Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài. – Cha Vương

Ngày thứ 5  tràn đầy yêu thương và hạnh phúc trong Chúa nhé. Lời chúc hôm nay là Bạn có được 1 quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương, tha thứ vào nơi oán thù cho nhau và thê’ giới lời cầu bình an nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 17/09/2026.   (CN-23)

TIN MỪNG: Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài. (Hc 27:30)

SUY NIỆM: Cuộc đời không ai tránh khỏi những oán hờn, giận dữ. Nó làm tổn thương và gây ra những vết thương hở ngăn cản bạn tận hưởng cuộc sống. Nếu chỉ nghĩ về vết thương thì cuộc sống của bạn không khác gì như đang bị ai đó trói lại và bỏ bạn vào một cái hộp đóng kín không lối thoát. Nói cách khác đi là bạn trở thành tù nhân của chính mình trong quá khứ oán hờn. Để chữa lành những vết thương hở, để trả lại tự do và bình an cho chính mình, chỉ có tha thứ mới giải phóng bạn ra khỏi những đau khổ, nỗi buồn, gánh nặng, và tổn thương trong quá khứ. Tha thứ có khả năng biến đổi bạn từ một “cái tôi” đang bị cách ly sang khả năng sống trong tình yêu thương thuận hoà. Chỉ có bạn mới làm được điều này thôi. Không ai làm được cho bạn cả…

LẮNG NGHE: Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin ĐỨC CHÚA chữa lành! (Hc 28:2-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa con mới có đủ sức để lướt qua bao sóng gió của kiếp người, xin giúp con biết gạt bỏ tự ái để mở đường cho sự tha thứ có thể xảy ra trong các mối quan hệ hằng ngày của con.

THỰC HÀNH: Ai là người đang cần đến sự tha thứ của bạn trong giây phút này? Đọc một Kinh Lạy Cha rồi xin Chúa bạn cho bạn sức mạnh để tha thứ như Chúa tha thứ cho bạn vậy nhé.

From: Do Dzung

*****

 Hãy Tha Thứ (Hiền Thục)

THIÊN CHÚA CÔNG MINH – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Thoạt đầu, khi mới đọc dụ ngôn những người thợ được mướn vào giờ thứ mười một, nhiều người cảm thấy khó chấp nhận, vì xem ra những nguyên lý thông thường về công bằng xã hội bị hủy bỏ.  Người ta thường nêu cao khẩu hiệu “hãy làm việc nhiều hơn để lợi nhuận nhiều hơn.”  Thú thực, chúng ta cũng đã từng có cái nhìn phê phán ông chủ giống như những người thợ đã đến làm việc từ giờ đầu tiên, khi chúng chỉ ta quan sát mọi việc theo cái nhìn trần tục.

 Thiên Chúa không nhìn mọi việc cùng một cách như chúng ta.  Thánh ý của Ngài khác xa tư tưởng con người.  “Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I).  

Con người nhận định theo tiêu chuẩn công bằng; Thiên Chúa lại nhìn mọi việc theo ánh mắt của tình thương.  Nơi Thiên Chúa, vừa có sự công bằng (trả lương như đã hứa), vừa có tình thương (trả lương người cho người đến sau cũng như người đến trước).  Ngài là Đấng công minh, tức là vừa công bằng vừa sáng suốt, hiểu thấu lòng con người và những nỗi niềm của họ.  Tác giả Mát-thêu đặt câu chuyện dụ ngôn này vào ngữ cảnh các bài giảng của Chúa Giê-su về Nước Trời như một thực tại đã gần đến.  Vì thế, nội dung dụ ngôn cũng hướng chúng ta về ngày cánh chung.  Người đến trước hay người đến sau, sẽ có lúc phải trình diện trước nhan Chúa, và phải trả lẽ về cung cách sống và làm việc trong vườn nho của Chúa là chính cuộc đời này.

 Để giúp chúng ta hiểu thực tại Nước Trời, Chúa Giê-su đảo ngược lý luận của chúng ta về công bằng xã hội.  Một sự công bằng xã hội chỉ dừng lại ở những tính toán khắt khe không thể dẫn con người tới hạnh phúc và không thể xây dựng một xã hội huynh đệ, vì nó bỏ rơi những người không có khả năng làm việc và coi họ như không xứng đáng được hưởng những nhu cầu cần thiết.

 Sự công bằng của Nước Trời cũng không giống quan niệm về công trạng nơi chúng ta.  Đó là sự công bằng xen lẫn với tình yêu, một tình yêu đi đến tận cùng và có thể bị coi như “bất công” theo cái nhìn nhân loại.  Đó là điều ông chủ vườn nho đã làm: ông là một người tốt.  Ông trả cho mỗi người, không phải theo công lao, nhưng theo nhu cầu của họ.  Ông cho đi với lòng rộng rãi bao la, tới mức “hoang phí.”  Ông không chỉ dựa trên sản phẩm người thợ làm ra, mà còn nghĩ tới sự công lao khó nhọc của họ.  Và, ai là người có thể phán xét và xác định được nỗi khó nhọc, nếu không đó là Vị Thầy nhân lành, khiêm nhường và dịu dàng trong lòng?  Đối với Thiên Chúa, mỗi cá nhân trong số những người đang làm việc vì Nước Trời đều xứng đáng nhận được thù lao Tình yêu.  Nếu Thiên Chúa công minh như thế, thì nơi Vương quốc của Ngài phải là một nơi không còn sự ghen tị, hiềm thù và cũng chẳng có ai bị lãng quên.

