TỪ PHẬT GIÁO, KỸ SƯ HÓA HỌC ĐẾN LINH MỤC CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

Cha Adrian Suyanto, sinh năm 1994, là người Indonesia, lớn lên trong một gia đình theo Phật giáo. Thời niên thiếu, ngài học tại Surabaya, Đông Java.

Điều đặc biệt là ngay từ khi còn rất trẻ, Adrian đã bắt đầu tìm hiểu Kitô giáo. Năm 14 tuổi, dù lớn lên trong một gia đình Phật giáo, cậu đã chủ động xin được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và gia nhập Giáo hội Công giáo.

Sau khi hoàn thành bậc phổ thông, Adrian sang Australia du học tại Đại học New South Wales (UNSW), Sydney, theo ngành Kỹ thuật Hóa học.

Chính những năm đại học lại trở thành một bước ngoặt quan trọng trong đời sống đức tin của Adrian. Anh tích cực tham gia hoạt động của Tuyên úy Công giáo tại trường và Catholic Asian Students Society – Hội Sinh viên Công giáo Á Châu.

Sau này Adrian nhớ lại:

“Nhiều người nói rằng họ đánh mất đức tin ở đại học, nhưng với tôi, đó thực sự là nơi tôi gặp Đức Kitô và trưởng thành trong đức tin.”

Tốt nghiệp đại học, Adrian làm việc khoảng hai năm tại Canberra. Nhưng trong lòng anh, lời mời gọi trở thành linh mục ngày càng mạnh mẽ.

Ban đầu Adrian từng không muốn đi tu. Anh cũng mong được kết hôn, có gia đình và sống như bao người khác. Thế nhưng tiếng gọi ấy cứ âm thầm trở lại. Sau thời gian cầu nguyện và phân định với linh hướng, năm 2017, Adrian quyết định bước vào Đại Chủng viện Good Shepherd tại Homebush, Sydney, để bắt đầu hành trình đào tạo linh mục.

Ngày 16/12/2023, ngài được truyền chức phó tế.

Và ngày 11/07/2024, tại Nhà thờ Chính tòa St Mary, Sydney, Đức Tổng Giám mục Anthony Fisher OP đã đặt tay truyền chức linh mục cho Adrian Suyanto, cùng hai tiến chức khác.

Từ một cậu bé lớn lên trong gia đình Phật giáo tại Indonesia, đến một sinh viên kỹ thuật hóa học, rồi một người trẻ dám từ bỏ dự định riêng để đáp lại tiếng Chúa gọi – cuối cùng Adrian đã trở thành linh mục của Tổng Giáo phận Sydney.

Hiện nay, Cha Adrian Suyanto đang phục vụ với tư cách linh mục phó tại Giáo xứ St Anthony of Padua, Austral, Sydney.

Một hành trình thật đẹp để thấy rằng: Thiên Chúa có thể gọi một con người từ những con đường mà chúng ta không thể ngờ tới. Từ một gia đình Phật giáo, ở tuổi 14 Adrian đã mở lòng đón nhận đức tin; và nhiều năm sau, chính người thanh niên ấy lại dâng trọn cuộc đời để đưa Đức Kitô đến với người khác.

Xin cầu nguyện cho Cha Adrian luôn trung thành và nhiệt thành trong sứ vụ linh mục của mình. 

#ConTinChúaƠi #ƠnGọi 


 

TIẾNG GỌI –  Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

  Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

 Ít nhất phải có một chút hy vọng nào đó thì người gọi mới cất tiếng gọi.  Mong được người đáp trả, đấy là niềm vui của người gọi.  Trong tiếng gọi bao hàm sự có mặt của hai người.  Nếu chỉ có một người lẻ loi thì không có tiếng gọi, vì tiếng gọi không có đối tượng để gửi tới.

 Tiếng gọi là một lời mời.  Lời mời là một cử chỉ biểu lộ lòng mến yêu.  Không mến thương ai thì chẳng bao giờ gọi người đó.

 Thà rằng tôi lẻ loi, cô độc còn hơn là tôi quen biết, còn hơn là tôi có những mối giây liên hệ tình cảm để rồi những quen biết, những mối liên hệ ấy chối từ tôi.  Khi sống một mình thì tôi chỉ đơn độc, còn khi tôi quen biết mà bị từ chối thì tôi sẽ cô đơn.  Bị thờ ơ bao nhiêu thì nỗi cô đơn càng hiu hắt bấy nhiêu.  Và nỗi cô đơn này có thể hoang vu hơn sa mạc.  Chúa không buồn khi chưa có con người.  Khi con người chối từ tình yêu mà Ngài ban tặng, bấy giờ Ngài mới cô đơn (Kn. 6:6).  Chúa không tủi lòng khi chưa quen biết Phêrô, khi chưa gặp mặt Yuđa.  Khi đã gọi tên, khi đã cùng nhau xây đắp mối liên hệ, bấy giờ nỗi cô đơn của Ngài mới thấm thía lúc bị phản bội, bị chối từ.

 Khi tôi gởi một cánh thư đi là tôi gởi lòng tôi ở đó.  Gởi nỗi lòng mình đi thì bao giờ cũng có nhớ nhung và hồi hộp, âu lo.  Tôi không viết thư cho gió vì gió không biết tiếng người.  Tôi chẳng gửi thư cho mây vì mây không bao giờ đáp trả.  Tôi chỉ gởi cho người vì chỉ người mới có thể đáp trả lại nỗi lòng tôi.  Nhưng người có tự do nên tôi cũng có thể bị chối từ.  Tiếng gọi của tôi có thể vang lên khô khan rồi hiu hắt trở về với cõi lòng tôi.

 Khi Chúa cất tiếng gọi thì Chúa cũng thầm nuôi hy vọng được đáp trả.  Chắc hẳn Ngài cũng ngậm ngùi khi bị khước từ.  Bởi trong tiếng gọi là thầm cho đi tình yêu.  Bởi trong tiếng gọi là thầm nói lên nỗi nhớ thương.

