NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ – Truyen ngan HAY
NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ.
Mình nhớ năm 1983, mình đi xích lô từ bến xe về nhà, qua vài câu trao đổi và nhìn gương mặt của bác xích lô, mình dè dặt hỏi:
-“Dạ cho con hỏi bác có phải cải tạo về?”.
Bác ngạc nhiên:
-“Sao cô biết”.
Mình trả lời:
-“Dạ tại con thấy bác giống ba con”.
Thật sự những ngày đó, người đi cải tạo về hầu như chọn chiếc xích lô hay xe đạp để làm kế sinh nhai. Nhìn họ, mình đều nhận ra điểm chung là nét nhẫn nhục, buồn buồn trên gương mặt và một điểm khiến họ khác với những người cùng hành nghề như mình là ăn nói nhỏ nhẹ và lịch sự ngay từ câu mời khách lên xe.
Còn có một điểm mà mình không thể diễn đạt nổi mà mình nghĩ đó là phong thái và cốt cách của người trí thức:
từ tốn, điềm tĩnh.
Họ cứ lẳng lặng đứng từ xa để ai đến hỏi thì đi chứ không bao giờ lao vào giành giật khách mỗi khi xe đến bến.
Khánh Đặng
ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ.
Đó là dịp tết năm 1995.
Lần đầu tiên tôi về thăm quê hương.
Người đàn ông đạp xích lô, gầy guộc và khắc khổ.
Nhìn ông già hơn tuổi.
Có lẽ cuộc sống đầy khó khăn, nên sự lo âu, buồn buồn, hiện rõ trên nét mặt của ông.
Lúc đó, cũng có dăm ba người mời tôi đi xe của họ.
Nhìn qua nhìn lại, tôi chọn đi xe của ông.
Tôi nghĩ, ông già yếu hơn mấy anh kia, nên có thể ông ít được khách mời ông đi.
Tôi muốn ông có thêm thu nhập, nên đồng ý lời mời của ông.
Hôm đó tôi bao xe đi nguyên ngày, đi vòng quanh Vũng Tàu,
ngắm lại phong cảnh quê hương, sau 5 năm xa cách.
Khi biết ý muốn của tôi, ông mừng vui lắm.
Nét mặt rạng rỡ hẵn ra.
Trước khi lên xe, tôi nghe mấy anh kia còn nói.
“Trúng mánh nhe ông già.
Gặp Việt kiều là ngon rồi.”
Ông đạp xe chở tôi đi.
Hai ông cháu nói chuyện rất thân thiện.
Qua câu chuyện, tôi biết ông đi tù cải tạo về.
Trãi qua bao tháng ngày cực khổ trong chốn lao tù, hình như sức lực của ông cũng hao mòn, yếu dần đi.
Cuộc sống vốn dĩ khó khăn, nay về nuôi thêm mẹ già,
nên càng khó khăn hơn. Khi biết tôi qua Mỹ theo diện HO, ông trầm ngâm:
– Bác giờ cũng đã già.
Với lại đang nuôi mẹ già.
Giờ bác đi cũng được.
Nhưng mẹ bác để cho ai coi đây.
Bao nhiêu năm đi tù xa cách mẹ già, giờ bỏ đi nữa thì mang tội bất hiếu.
Rồi bác nói không biết bây giờ qua Mỹ bác sẽ làm gì.
Bạn bè của bác đã đi gần hết.
Họ nói họ đi vì tương lai của con cháu. Chứ bác đâu còn gia đình gì đâu nữa mà đi.
Tôi hỏi bác vậy vợ con của bác đâu rồi. Bác im lặng một hồi.
Tôi quay lại, ngước mắt lên nhìn bác. Bác vẫn đạp xe, nhưng hình như bác buồn lắm.
Mắt bác đỏ hoe.
Như đoán được chuyện gì, tôi chỉ im lặng nhìn theo hướng phía trước.
Chừng 5 phút sau, bác mới nói được:
– Bác có 3 đứa con. Chúng nó đi vượt biên, khi bác còn ở trong tù.
– Giờ mấy anh chị đang ở nước nào hả bác.
Bác lại im lặng…một hồi…rồi nói tiếp.
– Chuyến đi đó mất tích luôn.
Không một ai có tin tức gì hết.
Tôi lặng điếng người.
Thật không ngờ, kiếp người sao khổ vậy trời.
Tôi cũng khổ nhiều, nhưng so với ông, nỗi khổ kia chẳng thấm vào đâu.
Lòng tôi cảm thấy thương bác nhiều hơn. Không biết là tình thương đồng loại, hay thương vì tội nghiệp cho những bất hạnh của ông.
– Vậy bác gái đâu rồi bác.
– Ngày xưa thời VNCH, một mình bác làm nuôi cả nhà.
Sau năm 1975 bác bị đi tù, bác gái phải tần tảo mà cũng không nuôi nổi mấy đứa con.
Rồi có người giúp đỡ…
Nói đến đó bác không nói nữa.
Tự nhiên tôi thấy mình hơi tàn nhẫn khi vô tình khơi lại vết thương đau của bác.
Bác chở tôi đi về từ theo đường bãi Dâu, bãi Dứa.
Con đường này, cách đây 20 năm, vẫn một bên là núi, một bên là vực sâu của biển.
Có đoạn lên dốc, có đoạn xuống dốc rất khó đi. Nhưng vì muốn tôi ngắm cảnh đẹp của đất trời, mênh mông của biển cả, bác chọn hướng đi này.
Những đoạn lên dốc, tôi nhảy xuống, vì sợ bác mệt đuối sức, nhưng ông nhất định không chịu.
Bác thấy chân tôi bị yếu đi cà quẹo, bác càng không để tôi bước xuống.
Chỗ nào bác đạp không nổi, bác nhảy xuống đẩy hay kéo xe.
Thật lòng những lúc đó, tôi cảm thấy khó chịu quá trời.
Thế rồi chuyện đời cũng lắm cái ngờ. Trong khi đang xuống dốc, chiếc xe chạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, hơn nữa.
Tôi nghe bác hốt hoảng la lên.
– Chết rồi, thắng xe bị tuôn.
Xe càng chạy nhanh hơn.
Tôi quá sợ hãi.
Trong đầu lúc đó, tôi chỉ nghĩ mình sẽ bị lao xuống vực sâu.
Bác vội nhảy xuống, dùng hết sức lực kéo chiếc xe lại, nhưng chiếc xe chỉ khựng lại tí xíu rồi vẫn chạy nhanh.
Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Gia đình. Cũng lúc đó, một tiếng đùng vang lên. Cả xe và tôi ngã nghiêng về vách núi và dừng lại.
Sau khi bình tĩnh trở lại, tôi thấy bác máu ra nhiều ở 2 bàn chân.
Vì khi bác cố gắng kéo chiếc xe lại.
Sức mạnh của chiếc xe đã kéo đôi chân của bác chà xát trên mặt đường,
và bây giờ nhìn vào đôi chân ấy, chỉ thấy toàn là máu.
Trong lúc xảy ra tình huống giữa chết và sống, bác lanh trí bẻ tay lái cho xe tông vào núi. Dù có bị gì đi nữa, còn hơn rơi xuống vực sâu.
Về đến nhà, bác không lấy tiền xe vì tai nạn xảy ra.
Bác tha thiết năn nỉ tôi đừng bắt đền cái máy chụp hình, vì bác không có tiền.
Thật sự lúc đó tôi thấy bác thật tội nghiệp và đáng thương.
Tôi nói bác đừng lo gì cả, rồi tôi tặng cho bác 100 đô.
Bác ngỡ ngàng nói đây là tờ 100 đô chứ không phải tờ 10 đô.
Tôi nói tôi biết.
Bác nói như vui mừng lắm.
– Con cho bác 2 chỉ vàng hả con.
Đáng lý ra tôi không nên kể chuyện tặng bác tiền. Nhưng tôi nghĩ, nếu như những ai trong trường hợp của tôi lúc đó, tôi tin cũng đều làm như vậy.
Trước khi chia tay, tôi đã ôm bác thật lâu.
Lúc đó tôi vẫn còn nhớ là có mùi
khen khét từ làn da cháy nắng của bác.
Sau này tôi có dịp về thăm quê hương và có hỏi thăm bác.
Người ta nói bác đã đi Mỹ theo diện HO rồi.
(sưu tầm)
Nguồn fb Cong Pham
Con Người Có Số – TRUYỆN NGẮN – ta’c gia: ALAN PHAN….
Van Pham
Con Người Có Số – TRUYỆN NGẮN – ALAN PHAN….
Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, “Ông Tổng; Ông Tổng”. Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.
Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, “Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?” Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.
Chị tiếp tục kể, “Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm bốn tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau một năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến hai năm.
Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60. “Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?”
“Con theo chồng về Đức được ba năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay.” Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernadino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.
“Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu năm ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên”.
Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wall Street, sống đời trung lưu bình dị như hàng triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn năm ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.
Nhưng chỉ sáu tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền năm ngàn và còn muốn đưa thêm ba ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại năm ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến năm ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm một tiệm massage khác.
Bẵng đi năm năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, “Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết năm tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn hai tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA.” Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự “thành công” của chị.
Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer.
Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, “Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)”.
Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.
Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là “cú đấm thép” mà cộng động chúng ta hay bàn luận.
Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).
Tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được.
Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, “Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực”. (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent Marlene vos Savant).
Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày.
“GIÀU NGHÈO CÓ SỐ SƯỚNG KHỔ” DO TRỜI…”
From: Van Pham
NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG – Truyen ngan HAY
NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG
Sau ngày miền Nam đổi thay, anh bị đưa đi tù cải tạo.
Ngày lên đường, anh chỉ kịp ôm vợ thật lâu rồi nhìn đứa con trai mới lên sáu.
— Em ở nhà lo cho con. Anh đi ít bữa rồi về.
Chị cố cười.
— Anh cứ yên tâm. Em chờ.
Chiếc xe chở anh khuất dần cuối con đường.
Chị đứng đó, một tay nắm tay con, một tay giữ chặt chiếc áo cũ của chồng.
Chị không biết “ít bữa” ấy sẽ kéo dài bao nhiêu năm.
Chỉ biết rằng từ ngày hôm đó, chị bắt đầu sống bằng một chữ chờ.
Một năm.
Hai năm.
Rồi nhiều năm trôi qua.
Tin tức về anh lúc có lúc không.
Người ta nói anh bị chuyển từ trại này sang trại khác.
Có người bảo tận miền Bắc.
Có người lại nói:
— Chắc không còn đâu chị à…
Chị không bao giờ chịu nghe hết câu.
— Chồng tôi còn chưa nói với tôi là ảnh không về, thì tôi chưa tin.
Ban ngày chị làm đủ thứ để nuôi con. Tối đến, chị lại ngồi bên ngọn đèn nhỏ, vá từng chiếc áo, dành dụm từng đồng.
Căn nhà nghèo. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau và chút cá khô.
Nhưng trong chiếc tủ gỗ cũ, chị luôn giữ một bộ quần áo mới. Không phải cho con. Mà cho chồng. Chị vẫn tin một ngày nào đó anh sẽ trở về.
Một buổi chiều, một người đàn ông lạ tìm đến.
Ông nhìn chị thật lâu rồi hỏi:
— Chị có phải vợ của anh… không?
Chị đứng bật dậy.
— Dạ phải. Anh là ai?
— Tôi là bạn tù của ảnh.
Chị run giọng:
— Anh biết chồng tôi?
— Tôi từng ở cùng trại với ảnh.
Chị nắm lấy cánh tay ông.
— Ảnh còn sống không anh?
Người đàn ông cúi đầu… Một khoảng im lặng kéo dài.
Rồi ông nói:
— Tôi phải nói thật với chị…
Tim chị như ngừng đập.
— Ảnh… mất rồi.
Chị đứng chết lặng, sụp xuống đất!
Nhưng ngay sau đó, người bạn tù nói tiếp:
— Ảnh mất trong trại. Những ngày cuối, ảnh cứ nhắc tới chị và đứa con. Ảnh nói… chỉ mong được gặp hai mẹ con một lần nữa.
Chị ngồi bệt xuống.Hai bàn tay ôm lấy mặt. Không có tiếng khóc lớn. Chỉ có đôi vai run lên từng hồi.
Bao nhiêu năm chị đi tìm một người sống. Cuối cùng lại nhận được tin về một người đã nằm xuống ở một nơi rất xa.
Người bạn tù lấy trong túi ra một mảnh giấy cũ.
— Tôi giữ được cái này của ảnh.
Đó là vài dòng chữ nguệch ngoạc. Chị đọc đi đọc lại. Chữ đã nhòe. Nhưng chị nhận ra ngay nét chữ của chồng. Chỉ mấy chữ:
“Nếu tôi không về được, nhờ anh báo cho vợ tôi biết. Tôi nhớ hai mẹ con nhiều lắm.”
Chị áp mảnh giấy vào ngực.
— Ảnh nằm ở đâu?
Người bạn tù nói tên một vùng đất xa xôi.
Chị hỏi:
— Tôi có thể tìm được mộ ảnh không?
— Khó lắm chị ơi. Sau từng ấy năm…
Chị im lặng.
Rồi nói:
— Khó cũng phải tìm.
Chị bắt đầu chuyến đi cuối cùng. Không còn là đi tìm chồng. Mà là đi tìm người chồng đã nằm lại.
Chị nghèo đến mức tiền mua vé tàu cũng phải chắt chiu từng đồng.
Người con khuyên:
— Má ở nhà đi. Con sẽ tìm cách.
Chị lắc đầu.
— Không.
— Má lớn tuổi rồi.
— Má là vợ mà.
Chị nhìn con.
— Nếu ba con nằm ở nơi nào đó một mình suốt hàng chục năm, má không thể để ba con nằm lại đó.
Chị bán đi vài món đồ trong nhà. Những thứ ít ỏi mà hai mẹ con đã dành dụm.
Người ta hỏi:
— Bán hết vậy rồi sống sao?
Chị chỉ nói:
— Nhà nghèo thì sống nghèo. Nhưng ba của con em phải về nhà.
Chuyến đi ấy gian nan hơn tất cả những chuyến đi trước.
Chị hỏi từng người. Tìm từng địa chỉ. Lần theo tên những tù trại cải tạo cũ.
Có nơi người ta không còn nhớ.
Có nơi nghĩa trang đã thay đổi.
Có những nấm mộ vô danh nằm lặng lẽ dưới cỏ.
Chị đi từng hàng. Đọc từng cái tên.
Có lúc không tìm thấy gì.
Chị ngồi xuống bên một gốc cây, nước mắt chảy dài.
— Anh ơi…
— Em đến tìm anh đây.
Không ai trả lời.
Chị đứng lên.
Lại đi.
Cuối cùng, nhờ người bạn tù và những người từng ở cùng trại, chị lần ra được nơi anh được chôn cất.
Một ngôi mộ đơn sơ.
Không bia.
Không ảnh.
Chỉ có một cái tên được ghi lại trong ký ức của những người còn sống.
Chị quỳ xuống. Bàn tay run run chạm vào mặt đất.
— Anh…
Chỉ một tiếng ấy. Bao nhiêu năm chờ đợi tan thành nước mắt.
— Em tới trễ quá.
Chị cúi đầu thật lâu.
— Nhưng cuối cùng em cũng tìm được anh.
Người ta khuyên chị:
— Thôi chị à. Để anh ấy nằm đây cũng được. Đường xa lắm, tốn kém lắm.
Chị lắc đầu.
— Không.
— Chị đưa ảnh về bằng cách nào?
Chị nhìn xuống ngôi mộ.
— Tôi chưa biết.
Rồi chị nói thật chậm:
— Nhưng tôi sẽ đưa chồng tôi về.
Ngày làm thủ tục cải táng, chị chỉ có vài người giúp đỡ.
Không có tiền.
Không có phương tiện.
Không có gì ngoài một lời hứa đã nói từ mấy chục năm trước.
“Anh cứ yên tâm. Em chờ.”
Giờ đây chị lại giữ lời hứa ấy lần nữa.
Chị muốn anh về quê.
Về nơi hai người từng cưới nhau.
Về căn nhà nghèo nơi anh đã ra đi.
Về bên đứa con mà anh chưa kịp nhìn thấy trưởng thành.
Khi chiếc hộp nhỏ được đặt trước mặt, chị đứng lặng rất lâu.
Rồi chị đặt tay lên đó.
— Về nhà thôi anh. Nha.
— Mình về nhà.
Ngày đưa anh về đến quê, người con trai đứng chờ ở đầu đường.
Anh đã trưởng thành. Nhưng khi nhìn thấy mẹ ôm chặt di hài của cha, anh vẫn bật khóc như một đứa trẻ.
— Ba về rồi, má ơi…
Chị gật đầu.
— Ừ.
— Ba về rồi.
Hai mẹ con đưa anh về căn nhà cũ. Bộ quần áo chị cất giữ suốt bao nhiêu năm vẫn còn đó. Chị lấy ra. Đặt ngay ngắn bên cạnh di ảnh.
Rồi chị ngồi xuống. Nhìn người chồng trong tấm hình.
— Em đã nói em chờ.
— Em chờ thật.
— Và em cũng nói… nếu anh không tự về được, em sẽ đi đón anh.
Chị mỉm cười qua nước mắt.
— Em làm được rồi.
Người vợ ấy nghèo. Rất nghèo. Nhưng cả cuộc đời chị có một thứ mà không tiền bạc nào mua được:
Một lời hứa với người mình thương.
Chị đã đi qua những năm tháng dài nhất của đời mình.
Từ miền Nam ra Bắc tìm chồng.
Tìm trong những trại tù.
Tìm trong những danh sách cũ.
Tìm giữa những nghĩa trang xa lạ. Và cuối cùng, khi biết anh đã nằm xuống từ lâu Chị vẫn đi.
Không phải để thay đổi quá khứ.
Không phải để trách móc ai.
Chỉ để làm một điều cuối cùng cho người chồng của mình:
Đưa anh về nhà.
Bởi có những người phụ nữ cả đời không cần chồng tặng mình một món quà.
Họ chỉ cần đến cuối đời có thể nói:
“Anh đã đi xa quá lâu rồi.
Thôi, về nhà với em, với con. Mình ơi ”
Phạm Sơn liêm.
LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO
LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO
Nhặt được ví của người giàu có, cậu bé đem trả nhưng lại xin một chút tiền, lý do đưa ra khiến đối phương vừa nghe đã phải xấu hổ
CHIA SẺ
Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring từng có một câu nói được rút ra từ chính kinh nghiệm của bản thân ông như thế này:
Đừng tùy tiện đưa ra lời phỏng đoán về người khác.
Vào thập niên 90 của thế kỷ 20, khi đi ngang qua vịnh San Francisco, Behring đột nhiên phát hiện ví tiền của mình đã biến mất.
Người trợ lý lo lắng:
“Có khi nào sáng nay chúng ta đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley đã đánh rơi mất rồi, phải làm sao đây?”
Behring bất lực đáp:
“Đành đợi người nhặt được ví liên hệ chúng ta vậy.”
Hai tiếng sau, người trợ lý thất vọng lên tiếng:
“Thôi bỏ đi, đừng đợi nữa. Chúng ta đáng nhẽ không nên ôm hy vọng đối với những người ở khu ổ chuột đó.”
Người trợ lý cảm thấy khó hiểu:
“Trong ví còn có danh thiếp.
Nếu người nhặt được muốn mang trả, thì gọi cuộc điện thoại mất mấy phút đâu cơ chứ. Trong khi chúng ta đã chờ cả buổi chiều rồi, rõ ràng bọn họ không có ý định trả lại cho chúng ta mà.”
Nhưng Behring vẫn khăng khăng chờ đợi.
Khi bóng tối dần bao phủ, đột nhiên có tiếng chuông điện thoại reo lên.
Chính là người nhặt được chiếc ví gọi điện tới, yêu cầu họ đến đường XX nhận lại ví.
Người trợ lý rối rít bên cạnh:
“Đây liệu có phải là cái bẫy?
Có thể họ muốn gài chúng ta tới đó rồi tấn công hoặc tống tiền gì đó?”.
Behring không quan tâm tới lời nói của người trợ lý, lập tức phóng xe tới đó.
Khi tới điểm hẹn, một cậu bé mặc bộ quần áo rách rưới đi về phía họ và cái cậu bé đang cầm trên tay chính là chiếc ví mà Behring đã đánh rơi.
Người trợ lý đón lấy chiếc ví, đếm số tiền trong ví, không thiếu một đồng.
“Cháu có một thỉnh cầu”.
Cậu bé ngập ngừng nói, “Ông có thể cho cháu 1 ít tiền được không?”.
Khi đó, người trợ lý phá lên cười:
“Tôi biết mà…”.
Behring ngắt lời người trợ lý, mỉm cười hỏi cậu bé cần bao nhiêu tiền.
“Chỉ cần 1 đô là đủ ạ.”
Cậu bé ngại ngùng trả lời, “Cháu đi bộ rất lâu mới tìm thấy bốt điện thoại công cộng, nhưng trên người lại không có tiền, đành đi vay người ta 1 đô để gọi điện, bây giờ cháu cần tiền để trả người ta”.
Nhìn thấy đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ.
Còn Behring thì xúc động ôm chầm cậu bé.
Ngay sau đó, ông thay đổi kế hoạch từ thiện trước đấy, chuyển tiền đầu tư xây dựng một số trường học trong thành phố Berkeley, chuyên thu nhận những đứa trẻ không có tiền tới trường trong các khu ổ chuột.
Trong buổi lễ khai giảng, Behring phát biểu:
“Xin đừng tùy tiện phỏng đoán hay đánh giá về người khác. Thay vào đó chúng ta cần dành thời gian và cơ hội, đón nhận những trái tim thuần khiết và lương thiện. Một trái tim như vậy thật xứng đáng để chúng ta dày công vun đắp thành tài”.
Pham Mylan
Sưu tầm
Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta.- Truyen ngan HAY
CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.
Một người đàn ông gặp tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng trên đường cao tốc và được đưa đến bệnh viện ở một thị trấn gần đó, vì vụ tai nạn xảy ra khá xa thành phố. Trong khi ở đó, anh ta gọi điện cho vợ cũ, người mà anh ta có mối quan hệ tồi tệ: anh ta liên tục kiện tụng cô ta ra tòa về quyền nuôi con trai, cố tình không trả một xu tiền cấp dưỡng nuôi con để ép cô ta nhượng bộ, và thẳng thắn mà nói, anh ta đã bỏ rơi cô ta.
Anh ta muốn được tự do và cặp kè với mọi phụ nữ anh ta gặp. Anh ta đang sống cuộc sống xa hoa ở biệt thự vùng quê, cho đến khi tai nạn xảy ra.
Và đó là lúc anh ta nhận ra mình không còn ai để nhờ vả. Cha mẹ anh ta đã già yếu và không thể giúp đỡ anh ta được gì; ngược lại, họ sẽ chỉ càng sợ hãi hơn. Bạn bè? Bạn bè nào chứ? Chỉ là những người quen biết và bạn nhậu, mỗi người đều bận rộn với việc riêng của mình. Tất nhiên, họ cũng chính là những người trước đây đã khuyên anh ta nên chấm dứt mối quan hệ với vợ cũ và cắt đứt nguồn tài chính của cô ta. Nhưng không ai trong số họ sẽ đi đến tận đó, đến một thị trấn hẻo lánh như vậy. Nếu anh ta ở trong một bệnh viện tốt ở thành phố thì có lẽ khác; nhưng ở một thị trấn nhỏ, không đời nào.
Toàn thân anh ta đau nhức khủng khiếp. Và anh ta vô cùng sợ hãi. Gọi điện cho các đối tác kinh doanh hay những cô gái anh ta đang hẹn hò đều vô ích, vì họ sẽ chỉ nói với anh ta câu kinh điển: “Cố lên! Mạnh mẽ lên! Mau chóng khỏe lại!”
Anh ta chắc chắn về điều đó như thể mình chắc chắn mình bị gãy hai chân. Và nỗi đau cũng tương tự.
Vì vậy, anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gọi cho vợ cũ: “Nina,” anh ta nói, “Anh bị tai nạn nặng. Anh đang ở bệnh viện này ở thị trấn kia. Anh chỉ gọi báo cho em biết phòng khi anh chết.” “Xin lỗi vì đã làm phiền. Gửi lời chào đến con trai nhỏ của em, Alex nhé.”
Và tất nhiên, Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta. Cô ấy không đến ngay lập tức, vì chính anh ta đã lấy xe của cô ấy. Cô ấy phải đi xe buýt liên tỉnh trước rồi mới đi xe buýt địa phương, nhưng cuối cùng cô ấy cũng đến. Cô ấy mang đến cho anh mọi thứ anh cần và bắt đầu làm mọi cách để chuyển anh đến một bệnh viện trong thành phố.
Một người phụ nữ trung niên, mệt mỏi, thừa cân, không hề quyến rũ, tay xách những túi đồ mua sắm, và không biết vì sao, bên trong một trong những túi đó lại có một bát canh gà nóng hổi và vài viên thịt viên. Còn người đàn ông thì gần như kiệt sức, anh thậm chí không thể tự ăn…
Nhưng anh đã vượt qua được. Anh mất một thời gian để hồi phục, nhưng anh đã vượt qua, và ngày nay anh sống với Nina, bởi vì cô ấy đã trở thành người bạn thân thiết thực sự của anh. Người thân cận nhất và là thành viên gia đình thân thiết nhất của anh. Thân thiết nhất trong tất cả.
Cuối cùng anh cũng nhận ra khi nằm trên giường bệnh: rằng một số mối liên kết mạnh mẽ hơn bất kỳ điều phù phiếm nào khác trong cuộc sống này… Đó là những mối liên kết của tình yêu, của định mệnh và của chính cuộc sống.
Và mỗi chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ: chúng ta sẽ gọi cho ai nếu có chuyện không may xảy ra với mình? Ai sẽ bắt xe buýt… với một bát súp trên tay? Ai sẽ ở đó để chăm sóc chúng ta và dọn dẹp mớ hỗn độn khi chúng ta thậm chí không thể tự di chuyển?
Có lẽ không ai cả. Có thể chỉ có một người, hoặc nhiều nhất là hai người… Nhưng chắc chắn đó sẽ là người thân trong gia đình chúng ta. Gia đình đích thực của chúng ta. Những người thân yêu của chúng ta, với tất cả những khuyết điểm và đức tính tốt đẹp của họ. Và chúng ta không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được thô lỗ với những người đó, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Và bản thân chúng ta cũng phải sẵn sàng lên xe buýt nếu có cơ hội… Hoặc xe buýt công cộng, với hộp đựng thức ăn trong túi.
Và với vài xu cuối cùng trong túi quần…
– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.
Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử
Những Câu Chuyện Thú Vị – Duc Minh Danh
Đầu của cô đã bị cạo trọc. Máy chém đang chờ sẵn. Rồi một người đàn ông xuất hiện và cứu mạng cô, bằng cách giao cho cô công việc đáng sợ nhất ở Paris.
Cô sẽ sống sót. Và cô sẽ xây dựng cả một đế chế từ chính điều đó.
Bạn biết tên cô. Madame Tussaud.
Cô sinh ra với tên Anna Maria Grosholtz vào năm 1761, tại thành phố Strasbourg của Pháp, chỉ hai tháng sau khi cha cô tử trận. Người mẹ góa bụa của cô nhận công việc quản gia tại Bern, Thụy Sĩ, trong ngôi nhà của một bác sĩ người Thụy Sĩ trầm lặng và lập dị tên Philippe Curtius, người có một niềm ám ảnh kỳ lạ và ngày càng lớn dần.
Ông tạc tượng bằng sáp.
Ban đầu, ông tạo hình giải phẫu cho sinh viên y khoa. Sau đó, ông bắt đầu tạo khuôn mặt của người chết. Và rồi, cả khuôn mặt của người sống. Ông làm chân dung bằng sáp của các công tước, nữ công tước, triết gia và những người cách mạng, những tác phẩm sống động đến mức đám đông tụ tập tại triển lãm ở Paris chỉ để đứng nhìn.
Curtius coi cô bé Marie như con gái và dạy cô mọi thứ ông biết.
Đến năm 16 tuổi, cô đã tạo tác phẩm đầu tiên, một tượng bán thân bằng sáp của Voltaire, nhà triết học nổi tiếng nhất châu Âu lúc bấy giờ.
Khi mới ngoài hai mươi, Marie Grosholtz đã tài năng đến mức em gái của vua Louis XVI, công chúa Élisabeth of France, đã mời cô đến Versailles làm giáo viên nghệ thuật riêng và người tâm sự. Marie sống nhiều năm trong cung điện hoàng gia Pháp, giữa lụa là, bạc vàng và những lời thì thầm về cách mạng.
Rồi năm 1789, thế giới mà cô biết bốc cháy.
Ngục Bastille sụp đổ. Nhà vua bị bắt. Đường phố Paris ngập tràn đám đông và máu. Và những người cách mạng, truy tìm bất cứ ai có liên hệ với hoàng gia, đã tìm đến cô.
Cô bị tống vào một nhà tù ở Paris.
Đầu cô bị cạo.
Cô chỉ còn vài ngày trước khi lên máy chém, số phận giống hàng ngàn người khác, thì Curtius bằng cách nào đó biết được việc cô bị bắt. Ông vội vàng đến gặp những người cách mạng. Ông cho họ xem các tác phẩm của cô, chân dung Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Benjamin Franklin, và cầu xin rằng cô là một nghệ sĩ của tự do, không phải người ủng hộ hoàng gia.
Điều đó đã có hiệu quả.
Marie được thả.
Nhưng chính quyền cách mạng đưa ra một điều kiện. Để chứng minh lòng trung thành, cô phải làm một công việc mà gần như không ai dám làm.
Cô sẽ tạo mặt nạ tử thần cho mọi nhân vật nổi tiếng bị xử bằng máy chém.
Cô bắt đầu với những người mà cô từng quen biết.
Cô làm mặt nạ tử thần của vua Louis XVI, người từng chào đón cô vào cung điện.
Cô làm mặt nạ của Marie Antoinette, người từng bước qua cô trong hành lang Versailles.
Cô làm mặt nạ của công chúa Élisabeth of France, người mà cô từng dạy dỗ và yêu quý.
Khi nhà báo cấp tiến Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm, Marie được gọi đến nhanh đến mức, như bà viết trong hồi ký, “cơ thể ông vẫn còn ấm”. Bà làm mặt nạ tử thần ngay tại đó, trong làn nước nhuốm máu.
Khi Maximilien Robespierre, kiến trúc sư của Thời kỳ Khủng bố, bị xử tử, bà cũng làm mặt nạ của ông. Khuôn mặt ông bị biến dạng vì đã tự bắn mình trước đó một ngày, và bà tái hiện đúng như những gì bà thấy.
Trong hồi ký, bà kể lại một điều gần như quá u tối để tưởng tượng. Sau các cuộc hành quyết, bà viết rằng mình ngồi “trên bậc thềm của triển lãm, với những chiếc đầu đẫm máu đặt trên đầu gối, lấy khuôn khuôn mặt của họ.”
Đó là công việc đáng sợ, nguy hiểm và gần gũi với cái chết đến mức không thể tưởng tượng. Và bà đã làm điều đó suốt nhiều năm, bởi vì lựa chọn còn lại là lưỡi dao.
Khi Curtius qua đời năm 1794, ông để lại cho bà toàn bộ bộ sưu tập sáp và hai bảo tàng. Marie trở thành người sở hữu duy nhất của một trong những ghi chép sống động nhất về Cách mạng Pháp, chính là khuôn mặt thật của những người đã tạo nên và chết trong cuộc cách mạng ấy.
Năm 1802, Marie rời Paris mãi mãi.
Bà đưa con trai nhỏ và các tượng sáp vượt qua eo biển Manche đến Anh và không bao giờ gặp lại chồng nữa. Trong suốt 33 năm, bà đi khắp vùng quê Anh bằng xe ngựa, từ thị trấn này sang thị trấn khác, tổ chức triển lãm trong những hội trường thuê đầy bụi, bán vé với giá một shilling. Những khán giả chưa từng đến Paris giờ có thể tận mắt nhìn thấy mặt nạ tử thần thật của Marie Antoinette, chỉ cách họ vài bước.
Năm 1835, ở tuổi 74, khi nhiều phụ nữ cùng thời đã nghỉ ngơi từ lâu, Marie Tussaud định cư tại London, trên phố Baker, và mở bảo tàng sáp cố định đầu tiên trên thế giới.
Bà là một người mẹ đơn thân đã sống sót qua cuộc cách mạng đẫm máu nhất thời hiện đại. Bà xây dựng đế chế của mình từ những cái đầu bị chặt và ý chí sinh tồn, một mình, tại một đất nước mà bà gần như không nói được ngôn ngữ.
Năm 1842, ở tuổi 81, bà tạo tác phẩm sáp cuối cùng, một bức chân dung tự họa. Một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt sắc sảo, đội mũ trắng, bình thản nhìn những vị khách.
Bức tượng đó vẫn đứng ở lối vào bảo tàng Madame Tussauds tại London cho đến ngày nay.
Bà “nhìn” từng vị khách, trong suốt 183 năm.
Bà qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 16 tháng 4 năm 1850, ở tuổi 88.
Lần tới khi bạn chụp ảnh cùng một tượng sáp người nổi tiếng, hãy nhớ rằng cả một ngành công nghiệp bắt đầu từ một người phụ nữ trẻ đáng lẽ đã phải chết, ngồi trên bậc thềm ở Paris, với những chiếc đầu của các vị vua trên đầu gối, làm công việc duy nhất có thể giữ bà sống sót.
Có những con người được lịch sử tạo nên.
Còn Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử.
Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi/ Tác Giả Nguyễn Mạnh San
MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.- Truyen ngan HAY
MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.
Cô ấy mất cả tay và chân, nhưng cô ấy không để bi kịch cướp đi tương lai của mình.
Ngày 30 tháng 10 năm 2002, cuộc đời của Daniela García, một phụ nữ Chile 22 tuổi, đã mãi mãi chia làm hai giai đoạn “trước” và “sau”.
Cô là sinh viên y khoa năm thứ tư, đang đi tàu đến dự một sự kiện của trường đại học. Khi cố gắng chuyển từ toa này sang toa khác, cô đã ngã xuống đường ray.
Hậu quả thật khủng khiếp: cô mất cả hai tay và cả hai chân.
Dường như cùng với đôi chân, cô cũng mất đi tất cả những gì mình mơ ước: trở thành bác sĩ, sống độc lập, lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.
Nhưng Daniela đã quyết định đi theo một con đường khác.
Cô phải học lại cách làm những việc mà hầu hết chúng ta làm một cách vô thức: mặc quần áo, ăn uống, đi lại, sử dụng chân tay giả và chấp nhận cơ thể mới của mình.
Đây không chỉ là một câu chuyện truyền cảm hứng.
Có những cơn đau, sự kiệt sức, nỗi sợ hãi, và hàng trăm lần cố gắng mỗi ngày.
Dù vậy, cô ấy đã quay trở lại trường đại học.
Bốn năm sau tai nạn, cô tốt nghiệp ngành Y tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Chile. Sau đó, cô chuyên về vật lý trị liệu và phục hồi chức năng.
Cô trở thành bác sĩ trong chính lĩnh vực mà nhiều năm trước đã giúp cô xây dựng lại cuộc sống của mình.
Hiện tại, Daniela làm việc với Teletón Chile, hỗ trợ trẻ em và thanh thiếu niên trải qua quá trình phục hồi chức năng khó khăn. Cô cũng tham gia vào việc đào tạo các chuyên gia tương lai.
Ngoài ra, cô đã trở thành vợ và mẹ của ba đứa con.
Câu chuyện của cô không phải về những người mạnh mẽ không bao giờ khóc hay cảm thấy sợ hãi.
Nó nói về điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.
Hoàn cảnh có thể làm tổn thương một người, nhưng điều đó không có nghĩa là họ phải mãi mãi bị tổn thương.
Daniela không lấy lại được cuộc sống như trước thảm kịch.
Cô đã xây dựng một cuộc sống mới, tràn đầy đam mê, gia đình, tình yêu và phục vụ người khác.
Đã có thời điểm cô ấy cần đến bác sĩ, chân tay giả và phục hồi chức năng.
Ngày nay, cô ấy đứng bên cạnh những người mới bắt đầu hành trình của mình, chứng minh bằng chính cuộc đời mình rằng:
ngay cả sau mất mát to lớn, cuộc sống không kết thúc. Nó có thể thay đổi mãi mãi nhưng vẫn tươi đẹp và tràn đầy ý nghĩa.
– Cang Huỳnh lược dịch từ Elle.
TẤM SÉC KHỐNG. – Truyen ngan HAY
TẤM SÉC KHỐNG.
Một chủ doanh nghiệp nhỏ đang chìm trong nợ nần và không còn thấy lối thoát nào. Các chủ nợ liên tục gọi điện, nhà cung cấp đòi thanh toán, và dường như mỗi ngày lại xuất hiện thêm một hóa đơn mà ông không thể trả nổi.
Một buổi chiều nọ, quá tải và kiệt sức, ông đi bộ đến một công viên gần đó chỉ để giải tỏa đầu óc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá, úp mặt vào hai bàn tay và cố gắng nghĩ ra bất cứ điều gì có thể cứu công ty của mình khỏi phá sản.
Một lúc sau, một người đàn ông lớn tuổi dừng lại trước mặt ông.
“Trông ông có vẻ đang rất lo lắng,” người lạ mặt nói. “Ông có muốn kể cho tôi nghe chuyện gì đang xảy ra không?”
Chủ doanh nghiệp do dự, nhưng cuối cùng cũng kể hết mọi chuyện: khoản nợ, vấn đề dòng tiền, các nhà cung cấp chưa được thanh toán, và các ngân hàng đã từ chối đơn xin vay vốn của ông.
Người đàn ông lớn tuổi lắng nghe mà không ngắt lời.
Khi câu chuyện kết thúc, ông gật đầu và nói, “Tôi nghĩ tôi có thể giúp ông.”
Ông hỏi tên người doanh nhân, lấy ra một cuốn sổ séc, viết một vài dòng và đưa cho ông ta tấm séc.
“Cầm lấy cái này. Gặp tôi ngay đây một năm nữa. Đến lúc đó, anh có thể trả lại tiền cho tôi.”
Trước khi doanh nhân kịp hỏi thêm câu nào, ông lão đã biến mất vào đám đông.
Ông nhìn xuống tờ séc và chết lặng. Trên đó ghi 500.000 đô la.
Và chữ ký ở dưới cùng là: John D. Rockefeller.
Doanh nhân khó có thể tin vào mắt mình. Rockefeller từng là một trong những doanh nhân giàu có và quyền lực nhất trong lịch sử nước Mỹ.
“Với số tiền này,” ông nghĩ, “mình có thể giải quyết mọi vấn đề của mình ngay hôm nay.”
Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông đã đưa ra một quyết định khác.
Ông cất tờ séc vào két sắt và quyết định không rút tiền.
Chỉ cần biết nó ở đó đã mang lại cho ông thứ mà ông đã thiếu suốt nhiều tháng: sự tự tin. Ông bắt đầu tin rằng ngay cả khi mọi việc diễn ra tồi tệ, ông vẫn có một chỗ dựa an toàn.
Sự thay đổi trong tư duy đó đã ảnh hưởng đến cách ông làm việc.
Ông quay lại với các nhà cung cấp và thương lượng các điều khoản thanh toán tốt hơn. Ông ấy đã theo đuổi những cơ hội mà trước đây mình từng quá nản chí để theo đuổi. Ông ấy trở nên tự tin hơn trong các cuộc họp, thực hiện những thương vụ thông minh hơn và chốt được một số hợp đồng lớn.
Dần dần, áp lực giảm bớt.
Trong vòng vài tháng, ông ấy đã trả hết phần lớn nợ nần. Chẳng bao lâu sau, công ty lại có lãi.
Đúng một năm sau, ông ấy quay lại công viên đó với tấm séc còn nguyên vẹn trong túi.
Đúng lúc đó, ông lão xuất hiện.
Người doanh nhân mỉm cười và bước về phía ông, háo hức trả lại tấm séc và nói cho ông biết mọi chuyện đã thay đổi như thế nào.
Nhưng trước khi ông kịp nói gì, một y tá chạy đến và nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay ông lão.
“Ông đây rồi!” cô ấy reo lên. Rồi cô ấy quay sang người doanh nhân. “Tôi hy vọng ông ấy không làm phiền ông. Ông ấy thỉnh thoảng đi lạc khỏi viện dưỡng lão và nói với mọi người rằng ông ấy là John D. Rockefeller.”
Người doanh nhân đứng đó không nói nên lời.
Suốt cả một năm trời, ông đã làm việc, đàm phán, mua bán và xây dựng lại công ty của mình với niềm tin rằng nửa triệu đô la sẽ luôn sẵn có nếu ông thực sự cần đến.
Nhưng tấm séc đó chưa bao giờ có giá trị gì.
Và đột nhiên ông hiểu ra một điều quan trọng.
Không phải tiền bạc – dù là thật hay tưởng tượng – đã cứu vãn công ty của ông.
Mà chính là sự tự tin mà tấm séc mang lại.
Ông đã ngừng suy nghĩ như một người đang chờ đợi thất bại và bắt đầu hành động như một người vẫn còn cơ hội. Niềm tin đó đã thay đổi quyết định, lòng can đảm và cuối cùng là kết quả của ông.
Đôi khi điều thay đổi cuộc đời bạn không phải là một cơ hội mới, một tài khoản ngân hàng lớn hơn, hay ai đó đến giải cứu bạn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là khoảnh khắc bạn bắt đầu tin tưởng vào chính mình một lần nữa.
Hãy chủ động thay vì chờ đợi điều kiện hoàn hảo. Trong những thời điểm quan trọng, sự tự tin có thể là sức mạnh thay đổi mọi thứ.
– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.
Người Bác Bất Lương/ Tác Giả Tiểu Tử
BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG
Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều
BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG
Con trai à,
Giờ nay vợ chồng con và các cháu đã ngủ chưa. 10 gio đêm mẹ mới dọn hàng cá để về, trời mưa nên cá vẫn ế rất nhiều. Trên đường về nhà, mắt mờ nên mẹ chẳng nhìn rõ đường nữa, không may va phải một nhóm thanh niên, khiến quần áo của họ bị thùng cá đổ lên. Mẹ đã vội vàng giải thích và xin lỗi, nhưng nhóm người đó chỉ nhìn mẹ rồi nói:
”Chó thật, bà đi đứng thế à?. Biết bộ quần áo này đắt tiền thế nào không? Già rồi thì ở nhà đi, ra đường làm gì gây phiền phức cho người khác.”
Với người bình thường khi nghe câu đó chắc hẳn họ phải tức giận lắm, nhưng mẹ lại thấy bình thản, thậm chí là vui lắm. Lâu nay mẹ đều muốn làm một con chó, nhưng là con chó mà vợ chồng con vẫn đang nuôi ấy.
Con trai biết không, bố mất sớm, một mình mẹ với gánh cá cũng đã hơn 35 năm nuôi con khôn lớn. Ra trường con tìm được công việc ổn định, cưới vợ đẹp, có nhà, có xe. Mẹ mừng lắm, cuối cùng con trai mẹ cũng bằng người ta.
Nhưng căn nhà của con lộng lẫy quá, khác xa căn nhà cấp 4 mẹ đang ở, nắng thì oi bức mà mưa thì mẹ phải mang hết nồi niêu xoong chảo ra để hứng nước.
Mẹ nhớ con vô cùng, mỗi lần con gọi điện về mẹ vui mừng lắm. Còn bảo con có thể về đón mẹ lên chơi nhà con, thăm vợ chồng con và 2 đứa cháu nội được không.
Mẹ có thể nghe thấy tiếng thở dài, khó chịu và có chút hậm hực của con:
Mẹ lên đây làm gì, con bận bao nhiêu việc đâu thể về chăm sóc cho mẹ được. Hơn nữa giá xăng thì đang lên, con về chở mẹ lên thì mua được 5 kg thịt cho con Mực ăn rồi. Mẹ nhớ đúng không? Con mực là con chó mà con được đối tác tặng ấy, giá của nó là 40 triệu đấy.
Làm sao mà mẹ không nhớ được, hồi nhỏ con cũng rất thích nuôi chó. Nhưng lúc đó nhà mình nghèo, tiền ăn tiền học cho con mẹ còn phải chắt góp từng đồng thì sao đủ gạo mà nuôi chó được. Mẹ định bảo thôi không chở mẹ lên thành phố thì 1 tuần con gọi mẹ 2 lần cũng được. Nhưng chưa kịp nói thì đã thấy con Mực sủa lên đòi ăn thì con đã tắt máy để chăm sóc cho con chó rồi.
Từ cuộc điện thoại đó đến nay cũng 3 tháng rồi con chưa gọi cho mẹ lần nào. Bệnh đau khớp chân của mẹ lúc nào cũng tái phát, mẹ đau chẳng thể ngủ nổi. Nhưng mẹ không dám gọi làm phiền con.
Chờ mãi không thấy con gọi, cũng chẳng thấy con đưa vợ con về thăm mẹ. Thế là có đứa cháu ông Tư hàng xóm nhà mình lái xe lên thành phố nên mẹ nhờ chở mẹ đến thăm con, tạo bất ngờ cho con luôn.
Mẹ mang cá, rau, thịt mua ở quê mang lên cho các con ăn cho đảm bảo sức khỏe. Nhưng vừa thấy mẹ ở cổng tay xách nách mang con đã hậm hực:
“Mẹ lên sao không báo trước, mà mẹ ăn mặc kiểu gì thế? Trông quê không chịu được. Mấy mớ rau cá này mang lên làm gì, ai ăn đâu”.
Lúc đầu mẹ chỉ nghĩ con sợ mẹ không có tiền nên bảo vậy. Nhưng không, lúc nào con mang toàn đồ thức ăn mẹ mang lên ném vào thùng rác.
Đến giờ cơm trưa mẹ thấy con mang thịt bò, hải sản loại tốt mua ở siêu thị lớn để cho con Mực ăn. Cách con chăm sóc con chó khiến mẹ chạnh lòng. Con ơi, có thể nào con cũng chăm sóc cho mẹ giống như con chó của con được không. Mẹ định thốt lên như thế nhưng sợ con giận nên lại không dám nói gì.
Chiều đến con lại mang con Mực đi tắm, đi dạo rồi ôm nó vuốt ve. Nhà của con Mực cũng đẹp, còn có tấm nệm bằng lông cừu mà con khoe là mua tận bên nước ngoài lần đi công tác. Nệm của nó còn ấm và đắt hơn cả chiếc nệm mẹ nằm 10 năm nay nữa. Mẹ chợt nhận ra đã lâu con không ôm mẹ, những chuyện con kể với con Mực còn nhiều hơn với mẹ.
Lúc mẹ đói lả người, tìm đồ ăn nhưng đồ đạc nhà con toàn thứ hiện đại mẹ dùng chẳng quen. Tới lúc con Mực sủa lên vì đói thì mẹ thấy con trộn thứ cơm gì đó thơm ngon lắm, nhìn hấp dẫn vô cùng. Lúc này mẹ bèn xin con một bát thì con quát lên:
”Đến cơm của chó mẹ cũng đòi ăn sao? Nhà con đầy thứ ăn đó, mẹ không tự lấy được à?”
Con đi làm về câu đầu tiên không chào mẹ mà chạy đến ôm lấy con Mực mà vuốt ve nó, nựng yêu nó. Nó có bị ốm thì con cho đi bác sỹ, chăm sóc hết sức chu đáo. Nhưng tới lúc mẹ ốm thì con chẳng hỏi thăm, còn quát:
“Thôi mẹ về đi, lên đây không hợp khí hậu nên mới ốm. Vợ chồng con đi làm cả ngày, mẹ mà để lây bệnh sang chúng con thì làm sao có tiền đây. Thế này thì con Mực nó đói là chết con đấy”
Đêm đó mẹ nghĩ mẹ chẳng thể chịu đựng được nữa. Cách con quan tâm con chó, mẹ thấy sinh mạng của nó còn quan trọng hơn mẹ nữa.
Con trai à, nếu có kiếp sau, để mẹ được đầu thai làm con chó mà con nuôi được không?.
Câu nói này khiến tất cả những đứa con phải suy ngẫm: Kiếp sau mẹ muốn làm con chó của con có được không?. Bởi lẽ con chó còn được quan tâm, yêu thương hơn cả cha mẹ mình.
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển. Vậy mà có những người con coi trọng con chó hơn cả cha mẹ của mình. Đây là một trong số câu chuyện có thật ở ngoài xã hội kia. Cũng là câu chuyện tiêu biểu về tình thân trong gia đình.










