HIỆN XUỐNG  TRƯỚC  HIỆN XUỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Trinh nữ ấy tên là Maria!”.

“Mỗi khi Thánh Thần ngự xuống, một cuộc tạo dựng mới lại bắt đầu!” – Raniero Cantalamessa.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Đức Mẹ Mân Côi cho thấy một điều ít được chú ý:

trước khi Thánh Thần ngự xuống trên cộng đoàn các môn đệ tại Giêrusalem, Ngài đã ngự xuống trên Đức Maria tại Nazareth

–

‘Hiện Xuống trước Hiện Xuống’.

Tin Mừng thuật lại mầu nhiệm thứ nhất của Năm Sự Vui: Truyền Tin. Luca dùng động từ episkiazō – “phủ bóng” – khi nói về quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên Đức Maria. Đây là ngôn ngữ của đám mây vinh quang phủ trên Lều Hội Ngộ, dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài; đồng thời, gợi nhớ Thần Khí bay là là trên mặt nước thuở lập địa khai thiên. Nơi Đức Maria, Thiên Chúa khai mở một cuộc tạo dựng mới, nhưng Ngài chờ lời ưng thuận của một con người. Quyền năng phủ bóng, tình yêu đợi lời xin vâng;Maria trao cho Ngài cả đời mình, dù chưa biết lời ấy sẽ dẫn mình đi bao xa. 

Nazareth– Giêrusalem.

Hai biến cố cách nhau nhiều năm, nhưng cùng một Thánh Thần hành động. Một bên là khởi đầu của thân thể Đức Kitô; bên kia là sự khai sinh của Nhiệm Thể Ngài. Đức Maria nối hai khởi đầu ấy bằng một đời đón nhận: xin vâng khi thiên thần truyền tin, rồi cùng các môn đệ chuyên tâm cầu nguyện chờ Thánh Thần. Đấng đã phủ bóng trên Mẹ nay quy tụ những môn đệ của Con thành một cộng đoàn được sai đi.

“Chúa Thánh Thần là nhân vật chính của Công vụ Tông đồ!” – Phanxicô.

Dù đã đón nhận Thánh Thần, Mẹ vẫn cùng Hội Thánh cầu xin Ngài đến. Mẹ không giữ ân sủng như một điều đã có đủ; càng đầy ân sủng, Mẹ càng dành chỗ cho Thiên Chúa.

Evà nắm lấy rồi đánh mất; Maria trao mình và đón nhận. Chúng ta có thể cầu nguyện lâu năm mà vẫn giữ quyền quyết định Chúa được đổi điều gì trong đời mình.vì thế, cầu xin Thánh Thần đến còn là ưng thuận để Ngài chạm vào điều chúng ta muốn giữ nguyên.

Đó cũng là lý do Hội Thánh mời gọi con cái mình lần chuỗi Mân Côi.

Đọc kinh Mân Côi không chỉ là việc lặp đi lặp lại những kinh Kính Mừng, nhưng là cùng Maria chiêm ngắm các mầu nhiệm cứu độ dưới ánh sáng Thánh Thần. Những điều chúng ta chiêm ngắm không dừng ở cuộc đời Mẹ; Thánh Thần còn muốn làm cho chúng sinh hoa trái trong đời. Lần chuỗi là cùng Chúa Thánh Thần coi lại cuốn album thiên đàng, nơi từng mầu nhiệm kể lại lịch sử cứu độ. Lật từng trang cùng Mẹ, chúng ta học thưa xin vâng cả những trang đời mình muốn bỏ qua.

Anh Chị em,

Từ ‘Hiện Xuống trước Hiện Xuống’ ấy, chúng ta nhận ra công việc Thánh Thần vẫn tiếp tục: hình thành Đức Kitô. Trong cung lòng Đức Maria, Ngài cho Người Con một thân thể; trong Hội Thánh, Ngài xây dựng Nhiệm Thể; và nơi mỗi chúng ta, Ngài làm cho đời sống mang dáng dấp của Người Con. Đó là ý nghĩa sâu xa nhất của mọi ‘Hiện Xuống’ và cũng là mục đích cuối cùng của kinh Mân Côi. “Mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành một Maria khác, để Đức Kitô được sinh ra trong mình nhờ quyền năng Thánh Thần!

” – Origen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, dạy con biết mở lòng để Đức Kitô mỗi ngày lớn lên trong con, hầu như Mẹ, đời con cũng trở thành một khởi đầu mới của ân sủng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Đức Mẹ Mân Côi 07/10,  Thứ Ba   Tuần XXVII Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/07.html

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


 

VỊ LINH MỤC BỊ GIAM SUỐT 13 NĂM… KHÔNG MỘT BẢN ÁN…

Nguyễn Trung Hiếu 

Có một câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mà mỗi lần nhắc lại, người ta vẫn không khỏi xúc động.

Ngày 15/8/1975, khi đang là Tổng Giám mục phó Sài Gòn, Ngài bị bắt. Không một phiên tòa, không một bản án, và cũng không biết ngày nào mình sẽ được trở về.

Từ một vị mục tử đang tự do phục vụ giáo dân, Ngài bắt đầu những năm tháng dài sau song sắt. Một năm trôi qua… rồi nhiều năm nữa.

Tổng cộng 13 năm bị giam giữ, trong đó có những khoảng thời gian Ngài phải sống trong cảnh biệt giam và gần như bị tách khỏi thế giới bên ngoài.

Nhưng điều khiến câu chuyện này trở nên đặc biệt không nằm ở việc Ngài đã phải chịu đựng bao nhiêu, mà là cách Ngài đã sống trong những năm tháng ấy.

Khi không còn nhà thờ, Ngài vẫn tìm cách dâng Thánh lễ.

Khi không có những cuốn sách để đọc, Ngài cầu nguyện và suy niệm.

Khi không có những trang giấy đầy đủ, Ngài tận dụng từng mảnh giấy nhỏ để viết xuống những điều mình muốn gửi gắm.

Và giữa nơi tưởng như chỉ có bóng tối ấy, Ngài lại viết về một điều rất sáng: **hy vọng**.

Những dòng chữ nhỏ bé được viết trong tù sau này trở thành **Đường Hy Vọng**, tác phẩm gắn liền với tên tuổi của Ngài và trở thành nguồn nâng đỡ tinh thần cho rất nhiều người.

Có một điều thật nghịch lý: người đang bị giam cầm lại trở thành người giúp người khác tìm thấy tự do trong tâm hồn; người đang sống trong bóng tối lại viết về ánh sáng; người bị lấy đi tự do lại không ngừng nói với người khác rằng hãy hy vọng.

13 năm không phải là một khoảng thời gian ngắn. Đó là một phần rất dài của cuộc đời. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã không để những năm tháng ấy trở thành lý do khiến mình tuyệt vọng.

Ngài biến nhà tù thành nơi cầu nguyện, biến đau khổ thành chứng tá và biến những ngày tháng tưởng như vô nghĩa thành một hành trình sống trọn niềm tin.

Có lẽ vì thế mà câu chuyện về Ngài vẫn còn được nhắc lại cho đến hôm nay: “người ta có thể khóa một con người sau song sắt, nhưng không thể khóa được niềm tin, tình yêu và hy vọng mà người ấy mang trong trái tim”.

Nguồn ảnh: Internet


 

 Kinh Thánh Cựu ước có ý nghĩa gì đối với các Kitô hữu? – Cha Vương

Hôm nay Thứ 3 rồi bạn ơi, xin Chúa tuôn đổ muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình. Tháng 10 là Tháng Mân Côi đó, đừng quên đọc Kinh Mân Côi nhé. Cậ`u nguyện cho nhau và thế giới được bình an nhé.

Cha Vương 

Th 3: 06/10/2026.    (t4-21)

GIÁO LÝ: Kinh Thánh Cựu ước có ý nghĩa gì đối với các Kitô hữu? Trong Cựu Ước, Thiên Chúa tỏ mình là Đấng Sáng Tạo và gìn giữ thế giới, là Đấng lãnh đạo và Đấng huấn luyện của loài người. Các sách Cựu Ước cũng là Lời Chúa và là Kinh Thánh. Không có Cựu ước, ta không thể hiểu về Chúa Kitô trong Tân Ước. (YouCat, số 17)

SUY NIỆM: Để dạy đức tin cho ta, một lịch sử lớn bắt đầu từ Cựu ước rồi tới khúc ngoặt quyết định trong Tân ước và đi đến cùng đích với tận thế và việc Chúa Kitô trở lại. Cựu ước còn hơn là một lời chỉ mở đầu cho Tân ước. Những điều răn và các lời tiên tri cho Dân của Cựu ước và những lời hứa cho cả nhân loại chứa đựng trong Cựu ước không bao giờ bị hủy bỏ. Trong các sách Cựu ước có một kho tàng các kinh nguyện và các bản văn khôn ngoan không có gì thay thế được: đặc biệt các Thánh vịnh là trung tâm của kinh nguyện hằng ngày trong Hội thánh.

❦  Cựu ước là phần đầu của Kinh Thánh và là Sách Thánh của Do Thái. Cựu ước của Hội thánh Công giáo gồm 46 sách: các sách lịch sử, các sách tiên tri và văn chương khôn ngoan cùng với các Thánh vịnh.

❦  Tân ước: Phần thứ hai của Kinh Thánh, bao gồm những bản văn riêng của Kitô giáo, nghĩa là 4 Tin Mừng, Công vụ các Tông đồ, mười bốn thư của thánh Phaolô, bảy thư Công giáo và sách Khải huyền. (27 bản văn)

❦ Kinh Thánh không được viết để ta phê bình nhưng để Kinh thánh phê bình ta. (Soren Kierkegaard)

❦  Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob không phải của những triết gia và nhà thông thái… Chỉ tìm được Thiên Chúa nhờ những đường lối mà Tin Mừng chỉ dạy. Blaise Pascal, sau một mặc khải của thần linh (YouCat, số 17 t.t.)

LẮNG NGHE: Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành. (2 Tm 3:16-17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa phán: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” Xin cất khỏi mọi nghi ngờ, sợ hãi, và tư tưởng kiêu căng, có thể ngăn cản con không đón nhận lời Chúa với lòng tin tưởng và sự vâng phục khiêm tốn.

