ĐÚNG MÀ KHÔNG CỨU SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả!”.
“Bác ái vượt xa công lý, vì yêu là trao ban, là hiến tặng cho người khác điều thuộc về mình!” – Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Yêu là trao điều thuộc về mình. Nhưng Tin Mừng còn đi xa hơn: biết người kia sai mà vẫn trao ban vì không tuyệt vọng về họ. Bởi một phán quyết có thể đúng về quá khứ mà vẫn không giúp một người đổi đời – ‘đúng mà không cứu sống’.
“Mà chẳng hề hy vọng được đền trả”. Bản Hy Lạp viết mēdèn apelpízontes: “chẳng hề hy vọng”. Theo cách hiểu thông dụng, apelpízō ở đây là “mong lấy lại”; nhưng trong tiếng Hy Lạp cổ, nó còn là “mất hy vọng, tuyệt vọng”. Vì thế, cả cụm còn vang lên: “chẳng hề tuyệt vọng”. Hai cách đọc gặp nhau tuyệt đẹp: không hy vọng lấy lại điều đã cho, nhưng cũng không hết hy vọng vào người đã nhận. Thiên Chúa nhân hậu với kẻ vô ân, độc ác; Ngài không đóng khung họ trong điều họ đã làm. Công lý có thể khép hồ sơ; tình yêu vẫn mở một ngày mai.
Chúa Giêsu không bảo môn đệ chỉ thôi trả đũa; Ngài đòi nhiều hơn: làm ơn, chúc lành, cầu nguyện và trao ban. Những hành động ấy đi trước sự đổi thay, để người kia còn đường hoán cải. “Cầu nguyện cho những người đã làm hại chúng ta là bước đầu tiên để biến điều ác thành điều thiện!” – Phanxicô.
Tình yêu không phủ nhận vết thương, cũng không bảo đảm kẻ dữ sẽ trở về; nó chỉ từ chối biến điều họ đã làm thành lời cuối về cuộc đời họ. Phán quyết chỉ đọc trang đã viết; lòng thương xót còn nhìn thấy điều ân sủng có thể viết tiếp. Chúng ta thường khép lại một đời người bằng một kết luận rất đúng: “Con người ấy là thế!”. Thiên Chúa thì không; Ngài thấy điều xấu nơi người ấy mà vẫn tiếp tục làm điều lành.
Điều Chúa Giêsu dạy, Phaolô áp dụng cho cộng đoàn Côrintô: “Sự hiểu biết thì sinh lòng kiêu ngạo, còn lòng bác ái thì xây dựng!” – bài đọc một. Một thần học đúng về ngẫu tượng mà quên người anh em là một thần học chưa hiểu thập giá. Chân lý thuộc về Chúa phải giúp một con người đứng lên thay vì xô họ ngã xuống. Bởi thế, “Lạy Chúa, xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca – không chỉ là lời cầu xin tránh điều sai, nhưng còn xin cho cái đúng biết mở đường sống cho người khác. Để sống được điều ấy, chúng ta chỉ còn biết cầu xin: “Xin ban điều Ngài truyền dạy, và truyền dạy điều Ngài muốn!” – Augustinô.
Anh Chị em,
Đức Kitô biết rõ sự thật về mỗi người, nhưng không đồng nhất ai với điều tồi tệ nhất họ đã gây ra. Trên đồi Sọ, Ngài không hạ chân lý xuống để cứu tội nhân; Ngài hạ chính mình, mang lấy bản án và trả lại cho họ phẩm giá làm con. Con người nhân danh cái đúng để đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá; Thiên Chúa dùng tình yêu biến chính thập giá ấy thành ơn cứu độ cho cả nhân loại. Đó là câu trả lời của Ngài cho một thế giới ‘đúng mà không cứu sống’: chân lý chỉ đi đến cùng khi làm cho một con người sống.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con đủ sáng để nhận ra điều sai; đủ quảng đại để làm ơn cho người ghét mình; và đủ hy vọng để mở cho người anh em một tương lai!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Thứ Năm Tuần XXIII – Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
27 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, 28 hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. 29 Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. 30 Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 31 Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. 32 Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. 33 Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. 34 Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. 35 Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.