 Hãy trở lại với lời mở đầu trình thuật của thánh Mát-thêu: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm trong vườn nho của mình.”  Sống trên đời, hết thảy chúng ta đều là những người thợ được ông chủ là Thiên Chúa trao cho công việc phải làm.  Chúng ta làm việc bởi công trình sáng tạo, tức là thế giới này, được trao cho chúng ta canh tác và giữ gìn.  Từ khởi thủy, con người đã ý thức được trách nhiệm này. 

 Tác giả sách Sáng thế đã viết: “Đức Chúa dẫn con người vào vườn Ê-đen để anh canh tác và giữ gìn” (St 2,15).  Chúng ta thường chỉ nhớ đến chữ “canh tác” mà quên chữ “giữ gìn”, nên chỉ biết khai thác mà không biết bảo vệ.  Như vậy, vấn đề làm lâu giờ hay ít giờ xem ra không quan trọng.  Đó là thời gian và cơ hội để con người vươn tới vĩnh cửu, trong khi chờ đợi Thiên Chúa, Đấng Cứu độ con người.  Cũng vậy, làm việc này hay việc nọ; ở nơi này hay nơi kia; được nhận biết hay quên lãng; được tôn vinh hay coi thường… cũng không quan trọng đối với người tín hữu.  Đối với thánh Phao-lô, điều quan trọng là được ở với Đức Ki-tô, và như thế, “anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Người.”

 Nước Trời là quà tặng miễn phí.  Lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô biên.  Ân sủng của Chúa dồi dào như dòng suối.  Điều quan trọng là chúng ta có trân trọng đón nhận món quà Nước Trời Chúa ban, có tín thác nơi Lòng Thương Xót của Ngài và có chủ động đến kín nước thiêng liêng nơi dòng nước ân sủng chứa chan ấy.

 “Không có người cha, người mẹ, người con, hoặc bất kỳ người nào khác có thể ấp ủ đối tượng họ yêu dấu bằng một tình yêu lớn lao như tình yêu Thiên Chúa ấp ủ một linh hồn.”
(Chân phúc Angela Foligno)

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

From: Langthangchieutim


 

HẾT NỢ  – TÌNH HẾT? – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai”.

“Tình yêu không trao gì ngoài chính mình!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những món nợ trả xong, người ta chẳng còn tìm đến nhau. Nhưng với Chúa, hết điều phải trả, vẫn còn chính mình để trao. Tin Mừng hôm nay hỏi chúng ta: có phải ‘hết nợ – tình hết?’.

Dụ ngôn Chúa Giêsu không kể ai đã cố trả nhiều hơn – người nợ năm trăm quan hay người nợ năm mươi; chỉ nói cả hai không có gì để trả, và chủ tha cho cả hai. Simon nhìn người phụ nữ bên chân Chúa và chỉ thấy tội lỗi của cô; lời Ngài lại đặt ông bên cạnh cô, người cùng mắc nợ. Nợ ít không có nghĩa là tự trả được! Ông tự hỏi vị khách có biết cô ấy là ai; Chúa Giêsu lại giúp ông nhận ra mình là ai trước lòng thương xót. Ông thấy rõ mình khác cô, nhưng chưa thấy mình cần Chúa như cô.

Bản Hy Lạp dùng echarísato – “tha nợ” như một ân huệ; động từ ấy cùng gốc với cháris – ân sủng. Dụ ngôn đặt việc tha nợ trước câu hỏi “ai mến chủ nợ hơn?”. Nước mắt không phải tiền trả nợ; dầu thơm không phải giá mua lòng thương xót. Người phụ nữ không tìm cách trả cho cân, nhưng trao điều mình có vì đã được tha. Không một lời, cô để nước mắt và dầu thơm nói thay: “trái tim nói với trái tim” – Henry Newman. Tình yêu có hình hài, thành cử chỉ, thành điều trao đi. “Ngài đã yêu chúng ta trước; tình yêu mới có thể nở ra trong lòng chúng ta như một lời đáp!” – Bênêđictô XVI.

Phaolô biết thế nào là được tha mà không thể sống như cũ. Ngài không giấu quá khứ, cũng không để quá khứ giam mình. Làm việc nhiều hơn, Phaolô vẫn không kể công: “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa!” – bài đọc một. Ân sủng không xoá sức lực; nó đổi hướng sức lực ấy: người từng dốc sức bách hại nay dốc đời loan báo. Cô ấy trao dầu thơm, Phaolô trao đời mình: không để trả cho xong, nhưng vì tình yêu đã nhận không cho phép họ giữ lại bất cứ gì. Được tha không chỉ là thôi mang một quá khứ; nhưng còn là nhận một tương lai để hiến trao.

Chúng ta có thể làm nhiều điều tốt rồi âm thầm giữ sổ: Chúa phải ghi nhận, người khác phải biết ơn. Phục vụ trở thành đòi nợ. Được tha, chúng ta nhẹ lòng mà chưa rộng lòng: vẫn khắt khe, vẫn dè sẻn. Lòng thương xót đã đến, nhưng chưa đi qua chúng ta. “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ!” – Thánh Vịnh đáp ca đưa chúng ta từ tính toán sang biết ơn, từ được tha sang biết tha.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không đợi chúng ta có gì để trả mới trao mình. Ngài mang lấy tội lỗi mà không thôi nhìn nhận chúng ta là những người được yêu. Phục Sinh cho thấy: tội lỗi có thể làm tan nát một đời, nhưng không được nói lời cuối cùng về đời ấy. Đức Kitô không giữ người được tha trong thân phận con nợ; Ngài trả họ về với phẩm giá, cho họ đứng dậy, đi bình an. ‘Hết nợ – tình hết?’. Không! Món nợ đã khép, nhưng đời yêu thương vừa mở.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhớ mình đã được tha; biết trao mà không đòi đáp; để đời con ‘hết nợ, tình còn!’”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXIV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/17….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

36 Khi ấy, có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn. 37 Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. 38 Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

39 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào : một người tội lỗi!” 40 Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: “Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!” Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói.” 41 Đức Giê-su nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. 42 Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” 43 Ông Si-môn đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Đức Giê-su bảo: “Ông xét đúng lắm.”

