NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

Liem Pham ·

NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

(Lời kể của cô Ba Lành, 71 tuổi, Mountain View, California)

LỜI TỰA

Có những câu chuyện không phải để đọc cho biết.

Mà để… không quên.

Có những cái chết không có mộ.

Chỉ có sóng.

Và có những người sống sót…

là để mang giùm ký ức của những người đã chìm xuống.

Nếu đọc đến đây mà tim bạn còn yên, thì xin đọc tiếp.

Còn nếu thấy cổ họng bắt đầu nghẹn lại…

thì bạn đang chạm vào một phần của lịch sử.

——

  Sài Gòn, 1979

Ba tôi là Trung úy Địa Phương Quân.

Sau 75, ông đi tù cải tạo hơn 3 năm mới về.

Ngày ông bước vô nhà, tôi suýt không nhận ra.

Người gì mà chỉ còn da bọc xương, tóc bạc trắng, mắt trũng sâu như hai cái giếng cạn.

Má tôi đứng chết lặng.

Rồi bà run run:

— “Ông… còn sống thiệt hả ông?”

Ba tôi cười. Cái cười không thành tiếng:

— “Chưa chết… chắc tại tụi nó quên.”

Nhà chín miệng ăn.

Hộ khẩu bị cắt.

Tem phiếu không tới lượt.

Gạo không có.

Tiệm vải của má bị niêm phong, dán giấy đỏ chói.

Họ gọi là “đánh tư sản”.

Má tôi gọi là… “đánh nát đời người”.

Đêm nào bà cũng quay mặt vào vách mà khóc. Không dám khóc lớn. Sợ hàng xóm nghe.

Anh Hai ngồi bó gối một góc, giọng khàn:

— “Ở lại… là chết mòn đó má.”

Má im lặng rất lâu.

— “Đi… thì đi hết.”

——

  Rạch Giá, đêm không trăng.

Ghe dài 11 mét. Nhét 63 con người.

Chủ ghe vỗ ngực:

— “Yên tâm, ghe này đi trót lọt hai chuyến rồi!”

Tụi tôi bị nhét dưới hầm máy.

Nước ngập mắt cá.

Mùi dầu, mùi người, mùi ói… trộn lại thành thứ mùi không bao giờ quên.

Em Út nắm tay tôi, run:

— “Chị Hai… mình có chết không?”

Tôi nuốt nước bọt:

— “Không… mình đi tìm sống mà.”

Ghe vừa ra cửa biển.

Đèn pha quét ngang.

— “Biên phòng!”

Tiếng ai đó hét lên.

Đạn xé gió. “Vèo! Vèo!”

Có tiếng kêu:

— “Ối trời ơi !”

Rồi… im bặt.

Sáng ra mới biết… thím Tám chết. Không kèn, không trống.

Chỉ một tấm chiếu, buộc lại.

Má tôi quay mặt đi. Không dám nhìn. Xác thím thả xuống biển. Như một hòn đá. Không ai biết… biển sâu bao nhiêu.

——

  Cướp biển.Gần Koh Kra.

Hai tàu Thái Lan áp sát. Những bóng người nhảy qua như quỷ.

Dao.

Súng.

Mắt lạnh như không phải người.

— “Gold! Dollar! Fast!”

Không có… là đánh. Ba tôi bị đập báng súng. Ngã xuống.

Máu chảy ướt cả trán.

Má tôi lao tới:

— “Đừng! Ông ấy bệnh rồi! Xin tụi bay!” Một cú đá.

Má văng ra.

Rồi… chúng bắt đầu lôi phụ nữ.

Tôi. Em Út. Con bé 12 tuổi.

Nó khóc thét:

— “Má ơi!!! Má ơi!!!”

Má tôi bò theo, ôm chân tụi nó:

— “Tao lạy tụi bay… trả con tao lại… nó còn nhỏ… nó chưa biết gì hết…”

Một tên cười.

Đá mạnh.

— “Shut up!”

——

Sáu tiếng sau. Không ai hỏi.

Không ai dám hỏi. Khi chúng thả tụi tôi về… em Út không khóc nữa.

Không nói.

Không nhìn ai.

Chỉ ngồi… như một cái xác còn thở.

Má ôm tụi tôi.

Cắn chặt môi… đến bật máu.

— “Con ơi… con ơi…”

Tôi muốn khóc.

Nhưng không còn nước mắt.

Trên ghe… 63 người.

Không một ánh mắt nào dám nhìn tụi tôi.

Không phải họ vô tâm.

Mà vì… ai cũng sợ phải thấy địa ngục.

——-

  Ngày 11. Biển nuốt người. Hết nước từ ngày thứ 7.

Thằng Tèo 6 tuổi khát quá.

Nó lén uống nước biển.

Tối đó… nó co giật.

Má ôm nó, lay:

— “Tèo! Uống miếng nước nữa nè con… Tèo ơi… đừng bỏ má…”

Nó nhìn má.

Môi khô nứt.

— “Má… con khát…”

Rồi… tắt. Trên tay má.

Má không khóc thành tiếng nữa. Chỉ có tiếng… gió biển.

——

Ba tôi thức trắng ba đêm.

Đến đêm 11, ông bắt đầu nói sảng:

— “Tụi bay… ráng sống… đừng quay lại…”

Anh Hai nắm tay ông:

— “Ba… đừng nói vậy…”

Ba tôi nhìn xa xăm. Không còn thấy tụi tôi nữa.

— “Ba mệt rồi…”

Ông gục xuống. Không thở nữa.

Má ngồi đó. Không khóc.

Chỉ nói một câu… nhỏ như gió:

— “Ông đi trước… tui theo sau…”

Ngày 13.

Thằng Tý 9 tuổi… cũng đi.

Ghe còn 59 người.

Nhưng không ai còn là người như lúc đi nữa.

——

   Pulau Bidong, 1979

Ngày 15.

Một giàn khoan của Shell thấy ghe. Họ quăng nước xuống. Bánh mì.

Có người vừa ăn vừa khóc.

Có người… không còn sức để khóc.

Ghe được kéo vào đảo.

7 người đi.

Còn 3 người đến.

Má.

Anh Hai.

Và tôi.

Em Út… chết sau 2 tháng.

Không bệnh nặng.

Chỉ là… nó không nói nữa.

Không ăn.

Không sống.

Má tôi bế nó lần cuối:

— “Con nói với má một câu thôi… một câu thôi…”

Con bé không mở miệng.

Nó đi… như một người đã đi từ lâu rồi.

——

   Những năm sau đó. Gia đình tôi sang Mỹ.

Anh Hai nhập ngũ.

Năm 2004… nó chết ở Iraq.

Ngày nhận giấy báo tử, tôi nhìn má.

Bà không khóc.

Chỉ hỏi:

— “Nó… có lạnh không?”

Má tôi mất năm 2015.

Trên tay… vẫn nắm cái lai áo cũ.

Chỗ ngày xưa may 5 cây vàng.

San Jose. 2026

Tôi 61 tuổi.

Nhiều đêm… vẫn giật mình vì tiếng máy ghe.

Tiếng đạn.

Tiếng “Má ơi…”

Con cháu tôi sinh ở Mỹ. Tụi nó học trường lớn. Sống đời khác.

Tôi không kể.

Vì… không biết bắt đầu từ đâu.

Chỉ mỗi tháng Tư…

tôi ra biển Santa Cruz Beach.

Đốt 3 nén nhang.

Thả 3 bông cúc trắng.

Tôi nói nhỏ:

— “Ba… Tèo… Tý…

Con còn sống.”

Sóng vẫn vỗ.

Như chưa từng có gì xảy ra.

  Sử sách… có thể quên. Nhưng biển… không quên.

Dưới đó… không chỉ có 3 người nhà tôi. Mà là… hàng trăm ngàn người.

Và hàng triệu câu chuyện…

chưa bao giờ được kể hết.

  Nếu bạn đọc đến đây… mà thấy cổ họng nghẹn lại,

xin đừng lau nước mắt vội.

Vì…

có những giọt nước mắt,

là thứ cuối cùng nối người sống…

với người đã nằm lại giữa biển.

Phạm Sơn liêm


 

Người đàn ông Việt Nam đoàn tụ với mẹ ruột sau nhiều thập kỷ (BBC)

(BBC)

Sau gần ba thập kỷ, Ike Robin quay lại Việt Nam để gặp mẹ ruột

Tác giả, Marcus Boothe

Vai trò, Phía Tây nước Anh

5 tháng 4 2026

Một người đàn ông được nhận nuôi từ Việt Nam mới đây đã vượt hàng ngàn kilomet trở về gặp mẹ ruột và cho biết hành trình này đã giúp anh hiểu được “mảnh ghép còn thiếu” trong cuộc đời mình.

Ike Robin, 27 tuổi, đến từ thành phố Bath (Anh), được nhận nuôi khi mới sáu tháng tuổi và lớn lên ở thành phố Brighton cùng ba người chị em nuôi từ Trung Quốc.

Ike cho biết anh luôn có những câu hỏi về nguồn gốc và bản sắc của mình, và muốn biết cuộc sống sẽ khác sao nếu anh không được nhận nuôi.

Anh nói mình từng trải qua “hội chứng kẻ mạo danh”, cho biết dù cảm thấy “may mắn” nhưng vẫn có những lúc anh nghĩ rằng “đây lẽ ra không phải cuộc đời của mình”.

Ike sinh ra với hai lỗ thủng nhỏ ở tim và bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng. Anh nói mình mang ơn gia đình nuôi vì đã cứu sống anh.

Hiện đang làm nghề bảo mẫu, Ike cho biết anh luôn biết mình là con nuôi, nhưng những câu hỏi về cội nguồn ngày càng trở nên thôi thúc hơn khi anh lớn lên.

“Khi còn nhỏ, việc được nhận nuôi không có nhiều ý nghĩa với tôi,” anh nói. “Nhưng khi lớn lên, tôi bắt đầu tự hỏi nhiều hơn rằng cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu tôi không được nhận nuôi.”

Ike Robin

Ike đã cùng bạn gái trở về Việt Nam để tìm hiểu về cội nguồn của mình

Cuối năm 2025, anh đã đi khắp Việt Nam cùng bạn gái và cha mẹ nuôi, rồi sau đó gặp lại mẹ ruột của mình lần đầu tiên sau gần ba thập kỷ.

“Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào, vì đó là mẹ tôi, nhưng đồng thời cũng là một người xa lạ,” anh nói.

Khi bà xuất hiện, Ike cho biết anh nhận ra ngay lập tức.

“Tôi lập tức biết đó là mẹ mình,” anh nói. “Như thể là linh cảm ấy.

Bà Kimberley Fuller cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn trong việc định hình bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu

Theo yêu cầu của mẹ ruột, danh tính của bà không được tiết lộ.

Ike dự định chỉ gặp mẹ ruột, nhưng thay vào đó anh còn được anh chị em, họ hàng và cả bà ngoại chào đón.

Nhà trị liệu tâm lý Kimberly Fuller cho biết trải nghiệm của Ike phản ánh những câu hỏi phức tạp về bản sắc mà nhiều người được nhận nuôi xuyên quốc gia phải đối mặt khi trưởng thành.

Bà cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn với “bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu”, đặc biệt khi bước vào tuổi thiếu niên và giai đoạn sau này của cuộc đời.

“Với một số trẻ, các em có thể hòa nhập với gia đình và những người không nhận ra các em được nhận nuôi, và các em có thể che giấu phần đó trong bản sắc của mình.

“Tuy nhiên, nếu là nhận nuôi khác chủng tộc thì ngay từ đầu đã rất khó, vì đã có sự khác biệt sẵn và còn có thêm sự khác biệt rõ ràng về ngoại hình so với gia đình,” bà nói.

Điều đó có thể khiến người khác đặt câu hỏi mà không cân nhắc tới cảm xúc hoặc cách những câu hỏi đó được tiếp nhận ra sao, bà Fuller nói thêm.

Bà giải thích rằng trẻ có thể cảm thấy bị tách rời không chỉ khỏi gia đình ruột mà còn cảm thấy xa rời với văn hóa, ngôn ngữ và những bản sắc bộc lộ ra ngoài.

Bà Fuller cũng cho biết những người được nhận nuôi có thể trải qua những cảm xúc mâu thuẫn, bao gồm sự biết ơn đối với cuộc sống họ có, đồng thời cũng tiếc nuối những gì đã mất.

Gia đình bố mẹ nuôi và bạn gái Ike đã cùng anh trở về để gặp mẹ đẻ

Đối với mẹ nuôi của Ike, cuộc đoàn tụ là một trải nghiệm xúc động và không hề mang tính đe dọa.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình là người mẹ duy nhất của con,” bà Julia Fleming nói. “Bà ấy là mẹ của thằng bé, và tôi cũng là mẹ của nó.”

Bà cho biết gia đình luôn cố gắng giữ cho con cái họ kết nối với nguồn cội và đã ủng hộ việc Ike liên lạc với mẹ ruột từ khi anh lên bảy.

Ike nói rằng cuộc đoàn tụ không phải là dịp để trách móc, mà là để thấu hiểu.

“Thông điệp chính tôi muốn truyền tải là tôi không hề có cảm xúc tiêu cực nào với bà,” anh nói. “Đây có thể là khởi đầu cho một hành trình mới tốt đẹp.”


 

Iran chuyển đến Mỹ « đề xuất 14 điểm » để chấm dứt hoàn toàn xung đột (RFI)

(RFI)

Theo các hãng tin Iran, được AFP hôm nay, 03/05/2026, dẫn lại, Teheran vừa chuyển cho Mỹ đề xuất « 14 điểm » đàm phán trong vòng 30 ngày để đạt giải pháp chấm dứt xung đột. Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ xem xét đề nghị mới của Teheran, nhưng không loại trừ việc oanh kích Iran trở lại.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi. Ảnh tư liệu ngày 23/05/2025.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi. Ảnh tư liệu ngày 23/05/2025. AP – Alexander Kazakov

Theo hãng thông tấn Tasnim, đề xuất của Teheran, gửi đến Nhà Trắng thông qua Pakistan, yêu cầu Mỹ rút quân khỏi các khu vực gần Iran, dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng của Iran, giải tỏa tài sản bị đóng băng của Iran, thanh toán tiền bồi thường chiến tranh, dỡ bỏ lệnh trừng phạt, thiết lập một « cơ chế » liên quan đến eo biển Hormuz, « chấm dứt chiến tranh trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả ở Liban ». Vấn đề hạt nhân, vốn là một đòi hỏi trọng tâm của Mỹ, không được nhắc đến trong đề xuất này.   

Phạm Đoan Trang trong số ’10 trường hợp khẩn thiết’ 2026 về tự do báo chí

Ba’o Nguoi-Viet

May 3, 2026

New York City, NY (NV) – Nhà báo, nhà đấu tranh Phạm Đoan Trang của Việt Nam có tên trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” (Global ‘10 Most Urgent’ 2026) liên quan đến tự do báo chí, do hơn 40 cơ quan truyền thông toàn cầu cùng hợp tác trong Liên Minh One Free Press lập nên.

Tờ Forbes dẫn tin đúng vào Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới, hôm Chủ Nhật, 3 Tháng Năm.

Nhà báo Phạm Đoan Trang (Hình: icj.org)

Về trường hợp nhà báo Phạm Đoan Trang của Việt Nam, Liên Minh One Free Press cho biết:

“Năm 2021, nhà văn, nhà báo và nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bị kết án chín năm tù vì tội ‘tuyên truyền chống nhà nước.’ Bà viết về dân chủ, tự do ngôn luận, nhân quyền và bạo lực của cơ quan công an. Trong thời gian bị giam, sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng. Bà bị viêm xoang, viêm khớp, các vấn đề phụ khoa và các cơn đau chân kéo dài. Bà bị từ chối điều trị y tế bên ngoài và bị chuyển đến nơi giam giữ cách xa gia đình gần 1,600 km, như một hình thức trừng phạt bổ sung.”

Theo Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ), phần lớn các nhà báo bị giam giữ tính đến ngày 1 Tháng Mười Hai, năm 2025, chiếm 61% số người bị bỏ tù trên toàn cầu, bị giam giữ theo các cáo buộc “chống nhà nước”; “khủng bố” hoặc nhận tài trợ từ chính phủ ngoại quốc.

Danh sách được tổng hợp với sự hợp tác của CPJ, Quỹ Truyền Thông Phụ Nữ Thế Giới (IWMF) và Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF.) Theo dữ liệu của CPJ, hiện có 330 nhà báo đang bị giam giữ trên toàn thế giới liên quan đến công việc của họ.

Ngoài bà Phạm Đoan Trang, chín nhà báo còn lại trong danh sách “Global ‘10 Most Urgent’” là: Ông Reza Valizadeh (Iran); ông Jimmy Lai (Hong Kong); bà Zhang Zhan (Trung Quốc); bà Ulfatkhonim Mamadshoeva (Tajikistan); nhà làm phim, nhiếp ảnh gia Tsi Conrad (Cameroon); nữ nhà báo Frenchie Mae Cumpio (Philippines); bà Sevinj Vagifgizi (Azerbaijan), chủ bút tờ Abzas Media; bà Genet Asmamaw (Ethiopia); nhà báo thể thao Christophe Gleizes (Algeria).

Trong năm qua, Liên Minh One Free Press đã đón mừng việc trả tự do cho ba nhà báo từng xuất hiện trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” vào Tháng Năm, năm 2025. Đó là  Vladyslav Yesypenko (bị giam tại Crimea do Nga kiểm soát từ năm 2021), Shin Daewe (bị giam tại Myanmar từ Tháng Mười 2023) và Ihar Losik (bị giam tại Belarus.)

Liên Minh One Free Press đã liên kết với hơn một tỷ độc giả, sử dụng các nền tảng xã hội rộng khắp để hỗ trợ 10 nhà báo của “10 trường hợp khẩn thiết nhất” sau đây cùng các trường hợp khác bị đàn áp báo chí trong năm 2026. (K.L) [kn]


 

đạo Công giáo được cho là truyền đến Việt Nam sớm nhất vào năm 1533

Theo các tài liệu lịch sử, đạo Công giáo được cho là truyền đến Việt Nam sớm nhất vào năm 1533 (thế kỷ XVI), dưới triều vua Lê Trang Tông. Nơi đầu tiên đón nhận là vùng ven biển thuộc trấn Sơn Nam, cụ thể là các làng Ninh Cường và Trà Lũ (thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày nay) bởi thừa sai tên là I-ni-khu.

ÍT HƠN CHÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thần linh mặc lốt người phàm đã xuống với chúng ta!”.

“Tội thờ ngẫu tượng là tội thờ bất cứ thứ gì chỉ nên sử dụng, hoặc sử dụng bất cứ thứ gì chỉ nên tôn thờ!” – Augustinô. Vì thế, “Điều mà tôi sẵn sàng cho đi ‘bất cứ thứ gì để có’, và không nhận ‘bất cứ thứ gì để mất’ là Thiên Chúa của tôi. Tôi không bao giờ tôn thờ một thứ gì đó ít hơn Ngài!” – J. McMath.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay hé lộ một nghịch lý: con người không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng lại dễ dàng tôn thờ một điều gì đó ‘ít hơn Chúa!’.

Tại Lystra, sau khi Phaolô chữa lành một người bại, dân thành kêu lên, “Thần linh mặc lốt người phàm đã xuống với chúng ta!”. Họ gọi Phaolô và Barnaba là thần, và định dâng lễ tế hai ngài. Phaolô xé áo mình: “Chúng tôi đây cũng chỉ là người phàm!” – bài đọc một. Đó không chỉ là một sai lầm, nhưng là một phản xạ tôn giáo: con người luôn muốn hữu hình hoá Thiên Chúa; và khi không thể nắm bắt Ngài, họ dễ thay thế Ngài bằng một điều gì đó gần hơn, dễ thấy hơn – nhưng không phải là Ngài. Thánh Vịnh đáp ca nhắc lại hướng đi đúng: “Xin đừng làm rạng rỡ chúng con, lạy Chúa, nhưng xin cho Danh Ngài rạng rỡ!”.

Một thực tại hữu hạn có thể được đẩy lên vị trí chỉ Thiên Chúa mới có. Vì thế, ngẫu tượng không chỉ là thờ một điều sai, nhưng là yêu một điều đúng theo một trật tự sai, một ordo amoris bị đảo lộn khi điều hữu hạn được tuyệt đối hoá, và Thiên Chúa bị đẩy ra khỏi chỗ của Ngài. Những thực tại ấy không đến như thần linh, nhưng dần được sống như thần thánh; chính ở đó, con người bắt đầu lệch hướng – nhiều khi ngay trong những chọn lựa rất quen của bạn và tôi. “Điều bạn trao niềm tin tuyệt đối sẽ trở thành thần của bạn!” – Hans Urs von Balthasar.

Phải chăng vì thế, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Đấng Bảo Trợ: “Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và làm cho anh em nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói”. Thánh Thần không chỉ dạy điều phải tin, nhưng thanh luyện điều chúng ta yêu; Ngài không thêm một đối tượng mới, nhưng giải phóng con người khỏi những gì đã chiếm chỗ của Thiên Chúa, và sắp xếp lại trật tự của tình yêu – reordinatio amoris.

Anh Chị em,

Nếu con người dễ tôn thờ một điều gì đó ‘ít hơn Chúa’, thì nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không còn là Đấng xa vời để phải thay thế – “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha!”. Ngài không chỉ là con đường, nhưng là lối dẫn vào tương quan với Cha; không chỉ dạy phải yêu thế nào, nhưng dạy phải yêu ai. Vì thế, điều quyết định không còn là chọn điều này điều kia, nhưng là nhận ra Đấng duy nhất đáng cho đi tất cả để có, và không nhận bất cứ thứ gì để mất. Chỉ khi ở lại trong Ngài, con người mới thôi tuyệt đối hoá những gì hữu hạn, và tình yêu được đặt lại đúng chỗ. “Con người không thể sống mà không thờ phượng; nếu không thờ Thiên Chúa thật, họ sẽ thờ những thần giả!” – Joseph Ratzinger.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ngẫu tượng thường làm con hao tổn và lầm lạc. Xin sắp xếp lại tình yêu của con, để với con: Chúa trên hết, Chúa trước hết; không ai hơn Chúa, không chi bằng Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần V Phục Sinh

Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 14,21-26

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”

22 Ông Giu-đa, không phải Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian ?” 23 Đức Giê-su đáp : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. 24 Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. 25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. 26 Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”


 

Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart

My Lan Pham 

Cô đã hôn Elvis Presley. Rồi biến mất vào tu viện mãi mãi và người đàn ông yêu cô vẫn đến thăm mỗi dịp Giáng sinh.

Năm 1957, một nữ diễn viên trẻ đến từ Chicago tên là Dolores Hart bước lên phim trường và bước vào vòng tay của Elvis Presley. Cô 19 tuổi. Anh đã là một hiện tượng. Nụ hôn của họ trong bộ phim Loving You trở thành huyền thoại, không chỉ vì sự rung động mà còn vì những gì xảy ra sau đó.

Cô không biến mất. Cô vụt sáng.

Hai bộ phim với Elvis. Where the Boys Are là một hiện tượng văn hóa. Sân khấu Broadway. Một đề cử Tony. Làm việc cùng Montgomery Clift. Giới điện ảnh thì thầm tên cô bên cạnh Grace Kelly. Một hợp đồng hãng phim. Một căn hộ ở Manhattan. Một tương lai rực rỡ đến mức phải đeo kính râm mới nhìn nổi.

Và một người đàn ông tên Don Robinson, người yêu cô với một sự chắc chắn đủ để vạch ra cả một đời.

Rồi năm 1959, kiệt sức sau Broadway, một người bạn khuyên cô đến nghỉ ngơi ở một nơi yên tĩnh. Một tu viện Benedictine nằm giữa những ngọn đồi Connecticut, Regina Laudis Abbey, ở thị trấn Bethlehem.

Cô đến, miễn cưỡng. Ở lại một thời gian ngắn.

“Sau vài giờ,” cô sau này kể lại, “bạn sẽ cảm thấy đây là một nơi đặc biệt.”

Cô quay lại nhiều lần. Mỗi lần rời đi lại khó hơn.

Cô vẫn tiếp tục diễn xuất. Năm 1961, khi quay bộ phim Francis of Assisi tại Rome, cô gặp Pope John XXIII. Một điều gì đó trong cô thay đổi, thứ mà chính cô khi đó cũng chưa thể gọi tên.

Tu viện cứ thế gọi cô quay về.

Don chờ đợi. Hy vọng. Yêu cô.

Trong một trận bão tuyết tại tu viện, khi đang đi lên dốc hướng về một cây thánh giá gỗ, sự rõ ràng đến như tia chớp.

Cô hiểu.

Cô nói sự thật với Don.

Nhiều năm sau, ông kể lại khoảnh khắc đó với sự chân thành trần trụi:

“Đau đớn ư? Đùa sao? Tôi là con người. Tôi yêu cô ấy sâu sắc và đến giờ vẫn vậy.”

Don Robinson là một người Công giáo sùng đạo. Dù tan vỡ, ông vẫn chúc phúc cho lựa chọn của cô.

Năm 1963, ở tuổi 24, Dolores Hart hoàn thành bộ phim cuối cùng, nói lời tạm biệt với New York, lên xe và đến Regina Laudis.

Cô không bao giờ rời đi nữa.

Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart. Năm 2001, cô được bầu làm bề trên của cộng đoàn.

Hollywood vẫn hỏi điều gì đã xảy ra, cô đang chạy trốn điều gì.

Câu trả lời của cô chưa bao giờ thay đổi.

Cô không chạy trốn khỏi điều gì cả.

“Điều tôi khám phá ra là Chúa hiện diện trong mỗi con người bạn sống cùng. Bạn không tìm thấy Ngài tách rời khỏi những người bạn cùng sống và yêu thương.”

Cô không rời bỏ thế giới. Cô trở thành nữ tu đầu tiên được bầu làm thành viên có quyền bỏ phiếu của Academy of Motion Picture Arts and Sciences, vẫn gửi phiếu bầu Oscar mỗi năm từ sau những bức tường tu viện. HBO làm phim tài liệu về cuộc đời cô. Cô đồng viết hồi ký. Cô xây dựng một nhà hát ngoài trời tại tu viện, nơi các nữ tu biểu diễn nhạc kịch mỗi mùa hè.

Còn Don.

Ông không bao giờ kết hôn.

Ông vẫn lái xe đến tu viện mỗi dịp Giáng sinh và Lễ Phục Sinh.

Suốt sáu thập kỷ.

Ông từng nói, không chút cay đắng, với sự từng trải mà chỉ tình yêu thật sự mới dạy được

“Không phải tình yêu nào cũng cần đi đến hôn nhân.”

Sơ Dolores Hart giờ đã 87 tuổi. Bà đã sống tại Regina Laudis hơn 60 năm.

Don vẫn đến thăm hai lần mỗi năm.

Cô đã hôn Elvis Presley khi 19 tuổi. Cô chọn Chúa khi 24 tuổi. Cô đã yêu cả thế giới này và cả một điều gì đó vượt lên trên nó.

Tất cả đều là sự thật. Và không điều nào mâu thuẫn với điều nào.

Đó không phải bi kịch. Không phải bí ẩn.

Đó là một cuộc đời được sống trọn vẹn, chỉ là không phải cuộc đời mà ai cũng mong đợi.

Và chính điều đó khiến nó trở nên phi thường hơn nữa.


 

ĐOẠN TUỔI NGUY HIỂM NHẤT. (Bài viết dành riêng cho người độ tuổi 70 – 79)

(Bài viết dành riêng cho người độ tuổi 70 – 79)

Khi về già mọi người muốn có một cuộc sống khỏe mạnh. Họ nhận ra rằng ′′Sức khỏe là của cải”. Nhưng để có được trường thọ, trong 10 năm từ 70 đến 79 tuổi rất quan trọng! 

Học giả Israel đã phát hiện ra điều đó 

70 -79 tuổi là giai đoạn nguy hiểm. Trong giai đoạn này, nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể giảm nhanh chóng. Đây là một thời kỳ thường xuyên mắc các bệnh lão khoa khác nhau, và thông thường dễ bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và tiểu đường.

Sau khi bước vào độ tuổi 80, những căn bệnh trên sẽ giảm đi, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể trở lại ở như độ 60 – 69 tuổi.

Có nghĩa là, tuổi từ 70 đến 79 tuổi được gọi là

 ′′nhóm tuổi nguy hiểm”. Việc chăm sóc sức khỏe 10 năm từ 70 đến 79 tuổi là rất quan trọng.

Dưới đây là một số bước đơn giản được gọi là ′′Làm mười điều mỗi ngày′′ Điều này sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn ′′nhóm tuổi nguy hiểm′′ của cuộc đời mình.

 1.Nước

Nước là ′′thức uống tốt nhất và rẻ nhất cho sức khỏe”. 3 thời điểm quan trọng với mỗi lần 1 ly nước:

 Cốc đầu tiên: Sau khi ra khỏi giường. Bạn có thể uống một ly nước trong một cái bụng rỗng. Ngay cả khi chúng ta không cảm thấy khát nước sau khi thức dậy, máu ở trạng thái bị đặc do thiếu nước. Do đó, sau khi ra khỏi giường, bạn phải từ từ bổ sung nước càng sớm càng tốt.

 Cốc thứ hai: Sau khi tập thể dục. Một bài tập thể dục phù hợp là một trong những nền tảng của trường thọ. Tuy nhiên, sau khi tập thể dục, đặc biệt chú ý cần phải bổ sung và thay thế nước. Điều này đực biệt khuyến khích đối với người già.

 Cốc thứ ba: Trước khi đi ngủ. Một cốc nước trước khi đi ngủ có thể làm giảm độ nhớt của máu một cách hiệu quả và làm chậm quá trình lão hóa. Giúp chống lại đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và các bệnh khác.

 2.Cháo

Trung Quốc Daily Online đã công bố một nghiên cứu 14 năm do Đại học Harvard thực hiện trên 100,000 người. Thấy rằng mỗi ngày một bát cháo ngũ cốc nguyên hạt khoảng 28 gram giảm 5% đến 9% tử vong và giảm cơ hội mắc bệnh tim mạch. Các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt, ngô và tam giác mạch dường như đã tránh được tất cả các bệnh, đặc biệt là bệnh tim. 

  1. Một cốc sữa

Sữa được gọi là ′′huyết trắng ′′ và có trong cơ thể con người. Giá trị dinh dưỡng của nó được biết đến với rất nhiều canxi, chất béo và protein. Sữa và các sản phẩm từ sữa được khuyến nghị dùng hàng ngày là 300 gam. Khuyên nghị uống một hoặc hai bình sữa 200 ml hoặc gói sữa mỗi ngày. 

  1. Một quả trứng

Trứng có thể nói là loại thực phẩm thông dụng nhất của con người. Tỷ lệ hấp thụ protein trứng của cơ thể có thể cao hơn 98 %. 

  1. Một quả táo

Nghiên cứu hiện đại tin rằng táo có tác dụng hạ mỡ máu, giảm cân, ngăn ngừa ung thư, ngăn ngừa lão hóa, tăng cường trí nhớ, và làm cho da mịn màng và mềm mại. Lợi ích sức khỏe của táo màu khác nhau:

Táo đỏ có tác dụng hạ lipid máu và làm mềm mạch máu

Táo xanh có tác dụng dưỡng gan và giải độc, chống trầm cảm nên thích hợp hơn cho người trẻ.Táo vàng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ thị giác. 

  1. Một củ hành

Hành có giá trị dinh dưỡng rất cao và có nhiều chức năng, bao gồm việc giúp hạ đường huyết, giảm mỡ máu, ngăn ngừa ung thư, bảo vệ tim mạch và các bệnh về não, và chống vi khuẩn, ngăn ngừa cảm cúm, bổ sung canxi và xương. Ăn hành tây ít nhất ba hoặc bốn lần một tuần. 

  1. Một miếng cá

Các nhà dinh dưỡng Trung Quốc đã cảnh báo rằng ăn “bốn chân” còn tệ hơn ăn “hai chân”, ăn “hai chân” còn tồi tệ hơn ăn “không có chân”.

′′Không có chân′′ chủ yếu đề cập đến cá và nhiều loại rau khác nhau. Các protein chứa trong cá dễ dàng được tiêu hóa và hấp thụ. Lượng axit béo không bão hòa trong chất béo, đặc biệt là axit béo đa năng, tương đối tốt cho cơ thế.

  1. Bước đi nhẹ nhàng

Đây có tác dụng chống lão hóa thần kỳ. Khi người cao tuổi đi bộ (khoảng 1 km hoặc ít hơn) đều đặn trong hơn 12 tuần, sẽ đạt được hiệu quả về dáng và vòng eo, và cơ thể trở nên dẻo dai và không dễ bị mệt mỏi. Ngoài ra, tập thể dục bằng cách đi bộ cũng có lợi cho việc chữa đau đầu, đau lưng, đau vai., và có thể thúc đẩy giấc ngủ.

 Các chuyên gia tin rằng đi bộ 30 phút mỗi ngày có thể thoát khỏi nguy hiểm của ′′bệnh người cao tuổi”. Những người đi 10,000 bước một ngày sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và mạch máu não. 

  1. Một sở thích

Có một sở thích, dù là trông hoa, nuôi chim, sưu tầm tem, câu cá, hay vẽ tranh, hát, chơi cờ, và du lịch, đều có thể giúp người già duy trì sự tiếp xúc rộng rãi với xã hội và thiên nhiên. Điều này làm mở rộng những thú vị của người già. Họ sẽ yêu và trân trọng cuộc sống. 

  1. Tâm trạng vui vẻ

Người già nên duy trì cảm xúc tốt vì những điều này cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của họ. Các bệnh mãn tính thường gặp ảnh hưởng đến người già có liên quan chặt chẽ đến những cảm xúc tiêu cực của người già: 

Nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim, mạch vành, bị nhồi máu cơ tim do kích thích các cảm xúc bất lợi dẫn đến tử vong đột ngột; 

Tính nóng là điều ′′xấu′′ dẫn đến huyết áp cao. Trong trường hợp kéo dài và nghiêm trọng sẽ có thể gây ra đột quỵ, suy tim, tử vong đột ngột, 

Các cảm xúc tiêu cực như tức giận, lo lắng và đau buồn có thể khiến lượng đường huyết tăng lên, gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thế. 

Điều này cho thấy tâm trạng tối quan trọng như thế nào! 

Sưu Tầm

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*

*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*

Tôi từng đôi lần bay Spirit Airlines trong nước Mỹ.

Ai đi hãng này rồi đều biết cảm giác rất đặc biệt: mua được tấm vé rẻ đến mức không tin nổi, nhưng từ lúc ra sân bay cho tới khi máy bay chạm bánh xuống đất thì chỉ biết… cầu nguyện.

Cầu nguyện đừng delay. Cầu nguyện đừng đổi gate phút chót. Cầu nguyện đừng bị tính thêm một đống tiền hành lý.

Ghế chật, dịch vụ tối giản, tiếp viên lạnh như tiền, và cái màu vàng chói chang của chiếc máy bay nhìn xa đã thấy “tiết kiệm”.

Spirit chưa bao giờ là hãng hàng không khiến người ta tự hào check-in, nhưng nó là hãng mà rất nhiều người Mỹ bình dân âm thầm biết ơn. Vì trong túi chỉ có vài chục đô, khi muốn đưa con đi chơi mùa hè mà không đủ tiền bay Delta, khi sinh viên cần một chuyến về thăm nhà, khi một gia đình lao động phải cân từng đồng trước kỳ nghỉ lễ… thì Spirit thường là cái tên cuối cùng còn hiện ra trên màn hình với mức giá “còn với tới được”.

Nói cách khác đó là chiếc máy bay của tầng lớp không dư dả nhưng vẫn cố giữ cho mình quyền được đi đâu đó.

Hôm nay chiếc máy bay vàng ấy đã chết!

Spirit Airlines ngừng toàn bộ hoạt động. 17.000 nhân viên bị đẩy vào cảnh mất việc hoặc treo việc vô thời hạn. Hàng ngàn hành khách đang mắc kẹt.

Bề ngoài đây là một tin doanh nghiệp phá sản, nhưng thật ra nó là một tín hiệu xã hội đáng sợ hơn nhiều.

Bởi Spirit không chết trong chân không. Nó chết đúng vào lúc giá nhiên liệu máy bay leo thang sau khi cuộc chiến Iran làm thị trường dầu toàn cầu chao đảo.

Với các hãng hàng không lớn, giá nhiên liệu tăng là một bài toán khó. Với Spirit, hãng sống bằng từng đồng vé rẻ mạt, đó là phát súng ân huệ.

Chi phí tăng nhưng họ không dám tăng vé, vì khách của Spirit là những người chỉ cần vé nhích thêm vài chục đô là sẽ thôi không đi nữa. Cho nên khi dầu tăng, điều bị bóp nghẹt đầu tiên không phải là kho dự trữ của tập đoàn lớn, mà là cơ hội di chuyển của người nghèo.

Người dân Mỹ không cần hiểu gì về eo biển Hormuz hay giá dầu Brent. Họ chỉ hiểu một điều rất cụ thể mùa hè này đổ xăng tốn hơn, đặt vé máy bay đắt hơn, và hãng bay rẻ nhất vừa biến mất.

Một cuộc chiến cách nửa vòng trái đất bỗng hiện hình ngay trong kế hoạch về thăm mẹ, chuyến đi Disney cho bọn trẻ, hay tấm vé đoàn tụ dịp Memorial Day.

Đó là lúc chiến tranh không còn nằm trên bản đồ Trung Đông nữa mà nằm trong ví tiền người Mỹ.

Người giàu vẫn còn Delta. Người trung lưu còn có United hay American. Nhưng với hàng triệu người sống paycheck to paycheck, Spirit là chiếc van xả áp cuối cùng của một nước Mỹ đang ngày càng đắt đỏ.

Khi chiếc van ấy biến mất, thông điệp tâm lý rất tàn nhẫn xuất hiện: ở nước Mỹ của những cuộc chiến mới, ngay cả quyền được bay giá rẻ cũng đang trở thành xa xỉ.

Điều nguy hiểm cho Donald Trump nằm chính ở đó.

Bởi Nhà Trắng có thể nói về chiến thắng quân sự, về sức mạnh quốc gia, về việc răn đe Iran.

Nhưng rất khó thuyết phục một bà mẹ lao động ở Ohio hay một sinh viên ở Texas rằng chiến tranh đang “được kiểm soát” khi họ vừa thấy vé máy bay đội giá và một hãng hàng không bình dân sụp đổ.

Những cuộc chiến luôn bắt đầu bằng tiếng nổ ở xa, nhưng sự ủng hộ dành cho chúng thường chết đi bằng những hóa đơn rất gần.

Spirit Airlines, chiếc máy bay vàng hay delay mà người Mỹ nghèo vẫn cắn răng bay, hôm nay đã trở thành một hóa đơn như thế.

Có thể đây chỉ là hãng hàng không đầu tiên ngã xuống.

Nhưng nó là lời nhắc rõ ràng rằng: quả bom đầu tiên từ chiến tranh Iran không rơi vào Tehran… mà rơi thẳng vào túi tiền dân Mỹ.


 

TRONG ĐƯỜNG – VẪN LẠC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.

“Kitô giáo không phải là một ý tưởng, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một con người!” – Joseph Ratzinger.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ nói về sự không biết của Tôma, nhưng hé lộ một nghịch lý: có thể ở rất gần mà vẫn không gặp gỡ; đã đúng đường mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường – vẫn lạc’.

Tôma không sai khi hỏi, nhưng sai ở cách nghĩ: ông vẫn tìm một con đường để đi, như một lộ trình cần xác định. Trong khi “đường” Gioan dùng – hodos – không chỉ là một hướng đi, nhưng là một cách hiện hữu, một tương quan sống động. Vì thế, vấn đề không phải là không biết phải đi đâu, nhưng là không nhận ra mình đang ở với ai; từ đó, con người có thể lạc ngay trên chính con đường mình đang đi. “Đức tin không phải là một ý kiến, nhưng là một sự gắn bó với Thiên Chúa!” – Romano Guardini.

Trong bối cảnh ấy, những gì Chúa Giêsu nói không chỉ là một câu trả lời, nhưng là một mặc khải: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”. Đường không còn là một lộ trình phải vạch ra, nhưng là một hiện diện để bước vào; sự thật không còn là điều phải nắm bắt, nhưng là một tương quan để ở lại; và sự sống không còn là một mục tiêu ở phía trước, nhưng là điều đang tuôn chảy từ chính Ngài. Thế nhưng, con người vẫn quen tìm những con đường khác: những lựa chọn, những bảo đảm, những câu trả lời có thể nắm chắc trong tay; và chính trong những tìm kiếm ấy, bạn và tôi có thể đang ở trong Đường ấy, mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường – vẫn lạc’.

“Ở trong Đường” không phải là một kinh nghiệm riêng lẻ. Chúa Giêsu nói thêm: “Ai tin vào Thầy” sẽ làm những việc Thầy làm, và còn làm những việc lớn hơn nữa. “Những việc” – erga – không phải là của con người, nhưng là của Thiên Chúa nơi cộng đoàn những kẻ tin. “Không ai có thể có Thiên Chúa làm Cha nếu không có Giáo Hội làm Mẹ!” – Henri de Lubac. Nơi đó, họ chọn phó tế và rao giảng Lời – bài đọc một. Và đức tin vì thế không dừng ở một tương quan riêng tư, nhưng trở thành một thân thể: những con người được gọi ra khỏi bóng tối – bài đọc hai, để cùng tham dự vào hành động của Ngài; một cộng đoàn sống niềm vui Tin Mừng trong tạ ơn và cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đường không còn là điều để tìm, nhưng là Đấng để ở trong. Vì thế, điều quyết định không còn là biết, nhưng là ở lại; không còn là làm, nhưng là thuộc về. Và chỉ trong Ngài, con người mới thôi lạc; giữa những chọn lựa chồng chéo của đời sống, không còn phải dò dẫm, nhưng được ở yên trong một tương quan; không còn đi tìm một con đường khác, nhưng được ở trong chính Đường. “Chúng ta không còn biết tình yêu là gì, nếu không còn biết Thiên Chúa là ai!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có lúc con tưởng mình biết đường, nhưng lòng vẫn chông chênh. Cho con ở lại trong Ngài, giữa bao ngả đường!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT V PHỤC SINH, NĂM A

Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 14,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” 6 Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. 7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

8 Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”


 

Thánh A-tha-na-xi-ô – Cha Vương 

Đêm qua ngủ có ngon không? Đừng có ngáp ngủ nhé. Nếu có ngáp thì hãy thốt lên: “Lạy Chúa xin giúp con…” Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh A-tha-na-xi-ô (296? – 373), Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình.

Cha Vương 

Thứ 7: 02/05/2026.    (t6-25)

Cuộc đời Thánh A-tha-na-xi-ô đầy bôn ba vì tận tụy phục vụ Giáo Hội. Ngài là quán quân bảo vệ đức tin đối với sự lan tràn của lạc thuyết Arian. Sự nhiệt huyết của ngài được thể hiện trong các trước tác giúp ngài xứng đáng là Tiến Sĩ Hội Thánh.

   Sinh trong một gia đình Kitô Giáo ở Alexandria khoảng vào năm 295 và được giáo dục kinh điển, A-tha-na-xi-ô gia nhập hàng giáo sĩ và là thư ký cho Ðức Alexander, Giám Mục của Alexandria, và sau đó chính ngài được nâng lên hàng giám mục. Vị tiền nhiệm của ngài, Ðức Alexander, từng là người lớn tiếng chỉ trích một phong trào mới đang bành trướng ở Ðông Phương thời bấy giờ, đó là lạc thuyết Arian, họ khước từ thiên tính của Ðức Kitô và không coi Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.

   Khi Ðức A-tha-na-xi-ô đảm nhận vai trò Giám Mục của Alexandria, ngài tiếp tục chống với lạc thuyết Arian. Lúc đầu, cuộc chiến dường như dễ dàng để chiến thắng và lạc thuyết Arian sẽ bị kết án. Nhưng thực tế thì trái ngược. Công Ðồng Tyre đã được triệu tập và vì một vài lý do không rõ ràng, Hoàng Ðế Constantine đã trục xuất Ðức A-tha-na-xi-ô đến miền bắc nước Gaul. Ðây là chuyến đi đầu tiên trong một chuỗi hành trình và lưu đầy có nét phảng phất như cuộc đời Thánh Phaolô.

   Khi Constantine từ trần, người con trai kế vị đã phục hồi quyền giám mục của Ðức A-tha-na-xi-ô. Nhưng chỉ được có một năm, ngài lại bị truất phế vì sự liên hiệp của các giám mục theo phe Arian. Ðức A-tha-na-xi-ô đã đệ đơn lên Rôma, và Ðức Giáo Hoàng Julius I đã triệu tập một công đồng để duyệt qua vấn đề và các khó khăn liên hệ.

   Trong bốn mươi sáu năm làm giám mục, ngài đã phải lưu đầy mười bảy năm chỉ vì bảo vệ tín điều về thiên tính của Ðức Kitô. Trong một thời gian, ngài được an hưởng 10 năm tương đối bình an để đọc sách, viết lách và cổ võ lý tưởng của đời sống đan viện mà ngài hết lòng tận tụy.

   Các văn bản và giáo lý của ngài hầu hết là các bài bút chiến, trực tiếp chống lại mọi góc cạnh của lạc thuyết Arian. Trong các văn bản của ngài về đời sống khổ hạnh, cuốn Ðời Sống Thánh Anthony được nhiều người biết đến và góp phần lớn trong việc thiết lập đời sống đan viện trên khắp thế giới Kitô Giáo Tây Phương.

   Sau một cuộc đời đức hạnh và chịu đau khổ gian nan nhưng vẫn trung kiên với Đức Tin Công giáo. Ngài là một vĩ nhân của thời đại đã an nghĩ đời đời trong Chúa vào ngày 2 tháng 5 năm 373. Thánh tích của ngài hiện còn ở San Croce, Venice, nước Ý.

   Thánh A-tha-na-xi-ô được tuyên dương là Tiến sĩ của Hội Thánh do Đức Giáo Hoàng Pius V năm 1568.

LỜI TRÍCH: Những khó nhọc mà Thánh A-tha-na-xi-ô đã phải đau khổ trong khi lưu đầy – trốn tránh, bỏ chạy từ nơi này sang nơi khác – nhắc nhở chúng ta về những gì mà Thánh Phaolô đã đề cập đến trong cuộc đời ngài: “Trong nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, ở sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; trong vất vả mệt nhọc, qua những đêm không ngủ, qua sự đói khát, thường xuyên phải nhịn ăn uống, qua sự lạnh lẽo và trần truồng. Ngoài những điều này, tôi còn bị ray rứt hằng ngày vì sự ưu tư lo cho tất cả các giáo hội” (2 Corinthians 11:26-28).

(Nguồn: Người Tín Hữu online)

Bạn đã và đang làm gì để giữ vững đức tin? Cái giá bạn phải trả là gì?

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho thánh giám mục A-tha-na-xi-ô được can đảm đứng lên bênh vực niềm tin của Giáo Hội về thần tính của Đức Ki-tô, Con Một Chúa. Xin nhậm lời thánh nhân chuyển cầu mà ban cho chúng con biết nghe lời người giảng dạy, để ngày càng hiểu biết và yêu mến Chúa hơn. Chúng con cầu xin…

 (Lời nguyện trong kinh Thần Vụ)

From: Do Dzung

*****************************

Con Tin Chúa Ơi – Lm Duy Thiên