KHÔNG THỂ THỜ Ơ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu!”.

“Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu; họ sẽ theo Ngài hoặc giết chết Ngài!” – Don Schwager.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự đan xen lý thú của hai bài đọc hôm nay cho thấy: “Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu!”; cũng thế, với điều thiện, không ai có thể phớt lờ mãi! Phải chọn lựa! Chọn Chúa Giêsu hay giết chết Ngài; chọn điều thiện hay bóp nghẹt nó!

Chúng ta thường nghĩ điều lành sẽ truyền cảm hứng; không hẳn vậy, đôi khi lại gây chống đối. “Ta hãy gài bẫy, hại tên công chính!”; “Nào ta kết án cho nó chết!” – bài đọc một. Những lời này ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và các môn đệ mọi thời. Điều tốt bị coi là lời kết án; lòng đạo bị xem như đe doạ. Ánh sáng càng rõ, bóng tối trong lòng người càng lộ ra và vùng vẫy chống lại. Có những lúc đứng giữa ánh sáng ấy, con người chỉ biết bất lực và rùng mình trước sự dữ tràn lan. Nhưng bài đọc Khôn Ngoan kết luận: “Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa!”. “Thập giá là biểu lộ tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa!” – Bênêđictô XVI.

Trong bài Tin Mừng, khi Chúa Giêsu nói sự thật: “Đấng sai tôi là Đấng chân thật”, “Tôi từ Người mà đến”, người ta không chịu nổi và tìm cách bắt Ngài. Điều ấy vẫn lặp lại nơi các môn đệ mọi thời. Họ đã bắt và giết Ngài. Thiên Chúa thua sao? Bề ngoài, có! Nhưng đó là chiến thắng của tình yêu. Thập giá không chỉ phơi bày tội ác, nhưng còn phơi bày sự thật rằng chúng ta đã từ chối Tình Yêu đến cùng. Con người dùng tự do để đóng đinh Con của Ngài; nhưng Thiên Chúa dùng chính cây thập giá ấy để cứu độ họ. “Chính chúng ta đã giết Ngài… nhưng Ngài đã biến cuộc đóng đinh thành ơn cứu độ!” – Fulton Sheen.

Cũng thế, bạn và tôi ‘không thể thờ ơ’ với những lời dạy của Chúa Giêsu; hoặc là ủng hộ Ngài, hoặc là chống lại Ngài. Không có lập trường trung dung! Bạn sẽ tìm cách uốn nắn lời Ngài theo những ý tưởng và cách suy nghĩ của riêng mình, hay để lời chân lý của Ngài cắt xuyên qua bóng tối trong tâm hồn, lột trần sự kiêu hãnh và mù loà của bạn? Mỗi lần trì hoãn sự thật là một lần âm thầm đứng về phía đóng đinh Ngài. Hậu quả sẽ là rất lớn, cả trong cuộc sống đời này và cả trong cõi vĩnh hằng. “Không chống lại điều xấu là cộng tác với nó!” – Piô XI.

Anh Chị em,

“Không ai có thể thờ ơ quá lâu!”. Chúa Giêsu không bao giờ thờ ơ trước Chúa Cha, với Ngài, tất cả quy hướng về Cha. Ngài cũng không thờ ơ trước tội lỗi: Ngài gọi đích danh nó, vạch trần nó, và mang lấy nó. Trên thập giá, không còn chỗ cho sự trung dung: hoặc yêu đến cùng, hoặc khước từ đến cùng. Mùa Chay, mùa chọn điều thiện, chọn Giêsu – dù chúng ta tội lỗi, yếu hèn! Chúng ta ‘không thể thờ ơ’ mãi với Ngài, Đấng đã chờ bạn và tôi quá lâu! Ân sủng của Bí tích Hoà Giải đang chờ để chữa lành chúng ta. Vì lẽ, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, càng đến gần Tuần Thánh, cho con biết càng kíp quay về với Chúa. Vì con – nhất là con – ‘không thể thờ ơ’ với Chúa mãi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần IV Mùa Chay

Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng giờ của Người chưa đến.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 7,1-2.10.25-30

1 Khi ấy, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.

2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10 khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.

25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.” 28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : “Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”

30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người ; nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.


 

DÁM YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”.

Nghệ thuật thường vẽ Thánh Giuse như một cụ già. Nhưng El Greco lại khắc hoạ ngài trẻ trung, vững chãi; trẻ Giêsu quấn lấy chân. Như vậy, thật gần với Tin Mừng – một người trẻ đứng trước mọi rủi ro, vẫn dám yêu!

Kính thưa Anh Chị em,

Tình yêu luôn bị thách thức bởi rủi ro và chuyện tình Giuse – Maria cũng không ngoại lệ! “Maria có thai”. May thay, nhờ sự can thiệp của sứ thần, Giuse đã ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro như Tin Mừng ngày lễ tiết lộ.

Thông thường, chúng ta chỉ yêu khi mọi sự còn sáng sủa: danh dự được giữ, tương lai trong tầm tay, và không phải trả giá. Với Giuse, tất cả sụp xuống trong một tin ngắn: “Maria có thai” – không giải thích, không lối thoát. Tình yêu trở thành một vết cắt: ở lại thì mang nhục, ra đi thì mất người mình yêu. Vậy mà Giuse không tố cáo, không tự vệ; thay vào đó, chọn rút lui âm thầm – một chọn lựa tưởng yếu, nhưng là đỉnh cao nội lực: chịu thiệt để người khác được bình an. Chính lúc ấy, Giuse đã ‘dám yêu’. “Tình yêu là điều cao cả… nó gánh vác mọi sự cách bình thản!” – Thomas Kempis.

