng ta thường chỉ tìm đủ để tồn tại, hơn là dám mở ra cho một sự sống dồi dào – chữa lành, tha thứ và sai đi. “Có những Kitô hữu sống như thể Mùa Chay không bao giờ dẫn đến Phục Sinh!”; “Có những Kitô hữu chọn một đời sống an toàn, khép kín, thay vì để mình được sai đi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống cầm chừng vừa đủ, nhưng biết sống từ sự dư đầy của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần II Phục Sinh

Đức Giê-su cầm lấy bánh, rồi phân phát cho những người hiện diện, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,1-15

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. (Ga 15:5) – Cha Vương

Ước mong tâm hồn bạn được tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa hôm nay và mãi mãi. Cậu nguyện cho nhau và thể giới nhe.

Cha Vương

Thứ 5: 16/04/2026.  (n20-23)

TIN MỪNG: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. (Ga 15:5)

SUY NIỆM: Trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Gioan 15:1-17 về hình ảnh cây nho thật có lập đi lập lại hai chữ “Ở LẠI” tới 11 lần. Đây là điều gây sự chú ý đến cho người đọc và nghe. Vậy Chúa muốn nói với bạn điều gì khi Ngài lập đi lập lại 2 chữ “Ở LẠI”?

 Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. (1 Ga 4:16)

 Đời sống Kitô hữu chính là ở lại trong Chúa Giêsu. “Các con hãy ở lại trong Thầy”. Đừng tách rời khỏi Thầy… Chúa dùng hình ảnh cây nho là để nói nên sự sống còn của sự gắn bó này: Thầy là cây nho các con là ngành.. Ngành nào tách rời khỏi thân cây nho thì rốt cuộc sẽ chết, không sinh hoa trái. Một trong những đặc tính của tình yêu Thiên Chúa là sự phổ quát, bao trùm, không loại trừ ai (inclusive). Loại tình yêu này trổi vượt trên hết các loại tình yêu khác tức là đón nhận những khác biệt của nhau như màu da, cao thấp, hình dạng, tính cách, sở thích, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo…

Nếu bạn tập yêu như Chúa yêu thì những cuộc gặp gỡ và sự liên hệ của bạn sẽ không bị lệ thuộc hoặc bị giới hạn bởi những khác biệt và chia rẽ. Bạn cảm thấy trong tâm hồn sẽ nảy sinh ra sự thương cảm, phong phú, gần gũi… ngay cả giữa những bất đồng và dè dặt. Đây là hoa quả của tình yêu trong Chúa đó. Uớc mong bạn hãy tìm gặp Chúa và ở lại trong Ngài mãi mãi, đừng có “gặp nhưng không ở lại…” nhé.

LẮNG NGHE: Đây là giới răn của Thầy:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. (Ga 15:12).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa là Đấng yêu thương, là nguồn mạch sự sống, xin cho con luôn biết ở lại trong Chúa để trở nên chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa trong môi trường con đang sống hôm nay.

THỰC HÀNH: Dù họ có là ai đi nữa, họ vẫn là con của Chúa mà. Mời bạn hãy xin ơn Chúa để tập vượt qua những bất đồng và dè dặt về màu da, tính cách, tôn giáo…

Nhạc Ở Lại Với Con

From: Do Dzung

*****************************

Ở Lại với Con – Hiền Thục

Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót chủ đề ‘Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương’

Ba’o Nguoi-Viet

April 15, 2026

Văn Lan/Người Việt

LONG BEACH, California (NV) – Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26 với chủ đề “Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương” do Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại và Cơ Sở Truyền Thông Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach, California, hôm Chủ Nhật, 12 Tháng Tư.

Quang cảnh Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Linh Mục Nguyễn Tất Hải, trưởng ban tổ chức, cho hay: “Chủ đề của đại hội nhằm vinh danh những sứ giả xót thương mà Giáo Hội Hoàn Vũ, Giáo Hội Việt Nam, và Dòng Chúa Cứu Thế Toàn Cầu đặc biệt nhớ đến trong năm 2026 này. Đó là Thánh Francis Assisi, nhân kỷ niệm 800 năm ngày thánh nhân qua đời (1226-2026), Thánh Gerard Majella, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, nhân kỷ niệm 300 năm sinh nhật của thánh nhân (1726-2026), và Đấng Đáng Kính Francis Trương Bửu Diệp, sẽ được tuyên chân phước tử đạo vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam.”