44 Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. 45 Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. 46 Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. 47 Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.” 48 Rồi Đức Giê-su nói với người phụ n: “Tội của chị đã được tha rồi.” 49 Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: “Ông này là ai mà lại tha được tội?” 50 Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.”


 

Hội Thánh có thể sai lầm trong lãnh vực đức tin không? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, hôm nay chúng con sẽ cố gắng trở thành người tốt hơn hôm qua. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới được an bình nhé

Cha Vương

Thư 4: 16/09/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Hội Thánh có thể sai lầm trong lãnh vực đức tin không? Toàn thể các tín hữu không thể sai lầm về đức tin, vì Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ Người rằng: “Người sẽ ban Thần Chân lý đến với họ, để giữ họ trong chân lý” (Ga 14,17). (YouCat, số 13)

SUY NIỆM: – Cũng như các môn đệ đã tin Chúa Giêsu với cả tấm lòng, một Kitô hữu cũng có thể tin cậy hoàn toàn vào Hội thánh khi đi tìm con đường dẫn đến sự sống. Vì Chúa Giêsu Kitô đã đích thân ban lệnh cho các tông đồ giảng dạy, Hội thánh cũng có một Huấn quyền và Hội thánh không thể làm thinh. Thực ra, các cá nhân là chi thể Hội thánh có thể sai lầm và còn phạm cả những lỗi nặng, nhưng xét chung Hội thánh không bao giờ có thể rớt ra ngoài chân lý của Chúa. Qua các thế kỷ, Hội thánh mang một chân lý sống động lớn hơn cả chính Hội thánh. Đó là kho tàng đức tin mà Hội thánh phải giữ gìn. Khi chân lý đó bị công khai nghi ngờ hoặc bóp méo, Hội thánh được mời gọi phải làm cho sáng lên “cái mà mọi nơi, mọi thời và mọi người vẫn tin.” Thánh Vincent Lérins (450) (YouCat, số 13 t.t.)

❦ Tông đồ (được sai đi): Trong Tân ước, tiếng này được dùng để chỉ mười hai người mà Chúa Giêsu đã chọn làm những cộng tác viên thân cận và chứng nhân của Người. Chính thánh Phaolô cũng đã tự giới thiệu mình là tông đồ được Chúa Kitô kêu gọi.

❦ Huấn quyền: Đây là sứ vụ giáo huấn Chúa Kitô trao cho các tông đồ và những người kế vị các Ngài, tất cả được Chúa Thánh Thần trợ giúp để hoàn thành.

LẮNG NGHE: Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. (Mt 16:17-18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Giáo hội là phản chiếu cách trung thực ánh sáng Chúa Kitô cho muôn dân, bởi chỉ có Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, và “không có một danh hiệu nào khác ở dưới gầm trời này có thể cứu được chúng ta (x. Cv 4:12)”, xin cho con biết lắng nghe và đưa ra thực hành những điều Giáo hội giảng dạy để làm sáng danh Chúa trong mỗi việc làm của con.

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng xin Mẹ Maria là Mẹ của Giáo hội hãy gìn giữ và bảo vệ  Hội Thánh Công Giáo trong lúc sóng gió này nhé.

From: Do Dzung

*****

ĐỨC MARIA NGƯỜI MẸ GIÁO HỘI (Sáng tác: Dấu Chân) – Thể hiện: Ngọc Mai 

TRỜI CŨNG PHẢI NHẢY THEO – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa!”.

“Sống là thay đổi; nên hoàn thiện là đã đổi thay nhiều lần!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Đổi thay giúp con người hoàn thiện; nhưng chúng ta lại muốn Chúa đổi trước. Gioan đến, người đương thời chê; Chúa Giêsu đến, họ cũng chê. Họ muốn ‘trời cũng phải nhảy theo’.

Sáo réo rắt mời người ta vui; khúc hát đưa đám mời người ta buồn. Khi lời mời thành mệnh lệnh, ai không làm theo đều bị trách. Gioan khổ chế, kêu gọi họ sám hối, họ bảo ông bị quỷ ám; Chúa Giêsu gần gũi, đồng bàn với người tội lỗi, họ gọi Ngài là kẻ ăn nhậu. Hai lối sống nhận chung một lời từ chối: họ không muốn gặp Chúa, chỉ muốn gặp một vị Chúa vừa vặn với họ. Đức Phanxicô gọi đó là muốn “ơn cứu độ theo cách của mình”.

Lũ trẻ trong trò chơi trách bạn không vui buồn theo ý chúng. Người lớn cũng có thể mang cái giận ấy vào cuộc gặp gỡ với Chúa. Nhưng lời mời của Ngài vẫn là lời mời, dù không như điều con người chờ đợi. Chúng ta cứ nhìn trời chờ điều mình xin, trong khi người cần được tha thứ đã ở trước mặt. Sự lạc điệu bắt đầu khi chúng ta mải đòi Chúa đổi điệu nhảy mà không nghe Ngài gọi mình đổi lòng. “Khi tình yêu vẫy gọi, hãy đi theo, dẫu đường của nó dốc và gập ghềnh!” – Kahlil Gibran.

