Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24) – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay thứ 7, xin Mẹ Maria đoái thương đến nhân loại đang bị chiến tranh, đại dịch đe doạ. Nhớ nhau trong lời kinh nguyện nhé.

Bạn có được 1 quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương vào nơi oán thù.

Cha Vương

Thứ 7: 28/03/2026. (t3-23)

TIN MỪNG: Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24)

SUY NIỆM:  Chúa nói: muốn hiểu và tin lời Chúa thì phải ngước tầm nhìn lên cao: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông mới biết là Tôi Hằng Hữu.” Và chỉ khi nào tin Chúa Giêsu Hằng Hữu, lúc đó mới khỏi “mang tội lỗi mình mà chết.” Nhiều lúc cuộc đời bạn giống như chiếc xe bị lún xuống vũng lầy: càng gầm rú lại càng bị lún sâu. Mải mê làm ăn, mong có một cuộc sống thoải mái. Nhưng khổ nỗi, đã có rồi lại muốn hưởng thụ thêm; và vì thế có khi lại vướng mắc vào những đam mê tội lỗi, muốn tháo gỡ ra thì lại bị đắm sâu hơn. Bạn ơi, nếu cứ để mình bị sa đà trong việc hưởng thụ, thì không bao giờ bạn thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những sự hạ giới. Đừng để mình phải chết trong tội như thế, nhưng hãy ngước nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá để Chúa nâng bạn lên với Ngài.

LẮNG NGHE: Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? / Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA là Đấng dựng nên cả đất trời. / Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. / Chính CHÚA là Đấng canh giữ bạn, chính CHÚA là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. (Tv 121:1b,2,3,5)

CẦU NGUYỆN: Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn, / tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. / Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt, / trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe / và mau mau đáp lời. (Tv 102:1-3) Đừng để con chết trong vũng lầy tội lỗi.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội và cố gắng tránh xa dịp tội nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hãy Đưa Con Trở Về – Trung Quân 

 Đức Hồng y Văn Thuận: Niềm hy vọng tồn tại trong mọi hoàn cảnh

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Nhân kỷ niệm 50 năm xuất bản cuốn sách Đường Hy Vọng, một hội nghị đã suy tư về cuộc đời và di sản của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – vị mục tử đã trải qua 13 năm tù đày tại Việt Nam.

Sau 13 năm bị giam giữ như một tù nhân chính trị – trong đó có 9 năm biệt giam – cuốn sách Đường Hy Vọng của Đấng Đáng Kính Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vẫn tiếp tục mang lại niềm hy vọng và nguồn cảm hứng cho nhiều người trên khắp thế giới, sau 50 năm kể từ ngày xuất bản.

Được thụ phong và sống đức tin Công giáo giữa bối cảnh chế độ Cộng sản chống Công giáo tại Việt Nam trong những năm 1970–1980, khi còn là Giám mục Nha Trang, ngài đã bị bắt và giam giữ mà không qua xét xử. Năm 2002, ngài qua đời tại Roma, và 15 năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên phong ngài là Đấng Đáng Kính.

Ngày nay, tại chính nơi – Hội trường Hiệp ước Lateran thuộc Điện Lateran – nơi đã ký kết kết thúc giai đoạn cấp giáo phận trong tiến trình phong chân phước cho ngài vào năm 2013, một hội nghị kỷ niệm 50 năm cuốn sách đã làm nổi bật tầm quan trọng của tác phẩm này cũng như di sản lâu dài của vị Hồng y.

Những điểm nổi bật của hội nghị

Ngay khi khai mạc, người điều phối chương trình – nhà báo Vatican Media Alessandro De Carolis – cho biết ĐGH Lêô XIV đã gửi sứ điệp chúc mừng. Trong sứ điệp do Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin ký, Đức Thánh Cha bày tỏ lời chúc tốt đẹp và nhấn mạnh rằng sự kiện này giúp khám phá lại “chứng tá Kitô hữu nhiệt thành” của một “mục tử quảng đại”, mà tấm gương của ngài “vẫn còn rất актуal hôm nay”.

Đức Thánh Cha khẳng định: “Niềm hy vọng Kitô giáo phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và được thể hiện qua một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân.”

Dâng hiến cho một dân tộc bị chia cắt

Suy tư về cuộc đời của vị Hồng y Việt Nam, Đức Hồng Y Michael Czerny nhận định rằng ngài không chỉ cổ võ công lý và hòa bình, mà còn là hiện thân sống động của những giá trị ấy trong lời nói và hành động.

Cuộc đời ngài phản ánh chính sứ mạng của mình: phục vụ như một tuyên úy tại bệnh viện, nhà tù và các trại phong; khởi xướng nhiều sáng kiến giáo dục và xã hội; đồng thời dấn thân cổ võ hòa giải trong một đất nước bị chia rẽ.

Ngay cả trong thời gian bị giam cầm, thái độ ấy vẫn không thay đổi. Ngài đối xử với mọi người – từ các tù nhân, dù là Kitô hữu hay không, cho đến các cai ngục – bằng tình yêu thương và sự tôn trọng.

