Tám mối Phúc Thật là gì?- Gioan Phùng Văn Phụng

Gioan Phùng Văn Phụng

Tám mối phúc thật còn gọi là Hiến Chương Nước Trời hay Bài Giảng trên núi.

Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu ở chương 5, từ câu 3 đến câu 12, và đọc các Mối Phúc để hiểu được con đường tươi đẹp biết bao, vui vẻ, an toàn biết bao và cũng hạnh phúc biết bao mà Chúa đã đề nghị cho chúng ta nghe theo và áp dụng vào cuộc sống.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.(1)

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.(2)

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

SUY NIỆM:

(Luca chương 6 câu 20 đến 23 cũng nói đến các phúc này).

Đọc các mối phúc thật này nghe rất là nghịch lý, không thuận tai chút nào.

1-Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.

Tâm hồn nghèo khó là gì? Đó chính là tâm hồn đơn sơ, không kiêu ngạo, không cho rằng giỏi nhất, không ai hơn mình được. Vì có tâm hồn nghèo khó nên biết nương cậy vào Chúa, suy phục Chúa, luôn luôn sống với tâm tình vâng phục, có Chúa ở cùng khi làm mọi việc. Lúc nào cũng có tâm tình tạ ơn Chúa khi còn sống trên cõi đời này. Khi làm việc, dầu thành công hay thất bại vẫn tạ ơn Chúa.

Còn nếu ta đã giàu có, thành công, có địa vị cao, có chức vụ, quyền lực trong xã hội liệu ta còn có nghĩ đến Chúa, nương cậy vào Chúa nữa không?

2- Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Hiền lành là gì? Người ta thường xem sự hiền lành là nhu nhược, không dám phản ứng khi bị đàn áp, gây gỗ, mắng chửi. Thật ra hiền lành chính là nhân đức – kiềm chế sự nóng giận. Không phải ai cũng làm được đâu. Phải thực tập thường xuyên, tự rèn luyện bản thân hàng ngày, dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái TÔI đi, tức là dẹp bỏ sự nóng giận. Cậy vào sức của mình ta, ta không làm được. Nhưng cậy dựa vào sức Chúa, chúng ta sẽ làm được. Chúa Giêsu nói: “Hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. (2)

3-Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Sầu khổ là gì? Là nhìn thấy và cảm nghiệm, chia xẻ những đau khổ của người khác, cũng như đau khổ của chính mình vì tội lỗi của chính mình. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “vô cảm” để nói đến những người vô tâm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mình. Biết sầu khổ nghĩa là không vô cảm, biết đau cái đau của đồng loại, thương cảm những đau khổ của người khác. Những người sầu khổ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4-Phúc thay ai khao khát nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Khát khao nên người công chính tức là ý thức về điều ngay thẳng, tốt lành. Làm việc với sự công bình, yêu thương, hợp với đạo lý làm người, với lương tâm nhắc nhở. Người công chính không làm vì lợi mình mà hại người.

5-Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Xót thương người là cảm thông với nỗi đau của người khác, biết đau với nỗi đau của người khác… đặt mình vào vai trò, vị trí của người khác, cùng chia xẻ sự khổ nạn với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Xót thương người khác vì sự đau đớn về vật chất, sự đau khổ về tinh thần, tâm linh của người khác. Cần học hỏi, thực hành lòng xót thương như Thầy chí thánh là Chúa Giêsu là đấng xót thương.

6-Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Có tâm hồn trong sạch là không ích kỷ, không tham lam, không tư lợi, hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em đồng loại.

7-Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Xây dựng hoà bình là đem bình an đến cho người chung quanh, hàn gắn các vết thương giữa con người với nhau.

8-Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ.

Bị bách hại, bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa vì Chúa, là vui vẻ chấp nhận sự khó khăn, đau khổ… Dầu bị bách hại, bị loại trừ, bị sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa mà không oán hờn, trách móc. Nhờ đó chúng ta có được bình an trong tâm hồn, hạnh phúc trong cuộc sống, đó chính là nước trời hiện diện giữa chúng ta trong đời này rồi phải không?

Chính 8 mối phúc thật này là căn tính của người kitô hữu, đó là cách thức, là con đường người môn đệ của Chúa phải đi.

Tám mối phúc thật hay Hiến Chương Nước Trời, đây là mục đích chính mà người theo Chúa Giêsu kitô cố gắng đạt được để có nước trời (thiên đàng) nơi trần thế này và được hưởng thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Gioan Phùng Văn Phụng

Tháng 02/2022

Xem thêm:

(1)Nước trời là gì vậy Thầy?

https://dongten.net/2020/07/23/nuoc-troi-la-gi-vay-thay/

(2) Hiền lành và khiêm nhường

http://www.vncatholic.net/hien-lanh-va-khiem-nhuong/ 

ĐI TRONG MÙ SƯƠNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi!”.

“Đức tin là bước đầu tiên ngay cả khi bạn không nhìn thấy toàn bộ cầu thang!” – Martin Luther King.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt trước chúng ta hai con người được gọi “rời đi” khi phía trước còn mờ khuất – Ápram và Phêrô. Một già, một trẻ; cả hai phải buông điều mình muốn giữ, rời điều mình bám víu, để dám bước – ‘đi trong mù sương’.

Ápram rời xứ sở, họ hàng, nhà cha; không bản đồ, không bảo đảm, chỉ một lời hứa. Ông không biết mình sẽ tới đâu, chỉ biết Ai đang gọi. Đức tin bắt đầu khi chúng ta bước đi mà không nắm chắc tương lai, chỉ nắm chắc lời hứa – bước vào điều không thấy, sống với điều vượt quá trí hiểu, và chấp nhận ‘đi trong mù sương’. “Kitô hữu của tương lai sẽ là một nhà thần nghiệm, nếu không sẽ không tồn tại!” – Karl Rahner.

Phêrô thì khác. Ông không phải rời xứ sở, nhưng phải rời ánh sáng. Taborê rực rỡ đến mức ông muốn dựng lều, giữ lại khoảnh khắc ấy. Nhưng ánh sáng không được ban để trú ẩn. Nếu dừng lại trên núi, các ông sẽ không bao giờ chấp nhận một vị Thầy bị lột trần, bị khạc nhổ, bị treo giữa trời đất; nếu bám lấy dung nhan chói lọi ấy, các ông sẽ vấp ngã trước dung nhan tả tơi. Điều họ thấy chỉ là một tia chớp của Phục Sinh loé lên giữa hành trình lên Giêrusalem – và biến hình chỉ là một trạm dừng. “Hãy để mọi điều đến với con: đẹp đẽ lẫn kinh hoàng. Chỉ cần tiếp tục đi. Không cảm xúc nào là cuối cùng!” – Rainer Maria Rilke.