36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”
KHI TRỜI NGƯỚC LÊN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói…”.
“Yêu một người là tỏ cho họ biết rằng họ đẹp!” – Jean Vanier.
Kính thưa Anh Chị em,
Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu “ngước mắt lên” nhìn các môn đệ, rồi gọi họ là có phúc. Ánh mắt Ngài trả lại cho những người nghèo bị coi thường ấy vẻ đẹp họ đã quên – ‘khi Trời ngước lên’.
Trong Matthêu, Chúa Giêsu giảng trên núi; trong Luca, Ngài xuống chỗ đất bằng. Thế mà khi bắt đầu giảng, Ngài lại “ngước mắt lên nhìn các môn đệ”. Bản Hy Lạp viết epāras – “nâng lên”: Ngài nâng mắt để nhìn. Giữa đám đông, cái nhìn ấy dừng nơi “các môn đệ” – những người đã chọn bước theo Ngài. Chúa Giêsu không khen cảnh khốn cùng; Ngài gọi họ có phúc vì dám thuộc về Ngài, dẫu nghèo, đói, khóc và bị khước từ. Trước mắt thế gian, họ thấp vì những gì họ thiếu; trong mắt Thiên Chúa, họ cao vì Đấng họ thuộc về. “Chỉ Thiên Chúa mới thực sự có thể gọi những người nghèo khó và sầu khổ là có phúc, bởi Ngài là sự thiện tối cao, Đấng hiến mình cho mọi người bằng tình yêu vô hạn!” – Lêô XIV.
Matthêu có tám mối phúc; Luca có bốn phúc, bốn hoạ. Chúa Giêsu không chia nhân loại thành người có kẻ không, nhưng chỉ ra hai cách sống: một bên còn đợi Chúa; bên kia không còn chờ Ngài. Người nghèo có phúc không vì thiếu, nhưng vì giữa thiếu thốn, họ còn chỗ cho Nước Trời. Người giàu bị cảnh báo không vì có, nhưng vì những gì đang có khép kín mọi mong đợi. Lời phúc nâng người ở dưới lên; lời hoạ gọi người ở trên xuống.
Tại sao lại đổi chỗ? Phaolô cho biết, vì “bộ mặt thế gian này đang biến đi” – bài đọc một. Nỗi buồn sẽ qua, niềm vui sẽ qua và cả những gì đang có rồi cũng qua. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắn nhủ: “Đưa mắt nhìn và hãy lắng tai!”. Phải nhìn xa hơn phần mình, bởi những gì chóng vánh không thể nói hết một đời. Khi chỉ cúi xuống phần mình, chúng ta quên mất ‘Trời đang ngước lên’ nhìn cả người thiếu kẻ thừa.
Chúng ta thường cố đứng ở nơi người khác phải ngưỡng mộ: một thành công, một lời khen, một địa vị. Vì thế, chỉ một thất bại cũng đủ làm chúng ta bải hoải. Thế nhưng, giá trị của chúng ta không do người đời định đoạt. Chúa không đợi ai đứng cao mới nhìn thấy; Ngài nhận ra mỗi người ngay nơi cuộc đời xếp họ vào chỗ thấp nhất. “Thiên Chúa ban hy vọng trước hết cho những người mà thế gian gạt bỏ như những kẻ không còn hy vọng!” – Lêô XIV.