 Gọi là dấu hiệu đang còn xa nhau.  Gọi là muốn lại gần. 

Trong cuộc đời, tôi có hai tiếng gọi, hai mẫu người lý tưởng để theo.  Tiếng gọi thứ nhất là Chúa Kitô. Tiếng gọi thứ hai là chính tôi.  Tôi có thể tạo nên cho tôi những tiếng gọi, những giấc mơ và tôi có thể theo đuổi để trở thành mẫu người như tiếng gọi tôi ước mong.  Tôi cũng có thể trở thành mẫu người như Chúa Kitô mong muốn.  Cái khác nhau là một đàng tôi sống ước mơ của tôi, một đàng tôi phải sống tiếng gọi của Chúa.  “Thức ăn của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta và hoàn tất công việc của Ngài” (Yn. 4:34).  Chúa Kitô đã sống trọn vẹn tiếng gọi của Cha Ngài.

 Tôi có thể lầm lẫn thì tiếng gọi của tôi cũng có thể không trung thực.  Nếu tiếng gọi của tôi không trung thực thì lo âu để trở nên mẫu người như tôi mơ ước sẽ là dại dột.

 Nếu tôi tin rằng Chúa không thể sai lầm thì tôi cũng phải xác tín rằng tiếng gọi của Ngài phải tuyệt hảo.  Không thể có hai sự tuyệt hảo.  Như thế, khi tôi chối từ sự tuyệt hảo là tôi nhận sự bất hảo. 

Có nhiều thứ tiếng gọi.  Gọi để cho một tặng vật.  Gọi để chung một niềm vui.  Gọi để gởi gấm một niềm tin cậy.  Nhưng tiếng gọi cao cả nhất, sâu xa nhất là gọi để theo một người.  Gọi để cho một tặng vật mới chỉ là cho một phần yêu thương.  Còn gọi để theo một người là tiếng gọi cho tất cả.  Vì muốn người khác trở nên giống mình thì phải cho họ biết rõ về mình.  Cách cho họ biết rõ về mình tốt nhất là cho chính mình.  Tôi không thể trở nên mẫu người như Chúa muốn, tôi không thể theo Ngài nếu Ngài không tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai.  Ngài chẳng thể tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai nếu Ngài không cho tôi chính Ngài.  Và thực sự, Thập Giá đã minh chứng sự cho đi trọn vẹn ấy.

 Chúa đã viết một cánh thư.  Ở nơi nào đó, Chúa đang mong chờ hồi âm.  Ngài không viết thư cho lá rừng, vì lá rừng và bụi cát chỉ phủ mờ thập giá.  Ngài viết thư cho người vì chỉ có người mới biết quét mạng nhện trong đền thờ, mới biết xóa dịu một nỗi khổ đau.

 Có xa nhau thì người ta mới phải gọi.  Khi tôi nghe tiếng Chúa gọi là dấu hiệu tôi còn đang xa Ngài.  Khi Ngài gọi là dấu hiệu Ngài muốn tôi lại gần.

 Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

From: Langthangchieutim

TAY KHÔNG THỂ DỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính”.

“Con người thật của bạn đứng đó, vang lên như sấm; tôi không còn nghe được những gì bạn nói ngược lại!” – Ralph Waldo Emerson.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những lời thanh minh rất đẹp, nhưng việc làm luôn nói lớn hơn. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đọc chính việc người Pharisêu làm như lời tự thú của họ: miệng có thể chối, nhưng ‘tay không thể dối’.

Xây mồ cho ngôn sứ không có gì xấu. Điều đáng xấu hổ là người Pharisêu dùng việc ấy để nói rằng mình tốt hơn cha ông: nếu sống thời trước, họ đã không giết các ngôn sứ. Vậy mà công trình dựng lên để tỏ lòng kính trọng lại phơi trần sự thật: họ tôn kính những người đã chết, nhưng khước từ Đấng được các ngôn sứ loan báo nay đang sống và nói trước mặt họ. Giả hình sâu nhất là chỉ yêu sự thật khi sự thật không còn quấy rầy. “Chúa Giêsu, với sự đơn sơ và quyền năng của Thiên Chúa, đã làm họ khó chịu!” – Phanxicô.

Và Chúa Giêsu nói tiếp: “Thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!”. Đó là một lời mỉa mai đau đớn: tội tưởng đã được chôn kín dưới những lớp đá đẹp vẫn đang được con cháu viết tiếp. Cái đấu không đầy một lần; một lời ngay lành bị gạt đi là thêm một nắm, một sự thật bị bẻ cong là một nắm khác, một người công chính bị loại trừ là thêm một nắm nữa. Họ chưa tra tay giết Chúa Giêsu, nhưng đã mở con đường từ mồ các ngôn sứ đến thập giá. Tay không chỉ nói thật về một người, mà còn cho biết người ấy đang tiếp tục câu chuyện nào.

Cũng có những đôi tay viết nên những câu chuyện đẹp. “Chính tôi, Phaolô, tự tay viết lời chào này”; cũng bàn tay ấy “đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả” để khỏi trở nên gánh nặng cho ai – bài đọc một. Vì thế, “Hạnh phúc thay những người kính sợ Chúa” – Thánh Vịnh đáp ca – không chỉ là một tâm tình; đó là khi lòng kính sợ đi xuống đôi tay, hoá thành việc làm, thành miếng bánh và bình an cho người thân và người bên cạnh.

