TỰ HỦY MÌNH – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 (Suy niệm Lễ Lá)

 Trong cuộc đời nầy, ai cũng muốn được nổi bật lên, được vẻ vang thắng lợi… Người ta muốn tôn mình lên bằng đủ mọi hình thức và không hề muốn bị lu mờ, lép vế.

*****

Trong khi đó, Chúa Giê-su là Thiên Chúa Ngôi Hai đầy quyền năng, đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần; Ngài cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần tạo dựng nên vũ trụ kỳ diệu nầy; “Nhờ Ngài mà muôn loài muôn vật được tạo thành và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3). 

Thế rồi, để cứu độ nhân loại, Ngài đã tự hủy mình, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế (Pl 2,7).”  

Ngài tự hủy mình thế nào? Bài Thương khó chúng ta vừa nghe phác họa lại đôi nét như sau: 

Trong cuộc khổ nạn, Ngài để cho người ta bắt bớ giữa đêm đen như một tên trộm cướp và dù Ngài là Chúa tể trời đất, là thẩm phán tối cao có quyền phán xét cả loài người và thiên thần, nhưng Ngài chấp nhận để cho quân hèn hạ phán xử Ngài cách oan ức, chịu vả vào mặt, thậm chí để cho chúng hạ khạc nhổ vào mặt Ngài, đánh đập Ngài rách nát thịt da, bắt đội vòng gai để nhạo cười sỉ nhục, bắt vác thập giá nặng nề lảo đảo tiến lên đồi Sọ. 

Cuối cùng, Ngài chấp nhận bị lột hết áo xống, bị đóng đinh tàn bạo vào thập giá, lãnh lấy cái chết thê thảm, nhục nhã, đau thương… chết không manh áo che thân, chết treo trên thập giá giữa hai người trộm cướp… Xưa nay không có người lương thiện nào trên đời chết nghèo, chết thảm, chết tệ hại… như Chúa Giê-su! 

Ngài đã tự hủy mình như thế đó! Cụ thể là: 

Tự xóa mình,

Rủ bỏ hết danh dự và vinh quang,

Từ bỏ quyền năng phép tắc của một Vì Thiên Chúa,

Bỏ cả cuộc đời,

Bỏ cả mạng sống…

Bỏ tất cả mọi sự đến độ không còn gì để bỏ thêm…

 Lạ lùng thay! Siêu việt thay! Rất đỗi tuyệt vời! Ngoài sức tưởng tượng của mọi người!

 Từ tột đỉnh vinh quang, Ngôi hai Thiên Chúa hạ mình xuống trần làm người thấp hèn tột bậc!

 Không ai trên đời hạ mình sâu thẳm như Chúa Giê-su. 

Không ai trên đời khiêm nhường như Chúa Giê-su.

 Vì thế, Chúa Cha đã tôn vinh Ngài, ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, đặt Ngài là vua hoàn vũ, làm Chúa tể trên trời dưới đất (Philip 2, 6-11).

 Lạy Chúa Giê-su là Đấng tự hủy mình tuyệt đối,

Chúa chọn sống khiêm tốn, tại sao con muốn sống cao sang?

Chúa muốn xóa mình đi, tại sao con muốn mình nổi bật?

Chúa hạ mình thấp hèn, tại sao con cứ muốn tôn mình lên?

Chúa cho hết mọi sự, tại sao con cố thu góp cho nhiều? 

Chúa hy sinh cho mọi người, tại sao con mong đợi bao người phục vụ mình?

 Xin cho chúng con biết nhìn lên Thánh giá Chúa mỗi ngày để chiêm ngắm sự tự hủy đến tận cùng của Chúa và tập luyện cho biết xóa mình đi. Amen.

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

THẬP GIÁ CUỘC ĐỜI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Thập giá là tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, nhất là trong Tuần Thánh.  Hai thanh gỗ, một thanh dọc và một thanh ngang, có điều gì kỳ diệu, mà từ hai ngàn năm nay, các tín hữu tôn kính thờ lạy?  Thực ra, Ki-tô hữu không thờ lạy một cây gỗ, nhưng là thờ lạy Đấng đã chịu treo trên cây gỗ ấy, đó là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người. 

Đức Giê-su đã đón nhận thập giá một cách tự do và hoàn toàn vì tình yêu.  Người đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Thập giá là biểu tượng của sự vâng phục, của tình yêu hy sinh, và cũng là của lòng quảng đại bao dung tha thứ.  Qua thập giá Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra thập giá cuộc đời.  Vâng, khi chúng ta khởi đầu hành trình làm người, cũng là lúc chúng ta khởi đầu hành trình thập giá.  Bởi lẽ cuộc sống con người luôn luôn đan quyện những đau khổ và niềm vui, nước mắt và hạnh phúc.  Nhận ra thập giá trong đời mình, và cố gắng vác thập giá với tâm tình của Chúa Giê-su, gánh nặng cuộc đời sẽ bớt chua chát, hạnh phúc sẽ thay thế đau thương. 

“Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). “Vác thập giá” là điều kiện không thể thiếu cho những ai muốn làm môn đệ Chúa Giê-su.  Nơi khác, Chúa khẳng định: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, “vác thập giá” cũng có nghĩa là bỏ mình.  Sự buông bỏ để đón nhận người khác và sống hài hòa với tha nhân luôn đòi hỏi chúng ta phải hy sinh.  Đó không phải là buông bỏ một điều gì ngoài bản thân, mà là buông bỏ chính mình.  Theo tâm lý tự nhiên, con người luôn quy hướng về bản thân, đồng thời cũng muốn (đôi khi là ép buộc) người khác phải quy hướng theo mình.  Từ bỏ bản thân là sống khiêm tốn, không kiêu ngạo và cố chấp.  Từ bỏ bản thân là điều khó nhất trong những thứ có thể từ bỏ, nhưng đó là lại là bằng chứng hùng hồn về tình yêu.  Thánh Tê-rê-xa Hài đồng Giê-su đã viết: “Yêu là cho đi tất cả và cho đi chính mình.” 

Nếu không có Chúa Giê-su, thập giá chỉ là cây gỗ vô dụng.  Nhiều người nai lưng vác cái mà mình nghĩ là thập giá, nhưng thực ra lại không phải.  Có thể đó là những điều mà mình cho là “hy sinh,” là “chịu đựng,” nhưng đúng hơn là mình đang bắt người khác phải hy sinh và chịu đựng vì mình.  Có những người thường vô tình hay cố ý tạo ra thập giá cho những người thân rồi bắt họ vác đi.  Trên đường đến núi Can-vê, Chúa Giê-su đã ba lần ngã quỵ.  Ông Si-mon người thành Ky-rê-nê đã vác thập giá đỡ cho Chúa.  Hôm nay Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi những người đau khổ cùng cực và những người đói nghèo.  Khi thực hiện những nghĩa cử bác ái, là chúng ta vác đỡ thập giá cho Chúa. 

Đối diện với một đám đông ồn ào và hung bạo, Đức Giê-su vác thập giá bước đi trong thinh lặng.  Khi Chúa bị điệu ra trước tòa Phi-la-tô và trên con đường thập giá, chỉ có một số rất ít bênh vực Người.  Phải chăng đó cũng chính là thực trạng thế giới hôm nay.  Trong xã hội tự tin cho là  văn minh và hiện đại này, có bao nhiêu người cảm động trước một con người bị hành hạ bất công, và bị treo trên thập giá?  Tuy vậy, Giáo Hội của Chúa Ki-tô luôn luôn là “số ít còn lại của Ít-ra-en.”  Một Giáo Hội không chạy theo những phong trào và sở thích của số đông, nhưng lắng đọng nội tâm để quy hướng về Chúa, qua đó tìm thấy ý nghĩa của đời mình.  Từ cái chết cô đơn của Đức Giê-su trên cây thập giá, ơn cứu độ tuôn trào đến muôn dân, nhất là đến với những ai tin tưởng và trung tín với Người.  Đấng chịu treo trên thập giá vẫn đang nói với chúng ta: hãy lấy tình yêu đáp lại ghen ghét; lấy tha thứ đáp lại hận thù, vì tình yêu vượt lên tất cả!

 Chúa Giê-su đến trần gian không phải để cất đi vĩnh viễn đau khổ và thập giá, nhưng Người đã vác nó trên vai.  Người tin vào Chúa không phải để tránh khỏi đau khổ thập giá, nhưng để có Chúa nâng đỡ và cùng vác với mình.  “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng” (Mt 11,28).  Chúa mời gọi chúng ta đến với Chúa, tức là cậy trông vào sức mạnh thiêng liêng mà Người sẽ ban cho chúng ta.  Nhờ đó, thập giá cuộc đời trở nên nhẹ nhàng và dễ vác hơn.

 Thập giá không chỉ là dấu hiệu của khổ đau thất bại, nhưng còn là biểu tượng của niềm hy vọng.  Trên mỗi nấm mộ của người tín hữu, cây thập giá được dựng lên như lời khẳng định: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Thánh Phao-lô đã “đọc” được niềm hy vọng nơi cây thập giá.  Ngài quả quyết: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2). 

Hôm nay, chúng ta khai mạc Tuần Thánh.  Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng sống với Đấng Cứu Thế những ngày cuối cùng của Người trong cuộc sống trần gian.  Bài Thương khó như một vở kịch gồm nhiều chương đoạn, diễn tả những cảm xúc khác nhau.  Tấn bi kịch cũng cho chúng ta thấy ai là người trung thành với Chúa, vào những giờ phút sau hết của cuộc đời Người nơi dương thế.  Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời.  Chúng ta hãy nhận ra Người nơi những anh chị em bé mọn và bị quên lãng.