Anh Chị em,
Nhập Thể là biến cố Trời xuống thấp nhất. Con Thiên Chúa sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi; sau cùng, nằm trong ngôi mộ mượn của một người giàu. Ngài đi xuống không để ca tụng khổ đau, nhưng để không một phận người nào nằm ngoài tầm mắt Thiên Chúa. Phục Sinh cho thấy người đời có thể chôn một người xuống tận huyệt mộ, nhưng không thể biến huyệt mộ thành lời cuối. Trong Đức Kitô, người ở dưới đang được nâng cao – đó là ‘khi Trời ngước lên’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, giữa thiếu thốn, đừng để con tuyệt vọng; giữa đủ đầy, đừng để con tự mãn; giữa thế gian đang qua đi, cho con một lòng chọn Đấng luôn ở lại!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Thứ Tư Tuần XXIII – Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
20 Khi ấy, Đức Giê-su dừng lại ở một chỗ đất bằng. Nơi đây có đông đảo dân chúng tìm đến với Người. Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói :
“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.
21“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.
“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.
22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.
25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.
“Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.
26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”
SINH NHẬT ĐỨC MẸ– Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Lễ Sinh nhật Đức Mẹ ngày 8 tháng 9; đúng 9 tháng sau lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngày 8 tháng 12. Ngày Đức Trinh Nữ Maria chào đời là khởi đầu cho mùa cứu rỗi, như bình minh báo hiệu một ngày tươi sáng cho nhân loại. Mẹ như “sao mai” dẫn lối loài người, như “rạng đông” báo hiệu mặt trời.
Ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương cũng như Tây Phương đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ. Đến thế kỷ X, lễ mừng được phổ biến phắp nơi và trở thành một trong các lễ chính mừng kính Đức Mẹ. Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức Hồng Y họp mật nghị để bầu giáo hoàng. Các ngài hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật để tạ ơn Đức Mẹ nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng. Đức Giáo hoàng Célestinô V đắc cử cai quản có 18 ngày nên chưa thực hiện được lời hứa. Giữa thế kỷ XIII, Đức Innocentê đã hoàn thành lời hứa này.
Giáo Hội hân hoan mừng ngày sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria. Chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho nhân loai một người Mẹ tuyệt mỹ là Đức Maria. “Ngày hôm nay bà Anna hiếm muộn vỗ tay reo mừng, trái đất bừng sáng, các vua hát mừng, các tư tế hân hoan chúc lành, toàn thể vũ trụ vui mừng, vì ngài là hoàng hậu và là nàng dâu tinh khiết của Chúa Cha đã nẩy sinh từ gốc Jesse” (phỏng theo Kinh Nhật Tụng của Ðông Phương).
Đức Maria ” là con ông thánh Gioakim và bà thánh Anna. Cả hai ông bà đều bởi dòng dõi vua Đavít, và gia đình thầy cả thượng phẩm Aaron. Thiên Chúa đã cho hai ông bà sinh được một người con quý báu trên đời là để thưởng công đức của hai ông bà. Nếu việc Đức Maria sinh ra làm cho thế gian vui mừng, thì cũng biết là gia đình ông thánh Gioakim vui sướng biết chừng nào. Sau khi sinh con được tám ngày, theo thông lệ, ông bà song thân đã đặt tên con gái là MARIA, nghĩa là Sao Biển ” (Sách hạnh các thánh).
Một bé gái được sinh ra ở ngôi làng Nadarét, thuộc vùng Galilê, nước Do Thái, cách đây hơn hai mươi thế kỷ. Trong một xã hội trọng nam khinh nữ, điều ấy đâu có gì là quan trọng! Nhưng dưới mắt Thiên Chúa, em bé này thật là một kiệt tác, bởi lẽ tất cả những gì tốt đẹp nhất làm được thì Ngài đã làm cho em.