Giám Mục Albert Matta Bahhuth (thứ hai từ trái) dâng Thánh Lễ tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Phần giảng thuyết trong đại hội do Linh Mục Nguyễn Phi Long (giám phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại), với đề tài “Đức Maria: Mẹ Lòng Xót Thương.” Linh Mục Nguyễn Bá Quốc Linh (Dòng Chúa Cứu Thế Tỉnh Baltimore) với đề tài “Trở Nên Sứ Giả Lòng Thương Xót: Học Từ Trái Tim Thánh Phanxicô” và “Thương Xót Khi Bị Tổn Thương: Thánh Gerard và Sức Mạnh của Tha Thứ.” Linh Mục Ngô Thái Phong (Giáo Phận Thái Bình, Việt Nam) với hai chủ đề “Sứ Giả Lòng Thương Xót: Cha Francis Trương Bửu Diệp” và “Hội Thánh & Sứ Vụ Chứng Nhân Lòng Thương Xót.”

Tiếp đến là giải đáp thắc mắc, dưới sự điều hợp của các linh mục Nguyễn Tất Hải, Nguyễn Bá Quốc Linh, và Ngô Thái Phong.

Sau đó là đọc Kinh Năm Thánh Francis Assisi, Năm Thánh Gerard Majella, và Kinh Cầu với Linh Mục Francis Trương Bửu Diệp.

Thánh Lễ Đại Trào do Giám Mục Albert Matta Bahhuth, giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Los Angeles, chủ tế.

Giáo dân xếp hàng hôn Thánh Tích. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong bài giảng, giám mục nói: “‘Bình an cho các con’ là lời đầu tiên mà Đức Kitô Phục Sinh nói với các môn đệ của ngài. Anh chị em có nghĩ rằng họ đã mong đợi điều đó không? Anh chị em có nghĩ rằng đây sẽ là lời đầu tiên mà Chúa Giêsu nói với những người đã phản bội, chối bỏ và bỏ rơi ngài không? Đây chính là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay.”

“Tất cả đều xoay quanh tình yêu của Thiên Chúa Cha, đấng mà Chúa Giêsu, đấng vô tội, đã mặc khải cho chúng ta bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá, để anh chị em và tôi, những kẻ có tội, có thể được sự sống đời đời,” vị giám mục nói tiếp.

Giám mục thêm: “Càng chống cự hay nghi ngờ việc đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta càng khó tha thứ cho người khác. Chúng ta cần là một thành phần của cộng đoàn để có thể thực hành tha thứ lẫn nhau. Thiên Chúa là tình yêu, và khi anh chị em thấy người ta hành động trong tình yêu, anh chị em đã nhìn thấy dung nhan của Thiên Chúa.”

Linh Mục Nguyễn Phi Long (bìa phải) cùng các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế khai mạc Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Vị giám mục phụ tá của tổng giáo phận lớn nhất California cũng nói thế giới ngày nay cần nhiều lòng thương xót hơn, nhiều tha thứ và tình yêu hơn,

“Chúng ta vẫn chưa học được từ những kinh nghiệm của con người qua nhiều năm tháng rằng, bạo lực chỉ đưa đến bạo lực nhiều hơn. Tiền bạc và quyền lực có thể giải quyết một vấn đề nhưng lại tạo ra một vấn đề khác,” Giám Mục Albert Matta Bahhuth nói.

Linh Mục Hoàng Thành Đức (Dòng Chúa Cứu Thế) cho hay: “Với niềm tin Công Giáo, đây là lời mời gọi cho tất cả mọi người, cho những ai mang trong mình danh xưng là Kitô hữu, đều được mời gọi là sứ giả để rao truyền Lòng Chúa Thương Xót.”

“Khi Chúa chịu chết, cứu chúng ta để chứng minh bằng hành động của mình, ngài cũng muốn chúng ta tỏ lòng thương xót đó trong đời sống hàng ngày, tỏ lòng yêu thương với mọi người chung quanh, với gia đình của mình, đó là cách cụ thể nhất. Hãy cùng ngài đi vào cuộc sống để Lòng Thương Xót Chúa được lan tỏa những điều tốt lành cho tha nhân trong đời sống hàng ngày,” linh mục nói.

Ca Đoàn Tổng Hợp hát tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông tiếp: “Với các bạn trẻ được mời gọi cách thực tế bằng cách mỗi ngày tập sống quảng đại với tha nhân, kiên nhẫn với mọi người, những gì có thể làm được cho gia đình, cha mẹ anh chị em, yêu thương nhường nhịn, đem lại niềm vui cho mọi người, chính đó là lan tỏa Lòng Chúa Thương Xót.”

Cuối lễ là cầu nguyện chữa lành và hôn kính các Thánh Tích Gerard, Thánh Nữ Faustina, và Thánh Giáo Hoàng John Paul II.