Nhưng với những ai ngay lành, Thiên Chúa không để họ ở lại trong ngõ cụt. Khi Giuse đi đến tận cùng của trung thực, một giấc mơ mở ra. Không phải để giải thích mọi sự, nhưng để trao một hướng đi đủ cho trái tim bước tiếp; không dài, không giải thích hết, chỉ đủ để ông biết: đừng sợ! Và thật tuyệt vời, “Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”. Tin là bước đi khi chưa hiểu; yêu là hành động khi chưa chắc. Và đó là lần thứ hai, Giuse ‘dám yêu’ – dám đặt cả đời mình vào một lời hứa không thể kiểm chứng.

Thánh Bernard viết: “Hãy nhớ đến vị tộc trưởng bị bán sang Ai Cập! Thánh Giuse không chỉ nhận tên ông mà còn nhận sự trong trắng của ông! Giuse Cựu Ước ‘giỏi đọc’ giấc mơ; Giuse Tân Ước ‘giỏi tin’ giấc mơ; Giuse Cựu Ước ‘tích trữ ngũ cốc’ cho một dân; Giuse Tân Ước ‘trông coi Bánh Hằng Sống’ cho muôn dân; và còn hơn thế, bảo tồn những gì Chúa hứa cho Abraham và nhà Đavít!”. Các bài đọc hôm nay và Thánh Vịnh đáp ca xác nhận: “Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ!”.

Anh Chị em,

Thử hỏi, có ai ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro bằng Thiên Chúa? Thập giá – rủi ro vĩ đại của mọi rủi ro – khi vì yêu thương, Thiên Chúa trao chính Con mình. Và Đấng Phục Sinh vẫn đang chấp nhận rủi ro khi trao vào tay chúng ta những gì Ngài chưa hoàn tất! Ai trong đời cũng có lúc đứng trước một “Maria có thai” nào đó: một biến cố không giải thích được, một tổn thương không gọi được tên, một đổ vỡ không thể đảo ngược. Chúng ta có dám chọn trao mọi sự cho Chúa? Chỉ khi dám yêu như thế, cuộc đời mới không trôi qua vô nghĩa, nhưng trở thành một phần của công trình cứu độ. Không dám yêu, chúng ta sẽ không bao giờ sống thật! “Lạy Chúa, xin nhận lấy mọi tự do của con… tất cả là của Chúa; xin tuỳ ý định đoạt!” – Ignatiô Loyola.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những gì mù mờ, cho con biết tin; giữa những gì đổ vỡ, cho con biết trao; và giữa những gì khiến con co lại, xin mở tim con ra để yêu đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa 19/3 THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA

Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 1,16.18-21.24a

16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 24a Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy. 


 

SỐNG MÙA CHAY VỚI THÁNH GIUSE – Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Hàng năm, khi Hội Thánh cử hành mùa Chay, thì cũng là dịp Hội Thánh kính nhớ thánh Giuse, một sự trùng khớp mang nhiều ý nghĩa.  Bởi đối với tôi, trong khi sống mùa Chay, tôi thường suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse, từ đó rút ra những bài học nhân đức cần thiết, giúp mình sống mùa Chay tích cực hơn.

 Bởi thánh Giuse là đối tượng suy niệm trong mùa Chay, vì thế, tôi thấy việc sống mùa Chay của tôi cụ thể hơn, nhờ nhìn ngắm gương sống động nơi một con người hoàn toàn là người như tôi, nhưng lại vô cùng hoàn hảo.  Với một tấm gương cụ thể và sống động hoàn hảo như thế, sẽ mang lại trong tôi nhiều biến đổi, tạo cho tôi nhiều hiệu quả tích cực là bình an, hăng say dấn thân, chu toàn nhiệm vụ rao giảng trong vui tươi.  Nhất là tôi tự thấy mình giống thánh Giuse hơn.

 Hội Thánh thường xuyên đề nghị chúng ta tinh thần ăn chay và sống mùa Chay bằng cầu nguyện, sống bác ái.  Để sống những hành động mà Hội Thánh dạy, mùa Chay năm nay, tôi tiếp tục suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse.  Tôi thấy thánh Giuse rất vui lòng đồng hành với tôi.  Người thương tôi, cầu ngyện cho tôi, nâng đỡ tôi và sẵn sàng lôi cuốn tôi đi cùng Người hướng về Chúa.  Những nhân đức của thánh Giuse mà tôi suy niệm trong mùa Chay năm nay cũng chỉ là những điều mà Hội Thánh tuyên dương nơi thánh Giuse từ ngàn xưa.

 Cùng Hội Thánh, tôi nhìn ngắm thánh Giuse nơi đoạn Tin Mừng kể lại việc thánh Giuse nhận lời truyền tin của thiên thần Chúa: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse.  Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: ‘Này ông Giuse, là con cháu Đavid, đừng ngại đón Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.  Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà…” (Mt 1, 18-25).

 1.Thánh Giuse dạy tôi biết cầu nguyện

 Kinh nghiệm của Hội Thánh từ xưa tới nay cho thấy, những vị thánh có đời sống thần bí, thường được Chúa mạc khải qua thị kiến, đều là những vị thánh sống đời chiêm niệm, gặp gỡ Chúa hết sức thân mật trong sự cầu nguyện. 

Chỉ nguyên việc thánh Giuse được truyền tin và nhiều lần khác được báo mộng, cho phép chúng ta khẳng định rằng, thánh nhân có một đời sống cầu nguyện lớn không thể tả.  Thánh nhân có thể đối thoại với Chúa, lãnh hội ý Chúa trong sự chiêm ngắm nội tâm sâu lắng của mình. 