 “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).  Vâng, thập giá là điểm quy tụ muôn người.  Xin cho nhân loại hôm nay tôn nhận Đấng chịu đóng đinh trên thập giá là Chúa và là Đấng Cứu độ, nhờ đó hòa bình sẽ được thiết lập trên thế giới đầy biến động của chúng ta.  Amen.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

BẤT TỬ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!”.

Năm 125 sau Công nguyên, Aristides giải thích sự thành công lạ thường của “một tôn giáo mới”: “Bất kỳ một Kitô hữu chân chính nào rời khỏi thế giới, họ đều hân hoan dâng lời cảm tạ Chúa; họ mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn! Như bất tử, họ đang đi từ một nơi này đến một nơi khác gần đó; một sự dịch chuyển không thể phi thường hơn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Đứng trước cái chết, Chúa Giêsu nói rất thật về sự ‘bất tử’ của Ngài – “Tôi Hằng Hữu!”. Lời Chúa hôm nay tiết lộ: chúng ta sợ chết, nhưng lại sống như thể đời mình chẳng có gì đáng để sống.

“Tôi Hằng Hữu!”. Ghi lại lời này của Thầy, tác giả trở lại lời tựa Phúc Âm của mình; ở đó, ‘phượng hoàng Gioan’ chắp cánh bay lên tận mút cùng của tạo thành, “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ngài không bắt đầu từ hôm qua; Ngài có trước mọi thứ chúng ta đang bám víu. Tuy nhiên, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể để xuống ở với con người hầu cứu lấy con người. Và dẫu đã về bên hữu Cha, Ngài vẫn đang có mặt với loài người. Và điều lạ là Ngài không đứng xa, nhưng vẫn ở lại trong một đời rất gần với chúng ta. “Chúa Kitô không xa chúng ta; Ngài gần chúng ta hơn chính chúng ta với bản thân mình!” – Augustinô.

Chúa Giêsu còn nói, “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết!”. Hãy nhìn vào Abraham, ông giữ lời Chúa và được sống trong lời hứa – bài đọc một. Với Đavít, giao ước Chúa đã lập với Abraham sẽ mãi trường tồn, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, Abraham ‘bất tử’ với miêu duệ của mình; còn chúng ta, giữ bao thứ khác mà lòng vẫn trống.

Vì thế, khi nói “sẽ không bao giờ phải chết”, Chúa Giêsu nói đến cái chết linh hồn. Ai giữ lời Ngài, sẽ không biết cái chết ‘kiểu đời đời’ này! Có một kiểu chết không cần đợi đến ngày nhắm mắt – khi tôi sống mà lòng không còn thuộc về Chúa. Vì thế, sự hiệp thông với Đấng hằng sống sẽ không bị phá vỡ bởi cái chết; đúng hơn, được đào sâu bởi nó! “Không gì có thể thực sự tách chúng ta… mối dây liên kết với Chúa Kitô vẫn còn nguyên!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Tôi Hằng Hữu!”. Dẫu “hằng hữu”, Con Thiên Chúa vẫn cam lòng chịu – hạn hữu – chết cho tội lỗi của con người; nhưng Ngài đã sống lại cho sự ‘bất tử’ của nó! Ngài đang ở rất gần, nhưng chúng ta vẫn có thể sống như thể Ngài không có mặt. Vì thế, không chỉ khi còn sống, chúng ta hân hoan ca tụng Ngài, mà cả khi rời thế giới, chúng ta vẫn “mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn”. Là con Đấng Bất Tử, chúng ta sống sự sống thần linh của Ngài ngay hôm nay; vậy mà không ít lần, dẫu đang nhởn nhơ, chúng ta vẫn đang “chết dần” từng ngày mà không nhận ra. Vậy hãy sống tâm thế của con cái Thiên Chúa ngay hôm nay, giữa đời thường – tâm hồn luôn hướng lên cao cùng với lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Và như thế, bạn và tôi ‘bất tử!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ chết nhưng lại sống hời hợt; con giữ nhiều thứ mà mất chính mình; xin cho con sống sao để không “chết” khi còn đang sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần V Mùa Chay

Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,51-59

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.”

52 “Người Do-thái liền nói : “Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : ‘Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.’

53 “Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai ?” 54 Đức Giê-su đáp : “Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.”

57 Người Do-thái nói : “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !” 58 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !”

59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. 


 

Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, chúc bạn mọi sự tốt đẹp trong tình yêu Chúa và Mẹ nhé. Xin luôn nhớ đến nhau trong lời cầu nguyện  và Xin một lời cầu nguyện khẩn thiết cho nền hoà bình trên thế giới đang bị đe doạ.

