GIỮ HẠT HAY GIỮ MÙA? – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác!”.

“Hạt giống không bao giờ thấy được bông lúa!” – Albert Schweitzer.

Kính thưa Anh Chị em,

Người nông dân không gieo hạt vì yêu hạt; ông gieo hạt vì yêu mùa. Hạt lúa chỉ đứng trước một chọn lựa: giữ lấy hay trao hiến mình.

Tin Mừng hôm nay đặt cho mỗi người chúng ta một câu hỏi: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’.

Khi nghe dụ ngôn hạt lúa, chúng ta khó tìm được ai hiểu lời Chúa Giêsu sâu xa hơn Ignatiô Antiôkia. Trên đường ra pháp trường, ngài tự ví mình là “lúa mì của Thiên Chúa”. Ignatiô hiểu rằng hạt lúa chỉ hoàn thành ơn gọi của nó khi chấp nhận rơi xuống đất.

Vì thế, điều Ignatiô tìm kiếm không phải là sống lâu hơn, nhưng là sinh nhiều hoa trái hơn.

Thật nghịch lý: hạt lúa không bao giờ nhìn thấy ngày mùa mà nó làm nên; nó chết đi trong lòng đất, đồng lúa mới ra đời nhiều tháng sau đó. Cũng vậy, khi bước vào đấu trường Rôma, Ignatiô không thấy được những thế hệ Kitô hữu sẽ được nâng đỡ bởi chứng tá của mình. Mùa gặt luôn thuộc về tương lai; người gieo không gặt vào ngày vãi. Hạt giống sống cho một mùa gặt không thuộc về mình; người môn đệ đích thực không sống bằng điều trước mắt, mà bằng hoa trái Thiên Chúa cho trổ sinh từ sự trao hiến của họ.

Phaolô nhắc:“Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời”

– bài đọc một. Niềm hy vọng ấy không khiến chúng ta coi nhẹ đời này; nó giúp chúng ta trao hiến mà không đòi thấy ngay kết quả. Ignatiô có thể mất sự sống nơi đấu trường, nhưng không mất Đấng mình thuộc về. Người môn đệ cũng có thể ra đi khi công việc còn dở dang; phần còn lại, họ phó cho Thiên Chúa. “Đây là thời gieo, không phải thời gặt. Thiên Chúa đang gieo; ngày kia Ngài sẽ gặt. Phần tôi, tôi chỉ cố trở thành một hạt giống tốt, rơi vào lòng đất và trong tay Ngài!” – Alfred Delp.

Phần chúng ta , đấu trường có thể không phải là Rôma, nhưng là gia đình, cộng đoàn hay công việc mỗi ngày. Chính ở đó, chúng ta phải đối diện với những chọn lựa rất nhỏ nhưng rất thật: giữ lại hay trao đi thời gian; giữ lại hay trao đi khả năng; giữ lấy mình hay sống cho người khác.

Có khi chúng ta giữ được một buổi sáng yên hàn, nhưng để một người anh em đang cần mình phải đợi.

Hạt vẫn còn nguyên trong tay; mùa chẳng có gì để hái.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là hạt lúa đầu tiên rơi vào lòng đất. Trên thập giá, người ta chỉ thấy một sự sống tàn lụi; từ ngôi mộ trống, cả một mùa lúa chín mới mở ra. Hội Thánh, các vị tử đạo và mỗi người chúng ta là những bông lúa mọc lên từ Hạt Lúa ấy. Qua bao thế hệ, đồng lúa vẫn lan xa; nơi tưởng chỉ còn cái chết, sự sống đã vàng rộ. Đức Kitô mời chúng ta tiếp tục gieo hạt lúa đời mình vào đồng lúa ấy, để còn có những mùa sau. Trong Ngài, câu hỏi vẫn là: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’. “Con người không thể tìm thấy chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến mình cho người khác!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mở tay con để trao điều đang giữ; mở lòng con để tin vào mùa hái; cho con dám gieo cả đời mình trong Ngài – rồi mùa sẽ đến!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thánh IGNATIÔ ANTIÔKIA, giám mục, tử đạo, 

17/10 – Thứ Bảy Tuần XXVIII Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/17.html

Nếu hạt lúa chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

SỢ ĐỂ KHÔNG CÒN SỢ – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai”.

Trong cuốn phim Cuộc Đời của Pi – Life of Pi , một cậu bé Ấn Độ sống sót sau vụ đắm tàu, lênh đênh trên chiếc xuồng cứu sinh cùng con hổ Bengal. Lương thực cạn, bão lớn lại ập đến. Nghĩ mình sắp chết, cậu giơ tay cầu nguyện: “Lạy Chúa, con là khí cụ của Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Bất ngờ biết bao, lời cầu của cậu bé! Lời cầu ấy soi sáng điều Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay: khi đặt đời mình trong tay Thiên Chúa, chúng ta đứng vững trước điều đáng sợ: ‘sợ để không còn sợ’.

Chúa Giêsu không hứa những kẻ chống đối sẽ thôi làm hại các môn đệ; Ngài vạch giới hạn rạch ròi của họ: giết thân xác, rồi không làm gì hơn – dừng trước vận mệnh đời đời của một con người. Trong bản Hy Lạp, cùng động từ  phobéomai – “sợ” – diễn tả nỗi sợ người đời lẫn lòng kính sợ Thiên Chúa. Điều quyết định là đặt nỗi sợ đúng chỗ: phải sợ ai hơn? Sự sống đáng quý, nhưng Đấng ban sự sống – đáng cho chúng ta trung tín – còn quý hơn.