Cô Thủy Phạm, giáo dân giáo xứ Đức Mẹ La Vang Las Vegas, Nevada, đi cùng phái đoàn rất đông về tham dự đại hội, cho biết đa số thành viên trong đoàn là các vị cao niên.

“Em muốn tiếp tục việc này để các cô bác có niềm vui một năm chỉ có một lần về dự Đại Hội Lòng Chúa Thương Xót. Đó là niềm vui tuổi già, không có con cháu và xe đi lay,” cô nói.

Ông Mark Nguyễn, phó thị trưởng Westminster, cho hay ông đến với đại hội để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho mọi người được bình an, nhất là khi thế giới đang chiến tranh, cũng như cầu cho mọi người thương yêu nhau, giúp cho Little Saigon được phát triển, ngày càng thịnh vượng.”

Phái đoàn từ Las Vegas đến từ sớm để tham dự đại hội. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Bà Nguyễn Thị Là, thuộc Cộng Đoàn Thánh Phêrô Torrance, có cùng ý tưởng với ông Mark Nguyễn.

Bà cho biết năm nào bà cũng tham gia ban trật tự phục vụ người hành hương về đại hội, “cầu xin Chúa ban cho hòa bình thế giới, nhất là năm nay nhiều cuộc chiến đang xảy ra, và cầu cho tất cả bà con được bình an.”

Điều khiển chương trình đại hội là hai MC Diệu Quyên và Vũ Trọng Khảo.

Phần văn nghệ có các ca sĩ Đình Bảo, Minh Khoa, Kim Thúy, Thúy An, Huy Tuấn, Billy Thông, và ca trưởng Quốc Vinh cùng các ca đoàn Saint Michael, Mereyband (Nhạc Đoàn Thương Xót), ca đoàn Cecilia-Burbank, và Vũ Đoàn Faustina. [đ.d.]


 

NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỨC TIN –   Lm. Mark Link S.J.

Lm. Mark Link S.J.

Cách đây một thời gian, tờ The Wall Street Journal có một bài viết về một số các chuyên gia trẻ thành công và họ đang quay trở lại nhà thờ sau một thời gian xa cách.

Bài báo mở đầu bằng việc ghi nhận rằng trong quá khứ, những người đã ngừng đi nhà thờ thì họ thường không cảm thấy cần quay lại cho đến khi lập gia đình, sinh con, hoặc gặp một biến cố lớn trong đời.

Ngày nay, những người đang ở đỉnh cao sự nghiệp và thành công lại có cái nhìn khác về tôn giáo.  Họ từng nghĩ rằng thành công sẽ mang lại hạnh phúc.  Nhưng thay vào đó, họ lại cảm thấy trống rỗng. 

Một số đề cập đến sự thành công của họ như thế này: “Người ta đã đặt chân lên mặt trăng, rồi tự hỏi: ‘Chỉ có thế thôi sao?  Phải còn điều gì hơn thế này chứ!’”

Một ví dụ cụ thể là Mary Kay, giám đốc một công ty sản xuất phim ở Hollywood.  Cô từ bỏ Giáo Hội khi rời xa gia đình.  Cô tự thuyết phục mình rằng tôn giáo không còn phù hợp nữa.  Nhưng khi sự thành công đến, nó không mang lại cảm giác như cô mong đợi.  Nó để lại một khoảng trống; một điều gì đó thiếu vắng.

Lúc đầu, cô cố lấp đầy khoảng trống ấy bằng cách tham dự các buổi thuyết giảng của những “đạo sĩ” thời đại mới và lấy các lớp ở trường đại học về nhiều chủ đề tâm linh.  Nhưng sự trống rỗng ấy vẫn còn.

 

Rồi một ngày kia, cuối cùng cô cũng phải thành thật nhìn nhận rằng mình đã xa rời đức tin.  Cô không còn bước đi với Chúa Giêsu nữa.

Nhưng việc quay trở lại Giáo Hội thì không dễ dàng.  Cô nói rằng chỉ sau khi xin Chúa tha thứ vì đã rời xa Người, cô mới cảm thấy bình an để trở lại nhà thờ.

Bài báo của tờ The Wall Street Journal còn đưa ra nhiều ví dụ khác về những người thành công mà họ đã quay trở lại đức tin vì những lý do tương tự.  (“Can You Go Back?” của Lisa Miller, đăng trên The Wall Street Journal, ngày 10 tháng 4 năm 1998) 

Câu chuyện của các chuyên gia trẻ thành công này thì tương tự với câu chuyện của hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

 Họ cũng đã từng bước đi với Chúa Giêsu.  Họ cũng đã từng trò chuyện với Người.  Họ cũng đã từng tin rằng Người được Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước Trời. 