THỰC HÀNH: Chọn một/hai câu Kinh Thánh để làm phương châm cho cuộc sống. Mình chọn 2  câu sau đây: (1) Cựu Ước: Thiên Chúa đòi hỏi nơi ngươi: tức là ngươi hãy thực hiện công bình, quý mến lòng nhân lành và khiêm tốn bước theo Thiên Chúa ngươi. (Mica 6:8) (2) Tân Ước: Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi. (Pl 4:13)

From: Do Dzung

*****

Chúa Là Con Đường

CÙNG ĐỨC MARIA CHIÊM NGẮM ĐỨC KITÔ – Lm. Anthony Trung Thành

Lm. Anthony Trung Thành

 Lễ Đức Mẹ Mân Côi đưa chúng ta đến với một lời kinh rất quen thuộc trong đời sống của Giáo hội.  Nhiều người đã biết lần chuỗi từ thuở nhỏ; nhiều gia đình vẫn giữ thói quen đọc kinh Mân Côi mỗi tối; và trong những lúc vui mừng cũng như khi gặp thử thách, đau khổ, người tín hữu thường tìm đến với Đức Maria qua tràng chuỗi Mân Côi.  Tuy nhiên, vì quá quen thuộc, đôi khi chúng ta có thể đọc kinh Mân Côi như một thói quen mà chưa đi sâu vào ý nghĩa của lời kinh ấy.

 Phụng vụ Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta khám phá chiều sâu của kinh Mân Côi.  Tin Mừng đưa chúng ta về Nadarét, nơi Đức Maria lắng nghe Lời Chúa và đáp lại bằng tiếng “Xin vâng.”  Bài đọc thứ hai cho thấy qua Đức Maria, Con Thiên Chúa đã bước vào lịch sử nhân loại để chúng ta được nhận làm nghĩa tử.  Còn bài đọc thứ nhất trình bày Đức Maria hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ, cùng họ đồng tâm nhất trí và chuyên cần cầu nguyện.

 Ba hình ảnh ấy cũng giúp chúng ta hiểu sâu hơn ý nghĩa của kinh Mân Côi.  Lần chuỗi không phải là dừng lại nơi Đức Maria, nhưng là cùng với Mẹ hướng về Đức Giêsu và chiêm ngắm những mầu nhiệm của Người.  Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng kinh Mân Côi, tuy mang đậm nét Maria, nhưng tự bản chất là một lời kinh có trọng tâm là Đức Kitô; đồng thời, ngài mời gọi chúng ta “chiêm ngắm dung nhan Đức Kitô cùng với Đức Maria”

(Tông thư Rosarium Virginis Mariae, số 1; 3).

 Từ ánh sáng của Lời Chúa và ý nghĩa của kinh Mân Côi, chúng ta cùng hướng về ba lời mời gọi: cùng Đức Maria lắng nghe Lời Chúa, cùng Đức Maria đón nhận Đức Kitô và cùng Đức Maria sống mầu nhiệm Đức Kitô.

 1. Cùng Đức Maria lắng nghe Lời Chúa

 Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta vào một trong những giây phút quyết định của lịch sử cứu độ.  Sứ thần Gáprien được Thiên Chúa sai đến gặp một trinh nữ tại Nadarét.  Sau lời chào của sứ thần và cuộc đối thoại trong đức tin, Đức Maria thưa:

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”

(Lc 1,38).  Tiếng “Xin vâng” ấy không xuất hiện cách đột ngột.  Trước khi thưa “Xin vâng,” Đức Maria đã lắng nghe.  Mẹ nghe lời chào của sứ thần; Mẹ suy nghĩ về ý nghĩa của lời ấy; Mẹ đặt câu hỏi:

“Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

(Lc 1,34); rồi sau khi được sứ thần giải thích về chương trình của Thiên Chúa, Mẹ trao phó hoàn toàn đời mình cho Người.  Như vậy, đức tin của Đức Maria không phải là một sự chấp nhận thiếu suy nghĩ, nhưng là thái độ mở lòng trước Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa và để Lời Chúa hướng dẫn cuộc đời.

 Đây cũng là thái độ cần có khi chúng ta lần chuỗi Mân Côi.  Những kinh Kính Mừng được lặp lại không nhằm làm cho tâm trí chúng ta dừng lại ở những công thức, nhưng tạo nên nhịp điệu của lời cầu nguyện, giúp chúng ta đi vào các mầu nhiệm của Tin Mừng.  Trong từng mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương và Mừng, chúng ta được mời gọi lắng nghe Lời Chúa và chiêm ngắm những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Kitô.  Thánh Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng kinh Mân Côi tự bản chất là một lời kinh chiêm niệm; nếu thiếu chiều kích chiêm niệm, kinh Mân Côi sẽ mất đi ý nghĩa và có nguy cơ trở thành sự lặp lại máy móc những công thức

(x. Tông thư Rosarium Virginis Mariae, số 12).

 Vì thế, giá trị của kinh Mân Côi không chỉ nằm ở việc chúng ta đọc được bao nhiêu chuỗi, nhưng còn ở chỗ qua lời kinh ấy, chúng ta có thực sự mở lòng để lắng nghe và đón nhận Lời Chúa hay không.

 Trong cuộc sống, chúng ta nghe rất nhiều tiếng nói: tiếng của dư luận, của mạng xã hội, của những lo toan, tính toán và mong muốn riêng.  Những tiếng nói ấy có thể mạnh đến mức làm chúng ta không còn nhận ra tiếng Chúa.  Đức Maria dạy chúng ta biết thinh lặng và mở lòng lắng nghe.  Mỗi khi cầm tràng chuỗi, chúng ta có thể tự hỏi: Chúa đang muốn nói gì với tôi qua mầu nhiệm tôi đang suy ngắm?  Người muốn tôi thay đổi điều gì?  Người đang mời gọi tôi đón nhận điều gì?  Nếu được đọc như thế, kinh Mân Côi trở thành một trường học lắng nghe Lời Chúa.  Chúng ta cùng Đức Maria lắng nghe, để rồi cũng có thể thưa với Chúa trong từng hoàn cảnh của cuộc đời:

“Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” 

2. Cùng Đức Maria đón nhận Đức Kitô

 Lắng nghe Lời Chúa dẫn Đức Maria đến một bước sâu hơn: đón nhận chính Đức Kitô.  Thánh Phaolô diễn tả mầu nhiệm ấy trong bài đọc thứ hai:

“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà”

(Gl 4,4).  Câu nói ngắn gọn ấy đặt Đức Maria vào trong mầu nhiệm Nhập Thể.  Thiên Chúa đã chọn Mẹ để Con Một của Người mang lấy thân phận con người.  Nhưng điều quan trọng là Đức Maria không giữ Đức Giêsu cho riêng mình.  Mẹ đón nhận Người để trao ban Người cho nhân loại.  Từ Bêlem đến Nadarét, từ Cana đến đồi Canvê, cuộc đời Đức Maria luôn gắn với Đức Kitô và luôn hướng con người về với Người.

 Điều này giúp chúng ta hiểu đúng kinh Mân Côi.  Kinh Mân Côi là lời kinh kính Đức Maria, nhưng trung tâm của kinh Mân Côi là Đức Giêsu Kitô.  Chính tên “Giêsu” nằm ở trung tâm kinh Kính Mừng.  Các mầu nhiệm của kinh Mân Côi cũng chính là những mầu nhiệm của Đức Kitô: Người nhập thể và sống cuộc đời ẩn dật; Người loan báo Nước Thiên Chúa; Người chịu khổ nạn và chết trên Thập Giá; Người sống lại và được tôn vinh.  Thánh Gioan Phaolô II diễn tả rất đẹp rằng Đức Maria đã sống với “đôi mắt hướng về Đức Kitô” và ghi nhớ từng lời của Người; những kỷ niệm về Đức Giêsu được ghi khắc trong tâm hồn Mẹ, và theo một nghĩa nào đó, đã trở thành “tràng Mân Côi” mà Mẹ không ngừng suy niệm trong suốt cuộc đời trần thế

(x. Tông thư Rosarium Virginis Mariae, số 11).

 Bởi vậy, mỗi lần lần chuỗi, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Đức Giêsu bằng ánh mắt của Đức Maria.  Trong mầu nhiệm Vui, chúng ta chiêm ngắm Người đến trong thân phận con người và chia sẻ kiếp sống của chúng ta.  Trong mầu nhiệm Sáng, chúng ta bước theo Người trên những nẻo đường loan báo Tin Mừng.  Trong mầu nhiệm Thương, chúng ta đứng với Đức Maria bên Thập Giá.  Trong mầu nhiệm Mừng, chúng ta chiêm ngắm chiến thắng của Người trên tội lỗi và sự chết.  Như thế, đọc kinh Mân Côi không phải là tìm đến với Đức Maria thay cho Đức Kitô, nhưng là cùng Đức Maria đến gần Đức Kitô hơn.  Mẹ không giữ ánh mắt của chúng ta lại nơi Mẹ; Mẹ dẫn ánh mắt và tâm hồn chúng ta hướng về Đức Kitô.

 Điều cần chúng ta tự hỏi là: sau nhiều năm lần chuỗi, chúng ta có hiểu Đức Giêsu hơn, yêu mến Người hơn và gắn bó với Người hơn không?  Nếu mỗi ngày đọc kinh Mân Côi mà chúng ta ngày càng biết sống hiền lành hơn, biết tha thứ hơn, biết phục vụ hơn, biết đón nhận Thập Giá hơn và tín thác hơn, thì tràng chuỗi đang thực sự giúp chúng ta để Đức Kitô đi vào và biến đổi cuộc đời mình.  Cùng Đức Maria chiêm ngắm Đức Kitô cuối cùng phải dẫn đến việc để Đức Kitô sống trong chúng ta.

 3.  Cùng Đức Maria sống mầu nhiệm Đức Kitô

 Bài đọc thứ nhất đưa chúng ta đến một hình ảnh khác của Đức Maria.  Sau khi Đức Giêsu được rước lên trời, các Tông Đồ trở về Giêrusalem.  Sách Công vụ kể:

“Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu”

(Cv 1,14).  Đức Maria của ngày Truyền Tin giờ đây hiện diện giữa cộng đoàn Hội Thánh.  Mẹ đã thưa “Xin vâng” tại Nadarét; Mẹ đã đi với Đức Giêsu trên những chặng đường của Người; Mẹ đứng dưới chân Thập Giá; và giờ đây Mẹ lại cùng các môn đệ cầu nguyện trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần.  Hành trình của Đức Maria cho thấy: Lời Chúa được lắng nghe phải trở thành Đức Kitô được đón nhận, và Đức Kitô được đón nhận phải trở thành một đời sống được biến đổi.  Chiêm niệm không làm con người xa rời cuộc sống, nhưng giúp họ sống sâu hơn điều mình đã chiêm ngắm. 