Chính những đứa trẻ ấy khiến lời Phaolô hôm nay trở nên gần gũi: “Khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con” – bài đọc một. Đứa trẻ thường chỉ biết mình: mọi sự là của tôi, cho tôi và phải theo ý tôi. Robert Barron tự hỏi, nếu đứa trẻ có vóc dáng và sức mạnh của người lớn, thế giới quanh nó sẽ ra sao? May mà nó nhỏ xác! Nhưng có biết bao người lớn xác mà bên trong vẫn là đứa trẻ ấy: một lời trái ý cũng làm họ giận, một việc không vừa ý cũng thành lỗi của người khác. Đến cả trời, họ cũng muốn bắt nhảy theo.

Chúng ta có thể nói hay, hiểu nhiều, cho đi nhiều mà vẫn muốn người khác đáp đúng điều mình chờ. Phaolô bảo đức mến “không tìm tư lợi”: tình yêu không lấy sự đáp lại của người khác làm bằng chứng rằng mình đúng. Yêu Chúa là để Ngài được là Chúa. Còn với người mình yêu, chúng ta có thể rất ân cần mà vẫn âm thầm muốn họ trở nên giống mình. “Khởi đầu của tình yêu là muốn để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Anh Chị em,

Trên thập giá, người ta muốn bắt Đức Kitô nhảy theo điệu cuối cùng: “Hãy xuống khỏi thập giá, rồi chúng ta tin!”. Ngài không xuống. Họ muốn Ngài bỏ nơi mình vừa đẩy Ngài lên; Ngài chọn chính nơi ấy để không bỏ họ lại. Con người lấy nỗi đau làm phép thử Thiên Chúa, Đức Kitô mang nỗi đau ấy đến cùng mà không ngừng yêu. Phục Sinh cho thấy: ngay tại đó, tình yêu vẫn không quay lưng. Chúa không chiều theo đòi hỏi của chúng ta; Ngài đi xa hơn đòi hỏi ấy để cứu chúng ta. Bởi thế, ‘trời cũng phải nhảy theo’ là lời của một cái tôi chưa biết mình đã được yêu đến mức nào.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ yêu để thôi cầm nhịp cho Chúa; đủ tin để đón nhận đường Ngài chọn; và đủ khiêm nhường để bước cùng người khác!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXIV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/16….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

31 Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông về ông Gio-an rằng: “Tôi phải ví người thế hệ này với ai ? Họ giống ai? 32 Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói:

‘Tụi tôi thổi sáo cho các anh,

mà các anh không nhảy múa ;

tụi tôi hát bài đưa đám,

mà các anh không khóc than.’

33 “Thật vậy, ông Gio-an Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: ‘Ông ta bị quỷ ám.’ 34 Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: ‘Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.’ 35 Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được tất cả con cái mình biện minh cho.”


 

CHỈ TRÁI TIM BỊ THƯƠNG MỚI BIẾT YÊU – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà!”.

“Có con là quyết định để trái tim mình mãi mãi bước đi bên ngoài thân thể!” – Elizabeth Stone.

Kính thưa Anh Chị em,

Kính nhớ Mẹ Sầu Bi đưa chúng ta đến một trái tim đã đi ra ngoài – một trái tim bị thương. Mẹ Maria sống trọn nghịch lý ấy: ‘chỉ trái tim bị thương mới biết yêu’.

Chúa Giêsu, “dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” – bài đọc một. Con không dùng phẩm vị của mình để tránh đau khổ; Mẹ không dùng đặc ân để đứng ngoài số phận của Con. Nơi Con và Mẹ, vâng phục không phải là cúi đầu trước đau khổ, nhưng là vẫn tin vào Cha dẫu không hiểu hết lối Ngài dẫn. Con đi hết con đường cứu độ; Mẹ không rời Con trên chặng cuối.

Mọi sự sống đều có một đồi Canvê; mỗi tâm hồn đều mang một nỗi đau kín. Chúa Giêsu có nỗi đau của Ngài; và bởi yêu đến cùng, Ngài đau đến cùng. Maria, người gần Con hơn cả, bước vào nỗi đau ấy. Tiếng Latinh compassio – lòng trắc ẩn – nguyên nghĩa là “cùng đau”. Nơi Mẹ, lòng trắc ẩn trở thành một “sầu chung”: không mang đau khổ thay Con, nhưng không để Con chịu đau riêng mình.

Trái tim Maria bị xuyên thâu bởi bảy lưỡi gươm – biểu tượng “Bảy Sự Thương Khó Đức Mẹ”. Đó không chỉ là một hình ảnh đạo đức; đời Mẹ mang những vết cắt thật của phận người. Mẹ không hiểu hết, nhưng vẫn bước; không cất được đau khổ khỏi Con, nhưng không bỏ đi. Ân sủng không miễn cho Mẹ khỏi đau; ân sủng giữ Mẹ khỏi rời Con. Kẻ lành lặn nhìn thấy nỗi đau; kẻ từng bị thương mới sờ chạm được chiều sâu của nó. “Tình yêu không biết được chiều sâu của chính mình cho đến giờ phút chia lìa!” – Kahlil Gibran.

Đau khổ tự nó không làm người ta biết yêu; chỉ khi được trao cho Chúa, nơi từng làm chúng ta chảy máu mới có thể trở thành nơi người khác được đỡ nâng. Lưỡi gươm vẫn đi qua bao tâm hồn hôm nay: chia lìa, phản bội, bệnh tật, cô đơn và những vết cắt chưa gọi tên. Mẹ Sầu Bi không cất khỏi chúng ta mọi lưỡi gươm; Mẹ dạy chúng ta đừng để chúng lấy mất khả năng yêu thương. Có khi, chính nơi từng làm mình bật khóc lại giúp mình nhận ra người đang lặng lẽ khóc bên cạnh.

