HỠI CÁC LINH HỒN THÁNH THIỆN TRONG LUYỆN NGỤC,- Cha Vương 

Một ngày an lành và ấm áp bên Chúa và Mẹ nhé. Bạn thân mến, hôm kia Giáo hội mừng Lễ Các Linh Hồn. Ai trong chúng ta cũng có những người thân đã ra đi trước chúng ta. Theo giáo lý công giáo, ít có người được lên Thiên Đàng ngay sau khi Chúa gọi về, vì đời sống dương thế với biết bao lầm lỗi, cộng thêm sự yếu đuối tự nhiên của Kitô Hữu, với sự công bằng của Chúa. Trong Sách Khải Huyền có viết: “Tất cả những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không được vào thành…” (Kh 21:27) Nên có nhiều linh hồn bị giam phạt trong luyện hình nhiều năm tháng bởi vì không có ai cầu nguyện cho. Thật vậy, Chúa thật Thánh Thiện, trong sạch nên các linh hồn phải bị thanh tẩy trong luyện tội để xứng đáng hưởng tôn nhan Thiên Chúa muôn đời.  “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn—Tv 61:2” Nếu bạn thương các linh hồn thì hãy sốt sắng làm tuần cửu nhật cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội và các linh hồn của những người thân thương của mình. Đây cũng là điều thật chính đáng vì Giáo Hội dạy trong “Thương Linh Hồn 7 Mối” rằng: “Cầu cho kẻ sống và kẻ chết”. Ở thế gian chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới được bình an nhé 

Cha Vương 

Thứ 5: 5/11/2026     (t2-4-24)

NGÀY 1: HỠI CÁC LINH HỒN THÁNH THIỆN TRONG LUYỆN NGỤC, CÁC NGÀI CÓ NUỐI TIẾC ĐIỀU GÌ VỀ THẾ GIỚI MÀ CÁC NGÀI VỪA TỪ GIÃ KHÔNG? 

(Nguồn: sưu tầm online) 

“Tôi nuối tiếc cho thời gian đã mất. Tôi không bao giờ nghĩ rằng thời gian trên trái đất thật là quý giá chóng qua, và không thể đền bù được. Nếu tôi biết trước thì lúc này đây tôi mới thấy thời giờ đáng quý biết là bao!  Thời giờ được ban cho tôi toàn quyền sử dụng trong tình yêu Thiên Chúa, cho sự thánh hóa của tôi, cho sự cảm hóa tha nhân. Tôi đã dùng thời giờ để gây tội lỗi, để hưởng thụ, để làm việc. Những thứ này bây giờ làm cho tôi phải nuối tiếc trong cay đắng. Ôi thời gian đã mất, không còn hy vọng gì lấy lại.

Hỡi các bạn còn sống trên trái đất hãy thay mặt chúng tôi mà thánh hiến cho Trái Tim Cực thánh Chúa Giêsu một chút thời giờ mà Chúa ban cho bạn cách dồi dào và miễn phí để xin ân huệ cho chúng tôi. Chúng tôi xin cảm tạ các bạn trước!”

BÓ HOA THIÊNG LIÊNG: “Những nỗi thống khổ của các linh hồn dưới luyện ngục rất lớn cho nên một ngày ở đó cũng như ngàn năm đối với họ.” (Thánh Vincent Ferrer) 

Chỉ có lòng xót thương của Chúa, những hy sinh hãm mình, việc bác ái và lời cầu nguyện của những người còn sống mới giảm bớt được nỗi thống khổ của các linh hồn mà thôi. 

Mời bạn hãy làm một điều hữu ích cho các linh hồn hôm nay nhé.

LỜI CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thiện, vì Máu Thánh Cực châu báu của Chúa Giêsu đã đổ ra trong vườn cây dầu để cứu các linh hồn mồ côi trong luyện tội, con nài xin Chúa, xin hãy đưa các linh hồn vào nơi Vinh Quang để danh Chúa được tôn sùng và ngợi khen cho đến muôn đời.

Lạy Trái Tim dịu ngọt Chúa Giêsu, xin ban ơn cho chúng con để chúng con yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.

(đọc 1 Kinh Lạy Cha, 1 kinh Kính Mừng, 1 Kinh Vực Sâu)

From: Do Dzung

*****

Bụi Tro Phận Người – Angelo Band  

KHÔN QUÁ HOÁ DẠI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!”.

“Người quản gia vẫn tìm được cách kết bạn, bỏ lại phía sau sự cô độc của tính ích kỷ!” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Người quản gia khôn khéo tìm bạn để thoát cảnh cô độc khi mất chức. Nhưng ai sẽ đón anh khi anh từ giã cuộc đời? Đó là nghịch lý của Tin Mừng hôm nay: ‘khôn quá hoá dại!’.

“Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi!

”. Trước nguy cơ mất tất cả, người quản gia chợt nhận ra điều anh cần lúc này: những con người! Chúa Giêsu không khen sự bất lương, nhưng khen anh biết nhìn xa và hành động trước khi quá muộn. Anh khôn vì biết tìm người đón mình khi thất thế; nhưng cái khôn ấy cũng có giới hạn: người ta có thể cho anh trú thân, chứ không thể cho anh một quê hương vĩnh cửu!

Người quản gia có thể sửa những giấy nợ, nhưng không thể sửa lại quá khứ. Anh giảm cho người này năm mươi thùng dầu, người kia hai trăm giạ lúa; riêng món nợ gian dối của anh vẫn còn đó. Anh có thể tìm được người cho mình nương náu, nhưng liệu có tìm lại được lòng tin của chủ? Có những món nợ không thể thanh toán bằng những con số!

Có những cửa nhà mở ra nhờ khôn khéo; cũng có những ‘cửa nhà’ chỉ mở ra khi con người thật lòng thay đổi.

“Người muốn làm điều tốt thì gõ cửa; người biết yêu thương thì thấy cửa đã mở!” – Rabindranath Tagore.

Phaolô mở ra một ‘cửa nhà’ khác: “Quê hương chúng ta ở trên trời!”. Bi kịch không phải là chúng ta không có nhà dưới đất, nhưng là có thể sống hết một đời mà quên mình có cả

quê trời. Đó là điều Phaolô cảnh báo khi nói đến những kẻ “chỉ nghĩ đến những sự thế gian”. Và quê hương ấy không chỉ đón phần hồn; ngay cả “thân xác yếu hèn của chúng ta” cũng được biến đổi “nên giống thân xác vinh hiển của Người” – bài đọc một. Người quản gia lo mất chức; còn chúng ta, ngay cả khi mất mạng sống, vẫn không mất tương lai nếu thuộc về Chúa Kitô. Vì thế, khôn tìm Chúa; dại tìm người!

Cám dỗ của người quản gia không xa lạ với chúng ta: có khi chúng ta giữ uy quyền kỹ hơn giữ lòng trung tín; quen được trọng vọng đến mức tưởng mình đời đời. Quyền được trao để phục vụ, không phải để lạm quyền và vun vén. “Không sống điều mình tin, cuối cùng người ta sẽ tin theo điều mình sống!” – Fulton Sheen. Đừng đợi đến khi mất chỗ mới tự hỏi: tôi đã phục vụ Chúa nơi những người Ngài trao phó, hay bắt họ phục vụ chính mình?

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ hứa một chỗ trong nhà Cha, Ngài còn ở lại với chúng ta giữa những bấp bênh hôm nay. Trên thập giá, Ngài chấp nhận bị loại ra ngoài, để mở đường cho những ai xa cách tình yêu Cha trở về. ‘Khôn quá hoá dại’ khi chúng ta tìm mọi cách bảo đảm đời mình mà quên Đấng bảo đảm cho chúng ta sự sống đời đời.