Đó cũng phải là hoa trái của kinh Mân Côi.  Chúng ta không thể kết thúc việc lần chuỗi ở lời “Amen” cuối cùng.  Những mầu nhiệm vừa suy ngắm phải tiếp tục đi vào đời sống.  Mầu nhiệm Vui mời chúng ta biết đón nhận và trao ban.  Mầu nhiệm Sáng mời chúng ta trở nên chứng nhân Tin Mừng.  Mầu nhiệm Thương dạy chúng ta biết yêu thương và trung thành trong thử thách.  Mầu nhiệm Mừng giúp chúng ta sống bằng niềm hy vọng và hướng về sự sống đời đời.  Thánh Gioan Phaolô II dạy rằng kinh Mân Côi là một hành trình loan báo và đào sâu mầu nhiệm Đức Kitô, nhằm uốn nắn người Kitô hữu theo trái tim Đức Kitô

(x. Tông thư Rosarium Virginis Mariae, số 17).

 Đây chính là đích điểm của việc lần chuỗi: không chỉ để chúng ta biết thêm về Đức Giêsu, nhưng để chúng ta trở nên giống Người hơn.

 Vì thế, người thường xuyên lần chuỗi Mân Côi phải là người ngày càng biết xây dựng hiệp nhất, bởi Đức Maria đã cầu nguyện giữa một cộng đoàn “đồng tâm nhất trí.”  Người lần chuỗi phải biết đem bình an vào gia đình thay vì gây chia rẽ; biết tha thứ thay vì giữ mãi lỗi lầm; biết đến gần người đau khổ thay vì thờ ơ; biết phục vụ thay vì chỉ tìm quyền lợi cho mình.  Một gia đình đọc kinh Mân Côi mỗi tối sẽ càng đẹp hơn nếu sau lời kinh, các thành viên biết nói với nhau những lời yêu thương, biết nhường nhịn, tha thứ và cùng nhau chia sẻ những gánh nặng trong cuộc sống.  Khi ấy, tràng chuỗi không chỉ nằm trong tay, nhưng đã đi vào tâm hồn và cuộc sống.  Những lời Kinh Kính Mừng được đọc bằng môi miệng trở thành những chọn lựa theo Tin Mừng được thể hiện trong đời sống.  Đó là lúc chúng ta thực sự cùng Đức Maria sống mầu nhiệm Đức Kitô.  Và đó cũng là hoa trái đích thực của việc chiêm ngắm: điều chúng ta nhìn thấy nơi Đức Kitô dần trở thành điều chúng ta sống trong chính cuộc đời mình.

 Kết luận : Lễ Đức Mẹ Mân Côi hôm nay mời gọi chúng ta đừng để một lời kinh rất quen thuộc trở thành một lời kinh chỉ được đọc theo thói quen.  Mỗi lần cầm tràng chuỗi trong tay, chúng ta hãy bước vào hành trình với Đức Maria: lắng nghe Lời Chúa để đón nhận Đức Kitô, và đón nhận Đức Kitô để sống mầu nhiệm của Người giữa cuộc đời.

 Giữa một cuộc sống nhiều tiếng ồn và lo toan, xin Đức Maria dạy chúng ta biết thinh lặng để nghe tiếng Chúa. Giữa những bất an và thử thách, xin Mẹ giúp chúng ta biết nhìn mọi biến cố bằng ánh sáng của Đức Kitô.  Và qua từng hạt Mân Côi mỗi ngày, xin Mẹ dẫn chúng ta đến gần Con của Mẹ hơn, để những gì chúng ta chiêm ngắm trong lời kinh dần trở thành những gì chúng ta sống bằng chính cuộc đời mình.

 Lạy Đức Mẹ Mân Côi, xin dẫn chúng con đến với Đức Giêsu, Con của Mẹ. Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành

From: Langthangchieutim


 

NGỒI XUỐNG – LỚN LÊN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy”.

“Chúa Giêsu mời một phụ nữ tham dự trọn vẹn đời sống môn đệ!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria ngồi bên chân Chúa, chỗ của một môn đệ. Lời Chúa hôm nay cho thấy: hồn tông đồ chỉ có thể lớn lên khi người môn đệ biết dừng giữa những tất bật, chịu để cho Lời dạy mình – ‘ngồi xuống – lớn lên’.

Ngồi dưới chân thầy là tư thế của người môn đệ. Maria ngồi đó để nghe và học; Chúa Giêsu đón cô vào chỗ mà khuôn phép thời ấy thường dành cho nam giới. Matta xin Ngài bảo em đứng lên giúp mình; Ngài lại xác nhận Maria đã chọn phần tốt nhất. Cô vẫn là người em, nhưng còn là một môn đệ. Có những điều nơi một con người chỉ lớn lên khi chúng ta thôi giữ họ trong chỗ mình đã quen; có khi thương họ, nhưng chỉ muốn họ mãi là người mình cần. “Tình yêu của chúng tôi không trói buộc bạn, và nhu cầu của chúng tôi không giữ bạn lại!” – Kahlil Gibran.

Matta đến thưa: “Thầy không để ý tới sao?”. Nỗi vất vả khiến cô thấy mình đơn độc, thấy em mình vô tư, và cả Chúa Giêsu cũng dường như chẳng quan tâm. Cô muốn Maria sớm đứng lên; Ngài muốn Maria cứ ngồi xuống. Ngài gọi tên cô hai lần: “Matta, Matta!”. Ngài vẫn đoái đến người đang phục vụ, nhưng còn thấy nỗi lo đang khiến cô mất bình an. Matta muốn Thầy bảo em phụ mình; Ngài muốn cô nhận ra mình đang lo lắng quá nhiều. Chúa Giêsu cũng có lời dành cho cô; và Matta cũng cần dừng lại để nghe.

Phaolô cũng cần dừng lại để nhận ra đời mình trong ý định của Thiên Chúa. Ông từng tiến xa trong đạo Do Thái, nhiệt thành đến mức tàn phá Hội Thánh. Nhưng khi Thiên Chúa mặc khải Người Con cho ông, ông mới hiểu: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người” – bài đọc một. Ơn gọi đã có trước cả những năm Phaolô đi lạc. Lớn lên là để Chúa sửa lại hướng đi, cả khi chúng ta tưởng mình đang hết lòng phụng sự Ngài. Vì thế, như Matta, như Phaolô, người môn đệ mọi thời cần cầu xin: “Lạy Chúa, xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta cũng có thể ở mãi một chỗ quen, làm mãi một việc mọi người cần; rồi khó lòng ngồi xuống để học điều mình chưa biết. Sẵn lòng nhận thêm việc, nhưng ngại để Lời chạm vào cách mình đang sống. Có khi điều khó nhất là để Chúa dạy lại chính điều chúng ta vẫn dạy người khác. “Chúng tôi, những người nói, và anh chị em, những người nghe, đều là môn đệ của một Thầy duy nhất!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô luôn lắng nghe Cha, sống từng ngày trong ý Cha. Giữa những ngày rao giảng và chữa lành, Ngài vẫn lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Là Người Con, Ngài đã “học biết thế nào là vâng phục qua những đau khổ”, cho đến lời xin vâng trên thập giá. Giữa bao bận rộn, chúng ta cần ngồi bên Chúa, học để thánh ý Cha đi vào từng việc mình làm. Hồn tông đồ lớn lên từ đó – ‘ngồi xuống – lớn lên’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết dừng khi công việc cuốn đi; biết nhận ra ý Cha trong từng chọn lựa; và đừng để bao năm phục vụ làm con thôi học!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXVII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/06.html

Cô Mác-ta đón Đức Giê-su vào nhà. Cô Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.        Lc 10,38-42

38 Khi ấy, Đức Giê-su vào một làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. 39 Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. 40 Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói : “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !” 41 Chúa đáp : “Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! 42 Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi.”


 

CHƯA THÂN – ĐÃ CẬN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai đã tỏ ra là người thân cận?”.

“Ai muốn trao ban tình yêu cũng phải đón nhận tình yêu như một quà tặng!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta quen nghĩ yêu là cho đi, ít khi nghĩ yêu còn là nhận, nhất là nhận từ người mình chưa thương. Lời Chúa hôm nay cho thấy: đôi khi, gặp nạn, kẻ băng bó chúng ta lại là người chúng ta vẫn tránh mặt. ‘Chưa thân – đã cận’.

Người Do Thái và người Samari vốn hiềm khích; nhưng người đến cứu nạn nhân lại là người Samari. Chúa Giêsu không kể người nằm đó nghĩ gì về vị ân nhân; Ngài chỉ kể người lạ đã làm gì: đến gần, đổ dầu và rượu lên vết thương, băng bó, đưa về quán trọ. Có thể lúc khoẻ, anh chẳng buồn nhìn một người Samari; giờ đây, lòng có muốn khước từ, anh cũng không còn sức. Sự sống của anh nằm trong bàn tay một người mà trước đó có thể anh chẳng muốn nắm. “Cho đi là nhu cầu của trái, cũng như đón nhận là nhu cầu của rễ!” – Kahlil Gibran.

Từ một bàn tay khó nhận đến một cái tên khó nói! Dụ ngôn kết thúc, Chúa Giêsu hỏi người thông luật, ai đã tỏ ra là người thân cận. Ông đáp: “Người đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Ông trả lời đúng, nhưng có lẽ không dám gọi tên: Samari! Người mà dân ông khinh miệt vừa làm điều ông không thể phủ nhận. Ông biết phải yêu người thân cận; giờ đây, ông còn phải biết một người Samari cũng biết yêu. Chúa Giêsu bảo ông “hãy đi và cũng hãy làm như vậy!”. Người ông vẫn coi thường nay dạy ông điều ông tưởng mình biết.

Người Samari còn hẹn trở lại. Ông gửi tiền cho chủ quán, nhận trả cả phần tốn thêm. Chúa Giêsu không kể một lời cảm ơn; nhưng ông đã lo cả những ngày anh còn cần chăm sóc. Đức Lêô XIV lưu ý: người ấy không phải một món hàng giao xong là hết, mà là một con người còn cần chăm nom. Mai này, khi phục hồi, anh sẽ biết có một người Samari đã cứu mình, ‘chưa thân – đã cận’. Người lạ ấy còn dành cho anh một chỗ trong những ngày tới.