Đấng đáng trung tín ấy cũng là Đấng yêu thương chúng ta; là nơi chúng ta thuộc về, cả khi mọi chỗ dựa khác không còn. Ngài không quên một con chim sẻ, biết tóc trên đầu chúng ta bao nhiêu sợi. Chúa Giêsu cho biết chúng ta quý giá trước mắt Thiên Chúa biết bao. Có những lúc chúng ta sợ vì chưa biết ngày mai ra sao; nhưng ngay khi không còn giữ được gì, chúng ta trao mạng sống cho Đấng yêu mình.

“Con sẽ luôn tín thác nơi Ngài, dù có vẻ lạc lối và ở trong bóng tử thần!” – Thomas Merton.

Trong Đức Kitô, “Thiên Chúa đã chọn chúng ta”, tiền định cho chúng ta “làm cơ nghiệp riêng”. Hơn nữa, chúng ta đã được đóng ấn Thánh Thần, “bảo chứng phần gia nghiệp” mai sau – bài đọc một. Dấu ấn ấy nhắc chúng ta thuộc về ai, hầu giữa thử thách, chúng ta biết phải trung thành với ai. Vì thế, lời Thánh Vịnh đáp ca vẫn có thể vang lên ngay giữa bất an: “Hạnh phúc thay dân nào Chúa chọn làm gia nghiệp!”.

Là gia nghiệp của Chúa, chúng ta để lời Ngài hướng dẫn cách đáp lại những con người hay những nghịch cảnh đang làm mình tổn thương. Vẫn nói điều phải nói, ngăn điều phải ngăn; nhưng không nuôi lòng cay đắng, thù ghét. Chính lúc ấy, lời cầu xin trở nên khí cụ của Chúa mang ý nghĩa đích thực ngay giữa những điều khiến chúng ta sợ hãi.

Anh Chị em,

Suốt ba năm rao giảng, giữa bao cạm bẫy, rình rập và đe doạ, Đức Kitô vẫn kiên cường làm việc của Cha. Bao lần người ta tìm cách bắt Ngài, nhưng giờ Ngài chưa đến. Những kẻ toan tính hại Ngài không nắm giữ giờ ấy; giờ ấy thuộc về Cha. Và khi giờ đến, trên thập giá, Ngài vẫn không thôi yêu thương. Nơi Ngài, chúng ta học ‘sợ để không còn sợ’: trung thành với Cha đến cùng, dù phải trao cả mạng sống. Từ cạnh sườn rộng mở của Ngài, Hội Thánh được khai sinh, tiếp nối sứ mạng làm khí cụ cứu độ muôn dân.

“Chính sự sống trao ban sự sống – còn bạn, người tưởng mình là kẻ cho đi, chỉ là một chứng nhân!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, hiểm nguy chưa qua, cho con vẫn bước tới; lòng còn run, cho con vẫn yêu thương; và khi chẳng còn gì, cho con biết con thuộc về ai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/16.html

Tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 12,1-7

1 Khi ấy, đám đông tụ họp hàng vạn người, đến nỗi giẫm lên nhau. Bấy giờ Đức Giê-su bắt đầu nói, trước hết là với các môn đệ : “Anh em phải coi chừng men Pha-ri-sêu, tức là thói đạo đức giả. 2 Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. 3 Vì thế, tất cả những gì anh em nói lúc đêm hôm, sẽ được nghe giữa ban ngày ; và điều anh em rỉ tai trong buồng kín, sẽ được công bố trên mái nhà.

4 “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết : Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. 5 Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai : hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục. Thật vậy, Thầy nói cho anh em biết : anh em hãy sợ Đấng ấy. 6 Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không ? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. 7 Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.”


 

CÔNG GIÁO ĐEM LẠI LỢI ÍCH GÌ – Linh Mục Mi Trầm

Linh Mục Mi Trầm

CÔNG GIÁO ĐEM LẠI LỢI ÍCH GÌ

Giáo dân: Thưa cha, theo đạo Công giáo đem lại những lợi ích gì cho con người?

Linh mục: Đức tin không làm cho người Công giáo tránh được mọi khó khăn, bệnh tật hay đau khổ. Nhưng đức tin giúp chúng ta biết mình sống để làm gì, sống thế nào và hướng về đâu.

Sau đây là những điều nhiều người trẻ nhận thấy nơi đức tin của mình:

  1. Đức tin giúp ta sống có mục đích, có định hướng, có lý tưởng.

Người có đức tin biết mình được Thiên Chúa tạo dựng và mời gọi sống cho một mục đích cao cả hơn những lợi ích vật chất trước mắt. (GLCG 27; GLCG 1721.)

  1. Đức tin giúp ta thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Đức tin giúp chúng ta nhìn cuộc đời dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Những việc tốt nhỏ bé, những hy sinh và cả những đau khổ được đón nhận trong tình yêu cũng không trở nên vô ích. (GLCG 1716–1729; Rm 8,28.)

  1. Đức tin giúp ta kìm hãm đam mê, dục vọng và tu sửa bản thân.

Đức tin giúp chúng ta phân biệt điều tốt và điều xấu, đồng thời tập làm chủ bản thân thay vì để những ham muốn điều khiển mình. Nhờ cầu nguyện, các bí tích và việc tập luyện nhân đức, con người có thể từng bước sửa đổi chính mình. (GLCG 1803–1811; GLCG 2339.)

  1. Đức tin giúp ta sống tốt hơn.

Người Kitô hữu được mời gọi sống trung thực, quảng đại, tha thứ, yêu thương và phục vụ. Động lực sâu xa không chỉ là sợ hình phạt, mà là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.