Mỗi ngày, đôi tay vẫn âm thầm bộc bạch những gì trong lòng: có thể chắp lại trước Chúa mà khép lại trước người cần giúp; vừa rời giờ kinh đã có thể để lại một vết thương. Hoán cải là đổi việc tay làm. Chính những điều nhỏ cho biết chúng ta đang xây nhà hay xây mộ. “Hãy làm mọi sự vì tình yêu. Như thế, sẽ không còn việc nhỏ; mọi việc đều lớn!” – Josemaría Escrivá.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đôi tay làm chứng mạnh nhất khi không còn làm được gì. Bị đóng đinh, những bàn tay từng chạm người phong hủi, bẻ bánh và rửa chân nay chỉ có thể dang ra. Nhưng chính ở đó, chúng nói trọn sự thật về Thiên Chúa: Thiên Chúa không chỉ yêu bằng lời, nhưng trao cả Người Con. Vết thương còn đó, bởi tình yêu không cần che giấu: khi hiện ra với các môn đệ, Ngài vẫn mang dấu đinh trên tay. Đôi tay ấy nói đến cùng rằng ‘tay không thể dối’ – không khép lại để kết án, nhưng mở ra trao bình an.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho tay con luôn nói thật lòng con; chắp lại trước Chúa và mở ra trước anh em; không xua đuổi nhưng chúc lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXI TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/seC3Et

Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 23,23-26

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rằng : “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. 24 Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng ! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

25 “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. 26 Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.”


 

Đâu là 2 điều kiện căn bản để Kitô hữu được tha tội? – Cha Vương

Thứ 3 tốt lành trong Chúa và Mẹ nhé. Hãy nhớ nhau trong lời cầu nguyện. Không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thư 3: 25/08/2026.    (t6-23)

GIÁO LÝ: Đâu là 2 điều kiện căn bản để Kitô hữu được tha tội? Hai điều kiện căn bản là: (1) Kitô hữu ăn năn trở lại, và (2) Linh mục nhân Danh Chúa tha tội cho người ấy. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.—Ga 20:23 (YouCat, số 231)

SUY NIỆM: Tha tội: Việc tha tội của linh mục là tha thứ có tính cách bí tích một hay nhiều tội sau khi một người đã sám hối để xưng tội. Công thức để tha tội là: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho… ơn tha thứ và bình an. Vậy tôi (cha) tha tội cho… nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.  (YouCat, số 231 t.t.)

❦ Thiên Chúa biết hết mọi sự. Nhất là Người biết sau khi xưng tội ta lại bắt đầu phạm tội. Dầu vậy Người vẫn tha. Người tha đến nỗi cố tình quên cả trong tương lai (ta sẽ phạm tội) để vẫn cứ tha thứ. (Thánh Gioan Vianney)

LẮNG NGHE: Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi. (1 Pr 4:8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Cha hay thương xót, xin tha thứ cho con vì con thật yếu đuối và mỏng dòn, con hứa với Chúa, rồi lại quên, con quyết tâm, rồi lại buông trôi, con tỏ vẻ mạnh mẽ, rồi khi sóng gió đến con lại ngã gục, té nhào… xin xót thương con Chúa hỡi.

THỰC HÀNH: Dục lòng ăn lăn trở lại cùng Chúa qua việc xét mình mỗi ngày.

From: Do Dzung

*****

Chúa biết lòng con. Ca sĩ: Ngọc Hòa. HD. 

TÔN GIÁO KHÔNG TRỌNG LƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà!”.

“Trọng lượng của tôi là tình yêu; nó mang tôi đi bất cứ nơi đâu!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đời người đi về đâu tuỳ điều gì nặng nhất trong tim – tình yêu. Nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy có một kiểu tôn giáo khắt khe với điều nhỏ mà lỏng lẻo với điều nặng – đó là một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúa Giêsu không trách người Pharisêu vì họ quá tỉ mỉ; Ngài trách vì sự tỉ mỉ ấy đã làm lệch cân. Họ nộp một phần mười bạc hà, thì là, rau húng, nhưng “bỏ những điều quan trọng nhất”. Bản Hy Lạp viết barytera: không chỉ là “những điều quan trọng nhất”, mà còn là “những điều nặng hơn”. Rau thơm có thể đếm, một phần mười có thể cân rồi yên tâm. Bởi thế, họ cân điều nhẹ để khỏi mang điều nặng; rồi nâng điều nhẹ thành tuyệt đối: con muỗi mắc lại trong rây, còn con lạc đà trôi thẳng vào bụng.

Một đời sống đạo có thể rất bận rộn: giữ đủ giờ kinh, ngày chay, khoản dâng cúng, mà lòng vẫn y nguyên. Việc nhỏ dễ chịu vì làm xong là có thể yên tâm; nhưng công lý, lòng nhân và thành tín không cho phép ai đứng ngoài. Chúng đụng đến túi tiền, sự tiện nghi, cả những lối thoát mỗi người âm thầm giữ cho mình. Vì thế, chén đĩa có thể sáng bóng mà bên trong vẫn đầy cướp bóc và vô độ. “Hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã!” – Chúa Giêsu không đòi thêm một việc đạo; Ngài đòi trả lại sức nặng cho việc đang làm. “Nên thánh không hệ tại ở chỗ làm những việc khác, nhưng ở chỗ làm vì Chúa những gì chúng ta thường làm vì mình!” – Brother Lawrence.

Đó cũng là cách Phaolô chuẩn bị tín hữu Thessalônica cho ngày Chúa quang lâm. Trước những tin đồn, họ hoảng sợ; ông không thêm một dấu chỉ, nhưng “Xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành” – bài đọc một. Việc lành có sức nặng vì “Chúa ngự đến xét xử trần gian!” – Thánh Vịnh đáp ca. Chúng ta lo lắng hỏi khi nào Chúa đến; Lời Chúa lại hỏi, đời chúng ta có gì đủ nặng để đặt lên bàn cân khi Ngài đến?