Bạn và tôi cũng có những Taborê riêng: một thành công, một cảm xúc thiêng liêng, một lời khen. Nhưng Chúa không ban ánh sáng để ai đó ngủ quên; Ngài trao nó để chúng ta đủ sức bước tiếp; và chỉ cho thoáng thấy dung nhan, để khi dung nhan ấy bị bầm dập, chúng ta không bỏ chạy. Vì thế, dù lời hứa còn xa, dù cầu nguyện có lúc sáng bừng rồi lại lặng thinh, chúng ta vẫn xác tín, Thiên Chúa “đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người”, không dựa trên công trạng nhưng theo ân sủng – bài đọc một. Ơn gọi ấy không miễn cho ai khỏi ‘đi trong mù sương’; nó dạy chúng ta trông cậy: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Trên đồi Calvariô, Đức Kitô đã bước vào tận cùng “mù sương” của phận người. Ngài tự rời bỏ vinh quang, đi lên triền dốc của hiểu lầm, phản bội và thập giá. Trên Taborê, Ngài chói sáng; nhưng lưng chừng đồi Sọ, Ngài tan nát. Nhưng cũng chính nơi dung nhan bị biến dạng ấy, vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ. Ngài không dựng lều trên Taborê để trốn khỏi đau khổ; Ngài dựng lều giữa nhân loại bằng chính thân xác bị trao nộp. Theo Ngài là chấp nhận bước đi, không phải vì thấy rõ mọi sự, nhưng vì tin Đấng đã đi trước vào đêm tối và mở lối bằng Phục Sinh. “Đừng bỏ mình cho tuyệt vọng. Chúng ta là dân Phục Sinh và Alleluia là bài ca của chúng ta!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mù sương phủ lối, cho con tin hơn là thấy; khi muốn dựng lều trên đỉnh sáng, xin kéo con xuống; khi thập giá lạnh lẽo, xin giữ con ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, NĂM A

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC –  Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

 Một vị sư già ngồi bên đường, lặng lẽ trong khoảnh khắc thiền định, đôi mắt nhắm nghiền như đang chìm vào biển sâu của tâm linh, đôi chân khoanh lại, tay đan chéo dưới vạt áo, tưởng như đã quên hết những lo toan của đời thường.  Chính lúc ấy, mạch suy nghĩ của ông bị chột dứt bởi giọng nói khàn khàn, vội vã của một võ sĩ – một người mang trong mình cả vẻ dữ tợn, cả sức mạnh và cả những bão giông nội tâm.  “Thưa sư thầy, sư thầy hãy cho tôi biết, thế nào là thiên đường, thế nào là địa ngục?” – lời nói ấy như bỗng làm rung chuyển không gian tĩnh lặng ấy, đưa cuộc đối thoại giữa ánh sáng và bóng tối ra khỏi giới hạn của sự im lặng. 

Vị sư già, với đôi mắt đã qua bao tháng năm tu hành, không vội phản ứng, chỉ từ từ mở đôi mắt ra, trong đó hiện lên nụ cười mỉm đầy trí tuệ và từ bi.  Võ sĩ đứng bên cạnh, tâm hồn rối bời, như đang bị cuốn vào lửa thiêu đốt của sự nóng giận và bất an.  “Anh muốn biết bí mật của thiên đường và địa ngục ư?” – vị sư già nói, giọng nói trầm ấm mà đầy uy quyền, như muốn đưa người nghe lùi lại vài bước để suy ngẫm về chính bản chất của mình.  “Anh là loại người thô tục, tay chân dính đầy bùn bẩn, đầu tóc rối bời, râu ria bẩn thỉu.  Trên kiếm gỉ sét loang lổ, nhìn đã biết là không giữ gìn đàng hoàng.  Người xấu xí như anh, mẹ anh cho anh ăn mặc như một tên hề, anh lại còn đến hỏi tôi bí mật của thiên đường và địa ngục sao?” 

Lời nói của vị sư như một chiếc gậy trừng phạt, đánh thức ngay trong lòng võ sĩ cảm giác xấu hổ và bừng dậy một niềm tự nhận thức khắc nghiệt.  Chẳng mấy chốc, võ sĩ hằn học chửi một câu, rồi lấy kiếm “soạt” ra, giơ lên trên đầu vị sư già.  Mặt võ sĩ đỏ bừng, gân trên cổ phồng lên, tất cả vẻ ngoài như đang chuẩn bị cho một trận chiến sinh tử.  Khi mà lưỡi kiếm dường như đã vung xuống, đe dọa cắt đứt dòng thời gian, vị sư già nhẹ nhàng nói: “Đây chính là địa ngục.”  Trong chốc lát ấy, khi mũi kiếm dừng giữa không trung, võ sĩ như bỗng ngỡ ngàng, cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu trong tâm hồn mình, như một tia sáng le lói len qua bầu trời âm u. 

Ngay sau đó, vị sư già lại tiếp lời: “Đây chính là thiên đường.”  Lời nói ấy không chỉ đơn thuần là một lời đáp, mà như một chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của triết lý sống sâu sắc.  Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, võ sĩ cảm nhận được rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những địa danh xa xôi, mà là những trạng thái nội tâm, là sự phản chiếu của suy nghĩ và hành động của mỗi con người.  Mọi ý ác, lời ác, việc ác mà chúng ta để lại, dù nhỏ bé hay lớn lao, đều có thể biến tâm hồn ta trở nên u ám, như lạc vào vực sâu của địa ngục.  Ngược lại, mọi hành động thiện lành, lời nói chan chứa yêu thương, mọi việc làm cao đẹp đều là những viên gạch xây nên thiên đường nội tâm, không chỉ cho chính bản thân ta mà còn cho cả những ai mà ta chạm tới.

 Câu chuyện ấy mang đến cho chúng ta một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên đường và địa ngục tồn tại ngay trong trái tim mỗi con người.  Nếu ta để cho cái ác, cho những cám dỗ phù phiếm len lỏi, thì địa ngục sẽ tự mở rộng bên trong ta, biến những suy nghĩ tiêu cực thành rào cản ngăn cách ta với tình yêu thương chân thành.  Ngược lại, nếu mỗi người biết tự chủ, biết nhận thức và lựa chọn sống theo những giá trị đích thực, thì dù cuộc sống có bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cám dỗ ảo mộng, thì trong mỗi chúng ta vẫn có thể tạo dựng nên một thiên đường nhỏ, một vũ trụ của sự bình an, của lòng từ bi và của niềm tin vững chắc vào cái thiện. 

Có lẽ, đối thoại với thiên đường và địa ngục không phải là một cuộc chiến đối đầu giữa thiện và ác ở bên ngoài, mà là một hành trình tự khám phá và tự rèn luyện bản thân.  Đó là quá trình con người nhận thức, đánh giá và lựa chọn giữa những gì làm phong phú tâm hồn và những gì lại đẩy ta vào vực thẳm của sự tự hủy.  Khi chúng ta học cách nhận ra, phân biệt được giữa tiếng gọi của cám dỗ và ánh sáng của đức tin, chúng ta chính là dần dần mở ra cánh cửa cho một cuộc sống trọn vẹn hơn, một cuộc sống nơi mỗi suy nghĩ, mỗi hành động đều được thẩm định bởi một trái tim biết yêu thương và biết tha thứ. 

Những câu nói của vị sư già đã khắc sâu vào tâm trí người võ sĩ rằng, chỉ có khi nào ta biết từ chối những thứ không tốt, biết giữ gìn nội tâm trong sáng, ta mới có thể sống trong ánh sáng của một thiên đường.  Và thật kỳ diệu biết bao, ngay cả những người vốn dĩ có vẻ ngoài “bẩn thỉu”, dường như cũng có thể tìm thấy con đường dẫn đến sự giải thoát, nếu họ biết lắng nghe tiếng lòng, nếu họ dám đối diện với chính bản thân mình và học cách yêu thương, tha thứ.  Đó chính là bài học nhân sinh sâu sắc, rằng thiên đường hay địa ngục, thiện hay ác, không chỉ là những khái niệm trừu tượng, mà là những lựa chọn sống mỗi ngày, là những hành động nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh thay đổi cả cuộc đời. 