Ngay từ khi em còn trong bụng mẹ, Thiên Chúa đã chuẩn bị em cho một sứ mạng hết sức lớn lao, sứ mạng trở nên Mẹ của Đấng Cứu Thế, Mẹ của Ngôi Lời nhập thể. Em bé ấy tên là Maria. Ngày bé gái Maria chào đời, Thiên Chúa chan chứa mừng vui và hy vọng. Maria vừa là quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân loại, vừa là đại diện của nhân loại để đón nhận ơn cứu độ từ trời cao. Thiên Chúa cần một người mẹ xứng đáng cho Con Một của mình. Ngài muốn Con của mình được sinh ra từ cung lòng của một phụ nữ, để Người Con chí thánh ấy thực sự là người trọn vẹn. Maria được chọn để làm người mẹ ấy, dù chẳng có công chi. Vì thế ngay từ giây phút đầu tiên, khi thai nhi Maria còn trong bụng mẹ, Thiên Chúa đã ưu ái ban dồi dào ơn thánh, đã bao bọc em trong tình yêu. Em được gìn giữ khỏi những vết nhơ của tội nguyên tổ. Nhưng những ơn siêu phàm của Thiên Chúa không bóp chết tự do, không cưỡng ép Maria phải chấp nhận một định mệnh có sẵn, dù Thiên Chúa đã dành cho Maria một chỗ trong chương trình cứu độ.
Bé gái Maria đã lớn lên, đã thành một thiếu nữ, đã đính hôn với Giuse. Maria đã đi con đường tự nhiên của các thiếu nữ Do Thái. Ơn Chúa tuy không làm cho Maria mang bề ngoài khác hẳn mọi người, nhưng vẫn âm thầm hoạt động mãnh liệt nơi tâm hồn. Maria đã mềm mại để Thiên Chúa thì thầm với mình về dự định của Ngài. Dự định ấy có thể làm đảo lộn những gì Maria ước mơ. Khác với bà Evà, Maria tự nguyện buông đời mình để Chúa sử dụng. Cả tình yêu và hôn nhân với Giuse, bây giờ cũng mang ý nghĩa mới. Maria tin tưởng để Thiên Chúa dắt mình đi vào những lối chưa tường. (Mana). Cuộc đời của Mẹ như một bài ca bất tận: “Phần con đây,con tin cậy vào tình thương Chúa, được Ngài cứu độ, lòng con sẽ vui mừng. Con sẽ hát bài ca dâng Chúa, vì phúc lộc Ngài ban” (Tv 12). Mẹ được Thiên Chúa yêu thương với muôn vàn ân lộc: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả…” (Lc 1,49).
Hôm nay mừng sinh nhật Đức Mẹ là dịp để mỗi người con cảm ơn người mẹ sinh thành của mình.
Cám ơn mẹ đã cưu mang và sinh hạ ra con.
Cám ơn mẹ đã nuôi dưỡng và bảo bọc che chở cuộc đời con.
Cảm ơn mẹ đã cho con sự cân bằng trong cuộc sống.
Cảm ơn mẹ đã dạy con tình thương mẫu tử là bất diệt.
Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị của sự cần cù.
Cảm ơn mẹ đã dạy con chiêm ngưỡng vẻ đẹp của muôn vật.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết tôn trọng mọi loài.
Cảm ơn mẹ đã cho con biết nuôi dưỡng những cảm xúc.
Cảm ơn mẹ đã dạy con rằng cuộc sống luôn biến chuyển đổi thay.
Cảm ơn mẹ cho con phương thế để trưởng thành.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết nhìn mặt sáng của sự việc.
Cảm ơn mẹ đã dạy con sống mạnh mẽ dịu dàng.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trắc ẩn cảm thông.
Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị hợp tác trong công việc.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết quý trọng trời nắng và cả cơn mưa.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết ẩn nhẫn mà không chịu khuất phục.
Cảm ơn mẹ đã cho phép con sáng tạo.
Cảm ơn mẹ đã dạy cho con sống trung thực.
Cảm ơn mẹ đã mở mắt cho con trước vũ trụ bao la.
Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trân quý những điều đơn giản.
Cảm ơn mẹ đã dạy con tin vào chính mình.
