Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

John Nguyễn

 Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

Ngài sinh ngày 11/6/1916 tại Bangkok, Thái Lan, trong một gia đình Phật tử. Năm 1969, ngài được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Ratchaburi. Đến năm 1972, ngài được Hội đồng Giám mục Thái Lan chọn làm đại diện tham dự Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma.

Giám mục Ratna là tác giả của hơn 20 cuốn sách viết bằng tiếng Thái. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngài chọn tên thánh là Robert.

Sau đây là tự truyện của ngài, kể lại hành trình cuộc đời từ thuở thiếu thời cho đến khi lãnh chức linh mục năm 1949.

“Có đời nào thằng Ratna lại chịu phép Rửa để theo đạo!”

Đó là lời nhận xét của một số bạn bè sau những năm cùng học với tôi tại Học viện Wan Yan, do các cha Dòng Tên phụ trách.

Trong suốt ba năm học tại đây, tôi bị xem là một học sinh rất lạnh nhạt với đạo Công giáo. Tôi không bao giờ bước vào nhà nguyện, cũng chẳng bao giờ bàn luận về chuyện đạo nghĩa. Dù vẫn phải học các giờ Giáo lý theo chương trình bắt buộc của nhà trường, nhưng đối với tôi, môn Giáo lý chẳng khác gì môn Toán hay môn Sử, thậm chí còn kém hấp dẫn hơn.

Nếu lúc ấy tôi tỏ ra chống đối đạo, có lẽ các bạn Công giáo đã đến tranh luận với tôi về vấn đề tôn giáo. Nhưng không, tôi chỉ dửng dưng, lạnh nhạt với đạo như một khúc xương khô giữa sa mạc.

Lời nhận xét ấy được nói với tôi vào buổi tối cuối cùng trước khi chúng tôi rời Học viện Wan Yan để vào Đại học Hồng Kông, sau khi vừa tốt nghiệp trung học.

Thế nhưng, một điều lạ lùng đã xảy ra. Chỉ ít ngày sau khi rời Học viện Wan Yan, trong một buổi lễ rất âm thầm tại nhà nguyện Ricci, người lãnh nhận Bí tích Rửa tội lại chính là tôi.

– Tại sao tôi trở thành người Công giáo?

Có một điều tôi có thể khẳng định: tôi theo đạo không phải vì bị lôi cuốn bởi chân lý đức tin, cũng không phải vì bị thuyết phục bởi những lập luận hợp lý của đạo Công giáo.

Giờ đây, khi nhìn lại quá khứ, tôi nhận ra một vài biến cố đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn tôi, từ thời thơ ấu, qua chín năm tiểu học tại trường Mông Triệu, tức Assumption College, do các thầy Dòng Thánh Gabriel phụ trách tại Bangkok, rồi ba năm tại Học viện Wan Yan ở Hồng Kông, do các cha Dòng Tên điều hành.

Tôi không nhớ có giây phút nào mình từng được soi sáng đặc biệt bởi chân lý Kitô giáo. Tôi cũng không nhớ có cuộc tranh luận nào khiến tôi bị thuyết phục đến mức phải tự nhủ: “Đây là chân lý, tôi phải chấp nhận và phải theo đạo.”

– Mọi sự đã diễn ra như sau.

Tôi được rửa tội năm 1937, khi vừa 21 tuổi. Đó là buổi tối trước ngày khai giảng năm học tại Đại học Hồng Kông. Ở tuổi ấy, một thanh niên có trình độ đại học như tôi có đủ lý do để tự hào. Hơn nữa, tôi lại có năng khiếu tranh luận. Tôi từng là thành viên của nhóm tranh luận tại Học viện Wan Yan và thường tham gia tranh luận về đủ mọi vấn đề, ngoại trừ vấn đề tôn giáo.

Ngay từ nơi cha tôi, một Phật tử đạo hạnh, tôi nhận ra rằng chính ông đã âm thầm gieo vào tâm hồn tôi những hạt giống đầu tiên của giáo huấn Công giáo, dù ông không hề biết điều đó.

Cuộc sống tự nhiên của cha tôi toát lên nhiều nhân đức đáng kính. Ông không hút thuốc, không uống rượu. Trong công việc, ông cần mẫn và chăm chỉ. Trong giao tiếp, ông chân thật. Với bạn bè, hàng xóm, ông nhân ái và rộng rãi. Ông có lòng kính trọng tôn giáo và không bao giờ nuôi lòng thù oán ai. Mọi người đều kính trọng ông.

Cha tôi cũng không hề có ác cảm với Công giáo. Khi một người bạn Công giáo qua đời, ông còn nhiệt thành giúp đỡ trong các nghi thức tôn giáo. Dù không ai gọi ông là thánh, nhưng ai cũng kính trọng ông vì đời sống đạo đức và lương thiện.

Mỗi buổi sáng, ông thường ngồi ở cổng nhà để phân phát thức ăn cho các vị sư đi khất thực. Ông giữ thói quen ấy cho đến khi tuổi già, sức khỏe suy yếu, nhất là sau khi bị liệt một phần cơ thể.

Trong việc giáo dục con cái, cha tôi rất nghiêm khắc và luôn đặt nặng lễ nghĩa. Ông dạy chúng tôi phải chăm chỉ, cẩn thận, dù làm việc nhỏ hay việc lớn. Nhờ lối giáo dục ấy, tôi không hút thuốc, không uống rượu, và trong túi lúc nào cũng chỉ giữ một ít tiền. Tôi cũng thường được sai làm việc chung với người giúp việc trong nhà. Khi nhà có khách, tôi luôn đóng vai trò hầu bàn. Tất cả những điều đó về sau đã trở thành thói quen trong đời sống tôi.

Bà nội là người dạy tôi học Kinh Phật và chỉ cho tôi cách phân phát thức ăn cho các vị sư khất thực. Dù cha tôi cầu nguyện mỗi ngày, ông không bao giờ bắt các con phải làm giống mình. Chỉ vào dịp Tết Nguyên đán, ông muốn mọi nghi thức trong gia đình phải được thực hiện cách nghiêm chỉnh.

Có thể nói, tôi lớn lên trong một gia đình Phật tử trung lưu, sống bằng nghề buôn bán.

Năm lên bảy tuổi, theo chân các anh, tôi được gửi vào trường Mông Triệu do các thầy Dòng người Pháp điều hành. Tôi học ở đó suốt chín năm. Trong ngần ấy thời gian, tôi chưa bao giờ cảm thấy bị lôi cuốn hay quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Tôi nghĩ Công giáo cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo khác. Ngoài một vài lần tham dự lễ an táng, tôi hầu như không bước chân vào nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ có hai sự việc đã xảy ra trong thời gian ấy.

Một buổi sáng, khi tôi đang chơi đùa với các bạn trong sân trường, thầy Giám đốc Martin de Tour bất ngờ đến gặp và nói với tôi về giáo lý. Tôi lắng nghe rất nghiêm chỉnh, nhưng sau đó lại chạy đi chơi tiếp, trong lòng không hề có một chút xúc động nào trước những điều thầy vừa nói.