Chúa Giêsu dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13,34; GLCG 1822–1829.)

  1. Đức tin giúp ta sống lạc quan, yêu đời.

Người có đức tin vẫn có lúc buồn phiền, thất vọng, nhưng không dễ rơi vào tuyệt vọng. Họ tin rằng Thiên Chúa luôn hiện diện và cuộc đời còn có một tương lai vượt quá những gì mắt thấy hôm nay. (GLCG 1817–1821; Rm 5,3–5.)

  1. Đức tin giúp ta sống bình an và hy vọng.

Bình an Kitô giáo không có nghĩa là cuộc sống không còn khó khăn, nhưng là bình an khi biết mình đang ở trong tay Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói: “Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.” (Ga 14,27; GLCG 2302–2306.)

  1. Đức tin giúp ta can đảm vượt qua nghịch cảnh và tai ương.

Khi gặp thử thách, người có đức tin không nhất thiết tránh được đau khổ, nhưng có thêm sức mạnh để đối diện, cầu nguyện, phó thác và tiếp tục cố gắng. (GLCG 164–165; GLCG 1817–1821.)

  1. Đức tin giúp ta có thêm sức mạnh khi đối diện với bệnh tật.

Đức tin không có nghĩa là cứ cầu nguyện thì chắc chắn được khỏi bệnh. Nhưng đức tin giúp người bệnh có niềm hy vọng, sự bình an và sức mạnh tinh thần, đồng thời biết phó thác mình cho Chúa và đón nhận sự trợ giúp cần thiết. (GLCG 1500–1501; GLCG 1506–1509.)

  1. Đức tin giúp ta vượt qua những thất bại trong cuộc sống.

Một thất bại không quyết định toàn bộ giá trị của một con người. Đức tin giúp chúng ta biết đứng dậy sau thất bại, rút kinh nghiệm, sửa chữa sai lầm và tiếp tục tiến bước với niềm hy vọng. (GLCG 1731–1734; GLCG 1817–1821.)

  1. Đức tin giúp ta biết tha thứ, yêu thương và phục vụ.

Đức tin dạy chúng ta không chỉ sống cho mình. Người Kitô hữu được mời gọi biết quan tâm đến người nghèo, người đau khổ, tha thứ cho người xúc phạm mình và phục vụ anh chị em.

Chúa Giêsu nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” (Mt 25,40; GLCG 1939–1942; GLCG 2443–2449.)

  1. Đức tin giúp ta đối diện với cái chết trong niềm hy vọng.

Người Kitô hữu không coi cái chết là dấu chấm hết. Chúng ta tin Đức Kitô đã chết và sống lại, và những ai tin vào Người cũng được mời gọi sống lại.

Chúa Giêsu nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.” (Ga 11,25; GLCG 988–1019.)

  1. Đức tin mở cho ta con đường đến sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Đây là điều cao quý nhất mà đức tin đem lại. Mục đích cuối cùng của đời người không phải chỉ là thành công, giàu có hay hưởng thụ ở đời này, nhưng là được hiệp thông với Thiên Chúa và hưởng hạnh phúc đời đời với Người. (GLCG 1023–1029; GLCG 1721–1722.)

Giáo dân: Như vậy, đức tin đem lại rất nhiều điều cho cuộc sống?

Linh mục: Đúng. Nhưng chúng ta cần nhớ: đức tin không phải là một phương tiện để tìm lợi ích vật chất, cũng không bảo đảm rằng người có đạo sẽ không gặp đau khổ. Điều lớn lao nhất của đức tin là giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, nhận ra ý nghĩa cuộc đời, biết sống yêu thương và có niềm hy vọng vào sự sống đời đời. (GLCG 150; GLCG 1814–1816.)

Giáo dân: Vậy con có thể tự hỏi mình điều gì?

Linh mục: Bạn có thể tự hỏi: “Đức tin đã đem lại điều gì cho cuộc đời tôi?”

Đức tin có giúp tôi sống tốt hơn không? Có giúp tôi biết tha thứ, biết yêu thương, biết vượt qua đau khổ và biết hy vọng hơn không?

Nếu đức tin thật sự đi vào cuộc sống, người khác sẽ có thể nhận ra nơi chúng ta một con người có niềm tin, có hy vọng và có tình yêu. (Mt 5,13–16; Gc 2,14–18.)

GHI NHỚ:

  1. Đức tin cho ta mục đích để sống, lý tưởng để theo đuổi, sức mạnh để vượt qua thử thách, bình an trong tâm hồn, tình yêu để phục vụ và hy vọng vào sự sống đời đời.
  2. Đức tin không làm cho cuộc đời hết gian nan, nhưng giúp ta biết sống thế nào giữa những gian nan ấy.

Lm. Mi Trầm & AI


 

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: Các Câu Chuyện hay của Cha Lê Quang Uy

Bài của AI Gemini.

1. Phép lạ khởi đi từ lòng tin kiên trung và sự hiệp thông cầu nguyện
Một trong những điểm then chốt trong các câu chuyện phép lạ được Cha Lê Quang Uy chia sẻ là vai trò của đức tin sống động và lời cầu nguyện kiên trì.

Ví dụ điển hình qua câu chuyện “Phép lạ trong mùa Covid”, giữa tâm dịch Vũ Hán nghiệt ngã, khi mọi giải pháp y tế và con người dường như bất lực trước nguy cơ bị cách ly và cái chết, lời cầu nguyện đơn sơ nhưng trọn niềm phó thác của người con dâu Công giáo đã làm thay đổi toàn bộ cục diện.