Anh Chị em,

Trên thập giá, trái tim Đức Kitô bị lưỡi đòng mở ra; dưới chân thập giá, tâm hồn Mẹ bị lưỡi gươm xuyên thủng. Chính trong giờ đau đớn ấy, Ngài trao người môn đệ cho Mẹ: “Này là con Bà!”, và trao Mẹ cho Hội Thánh: “Này là Mẹ con!”. Nỗi đau tưởng chỉ còn chỗ cho Người Con sắp chết lại mở lòng người Mẹ để đón nhận mọi người. “Qua mầu nhiệm thập giá, thiên chức làm mẹ của Maria đã có một bước nhảy vọt không thể tưởng tượng nổi!” – Lêô XIV. Từ đó, không giọt nước mắt nào của nhân loại còn xa lạ với Mẹ. Canvê cho thấy: tình yêu không lớn vì tránh được thương tích, nhưng vì qua thương tích, trái tim vẫn dám đi ra – ‘chỉ trái tim bị thương mới biết yêu’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho tim con biết khóc với người đang đau; biết mở ra khi chính mình thương tổn; và biết cùng Mẹ biến nỗi nhức thành tình yêu chữa lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Mẹ Sầu Bi, 15/9, Thứ Ba Tuần XXIV: 

https://l1nq.com/xhglknr

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

25 Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.


 

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI–SN Dung Hiếu

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI –

SN Dung Hiếu

Có những cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng lại để lại dấu ấn cho cả một đời người.

Với vợ chồng em, những lần được gặp Cha Sáng Lập Phêrô Chu Quang Minh chính là những cuộc gặp gỡ như thế.

Nhân ngày giỗ đầu của Cha, lòng em bỗng trở về với những ký ức của hơn mười năm trước. Thời gian có thể cuốn đi nhiều điều, nhưng có những hình ảnh càng đi qua năm tháng lại càng trở nên rõ nét trong tâm hồn. Với em, đó là hình ảnh một người Cha hiền hậu, đơn sơ, gần gũi… và đặc biệt, vô cùng khiêm nhường.

Năm 2013, nhờ người dì từ Úc giới thiệu, vợ chồng em từ Sài Gòn về Cà Mau để tham dự Khóa Căn Bản. Khi ấy, chúng em chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đang đi học một khóa học về hôn nhân gia đình. Nhưng có lẽ chính chúng em cũng không ngờ rằng, chuyến đi ấy đã mở ra một cánh cửa mới trong đời sống của hai vợ chồng.

Và điều đầu tiên bước vào cánh cửa ấy chính là hình ảnh của Cha.

Cha uyên bác nhưng không hề làm người khác cảm thấy xa cách. Cha sâu sắc nhưng không khô khan. Những bài giảng của Cha có thể khiến cả hội trường bật cười, rồi chỉ ít phút sau lại khiến mỗi người lặng đi để nhìn vào chính cuộc đời mình. Cha kể chuyện thật tự nhiên, dí dỏm, nhưng đằng sau mỗi tiếng cười là một bài học khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Nhưng trong tất cả những gì em được nghe và được thấy nơi Cha, có một khoảnh khắc đã đi theo em suốt hơn mười năm qua.

Đó là khi Cha giảng về tình yêu và sự khiêm nhường.

Hôm ấy, Cha đã noi gương Chúa Giêsu, quỳ xuống trước chồng em, nhẹ nhàng cởi giày, rủa chân và hôn lên chân anh để minh họa cho bài giảng.

Em vẫn nhớ cảm giác của mình lúc ấy.

Cả người em như lặng đi.

Trước mắt em là một vị linh mục mà em vô cùng kính trọng. Một người thầy uyên bác. Một người Cha được biết bao gia đình yêu mến. Thế nhưng, Cha lại cúi xuống với một sự tự nhiên, bình an và khiêm nhường đến lạ.

Khoảnh khắc ấy đã nói với em nhiều hơn cả một bài giảng.

Em hiểu rằng, khiêm nhường không phải là tự làm mình nhỏ bé, mà là tình yêu đủ lớn để ta biết cúi xuống vì người khác.

Có lẽ từ giây phút ấy, một điều gì đó trong em đã thực sự thay đổi.

Sau Khóa Căn Bản năm ấy, vợ chồng em cũng dần thay đổi. Chúng em học cách nhìn nhau bằng một ánh mắt khác. Học cách lắng nghe nhiều hơn. Học cách yêu thương không chỉ khi mọi chuyện tốt đẹp, mà cả khi người kia không giống như điều mình mong đợi. Và trong hành trình nuôi dạy con cái, chúng em cũng bắt đầu hiểu rằng, đôi khi con cái không cần những bài học thật dài, mà cần nhìn thấy cha mẹ sống những điều mình muốn dạy con.

Những lần sau được gặp lại Cha tại Đại hội Song Nguyền kỉ niệm 10 năm ở Sài Gòn, rồi Đại hội SN Liên bang 25 năm tại Úc Châu (Sydney 2019), ấn tượng trong em về Cha vẫn không thay đổi.

Cha vẫn vậy.

Vẫn uyên bác.

Vẫn hóm hỉnh.

Vẫn gần gũi.

Và vẫn khiêm nhường đến khiến người khác phải kính phục.

Nhưng có lẽ ký ức khiến em xúc động nhất là trong Đại hội tại Úc Châu. Khi ấy, tất cả các anh chị Song Nguyệ`n cùng quây quần bên Cha, hát bài “Cảm Ơn Cha Chu Quang Minh”.

Đến cuối bài hát, từng người cầm một bông hoa tiến đến, quỳ dưới chân Cha để bày tỏ lòng biết ơn.

Đó chắc hẳn là một khoảnh khắc mà bất cứ ai có mặt hôm ấy cũng khó quên.

Biết bao con người.

Biết bao gia đình.

Biết bao cuộc đời đã nhận được điều gì đó từ hạt giống mà Cha đã gieo.

Vậy mà giữa những lời cảm ơn chân thành ấy, Cha lại nhẹ nhàng nói:

“Đừng cảm ơn tôi. Hãy tạ ơn Đức Chúa Trời. Đừng cảm ơn tôi. Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Đến hôm nay, em vẫn không quên được câu nói ấy.

Có lẽ bởi vì chính trong câu nói ấy, em lại nhìn thấy con người thật của Cha.

Một người đã dành cả cuộc đời để phục vụ biết bao gia đình.

Một người đã đi khắp nơi để chia sẻ, hướng dẫn và nâng đỡ.

Một người đã gieo biết bao hạt giống yêu thương.

Thế nhưng, Cha không nhận công về mình.

Cha trả tất cả về cho Chúa.

“Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Một câu nói đơn sơ.

Nhưng càng sống, em càng thấy câu nói ấy sâu sắc.

Phải chăng, đó chính là đỉnh cao của sự khiêm nhường?

Làm được rất nhiều điều nhưng không coi đó là công lao của mình.

Được rất nhiều người yêu mến nhưng không đặt mình ở trung tâm.

Được mọi người cảm ơn nhưng lại hướng tất cả lòng biết ơn ấy về với Thiên Chúa.

Có lẽ vì thế mà dù Cha đã đi xa, những gì Cha để lại vẫn còn ở đây.

Trong một đôi vợ chồng đang cố gắng hiểu nhau hơn.

Trong một người chồng học cách lắng nghe.

Trong một người vợ học cách nhẫn nhịn.

Trong một gia đình đang cố gắng hàn gắn.

Trong những bậc cha mẹ đang học cách trở thành tấm gương tốt cho con cái. Và trong những thành viên Song Nguyền vẫn đang cùng nhau tiếp tục hành trình mà Cha đã khởi xướng.

Cha ơi!

Đã một năm kể từ ngày Cha về cùng Chúa.

Một năm… không phải là một khoảng thời gian quá dài đối với một cuộc đời, nhưng đủ để chúng con hiểu rằng có những người dù không còn hiện diện trước mắt, vẫn không hề rời khỏi trái tim của những người ở lại.

Chúng con không còn được nghe giọng nói hài hước của Cha.

Không còn được ngồi dưới hội trường để nghe Cha kể chuyện rồi bất chợt bật cười.

Không còn được gặp Cha trong những ngày hội ngộ.

Nhưng chúng con vẫn còn những điều Cha đã gieo vào lòng mình.

Và có lẽ, đó mới là cách một con người tiếp tục sống mãi.

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu của Cha, chúng con cùng nhớ về Cha với lòng biết ơn.

Chúng con tin rằng Cha đã về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Xin Cha, từ nơi quê Trời, vẫn thương đoái nhìn đến chúng con – những gia đình mà Cha đã dành biết bao tâm huyết để yêu thương và phục vụ.

Xin Cha tiếp tục cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

Cho những lúc vợ chồng chúng con mỏi mệt, biết tìm lại tình yêu.

Cho những lúc gia đình gặp giông bão, biết nắm tay nhau.

Cho những lúc chúng con tự hào về chính mình, biết nhớ đến bài học khiêm nhường của Cha.

Và cho chúng con, dù đi đến đâu trên hành trình này, cũng không bao giờ quên rằng:

Tất cả những gì tốt đẹp mình có được đều là một ân sủng.

Cha đã từng nói: “Đừng cảm ơn tôi, hãy tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Hôm nay, chúng con vẫn muốn nói với Cha một lời cảm ơn.

Nhưng xin cho lời cảm ơn ấy không dừng lại ở những đóa hoa hay những giọt nước mắt.

Xin cho lời cảm ơn ấy được tiếp tục bằng cách chúng con sống.

Sống yêu thương hơn.
Sống khiêm nhường hơn.
Sống gần gũi với nhau hơn.
Và tiếp tục cùng nhau giữ gìn ngọn lửa mà Cha đã một đời âm thầm thắp lên.

Cha ơi, chúng con nhớ Cha.

Và trong lời nhớ ấy, chúng con lại cùng Cha cúi đầu:

Tạ ơn Chúa. 

SN Dung Hiếu – Từ CTTTHNGĐ Adeide Úc Châu

Tieu su Cha Sang Lap Chuong Trinh Thang Tien Hon Nhan Gia Dinh ( Cha Phero CHU QUANG MINH)


 

Lễ Suy Tôn Thánh Giá – Cha Vương

Thứ 2 đầu tuần. Xin Chúa gìn giữ bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi nhé. Cùng nhau vác Thánh Gia, xin cậ`u nguyện cho nhau và thể giới được đầy Lòng Thương Xót của Chúa và Mẹ Maria nhé. Hãy bảo trọng!

Cha Vương

Thứ 2: 14/09/2026.   (t4-22)

Mỗi ngày 14 tháng 9 hàng năm, chúng ta nói lên sự biết ơn và lòng yêu mến Ðức Giêsu qua sự tôn trọng thập giá. Trước đây, thập giá từng là biểu hiệu của sự tủi hổ. Các tử tội được chết chém đó là một ân huệ, vì được miễn cho sự nhục nhã khi bị treo trên thập giá. Ðức Giêsu đã thi hành mọi sự để đem lại sự cứu độ cho chúng ta. Ngài đã chấp nhận sự đau khổ thập giá. Ðau khổ dẫn đến tủi nhục.

   Thập giá trở nên dấu hiệu thiêng liêng của Kitô Giáo. Khi thập giá có mang tượng Ðức Giêsu, thập giá đó trở thành thánh giá. Chúng ta treo thánh giá trong nhà hay đeo trên người để nhắc nhở rằng, vì chúng ta mà Ðức Giêsu đã phải hy sinh.