Vì có Ngài, ngay giữa những mất mát và chông chênh, chúng ta vẫn có thể cất tiếng mỗi ngày : “Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con giữ lòng ngay hơn giữ địa vị; đừng khéo với người mà vụng với Chúa; và dù mất tất cả, quyết không mất Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/06.html

Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 16,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : ‘Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa !’ 3 Người quản gia liền nghĩ bụng : ‘Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ !’

5 “Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : ‘Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?’ 6 Người ấy đáp : ‘Một trăm thùng dầu ô-liu.’ Anh ta bảo : ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.’ 7 Rồi anh ta hỏi người khác : ‘Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?’ Người ấy đáp : ‘Một ngàn giạ lúa.’ Anh ta bảo : ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.’

8 “Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.”


 

KHÔNG THỂ VÀO THIÊN ĐÀNG BẰNG ĐỨC TIN VAY MƯỢN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Đọc dụ ngôn Mười Cô Trinh Nữ lên, chúng ta thấy có điều không ổn, bởi đám cưới có bao điều cần thiết, chứ đâu chỉ cần mỗi người một đèn sáng trong tay là vào dự tiệc cưới.  Chàng rể đến cũng phải đem đèn đi theo chứ, vả lại năm cô có đèn mà đèn hết dầu thì vẫn còn năm cô kia, hai người một đèn không đủ sao?  Mà cũng thật là thiếu bác ái trong nhóm phù dâu này.  Mười chị em cùng nhóm phù dâu với nhau mà cũng không chịu chia sẻ dầu cho nhau để tất cả có dầu đèn cùng vào dự tiệc cưới thì vui biết mấy.  Khi kể dụ ngôn này, Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta điều gì 

Dầu đức tin

 Năm cô có đèn nhưng hết dầu xin năm cô đèn còn sáng, lại có dầu dự trữ nữa, vậy mà năm cô kia không cho.  Chẳng những thế lại còn nói:

“E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra hàng mà mua thì hơn”

(Mt 25, 9).  Tin Mừng kể lại, chính lúc năm cô đi mua thì chàng rể đến và cửa đóng lại.  Lúc năm cô có dầu, đèn sáng về gõ cửa, chính chú rể đích thân ra mở cửa, thấy năm cô, nhưng lại trả lời một cách khắc nghiệt: “

Ta không biết các ngươi

” (Mt 25, 12).  Các cô là những người giúp việc nhà, là những người quen thuộc, mà chú rể nói rằng không quen, không biết.  Đành rằng chú rể không biết các cô.  Thế còn năm cô bạn kia đâu, sao không ra nhận bạn đưa vào?  Hậu quả năm cô này được gọi là năm cô khờ dại, vì đã mang được đèn mà không mang dầu theo.  Thật là kết cuộc đáng buồn cho những ai không chuẩn bị sẵn sàng!

 Dụ ngôn muốn ám chỉ, dầu ở đây là dầu đức tin.  Đức tin cần thiết để được ơn cứu độ.  Đức tin không thể vay mượn được.  Có đi mua chăng nữa thì cũng uổng công vô ích.

 Không ai có thể vào thiên đàng bằng đức tin vay mượn

 Đây chỉ là dụ ngôn Chúa Giê-su kể cho các môn đệ, chứ thực tế không có đám cưới nào hay đám rước dâu nào lại xảy ra như thế cả.  Dù chàng rể có tới trễ, chắc chẳng ai ngủ được, phương chi các cô phù dâu, quần áo đầu tóc như thế làm sao mà ngủ nổi?  Khi nói dụ ngôn này, Chúa Giê-su chỉ muốn dạy chúng ta rằng Không ai có thể vào thiên đàng bằng đức tin vay mượn.

 Chàng rể chính là Chúa Giê-su, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại, được Thiên Chúa yêu thương và đón mời về dự tiệc cưới Nước Trời.  Dầu và đèn là điều kiện cần có để được tham dự tiệc cưới, thì đức đức tin cũng cần thiết để được vào Thiên Đàng.  Mười cô phù dâu, có năm cô khôn và năm cô dại là hình ảnh nhân loại có người dại người khôn.  Khôn hay dại tùy thuộc vào thái độ họ có biết sẵn sàng chuẩn bị cho mình đức tin cần thiết không.  Cái làm cho mười cô trở thành khôn dại khác nhau ở chỗ cẩn thận và sẵn sàng.  Cả mười cô đều ngủ, nhưng năm cô khôn ngủ trong thái độ tin.  Còn năm cô dại đã ngủ trong một thái độ chểnh mảng, tới đâu hay tới đó, đến khi “hay” được thì đã quá muộn.

 Còn việc chàng rể đến chậm, đến trễ, đến bất ngờ ám chỉ việc Chúa đến.  Chắc chắn Chúa sẽ đến, nhưng hoàn toàn bất ngờ, đột xuất, nên ai khôn thì sẵn sàng chờ đón ngày chung cục của thế giới, ngày cánh chung, ngày tận thế, ngày Chúa phán xét toàn thể nhân loại.  Ngày đó không ai biết trước được.  Sẵn sàng đón nhận giờ chết, giờ bất ngờ, không ai biết trước được.  Đòi hỏi mỗi người phải hết sức cẩn thận, phải tin cho đủ với đèn nhân đức tích sẵn thì được vào Nước Trời.  Đây chính là bài học Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta. 

Hãy học năm cô khôn

 Muốn đón Chúa chúng ta phải khôn ngoan, sẵn sàng có nghĩa là đèn phải luôn có dầu.  Đèn ở đây là chính đức tin, tình yêu, một lòng mến bình thường, không gây mỏi mệt và buồn chán.  Đèn muốn hữu dụng phải có dầu.  Dầu đốt mãi cũng phải hết.  Vậy, chúng ta phải tích trữ dầu càng nhiều càng tốt.  Từng giọt dầu nhỏ bé được thêm vào liên tục là những công việc nhỏ bé, tốt lành, thiện hảo trong đời sống hằng ngày của chúng ta.  Đó là những giọt dầu của tình yêu và lòng mến, giữ cho ngọn lửa đức tin của chúng ta luôn cháy sáng.  Với dầu cầu nguyện và việc lành luôn cháy sáng, Chúa sẽ nhận ra chúng ta. 

Dầu này là dầu không vay không mượn được như người ta tưởng, nghĩa là không ai có thể vào thiên đàng bằng đức tin vay mượn, nên không thể nói đến chuyện thiếu bác ái ở đây.  Nhân đức và cách sống không thể cho vay cho mượn để vào Nước Trời, mỗi người phải tự tích luỹ cho mình, nghĩa là phải trở nên người thực thi lời Chúa hơn là người chỉ biết nghe lời Chúa.  Chính Chúa Giê-su nhắn nhủ và mời gọi chúng ta: hãy khôn ngoan như năm cô trinh nữ đem đèn và dự trữ cả dầu.

 Vậy, hãy mến chuộng Ðức Khôn Ngoan.  Đức Khôn Ngoan ở đây là chính Chúa.  Chúa là Đấng Khôn Ngoan “sáng tỏ, không bao giờ lu mờ” như câu đầu của bài đọc I hôm nay (Kn 6,12).  Những “ai yêu mến nó, sẽ xem nó dễ dàng, và những ai tìm kiếm nó, sẽ gặp được nó.  Nó sẽ đón tiếp những ai khao khát nó, để tỏ mình ra cho họ trước” (Kn 6,13).