Lần thứ hai xảy ra vào những năm cuối ở trường Mông Triệu. Khi ấy, chúng tôi học về triết lý Công giáo. Thầy dạy môn này đã dùng lý luận khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi có nghe, nhưng không chú ý. Tôi không từ chối, cũng không chấp nhận. Trong đầu tôi chẳng có tư tưởng nào hướng về Công giáo. Tôi không tin, cũng không phản bác. Tôi chỉ hoàn toàn lạnh nhạt và thờ ơ.

Năm 1932, tôi rời trường Mông Triệu, mang theo nhiều kỷ niệm, lòng thán phục đối với lối giáo dục của nhà trường, cùng sự kính mến dành cho các thầy dòng và các giáo sư nơi đây.

Vài tháng sau, tôi lên đường sang Hồng Kông để nhập học tại Học viện Wan Yan, nơi anh tôi đã bắt đầu học trước đó một năm.

Tại Học viện Wan Yan, thái độ dửng dưng của tôi đối với đạo Công giáo vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải học môn Giáo lý, nhưng chỉ vì đó là một phần trong chương trình học. Thế thôi. Giáo lý Công giáo không tạo nơi tôi chút chú ý nào.

Có một lần, vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi vào nhà nguyện của trường để nghe cha Giám đốc Gallagher giảng. Mọi sự đối với tôi vẫn hoàn toàn xa lạ. Tôi vào nhà nguyện chỉ vì anh tôi muốn tôi vào.

Sau một năm học chung trường với tôi, anh tôi trở về nhà.

Tại Học viện Wan Yan, tôi rất thích đọc sách truyện. Cha Bourke thường đưa sách cho tôi đọc. Tôi rất kính mến và biết ơn ngài, nhưng chưa bao giờ để cha có dịp nói chuyện với tôi về tôn giáo.

Cha Ryan cũng vậy. Ngài muốn tôi cộng tác với tờ báo The Rock của ngài trong phần thiết kế các bản đồ. Một ngày kia, cha Ryan đến phòng tôi nhờ vẽ một bản đồ. Bất chợt, ngài hỏi:

“Ratna, con có bao giờ quan tâm đến tôn giáo không?”

Tôi trả lời rất ngắn gọn, khô khan, chấm dứt câu chuyện cũng bất ngờ như cách nó bắt đầu:

“Thưa cha, không.”

Cha giáo sư Martin thì mỗi tuần thường dẫn chúng tôi ra bãi biển hoặc đi thăm các đồi núi. Tôi rất yêu cảnh đẹp của Hồng Kông và tận hưởng những giây phút thoải mái ấy. Nhưng tôi không bao giờ nói với ngài về tôn giáo. Tôi tham gia gần như mọi sinh hoạt của trường, ngoại trừ các sinh hoạt đạo đức.

Rồi chuyện ấy đã xảy ra.

Vào năm cuối tại Học viện Wan Yan, khi chúng tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học, cha Donnelly tổ chức một kỳ cấm phòng cho học sinh.

Cha nói:

“Trước khi rời trường, cha nghĩ các con nên có một buổi cấm phòng.”

Các học sinh Công giáo cũng như không Công giáo đều tỏ ra vui thích trước kỳ cấm phòng này. Riêng tôi, vì không muốn bị bầu khí sôi động của lớp học chi phối quyết định, nên lúc đầu không bày tỏ ý kiến gì. Sau đó, tôi cũng quyết định tham dự, nhưng với một ý nghĩ rất đơn giản: đi thử xem cấm phòng là gì.

Kỳ cấm phòng được tổ chức tại một ngôi trường cũ ở vùng Kowloon. Nơi ấy thật yên tĩnh, có nhiều phòng và phía sau là một khu vườn để đi dạo. Trong suốt kỳ cấm phòng, mọi người làm gì thì tôi làm theo như vậy.

Điều duy nhất tôi còn nhớ rõ là trong những ngày ấy, tôi đã tự kềm chế và giữ im lặng một cách rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không có thị kiến nào xảy đến với tôi. Cũng chẳng có tia sáng lạ lùng nào chiếu soi tâm hồn tôi.

Theo chương trình đã định, trong kỳ cấm phòng, cha Donnelly gặp riêng từng người tham dự. Ngài cũng gặp tôi.

Ngài hỏi:

“Ratna, con thấy kỳ cấm phòng thế nào?”

Tôi đáp:

“Thưa cha, tốt lắm.”

Ngài hỏi tiếp:

“Con nghĩ gì về đạo Công giáo?”

Tôi trả lời rằng tôi có vài điểm nghi ngờ về Thiên Chúa. Ngài giải thích cho tôi. Tôi gật đầu rồi ra về, không hề bận tâm gì thêm.

Cho đến lúc ấy, tôi vẫn cảm thấy mình thờ ơ và lạnh nhạt như trước. Không có một động lực nhỏ bé nào khiến tôi nghĩ rằng mình đang muốn gia nhập đạo Công giáo.

Thế rồi tôi thay đổi.

Sau kỳ cấm phòng, một người bạn gặp tôi và nói rằng có vài người nhận thấy cách sống của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi suy nghĩ về điều ấy và quả thật, tôi nhận ra trong lòng mình có một niềm vui, một tia sáng nào đó phát xuất từ tận đáy tâm hồn, điều mà trước kia tôi chưa từng cảm nghiệm.

Tôi cười, và cười thật lớn, với một niềm hạnh phúc như tràn đầy trong tâm hồn. Tôi ý thức rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ mình. Không lạ gì khi một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều đó.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã tràn đến, cuốn đi sự lạnh nhạt và thờ ơ trong lòng tôi. Nguồn ân sủng ấy làm sống dậy khát vọng tìm kiếm chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những sắc màu tươi mới bắt đầu xuất hiện trên vùng đất héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô giữa sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống.

Tất cả những điều ấy nảy sinh và kết tụ trong linh hồn tôi cách lặng lẽ, âm thầm, đến nỗi chính tôi cũng không hay biết.

Như được cuốn hút bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng lại, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị thả neo tại một bến cảng thánh thiện: Giáo hội Công giáo. Đêm tối đã rút lui để nhường chỗ cho ánh sáng ban ngày. Sương mù tan biến, để con mắt linh hồn tôi bắt đầu chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã chạm đến trái tim tôi, và sự chạm đến ấy đem lại ánh sáng cùng lẽ sống cho linh hồn.

Giờ đây chỉ còn chờ một cơ hội thuận tiện để nguồn ánh sáng âm thầm và kỳ diệu ấy được tỏ lộ, không chỉ cho tôi, mà còn cho những người chung quanh.

Sau kỳ cấm phòng, xét theo phong cách bên ngoài, tôi vẫn sống như trước. Nhưng bên trong, tôi đã đổi khác rất nhiều.

Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi trở lại Học viện Wan Yan và tạm trú tại hội trường Ricci. Tôi đến gặp cha Bourke, Giám đốc nhà trường, để chào ngài lần cuối và thanh toán số học phí còn thiếu. Cha Bourke có vẻ buồn, vì suốt ba năm được ngài chăm sóc và hướng dẫn, nơi tôi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tôi đã thấm nhuần đạo giáo.