Trong cuộc sống, chúng ta thấy ngượng ngùng khi người mình chưa thương lại chăm sóc mình lúc hoạn nạn. Chuyện cũ vẫn còn; họ không nhắc, cũng không đợi một lời xin lỗi. Từng việc họ lặng lẽ làm khiến chúng ta không còn dễ tin vào những điều mình từng nghĩ về họ. Họ chẳng thanh minh; lòng tốt của họ đã nói đủ. “Việc làm là bằng chứng của tình yêu!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Người nằm sóng soài bên đường là hình ảnh một nhân loại đầy thương tích. Đức Kitô đã cúi xuống bên nhân loại ấy – một nhân loại đã khước từ và đóng đinh Ngài. Để cứu chúng ta, Ngài đã tiêu tốn cả mạng sống mình. Người nằm đó cũng là mỗi chúng ta. Bao lần chúng ta xử tệ với Ngài, khinh miệt Ngài; thế mà Ngài vẫn đến, lặng lẽ chăm sóc cả những vết thương chúng ta tự gây nên. Chúng ta còn coi Ngài như người dưng; Ngài đã cứu chúng ta như người thương – còn hơn cả thân lẫn cận. Chúng ta chưa muốn Ngài gần, Ngài đã thương đến cùng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi nhìn người con hiềm khích là xa lạ; dạy con cúi xuống khi họ cần; và khi con ngã, đừng để tự ái khiến con khước từ bàn tay người anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXVII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/05.html

Ai là người thân cận của tôi ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.        Lc 10,25-37

25 Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” 26 Người đáp : “Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào ?” 27 Ông ấy thưa : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” 28 Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”

29 Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Nhưng ai là người thân cận của tôi ?” 30 Đức Giê-su đáp : “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?” 37 Người thông luật trả lời : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”


 

 

 “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!” – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để hoán cải và trở về với Chúa và những người thân thương của mình. Một ngày bình yên nhé. Cậ`u nguyện cho nhau và thể giới được bình an nhé

Cha Vương

CN: 04/10/2026.     (n9-22)

TIN MỪNG: Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!” Thấy vậy, Đức Giê-su bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. (Lc 17:12-15)

SUY NIỆM: Phong cùi là một bệnh nan y khó trị, ai cũng ghê tởm và run sợ nếu mắc phải bệnh này. Ai bị bệnh này họ bị ruồng bỏ, bị coi là nhơ nhớp, phải sống cách ly trong một làng cùi xa mọi người, xa cả người thân… Bạn biết không? Trong xã hội ngày nay có một loại phong cùi còn nguy hiểm và đáng sợ hơn nữa. Một khi nó xâm nhập vào con người nó sẽ gây tổn thương và làm tan vỡ hạnh phúc không những cho chính đương sự đó và cho cả gia đình, xã hội và những người xung quanh nữa. Bệnh này có những triệu chứng như sau: Ham thích văn hoá phẩm đồi truỵ —“ông ăn chả bà ăn nem” hoặc có tí máu “dê”— lang chạ trong tình ái, nghiện ngập rượu chè ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan v.v. Nếu những ai mang chứng bệnh phong cùi của thời đại này, họ không tự chữa mình được bạn ạ.  Họ cần phải cậy nhờ vào sức mạnh và quyền năng chữa lành của Thiên Chúa qua việc ăn năn hoán cải, quyết tâm kiên nhẫn cầu nguyện và siêng năng chạy đến bí tích Giải tội để xin ơn chữa lành của Chúa bằng sự quyết tâm từ bỏ. Vậy mỗi khi bị cám giỗ, như người phong cùi hôm nay, bạn hãy kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!” Nếu bạn hết lòng thành tâm cầu khẩn xin ơn, Chúa sẽ cứu bạn đó.

LẮNG NGHE: Chúa Giê-su nói: “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi.”

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, có một bệnh phong cùi đáng sợ hơn đó là tội lỗi vì nó làm hoen ố tâm hồn, gia đình, cộng đồng và xã hội, xin cho con biết siêng năng chạy đến bí tích Giải tội để được tẩy sạch bệnh phong cùi thiêng liêng này.

THỰC HÀNH: Tự xét mình và nếu được hãy đi xưng tội.

From: Do Dzung

******

Sám hối – Gia Ân 

TÌNH YÊU BẤT BẠI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”.

“Trong chiến tranh, không gì thay được chiến thắng!” – Douglas MacArthur.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chiến thắng khiến người khác phải chết; có một chiến thắng khởi đi từ cái chết của người chiến thắng. Tin Mừng hôm nay hé mở nghịch lý ấy: Người Con chịu sát hại, nhưng nơi cái chết ấy, một ‘tình yêu bất bại’ tỏ lộ.

Trước khi trở thành nơi đổ máu, vườn nho đã là một bài tình ca. Isaia hát về người bạn yêu quý: nhặt đá, trồng giống nho tốt, xây tháp, khoét bồn đạp. Từng việc đều mang một niềm mong đợi: vườn sẽ sinh trái – bài đọc một. Chúa Giêsu kể lại những chăm chút ấy; các tá điền bước vào một khu vườn đã được tình yêu sửa soạn. Nhưng đến mùa hái, đòi hỏi chính đáng của chủ lại thành sự xúc phạm trong mắt họ. Vườn vẫn mang tên chủ, nhưng trong lòng họ, chủ không còn quyền bước vào. “Mọi điều chúng ta có, mọi sự chúng ta là đều được cho mượn!” – Robert Barron.

Sau những tôi tớ chịu đánh đập, sát hại, người chủ vẫn còn một người để gửi đi: chính con mình. “Chúng sẽ nể con ta!”. Lời ấy mang cả niềm hy vọng lẫn sự mong manh của tình yêu. Nhưng sự có mặt của người con làm lộ rõ điều họ muốn: cướp vườn! Họ nhận ra người thừa kế, mà không nhận ra lòng chủ. Ngay trong vườn ấy, họ bàn chuyện giết người. Tình yêu đã đến tận cổng; lòng người vẫn cứ khép. Vậy mà chủ vẫn chờ.

Người Con nằm xuống ngoài vườn; các tá điền tưởng từ nay vườn thuộc về họ. Nhưng “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”. Điều họ loại bỏ, Thiên Chúa đặt làm nền cho một ngôi nhà mở cửa cho cả nhân loại. Giữa đổ vỡ, Thánh Vịnh cất lời: xin Chúa trở lại thăm nom vườn nho! Và Ngài đã trở lại nơi Đấng Phục Sinh: những bàn tay thủng vì đinh nay mở ra đón con người. Cái chết không giữ được Ngài, lòng hận thù không khoá được tình yêu Ngài. Từ tình yêu ấy, một dân mới được vun trồng để sinh hoa trái.

Có khi chúng ta chăm vườn lâu ngày, đến lúc trao lại thì không nỡ. Công việc sang tay người khác; mùa hái không như mong đợi. Phaolô mời chúng ta đem nỗi lo đến với Chúa trong lời cầu nguyện và tạ ơn. Bình an của Ngài giữ lòng chúng ta giữa những bẽ bàng – bài đọc hai. Vườn chưa đổi khác, nhưng lòng đã nhẹ hơn. Chúa vẫn ở đó, quý hơn mọi hoa trái chúng ta từng hái. “Những ai yêu Chúa không nghi ngờ lòng nhân hậu của Ngài khi Ngài gửi đến những giờ phút khó khăn!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô không giữ lại cho mình ngay cả mạng sống; Ngài trao tất cả trong tay Cha. Ngài tự hiến để cả những người muốn Ngài phải chết cũng có thể bước vào khu vườn sự sống. Nhờ Ngài, chúng ta có thể buông một công việc mà không buông lòng yêu mến, rời một khu vườn mà vẫn mong vườn được mùa. Đặt đời mình trên Ngài, chúng ta có thể vui cả khi hoa trái chín dưới bàn tay người khác. ‘Tình yêu bất bại’ ấy sống trong chúng ta khi nỗi đau đến với mình, nhưng không đi tiếp qua mình đến người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thành công khiến con chiếm giữ; thất bại khiến con ngã lòng; và bạc bẽo khiến con thôi yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN XXVII THƯỜNG NIÊN, NĂM A: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/04.html

Ông chủ sẽ cho các tá điền khác canh tác vườn nho.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”


 

MẤT HẾT – PHÚC THẬT – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh em hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời!”.

“Bất hạnh là người biết mọi điều mà không biết Chúa; hạnh phúc là người biết Chúa, dù không biết những điều ấy!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạnh phúc nằm ở chỗ chúng ta ít ngờ nhất: biết Chúa! Nhưng mải vui với thành công, chúng ta có thể quên Ngài. Lời Chúa hôm nay gợi mở: có khi ‘mất hết’ mới ‘phúc thật’.

Các môn đệ trở về, vui vì ma quỷ khuất phục họ. Chúa Giêsu đưa niềm vui ấy về tận gốc: “Tên anh em đã được ghi trên trời”. Một đàng, các ông kể điều mình làm được; một đàng, Ngài nói đến điều Chúa Cha làm cho họ. Tên ghi trên trời không phải là thành tích, nhưng là dấu chỉ người được đón nhận. Chúa không chỉ biết việc chúng ta làm; Ngài biết những gì làm nên chúng ta. Khi chẳng còn thành công nào để kể, chúng ta vẫn có phúc: biết Chúa và biết mình được Ngài nhớ tên.

“Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng”, Ngài cất lời tạ ơn Cha. Điều dành cho các môn đệ – những người bé mọn – còn lớn hơn cả quyền năng khiến ma quỷ khuất phục: biết Cha nhờ Người Con! Chúng ta có thể biết nhiều điều về Chúa, làm nhiều việc cho Ngài mà vẫn đứng ngoài sự thân mật ấy. Người bé mọn để mình được dẫn vào, học thưa “Cha” với Người Con. Phúc thật sâu đến thế: được yêu trong tình yêu của Cha – Con. “Chúng ta được chia sẻ sự sống bên trong của Thiên Chúa!” – Robert Barron.