Có lẽ, mỗi chúng ta nên tự nhủ rằng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có bao nhiêu thử thách, chỉ cần lòng tin và sự kiên định, chúng ta đều có thể biến chính “địa ngục” của những sai lầm và tội lỗi thành “thiên đường” của sự yêu thương, của sự tự do nội tâm.  Câu chuyện của vị sư già và người võ sĩ không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt một triết lý sống, mà còn như một lời nhắc nhở thiêng liêng rằng, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mà tiếng nói của lòng nhân ái luôn vang vọng, nơi mà mỗi hành động thiện lành được tôn vinh như một viên ngọc quý hiếm giữa dòng chảy của thời gian. 

Và cuối cùng, chúng ta hãy nhớ rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những nơi chốn xa xôi, mà là những trạng thái tâm hồn – đó là kết quả của những suy nghĩ, của những hành động mà chúng ta lựa chọn mỗi ngày.  Nếu ta biết yêu thương, biết tha thứ và luôn sống chân thành, thì ngay cả trong những khoảnh khắc tối tăm nhất, ta cũng có thể tìm thấy ánh sáng dẫn lối, ta có thể biến chính “địa ngục” của những cám dỗ vào thành “thiên đường” của niềm tin và hạnh phúc. 

Lm. Anmai, CSsR

From: Langthangchieutim


 

HOÀN THIỆN, MỘT CHỖ NÚP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện!”.

“Không gì hoàn hảo trên thế gian! Không ai hoàn hảo, không chi hoàn hảo! Vậy mà Thiên Chúa lệnh cho con người phải hoàn thiện tất cả; ngay cả bản thân nó, nó được gọi để nên hoàn thiện!” – Steffens.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa một thế giới không gì hoàn hảo, Lời Chúa hôm nay vẫn mời gọi chúng ta phải nên hoàn thiện. Tuy nhiên, có khi chúng ta tìm sự thánh thiện không phải để thuộc về Chúa, mà để an toàn – và ‘hoàn thiện’ bỗng thành ‘một chỗ núp!’.

Môsê nhắc dân: “Anh em sẽ là một dân thánh hiến cho Đức Chúa” – bài đọc một. “Dân thánh hiến trước hết là dân thuộc về, là dân sống một mối tương quan. Và “Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời!” – Thánh Vịnh đáp ca – ở đây, không phải là không bao giờ vấp ngã; nhưng là biết mình đang đi trong đường lối Chúa.

Nhưng Chúa Giêsu không để chúng ta yên trong cảm giác “giữ luật là đủ”, Ngài đẩy lằn ranh ra xa hơn: yêu kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ ngược đãi, làm ơn mà không tính toán. Chuẩn mực không còn là người chung quanh, nhưng là chính Thiên Chúa: “Như Cha anh em trên trời”. ‘Hoàn thiện’, vì thế, không phải là khép kín trong một vòng tròn công chính của riêng mình; nhưng là mở ra đến mức bao dung với cả người không xứng đáng. “Thiên Chúa đang tìm những con người qua đó Ngài có thể làm điều không thể!” – A.W. Tozer.

Ở đây, một cơn cám dỗ rất tinh vi xuất hiện. Chúng ta có thể sống nghiêm túc, đạo đức, kỷ luật – nhưng tất cả để bảo vệ hình ảnh của mình; có thể giữ mình “không sai”, nhưng không dám yêu “quá mức”; có thể tuân giữ luật, nhưng không để lòng mình bị xáo trộn bởi xót thương. Chúa Giêsu không gọi chúng ta nên hoàn thiện theo kiểu đó. Ngài gọi chúng ta nên hoàn thiện trong tình yêu. Không chỉ “đừng giận”, nhưng hãy làm hoà; không chỉ “đừng ghét”, nhưng hãy chúc lành; không chỉ “đừng trả đũa”, nhưng hãy trao cả má bên kia. Bấy giờ, ‘hoàn thiện’ là hành trình ra khỏi mình; không còn là ‘một chỗ núp’ kín đáo cho cái tôi đạo đức. “Điều khiến bạn quảng đại cũng khiến bạn dễ bị tổn thương!” – Henri Nouwen.

Anh Chị em,

Nhìn lên Đức Kitô, rõ ràng, sự hoàn thiện mang khuôn mặt của Đấng bị đóng đinh. Ngài không hoàn thiện theo nghĩa tránh đau khổ, nhưng trong việc yêu đến cùng. Trên thập giá, không có chỗ núp nào cả, chỉ còn tình yêu trần trụi hiến dâng. Nếu chúng ta nên hoàn thiện như Cha, thì con đường ấy không phải là xây một đời sống không vết xước; nhưng là để tình yêu và ân sủng Cha chảy qua những vết xước đó; không phải trở nên người không bao giờ sai; nhưng là người luôn biết quay về, biết tha thứ, biết bắt đầu lại. “Ân sủng bao hàm bản tính, và bản tính được hoàn thiện bởi ân sủng!” – Karl Rahner. Khi ấy, “hạnh phúc thay” không còn là khẩu hiệu đạo đức, nhưng là trải nghiệm của người dám lần ra khỏi chỗ núp.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ẩn mình sau tấm áo đạo đức; đừng để con trú ẩn trong những thành tích thiêng liêng; xin kéo con ra khỏi mọi chỗ núp, để con dám yêu như Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay

Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 5,43-48

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? 47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? 48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”


 

CHỦ QUAN ĐẠO ĐỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời!”.

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế, đến nỗi – nếu không cẩn thận – với những chủ quan đạo đức, chúng ta sẽ tự hào về sự khiêm tốn của mình. Khi điều này xảy ra, tốt trở nên xấu; nhân đức trở thành tệ nạn; công chính trở nên bất chính!” – Paul W. Powell.

Kính thưa Anh Chị em,

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế”. Lời Chúa hôm nay vạch trần một căn bệnh: ‘chủ quan đạo đức’, thứ bệnh đã ăn sâu nơi các kinh sư và người Pharisêu – những kẻ cho mình là công chính.

Cần bao nhiêu công chính để vượt qua họ? Có lẽ… chẳng bao nhiêu! Bởi lẽ, công chính của họ là thánh thiện bên ngoài, nghĩa là chẳng có gì thánh. Bên trong những linh hồn ấy là gì? Là tự mãn, là sự lừa dối bản thân bằng những ‘chủ quan đạo đức’ khi họ cho mình thánh hơn người. Đọc Phúc Âm, chúng ta dễ nhăn mũi trước những biệt phái hợm hĩnh ấy; nhưng trong thực tế, bạn và tôi cũng rất dễ mù loà với chính mình! “Đừng ném đá hàng xóm nếu cửa sổ nhà mình làm bằng kính!” – Louise Slater.

Người thời Êzêkiel cũng vấp ngã vì một ảo tưởng ấy. Họ nghĩ mình ngay thẳng, còn Thiên Chúa thì không! Vì thế, Ngài phán, “Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?” – bài đọc một. Lằn ranh giữa chính trực và giả chính trực mỏng hơn chúng ta tưởng. Đôi khi, chỉ cần thêm một chút tự mãn, một lời biện hộ khéo léo, chúng ta đã bước qua lằn ranh ấy mà không hề hay biết. “Giữa điều được nói mà không có ý, và điều có ý mà không được nói, phần lớn tình yêu bị đánh mất!” – Kahlil Gibran.