Sau khi được trả tự do năm 1988, và từ năm 1991 sống tại Roma mà không thể trở về quê hương, ngài vẫn tiếp tục thực hiện những công việc đáng kinh ngạc: nâng đỡ người tị nạn Việt Nam trên toàn thế giới cả về nhân bản lẫn thiêng liêng, xây dựng mạng lưới trợ giúp quốc tế và nhiều sáng kiến mục vụ khác.

Di sản của ngài còn được thể hiện qua sự đóng góp vào việc hình thành Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo hội, nhằm đáp lại tiếng kêu đòi công lý xã hội dưới ánh sáng đức tin Công giáo.

Ký ức của người em gái

Bà Élisabeth Nguyễn Thị Thu Hồng – em gái của Đức Hồng y – chia sẻ rằng ngày nay “tất cả chúng ta đều chứng kiến quyền năng của sự hiện diện của Thiên Chúa qua câu chuyện của vị mục tử bị tách rời khỏi đoàn chiên, nhưng vẫn hiệp nhất sâu xa nhờ Lời Chúa”.

Bà nhắc lại truyền thống gia đình: ngay cả trước thời của anh mình, gia đình đã bị bách hại, thậm chí có người bị giết vì đức tin. Từ năm 1845 đến 1862, các cuộc bách hại nhằm làm cho người Công giáo từ bỏ đức tin đã khiến nhiều Kitô hữu hy sinh mạng sống.

Thế nhưng, người Kitô hữu Việt Nam không chối bỏ đức tin. Họ vẫn trung thành, gắn bó với Lời Chúa và những lời kinh được viết trên những mảnh giấy nhỏ giấu kín trong tư trang. Nhiều thế kỷ sau, vào năm 1975, điều đó vẫn tiếp diễn khi các tín hữu kiên vững trong đức tin giữa bách hại.

Chính trong hoàn cảnh ấy, “1001 suy niệm” của Đức Hồng y Văn Thuận được chuyền tay trong các gia đình, trong phòng giam và các trại học tập. Đến thập niên 1980, những suy niệm này được tập hợp thành cuốn Đường Hy Vọng.

Những lời suy niệm ấy đã mang “sự hiện diện của Chúa Giêsu đến với những người đang đau khổ” và trở thành di sản thiêng liêng cho nhiều người trên thế giới, đặc biệt tại châu Á.

Một mẫu gương đích thực của đời sống Kitô hữu và linh mục

Dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, Đức Hồng y Văn Thuận vẫn luôn kiên vững trong đức tin. Đức Hồng y Lazzaro You Heung-sik, Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, nhấn mạnh rằng sau khi mất tất cả, vị Hồng y Việt Nam đã “đưa ra một chọn lựa mới mẻ và rất sâu xa cho Chúa: chọn chính Thiên Chúa, chứ không phải những công việc của Thiên Chúa.”

Ngài được mô tả là một con người hiền hòa, bình an và tự do nội tâm, luôn thao thức cho đời sống linh mục, và có khả năng loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh – kể cả những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Ngay trong tù, ngài đã cảm hóa nhiều người. Một cai ngục sau này đã xin lãnh bí tích Rửa tội, và chia sẻ: “Gặp Đức cha Thuận là cuộc gặp gỡ quan trọng nhất đời tôi. Ngài đã dẫn tôi đến con đường trở thành công dân Nước Trời, công dân của công lý và hòa bình.”

Từ Việt Nam đến Hoa Kỳ: sứ điệp cho hôm nay

Trong bối cảnh thế giới đầy xung đột và bạo lực, Đức Giám mục phụ tá Nguyễn Thái Hành (Orange, California) nhấn mạnh rằng cuốn Đường Hy Vọng nhắc nhở rằng niềm hy vọng không đến từ bên ngoài.

Cuốn sách mời gọi con người suy tư về nguồn gốc của hy vọng. Cuộc đời của Đức Hồng y Văn Thuận chứng minh rằng hy vọng phát sinh từ niềm tin rằng không có gì trên thế gian có thể tách chúng ta khỏi đức tin.

Ngài từng nói với một tù nhân Phật giáo: “Người Cộng sản có thể lấy đi mọi thứ, nhưng không thể lấy đi đức tin của anh.”

Và để trả lời cho câu hỏi: sau 50 năm, thế giới có thể rút ra điều gì từ cuốn sách này, Đức Cha Nguyễn Thái Thành khẳng định:

“Không có gì có thể đánh bại niềm hy vọng ấy, nếu chúng ta thực sự tin vào Đức Giêsu Kitô và bước theo Người cách trung thành và chân thành.”

Kielce Gussie

Nguồn: Vatican News


 

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU – Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Nụ hôn diễn tả tình yêu.
Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu.  Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người.  Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn.  Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn.  Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước.  Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn. 

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản.  Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7, 37. 

Trong mái nhà Nagiaret, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này.  Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

 Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48).  Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26, 48//Mc Mc 14, 44//Lc 22, 47); chữ “hôn” ở đây là phileô.  “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26, 49//Mc 14, 45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn.”  Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn,” “cái hôn thắm thiết,” để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể!  Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn… 

Cái hôn của người phụ nữ vô danh.  Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7, 36-50).  Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.  Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 38).  Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết.”  Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org). 