Vậy mà chiếc cân ấy nhiều lúc vẫn lệch, không vì thiếu quả cân, nhưng vì cái tôi đã chiếm mất điểm tựa. Lỗi người khác được đặt lên đĩa công lý; lỗi bản thân, lên đĩa biện minh. “Làm sao hiểu được công lý, nếu không nhìn mọi hành vi trong ánh sáng trọn vẹn?” – Kahlil Gibran. Hoán cải là đưa điểm tựa ra khỏi cái tôi về lại nơi Chúa, để mỗi điều được trả đúng trọng lượng. Linh hồn chỉ có sức nặng khi biết đau điều khiến người khác đau.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “những điều nặng hơn” của Lề Luật không còn là những ý niệm; chúng mang hình thập giá. Thập giá là chiếc cân: một bên là toàn bộ sức nặng tội lỗi, bên kia là tình yêu của Người Con. Không phải tội lỗi bỗng nhẹ đi; nhưng tình yêu đã nặng hơn. Con Thiên Chúa đã đặt mình lên đó và mang lấy phần nặng nhất. Không có thập giá, đời sống đạo dễ trở thành một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chỉnh lại chiếc cân lệch trong con; đừng để con vin vào điều nhỏ mà trốn tránh điều nặng; cho mỗi việc con làm mang trọng lượng của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXI TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/B6Ri17

Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 23,23-26

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rằng : “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. 24 Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng ! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

25 “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. 26 Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.”


 

KHÁT KHAO KHÔNG KHỞI ĐẦU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Làm sao Ngài lại biết tôi?”.

“Hãy an tâm; con đã chẳng tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta!” – Blaise Pascal.

Không phải con người khởi sự đi tìm Thiên Chúa; chính Thiên Chúa đã có mặt nơi tâm điểm khát khao của con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Nathanael đi tìm Chúa Giêsu; gặp Ngài, ông ngỡ ngàng vì đã được Ngài biết từ trước. Con người khát khao Thiên Chúa – một ‘khát khao không khởi đầu’ – bởi Thiên Chúa đã đi trước trong chuyển động ấy.

Được Philipphê giới thiệu, Nathanael dửng dưng, “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?”. Nhưng ông vẫn đến. Và chính nơi cuộc gặp ấy, ông bị chặn lại bởi một lời không ngờ: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối!”. Nathanael nghẹt thở, “Làm sao Ngài lại biết tôi?”. Trước khi Nathanael kịp hiểu, Chúa Giêsu nói thêm: “Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh còn ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi”. Không phải ông được biết sau cuộc gặp, nhưng đã được biết từ trước.

Một lời như sấm rền khiến Nathanael ngẩn ngơ. Toàn bộ hữu thể ông như tan chảy trước một cái nhìn đã đọc đến tận cùng; những dè dặt, hoài nghi bỗng rơi xuống, để phần thật nhất nơi ông lộ ra như vàng ròng. Nhưng lạ thay, bị nhìn thấu, ông không thấy mình bị kết án; trái lại, ông nhận ra mình đã được chờ đợi từ lâu. Điều ông tưởng là khát khao thực ra đã được chạm tới từ trước. Có lúc chúng ta tưởng mình bắt đầu; nhưng hoá ra, đó chỉ là một ‘khát khao không khởi đầu’, vì đã có một khởi đầu khác đi trước.

Người vừa hỏi Nazareth nào có gì hay, cuối cùng lại được ghi tên trong thành thánh: “Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” – bài đọc một. Chúa Giêsu không chỉ thấy Nathanael đang là ai, nhưng còn thấy ông sẽ trở thành ai: một kẻ hoài nghi thành tông đồ, một người đứng ngoài nên nền móng.

Để trở thành con người Chúa đã thấy trước, Nathanael đã dám ở lại dưới cái nhìn ấy. Không phải ai cũng dám như ông; nhiều khi, chúng ta lại tìm cách lẩn tránh. Bởi được biết không chỉ là được hiểu, nhưng là để ánh sáng chạm tới tận đáy lòng và xuyên qua mọi lớp che phủ. “Được biết mà không được yêu là nỗi sợ sâu nhất của con người; nhưng được biết trọn vẹn và được yêu thật sự, đó là điều con người khao khát nhất!” – Timothy Keller.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái nhìn thấu suốt không kết án, nhưng cứu độ. Trên thập giá, Ngài thấy hết sự phản bội, hèn nhát và tội lỗi của con người; vậy mà vẫn mở rộng vòng tay. Đức Kitô không yêu chúng ta vì Ngài chưa biết hết; Ngài biết hết mà vẫn yêu. Điều khiến người đời bớt yêu lại khiến Ngài yêu nhiều hơn. Bởi thế, cuộc trở về của chúng ta vẫn là một ‘khát khao không khởi đầu’: trước khi chúng ta khao khát được cứu, Chúa đã khao khát cứu chúng ta. Không ai còn bị đóng đinh vào con người cũ; mỗi người được gọi về với con người Thiên Chúa đã thấy từ đời đời. “Không phải tội lỗi của chúng ta lớn, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không góc khuất nào trong con nằm ngoài ánh mắt Chúa; xin đừng để con trốn chạy khi được nhìn thấu; nhưng dám ở lại với Đấng khát khao con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa KÍNH THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ. 

24/8, Thứ Hai, Tuần XXI TN: 

https://bom.so/TRzsCt

Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 1,45-51

45 Khi ấy, ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói : “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.” 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo : “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?” Ông Phi-líp-phê trả lời : “Cứ đến mà xem !” 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng : “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” Đức Giê-su trả lời : “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói : “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” 50 Đức Giê-su đáp : “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin ! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”


 

“Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Đức Ma-ri-a Nữ Vương. Xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con đang vất vả trên đường lữ hành tiến về quê trời.