 Đặc biệt, nhiều lần Tin Mừng còn chứng minh thánh Giuse yêu chuộng sự thinh lặng.  Trong lúc thiên thần truyền tin, được giải thích cho biết Đức Maria mang thai là do ý muốn của Thiên Chúa và ơn Chúa Thánh Thần, thánh Giuse đã thinh lặng, đón nhận thánh ý của Thiên Chúa.  Thánh Giuse tin tưởng, phó thác và xin vâng để Chúa dẫn dắt mình đi vào quỹ đạo tình yêu và chương trình cứu độ của Chúa, Từ nay, Người đón nhận Mẹ Thiên Chúa làm bạn, Chúa Giêsu làm con của mình.  Để có được một nội tâm thinh lặng, hoàn toàn không gợn, thậm chí không một chút ảnh hưởng bởi những làn sóng xuôi ngược của cuộc đời, thánh Giuse phải là con người của sự gặp gỡ Thiên Chúa hết sức thường xuyên, thân mật và trưởng thành.  Đó chính là đời sống cầu nguyện của thánh Giuse.  Bởi chỉ có những ai ham thích cầu nguyện, và không ngừng cầu nguyện, người đó mới có thể thấy, nhận ra thánh ý Chúa toàn vẹn trong sâu kín của tâm hồn mình. 

Sống mùa chay, học lấy tinh thần cầu nguyện của thánh Giuse, chúng ta hãy đi vào thinh lặng để khám phá nội tâm của mình.  Có như thế, chúng ta mới có thể gặp Chúa, lắng nghe tiếng Chúa nói.  Có như thế, chúng ta mới thực sự nhận chân con người của mình: mình đã sống thế nào?  Đã làm hay không làm sự lành hoặc sự xấu nào?  Mình đã yêu Chúa, yêu anh em đến mức độ nào?  Chỉ có thinh lặng nội tâm, cầu nguyện, gặp gỡ Chúa và khám phá chính mình, chúng ta mới mong thực sự sống mùa Chay bằng sự biến đổi chính mình cách hiệu quả nhất, để được trở nên giống Chúa Kitô, nhờ noi gương thánh Giuse. 

2.Thánh Giuse dạy tôi sống bác ái 

Ngày nhận lãnh Đức Maria về nhà mình, phát hiện Đức Maria đã mang thai “ngoài ý muốn,” theo luật Do Thái, thánh Giuse có quyền tố giác, buộc Đức Maria phải chịu tội vì đã mang thai – một bào thai, cứ nhìn theo phương diện loài người, rõ ràng, vô thừa nhận.  Nhưng “người công chính” Giuse đã không làm điều đó, lại chỉ muốn kín đáo ra đi. 

Tôi nhận ra, hành động, cách xử sự của thánh Giuse hoàn toàn là hành động của một người đầy lòng yêu thương.  Chính tình yêu đã nung đốt nơi tâm hồn thánh Giuse nghĩa cử bác ái cao thượng: bỏ qua “tội” quá rõ ràng của Đức Maria.  Chính thánh Giuse đã sống bác ái, vì thế, tâm hồn bác ái ấy làm cho thánh Giuse vượt qua và vượt trên lề luật, điều mà không phải bất cứ ai trong thời thánh nhân có thể có được.  Bởi người ta giữ luật nghiêm nhặt.  Và luật tôn giáo trở thành đời sống tinh thần của con người như máu, như huyết chảy trong lồng ngực.  Nó thấm vào tim óc.  Nó điều khiển mọi hành vi.  Nó chi phối cả đời sống xã hội lẫn cá nhân.  Bởi đó, phải có một trái tim chan chứa yêu thương và bác ái đến vô cùng, mới có thể có hành động, cách cư xử thoát luật cách hết sức tuyệt vời như thánh Giuse. 

Sống mùa Chay, Hội Thánh đề cao tinh thần tương trợ, chia sẻ cho nhau.  Bác ái mà Hội Thánh đề nghị không chỉ là lãnh vực vật chất, của cải, mà còn là tương trợ trong tình hiệp nhất, cảm thông, lắng nghe, quan tâm, tìm nâng cao giá trị nhân bản, nhân phẩm và đời sống toàn diện của con người… 

Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong sứ điệp mùa Chay 2006 đã đòi hỏi như thế: “Nếu chúng ta cổ võ sự phát triển cho đầy đủ, “cái nhìn” của chúng ta trên nhân loại phải được đo lường theo cái nhìn của Chúa Kitô.  Trên thực tế, điều hoàn toàn không được làm, là phân tách sự đáp ứng cho những nhu cầu vật chất và xã hội của dân chúng khỏi sự hoàn thành những ước muốn sâu sắc của lòng họ… Vì lẽ này, sự đóng góp hàng đầu mà Hội Thánh cống hiến cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không chỉ chú trọng tới những phương tiện vật chất hay là những giải pháp kỹ thuật.  Nói đúng hơn, sự đóng góp đó bao hàm sự công bố chân lý về Chúa Kitô, Đấng giáo dục các lương tâm và dạy dỗ phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là cổ võ một nền văn hóa thật sự đáp ứng với tất cả những vấn đề của nhân loại…”.    