Gióp đã qua một quãng dài để cảm nhận sự thiết thân ấy. Sau bao tranh luận, ông thưa: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” – bài đọc một. Không nhận được lời giải cho từng mất mát, ông gặp Đấng mình từng chất vấn. Của cải sẽ được phục hồi, nhưng ông đã gặp Chúa trước khi nhận lại chúng. Phúc của Gióp vì thế không chỉ là những gì Chúa cho lại sau khi ông ‘mất hết’; ‘phúc thật’ của ông là được biết Chúa, sống với Ngài như “Cha con” khi Ngài “toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, có khi làm việc cho Chúa, nhưng cần thành công hơn cần Ngài. Đến khi phải trao lại một công việc, rời khỏi một công trình, chúng ta ngỡ mình ‘mất hết’ – lòng chông chênh. Điều đau nhất là thấy mọi sự vẫn tiếp tục, dù vụng về, khi thiếu mình. Lúc ấy, chúng ta có dám đến với Chúa, chỉ thưa một tiếng “Cha?”. Và đó mới là ‘phúc thật’. “Sự buông bỏ, khi thực hành đúng, chỉ là phương thế để gắn bó với Thiên Chúa!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống mối tương quan “Cha – con” đến tận thập giá. Khi đôi tay từng làm bao phép lạ nay chịu đóng đinh, Ngài vẫn thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha!”. Không phải đau khổ tự nó làm nên phúc; chính tình yêu của Cha vẫn nâng đỡ Ngài giữa đau khổ. Đấng Phục Sinh đưa chúng ta vào tình yêu ấy. Nhờ Ngài, khi những gì từng làm nên vị thế không còn, chúng ta vẫn sống như người con được yêu – ‘mất hết – phúc thật’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Cha, khi thành công, đừng để con quên Ngài; khi mất mát, đừng để con chao đảo; và khi chẳng còn gì, cho con biết con vẫn còn Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXVI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/03.html

Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,17-24

17 Khi ấy, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” 18 Đức Giê-su bảo các ông : “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. 19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. 20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” 21 Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

22 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy ! 24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết : nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”


 

Thời gian và đời người…

Bài giảng của cha Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm trong thánh lễ tạ ơn mừng thượng thọ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương: Thời gian và đời người…

_____

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Lời Chúa hôm nay hết sức thấm thía. Bài đọc I, sách Giảng viên (Gv 1, 2-11), có thể coi như một lời cầu nguyện xin Chúa cho con được bước theo con đường của Chúa. Bài đọc II của Thánh Phaolô (Ep 1,3-14) nhắc cho chúng ta, dù thân phận cát bụi, nhưng có thể nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – “cát bụi tuyệt vời”, bởi vì đã được dự định, đã được tuyển chọn ở trong ý định tình yêu của Thiên Chúa, đến nỗi mỗi khoảnh khắc cát bụi của chúng ta là ân sủng tuyệt vời của Thiên Chúa.

Hôm nay, có lẽ là lúc thuận tiện nhất để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời của mình, dưới khía cạnh thời gian, đời người. Chúng ta suy nghĩ gì khi mừng một người thầy 95 tuổi? Có lẽ có rất nhiều điều để suy nghĩ, nhưng khi nói về thời gian, chúng ta đều biết câu nói của thánh Augustinô: “Không đặt câu hỏi thì hầu như ai cũng có cảm tưởng mình biết thời gian là gì, nhưng hễ đặt câu hỏi lại lúng túng, không biết thời gian thực sự là gì!”. Để phần nào trả lời cho câu hỏi khó khăn đó, xin được chia sẻ với cộng đoàn ba ý tưởng.

Trước hết, thời gian, đơn giản là khoảnh khắc. Thứ hai, thời gian là lịch sử. Thứ ba, thời gian là vĩ sử, có nghĩa là lịch sử của những gì vĩ đại, của những gì đáng nhớ.

Trước hết, thời gian là khoảnh khắc. Triết lý Đông phương cũng đã cảm nhận điều này và sách Giảng viên cũng thế: “Phù vân trên mọi phù vân, mọi sự đều là phù vân”, mọi sự chỉ là vô thường. Mỗi người chúng ta có thể sở hữu rất nhiều thứ, nhưng có một điều duy nhất chúng ta không thể sở hữu được, đó là thời gian. Chúng ta không bao giờ sở hữu được hai khoảnh khắc thời gian, một khoảnh khắc cũng không được. Thời gian dưới khía cạnh là khoảnh khắc, nhắc nhở cho chúng ta sự mau qua của đời người, “đời người như bông hoa sớm nở chiều tàn”. Thế nhưng, ý thức về vô thường, ý thức về khoảnh khắc lại làm cuộc sống trở nên vô cùng quý giá. Tại sao? Tại vì mỗi khoảnh khắc là duy nhất, chúng ta đừng lầm tưởng chúng ta nhắc lại hai điều trong cùng một thời gian. Thánh lễ hôm nay là độc nhất không thể lặp lại được, những con người mà chúng ta gặp gỡ hôm nay cũng không gặp lại được, đúng như lời của triết gia Heraclitus: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Chính vì thế, khi ý thức về thời gian là một khoảnh khắc nhắc cho chúng ta hãy ý thức lại từng giây phút mà Chúa ban cho chúng ta, đừng phung phí nó. Bởi vì chúng ta không biết khoảnh khắc mà chúng ta sẽ ra đi là khi nào? Khoảnh khắc có khi là một ngày rất dài, nhưng có khi đến 50, 70 năm mà như một hơi thở, như tựa đề của một câu chuyện rất cảm động của một nữ văn sĩ người Pháp, Anne Philipe, Thời gian như một tiếng thở dài! (le temps d’un soupir). Thời gian như một tiếng thở dài nhắc nhở chúng ta hãy biết lựa chọn trong cuộc sống của mình cái gì là tùy phụ, cái gì là chính yếu, cái gì cần giữ lại, cái gì cần bỏ đi, cái gì cần phải tích trữ và cái gì cần phải quên đi. Tuy nhiên, điều đơn giản đó lại không nằm trong ý thức của mình, hay đúng hơn, hãy ý thức cái vô thường và hướng tới cái thường, còn nếu như không có ý thức đó, chúng ta sẽ biến cuộc đời mình thành tầm thường.

Thứ hai, thời gian như là lịch sử. Theo tiếng Hán Việt, lịch có nghĩa là xảy ra theo nhịp độ. Một người từng trải ta gọi là lịch duyệt hay lịch lãm.

Hôm nay mừng lễ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương 95 tuổi, người Việt chúng ta thường nói tới “tam thập, tứ thập, ngũ thập, thất thập”. Dĩ nhiên thất thập cổ lai hy, nhưng hôm nay mừng một người thọ 95 tuổi cho nên thất thập chưa phải là cổ lai hy. Chúng ta nói điều đó như một điệp khúc, và nó cạn hết ý nghĩa đến nỗi bây giờ sống đến 70 tuổi mà chưa đau ốm người ta gọi đó là sống thọ. Tuy nhiên, trong triết học của đạo Khổng khi nói tới “tam thập, tứ thập, ngũ thập…”, thực ra là một tiến trình trưởng thành trong đời sống tâm linh. Mười lăm năm đầu là thời gian để học “thập hữu ngũ nhi chí vu học”. Ba mươi tuổi “tam thập nhi lập” là người phải biết gây dựng sự nghiệp. Bốn mươi tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” là người có khả năng quyết định chịu trách nhiệm về đời sống của mình, không còn chao đảo trong nghi ngờ. “Ngũ thập tri thiên mệnh” là con người biết được mệnh của trời. “Lục thập nhi nhĩ thuận” là thấu hiểu được nhân tình thế thái. “Thất thập nhi tùng tâm sở dục”, đó là con người an nhiên, bình an trong thân phận giới hạn của mình. Kinh Thánh khi nói đến thời gian theo nghĩa này cũng là nói đến những quãng thời gian trưởng thành tâm linh. 40 năm dân Israel trong sa mạc, 40 ngày đêm tiên tri Êlia lên núi thánh của Chúa, 40 ngày Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc, để chiến thắng sở hữu, chiến thắng quyền lực, chiến thắng vinh danh, để cuối cùng đi theo con đường mà Cha đã định cho mình. Cho nên câu hỏi đối với chúng ta bây giờ thường là đau bệnh gì? Chứ không phải là câu hỏi chúng ta đã nên người như thế nào?

Cách đây gần 40 năm Thầy Stêphanô giới thiệu cho tôi một cuốn sách của Marcel Légaut mang tựa đề L’homme à la recherche de son Humanité – Con người, kẻ tìm kiếm ý nghĩa của chữ “người”. Chúng ta là người, nhưng đã nên người chưa, đó là tất cả câu hỏi? Người như thế nào mới là đúng, mới là thật, mới là tốt, mới là đẹp. Chúng ta có lý do để chiêm ngưỡng một khuôn mặt như của thầy Stêphanô để tự hỏi xem cuộc đời đó có thật không, có tốt không, có đẹp không?

Thứ ba, thời gian là Vĩ sử. Thực ra trong tiếng Việt không có từ này. Nhưng đó là một gợi ý rất hay của một triết gia người Đức có tên là Nietzsche. Ông ta nói: Lịch sử theo nghĩa thời gian thì đã đành nhưng lịch sử đáng kể là lịch sử của những gì vĩ đại, gọi là histoire monumentale, tức là những gì đáng để nhớ, những biến cố không thể quên được.

Trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 9, 7-9), chúng ta nghe Hêrôđê nói: “Ông ấy là ai”? là một tiên tri, một ai đó đã sống lại… Nhưng những người Kitô hữu biết Ngài là ai và Ngài đã thay đổi lịch sử đến mức như thế nào. “Thầy là đường là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), chính con người đó đã làm thay đổi lịch sử của nhân loại, đến nỗi lịch sử bây giờ được tính từ Đức Giêsu Kitô. Hôm nay là ngày 24/9/2020, nhưng chúng ta đừng quên, tại sao chúng ta lại tính là 2020, bởi vì quy chiếu về Đức Giêsu Kitô. Nếu không có Đức Giêsu, cuộc đời của chúng ta không như vậy, và có lẽ cuộc đời của thầy Stêphanô cũng không như vậy, thậm chí hoàn toàn khác. Nếu như văn chương không có một Nguyễn Du thì để làm gì? Nếu chính trị không có một Lê lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung thì lịch sử chúng ta có cái gì? Trong đời sống thiêng liêng, nếu không có một Phanxicô Assisi, không có Mẹ Têrêsa Cacutta, không có Maximilian Kolbe… thì lịch sử thiêng liêng của chúng ta có gì?