Cha Vương

Thứ 3: 24/03/2026.  (t5-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? Khi Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “Con một của Thiên Chúa” (Ga 3,16), khi thánh Phêrô và các tông đồ cũng gọi Người như vậy, thì điều này có nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu đích thực là Con trên hết mọi người con. (YouCat, số 74)

SUY NIỆM: Trong nhiều đoạn Tân ước (Ga 1,14.18; 1Ga 4,9; Dt 11,7…) Chúa Giêsu được gọi là “Con”. Khi chịu phép rửa và biến hình, tiếng nói từ trời xác nhận Chúa Giêsu là “Con yêu dấu”. Chúa Giêsu mở màn cho các môn đệ biết Người có quan hệ độc nhất với Cha Người trên trời: “Mọi sự Cha Tôi đã giao phó cho Tôi, và không ai biết rõ Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết rõ Chúa Con trừ Người Cha và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27). Khi sống lại, thì thật rõ ràng Chúa Giêsu Kitô thực sự là Con Thiên Chúa. (YouCat, số 74 t.t)

❦ Người ta không chỉ trích Chúa Kitô. Người ta chỉ trích các Kitô hữu vì họ không giống như Chúa Kitô. (Francois Mauriac, 1914-1996, tiểu thuyết gia Pháp).

 Không biết Kinh Thánh, tức là không biết Chúa Kitô” (Thánh Giê-rô-ni-mô)

LẮNG NGHE: Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (Lc 1:35)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa,/ con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự,/ vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng,/ lại vì Chúa / thì con thương yêu người ta như mình con vậy./ Amen.

THỰC HÀNH: Mình quan sát, đôi khi chính mình cũng vấp phải, sự lịch thiệp nơi cơ quan hay trước công chúng lắm lúc được trau chuốt hơn là sự tế nhị, dịu dàng trong gia đình… (đối với vợ, chồng, con cái, cha mẹ, …) Mời bạn làm một thay đổi trong Mùa Chay này nhé

From: Do Dzung

**********************

Chỉ Có Một Chúa – Nguyễn Hồng Ân

“XIN VÂNG” – SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ – Sr. Tâm Năng

Sr. Tâm Năng

 Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh.  Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ.  Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người.  Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài.  Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay. 

Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý.  Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó. 

Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ. 

Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa.  Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại.  Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm viếng bà Isave.  Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ.  Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave. 

Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin.  Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc.  Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời.  Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy.  Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin.  Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao. 

Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.  Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày.  Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác.  Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa.  Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.

 Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù… tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn. 

Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa. 

Sr. Tâm Năng

From: Langthangchieutim


 

TỰ HUỶ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!”.

“Thiên đàng quan tâm đến thập giá; địa ngục khiếp hãi nó! Đang khi loài người – những sinh vật duy nhất – ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của nó! Ơn cứu độ chỉ đến khi Chúa Kitô được giương cao!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: ơn cứu độ chỉ đến từ thập giá Chúa Kitô! Nó không đến từ ước muốn hay sự sẵn lòng của một ai đó; nó phát xuất từ lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa, đến nỗi Ngài như phải ‘tự huỷ’. Đó là điều khó tin nhất!

Khi Israel kêu trách Chúa, rắn lửa – tượng trưng cho tội lỗi – bò ra cắn chết nhiều người – bài đọc một. Môsê van xin, Ngài bảo, “Hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống!”. Rắn đồng được treo lên đã cứu một dân; Chúa Kitô được treo lên sẽ cứu muôn dân. Con người chết không chỉ vì nọc độc, mà vì không chịu nhìn lên!

Chúa Kitô đã ‘tự huỷ’ chính mình. Đó là một tình yêu của một Đấng chấp nhận hạ mình đến cùng để kéo con người ra khỏi bóng tối và sự chết – không bị ràng buộc bởi điều kiện, không bị khuất phục bởi nỗi sợ hay tính toán. Nhưng điều lạ lùng là: nỗi đau vẫn còn đó, vết cắn vẫn còn đó; Ngài không xoá hiểm nguy, nhưng đặt ngay giữa nó một dấu chỉ cứu sống. Cứu độ không đến từ việc tránh né, nhưng từ việc dám đối diện và nhìn lên. Chính ở đó, sự sống bắt đầu. Nhìn lên, không phải để hết đau đớn, nhưng để thấy một tình yêu ‘tự huỷ’ đang mở ra – cho bạn, cho tôi – đến tận cùng. “Thập giá là cách Thiên Chúa nối kết đau khổ với tình yêu!” – Georgia Harkness.