Như vậy, hiểu được căn tính đích thực của hành vi bác ái là đề cao giá trị con người, thì việc làm bác ái của mỗi người được đòi phải chia sẻ thật lòng bằng cả tâm tư, bằng những nội lực lắng sâu, xuất phát tận trái tim của tâm hồn.  Bác ái ấy đòi ta chấp nhận hao mòn, chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hy sinh bằng tất cả thời gian, sức lực, suy tư, cả đến những mất mát, những gian nan…  Như cây nến, một khi chấp nhận thắp sáng, tỏa sức nóng, sẽ tan dần.  Lòng bác ái đích thực, sẽ làm cho chúng ta bị đánh mất, bị tan chảy thực sự.  Để trang bị cho mình một tâm hồn yêu thương và bác ái, giúp mình sống mùa Chay, ở mức độ cao như thế, ta hãy đến cùng thánh Giuse.  Nơi thánh Giuse, ta học bài học của tình yêu, bác ái và hy sinh lớn lao. 

Thú thực, dù luôn tự nhủ rằng, mình cần phải học và chiêm ngắm gương của thánh Giuse để sống mùa Chay, nhưng thực tế, bản thân tôi còn phải cố gắng nhiều.  Tôi rất mong ước trở nên như thánh Giuse. Nhưng giữa sự mong ước và nỗ lực của tôi vẫn còn một khoảng cách mà chính tôi phải cố gắng hơn nữa.  Mùa Chay đã đi gần một phần ba đoạn đường.  Hôm nay, chuẩn bị mừng lễ thánh Giuse, có dịp định tâm lại, đồng thời có dịp học tập gương thánh Giuse, tôi mới hoảng hốt giật mình vì mình còn xa cách ý Chúa muốn quá.  Tôi thành tâm xin Chúa tha thứ cho tôi.  Đồng thời xin Người dạy tôi, ban ơn cho tôi để tôi hoàn thành tốt hơn việc sống mùa chay ở giai đoạn còn lại.  Tôi cũng tha thiết nài xin thánh Giuse, Đấng bảo trợ Con Thiên Chúa làm người, hãy cầu bàu cho tôi, phù giúp tôi sống mùa Chay, nhất là giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ làm Con Thiên Chúa của chính tôi.

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

From: Langthangchieutim


 

NƯỚC CỨU SỐNG- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”.

“Một phụ nữ cùng đứa con đi dạo dọc bờ sông. Đột nhiên đứa trẻ trượt xuống dòng nước. Cô hét lên. Cô không biết bơi. Sau cùng, có người lao xuống. Bi kịch là, khi lao xuống dòng nước đục, họ phát hiện đứa bé đã chết và nước chỉ ngang thắt lưng! Người mẹ lẽ ra có thể cứu con mình nhưng cô đã không làm được vì thiếu hiểu biết!” – Ray Comfort.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến một dòng nước cạn giết chết một đứa bé; nhưng nói đến một dòng nước sâu, ‘nước cứu sống’ muôn người!

Nước từ đền thờ thời Êzêkiel báo trước ‘nước ân sủng’ thời Giêsu. “Nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống” – bài đọc một. Tin Mừng Gioan kể rằng, bên hồ nước, một người bại liệt lay lắt 38 năm, tương đương 40 năm của Israel trong sa mạc. Và xem ra anh này cũng ‘lang thang’ trong sa mạc đời anh ngần ấy năm.

‘Lang thang!’ – một hành động mang tính biểu tượng cho sự ‘tê liệt’. Đó là hậu quả của tội lỗi. Khi phạm tội, chúng ta ‘tê liệt’ và ‘lang thang’ trong sa mạc đời mình. Tội lỗi có những hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta không thể đứng dậy và bước đi đúng hướng. Đặc biệt, tội trọng khiến tôi bất lực: biết điều đúng mà vẫn chần chừ, thấy điều phải mà vẫn không làm.

Chúa Giêsu tự nguyện đi đến với người bại liệt; và dù không được mời, Ngài bước vào sự cô lập của anh. Ngài thấy anh, biết hoàn cảnh và trực tiếp hỏi, “Anh có muốn được khỏi không?”. Anh không trả lời nhưng chỉ phàn nàn, “Khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ!”. Anh mắc bệnh bi quan, lười, phát ốm vì buồn! “Đúng, tôi muốn, nhưng!” – và anh đợi ở đó. Thế mà mấu chốt lại là cuộc gặp gỡ của anh với Chúa Giêsu; dẫu xem ra – rất “thiếu hiểu biết” – anh không cần Ngài, dường như anh vẫn tiếc nuối ‘thuở lang thang’. Và nhiều khi, người tiếc nuối thuở lang thang ấy lại chính là tôi.

Thật tuyệt vời! Chúa Giêsu đã chữa anh mà không cần dìm anh xuống hồ. Bêthesda có nghĩa là “Ngôi nhà của lòng thương xót”, “Ngôi nhà của ân sủng”. Người này cần lòng thương xót và ân sủng cả khi không ý thức. Và Chúa Giêsu không phải là dòng nước giết chết, nhưng là dòng ‘nước cứu sống’. “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi, nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”. Chúa Giêsu là dòng nước sâu, là đền thờ mới. Đỉnh cao của đền thờ là Canvê, nơi nước và máu của các Bí tích chảy ra từ cạnh sườn Ngài. Và cho đến ngày nay, dòng nước cứu độ ấy vẫn tiếp tục chảy, tiếp tục nuôi sống, tiếp tục rửa sạch mọi thương tích trong tâm hồn chúng ta. ‘Nước cứu sống’ ấy – chính Chúa Giêsu – tiếp tục đem lại hạnh phúc viên mãn cho con người ngay trong sa mạc khô khốc trần gian; Ngài đang nói với bạn và tôi, “Thôi! Đừng thiếu hiểu biết!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tiếc nuối thuở lang thang. Xin giải thoát con; dìm con vào lòng thương xót Chúa mà đừng thèm hỏi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay

Người ấy liền được khỏi bệnh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 5,1-3a.5-16

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. 3a Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : “Anh có muốn khỏi bệnh không ?” 7 Bệnh nhân đáp : “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !” 8 Đức Giê-su bảo : “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !” 9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh : “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng !” 11 Nhưng anh đáp : “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : ‘Anh hãy vác chõng mà đi !’” 12 Họ hỏi anh : “Ai là người đã bảo anh: ‘Vác chõng mà đi’ ?” 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói : “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước !” 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.