Ở điểm này, xin được trở lại với thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, thầy là một con người độc đáo đến nỗi rất nhiều người trong chúng ta cuộc đời đã khác nếu không được gặp thầy. Và mỗi người có lý do để tạ ơn thầy, tạ ơn Chúa… vì cuộc đời của mình đã gặp được một con người như thế.

Vì đã gặp được một con người như thế. Vậy, con người đó như thế nào? Xin được trích lại bài thơ của thầy, bài Sở nguyện (nguyện ước sâu xa), để chúng ta cảm nhận đôi chút.

Sở nguyện

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.

Xin được chú giải một chút như để thay cho lời kết. Thầy nói về cuộc đời của mình như là hành giả, tức là người ra đi, nhưng đi có nhiều nghĩa, đi từ Bắc vào Nam cũng là đi, nhưng đi trên bình diện địa lý. Còn có cái đi sâu xa hơn nữa là cuộc hành trình tinh thần, đi rất xa, đến đâu, đến với bao nhiêu con người, chứ không phải đến đây hay đến đó (nơi chốn). “Hành giả dừng chân tạm vỉa hè/Tấm thân đất chở với trời che”. Con người ra đi đó có không gian vô cùng lớn, đó là trời với đất. Nhà chúng ta ở được định vị, được xác định, được giới hạn, rất nhỏ, ngay cả những cung điện được xây lên. Không gian lớn nhất là trời đất, đi giữa trời đất, vô cùng tự do, rất thênh thang, nhưng để làm gì? Thưa, xin được lấy 4 chữ đầu của câu thơ tiếp, đó là “Cảm-Thương-Trần-Thế”. Đó phải chăng là trái tim của Phật? Nhưng đối với chúng ta còn hơn thế nữa, một trái tim bị đâm thâu bởi phận người. Đi mãi nhưng chưa thấy hết, bởi còn muốn gặp những con người trên con đường đi của mình, với vui buồn của họ. Cho nên ở đây tôi không nghĩ tới triết lý của Đông phương cho bằng lời của thánh Phaolô: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 14). Có ai vui mừng mà tôi không cảm thấy mừng vui, có ai đau khổ mà tôi không cảm thấy khổ đau, có ai yếu hèn mà tôi lại không cảm thấy hèn yếu!

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể/Nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, bao giờ cát bụi trở về với nguyên thể, trở về với nghĩa sâu xa nhất mà cát bụi mang lấy khi nó được tạo dựng như là ơn của Thiên Chúa. Cho nên, cát bụi hoàn nguyên thể là trở về với tình trạng uyên nguyên, thật nhất của chữ “người”, của kiếp người cát bụi, cho nên ngay cả cát bụi cũng có thể đem lại một chút êm, một chút ấm cho con người, cho tha nhân, cho bao kẻ lang thang đây đó trong cuộc đời, dù là cát bụi thì vẫn tốt cho ai đó, như thể để lót chân cho người ta cũng được.

Vậy, một cuộc đời như thế có ý nghĩa gì? Chúng ta có muốn là một người học trò với một người thầy như vậy không? Chúng ta có muốn là một người môn đệ đi theo một người thầy như vậy không? Đó là câu hỏi mà mỗi chúng ta tự trả lời. Bởi vì có những người môn đệ đi theo nhưng không học cái gì cả và cũng có những người học rất nhiều mà không hề đi theo.


 

HÀNH GIẢ KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU

The Nang Nguyen

HÀNH GIẢ KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU

Thánh Lễ An Táng Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Bài giảng của Lm. Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA

  1. TỪ MỪNG THỌ ĐẾN “TRƯỜNG THỌ” TRONG THIÊN CHÚA

Trọng kính quý Đức Cha, quý cha, quý tu sĩ nam nữ, những người trong gia đình linh tộc, huyết tộc, và tất cả những người yêu mến thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương.

Trong nhiều năm gần đây, những người yêu mến thầy, cùng với một nhóm đệ tử thân tình, vẫn thường tổ chức lễ sinh nhật cho thầy. Năm thì mừng thượng thọ, năm thì mừng đại thọ.

Chúng ta còn nhớ có lần lễ mừng thọ được tổ chức rất long trọng tại Nhà thờ Chính tòa Văn Hạnh, Giáo phận Hà Tĩnh, quê hương của thầy. Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã tổ chức một Thánh lễ thật long trọng để mừng người con xuất thân từ vùng đất Hà Tĩnh này.

Năm nay hơi khác một chút.

Nhóm chúng tôi cũng đã quyết định tổ chức lễ sinh nhật cho thầy. Một phần vì có một linh mục, một người con thiêng liêng của thầy, vừa mới du học ở Mỹ về và có dịp trở lại gặp thầy.

Nhưng điều chúng tôi không ngờ tới là vào khoảng tám giờ tối, đúng vào giờ lẽ ra anh em, học trò quây quần bên thầy, thì thầy lại trả về cho Thiên Chúa hơi thở mà Thiên Chúa đã trao ban cho thầy.

Một đời người khép lại.

Chúng ta không còn mừng đại thọ.

Chúng ta không còn mừng thượng thọ.

Nhưng hôm nay, chúng ta có thể mừng “trường thọ” của thầy.

Bởi vì chỉ ở trong Thiên Chúa, con người mới thật sự trường thọ.

Người Việt chúng ta vẫn thường nói:

“Sinh ký, tử quy” – sống gửi, thác về.

Cuộc đời này là một cuộc gửi thân tạm bợ.

Cái chết lại là một cuộc trở về.

Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới thật sự tìm được sự sống trường tồn.

Và có lẽ hôm nay, thầy đã đạt đến điều mà cả đời thầy thao thức đi tìm.

  1. “SỞ NGUYỆN” – CHÂN DUNG MỘT HÀNH GIẢ

Hành trình sống của thầy được biểu lộ rất rõ trong bài thơ “Sở nguyện”, một bài thơ mà nhiều người trong chúng ta đã biết.

Thầy, với bút hiệu Thế Tâm, viết:

SỞ NGUYỆN

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.

Đọc những vần thơ ấy, chúng ta có cảm giác mình đang bước đi qua cả một hành trình tư tưởng của thầy.

Từ triết lý Trung Hoa.

Qua tư tưởng nhà Phật.

Và cuối cùng quy tụ nơi mầu nhiệm Kitô giáo.

“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.”

Ta nghe ở đó âm vang một vũ trụ quan rất quen thuộc của Đông phương: trời cha, đất mẹ; trời che, đất chở.

Con người hình thành và sống trong mối tương quan với trời đất, với vũ trụ, với thiên nhiên.

Rồi:

“Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.”

Ở đó, hình như ta nghe tiếng ai oán của nhà Phật, với cái nhìn rất sâu về nỗi khổ của kiếp nhân sinh.

Đời là bể khổ.

Con người sinh ra, lớn lên, yêu thương, mất mát, bệnh tật và cuối cùng phải đối diện với cái chết.

Nhưng thầy không dừng ở đó.

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Ta bước sang một chân trời khác: con người từ bụi đất, nhưng bụi đất ấy đã được Thiên Chúa tạo dựng, được trao một phẩm giá, được gọi vào một vận mệnh vượt quá chính mình.

Và cuối cùng:

“Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.”

Đây chính là nơi hành trình tìm kiếm dừng lại.

Không phải dừng lại trong một hệ thống triết học.

Không phải dừng lại trong một học thuyết.

Nhưng dừng lại nơi Thập Giá Đức Kitô, và trong sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria.

Tất cả công và tội của một đời người, cuối cùng, thầy “trông nhờ cây khổ giá”.

Tất cả vui buồn của kiếp nhân sinh, thầy “ký thác chuỗi Mân Côi”.

III. MỘT CON NGƯỜI HỘI TỤ NHIỀU DÒNG VĂN HÓA

Kính thưa cộng đoàn,

Người đang nằm trước mặt chúng ta trong những giây phút ly biệt này đã được rất nhiều người yêu mến và kính trọng từ tận đáy lòng.

Người thì gọi thầy là “nhà tư tưởng”.

Người gọi thầy là “triết gia”.

Có người thậm chí nhìn thầy như một “nhà thần học”.

Người khác coi thầy là một “nhà giáo uyên thâm”, với những suy tư rất độc đáo.

Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì nhìn nơi thầy như một sự kết tinh rất đặc biệt, một cuộc hội tụ độc đáo giữa tư tưởng Đông và Tây.

Nơi thầy có một cuộc lương duyên rất đẹp giữa những tinh hoa văn hóa, giữa những gì mà thần học gọi là “hạt giống Ngôi Lời”, với đức tin Kitô giáo.

Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì lại nhìn thầy như một “bậc chân tu”.

Dù thầy không khoác trên mình chiếc áo cà sa.

Dù cuối đời thầy cũng chẳng có một chiếc áo dòng để xác định thầy thuộc dòng nào.

Đối với chính mình, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương thường nhìn mình như một “hành giả”.

Một người đi.

Một người tìm kiếm.

Một kẻ truy tìm chân lý cho đời mình và bằng chính đời mình.

Và rồi, như một hồng ân của Thiên Chúa, thầy đã gặp được Đấng mà cả đời thầy mong đợi.

Nhưng để đi đến chân lý ấy, thầy cũng phải chấp nhận rất nhiều cuộc **tử đạo trong đời thường**.

  1. NHỮNG CUỘC “TỬ ĐẠO” TRÊN HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHÂN LÝ

Bài đọc thứ nhất trong sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể cho chúng ta về Thánh Stêphanô, vị thánh bổn mạng của thầy.

Thánh Stêphanô chịu tử đạo.

Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn gầy gò của thầy.

Thầy không bị giết bằng đá như Thánh Stêphanô.

Nhưng để chọn lựa Đức Kitô, trái tim của thầy cũng đã có những lúc “rướm máu”.

  1. Cuộc tử đạo đầu tiên: bước vào đức tin Kitô giáo

Như chúng ta đã biết, thầy sinh ra trong một gia đình Nho giáo.

Từ nhỏ, thầy Nguyễn Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí đã từng nhìn tôn giáo này bằng sự khinh thường.

Nhưng vì một biến cố trong việc học, thầy vào Trường Thiên Hựu ở Huế.