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu.  Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn. 

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn.  Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung.  Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ.  Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn.  Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động. 

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48).  Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu.  Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.  Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi!  Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22, 48).  Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài.  Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn.  Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu.  Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất. 

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26, 15; Mt 27, 3.9).  “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14, 5; Ga 12, 5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26, 6-13; Mc 14, 3-9; Ga 12, 1-8).  Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền,” nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26, 8; Mc 14, 4).  Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì?  Sao không bán để giúp cho người nghèo?”  Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em.”  Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực.

 Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau.  Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản.  Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút. 

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người.  Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy.  Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời.  Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất.  Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình. 

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán.  Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa.  Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp. 

 Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án.  Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai.  Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa.  Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác.  Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác….  Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.  

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn.  Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn.  Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu.  Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

 Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao?  Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không?  Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?

 Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn.  Yêu đòi phải hy sinh cho nhau.  Hy sinh là bảo chứng của tình yêu.  Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu. 

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức.  Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ.  Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một. 

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng.  Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm phản bội.  Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp… có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta.  Thực tế cuộc sống xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái dối gạt cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mà đánh mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những thảm họa đau thương.  Chúa Giêsu biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18).  Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).  Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8). 

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3).  Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách!  Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung. 

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với anh chị em, luôn biết sống yêu thương với hết mọi người.  Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim


 

LƯƠNG TÂM TRONG SÁNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Có nhiều kẻ đã tin vào Người”.

“Nhìn từ đỉnh đầu Nữ Thần Tự Do, tôi kinh ngạc trước mái tóc. Nhà điêu khắc biết chi tiết ấy hầu như không ai thấy – ngoại trừ loài mòng biển. Vậy mà ông vẫn chăm chút cho mái tóc cô ấy như cho khuôn mặt, vóc dáng và ngọn đuốc – với lương tâm trong sáng của một người nghệ sĩ!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài: ‘lương tâm trong sáng’ sẽ dẫn đến tin Ngài, hoặc khước từ Ngài; đứng về phía sự thật, hoặc giết chết sự thật – chính Ngài!

Bối cảnh là phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lazarô đã chết bốn ngày sống lại. Trước mồ Lazarô, không chỉ một người chết bước ra, mà lương tâm con người cũng được gọi tên để bước ra. Có người tin, vì họ thấy quyền năng của Thiên Chúa; nhưng cũng có kẻ khép lòng, vì họ sợ mất chỗ đứng của mình. Phép lạ không trung lập; nó phơi bày. Và chính lúc ấy, ‘lương tâm trong sáng’ trở thành thước đo và sẽ làm lộ ra những sâu kín của lòng người – ai dám để sự thật chạm vào mình, và ai tìm cách quay lưng? “Sự thật sẽ giải thoát bạn, nhưng trước hết nó sẽ làm bạn đau đớn!” – James A. Garfield.

Một khi lương tâm bị bóp nghẹt bởi toan tính, người ta có thể đi đến những quyết định lạnh lùng: thà giết chết sự thật còn hơn để sự thật làm xáo trộn đời mình. Và như thế, họ không chỉ từ chối phép lạ, mà còn khước từ chính Đấng ban sự sống! Và quả họ đã làm thế: giết chết Con Thiên Chúa và quyết định sẽ giết luôn cả Lazarô. “Tìm ra sự thật thì dễ… đối diện đã khó, sống theo còn khó hơn!” – Fulton Sheen.

Nhưng Thiên Chúa vẫn tận dụng những ý đồ đen tối của lòng người! Con Thiên Chúa “chết thay cho dân” sẽ dẫn đến ơn cứu độ cho muôn dân! Và logic ‘đầy tính tiên tri’ của thượng tế Caipha có thời hiệu vĩnh viễn. Gioan thật sâu sắc, “Không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Chúa tản mác khắp nơi về một mối”. “Thiên Chúa là một, Chúa Kitô là một, Hội Thánh là một!” – Cyprianô.

Đây là điều Thiên Chúa đã hứa hằng trăm năm trước, “Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng!” – bài đọc một; vì “Chúa canh giữ chúng ta như mục tử canh giữ đàn chiên!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không ai ép buộc Chúa Giêsu chọn thánh giá; cũng không buộc ai phải theo Ngài. Con Thiên Chúa hoàn toàn tự do với một ‘lương tâm trong sáng’ trước Chúa Cha và trước con người. Ngài không né tránh sự thật, không thoả hiệp với bóng tối, nhưng yêu Cha đến cùng, vâng phục đến cùng. Đi theo Chúa Kitô cũng thế: không phải bị ép buộc, nhưng là chọn để lương tâm mình được soi sáng, dám sống sự thật, dám yêu sự thật – dẫu phải trả giá, dẫu phải bước qua thập giá! “Tình yêu muốn là thật, phải trả giá – phải đau – phải làm ta trống rỗng chính mình!” – Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con sợ hãi và toan tính, xin giữ lòng con ngay thẳng; khi con chao đảo và nghi ngờ, xin neo con vào sự thật; khi con đối diện thập giá, cho con trung tín đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần V Mùa Chay

Để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 11,45-57

45 Khi ấy, sau khi ông La-da-rô sống lại ra khỏi mồ, trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. 46 Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. 47 Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : “Chúng ta phải làm gì đây ? Người này làm nhiều dấu lạ. 48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta.” 49 Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng : “Các ông không hiểu gì cả, 50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” 51 Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, 52 và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. 53 Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. 54 Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa ; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.

55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ. 56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau : “Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không ?” 57 Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh : ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.


 

Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật.(Ga 7:28)- Cha Vương

Thứ 6 rồi bạn ơi! Hành trình Mùa Chay của bạn đến đâu rồi? Quay đi quay lại, Mùa Chay lại sắp hết rồi đấy. Một cuối tuần an vui và hạnh phúc trong Chúa và Mẹ nhé. 

Cha Vương

Thứ 6: 27/03/2026. (n24-23)

TIN MỪNG: Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng: “Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. (Ga 7:28)

SUY NIỆM: Đối với người Do Thái, Chúa Giêsu không phải là Đấng Mêsia vì những việc làm của Ngài không đúng như những gì mà họ mong đợi. Vậy họ mong đợi một Đấng Cứu Thế như thế nào? Họ mong đợi một Đấng Cứu Thế cứu giúp họ về vật chất, cứu họ bằng quyền lực nghĩa là giúp họ phục hồi lại một đế quốc Israel hùng cường. Nếu bạn được hỏi: Chúa Giêsu là ai đối với bạn, thì câu trả lời của bạn như thế nào nhỉ? Có lẽ Ngài là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế. Nếu đúng như vậy, bạn có đặt Ngài làm tâm điểm trong cuộc đời mình không? Bạn có dành thời giờ để tìm kiếm Chúa và sự khôn ngoan của Ngài không? Bạn đang khao khát những gì vậy? Có những người chối bỏ và rời xa Chúa bởi vì họ muốn đưa Chúa vào đúng cái “khuôn” của họ. Mối tương quan với Chúa của họ chỉ dựa trên một sự mong muốn khát khao riêng tư máy móc, xin gì thì được đấy. Mùa Chay là cơ hội để bạn củng cố và nuôi dưỡng lại mối tương quan của ban với Chúa. Nếu bạn thành tâm sống đúng với tinh thần Mùa Chay, hy sinh ăn chay cầu nguyện hoán cải đời sống, thì cuộc sống của bạn sẽ gặt hái được nhiều hoa trái của ân sủng và bình an. Bạn có sẵn sàng và ngoan ngoãn để Chúa dạy bảo và hướng dẫn bạn qua những biến cố bất ngờ của cuộc đời không? Đừng quên rằng dù bạn đang sống trong bất cứ hoàn cảnh nào đi nữa, Chúa vẫn kiên nhẫn đồng hành với bạn đó.

LẮNG NGHE: CHÚA gần gũi những tấm lòng tan vỡ, / cứu những tâm thần thất vọng ê chề. / Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, / nhưng CHÚA giúp họ luôn thoát khỏi. (Tv 34:19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, trước những yếu đuối và bất toàn của con, xin ban cho con sức mạnh và sự khôn ngoan của Chúa để con yêu mến Chúa trên hết mọi sự.

THỰC HÀNH: Nhận định lại mối tương quan của bạn với Chúa, hãy dành thêm một ít thời gian trong ngày để kết hiệp với Chúa nhé. 

From: Do Dzung

*******************

Khúc Tâm Tình Con Dâng – Sáng tác : Giuse Đức Chuẩn || Trình bày – Hương Lan 

 KIỆT TÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó!”.

Trong Xh 25-30, Chúa hướng dẫn Môsê dựng Nhà Tạm, Hòm Bia, bàn thờ và các phẩm phục. Ông quy tụ các nghệ nhân, dùng vàng bạc, vải vóc, đá quý để tạo nên những kiệt tác phản chiếu sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa; đồng thời, tôn vinh vẻ huy hoàng của Ngài.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta: ‘kiệt tác’ của Thiên Chúa không chỉ là đền thờ hay những vật liệu quý đem vào đền thờ, mà còn là những con người và chứng từ thinh lặng của họ.

Đừng quên, Thiên Chúa không chỉ hiện diện nơi các công trình lộng lẫy, mà còn nơi những con người thinh lặng, nơi những lời nói và hành động âm thầm nhưng kiên định! Một cái nhìn nhân hậu, một cử chỉ nhẫn nại, một quyết định trung tín giữa khó khăn – tất cả đều là chứng từ sống, nơi Thiên Chúa tỏ mình và sự thánh thiện của Ngài được bày tỏ. Những con người như thế, dù không nổi tiếng hay được công nhận, vẫn là những tác phẩm của Thiên Chúa. Việc họ làm vang vọng mạnh mẽ, thắp sáng môi trường chung quanh bằng ánh sáng đức tin – thường là nơi không ai thấy, không ai nhớ, nhưng Thiên Chúa lại tỏ mình rõ nhất.

Chúa Giêsu tiết lộ một điều quan trọng: đức tin không chỉ dựa trên lời hứa, mà còn trên việc Ngài làm. Việc lớn nhất Chúa Cha làm là phục sinh Con Một – đích điểm Giáo Hội đang hướng về – và Chúa Con tiếp tục làm qua các chứng nhân và bí tích. Trong một thế giới ngập tràn thông tin, chỉ những chứng từ phản chiếu sự thánh thiện của Chúa mới có tiếng vang mạnh nhất. Việc bạn làm có nói lên điều bạn tin, hay chính đời bạn đang phản bội điều bạn tuyên xưng? “Người đương đại cần lời chứng hơn lý lẽ!” – Phaolô VI.

Tin Mừng hôm nay kết thúc: “Ở đó, nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu”. Dù bị chống đối, lời nói và việc làm của Ngài vẫn thâm nhập trái tim con người. Nơi chống đối lớn nhất, thường xuất hiện những biến đổi sâu nhất. Giêrêmia cũng trải nghiệm niềm vui này. Lời nói và hành động của ông đầy thuyết phục, “Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình: “Lúc ngặt nghèo, tôi kêu cầu Chúa; Người đã nghe tiếng tôi!”.

Anh Chị em,

“Hãy tin các việc đó!”. Chiêm ngắm Giêsu co ro trong hang đá Bêlem, nhìn Ngài giãy giụa trên đồi Sọ, chúng ta nhận ra việc Thiên Chúa làm; trầm mình bên Thánh Thể, chúng ta hiểu Thiên Chúa là ai, Giêsu là ai; từ đó, con tim có thể dịch chuyển. Nếu các hành động Chúa Con tiết lộ danh tính Ngài, thì thập giá là đỉnh cao – không còn gì để che giấu. Nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô, bạn và tôi được tái sinh, không chỉ trở thành tạo vật mới, mà còn là những ‘kiệt tác’ sống cho vinh quang Chúa – không còn lý do để sống như cũ. “Trong Đức Kitô Phục Sinh, toàn thể thụ tạo được trỗi dậy trong sự sống mới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con khởi đi từ việc hoán cải chính mình, để con cũng trở thành một tác phẩm sống của Ngài. Tại sao không?”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần V Mùa Chay

Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng Người đã thoát khỏi tay họ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,31-42

31 Khi ấy, người Do-thái lại lấy đá để ném Đức Giê-su. 32 Người bảo họ : “Tôi đã cho các ông thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đã giao cho tôi làm ; vì việc nào mà các ông ném đá tôi ?” 33 Người Do-thái đáp : “Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng : ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa.” 34 Đức Giê-su bảo họ : “Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao : ‘Ta đã phán : các ngươi là những bậc thần thánh’ ? 35 Nếu Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ, 36 thì tôi là người Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian, làm sao các ông lại bảo tôi : ‘Ông nói phạm thượng !’ vì tôi đã nói : ‘Tôi là Con Thiên Chúa’ ? 37 Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. 38 Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha.” 39 Bấy giờ họ lại tìm cách bắt Người, nhưng Người đã thoát khỏi tay họ.

40 Đức Giê-su lại ra đi, sang bên kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã làm phép rửa, và Người ở lại đó. 41 Nhiều người đến gặp Đức Giê-su. Họ bảo nhau : “Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng.” 42 Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.


 

TỰ HỦY MÌNH – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 (Suy niệm Lễ Lá)

 Trong cuộc đời nầy, ai cũng muốn được nổi bật lên, được vẻ vang thắng lợi… Người ta muốn tôn mình lên bằng đủ mọi hình thức và không hề muốn bị lu mờ, lép vế.

*****

Trong khi đó, Chúa Giê-su là Thiên Chúa Ngôi Hai đầy quyền năng, đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần; Ngài cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần tạo dựng nên vũ trụ kỳ diệu nầy; “Nhờ Ngài mà muôn loài muôn vật được tạo thành và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3). 

Thế rồi, để cứu độ nhân loại, Ngài đã tự hủy mình, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế (Pl 2,7).”  

Ngài tự hủy mình thế nào? Bài Thương khó chúng ta vừa nghe phác họa lại đôi nét như sau: 

Trong cuộc khổ nạn, Ngài để cho người ta bắt bớ giữa đêm đen như một tên trộm cướp và dù Ngài là Chúa tể trời đất, là thẩm phán tối cao có quyền phán xét cả loài người và thiên thần, nhưng Ngài chấp nhận để cho quân hèn hạ phán xử Ngài cách oan ức, chịu vả vào mặt, thậm chí để cho chúng hạ khạc nhổ vào mặt Ngài, đánh đập Ngài rách nát thịt da, bắt đội vòng gai để nhạo cười sỉ nhục, bắt vác thập giá nặng nề lảo đảo tiến lên đồi Sọ. 

Cuối cùng, Ngài chấp nhận bị lột hết áo xống, bị đóng đinh tàn bạo vào thập giá, lãnh lấy cái chết thê thảm, nhục nhã, đau thương… chết không manh áo che thân, chết treo trên thập giá giữa hai người trộm cướp… Xưa nay không có người lương thiện nào trên đời chết nghèo, chết thảm, chết tệ hại… như Chúa Giê-su! 