Câu chuyện xảy ra vào tháng 05/2020 tại Vũ Hán (Trung Quốc) trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát dữ dội. Một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hoa,  làm dâu hơn 10 năm tại Trung Quốc, bà bị ngăn cấm không được phép công khai thể hiện đức tin Công giáo hay làm dấu thánh giá trong nhà để gia đình khỏi bị chính quyền làm khó. Đến một ngày nọ trong dịch Covid, cả gia đình chồng bị sốt cao, ho khan, nằm la liệt. Hàng xóm phát hiện gia đình có triệu chứng nên họ đã báo công an đến kiểm tra cưỡng chế đưa đi cách ly 

    • Sự can thiệp thiêng liêng:

Chị con dâu Việt Nam liền vội làm một cây thánh giá đơn sơ treo lên tường, lấy tràng hạt Mẫu Mơ ( tràng hạt Mân Côi) và kêu gọi cả nhà cùng quỳ xuống cầu nguyện. Đến nước cùng trước cái chết tuyệt vọng, cả gia đình chồng (vốn không theo đạo) đã đồng lòng quỳ xuống hướng về Thánh Giá cầu nguyện. Đến khi lực lượng công an xông vào đo nhiệt độ từng người, dù trước đó mọi người đang sốt cao vật vã, kết quả đo lại hoàn toàn bình thường. Công an xác nhận không ai có triệu chứng và họ rời đi khỏi nhà. Sau sự kiện này, cả gia đình chồng phục hồi sức khỏe hoàn toàn. Người chồng tự tay treo lại cây Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trang trọng trên tường, anh cũng đồng ý cho các con học đạo và chịu phép rửa tội.

2. Lời cầu nguyện gắn liền với sự chữa lành và biến đổi tâm hồn
Phép lạ không dừng lại ở sự chữa lành thể xác (như thoát khỏi bệnh tật hay tai ngộ), mà quan trọng hơn là phép lạ của sự biến đổi tâm hồn: Chữa lành mối quan hệ gia đình, sự trở lại của những tâm hồn xa Chúa: 

3. Phương thế cầu nguyện: Chuỗi Mẫu Mơ  (Mân Côi) và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Điểm đặc trưng trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế mà Cha Lê Quang Uy theo đuổi là việc cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Chuỗi Mẫu Mơ (Kinh Mân Côi), nhịp cầu nối kết trái tim con người với Trái Tim Mẫu Tâm của Mẹ.

Nhắc nhở về sự hiện diện của Thiên Chúa: Trong một thế giới thực dụng và đầy biến động, phép lạ là lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người trong cơn gian nan.


Cầu Nguyện và trao quyết định cho Chúa

Sức mạnh của Kinh Kính Mừng trong  lúc khẩn cấp

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời,  Thì hơn tin cậy ở người trần gian                                 

Giải tội cho người điên    

 

CỦA CÉSAR TRẢ CHO CÉSAR, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA – Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 Tiền tệ là phương tiện trao đổi mua bán giữa con người với nhau trong đời sống xã hội.  Để khẳng định quyền làm chủ của mình, thường mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng.

 Đế quốc Rôma có đồng tiền riêng của mình.  Đồng tiền này in hình các vị vua trong đế quốc.

 César và các hoàng đế trong đế quốc Rôma cho in hình ảnh của mình trên đồng tiền, nhưng Thiên Chúa thì lại in hình ảnh của Ngài nơi muôn loài muôn vật, nhất là nơi con người (x. St 1,27).  Điều đó cho thấy, César và các hoàng đế Rôma chỉ có quyền làm chủ trong đế quốc Rôma.  Còn Thiên Chúa, thì làm chủ trời đất muôn loài muôn vật, kể cả loài người và trong đó có cả hoàng đế Rôma nữa.

 “Cái gì của César thì hãy trả cho César và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa.

”  Đồng tiền in hình của César thì hãy trả lại cho ông.  Trời đất, muôn loài muôn vật và loài người in hình ảnh của Thiên Chúa thì hãy trả về cho Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã dạy như vậy, khi những người biệt phái đến hỏi Ngài: “

Thưa Thày, có được phép nộp thuế cho César không?”

 Thật công bằng, chính đáng và phải đạo!  Ngoài bổn phận phải vâng lời các vua chúa trần gian, Chúa Giêsu còn nhắc con người chúng ta còn phải vâng lời Thiên Chúa.  Ngoài nghĩa vụ xây dựng trần thế, con người chúng ta còn phải có bổn phận xây dựng Nước Trời.  Vì con người là xác hồn nhập thể, có sự sống đời này và sự sống đời sau…

 Quả thật, con người là công dân trong một đất nước thì phải chu toàn nghĩa vụ, bổn phận của người công dân theo như luật pháp quốc gia đã định, một khi luật pháp ấy phù hợp với công ích, không trái ngược với lương tâm và phẩm giá của con người.

 Con người cũng là công dân Nước Trời, được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài, nên con người có bổn phận phải xây dựng Nước Trời và phải trả lẽ trước Thiên Chúa những gì con người đã lãnh nhận từ nơi Ngài.  Từ vua quan cho đến thứ dân, ai cũng phải trả lẽ trước Thiên Chúa, không ai được miễn trừ.  Cyrô vua Ba-tư, César hoàng đế Rôma, hay bất kể vua quan trần thế nào cũng thế thôi, tất cả đều phải thần phục Thiên Chúa, tất cả đều phải ra trước tòa Chúa mà chịu phán xét về những việc lành dữ mình đã làm.