Đó là lý do chúng ta phải xét mình với một ý thức sâu sắc về sự giới hạn và khốn cùng của bản thân mỗi ngày. Tôi đang theo đuổi thánh thiện thực, hay chỉ ruổi theo một thứ thánh thiện ảo để bảo vệ cái tôi? Tôi thích vờ làm thánh hay muốn nên thánh thật? Đừng quên, Chúa thấu suốt tâm can từng gang tấc. Vì thế, thái độ đúng đắn nhất của chúng ta vẫn là xin Ngài xót thương. Thánh Vịnh đáp ca thưa thay chúng ta, “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”.

Anh Chị em,

“Nếu như Ngài chấp tội!”. Mùa Chay là mùa tháo cởi những lớp vỏ đạo đức và ném xa các ‘chủ quan hợm hĩnh’. Hãy chiêm ngắm Giêsu Toàn Thánh – Đấng hiền lành và khiêm nhượng – cũng là Đấng từng nói, “Nào ai bắt tôi được lỗi gì!”. Kiêu ngạo và thánh thiện như dầu với nước, không bao giờ hoà tan. Thiên Chúa không ở chung với cái tôi phình to. Hoặc tôi hạ mình xuống, hoặc Ngài rút lui khỏi đời tôi. Ở đâu cái tôi chiếm chỗ, ở đó – rất ít – nếu có chỗ cho Chúa! Ân sủng và tình bạn nghĩa thiết với Chúa không thể kết hợp trong một tâm hồn kiêu căng! Không thể có một thoả hiệp nào giữa Thiên Chúa và một linh hồn kiêu hãnh! Hoặc linh hồn sẽ tự buông bỏ, hoặc Chúa ‘sẽ không còn’ là Thiên Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tự hào về một điều gì ngoài tội lỗi của con; cứu con khỏi những huyễn danh; giúp con liệng xa những chủ quan hợm hĩnh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay

Hãy đi làm hoà với người anh em ấy đã.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 5,20-26

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26 Thầy bảo thật cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.”


 

THAY ĐỔI BẢN THÂN-TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Sống trong cuộc đời, chúng ta bị ràng buộc bởi nhiều thứ: phong tục làng xóm; não trạng cổ xưa; môi trường xung quanh; sự ích kỷ của bản thân và những thói quen từ nhỏ.  Những điều kể trên, có những điểm tốt lành đáng trân trọng, nhưng cũng có những bất cập cần thay đổi.  Trong tất cả những điều cần thay đổi, điều khó nhất – mà lại là quan trọng nhất – là thay đổi bản thân.  Để chấp nhận thay đổi bản thân, cần có sự can đảm và kiên trì, vì sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng.

 Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì bạn chưa bỏ gì cả, vì chính bạn sẽ dần dần quơ góp lại những gì bạn đã bỏ trước đó” (Đường Hy vọng 3).  Đức Hồng y cũng viết ở một nơi khác: “Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, thì có khác gì ở nhà đâu? (DHV 5).  Quả vậy, thay đổi con người là điều kiện tiên quyết để thay đổi xã hội.  Không thể có một môi trường xanh và sạch nếu không có những con người ý thức bảo vệ môi trường.  Không thể có một cộng đoàn thánh thiện, nếu mỗi tín hữu không cố gắng để hoàn thiện bản thân.  Nhiều khi chúng ta cứ kêu gào đòi thế giới phải thay đổi, nhưng cái gọi là “thế giới” lại là một khái niệm rất tổng quát mơ hồ.  Thế giới là tất cả mọi người; tất cả mọi người cũng có nghĩa không một ai.  Thế giới bao gồm những cá nhân, và thế giới sẽ thay đổi, khi cá nhân thay đổi.

 Khởi đi từ sự kiện Chúa Giê-su biến hình, Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Chay mời gọi chúng ta “lên núi” để thay đổi bản thân.  Đây là một điều kiện thiết yếu để sống Mùa Chay có ý nghĩa.

 Trước hết chúng ta cần thay đổi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ.  Các môn đệ là những người đã theo Chúa một thời gian dài ba năm.  Tuy vậy, cái nhìn của các ông về Thầy mình vẫn còn sơ sài, phiến diện và mang tính trần tục.  Khi Đức Giê-su nói đến thập giá, các ông bối rối đến mức hoảng loạn.  Tại Xê-da-rê Phi-líp-phê, khi nghe Thầy nói về cuộc khổ nạn và sự chết, Phê-rô vội can ngăn và bị Chúa mắng là Sa-tan.  Trong khi Chúa nói về cuộc thương khó, thì các môn đệ lại tranh giành xem ai là người lớn nhất, và đòi phải có một vị trí trong tương lai (x. Mt 20,17-28).  Cuộc biến hình giúp các môn đệ thanh lọc hình ảnh về Đấng Mê-si-a mà các ông đang có trong đầu.  Qua sự kiện biến hình, Chúa Giê-su muốn nói với các ông: Người là Thiên Chúa quyền năng và vinh quang.  Người sẽ chịu đau khổ, nhưng sẽ được tôn vinh.  Lời Chúa Cha phán từ đám mây, vừa như một lời giới thiệu, vừa như một khẳng định về sứ mạng của Chúa Giê-su trên trần gian.  Khi lên núi, tâm trạng ba môn đệ nặng nề chán nản; khi xuống núi, các ông cảm thấy lạc quan vui mừng.

 Tiếp đến, chúng ta cần xem xét lại lòng trung tín của chúng ta đối với Chúa.  Một ngày nọ, Áp-ra-ham nghe tiếng Chúa truyền bỏ mọi sự để lên đường đến nơi Ngài sẽ chỉ cho.  Chúa không nói ông sẽ đi đâu.  Áp-ra-ham cũng không vặn hỏi xem mình sẽ làm gì để sống.  Ông tin vào Thiên Chúa, và ông chắc một điều là Chúa chỉ muốn cho ông những điều tốt lành.  Xã hội hôm nay tự nhận là vô thần, nhưng trong thực tế, càng ngày càng có nhiều thứ thần tượng.  Những ngẫu thần hôm nay là tiền bạc, người nổi tiếng, minh tinh màn bạc hay ngôi sao bóng đá.  Trong xã hội tự nhận là văn minh, lại nhan nhản trên mạng những hình thức bói toán mê tín dị đoan.  Giữa một rừng những ngẫu tượng đó, Ki-tô hữu làm thế nào để trung tín với Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa mà Đức Giê-su giới thiệu với chúng ta?  Giữa một mớ âm thanh hỗn tạp của những tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào để chúng ta chọn lọc ra tiếng Chúa và phân định được thánh ý Ngài?  Sự can đảm dám thay đổi bản thân sẽ giúp chúng ta đạt được những điều đó.  Như Áp-ra-ham dứt khoát lên đường, mỗi chúng ta cũng cần can đảm lên đường khởi đầu một lộ trình mới.  Đó là lộ trình theo Đức Giê-su và luôn phấn đấu để trở nên giống như Người.