Ngài đã tự hủy mình như thế đó! Cụ thể là: 

Tự xóa mình,

Rủ bỏ hết danh dự và vinh quang,

Từ bỏ quyền năng phép tắc của một Vì Thiên Chúa,

Bỏ cả cuộc đời,

Bỏ cả mạng sống…

Bỏ tất cả mọi sự đến độ không còn gì để bỏ thêm…

 Lạ lùng thay! Siêu việt thay! Rất đỗi tuyệt vời! Ngoài sức tưởng tượng của mọi người!

 Từ tột đỉnh vinh quang, Ngôi hai Thiên Chúa hạ mình xuống trần làm người thấp hèn tột bậc!

 Không ai trên đời hạ mình sâu thẳm như Chúa Giê-su. 

Không ai trên đời khiêm nhường như Chúa Giê-su.

 Vì thế, Chúa Cha đã tôn vinh Ngài, ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, đặt Ngài là vua hoàn vũ, làm Chúa tể trên trời dưới đất (Philip 2, 6-11).

 Lạy Chúa Giê-su là Đấng tự hủy mình tuyệt đối,

Chúa chọn sống khiêm tốn, tại sao con muốn sống cao sang?

Chúa muốn xóa mình đi, tại sao con muốn mình nổi bật?

Chúa hạ mình thấp hèn, tại sao con cứ muốn tôn mình lên?

Chúa cho hết mọi sự, tại sao con cố thu góp cho nhiều? 

Chúa hy sinh cho mọi người, tại sao con mong đợi bao người phục vụ mình?

 Xin cho chúng con biết nhìn lên Thánh giá Chúa mỗi ngày để chiêm ngắm sự tự hủy đến tận cùng của Chúa và tập luyện cho biết xóa mình đi. Amen.

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

THẬP GIÁ CUỘC ĐỜI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Thập giá là tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, nhất là trong Tuần Thánh.  Hai thanh gỗ, một thanh dọc và một thanh ngang, có điều gì kỳ diệu, mà từ hai ngàn năm nay, các tín hữu tôn kính thờ lạy?  Thực ra, Ki-tô hữu không thờ lạy một cây gỗ, nhưng là thờ lạy Đấng đã chịu treo trên cây gỗ ấy, đó là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người. 

Đức Giê-su đã đón nhận thập giá một cách tự do và hoàn toàn vì tình yêu.  Người đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Thập giá là biểu tượng của sự vâng phục, của tình yêu hy sinh, và cũng là của lòng quảng đại bao dung tha thứ.  Qua thập giá Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra thập giá cuộc đời.  Vâng, khi chúng ta khởi đầu hành trình làm người, cũng là lúc chúng ta khởi đầu hành trình thập giá.  Bởi lẽ cuộc sống con người luôn luôn đan quyện những đau khổ và niềm vui, nước mắt và hạnh phúc.  Nhận ra thập giá trong đời mình, và cố gắng vác thập giá với tâm tình của Chúa Giê-su, gánh nặng cuộc đời sẽ bớt chua chát, hạnh phúc sẽ thay thế đau thương. 

“Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). “Vác thập giá” là điều kiện không thể thiếu cho những ai muốn làm môn đệ Chúa Giê-su.  Nơi khác, Chúa khẳng định: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, “vác thập giá” cũng có nghĩa là bỏ mình.  Sự buông bỏ để đón nhận người khác và sống hài hòa với tha nhân luôn đòi hỏi chúng ta phải hy sinh.  Đó không phải là buông bỏ một điều gì ngoài bản thân, mà là buông bỏ chính mình.  Theo tâm lý tự nhiên, con người luôn quy hướng về bản thân, đồng thời cũng muốn (đôi khi là ép buộc) người khác phải quy hướng theo mình.  Từ bỏ bản thân là sống khiêm tốn, không kiêu ngạo và cố chấp.  Từ bỏ bản thân là điều khó nhất trong những thứ có thể từ bỏ, nhưng đó là lại là bằng chứng hùng hồn về tình yêu.  Thánh Tê-rê-xa Hài đồng Giê-su đã viết: “Yêu là cho đi tất cả và cho đi chính mình.” 

Nếu không có Chúa Giê-su, thập giá chỉ là cây gỗ vô dụng.  Nhiều người nai lưng vác cái mà mình nghĩ là thập giá, nhưng thực ra lại không phải.  Có thể đó là những điều mà mình cho là “hy sinh,” là “chịu đựng,” nhưng đúng hơn là mình đang bắt người khác phải hy sinh và chịu đựng vì mình.  Có những người thường vô tình hay cố ý tạo ra thập giá cho những người thân rồi bắt họ vác đi.  Trên đường đến núi Can-vê, Chúa Giê-su đã ba lần ngã quỵ.  Ông Si-mon người thành Ky-rê-nê đã vác thập giá đỡ cho Chúa.  Hôm nay Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi những người đau khổ cùng cực và những người đói nghèo.  Khi thực hiện những nghĩa cử bác ái, là chúng ta vác đỡ thập giá cho Chúa. 