Ngài nói:

“Ratna, cha nghĩ có lẽ con sẽ khá hơn nhiều nếu con là người Công giáo.”

Tôi đáp:

“Thưa cha, con cũng nghĩ như vậy.”

Rồi tôi kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra trong lòng mình.

Có lẽ cha Bourke chưa từng ngạc nhiên đến thế trong đời.

Sự quy phục thoát ra từ tiềm thức tôi như dòng nước lũ cuồn cuộn phá vỡ bờ đê của tình trạng thờ ơ lạnh nhạt, rồi cuốn trôi tất cả. Một gánh nặng nào đó từ lâu đè nén trong lồng ngực như vừa được cất bỏ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản.

Vài ngày sau, tôi được rửa tội tại hội trường Ricci. Cha Ryan chủ sự, còn ông Chevalier J.M. Alves là cha đỡ đầu của tôi.

Tôi không xứng đáng được gia nhập Giáo hội Công giáo. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa đã dẫn tôi đến với Ngài: “Gratia Dei ego sum id quod sum” – “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10). Tôi đã từ chối mọi cố gắng thuyết phục của con người, nhưng cuối cùng lại đầu hàng trước ân sủng của Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi thấy rất rõ rằng sự tận tâm trong việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện của các thầy Dòng Thánh Gabriel và các cha Dòng Tên đã âm thầm chuẩn bị mảnh vườn tâm hồn tôi, để hạt giống đức tin có thể nảy mầm.

Đối với tôi lúc ấy, điều quan trọng không còn là “làm sao” hay “bằng cách nào” tôi theo đạo, nhưng là “làm sao” và “bằng cách nào” để tôi giữ đạo. Tôi biết có một vài người bạn, sau khi được rửa tội một thời gian, đã không còn sống đức tin nữa. Tôi cũng hiểu những khó khăn khiến họ không tiếp tục. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhủ sẽ gìn giữ đức tin và sống đạo cho đến hết đời.

Những suy nghĩ ấy đã làm cho đời sống tôi thay đổi sau ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Từ một người lạnh nhạt, thờ ơ, giờ đây tôi trở nên nóng lòng muốn tìm hiểu mọi điều về Giáo hội. Tôi không muốn trong đầu mình còn một nghi ngờ dù nhỏ bé. Tôi không muốn còn một thắc mắc nào vương lại trong trí. Tôi dồn hết cố gắng để hiểu các giáo huấn của Giáo hội. Tôi muốn đức tin của mình được xây dựng vững chắc trên nền tảng suy tư và lý luận.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần các cuốn Apologetics, Radio Replies của Sheehan và Ripley. Tôi học Ethics của Ignatius dưới sự hướng dẫn của cha Byrne. Các tác giả như Chesterton, Belloc và Maurice Baring cuốn hút tôi. Những cuốn sách tôi đọc lúc bấy giờ hầu như hoàn toàn là sách tôn giáo: Chúa Kitô, Lẽ Sống của Linh Hồn của Marmion; Một Tâm Hồn của Thánh nữ Têrêsa; Những Vị Thánh Cho Kẻ Tội Lỗi của Goodier; Người Phong Cùi Tên Damien của John Farrow. Những tác phẩm ấy trở thành sách tu đức của tôi.

Tôi gia nhập Phong trào Hộ Giáo, và năm 1941, nhóm chúng tôi đoạt giải trong một cuộc tranh luận với Hội Thánh Joan of Arc.

Càng tìm hiểu về Giáo hội, tôi càng cảm phục sự hoàn hảo trong cách Giáo hội giải đáp các vấn nạn của đời sống. Đối với tôi, giáo lý Công giáo là nguồn mạch soi sáng cho mọi lãnh vực tri thức. Tôi vui mừng nhận ra sự hài hòa giữa khoa học và Giáo hội. Tôi kinh ngạc khám phá rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra lịch sử nhân loại. Tôi thán phục cách Giáo hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi cũng ngưỡng mộ cách Giáo hội bảo vệ luân lý và sự thanh khiết.

Càng tìm hiểu những chống đối nhắm vào Giáo hội, tôi càng nhận ra vẻ toàn bích và toàn mỹ của Giáo hội hơn nữa. Nếu giáo huấn của Giáo hội có khiếm khuyết theo cách nào đó mà tôi có thể nhận ra, có lẽ tôi đã không giữ đạo cho đến hôm nay.

Tôi tham dự Thánh lễ và rước lễ mỗi ngày. Tháng 5 năm 1938, tôi gia nhập Hiệp hội Thiếu niên Thánh nữ Maria. Tôi giúp lễ và cảm thấy hạnh phúc khi được đến với Mẹ Maria vào mỗi tháng Năm. Tôi cũng trở thành hội viên Hội Thánh Vincent de Paul, đi xin quần áo cũ cho người nghèo. Tôi xúc động trước đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và cố gắng noi theo con đường bé nhỏ của thánh nữ.

Thật kỳ diệu khi nhìn lại sự biến đổi nơi tôi: từ một người lạnh nhạt, thờ ơ với Giáo hội suốt mười hai năm dài, dù đã sống trong chiếc nôi của Giáo hội, nay lại được ân sủng tràn ngập cách dồi dào.

Tôi báo cho cha tôi biết việc tôi đã được rửa tội. Ông không phản đối. Có lẽ ông cũng không biết đời sống đạo của tôi lúc ấy đã trở nên mạnh mẽ đến mức nào.

Tháng 5 năm 1941, tôi tốt nghiệp Đại học Hồng Kông. Tương lai mở ra trước mắt tôi với rất nhiều hứa hẹn thành công. Nhưng tôi đã quyết định đi tu để trở thành linh mục.

Tôi trở về nhà với hy vọng cha tôi sẽ đồng ý cho tôi đi tu. Nhưng trái lại, ông không những không đồng ý mà còn tìm cách làm cho tôi bỏ đạo. Ông ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ khi thấy tôi sùng đạo đến như vậy.

Thời gian ấy, chiến tranh Pháp tại vùng Đông Dương cùng những biến động xã hội khiến cả đời sống Giáo hội cũng trải qua nhiều khó khăn. Cha tôi vin vào đó để cho rằng việc tôi vào đạo và sống đạo đã đem lại những rủi ro cho gia đình. Ông không hiểu rằng người Công giáo rất “cứng cổ” trong việc tin đạo và sống đạo.

Tôi cũng nhận ra rằng đời sống đạo của mình đang trở thành nguyên nhân gây xáo trộn trong gia đình. Tôi không biết phải làm sao để mọi người hiểu được. Tôi buộc phải đối diện với những biến động của đời sống và phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay thế gian.

Được thêm sức bởi Bí tích Thánh Thể mà tôi lãnh nhận trong một Thánh lễ tại Dòng Carmelite, vào một buổi sáng, tôi quyết định rời gia đình. Tôi không báo cho ai biết, cũng không để lại địa chỉ hay lời từ biệt nào. Tôi vào chủng viện tại Bank Nok Khuek, Ratburi, ngay trước khi chiến tranh thật sự bùng nổ tại vùng Viễn Á.

Trong khi chiến tranh lan rộng khắp nơi, tại một góc nhỏ yên tĩnh giữa khu vườn dừa rậm rạp, thỉnh thoảng vang vọng vài tiếng bom nổ từ xa, một nhóm chủng sinh, trong đó có tôi, âm thầm trau dồi các môn Triết học và Thần học.

Tôi được thụ phong linh mục vào lễ Thánh Gioan Bosco, ngày 31/1/1949. 


 

ĐÔI MẮT CÓ TIM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng”.

Có người hỏi Mẹ Têrêxa, làm sao Mẹ có thể nhận ra Đức Kitô? Mẹ trả lời: “Tôi nhìn từng người như Chúa Giêsu cải trang. Mỗi người nghèo là Đức Kitô trong hình dạng đau khổ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mẹ Têrêxa học được cách nhận ra Chúa Giêsu cải trang nơi người nghèo. Có những đôi mắt nhìn rất rõ mà không thấy con người; nhìn rất xa mà không nhìn sâu. Lời Chúa hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhìn thấu con người và nỗi đau của từng người bằng một ‘đôi mắt có tim’.

Thấy đám đông lầm than vất vưởng, Chúa Giêsu không thấy một đám người vô danh; Ngài thấy từng cuộc đời. Bản Hy Lạp viết eskylmenoi kai errimmenoi – “bị xâu xé và quăng xuống”. Đó là những con người bị cuộc đời làm cho tơi tả, bị bỏ mặc như chiên không người chăn. Ngài thấy những vết thương ẩn sau mỗi khuôn mặt; thấy nỗi mệt mỏi ẩn sau những bước chân; thấy những tiếng kêu không ai nghe.

Vậy mà ánh mắt của Ngài không dừng ở lòng trắc ẩn; nó luôn hoá thành một bước chân. Vì thế, Ngài bước đến chữa lành, giải thoát, rồi nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít!”. Ai nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’ sẽ không thể đứng yên trước những cánh đồng đang chờ người gặt. Lòng thương xót đích thực không kết thúc bằng giọt nước mắt, nhưng khởi đầu bằng một đôi chân biết lên đường. “Điều tình yêu nhìn thấy, đôi chân phải tìm đến!” – Madeleine Delbrêl.

Hôsê cũng hé lộ một Thiên Chúa biết đau vì dân Ngài. Israel đã tự lập vua mà không cần Ngài, lấy bạc vàng đúc nên ngẫu tượng và dựng lên những bàn thờ của riêng mình – bài đọc một. Nhưng Thiên Chúa không vì thế mà thôi nhìn họ bằng mắt xót thương. Giữa một dân nhiều lần phản bội, Thánh Vịnh đáp ca vẫn tha thiết: “Nhà Israel, hãy tin cậy Chúa!”. Điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là thêm những bàn thờ, nhưng là những trái tim biết trở về.

Nhưng trở về với Chúa không dừng lại ở cảm xúc đạo đức. Chúng ta thương, rồi quên; xót xa, rồi bước tiếp; thích bàn về truyền giáo hơn là trở thành người truyền giáo; thích lập kế hoạch hơn là quỳ xuống cầu nguyện. Điều lạ là trước khi sai các môn đệ lên đường, Chúa Giêsu lại bảo họ cầu xin Chủ mùa gặt. Truyền giáo không bắt đầu từ những chương trình lớn, nhưng từ những con người biết ở lại với Chúa. “Chúng ta không cần quá nhiều ý tưởng lý thuyết về kế hoạch mục vụ. Điều cần là cầu nguyện với Chủ mùa gặt!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Đức Kitô là dung mạo hữu hình của lòng thương xót Chúa Cha. Nơi Ngài, Thiên Chúa không chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con người, nhưng bước vào chính nỗi khổ ấy. Trên thập giá, Ngài mang lấy mọi vết thương và mọi phận người bị bỏ rơi để trao ban sự sống mới. Từ đó, không một ai còn nằm ngoài ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa. Theo Đức Kitô là để chúng ta cũng biết nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’, nhận ra nơi mỗi con người một người anh em được Thiên Chúa yêu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đổi ánh nhìn của con trước khi đổi công việc; để mỗi người con gặp không còn chỉ là một khuôn mặt, nhưng là một người anh em được Chúa yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,32-38

32 Khi ấy, người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám. 33 Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng : “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ !” 34 Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo : “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.”

35 Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”


 

KHÔNG SỢ LÂY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy”.

“Đức Giêsu đã gánh lấy gánh nặng tội lỗi của toàn thể nhân loại; mang nó xuống tận đáy sông Giorđan. Cử chỉ khai mạc sứ vụ của Ngài là một tiên báo thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã bước xuống dòng nước Giorđan, đứng vào hàng ngũ các tội nhân; đó là cử chỉ khai mạc sứ vụ, tiên báo thập giá. Hôm nay, Ngài chạm vào một phụ nữ băng huyết và cầm tay một bé gái vừa qua đời. Ngài là hiện thân của một Thiên Chúa ‘không sợ lây’.

Với người Do Thái, máu làm người ta ô uế; xác chết cũng làm người ta ô uế. Vì thế, người ta tránh xa; còn Chúa Giêsu thì bước tới. Bản Hy Lạp viết ekratēsen; Vulgata dịch tenuit manum eius – “Ngài nắm lấy tay nó”. Ngài cầm lấy tay một bé gái vừa chết; rồi để người phụ nữ băng huyết chạm vào mình. Ngài không sợ điều gì lây sang mình, vì Ngài biết điều lây từ Ngài sang họ mạnh hơn gấp bội. Kể từ đây, điều lây lan không còn là ô uế, nhưng là sự sống. Mỗi khi Chúa Giêsu chạm đến, sự sống bắt đầu lây lan. Nhưng không phải mọi cái chạm đều mở ra sự sống.

Đám đông hôm ấy chen lấn quanh Chúa Giêsu, nhưng chỉ một người chạm đến Ngài. “Đám đông chen lấn, đức tin chạm đến!” – Augustinô. Chúng ta không còn sợ ô uế như người Do Thái xưa, nhưng vẫn sợ nhiều điều khác lây sang mình. Có thể ở rất gần Chúa mà lòng lại rất xa; chúng ta đi lễ, đọc kinh, sinh hoạt đạo đức, nhưng trái tim lại ở một nơi khác. Chúng ta giữ cho mình “sạch”, nhưng nhiều khi cũng giữ mình xa luôn cả lòng thương xót; đang khi “lòng trắc ẩn mời gọi chúng ta bước đến nơi đang đau!” – Henri Nouwen.

Việc Chúa Giêsu ‘không sợ lây’ không phải là một hành động nhất thời, nhưng là dung mạo muôn đời của Thiên Chúa. Israel đã ngoại tình với các thần ngoại, phản bội giao ước; thế nhưng, Ngài không sợ lây sự nhơ nhớp của dân bất trung. Tình yêu của Thiên Chúa luôn mạnh hơn sự phản bội của con người. Qua ngôn sứ Hôsê, Ngài vẫn ngỏ lời: “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu” – bài đọc một. Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đi tìm, đón nhận, phục hồi và tái tạo. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới reo lên: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”.

Anh Chị em,

Tất cả những cử chỉ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đều hướng về thập giá; ở đó, Ngài mang lấy tội lỗi của cả nhân loại. Cử chỉ khai mạc sứ vụ ngày nào không còn tiên báo thập giá; nhưng chính là thập giá – nơi Ngài chạm đến sự ô uế tận cùng của con người mà không hề bị ô uế khuất phục. Và từ cạnh sườn bị đâm thâu, sự sống và ơn cứu độ tuôn trào cho muôn người. Bởi thế, người môn đệ của Đức Kitô không khép mình vì sợ liên luỵ, nhưng biết chạm tới những ai đang đau khổ, vì chỉ tình yêu dám chạm tới mới làm cho sự sống tiếp tục lây lan. “Điều gì không được đón nhận thì không được cứu độ!” – Grêgôriô Nazian.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành con; biến con thành sự chữa lành cho tha nhân; và để sự sống ấy cứ lây lan từ người này sang người khác, cho đến khi cả thế giới được chữa lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 9,18-26

18 Khi ấy, Đức Giê-su còn đang nói với các môn đệ ông Gio-an, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói : “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.” 19 Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.

20 Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo choàng của Người, 21 vì bà nghĩ bụng : “Tôi chỉ cần sờ được vào áo choàng của Người thôi là sẽ được cứu chữa !” 22 Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói : “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.

23 Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh ; thấy phường kèn và đám đông ồn ào. 24 Người nói : “Lui ra ! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” Nhưng họ chế nhạo Người. 25 Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. 26 Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.


 

ÁCH VỪA VẶN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi!”.

“Hãy trả lại cho con chim sức nặng của đôi cánh, và bạn sẽ thấy nó bay lên!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đôi cánh cũng là một sức nặng; nhưng chính sức nặng ấy lại làm con chim cất cánh. Cũng vậy, Lời Chúa hôm nay cho thấy: chiếc ‘ách vừa vặn’ của Đức Kitô không đè bẹp con người, nhưng nâng con người lên.

Chúa Giêsu nói, “Ách tôi êm ái”. Bản Hy Lạp viết chrēstos. Từ này không chỉ có nghĩa là êm ái, nhưng còn là tốt lành, thích hợp, vừa vặn với người mang. Một chiếc ách tốt không phải vì được làm từ gỗ tốt, nhưng vì nó được đẽo đúng kích cỡ: không làm trầy cổ, không làm con vật gục xuống, trái lại giúp nó kéo đi đúng hướng. Chúa Giêsu không hứa một cuộc đời không gánh nặng; Ngài hứa một chiếc ách được đo bằng tình yêu, vừa vai mỗi người và đủ sức nâng chúng ta lên. “Tình yêu không cảm thấy gánh nặng; không kể đến nhọc nhằn; và làm được nhiều hơn điều tưởng mình có thể làm!” – Thomas à Kempis.

Vậy mà chiếc ách ấy chỉ vừa với một hạng người: những ai biết mình bé nhỏ – “Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”. Bản Hy Lạp dùng từ nēpioi, không chỉ những trẻ thơ về năm tháng, nhưng những con người biết mình không đủ, không thể tự cứu mình và hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa. Chính sự bé nhỏ ấy mở ra điều mà người khôn ngoan lại khép kín. Đức tin không bắt đầu khi chúng ta biết nhiều hơn, nhưng khi chúng ta thôi nghĩ mình đủ. Chỉ ai dám để Chúa mang lấy cuộc đời mình mới khám phá ách của Ngài thật êm ái.

Đó cũng là cách Thiên Chúa hành động trong suốt lịch sử. Zacharia loan báo một vị Vua không cưỡi chiến mã, nhưng khiêm tốn ngồi trên lưng lừa – bài đọc một. Ách Ngài trao không phải là ách của bạo lực, nhưng là ách của tình yêu. Phaolô đi xa hơn: chúng ta mang được ách ấy không nhờ sức riêng, nhưng nhờ Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại – bài đọc hai. Vì thế, ách không hề nhẹ hơn, nhưng người mang đã mạnh hơn. Đó cũng là lý do Hội Thánh hân hoan cất tiếng: “Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ trao cho chúng ta một chiếc ‘ách vừa vặn’; chính Ngài đã mang nó. Vì thế, khi nhìn lên Đấng đã mang mọi sự vì yêu, những lời than phiền của chúng ta dần lặng xuống. Ngài không cất khỏi vai chúng ta chiếc ách tưởng là nặng, nhưng biến nó thành đôi cánh. Thập giá vẫn là thập giá; nhưng khi được mang với Đức Kitô, nó không còn đè bẹp con người, mà nâng con người lên. Đó là chiếc ách êm ái của Tin Mừng: không làm cuộc đời bớt nặng, nhưng làm trái tim đủ mạnh để mang mọi gánh nặng trong tình yêu. “Ở chiều tối của cuộc đời, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không xin cất khỏi con mọi gánh nặng; nhưng xin cho con một trái tim đủ yêu để mang lấy ách của Chúa, hầu những gì tưởng kéo con xuống lại trở thành đôi cánh nâng con lên!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIV TN, NĂM A

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 11,25-30

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


 

CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

Mỗi tháng trong Năm Cầu Nguyện 2024 này, thầy Baptiste de l’Assomption giúp chúng ta khám phá thông điệp về một nhân vật tâm linh ít được biết đến của thế kỷ 20.  Thầy bắt đầu với cha Wilfrid Stinissen, dòng Cát Minh, một chuyên gia lớn về Thánh Gioan Thánh Giá, người cho chúng ta thấy “đêm tối” là một giai đoạn của đời sống thiêng liêng chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.

 “Điều đó sẽ mang lại cho bạn bớt ở luyện ngục hơn!”  Đây là cách diễn đạt mà đôi khi chúng ta nghe thấy trên môi miệng các Kitô hữu!  Chúng ta có thể giải thích nó theo cách chủ bại: “Trong mọi trường hợp, đau khổ là cần thiết… dù phải có nó, nhưng càng phải sống với nó ngay bây giờ!”  Chúng ta cũng có thể hiểu nó như là một tin tuyệt vời!  Người ta có thể sống, từ trái đất này, sự chuẩn bị tuyệt vời này cho cuộc sống trên thiên đàng và thấy trước, ngay cả trước khi chết, những niềm vui trên Thiên Đàng!  Đây là một trong những học thuyết truyền thống nhất được tìm thấy trong học thuyết về đêm tối của Thánh Gioan Thánh Giá.  Theo ngài, đêm tối không gì khác hơn là một luyện ngục được trải nghiệm trên trái đất, vốn chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.  Nhưng thực sự ngài đang nói về điều gì?  Hãy để cha Wilfrid Stinissen (1927-2013) nói cho chúng ta về điều này: vị tu sĩ Cát Minh người Bỉ này đã trở thành bề trên tu viện của mình ở Thụy Điển và được công nhận là một trong những chuyên gia giỏi nhất về Thánh Gioan Thánh Giá vào cuối thế kỷ 20. 

Vào thời điểm nào của đời sống thiêng liêng?