Đó là điều khiến thập giá trở nên khó chấp nhận – nhưng đó lại là nơi duy nhất có thể chữa lành. “Thập giá Chúa Kitô chịu đóng đinh không phải là một vật trang trí hay một tác phẩm nghệ thuật; nhưng là mầu nhiệm về sự huỷ diệt của Thiên Chúa vì tình yêu. Sự cứu rỗi thế giới không được thực hiện bằng cây đũa thần của một vị thần tạo ra mọi thứ; thay vào đó, nó được thực hiện bằng sự đau khổ của Con Thiên Chúa và bằng chính cái chết của Ngài!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Như vậy, Chúa Kitô – Đấng được giương cao – đã không giữ lại điều gì cho mình. Ngài không cứu bằng quyền lực, nhưng bằng việc ‘tự huỷ’ đến tận cùng, trao ban chính mình trong đau đớn và vâng phục. Ngài không xuống khỏi thập giá – vì tình yêu không rút lui. Và chính lúc bị treo lên trong yếu đuối, Ngài lại tỏ lộ trọn vẹn căn tính của mình: Con của Cha, sống hoàn toàn cho Cha, và hiến mình vì chúng ta. Nhìn lên Ngài, chúng ta hiểu: ‘tự huỷ’ không phải là mất đi, nhưng là con đường để tình yêu đạt tới viên mãn. “Tin vào Chúa Kitô là vác lấy thập giá, bước theo Ngài trên con đường tình yêu tự hiến!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con xác tín, không nhìn lên, con sẽ ở lại với vết cắn; nhìn lên, con bắt đầu sống. Đừng để con là ‘sinh vật duy nhất’ ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 ***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần V Mùa Chay

Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,21-30

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được.” 22 Người Do-thái mới nói : “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói : ‘Nơi tôi đi, các ông không thể đến được’ ?” 23 Người bảo họ : “Các ông bởi hạ giới ; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này ; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. 24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” 25 Họ liền hỏi Người : “Ông là ai ?” Đức Giê-su đáp : “Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó. 26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật ; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.” 27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha. 28 Người bảo họ : “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy. 29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.” 30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.


 

Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu..” (Ga 8:11)-Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày thứ 2 đầu tuần luôn bình an, vui vẻ, trong sáng,

không một biến cố nào làm xáo trộn tâm hồn bạn được. 

Nhớ cầu nguyện cho nhau và trên thế giới trong thời loạn này nhé. 

Cha Vương

Thứ 2: 23/03/2026. (n22-21)

TIN MỪNG: Người đàn bà đáp : “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” (Ga 8:11)

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong một thế giới đang bị mất đi ý thức về tội ngược lại họ lại nhẫn tâm với tội nhân bởi vì con người thường hay thích “vạch lá tìm sâu tìm cái lỗi của người khác, mà không tự xét đến cái lỗi của mình” (Cổ ngạn). Đây là điều mà Chúa đang nói với bạn và mình hôm nay nếu có lên án thì hãy lên án tội của chính mình trước đã. Tự thú nhận tội mình là điều rất cần thiết. “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…!” Là một người Ki-tô hữu bạn không thể thăng tiến đời sống đạo được nếu bạn không biết tự lên án mình: “tha kẻ dể (khinh thường hạ nhục) ta, nhịn kẻ mất lòng ta”.  Hành động tự thú đòi hỏi một con tim biết khiêm nhường. Khiêm nhường là cội nguồn của mọi ân sủng! Nó  không những phá vỡ SỰ AN NINH GIẢ TẠO của bạn (do tưởng mình không có tội hay chỉ có lỗi qua quít, để rồi vẫn sống khơi khơi và dửng dưng), mà còn khiến bạn phải khiếp sợ trước nguy cơ do tội lỗi gây ra, hoặc do khả năng phạm tội mang lại. Thái độ khiếp sợ này sẽ làm cho bạn trở lên tốt hơn và giúp bạn chống lại tội lỗi. Ước mong bạn hãy noi gương Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8) 

LẮNG NGHE: Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. (Gl 5:19-21

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thương xót con vì con đã xúc phạm đến Chúa Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho con và ban ơn cứu độ cho con!

THỰC HÀNH: Bạn nghĩ gì về câu ca dao sau đây: Chân mình thì lấm lê mê / Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.

From: Do Dzung

*******************

GIỌT LỆ ĂN NĂN..Những bài thánh ca MÙA CHAY ĐẶC BIỆT…Làm gì để có cuộc đời thanh thản??

TAI TIẾNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.

Thật thú vị, câu chuyện người phụ nữ ngoại tình không có trong một số bản thảo cổ nhất của Phúc Âm Gioan. Thánh Augustinô cho rằng các bản sao đã loại bỏ nó vì “tai tiếng của lòng thương xót” khiến những kẻ theo chủ nghĩa đạo đức nghiêm ngặt khó chịu.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các nhà lãnh đạo tôn giáo dẫn đến Chúa Giêsu một người nữ ngoại tình – một kịch bản có lẽ chính họ dàn dựng – để gài bẫy Ngài. Mục tiêu không phải là người phụ nữ, mà là Ngài. Nhưng thật bất ngờ, Chúa Giêsu không kết án, Ngài xót thương. Và điều đó trở thành một “tai tiếng” – ‘tai tiếng của lòng thương xót’.