Với Đức Maria tâm hồn hướng về mầu nhiệm Chúa Giêsu.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 22/08/2026.    (t5-24)

TIN MỪNG: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)

SUY NIỆM: Có người đặt câu hỏi để gài bẫy thánh Bernadette khi còn là một thiếu nữ : “Con thích gì hơn, rước lễ hay thấy Đức Mẹ hiện ra ở hang đá?” Vị thánh nhỏ suy nghĩ một phút rồi trả lời: “Đúng là một câu hỏi kỳ lạ! Chúa Giê-su và Đức Mẹ không thể tách riêng ra. Cả hai lúc nào cũng phải đi với nhau.” Từ giây phút thụ thai trong lòng Đức Mẹ, Đức Giê-su và Mẹ của Ngài luôn nối kết với nhau. Không lạ gì Con về trời thì Mẹ cũng phải được lên trời cả hồn lẫn xác. Đức Mẹ được đưa lên trời để được tôn phong là Nữ vương thiên đàng, Nữ vương vũ trụ. Mẹ thi hành tước vị Nữ vương ấy trong tư thế của một người mẹ, người mẹ của tất cả nhân loại, và là mẹ của từng người. Trong lịch sử Giáo Hội, Mẹ đã nhiều lần hiện ra để cứu giúp con cái gặp cảnh gian nguy, cảnh tỉnh con cái sửa đổi đời sống, nhắn nhủ con cái sống đúng tư cách môn đệ Chúa Ki-tô. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng: “Đức Ma-ri-a là người đầu tiên đi ‘con đường’ vào Nước Trời mà Đức Ki-tô đã mở, một con đường chỉ đạt được dành cho những người khiêm tốn, tin tưởng nơi Lời Chúa và nỗ lực đem ra thực hành” (Đức Bê-nê-đi-tô 16). Mời bạn hãy đi con đường Đức Mẹ đã đi, để cũng được phần thưởng cao quý là hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa như Mẹ.

LẮNG NGHE: Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Ma-ri-a là Nữ vương vũ hoàn, và là Mẹ con, con cảm tạ Mẹ luôn đồng hành với con trong mọi nẻo đường con đi, mọi khoảnh khắc quãng đời con sống. Xin cho con cũng biết noi gương Mẹ, đi con đường vào Nước Trời mơ ước. Amen.

THỰC HÀNH: Mỗi tối tôi đọc chậm rãi, sốt sắng ba kinh Kính Mừng kính Đức Mẹ, xin ngài nâng đỡ bạn sống xứng đáng con cái Thiên Chúa mọi ngày.

From: Do Dzung

*****

MARIA NỮ VƯƠNG | Phạm Đức Huyến – Vũ Đình Ân

TRỜI LUÔN ĐI TRƯỚC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

“Chúng ta không thể bước nổi một bước về phía trời; Thiên Chúa băng qua vũ trụ để đến với chúng ta!” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Phêrô tưởng mình đang trả lời một câu hỏi dưới đất; Chúa Giêsu cho biết điều ông nói đến từ trời. Khi con người chưa kịp bước, ‘Trời luôn đi trước’.

“Người ta nói Con Người là ai?”; “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Đám đông chỉ gọi Chúa Giêsu bằng những cái tên đã biết. Phêrô không đặt Ngài vào hàng bất cứ ai: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Khoảng cách giữa hai câu trả lời nằm ở nguồn phát sinh: một bên đi lên từ ký ức của đất, một bên đi xuống từ mặc khải của Trời. Mặc khải không đến như phần thưởng của trí tuệ, nhưng đi trước để lời tuyên xưng có thể cất lên. Trước khi miệng người mở ra để nói về Chúa, Trời đã băng qua vũ trụ để xuống tận lòng người.

Chỉ sau khi xác nhận nguồn của lời tuyên xưng, Chúa Giêsu mới nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá”; “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời”. Đức tin đi trước quyền bính. Phêrô là đá, nhưng Đấng xây Hội Thánh vẫn là Chúa Kitô; ông giữ chìa khoá, nhưng không phải để buộc trời theo ý đất, mà để đất không đi lạc ý trời. Chìa khoá chỉ mở đúng cửa trong tay người biết vâng phục.

Chìa khoá ấy đã được báo trước. “Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Engiakim”; “Chìa khoá nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó” – bài đọc một. Trước khi mở một cánh cửa, trách nhiệm đã được đặt lên vai người nhận. Người giữ khoá có thể thay, nhưng quyền vẫn đến từ Đấng trao. Phaolô đưa mọi sự về nguồn: “Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người” – bài đọc hai. Mặc khải do Trời, lời tuyên xưng nhờ Trời, quyền bính quy về Trời. “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang!” – Thánh Vịnh đáp ca. Con người cầm chìa khoá, nhưng chỉ Thiên Chúa mới hoàn tất công trình.

Chúng ta thường muốn đóng mở đời người khác trước khi hỏi ý Chúa. Nhiều tổn thương gia đình, cộng đoàn không bắt đầu từ ác ý, nhưng từ những người thiện chí đi trước Trời. Đức tin không chỉ hỏi, “Tôi có thể làm gì?”, nhưng còn hỏi, “Chúa đã đi trước tôi thế nào?”. “Để bản sắc Kitô hữu không bị thu hẹp thành một tàn tích của quá khứ, chúng ta phải vượt qua một đức tin mệt mỏi và trì trệ!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Trời không chỉ gửi xuống một mặc khải; Trời đến bằng một khuôn mặt. Phêrô được trao chìa khoá, nhưng Đức Kitô là Cửa; Phêrô được gọi là đá, nhưng Đức Kitô vẫn là đá góc tường. Ngài bước vào nơi không ai muốn bước – cô độc, khổ đau và sự chết – để mở lối không ai có thể mở. Vì thế, cả khi chúng ta vác thập giá, con đường trước mặt đã có dấu chân và dấu máu của Ngài. ‘Trời luôn đi trước’ để gánh lấy điều đang đợi chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết lắng nghe trước khi lên tiếng; tìm ý Chúa trước khi khoá một ai; và theo dấu chân Chúa trước khi dẫn người khác về với Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

: https://bom.so/VQwNn8

Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 16,13-20

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.