 Như thế, muốn gặp Chúa phải tìm kiếm; nhưng chỉ ai yêu mến Chúa mới tìm kiếm Người.  Duy trì được lòng yêu mến Chúa là có thái độ sẵn sàng; và ai làm như thế được kể là người khôn ngoan.  Vậy người khôn có đèn cháy sáng trong tay để sẵn sàng đi gặp Chúa là người có Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến đã được đốt cháy khi chịu phép Rửa tội và đã nhận lấy một cây đèn cháy.

 Vậy, trong thời gian chờ ngày Chúa trở lại hãy giữ sao cho lòng mến Chúa cháy mãi.  Hãy luôn tưởng nhớ và yêu mến Người.  Nhất là hãy luôn luôn thi hành giới răn Người để lại là thi hành lòng bác ái. Như thế, Người đến lúc nào chúng ta vẫn sẵn sàng để vào dự tiệc đời đời với Người chẳng cần vay mượn hay đi mua gì cả.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

LẠC XA – LẠC GẦN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng!”. “Thật sai lầm khi chúng ta nghĩ mình công chính và cho những người khác là kẻ xấu!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một nghịch lý: những người tội lỗi, dẫu ‘lạc xa’ Chúa, lại tìm đến Chúa Giêsu; trong khi những người tưởng mình công chính ‘lạc gần’ mà không hay!

Trong một lần tĩnh tâm tại đan viện Tamié, Robert Barron nghe tiếng một con chiên rơi xuống hố kêu cứu suốt đêm. Con chiên biết mình đang gặp nạn; đồng bạc đã mất thì không!

Hai dụ ngôn vì thế đặt ra một câu hỏi nhức nhối: ai thực sự cần được tìm về?

Điều đáng sợ không chỉ là ‘lạc xa’ mà biết mình lạc, nhưng ‘lạc gần’ mà cứ tưởng mình chưa hề lạc.

“Kiêu ngạo biến thiên thần thành ác quỷ; khiêm nhường biến con người thành thiên thần!” – Augustinô.

Tin Mừng nói, trong khi những người tội lỗi đến nghe Chúa Giêsu, “những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau”. Bản Hy Lạp viết diegóngyzon – “xầm xì”, “lẩm bẩm”, một động từ gợi sự bất bình dai dẳng, chứ không chỉ một lời chê trách thoáng qua. Họ không chịu nổi cảnh Ngài đón tiếp và ăn uống với những người họ thường khinh miệt; họ tưởng mình đang bảo vệ sự thánh thiện của Thiên Chúa, nào ngờ họ đang bất bình trước lòng thương xót của Ngài.

Họ gần Chúa Giêsu về khoảng cách, nhưng xa Ngài trong cách nhìn một con người!

Phaolô cũng đã từng lạc như thế. Thuộc nhóm Pharisêu, ông tự hào về đời sống đạo của mình. Thế nhưng, lòng nhiệt thành thiếu ánh sáng Đức Kitô đã đẩy ông đến chỗ bắt bớ Hội Thánh. Chỉ khi gặp Ngài, ông mới nhận ra mối lợi lớn nhất: “Được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi!” – bài đọc một. Từ đó, ông không còn lấy những ưu thế ấy làm thước đo sự công chính, nhưng tìm thấy niềm vui của người kiếm tìm Thiên Chúa: “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ!” – Thánh Vịnh đáp ca. Người từng tưởng mình đi đúng đường nay nhận ra: có thể không lạc trong việc giữ đạo, mà đã lạc rất xa trong cuồng tín!

Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta khó chịu vì sự trở về của ai đó. Không hẳn vì họ từng là kẻ tội lỗi, nhưng vì họ không còn đứng ở chỗ chúng ta dành cho họ. Điều chúng ta không chịu nổi là Chúa đón nhận họ, cho đứng ngang hàng với chúng ta. Vẫn ở trong nhà Chúa, nhưng chúng ta đã âm thầm chiếm chỗ Chủ nhà.

“Xét đoán người khác khiến chúng ta mù loà; yêu thương thì soi sáng!” – Dietrich Bonhoeffer.

Anh Chị em,

“Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng!”. Lời tố cáo nay trở thành lời loan báo đẹp nhất. Đức Kitô không chỉ đón những người tội lỗi; Ngài còn kiên nhẫn thức tỉnh những kẻ tưởng mình công chính. Trên thập giá, vòng tay Ngài mở rộng đến tận cùng, hiến mạng sống cho cả hai – người ‘lạc xa’, kẻ ‘lạc gần’ – và cho toàn thể nhân loại. Hôm nay, nơi bàn tiệc Thánh Thể, Ngài vẫn chào đón những tội nhân Ngài cứu chuộc. Không ai quá xa để Chiên Thiên Chúa không thể đưa về; cũng không ai quá gần để khỏi cần Ngài cứu!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sai lầm tưởng mình thánh thiện; cho con biết kêu lên như con chiên lạc giữa khuya; cũng đừng để con chiếm chỗ Chủ nhà!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/05.html

Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.     Lc 15,1-10

1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này :

4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay : giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”


 

LINH MỤC ĐẦU TIÊN CỦA BHUTAN

Con Tin Chúa Ơi

 LINH MỤC ĐẦU TIÊN CỦA BHUTAN

Một cuộc gặp gỡ tình cờ trên máy bay với Thánh Têrêsa Calcutta đã trở thành bước ngoặt trong cuộc đời của một người từng theo Phật giáo, giúp ông quyết định dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và trở thành linh mục Công giáo đầu tiên người Bhutan.

Đó là câu chuyện của linh mục Kinley Tshering, thuộc Dòng Tên, sinh ra trong một gia đình Phật tử sùng đạo tại Bhutan, quốc gia có Phật giáo chiếm ưu thế, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

Ngay từ nhỏ, ngài đã được gia đình đưa đến chùa và làm lễ xuất gia theo truyền thống Phật giáo. Tuy nhiên, khi theo học tại một trường Công giáo ở Darjeeling, Ấn Độ, ngài dần khám phá đức tin Kitô giáo và lãnh nhận Bí tích Rửa tội vào năm 1974.

Dù đã trở thành người Công giáo, Kinley Tshering vẫn phân vân trước ơn gọi linh mục vì công việc, tương lai và những kỳ vọng của gia đình. Ngài nhiều lần cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một dấu chỉ để có thể đưa ra quyết định.

Điều đặc biệt đã xảy ra trên một chuyến bay đến Calcutta (Ấn Độ), khi ngài bất ngờ được ngồi cạnh Mẹ Têrêsa.

Trong cuộc trò chuyện, sau khi nghe ngài chia sẻ về những trăn trở trong lòng, Mẹ Têrêsa đã nắm tay và khích lệ: “Con có ơn gọi, hãy quảng đại với Thiên Chúa, và Người sẽ quảng đại với con.”

Những lời ấy khiến Kinley Tshering xúc động đến rơi nước mắt. Ngài tin rằng đây chính là dấu chỉ mình đã cầu xin Thiên Chúa bấy lâu.

Năm 1986, ngài quyết định gia nhập Dòng Tên và đến năm 1995 được truyền chức linh mục, trở thành linh mục Công giáo đầu tiên người Bhutan.

Sau khi chịu chức, cha trở lại Calcutta để gặp và cảm ơn Mẹ Têrêsa. Trong cuộc hội ngộ đầy xúc động ấy, Mẹ cho biết đã cầu nguyện cho cha suốt mười năm qua.