 

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá-Cha Vương

Buổi sáng tốt lành nhé. Mến chúc bạn và gia đình Tuần Thánh tràn đầy ân sủng với những khoảnh khắc gặp được Chúa và Mẹ trên đường tiến tới đồi Canvê. Bạn thân mến, vì tội lỗi của nhân loại mà Chúa có thể làm tất cả! Vì Con mà Mẹ cũng có thể làm tất cả! Luật tự nhiên, không có cha mẹ nào chuẩn bị cho cái chết của con mình. Riêng đối với người mẹ thì chẳng nỗi mất mát nào lớn cho bằng mất đi đứa con yêu quý của mình, thế mà Mẹ Maria vẫn một lòng một dạ “xin vâng” nhìn con mình bị đối xử như kẻ gian ác và bị đưa đến nơi hành hình. Thật là một nỗi đau xé lòng! Thiết tưởng rằng bạn cũng có một lần trải qua nỗi đau tương tự, chứng kiến người thân yêu của mình chút hơi thở hoặc thấy họ dằn vặt trong nỗi đau tinh thần… Dù đang trong hoàn cảnh nào đi nữa, bạn hãy nhớ lời Mẹ dạy 2 chữ “xin vâng” để hiệp thông với Mẹ, cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 16/3/2026  (n25-24)

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá—Quân lính đóng đinh tay chân Chúa Giêsu vào thập giá, chúng đâu ngờ chúng đang cùng một lúc đóng đinh vào trái tim Mẹ Người. Nơi đồi Canvê, Mẹ Maria đã cùng với Chúa Giêsu sát tế chính mình, làm của lễ dâng lên Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, xin mở mắt tâm hồn con, để con nhận ra tình yêu của Mẹ đã cùng hiệp thông với Chúa Giêsu cứu chuộc con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

*********************

Mẹ dưới chân thập giá | St: Lm Văn Chi | Tb: Anh Dũng

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”.

“Đức tin là không gian chúng ta tạo ra cho Thiên Chúa!” – Jonathan Sacks.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một người cha đã ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi đức tin mở ra, quyền năng Chúa Giêsu bước vào.

Người cha trong trình thuật thưa Chúa Giêsu, “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”; Chúa Giêsu đáp, “Ông cứ về đi, con ông sống!”. Ông xin Ngài xuống; Chúa Giêsu không xuống. Ngài chỉ nói một lời. Và chính lời đó làm nên phép lạ. Niềm tin của ông mở lối cho Ngài, và Ngài đã tạo nên một sự khác biệt – con ông sống! Con người sợ khoảng trống. Chúng ta thường vội vàng lấp đầy đời mình bằng kế hoạch, lo toan, tham vọng, và cả những bận rộn đạo đức. Khi mọi thứ đã chật kín như thế, Thiên Chúa khó tìm được một chỗ để bước vào. Vấn đề không phải Thiên Chúa vắng mặt; vấn đề là đời chúng ta quá đầy để Ngài hiện diện.

Đức tin không chỉ mở cửa cho quyền năng Thiên Chúa, mà còn đan dệt một mối tương quan yêu thương cá nhân giữa con người với Ngài. Khi “con ông sống”, người cha ấy hẳn đã xác tín: có một Đấng quyền năng tột bậc đang hành động, và Đấng ấy là Đấng yêu thương mình. “Quyền năng của Thiên Chúa không bao giờ tách rời khỏi tình yêu của Ngài!” – Jürgen Moltmann.

Thật thú vị, ‘kiến tạo không gian’ không chỉ là việc của con người, mà còn là việc của Thiên Chúa. “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới!”; “Ta sẽ tạo Giêrusalem nên nguồn hoan hỷ, nơi đây sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la!” – bài đọc một. Giêrusalem được biến đổi; và không chỉ Giêrusalem, bạn và tôi được biến đổi. Hội Thánh – Giêrusalem mới – được biến đổi; và Thiên Chúa vui thoả khi những ai Ngài yêu được biến đổi, “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Lời cầu của người cha thúc bách sự có mặt cấp thiết của Chúa Giêsu. Nhưng ông nào biết rằng thuộc tính của Ngài là hiện diện mọi lúc mọi nơi; không cần xuất hiện thể lý, Ngài hiện diện bằng Lời. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cần đến lòng tin của ông! Cần, vì lòng tin ấy mở đường cho quyền năng Ngài làm nên điều kỳ diệu. Chính lòng tin ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi khoảng trống ấy mở ra, quyền năng Ngài bước vào. “Đức tin không phải là một sức ép, mà là sự mở lòng để Thiên Chúa được là Thiên Chúa!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

‘Kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa là can đảm rút mình khỏi trung tâm để Thiên Chúa trở thành trung tâm. Nơi Chúa Kitô, Chúa Cha là trung tâm. Ngài mở một không gian cho Cha – không gian của thập giá – nơi lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Khi đức tin đồng nhịp với lòng thương xót – không chỉ của Thiên Chúa, mà còn của con người với nhau – sự hiện diện vô hình của Ngài trở thành quyền năng cứu độ giữa những đổ vỡ rất thật của đời người. Quả thế, “Lòng thương xót làm cho công trình vô hình của Thiên Chúa trở nên hữu hình giữa thế gian!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ khoảng trống, nên lấp đầy đời mình bằng những thứ chóng qua, và Chúa phải vô gia cư. Cho con can đảm dọn trống cõi lòng, để Chúa có một chỗ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay

Ông cứ về đi, con ông sống.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 4,43-54

43 Khi ấy, sau hai ngày lưu lại Sa-ma-ri, Đức Giê-su đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !” 49 Viên sĩ quan nói : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” 50 Đức Giê-su bảo : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.