Hãy đặt cảnh này cạnh một kịch bản khác – một người nữ “không ngoại tình” thời Đaniel – bài đọc một. Cô ấy đúng, sạch; không ai tố; không có đá; không va chạm – nên cũng không ai cần xét mình. Còn người nữ của Gioan – bị kéo ra ánh sáng, bị gọi tên bằng tội – lại làm mọi sự đảo chiều. Người ta xử cô, nhưng họ lại bị chất vấn. Vì khi Chúa Giêsu cúi xuống viết, Ngài đẩy luật vào lương tâm – để từng người thấy mình cần được thương. Nhận ra điều đó, đá rơi. “Ai trong các ông sạch tội!”. Một lời không kết án – nhưng mở đường cho lòng thương xót. “Chỉ một mình Đấng vô tội có quyền ném đá – và Ngài đã không làm!” – Phanxicô.

Đó không phải là một sự dễ dãi; nhưng là một sự thật khó nuốt: con người thích luật khi nó cho phép mình đứng trên; một khi luật quay lại soi mình, ai ai cũng lùi lại. Chính khoảnh khắc đó, điều người ta sợ nhất xảy ra – ‘tai tiếng của lòng thương xót’. Tai tiếng vì người có quyền kết án lại không kết án; tai tiếng vì Thiên Chúa không đứng về phía những viên đá, mà đứng về phía một con người đang bị nghiền nát – “Dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng” – Thánh Vịnh đáp ca.

Nếu thế giới chỉ có những người nữ “không ngoại tình”, thế giới sẽ rất gọn gàng: không có nước mắt, không có trở lại; nhưng cũng không có cứu độ. Chính người nữ ngoại tình mở ra điều mà lề luật không thể mở – một lối về. Không phải vì cô ấy tốt, nhưng vì có một Đấng nhìn cô khác – không gọi cô bằng tội, cũng không bỏ qua tội; nhưng chỉ nói, “Tôi không kết án chị… đừng phạm tội nữa!”. Một bên là vực thẳm, một bên là con đường. “Lòng thương xót là tên gọi thứ hai của tình yêu!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Chúng ta dễ đứng về phía người nữ “không ngoại tình” để thấy mình ổn. Nhưng nếu thành thật, chúng ta luôn có đá trong tay, dẫu có tội trong lòng; muốn kết án để nhẹ mình và sợ bị đưa ra ánh sáng. Ở đó, Chúa Kitô không đứng về phía cái đúng; Ngài đứng phía chúng ta sắp gãy và giữ chúng ta lại trong một khoảng rất hẹp: không còn gì để biện minh, nhưng vẫn chưa bị loại trừ. Đó là ‘tai tiếng của lòng thương xót’ – không êm, nhưng cứu. “Chị cứ về đi!” – mở lại một đời; “Đừng phạm tội nữa!” – không cho phép sống như cũ.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; đừng để con sạch mà xa; cho con thở bằng lòng xót thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần V Mùa Chay

Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 8,1-11

1 Khi ấy, Đức Giê-su đến núi Ô-liu.

2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. 3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người : “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?” 6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ : “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” 8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. 9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói : “Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?” 11 Người đàn bà đáp : “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !”

“Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!” (Ga 5:14)- Cha Vương

Một ngày ấm áp nhé! Xin Chúa chúc lành và gìn giữ bạn và gia đình luôn mãi mãi.

Cha Vương

Thứ 7: 21/03/2026. (t3-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su gặp người ấy [người đau ốm đã ba mươi tám năm được Chúa chữa khỏi bệnh] trong Đền Thờ và nói: “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!” (Ga 5:14)

SUY NIỆM: Nhịp sống của bạn được đánh dấu bởi những điều như cũ cứ lặp đi lặp lại: công việc cũ, địa điểm, thói quen tốt, thói quen xấu, việc tốt, việc xấu… chỉ có một tội cũ thôi mà cứ lập đi lập lại. Trong Kinh Thánh việc chữa lành thường đi đôi với việc tha tội. Vì vào thời điểm đó tội được coi là nguyên nhân của mọi bệnh tật. Trong khi bệnh nhân chỉ cầu mong được lành bệnh thì Chúa lại ban cho anh một ân huệ lớn lao hơn: Đó là ơn tha tội! Còn những người Kitô hữu ngày nay thì sao? Bạn thật hạnh phúc hơn những người ngày xưa vì bạn có bí tích hoà giải, không cần phải chờ Chúa đi qua. Trong toà giải tội bạn đọc Kinh Ăn Năn Tội: “…thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự, con dốc lòng chừa cải…” Có lẽ Chúa cũng muốn nói với bạn hôm nay: tội của con đã được tha. Đừng phạm tội nữa kẻo lại phải khốn hơn trước! Chắc bạn cũng không còn gì xa lạ gì với điệp khúc “đi xưng tội rồi lại phạm tội”. Nó cho bạn thấy giới hạn nơi thân phận con người yếu đuối của người mình. Càng thấy mình yếu đuối, tội lỗi, bạn càng thấy cần Thiên Chúa nhiều hơn. Vì vậy, chiều sâu của việc xưng tội, đó là thái độ khiêm tốn, sám hối nhận ra mình là kẻ có tội, là thái độ mở rộng cánh cửa tâm hồn để đón nhận Chúa Giêsu Kitô. Bao lâu bạn còn nhạy cảm đối với việc đi xưng tội, siêng năng xưng tội là bấy lâu bạn còn sống mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa. Ngược lại, bao bạn còn ngại đi xưng tội, không muốn đi xưng tội thì mối tương quan của bạn với Thiên Chúa đang bị đổ vỡ. Một khi mối tương quan giữa bạn với Thiên Chúa đổ vỡ thì mối tương quan giữa bạn với bản thân và tha nhân cũng đổ vỡ. Càng sống trong tình trạng tội lỗi, bạn càng kéo lê cuộc đời của mình trong những đổ vỡ, trục trặc, sai lầm và bất an. Có phải là khốn hơn trước không?