Từ một người được nuôi dưỡng trong truyền thống Phật giáo đến vị linh mục Công giáo đầu tiên của Bhutan, hành trình của cha Kinley Tshering là một chứng tá đặc biệt về ơn gọi và sự quan phòng của Thiên Chúa.

Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ và một lời khích lệ cũng có thể làm thay đổi cả cuộc đời một con người.


 

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT (1) 

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1)Sự Đau khổ.

 

 

 

 

 

 Vì đọc cuốn sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” thấy có nhiều điều đáng suy gẫm và học hỏi nên tôi xin ghi lại vài suy tư về đề tài này mặc dầu trước đây tôi cũng đã có viết bài: “

Đời là bể khổ: Thái độ của chúng ta trước đau khổ. (2)

 *Chúng ta khổ vì bị thương tật, mất tay, mất chân, tàn tật… hay chết chóc do tai nạn xe cộ, tàu thuyền, máy bay hay do chiến tranh như ở Việt Nam trước năm 1975, ở Ukraine hiện nay (2026). Chúng ta khổ vì nhà cửa bị bom đạn tàn phá, gia đình ly tán, chạy tị nạn khắp nơi, đói khát, đau bịnh… bị khủng hoảng tâm lý, hoảng loạn tinh thần … Một phần tư người Ukraine phải bỏ xứ đi tị nạn ra nước ngoài, tình trạng cũng giống như người Việt chúng ta bỏ nước ra đi sau tháng 04 năm 1975 và tiếp tục tị nạn như vậy, vượt biên bằng thuyền, máy bay, đi bộ… nhiều năm sau đó…

 *Chúng ta khổ tâm vì những sự đau lòng, buồn phiền… sự bất như ý như ly dị, ly thân, con cái bỏ nhà ra đi, tù tội vì bài bạc, say rượu, hút xách, xì ke ma túy, con cái không chịu học hành, chỉ ăn chơi lêu lổng… Khổ vì vợ chồng con cái bất đồng quan điểm, gây gổ, xung đột … tính tình quá khác biệt, quan liêu, bảo thủ, gia trưởng… Khổ vì nợ nần chồng chất không thể trả nổi… 

2)Nhìn đau khổ với đời sống đức tin Kitô giáo. 

Với đức tin của người Kitô giáo, gặp đau khổ là để chúng ta thông phần với Chúa Giêsu Kitô chịu khổ nạn trên thập giá. Người ta thường nói, sau cơn mưa trời lại sáng, hết mưa trời sẽ nắng, hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai. Cho nên người bình dân vẫn tin tưởng ở tương lai dầu đang gặp đau khổ.

Còn đối với người Kitô hữu: Trong sách “Ý nghĩa sự đau khổ” tác giả có viết: 

Sự khó chỉ là con đường đưa đến thánh thiện (trang 107)

Lạy Chúa, con sung sướng vì được chịu đau khổ cho được lòng Chúa. (trang 110) 

Không gì đẹp lòng Chúa, không gì ích lợi cho chúng ta ở đời này bằng vui lòng chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô. (trang 146) 

Không qua núi sọ không thể tới núi Cây Dầu là chỗ Chúa đã lên trời…” (trang 147)

Cố gắng nên giống Chúa: 

Yêu đau khổ, nhẫn nại chịu đau khổ và vui mừng chịu đau khổ (trang 131)

 3)Vài trường hợp đau khổ tiêu biểu để học hỏi 

*Chuyện Thánh Gióp bị mất hết tài sản, con cái chết hết mà không có một lời oán trách Thiên Chúa. Thánh Gióp vẫn một lòng ca ngợi, tôn vinh, chúc tụng Chúa. (trang 162 và Cựu Ước) 

*Chuyện thánh nữ Lidvi  (trang 165)

Năm 15 tuổi, cô bị sảy chân ngã trên nước đông, gãy một xương sườn, phải nằm liệt ba mươi tám năm, nghĩa là nằm liệt cho đến chết.

Để được an ủi, bà chỉ còn biết ngày đêm ngắm sự thương khó Chúa. 

*Chuyện thánh An phong sô (trang 166-168)

Thánh An phong sô bị chứng đau đầu khiến Người có lúc như bị hấp hối. Suốt mười bảy năm trường chứng bịnh tê thấp của Người khiến Người biến hình, đầu Người gập quặp xuống ngực…

 Nhưng Thánh nhân luôn luôn vui vẻ tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai thấy Người tỏ dấu buồn phiền hay thốt ra lời ta thán… Người nói: “… Lạy Chúa con cám ơn Chúa vì đã thương gởi đến sự đau đớn cho con… Chúa không ném con xuống hỏa ngục đã là may cho con lắm rồi… Con sẵn sàng chịu hết mọi sự đau đớn… Chúa muốn định về con thế nào tùy Thánh Ý Chúa…” (trang 168)

 4)Nhờ đau khổ mới đi đến vinh quang, hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu.

 Sách “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo” đã giải thích Thiên đàng như sau:

 Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy Ngài “đúng như Ngài là”, “mặt giáp mặt” (Câu 1023) 

Thiên đàng là cùng đích tối hậu và là sự thực hiện những khát vọng sâu xa nhất của con người đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. (Câu 1024) 

Mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (Câu 1027)

 Theo tác giả, Lm Nguyễn Văn Tuyên nói về Thiên đàng như sau:

 Thiên đàng là chốn nghỉ ngơi đời đời. Trên Thiên đàng không còn đau khổ nữa, không còn bịnh tật nữa, trên thiên đàng không còn chết nữa: trên thiên đàng chỉ có nghỉ ngơi trong một cuộc đời dài vô tận, không còn bị phản bội nữa…

… được nhìn ngắm chính sự Đẹp, được yêu chính tình yêu, được hưởng chính hạnh phúc, được hưởng thật tất cả những thứ ấy cùng một lúc và đời đời: đó là Thiên đàng. 

Kết:

 Như vậy sự đau khổ ở đời này chính là môi trường, cơ hội, hoàn cảnh để chúng ta học hỏi, suy gẫm, áp dụng, thực hành để xứng đáng được làm môn đệ Chúa, bắt chước Chúa, noi gương Chúa, tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai muốn đau khổ cả, nhưng nếu gặp hoàn cảnh đau khổ, chúng ta sẵn sàng vui vẻ chịu đau khổ ở đời này để được hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu mai sau. 

Ngày 17 tháng 04 năm 2022   

(Lễ Phục Sinh)

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1.Sách dày 180 trang, in và xuất bản năm 2002

2.Xem bài:

 “Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ”                 

https://keditim.net/?p=102716

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” cu`ng Tác giả


 

LIỆU PHÁP GÂY SỐC – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu”.

“Mục đích của Ngài là lay chúng ta khỏi sự tự mãn, đưa chúng ta vào một cách nghĩ, cách hành động và cách hiện hữu hoàn toàn mới!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

“Rất đông người” đi theo là một thành công. Vậy mà Chúa Giêsu không ngây ngất vì thành công, cũng không để đám đông hiểu lầm. Ngài đưa họ vào một cách hiện hữu mới: cam kết đến cùng, không thoả hiệp. Đó là một ‘liệu pháp gây sốc!’.

“Cùng đi đường” chưa hẳn đã cùng lòng! Chúa Giêsu quay lại, không phải để đếm số người đang theo, mà để đánh thức họ khỏi ảo tưởng rằng đi theo là đã thuộc về Ngài. Lời Ngài thật chói tai: “Không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi”. Ngài không muốn có thêm người đi cùng mà lòng họ chưa thuộc về Ngài.