Mẹ là tuyệt tác tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho con. Không có mẹ, con đâu cảm được vị ngọt của tình yêu “như chuối ba hương, như xôi nếp mật, như đường mía lau.” Không có mẹ con đâu có “lớn nổi thành người.”
Không có gì trên đời này cao quý hơn tình yêu của người mẹ.
Không có tình mẫu tử nào cao quý hơn tình yêu của Mẹ Maria. Mẹ Maria chính là bảo ngọc châu báu mà Thiên Chúa trao ban cho nhân loại.
Lạy Mẹ Maria, chúng con cám ơn Mẹ.
Xin Mẹ che chở, gìn giữ hồn xác chúng con trong tình thương của Mẹ.
Xin cho chúng con được nép mình trong vòng tay từ ái của Mẹ. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
From: Langthangchieutim
LỊCH SỬ EMMANUEL – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta!”.
“Trong những thất bại của chúng ta, Thiên Chúa vẫn luôn tìm được những con đường mới cho tình yêu của Ngài!” – Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Lễ Sinh nhật Trinh Nữ Maria cho chúng ta nghe một gia phả có cả trung thành, phản bội và lưu đày. Thiên Chúa không đứng ngoài để viết lại quá khứ; Ngài mở ngay trong đó một lối mới cho tình yêu. Từ đây, lịch sử con người mang tên ‘lịch sử Emmanuel’.
Suốt gia phả, động từ “sinh” đi từ người cha này sang người cha khác. Đến Giuse, nhịp bỗng đổi: “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria; bà là mẹ Đức Giêsu”. Giuse không “sinh” Đức Giêsu, Đấng được Maria sinh ra. Một phả hệ do những người cha nối dài bất ngờ dừng trước một người mẹ. Đến đây, huyết thống chạm giới hạn; lời hứa nên xác phàm. Matthêu mở ra điều không dòng máu nào tự làm được: lịch sử không sinh ra Đấng Cứu Độ; lịch sử chỉ có thể đón nhận Ngài. “Vì tình yêu vô biên, Ngôi Lời đã trở nên điều chúng ta là, để làm cho chúng ta trở nên điều chính Ngài là!” – Irênê.
Ngôn sứ Mikha báo trước, “Đức Chúa sẽ bỏ mặc Israel cho đến thời người sản phụ sinh con” – bài đọc một. Lạ lùng thay, vận mệnh một dân tộc được nối với một biến cố rất nhỏ: một người nữ sinh con. Vì thế, ngày Đức Maria chào đời không chỉ là niềm vui của một gia đình; đó là lúc lời hứa bắt đầu mang một khuôn mặt. Mẹ được sinh ra trong Israel để Israel sinh ra Đấng Cứu Độ. Người nữ được sinh ra hôm nay, ngày kia sẽ sinh Đấng đã cho mình hiện hữu.
Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa!”. Niềm vui ấy không đến từ một quá khứ vô tì, nhưng từ việc Thiên Chúa không bỏ cuộc. Bất trung và lưu đày vẫn còn nguyên tên gọi, nhưng không còn quyền nói lời cuối cùng. Lịch sử cứu độ không phải là câu chuyện con người luôn trung thành với Chúa, nhưng là câu chuyện Chúa vẫn trung thành giữa những lần con người bỏ Ngài.
Không ai tự viết dòng đầu đời mình. Chúng ta nhận phúc lành lẫn thương tổn từ người đi trước, rồi thêm vào đó những chọn lựa không thể lấy lại. Nhưng Emmanuel không đòi một quá khứ khác; Ngài bước vào quá khứ không thể đổi như Thiên Chúa của tương lai. Những gì đã xảy ra vẫn còn đó, nhưng không còn quyền quyết định chúng ta sẽ thành ai. “Chúng ta không phải là tổng số những yếu đuối và thất bại của mình; chúng ta là tổng số tình yêu Chúa Cha dành cho chúng ta!” – Gioan Phaolô II.
Anh Chị em,
Đức Kitô nhận lấy tất cả trong thân thể Đức Maria trao, rồi mang nó đến tận thập giá. Ở đó, tội lỗi muốn viết câu cuối bằng cái chết; nhưng chính Phục Sinh viết tiếp. Khi sống lại, Ngài vẫn mang những dấu đinh: Thiên Chúa không xoá quá khứ, Ngài cứu nó. Emmanuel không có nghĩa là Chúa chỉ ở cùng những ngày trong sáng; Ngài ở cùng cả phần đời chúng ta muốn chôn kín. Từ đó, lịch sử không còn chỉ là những gì xảy đến cho con người, nhưng là nơi Thiên Chúa nhất định ở cùng con người – ‘lịch sử Emmanuel’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin bước vào quá khứ con không thể đổi; ở lại trong hiện tại con đang sống; và dẫn đời con về phía cứu độ!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Ngày 08 tháng 9
SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A
lễ kính
✠Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham :
2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác ; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron ; Khét-xơ-ron sinh A-ram; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son ; Nác-son sinh Xan-môn; 5 Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết ; Ô-vết sinh Gie-sê ; 6 ông Gie-sê sinh Đa-vít.
Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn; 7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; 8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; 9 Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; 10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia ; 11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này ; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; 13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút ; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; 14 A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khi ; A-khin sinh Ê-li-hút; 15 Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; 16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”
“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.”-Cha Vương
Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ. (Mt 18:20) – Cha Vương
Bài giảng Cực Hay của Đức Cha Giuse Đỗ Quang Khang về Đời Sống Vợ Chồng
LỖI ANH – NỢ TÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Anh hãy đi sửa lỗi nó!”.
“Sửa lỗi huynh đệ không phải là phản ứng trước một sự xúc phạm, nhưng được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho người anh em!” – Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Tin Mừng hôm nay thật lạ: lỗi nằm ở anh, nhưng mệnh lệnh lại rơi xuống tôi – “Anh hãy đi!”. Bởi tình yêu không cho phép tôi đứng ngoài – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Chúa Giêsu không bắt tôi mang lỗi người khác; Ngài chỉ không cho phép lỗi ấy tiếp tục phá vỡ tình anh em. Luật của tình yêu là thế: ai còn yêu, người ấy bước trước. “Hãy yêu đi, rồi làm điều bạn muốn!” – Augustinô. Tôi không thể đợi người ấy đổi thay rồi mới bắt đầu yêu thương. Tội không lây từ anh sang tôi, nhưng bổn phận yêu thương thì có.
Vì thế, Chúa Giêsu không bảo tôi nói về anh, nhưng nói với anh; không trước đám đông, nhưng trong một cuộc gặp riêng. Gặp riêng khó hơn nói công khai, vì ở đó tôi không còn ai đứng về phía mình, cũng không thể dùng sự xấu hổ để buộc người kia nhận lỗi. Chỉ còn hai người cùng đứng trước sự thật. Tôi đến để chỉ ra lỗi của anh, nhưng cũng phải sẵn sàng nhận ra phần tối trong chính mình; có thể nói đúng mà cách nói lại sai; muốn anh đổi thay mà lòng tôi đôi khi vẫn muốn anh trả giá. Sửa lỗi huynh đệ chỉ bắt đầu khi tôi không dùng sự thật chống lại người anh em.
Phaolô gọi đó là “món nợ tương thân tương ái” – bài đọc hai. Đây là món nợ không phát sinh từ lỗi của anh, nhưng từ tình yêu tôi đã nhận nơi Chúa. Vì đã được yêu, tôi không thể dửng dưng trước một người lạc bước; nhưng vì từng được tha thứ, tôi cũng không thể đến như một người vô tội. Tôi có thể không nợ anh một lời xin lỗi, nhưng vẫn nợ anh cách đối xử xứng với một người Chúa vẫn yêu – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Với Êzêkiel, món nợ ấy trở nên nghiêm trọng hơn: người canh gác không gây ra hiểm nguy, nhưng thấy mà im tiếng, Chúa sẽ “đòi ngươi đền nợ máu nó” – bài đọc một. Có những im lặng tưởng là hiền lành, thật ra chỉ để an thân; chúng ta thường tránh người có lỗi, rồi nói với người khác về họ. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cảnh tỉnh: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” – người được sửa phải biết nghe; người đi sửa càng phải nghe Chúa trước khi lên tiếng. Bởi khi lòng đã cứng, ngay cả lời đúng cũng hoá đá.