   Trong nhiều thế kỷ, di tích của cây thập giá đích thực được Kitô Hữu quý trọng. Người ta tin rằng vào năm 629, dưới thời Hoàng đế Herachius I, những người Ba Tư xâm chiếm Giêrusalem và lấy mất phần chính của Thánh Giá thật mà thánh Hélène, mẹ của Hoàng đế Constantin đã để lại. Hérachius nhất định chiếm lại thánh giá này. Ngài cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và nung nấu lòng can đảm. Quả nhiên, lời cầu xin của vua đã được Chúa chấp nhận. Ngài đã đánh bại được quân Ba Tư và trở về Constantinople giữa tiếng reo hò của dân chúng. Với những cành olive, những ngọn đuốc cháy sáng, thánh giá thật của Chúa đã được tôn vinh trong bầu khí khải hoàn. Hoàng đế tràn trề vui sướng muốn trở về Giêrusalem với thánh giá này sau 14 năm lưu lạc. Nhà vua long trọng tiến vào thành thánh, nhưng trước khi lên núi Sọ, ngài đã không thể bước đi được nữa, khiến cho mọi người đều kinh ngạc sợ hãi. Giáo trưởng Zachachie hô lớn: “Tâu đức vua, chắc chắn phẩm phục của đức vua không xứng đáng với cảnh nghèo nàn và khiêm nhượng của Chúa Giêsu khi vác thánh giá”. Hérachius vội cởi bỏ mọi phẩm phục sang trọng và thay vào bằng bộ quần áo nghèo hèn. Tức thì nhà vua cất bước một cách dễ dàng… và để tỏ ra sự khải hoàn, Chúa đã ban nhiều phép lạ cả thể trong ngày ấy.

   Từ đó, lễ kính Thánh Giá Chúa Giêsu được lập ra để nhắc nhớ cho các thế hệ kỷ niệm này. Nhưng trước cả thời gian đó, Kitô Hữu đã tôn kính và quý trọng thập giá và lễ Suy Tôn Thánh Giá được các Kitô Hữu tại Rome cử hành từ cuối thế kỷ thứ 7.

   Chữ “thập giá” cũng có nghĩa những đau khổ trên đường đời. Khi chúng ta kiên nhẫn và vui lòng chấp nhận đau khổ như Ðức Giêsu đã chấp nhận thập giá của Ngài, chúng ta sẽ trở nên “người vác thập giá” như Ðức Giêsu Kitô.

 (Nguồn: Người Tín Hữu online)

   Hôm nay mời bạn bỏ ra mấy phút suy niệm trước Thánh Giá là nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian, bạn hãy đặt tất cả những gánh nặng cuộc đời vào lòng xót thương và sự quan phòng của Chúa.

From: Do Dzung

*****

Thánh Giá Nào Cho Con – NGỌC LAN | Sáng tác: LM. NGUYỄN VĂN TUYÊN

SẸO CỦA THIÊN CHÚA – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”.

“Trên thân thể Đức Kitô Phục Sinh, những vết thương không bao giờ biến mất; chúng vẫn còn đó, vì là dấu chỉ bền vững của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Thập giá không phải là một vết thương còn mở để kéo dài đau đớn, nhưng là dấu tích của một tình yêu đã đi qua cái chết và trở về. Vì thế, Hội Thánh không suy tôn một dụng cụ hành hình, nhưng suy tôn thánh giá – ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Trong sa mạc, Israel nổi loạn, bị rắn lửa cắn. Thiên Chúa không cất rắn đi; Ngài truyền Môsê treo con rắn đồng lên cột, để ai nhìn lên thì được sống – bài đọc một. Điều cứu họ không phải mẩu kim loại, nhưng lòng tin dám nhìn thẳng vào dấu tích của điều đang giết mình để đón nhận sự sống từ Thiên Chúa. Ơn cứu độ bắt đầu khi chúng ta nhận mình đã bị cắn và không thể tự chữa. Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói về thập giá: “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”. Bản Hy Lạp viết hypsōthēnai – “được nâng lên”, vừa chỉ bị treo trên thập giá, vừa gợi sự tôn vinh. Nơi thấp nhất của nhục nhã trở thành nơi cao nhất của tình yêu; dấu hiệu án chết trở thành dấu chỉ cứu người.

Chúa Kitô chữa lành chúng ta bằng cách mang vết thương trên thân mình. Ngài bước vào nơi đau nhất của phận người, cho phép bạo lực của con người chạm đến chính Thiên Chúa. Đấng Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài cho Tôma xem chúng như sinh trắc học của tình yêu. Vết thương còn, nhưng đã mất quyền lực; cái chết đã xảy ra, nhưng không phải lời cuối. “Nỗi buồn càng khoét sâu vào lòng bạn, bạn càng có thể chứa nhiều niềm vui!” – Kahlil Gibran.