“Chính thời gian bạn dành cho bông hồng của mình đã khiến bông hồng ấy trở nên quan trọng đến thế!” – Saint-Exupéry.

“Không dứt bỏ cha mẹ…”. Bản Hy Lạp dùngm isei – nghĩa đen là “ghét”, được dịch là “dứt bỏ”, một từ gần như xúc phạm những tình cảm thiêng liêng nhất. Nhưng Chúa Giêsu không dạy người ta ghét ai, Ngài chỉ đòi người môn đệ thoát khỏi cả những ràng buộc mang tên tình yêu. Tình yêu khi ấy âm thầm trở thành quyền sở hữu! Chúa không đòi chúng ta yêu người thân ít đi, nhưng đừng biến họ thành những vị thần nhỏ. Bởi khi một con người trở thành ngẫu tượng, cả người yêu lẫn người được yêu đều mất tự do.

Một khi đã mất tự do, Thiên Chúa đứng vào hàng thứ! Bấy giờ, thật khó để người môn đệ “trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì… giữa một thế hệ gian tà, sa đoạ”, nơi họ “phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” – bài đọc một.

“Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”– Thánh Vịnh đáp ca. Được Thiên Chúa– Đấng không còn ở hàng thứ– chiếu sáng, cả những tình yêu thân thiết nhất tìm lại được chỗ đứng của mình.

Với Augustinô, đó là trật tự của tình yêu. Nhiều lúc nhân danh tình yêu, chúng ta giữ một người bên cạnh, nhưng chỉ sợ mất đi điều người ấy đem lại. Cả khi cầu nguyện, chúng ta vẫn muốn Chúa đừng đụng đến những góc khuất tâm hồn. Lắm lần chúng ta tưởng mình đang hy sinh cho người khác, nhưng thực ra họ đang phải chịu đựng chúng ta.

“Hãy yêu nhau, nhưng đừng biến tình yêu thành xiềng xích!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Những đòi hỏi gây sốc của Đức Kitô đã được Ngài sống cách trọn vẹn. Đấng muốn được yêu trên hết chấp nhận bị những người thân tín nhất bỏ rơi; Đấng đòi người môn đệ dứt bỏ mạng sống mình đã hiến dâng mạng sống Ngài. Trên thập giá, Ngài không giữ lại người Mẹ đã sinh ra mình, nhưng trao Mẹ cho Gioan, trao Gioan cho Mẹ. Không phải tình yêu Ngài vơi đi, nhưng nó đã vượt khỏi mọi ràng buộc để trở nên nguồn sống cho muôn người. Như vậy, không chỉ lay chúng ta khỏi sự tự mãn, ‘liệu pháp gây sốc’ của Đức Kitô mở ra một cách hiện hữu hoàn toàn mới – một hiện hữu mang tính cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đặt Chúa trên hết mọi sự; giải thoát con khỏi mọi vòng quyến luyến; dạy con yêu bằng một trái tim thật tự do!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/04.html

Ai không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.      Lc 14,25-33

25 Khi ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Người quay lại bảo họ :

26 “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. 27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.

28 “Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có hoàn thành nổi không ? 29 Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi, lại không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chế giễu mà bảo : 30 ‘Anh ta đã khởi công xây, nhưng chẳng có sức làm cho xong việc.’ 31 Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ? 32 Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. 33 Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”


 

Lễ các Đẳng Linh Hồn – Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay là Ngày lễ các Đẳng Linh Hồn, ý chỉ Thánh Lễ sáng nay và các giờ cầu nguyện trong ngày mình sẽ cầu nguyện cho Linh hồn các “thân bằng quyến thuộc” của bạn, xin hiệp thông với mình nhé.Không quên cho nhau về thế giới tràn đầy lòng thương xót của Chúa và Mẹ Maria nữa nhé. Amen  

Cha Vương

Thứ 2: 02/11/2026.     (t2-21)

Đức Tin của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng, Con người sau khi chết sẽ xảy ra ba tình trạng; Được lên Thiên Đàng, xuống Hỏa Ngục hay vào Luyện Ngục (Luyện Hình). 

(1) THIÊN ĐÀNG, khi một người sống theo luân lý Công Giáo, luôn kính sợ Thiên Chúa và sống theo giới răn của Ngài. Thiên Đàng là phần thưởng Thiên Chúa dành cho họ vì công trạng và sự mong ước khi họ còn sống. Thiên Đàng là hạnh phúc bất diệt, là sự sống đời đời và là sự hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa, các Thiên Thần, và các Thánh.

(2) HỎA NGỤC, là những người khi còn sống, đã từ chối ân sủng của Thiên Chúa. Những người ta biết tỏ tường điều tốt xấu nhưng vẫn phạm tội chống lại Thiên Chúa và tha nhân để chọn điều xấu. Hoả Ngục là những người biết được lòng yêu thương và lòng thương xót của Thiên Chúa nhưng vẫn khước từ và không bao giờ hoán cải.

(3) LUYỆN NGỤC, đó là những người sau khi chết, được Chúa hứa ban Thiên Đàng nhưng vẫn phải cần một thời gian thanh luyện vì có những tội lỗi họ đã phạm khi còn sống. Giáo Lý Công Giáo định nghĩa Luyện Ngục là “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (số 1030).

XIN LƯU Ý: Nếu bạn chỉ còn một ngày nữa để sống, bạn cần phải định đoạn phần hồn của bạn như thế nào?

         Có một điều là những linh hồn nơi luyện ngục không thể cầu nguyện cho chính họ, và họ phải hoàn toàn nhờ vào lòng thương xót và lời cầu nguyện của những người đang còn sống. Cầu nguyện cho các linh hồn không những giúp các linh hồn mau hưởng phúc Thiên Đàng nhưng còn sinh ơn ích cho bạn. Có thể khi nhắm mắt lìa đời bạn cũng sẽ vào luyện ngục để chịu sự thanh luyện của Thiên Chúa. Vì vậy khi cầu nguyện cho các linh hồn, bạn được mời gọi để sống tốt hơn và thánh thiện hơn đời sống Kitô hữu của mình để ước mong khi chết bạn được Chúa ban hưởng phúc Thiên Đàng. 

          Cầu nguyện cho các linh hồn không những rất dễ và lại còn có nhiều cách khác nhau. Đọc kinh Vực Sâu, một vài kinh Kính Mừng hay một vài kinh Lạy Cha, ngắn hơn thì đọc kinh cầu các Linh Hồn (Chúng con cậy vì danh Chúa….) trước khi ngủ hay trong lúc đi bộ. Sốt sáng hơn thì đọc một chuỗi mân côi cầu nguyện cho các Linh Hồn. Bạn có thể xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn và cùng hiệp thông với Linh mục trong Thánh Lễ đó. Hy sinh, hãm mình và làm việc bác ái để cầu cho họ là những điều rất cần thiết. Thăm viếng Nghĩa Trang và phần Mộ của người thân yêu đặc biệt là trong tháng 11, Mùng 2 Tết và ngày Giỗ của họ là những điều rất ý nghĩa và thiết thực…Tập cho con cái cầu nguyện cầu nguyện cho các linh hồn là điều hết sức cần thiết cho con cái sau này. Nếu bạn không cầu nguyện cho các linh hồn và không tập cho con cái cầu nguyện cho các linh hồn thì khi bạn nằm xuống, ai sẽ cầu nguyện cho bạn và cho ông bà tiên tổ? 

Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 

From: Do Dzung

****

Nguyễn Hồng Ân – Nếu chỉ còn một ngày để sống

TỚ ÉP – CHỦ NÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta!”.

“Đối mặt với sự cởi mở – tính phổ quát của bữa tiệc – là thái độ khép kín trái tim!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể chuyện một bữa tiệc thật lạ: khách được mời thì từ chối, người chẳng dám mong lại được đón chào. Một nghịch lý bất ngờ – ‘tớ ép – Chủ nài!’.

Vậy mà điều đáng mừng lại lớn hơn điều đáng trách. Khách mời thì đồng loạt xin kiếu; chủ nhà không huỷ tiệc, nhưng lập tức sai đầy tớ mời những người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào.

Nghe vẫn còn chỗ, ông lại sai họ đi xa hơn. Bản Hy Lạp viết anánkason

– “hãy ép”, một mệnh lệnh dứt khoát : buộc, thúc. Nhưng một mệnh lệnh mạnh đến thế lại phục vụ một lòng quảng đại lớn đến vậy.

Không phải để cưỡng bức, mà để cả những người không bao giờ

nghĩ mình được mời cũng có thể bước vào.

Chủ ra lệnh phải ép, bởi lòng quảng đại của ông không muốn ai đứng ngoài.

“Lòng hiếu khách không nhằm thay đổi con người, nhưng dành cho họ một không gian để sự thay đổi có thể diễn ra!” – Henri Nouwen.

Khách không viện lý do xấu; chỉ là điều chính đáng đã chiếm chỗ của điều cao quý.

Họ chọn sự yên ổn thường ngày, hơn niềm vui của một ân huệ có thể không đến lần thứ hai.

Bi kịch không phải họ thiếu những điều tốt đẹp, nhưng những điều tốt đẹp ấy đã khiến họ không còn nhận ra điều tốt đẹp hơn. Họ giữ điều quen thuộc, và bỏ lỡ niềm vui được thuộc về Chúa.

Phaolô đưa chúng ta đến tận nguồn mạch của niềm vui thuộc về ấy. Trong khi con người sợ đánh mất phần mình, Đức Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, lại không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Ngài tự hạ, đến giữa những kẻ bất xứng và trao cả mạng sống để mời mọi người – không trừ ai vào nhà Cha – bài đọc một.

Và muôn dân đồng bàn cất tiếng: “Giữa lòng đại hội, con nguyện tán dương Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có khi chúng ta không từ chối Chúa bằng một lời nói, nhưng bằng một thời khoá biểu không còn chỗ cho Ngài. Việc nào cũng cần, người nào cũng phải lo; chỉ cuộc hẹn với Chúa là có thể khất lại. Dần dà, chúng ta chẳng còn cảm thấy thiếu Ngài.

Cửa vẫn mở, bàn vẫn dọn; chỉ lòng người đã thôi mong đến!

“Cuối ngày, tôi vội vã trở về, sợ rằng cổng Ngài đã đóng; nhưng tôi thấy vẫn còn kịp!” – Rabindranath Tagore.

Anh Chị em,

Thập giá – có lẽ là lời nài nỉ tha thiết nhất của tình yêu. Đôi tay dang rộng của Đấng Chịu Đóng Đinh muốn ôm cả nhân loại. Con Thiên Chúa đã đi đến tận cùng của sự tự hiến, nhưng vẫn không xô cửa nếu lòng người không mở. Đấng có quyền phán xét lại chọn đứng chờ; Đấng có thể buộc người ta quỳ xuống lại để mình bị đóng đinh. Ngài không cưỡng ép một ai, bởi điều Ngài muốn không chỉ là một ngôi nhà đầy khách, nhưng là những người con tự do trở về nhà Cha. Vì thế mới có nghịch lý ‘tớ ép – Chủ nài!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chần chờ trước lời mời của Chúa, xin giục lòng con; con sợ mất mát, giúp con can đảm; con khép lòng với anh em, cho con biết dang rộng đôi tay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/03.html

Hãy ra các ngả đường, ép người ta vào đầy nhà cho ta.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.      Lc 14,15-24

15 Khi ấy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giê-su rằng : “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa !” 16 Người đáp : “Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. 17 Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng : ‘Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.’ 18 Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói : ‘Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm ; cho tôi xin kiếu.’ 19 Người khác nói : ‘Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây ; cho tôi xin kiếu.’ 20 Người khác nói : ‘Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.’

21 “Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Bấy giờ chủ nhà nổi cơn thịnh nộ bảo người đầy tớ rằng : ‘Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây.’ 22 Đầy tớ nói : ‘Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ.’ 23 Ông chủ bảo người đầy tớ : ‘Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta. 24 Tôi nói cho các anh biết : Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi’.”


 

KHÔNG ĐỂ MẤT MỘT AI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai”.

“Nơi không còn ai có thể đồng hành với con, nơi con không thể mang theo bất cứ điều gì, Ta sẽ đợi con ở đó, để biến bóng tối thành ánh sáng!” – Bênêđictô XVI

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc ra đi mà không có ai đồng hành; nhưng cũng có những cuộc ra đi mà vẫn có một Đấng đợi để đón người đã khuất vào sự sống. Lời Chúa lễ Các Đẳng Linh Hồn mở ra niềm hy vọng ấy: Đức Kitô ‘không để mất một ai!’.

Chúa Giêsu không chỉ hứa giữ những ai Chúa Cha trao phó, nhưng còn cho họ sống lại trong ngày sau hết. Đức Lêô XIV gợi một nghịch lý: tưởng nhớ người chết là tưởng nhớ tương lai! Chúng ta đến nghĩa trang để nhớ một cuộc đời đã qua; đến đó, Đức Kitô lại hướng chúng ta về tương lai đời đời của họ. Người đã mất không chỉ thuộc về ký ức của con người, nhưng còn thuộc về lời hứa của Thiên Chúa.

Thế nhưng, trước hai lần hứa cho người chết phục sinh, Chúa Giêsu đã nói một điều gần gũi hơn: “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài!”. Con người có thể đánh mất nhiều điều, kể cả ý thức về phẩm giá; nhưng vẫn được Ngài đón nhận khi trở về. Ân sủng đi trước hoán cải; chính lòng thương xót của Ngài mở đường cho tội nhân được cứu độ. “Trái Tim rộng mở của Ngài đã đi trước chúng ta, đang chờ đợi chúng ta – vô điều kiện!” – Phanxicô.

Đó cũng là niềm hy vọng của Gióp, một người đã mất gần như tất cả, nhưng vẫn quả quyết: “Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ!”. Giữa những gì đã mất, Gióp không chỉ mong được phục hồi; ông khao khát chiêm ngưỡng chính Đấng mà ông chưa hiểu hết. Ông tin ngay cả sự chết cũng không thể ngăn ông nhìn thấy Ngài. Gióp không biết tương lai sẽ ra sao; chỉ biết Đấng nắm giữ tương lai mình hằng sống. “Tôi vững vàng tin tưởng, sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta thường day dứt vì những điều chưa kịp làm cho người đã khuất; họ cũng có những lỗi lầm chưa kịp đền bù. Nhưng Chúa Kitô đã yêu người đi kẻ ở “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” – bài đọc hai. Vì thế, chúng ta phó thác người thân cho lòng thương xót Chúa. Có những món nợ yêu thương chỉ còn biết gửi vào lời cầu nguyện. Đó không phải là cố níu giữ, nhưng là trao họ cho một tình yêu lớn hơn.