 Tin vào Thiên Chúa là tin vào Đấng làm cho cái không thể trở thành điều có thể.  Thánh Phao-lô mời gọi người môn sinh của mình là Ti-mô-thê đồng lao cộng khổ trong sứ vụ rao giảng Chúa Giê-su.  Nhìn theo nhãn giới trần gian, khẳng định Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại là điều không tưởng, vì đi ngược lại với thực tại của thế giới con người.  Ấy vậy mà lịch sử đã chứng minh, khởi đi từ một nhóm nhỏ các môn đệ có kiến thức khiêm tốn và địa vị bình dân ở xứ Ga-li-lê-a, Danh Đức Giê-su đã được loan báo cho cả thế giới.  Trong xã hội hiện đại hôm nay, nhiều người coi đức tin vào Đức Giê-su như một ảo tưởng không còn hợp thời.  Ki-tô hữu là người tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, chúng ta không thể hiểu nổi.  Đường lối ấy, thánh Phao-lô gọi là “kế hoạch và ân sủng” của Thiên Chúa.  Mặc dù hèn kém và hữu hạn, Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi tham gia kế hoạch diệu kỳ ấy.

 Cuộc lên núi của ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê cần phải cố gắng và chấp nhận mệt mỏi.  Tuy vậy, chính trên núi mà các ông đã được chiêm ngưỡng Thầy mình trong một bộ dạng hoàn toàn khác với ngày thường.  Cũng chính trên núi này, các ông thay đổi quan niệm về Thầy mình.  Mùa Chay thực sự là một cuộc “leo núi”, giúp ta hướng thượng, để nhìn lại mình và can đảm chấp nhận thay đổi bản thân.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

TẬP NGẠC NHIÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này!”.

“Quen thuộc và gần gũi không giống nhau! ‘Quen thuộc’ – điều không thể tránh – xảy ra gần như thường tình. ‘Gần gũi’ khó cảm nhận hơn; nó phải được tìm kiếm, mở ra và đáp trả. Bạn cần tập ngạc nhiên với những gì thân quen!” – Gordon Lester.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of child

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một sự thật khó nuốt: chúng ta không mất Chúa vì thiếu dấu lạ, mà vì đã quá quen với dấu lạ. Giôna kêu gọi Ninivê hoán cải; Chúa Giêsu kêu gọi người đương thời hoán cải. Nhưng họ vẫn đòi thêm dấu lạ – như thể Thiên Chúa phải chứng minh mình cho những con tim đã thôi biết ‘tập ngạc nhiên’.

Vấn đề không nằm ở việc Chúa làm ít, nhưng ở việc chúng ta nhìn hời hợt. Phép lạ xảy ra, người què đi, kẻ chết sống, Lời đầy uy quyền – nhưng tất cả dần trở thành chuyện “đã nghe rồi”. Khi mầu nhiệm bị tiêu thụ như tin tức, trái tim sẽ không còn rung. “Người đương thời không hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng luôn mới mẻ; vì không hiểu điều này nên họ khép kín và đòi thêm dấu lạ!” – Phanxicô.

Cũng thế, với chúng ta. Thánh Lễ mỗi ngày, Thánh Thể mỗi ngày, Lời Chúa mỗi ngày – và chính vì “mỗi ngày”, chúng ta tưởng là bình thường. Chúng ta có thể thuộc kinh, thuộc nghi thức, thuộc Phúc Âm; nhưng thuộc lòng không có nghĩa là “thuộc về!”. Điều giết chết đức tin không phải là chống đối, mà là dửng dưng; không phải vô thần, mà là vô cảm.

Thật ra, dấu lạ lớn nhất đã được ban rồi: cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Không dấu lạ nào lớn hơn dấu lạ mồ trống. Nhưng nếu thập giá chỉ còn là biểu tượng treo tường, Phục Sinh chỉ còn là mùa phụng vụ, thì chúng ta sẽ tiếp tục đòi những điều giật gân hơn. “Đừng trì hoãn vì ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến! Chúa hứa thứ tha nếu bạn quay lại; nhưng Ngài không hứa rằng bạn sẽ có ngày mai!” – Augustinô.

Hoán cải không bắt đầu bằng việc tìm điều phi thường, nhưng bằng việc nhìn lại điều quen thuộc với đôi mắt mới. Một mái nhà, một người thân, một trang Tin Mừng, một tấm bánh nhỏ – tất cả đều có thể là dấu lạ nếu trái tim chúng ta không chai cứng. Khi không còn biết ngạc nhiên, chúng ta sẽ không còn biết tạ ơn; khi không còn tạ ơn, chúng ta sẽ không còn nhận ra mình đang được cứu.

Anh Chị em,

“Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này!”. Dấu lạ ấy không ồn ào, nhưng đủ để cứu; không giật gân, nhưng đủ để đổi đời. Dấu lạ ấy không phải là một ý tưởng, nhưng là một Con Người bị treo lên. Nơi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, Thiên Chúa không còn ở xa để chúng ta tìm thêm bằng chứng; Ngài ở gần đến mức có thể chạm, có thể đón, cũng có thể từ chối. Vấn đề là chúng ta có dám mở lòng cho Đấng đang tự hiến? Nếu hôm nay chúng ta còn biết quỳ trước Ngài, còn biết lắng nghe Ngài, còn biết để Ngài chạm đến, thì chính Đức Kitô vẫn là dấu lạ đang xảy ra giữa tôi và bạn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết dừng lại, biết cúi xuống, biết mở lòng. Để giữa những điều rất cũ, với đôi mắt trẻ thơ, con vẫn biết ngạc nhiên; giữa những điều rất gần, con vẫn gặp được Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần I Mùa Chay

Thế hệ gian ác này sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 11,29-32

29 Khi ấy, dân chúng tụ họp đông đảo, Đức Giê-su bắt đầu nói : “Thế hệ này là một thế hệ gian ác ; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na. 30 Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy. 31 Trong cuộc Phán Xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với những người của thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn ; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa. 32 Trong cuộc Phán Xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng ; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa.”


 

LỜI KHÔNG THẤT THU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc!”.

“Cuộc sống của con là lắng nghe, cuộc sống của Chúa là dạy bảo!… Vì thế, con phải lặng thinh!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of bird

Lời Chúa hôm nay cho thấy: mưa không rơi để rồi bay ngược lên trời. Lời Thiên Chúa cũng vậy. Ngài không nói để rồi rút lại; Ngài không gieo để rồi trắng tay. Lời Thiên Chúa không bao giờ thua lỗ – đó là ‘lời không thất thu’.

Lời Chúa như mưa tuyết không trở về trời nếu chưa làm mềm một thửa đất, chưa đánh thức một mầm sống. Và thửa đất ấy là cõi lòng chúng ta. Nếu đất cứng, không phải vì thiếu mưa, nhưng vì thiếu thinh lặng; thiếu một khoảng cho Lời thấm; thiếu một vết nứt để nước đi vào. Khi Lời chưa sinh hoa trái, không phải vì trời keo kiệt, nhưng vì đất khép kín. Một khi đất chịu ướt, chịu tan, Lời sẽ sinh sôi – bởi đó, ‘lời không thất thu’.

Lời Thiên Chúa luôn đạt kết quả – bài đọc một – không phải vì chúng ta giỏi đáp trả, nhưng vì Lời mang trong nó sức sống. Vấn đề không ở trời – mà ở đất. Đất có chịu mở ra không? Có dám ướt không? Có dám để cấu trúc khô cằn của mình rã không? Chúng ta sợ rã, nên giữ mình khô. Nhưng đất khô thì nứt nẻ; chỉ đất ướt mới sinh hoa trái. Và khi chúng ta dám mềm đi trước Lời, chúng ta sẽ thấy: Thiên Chúa không bao giờ đầu tư vào một tâm hồn mà không thu hoạch – ‘lời không thất thu’.