 Lạy Chúa, mất những đồng tiền in hình ảnh của César, người ta tiếc xót, người ta ra công gắng sức tìm kiếm.  Tìm lại được người ta vui mừng hớn hở, mời gọi mọi người đến chia vui (x. Lc 15,8-9).

 Mất con người mang hình ảnh mình, Thiên Chúa cũng tiếc xót, Thiên Chúa cũng tìm kiếm như chủ chiên băng đèo lội suối đi tìm chiên lạc.  Tìm lại được, Thiên Chúa cùng các thần thánh trên trời vui mừng và mở tiệc ăn khao (x. Lc 15,4-7).

 Xin cho chúng con ở đời này, đừng bao giờ liều mình phạm tội làm méo mó và hoen ố hình ảnh Chúa nơi chúng con, nhưng xin cho chúng con biết chăm sóc, gìn giữ hình ảnh Chúa nơi chúng con luôn được trong sáng và nguyên vẹn, bằng một đời sống thánh thiện, mến Chúa yêu người và chu toàn bổn phận, để mai ngày chúng con xứng đáng ra trình diện trước tòa Chúa.  Amen.

 Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 From: Langthangchieutim


 

Gương Mục Tử trung tín thời bách Đạo

ĐGM chui Pham văn Dụ và tấm gương hy sinh cho chiên

Giám Mục 3 không:

  • Không tấn phông, không mũ, chờ đội trong 19 năm rồi đuọc tấn phong chui ở Tòa Giám Mục Bắc Ninh.
  • Không tòa giám mục, không văn phòng, không phụ tá, không tùy tùng. Không được phép đi xa khỏi nhà quá 5 cây số, bị công an quản chế 33 năm theo lệnh của chính quyền trung ương.
  • Không bị rũa nát thi hài sau khi qua đời được 23 năm.

Ơn Thánh:

  • Sống giữa đoàn Chiên để chăm sóc Chiên, cùng lao động như Chiên. Theo Chúa trong mọi hoàn cảnh khó khăn, đau khổ.
  • 30 năm lặn lội phục vụ trong miền núi rừngThất Khê, biên giới phía cực Bắc.
  • Đức Cha chuyên cần dậy giáo lý cho các cá nhân tín hữu trong mọi cơ hội để giữ gìn Đức Tin cho Chiên.

TIỂU SỬ ĐỨC CHA PHẠM VĂN DỤ

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
Đức cha Vinh Sơn PHẠM VĂN DỤ,
Giám mục Chính Tòa tiên khởi GP Lạng Sơn
(1960 – 1998)

Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.

Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)

Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.

Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.

Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.

Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.

Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.

Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:

“Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”

Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”

Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”

Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:

“Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.

Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”

Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”

Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)

Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.

Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.

Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:

“Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.

Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.

Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.

Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.

Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành.

Tòa Giám Mục Lạng Sơn do Đức Cha Dụ xây dựng

Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

 

[Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

THIÊN CHÚA BIẾT RÊN- Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)   

“Chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả!”.

“Cầu nguyện là thường xuyên chuyện trò riêng tư với Đấng chúng ta biết là yêu thương mình!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Phaolô nói đến những tiếng rên của Thần Khí; Têrêxa Avila dạy chúng ta ở bên Đấng yêu mình – cả khi không còn lời để nói.

Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta khám phá một nghịch lý tuyệt đẹp: ‘Thiên Chúa biết rên’.

Phaolô cho thấy một khuôn mặt rất lạ của Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu đã hứa ban. Thần Khí không chỉ dạy dỗ, hướng dẫn hay an ủi; Ngài còn “cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” – bài đọc một

. Khi con người cạn lời trước đau khổ, Thần Khí vẫn tiếp tục cầu nguyện trong họ. Thiên Chúa không đứng ngoài những tiếng rên ấy; Ngài ở ngay trong đó. “Ngài khóc với chúng ta để một ngày kia chúng ta có thể vui cười với Ngài!” – Jürgen Moltmann.

Têrêxa Avila hiểu điều ấy bằng chính cuộc đời mình. Những năm tháng bệnh tật, cô đơn và thử thách không làm chị xa Thiên Chúa ; trái lại, đưa Têrêxa đi sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có lúc lời cầu nguyện chỉ còn là nước mắt; nhưng tương quan với Thiên Chúa không vì thế mà đứt đoạn. Ngay cả khi chẳng còn gì để thưa, Têrêxa vẫn ở lại với Đấng mình yêu.

Tin Mừng hôm nay lại đưa chúng ta đến một từ rất quen thuộc trong thần học Gioan: menein , “ở lại”. Ở lại không chỉ là một bổn phận, mà là gắn bó với nguồn sống.

Cành nho sống vì ở lại trong cây nho; người môn đệ sống vì ở lại trong Chúa Kitô. Có khi chúng ta chẳng cảm thấy gì, nhưng vẫn ở lại; cành nho không cần thấy nhựa sống để sống nhờ nó.

Têrêxa đã dành cả cuộc đời để học bài học tưởng chừng đơn giản ấy, ngay cả trong những giờ phút chỉ còn lại nước mắt và thinh lặng.