Anh Chị em,
“Tình yêu thuộc về một trật tự cao hơn vô cùng!” – Blaise Pascal. Đức Kitô không có lỗi, nhưng nhận lấy phần đi trước. Ngài đến không vì nhân loại đã quay về, nhưng vì Thiên Chúa không bỏ mặc con người lạc mất. Trên thập giá, Ngài không làm nhẹ tội lỗi, nhưng mang lấy sức nặng của nó và cho thấy tình yêu còn nặng hơn. Ở đó, sự thật không được dùng chống lại tội nhân, nhưng mở cho họ một lối về; lòng thương xót không xoá bỏ công lý, nhưng hoàn tất nó bằng việc tự mình trả giá. Đó là lúc món nợ không do Ngài gây nên lại được Ngài trả đến cùng – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con đủ yêu để bước trước, đủ thật để lên tiếng và đủ khiêm nhường để nhớ mình cũng là một con nợ!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
****
Chúa Nhật Tuần XXIII – Mùa Thường Niên, Năm A
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
18 “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.
19 “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
CÁI NO ĐÓI MÃI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi!”.
“Không phải người có quá ít, nhưng người ham muốn nhiều hơn mới là người nghèo!” – Seneca.
Kính thưa Anh Chị em,
Có cái đói chỉ cần vài bông lúa là dịu xuống; cũng có cái no càng được nuôi càng cồn cào. Lời Chúa hôm nay chỉ ra nghịch lý ấy: ‘cái no đói mãi’.
Các môn đệ đói, họ bứt lúa; những người Pharisêu có lẽ no, họ bứt lỗi. Họ nhanh mắt thấy những con người phạm luật, nhưng chậm thấy những con người cần ăn. Chúa Giêsu nhắc Đavít lúc đói đã vào nhà Thiên Chúa, lấy bánh tiến mà ăn. Ngài không coi nhẹ ngày thánh; chỉ không để nó trở thành ngày con người phải đói trước mặt Chúa. Luật được ban để gìn giữ sự sống; khi chỉ dùng luật để kết tội, người ta đã đánh mất linh hồn của luật. “Công lý không có lòng thương xót chỉ là sự tàn nhẫn!” – Tôma Aquinô.
Chúa Giêsu kết luận: “Con Người làm chủ ngày Sabbat!”. Những người Pharisêu tưởng mình bảo vệ ngày của Chúa, hoá ra lại chất vấn chính Chúa của ngày ấy. Họ nâng ngày thánh lên cao, nhưng không nhận ra Đấng Thánh làm cho nó nên thánh. Vấn đề không còn là bứt vài bông lúa, nhưng là trật tự bị đảo ngược: lề luật thay chỗ Đấng ban luật. Ngài không hạ thấp ngày Sabbat; Ngài trả Sabbat về đúng chỗ. Bởi một ngày giữ đủ mọi điều mà vắng bóng lòng thương xót của Thiên Chúa chưa thật sự là ngày của Ngài.
Phaolô nhận ra sự vắng bóng ấy nơi cộng đoàn Côrintô: “Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi!”; nhưng cũng hỏi, “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” – bài đọc một. Khi quên mọi sự là quà tặng, người ta dễ no kiến thức mà đói khiêm nhường, no lý lẽ mà đói cảm thông, no phần mình mà không thấy người khác đang thiếu. “Kiêu ngạo không phải là sự cao cả, nhưng là chứng phù thũng; vật sưng phồng xem ra lớn, nhưng không khoẻ mạnh!” – Augustinô.