Đối diện với một đám đông ồn ào và hung bạo, Đức Giê-su vác thập giá bước đi trong thinh lặng.  Khi Chúa bị điệu ra trước tòa Phi-la-tô và trên con đường thập giá, chỉ có một số rất ít bênh vực Người.  Phải chăng đó cũng chính là thực trạng thế giới hôm nay.  Trong xã hội tự tin cho là  văn minh và hiện đại này, có bao nhiêu người cảm động trước một con người bị hành hạ bất công, và bị treo trên thập giá?  Tuy vậy, Giáo Hội của Chúa Ki-tô luôn luôn là “số ít còn lại của Ít-ra-en.”  Một Giáo Hội không chạy theo những phong trào và sở thích của số đông, nhưng lắng đọng nội tâm để quy hướng về Chúa, qua đó tìm thấy ý nghĩa của đời mình.  Từ cái chết cô đơn của Đức Giê-su trên cây thập giá, ơn cứu độ tuôn trào đến muôn dân, nhất là đến với những ai tin tưởng và trung tín với Người.  Đấng chịu treo trên thập giá vẫn đang nói với chúng ta: hãy lấy tình yêu đáp lại ghen ghét; lấy tha thứ đáp lại hận thù, vì tình yêu vượt lên tất cả!

 Chúa Giê-su đến trần gian không phải để cất đi vĩnh viễn đau khổ và thập giá, nhưng Người đã vác nó trên vai.  Người tin vào Chúa không phải để tránh khỏi đau khổ thập giá, nhưng để có Chúa nâng đỡ và cùng vác với mình.  “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng” (Mt 11,28).  Chúa mời gọi chúng ta đến với Chúa, tức là cậy trông vào sức mạnh thiêng liêng mà Người sẽ ban cho chúng ta.  Nhờ đó, thập giá cuộc đời trở nên nhẹ nhàng và dễ vác hơn.

 Thập giá không chỉ là dấu hiệu của khổ đau thất bại, nhưng còn là biểu tượng của niềm hy vọng.  Trên mỗi nấm mộ của người tín hữu, cây thập giá được dựng lên như lời khẳng định: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Thánh Phao-lô đã “đọc” được niềm hy vọng nơi cây thập giá.  Ngài quả quyết: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2). 

Hôm nay, chúng ta khai mạc Tuần Thánh.  Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng sống với Đấng Cứu Thế những ngày cuối cùng của Người trong cuộc sống trần gian.  Bài Thương khó như một vở kịch gồm nhiều chương đoạn, diễn tả những cảm xúc khác nhau.  Tấn bi kịch cũng cho chúng ta thấy ai là người trung thành với Chúa, vào những giờ phút sau hết của cuộc đời Người nơi dương thế.  Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời.  Chúng ta hãy nhận ra Người nơi những anh chị em bé mọn và bị quên lãng.

 “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).  Vâng, thập giá là điểm quy tụ muôn người.  Xin cho nhân loại hôm nay tôn nhận Đấng chịu đóng đinh trên thập giá là Chúa và là Đấng Cứu độ, nhờ đó hòa bình sẽ được thiết lập trên thế giới đầy biến động của chúng ta.  Amen.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

BẤT TỬ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!”.

Năm 125 sau Công nguyên, Aristides giải thích sự thành công lạ thường của “một tôn giáo mới”: “Bất kỳ một Kitô hữu chân chính nào rời khỏi thế giới, họ đều hân hoan dâng lời cảm tạ Chúa; họ mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn! Như bất tử, họ đang đi từ một nơi này đến một nơi khác gần đó; một sự dịch chuyển không thể phi thường hơn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Đứng trước cái chết, Chúa Giêsu nói rất thật về sự ‘bất tử’ của Ngài – “Tôi Hằng Hữu!”. Lời Chúa hôm nay tiết lộ: chúng ta sợ chết, nhưng lại sống như thể đời mình chẳng có gì đáng để sống.

“Tôi Hằng Hữu!”. Ghi lại lời này của Thầy, tác giả trở lại lời tựa Phúc Âm của mình; ở đó, ‘phượng hoàng Gioan’ chắp cánh bay lên tận mút cùng của tạo thành, “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ngài không bắt đầu từ hôm qua; Ngài có trước mọi thứ chúng ta đang bám víu. Tuy nhiên, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể để xuống ở với con người hầu cứu lấy con người. Và dẫu đã về bên hữu Cha, Ngài vẫn đang có mặt với loài người. Và điều lạ là Ngài không đứng xa, nhưng vẫn ở lại trong một đời rất gần với chúng ta. “Chúa Kitô không xa chúng ta; Ngài gần chúng ta hơn chính chúng ta với bản thân mình!” – Augustinô.

Chúa Giêsu còn nói, “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết!”. Hãy nhìn vào Abraham, ông giữ lời Chúa và được sống trong lời hứa – bài đọc một. Với Đavít, giao ước Chúa đã lập với Abraham sẽ mãi trường tồn, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, Abraham ‘bất tử’ với miêu duệ của mình; còn chúng ta, giữ bao thứ khác mà lòng vẫn trống.