Nhưng Chúa Giêsu không mời gọi các môn đệ ở lại chỉ để tìm sự bình an cho riêng mình; nhưng còn để sinh trái. Vì thế, dấu chỉ của một đời sống cầu nguyện đích thực không nằm ở những cảm xúc đạo đức hay những trải nghiệm phi thường, nhưng ở những gì nó trao ban. Từ đời sống cầu nguyện, Têrêxa Avila cải tổ Dòng Kín, lập các đan viện mới và canh tân đời sống Hội Thánh. Cầu nguyện không tách người ta khỏi thế giới, nhưng giúp họ làm cho thế giới sống. “Thời gian dành cho cầu nguyện là nguồn mạch vô tận của việc phục vụ!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Cây Nho đích thực luôn ở lại trong Chúa Cha. Ngài đã đi đến tận cùng kinh nghiệm con người: cô đơn, nước mắt, đau khổ và cái chết. Trên thập giá, Ngài không đứng ngoài những tiếng rên của nhân loại, nhưng mang lấy chúng trong thân xác mình. “Tôi khát!” – đó không chỉ là cơn khát của một người sắp chết, nhưng còn là tiếng rên vì khát các linh hồn của một Thiên Chúa đang yêu.

Nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, tiếng rên của nhân loại đã đi vào lời cầu nguyện của Người Con – ‘Thiên Chúa biết rên’.

Đừng sợ nước mắt mình vô nghĩa, vì chính Thiên Chúa đã đi qua con đường ấy trước chúng ta!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết ở lại khi không còn lời để nói; biết tín thác khi chỉ còn nước mắt; và biết lắng nghe tiếng Ngài giữa những tiếng rên của đời mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thánh Têrêxa Avila, trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh Thứ Năm

 Tuần XXVIII Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/15.html

Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an     Ga 15,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. 2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. 3 Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. 4 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.

5 “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. 6 Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. 7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. 8 Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”


 

Điều Bất Ngờ Thứ 3: MỞ RA MỘT LỐI NHÌN MỚI – Cha Vương

Chúc Bạn và gia đình luôn có những ngày thật hạnh phúc luôn biết đặt niềm tin cậy vào Chúa và Mẹ, cầu nguyện cho nhau và Hòa Bình trên thế giới nhé. 

Cha Vương

Thứ 4: 14/10/2026.    (t7-23)

“Kinh nghiệm cho thấy rằng để khắc sâu tình yêu đối với Mẹ Thiên Chúa trong tâm hồn, thì không có gì hiệu quả hơn cho việc thực hành lần hạt Mân Côi. Tôi khuyến khích mọi người tín hữu hãy năng thực hành việc đạo đức này.” (Đức giáo hoàng Leo XIII) 

Hôm nay mời Bạn suy niệm Điều Bất Ngờ Thứ 3 khi bạn hết lòng tin tưởng chạy đến Mẹ Maria qua việc đọc Kinh Mân Côi hằng ngày.

Điều Bất Ngờ Thứ 3: MỞ RA MỘT LỐI NHÌN MỚI: 

Khi Bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi là Đức Mẹ vén mở cho bạn một lối nhìn thấu đáo: Tôi biết rằng, nếu bạn đã phải khổ sở lúc còn bé khi được giới thiệu một cách sơ sài về chuỗi Mân côi với việc bị ép buộc lần chuỗi  bởi những thầy cô hay cha mẹ và bạn cho rằng chuyện này hết sức nhàm chán thì khó có thể hiểu rằng làm thế nào mà chuỗi Mân Côi có thể đem đến bất cứ điều gì tốt đẹp hay siêu việt trong lúc lần chuỗi, ngay cả khi bạn thực sự tin vào hiệu năng mạnh mẽ của chuỗi Mân côi. Nhưng tôi thực sự tin rằng khi lần chuỗi Mân côi thường xuyên, những điều sâu xa giấu ẩn sẽ được vén mở. Khi thường xuyên suy niệm về từng mầu nhiệm, Đức Mẹ, với Đức Kitô , sẽ có những điều gì đó trao ban cho bạn. Có lẽ đó là một lối nhìn sâu sắc về một lãnh vực trong đời sống mà bạn đang phải vật lộn với nó. Có thể là một sự thần hoá  qua một khoảnh khắc đặc biệt trong đời sống của Đức Kitô mà sẽ thực sự nâng đỡ bạn. Có lẽ chính đó là kinh nghiệm có thể xảy ra sâu xa trong khi cầu nguyện mà bạn cảm nhận được, trong khoảnh khắc của chính mầu nhiệm ấy. Luôn có những điều mới mẻ để khám phá và luôn có điều gì đó tốt đẹp cần được vén mở.

Hôm nay xin Bạn hãy đọc 10 Kinh Kính Mừng với ý chỉ cầu nguyện cho những cặp hôn nhân đang gặp khó khăn, xin Mẹ củng cố gia đình họ.

From: Do Dzung

*****

Hoàng Oanh | Linh Hồn Tôi | Kim Long

Bí tích Xức dầu bệnh nhân co’ y’ nghia gi`?

GEMINI tra loi:

Bí tích Xức dầu bệnh nhân (trước đây thường được gọi là Bí tích Xức dầu thánh hoặc Xức dầu lần cuối) là một trong bảy Bí tích của Giáo hội Công giáo. Đây là bí tích được ban cho những tín hữu đang lâm vào tình trạng bệnh nặng, già yếu hoặc sắp bước vào lúc lâm终 để cầu xin ơn Chúa ban sức mạnh và sự nâng đỡ.

Ý nghĩa chính của Bí tích Xức dầu bệnh nhân được thể hiện qua các khía cạnh sau:

1. Nâng đỡ và ban sức mạnh trong đau khổ

  • Sức mạnh tinh thần và thể xác: Bí tích này ban ơn Thánh Thần giúp người bệnh có đủ sức mạnh để vượt qua những thử thách, sự đau đớn về thể xác cũng như nỗi sợ hãi trước bệnh tật và cái chết.
  • Kết hợp với Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su: Giúp người chịu bệnh hiệp thông những đau khổ của mình vào cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Ki-tô, biến đau khổ thành phương thế cứu độ và đem lại hoa trái thiêng liêng.