Tại đây, thầy có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu đức tin.

Và năm 1949, tại Nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội và nhận tên thánh Stêphanô.

Việc trở thành Kitô hữu đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là từ người mẹ của thầy.

Người mẹ thân yêu ấy từng chất vấn:

“Ông bà tổ tiên của mày có tội gì mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?

Tội của mày là tội bất hiếu.

Tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không rửa sạch được, vậy chỉ có một chút nước trên đầu thì làm sao rửa sạch được?”

Chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của thầy.

Một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau ấy.

Và chính thầy cũng biết mẹ mình hết mực thương con.

Tình thương của người mẹ ấy có lúc đã khiến bà phải tự hỏi:

“Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?”

Cũng như Đức Giêsu có lần “băng qua giữa họ mà đi”, thầy cũng phải băng qua nhiều thứ để bước theo tiếng gọi mà mình đã nhận ra.

Băng qua dư luận.

Băng qua truyền thống.

Băng qua ý kiến của dòng tộc.

Băng qua sự phản đối của gia đình.

Băng qua nỗi đau của chính mình.

Để đến với Đức Kitô.

  1. Cuộc tử đạo của đời tu

Thầy không dừng lại ở việc “vào đạo”.

Thầy còn chọn con đường tu trì.

Thầy đi vào đời sống thánh hiến với ba lời khấn: “vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh”.

Đó cũng là con đường Đức Kitô đã đi.

Đó là con đường các vị như Phanxicô, Biển Đức và biết bao nhiêu người nam nữ đã đi qua.

Người ta thường nói rất đẹp về đời tu.

Nhưng ai đã sống đời tu thì hiểu rằng đời tu cũng là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính của nó.

“Khiết tịnh” giống như một lưỡi gươm đi vào con tim, bởi trái tim bằng thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu.

Nó đụng đến chính những ước muốn rất sâu của thân xác và tâm hồn con người.

Vâng lời giống như một vòng gai đặt trên đầu, bởi con người luôn có khuynh hướng muốn làm chủ, muốn tự quyết định, muốn chính mình có tiếng nói cuối cùng.

“Khó nghèo” giống như việc bị đóng đinh lên thập giá, bởi bản năng tự nhiên của con người luôn muốn giữ lại những gì cần thiết cho mình, những gì bảo đảm cho mình.

Với một con người có tư tưởng rộng mở, luôn vượt ra ngoài những khuôn mẫu và những hình thức truyền thống; với một hành giả thích lang thang trên dòng đời, thì chắc chắn những kỷ luật của đời tu không phải lúc nào cũng là những viên đá dễ dàng đón nhận.

Và mỗi lần phải chọn lựa đi hay ở, ra hay vào, cũng là một lần trái tim rướm máu.

  1. Cuộc tử đạo sau biến cố 1975

Có lẽ một trong những giai đoạn đau đớn nhất là sau biến cố 1975.

Một giáo sư từng giảng dạy triết học và văn học tại Đà Lạt và Sài Gòn, một người đã quen với sách vở, với tri thức, với lớp học, nay phải bước vào một môi trường hoàn toàn khác.

Thầy bị đưa đi “học tập cải tạo”.

Một người thích fromage, bánh mì, một chút rượu vang đỏ, giờ đây phải học một nhịp sống khác, phải sống trong thiếu thốn, phải lao động, phải đối diện với những giới hạn rất thực của phận người.

Có lẽ hơn bao giờ hết, chính giai đoạn ấy làm thầy cảm nghiệm sâu sắc mầu nhiệm “thật – giả”, mầu nhiệm của kiếp nhân sinh.

Lâu nay thầy vẫn giảng về thật và giả.

Nhưng lúc này, thầy phải “sống” mầu nhiệm thật – giả bằng chính thân phận mình.

Và có lẽ nơi đó thầy hiểu sâu hơn Đức Kitô và Thánh Stêphanô, bổn mạng của mình.

Không oán thù.

Không trả thù.

Không để lòng mình bị nuôi dưỡng bằng căm giận.

Đức Giêsu đã cầu nguyện:

“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”

Thánh Stêphanô cũng cầu xin Thiên Chúa đừng chấp tội những người đang giết mình.

Những ai gặp thầy sau những năm tháng ấy có thể nhận ra nơi Nguyễn Khắc Dương một cung cách khác.

Một “hành giả”.

Một môn đệ đã đi ngang qua phần nào mầu nhiệm của Đức Kitô chịu đóng đinh.

  1. MẢNH ĐẤT BÌNH THUẬN: NƠI TỪNG GIAM GIỮ, RỒI LẠI ÔM ẤP THẦY

Hôm nay, khi nhìn lại, chúng ta thấy một điều rất lạ.

Chính mảnh đất Bình Thuận này, nơi ngày trước thầy từng bị đưa đi cải tạo, cuối cùng lại trở thành mảnh đất ôm ấp thầy trong những năm tháng cuối đời.

Chính nơi đây, nhờ sự chăm sóc tận tình của những anh em thuộc Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ, thầy đã có một nơi dừng chân vào cuối hành trình.

Và cũng chính mảnh đất từng chứng kiến những tháng ngày đau đớn ấy, giờ đây lại mở lòng đón lấy thân xác thầy.

Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì đường lối của Đấng Quan Phòng cũng thật kỳ diệu và bất ngờ.

  1. CUỘC HÀNH TRÌNH TỪ ĐÔNG SANG TÂY – VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH VÀO CHÂN LÝ

Con đường hành giả của thầy không chỉ là một con đường địa lý.

Từ quê hương Hương Sơn.

Ra thành phố Vinh.

Từ miền Bắc vào Nha Trang, miền Nam, trong thời đất nước còn chia cắt.

Rồi từ Đông sang Tây.

Từ miền quê đến “kinh thành ánh sáng” Paris.

Đó là hành trình về mặt địa lý.

Nhưng sâu xa hơn là một cuộc hành trình tinh thần.

Một cuộc đi tìm.

Một cuộc chọn lựa.

Một cuộc đi từ những điều đã nhận được từ gia đình, văn hóa, Nho giáo, Phật giáo, triết học, rồi cuối cùng dừng lại nơi Đức Kitô.

Chính thầy có lần lý giải tại sao mình bỏ truyền thống gia đình để theo đạo.

Theo cách thầy diễn tả:

Nho giáo là một tôn giáo rất đẹp, dành cho người trí thức, nhấn mạnh đời sống thanh cao, nhưng nhiều khi dường như đứng “trên” người khác, khó đến được với những người bình dân.

Phật giáo thì nhìn đời như bể khổ, và con người tìm con đường giải thoát khỏi khổ đau.

Nhưng Kitô giáo, theo cảm nghiệm của thầy, lại đi một hướng khác.

Đức Giêsu vốn là Con Thiên Chúa, nhưng đã “bước vào đời”.

Ngài sống như một người nghèo.

Ngài chia sẻ thân phận làm người.

Ngài vui niềm vui của con người.

Ngài đau nỗi đau của phận người.

Ngài yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người.

Đây là một tôn giáo “ở với con người”.

Một tôn giáo “gắn liền với con người”.

Một đạo của “tình yêu”.

Kitô giáo không phải là một thứ thuốc phiện để ru ngủ con người.

Trái lại, niềm tin vào Thiên Chúa Sáng Tạo thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo, tiếp tục lao động, tiếp tục làm cho thế giới này đẹp hơn.

Mầu nhiệm “Nhập Thể” của Đức Kitô trong thân xác làm người khiến chúng ta biết trân trọng thân xác, trân trọng lịch sử, trân trọng kiếp người.

Còn biến cố “Phục Sinh trong thân xác” mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng vĩnh cửu:

Sự sống sẽ chiến thắng sự chết.

VII. ĐỨC KITÔ ĐỨNG – THIÊN CHÚA ĐỨNG ĐỂ ĐỠ NÂNG CON NGƯỜI

Khi Stêphanô nhìn lên trời, ngài thấy Đức Kitô đứng bên hữu Thiên Chúa.

Đây là một hình ảnh rất đặc biệt.

Trong những triều đình vua chúa mà thầy từng biết qua lịch sử, những bậc quyền thế thường ngồi ở chỗ cao.

Người dưới phải đứng hầu.

Nhưng Đức Kitô của chúng ta lại “đứng”.

Đứng như một người sẵn sàng thắt lưng để phục vụ.

Thiên Chúa của chúng ta đứng.

Đứng để đỡ nâng.

Đứng để phục vụ con người.

Đứng như Đấng Tớ Trung.

Và có lẽ đây cũng là điều hấp dẫn thầy Nguyễn Khắc Dương:

Một Thiên Chúa không đứng xa con người.

Một Thiên Chúa không chỉ ngồi trên ngai.

Một Thiên Chúa cúi xuống.

Một Thiên Chúa bước vào thân phận của con người.

Một Thiên Chúa phục vụ.

VIII. “CON NGƯỜI KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU”

Để đi đến cửa trời, người hành giả thân yêu của chúng ta đã đi theo một Đức Kitô “không có nơi gối đầu”.

Chúa Giêsu nói:

“Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

Quả thật, Đấng tạo thành muôn loài, Đấng toàn năng, từ khi bắt đầu hành trình nhập thể cho tới trên đỉnh Thập Giá, lại là Đấng không có chỗ tựa đầu.

Khi chết trên Thập Giá, Đức Giêsu “gục đầu và trao Thần Khí”.

Nhưng có lẽ nói đúng hơn, Người tựa đầu vào cung lòng Chúa Cha:

“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Ở một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng là một con người “không có nơi gối đầu”.

Thầy không có nhà cao cửa rộng.

Thầy không sở hữu bao nhiêu quần áo.

Thầy lang thang đây đó.

Hai nơi thầy dừng chân tương đối lâu vào những năm cuối có lẽ là những cộng đoàn Bác Ái, đặc biệt Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ.

Nhưng nhà tạm thật sự của thầy là “trái tim của học trò”.

Và nhà vĩnh hằng của thầy là “cung lòng Thiên Chúa”.

Thầy đến.

Rồi thầy lại đi.

Góc xó nào thầy cũng có thể ngủ.

Nơi nào cũng có thể dừng chân.

  1. KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU, NHƯNG LẠI TÌM CHỖ GỐI ĐẦU CHO NGƯỜI KHÁC

Điều làm nên một nghịch lý rất đẹp nơi thầy là thế này:

Thầy không có nơi gối đầu cho mình.