 Nơi các Kitô hữu, có nhiều giai đoạn của đời sống thiêng liêng: giai đoạn mà chúng ta bắt đầu bước theo Chúa Kitô một cách cương quyết hơn; giai đoạn mà cuộc sống với Ngài trở nên giống như hơi thở tự nhiên.  Nhưng cuộc hành trình vẫn chưa kết thúc.  Như cha Wilfrid giải thích: “Chúng ta bị cám dỗ để tin – đặc biệt khi đọc các sách thần bí – rằng chúng ta đã tìm ra con đường, và bây giờ vấn đề là phải tiếp tục con đường này cho đến hết đời, sự nghỉ ngơi sẽ trở nên sâu xa hơn bao giờ hết, sự thỏa mãn càng lớn hơn” (La nuit comme le jour illumine, trang 18).

 Trên thực tế, mọi thứ chỉ mới bắt đầu.  Sau khi đã trải nghiệm đủ lâu một cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài ở trung tâm tâm hồn, giờ đây linh hồn đã sẵn sàng, nó đủ gắn bó với ý muốn của Ngài, để trải qua một cảm nghiệm đau đớn hơn, một cuộc thanh tẩy sâu sắc hơn vốn có hai khía cạnh, “khía cạnh luân lý và khía cạnh hữu thể học” (tr. 19).

 Sự thanh tẩy luân lý 

Khía cạnh luân lý của đêm tối gắn liền với sự thánh thiện quá vĩ đại của Thiên Chúa.  Khi Chúa đến gần một linh hồn, ánh sáng rất tinh tuyền của Ngài làm nổi bật những vùng tối tăm ẩn giấu nhất.  Lúc đó, linh hồn trải qua một trải nghiệm khó có thể chịu đựng được.  Tội lỗi và nỗi khốn cùng của nó được đưa ra ánh sáng, không phải để nó tuyệt vọng, nhưng để nó hiến thân, với sự nhỏ bé và yếu đuối của mình, cho ngọn lửa thiêu đốt của Lòng Thương Xót của Chúa.  Cha Wilfrid nói: “Điều hết sức quan trọng là phải hiểu rằng nỗi đau khổ trong đêm tối không phải do sự vắng mặt của Chúa gây ra.  Ngược lại, chính sự hiện diện của Thiên Chúa – một sự hiện diện theo một cách nào đó quá mãnh liệt và vượt quá khả năng của linh hồn – là nguyên nhân của mọi nỗi buồn của đêm tối.  Thánh Gioan Thánh Giá không ngừng lặp lại rằng đêm tối xuất phát từ tình yêu “quá vĩ đại” của Thiên Chúa” (tr. 20).

 Sự biến đổi hữu thể học

 Nhưng đêm tối không chỉ là “sự thanh lọc.”  Nó cũng là một “sự biến đổi” để những lời của Thánh Phaolô được thể hiện trong linh hồn: “Với Chúa Kitô, tôi bị đóng đinh.  Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Ga 2,19-20).  Người nào đã nhìn thế giới và các sinh vật theo cách của con người, giờ đây sẽ nhìn chúng bằng con mắt của Chúa.  “Hoa hồng” không còn là một loài cây kỳ diệu nói với họ về vẻ đẹp của Thiên Chúa nữa: nó trở thành một lời của Chúa Cha mặc khải cho họ tất cả vẻ đẹp của Lời Ngài, trong Người Ngài đã tạo dựng nên mọi sự.  Họ không còn yêu thương anh em mình bằng sức lực con người nữa, nhưng bằng tình yêu của chính Chúa Thánh Thần.  Không còn là họ phải “chịu đựng” một đồng nghiệp khó quản lý: chính Chúa Giêsu đã yêu người đó qua họ, bằng chính Trái Tim của Người.  Nhưng trước khi đạt được trạng thái hạnh phúc này, cần phải ưng thuận trải qua một quá trình chuyển đổi đau đớn:

 Sức mạnh của linh hồn không ngay lập tức chấp nhận rằng họ không còn có thể hành động theo cách thông thường nữa.  Phải mất thời gian trước khi họ hoàn toàn buông mình cho Thiên Chúa và học cách lắng nghe những tín hiệu đến từ bên trong, thay vì chiếm lấy đối tượng của họ một cách tàn nhẫn.  Phải mất thời gian trước khi móng vuốt phát triển thành những ăng-ten nhạy cảm.  Trong khi chờ đợi sự biến đổi này, chúng ta lơ lửng giữa trời và đất (NO II 6, 5).  Chúng tôi không còn có thể hành động như trước nữa, chúng tôi cảm nghiệm sự hoàn toàn bất lực của mình” (tr. 23).

 Bằng lòng đi vào mầu nhiệm thập giá 

Tóm lại: do đó rất có thể sống “luyện ngục” này trên trái đất.  Đó là sự triển nở của tâm hồn, vốn cho phép nó sống từ trần thế này trong niềm vui của cuộc sống thiên đường.  Nhưng để làm được điều này, cần phải ưng thuận đi sâu vào mầu nhiệm Thập Giá một cách trọn vẹn.  “Luyện ngục” này thường xảy ra nơi những người Kitô hữu sau một thời gian dài thân mật với Thiên Chúa.  Nó mang hình thức một cuộc thanh tẩy những cội rễ sâu xa nhất của tội lỗi và một sự biến đổi tâm hồn.  Mặc dù trải nghiệm đó rất đau đớn – nó có thể có hàng ngàn hình thức! – nhưng đây có lẽ là ân sủng đẹp nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho con người trên trái đất này.  Đêm tối này, như Thánh Gioan Thánh Giá đã nói, là một đêm tối thực sự hạnh phúc vì nó dẫn chúng ta đến sự kết hợp sâu sắc với Đấng đã yêu thương chúng ta biết bao.

 Baptiste de l’Assomption o.c.d. 

Tý Linh Chuyển ngữ từ: fraleteia.org (20.01.2024)
Nguồn: xuanbichvietnam.net


 

ÂN SỦNG KHÔNG Ở TRỌ – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Rượu mới thì đổ vào bầu mới!”.

“Hãy tưởng tượng bạn là một ngôi nhà. Thiên Chúa sẽ làm những điều bạn không ngờ. Ngài định xây nên một cung điện để chính Ngài ở trong đó!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa không tìm một chỗ ở tạm trong cuộc đời chúng ta. Ngài không xin một góc nhỏ của trái tim, nhưng muốn biến nó thành nơi Ngài cư ngụ. Lời Chúa hôm nay mặc khải một sự thật tuyệt đẹp: ‘ân sủng không ở trọ’.

Chúa Giêsu nói, “Người ta không đổ rượu mới vào bầu da cũ”. Bản Hy Lạp viết oinon neon – “rượu mới”; nhưng với “bầu mới”, Matthêu lại dùng askous kainous. Điều thú vị là neos chỉ cái mới theo thời gian, còn kainos nói đến cái mới về phẩm chất. Đức Kitô không chỉ ban một sức sống mới; Ngài còn đổi mới chính con người để đón nhận sức sống ấy. Ân sủng không bằng lòng với một trái tim cũ; nó làm nên một trái tim mới để Thiên Chúa làm chủ. “Linh hồn là lâu đài nơi Thiên Chúa vui thích cư ngụ!” – Têrêxa Avila.