2. Tha thứ tội lỗi

  • Tha tội nhẹ và ơn bình an: Nếu người bệnh ở trong tình trạng không thể lãnh nhận Bí tích Hòa giải (xưng tội), Bí tích Xức dầu có công hiệu tha các tội nhẹ, đồng thời ban sự bình an trong tâm hồn.
  • Hoàn vũ ơn cứu độ: Bí tích này phục hồi sự trong sạch của tâm hồn, chuẩn bị cho người tín hữu bước vào đời sống vĩnh cửu nếu đây là giờ phút cuối đời của họ.

3. Sự chữa lành (theo thánh ý Chúa)

  • Ban đầu, Bí tích này mang ý nghĩa cầu ơn chữa lành bệnh tật phần xác nếu điều đó có ích cho phần rỗi linh hồn của người bệnh, giúp họ hồi phục để tiếp tục phụng sự Thiên Chúa và tha nhân.

4. Chuẩn bị cho cuộc hành trình cuối cùng (Viaticum)

  • Đối với những người sắp lâm终, Bí tích Xức dầu là sự bảo đảm và là “của ăn đàng” (cùng với Bí tích Thánh Thể) để người tín hữu vững lòng bước qua ngưỡng cửa sự chết, tiến về nhà Cha trên trời với niềm hy vọng được Phục Sinh.

Lưu ý: Bí tích này không chỉ dành riêng cho những người hấp hối hay chuẩn bị qua đời, mà bất kỳ tín hữu nào mắc bệnh nặng, người lớn tuổi sức khỏe suy giảm nhiều, hoặc chuẩn bị bước vào một cuộc phẫu thuật lớn nguy hiểm đều có thể và nên lãnh nhận.


 

NHIỀU VIỆC – ÍT LÒNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ!”.

“Bác ái không vội; bác ái gõ cửa, nhưng không phá cửa!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời trách của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay chạm đến một điều đáng ngại: chúng ta có thể giữ kỹ nhiều điều mà vẫn bỏ quên công bình và bác ái. Việc đạo đức vẫn đầy đủ, nhưng lòng yêu mến chưa lớn theo – ‘nhiều việc – ít lòng’.

Người Pharisêu nộp thuế thập phân đến cả bạc hà, vân hương và các thứ rau. Không một phần nhỏ nào nằm ngoài sự cẩn thận của họ; vậy mà họ lại xao lãng điều hệ trọng hơn. Chúa Giêsu nói: “Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ!”. Họ dành cho Chúa một phần mười mọi thứ rau, nhưng chưa để Ngài sửa lại trọn lòng mình. Sự tỉ mỉ ấy chưa khiến họ biết ghé vai trước nỗi nhọc của người khác. “Cốt lõi đường lối của Đức Giêsu là sẵn lòng mang gánh nặng của người khác!” – Robert Barron.

Chúa Giêsu còn trách họ thích chỗ danh dự và những lời chào kính trọng. Họ muốn người khác nhận ra mình là người đạo đức, nhưng chưa nhận ra người khác đang cần gì. Với giới thông luật, Ngài chỉ rõ: họ chất gánh nặng lên người khác mà không buồn động một ngón tay để giúp. Họ biết điều người khác phải làm, nhưng ít biết điều người khác phải chịu. Động một ngón tay còn là chịu nghe, chịu đợi. Có những điều đã nói rõ, nhưng người nghe cần thời gian. Lòng yêu mến phải giữ người hướng dẫn ở lại với người bên cạnh.

Để có thể lắng nghe, đợi chờ như thế, họ cần để Thần Khí dẫn dắt. Nhờ đó, đời họ có thể sinh hoa trái: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” – bài đọc một. Nhẫn nhục giúp chúng ta chờ; hiền hoà giúp chúng ta không làm tổn thương; tiết độ giúp chúng ta biết dừng trước một lời thúc ép. Vậy mà bất hoà, nóng giận, chia rẽ vẫn có thể chen vào khi chúng ta muốn người khác mau nên tốt. Người được hướng dẫn cần đổi thay; nhưng người hướng dẫn cũng cần hoán cải. Thánh Vịnh đáp ca soi sáng cả hai: “Lạy Chúa, ai theo Ngài, sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống!”.

Có những ngày chúng ta làm bao việc cho gia đình, giáo xứ, nhưng người gần nhất lại thấy chúng ta luôn vội, dễ cáu gắt. Những việc đạo đức cần đi đến tận cung cách chúng ta đối xử với người khác, cả khi họ chậm thay đổi ở điều khiến chúng ta phiền lòng.

“Đức ái trọn hảo là chịu đựng những lỗi lầm của tha nhân, không ngạc nhiên trước những yếu đuối của họ!” – Têrêxa Lisieux.

Anh Chị em,

Đức Kitô hết lòng với Chúa Cha, và cũng hết lòng với những ai tìm đến Ngài. Giữa đám đông chen lấn, Ngài nghe người phụ nữ vừa chạm áo Ngài nói hết sự thật; trên đường đi, Ngài dừng lại trước tiếng kêu của anh mù Bartimê. Trên thập giá, giữa đau đớn, Ngài vẫn nghe lời thưa của anh trộm lành và tặng anh thiên đàng. Chiêm ngắm Ngài, chúng ta xin cho những việc đạo, việc đời mỗi ngày giúp mình biết thương người hơn, để thôi ‘nhiều việc – ít lòng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng bao giờ để con coi công việc hơn con người; cho con biết dừng lại khi một người cần con; và đừng để ai ngại đến gần vì con quá vội!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/14.html

Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 11,42-46

42 Khi ấy, Đức Giê-su nói : “Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ. 43 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng. 44 Khốn cho các người ! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay.”