 

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Thao Teresa

CÓ NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI NHẮC MÃI cho thế hệ tương lai biết rằng chúng ta đã có một quá khứ tuy đau khổ nhưng anh dũng và trung kiên.

Ngày 15/3 là Sinh nhật của một vị Giám mục Việt Nam thầm lặng.

Ngài sinh tại Bắc Ninh ngày 15/3/1921, thụ phong Linh mục ngày 21/12/1945 khi mới 24 tuổi. Ngài đã từng phải ngồi tù 7 năm, sau đó làm Cha xứ các giáo xứ, trong đó có Giáo xứ Chính tòa Bắc Ninh, kiêm Tổng Đại diện Giáo phận. Khi Chủng viện Bắc Ninh được mở, ngài làm Giám đốc kiêm Giáo sư duy nhất!

Vào tháng 5/1975 ngài được Đức Giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng phong chức Giám mục. Thánh Lễ phong chức diễn ra trong căn phòng nguyện có diện tích chưa đến 8 mét vuông mà sau này được biết đến với tên gọi lịch sử: Phòng U8. Chỉ có một Giám mục chủ phong, một tân Giám mục và một Linh mục.

Chỉ sau hơn 2 tháng được tấn phong chức Giám mục, ngài bị trục xuất, bị buộc phải lặng lẽ rời Tòa Giám mục Bắc Ninh và bị đưa đi quản chế tại Giáo xứ Đại Lãm, Lục Nam, Bắc Giang trong suốt 17 năm. Sau 17 năm bị quản chế, vị Giám mục đau khổ và kiên cường này về với Chúa, để lại cho hậu thế tấm gương kiên trung trong Đức Tin, không thoả hiệp, không lấy lòng thế gian để mưu lợi. Năm ấy là năm 1992.

Đó là Đức Cha Đaminh Đinh Huy Quảng, Giám mục phụ tá Giáo phận Bắc Ninh.

Ngài là vị Giám mục được tấn phong không ai biết, chưa hề đội mũ Mitra, chưa đeo nhẫn Giám mục hay mặc phẩm phục Giám mục công khai, chưa bao giờ được ai gọi là Đức Cha.

15 năm sau khi ngài về với Chúa, năm 2007, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt công bố công khai về ngài tại Nhà thờ Chính tòa. Và giáo dân Bắc Ninh kinh ngạc vì một vị Giám mục sống giữa họ bao nhiêu năm trời mà họ không hề hay biết.

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Và Đức cha đã lấy khẩu hiệu Giám mục là: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,7).

=J Vinh Le=


 

TƯỞNG MÌNH THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”.

“Kiêu ngạo là căn bệnh của mắt tâm hồn; nó làm người ta tưởng mình sáng, trong khi họ ở trong bóng tối!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến căn bệnh của mắt tâm hồn. Vì thế, điều nguy hiểm không phải là không thấy, nhưng là ‘tưởng mình thấy’.

Một người mù từ thuở mới sinh được Chúa Giêsu chạm đến và anh được thấy. Nhưng phép lạ ấy lại khơi lên tranh cãi: đám đông bàn tán, cha mẹ anh sợ hãi, các biệt phái tra hỏi và kết án. Họ hỏi, ai đã mở mắt cho anh? Anh trả lời, “Người tên là Giêsu!”. Họ tiếp tục chất vấn, thậm chí mạt sát; nhưng chính lúc ấy, ánh sáng trong anh lại lớn dần. Mắt anh mở ra trong phút chốc; nhưng mắt đức tin mở ra qua cả một hành trình: thoạt đầu anh chỉ biết “Người tên là Giêsu”; rồi “Người là một ngôn sứ”; cuối cùng, gặp lại Ngài, anh sấp mình thưa, “Lạy Ngài, tôi tin!”. “Chúa mở mắt anh; sự thật mở linh hồn anh!” – Grêgôriô Cả.

Đang khi những người tưởng mình hiểu mọi sự lại đi theo hướng ngược lại. Họ không phủ nhận phép lạ, nhưng không muốn thấy điều phép lạ nói lên; vì ánh sáng Giêsu không chỉ mở mắt, mà còn phơi bày trái tim. Bởi thế, thay vì vui mừng với người được sáng mắt, họ lại cố chấp bảo vệ quan điểm – bi kịch của những kẻ ‘tưởng mình thấy’. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” – bài đọc một. Vì vậy, ánh sáng của Thiên Chúa không dừng ở đôi mắt, nhưng chiếu vào tâm hồn; và khi ánh sáng ấy chạm đến, con người được mời gọi “hãy ăn ở như con cái ánh sáng” – bài đọc hai.