 

ĐẠI HỒNG PHÚC CHO NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 16,13-20) Chúa nhật 21 TN năm A)

 “Khi Chúa Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.”  

 Như vậy, vào thời điểm đó, chẳng có ai biết Chúa Giê-su là ai.

 Thế rồi, Chúa Giê-su quay sang hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”  

 Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 

Khi nghe thánh Phê-rô đáp như vậy, Chúa Giê-su tỏ ra vui mừng hân hoan vì Phê-rô đã nhận biết căn tính của Ngài. Ngài nói: 

 “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 13-17). 

Diễm phúc được nhận biết Chúa  

Nếu hôm nay, Chúa Giê-su đặt lại câu hỏi đó với mỗi người chúng ta: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” thì chúng ta có thể trả lời trúng phóc: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

 Bấy giờ, chắc chắn Chúa Giê-su cũng xác nhận chúng ta là người có phúc, vì không phải do khà năng tự nhiên, nhưng là nhờ Thiên Chúa Cha mặc khải cho, chúng ta mới biết mầu nhiệm cao trọng nầy.

 Thế thì chúng ta cũng là người được diễm phúc như thánh Phê-rô năm xưa.

Tại sao vậy?

 Trong số 100 triệu người Việt Nam, chỉ có gần tám triệu người Công giáo.  Chúng ta may mắn được liệt vào cộng đồng tuy ít ỏi nhưng đầy diễm phúc nầy. 

Điều mà các vị ngôn sứ tầm cỡ như Ê-li-a, I-sai-a, Mô-sê… ngày xưa và ngay cả các nhà hiền triết, các bậc khôn ngoan thông thái… chưa từng được nghe, chưa được thấy, chưa từng biết… thì Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta là những người bé mọn. Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận đây là đại phúc. Ngài nói: 

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13, 16-17).

 Tiếc thay, mặc dù đa số chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa từ tấm bé, nhưng dường như chúng ta chưa hề cảm nhận được niềm vui được làm con Chúa.

Đây là hạnh phúc vô cùng cao quý, đến mức Chúa Giê-su cảm thấy hoan lạc dâng cao trong tâm hồn, nên Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha thay cho chúng ta: “Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11, 25).

Đúng thế, chúng ta diễm phúc vì trong khi nhiều nhà khoa học, nhiều người thông thái, các bậc khôn ngoan ở đời… còn chưa nhận biết gì về Thiên Chúa; thì chúng ta được mặc khải cho biết:

 Thiên Chúa là Đấng tạo dựng Trời Đất muôn vật muôn loài, Ngài là Vua Hoàn Vũ;

– Ngài cũng là Người Cha yêu quý đã tác tạo nên mọi người trên Trái Đất; 

– Ngài nâng chúng ta lên làm con chí ái của Ngài, thế là chúng ta trở thành những hoàng tử, những công chúa yêu dấu của Vua Trời. 

Và Chúa Giê-su cũng dạy chúng ta thay vì thưa với Chúa Cha là: Muôn tâu Thánh thượng hoặc: Tâu Phụ vương như thói đời, thì hãy thân thưa với Ngài cách thân mật là: Abba!, Bố yêu ơi!

Đây là hồng ân đặc biệt, là diễm phúc tuyệt vời mang lại hạnh phúc cho chúng ta đời nầy và cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

 Lạy Thiên Chúa toàn năng,

Chúng con hết lòng chúc tụng tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con diễm phúc nhận biết, yêu mến và tôn thờ Chúa từ lúc mới có trí khôn. Xin cho chúng con cố gắng giới thiệu Chúa cho nhiều người chưa nhận biết Chúa, để họ cũng được phúc làm con Cha như chúng con. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

 *****

Tin mừng Mát-thêu, 16, 13-20

13 Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.      


 

GIÊ-SU – THẦN TƯỢNG ĐỜI TÔI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Tại Việt Nam, thời gian gần đây, trong ngôn ngữ của giới trẻ, chúng ta thường thấy cụm từ nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh.  Đó là “đu Idol.”  “Đu” là tiếng Việt, “Idol” là tiếng Anh.  “Đu” theo nghĩa này có nghĩa là chạy theo, hâm mộ đến mức cuồng tín mê man.  “Idol” là thần tượng.  Chủ thể của “Đu Idol” hầu hết là thanh niên nam nữ.  “Idol” của họ là những người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá, diễn viên điện ảnh.  Trong một số trường hợp, “Idol” lại là những “giang hồ mạng,” là những kẻ vô học và những người có phát ngôn ngông cuồng, thiếu chuẩn mực đạo đức.  Vậy mà vẫn có những người coi là “Idol – thần tượng” của mình.  Việc chạy theo thần tượng là điều không có gì lạ.  Việc hâm mộ và tôn vinh những tài năng là điều chẳng có gì đáng trách.  Tuy vậy, về phương diện ngữ học cũng như về khía cạnh đức tin, chúng ta cũng cần tìm hiểu để sử dụng ngôn từ cho chính xác.

 Trong truyền thống Cựu ước, “Idol” được dịch là thần tượng, ngẫu tượng, ngẫu thần, tà thần.  Từ điển Công giáo Việt – Anh giải thích: “Theo nghĩa rộng, ngẫu thần là bất cứ điều gì được gán cho địa vị tối cao vốn chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Theo nghĩa hẹp, ngẫu thần là một đồ vật, thường mang dáng con thú hoặc hình ảnh biểu tượng chỉ thần, và được thờ thay cho Thiên Chúa đích thật.”  Như thế, thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng.  Các ngôn sứ của Cựu ước kịch liệt lên án các loại hình thờ ngẫu tượng, và các ông gọi đó là phản bội, là bất trung, giống như người vợ hay chồng ngoại tình.  Chúa phán trong sách Lêvi: “Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ.  Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,4).  Thánh Phao-lô cũng lên án thờ ngẫu tượng, khi ngài viết: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa” (1 Cr 10,7-8).  Tác giả Thánh vịnh còn chế giễu: “Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành.  Có mắt có miệng, không nhìn không nói, có mũi có tai, không ngửi không nghe.  Có hai tay, không sờ không mó, có hai chân, không bước không đi, từ cổ họng, không thốt ra một tiếng.  Tác giả còn chúc dữ: “Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-8).

 Yêu mến người tài, yêu mến cái đẹp và tôn vinh những tài năng, đó là điều hoàn toàn chính đáng.  Tuy vậy, suy tôn đến mức để cho những nhân vật và sự vật ấy thay thế vị trí của Thiên Chúa, thì đó là chọn nhầm lý tưởng, gọi là tội thờ ngẫu tượng.

 Một ngày nọ, Chúa Giê-su đặt câu hỏi với các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?”  Sau khi nghe các ông trả lời theo dư luận quần chúng, Chúa Giê-su muốn các ông phải xác định rõ ràng hơn: “Còn các anh, các anh bảo Thầy là ai?”  Câu hỏi này cũng tương tự như câu hỏi: các anh chọn ai là “Idol” của mình?  Tông đồ Phê-rô đã trả lời: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Câu trả lời của Phê-rô là lời tuyên xưng Đức tin.  Lời tuyên xưng này có ơn soi sáng của Chúa, như Chúa Giê-su đã nói khi Người khen ngợi ông Phê-rô: “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thày, Đấng ngự trên trời.”  Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần (1 Cr 12,3).  Chúa Giê-su còn khẳng định điều này trong lời cầu nguyện với Chúa Cha: “Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25).  Không có ơn soi sáng của Chúa, chúng ta không thể nhận biết và tin vào Người.

 Nếu chúng ta có dịp đến hành hương tại Đền thờ Thánh Phê-rô ở Rôma, khi viếng mộ Thánh Phê-rô, ở khu bàn thờ chính của Đền thờ, chúng ta sẽ nhìn thấy một tấm biển bằng đồng, khắc chữ La-tinh hai câu nói của Thánh Phê-rô.  Câu thứ nhất: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16); câu thứ hai: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai?” (Ga, 6,68).  Câu thứ nhất là lời tuyên xưng Đức tin; câu thứ hai là lời hứa trung thành.  Hai câu nói này đã làm nên dung mạo của vị Tông đồ trưởng.  Ông đã được Đức Giê-su đặt làm nền tảng Giáo Hội, đồng thời trao quyền cai quản và điều hành cộng đoàn tín hữu tin vào Chúa Giê-su trên toàn thế giới.  Những ai đến viếng mộ Thánh Phê-rô, được mời gọi tuyên xưng Đức tin và tuyên hứa trung thành với Chúa.  Xưa cũng như nay, ơn gọi luôn là một huyền nhiệm.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ I-sai-a ghi lại: Thiên Chúa đã chọn ông En-gia-kim làm vua và ban cho vương quốc hùng mạnh an bình.  Chính Ngài củng cố quyền lực của vị vua này.  Ngài trao chìa khoá nhà Đavít cho ông, và làm cho vương quyền của ông vững bền.

 Thần tượng và lý tưởng của người Ki-tô hữu là chính Đức Giê-su.  Ơn gọi Ki-tô hữu là nên giống Đức Giê-su trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Các tông đồ đã chọn Đức Giê-su làm lý tưởng.  Họ đã chết để làm chứng rằng sự lựa chọn của họ là chính đáng và cao cả.  Để được nên giống Chúa Giê-su là “Idol” của mình, chúng ta phải năng gặp Người.  Cuộc gặp gỡ thân tình nhất, là gặp gỡ qua lời cầu nguyện, vì khi cầu nguyện là ta tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với ta, thân thiết gần gũi như một người Bạn.  Cầu nguyện để càng ngày càng nhận biết Đức Giê-su là Ai đối với bản thân mình.

 “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”  Chúa Giê-su đã đổi tên cho ông Si-mon và cho ông một tên mới là Phê-rô.  Việc đổi tên đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời.  Phê-rô là Tảng Đá.  Giáo Hội của Đức Giê-su đặt nền trên chính Tảng Đá ấy.  Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội luôn đứng vững đã hai ngàn năm, và sẽ còn vững vàng cho tới khi Chúa Giê-su đến trong vinh quang.

 Khi lĩnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa Giê-su là IDOL, là LÝ TƯỞNG cho đời mình.  Xin cho chúng ta luôn trung thành với lựa chọn ấy.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên


 

ĐÚNG HẾT, VẪN CHẾT- Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

“Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.

“Ca mổ thành công, nhưng bệnh nhân đã chết!”. Câu nói phi lý ấy phơi bày một sự thật lạnh người: mọi thao tác có thể đúng mà mục đích vẫn thất bại.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy đời sống đức tin của chúng ta cũng thế: có thể giữ đúng từng điều luật, chu toàn mọi thực hành, nhưng nếu trái tim không còn yêu, chúng ta ‘đúng hết – vẫn chết’.

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu về một giới răn; Ngài trả lời bằng hai: yêu Chúa và yêu người. Ngài đặt chúng ở nơi toàn bộ Lề Luật phải bám vào. Bản Hy Lạp viết krématai – “tuỳ thuộc”; không chỉ tuỳ thuộc mà còn có nghĩa “treo vào, móc vào”. Toàn bộ Luật Môsê và các sách ngôn sứ chỉ sống khi được treo vào tình yêu. Tách khỏi tình yêu, điều đúng vẫn còn đó, nhưng sự sống đã rời đi.

Chúa Giêsu biết người ta dễ nói yêu Thiên Chúa vô hình hơn yêu người đang làm mình khó chịu. Vì thế, khi nói “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy”, Ngài không thêm một phần phụ, nhưng chỉ ra nơi tình yêu dành cho Thiên Chúa được kiểm chứng. Người ta có thể đúng khi nói về Chúa mà vẫn sai trong cách cư xử với người; có thể bảo vệ chân lý mà làm tổn thương phẩm giá của họ; thậm chí, dùng Lề Luật để khỏi phải yêu. Khi ấy, giữ luật trở thành một lối trốn khỏi tình yêu. “Ngay cả chữ viết của Tin Mừng cũng sẽ giết chết, nếu bên trong không có ân sủng chữa lành của đức tin!” – Tôma Aquinô.

Thị kiến Êzêkiel gọi đúng tên bi kịch ấy. Xương đã nối với xương, gân thịt đã mọc, da đã phủ bên ngoài; không gì sai chỗ, “nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng”. Sự chết mang dáng vẻ một trật tự hoàn chỉnh, chỉ thiếu một điều: thở! Đời sống đạo cũng thế: mọi sự có thể đâu vào đó, mà bên trong vẫn lạnh. Chỉ khi được thần khí làm cho sống, chúng ta mới có thể cất lên từ chính kinh nghiệm của mình: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có những ngày chúng ta không sai nguyên tắc nào, nhưng người bên cạnh lại ngạt thở. Tin Mừng không dừng ở câu hỏi “Tôi có đúng không?”; nó còn hỏi: “Người trước mặt tôi có được sống hơn không?”. Nếu sau khi gặp chúng ta, họ nhỏ lại, tuyệt vọng hơn hoặc xa Chúa hơn, cái đúng ấy có lẽ cần được treo lại vào tình yêu.

Anh Chị em,

“Đức Kitô dạy và trao phó cho các môn đệ một tình yêu lấy chính tình yêu của Ngài làm khuôn mẫu!” – Gioan Phaolô II. Ngài không chỉ treo toàn bộ Lề Luật vào hai giới răn ấy; Ngài treo chính đời mình vào đó. Trên thập giá, hai giới răn không còn đứng cạnh nhau, nhưng nên một trong thân xác hiến tế của Ngài. Được Chúa Cha làm cho sống lại, Ngài trao Thần Khí cho những trái tim khô cứng đập lại nhịp yêu thương. Trong Ngài, chúng ta không được mời gọi bớt đúng, nhưng phải đúng theo cách của Thiên Chúa: đúng để cứu sống; bằng không, vẫn có thể ‘đúng hết – vẫn chết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; thật mà thiếu thương; sốt sắng với Chúa mà làm anh chị em con ngạt thở!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://bom.so/HqSuyO

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 22,34-40

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.” 


 

Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?- Cha Vương

 Chúc bình an đến bạn và gia đình. Chúa đang tìm bạn đó, bạn có bật điện thoại lên không vậy?😀 Nhớ cầu nguyện cho nhau và những người đang đau khổ và thế giới được Hòa Bình nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/08/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?

– Vì Thiên Chúa đã đặt trong lòng ta ước mong tìm Người và gặp được Người. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Thiên Chúa, và lòng chúng con không nghỉ yên cho tới khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa.” Sự ước mong tìm Thiên Chúa đó ta gọi là tôn giáo. (Youcat, số 3)

SUY NIỆM: Con người đi tìm Thiên Chúa là chuyện tự nhiên. Mọi khát vọng sự thật và hạnh phúc rốt cuộc chỉ là đi tìm đến Đấng chứa đựng nó một cách tuyệt đối, đến thỏa mãn nó một cách tuyệt đối, và Đấng có trách nhiệm về nó một cách tuyệt đối. Một người chỉ hoàn toàn là chính mình khi họ đã tìm được Thiên Chúa. “Ai tìm sự thật là tìm Thiên Chúa, dù họ có ý thức hay không” Thánh Edith Stein. 

❦ Nói đến “tôn giáo” ta thường hiểu rằng đó là chuyện quan hệ với thần linh. Một người có tôn giáo nhận biết rằng trong sức mạnh đã tạo dựng họ và tạo dựng thế giới có một cái gì là thần linh, một sức mạnh mà họ phải lệ thuộc vào và họ phải hướng tới. Trong lối sống của họ, họ sẽ tìm cách làm đẹp lòng thần linh và tỏ lòng tôn kính thần linh.

❦ Nguồn vui của Kitô hữu là biết chắc rằng họ được Thiên  Chúa yêu thương, yêu thương thân mật bởi Đấng Tạo hóa… yêu thương bằng một tình yêu đam mê và trung tín, một tình yêu lớn hơn là những bất trung và tội lỗi của ta, một tình yêu luôn tha thứ. (Đức Bênêđictô XVI) (Youcat, số 3 t.t.)

   Trong cuộc đời theo lẽ tự nhiên, bạn tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, người tri kỷ, tình bạn, tình cảm, viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sáng tạo, vui chơi, hài hước và hoan lạc. Tất cả những sự tìm kiếm tự nhiên đều hướng về Chúa trừ khi bạn biến nó thành những gì không tự nhiên. Vấn đề cần phải đưa ra phân định là khi nào bạn biến những gì tự nhiên thành những gì không tự nhiên. Trong thế giới “vàng thau lẫn lộn” này, bạn dễ bị nhầm lắm. Khi bạn tìm kiếm Chúa trong mọi lãnh vực thì bạn sẽ tìm được Sự Thật thôi!

LẮNG NGHE: Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. (Mt 6:33)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. (Tv 63:2)

THỰC HÀNH: Bỏ ra ít phút để tìm Chúa trong hơi thở, trong sự nghỉ ngơi vui chơi với người thân yêu.

From: Do Dzung

*****

Tìm Về Bên Chúa (Sáng tác: Jerome) – Đình Quynh