Và ‘cái no đói mãi’ cứ âm thầm lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều đã nhận không dẫn đến tạ ơn, nhưng trở thành chiếc bục để đứng cao hơn người khác. Và này, Thánh Vịnh đáp ca mở ra lối thoát: “Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Người!”. Cầu khẩn là nhận mình cần Chúa. Đứng trước Ngài như một kẻ nghèo, chúng ta không thể tiếp tục đứng trên anh em.
Anh Chị em,
Đức Kitô đã đi vào tận cùng cái đói của nhân loại. Trên thập giá, lời “Ta khát!” không chỉ vọng lên từ một thân xác cạn kiệt, nhưng còn hé lộ cơn khát sâu hơn của Thiên Chúa: Ngài khát chính con người.
Chiều thứ Sáu, Ngài không còn một hơi thở; ngày thứ Bảy, Ngài nằm yên trong mộ. Sự nghỉ ngơi ấy không phải là khoảng trống của thất bại, nhưng là sự hoàn tất của một Người Con đã trao lại mọi sự cho Cha. Sáng Phục Sinh cho thấy: tình yêu trao đi tất cả mà không hề vơi cạn. Nơi Người Con ấy, sự no đầy của Thiên Chúa không giữ lại, nhưng tự hiến; không đòi thêm, nhưng trao đến cùng. Chỉ sự no đầy ấy mới chữa được những ‘cái no đói mãi’ của con người.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con tưởng mình đủ, cho con biết mình thiếu; con tưởng mình giàu, cho con biết mình nghèo; xin đừng bao giờ để con đứng trên người anh em như một thẩm phán!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Thứ Bảy Tuần XXII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2 Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát?”
3 Đức Giê-su trả lời: “Ông Đa-vít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. Câu chuyện ấy, các ông chưa đọc sao?” 5 Rồi Người nói: “Con Người làm chủ ngày sa-bát.”
Đức tin là gì? – Cha Vương
CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH
CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH.
Đây là một trong những bức ảnh đau lòng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhìn nó thôi cũng đã thấy xót xa.
Tháng 4 năm 1980, tại Uganda. Vùng Karamoja đang trải qua nạn đói, vấp phải sự thờ ơ hoàn toàn từ phần còn lại của thế giới. Hơn 20% dân số sẽ chết, chủ yếu là trẻ em.
Ngày hôm đó, nhiếp ảnh gia Mike Wells đang đi bộ cùng một nhà truyền giáo Công giáo, Cha Ali Facey. Bất chợt, một cậu bé bốn tuổi tiến đến. Cậu bé không xin gì cả. Cậu chỉ đơn giản đặt tay mình vào tay vị linh mục.
Mike Wells chụp một bức ảnh.
Ngay lập tức, ông đã ghi lại được sự tương phản đen tối nhất trong thế giới của chúng ta: bàn tay gầy gò, yếu ớt của một đứa trẻ, lạc lõng trong lòng bàn tay của một người lớn tượng trưng cho sức mạnh và sự sung túc.
Ban đầu, nhiếp ảnh gia cảm thấy xấu hổ khi chụp bức ảnh này. Ông thậm chí không muốn nó được công bố. Ông thậm chí còn từ chối ăn mừng giải thưởng quốc tế lớn mà ông đã giành được cho bức ảnh, nói rằng ông buồn khi trở nên nổi tiếng vì hoàn cảnh khốn khổ của một đứa trẻ đang hấp hối.
Ban đầu, các tạp chí lớn từ chối đăng tải bức ảnh. Họ cho rằng nó quá gây sốc. Nhưng một khi được chia sẻ rộng rãi, nó đã trở thành biểu tượng toàn cầu về nạn đói và bất bình đẳng.
– Cang Huỳnh lược dịch từ Paris Match.