Chúng ta thường muốn Chúa ban rượu mới, nhưng lại giữ nguyên bầu cũ: những thói quen cũ, nỗi sợ cũ, cách nghĩ cũ, những vùng tối không muốn mở cửa. Chúng ta xin bình an, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát; xin đổi mới, nhưng không muốn bị xáo trộn; xin ân sủng, nhưng chỉ dành cho Chúa một không gian nhỏ trong đời mình. Vì thế, rượu mới không thiếu; điều thiếu là một con người dám để Thiên Chúa hành động. Ân sủng không phá huỷ, nhưng cũng không chịu bị nhốt trong một đời sống chưa thực sự muốn biến đổi. “Chúng ta luôn bị cám dỗ gắn sự mới mẻ của Tin Mừng vào những thái độ cũ!” – Phanxicô.

Đó cũng là thái độ của Israel đối với Thiên Chúa, Đấng hành động trong suốt lịch sử cứu độ. Ngài không vá víu những gì đã đổ nát; qua Amos, Ngài hứa: “Ngày ấy, Ta sẽ dựng lại lều xiêu vẹo của Đavít” – bài đọc một. Ngài không sửa chữa một căn nhà cũ, nhưng tái thiết một ngôi nhà hoàn toàn mới để dân Ngài lại được ở với Ngài. Điều Ngài thực hiện với nhà Đavít, Chúa Kitô cũng thực hiện với trái tim mỗi người. Ân sủng không đến để sửa sang, nhưng để kiến tạo một con người mới cho Thiên Chúa. Vì thế, ở đâu có Chúa, ở đó có bình an. “Điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Chú Rể của Giao Ước mới. Trong Ngài, Thiên Chúa không chỉ ban rượu mới của ân sủng, nhưng còn kết ước với nhân loại bằng một tình yêu ở lại đến muôn đời. Ngài là nguồn mạch của mọi ân sủng, là nhân loại mới Chúa Cha khai mở giữa thế gian. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không còn chỉ hứa ở với dân, nhưng thực sự cắm lều giữa nhân loại. Ai ở lại trong Ngài cũng được đổi mới để trở thành đền thờ của Thiên Chúa. ‘Ân sủng không ở trọ’; nó không ghé qua cuộc đời chúng ta, nhưng biến chính cuộc đời chúng ta thành nơi Thiên Chúa hằng cư ngụ. “Trời của tôi là Thiên Chúa ở trong linh hồn tôi!” – Elizabeth of the Trinity.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con, để ân sủng Chúa không tạt qua, nhưng định cư; không chỉ dạm chơi, nhưng ở lại; biến cả cuộc đời con thành đền thờ của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

**************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn 

Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 9,14-17

14 Khi ấy, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng : “Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay ?” 15 Đức Giê-su trả lời : “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, đang khi chàng rể còn ở với họ ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi khỏi họ, bấy giờ họ mới ăn chay. 16 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá sẽ co lại, khiến chỗ rách lại càng rách thêm. 17 Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt : rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới : thế là giữ được cả hai.”


 

Cho đi, tức là lãnh nhận – Cha Vương 

Chúc bạn những ngày nghỉ dài “July 4th” (Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ) thật hạnh phúc bên bạn bè và gia đình. Đừng quên cầu nguyện nhau và cho những người đã hy sinh cho nền độc lập, tự do, và hoà bình trên đất nước Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung nhé.

Cha Vương 

Th 5: 02/07/2026.     (CN-23)

TIN MỪNG: Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. (Mt 10:42)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống ngày nay bạn thấy có những điều rất là nghịch lý nhưng lại rất là đúng. Thí dụ: Sinh con cho người giúp việc—rõ là con của mình nhưng nó lại gần gũi với người giúp việc hơn; thế giới ảo “thật” hơn thế giới thực; tất cả mọi thứ đều tăng giá, chỉ có con người là ngày càng mất giá. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su cũng vạch ra cho bạn những nghịch lý để giúp bạn sống trưởng thành hơn trong ơn gọi người Ki-tô hữu của mình: 

(1) Cho đi, tức là lãnh nhận—bạn muốn được yêu thương ư? Vậy hãy tập cho đi những gì là thương mến đi.

(2) Ai tìm thì sẽ mất; ai chịu mất thì sẽ tìm lại được—bạn đang kiếp tìm gì vậy? Sự ích kỷ (tức là chỉ tìm chính bản thân mình, đặt mình làm chuẩn mực cho người khác phải theo) thì sẽ làm cho con người lâm vào tình trạng vong thân, đánh mất chính mình. Nếu bạn sẵn sàng dấn thân cho đi trong yêu thương, vui vẻ phục vụ thì bạn sẽ tìm được chính bản thân mình. 

(3) Ai giúp người khác thì bản thân mình sẽ được giúp đỡ—bạn muốn được giúp đỡ ư? Bạn hãy làm một điều rất đơn giản được nêu ra trong Tin Mừng hôm nay đi. Dù chỉ là một bát nước lã thôi ấy vậy mà món quà tưởng chừng như vô giá trị ấy lại có ý nghĩa trước mặt Chúa và xứng đáng nhận phần thưởng. “Của cho không quan trọng bằng cách cho”, một bát nước lã đã trở thành quà tặng có giá trị, vì nó được trao tặng với cả tâm hồn, với tình mến yêu và lòng chân thành. Ước mong bạn hãy áp dụng những điều nghịch lý trên vào cuộc sống hàng ngày để minh chứng cho Tin Mừng của Chúa.

LẮNG NGHE: CHÚA Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, con cầu xin cho họ xin cho họ nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai con.”  (Ga 17:21-22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu không so đo tính toán, không ích kỷ nhỏ nhen để mọi người nhận biết con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Tập sống chân thành với chính mình hơn. Đừng sống “ảo” nhé.

From: Do Dzung

*************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Sáng tác: Duy Nhạc – Angelo Band

KHÔNG BIẾT ĐI MÔ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến!”.

“Không có cộng đoàn thì khó tìm được Chúa Giêsu!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay kể chuyện Tôma vắng nhà. Tám ngày sau, ông trở lại và “Điđymô” mới nhận ra: ngoài Đức Kitô và cộng đoàn của Ngài, ông thật sự… ‘không biết đi mô’.

Mở đầu trình thuật, Gioan ghi rất đơn sơ: Tôma “không ở với các ông”. Bản Hy Lạp viết meth’ autōn – “ở với các ông”. Chỉ thiếu việc “ở với” ấy, Tôma lỡ mất cuộc gặp đầu tiên với Đấng Phục Sinh. Tôma không mất Chúa vì nghi ngờ; ông lỡ cuộc gặp đầu tiên vì không “ở với”. Vấn đề của ông không chỉ là thiếu bằng chứng, nhưng là thiếu hiệp thông. Đức tin không bắt đầu bằng việc đủ lý lẽ, nhưng bằng việc ở lại với những người chờ Chúa.

Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại đến. Lần này, Tôma “ở với các ông”. Đối với Tôma, con đường gặp Đức Kitô đi ngang qua cộng đoàn. Và đó là cách Đức Kitô muốn mạc khải: Hội Thánh luôn là nơi Ngài quy tụ, hiện diện và ban bình an. Vì thế, cộng đoàn không chỉ là nơi các tín hữu gặp nhau, nhưng là nơi Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình cho họ. Ai tự tách mình khỏi cộng đoàn, sớm muộn cũng đánh mất nơi mình vẫn có thể gặp Đấng Phục Sinh. “Cộng đoàn là nơi những vết thương được chạm đến và đức tin được phục hồi. Không ở đó, Tôma đã không thể chạm vào những dấu đinh!” – James Martin.

Đó cũng là điều Phaolô nhắc các tín hữu Êphêsô: “Anh em là người nhà của Thiên Chúa!” – bài đọc một. Hội Thánh không chỉ là một tổ chức, nhưng là gia đình được Đức Kitô quy tụ và xây dựng. Vì thế, rời cộng đoàn không chỉ là xa một nơi chốn, nhưng là xa mái nhà thiêng liêng, nơi đức tin được nuôi dưỡng và lớn lên. Không ai có thể làm môn đệ một mình; cũng không ai có thể sống đức tin mà không cần đến anh chị em mình. Chính từ cộng đoàn ấy, người môn đệ mới có thể lên đường “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng” như Đáp ca mời gọi.

Như Tôma, có những lúc chúng ta không hẳn mất đức tin, nhưng âm thầm rời xa cộng đoàn vì những lý do khác nhau. Chúng ta nghĩ mình vẫn có thể tin một mình. Vậy mà chỉ khi lòng trở nên trống vắng và lạc hướng, chúng ta mới nhận ra: xa Đức Kitô, xa Hội Thánh của Ngài, xa cộng đoàn…, mình thật sự ‘không biết đi mô’.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh không chỉ quy tụ Hội Thánh; chính Ngài là nguồn mạch hiệp thông của Hội Thánh. Trong Ngài, Hội Thánh được dự phần vào sự sống Ngài hằng sống với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Vì thế, Hội Thánh không chỉ là nơi con người gặp nhau, nhưng là nơi họ được thông dự vào sự sống Ba Ngôi. Ở lại trong Đức Kitô, hiệp thông không còn là nỗ lực giữ nhau, nhưng là sự sống được nhận lãnh và thông ban; để rồi cộng đoàn được sai đi lan toả sự sống ấy. Điều này chỉ xảy ra khi chúng ta ở lại trong Hội Thánh, chứ không đứng ngoài cộng đoàn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đôi lúc giữa cộng đoàn, con vẫn lạc, xin kéo con về; đôi lúc con muốn bỏ đi, ‘không biết đi mô’, xin níu con lại; ở lại mà lòng vẫn đi, xin đưa con vào hiệp thông!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Kính Thánh Tôma Tông đồ 03/7 Thứ Sáu, Tuần XIII Thường Niên

Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,24-29

24 Có một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”


 

PHÉP LẠ KHÔNG AI THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi!”.

“Điều cốt yếu thì mắt không nhìn thấy!” – Saint Exupéry.

Kính thưa Anh Chị em,

Ai cũng bị cuốn hút bởi những phép lạ hiển nhiên. Nhưng trong Tin Mừng hôm nay, phép lạ lớn nhất Chúa Giêsu thực hiện lại vô hình. Tôi gọi đó là ‘phép lạ không ai thấy’.

Người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người bại liệt. Ai cũng chờ một phép lạ có thể nhìn thấy. Nhưng Chúa Giêsu lại bắt đầu bằng một lời không ai ngờ tới: “Này con, cứ yên tâm!”. Hy Lạp ghi là teknon – “con”, một tiếng gọi của sự thuộc về. Chúa Giêsu nhìn thấy nơi anh một người con trước khi người đời nhìn thấy một người bại liệt. Vì thế, trước khi nói đến tội lỗi hay bệnh tật, Ngài phục hồi tương quan của anh với Thiên Chúa. Đó là phép lạ đầu tiên của trình thuật, dù chẳng ai nhận ra. “Đời sống thiêng liêng bắt đầu khi chúng ta biết mình là người được Thiên Chúa yêu thương!” – Henri Nouwen.

Sau tiếng gọi ấy là một lời còn gây sửng sốt hơn: “Tội con được tha rồi!”. Không ai thấy tội được tha; cũng không ai kiểm chứng được một linh hồn vừa được giải thoát. Vì thế, các kinh sư cho rằng Ngài nói phạm thượng. Và chính ở điều không thể nhìn thấy ấy, Chúa Giêsu mặc khải quyền tha tội thuộc về Thiên Chúa nơi chính Ngài: “Con Người có quyền tha tội dưới đất”. Thân xác có thể vẫn nằm đó, nhưng bên trong, một sự chữa lành đã bắt đầu!

Các kinh sư không tin Chúa Giêsu có quyền tha tội; cũng thế, tư tế Amátgia không tin Amos được Thiên Chúa sai đến – bài đọc một. Cả hai khước từ một quyền bính không do con người trao ban. Nhưng chính trong sự khước từ ấy, chân lý của Thiên Chúa càng được tỏ lộ. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh!”.

Chúng ta thường chỉ nhận ra phép lạ khi hoàn cảnh đổi thay; nhưng nhiều khi, phép lạ lớn nhất đã xảy ra từ lâu: một trái tim biết sám hối, một lương tâm được bình an, một con người được giao hoà với Chúa. Đó là những phép lạ âm thầm, nhưng lại quyết định vận mệnh đời đời của mỗi người. Theo Đức Bênêđictô XVI, điều hữu hình chỉ là dấu chỉ của điều vô hình. Phép lạ chữa lành không phải là đích đến, nhưng là ngưỡng cửa dẫn con người vào mầu nhiệm tha thứ của Đức Kitô, điều mắt thường không thể nhìn thấy. Vì một khi con người được tha thứ, họ không chỉ đứng dậy, nhưng còn được trả lại hướng đi về Thiên Chúa.

Anh Chị em,

Đức Kitô đến không chỉ để tha tội, nhưng để đưa con người trở về với Chúa Cha như những người con. Trên thập giá, Ngài giao hoà chúng ta với Chúa Cha; trong phục sinh, Ngài mở con đường trở về nhà Cha cho những người con. Vì thế, phép lạ lớn nhất Đức Kitô thực hiện không phải chỉ là chữa lành thân xác, nhưng là phục hồi phẩm vị làm con của mỗi người trước mặt Thiên Chúa. Đó chính là ‘phép lạ không ai thấy’. “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những bại liệt vô hình trong con; phục hồi phẩm vị nghĩa tử, để đời con trở thành phép lạ của lòng thương xót Chúa mà ai cũng có thể thấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Dân chúng tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. 2 Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi !” 3 Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng : “Ông này nói phạm thượng.” 4 Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy ? 5 Trong hai điều : một là bảo : “Tội con được tha rồi”, hai là bảo : “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn ? 6 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội – bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Đứng dậy, vác giường mà đi về nhà !” 7 Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. 8 Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.


 

NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tu Đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ 

NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

* * *

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận. Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ. Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo. Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn. Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa. Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ. Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức. Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn. Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình.