TĨNH THỨC

TĨNH THỨC

  1. Tỉnh thức: Vật chất dư thừa

Trong những xã hội tiên tiến, tỉnh thức không phải là một điều dễ làm, bởi vì vật chất dư thừa bao quanh khiến mình khó phân biệt đâu là thần tài, đâu là thần chết.

Chuyện kể rằng có hai tên tướng cướp một hôm đi ngang qua cánh rừng, bất ngờ cả hai cùng bắt gặp một người đàn ông tuổi trung niên đang hốt hoảng bỏ chạy, tay chỉ vào trong rừng, miệng hét to,

– Thần chết! Thần chết!.

Thấy chuyện lạ, hai tên tướng cướp chặn người đàn ông lại, kề dao vào cổ, vặn hỏi,

– Thần chết ở đâu mà nhà ngươi vừa chạy vừa hét ầm ĩ lên như vậy? Mát hả? Hay là té giếng sâu mười tám thước?

Lạ thay, mặc dù bị dao sắc chạm ngay cần cổ, người đàn ông vẫn không tỏ vẻ sợ hãi, nhưng tiếp tục chỉ tay vào rừng, tiếp tục hét to,

– Thần chết! Thần chết!

Thấy người đàn ông có thái độ lạ kỳ, hai tên tướng cướp liền để mặc người đàn ông một mình, rồi cả hai đi sâu vào bià rừng về hướng tay chỉ của người đàn ông. Thật bất ngờ, mới lần mò vào bià rừng được khoảng ném một cục đá, hai tên tướng cướp khám phá ra một cái hang bên trong chất cao đầy vàng bạc và kim cương. Thấy kho tàng bất ngờ xuất hiện trước mặt, hai tên tướng cướp mắt sáng ra. Rồi không ai nói ai, cả hai tên cướp thay phiên nhau đào vàng bạc, hốt kim cương cho vào những bao bố, chuẩn bị mang về thành phố. Cả hai vừa đào vàng, vừa hốt bạc, tâm hồn lâng lâng nghĩ tới ngày mai, một ngày mai tươi sáng với một kho tàng trời tặng ban cho thật bất ngờ. Sau một hồi loay hoay với kho vàng, cả hai tên cướp cùng đói bụng. Một tên mới đề nghị,

– Thôi, để tao vào thành phố. Mi cứ ở đây, đào tiếp, đợi tao mua bánh mì mang về tụi mình ăn trưa nhé.

Đang đói bụng, nghe bạn nói vậy, tên kia gật đầu đồng ý liền. Trên đường đi mua bánh mì ăn trưa, tên cướp thứ nhất bất ngờ động lòng tham, hắn nghĩ, ‘Thôi kệ, bây giờ mình ghé vào tiệm thuốc Bắc mua thuốc chuột nhét vào ổ bánh mì kẹp thịt. Như vậy cả nguyên một kho tàng sẽ thuộc hẳn về mình’. Nhưng cũng không ai ngờ, trong hang núi, tên cướp thứ hai cũng động lòng tham y như tên cướp thứ nhất. Cho nên, hắn bậm môi đứng nép ngay cửa hang, tay giơ cao thanh đao đợi chờ. Bởi không tỉnh thức, không nghi ngờ, tên cướp thứ nhất không chuẩn bị. Cho nên vừa mới ló đầu vào, đầu hắn rụng xuống, rơi lăn nghe kêu lông lốc trên nền đất khô. Giết chết bạn xong, tên cướp thứ hai tỉnh bơ ngồi xuống, lấy bánh mì có ướp thuốc chuột ra ăn. Nhưng bánh mì vừa kịp trôi qua cổ họng, hắn trợn mắt lên, rồi giãy đành đạch té chết nằm sõng soài bên cạnh xác đồng nghiệp còn chưa kịp lạnh. Thế là thần tài rớt mặt nạ xuống, hiện nguyên hình thần chết.

Tỉnh thức? Khó đấy!

II. Tỉnh thức: Giật gấu vá vai

Đối với những cuộc giật gấu vá vai, tỉnh thức cũng không phải là một điều dễ thực hiện, bởi vì đời sống vật chất thiếu thốn khiến người ta cũng dễ dàng bị mập mờ lẫn lộn giữa hạnh phúc bây giờ và bất hạnh tương lai.

Chuyện kể rằng tại một thôn làng có một cặp vợ chồng son. Cả hai rất hạnh phúc, nhưng chỉ tội nghèo. Bởi thế chồng phải ngày ngày vào rừng đốn củi kiếm tiền. Vợ ở nhà xúc cá bắt tép mang ra chợ bán. Cả hai quần quật làm việc đầu tắt mặt tối, thế mà vẫn không thoát cảnh cơm trưa trộn sắn, cơm chiều trộn khoai. Nhưng mặc cho phận nghèo tiếp tục theo đuổi, hai vợ chồng rất thương yêu nhau. Tối trong khi chồng đang ngồi xếp đống củi chuẩn bị mang ra chợ bán vào sáng sớm ngày hôm sau, vợ ngồi bên cạnh ướp muối từng chú cá xúc được trong ngày. Lâu lâu hai vợ chồng nhìn nhau, cười tủm tỉm thương yêu mặn nồng.

Bất ngờ, vào một ngày kia, trong khi đang vớt tép, vợ khám phá ra trong rổ lóng lánh một cục đá. Ánh sáng của hòn đá sáng lấp lánh che tối ánh bạc mặt trời nhiệt đới và cả những chú cá rô đồng lớn bằng bàn tay đang dãy dụa trong rổ. Mang hòn đá lớn bằng trái trứng chim câu về nhà, vợ nhờ người mang đi bán. Thế là bắt đầu kể từ đó đời sống của hai vợ chông thay đổi, chồng thôi phận tiều phu, vợ thôi kiếp xúc tép. Cả hai trở nên giàu có với nhà cao cửa rộng, người ăn kẻ ở tấp nập. Và cũng bắt đầu từ đó, người chồng một thời tiều phu bắt đầu đổi tính. Anh không còn tối tối quây quần xum họp với vợ trong túp lều tranh nữa, nhưng ngày đêm la cà nơi quán rượu nhà chứa… Và cũng bắt đầu từ đó, người vợ một thời xúc tép đổi hình. Chị ăn mặc sang trọng phấn son rỡ ràng, thường xuyên xuất hiện nơi sòng bạc casino… Có người còn nói chị trở nên gái gọi hạng sang… Thực hư chẳng ai biết. 

Tỉnh thức? Khó đấy! 

III. Tỉnh thức: Chốn thiền môn

Trong đời sống thiền môn, không tỉnh thức cõi thiền sẽ nhập nhằng hóa ra cõi trần.

Chuyện kể rằng, có nhà tu sĩ thuộc phái hành khất bình bát có lần dừng bước ngồi ăn xin dưới gốc đa đầu làng. Người trong thôn đi ngang qua, họ nhận ra gia tài duy nhất người tu sĩ sở hữu là hai cánh áo tăng và cái bình bát làm bằng gỗ. Tuy nghèo, nhưng nhà tu sĩ rất là hạnh phúc. Khuôn mặt của chàng không bao giờ thiếu vắng nụ cười. Ngày ngày ngồi dưới gốc đa, chàng lần chuỗi tâm kinh bình bát, “Xin cho con sống trọn một đời tu hành, chọn Trời làm mền, lấy đất làm giường, lấy hạnh phúc tha nhân là hạnh phúc của chính con”.

Dân làng đi ngang qua, có người dâng cúng trái chuối sứ, có người dâng tặng hành khất sĩ cái bánh cam. Trẻ em rắn mặt có tên nhặt đá ném người xuất gia. Có người không hiểu đạo lý diệt ngã của môn phái hành khất, cho nên đi ngang qua mở miệng mắng,

– Ơ hay chửa! Thanh niên trai tráng mặt mũi thông minh sáng láng như thế kia, tay chân vạm vỡ ra dáng người có ăn học như thế, mà lại lười biếng, không chịu đi làm! Rõ là nằm dưới gốc sung!

Ai cho chi, tăng sĩ trẻ tuổi cúi đầu, tay đưa lên trước ngực theo kiểu khất sĩ, miệng nói lời cám ơn.

Bị đá ném thẳng vào người, dù là to hay nhỏ, tăng sĩ vẫn yên lặng, thân mình không di chuyển, vầng trán cao không gợn một nét nhăn, nụ cười tăng sĩ vẫn nở trên môi, nhưng đầu cúi xuống tránh những hòn đá hiểm ác ném thẳng vào mặt.

Trước những lời la mắng, cự trách, người tu sĩ cúi xuống, tay chắp theo thế tâm kinh bình bát, mắt nhìn xuống nền đất, ánh mắt khoan thai tựa như Đức Phật ngự trên tòa sen.

Người trong làng, có mấy lần ghé tận gốc đa mời tăng sĩ về nhà dùng bữa cơm chay dưa muối. Nhưng tu sĩ bình bát nhã nhặn cúi đầu miệng nói lời cám ơn.

Ngày ngày trôi qua người tăng sĩ ngồi dưới gốc đa đã trở thành một phần đời sống của thôn làng. Sáng sáng lũ lượt kéo nhau đi ngang qua đầu làng chuẩn bị cho một ngày mới, người trong thôn nhận ra nhà tu sĩ vẫn ngồi thiền dưới gốc cây đa, ánh mắt hiền từ, nụ cười khoan dung.

Nhưng bất ngờ, vào một ngày kia người trong thôn nhận ra hai bộ quần áo tăng của người tu sĩ bị chuột nhắt gặm cắn nham nhở. Ái ngại cho tình cảnh đơn chiếc của tăng sĩ, có người quay về nhà mua tặng tăng sĩ hai bộ áo tăng mới. Nhưng tu sĩ lắc đầu, chỉ xin mượn kim chỉ khâu vá lại những chỗ rách.

Nhận ra những chú chuột nhắt là nguyên nhân chính tạo ra tình trạng cơ hàn lại thêm cơ hàn của tăng sĩ, có người chạy về nhà kiếm chú mèo mang lại tặng. Người này thông minh lanh lợi, ông không biếu tặng tăng sĩ một con mèo béo mập khỏe mạnh, mà là một chú mèo gầy đói ốm yếu nhưng hay bắt chuột. Dưới gốc cây đa, tăng sĩ nhìn chú mèo, thoạt tiên, chàng từ chối, viện lẽ ông thuộc về giới hành khất bình bát, không có quyền sở hữu bất cứ điều chi ngoài hai bộ y phục tăng sĩ và bình bát. Nhưng người chủ nhân của chú mèo ốm đói nói,

– Bạch thầy! Thầy nói đúng lắm. Nhưng con chỉ gởi tạm thầy chú mèo ốm đói nhờ phúc của thầy chăm nom dăm bữa nửa tháng mà thôi. Sau đó, con sẽ quay lại, xin lại chú mèo.

Nhận ra chú mèo gầy gò, ốm đói, bệnh hoạn, miệng kêu meo meo đói sữa, lòng từ tâm của tăng sĩ bình bát nổi lên, thế là chàng miễn cưỡng gật đầu.

Từ ngày có sự xuất hiện của chú mèo, chuột nhắt không còn dám lai vãng dưới gốc đa để cắn xé quần áo của tăng sĩ nữa. Nhưng cũng bởi có sự xuất hiện của mèo mướp hay chuột, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt tìm kiếm lương thực cho chú mèo. Nhận ra điều đó, có người trong thôn sáng chiều ghé vào dâng cúng thiền môn hai chén sữa cho chú mèo. Thế là xong xuôi một mối lo!

Ngày một ngày hai tiếp tục trôi qua, người biếu sữa cho chú mèo có chuyện phải rời bỏ thôn làng đi lên kinh đô làm ăn trong vòng một thời gian dài. Thôi thì cũng là nhất cử lưỡng tiện, ông liền quyết định mang con bò sữa lại gửi thiền sư gốc đa nhờ trông nom. Như thế chú mèo cũng có sữa, mà tăng sĩ cũng có thêm miếng sữa tươi uống hằng ngày. Nhìn chú bò, tăng sĩ không nói chi, miệng tiếp tục lời tâm kinh bình bát.

Bây giờ đã có nguyên một chú bò sữa quẩn quanh bên gốc đa, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt nhìn quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô. Bởi thế tăng sĩ không còn ngày ngày ngồi thiền dưới gốc đa nữa, nhưng sáng sớm chiều tối, chàng phải bỏ những buổi công phu tâm kinh bình bát đi quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô cho chú bò sữa.

Nhận ra tình trạng lúng túng của tăng sĩ, dân làng hội họp lại, và họ quyết định gửi tới gốc đa một người phụ nữ nhà nghèo cùng đinh khố rách, không công ăn việc làm để trông coi chú bò sữa cho nhà thiền sư. Thôi, thế cũng coi như là làm việc bác ái, một công hai việc, vừa là làm phúc cho cô gái, vừa là tiếp tục giúp nhà tăng sĩ không phải mất thì giờ công phu tu hành đi làm công việc dẫn bò ăn cỏ. Người trong thôn làng nhận ra đây là lần đầu tiên, khi nhận ra cô gái chăn bò sữa đang đứng trước mặt, vầng trán tu sĩ cao rộng thoáng gợn lên một đường hằn. Nhưng chàng không nói chi, tay chỉ ra phía sau. Thôn làng hiểu ý, người ta liền cất lên một ngôi nhà tranh nho nhỏ cho cô gái chăn bò sữa ở phía xa xa.

Ngày tháng trôi qua, đời sống của người trong thôn làng và người tăng sĩ gốc đa quay trở lại những nhịp điệu bình thường. Người trong thôn không còn phải lo cho tu sĩ nữa, bởi có người một phụ nữ đã được thôn làng cắt cử đặc trách công việc chăm sóc cho tăng sĩ. Tăng sĩ tiếp tục chăm chú vào những lời tâm kinh bình bát, bởi chàng không còn phải xao lãng và chia trí bởi những đường áo rách, bởi những chén sữa sáng chiều cho chú mèo, bởi những bó cỏ khô cho chú bò. Tất cả những điều đó, cô gái dưới túp lều tranh ở phía xa xa đã làm hộ chàng.

Tháng năm trôi qua, vào một buổi sáng, người trong thôn làng giật mình khám phá ra tăng sĩ không còn ngồi dưới gốc cây đa nữa.

– Ủa, tăng sĩ đi đâu rồi?

– Chắc là ông ấy lại cất bước lên đường viễn du với lời kinh bình bát của ông ấy rồi.

Trong khi người ta đang bàn tán về tăng sĩ bình bát, có người chỉ vào túp lều tranh,

– Trời ơi! Tưởng ổng đi đâu. Nhìn kìa!

Mọi người quay về hướng tay chỉ, ai cũng nhận ra tăng sĩ bình bát vừa từ trong túp lều tranh mở cửa đi ra. Chàng không còn mặc áo tăng sĩ nữa, nhưng trên người là một bộ áo bà ba màu nâu, cổ chàng quấn khăn rằn ri. Người đàn ông có một thời sống đời tăng sĩ bình bát mỉm cười, giơ tay chào mọi người trong thôn. Sau đó, chàng chậm rãi đi lại phía con bò, mở dây cột, rồi chậm rãi dẫn chú bò sữa đi ra ngoài cánh đồng.

Tỉnh thức? Khó đấy!

S.T.

From: TRUONG LE

LÁ RỤNG NƠI THIÊN ĐƯỜNG

LÁ RỤNG NƠI THIÊN ĐƯỜNG


– Này ông,
– Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
– Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
– Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà
đi chợ… Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà…?
Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

Hai ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi
động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm
bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
– Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
– Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
– Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
– Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn
những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỷ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi… Ông im
lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

Hai ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào.
Chợt ông bật cười:
– Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
– Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà
thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ
một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất…

Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà “giở giời” như vậy. Ở cái tuổi
răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không
hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà
có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn
có bà ở bên…
– Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy.
– Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.
– Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.

Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
– Bà nó ơi, bà sao thế?
– Ông… tôi mệt lắm… Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
– Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này.
Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
Bà mỉm cười.
– Ông ơi… Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
– Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

– Ông để tôi nói… Tôi làm những món ông thích nhất… và có cả bánh
gateau nữa… Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên… Tôi
cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm…Ông ở lại
mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé…
Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy
không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run
rẩy, và ông nói trong nước mắt.
– Bà ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà…
– Tôi muốn… nghe… điều ước… trong sinh nhật… của ông…
Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể
để đi theo người vợ thân thương.
– Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện
thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt…
Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến một thiên
đường khác, và chờ ông ở đó…

From:TRUONG LE

NẾU CHỈ CÓ MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG!

Image may contain: 1 person, text
Lệ Huyền to Những câu chuyện thú vị

NẾU CHỈ CÓ MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG !!

Có một cặp tình nhân rất yêu nhau, nhưng họ lại không hề biết trân trọng tình cảm mà họ đang có. Bởi vì họ luôn thích tranh cãi, để rồi cứ phải giận hờn nhau suốt năm, suốt tháng…

Rồi một ngày, người con trai này phải đi thi hành nghĩa vụ và tử trận nơi chiến trường. Khi mang xác người yêu về, cô gái này ôm khóc nức nở, rồi cô ngước mặt lên trời và nói: Lạy Thượng Đế, tuy con là người không có đạo, nhưng con luôn tin vào đấng tối cao. Con van ngài, xin cho chúng con có một ngày bên nhau, để chúng con có thể nói hết những gì chúng con muốn nói với nhau, nhưng chưa kịp nói. Con chỉ xin ngài một ngày bên người con yêu thôi!

Bất chợt trên trời có tiếng vọng xuống và nói : Nghe con than thở, ta thấy rất cảm động, nên ta sẽ ban cho con một ngày bên người con yêu. Nhớ yêu thương nhau hết lòng, vì sau một ngày, người con yêu sẽ phải ra đi vĩnh viễn!

Và rồi người thanh niên đã được sống lại, hai người ôm chặt lấy nhau như không muốn rời xa. Họ vội vàng nói cho nhau nghe hết những điều mà họ chưa hề nói, họ yêu nhau thắm thiết. Vì họ biết rằng, đây chính là ngày cuối cùng trong đời mà họ được yêu!

Rồi 24 giờ sắp trôi qua, lần này, họ lại cùng nhau qùy xuống để van xin Thượng Đế cho họ thêm một ngày nữa bên nhau. Thượng Đế thấy tội nghiệp, nên đã chấp thuận. Nhưng ngài nói thêm : Nếu hai con làm tốt, biết trân trọng và yêu thương nhau hết mình, ngày mai ta sẽ ban cho hai con thêm một ngày nữa. Nghe vậy, hai người mừng quá, nên họ yêu thương nhau bằng tất cả sự chân tình. Có lẽ họ đã biết rằng, ngày nào cũng sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời họ, để được sống và được yêu!

Rồi cứ như vậy, họ sống và yêu thương nhau bằng tất cả sự khao khát…Bây giờ, họ đã biết trân trọng tình cảm của nhau hơn xưa. Cũng chính vì lý do đó, nên Thượng Đế đã ban thêm cho họ từng ngày và từng ngày kế tiếp. Rồi kéo dài cho đến hết cuộc đời của hai người luôn!

Nếu bạn chỉ có duy nhất một ngày để sống, để yêu. Vậy bạn sẽ làm gì, sẽ nói gì với người mà bạn yêu thương nhất?!

Đừng đợi đến ngày mai bạn nhé, vì biết đâu, bạn sẽ không có ngày mai nữa thì sao?!

Đừng mang giận hờn vào giấc ngủ, vì có thể bạn sẽ không bao giờ thức dậy để nói những điều mà bạn muốn nói với người bên cạnh!

Hãy sống, hãy yêu nhau như ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Đó chính là cách để bạn giữ được hơi ấm cho tình yêu và hạnh phúc lâu dài !

Gen Lặn
—St—

NGƯỜI THỢ XÂY

Lm Trần Chính Trực to Công Giáo Rôma
Đời sống hiện tại là kết quả tạo dựng trong quá khứ

NGƯỜI THỢ XÂY

Người thợ xây nọ đã làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu trong nhiều năm cho một hãng thầu xây dựng. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình.

Hãng thầu rất tiếc khi thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị ông cố gắng ở lại giúp hãng xây một căn nhà trước khi thôi việc. Ông ta nhận lời.

Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây dựng căn nhà với những vật liệu tầm thường, kém chọn lọc, miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, căn nhà đã hoàn thành. Người chủ hãng mời ông đến, trao cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: “Ông đã gắn bó và làm việc rất tận tụy với hãng trong nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, chúng tôi xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!”

Thật là bàng hoàng! Nếu người thợ biết mình sẽ xây cất căn nhà cho chính mình thì hẳn ông ta đã làm việc cẩn thận hơn và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà ông biết rõ là kém phẩm chất như thế nào.

Câu chuyện người thợ xây cũng tương tự như chuyện đời của chúng ta. Cũng như người thợ già kia, chúng ta thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ, chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó.

Cuộc đời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Đời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn!
(st)

Image may contain: one or more people, house and outdoor

MỘT LY SỮA

Image may contain: 1 person, sitting

Chuyện Thú Vị

MỘT LY SỮA

Có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Hôm đó, cậu lục túi chỉ còn chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi mà bụng đang rất đói.

Cậu quyết định xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Cậu hốt hoảng khi thấy một cô bé dễ thương ra mở cửa. Thay vì xin ăn, cậu ta đành xin một ly nước uống. Cô bé nghĩ rằng cậu ta trông đang đói nên đem ra một ly sữa lớn.

Cậu uống từ từ, rồi hỏi: “Tôi nợ bạn bao nhiêu?”

Cô bé đáp: “Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt.”

Cậu ta nói: “Vậy thì tôi cảm ơn bạn nhiều lắm.”

Khi Howard Kelly rời căn nhà đó, cậu ta không những cảm thấy trong người khoẻ khoắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống rất mạnh mẽ.

Sau bao năm, cô gái đó bị ốm nghiêm trọng. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị căn bệnh hiểm nghèo này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời làm chuyên gia. Khi nghe tên nơi ở của bệnh nhân, một tia sáng lạ loé lên trong mắt anh ta. Anh đứng bật dậy và đi đến phòng cô gái. Anh nhận ra cô gái ngay lập tức. Anh quay trở lại phòng chuyên gia và quyết tâm phải gắng hết sức để cứu được cô gái. Anh đã quan tâm đặc biệt. Sau thời gian đấu tranh lâu dài, căn bệnh của cô gái đã qua khỏi. Anh cầm tờ hoá đơn thanh toán viện phí, viết gì đó bên lề và cho chuyển lên phòng cô gái.

Cô gái lo sợ không dám mở tờ hoá đơn viện phí ra, bởi vì cô chắc chắn rằng đến suốt đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này.

Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn: “Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa.”

Ký tên

Tiến sĩ Howard Kelly.

Mắt đẫm lệ, cô gái xúc động thốt lên: “Lạy chúa, tình yêu thương bao la của người đã lan rộng trong trái tim và bàn tay con người.”  

Chú Tư Mạnh

Chú Tư Mạnh.

Đỗ Duy Ngọc
23-6-2020

Những năm đầu của thập niên 80, sau năm năm lưu đày ở Củ Chi, tôi được về thành phố dạy một trường cấp ba ở gần nhà. Mỗi tuần chỉ có 12 tiết dạy của ba lớp cuối cấp, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông. Rảnh rỗi dù thời gian này, cả nước đang đói.

Nhưng tôi vốn vô lo, đến đâu hay đến đó, quanh quẩn với đồng lương chết đói, sống tạm qua ngày. Chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại bày đặt chơi chim. Chơi ở vườn Tao Đàn, sáng sáng xách lồng chim, đạp xe ra, tụ nhau lại đấu láo và nghe chim hót. Và cũng từ đó thành lập một nhóm cùng ngồi với nhau.

Người cao tuổi nhất nhóm là chú Tư Mạnh, hồi đó cũng khoảng năm mươi. Chú cao to như Tây, ăn mặc chải chuốt và thanh lịch như công chức cao cấp thời trước. Giọng rặt Nam bộ và hành xử cũng khá hào phóng với mọi người. Gia đình chú thuộc loại giàu có, hồi đó đa số đều đi xe đạp hoặc xe gắn máy cũ mèm, chú chơi xe Honda đời mới do đám viễn dương đem về bán, chiếc nào cũng giá mấy lượng vàng. Đôi khi cuối tuần, chú lại đến bằng xe hơi Peugeot có tài xế lái.

Lúc đầu, ai cũng tưởng chú là cán bộ có chức vụ về hưu, nhưng dần dần hỏi chuyện hoá ra không phải. Chú là dân buôn bán từ xưa đến giờ. Chuyên bán vàng. Lúc đó nhà nước cấm dữ lắm, nhưng nhu cẩu xã hội vẫn có, nên chú vẫn tiếp tục nghề xưa, dù là mua chui bán lậu.

Chú có đến ba căn nhà, toàn mặt tiền đường lớn, mà cái nào cũng to. Tụi tui cứ thắc mắc không hiểu với tài sản như thế mà sao gia đình chú lại thoát được mấy lần đánh tư sản khốc liệt vậy? Hoá ra là chú có người em ở rừng về, làm chức gì lớn lắm trong uỷ ban thành phố, nên tài sản chú được an toàn mà nghe đâu lại càng nhiều hơn khi có sự trợ thủ đắc lực của chú em.

Sáng nào cũng vậy, chú đều chơi dĩa bò kho bánh mì có bốn miếng thịt lớn, chú bảo chú rất thích món này, ăn hoài không thấy ngán. Thường thường, chú ăn hai miếng, còn hai miếng bà chủ đã biết ý, luôn gói lại đưa chú mang về cho hai con chó Fox bé tí tì ti.

Thời đó đói ăn, cả tháng làm giáo viên như tôi mới mua tiêu chuẩn được nửa kí thịt heo bạc nhạc với mỡ, nên thấy chú ăn sáng như vậy, tụi tôi thấy chú quá sang trọng, nên dù ngồi với nhau, tiếng nói của chú vẫn có giá trị hơn hẳn. Người giàu sang lúc nào cũng thế, giữa mọi người họ vẫn có vị thế cao hơn một bậc, bởi họ nhiều tiền hơn đương nhiên tiếng nói của họ được vị nể hơn.

Chúng tôi càng nể chú hơn nữa khi gặp hai đứa con của chú. Chú có hai đứa con, trai lớn gần ba chục, cô con gái nhỏ khoảng hai lăm, hai sáu tuổi. Cả hai đều rất lễ phép và cũng vừa lập gia đình. Mỗi lần đi đâu xa hoặc cuối tuần về quê chồng quê vợ, con chú đều ra tận nơi sân chim để chào và xin phép chú về thăm cha thăm mẹ. Lần nào cũng cúi đầu, khoanh tay chào hết mọi người khi đền cũng như lúc đi. Chú hãnh diện về điều này, mà tụi tôi cũng đồng ý về sự hãnh diện đó của chú. Cái thời buổi nhiễu nhương, ông thằng thay đổi tá lả thế này, nề nếp gia phong lộn tùng phèo mà còn được những đứa con như thế thì hãnh diện là quá đúng rồi!

Nhưng hoá ra là đóng kịch cả, là mưu mô cả. Lần hồi, các màn kịch cứ he hé và lần lượt diễn ra, tụi tôi nhiều khi không tin được, không ngờ cuộc đời lại có nhiều chuyện khốn nạn đến thế. Khi xã hội Việt Nam bắt đầu mở cửa là lúc màn kịch bắt đầu.

Đầu tiên là căn nhà ba tầng ở Bùi Thị Xuân, căn nhà lâu nay giao cho anh con trai lớn ở và bán buôn. Một ngày đẹp trời vợ chồng anh về thưa với vợ chồng chú là anh ta muốn sửa sang lại để biến thành khách sạn, bởi bắt đầu sẽ có khách du lịch về, doanh nghiệp qua, đón đầu như vậy mới thắng lớn được. Nghe bùi tai quá, vợ chồng chúng nó từ xưa đến nay ngoan ngoãn, biết lo làm ăn, chưa hề làm mất lòng hai vợ chồng chú. Thế là sang tên cho chúng để chúng chúng mở doanh nghiệp, xin giấy phép xây cất. Lại còn cho chúng mượn 300 lượng vàng làm vốn. Hai vợ chồng an tâm phần thằng Hai. Chúng nó làm ăn thành công thì mình lo chi tuổi già, xem như chia gia tài trước cho chúng. Giải quyết nhẹ bâng.

Lại đến cô con gái, cũng một đêm mát trời, con gái nằm gãi lưng cho mẹ vừa thủ thỉ: Vợ chồng con cũng đã lớn rồi, ba má cho chúng con ra riêng đặng lo cho tương lai. Ba má giao cho tụi con cái nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu đang cho thuê, tụi con dọn về đó mở tiệm vàng, bây giờ nhà nước cho tư nhân mua bán vàng, làm ăn tốt lắm. Ba má vẫn ở nhà này, tuổi già cần yên tĩnh mà ở chung thế này nhiều khi các con của con quấy quá làm phiền ba má.

Nói nghe lọt tai quá, nghĩ cũng hợp lí quá, sang tên nhà, đưa thêm 300 lượng làm hàng bán. Lúc đưa vàng, vợ chồng chú bắt phải có mặt con rể, hai vợ chồng cùng ký giấy mượn của vợ chồng chú 200 lượng, còn 100 lượng kia cho hai đứa bây làm vốn. Thế là xem như xong chuyện của hai đứa con, hai vợ chồng chú vui vẻ để lại tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc.

Đùng một cái, anh con trai lớn không biết làm ăn hùn hạp với ai, phải cầm cố nhà cửa, khách sạn. Rồi một ngày cả nhà trốn mất. Vượt biên. Khách sạn bị tịch thu, cửa khoá to đùng với tờ giấy dán chéo ghi: Vượt biên, phản quốc với mấy dấu đóng đỏ lòm.

Chú Tư Mạnh ốm mấy tháng, vợ chú lên cơn đau tim phải vào cấp cứu. Thôi! Của đi thay người, chỉ mong gia đình nó đến nơi bình an. Nhưng rồi, tin đến chẳng bình an, anh con trai chỉ đi ra được đến bãi là bị gài bắn chết ngay tại chỗ để bọn dân quân, công an cướp vàng. Cô vợ và đứa cháu bay ra được tàu lớn, nhưng rồi bão đánh chìm đâu đó ngoài biển sâu.

Vợ chồng chú suy sụp hẳn, chú vật vờ như mộng du, thương con, thương cháu đến đứt cả ruột. Một năm sau, không chịu thấu nỗi đau, không dằn nổi những cơn đau tim, vợ chú qua đời. Đến thắp nhang cho thím, nhìn thấy mái tóc mới qua mấy đêm đã bạc trắng của chú, chúng tôi xót xa cho bi kịch dồn dập đổ xuống gia đình của chú. Cô con gái và chàng rể quấn khăn tang lo hậu sự, nước mắt vẫn lả chã nhưng trong đầu cũng đang tính chuyện mốt mai.

Thế rồi khi tro cốt của vợ chú an vị ở chùa, ngày cúng thất đầu tiên, hai vợ chồng cô con gái vẫn còn mang áo tang đề nghị với chú: má mất rồi, ba tuổi đã lớn, ở đây một mình chẳng có ai chăm sóc gần gũi, gia đình mình giờ chỉ còn con với ba, ba bán căn nhà này đi, cho chúng con mượn thêm, làm ăn bây giờ hơn nhau ở chỗ vốn nhiều mới mong thắng lớn, về ở với vợ chồng con, để con được săn sóc ba tuổi về già, lúc đau ốm, đỡ buổn lo, quạnh quẽ.

Nghe đúng quá mà. Bây giờ chỉ còn mình nó, không ở với nó thì ở với ai? Một mình giữ tiền chi cho nhiều, đưa cho chúng làm ăn, có phải là sinh lợi hơn sao. Nỗi buồn chưa lắng xuống, nên chú Tư giao việc bán mua cho vợ chồng cô con gái, dọn về ở cùng con. Thế là cuối cùng, chú chỉ còn độc ngôi nhà này.

Lúc đầu, ông con rể bố trí cho chú ở lầu một, lên xuống cho dễ. Phòng này trước đây cháu ngoại của chú ở, bây giờ nó dọn lên phòng trên. Phòng tiện nghi, có cửa sổ, có máy lạnh, giường nệm êm, chú tự nghĩ thế cũng tốt, cũng là nhà của mình mà. Chú lại ra chơi chim với nhóm, dù không thường xuyên lắm. Tóc chú trắng xóa, khuôn mặt buồn không còn vui vẻ như trước, nhưng hàng ngày vẫn dĩa bò kho bốn miếng thịt, ăn hai miếng đem về hai miếng cho hai con chó Fox bé tí tì ti.

Nhưng cuộc sống vẫn chưa yên. Hai vợ chồng cô con gái bắt đầu kiếm chuyện. Đầu tiên là mấy con chim. Trước đây ông con rể khi ra chỗ chơi chim thường xách lồng ra xe cho chú, lặt cào cào cho chim ăn, hàng ngày phụ trách vệ sinh mấy lồng chim cho chú. Bây giờ ông con rể ngạo ngược bảo chim cò bẩn cả nhà, trưa nghỉ một tí cũng không yên bởi tiếng hót lanh lảnh của nó. Chú Tư tắm chim, phơi nắng cho chim, hắn đi ngang đá lồng lăn lông lốc và bảo: chật chội, vướng víu quá! Bực cả mình!

Đôi mắt chú ngày càng buồn, miệng chú càng ngày càng ít nói. Rồi từ lầu một, chúng dời chú lên phòng sân thượng, ông con rể bảo cho chú lên đấy để chú tiện gần gũi với chim, để chim phía dưới mất vệ sinh, thức ăn rơi ruồi bu, kiến đậu, lông chim bay ảnh hưởng sức khoẻ của mọi người. Chú bằng lòng với sự sắp xếp của nó, dù mỗi lần lên xuống cầu thang, chú phải nghỉ thở mấy lần.

Hồi còn ở dưới, đến bữa cô người làm hoặc cháu ngoại còn lên mời chú xuống nhà ăn cơm. Từ hồi lên trên này, chúng chẳng kêu, chẳng báo. Khi nào đói, chú lặng lẽ lần mò xuống ăn. Thức ăn lỏng chỏng như đồ thừa, nhiều lần ngồi ăn, chú rớt nước mắt. Chú thèm được một bữa cơm gia đình sum họp, đầy tiếng nói cười với những ánh mắt thương yêu. Mất hết rồi! Chẳng tìm đâu thấy nữa.

Hàng ngày, chú xách lồng chim ra ngồi với chúng tôi chốc lát, đó là niềm vui còn sót lại trong ngày của chú, chú xem chúng tôi như người nhà, nên những chuyện buồn, bất hạnh của chú, chú đều kể cho chúng tôi nghe. Chú vẫn còn ăn món bò kho, nhưng không gói thịt về cho chó nữa vì chúng cũng đã bị cậu con rể đá chết rồi.

Nghe tin chú bệnh, nhóm chúng tôi đến thăm chú. Bước qua cửa, chúng tôi được đón bằng cái nguýt dài của cô con gái, cái ánh mắt bực bội của chàng con rể. Chúng chẳng chào một tiếng, chẳng hỏi một câu làm chúng tôi ngỡ ngàng, sao con người biến đổi một cách lạ kỳ như vậy?

Chú Tư đón chúng tôi nơi phòng khách, kế bên cửa sổ nhìn ra sân, chú không dám nhìn thẳng mắt ai, ánh mắt như muốn xin lỗi, ngượng ngùng. Ngồi chưa nóng đít, anh con rể vừa nhả khói thuốc vừa nói vọng vào từ ngoài sân: Ba đưa mấy chú lên lầu, lát nữa tui có khách. Chú Tư nhìn ra, ánh mắt một thoáng như toé lửa, rồi hạ nhiệt ngay, cụp xuống đầy uất hận. Thấy không tiện, tụi tôi rút, ra về cũng không có một lời chào. Ai cũng chép miệng: Tội nghiệp chú Tư…

Cuối năm 92, nhóm chúng tôi tản hàng, anh Ba cộng hoà đi HO chuyến áp chót, anh Nam mắt kiếng đi diện đoàn tụ gia đình, tôi bỏ dạy sau một màn ác chiến với tay hiệu trưởng vừa nhậm chức, tôi rời bục giảng, mở công ty, chen chân làm doanh nghiệp. Công việc bận rộn, chẳng còn thời gian đâu mà chim với cò, nên cũng chẳng có dịp để gặp chú Tư Mạnh.

Đôi khi gặp đám chơi chim ở Tao Đàn, hỏi thăm tin tức về chú, có người bảo gặp, có kẻ bảo không, định bụng bữa nào ghé thăm chú một bữa. Tình cờ một hôm đi qua nhà chú, thấy người ta đập xây cao ốc mới, hỏi thăm mới biết nhà đã thay chủ, không biết gia đình chú dọn đi đâu, có người bảo đã đi hết ra nước ngoài. Tôi bặt tin chú Tư từ đó, lòng vẫn mong chú khoẻ, hi vọng ở nước ngoài, có viện dưỡng lão, chú được vào đó cũng đỡ khổ thân.

***

Tết Nguyên Đán năm 2005, thay vì tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trẻ bị bệnh ở khoa Nhi, bệnh viện Ung bướu như mọi lần, công ty chúng tôi đổi hướng đi đến thăm những người già ở nhà dưỡng lão Thị Nghè. Thấy các bé còn nhỏ đã mắc bệnh nan y, thương cho chúng chưa hưởng gì ở cuộc đời đã mang bệnh chờ chết, đau xót lắm. Nhưng dù sao các cháu khi bệnh, đứa nào cũng có mẹ, hoặc cha, hay ông hay bà thay phiên chăm sóc. Còn ở đây, trong thế giới người già, là nỗi cô đơn cùng cực.

Hầu hết các cụ ở đây đều không có gia đình, người thân, hoặc bị con cháu bỏ rơi. Họ cô độc trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, họ chờ đợi trong vô vọng những ánh mắt thương yêu của người thân, họ khát khao được nhìn mặt, cầm tay cháu con, nhưng không bao giờ toại nguyện. Họ chậm chạp trong sinh hoạt và chậm chạp đến lần với cõi chết.

Những căn phòng ẩm ướt, những áo quần chẳng lành lặn, những gói, những bao không biết đựng gì để đầy trên giường, dưới chân họ. Họ mừng khi thấy chúng tôi đến, họ vui khi nhận được quà, nhưng ánh mắt vẫn nặng trĩu nỗi muộn phiền. Ở cuối phòng, có một cụ già cứ lấy tay che mặt khi chúng tôi trao quà, tránh ánh mắt của tôi.

Tôi xong việc của mình, định ra, bỗng ông cụ buông tay, vươn cánh tay vẫy vẫy. Ông cụ gầy gò, da bọc xương, hai xương vai nhô lên như hai mảnh nhọn, bụng trương lên như trống. Tóc lơ thơ rụng gần hết, mắt đục lờ với khuôn mặt nhăn nhúm, vàng khè. Trên khuôn mặt đó, tôi tìm thấy một nét quen thuộc của ai đó mình đã từng gặp trong đời. Tôi chưa nhớ ra.

Ông cụ vẫn vẫy, tôi đi ngược trở lại và ông nắm lấy bàn tay tôi, nói nhỏ: Anh Ngọc phải không? Có còn nhớ tôi không? Tôi Tư Mạnh đây. Tôi giật mình, gai ốc bỗng rờn rợn. Trời ơi! Chú Tư Mạnh đây sao. Cuộc đời sao vậy trời. Sao chú lại ở đây, sao chú ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ôm chặt lấy chú, chú cũng ôm tôi và chú khóc, nước mắt ướt đẫm vai tôi và tôi cũng khóc theo chú. Hai người ôm nhau khóc một hồi, có ông cụ giường bên nhìn tôi với ánh mắt chẳng có chút thân thiện: Con cháu, anh em gì mà bỏ rơi ông cụ mấy năm liền, giờ còn khóc lóc gì? Chú Tư xua tay: Không phải, không phải đâu, người quen thôi mà.

Chúng tôi ra ngoài sân, ngồi trên ghế đá nói chuyện. Tôi hỏi chú, hay là mình qua bên đường uống cà phê. Chú gật, ánh mắt thoáng chút vui. Tôi xin phép cán bộ dẫn chú ra ngoài. Hai chúng tôi băng qua đường, chú đi khập khiễng, tôi phải dìu chú đi. Tôi hỏi chú muốn ăn gì không, chú nhìn tôi, ngập ngừng: Tôi… thèm ăn dĩa bò kho… dĩa bò kho bốn miếng thịt và ổ bánh mì thật dòn. Tôi chảy nước mắt ngồi nhìn chú ăn, chú ăn ngon lành, miếng thịt trệu trạo trong cái miệng móm mém gần hết răng của chú.

Và rồi chú kể cho tôi nghe tại sao chú có mặt ở đây mấy năm nay.

***

Anh biết không, con Hiếu, con gái khốn nạn của tôi, anh còn nhớ nó chứ? Tôi đặt nó tên Hiếu mà nó bất hiếu ác nhơn. Nó lấy hết tiền của tôi rồi lừa cho tôi vào đây. Hồi đấy, sau cái lần tôi bệnh, mấy anh em vào thăm, thấy chúng nó tồi tệ quá mức rồi, tôi chịu hết nổi nên nói với vợ chồng nó trả vàng cho tôi để tôi đi kiếm chỗ khác ở, dứt tình cha con. Nhưng chúng lật lọng, bảo chẳng nợ gì tôi. Tức quá tôi thưa, tôi còn đủ giấy tờ mà. Toà xử chúng phải trả nợ cho tôi. Chúng lần lửa mãi, và có trả tôi một lần mười cây vàng, hẹn cuối năm thanh toán hết.

Rồi bỗng dưng hai vợ chồng nó thân thiện, săn sóc tôi dữ lắm. Mua đồ này, thức nọ cho tôi ăn, sắm áo quần mới cho tôi mặc, đối xử với tôi rất nhẹ nhàng. Tôi nghĩ, thôi thì con mình đã biết suy nghĩ lại, gia đình, thân thuộc tôi chẳng còn ai, có đứa em trai thì bệnh ung thư chết mấy năm rồi. Làm cha mẹ phải biết tha thứ cho con.

Được mấy tháng thì một hôm nó nói mời cả nhà đi du lịch Nhật Bản, tôi vui lắm, hăm hở sửa soạn đồ đạc để đi đến mười ngày. Nhưng đến phút chót, lấy cớ có việc đột xuất, cả nhà nó ở lại, đành bỏ vé, nên tôi đi một mình. Đi du lịch cùng đoàn nên có bạn có bè cũng vui. Hôm đầu điện thoại về, còn nghe nó trả lời, hôm sau cũng còn, nhưng đến hôm thứ ba thì gọi mãi không được.

Tôi sốt ruột nhưng cũng đành chờ cho đến ngày cuối, do vậy chuyến du lịch bỗng mất vui. Nào ngờ khi về đến nhà thì cửa đóng im ỉm, bấm chuông mãi thì có người thò đầu ra mắng, cái mặt lạ hoắc. Hỏi anh ta là ai? Anh ta hỏi vặn lại tôi là ai? Tôi bảo tôi là chủ nhà, anh ta cười hô hố bảo tôi điên, rồi bảo anh ta đã mua căn nhà này rồi, đừng có kiếm chuyện.

Tôi như từ cung trăng rớt xuống, mồ hôi ra lạnh cả người và nằm thẳng cẳng giữa lề đường. Hàng xóm thấy vậy chở tôi đi nhà thương, đến khi tỉnh, được mọi người kể mới biết gia đình nó đi Mỹ định cư cả tuần lễ nay rồi, ai cũng tưởng tôi đã cùng đi với chúng nó.

Thế ra nó lừa tôi, nó giả vờ thương yêu tôi để tôi mất cảnh giác, nó lừa tôi đi du lịch để nó giao nhà và ra đi. Nó cướp hết số vàng mà vợ chồng tôi cho nó vay. Nó khốn nạn thế đấy, nó mưu mô hiểm ác vậy đấy. Thế là tôi trở thành kẻ vô gia cư. Còn ít vàng tôi để ở nhà, chắc nó cũng lấy đi rồi, tôi chẳng có cách nào để sống nên khi hết bệnh ở nhà thương, chính quyền đưa tôi vào đây ở mấy năm nay.

Tôi nghe mà bàng hoàng, không tin nổi nếu như không gặp chú Tư ở đây. Tôi không ngờ trên đời lại có những đứa con như vậy. Rồi cuộc đời nó có an lành để sống không? Con cái chúng sẽ nghĩ gì khi biết được cha mẹ chúng đã đối xử với ông chúng như thế? Tôi thật sự khiếp hãi khi nhìn thấy con người ta vì đồng tiền mà bán cả lương tri.

Tôi khuyên chú đi bệnh viện vì thấy chú yếu quá, nhưng chú bảo chú không muốn chữa bệnh, chú chỉ mong được đi mau để khỏi phải đau khổ và dằn vặt. Chú xin tôi một điều là gắng đến thăm chú và khi nào chú mất, làm ơn đem tro cốt của chú để vào chùa cùng nơi với vợ chú.

Đó lại là lần cuối cùng tôi gặp chú, Chủ Nhật sau tôi ghé chú thì chú đã đi rồi, trên tay tôi vẫn còn mang cặp lồng món bò kho bốn miếng thịt mà chú ưa thích.

Tôi lặng lẽ mang hủ tro cốt của chú vào chùa, làm thủ tục để cạnh hủ tro của vợ chú, từ nay hai vợ chồng sẽ mãi gần nhau và chú đi được vậy cũng là điều giải thoát cho một kiếp người.

Mong chú đến nơi không còn khổ đau, gian dối và lừa lọc. Mong chú yên nghỉ nghe chú Tư Mạnh.

Thương hiệu nổi tiếng tòan cầu DHL và chuyện tình tỷ phú Larry

Phan Thị Hồng

Một ngày ra đường nếu bạn gặp chiếc xe màu vàng mang thương hiệu nổi tiếng tòan cầu DHL … Hãy nhớ câu chuyện về “cuộc chiến” ADN này nhé với mục tiêu tối thượng là giành quyền thừa kế nhưng còn có những toan tính đến lạnh người …

Câu chuyện của cô Nguyễn Thị Bé vào những năm 1994-1998 đã làm rung động thế giới khi có thai với tỷ phú Larry Hillblom, một trong 3 thành viên sáng lập thương hiệu nổi tiếng tòan cầu DHL. Và trở thành cuộc chiến AND; cuộc chiến pháp lý lớn nhất nước Mỹ với hàng trăm luật sư tham gia …

Nguyễn Thị Bé là con gái áp út của vợ chồng ông Thân ở Tân Xuân, Hàm Tân, Bình Thuận. Bé sinh vào một đêm tháng 7.1974, ông Thân nghĩ thầm trong bụng, con gái tuổi Dần này rồi sẽ đa đoan và trắc trở.

Vợ mất sớm, ông Mười Thân gà trống một nách xốc vác nuôi tám đứa con, nhiều lúc trong nhà không có gạo để nấu đủ cơm cho các con ăn. Ngày đó, Tân Xuân vẫn còn nhiều rừng nên nhờ thế ông mới nuôi nổi các con bằng nghề đốt củi làm than. Những đứa trẻ sống lăn lóc như củ khoai rồi cũng dần lớn, đều sớm thất học vì một mình ông Thân không thể kham nổi. Bé học hết lớp 5 thì bỏ học và đi ở đợ cho những nhà khá giả trong vùng. Con bé đen nhẻm nhưng được cái lanh lợi và giỏi giang, ai kêu gì cũng làm. 13 tuổi, Bé có thể làm mọi việc từ gánh củi, gánh nước mướn, giữ em đến đi cấy, đi gặt ngồi đồng. Năm 1992, khi bước vào tuổi 18, Bé gạt nước mắt gói ghém vài bộ đồ cũ từ giã gia đình ra Phan Thiết để giúp việc nhà cho một người bà con xa.

Cũng trong thời điểm trên, trong quá trình đầu tư ở VN, tỷ phú Larry Hillblom bị thu hút bởi vẻ đẹp của Phan Thiết đã bỏ tiền ra mua lại khách sạn Vĩnh Thủy của Công ty du lịch Bình Thuận. Sau đó, ông đầu tư hàng chục triệu USD để xây dựng khách sạn bốn sao Novotel Coralia Oceane Dune và sân golf 18 lỗ được đánh giá là một trong những sân golf đẹp nhất châu Á Thái Bình Dương lúc bấy giờ. Khách sạn Novotel được kiến trúc như một chiếc du thuyền nằm sát bờ biển và sân golf tuyệt đẹp với diện tích 65.000m2 đã trở thành điểm đến ồ ạt của giới doanh nhân nước ngòai vào cuối tuần.

Cô Nguyễn Thị Bé được bạn bè rủ nộp đơn xin việc ở Novotel dù một chữ tiếng Anh cắn đôi cũng không biết. Để xóa bỏ cái tên nhà quê, Bé điền vào đơn xin việc với cái tên khá mỹ miều Nguyễn Thị Ngọc Hiền. May mắn sao cô Bé – Ngọc Hiền được nhận làm hầu phòng … Mấy tháng sau, từ một cô gái ốm yếu, đen đúa Bé đã phổng phao, trắng da, dài tóc và lọt vào mắt của ông chủ Larry Hillblom. Bé tâm sự với gia đình rằng cô hoàn toàn không biết Larry là một tỷ phú, chỉ thấy sự kính cẩn cúi chào của các nhân viên hay du khách khi ông đi ngang qua. Tâm sự của Bé là hoàn toàn thực tế bởi dù là tỷ phú, Larry Hillblom vẫn mặc quần jean, áo thun hết sức bụi bặm. Thỉnh thoảng tỷ phú này mới diện veston để ký kết hợp đồng với các đối tác hay tiếp khách.

Trong một lần dọn phòng, Bé đã trao đời con gái cho ông chủ thích con gái bản xứ những nơi mình đến đầu tư. Sau những lần như thế, ông chủ cưng Bé thấy rõ. Ông chủ thường dúi tiền cho cô tiêu vặt nhưng công việc hầu phòng của cơ vẫn không thay đổi. Rồi cái thai trong bụng cũng lớn dần khiến cô nôn ọe liên tục. Không dám thú nhận có bầu với ông chủ giàu có vì nghĩ mình nghèo, sợ mang tiếng “thấy người sang bắt quàng làm họ”, Bé lẳng lặng rời khỏi nơi làm việc trở về căn nhà dột nát của gia đình ở Tân Xuân.

Nghe nói khi Bé đã bỏ đi, tỷ phú Lary Hillblom đã cho người tìm kiếm mấy lần nhưng có lẽ cả người phái đi lẫn người được phái đi tìm đều thiếu quyết tâm. Cũng có thể cái tên Nguyễn Thị Ngọc Hiền và Nguyễn Thị Bé tréo nhau nên cuộc đời mẹ con cô Bé phải gặp nhiều sóng gió truân chuyên …
Sau khi trở về Tân Xuân để tránh búa rìu dư luận vì lấy Tây có thai ngòai giá thú nhưng Bé Hiền không thể trốn chui trốn nhủi trong căn chòi lá rách nát mãi được. Cái đói khiến dù chửa vượt mặt nhưng Hiền vẫn phải ráng ra đồng đi gặt, đi làm cỏ mướn để kiếm cái ăn.

Ngày mang thai, cô Bé Hiền không có tiền để mua sữa để uống, thậm chí thịt cá cũng chỉ là giấc mơ mà chỉ tòan cơm với rau mắm. Thế nhưng cuối năm 1994, thằng bé dù thiếu dinh dưỡng từ mẹ nhưng vẫn ra đời nặng gần bốn ký lô. Bà mụ vườn soi ngọn đèn dầu leo lét cắt rốn, vỗ đánh đét vào mông đứa bé khiến nó khóc ngằn ngặt rồi reo lên “Một thằng Mỹ lai, mày đặt tên nó là gì?” Ôm đứa con trai kháu khỉnh vào lòng, Hiền ứa nước mắt ghép tên của mình và người tình tỷ phú nhưng lóng ngóng thế nào cha cô lại ghi lộn chữ Larry thành Lory. Cái tên Nguyễn Bé Lory ra đời từ đó. Thằng bé nhổ giò lớn nhanh như thổi, nó có khuôn mặt tựa người cha điển trai của mình nhưng lại thừa hưởng mái tóc đen mượt của mẹ. Nghe tin Hiền sinh con, một người bạn của cô đã đến chụp Hiền và bé Lory ba kiểu ảnh rồi gởi lên Đà Lạt cho người thân cận chuyển đến cho tỷ phú Larry. Nhờ những tấm ảnh này (chúng tôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo) tỷ phú Larry mới biết mình có con rơi ở Việt Nam.

Năm 1995, khi thằng bé chưa đủ tuổi thôi nôi, một thanh niên tên T hơn Bé 2 tuổi ở Phan Thiết đến làm thợ hồ ở Tân Xuân xót thương hòan cảnh của Hiền ngỏ lời cầu hôn. Đối với Hiền đó là mối tình rổ rá cạp lại của mình nhưng đó mới thật sự là mối tình đầu đời của cô dù cả hai đều là những người cùng khổ. Anh T dọn về ở chung trong căn chòi lá với Hiền ở Tân Xuân và hai người cũng sống với nhau không giá thú. Tuy nhiên cuộc sống của họ thật sự hạnh phúc dù mỗi ngày phải làm thuê đong gạo ký. Bé Lory gọi anh T là cha và nó luôn quyến luyến, nũng nịu đòi cha bắt dế, bắt chim mỗi chiều khi anh T đi làm về. Nó hòan tòan không có thứ đồ chơi nào mà chỉ biết vọc cát quanh nhà. Thế nhưng căn nhà lá trống trước hụt sau vẫn đầy ắp tiếng cười của thương yêu.

CHUYẾN BAY TỬ THẦN.

Khi bé Lory giáp thôi nôi, cả cô Hiền và Lory đều không biết rằng cha nó, tỷ phú Larry Hillblom sắp có một chuyến bay cuối cùng. Cũng chính từ biến cố của chuyến bay tử thần này đã làm thay đổi cuộc đời của mẹ con cô Ngọc Hiền.

Trưa chủ nhật 21/05/1995, nghe tin tại đảo Micronesia gần đảo Saipan có một núi lửa vừa họat động trở lại, phun cột nham thạch khổng lồ cao cả trăm thườc. Máu tò mò nổi lên, tỷ phú Larry vội sai người chuẩn bị máy ảnh, máy quay phim, gọi hai phi công trực chỉ nơi có ngọn núi lửa đang họat động. Chiếc chuyên cơ mang tên See’s Bees không đến được nơi cần đến mà đâm đầu xuống một vùng biển nhỏ của Thái Bình Dương. Mọi sự tìm kiếm gần như vô vọng, 48 giờ đồng hồ sau tin chính thức được thông báo cả ba người trên chiếc chuyên cơ đều tử nạn. Larry Hillblom lúc đó vừa tròn 52 tuổi. Lập tức tòan thể thị trường chứng khóan tại New York, Berlin, Tokyo, London, … đều rúng động. Cả thế giới đều tỏ ý tiếc thương tay tỷ phú tài giỏi, hào hoa nhưng bạc mệnh này. Sau đó các đội cứu hộ chỉ tìm được xác hai viên phi công, riêng cái chết của Larry Hillblom mãi vẫn còn là bí ẩn vì đến nay vẫn chưa ai tìm được xác ông.

Cái chết của tỷ phú Larry Hillblom lúc đó vẫn chưa có một ảnh hưởng nào đến cậu nhóc Nguyễn Bé Lory lẫn mối tình nghèo của Hiền và T. Năm 1996, Hiền sinh một đứa con gái bụ bẫm cho anh T và đặt tên là Nhung. Bé Nhung chào đời, căn nhà lá chật thêm chút nữa nhưng đổi lại niềm hạnh phúc như được nhân đôi. Một đêm hè 1996 khi bé Nhung vẫn còn ẳm ngửa, Lory vừa lên hai tuổi thì có một nhóm người Tây có, Ta có đi xe hơi bóng lộn xuất hiện tại căn nhà lá của cô Ngọc Hiền. Một túi đồ chơi đắt tiền được đưa cho Lory nhưng lạ thay nó không buồn nhận mà như ý thức được điều gì đó nên khóc thét ôm chặt người cha dượng như không muốn rời. Hơn một năm trước khi đến với nhau, cả Hiền và anh T đều có chung lời nguyền rằng sẽ mãi thương yêu nhau và chỉ có cái chết mới chia lìa đôi lứa. Liệu lời nguyền có bị bước qua khi có cả một “chiến dịch’ xuyên quốc gia từ Việt Nam đến Hoa Kỳ chỉ để lấy được chữ ký của cô Ngọc Hiền.

Tỷ phú Larry Hillblom tử nạn nhưng không tìm được xác. Vì thế theo luật pháp Hoa Kỳ cần có một khỏang thời gian nhất định để Tòa án tuyên bố ông đã mất tích. Một tổ chức quản lý di sản của tỷ phú Larry Hillblom được lập ra để nắm giữ gần một tỷ USD của ông. Tòan bộ di chúc, thư từ, hình ảnh cá nhân để ở một số nước trên thế giới đều được niêm phong gởi về Mỹ chờ phía Tòa án tuyên bố xong mới có thể định đọat được số tài sản khổng lồ nói trên.

LỄ CƯỚI BẤT THÀNH.

Ông Nguyễn Kim Tỏan, người quản lý thân cận của Larry Hillblom tại Việt Nam từ 1991-1995 cho biết chính tay ông là người sắp xếp đồ đạc cá nhân của Larry và đóng gói gởi về Mỹ. Trong hàng đống đồ đạc cá nhân, ông Tỏan đã sắp tấm hình mẹ con cô Bé và Lory chụp chung vào thùng và niêm phong. Chính tấm hình này sau đó mới được các luật sư phát hiện và nhờ ông truy tìm cậu bé Lory để biến cậu từ một đứa bé nghèo đói thành triệu phú.

Theo ông Tỏan, trung tuần tháng 5/1995 tức khỏang một tuần sau ông Larry bay về Saipan và sau đó tử nạn, có một người từ Phan Thiết lên Đà Lạt gởi cho ông ba tấm ảnh mẹ con cô Bé Ngọc Hiền. Ông Tỏan mang ảnh lên phòng giao cho tỷ phú Larry và cho ông này biết ông ta đã có con rơi tại Việt Nam. Săm soi các tấm ảnh, tỷ phú Larry lẳng lặng bảo ông Tỏan lồng kính để trên đầu giường mà không nói gì. Khi chia tay ở Sân bay Tân Sơn Nhất, tỷ phú Larry dặn dò ông Tỏan chuẩn bị sắp xếp để khỏang tháng sau ông sẽ quay lại tổ chức đám cưới tại TPHCM.

Tuy nhiên mgười mà tỷ phú Larry định thành hôn không phải là cô Nguyễn Thị Bé mà là một cô gái tên M ở quận Phú Nhuận, TPHCM. Cô M có thời gian khá dài dạy tiếng Việt cho ông Larry và ngài tỷ phú đã yêu tha thiết cô gái xinh đẹp này. Chính tỷ phú Larry đã rửa tấm ảnh cô M với khổ lớn 60x40cm, lồng kính treo trong phòng ngủ tại Đà Lạt để ngắm mỗi ngày. Người đàn ông giàu có 52 tuổi này đã định dừng bước lãng tử của mình bên các bar rượu để tìm một mái ấm gia đình và định cư luôn ở Việt Nam để làm ăn nhưng tiếc thay tai nạn máy bay đã không còn cho ông có cơ hội. Nhiều người biết việc cũng tiếc cho cô M bởi nếu không có chuyến bay tử thần thì cô đã trở thành một mệnh phụ có tài sản hàng tỷ USD bên chồng!

Theo ông Tỏan, đầu năm 1993 tỷ phú Larry Hillblom đã một lần rơi máy bay riêng mà mình tự lái. Chiếc máy bay gần như vỡ vụn nhưng lạ thay ông Larry vẫn sống nhờ các bác sĩ ở Đại học Y khoa California tận tình cứu chữa. Sau khi nằm viện hơn 6 tháng, ông Larry trở lại Việt Nam với một khuôn mặt bị biến dạng; con mắt trái của ông cũng để lại hiện trường và hàng chục đinh ốc được gắn trong người. Thế nhưng tỷ phú Larry vẫn hết sức yêu đời, vẫn đánh golf mỗi ngày và tuy ăn kiêng nhưng vẫn có mặt ở các bar rượu thường xuyên đến 1-2g sáng. Larry từng đùa với ông Tỏan rằng dù mình có rớt máy bay lần nữa vẫn không chết và nếu muốn biến khuôn mặt thành một tài tử Holywood điển trai nào cũng được nhưng ông vẫn muốn giữ khuôn mặt thật của mình!

CHÂN DUNG NHÀ TỶ PHÚ.

Larry Hillblom sinh năm 1943 trong một gia đình bình thường ở California. Năm 1969 sau khi tốt nghiệp Đại học Luật Berkeley, chàng trai 26 tuổi chỉ có trong tay 3.000USD và định đầu tư vào cổ phiếu cho một hãng vận chuyển nhỏ ở San Francisco nơi đang làm việc để kiếm lời.

Tuy nhiên ý định trên nhanh chóng thay đổi khi Larry gặp Adrian Dalsey và Robert Lynn. Ba nhà đầu tư trẻ tuổi người California đã quyết định đầu tư vào dịch vụ chuyển phát bưu phẩm bằng đường hàng không từ San Francisco đến Honolulu ở đảo Hawaii. Thương hiệu nổi tiếng tòan cầu DHL được ra đời từ ba cái tên của các người đồng sáng lập là Dalsey, Hillblom và Lynn. Các ông cũng là người lập nên khái niệm đầu tiên về chuyển phát nhanh bằng đường hàng không. Vài chục năm sau DHL đã trở thành tập đòan hàng đầu của thế giới với 250 máy bay vận chuyển, 75 ngàn phương tiện chuyên chở, gần 200 ngàn nhân viên trải đều ở 5000 văn phòng đại diện ở hơn 200 quốc gia. Theo thống kê thì DHL là hãng hàng không lớn thứ 9 trên tòan cầu, cứ mỗi 58 giây lại có một máy bay chở hàng của DHL cất cánh. Ngòai bưu phẩm, sau này DHL còn nhận chuyển máu, thận và bất cứ thứ gì khách hàng yêu cầu. Thế nên có câu chuyện kể rằng một nhân viên DHL từng nhận chuyển phát nhanh một cánh tay giả cho khách hàng ở Luân Đôn. Người khách hàng này nhận và lắp cánh tay giả vào cánh tay còn thiếu của mình và dùng cánh tay đó ký vào biên lai của DHL!

Vào thập niên 1980, số vốn của Larry Hillblom trong DHL đã lên đến gần một tỷ USD. Sau đó ông giao lại cho người đại diện trông coi còn mình thâm nhập vào các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam để đầu tư các dịch vụ kinh doanh du lịch và gặp những mối tình của mình.

“CUỘC CHIẾN” PHÂN CHIA TÀI SẢN.

Cuối năm 1996, di chúc của cố tỷ phú Larry Hillblom được Tổ chức quản lý di sản của ông công bố. Theo đó vào năm 1982, ông Larry đã lập chúc thư nếu ông qua đời thì tất cả tài sản của ông sẽ đầu tư vào một quỹ từ thiện để tài trợ cho nghiên cứu y khoa. Đặc biệt là dành cho các công cuộc nghiên cứu của Đại học California. Trong chúc thư cũng cho biết dành một phần tài sản cho những người có liên quan.

Nhờ chi tiết cuối này, hàng trăm luật sư của những hãng luật danh tiếng Hoa Kỳ tức tốc nhảy vào cuộc bởi họ thừa biết Larry Hillblom có khá nhiều con rơi ở Đông Nam Á. Đối với các luật sư, chỉ cần thắng lợi phi vụ này là họ có thể sống cả đời do khối tài sản của tỷ phú Larry để lại quá lớn. Ngay lập tức người ta dễ dàng tìm thấy Luật Thừa kế của đảo Saipan, nơi Larry sinh sống trước khi tử nạn. Luật ở đây quy định sau khi lập chúc thư mà có con thì những đứa con này đương nhiên được ghi tên vào danh sách thừa kế gia tài của cha hoặc mẹ đã từ trần để lại. Theo đó các đứa con rơi của tỷ phú Larry Hillblom dù là con không chính thức, con ngòai ý muốn vẫn được thừa kế gia sản nếu chứng minh được là con của Larry. Sau khi công bố Luật Thừa kế đảo Saipan, đã có hàng chục cô gái ở các nước Đông Nam Á khai báo là đã có con với ông Larry. Riêng trường hợp của cô Nguyễn Thị Bé, các luật sư danh tiếng Rachel Kreavans và John Randolph Veague bất ngờ phát hiện tấm ảnh mẹ con cô chụp để lẫn trong vật dụng cá nhân của tỷ phú Larry Hillbom.

Hai luật sư lập tức bay sang Việt Nam và dễ dàng liên lạc được với cô Nguyễn Thị Bé. Với viễn cảnh sẽ trở thành triệu phú, sẽ là một trong những người giàu nhất Việt Nam, cô Bé cũng dễ dàng ký giấy ủy thác vụ kiện cho hai luật sư Kreavans và Veague.

Để đảm bảo an tòan cho cô Bé, Lory và bé Nhung tránh bị bắt cóc tống tiền và bị báo chí săm soi. Hai luật sư ứng trước một số tiền lớn đưa cô Bé cùng hai con vào một địa điểm bí mật ở Sài Gòn và thuê hai vệ sĩ người Mỹ cùng một số vệ sĩ người Việt bảo vệ họ hết sức nghiêm ngặt. Dù được vận động đi cùng nhưng anh T, người chồng gá nghĩa sau này với cô Bé kiên quyết từ chối.

Trước đây cứ ngỡ cuộc tình nghèo nhưng hạnh phúc của họ cũng chấm dứt sau khi cô Bé đặt bút ký vào giấy ủy thác vụ kiện cho các luật sư. Cả hai đều bước qua lời nguyền, anh T quay về Phan Thiết còn ba mẹ con cô Bé được bí mật đưa vào Sài Gòn và từ đó họ không còn liên lạc gì với nhau nữa.

Sau khi nhận đơn kiện, một thẩm phán của Tòa án California được cử sang TPHCM để gặp một số nhân chứng để thẩm định hồ sơ và tuyên bố thụ lý vụ kiện đòi quyền thừa kế. Theo đó các luật sư của cô Nguyễn Thị Bé đòi quyền sở hữu cho cu cậu Nguyễn Bé Lory 90 triệu USD không bao gồm thuế lợi tức và thuế tài sản liên bang. Để vụ kiện có thể đưa ra Tòa án phán xét cần phải có chứng cứ khoa học đó là xác định ADN của Lory và cha cậu. Tuy nhiên tỷ phú Larry Hillblom đã chết mất xác còn ngân hàng mô của ông tại Đại học California bỗng biến mất một cách kỳ lạ. Cuộc chiến pháp lý về AND bắt đầu với hàng trăm luật sư, nhà khoa học tham gia và chi phí để theo đuổi “cuộc chiến” này lên đến nhiều triệu USD!

PHÁP LÝ VÀ NHỮNG TOAN TÍNH.

Vào năm 1998 việc xác định ADN cho tám đứa trẻ giành quyền thừa kế có trùng khớp với người cha tỷ phú được xem là một trong những cuộc chiến pháp lý lớn nhất trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ. Người thân duy nhất của tỷ phú Larry Hillblom là mẹ ông lại bất hợp tác.

Trong khi đó các vật dụng cá nhân như quần, áo thậm chí dao cạo râu của ông Larry cũng biến mất một cách kỳ lạ. Ngay tại các bệnh viện ở California, Saipan mà ông Larry từng đến chữa bệnh hoặc nhổ răng cũng không tìm thấy lưu giữ được gì. Cả những chiếc xe hơi đắt tiền ông Larry Hillblom từng sử dụng tại Mỹ cũng được rửa sạch sẽ từ trong đến ngòai hết sức kỹ lưỡng. Tỷ phú Larry mất tích trên vùng biển Thái Bình Dương nhưng tại Mỹ nơi ông đã lớn lên và sinh sống các dấu vết của người tỷ phú lãng mạn này cũng không còn dù là một sợi tóc! Hàng lọat thám tử được gia đình các em bé giành quyền thừa kế nhờ luật sư đại diện thuê mướn tung vào cuộc. Tuy nhiên dù họ có giỏi bới lông tìm vết, soi mói khắp những ngóc ngách nghi ngờ tỷ phú Larry từng đến nhưng cũng không phát hiện được dấu vết gì và đều ra về trắng tay. Trong khi đó hồ sơ vụ kiện đã chất chồng, mỗi đứa bé đòi quyền thừa kế đều có cả chục luật sư đại diện còn Tổ chức quản lý di sản của tỷ phú Larry cũng thuê gần 100 luật sư để đấu tranh, bảo vệ tài sản cho gia đình ông Larry và tổ chức nghiên cứu y khoa Đại học California.

Đến cuối năm 1998, sau rất nhiều lần luật sư hai bên ngồi vào bàn thương thảo, vận động, mẹ ông Larry mới đồng ý cho lấy mẫu xét nghiệm ADN. Kết quả chỉ có 4 trong tám đứa trẻ mới chính thức là máu mủ của ông Larry gồm Nguyễn Bé Lory và ba cậu bé người Philipines và Saipan là Jellian Cuatero, Mercedita Feliciano và Larry Junior Hillblom. Nếu đồng ý, bốn đứa trẻ sẽ được hưởng bước đầu 300 triệu USD nhưng phải đóng thuế lợi tức và thuế liên bang gần 180 triệu USD. Riêng tổ chức nghiên cứu y khoa California được nhận 200 triệu miễn các lọai thuế. Phần tài sản còn lại để vào trương mục của các Ngân hàng, sau đó sẽ rút ra cấp phát tiếp. Tuy nhiên luật sư đại diện cho bốn đứa trẻ đều không chấp nhận.

CHUYẾN ĐI BÍ MẬT.

Phiên tòa dự kiến sẽ được đưa ra phân xử vào đầu năm 1999, thế nhưng các luật sư hai bên lại lobby với nhau, bắt tay thương thảo. Sau đó phiên tòa đã không diễn ra mà thay vào đó là những cuộc hòa giải, mặc cả với nhau của các luật sư.

Sau rất nhiều tranh cãi, rất nhiều cuộc thương thảo, họp bàn và cả những cuộc “đi đêm” bí mật. Cuối cùng cả hai bên đi đến thống nhất sau khi trừ chi phí, Nguyễn Bé Lory sẽ được nhận 40 triệu USD nhưng lúc đủ 18 tuổi mới được nhận số tài sản kếch sù trên. Theo quy định, cô Nguyễn Thị Bé mỗi tháng đều đến nhà băng nhận 5.000 USD để nuôi con chờ đến ngày Lory đủ tuổi trưởng thành. Qua tính tóan của các nhà làm tài chính Hoa Kỳ, khi Nguyễn Bé Lory đủ tuổi lãnh tiền thì cộng thêm số lãi, có thể sẽ được khỏang 60 triệu USD. Đó là chưa kể số tiền còn lại của cha mình mà Lory sẽ được nhận tiếp khi tổ chức quản lý di sản của tỷ phú Larry Hillblom giải ngân. Năm 2004, một trong bốn đứa con rơi của tỷ phú Larry Hillblom là cậu anh cả Larry Junior Hillblom đủ tuổi và đã được nhận số tiền thừa kế của mình. Trường hợp của Nguyễn Bé Lory; Jellian Cuatero và cậu em út Mercedita Feliciano đến năm 2015 đã nhận được số tiền thừa kế khổng lồ của mình. Trước đó, Tổ chức quản lý di sản của tỷ phú Larry Hillblom cũng đã giải ngân 50 triệu USD cho quỹ nghiên cứu y khoa Đại học California.

Đầu năm 1999, các luật sư đại diện của mẹ con cô Nguyễn Thị Bé bay đến Việt Nam làm hộ chiếu phổ thông cho cô Bé và các con sang Singapore du lịch để ăn mừng thắng lợi trong vụ kiện. Tuy nhiên đây chỉ là “động tác” của các luật sư cáo già đầy khôn ngoan. Máy bay vừa hạ cánh ở Singapore, lập tức mẹ con cô Bé được đưa lên ngay một chiếc máy bay khác mà họ đã book vé trước và tính tóan chi li đến từng giờ để đưa mẹ con cô bé sang Washington DC. Sau đó họ cũng đưa cô Đ, người từng là thư ký của tỷ phú Larry Hillblom tại sân golf Đà Lạt sang Mỹ để giúp thông dịch cho mẹ con cô Bé một thời gian. Dù rời khỏi Việt Nam bất hợp pháp nhưng sau đó cô Bé cùng Lory và bé Nhung cũng nhanh chóng được nhập quốc tịch Hoa Kỳ và được đưa về sinh sống ở một địa điểm ở một thị trấn duyên hải miền Đông Hoa Kỳ mà địa danh không được tiết lộ. Mẹ con cô Bé sống hòa nhập với cộng đồng rất nhanh.

Theo ông Mười Thân (cha cô Nguyễn Thị Bé), Lory và Nhung vẫn có thể trò chuyện được bằng tiếng Việt tuy phát âm còn lơ lớ do đã sang Mỹ sinh sống từ nhỏ. Cũng theo ông Mười Thân, chuyến trở về Việt Nam trước đây, cô Bé cho biết thời điểm đó dù thừa hưởng một gia sản lớn nhưng hiện cô Bé và các con vẫn phải sống với số tiền 5.000 USD mỗi tháng mà Tổ chức quản lý di sản của tỷ phú Larry Hillblom cấp phát. Cô Bé cho cha biết dù sống rất thỏai mái nhưng với số tiền này cô phải trích ra dành dụm nhiều lần mới có thể gởi về mua nhà và giúp đỡ cho cha cùng các anh chị em. Cô Bé cũng cho mọi người biết đã tính tóan thuê một số người quản lý số tài sản trên và giúp cậu Nguyễn Bé Lory và bước vào lĩnh vực kinh doanh như cha cậu.

Câu chuyện thừa kế gia sản 60 triệu USD đã có kết cục có hậu cho cuộc đời của cô Nguyễn Thị Bé vốn đa đoan và nhiều truân chuyên. Thế nhưng tại Việt Nam cũng còn một cậu bé Lory khác mà cuộc đời xô đẩy không khác gì cậu bé 60 triệu USD Nguyễn Bé Lory.

Khi Larry Hillblom chết đã có tới chín phụ nữ khai báo là đã từng quan hệ và có 11 đứa con với ông!

Trong số chín phụ nữ nhận có con rơi với tỷ phú Larry, sau khi thẩm định chứng cứ, người ta đã lọai ra hết một cô và sau khi xét nghiệm ADN chỉ còn đúng bốn đứa trẻ mới thật sự là máu mủ của tỷ phú Larry. Trong danh sách năm phụ nữ bị lọai có cả tên một phụ nữ Việt Nam mà hiện nay vẫn còn sinh sống tại Sài Gòn. Người phụ nữ này là Duyên (đã đổi tên) một tiếp viên nóng bỏng làm việc tại một nhà hàng phía sau Thảo cầm viên Sài Gòn là “đào ruột” của tỷ phú Larry. Mỗi khi ông Larry đến đây dù bận bịu thế nào cô Duyên bắt buộc cũng phải ngồi tiếp ông và không hề biết người khách là một tỷ phú nổi tiếng trên thế giới. Trong một đêm vui, lúc cao hứng tỷ phú Larry Hillblom đã thân mật chòang vai Duyên và yêu cầu chủ nhà hàng chụp một kiểu ảnh kỷ niệm. Tấm ảnh trên được cô Duyên rửa ra để trong album như những tấm ảnh bình thường khác mà không biết rằng tấm ảnh sau này được xem là tấm ảnh đắt tiền nhất thế giới!

Cuối năm 1994, khi đến nhà hàng T, ông Larry không thấy Duyên nên thắc mắc thì được biết cô Duyên đã xin nghỉ việc vì có thai. Lập tức tỷ phú Larry Hillblom tổ chức cho cộng sự tìm kiếm khắp hang cùng ngỏ hẻm. Sau đó ông Larry đã trực tiếp đi cùng người quản lý đến nhà cô Duyên trong một con hẻm lầy lội ở quận Bình Thạnh (TPHCM). Duyên đón tiếp ông Larry một cách hờ hững và cho biết cái thai trong bụng không phải của ông mà là của chồng mình. Người tỷ phú buồn so vì cứ nghĩ mình sắp có con, Ông chỉ lẳng lặng dúi 200USD vào tay Duyên trước sự ngỡ ngàng của cô bởi vị khách Tây ăn mặc bụi bặm lại quá hào phóng!

Sau khi sinh con do gia cảnh khó khăn, cô Duyên tiếp tục làm tiếp viên. Cũng trong thời gian trên thông qua báo chí, cô Duyên mới biết tỷ phú Larry Hillblom đã tử nạn và đang có hàng chục cô gái nhận có con rơi với ông để đòi quyền thừa kế. Xem ảnh, cô Duyên cũng không khỏi bàng hòang khi biết người khách bụi bặm từng ngồi với mình lại chính là tỷ phú Larry Hillblom!

Run rủi thế nào, năm 1997 cô Duyên lại được gọi phục vụ cho một nhóm khách “đại gia” nhiều quốc tịch. Nghe những vị khách giàu có bàn về câu chuyện tỷ phú Larry, cô Duyên liền góp chuyện và cho biết cô từng là “bồ bịch” và còn chụp ảnh chung với tỷ phú Larry. Lập tức các ông khách bỏ dở cuộc nhậu đưa ngay cô Duyên về nhà để xác minh và họ không tin vào mắt mình khi chứng kiến tỷ phú Larry ôm cô Duyên hết sức tình tứ trong ảnh.

Một kế họach được ba vị khách mang nhiều quốc tịch này nhanh chóng vạch ra. Họ yêu cầu cô Duyên đưa tấm ảnh quý giá trên và ký hợp đồng ủy thác vụ kiện cho họ. Thấy quá đơn giản, không có gì để mất nên cô Duyên đã nhanh chóng làm theo yêu cầu. Ngay sau khi làm thủ tục hồ sơ vụ kiện truy nhận cha cho cậu nhóc “Lory” con của cô Duyên, cả ba mang tấm ảnh bay sang Mỹ thuê luật sư vào cuộc. Tuy nhiên sau khi xét nghiệm AND đã kết luận cậu bé “Lory” hòan tòan không có quan hệ huyết thống với tỷ phú Larry nên bị lọai.

Dù đã xác định đứa bé trên không phải là con rơi của tỷ phú Larry nhưng vì nhân đạo, hơn nữa qua tấm ảnh cũng có thể xem cô Duyên là người có liên quan vì đã quan hệ với ông Larry một thời gian. Vì thế Tổ chức quản lý di sản Larry Hillblom sau khi trao đổi thống nhất với các đồng thừa kế đã quyết định tặng cho cô Duyên 3 triệu USD. Tuy nhiên cô Duyên chỉ nhận được 1,8 triệu USD do phải trả tiền chi phí luật sư và các lọai thuế quy định tại Hoa Kỳ. Nếu như số tiền trên được trao cho cô Duyên thì quả thật được xem là món tiền từ trên trời rơi xuống, còn hơn cả trúng số độc đắc. Thế nhưng sau khi nhận tiền, một đại gia chỉ đưa cho cô Duyên có … 80.000 USD, số tiền còn lại giấu nhẹm. Năm 2003, gã này phạm tội và trong lúc thực hiện việc khám xét, cơ quan điều tra đã phát hiện ra tấm séc chuyển 1,8 triệu USD từ một ngân hàng ở California, Hoa Kỳ. Sau đó qua đấu tranh, Hắn đã thừa nhận mình đã lừa đảo chiếm đọat của cô Duyên.

Cuộc đời của tỷ phú Larry sau này đã được James Sculock cho ra mắt tác phẩm “Larry: Cuộc đời và tàn tích một tỷ phú”; năm 2009 bộ phim Shadow Billionare (Tỷ phú bí ẩn – tạm dịch) được công chiếu tại Liên hoan phim Tribeca, Mỹ.

Nhiều người Việt và Mỹ cùng nhiều quốc tịch khác đã kiếm tiền tỷ từ câu chuyện này. Câu chuyện của tỷ phú Larry vẫn còn rất dài

Vy Nguyen Thi – NCCTV

Copy từ FB Kimtrong Lam

Image may contain: outdoor

Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !

Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !

http://vietmania.blogspot.com/2015/12/loi-ta-on-cho-mot-khuon-mat-moi-phung.html  

  • Phùng Annie Kim

David Rodebaugh, tay đua xe máy và Patrick Hardison, người lính cứu hỏa trước khi lâm nạn.

Patrick Hardison hay mọi người thường gọi anh là Pat đang ngán ngẩm vì công việc làm ăn có mòi ế ẩm. Cửa hàng bán vỏ xe hơi trên đường Main của anh không hiểu sao dạo này vắng khách. Nó nằm trong một khu thương mại thuộc thành phố Senatobia. Senatobia gốc là tiếng của người da đỏ “Senatohoba”, dịch sang tiếng Mỹ có nghĩa là “White Sycamore” là thành phố nhỏ thuộc quận Tate về phía Tây Nam tiểu bang Mississippi.

Thành phố Senatobia đang chìm trong cái nắng gắt và cái nóng bức của buổi trưa hè oi ả. Cây cối đứng lặng. Không một ngọn gió. Đường phố và bãi đậu xe thưa thớt bóng người. Người dân sống trong thành phố này đang trốn cái nóng và cái nắng ở trong nhà hay trong những nơi có máy điều hòa không khí. Nhiệt độ mùa này có khi lên đến một trăm mười độ F.. Bỗng tiếng điện thoại reo vang. Pat phóng vội lên xe. Có một đám cháy không xa lắm.

Khi còn học trung học Pat thích ngành cứu hỏa. Nghề buôn bán vỏ xe hơi là nghề tay mặt và là nguồn sinh kế chính của gia đình anh gồm một vợ và năm con từ nhiều năm nay. Anh là một lính cứu hỏa đã nghỉ việc nhưng vì yêu nghề, anh sẵn sàng tự nguyện phục vụ khi Sở Cứu Hỏa cần.Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc trong số hai mươi người trong thành phố tình nguyện làm công việc nguy hiểm và đầy bất trắc này.Anh được thông báo có một căn nhà trong khu “townhouse” đang cháy và anh lúc nào cũng sẵn sàng tham gia việc chữa cháy mà không có một chút thù lao nào.

Khi đội cứu hỏa đến nơi thì ngọn lửa đã bốc cao đến trần nhà phía sau nhà bếp. Người chồng chạy thoát ra ngoài và la lớn rằng bà vợ ông ta còn bị kẹt trong đó. Pat và ba đồng nghiệp đội mũ an toàn, mang mặt nạ chống khói và bộ quần áo bảo hộ đặc biệt của lính cứu hỏa. Từ cửa trước, họ tiến từng bước vào trong, vừa gọi vừa nhìn chung quanh tìm người đàn bà. Bất ngờ trần nhà sụp xuống chỗ Pat đang đứng. Cả một khối lửa chụp vào mặt Pat, bắt vào chất nhựa của chiếc mặt nạ làm chiếc mặt nạ bốc cháy, tan chảy ra cùng lúc với khuôn mặt anh. Trong lúc nguy biến, anh vẫn còn tỉnh táo tìm cách tháo bỏ mặt nạ ra, nín thở và nhắm mắt lại. Hành động này giúp ngăn khói không xông vào cổ và phổi đồng thời bảo vệ được đôi mắt. Tháo bỏ chiếc mặt nạ cũng là lúc sự đau đớn từ khuôn mặt cháy đen, nóng rát và biến dạng lan đến toàn thân làm anh mờ mắt, lảo đảo. Anh quỵ xuống trong tay của những người bạn đồng nghiệp. Họ kéo anh ra khỏi ngôi nhà trong tình trạng sức khỏe thật là tồi tệ.

Đó là ngày năm tháng chín năm hai ngàn lẻ một, “ngày định mệnh”của người lính cứu hỏa hai mươi bảy tuổi vì khuôn mặt của anh từ nay không còn là khuôn mặt của một con người bình thường.

Khuôn mặt Patrick bị tàn phá.

Pat được đưa vào bệnh viện chữa trị suốt sáu mươi ba ngày với nhiều cuộc giải phẫu. Anh đã mất hai tai và môi, cái mũi chỉ còn là miếng xương và mô mí mắt không còn khiến anh không thể nhìn rõ được. Nếu để lâu, anh có thể bị mù. Anh không dám nhìn mình trong gương. Một khuôn mặt đáng sợ, khuôn mặt của loài ma quái đã làm cho ba đứa con nhỏ của anh Alison, Dalton và Averi khóc thét lên khi nhìn thấy bố từ bệnh viện trở về.

Anh tâm sự làm sao trách được các con khi anh nhìn anh trong gương, anh cũng sợ…chính mình. Cái đầu trọc lóc, hai bên trơn tuột không có lỗ tai, đôi mắt nhỏ như hai cái lỗ, không có mí mắt trên, hấp háy và ti hí như mắt của loài kỳ nhông, cái miệng phẳng lì, méo mó, không có môi, cái mũi trơ xương nhọn hoắt. Kinh khủng nhất là những lớp da biến dạng, nhăn nhúm, chảy xệ xếp lớp trên mặt làm mặt anh thật đáng sợ.

Anh kể anh đã tìm cách đùa giỡn với chúng, kể chuyện về những con gấu anh đã đánh nhau với gấu nhưng chúng vẫn bỏ chạy, la hét và khóc ầm ỹ. Những giọt nước mắt của các con, của vợ anh cũng chính là những giọt nước mắt rơi từ hai cái lỗ nhỏ bất hạnh ấy để rồi có những lúc quá đau khổ anh đã muốn “Thà chết đi cho rồi”!. “Sống như thế không phải là đời sống”.

Trong vòng bảy năm sau đó, Pat đã trải qua liên tục bảy mươi ba ca phẫu thuật lớn nhỏ. Các bác sĩ đã dùng mô thịt và da đùi để tái tạo lại khuôn mặt gồm miệng, mũi và mí mắt nhưng cũng không thể làm cho khuôn mặt Pat trở nên bình thường. Một người bạn thân đau lòng trước sự đau đớn hành hạ thể xác Pat, sự mặc cảm trước đám đông và từ chối không muốn gặp ai, cuộc hôn nhân kéo dài được mười năm đến nay đã kết thúc, tâm lý bị các con ghê sợ và tránh xa, lại thêm chứng nghiện thuốc giảm đau và công việc kinh doanh bị trở ngại đã khiến cho người bạn này viết thư cho tiến sĩ Eduardo Rodriguez, người y sĩ tài năng đã thực hiện ca phẫu thuật cấy ghép mặt thành công năm hai ngàn lẻ hai tại Đại học Trung tâm Y Tế Maryland. Pat cầu xin sự giúp đỡ của ông, một cơ hội để đưa anh trở về đời sống bình thường. Nhận được thư, tiến sĩ Rodriguez hứa sẽ cố gắng hỗ trợ trường hợp của Pat và đưa anh vào danh sách chờ đợi vào tháng tám năm hai ngàn lẻ bốn.

Và Bác sĩ gốc Cuba Eduardo Rodriguez, người đạt kỳ tích.

Mười năm chờ đợi ca mổ, mười bốn năm sống trong đau khổ và gần như tuyệt vọng vì nổi bất hạnh, người khác có thể đã bỏ cuộc nhưng đối với Pat, anh đã có những đức tính cần thiết như can đảm, kiên nhẫn, sự tận tụy, trách nhiệm, niềm tin và hy vọng. Bác sĩ Rodriguez đã nhận xét Pat là một bệnh nhân được tuyển chọn hoàn hảo, một “ perfect candidate” thích hợp để thực hiện ca mổ phức tạp này.

Con đường thực hiện ca mổ này đòi hỏi Pat phải trải qua nhiều cuộc thí nghiệm, bảo đảm Pat sẵn sàng về tâm lý và thể chất nhưng vấn đề quan trọng nhất là phải tìm người hiến tặng các bộ phận thích hợp với cơ thể của Pat. Một người gốc Á châu, một phụ nữ, đợi đến người thứ ba là David Rodebaugh sống ở Brooklyn New York mới đúng là người mà bác sĩ hài lòng.

David hai mươi sáu tuổi, làm nghề thợ máy, một tay đua xe gắn máy đã từng thắng nhiều giải thưởng, có máu giang hồ, có cùng loại máu, loại tóc, màu da, cấu trúc xương, cân nặng phù hợp với cơ thể của Pat. David lái xe gắn máy tránh một người phụ nữ trên đường làm anh ta ngã xuống. David không đội mũ bảo hiểm nên đầu đập mạnh trên đường. Bác sỹ đã mổ David hai lần nhưng David bị hôn mê, rơi vào đời sống thực vật. Gia đình đã đồng ý rút ống thở để David ra đi. Theo ý nguyện của David để lại, anh hiến tặng toàn bộ cơ thể cho chương trình “Live-On NY” hay còn gọi là “The New York Organ Donor” trong đó có khuôn mặt của David dành cho Pat.

Tiến sĩ Eduardo Rodriguez khoa trưởng trung tâm y khoa Langone của trường đại học New York bắt đầu ca mổ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng ngày mười bốn tháng tám với một đội ngũ bác sĩ giỏi và y tá chuyên nghiệp gồm một trăm người.

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ trước khi mổ, khuôn mặt David phẳng và dẹp, hai bên lỗ tai có xiên lỗ và có một cái sẹo hình móc câu ở sọ trong ca mổ trước đây. Lát nữa đây, khuôn mặt này sẽ được bàn tay khéo léo của bác sĩ Rodriguez tách ra khỏi hộp sọ và nổi lềnh bềnh trong một thau có dung dịch lạnh pha chất dùng để bảo quản cho cho sự tuần hoàn máu (hemodynamic preserving solution). Nó không còn là của David. Nó cũng chưa thuộc về Pat.

Khi các bác sĩ khám nghiệm và tuyên bố rằng bộ não đã chết, bác sĩ Rodriguez lạng da đầu của David từ phía sau đến hai bên mang tai rồi vòng qua mũi. Thủ thuật tinh xảo và tài năng của vị bác sĩ người xứ Cuba này là làm thế nào cắt các mô “tissue” mà vẫn giữ được các sợi thần kinh, các bắp thịt, hai động mạch cổ đưa máu từ tim đến các bộ phận như đầu, óc, mặt, cổ (carotid arteries) và hai tĩnh mạch cổ đưa máu từ đầu về tim. (internal jugular veins).

Trong khi tiến hành phẫu thuật, một sự trục trặc bất ngờ xảy ra đó là tĩnh mạch cổ của David lớn hơn của Pat làm Pat bị chảy máu nhiều. Bác sĩ Rodriguez phải làm một thủ thuật đưa tĩnh mạch vào một cái lỗ được khoét thật nhỏ trên cạnh động mạch của Pat để cho máu chảy vào tĩnh mạch này làm cho máu ngưng chảy.

Hai phòng mổ cạnh sát nhau. Pat nằm trong phòng mổ phía bên kia trong tình trạng mê sâu. Anh không biết rằng khuôn mặt mới của David đang trên đường di chuyển. Bác sĩ Rodriguez đeo bao tay, ông chậm rãi nhúng sâu vào dung dịch có máu đỏ, lấy khuôn mặt ra khỏi cái chậu, vẫy nhẹ cho máu nhỏ xuống hết rồi ông nghiêng mặt nhìn lên ống kính chụp hình. Khi giơ cao trước máy chụp hình, khuôn mặt hình như phồng to hơn. Nó không còn là khuôn mặt của David nữa. Cái trán hẹp hơn. Hai gò má phình to hơn. Hai cái môi xệ xuống như đang mỉm cười. Bác sĩ Rodriguez và các bác sĩ phụ tá đều biết công việc mình phải làm. Họ nâng khuôn mặt của David đặt lên trên khuôn mặt của Pat. Họ cắt bỏ các vết sẹo, nối lại các mạch máu và giây thần kinh, sắp xếp lại các xương mặt, phục hồi hai mí mắt, điều chỉnh lại hai môi, sau đó “drapping” phủ lớp da trên mặt Pat như người ta trải chiếc khăn trải giường.

Khuôn mặt mới.

Hai mươi sáu tiếng đồng hồ làm việc căng thẳng. Từ khi chuẩn bị trước khi mổ, tiến hành làm phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sau ca mổ, số tiền chi phí lên tới con số từ tám trăm năm chục ngàn đến một triệu đồng. Số tiền này được trường đại học tài trợ. Đây là ca mổ tốn tiền nhất từ trước đến nay. Đó cũng là ca mổ phức tạp mất nhiều thời gian và có số bác sĩ và y tá tham gia đông nhất.

Trở lại ngành y khoa chỉnh hình, các ca mổ lớn cấy ghép mặt thành công và nổi tiếng trên thế giới trong vòng hơn mười năm nay đếm trên đầu ngón tay như năm hai ngàn lẻ một, bà Connie Culp, bốn mươi sáu tuổi bị chồng bắn. Năm hai ngàn lẻ năm, bà Isabelle Denoire ba mươi tám tuổi, người Pháp bị chó cắn. Năm hai ngàn mười, Oscar Wells ba mươi mốt tuổi bất ngờ lỡ tay tự bắn vào mặt. Năm hai ngàn mười một, Dallas Wiens, hai mươi tuổi làm nghề xây dựng bị phỏng vì điện giật… Đánh giá về sự thành công ca mổ của Pat, bác sĩ khoa trưởng trường đại học y khoa Robert Grossman nói: “ Đây là cái mốc chính và cũng là sự đóng góp quan trọng và to lớn về sự tiến bộ trong lãnh vực khoa học và ngành y khoa”.

Điều lo ngại nhất của giới y sĩ trong việc tiến hành phẫu thuật thay hoặc ghép các bộ phận đó là cơ thể chống lại sự tiếp xúc với các tế bào lạ.Trong vòng ba tháng theo dõi, bệnh nhân phải dùng một loại thuốc đặc trị chống lại sự đào thải các bộ phận cấy, ghép trong cơ thể.Theo thống kê, cứ ba trong năm trường hợp thay hay cấy, ghép, bệnh nhân chết vì các bộ phận mới không thích hợp này.

Da là bộ phận lớn và bảo vệ cơ thể. Nó là người lính đầu tiên và mạnh nhất chống lại bệnh tật và các vi trùng xâm nhập. Vì thế sau sáu tháng theo dõi và uống thuốc cho đến suốt đời, cơ thể Pat càng ngày phục hồi khá hơn. Pat có thể ăn được thức ăn bình thường mặc dù nói chưa rõ. Các vết sưng đỏ ở mặt xẹp và tan dần. Pat có thể đội mũ lưỡi trai, đeo kính râm, đeo tai giả đi mua sắm trong cửa hàng Macys mà không bị ai dòm ngó hay để ý về sự khác lạ trên khuôn mặt mới. Một khuôn mặt bình thường như những khuôn mặt của những người chung quanh được xã hội chấp nhận.

Sau đây là những lời tâm sự của Pat trong ngày lễ Thankgivings.

Sau ca mổ ngày mười bốn tháng tám năm hai ngàn mười bốn thành công, mỗi buổi sáng thức dậy, tôi tập một thói quen đó là đứng trước gương, tôi nhìn tôi trong gương với tất cả sự nhận biết từng cử chỉ và hành động mình đang làm. Tôi lấy tay xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má bầu bĩnh và toàn khuôn mặt tròn trịa với tất cả sự trân trọng. Cảm giác trơn láng, nhẵn nhụi, mịn màng của màu da trắng làm tôi liên tưởng đến một người, hơn cả một người bạn, một ân nhân, người cứu rỗi đời tôi: David Rodebaugh. Anh đã cho tôi làn da này.

Mỗi khi tôi xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má dọc theo hai bên thái dương, dưới cằm rồi vòng lên trên môi, hai tay tôi có cảm giác nham nhám, thô tháp, tôi biết rằng đó là những tế bào của những sợi râu quai nón và râu mép đang hoạt động. Chúng đang nhú dần từng ngày dưới làn da như những đóa hoa từ từ hé nụ. Chúng sẽ mọc dài ra rất nhanh, có sợi dài sợi ngắn và màu nâu đen. Đó là những sợi râu mạnh khỏe, đầy sức sống của David đang sống dậy trong làn da này và trên khuôn mặt tôi. Tôi không có râu quai nón. Đó là những sợi râu của người đã hiến tặng: David Rodebaugh.

Mỗi khi tôi nhìn đôi mắt tôi trong gương với hai lằn mí rất rõ làm cho đôi mắt càng ngày càng mở to ra sau khi hết sưng. Trên đôi mắt là cặp lông mày mọc khá dầy và có màu nâu đen cùng với màu của những sợi râu, tôi có cảm tưởng đôi mắt David đang nhìn và cười với tôi như muốn nói rằng sao chúng ta trông giống nhau thế hả anh bạn Pat?

Tôi thường ôm những đứa con tôi và hôn chúng trước giờ đi ngủ. Đôi môi của tôi màu hồng, hình giống như chiếc thuyền, có một nhân trung rất sâu ở chính giữa, môi trên mỏng hơn môi dưới. Khi môi tôi chạm trên đôi má mịn màng của những đứa trẻ, tôi có cảm giác đôi môi ấy mềm, láng, ngọt ngào của tình yêu thương. Khi David còn sống, tôi nghĩ rằng đôi môi yêu thương ấy đã từng hôn lên những đôi môi của nhiều người con gái trong cuộc đời của David, chàng thanh niên đẹp trai và lãng tử đã cho tôi một đôi môi đẹp và gợi cảm hơn cả đôi môi của tôi trước kia.

Tôi với David bây giờ là một. Chúng tôi có trong nhau. David không còn sống nhưng mẹ anh người phụ nữ tốt bụng đã đồng ý ký tên hiến tặng khuôn mặt David cho tôi. Khi đến thăm và nhìn khuôn mặt tôi, bà tưởng đã nhìn thấy con trai bà. Bà cảm động ôm tôi khóc òa và nói với tôi rằng: “Phép lạ của David sẽ sống mãi” (The miracle of David will live on).

Đúng như thế. Khuôn mặt của tôi là một “phép lạ” mà đứa con bất hạnh của bà đã ban cho một người đã chịu nỗi bất hạnh suốt mười bốn năm qua. Hạnh phúc của tôi bây giờ là sự bất hạnh vĩnh viễn của bà. Tôi không biết dùng lời lẽ nào để chia sẻ sự đau khổ của bà mẹ mất con cũng như tôi cũng không biết diễn tả thế nào về niềm hạnh phúc của người được xã hội chấp nhận là một con người. Sau tai nạn, trải qua nhiều sự đau đớn về thể xác và tâm lý, giữa sống và chết, hạnh phúc và đau khổ, được và mất… đối với tôi bây giờ cũng chỉ là những ảo ảnh của cuộc đời.

Người thứ ba tôi muốn nhắc đến với tất cả lòng biết ơn cùng với lòng kính mến, nể phục về tài năng và đạo đức của người y sĩ trong ngành y khoa đó là bác sĩ Eduardo Rotriguez. Khuôn mặt hiến tặng của David nếu không có đôi bàn tay khéo léo, tấm lòng nhân hậu, sự nhiệt tình và bộ óc siêu đẳng của ông trong nghề nghiệp chuyên môn, tôi sẽ tiếp tục sống trong cõi địa ngục trần gian đến cuối đời. Từ sự tuyệt vọng vì chờ đợi ca ghép mặt suốt mười năm quá lâu, ông đã an ủi tôi “Dont let you down”. Từ sự bi quan, ông cho tôi phân nửa sự lạc quan và sự thật “ It could give you a normal face or could kill you”.

Từ sự đau đớn về thể xác, ông cho tôi niềm tin rằng sẽ có những viên thuốc mới sẽ làm cho tôi vượt qua cơn nghiện. Ông theo dõi sát cơ thể tôi từ khi có đủ những điều kiện tiến hành ca mổ, khi tôi nằm trên bàn mổ cho đến sáu tháng sau ca mổ với ánh mắt lúc nào đăm chiêu và nghĩ ngợi sau mỗi lần khám bệnh hàng ngày.

Thế rồi một hôm, ông mời tôi cùng đi mua sắm với ông trong khu Macys. Tôi rất ngạc nhiên vì lời đề nghị này. Tôi và ông đi lang thang một lúc lâu, trong lòng nghĩ rằng ông đang cần tìm mua những chiếc áo sơ mi mới. Ông quan sát mọi người qua lại. Không ai quay lại nhìn hay quan tâm gì đến tôi cả. Ông nói ông muốn chứng kiến tận mắt hình ảnh xã hội đời thường chấp nhận tôi như thế nào. Khi nghe ông nói đến câu này, tôi đã bật khóc.

Trên đường về, ông khen tôi “You are special”. Tôi nói chính ông mới là người xứng đáng “You are special”?

Vài ngày sau tôi được ông trực tiếp đến tận giường bắt tay, ôm tôi và báo cho tôi biết tôi sẽ được xuất viện sau sáu tháng chữa trị. Nụ cười của ông lúc ấy thật rạng rỡ. Bệnh viện đã chụp rất nhiều tấm hình tôi trong ca mổ để theo dõi và làm tài liệu nhưng bức hình đẹp nhất sau mười bốn năm chạy trốn hình ảnh mình trên ống kính đó là tôi được chụp với ông trong buổi lễ chia tay và với những người đã từng gắn bó với tôi trong bệnh viện. Ông đã tạo nên một kỳ tích trong lịch sử y khoa ngành cấy ghép mặt ở xứ Mỹ và mãi mãi là thần tượng của tôi.

Ngoài ra, tôi muốn gửi những lời cám ơn đến đội ngũ các bác sĩ phụ tá bác sĩ Rodriguez và những người y tá mặc quần áo, đội mũ xanh làm việc âm thầm bên cạnh bác sĩ Rodriguez. Đó cũng là những chiếc áo trắng đi lại vội vã trên hành lang hay cắm cúi làm việc trong các phòng hành chánh, các phòng thí nghiệm, những người lao công, gác cổng, các sinh viên tập sự vô danh và rất nhiều người trong bệnh viện biết đến bệnh nhân Pat. Họ đã chăm sóc công việc vệ sinh, miếng ăn thức uống, chia sẻ từng viên thuốc, từng mũi kim chích trong những tiếng rên la vì đau đớn của tôi. Làm sao tôi kể cho hết còn biết bao nhiêu con người đóng góp cho quỹ học bổng của sinh viên trường đại học “the University Grant” đài thọ cho ca mổ này.

Cuối cùng tôi muốn cám ơn đến mái gia đình nhỏ của tôi. Các con tôi Cullen, đứa lớn đã vào đại học. Cullen và Brandon ngày đó chỉ đứng xa mà nhìn bố với ánh mặt sợ hãi. Còn ba đứa kia Dalton, Averi và Alison chắc đã quên hình ảnh chúng khóc thét lên và bỏ chạy khi thấy khuôn mặt của bố. Bây giờ chúng đã ôm tôi và cho tôi những nụ hôn nồng ấm như ôm hôn mẹ của chúng.

Cuối cùng, tôi muốn cám ơn Chrissi, người vợ cũ của tôi. Chrissi đã mệt mỏi vì phải chia sẻ bệnh tật của tôi rất nhiều trong mười năm qua nhưng sự chịu đựng của người phụ nữ có giới hạn. Cô ấy còn trẻ và cần có một sự thay đổi. Mặc dù hạnh phúc chỉ kéo dài có mười năm nhưng cô ấy vẫn còn trách nhiệm với các con của tôi. Với tôi, thế là đủ lắm rồi. Dù sao, cô ấy với tôi vẫn còn là tình bạn. Năm đứa con tôi vẫn là chiếc cầu nối giữa bố mẹ chúng.

Khuôn mặt mới. Cuộc đời mới. Niềm tin và hy vọng mới. Ngày lễ Thankgivings năm nay tôi muốn gửi một thông điệp đến mọi người thân yêu của tôi rằng trong những lúc tối tăm nhất của cuộc đời vẫn còn một tia sáng lấp lóe ở cuối đường hầm. Hãy bám víu lấy chút ánh sáng mong manh ấy và kiên nhẫn chờ đợi. Ánh sáng ấy sẽ có lúc lan tỏa và bừng sáng khi mình vượt qua được khúc quanh cuối đường. Tôi đang choáng ngợp đón nhận những tia sáng lấp lánh ấy. Đó là niềm vui đã trở lại trong trái tim tôi.

Ý tưởng này tôi học từ bác sĩ Eduardo Rogriguez, người ơn suốt đời và cũng là người đã cho tôi khuôn mặt mới.

Phùng Annie Kim
  

Tình yêu kỳ lạ của cha tôi

Tình yêu kỳ lạ của cha tôi .

Chuyện bên nhà:

(Chuyện kể của cô Nguyễn Thị An Lành, Nghệ An)

Đoàn Dự ghi chép

Kính thưa quý vị độc giả,

Cách đây không lâu, tôi (Nguyễn Thị An Lành -ĐD) đọc báo, thấy có đăng tin về câu chuyện của chị Nguyễn Thị Phương, người phụ nữ nằm liệt giường suốt 9 năm trời, và anh Trương Văn Chín, một người đàn ông khỏe mạnh bình thường, đã vì tình yêu cũng như tình thương sâu sắc mà hy sinh cuộc đời, chấp nhận làm chồng của chị mặc dầu chị bị tật nguyền, không có khả năng tự chăm sóc bản thân.

Hạnh phúc của họ đã đơm hoa kết trái trong một phép lạ không thể tin nổi. Đó là họ có một đứa con được sinh ra từ tình yêu, từ nỗi thống khổ cả về thể xác lẫn tinh thần của người đàn bà bị liệt nửa người, cũng như từ sự hy sinh cao cả của người đàn ông. Có lẽ trời đã thương xót, ban cho họ một thiên thần bé nhỏ để sưởi ấm lòng họ. 

Tôi đọc và đã khóc rất nhiều. Tôi nghĩ đến mẹ tôi, người đàn bà có số phận hơi giống chị Phương. Mẹ tôi cũng bị liệt nửa người nhưng cuộc đời mẹ tôi hình như có phần đau đớn hơn, éo le hơn và “ghềnh thác” hơn. Trước đây, tôi thường nghĩ chuyện của mẹ tôi là một câu chuyện kỳ lạ, hy hữu, khó có thể có một chuyện thứ hai tương tự như vậy trên đời. Nhưng té ra, trong cuộc sống vẫn có những chuyện về tình cảm của những con người kỳ lạ, như chuyện anh Trương Văn Chín và chị Nguyễn Thị Phương chẳng hạn.

Sự kỳ diệu của tình yêu

Câu chuyện của cha mẹ tôi bắt đầu như thế này:

– Cha và mẹ tôi là bạn học cùng lớp suốt 10 năm học. Ở ngoài Bắc trước đây, học sinh học theo hệ thống 10 năm, tức hết lớp 10 là hết trung học. Sau đó mẹ tôi thi đậu vào đại học còn cha tôi thì đậu vào một trường trung cấp, cả hai đều ở ký túc xá của trường mình trên tỉnh.

Mẹ tôi kể rằng chuyện tình cảm của mẹ lúc còn học trung học rất éo le. Ngày ấy, mẹ tôi là bí thư chi đoàn của lớp, vừa học giỏi, vừa hát hay lại vừa xinh đẹp nhất trường. Trong khi đó thì cha tôi là một học sinh tầm thường trong lớp. Điểm nổi bật nhất của cậu học trò này là ít nói, sống khép kín, gần như không được ai biết đến. Oái oăm thay cậu lại thầm yêu mẹ tôi, cô nữ bí thư xuất sắc của lớp. Tuy nhiên, hình ảnh chiếm trọn trái tim mẹ tôi không phải cậu học sinh đó mà là ông thầy dạy môn Văn trong lớp, bí thư đoàn trường, trẻ tuổi, đẹp trai, chưa lập gia đình. Thế nên, dù biết “người câm như hến” mang mối tình si nhưng mẹ tôi vẫn không để ý đến cậu.

Mới học lớp 10, tức cuối cấp III, 16 tuổi nhưng mẹ tôi đã lao vào yêu đương, lén lút vụng trộm như con thiêu thân lao đầu vào lửa với ông thầy đẹp trai, nói hay như gió đó. Yêu thầy, mẹ tôi quyết tâm thi đậu vào Đại học Sư Phạm cũng cùng khoa Văn để được bằng thầy. Trong khi đó thì cậu học sinh “con người ít nói” trong lớp chỉ đậu vào trường Trung cấp Công Nghiệp.

Mẹ tôi đã yêu hết lòng nhưng tình yêu của mẹ không được đáp ứng chung thủy như mẹ tưởng tượng. Khi mẹ từ trường ĐHSP Vinh, vượt 60km về trường cũ ở nơi quê nhà để báo tin cho ông thầy biết là mình có thai, hậu quả của việc đã quá si mê, vượt rào, ăn cơm trước kẻng, thì mẹ choáng váng phát hiện ra có một cô nữ bí thư chi đoàn khác cũng trẻ trung, xinh đẹp như mẹ hai năm về trước, đang quấn quýt với thầy bí thư đoàn trường, người yêu của mẹ.

Mặc dầu choáng váng, điên dại nhưng mẹ tôi vẫn kiên nhẫn chờ cho cuộc hò hẹn giữa thầy với cô học trò trẻ đẹp kết thúc, để gặp và nói chuyện với thầy về cái thai mà mẹ đang mang trong bụng. Bản chất của vị bí thư đoàn trường đẹp trai, thần tượng của bao nhiêu nữ sinh trong trường đã bộc lộ rõ khi thầy thẳng thừng trả lời: “Em bỏ cái thai đó đi! Cuộc sống còn dài, ai biết trước tương lai ra sao mà đã vội nói đến chuyện cưới hỏi, sinh con sinh cái. Anh chưa sẵn sàng cho việc làm chồng làm cha lúc này!”.

Mẹ đau khổ, thất thểu đón xe trở về trường đại học, nước mắt hòa với nước mắt.

Khi chuyến xe đò ban đêm chạy đến gần cầu Bến Thủy, cách trường ĐHSP mấy cây số, mẹ kêu cho xe dừng lại. Mẹ xuống xe, tới đầu cầu và tuyệt vọng với ý nghĩ là phải tự tử, phải chết đi để tránh mọi sự phiền phức. Mẹ – một cô gái mới 18 tuổi – thời của mẹ việc phá thai không phải dễ dàng. Mẹ không biết phá ở đâu và phá bằng cách nào. Ngoài ra, có thai trong khi còn đang đi học sẽ bị nhà trường kiểm điểm, kỷ luật, đồng thời cũng là nỗi ô nhục rất lớn cho cả gia đình, họ hàng thân thuộc. Mẹ đã đến bước đường cùng.

Không kịp nghĩ gì nữa, mẹ liều nhắm mắt gieo mình xuống sông trong đêm tăm tối mịt mùng.

Nhưng số phận không cho phép mẹ trốn chạy nỗi khổ đau dễ dàng như vậy. Lúc mẹ còn đang đứng đợi xe đò để trở về trường thì “người bạn ít nói cùng lớp” trước đây cũng có mặt trên chiếc xe đó. Cậu chỉ đậu vào trường Trung cấp Công nghiệp cách trường ĐHSP của mẹ hơn 3 cây số. Thứ bảy tuần nào cậu cũng đến trước cửa ký túc xá của mẹ để “trồng cây si” cho dẫu biết mẹ đã có người yêu là ông thầy dạy Văn, bí thư đoàn trường, trẻ tuổi, đẹp trai, một trời một vực so với cậu. Mẹ cũng đã nói rõ với cậu rằng giữa cậu với mẹ chỉ là bạn cùng lớp, không có gì khác. Mặc, cậu vẫn thầm yêu mẹ, làm như trên đời này ngoài mẹ ra không còn một cô gái nào khác chiếm nổi trái tim cậu. Trên chuyến xe khách ấy, cậu nhìn thấy mẹ lên xe với đôi mắt sưng húp vì khóc nhiều. Nhưng vốn nhút nhát, cậu chỉ lặng lẽ ngồi quan sát từ phía đằng sau. Khi xe chạy đến gần đầu cầu Bến Thủy, thấy mẹ đột ngột kêu xe dừng lại rồi mẹ xuống xe, thậm chí quên cả không xách theo chiếc ba lô nhỏ, hành trang của mình. Cậu rất ngạc nhiên, thoáng suy nghĩ rồi cũng xuống xe, xách hai chiếc ba lô, lẳng lặng đi theo sau.

Thấy mẹ đứng bất động như pho tượng bên cạnh thành cầu, cậu đoán rằng mẹ có chuyện gì buồn lắm nên mới có những cử chỉ lạ lùng như vậy. Trong lúc cậu còn đang chần chừ, chưa biết phải giải quyết thế nào thì mẹ đã gieo mình xuống sông. Cậu kinh hoảng, kêu thét lên và lao tới định níu mẹ lại nhưng không kịp, mẹ đã rơi xuống sông sát với mé cầu.

Tiếng hô hoán kêu cứu của chàng thanh niên khiến ông lái đò đang gác mái chèo nằm ngủ trên đò ở gần chân cầu. Ông là người chuyên làm việc từ thiện, đã bao năm nay đi vớt xác người chết đuối hoặc người nhảy xuống sông tự tử. Trong đêm tối, phải khó khăn lắm ông và cậu thanh niên mới tìm thấy “xác” của mẹ đang bị mắc ở gần chân cầu. Cái nhảy xuống sông của mẹ sát với đầu cầu đã làm cho mẹ không bị nước cuốn đi nhưng bị đập đầu vào bãi đá cạn, khiến mẹ bị liệt não một thời gian dài.

Mẹ nằm bệnh viện, bảo lưu kết quả học tập, và người bạn ít nói cùng lớp là kẻ duy nhất ở bên cạnh mẹ khi mẹ đã tới tận cùng của sự khốn khổ. Hôn mê mất hơn một tuần, khi mẹ tỉnh lại thì thấy người bạn cũ ở bên cạnh như người thân yêu nhất. Cậu ký vào mọi giấy tờ thủ tục để bệnh viện làm phẫu thuật cho mẹ, như một người chồng sắp cưới. Cái thai không giữ được vì cú va đập quá mạnh.

Mẹ nằm nhà thương, tương đối đã qua được cơn nguy kịch, qua được ranh giới giữa cái sống và cái chết, bấy giờ cậu mới báo tin cho ông bà ngoại, tức cha mẹ của mẹ ở quê nhà, được biết.

Không thể nói hết nỗi bàng hoàng của ông bà ngoại khi chứng kiến mẹ bị băng bó, nằm bất động trên giường bệnh, đầu tóc cạo trắng xóa do phải mổ cấp cứu trên đầu. Ông bà ngoại bị sốc và quá đau khổ trước tai nạn của con gái. Sau khi nghe bác sĩ thuật lại toàn bộ sự việc: mẹ bị tai nạn ra sao, nhảy cầu tự tử như thế nào, rồi cái thai trong bụng bị sẩy do cú va đập mạnh.

Con gái ông bà có chửa trong khi mới 18 tuổi còn đang đi học? Ông bà ngoại không thể giữ bình tĩnh được nữa, bèn gặp cậu bạn cùng lớp của mẹ để hỏi cho rõ ràng, vì lâu nay ông bà biết hai đứa là bạn học chung một lớp. Không ngờ, cậu bạn cúi đầu, nhận hết mọi tội lỗi về mình và thừa nhận chính mình là tác giả cái bào thai trong bụng con gái ông bà, khiến cô phải nhảy cầu tự tử. Ông bà ngoại không còn sức để đau khổ được nữa. Bà ngoại chỉ vào mặt cậu, chửi mắng cậu thậm tệ, còn ông ngoại thì làm đơn tố cáo lên trường Trung cấp Công Nghiệp, nơi cậu đang học năm thứ hai để nhà trường đuổi học cậu.

Sau tai nạn, mẹ bị liệt hai chân, tinh thần dao động nặng. Trước sự oan trái của người bạn cũ, mẹ chỉ biết khóc. Mẹ không thể học tiếp Đại học Sư Phạm được nữa. Giấc mơ tình yêu và ước vọng trở thành cô giáo dạy văn cấp III của mẹ đã bị dập tắt phũ phàng. Mẹ đối diện với thực tế bi thảm, không niềm tin, không tương lai và quá đau đớn về sự bội bạc của người yêu, cũng như tuyệt vọng về tình trạng sức khỏe của mình. Mẹ giờ đây trở thành con người tàn phế, phải rời giảng đường đại học để được cha mẹ thuê xe chở đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác với hy vọng phục hồi được chức năng đôi chân.

Mặc dầu ông bà ngoại đã gặp ban giám hiệu trường ĐHSP trình bày hoàn cảnh và xin bảo lưu kết quả học tập của mẹ trong hai năm qua, nhưng mẹ nhất quyết không nghĩ đến việc trở lại giảng đường để tiếp tục giấc mơ trở thành giáo viên cấp III của mình nữa. Mẹ nằm trong bệnh viện, trong những cơn đau đớn cả về thể xác cũng như tinh thần.

Từ một cô gái sôi nổi, vui tính và nhiều ước mơ, mẹ biến thành một người bị tự ti mặc cảm, luôn luôn nghĩ đến cái chết. Mẹ bám riết lấy ý nghĩ sẽ tìm cách tự tử để kết thúc tình trạng chán chường và bi đát đó.

Khi tất cả bạn bè, người thân của mẹ không còn năng lui tới, thăm hỏi, an ủi mẹ được nữa vì họ phải trở về với công việc học hành hay với đời sống riêng tư, thì người duy nhất còn lại gần gũi với mẹ chỉ là người bạn ít nói ngày xưa. Cậu đã bị đuổi học nên quyết định đi học nghề sửa xe gắn máy. Những lúc rảnh rang, cậu lén đến bệnh viện thăm nom và khuyến khích mẹ, khuyên nhủ mẹ hãy có can đảm vượt qua số phận. Ông bà ngoại vẫn căm ghét cậu, không tha thứ tội lỗi của cậu nên không chấp nhận cho cậu đến chăm sóc mẹ.

Thấy cậu oan uổng quá, đến lúc này mẹ mới nói với ông bà ngoại tất cả sự thật. Ông bà ngoại lặng người, bàng hoàng trước sự thú nhận của con gái. Nghe xong, ông ngoại khóc và nói với mẹ: “Con ơi, con nợ người ta món nợ quá lớn rồi. Còn cái tội của cha mẹ thì không thể nào rửa sạch được!”. Rồi ông ngoại lại khóc, ông đi tìm cậu thanh niên, quỳ xuống trước mặt cậu – một người chỉ đáng tuổi con của ông – để xin cậu tha thứ cho sự hiểu lầm và những thiệt thòi ông đã gây ra cho cậu. Cậu cuống quít đỡ ông dậy, rồi cả hai cùng khóc. Vốn tính ít lời, cậu chỉ vắn tắt nói với ông ngoại: “Xin cha cho phép con trông nom HT. Con yêu cô ấy lắm!”. Cậu chỉ nói được có vậy và ông ngoại lại khóc nức nở.

Cậu vừa học nghề vừa làm thêm ở trung tâm sửa chữa xe gắn máy. Cuối ngày, cậu lại vào bệnh viện với mẹ, chăm sóc tận tình và chu đáo như một người chồng, đó là điều mà cả mẹ lẫn ông bà ngoại cùng mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên, không thể giải thích được. Một thanh niên lành lặn, đầy sức sống, còn độc thân cũng như chưa từng có người yêu theo đúng nghĩa của nó, lại quyết tâm dành hết tình yêu cho một cô gái đã tàn phế cả tinh thần lẫn thể xác? Những vết thương lòng của cô đối với người “thầy” tệ bạc trước đây có thể lành được không? Không ai hiểu nổi tại sao cậu lại quyết định gắn bó cuộc đời mình với người con gái đã yêu người khác như thế.

Cha mẹ cậu khi biết chuyện này đã phản đối kịch liệt. Ông bà đến tận bệnh viện gặp ông bà ngoại và nói: “Ông bà đau khổ như thế nào về tai nạn của cháu HT thì đừng bắt chúng tôi phải đau khổ như vậy khi thấy con trai chúng tôi quá mê muội, suốt đời sẽ phải gánh cái gánh nặng vì cháu HT”.

Mặc cho cha mẹ mình khóc lóc van xin, thậm chí đe dọa sẽ từ bỏ nếu con trai cứ nhất định gắn bó với đứa con gái tật nguyền trên chiếc xe lăn, cậu vẫn một lòng, không hề suy suyển.

Mẹ tôi không chịu nổi sự đàm tiếu của dư luận cũng như phản ứng của phía bên gia đình người con trai, hơn nữa lại bị mặc cảm về sự tàn tật, nên bèn bí mật bỏ nhà ra đi với chiếc xe lăn.

Không ai có thể hình dung được mẹ đã ra đi với tình trạng cơ thể như vậy. Mẹ bỏ đi đâu với hai bàn tay trắng và đôi chân tật nguyền, ngay cả vấn đề vệ sinh cá nhân cũng không tự mình lo được?

Cả nhà bổ đi tìm. Cha tôi – bây giờ tôi dùng tiếng “cha” thay vì tiếng “cậu” hay tiếng “người thanh niên ấy” xa lạ trước đây – tất tưởi trên những chiếc xe Bắc-Nam để đi tìm mẹ. Tuyệt nhiên không thấy tăm hơi. Cả nhà đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất là có thể mẹ đã nhảy xuống con sông nào đó tự tử. Ông bà ngoại tôi đi báo với công an về sự mất tích của mẹ. Cha tôi ngược xuôi sông ngòi và những nơi cha đoán có thể mẹ đã tìm đến cái chết; cũng không loại trừ khả năng mẹ tá túc ở đâu đó để sống cuộc sống ẩn dật, trốn tránh tình cảm của cha cũng như những lời bình phẩm của thiên hạ và trốn tránh những dằn vặt trong lòng.

Không ai biết được rằng, mẹ đã quen biết một cô cùng cảnh ngộ, đã từng nằm điều trị trong bệnh viện với mẹ, nhờ cô khi về thì liên hệ giùm với trung tâm khuyết tật ở tận Ban Mê Thuột thuộc tỉnh Đắc Lắc. Khi đã biết rõ tình hình, mẹ nhờ cô mua vé xe, đưa mẹ lên xe tuyến Bắc-Nam để vào trung tâm dành cho người khuyết tật này. Mẹ muốn đi thật xa để xóa bỏ quá khứ đau buồn đồng thời để cha có cơ hội lập gia đình với người con gái khác, sẽ sống hạnh phúc hơn là sống với mẹ. Mẹ không muốn suốt đời cha phải gánh chịu bất công vì mẹ.

Nhưng mẹ đã lầmTình yêu của cha lớn và kỳ lạ hơn mẹ tưởng tượng. Cha đã tìm mẹ ròng rã suốt hai năm trời. Cứ mấy tháng một lần, khi nào dành dụm được chút tiền lương từ trung tâm sửa chữa xe gắn máy, cha lại xin nghỉ ít lâu để đi tìm mẹ. Cũng may công việc sửa xe gắn máy của cha rất thịnh hành và có thu nhập cao. Cha khéo tay, giỏi nghề nên ngoài việc làm ở trung tâm, cha còn có các khách hàng đem xe tới nhà nhờ sửa, nên tiền kiếm được không phải là ít. Tuy nhiên, suốt 2 năm trời, bao nhiêu tiền kiếm được cha tiêu xài vào việc đi tìm mẹ.

Không ai giải thích nổi tình yêu của cha. Trong trái tim cha chỉ có hình bóng của mẹ. Dù hai chân mẹ đã tàn phế, tâm hồn mẹ đã nhàu nát vì đã trao lầm tình cảm cho kẻ bội bạc, nhưng cha vẫn yêu mẹ và chỉ có một hình bóng của mẹ mà thôi. Không một trung tâm khuyết tật nào mà cha không tới, hoặc liên lạc bằng thư từ, hay bằng điện thoại, về người con gái bị liệt hai chân tên là HT với địa chỉ, quê quán cụ thể.

Cuối cùng, có lẽ trời phật cũng thương xót tấm lòng của cha dành cho mẹ nên đã cho cha gặp được mẹ. Nghe tin mẹ ở trung tâm khuyết tật Ban Mê Thuột, lập tức cha thu xếp vào ngay trong đó.

Lần đầu tiên sau 2 năm bỏ nhà ra đi, trông thấy cha, mẹ oà lên khóc và gục đầu vào ngực cha. Mẹ không thể hiểu tại sao một con người đã bị tật nguyền vì lầm lẫn như mẹ lại được hưởng tình yêu hiện tại. Người con trai ấy mặc dầu ít nói nhưng đã có mặt bên cạnh mẹ những lúc mẹ đau khổ nhất, tuyệt vọng nhất và khốn quẫn nhất.

Cha và mẹ đã có nhau trong hoàn cảnh như vậy sau bao cố gắng tìm kiếm của cha. Để mẹ đỡ bị tự ti, cha trở về nhà thu xếp rồi vào lập nghiệp ở Ban Mê Thuột. Cha xin với trung tâm khuyết tật cho mình mở một cửa tiệm sửa xe nho nhỏ ngay trước cổng trung tâm gần bên lề đường, vừa để kiếm tiền nuôi mẹ vừa để dạy miễn phí nghề sửa xe cho những người trong trung tâm tương đối còn khá lành lặn, có thể học được. Việc làm ăn dần dần khấm khá, các cô chú trong trung tâm rất quý mến, coi cha như người thân thiết cùng trong trung tâm mặc dầu cha là “người ngoài”, không bị khuyết tật.

Quý vị ơi, kể đến đây tôi lại bật khóc. Tôi xúc động như vậy không hiểu quý vị có cho là mau nước mắt hay không? Nhưng sự thật tôi rất kính mến cha tôi. Tôi thường hãnh diện với ý nghĩ rằng dù mẹ tôi có lầm lẫn trong thời tuổi trẻ nhưng Trời Phật đã thương xót, ban cho chúng tôi có một người cha như vậy. Cha mẹ tôi sinh ra tôi và một đứa em trai nữa. Hạnh phúc đã đến với mẹ tôi khi sinh được hai đứa con, một trai một gái. Mặc dầu bị liệt nửa người nhưng khả năng sinh nở của mẹ vẫn bình thường. Có thể là do ông trời đã nhón tay làm phúc cho mẹ, để mẹ có được thiên chức của người vợ là sinh được con để bù lại cho tình yêu kỳ lạ hết sức rộng lớn của cha. Mẹ không đi lại được, mọi việc vệ sinh cá nhân, rồi mang thai, rồi sinh nở, tất cả đều do cha lo. Chúng tôi sinh ra trong trạm y tế nhưng sau đó cha chăm sóc từ lúc còn đỏ hỏn cho đến khi trưởng thành.

Tuy nhiên, cuộc đời của mẹ chưa hết những phép mầu. Khi tôi lên 5 tuổi, có hai cha con ông cụ lang thuốc người dân tộc thiểu số, tình cờ chở nhau đi ngang qua thì xe bị hỏng, bèn ghé vào cửa hàng của cha để nhờ sửa chữa. Thấy mẹ ngồi trên xe lăn, trong khi chờ đợi, thầy lang bắt mạch giùm rồi nói rằng có thể chữa cho mẹ đi lại được nhưng phải thật kiên trì.

Cha không hy vọng nhiều song vẫn theo cụ vào bản lấy thuốc cho mẹ uống. Sau một năm trời ròng rã được cụ chữa chạy, mẹ tôi đã đứng dậy và đi lại được, tự làm những việc lặt vặt như vệ sinh cá nhân và đi lại trong nhà. Tuy nhiên, do bị liệt khá lâu nên hai chân của mẹ còn yếu, chỉ mới đi lại được khoảng ngắn, nhưng đó cũng là một điều may mắn quá sức tưởng tượng, không còn phải lệ thuộc vào chiếc xe lăn nữa. Mẹ rất sung sướng và càng biết ơn cha hơn. Mẹ thường nói cái ơn của cha kiếp này mẹ không trả được.

Cha mẹ tôi đã sống hạnh phúc bên nhau gần 25 năm nay. Hai chị em tôi đều đã lớn và có công ăn việc làm. Năm nào tết đến, chúng tôi cũng theo cha mẹ về quê ăn tết. Ông bà nội, ông bà ngoại hai bên đã hết phân vân về cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi và rất tự hào về sự yêu thương, chăm sóc của cha tôi đối với mẹ tôi.

Vậy đó, tình yêu kỳ lạ của cha tôi là như vậy. Rất nhiều lần tôi tự hỏi trên đời này có bao nhiêu người đàn ông có tấm lòng rộng mở như cha tôi. Thế nhưng, càng lớn lên, đi làm và tiếp xúc nhiều, tôi hiểu ra rằng trên đời có vô vàn những người tốt. Lòng tốt ấy có thể bị coi là bất bình thường, thậm chí bị chê trách là trái tự nhiên, song nó vẫn xảy ra, và như một phép mầu kỳ diệu, nó mang hạnh phúc đến cho những người kém may mắn, phải không thưa quý vị?

Nguyễn Thị An Lành

From: TU-PHUNG

MỘT CÂU CHUYỆN NHÂN VĂN

Image may contain: one or more people, wedding, flower and outdoor
Dung TranFollow

MỘT CÂU CHUYỆN NHÂN VĂN .

NÊN ĐỌC DÙ ĐÃ HAY CHƯA KẾT HÔN – DÙ ĐANG TUỔI TRẺ HAY ĐÃ ĐANG VỀ CÙNG GIÓ HEO MAY…

Khi tôi về đến nhà, vợ tôi đang dọn bữa tối. Tôi nắm lấy tay em và nói rằng, có chuyện này phải nói với cô ấy. Em ngồi xuống, không nói gì chỉ lặng lẽ ăn. Tôi nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt kia, dường như em cũng biết tôi định nói gì.

Quả thực lúc này tôi không biết phải mở miệng thế nào. Phải rất lâu tôi mới thốt lên được, tôi muốn ly hôn. Không quá ngạc nhiên, em chỉ hỏi nhỏ: “Tại sao?”.

Tôi tránh câu hỏi ấy, điều này đã làm em giận dữ. Em ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi: “Anh không xứng là đàn ông!”.

Đêm đó, chúng tôi đã không nói chuyện với nhau. Em muốn biết điều gì đang thực sự xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng thật khó để đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Chẳng lẽ phải nói thẳng rằng trái tim tôi đã thuộc về người con gái khác và rằng tôi không yêu em nữa, tôi chỉ thương hại em mà thôi.

Tôi biết mình là người có lỗi nên trong đơn ly hôn, tôi viết rõ em sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi cùng 30% cổ phần của công ty tôi. Em liếc nhìn và sau đó xé nó ra từng mảnh. Người phụ nữ đã gắn bó với tôi hơn 10 năm qua đột nhiên trở thành một người xa lạ. Cuối cùng, em cũng òa khóc, trái tim tôi cũng dằn vặt ghê gớm nhưng thực sự tôi yêu Jane – cô người tình bé bỏng của tôi rất nhiều.

Ngày hôm sau, tôi trở về nhà rất muộn và thấy em đang viết gì đó. Dù vẫn chưa ăn tối nhưng tôi không cảm thấy đói và đi thẳng vào phòng ngủ sau một ngày mệt mỏi đưa Jane đi chơi. Nửa đêm, có đôi khi tôi tỉnh dậy, vẫn thấy em ngồi ở bàn viết nhưng bây giờ với tôi, đó đâu phải là điều đáng quan tâm.

Sáng hôm sau, trong sự ngỡ ngàng của tôi, em đưa ra điều kiện ly hôn. Em không cần bất cứ thứ gì từ tôi, chỉ cần cần thông báo một tháng trước khi ly hôn và rằng, trong một tháng ấy, cả hai chúng tôi phải coi như không có chuyện gì xảy ra. Lý do rất đơn giản, con trai của chúng tôi sẽ có một kỳ thi quan trọng trong tháng tới và em không muốn con bị phân tâm bởi quyết định ly hôn của bố mẹ nó.

Ngoài ra, cũng trong một tháng ấy, em yêu cầu tôi nhớ lại cách tôi đã bế em vào phòng tân hôn trong ngày cưới của chúng tôi, rồi mỗi sáng lại bế em ra cửa phòng. Em đã khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, có lẽ cú sốc lớn này khiến đầu óc em không còn tỉnh táo. Tuy nhiên, với những gì tôi gây ra cho em, điều này không hề khó và tất nhiên tôi đồng ý với những yêu cầu kỳ quặc ấy.

Kể từ khi tôi có ý định ly hôn, giữa chúng tôi đã không còn sự đụng chạm thể xác. Vì vậy ngày đầu tiên khi tôi thực hiện điều kiện của em, cả 2 chúng tôi đều rất ngượng ngùng. Con trai chạy theo hò reo thích thú làm cho tôi bỗng nhiên có chút gì đó đau đớn. Tôi bế em từ phòng ngủ ra phòng khách, đặt xuống cửa và em ra ngoài đợi xe buýt, còn tôi lái xe đến văn phòng. Thế là kết thúc ngày thứ nhất.

Vào ngày thứ hai, cả hai chúng tôi đã hành động tự nhiên hơn. Em dựa vào ngực tôi, tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của em. Chợt nhận ra rằng, đã lâu tôi không còn thói quen nhìn ngắm người phụ nữ này. Có vẻ như em đã không còn trẻ nữa, những nếp nhăn trên khuôn mặt xuất hiện, mái tóc cũng đã xơ xác hơn xưa. Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã lấy đi tuổi trẻ của em. Bỗng nhiên trong đầu tôi lóe lên câu hỏi: Tôi đã làm gì với em thế này?

Sang ngày thứ ba rồi ngày thứ tư, khi nhấc bổng em lên, tôi nhận thấy một cảm giác rất đỗi quen thuộc. Đây chính là người phụ nữ đã đi cùng tôi suốt 10 năm qua.

Vào ngày thứ năm và thứ sáu, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng, sự thân thiết tưởng chừng ngủ quên từ lâu nay bỗng nhiên trở lại. Tôi đã không nói với Jane về điều này.

Cho đến một ngày, tôi thấy em thở dài vì mọi trang phục thường ngày dường như rộng hơn. Tôi giật mình thấy em đã gầy đi rất nhiều. Có lẽ em đã phải giấu kín rất nhiều đau đớn và cay đắng trong tim. “Bố à, đến giờ bế mẹ ra rồi kìa”, lời nói của con trai khiến tôi bừng tỉnh. Đối với nó, hình ảnh này đã trở thành một phần thiết yếu hàng ngày. Tôi ôm em trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách rồi hành lang, tay em vòng qua cổ tôi nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm em thật chặt, giống như nhiều năm về trước, trong ngày cưới của chúng tôi.

Vào ngày cuối cùng, nhìn em trong vòng tay của mình, tôi khó có thể cất bước. Con trai chúng tôi đã đến trường. Tôi lái xe đi, nhảy ra khỏi xe thật nhanh quên cả đóng cửa. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào đều sẽ làm thay đổi tâm trí vì tôi đã có quyết định của mình…

Tôi bước lên thềm, Jane ra mở cửa với nụ cười tươi rói nhưng tắt ngay sau đó khi tôi đã nói với cô ấy: “Xin lỗi em, Jane, anh không muốn ly hôn nữa”.

Jane nhìn tôi, đầy vẻ ngạc nhiên và sau đó, sờ trán tôi hỏi: “Anh có bị sốt không?”. Tôi gỡ tay cô ấy ra: “Xin lỗi, Jane, anh sẽ không ly dị. Anh nhận ra cuộc hôn nhân của anh trở nên nhàm chán có lẽ vì cô ấy và anh không đánh giá cao những chi tiết tưởng chừng vụn vặt trong cuộc sống hôn nhân chứ không phải vì không còn tình yêu. Bây giờ anh nhận ra rằng, anh đã đưa cô ấy bước vào cuộc đời anh thì có chết cũng phải chết cạnh anh”. Jane há hốc miệng khi nghe tôi nói và đột nhiên cô ấy cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và bật khóc.

Tôi xuống cầu thang và lái xe đi, trong lòng nhẹ bẫng. Đi qua tiệm hoa bên đường, tôi mua một bó thật đẹp về tặng vợ. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết gì trên bưu thiếp, tôi mỉm cười và viết :”Anh sẽ bế em ra, vào mỗi buổi sáng, cho đến khi cái chết chia lìa”.

Tối hôm đó về đến nhà, với bó hoa trên tay và một nụ cười rạng rỡ đã rất lâu rồi bị quên lãng, tôi chạy lên cầu thang, mở cửa phòng và nhìn thấy em đang nằm đó. Tôi biết được sự thật khi đã quá muộn… thì ra, vợ tôi đã một mình chiến đấu với căn bệnh ung thư trong nhiều tháng qua, trong khi tôi quá bận rộn với Jane.

Em biết cuộc sống của mình không còn kéo dài bao lâu và cho đến ngày đó, ít nhất em muốn trong con mắt của con trai mình, tôi là một người cha tuyệt vời, một người chồng đầy lòng yêu thương.

ST.

@ Ngoc Han Thuyen

Tranh của họa sĩ Andrei Belichenko

Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ

Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm

Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.

Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.

Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim.

Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9,   có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).Theo Con đường Thiên lý

From: TU-PHUNG

 Tâm sự người vợ H.O.

 Tâm sự người vợ H.O.

 Tôi không phải là nhà văn. Tôi cũng không phải là nhà thơ. Tôi chỉ là một cô giáo già với tuổi đời đã gần 80 và tuổi nghề 35 năm trong ngành giáo dục. Nguyện vọng của tôi khi viết bài nầy là để lưu lại một kỷ niệm thân thương cho con cháu khi chúng muốn tìm lại cội nguồn, khi muốn nhớ lại người mẹ, người bà yêu mến, chúng sẽ đọc và sẽ tự hào là người Việt Nam.

Tôi không bao giờ quên được ngày 30 tháng 04 năm 1975, ngày (…) và cũng là ngày biến cố quan trọng của đời tôi. (…) Con phải mất cha, vợ phải xa chồng, gia đình phải ly tán nhau! Bao nhiêu máu đổ thây phơi, bao nhiêu trái tim tan nát…

(…………………)

Chồng tôi, Nguyễn Văn Quy, bị gọi đi trình diện và bị đi học tập cải tạo ở Cây Cầy (Tây Ninh). Một mình tôi ở nhà, vừa làm cha vừa làm mẹ, nuôi dạy bốn đứa con còn nhỏ dại, đứa con trai lớn nhứt mới mười một tuổi, đứa con gái nhỏ nhứt mới năm tuổi.

Tôi dạy ban ngày ở trường tiểu học Bạch Đằng. Ban đêm thì dạy lớp bổ túc văn hóa cho quý cô, quý bác lớn tuổi thất học (mù chữ). Chủ Nhật thì dạy kèm tại gia cho các học sinh học kém. Ông bà ta thường nói “nhất nghệ tinh nhất thân vinh.” Thân vinh đâu tôi không thấy mà tôi thấy tôi cực như trâu. Mà đúng vậy các bạn ạ. Tôi tuổi Sửu. Mà con trâu thì ban ngày kéo cày, tối được nằm nghỉ ngơi. Tôi còn cực hơn trâu các bạn ạ. Người ta thường nói “trâu ruộng bộn bề không bằng một nghề trong tay.” Với nghề dạy học, tôi bán chữ nuôi cha mẹ bịnh tật già yếu, nuôi chồng đang học tập cải tạo trong lao tù khổ sở, nuôi bốn đứa con nhỏ dại tiếp tục cấp sách đến trường.

Cha tôi, tám mươi lăm tuổi, bị té gẫy xương hông nên đã nằm liệt giường suốt năm năm qua. Mẹ tôi tám mươi tuổi, bị mổ bướu buồng trứng ba lần nên sức khoẻ rất yếu. Gánh nặng gia đình oằn xuống trên đôi vai gầy yếu của tôi.

Có một lần nọ, bốn đứa con lần lượt bị ban đỏ (bệnh sởi). Nhìn các con nằm rên xiết trên giường, tôi đau lòng quá! Tôi quẫn trí, định đưa các con lên cầu Bình Triệu (Thủ Đức) để mẹ con cùng nhảy xuống sông chết hết cho rồi!! Nhưng tôi sực nhớ lại, tôi còn cha mẹ già yếu đang cần đến sự chăm sóc của tôi, còn chồng tôi đang học tập cải tạo, đang cần đến sự thăm nuôi của tôi và nhứt là, bốn đứa con yêu quí của tôi đang rất cần đến bàn tay mẹ hiền. Tôi tự nhủ thầm rằng “ Tôi Phải Sống.” Bổn phận làm con, tôi phải báo hiếu cho mẹ cha. Bổn phận làm vợ, tôi phải lo tròn đạo phu thê. Bổn phận làm mẹ, tôi phải nuôi dạy các con khôn lớn nên người. Ròng rã suốt bảy năm trời thì cũng có ngày chồng tôi được trả tự do.

Ngày 21 Tháng Giêng năm 1982, ngày mà chồng tôi được ra khỏi tù (…..), ngày mà cả gia đình tôi đều nở nụ cười mừng rỡ. Nhìn chồng gầy ốm xanh xao, tóc đổi màu bạc trắng, tôi cay đắng, nghẹn ngào.Tôi chạy đến ôm anh, chỉ thốt ra được hai tiếng “Mình ơi,” rồi nước mắt tuôn ra thắm đẩm gò má và loang lổ trên ngực áo. Anh thì cũng chẳng thốt được lời nào, chỉ ôm chặt lấy tôi với khóe mắt rưng rưng đầy lệ.

Ôi làm sao tả xiết cảnh đoàn tụ sao bao năm dài xa cách. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Kể từ bây giờ tôi sẽ có người bạn đời bên cạnh để chia sẻ vui buồn, để chung nuôi con cái, để phụng dưỡng cha mẹ già.

Mỗi tháng anh phải viết báo cáo và trình diện tại phường 24 quận Bình Thạnh (nơi cư trú của gia đình tôi). Sau một năm, anh đi làm thư ký cho khách sạn bên Khánh Hội dưới sự kiểm soát của phường. Đến năm 1984, tôi nhờ một chị bạn làm tại bưu điện Saigon gởi hồ sơ của chúng tôi tới tòa đại sứ Mỹ bên Thái Lan, xin đi Mỹ theo diện H.O.. Chờ đợi mỏi mòn mười năm, hồ sơ được chấp thuận cho cả gia đình gồm cha mẹ và ba đứa con qua Mỹ (đứa thứ tư đã vượt biên năm 1988 và định cư tại Canada).

Làm sao để ta có thể giải thích được phước họa ở đời? Ngày 30 Tháng Chín năm 1994, vợ chồng con cái chuẩn bị đi phỏng vấn cho một cuộc đổi đời thì sự thay đổi oan nghiệt lại lù lù hiện tới: Mẹ tôi đột ngột qua đời! Hỡi ôi, thân nầy ví xẻ làm hai được! Tôi nên đi theo chồng con, hay ở lại lo hậu sự cho mẹ hiền? Thôi thì tùy duyên. Anh và con hãy đi trước đi. Anh ơi hãy cho em… Các con ơi hãy cho mẹ…một lần cuối cùng nhỏ lệ khóc thương đấng sanh thành.

Ngày 17 Tháng Mười, năm 1994, anh và ba đứa con ngậm ngùi từ giã quê hương. Đại úy Nguyễn Văn Quy của sư đoàn 25 Bộ Binh, dẫn theo ba con lên máy bay, đi Mỹ theo diện H.O. 23, để lại người vợ héo hon, người mẹ nát lòng. Sự sống của tôi đã theo đường bay trong đám mây ảm đạm kia mà mất dần, mất dần… Tôi ngã xuống trong chiếc xe mang tôi trở về. Cấp cứu của người bạn bác sĩ làm tôi tỉnh lại và bao lời khuyên lơn của bạn bè lối xóm, làm tôi thuyên giảm nỗi đau lòng. Tôi tự nhủ, thôi thì chỉ có xa nhau sáu tháng. Lo cho mẹ mồ yên mả đẹp rồi gia đình lại sẽ gặp nhau.

Anh và các con qua California ở nhờ nhà người bạn thân mà anh đã kết nghĩa anh em trong tù! Cùng nhau chia sẻ hoạn nạn, dằn vặt, nhục nhã, đói khát, anh và Thạch đã coi nhau như anh em ruột.

Thạch và Bảo, vợ Thạch, cùng các con đã đem hết tấm lòng thương yêu ra, giúp đỡ cho gia đình tôi. Cả nhà đi học ESL. Con trai tôi vì đã học hết hai năm tại trường sư phạm, môn Anh Văn, nên dễ dàng kiếm được việc làm. Cháu đạp xe đi làm nên người bạn Mễ cùng sở thương tình cho cháu quá giang khi mùa đông lạnh tới. Tuy không phải là người cùng chung huyết thống mà cậu ta xem con tôi như người bạn đã thân quen lâu đời. Rồi dần dần cả anh và hai đứa con gái cũng đều có việc làm.

Thế là Chủ Nhật cuộc gọi phone tưng bừng diễn ra. Ôi đại dương ơi, dù mi có xa xôi muôn trùng nhưng cũng không có quyền lực cách ngăn tình chồng nghĩa vợ, tình mẫu tử thiêng liêng. Nhưng hãng điện thoại thì có đủ quyền lực gởi cái “bill” đến với giá sáu trăm đô la! Ôi Chúa ơi, những lần sau tôi đều luôn miệng ngăn cản: “Thôi stop đi anh ơi. Thôi stop đi con ơi …” Tôi xin được phỏng vấn lại sau bốn tháng xa cách.

Ngày 17 Tháng Hai, năm 1995, tôi rời Việt Nam với một tâm hồn nặng trĩu, lớp lưu luyến nơi chôn nhau cắt rún, lớp lo lắng cho bệnh tình của cha già. Tôi không dám đến từ giã người, vì tôi sợ tôi bị xúc động rồi ngất xỉu đi thì sẽ không đi Mỹ được. Tôi bị bịnh cao máu nặng, mỗi khi tôi bị buồn rầu hay xúc động thì tôi bị ngất xỉu rất lâu mới tỉnh dậy. Máy bay cất cánh rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 12 giờ rưỡi và sau 20 tiếng đồng hồ, gia đình tôi xum họp lại tại Mỹ.

Ngày ngày tôi đến trung tâm St. Alsem để học Anh văn. Sau sáu tháng tôi phải đi mổ mắt. Trước khi đi mổ, tôi quỳ gối trước bàn thờ và thành tâm khấn nguyện: “Xin Đức Mẹ cho con thấy được rõ ràng sau khi mổ mắt. Nếu con bị mù chắc con tự tử chết quá, vì con không muốn làm khổ chồng và các con của con !” Có lẽ vì quá thương chồng và các con nên tôi mới có ý nghĩ điên cuồng như thế.

Đức Mẹ đã nhận lời cầu nguyện của tôi nên sau khi mổ, đôi mắt tôi rất sáng và trông thấy rõ ràng. Tôi có thể đọc sách mà không cần mang kiếng lão nữa. Con xin cám ơn Mẹ Maria, tôi xin cám ơn bác sĩ Minh, người đã mổ mắt cườm cho tôi. Tôi đặt chân lên đất Mỹ ở cái tuổi năm mươi tám, cái tuổi dở thầy, dở thợ, và không muốn đi ở đợ. Ở Việt Nam tôi làm cô giáo, qua Mỹ tôi “tháo giầy.”

Làm cô giáo 35 năm, hôm nay đổi đời tôi trở lại làm học trò! Thật là một kinh nghiệm sâu sắc và quí giá. Chồng tôi học Anh văn và Spanish vào buổi tối. Tôi học buổi sáng. Ban ngày anh đi làm việc ở tận Long Beach. Chiều về ăn vội vài chén cơm rồi đi ngủ để đến 10 giờ tối thì vợ chồng tôi lại đến xưởng phân phát báo Los Angeles Times, để xếp báo. Đến 5 giờ sáng thì cùng nhau đi bỏ báo. Địa điểm bỏ báo của chúng tôi ở gần biển nên mùa Hè thì dễ chịu, còn mùa Đông thì lại vất vả, khổ sở. Gió biển lạnh thấu xương. Tay xách, vai mang bị đựng báo, chúng tôi lê bước bỏ báo đến từng nhà, vì chúng tôi tuổi già, sức yếu, tay run nên không thể ngồi trên xe mà quăng báo một cách điệu nghệ như đám trẻ. Xong việc, anh đưa tôi tới Golden West để tôi tham gia lớp học, còn anh lại đi làm thêm.

Tôi học Anh văn rất khó khăn, nên mấy tháng đầu nghe thầy giảng mà như vịt nghe sấm! Phần lớn tuổi, phần đầu óc chậm tiếp thu, nên thay vì học lớp cắm hoa chỉ có hai năm, tôi phải mất bốn năm. Sau bốn năm miệt mài tôi cũng ra trường vào mùa hè 2001 với chứng chỉ Floral Design & Shop Management. Dù có chứng chỉ trong tay nhưng với số tuổi đời đã muộn nên không có tiệm hoa nào mướn tôi hết. Tôi đành ở nhà lo cơm nước cho chồng và các con. Đêm đêm cùng chồng đi bỏ báo cho đến lúc hưởng tiền già.

Tôi thuộc loại “Giamaha” (già mà ham). Ham học, ham làm chớ không ham đi shopping. Vì tiết kiệm ngân quỹ gia đình, tôi chỉ mặc đồ hiệu ‘”DOMIBO” (đồ Mỹ bỏ ) và “DOREMI” (đồ rẻ Mỹ). Ba đứa con tôi tiện tặn để dành tiền trong ba năm và mua được một căn nhà ba phòng ngủ, hai phòng tắm, giá $158,000 mà chỉ đặt tiền trước có $ 10,000.

Trước khi mua nhà chúng tôi tạm trú với Thạch. Sau một năm chúng tôi muớn một căn hộ hai phòng đường Magnolia để ra riêng. Sau khi ở được hai ngày, đứa con trai lớn xuống garage thì thấy xe đã mất. Tôi bủn rủn cả chân tay. Chiếc xe chưa trả hết tiền mà đã mất.

Nỗi khổ mất xe còn nóng hổi thì anh cả tôi bên ViệtNam kêu qua, báo tin ba tôi vừa mới qua đời sáng ngày 05 Tháng Tư, năm 1995. Con người có thể chịu đựng được bao nhiêu đau khổ dập dồn trong một thời gian ngắn ngủi hả bạn? Lòng tôi ray rứt, ăn năn. Phải chi tôi nán lại Việt Nam hai tháng thôi thì tôi đã có cơ hội mang chiếc khăn tang tiễn đưa ba tôi đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Phải chi tôi đừng vội vàng, tôi đã có thể quỳ bên giường bệnh và vuốt mắt đấng sanh thành trong lần tiễn biệt. Tôi khóc như mưa và khấn nguyện: “ Cha ơi, xin hãy tha cho con tội bất hiếu. Con không thể nào vẹn vẻ cả đôi đường… Xin cha hiểu cho con. Con thương cha nhiều lắm…” Tôi không thể về VN được nên gởi tiền về cho anh tôi lo ma chay. Trong sáu tháng tôi mồ côi cả mẹ lẫn cha !

Tôi ở nhà lo việc nội trợ, nấu nướng để khi chồng và các con về sẽ có bát canh nóng, chén cơm dẻo. Cả nhà sống trong hạnh phúc giản dị, chân thành. Các con ban ngày làm việc, tối học thêm ở Golden West College. Chúng hiện đã hoàn thành “ Giấc Mơ Mỹ” với công việc ổn định, nhà cửa đàng hoàng. Vợ chồng tôi chỉ ao ước sớm có cháu nội ngoại để ẵm bồng cho vui tuổi già. Các con tôi đều hiếu thảo, hiền ngoan. Gia đình tôi rất hạnh phúc. Cuối tuần xum họp, ăn uống và cùng nhau đi lễ ở nhà thờ Westminster. Chúng tôi tập cho các con biết thương yêu, chia sẻ và nâng đỡ nhau trong những khi tối lửa tắt đèn.

Sau mười sáu năm cùng nhau chia sẻ tất cả thăng trầm, buồn vui, khổ đau và hạnh phúc, ngày 14 Tháng Giêng, năm 2009, chồng tôi bỏ tôi ra đi, về với Chúa. Anh trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Fountain Valley vì nhồi máu cơ tim. Trước khi hôn mê, anh đã thì thầm với tôi: “Loan ơi, anh mệt lắm.” Nghe anh nói mà tim tôi đau nhói. Tôi cảm thấy như có muôn ngàn mũi tên đâm vào trái tim tôi. Tôi nắm tay anh, cố nén tiếng khóc. Đau khổ ơi, hãy chảy ngược vào tim đi, hãy nằm đó rã tan và thấm đậm. Rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ cùng nhau gặm nhắm từng phút, từng giây, từng nét rạch, từng đường vỡ để cho nước mắt nhỏ từng giọt xuống mộ bia lạnh lẻo, để người nằm đó nhắm mắt thở dài… Anh chăm chú nhìn tôi rất lâu mà không nói được cho đến khi hoàn toàn chìm vào hôn mê. Bác sĩ mời mẹ con tôi ra ngoài để họ dùng máy nhồi tim. Mẹ con tôi ngồi chờ trên đống lửa. Sau cùng ông ra, buồn rầu và nghiêm trang, nói: “Xin lỗi bà, chúng tôi đã làm hết sức. Ông nhà quá yếu…”

Các con dìu người mẹ khổ đau ngồi xuống ghế. Tình yêu, hạnh phúc, xum họp, chia lìa… Như những bọt nước…như những chiếc lá vàng… mênh mông… bềnh bồng… vô tận…

Chúng tôi được phép xuống phòng ICU để nhìn mặt anh lần cuối cùng. Sau khi Cha làm phép xức dầu và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Gioan Baotixita sớm về với Chúa thì y tá đến rút ống oxy. Tôi nắm bàn tay mềm mại và còn chút hơi ấm của chồng mà nước mắt tuôn rơi. Tôi than thầm: “ Mình ơi, sao mình nỡ đi trước, bỏ em lại bơ vơ một mình. Mình nhớ cầu xin Chúa sớm rước em đi theo mình nghen mình !”

Chúng tôi quàn anh tại nhà thờ Dilday Brothers ở đường Beach. Chúng tôi xin cảm tạ tất cả quý Cha, quý thân nhân, bằng hữu đã an ủi, thăm viếng và tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Chúng tôi cũng không quên cám ơn nước Mỹ đã cho những gia đình cựu quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà được tị nạn trên miền đất tự do nầy… được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do ứng cử và bầu cử, và được tự do biểu tình v..v..

Chúng tôi nguyện chọn nơi đây là quê hương thứ hai và chúng tôi cũng sẽ gởi nắm xương tàn tại non nước nầy, giống như người chồng, người cha yêu quý của chúng tôi vậy.

Nguyễn Kim Loan

From: TU-PHUNG