Trong Tin Mừng hôm nay, “Kinh Lạy Cha” Chúa Giêsu dạy không phải là một công thức đọc cho xong; đó là hoa trái của một mảnh ruộng linh hồn mà Lời đã thấm. Khi Lời đi vào lòng người, nó bật thành tiếng “Lạy Cha”. “Nó là ma trận của mọi lời cầu Kitô giáo… Thiên Chúa yêu tôi. Đó là một bảo đảm tuyệt vời!” – Phanxicô. Nhưng bảo đảm ấy chỉ thành kinh nghiệm khi chúng ta thôi nói nhiều để bắt đầu nghe nhiều. Không có thinh lặng, không có hoa trái – chỉ có tiếng động tôn giáo. Không có đất ướt, chỉ có nước chảy trôi. “Cầu nguyện là hoa trái thinh lặng!” – Mẹ Têrêxa.

Anh Chị em,

Lời không chỉ là âm thanh từ trời nhưng đã làm người nơi Đức Kitô. Ngài là Mưa Lời từ trời đổ xuống đất khô nhân loại. Ba mươi năm âm thầm ở Nazareth, ba năm rao giảng, ba giờ trên thập giá trần trụi – không một giây phút nào của Ngài là vô ích. Từng bước chân, từng giọt mồ hôi, từng vết thương… tất cả thấm vào đất cứng lòng người. Thập giá xem ra là thất bại; nhưng chính ở đó, ‘Lời không thất thu’, nhưng đạt kết quả trọn vẹn: đất đá vỡ ra, màn đền thờ xé đôi, một viên đại đội trưởng tuyên xưng. Nơi Ngài, Thiên Chúa không nói suông, nhưng nói bằng thịt máu, bằng vâng phục, bằng hiến mình. Nếu lòng còn khô, bạn hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu; nếu sợ rã tan, hãy nhìn hạt lúa mục nát để sinh nhiều bông hạt. “Lời” không ồn ào, nhưng bền bỉ; không phô trương, nhưng thấm sâu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để kinh nguyện của con rộn ràng nhưng hời hợt, ồn ào nhưng vô hồn; dạy con để Lời thấm vào ‘đất lòng’ khi con ‘thực sự là con’ trước Chúa là Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần I Mùa Chay

Anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10 triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11 Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12 xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13 xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

GIẢ HÌNH THÁNH THIỆN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Thiên Chúa của các ngươi là Đấng Thánh!”.

“Hải đăng không bao giờ hụ còi, nó chỉ toả sáng! Các Kitô hữu thánh thiện thường ít nói, họ chỉ làm; nơi họ, lòng bác ái – động lực thánh khiết – là linh hồn của sự thánh thiện!” – Moody.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of bird and text that says 'fineart america'

Lời Chúa hôm nay không dừng ở hành vi, nhưng soi vào “động lực thánh khiết”. Nếu việc lành thành sân khấu, cầu nguyện để gây ấn tượng, bố thí để đánh bóng mình, thì chúng ta như hải đăng hụ còi, chẳng toả sáng; nói cách khác, ‘giả hình thánh thiện!’.

Vậy mà, sự thánh thiện đích thực chỉ phát xuất từ Thiên Chúa, “Vì Ta là Đấng Thánh!” – bài đọc một – Đấng không cần ai trình diễn. Một lời cầu nguyện dài có thể rỗng; một việc bố thí lớn có thể lạnh; một chức vụ có thể đầy tham vọng. Làm điều tốt mà lòng tìm mình, nói về Chúa mà thực ra nói về mình, giữ luật mà thiếu xót thương, thì động lực đã lệch. Đó là khoảnh khắc đức tin biến thành sân khấu, bác ái trở thành đạo cụ – ‘giả hình thánh thiện’. Chúng ta tuyên xưng, “Lời Chúa là thần khí và là sự sống!” – Thánh Vịnh đáp ca – nhưng nếu Lời thực sự là thần khí, nó phải thiêu rụi nơi chúng ta mọi động lực pha tạp; nếu Lời là sự sống, tim chúng ta phải đập theo nhịp của Thánh Tâm bị đâm thâu.

Tin Mừng phân định thật cụ thể – chiên bên phải, dê bên trái – “Ta đói, các ngươi đã cho ăn”. Ở đó, không còn chỗ cho lý luận tinh tế, không còn cơ hội chỉnh sửa hình ảnh; chỉ còn tình yêu cụ thể dành cho Đức Kitô ẩn mình nơi “những nhà tạm di động” của Ngài. Tiêu chuẩn của Nước Trời không phải là chúng ta đã nói bao nhiêu về Chúa, nhưng đã yêu bao nhiêu trong Chúa; không phải đã xuất hiện bao nhiêu lần trước cộng đoàn, nhưng đã cúi xuống bao nhiêu lần trước anh em. “Hành động lên tiếng lớn hơn lời nói!” – Becca Fitzpatrick.

Thánh thiện là nên giống Chúa Kitô, là yêu khi không ai biết; tha thứ khi không ai vỗ tay; cho đi khi không ai ghi nhận. Sống như thế, chúng ta được kéo vào sự thánh thiện của Thiên Chúa – một sự thánh thiện mang khuôn mặt Đức Kitô. Còn nếu dừng lại ở bề ngoài, chăm chút hình thức, bảo vệ danh tiếng, thì dù môi miệng vẫn nói lời thánh, lòng chúng ta vẫn xa dần Ngài. Và điều đáng sợ không phải là người khác nhận ra, nhưng là chúng ta không còn nhận ra mình đang ‘giả hình thánh thiện’.

Anh Chị em,

Đỉnh cao của thánh thiện không nằm ở đền thờ, nhưng trên thập giá. Ở đó, Con Thiên Chúa không phô diễn nhưng hiến mình, không biện hộ, không tìm tán thưởng, không giữ lại gì, “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu”. Thập giá lột trần mọi động lực! Trước Đấng bị treo lên, mọi tham vọng thiêng liêng của chúng ta trở nên nhỏ bé. Nếu quỳ dưới chân thánh giá mà vẫn giữ cho mình một góc tìm vinh quang, thì chúng ta chưa thực sự đứng về phía Ngài. “Đường thập giá là đường của tình yêu tự huỷ!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để một việc bác ái nào của con khởi đi từ một động lực thế tục, cho dù nó được tô vẽ mỹ miều đến mấy dưới lớp vỏ đạo đức!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần I Mùa Chay

Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 25,31-46

31 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. 32 Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. 33 Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. 34 Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng : ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. 35 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; 36 Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.’ 37 Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng : ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; 38 có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? 39 Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu ?’ 40 Đức Vua sẽ đáp lại rằng : ‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’ 41 Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng : ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. 42 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã không cho uống ; 43 Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc ; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’ 44 Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng : ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?’ 45 Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng : ‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.’ 46 Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.”


 

KHI LÁ VẢ RƠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân!”.

“Mỗi ngày bạn chọn tiếp tục đi đã là một chiến thắng!” – Joni E. Tada.

Kính thưa Anh Chị em,

May be a doodle

Lời Chúa hôm nay cho thấy: mỗi ngày ‘khi lá vả rơi’ là một ngày chiến thắng. Chỉ khi những chiếc lá vả thôi che thân mình, chúng ta mới biết mình nghèo đến mức nào – và được yêu đến mức nào.

Cám dỗ của nguyên tổ không chỉ là trái cấm; đó còn là cám dỗ che giấu. Ăn xong, họ kết lá vả che thân – bài đọc một. Phạm tội đã đau, nhưng trốn chạy còn đau hơn! Từ đó, chúng ta học cách đổ lỗi, biện minh, khoác lên mình những lớp áo đạo đức, thành công, bận rộn… để không ai thấy sự trần trụi bên trong. Vậy mà lá vả không làm ai nên tốt; nó chỉ làm chúng ta bớt xấu trong mắt người khác. “Sự thật luôn ít căng thẳng và ít tốn công sức hơn là cố bao che cho sự dối trá!” – John Reyes.

Nhưng trước mặt Thiên Chúa, mọi chiếc lá đều mỏng manh. Và giữa địa đàng đổ vỡ, Ngài không huỷ diệt; Ngài đi tìm, “Ngươi đang ở đâu?”. Câu hỏi ấy không để kết án, nhưng để kéo con người ra khỏi bụi cây. “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan” – bài đọc hai. Nghĩa là, điều quyết định không phải là những chiếc lá chúng ta khéo đan, nhưng là lòng thương xót của Ngài kiên nhẫn kiếm tìm.

Mùa Chay không bắt đầu bằng việc mạnh mẽ hơn, nhưng bằng việc chúng ta trung thực hơn. Trung thực với vết nứt, với những khát vọng lệch lạc, với những cám dỗ tưởng đã quen thuộc. Cám dỗ không chỉ lôi kéo chúng ta làm điều xấu; nó còn thì thầm, “Đừng để ai biết!”. Chính ở đó, những chiếc lá vả trở thành chỗ trú ẩn ngọt ngào; và cũng chính ở đó, chúng ta xa dần lòng thương xót. ‘Khi lá vả rơi’, chúng ta không còn gì để tự hào, không còn gì để bấu víu; bấy giờ, chỉ còn nài van, “Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca – đó là tiếng kêu của người biết mình cần được cứu.

Cám dỗ sẽ còn đó. Mỗi ngày, chúng ta vẫn phải chọn tiếp tục đi. Nhưng chiến thắng không phải là chưa bao giờ ngã; chiến thắng là dám đứng dậy, tháo bỏ chiếc lá mới vừa vội kết, và bước ra ánh sáng. Thiên Chúa không ngạc nhiên vì bóng tối; Ngài chỉ buồn khi chúng ta nghĩ mình có thể che nó. “Xấu hổ có sức mạnh vì nó không được nói ra!” – Brené Brown.

Anh Chị em,

Ba cám dỗ trong hoang địa không kết thúc ở đó; chúng theo Chúa Giêsu đến tận đồi Canvê: hãy xuống khỏi thập giá, hãy cứu mình đi! Ngài không xuống; Ngài chịu lột trần, không giữ lại chiếc lá nào. Đấng đã từ chối biến đá thành bánh, từ chối vinh quang rẻ tiền, từ chối quyền lực phô trương, giờ đây cũng từ chối tự vệ; thập giá mặc khải lòng thương xót lớn hơn tội lỗi. Ngài trần trụi để chúng ta thôi che đậy. ‘Khi lá vả rơi’, chúng ta bước vào sự thật; và chỉ trong sự thật ấy, tình yêu mới chạm đến. “Tội lỗi chúng ta chỉ như hạt cát bên ngọn núi lớn là lòng thương xót Thiên Chúa!” – Têrêxa Lisieux.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con yếu đuối, đừng để con vờ mạnh mẽ; khi con sa ngã, đừng để con tuyệt vọng; khi con trở về, xin cho con cảm được vòng tay Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, NĂM A

Đức Giê-su đã ăn chay bốn mươi ngày và chịu cám dỗ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 4,1-11

1 Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. 2 Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. 3 Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi !” 4 Nhưng Người đáp : “Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”

5 Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6 rồi nói với Người : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”

7 Đức Giê-su đáp : “Nhưng cũng đã có lời chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”

8 Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9 và bảo rằng : “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” 10 Đức Giê-su liền nói : “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”

11 Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người.


 

CHẶNG THỨ 2: Chúa Giêsu vác thánh giá-Cha Vương

Tạ ơn Chúa, lại một ngày mới một cơ hội mới bạn ơi để trở về với Chúa. Ước mong vài dòng gợi ý suy niệm chặng thứ 2 của Đàng Thánh Giá hôm nay đưa mọi người đến gần với Chúa và vơi nhau hơn. Một cuối tuần hạnh phúc và bình yên trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thư 7: 21/02/2026 (n25-23)

CHẶNG THỨ 2: Chúa Giêsu vác thánh giá

TIN MỪNG: Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá mình hằng ngày và theo Thầy. (Lc 9:23)

SUY NIỆM: Hằng ngày bạn gặp hai loại thánh giá. Một loại được trang trí lộng lẫy và được treo trên đỉnh hoặc trên tường của các nhà thờ nhà hội. Ngay cả chốn bạn đang cư ngụ, trong xe, và trên cổ trên tai của một số người cũng có cây thánh giá nữa. Còn một loại thánh giá khác thì bạn không dễ nhìn thấy, đôi khi lúc ẩn lúc hiện trên khuôn mặt đau khổ của những người chung quanh. Bạn phải có lòng thương cảm thì mới nhìn thấy được.

XÉT MÌNH: Có bao giờ bạn nghĩ rằng chính bạn là cây thánh giá đang đè nặng trên vai của những người chung quanh hay không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, gánh nặng đang đè nặng trên vai của Chúa chính là con tim chai cứng đầy ích kỷ, tham vọng, và cố chấp của con; xin cho con biết sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, biết khiêm nhường, nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi và tha lỗi cho nhau để làm giảm bớt đi những căng thẳng đang làm tổn thương đến hạnh phúc gia đình và làm con xa lìa Chúa. Amen.

From : Do Dzung

****************************

Nếu Con Không Vác Thập Giá – Trình bày: Ca Sĩ Như Ý

TRÔNG BẠN KHÁC QUÁ! –  Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Cách đây một số năm, Doug Alderson có viết một bài rất hay trong tạp chí Campus Life mô tả cuộc đi bộ suốt hai ngàn dặm xuống dãy núi Appalachi (Appalachian Trail) của ông. 

Lúc đó Doug vừa mới tốt nghiệp trung học thôi nhưng đã tự đặt cho mình một số câu hỏi chưa được ai trả lời cho, chẳng hạn: Có Thiên Chúa hay không?  Mục đích cuộc sống là gì? 

Khi bình luận về tất cả những vấn nạn này, Doug viết: “Phải có cái gì đó đáng sống hơn là tiền bạc, truyền hình, tiệc tùng và đua tranh…  Cuộc đi bộ lâu ngày của tôi chuyến này là một cuộc đi tìm an bình nội tâm, là một cuộc hành trình khám phá chính mình.”

 Cuộc hành trình gian khổ hơn Doug dự tính.  Có đôi chỗ, đường dốc đứng rất nguy hiểm.  Ban ngày lại thường hay mưa.  Áo quần Doug bị sũng ướt nước, chân cẳng thì ướt át, thân thể thì rét run và đau nhức vào ban đêm.  Nhưng Doug đã không đầu hàng.  Những giờ phút đi bộ và leo trèo giúp Doug có cơ hội suy nghĩ, đồng thời nhờ đó cậu hiểu mình hơn, vì chung quanh chẳng có ai tác động lên cậu hết.

 Năm tháng sau, Doug về đến nhà.  Cậu đã trở thành một người thay đổi khác.  Ngay chính con chó của cậu cũng lạ lùng ngó cậu như muốn nói rằng: “Cậu đã đi đâu và đã làm gì thế?  Trông cậu khác quá!”

 Doug quả là có khác trước.  Cậu đã gặp được điều cậu kiếm tìm, đó là có một Thiên Chúa: đời sống có mục đích và cậu có vai trò trong cuộc sống ấy.  Doug tóm tắt kinh nghiệm của mình bằng giòng chữ sau: “Tôi không còn là tôi như trước đây nữa, tôi yêu thích cái mà tôi nhìn thấy được trong chính tôi.

 Doug Alderson thuộc về số người trong lịch sử đã từng đi tìm sự cô tịch để suy tư về ý nghĩa và mục đích của đời sống.  Môisê đã từng làm thế.  Các ngôn sứ từng làm thế.  Gioan Tẩy Giả từng làm thế, và trong Phúc âm hôm nay, Ðức Giêsu cũng làm thế.  Suốt bốn mươi ngày dài trong cô tịch, Đức Giêsu đã trải qua bao cơn cám dỗ dữ dội.  Chúng ta có thể so sánh ba cơn cám dỗ với đoạn duyệt ở đầu một cuốn phim.  Ðoạn duyệt này trình bày cho chúng ta khá đầy đủ về cuốn phim khiến chúng ta chú ý vào phim ấy mà vẫn không làm cho chuyện phim sau đó bị mất hay đi.

 Cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã trải qua cũng tương tự như thế.  Chúng kể cho chúng ta khá đủ về Chúa Giêsu để khiến chúng ta chú ý đến Người mà không làm cho câu chuyện Phúc âm nhạt nhẽo đi.  Chẳng hạn, các cơn cám dỗ ấy giúp chúng ta biết sơ qua bản thân Chúa Giêsu và công việc mà Người đến để chu toàn.

 Chúng ta hãy xem điểm thứ nhất liên quan đến bản thân Chúa Giêsu: Chúa Giêsu là ai?

 Thoạt tiên, các cơn cám dỗ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã cảm nghiệm cuộc chiến nội tâm giữa điều thiện và điều ác giống hệt chúng ta.  Người cũng cảm thấy cuộc tranh chấp bên trong giữa điều phải và điều trái giống hệt chúng ta.  Ðiều này cho thấy Chúa Giêsu cũng là con người như chúng ta. 

Nhưng các cơn cám dỗ không chỉ nói lên điều đó.  Vì dù bị cám dỗ giống hệt chúng ta nhưng Chúa Giêsu đã phản ứng lại cơn cám dỗ khác với chúng ta.  Người không hề giao động hay do dự khi đương đầu với cám dỗ.  Người không nhượng bộ cám dỗ một chút nào hết.  Ðiều này cho thấy điểm đặc biệt nơi con người Chúa Giêsu.  Ðiểm đặc biệt ấy là gì?

 Chính ác quỉ đã cho chúng ta thấy một mối khi nó nói với Chúa Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” ác quỉ gợi cho chúng ta biết Chúa Giêsu không chỉ là một con người, mà Người còn là Con Thiên Chúa đến sống giữa chúng ta.  Nhiều năm sau đó, trong thư gởi tín hữu Philipphê, Thánh Phaolô đã cắt nghĩa bản tính của Chúa Giêsu như sau: “Chúa Giêsu vốn bản tính là Thiên Chúa, nhưng Người… đã trở nên giống như loài người và đã xuất hiện như một con người” (Pl 2: 6-7).  Như vậy các cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã trải qua giúp chúng ta nhìn thấy trước câu trả lời cho vấn nạn “Chúa Giêsu là ai?” hay nói cách khác, Chúa Giêsu có sứ mệnh gì trên trần gian?

 Các cơn cám dỗ ấy cũng giúp ta thấy trước câu trả lời cho vấn nạn vày.  Ðể thấy rõ điểm này, chúng ta cần nhớ lại bài đọc thứ nhất hôm nay.  Ngay sau khi Adam được Chúa tạo dựng, ác quỉ liền cám dỗ ông ta và Adam đã sa ngã.  Kể từ lúc đó, tất cả mọi người đều làm nô lệ cho ác quỉ.  Giờ đây ác quỉ lại cám dỗ Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, không như Adam sa ngã, Chúa Giêsu đã đứng vững.  Ðiều này cho thấy Chúa Giêsu đến để giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ, Người đã đến để điều chỉnh sai lầm nơi tội lỗi đầu tiên của Adam.

 Trong bài đọc thứ hai hôm nay, Thánh Phaolô đã bình luận về sứ vụ này của Chúa Giêsu như sau: “Cũng như tội lỗi của một người đã kết án toàn thể nhân loại thế nào, thì hành vi công chính của một người cũng giải thoát và đem lại nguồn sống cho nhân loại như thế ấy.”  Nói cách khác, Chúa Giêsu là “Adam thứ hai.”  Người đã đến để sửa lại lầm lỗi cho “Adam thứ nhất.”  Ðó chính là cách thức Thánh Phaolô giải thích về sứ mệnh của Chúa Giêsu trong thư gởi tín hữu Corintô: “Cũng như mọi người phải chết vì liên kết với Adam thế nào, thì mọi người cũng được sống nhờ kết hiệp với Chúa Giêsu như thế…  Adam thứ nhất bởi đất, Adam thứ hai bởi trời..  Như chúng ta đã mặc lấy hình tượng con người bởi đất thế nào thì chúng ta cũng sẽ mặc lấy hình tượng của CON NGƯỜI đến từ trời như thế” (1 Cr 15:22, 47-49).

 Nói cách khác, Chúa Giêsu đã đến trần gian để trở thành “Adam mới” của một nhân loại mới.

 Như thế, để kết luận, chúng ta thấy rằng các cơn cám dỗ trong hoang địa Chúa Giêsu trải qua cho chúng ta thấy trước hai sự kiện quan trọng về Chúa Giêsu:

 Thứ nhất, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người.  Thứ đến Người là Adam mới mang sứ mệnh phục hồi sự sống mới cho nhân loại.  Các bài đọc hôm nay thật thích hợp để dẫn nhập chúng ta vào Mùa Chay.  Chúng làm nổi bật được nội dung của Mùa Chay.  Mùa Chay giúp ta sống lại kinh nghiệm trong hoang địa của Chúa Giêsu xưa kia về việc chống lại ác quỉ cám dỗ.

 Nhưng không chỉ có thế, Mùa Chay còn cử hành mừng chiến thắng của Chúa Giêsu trên ma quỉ.  Và bao lâu chúng ta biết kết hợp với Chúa Giêsu trong trận chiến chống ác quỉ thì chúng ta cũng sẽ chia sẻ niềm vui chiến thắng của Người.

 Lạy Chúa Giêsu,
Chúa là con Thiên Chúa làm người
Chúa đã vào hoang mạc để chịu ma quỉ cám dỗ
Và để bắt đầu sứ mệnh như một Adam mới.
Xin giúp chúng con cùng đi vào hoang mạc với Chúa.
xin gíup chúng con biết chia sẻ trận chiến mùa chay với Chúa
ngõ hầu chúng con cũng được chia sẻ chiến thắng Phục sinh với Chúa.

 Lm. Mark Link, S.J.

From Langthangchieutim