Nhưng câu chuyện ấy không xa; nó đang xảy ra nơi chúng ta – những người quen với Lời Chúa, với nhà thờ, với việc đạo, đến mức tưởng mình thấy rõ mọi sự. Nhưng chính lúc đó, chúng ta có thể đánh mất sự đơn sơ của người mù – thừa nhận mình cần được mở mắt. Khi con người ngừng tìm kiếm ánh sáng, họ bắt đầu sống bằng những điều mình nghĩ là đúng. Đó là lúc căn bệnh âm thầm của những người ‘tưởng mình thấy’ bắt đầu lớn lên. Bóng tối nguy hiểm nhất là bóng tối tưởng mình đang ở trong ánh sáng. “Trở ngại lớn nhất của tri thức không phải là ngu dốt, nhưng là ảo tưởng mình hiểu biết!” – Daniel J. Boorstin.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra Ngài là Ánh Sáng thật. Ngài đến không để kết án, nhưng để mở mắt con người; không chỉ nói về ánh sáng, nhưng trao ánh sáng. Và đỉnh cao của ánh sáng ấy là thập giá: nơi tưởng như bóng tối đã thắng, nhưng chính tại đó ơn cứu độ bừng lên. Vì thế, “kẻ xem thấy lại nên đui mù” không chỉ là một lời cảnh báo, mà còn là một lời mời gọi. Ai dám nhận mình mù, người ấy có thể được mở mắt; ai khép kín trong sự tự mãn, người ấy có nguy cơ rơi vào bóng tối mà không hay biết. Chỉ khi dám nhận mình mù, con người mới bắt đầu nhìn thấy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành đôi mắt tâm hồn con; đừng để con tưởng mình đã thấy, trong khi lòng còn ở trong bóng tối!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM A

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 9,1-41

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !” 


 

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ – Cha Vương

Ngày Thứ 7 an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Bạn thân mến, trong cuộc đời ai cũng có một lần gặp cảnh “tử biệt sinh ly”. Đây là hai nỗi đau lớn của đời người. Mẹ Maria cũng không tránh khỏi được nỗi đau sinh ly, Mẹ lạc mất con. “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con?” Lời trách móc này bộc lộ tất cả trái tim con người của Mẹ. Mẹ đối xử với Chúa Giêsu với tất cả tình cảm của một con người và chính vì là một con người cho nên Mẹ trở thành mẫu mực cho chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin. Mẹ đã yêu thương Chúa Giêsu với tất cả trái tim nhân loại của Mẹ. Ngày nay, Mẹ cũng tiếp tục dõi theo mỗi người chúng ta với trái tim hiền mẫu ấy. Mẹ đã trải qua thử thách, Mẹ hiểu được thế nào là khổ đau. Hơn ai hết, Mẹ đồng cảm với bao nỗi lo lắng và khổ đau của chúng ta. Mẹ hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Mẹ đã từng dõi theo từng bước trong tiến trình trưởng thành của Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ suy niệm từng biến cố của cuộc sống. Ngày nay cũng thế, không có giây phút nào trong cuộc sống của mỗi người mà không được Mẹ ôm ấp trong lòng. Với niềm tin tưởng ấy, bạn hãy phó thác tất cả những nỗi đau của cuộc sống cho Mẹ.

Cha Vương

Thứ 7: 14/3/2026. (n22-24)

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ—Trong ngày chịu truyền tin, Mẹ Maria được sứ thần loan báo sẽ sinh hạ Đấng Cứu Thế. Đối với Mẹ, Giêsu là con yêu dấu, là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của Mẹ. Vì thế, ba ngày lạc mất con là ba ngày Trái Tim Mẹ phải héo hon mòn mỏi. Mẹ vội vã lên đường trở lại Giêrusalem tìm Chúa.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che trở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, có những lúc chúng con bị lạc mất Chúa Giêsu trong cuộc đời. Xin mẹ giúp chúng con biết mau mắn vội vã như Mẹ, lên đường tìm về cùng Chúa là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của chúng con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần) 

From: Do Dzung

***************************

MẸ SẦU BI – Lm. Tiến Dũng & Lm. Nguyễn Văn Tuyên- Huy Nguyễn 

Nỗi đau của Đức Mẹ cùng với Thánh Giuse bồng con mình trốn sang Ai Cập – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để sống khoan dung hơn. Đối với người Việt Nam hải ngoại, hành trình bỏ nước ra đi vẫn còn ẩn hiện trong ký ức. Có những người chạy trốn trong sợ hãi, có những vết thương của thuyền nhân Việt Nam tị nạn sẽ không bao giờ lành, có những người đã chết trên biển khơi hoặc chết trong trại tị nạn, rồi lại có những người ra đi trong vui mừng hớn hở,… dù bất cứ lý do hay hoàn cảnh nào, định cư trên đất nước xa lạ vẫn mang lại cho bạn những khoảnh khắc khó quên. Hôm nay mời bạn suy niệm về nỗi đau của Đức Mẹ cùng với Thánh Giuse bồng con mình trốn sang Ai Cập. Các ngài chạy trốn trong sợ hãi những với hết lòng tin tưởng vào thánh ý Thiên Chúa. 

Cha Vương

Thứ 6: 13/3/2026. (n22-24)

NỖI ĐAU THỨ 2: Trốn sang Ai Cập—Với trái tim của một người mẹ, Đức Maria những mong muốn cho con trẻ một cuộc sống bình yên hạnh phúc. Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm cho con trẻ nơi ở xứng đáng đã không được thực hiện khi cùng Thánh Giuse bồng con trốn sang Ai Cập trong đêm tối. Mẹ Maria mang theo trong trái tim mình nỗi đau của người mẹ thương con rất mực. Thế nhưng, Đức Maria không một lời than trách, nhưng đón nhận với lòng khiêm nhường tuân theo thánh ý Thiên Chúa.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ thương đau, trong cuộc sống những lúc chúng con phải đối diện với những éo le ngang trái của cuộc đời, xin Mẹ mặc cho chúng con đức khiêm nhường nhẫn nại của Mẹ, để chúng con bình tĩnh nhận ra thánh ý Chúa cho chúng con trong hoàn cảnh hiện tại.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới.