Rồi biến cố Thứ Sáu Tuần Thánh xảy đến!  Tất cả niềm hy vọng và niềm vui của họ tan vỡ thành muôn mảnh.  Thất vọng, họ rời bỏ Chúa Giêsu và đi theo con đường riêng của mình.

 Chính trong bối cảnh ấy, họ gặp một “người lạ” trên đường đi Em-mau.

 Họ lắng nghe người ấy, như trước đây họ từng lắng nghe Chúa Giêsu.  Họ cùng đi với người ấy, như trước đây họ từng đi với Người.  Họ nhìn người ấy bẻ bánh, như trước đây họ từng thấy Chúa làm điều đó.

 “Người lạ” ấy thì không xa lạ chút nào.  Thật kỳ diệu, đó chính là Chúa Giêsu.  Người không chết; Người đã sống lại và đang sống.

 Điều gì đó tương tự cũng đã xảy ra với các chuyên gia thành công được diễn tả trong bài báo.

 Đã có lúc họ lắng nghe những lời của Chúa Giêsu trong Phụng Vụ Lời Chúa, như chúng ta đang làm bây giờ.

 Và đã có lúc họ nhìn thấy Chúa Giêsu bẻ bánh trong Phụng Vụ Thánh Thể – như chúng ta sẽ làm trong ít phút nữa.

 Nói cách khác, đã có lúc họ cũng bước đi với Chúa và tràn đầy hy vọng và niềm vui.

 Rồi đến một ngày bi thảm, vì một lý do nào đó, mọi hy vọng và ước mơ của họ bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

 Chán nản, họ cũng rời bỏ Chúa và đi theo con đường riêng.

 Và điều này khiến mỗi người chúng ta hôm nay, đang hiện diện trong nhà thờ này, phải suy nghĩ lại.

 Câu chuyện của các chuyên gia thành công, và của các môn đệ Em-mau, không khác mấy so với câu chuyện của chính chúng ta.

 Đã có lúc trong cuộc đời chúng ta – có thể là nhiều lần – mối tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

 Có thể chúng ta cũng đã ngừng bước đi với Người trong một thời gian.

 Nhưng đến một ngày đầy ân sủng, chúng ta gặp một người – một người bạn, một người phối ngẫu, hoặc ngay cả một người xa lạ.

 Và qua gương sáng của người đó, Chúa Giêsu lại nói với chúng ta – như Người đã nói với hai môn đệ Em-mau.

 Và chính nhờ gương sáng ấy, chúng ta trở lại nhà thờ, mắt chúng ta được mở ra, và chúng ta nhận ra Chúa một lần nữa, trong việc bẻ bánh.

 Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng có rất nhiều người – giống như hai môn đệ Em-mau và các chuyên gia trẻ thành công ngày nay – họ đang cảm nghiệm sự trống rỗng dù họ thành công.

 Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên cho họ như “người lạ” trong Tin Mừng đã trở nên cho hai môn đệ.

 Và ở đây, chúng ta cần nhớ một điều rất quan trọng: 

Nếu hôm nay, qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn nói với những ai không còn bước đi với Người nữa, điều đó không nhất thiết qua lời nói, nhưng qua tình yêu, lòng nhân hậu và sự tha thứ của chúng ta.

 Vì trong thế giới đầy hoài nghi này, người ta không chủ yếu tìm kiếm lời nói, nhưng lòng trắc ẩn, sự lưu tâm, lòng tốt và sự tha thứ.  Lời nói có thể đến sau.

 Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con theo một phương cách
để qua chúng con Chúa có thể nói với người thời đại hôm nay,
nhất là với những ai đang thất vọng.

Xin làm chúng con ngạc nhiên,
như Chúa đã làm cho hai môn đệ Em-mau.
Xin lại đồng hành với chúng con, như Chúa đã đồng hành với họ.
Xin giải thích Kinh Thánh cho chúng con, như Chúa đã làm cho họ.

Xin đến nhà chúng con và dùng bữa với chúng con, như Chúa đã làm với họ.
Xin cầm lấy tấm bánh của chúng con trong đôi tay Ngài.
Xin Ngài chúc lành, bẻ ra và chia sẻ tấm bánh ấy.

Xin chữa lành chúng con khỏi sự mù lòa
mà nó khiến chúng con không nhận ra Chúa,
trong việc bẻ bánh. M.L.

 Lm. Mark Link S.J.

From: Langthangchieutim