Anh Chị em,

Tình yêu lớn hơn ấy được tỏ lộ nơi Đức Kitô: Ngài không chỉ hứa cho những ai đến với Ngài được sống lại trong ngày sau hết; Ngài còn đi vào chính sự chết để thực hiện lời hứa ấy. Nơi con người chỉ thấy kết thúc, Ngài mở ra một tương lai: những kẻ phải chết được bước vào sự sống của Cha! Đó là niềm hy vọng của Hội Thánh khi cầu nguyện cho người đã khuất, vì Ngài ‘không để mất một ai!’. “Chỉ nhờ Chúa Giêsu Kitô, chúng ta mới hiểu được sự sống và sự chết!” – Blaise Pascal.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không giữ nổi người con thương, xin giữ họ; con không sửa được chuyện đã qua, xin xót thương; và khi không thấy ngày mai của họ, cho con biết cậy trông!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI – 02/11

 https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/02.html   

Ai tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 6,37-40

37 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”


 

QUÊN PHÚC – GẶP PHÚC – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương!”.

“Chỉ ai quên tìm hạnh phúc cho mình mới tìm thấy hạnh phúc. Mải theo đuổi một điều lớn hơn bản thân, họ gặp hạnh phúc dọc đường!” – John Stuart Mill.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạnh phúc luôn mang một nghịch lý: càng mải tìm hạnh phúc cho mình, càng không có nó. Các thánh đã đi con đường ấy – ‘quên phúc – gặp phúc!’.

Chúa Giêsu không gọi những người giàu có, thành đạt hay được ngưỡng mộ là có phúc; nhưng là những người nghèo khó, sầu khổ, hiền lành và xót thương. Họ biết xót thương vì chính mình đã được xót thương; biết trao đi nhưng không vì đã nhận lãnh nhưng không. Tám Mối Phúc mở ra một lối sống viên mãn: đón nhận ân sủng Thiên Chúa và sống vì người khác. “Hạnh phúc không thể là điều chúng ta săn đuổi; nó phải là điều đến sau!” – Viktor Frankl.

Các thánh không phải những người đã tìm được một cuộc đời không đau khổ. Giữa những mất mát, chống đối, có khi cả thất bại, các ngài vẫn có một lý do để sống vượt quá sự yên ổn của mình: yêu Chúa và thương người! Có những ngày chính các ngài cần được ủi an, nhưng vẫn tìm cách an ủi một người khác. Hạnh phúc không nằm ở chỗ cuộc đời đã cho các thánh những gì, nhưng ở chỗ các ngài đã trao cuộc đời mình cho ai. Có những mất mát không bao giờ được bù đắp ở đời này, nhưng tình yêu khiến chúng không trở nên vô nghĩa.

Đó là một đoàn người hân hoan trước nhan Thiên Chúa, đủ mọi sắc dân, tiếng nói. Họ đứng trước ngai Ngài, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Tiếng tung hô của họ không ca ngợi công trạng, nhưng tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ban ơn cứu độ – bài đọc một. Gioan còn mở ra một điều lớn hơn: “Chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy!” – bài đọc hai. Hạnh phúc sau cùng của các ngài không chỉ là được Chúa ban thưởng, nhưng là được thấy Chúa và nên giống Ngài.

Chúng ta thường dành nhiều thời gian để tự hỏi làm sao để có hạnh phúc, mà ít khi tự hỏi hôm nay mình đã làm ai bớt khổ, đã làm cho ngày sống của ai vui hơn. Có khi điều chúng ta cho đi chẳng đáng kể với mình, nhưng lại là điều một người khác cần nhất trong ngày hôm ấy. “Những lúc hạnh phúc nhất của chúng ta là những lúc quên mình, thường là khi làm điều tốt cho người khác!” – Fulton Sheen. ‘Quên phúc’ của mình, chúng ta ‘gặp phúc’ nơi tha nhân.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống đến cùng nghịch lý hạnh phúc ấy. Ngài không tìm một cuộc đời dễ chịu, nhưng để những người đau khổ đến với mình, cả khi Ngài cần nghỉ ngơi. Ngài cho đi thời giờ, sức lực, cho đi cả mạng sống trên thập giá; và hôm nay vẫn tiếp tục trao ban chính mình trong Thánh Thể. Bước theo Ngài, các thánh cũng đã trao ban chính mình để người khác được sống. Nơi Đức Kitô, ‘quên phúc – gặp phúc’ không còn là một cách tìm hạnh phúc, nhưng là con đường của tình yêu: Ngài không giữ lại gì cho mình, nhưng trao ban tất cả để chúng ta được sống và sống dồi dào.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con yêu mà không tính toán; biết cúi xuống với ai cần nâng dậy; và tìm thấy niềm vui khi người khác vui!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CÁC THÁNH NAM NỮ – 01/11

 https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/01.html

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 5,1-12a

1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng :

3“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
4Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12aAnh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”


 

SỰ THANH LUYỆN CẦN THIẾT – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Hôm qua ngày lễ Các Thánh, Giáo hội vui mừng với những con cái của mình đã được hưởng vinh quang thiên quốc.

 Hôm nay trong tinh thần hiệp thông, Giáo hội tưởng niệm và cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. 

1. Các linh hồn cần được thanh luyện.

 Những tín hữu đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa sạch hết mọi tội và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời này thì không thể vào thẳng thiên đàng được, chưa xứng đáng hưởng nhan thánh Chúa nên họ phải chờ đợi thanh luyện xong mới vào thiên đàng.  Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa.  Công đồng Floren đã định tín: “Có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn.”  Các linh hồn ra khỏi trần gian không còn có thể làm được việc gì lành để cứu mình nên chỉ trông cậy vào những người còn sống lập công cầu nguyện cho mình để rút ngắn thời gian thanh luyện.  Vì thế mà Giáo hội kêu gọi tín hữu cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội.  Đặc biệt là việc dâng thánh lễ, dành tháng 11 cầu nguyện cho họ.  Giáo hội còn mở kho tàng ân xá là công nghiệp của các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội.  Giáo hội khuyến khích việc đi viếng các nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn theo câu tục ngữ: mồ thật chôn các người chết là trái tim người sống.

 Công đồng Vatican II đã xác tín lại tín điều Giáo hội cùng thông công giữa ba thành phần: lữ hành, thanh luyện và vinh thắng.  Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng.  “Trong số những môn đệ của Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được thanh luyện, và có những người đang được chiêm ngưỡng “rõ ràng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có”…  Sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã yên nghĩ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn.  Nhưng trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng.  Quả thực, nhờ kết hiệp mật với Chúa Kitô hơn, các người ở trên trời củng cố toàn thể Giáo hội vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà hiện nay Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa được cao cả hơn, và họ góp phần phát triển Giáo hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách.”  (LG, chương 7, số 49).

 Trong số 50, Hiến Chế Lumen Gentium viết: nhận biết sự đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết vì “cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh tốt đẹp” ( 2 Mac 12,46).

 Việc lành thánh tốt đẹp ấy được nói đến trong Thánh kinh và giáo huấn của Giáo hội.

A.Thánh kinh :

 Hai đoạn văn thường được nhắc đến là 2 Macabê 12,39-46 và 1Côrintô 3,10-15.  Một bản văn thuộc Cựu ước và một thuộc Tân ước.

 Sách Macabê II : sách được viết vào khoảng năm 124 trước công nguyên, đánh dấu nhiều bước tiến trong mạc khải cánh chung. Ở chuơng 7, chúng ta gặp thấy chứng tích về niềm tin vào sự sống lại dành cho các vị tử đạo. Chương 11, chúng ta lại thấy chứng tích về việc cầu nguyện cho người đã qua đời được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự phục sinh. 