From: Do Dzung

**************************

Niềm Tin Và Phận Người – Nguyễn Hồng Ân 

DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!

Xuyên Sơn

 DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!!

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”.

Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời.

Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo.

Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình.

Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là “Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh, tiến bộ nhất thế giới”.

Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.

Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?”

Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi 

“Em hỏi vậy là có mục đích gì?”.

Tôi đáp

“Vì Thầy nói

“Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này.

Ông chần chừ một lúc rồi nói

“ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”. 

“Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa,

còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966)

Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang.

Max Planck (1858-1947)

Đoạt giải Nobel về vật lý

và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics.

Blaise Pascal (1623–1662)

Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết.

René Descartes (1596–1650)

Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến.

Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng

Khoa học của phương Tây.

Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp

thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến.

Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học.

Johannes Kepler (1571–1630)

Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà.

-Isaac Newton (1643–1727)

Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành.

Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy?

Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói

“ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”.

Tôi đáp lại

“ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy. Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”.

Ông nhìn tôi và hỏi

“ Em còn muốn hỏi điều gì”. 

“Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại.

Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”. 

“Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải.

Sự thật ma vật không đổ thầy nhỉ.

Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy. Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”.

Người thầy gật đầu và nói với tôi

“ Thầy cảm phục tinh thần của em.

Em là người có chứng kiến và dám sống cho chứng kiến của mình.

Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội. Chỉ tiếc những người có chứng kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy.

Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật .

Ước mong sao nơi giảng trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

“IN GOD WE TRUST”

– ”Chúng tôi tin vào Chúa”

– Dòng chữ này hiện diện trên bất kỳ !tờ tiền nào của Mỹ!

Nguồn Facebook Giáo xứ Mỹ Khánh.


 

ĐẾN MỨC TRÀN ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”.

“Kitô hữu xét cho cùng là một con người kỳ cục nhưng không kém độc đáo: yêu Đấng chưa gặp, trò chuyện với Đấng chưa thấy; mất mình để được sống; mạnh khi yếu; giàu khi nghèo; và chết đi để được sống đến mức tràn đầy hôm nay và mãi mãi!” – A.W. Tozer.

Kính thưa Anh Chị em,

Những ai theo Chúa có thể xem ra kỳ cục nhưng không kém độc đáo. Lời Chúa hôm nay chỉ ra điều khiến họ trở nên độc đáo: sống với Ngài bằng một tình yêu ‘đến mức tràn đầy’.

Vì Thiên Chúa là Đấng chưa gặp, chưa thấy, nên Israel cứ sống nửa vời: lúc gần Ngài, lúc xa Ngài; lúc hăng hái, lúc nguội lạnh. Và đời sống họ khô cằn như một cánh đồng bị bỏ quên. Qua Hôsê, Thiên Chúa không trách nhiều, chỉ gọi một câu rất đơn giản, “Hãy trở về!” – bài đọc một. Bởi lẽ, Israel không tự làm mình sinh hoa trái; chỉ khi quay lại với Ngài, gắn đời mình vào Ngài, thì điều kỳ diệu mới xảy ra: “Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái” – đời người bắt đầu sống ‘đến mức tràn đầy’. “Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể; nhưng không có chúng ta, Thiên Chúa cũng không thể!” – Augustinô.

Với bài Tin Mừng, khi được hỏi giới răn nào lớn nhất, Chúa Giêsu không đưa ra một danh sách dài, nhưng chỉ nói một điều: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực!”. Nghĩa là đừng yêu Chúa bằng một phần con người, nhưng bằng cả con người. Vì chỉ khi Thiên Chúa chiếm trọn trái tim, tình yêu của chúng ta mới không còn nhỏ hẹp, không còn tính toán; nó bắt đầu lan ra, chạm đến người khác và làm cho mọi tương quan của đời sống lớn lên ‘đến mức tràn đầy’.

Trái lại, khi chia cắt tình yêu, yêu nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết để chỉ dâng Chúa một phần trái tim, một phần linh hồn, một phần trí khôn, một phần sức lực, thì tình yêu của con người luôn què quặt, nghèo nàn. Đóng cửa và lấy đi chìa khoá tình yêu đối với Chúa, con người không bao giờ đạt đến sự cứu rỗi; và như thế, tình yêu với Chúa và với người sẽ luôn nông cạn, hời hợt. “Ai không yêu Thiên Chúa thì cũng không thực sự yêu điều gì!” – Henry Newman.

Anh Chị em,

“Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”. Thập giá Chúa Kitô cũng là một cái gì “kỳ cục nhưng không kém độc đáo!”. Thập giá là biểu tượng của tình yêu, hoa trái của nó là tình yêu, yêu cho đến cùng. Chúa Giêsu đã yêu Chúa Cha đến nỗi chỉ sống để làm vui lòng Cha; Ngài cũng yêu con người đến mức chấp nhận hiến dâng mạng sống vì nó. Chính nhờ tình yêu của Ngài mà “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác”. Đúng thế, chỉ trong Chúa Kitô, bạn và tôi mới trở nên những Kitô hữu độc đáo, trổ sinh hoa trái trong các mối tương quan – với Chúa, với tha nhân – ‘đến mức tràn đầy!’. “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm sống với Thiên Chúa, nếu không, người ấy sẽ không còn tồn tại!” – Karl Rahner.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con yêu Chúa ‘cầm chừng’, nhưng yêu ‘tuyệt đối’. Nhờ đó, tình yêu của con đối với tha nhân không nửa vời, chẳng đứt đoạn và luôn cam kết!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay

Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất ; ngươi phải yêu mến Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.