LẮNG NGHE: CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, / tôi chẳng thiếu thốn gì. / Trong đồng cỏ xanh tươi, / Người cho tôi nằm nghỉ. / Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. (Tv 23:1-2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, 

xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ. (Tv 51,12a và 14a)

THỰC HÀNH: Tội nào mà bạn cứ lập đi lập lại hả? Hãy xin ơn Chúa giúp và cố gắng sửa đổi nhé.

From: Do Dzung

*****************

Chị Hãy Đi & Đừng Phạm Tội Nữa – Thánh Ca Mùa Chay

NGƯỜI CHẾT KHÔNG TỰ NÓI – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Lazarô, hãy ra khỏi mồ!”.

“Chúa Kitô không cam chịu những nấm mồ mà chúng ta tự đào cho mình bằng sự lựa chọn hướng đến điều ác và cái chết, bằng những sai lầm và tội lỗi. Ngài mời gọi chúng ta bước ra khỏi mồ: ‘Hãy ra khỏi mồ!’” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cái chết không cần những nấm mồ. Người ta vẫn sống, vẫn nói, nhưng bên trong đã bị vùi lấp bởi sợ hãi và những lựa chọn sai lầm; có những lời nói ra chỉ để che đi một sự im lặng đang lớn dần. Và rồi, không còn gì vang lên – vì ‘người chết không tự nói!’.

Trình thuật Tin Mừng ghi lại một câu rất lạ của Chúa Giêsu, “Lazarô bạn của chúng ta đang yên giấc”. Thánh Kinh gọi cái chết là giấc ngủ – không phải để làm nhẹ nỗi đau, nhưng để tước khỏi nó tiếng nói cuối cùng. Nhưng chính ở đây, một sự thật lạnh lẽo lộ ra: người ngủ không tự đánh thức mình. Người chết không thể gọi tên mình – ‘người chết không tự nói’. Không còn lời để xin, không còn tiếng để kêu, ngay cả một tiếng thở dài cũng không còn.

Vì thế, điều quyết định không nằm ở Lazarô, mà ở tiếng gọi từ bên ngoài. Một tiếng gọi xuyên qua bốn ngày trong mồ, xuyên qua mùi của sự phân huỷ, xuyên qua nỗi tuyệt vọng của Matta và Maria. “Hãy ra khỏi mồ!” không phải là một lời ủi an, nhưng là một mệnh lệnh của sự sống; một lời gọi đủ mạnh để phá vỡ mọi im lặng. Chúa Giêsu không giải thích cái chết; Ngài chỉ gọi con người ra khỏi nó. “Cái chết không còn là bức tường… nhưng là một cây cầu!” – Raniero Cantalamessa.

Chúa Giêsu đã đến khi mọi sự xem ra đã kết thúc. Chính nơi tận cùng ấy, Lời Chúa qua miệng Ezêkiel xưa vọng về: “Chính Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt!” – bài đọc một. Không phải con người tự thoát, nhưng được kéo ra nhờ Thần Khí của Đức Kitô – bài đọc hai. Bởi lẽ, “Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, khi mọi sự đã tắt, lòng từ ái chứa chan của Thiên Chúa mới lộ ra – không ai tự kéo mình ra khỏi mồ – ‘người chết không tự nói’. Chính Thiên Chúa mới kéo chúng ta ra. “Chúng ta không sở hữu ơn cứu độ; nhưng chỉ có thể đón nhận nó!” – Von Balthasar.

Anh Chị em,

Chúa Kitô không chỉ gọi người chết sống lại; Ngài còn chạm đến những vùng chết được chôn kín: nơi tội lỗi, sợ hãi và tuyệt vọng khiến chúng ta câm lặng. Ngài không chờ chúng ta đủ mạnh để tự bước ra, cũng không đòi ai giải thích hay tự cứu mình. Ngài gọi và chỉ gọi vì Ngài biết chúng ta không còn khả năng nói. Nhưng để lời gọi ấy trở thành sự sống, phải “Đem phiến đá này đi!”. Đức tin không phải là cảm xúc, nhưng là một quyết định: dám để Chúa bước vào, để Ngài gọi, để Ngài chạm đến điều chúng ta chôn kín. Chính ở đó, sự sống bắt đầu. Hôm nay, Chúa Kitô vẫn đứng đó, không mệt mỏi, không ép buộc, nhưng gọi bạn và tôi: “Đem phiến đá này đi!” – để sự sống có lối đi vào – bằng không, chúng ta sẽ tiếp tục sống như những người chết biết đi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con như người chết biết đi, như kẻ bị thương biết đi; xin gọi con ra khỏi huyệt, để con được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

***********************************

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 11,1-45

1 Khi ấy, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.

6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !” 8 Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” 9 Đức Giê-su trả lời : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”

11 Nói những lời này xong, Người bảo họ : “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” 12 Các môn đệ nói với Người : “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” 13 Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ : “La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” 16 Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”

17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

28 Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !” 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.

32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” 33 Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.


 

NƠI TĨNH LẶNG – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

 Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

 Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

 Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

 Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

 Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

 Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

 Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

 Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

 Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

 Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

 Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

 Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

 Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

GÂY KINH NGẠC- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

“Tình yêu và sự thật như muối – Natri Clorua. Không có sự thật, tình yêu mơ hồ; sự thật thiếu tình yêu có thể gây thương tổn. Khi sự thật và tình yêu tích hợp, nó trở nên ‘muối của đất’ và là yếu tố gây kinh ngạc!” – David H. Johnson.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ: sống trong sự thật là cách hấp dẫn nhất để truyền đạt nó. Chúa Giêsu là kiểu mẫu; Ngài trở nên “muối của đất”, một yếu tố ‘gây kinh ngạc’ đến nỗi “Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

Tuy nhiên, sự thật luôn có giá của nó; và không phải ai cũng dám trả giá để đứng về phía nó. Trước Chúa Giêsu, người thì tin Ngài là tiên tri; kẻ khác tin Ngài là Đấng Kitô; số khác không tin. Vệ binh được sai đến bắt Ngài thì trở về tay không; giới lãnh đạo thì khinh thị. Nicôđêmô lại lưỡng lự – trái tim muốn bênh vực, lý trí lại sợ liên luỵ. Đó cũng là giằng co quen thuộc nơi mỗi chúng ta – không phải không biết điều đúng, nhưng chỉ không dám trả giá! Hồng y Cantalamessa từng cho rằng, điều khó nhất không phải là nhận ra sự thật, nhưng là chấp nhận để nó thắng mình!

Vậy điều gì nơi Chúa Giêsu khiến người ta bất đồng? Chỉ vì Ngài ‘gây kinh ngạc’. Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền; một lời, quỷ phải xuất; ai nghe cũng kinh hãi. Vậy mà Lời Ngài không chỉ vang lên, nhưng chạm tới và làm khác đi. Không dễ cắt nghĩa, nhưng không thể chối cãi – lời ấy mang sức mạnh kêu gọi đức tin, gợi lên một sự hiện diện chỉ Thiên Chúa có. Vì thế, Chúa Giêsu quá hấp dẫn và không ai có thể thờ ơ. Và vì không thể thờ ơ, người ta buộc phải chọn – và chọn lựa ấy có thể gây mất mát.

‘Gây kinh ngạc’ luôn kéo theo phản ứng. Người đơn sơ mở lòng và đáp lại; kẻ tự cao thì khép lại và lên án. Họ ghen tị và miệt thị cả những ai dám tin nhận Ngài. Bởi lẽ, một khi sự thật chạm vào cái tôi, nó thường bị coi như một đe doạ hơn là một giải thoát. Giêrêmia đã nếm trải điều đó: “Con đâu biết chúng đang mưu tính hại con” – bài đọc một. Bị chống đối, ông vẫn nói sự thật và phó mình – “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”. Trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài; hoặc theo Ngài, hoặc loại trừ Ngài. Không chọn Ngài, là đã âm thầm tẩy chay Ngài. Trung lập trước Chúa Giêsu thường chỉ là một ảo tưởng dễ chịu. Bước vào Tuần Thương, thập giá của Ngài phải ‘gây kinh ngạc’ lớn nhất. Chúng ta không thể dửng dưng trước tình yêu hy tế của Ngài, “như con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” vì tội lỗi nhân loại – và tội lỗi của mỗi chúng ta. Nếu thập giá không làm nhói đau, có lẽ trái tim đã bắt đầu xơ cứng. Thập giá của Ngài, nơi lời và tình yêu trùng khít; từ đó, Con Thiên Chúa trở nên “muối của đất”, “muối của thế giới!”. “Trên thập giá, Thiên Chúa nói lời cuối cùng của Ngài – và lời ấy là tình yêu!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng ‘gây kinh ngạc’, đừng để con gây kinh hoàng; cho con là muối – âm thầm mà khác biệt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *********************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần IV Mùa Chay

Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 7,40-53

40 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong dân chúng, có những người nghe các lời của Đức Giê-su thì nói : “Ông này thật là vị ngôn sứ.” 41 Kẻ khác rằng : “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói : “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?” 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?” 46 Các vệ binh trả lời : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !” 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” 52 Họ đáp : “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”

53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.