Nhưng thầy lại là một người luôn tìm nơi gối đầu cho người khác.

Ai cô đơn, thầy nâng đỡ.

Ai thất tình, thầy ủi an.

Ai túng thiếu, thầy cho ít tiền.

Ai học giỏi, thầy cho một cuốn sách.

Ai thất nghiệp, thầy tìm cách giới thiệu việc làm.

Ai muốn tu trì, thầy tìm cách giới thiệu đến một nhà dòng.

Có những người gọi thầy là cha.

Có những lúc thầy lại đóng vai như một người mẹ.

Có lẽ chính vì không có quá nhiều thứ phải giữ cho riêng mình mà thầy thanh thoát.

Nhẹ nhàng.

Đi đây đi đó.

Như Đức Kitô.

  1. MỘT HÀNH GIẢ GẶP CHÚA “GIỮA CHỢ ĐỜI TRƯA SỚM”

Có một con người như thế, không còn đóng khung đời sống thiêng liêng vào một nơi duy nhất để gặp Thiên Chúa.

Thầy có thể gặp Chúa nơi mọi người.

Và gặp mọi người giữa cuộc đời.

“Giữa chợ đời trưa sớm”, như cách chính thầy diễn tả.

Những ai từng hẹn gặp thầy ở một nhà thờ, một nhà dòng hay một nơi nào đó, thường có kinh nghiệm này:

Khi mình tới thì thầy đã tới trước.

Và người ta thường thấy thầy quỳ ở một góc nhà nguyện, với bộ tràng hạt trong tay.

Hành giả ấy đi vào cuộc đời.

Nhưng cũng luôn tìm một chỗ để quỳ.

Đi giữa thế gian.

Nhưng vẫn biết nơi nào là quê hương cuối cùng.

  1. THẬP GIÁ – ĐIỀU KHÔNG THỂ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI LẠI CÓ THỂ ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA

Hành giả của chúng ta đã tìm được sức mạnh siêu nhiên của Thập Giá.

Với thầy, có những điều nơi con người là bất khả thể.

Thầy từng dùng một hình ảnh rất đơn giản:

Nếu một con bò rơi xuống giếng, thì phải có một người ở bên ngoài đưa nó lên.

Con vật ở dưới giếng không thể tự mình kéo chính mình ra khỏi giếng.

Con người cũng vậy.

Ngay cả sự công chính nơi con người – vốn là một điều tốt đẹp được Thiên Chúa Tạo Hóa đặt vào lòng chúng ta – vẫn có thể bị lệch lạc bởi tội lỗi, bởi sự hữu hạn, bởi lòng ích kỷ của chính con người.

Cho nên, cần đến một khả năng vượt quá con người.

Cần đến sức mạnh thần linh.

Cần đến “cây Thập Giá”.

Chỉ có Máu Con Chiên vô tì tích mới xóa được tội trần gian.

Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người lên trời.

Chỉ có Đấng vô hạn mới đưa con người ra khỏi giới hạn cuối cùng của mình.

Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới mở cho con người sự sống vĩnh hằng.

Chỉ có Đấng đã sống lại trong thân xác mới có thể làm cho thân xác con người được phục sinh sau cõi chết.

Đó là niềm hy vọng Kitô giáo.

XII. MỘT CON NGƯỜI RẤT SIÊU THOÁT – NHƯNG CŨNG RẤT “NGƯỜI”

Với thầy, sự dữ thật sự đã đi vào thế gian dưới muôn hình muôn vẻ.

Và một trong những biểu tượng rất mạnh mà thầy thường nhắc đến là tiền bạc.

Có lúc thầy nói rất mạnh về tiền bạc, xem nó như một thứ biểu tượng của quyền lực và cám dỗ của thế gian.

Nhưng ở đây chúng ta cũng gặp một nghịch lý khác nơi người thầy rất đáng yêu của chúng ta.

Thầy nói mình từ bỏ vật chất.

Nhưng thầy lại rất dễ thương trước những chuyện rất đời.

Có người đưa cho thầy một tờ đô la xanh, thầy vui vẻ cầm lấy, thậm chí còn có những cử chỉ rất hóm hỉnh với “đồng bạc xanh”.

Phải kể cả những chuyện vui như thế để nhớ rằng hành giả của chúng ta vẫn là “một con người”.

Rất người.

Rất thật.

Không phải một pho tượng thánh bằng đá.

Có lẽ chính vì vậy thầy rất say mê một tư tưởng về việc Thiên Chúa đã tạo dựng con người từ bùn đất.

Con người là bụi đất.

Nhưng là bụi đất mà Thiên Chúa đã chạm tới.

Bụi đất mà Thiên Chúa yêu.

Bụi đất mà Thiên Chúa muốn đưa vào sự sống của Người.

XIII. “NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ”

Hôm nay chúng ta đưa thầy về với cát bụi.

Đúng như thầy từng viết:

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Nhưng đồng thời, chúng ta trao linh hồn thầy vào bàn tay của Đấng Từ Bi.

Thầy đã lang thang tìm Chúa trên cõi đời.

Giờ đây, xin cho hành giả ấy được gặp Đấng mà cả đời mình tìm kiếm.

Xin cho người đã không có nơi gối đầu ở trần gian được tựa đầu vào lòng Chúa.

Xin cho người từng tìm chỗ gối đầu cho biết bao người khác, hôm nay tìm được nơi an nghỉ của chính mình.

XIV. DƯỚI ÁO MẸ MARIA

Và chúng ta trao thầy cho Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, người Mẹ mà thầy hết lòng yêu mến.

Trong bài thơ “Ave Maria”, thầy viết:

Ave Maria!

Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc,

Con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên,

Và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt

Đấng muôn trùng đoái nhận đời con.

Đó có lẽ cũng là tâm tình của thầy hôm nay.

Một đời người.

Một đời đi.

Một đời tìm.

Một đời vui buồn, công tội.

Tất cả dâng lên Thiên Chúa.

Và cuối bài thơ ấy, thầy viết:

Ave Maria!

Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,

Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu.

Xin Đức Maria đón lấy người con đã yêu mến Mẹ.

Xin Mẹ dẫn thầy đến với Chúa Tình Yêu.

Xin Cha cho người hành giả đã lang thang tìm Cha trên cõi đời này, giờ đây được gặp Cha.

Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa đầu vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi đến muôn đời. Amen.


 

KHÔNG ĐI MỘT MÌNH – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi!” – bài đọc một.

“Nếu Chúa sai chúng ta đi trên những con đường đầy đá, Ngài sẽ cung cấp những đôi giày bền. Sai chúng ta đến một nơi xa lạ, Ngài sẽ chuẩn bị một người bạn đường. Và nếu muốn cứu độ chúng ta đời đời, Ngài ban Con Một!” – Alexander Maclaren.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Thiên Thần bản mệnh cho thấy, giữa những chặng đường đầy đá, xa lạ và đôi khi tối tăm nhất của cuộc đời, người tín hữu vẫn có thể tin rằng, họ ‘không đi một mình’.

“Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi!”. Bản Hípri viết malʾāḵ – “sứ giả”. Thiên thần không được định nghĩa trước hết bằng bản tính, nhưng bằng sứ mạng. Vì thế, các ngài không chỉ hiện diện để bảo vệ, nhưng còn để dẫn đường. Từ sa mạc thời Xuất Hành đến lộ trình đức tin của mỗi người, Thiên Chúa luôn đi trước. Ngài biết những khúc quanh, những hiểm nguy và đích đến mà chúng ta chưa thể thấy. Sự hiện diện của các ngài là dấu chỉ rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ mặc con người. Nhiều khi, cô đơn lớn nhất không phải là không có ai bên cạnh, nhưng là không nhận ra tình yêu đang lặng lẽ đồng hành. “Các ngài là những người bạn trung tín nhất!” – Gioan Vianney.

Thật kỳ diệu khi nghĩ rằng không ai bước qua cuộc đời này một mình. Thiên thần bản mệnh không làm thay phần việc của chúng ta, nhưng âm thầm cùng bước trên từng chặng đường. Vì tôn trọng tự do, các ngài không ép buộc; nhưng bằng muôn cách kín đáo, các ngài soi sáng, nâng đỡ và cản ngăn chúng ta khỏi điều xấu. “Chỉ ở trên thiên đàng, chúng ta mới hiểu được bao nhiêu hiểm nguy đã được thiên thần gìn giữ, và bao nhiêu tình yêu các ngài đã tuôn đổ mà không ai nhìn thấy!” – Henry Newman.

Sự hiện diện ấy không có nghĩa là cuộc đời sẽ không còn thử thách. Thiên thần bản mệnh không cất khỏi chúng ta mọi gian nan, nhưng giúp chúng ta đi qua chúng. Nếu Thiên Chúa để chúng ta bước vào một thung lũng tối, Ngài cũng thắp lên một ngọn đèn soi bước; nếu Ngài trao một thập giá phải mang, Ngài không để chúng ta mang một mình. Tình yêu của Thiên Chúa không luôn cất đi con đường khó, nhưng luôn ban Đấng hiện diện để nâng đỡ chúng ta trên con đường ấy.

Anh Chị em,

Nếu thiên thần bản mệnh là người được sai đến để dẫn đường, thì Đức Kitô là chính Thiên Chúa đến ở cùng chúng ta. Ngài không chỉ đi trước để mở đường, nhưng còn đi vào mọi nẻo đường của phận người, kể cả con đường đau khổ và sự chết. Vì thế, điều bảo đảm rằng chúng ta không đơn độc không chỉ là sự hiện diện của các thiên thần, mà còn là chính Chúa Phục Sinh. Bởi vậy, người môn đệ có thể bước qua những chặng đường tối tăm nhất với một niềm xác tín: tôi ‘không đi một mình’.

Khi Đấng Phục Sinh từ nấm mồ bước ra, không còn ngõ cụt nào có thể giam hãm chúng ta. Đức Kitô ở cùng chúng ta – Ngài đã mang lấy thập giá để không con đường nào còn quá cô đơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con tưởng mình cô đơn, xin mở mắt đức tin; khi con chùn chân, xin nâng đỡ; và khi đường về còn xa, xin giữ con gần Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Các Thiên Thần Hộ Thủ, 

02/10 -Thứ Sáu Tuần XXVI Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/02.html 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” 2 Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3 và nói: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

4 “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.

5 “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.

10 “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”