45 Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói : “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa !” 46 Đức Giê-su nói : “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật ! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.”


 

KHI KHÔNG GẶP ĐƯỢC LINH MỤC LÚC HẤP HỐI , LÚC NGUY TỬ …THÌ PHẢI LÀM GÌ?

TỔNG HỘI RẤT THÁNH ĐỨC MẸ MÂN CÔI TRỰC THUỘC VÙNG ORANGE – HOA MAI

 KHI KHÔNG GẶP ĐƯỢC LINH MỤC LÚC HẤP HỐI , LÚC NGUY TỬ …THÌ PHẢI LÀM GÌ?

Muốn  cứu rỗi phần Linh hồn thì chúng ta phải làm những việc này khi còn sống  ..nếu đã chết rồi là mọi sự đã hết ..  Nghĩa là khi chúng ta chết rồi . thì cho dù gặp 100 Linh Mục . 100 Giám Mục .. Hay gặp Đức Giáo Hoàng  đi chăng nữa ..thì cũng không thể giúp đỡ được gì cho Linh hồn của ta nữa   .. Cho nên khi đối diện với sự chết chúng ta phải làm ngay không thể trì hoãn được nữa  … Và chúng ta phải có trách nhiệm nói cho mọi người cùng biết . hay những lúc nguy tử chúng ta phải giúp họ làm việc này để được cứu rỗi phần Linh hồn … Nếu không chính chúng ta cũng mắc lỗi trong chuyện này ..

Để giải quyết vấn đề cứu rỗi phần Linh hồn cho con cái của mình …. Giáo Hội , Mẹ Hiền , đã giải quyết làm sao ? Xin thưa dễ lắm .. Có 2 việc phải làm  ….

1) ĂN NĂN TỘI CÁCH TRỌN

để xin CHÚA  thứ tha mọi tội. Cách dễ nhất để ăn năn tội “cách trọn” là đọc kinh “Ăn năn tội” :

“Lạy CHÚA , CHÚA là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, CHÚA  đã dựng nên con, và cho Con CHÚA  ra đời, chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng CHÚA , thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự ; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn CHÚA  thì con sẽ lánh xa dịp tội, cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen”

Nếu không thuộc kinh này, hoặc không kịp giờ, thì một câu vắn tắt này cũng đủ : “Lạy CHÚA , con yêu mến CHÚA , xin CHÚA  tha thứ tội lỗi cho con” hoặc những câu tương tự : “Lạy CHÚA  xin thương xót con là kẻ tội lỗi”…

Người nhà có thể cùng đọc với người hấp hối hoặc đọc lớn cho họ nghe và hiệp thông.

“Ăn năn tội cách trọn là chìa khoá VÀNG vào cửa Thiên Đàng”

2) LÃNH ƠN ĐẠI XÁ NGUY TỬ 

Ăn năn tội cách trọn là CHÚA  tha các TỘI ta thống hối. Rồi ƠN ĐẠI XÁ “sẽ đến” tha các HÌNH PHẠT bởi tội đã được tha trên đây (do ăn năn tội cách trọn ta vừa làm), và như thế, ta thẳng cánh bay tới Thiên Cung.

Giáo lý về Ân xá là : có Tội là có Hình phạt đi kèm. [ Tội được tha do lòng thống hối. Hình phạt do các tội đã được tha đó, sẽ được xoá nhờ Ân xá (và nhiều cách thế “đền tội” khác ) ] :

    ~ “Số 18 : Các tín hữu nguy tử mà linh mục không thể cho họ lãnh các Bí tích cuối cùng cũng như ƠN ĐẠI XÁ  giờ lâm chung theo giáo luật,  thì Hội Thánh, Mẹ Hiền, ban ĐẠI XÁ lâm chung cho họ, nếu trong đời sống họ vẫn thường quen đọc ít kinh (cầu nguyện); và lúc này, thật đáng khuyến khích là cho họ cầm tượng CHÚA  Chịu Nạn (Thánh giá có tượng CHÚA đóng đinh) hay Thánh giá (không tượng CHÚA ) và giục họ ước ao lãnh đại xá (toàn xá) này.

   ~ “Đại xá giờ lâm chung này được ban cho tín hữu, dù ngày hôm đó họ đã lãnh đại xá khác rồi.” (trích Tông hiến về Ân Xá ngày 1-1-1967 của ĐGH Phaolô 6, Normae số 18)

~ Như thế, để lãnh ơn đại xá giờ lâm chung, điều kiện duy nhất là, trong cuộc sống họ có thói quen ĐỌC ÍT KINH… ” ví dụ “. đọc ba kinh kính mừng trước khi ngủ, đọc kinh trước khi ăn cơm… Cực kỳ đơn giản !

~ Cầm THÁNH GIÁ là để họ tin chắc họ “cầm” họ “nắm” được ơn cứu độ. Chứ không có cũng chẳng sao…

~ Miễn chuẩn ..( nghĩa là không phải làm) 3 điều kiện thường nghe : xưng tội, rước lễ, cầu theo ý Đức Giáo Hoàng trong trường hợp lãnh ƠN ĐẠI XÁ  nguy tử này.

~  Thế là quý vị và các bạn đã an tâm chưa.

Xin chia sẻ cho mọi người cùng biết ..xin cảm ơn ..

( Theo . Lm An Phong sô Nguyễn Công Vinh ..)