Bởi thế, điều quan trọng không phải sống mà không có thương tích, nhưng để tình yêu chữa lành những gì từng làm chúng ta mang thương tích. Nỗi đau có thể thành cay đắng, khiến chúng ta truyền nó sang người khác; nhưng cũng có thể hoá nên lòng trắc ẩn: vì đã ngã, chúng ta biết đỡ người; vì đã khóc, chúng ta không đi qua nước mắt của ai; vì được tha thứ, chúng ta thôi kết án. Vết sẹo bấy giờ không còn kể điều người khác đã làm, nhưng kể điều ân sủng đã làm trong chúng ta. “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô trên thập giá đã biến đổi đau khổ từ bên trong!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã “hạ mình, vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”; vì thế, “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài” – bài đọc hai. Thiên Chúa không ca tụng đau khổ; Ngài tôn vinh tình yêu không bỏ cuộc giữa đau khổ. Thập giá không tuyên bố vết thương là tốt, nhưng cho thấy không vết thương nào nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa. Ai kết hợp thập giá đời mình với thập giá Đức Kitô sẽ khám phá: điều còn lại sau cùng không phải những gì đã làm mình tan nát, nhưng là tình yêu đi xuyên qua tất cả mà vẫn sống. Tình yêu ấy không che giấu cuộc chiến, nhưng làm chứng rằng sự dữ và sự chết đã không thắng – đó là ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để những vết thương đời con chỉ còn là nỗi đau; nhưng trong Ngài, xin cho chúng trở thành những dấu tích của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Ngày 14 tháng 9

SUY TÔN THÁNH GIÁ

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”


 

SỰ VÔ TẬN CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996.  Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton.  Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

 Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

 Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miền xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

 Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi!  Không gì có thể cứu vãn!  Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi!  Thật vô vọng!”

 Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không?  Không nhất thiết là thế.  Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên.  Vậy hy vọng là gì?

 Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng.  Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ.  Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào.  Nó chỉ là thuần ảo tưởng.  Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng.  Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy.  ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’  Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám.  Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ?  Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

 Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng.  Ông đúng.  Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp.  Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

 Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy.  Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục.  Tại sao lại thế?  Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.  Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

 Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt.  Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa.  Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

 Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình.  Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ.  Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi.  Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta.  Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa.  Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

 Không bao giờ là quá trễ!  Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC THA – VẪN NỢ  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”.

Ngày 27 tháng 12 năm 1983, cửa một phòng giam tại Rôma mở ra. Mehmet Ali Ağca – người đã bắn trọng thương Đức Gioan Phaolô II – ngồi đó; vị giáo hoàng bước vào. Họ ngồi bên nhau, không ai biết đã nói gì. Thế giới chỉ thấy một nghịch lý: người bắn vẫn ở đó; người bị bắn bước vào.

Kính thưa Anh Chị em,

Lòng thương xót không kết thúc, nhưng bắt đầu nơi người được tha. Lời Chúa hôm nay cho biết: bởi được Thiên Chúa xoá mọi món nợ, chúng ta mang một món nợ không bao giờ trả xong: nợ anh em lòng thương xót, nợ bước vào trước – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúa Giêsu đặt giữa một dụ ngôn bất cân xứng một tiếng vọng nghiệt ngã. “Bảy mươi lần bảy” không kéo dài phép đếm; nó chấm dứt quyền đếm. Trước nhà vua, người đầy tớ sấp mình van xin; ít phút sau, đồng bạn anh cũng sấp mình và lặp gần nguyên lời van xin ấy. Nghe lại tiếng mình mà anh không nhận ra phận mình; gặp một con nợ mà anh không nhớ mình từng là con nợ. Ân xá vua ban xoá tên anh khỏi sổ nợ, chưa xoá được sổ nợ trong lòng anh. Anh được tha món nợ cũ, nhưng vẫn mắc món nợ mới: nợ lòng thương xót.

Điều đáng nói, món nợ đồng bạn mắc là có thật. Anh không sai khi cần công lý; anh sai khi để công lý trở thành lời cuối, sau khi chính mình sống sót nhờ lòng thương xót. Lòng thương xót không phủ nhận món nợ, nhưng không để nó định nghĩa một con người. “Trong thái độ của Thiên Chúa, công lý thấm đẫm lòng thương xót!” – Phanxicô.

Tha thứ không quên tổn thương, càng không gọi điều ác là điều thiện; nhưng nhớ một sự thật lớn hơn nỗi đau. Huấn Ca nhắc: nhớ ngày tận số, nhớ mình sẽ chết, nhớ giao ước của Đấng Tối Cao. Oán giận làm thế giới chỉ còn tôi và người làm tôi đau; nhớ đến Chúa, tôi nhận ra cả hai dưới bóng lòng thương xót của Ngài. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh trở thành nhịp đập của cõi lòng: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương!”.

Trong đời thường, chúng ta không giữ sổ nợ bằng con số, nhưng bằng một lời nói, một lần bị coi thường, một ngày không được bênh vực. Càng giữ, đời mình càng xoay quanh người đã làm mình đau: họ vắng mặt mà vẫn điều khiển hiện tại. Chúng ta tưởng đang giữ họ trong món nợ cũ; thật ra, lỗi của họ đang giữ chúng ta. Vì thế, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” – bài đọc hai. Chúa mới là Chủ; vết thương không có quyền ấy. “Tha thứ là giải thoát một tù nhân và khám phá tù nhân ấy chính là mình!” – Lewis B. Smedes.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cuốn sổ nợ của nhân loại được khép lại trên thập giá. Ngài không mắc nợ ai, nhưng trả món nợ chúng ta không thể trả bằng chính mạng sống mình. Phục Sinh, Ngài trở lại với những môn đệ đã bỏ Ngài; mang theo vết thương, nhưng không mang sổ nợ; trao bình an, không đòi thanh toán. Từ đó, người môn đệ không chỉ sống nhờ ơn tha thứ, nhưng còn phải để ơn ấy đi tiếp đến người khác – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhận ra mình nơi người có lỗi, trao đi lòng thương xót đã nhận và trả suốt đời món nợ yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Chúa Nhật Tuần XXIV – Mùa Thường Niên, Năm A 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” 22 Đức Giê-su đáp  “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

23 “Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống lạy lục: ‘Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.’ 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: ‘Trả nợ cho tao!’ 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống van xin: ‘Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.’ 30 Nhưng y không chịu, cứ đi tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: ‘Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?’ 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”