Vì thế, khi nói “sẽ không bao giờ phải chết”, Chúa Giêsu nói đến cái chết linh hồn. Ai giữ lời Ngài, sẽ không biết cái chết ‘kiểu đời đời’ này! Có một kiểu chết không cần đợi đến ngày nhắm mắt – khi tôi sống mà lòng không còn thuộc về Chúa. Vì thế, sự hiệp thông với Đấng hằng sống sẽ không bị phá vỡ bởi cái chết; đúng hơn, được đào sâu bởi nó! “Không gì có thể thực sự tách chúng ta… mối dây liên kết với Chúa Kitô vẫn còn nguyên!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Tôi Hằng Hữu!”. Dẫu “hằng hữu”, Con Thiên Chúa vẫn cam lòng chịu – hạn hữu – chết cho tội lỗi của con người; nhưng Ngài đã sống lại cho sự ‘bất tử’ của nó! Ngài đang ở rất gần, nhưng chúng ta vẫn có thể sống như thể Ngài không có mặt. Vì thế, không chỉ khi còn sống, chúng ta hân hoan ca tụng Ngài, mà cả khi rời thế giới, chúng ta vẫn “mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn”. Là con Đấng Bất Tử, chúng ta sống sự sống thần linh của Ngài ngay hôm nay; vậy mà không ít lần, dẫu đang nhởn nhơ, chúng ta vẫn đang “chết dần” từng ngày mà không nhận ra. Vậy hãy sống tâm thế của con cái Thiên Chúa ngay hôm nay, giữa đời thường – tâm hồn luôn hướng lên cao cùng với lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Và như thế, bạn và tôi ‘bất tử!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ chết nhưng lại sống hời hợt; con giữ nhiều thứ mà mất chính mình; xin cho con sống sao để không “chết” khi còn đang sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần V Mùa Chay

Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,51-59

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.”

52 “Người Do-thái liền nói : “Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : ‘Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.’

53 “Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai ?” 54 Đức Giê-su đáp : “Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.”

57 Người Do-thái nói : “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !” 58 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !”

59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. 


 

Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, chúc bạn mọi sự tốt đẹp trong tình yêu Chúa và Mẹ nhé. Xin luôn nhớ đến nhau trong lời cầu nguyện  và Xin một lời cầu nguyện khẩn thiết cho nền hoà bình trên thế giới đang bị đe doạ.

Cha Vương

Thứ 3: 24/03/2026.  (t5-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? Khi Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “Con một của Thiên Chúa” (Ga 3,16), khi thánh Phêrô và các tông đồ cũng gọi Người như vậy, thì điều này có nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu đích thực là Con trên hết mọi người con. (YouCat, số 74)

SUY NIỆM: Trong nhiều đoạn Tân ước (Ga 1,14.18; 1Ga 4,9; Dt 11,7…) Chúa Giêsu được gọi là “Con”. Khi chịu phép rửa và biến hình, tiếng nói từ trời xác nhận Chúa Giêsu là “Con yêu dấu”. Chúa Giêsu mở màn cho các môn đệ biết Người có quan hệ độc nhất với Cha Người trên trời: “Mọi sự Cha Tôi đã giao phó cho Tôi, và không ai biết rõ Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết rõ Chúa Con trừ Người Cha và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27). Khi sống lại, thì thật rõ ràng Chúa Giêsu Kitô thực sự là Con Thiên Chúa. (YouCat, số 74 t.t)

❦ Người ta không chỉ trích Chúa Kitô. Người ta chỉ trích các Kitô hữu vì họ không giống như Chúa Kitô. (Francois Mauriac, 1914-1996, tiểu thuyết gia Pháp).

 Không biết Kinh Thánh, tức là không biết Chúa Kitô” (Thánh Giê-rô-ni-mô)

LẮNG NGHE: Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (Lc 1:35)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa,/ con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự,/ vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng,/ lại vì Chúa / thì con thương yêu người ta như mình con vậy./ Amen.

THỰC HÀNH: Mình quan sát, đôi khi chính mình cũng vấp phải, sự lịch thiệp nơi cơ quan hay trước công chúng lắm lúc được trau chuốt hơn là sự tế nhị, dịu dàng trong gia đình… (đối với vợ, chồng, con cái, cha mẹ, …) Mời bạn làm một thay đổi trong Mùa Chay này nhé

From: Do Dzung

**********************

Chỉ Có Một Chúa – Nguyễn Hồng Ân

“XIN VÂNG” – SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ – Sr. Tâm Năng

Sr. Tâm Năng

 Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh.  Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ.  Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người.  Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài.  Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay. 

Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý.  Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó. 

Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ. 

Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa.  Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại.  Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm viếng bà Isave.  Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ.  Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave. 

Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin.  Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc.  Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời.  Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy.  Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin.  Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao. 

Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.  Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày.  Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác.  Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa.  Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.

 Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù… tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn. 

Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa. 

Sr. Tâm Năng

From: Langthangchieutim