  1. Thư thứ nhất Côrintô : Bản văn nói đến sự thanh luyện.  Đoạn văn đã được sử dụng để nói tới sự phân biệt ba hạng người sau khi chết: những người lành được lên thiên đàng, những người xấu phải xuống hoả ngục, hạng người thứ ba được cứu rỗi nhưng cũng cần được thanh luyện bằng lửa, tức là lửa thanh luyện.

Trong bối cảnh tổng quát của mạc khải, có thể biện minh sự hiện hữu của việc thanh luyện tội lỗi sau khi chết với ba lý chứng sau đây: sự thanh sạch cần thiết để được đến gần Chúa (x.Xh 29,4; Lêvi 11; Tv 24,3-4; Is 35,8.52,1; Mt 5,8.48; Kh 21,27); trách nhiệm cá nhân trong việc đền tội (x. 2Sm 12,13-15); và giá trị của sự cầu nguyện cho người qua đời (x. 2Mac 12,40; 1Cor 15,29; 2 Tim 1,16-18). 

B.Giáo huấn Giáo hội:

 Công đồng Vatican II bàn đến tình trạng thanh luyện sau khi chết ở chương VII của hiên chế Lumen Gentium. Số 49, Công đồng nhìn nhận rằng “có những tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện”. Số 50, đạo lý về sự thông hiệp giữa hết mọi phần tử Giáo hội được dựa trên thói tục bắt nguồn từ thưở ban đầu Kitô giáo về sự tưởng niệm người chết và cầu nguyện cho họ. Phần kết chương VII trình bày về đường hướng mục vụ, Công đồng tái khẳng định đạo lý cổ truyền của Giáo hội : ” Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh em được vinh hiển trên trời hay còn phải thanh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của thánh Công đồng Nicêa II, Firence, Trento ( số 51 a)”. 

C.Sách giáo lý Giáo hội Công giáo

 Các số 1030 – 1032 bàn đến sự thanh luyện.  Có thể tóm lại trong các điểm sau:

 – Các linh hồn cần được thanh luyện để hoàn tất sự thánh thiện cần thiết để được vào thiên đàng. (Số 1030).  Lưu ý là sự thanh luyện được hiểu về trạng thái hơn là một ‘nơi chốn,’ lại càng không thể nói “thời gian” bao lâu.

 – Các linh hồn có thể được chúng ta giúp đỡ bằng lời càu nguyện. (Số 1032) 

– Luyện ngục không phải là một hỏa ngục ngắn hạn (Số 1031), luyện ngục hoàn toàn khác xa hỏa ngục.

 – Sách giáo lý có trích dẫn cụm từ ‘lửa thanh luyện” (x. 1Cor 3,15; 1Pr 1,7) nhưng không nói là phải hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng ( Số 1032). 

2.Các linh hồn được thanh luyện bằng cách nào?

 Truyền thống Giáo hội nói rằng: các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, lửa tình yêu (x. Dc 8,7), lòng khát khao thấy Thiên Chúa.  Sự đau khổ trong day dứt hối hận tột độ.  Các linh hồn mong hưởng nhan thánh Chúa nhưng lại chưa được vì mình chưa trong sạch xứng đáng nên phải thanh luyện bằng sự hối hận đầy lòng mến.  Thánh Tôma cho rằng nguyên sự nôn nao muốn về thiên đàng cũng đã đủ tạo nên cực hình rồi (x. IV Sent, d.21, q.1 de Purgatorio,a.3).  Thực vậy, nếu các tội nhân hỏa ngục đau đớn vì mãi mãi lìa xa Chúa, thì các linh hồn đang thanh luyện phải trải qua một thứ cực hình khác: họ mong mỏi mau được về với Chúa.  Sự náo nức vì chờ đợi kẻ thân yêu cũng đã đủ “thiêu đốt tâm can” rồi!  Dù sao, một khi họ biết được lý do vì sao họ chưa được vào thiên đàng, họ sẽ đau buồn vì trước kia họ chưa mến Chúa cho đủ, họ đã coi nhẹ việc thống hối đền tội.

 Do đó có thể hiểu rằng nổi thống khổ của các linh hồn thanh luyện tuy cực độ nhưng đượm màu hân hoan và tràn trể hy vọng.  Đức Cha Tihaner quan niệm rằng: luyện ngục là một hoả ngục đầy hân hoan, là một thiên đàng đầy đau khổ.  Chính linh hồn ý thức tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì thế tự nguyện được thanh tẩy.  Giống như khi ta vào nhà nào lát gạch men bóng loáng, thì tự nhiên để dép ở ngoài.  Nếu chân ta dính nhiều bùn đất mà muốn vào phải rửa chân cho sạch.  Chính linh hồn muốn trở nên thanh khiết hơn, trưởng thành hơn, trong sáng hơn để được hiệp nhất với Thiên Chúa nên đón nhận những đau khổ do việc thanh luyện như là một phương thế cần thiết.  Bởi đó trong luyện ngục hạnh phúc đã bắt đầu chớm nở.  Đây là một thứ đau đớn làm sung sướng hay một thứ hạnh phùc pha lẫn đau khổ.  Nhìn dưới lăng kính tình yêu, các linh hồn đau đớn do hình phạt đền tội, do sự khắc khoải vì chưa được lên thiên đàng.  Nhưng họ vui sướng bởi vì chính tình yêu Chúa đang thanh luyện họ, họ đang tập “yêu mến” cách trọn hảo hơn, cắt đứt những ràng buộc với thọ tạo.  Họ cũng vui sướng vì họ đã được đảm bảo về phần rỗi, bởi vì họ chắc chắn rằng mình sống trong ân sủng và đức ái. 

Sự thanh luyện nói lên lòng lân tuất của Thiên Chúa: Ngài muốn chúng ta nên hoàn thiện, thanh sạch ngõ hầu xứng đáng chiêm ngắm nhan Ngài.  Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu của Thiên Chúa: Ngài muốn cho chúng ta dành trọn cả mối tình cho Ngài chứ không quyến luyến với thọ tạo nào.

 3.Cần phải cầu nguyện cho các linh hồn

 Sự thanh luyện thuộc về “cánh chung trung thời” bởi vì nó sẽ không tồn tại sau ngày tận thệ thế nữa.  Luyện ngục chỉ là thời gian tạm trú.  Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả.  Luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang.  Thiên Chúa mới là bến bờ.  Đời sống vĩnh cửu mới là cùng đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.

 Đạo lý về sự thanh luyện thúc giục chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời.  Tập tục này đã có từ cuối thời Cựu ước và trong suốt lịch sử Giáo hội (x. GLCG số 1032; 958; 1371; 1689).  Ngoài những hình thức cầu nguyện riêng tư, phụng vụ Giáo hội khuyến khích tục lệ này.  Khởi đầu từ Thánh lễ, nơi đó Giáo hội hiệp thông với Các Thánh trên trời cũng như với các linh hồn còn đang chịu thanh luyện.  Hằng năm, ngày 2 tháng 11 được dành để cầu nguyện cho tất cả các linh hồn đã qua đời tiếp sau lễ kính Các Thánh.  Giáo hội còn dành cả tháng 11 nhớ đến các linh hồn và mời gọi con cái mình cầu nguyện, hy sinh hãm mình, làm việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với họ cũng như tình hiệp thông trong nhiệm thể Chúa Kitô.

 (Viết theo giáo trình tín lý “Ân sủng của Đức Kitô”, Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên, ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn 1990.)

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim