CÚ SỐC GIÁO DỤC MIỀN NAM QUA GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN MIỀN BẮC…

8 SÀI GÒN

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975).

Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH).

Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc.

Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội.

Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi.

Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên.

Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.

[…] 

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lý giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

* Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

* Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

* Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lý giáo dục.

Theo tôi, cứ lấy triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

(Thanks. Bài của Những Công Dân tự do…)

VIỆT LUẬN


 

 Đừng Đợi Đến Lúc “Hết Đát” Mới Biết Vì Sao Tuổi Già Của Mình Lại Thảm Hại Hơn Người Khác

Trầm Mặc Huơng Lai

 Đừng Đợi Đến Lúc “Hết Đát” Mới Biết Vì Sao Tuổi Già Của Mình Lại Thảm Hại Hơn Người Khác

​Nhiều người Việt bước vào tuổi xế chiều với một tiếng thở dài: “Cả đời hy sinh vì con, sao giờ lại trắng tay, cô độc?”. Câu trả lời nằm ở một nghịch lý đau đớn: Chính sự “tận hiến” không trí tuệ lúc trẻ đã tự đào hố chôn vùi hạnh phúc lúc già. Tuổi già không thảm hại vì thiếu tiền, mà thảm hại vì đã đặt cược toàn bộ cuộc đời vào một canh bạc mà bạn chắc chắn nắm phần thua.

​1. Cái bẫy “Hy sinh đời bố, củng cố đời con” kiểu truyền thống

​Ở Việt Nam, có một kiểu thương con rất… kỳ lạ. Cha mẹ sẵn sàng thắt lưng buộc bụng, không dám ăn miếng ngon, không dám đi du lịch, cày cuốc như trâu ngựa chỉ để tích góp từng đồng mua đất, xây nhà, sắm sửa để dành cho con.

​Sự thật phũ phàng: Bạn dốc cạn túi tiền an dưỡng để “để dành” cho con một bệ phóng hoàn hảo. Nhưng bạn quên mất rằng, tiền bạc không đi kèm giáo dục bản lĩnh sẽ chỉ tạo ra những đứa trẻ không xương sống.

​Hệ lụy: Đến khi về già, trong tay bạn chỉ còn những căn bệnh mãn tính vì lao lực quá độ và một tài khoản ngân hàng trống rỗng. Bạn trở thành kẻ “nghèo khó” ngay trên chính đống tài sản mình đã tạo ra, vì nó đã mang tên người khác.

​2. “Nuôi con như nuôi thực vật” và những đứa trẻ vô cảm

​Khi cha mẹ lo hết, làm hết, dọn sẵn mọi thảm đỏ, họ vô tình biến con cái thành những “cây thực vật” trong lồng kính. Những đứa trẻ này lớn lên với tư duy: Sự hy sinh của cha mẹ là lẽ đương nhiên.

​Tâm lý học hành vi: Khi một thứ gì đó được cho đi quá dễ dàng và liên tục, người nhận sẽ không còn cảm giác biết ơn, mà chỉ còn cảm giác “được quyền thụ hưởng”.

​Kết cục: Con cái bạn không hề vô ơn theo bản năng, chúng chỉ “vô cảm” vì chưa bao giờ phải nỗ lực. Với chúng, việc bạn già yếu, bệnh tật hay thiếu thốn là chuyện của bạn, còn tài sản bạn để lại là trách nhiệm của bạn. Một thế hệ lớn lên với sự no đủ về vật chất nhưng lại khuyết tật về cảm xúc chính là “trái đắng” lớn nhất của đời người.

​3. Đừng để “Lòng tự trọng” bị đánh tráo bởi sự phụ thuộc

​Nhiều bậc cha mẹ tự hào vì để lại cho con cái gia tài kếch xù, để rồi cuối đời phải ngửa tay xin con từng đồng tiền thuốc, nhìn sắc mặt con để ăn bát cơm nguội.

​Thuật nhìn người: Người khôn ngoan biết rằng: Tiền của mình là của mình, tiền của con chưa chắc là của mình.

​Lời cảnh tỉnh: Khi bạn không có tài chính độc lập, tiếng nói của bạn trong gia đình sẽ mất đi sức nặng. Đừng biến mình thành “người thừa” trong ngôi nhà mà mình đã từng đổ mồ hôi sôi nước mắt để xây nên.

​4. Vốn liếng sức khỏe: Khoản đầu tư bị lãng quên

​Trong khi mải mê tích trữ đất đai cho con, cha mẹ Việt thường quên mất “bất động sản” quý giá nhất là chính cơ thể mình.

​Hậu quả: Những ngày tháng tuổi già thảm hại không phải vì không có nhà cao cửa rộng, mà vì bạn phải nằm liệt một chỗ, thở bằng máy và giao phó tính mạng cho những đứa con đang bận rộn với “gia tài” bạn để lại.

​Lời kết: Hãy yêu con bằng trí tuệ, đừng yêu bằng bản năng “vị kỷ”

​Vũ trụ đã mất 13,8 tỷ năm để tạo ra bạn – một cá thể độc lập có ý thức. Bạn sinh ra không phải để làm “công cụ chuyển giao tài sản” cho đời sau.

​Hãy nhớ lấy 3 nguyên tắc vàng để tuổi già không thảm hại:

​Tiền dưỡng già là bất khả xâm phạm: Đó là lòng tự trọng và tự do của bạn. Chỉ cho con cái “cần câu”, đừng cho chúng cả “kho cá” để rồi mình chết đói.

​Dạy con biết ơn qua sự thiếu thốn: Đừng đáp ứng mọi nhu cầu. Hãy để con cái hiểu rằng mỗi miếng cơm chúng ăn đều đổi bằng mồ hôi, để chúng biết trân trọng giá trị của sự lao động.

​Tự yêu lấy mình: Hãy dành tiền để chăm sóc sức khỏe, gặp gỡ bạn bè và sống cho những ước mơ riêng.

​Một người cha, người mẹ già khỏe mạnh, minh mẫn và độc lập về tài chính chính là món quà lớn nhất dành cho con cái. Đừng để lúc “hết đát”, bạn chỉ còn là một gánh nặng bị coi thường trong chính gia đình mình.

#Docviconnguoi #Baihoccuocsong #Suthat #ThuatNhinNguoi #TamLyHoc #NuoiDayCon #TuoiGiaDocLap


 

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2026

Văn Lan/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum-VHM), Garden Grove, vừa tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen vào tối Thứ Năm, 30 Tháng Tư, với nhiều thành phần tham dự.

Mở đầu, ban tổ chức chiếu video “Biển Đêm và Những Nỗi Sợ” (Night Sea and Fears), với những chuyến vượt biển giữa những cơn sóng gào hung bạo nuốt chửng những con người bé nhỏ giữa đại dương tăm tối bao la, do một tác giả trẻ sinh sau 1975 thực hiện.

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sau nghi thức khai mạc, các vị đại diện tôn giáo cùng góp phần cầu nguyện cho những hương linh đã khuất.

Ông Châu Thụy, giám đốc VHM, nói: “Trong không khí trang nghiêm, chúng ta cùng hướng về quê hương yêu dấu, thành tâm nguyện cầu cho đất nước sớm đến ngày tự do thoát khỏi ách thống trị Cộng Sản, cùng nhau chia sẻ, khơi dậy và truyền lại ngọn lửa ký ức cho thế hệ trẻ, để các em tiếp tục ghi ơn công đức tiền nhân và nối tiếp gìn giữ di sản tinh thần của người Việt tị nạn nơi hải ngoại.”

Cô Tịnh Như (trái) kể chuyện về bà nội cô trong ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi quyết định đi hay chìm trong đau khổ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Mọi người cùng lắng lòng tưởng niệm quân dân cán chính VNCH chết nơi rừng sâu trong các trại tù “học tập cải tạo” của Cộng Sản, và đồng bào thân yêu bỏ mạng trên đường tìm tự do, với một video có danh sách trên hai bức tường tưởng niệm, do VHM thực hiện để tưởng niệm những người Việt Nam kém may mắn rời bỏ đất nước ra đi từ năm 1975 đến năm 1995, nhưng không đến được bến bờ tự do.

Ứớc tính khoảng 200,000 đến 400,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển, theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Và bức tường thứ hai tưởng niệm các nạn nhân trong các trại tù “học tập cải tạo” của Cộng Sản trên khắp đất nước, với khoảng 165,000 người chết, theo các nghiên cứu học thuật công bố tại Hoa Kỳ và Châu Âu.

Giáo Sư Vũ Bạch Cúc (đứng) kể lại câu chuyện ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong giây phút lắng lòng, mọi người cùng hiệp ý tưởng niệm một nhân cách cao đẹp trong ngành hàng hải VNCH, cố thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng.

Ông Châu Thụy cho biết, vào những ngày cuối Tháng Tư, 1975 định mệnh, giữa lằn ranh sinh tử của hàng ngàn đồng bào, thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng đã đưa con tàu Đại Dương 2 túc trực tại hải phận quốc tế để đón nhận người di tản.

Bằng tấm lòng nhân hậu và tinh thần quả cảm, ông cứu vớt và đưa 2,000 đồng bào từ Việt Nam đến Subic Bay, Philippines, an toàn. Và ông đã đưa tổng cộng 3,000 đồng bào từ Subic Bay sang đảo Guam, để đến các quốc gia tự do.

Thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng sinh ngày 9 Tháng Tám, 1927, và vĩnh viễn ra đi đúng ngày 30 Tháng Tư, 2018, để lại cho hậu thế những dòng thơ, những trang hồi ký thấm đẫm nỗi ưu tư về vận nước, cùng tình hoài hương sâu nặng. VHM cũng trân trọng giới thiệu sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, một người thân trong gia đình của cố thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng.

Em Brandon Nguyễn quyết định trở thành cầu nối giữa thế hệ trẻ và các thế hệ đi trước, nhằm lưu giữ lịch sử của người Việt tị nạn. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Có hai câu hỏi do ban tổ chức nêu ra trong buổi tưởng niệm. Một là “Trong ngày 30 Tháng Tư, 1975, anh chị đã ở đâu? Làm gì?” Và câu hỏi thứ hai là “Sau 51 năm, quý vị mong ước gì?”

Nhiều chuyện kể được thổ lộ qua phát biểu, nói lên những tâm tư của người Việt tị nạn sau 51 năm, nhưng hầu như không có câu trả lời trọn vẹn. Cả không gian buồn u uẩn với nhiều tiếng nấc nghẹn.

Tiến Sĩ Ann Ngọc Trần chia sẻ về chuyến trở lại thăm trại tị nạn ở Malaysia, nơi có những nghĩa trang thuyền nhân. Cô đang làm nghiên cứu về lịch sử của thuyền nhân vì đây cũng là lịch sử của gia đình cô, khi nhiều người muốn tìm hiểu rõ hơn, nhất là những người vượt biển, mà không có trong sách vở ở Mỹ.

Ông Dương Bá Cơ diễn ngâm bài thơ “Nỗi Buồn Tha Hương” của thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng, người đưa được 3,000 người tị nạn đến bến bờ tự do. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Thuyền nhân là câu chuyện rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam, nhất là người Mỹ gốc Việt trẻ, đang lớn lên ở Mỹ rất muốn biết về những đau khổ của ông bà cha mẹ khi vượt biển, có người đi thành công, nhưng cũng có nhiều trường hợp mất tích,” cô tiếp.

Em Brandon Nguyễn, 17 tuổi, sinh tại Mỹ, là cháu nội của một cựu sĩ quan VNCH qua Mỹ vào năm 1995.

Em kể: “Khi còn nhỏ, gia đình giải thích lý do gia đình con có mặt ở tại Mỹ theo diện HO, và con vẫn nghĩ đó là lý do chung cho tất cả người Việt có mặt ở đây, cho đến khi con nghe được hai chữ ‘Boat People.’”

Em tiếp: “Sau đó con hiểu rằng người Việt đến Mỹ bằng nhiều cách khác nhau mà con tin cũng có rất nhiều bạn nhỏ như con cũng không biết điều này. Sau khi may mắn được bác Châu Thụy hướng dẫn cho đi xem VHM, con quyết định trở thành cầu nối giữa thế hệ trẻ và các thế hệ đi trước, nhằm lưu giữ lịch sử của người Việt tị nạn.”

Tiến Sĩ Ann Ngọc Trần chia sẻ về chuyến đi thăm các trại tị nạn ở Malaysia để nghiên cứu về lịch sử thuyền nhân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Em cũng cho biết: “Công việc này sẽ cần sự giúp đỡ của rất nhiều người. Con hy vọng các bạn đi sau sẽ tiếp tục gìn giữ và phát triển công việc này, để tất cả người Việt trẻ đều hiểu rõ nguyên nhân tại sao chúng ta đã có mặt ở Mỹ và một số quốc gia khác.”

Buổi thắp nến tưởng niệm với những ánh nến tựa như anh linh người quá cố trở về, trong một câu chuyện không bao giờ kết thúc sau cuộc chiến Việt Nam. [đ.d.]


 

Nữ tu Công Giáo bị tấn công thô bạo tại Jerusalem

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2026

JERUSALEM (NV) – Cảnh một nữ tu Công Giáo, người Pháp, bị một người đàn ông tấn công ngay trên đường phố Jerusalem, theo đoạn video do cảnh sát Israel công bố, gây phẫn nộ trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo và làm dấy lên lo ngại về xu hướng bạo lực nhắm vào các nhóm tôn giáo thiểu số đang gia tăng tại khu vực này, NBC News loan tin hôm Thứ Sáu, 1 Tháng Năm.

Sự việc xảy ra hôm Thứ Ba gần khu vực Lăng Vua David tại Núi Zion, một địa điểm linh thiêng đối với Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo. Video từ camera an ninh cho thấy nghi can chạy từ phía sau, xô nữ tu ngã xuống đất, sau đó quay lại đá khi nạn nhân vẫn đang nằm trên đường.

Cảnh sát Israel đưa cận ảnh nữ tu bị trầy xước trên mặt. (Hình: Israel Police @X)

Cảnh sát Israel cho biết họ bắt giữ một nghi can với cáo buộc tấn công có động cơ phân biệt chủng tộc. Danh tính của nghi can và nạn nhân chưa được công bố, nhưng lãnh sự quán Pháp xác nhận nạn nhân là một nữ tu thuộc Trường Kinh Thánh Và Khảo Cổ Học Pháp tại Jerusalem.

Hình ảnh do cảnh sát công bố cho thấy nạn nhân bị bầm tím trên mặt sau vụ tấn công.

Lãnh đạo các tổ chức Thiên Chúa Giáo tại Jerusalem lên tiếng mạnh mẽ sau vụ tấn công hèn hạ này. Ông Farid Jubran, đại diện Tòa Thượng Phụ Latinh, gọi đây là một “tội ác thù hận ghê tởm và man rợ nhắm vào một người không có khả năng tự vệ.” Còn Linh Mục Olivier Poquillon, giám đốc cơ sở nơi nạn nhân phục vụ, cho biết: “Tai họa của sự thù hận là một thách thức chung.”

Cảnh sát Israel khẳng định sẽ áp dụng chính sách “không khoan nhượng” đối với các hành vi bạo lực nhắm vào các cộng đồng tôn giáo, nhấn mạnh cam kết bảo vệ các nhóm tín ngưỡng trong một thành phố có ý nghĩa thiêng liêng đối với nhiều tôn giáo.

Bộ Ngoại Giao Israel cũng lên án đây là một “cuộc tấn công đáng khinh” và cho rằng bạo lực đối với các cá nhân vô tội không có chỗ trong xã hội.

Dù phản ứng chính thức nhanh chóng, nhiều đại diện cộng đồng cho rằng vấn đề sâu xa hơn chưa được giải quyết. Ông Wadie Abunassar, điều phối viên Diễn Đàn Cơ Đốc Giáo Tại Thánh Địa, nhận định các vụ tấn công nhắm vào người Thiên Chúa Giáo đang trở thành hiện tượng gia tăng, và vụ việc lần này chỉ được chú ý vì có video ghi lại, đồng thời, chỉ ra điểm yếu trong hệ thống răn đe nhiều vụ không dẫn đến bắt giữ, nghi can nhanh chóng được thả hoặc mức truy tố nhẹ.

Vụ tấn công này không phải là trường hợp đơn lẻ. Hồi tháng trước, hai binh sĩ Israel bị đình chỉ nhiệm vụ sau khi một đoạn hình ảnh cho thấy một người dùng búa phá hoại tượng Chúa Giê-su tại làng Thiên Chúa Giáo Debel ở miền nam Lebanon. Vào Tháng Ba, cảnh sát Israel ngăn các lãnh đạo Công Giáo La Mã vào Nhà Thờ Mộ Thánh để cử hành Lễ Lá, gây phản ứng quốc tế. Trong nhiều năm, các giáo sĩ tại Jerusalem cho biết họ thường xuyên bị quấy rối, nhổ nước bọt và tấn công bởi các phần tử cực đoan.

Những sự việc này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực gia tăng, đặc biệt khi xung đột tại Lebanon vẫn tiếp diễn bất chấp các nỗ lực ngừng bắn.

Jerusalem từ lâu được xem là nơi giao thoa của các tôn giáo lớn. Tuy nhiên, chuỗi sự việc gần đây cho thấy sự cân bằng đó đang chịu áp lực, khi bạo lực mang yếu tố tôn giáo không còn là hiện tượng cá biệt mà có dấu hiệu lặp đi lặp lại gây nghi ngờ các tuyên bố thiện chí của giới chức Israel. (MPL)


 

THÁNH GIUSE – ĐƯỜNG NÊN THÁNH –  Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời.  Đó là hoa hướng dương.  Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để tỏa hương khoe sắc.  Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.  Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý.  Thánh Giuse được sách Tin Mừng gọi là “người công chính.”  Theo Kinh Thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2, 4; Rm 1, 17; Gal 3, 11).  Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham.  Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm.  Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.  Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

 Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa.  Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành. 

 Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm.  Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng.  Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền.  Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách.”  Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).  Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1, 20).  Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa” Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

 Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Ai Cập sống kiếp lưu đày.  Trước mắt là gian truân vất vả, đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).

 Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.  Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.  Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 21).  Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn.  Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Ai Cập, từ Ai Cập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.  Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1, 38).

 Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại.  Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

 Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11,3). 

Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người.  Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường.  Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị.  Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống.  Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường.  Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn.  Những người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến là “bác thợ mộc.”  Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy.  Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã tạo được thiện cảm và lòng yêu mến của nhiều người.  Ngày nay có bao nhiêu người chức nọ, quyền kia, có học vị, có địa vị, rất giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ…  Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng.  Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình…  Thánh Giuse là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm,” một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó.  Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên Ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.

 Theo gương thánh Giuse, sống đạo là tin tưởng, cậy trông, yêu mến Thiên Chúa.  Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác nguyện cầu và sống theo Ý Chúa.

 Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse.  Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse.  Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống, tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.

 Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi.  Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.  Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.  Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

 Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày.  Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại.”  Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.  Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành.  Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình.  Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống thường ngày.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim


 

Thánh Giuse Thợ – Cha Vương

Tháng 5 rồi bạn ơi! Tháng 5 là tháng hoa dâng kính Đức Mẹ Maria. Giáo Hội dành riêng tháng này để đặc biệt kính mến Đức Maria. Những lúc gian nan nguy khốn cũng như khi được an bình hạnh phúc, bạn luôn biết chạy đến cùng Mẹ để được an ủi, vỗ về, che chở và dâng lời cảm tạ. Trong khi làm công việc hằng ngày, mời bạn dâng lên Mẹ hoa hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy cho bạn biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu họ vậy. Hôm nay cũng là ngày kính Thánh Giuse Thợ, xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới 

Cha Vương

Thứ 6: 1/5/2026.    (t2-23)

Thánh Giuse Thợ: Hiển nhiên là để đối ứng với việc cử hành “Ngày Lao Ðộng” của Cộng Sản mà Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã thiết lập ngày lễ Thánh Giuse Thợ vào năm 1955. Nhưng sự liên hệ giữa Thánh Giuse và ý nghĩa lao động đã có từ lâu trong lịch sử.

Trong nỗ lực cần thiết để nói lên nhân tính của Ðức Giêsu trong đời sống thường nhật, ngay từ ban đầu Giáo Hội đã hãnh diện nhấn mạnh rằng Ðức Giêsu là một người thợ mộc, hiển nhiên là được cha nuôi của Ngài huấn luyện, một cách thành thạo và khó nhọc trong công việc ấy. Nhân loại giống Thiên Chúa không chỉ trong tư tưởng và lòng yêu thương, mà còn trong sự sáng tạo. Dù chúng ta chế tạo một cái bàn hay một vương cung thánh đường, chúng ta được mời gọi để phát sinh kết quả từ bàn tay và tâm trí chúng ta, nhất là trong việc xây đắp Nhiệm Thể Ðức Kitô.

LỜI BÀN: “Sau đó Thiên Chúa đưa người đàn ông vào sống trong vườn Eden, để cầy cấy và chăm sóc khu vườn” (Sáng Thế 2:15). 

Thiên Chúa Cha đã tạo dựng nên mọi sự và muốn con người tiếp tục công trình tạo dựng ấy. Con người có phẩm giá là qua công việc, qua sự nuôi nấng gia đình, qua sự tham dự vào đời sống sáng tạo của Thiên Chúa Cha. Thánh Giuse Thợ có thể giúp chúng ta tham dự một cách sâu xa vào mầu nhiệm tạo dựng ấy. Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã nhấn mạnh đến điều này khi nói, “Thần khí chan hòa trên bạn và mọi người phát xuất từ con tim của Ðấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Ðấng Cứu Ðộ trần gian, nhưng chắc chắn rằng, không người lao động nào được thấm nhuần thần khí ấy một cách trọn vẹn và sâu đậm cho bằng cha nuôi của Ðức Giêsu, là người sống với Ngài một cách mật thiết trong đời sống gia đình cũng như làm việc. Do đó, nếu bạn ao ước muốn đến gần Ðức Kitô, một lần nữa chúng tôi lập lại rằng, ‘Hãy đến cùng Thánh Giuse'” (xem Sáng Thế 41:44). (Nguồn: Người Tín Hữu online)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa tạo thành trời đất, Chúa đã muốn cho con người lao động để tiếp tục công trình của Chúa. Xin nhận lời thánh cả Giuse chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương người để lại là chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao phó hầu được hưởng niềm vui Chúa đã hứa cho tôi tớ trung thành. Chúng con cầu xin… 

(Lời nguyện nhập lễ)

From: Do Dzung

***********************************

THÁNH GIUSE GƯƠNG LAO ĐỘNG / Quỳnh An – ST Phong Trần.

 

LỚN HƠN VÌ NGÀI RA ĐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai tin vào Thầy, người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa!”.

“Những bước đi của niềm tin dường như rơi vào ‘khoảng không’ vô định, nhưng tìm thấy ‘đá tảng’ bên dưới!” – John Greenleaf Whittier.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay gây ngỡ ngàng: người tin, đứng trên “đá tảng”, có thể làm những ‘việc lớn hơn’ Thầy mình. Chính nơi tưởng là mất mát – Ngài về cùng Cha – lại mở ra điều lớn hơn: ‘lớn hơn vì Ngài ra đi’.

Chính Chúa Giêsu đưa ra lý do ấy: “Bởi vì Thầy về cùng Chúa Cha”. Đó không phải là một sự vắng mặt, nhưng là một chuyển động hoàn tất: thập giá không khép lại sứ vụ, nhưng mở ra; phục sinh không chỉ là chiến thắng, nhưng là một khởi đầu. Chính khi “ra đi”, Ngài không còn bị giữ lại ở một nơi chốn, hay bị đóng khung trong một khoảnh khắc; và trong Thánh Thần, Ngài tiếp tục hành động nơi những kẻ tin. Vì thế, “lớn hơn” không nằm ở việc con người vượt qua Thầy mình, nhưng ở chỗ chính Thầy đang hành động trong họ; vì “chúng ta không phải là những người làm chủ sứ vụ, nhưng là những người được sai đi!” – Phanxicô.

Con người dễ nghĩ “việc lớn hơn” là nhiều hơn, ảnh hưởng hơn – nhất là trong thế giới truyền thông hiện đại. Hoặc như cảnh “cả thành Antiôkia tụ họp để nghe Lời Chúa”; sau đó, “người Do Thái sinh lòng ghen tức” – bài đọc một; hoặc có đến ba ngàn người trở lại…  Nếu chỉ dừng ở đó, xét cho cùng, rất thế tục! “Những việc” – erga – Chúa Giêsu nói ở đây không phải là những gì con người làm cho Chúa, mà là công việc Ngài làm nơi con người. Vì thế, “lớn hơn” không phải là hơn về số lượng, nhưng là được tham dự: có lúc chúng ta tưởng mình đang làm, nhưng hoá ra đang được mời cộng tác vào công cuộc lớn hơn của Chúa Phục Sinh – và chính khi Ngài ra đi, điều lớn hơn ấy mới có thể xảy ra: ‘lớn hơn vì Ngài ra đi’.

“Việc lớn hơn” không phải lúc nào cũng mang dáng vẻ lớn; nhiều khi, đó lại là những điều rất nhỏ: một đời sống trung tín trong gia đình, một sự kiên nhẫn trong cộng đoàn, một lời loan báo âm thầm giữa môi trường thân quen. Ở đó, con người dễ nản lòng, tưởng mình đang bước vào khoảng không vô định; nhưng chính khi Chúa Giêsu như vắng mặt, Ngài lại đồng hành cách sâu xa hơn. Trong sự âm thầm ấy, công việc của Thiên Chúa vẫn lớn lên. Có như thế, “Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta!” – Thánh Vịnh đáp ca.  

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “việc lớn hơn” luôn là việc của Cha. Ngài không chỉ sai chúng ta, nhưng đưa chúng ta vào chính tương quan của Ngài với Cha: Con ở trong Cha, và Cha ở trong Con. Vì thế, điều lớn hơn không nằm ở việc làm được gì, nhưng ở chỗ được “ở trong”, “ở lại”, “thuộc về”; và chính trong sự thuộc về ấy, con người được kéo vào một công việc lớn hơn mình. “Chỉ có tình yêu là đáng tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con thoả mãn với những con cá còi của ao đầm, đừng đo ‘việc lớn’ bằng những con số. Cho con dám lao ra biển lớn, để con ở trong Cha, và để Cha làm nơi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IV Phục Sinh

Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 14,7-14

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

8 Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. 13 Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. 14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.”


 

 NGẪM… Từ 1865 Đến 1975

Xuyên Sơn

 NGẪM…

(Từ 1865 Đến 1975:)

Tấm hình bên trên là cảnh các sĩ quan và binh sĩ của miền Bắc, bên thắng cuộc, chào tạm biệt tướng Lee của miền Nam, sau khi ông ký văn bản đầu hàng tại Appromax Court House.  Hình ảnh của vị tướng miền Nam nhìn vẫn hiên ngang tuy là người thất thế.  Tất cả là vì ông và đoàn quân thất trận vẫn được đối xử một cách đầy tôn trọng.

Nước Mỹ còn rất “trẻ”, chưa đủ tuổi để được gọi với cái tên mỹ miều

“ngàn năm…”.

Nhưng cách mà người Mỹ đối xử với nhau thời nội chiến nói lên rằng

“tuổi tác” của một quốc gia không quan trọng. 

Quan trọng là quốc gia đó được xây dựng trên nền tảng nào, cùng cách hành xử của con người ở quốc gia đó. Nội chiến Hoa Kỳ đã kết thúc cách đây 157 năm, nhưng cách bên thắng cuộc đối xử với bên thua cuộc sau chiến tranh cho thấy thời đó người Mỹ đã văn minh dường nào.

Còn ở một nơi khác, chiến tranh kết thúc chưa được 50 năm, nhưng cách bên thắng thế đối đãi với bên thất thế lại khiến tôi nghĩ cuộc chiến đó dường như đã xảy ra cách đây hơn ngàn năm.  Hành động nói lên tất cả.

Thay vì hành động theo cách của bậc quân tử thì họ lại dùng những lời sáo rỗng dối trá để tô vẽ tuyên truyền.

Tệ hơn nữa là nói một đường làm một nẻo.

Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!

Nguồn fb Bich Lieu Nguyen


 

Bị cáo mưu sát Trump ở khách sạn Washington Hilton chấp nhận ngồi tù chờ xét xử

Ba’o Nguoi-Viet

April 30, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Người đàn ông bị cáo buộc ôm súng và dao cố xông vào buổi tiệc báo chí và âm mưu giết Tổng Thống Donald Trump vào cuối tuần qua, đã chấp nhận tiếp tục ngồi tù chờ tới ngày xét xử, theo AP hôm Thứ Năm, 30 Tháng Tư.

Bị cáo Cole Thomas Allen, 31 tuổi, không đưa ra lời nhận tội hay phủ nhận tội khi ra tòa liên bang hôm Thứ Hai, vài ngày sau khi bị cáo buộc ôm súng săn chạy băng qua chốt kiểm soát an ninh bên ngoài phòng khiêu vũ nơi diễn ra buổi tiệc White House Correspondents’ Dinner (WHCD) tại khách sạn Washington Hilton, và nổ súng, làm gián đoạn một trong những chương trình thường niên lớn nhất ở Washington, DC.

Bị cáo Cole Thomas Allen tự chụp hình mình trong phòng khách sạn trước vụ tấn công. (Vòng tròn đỏ đánh dấu bằng chứng do DOJ vẽ thêm.) (Hình: DOJ)

Bị cáo Allen bị thương nhưng không phải do bị bắn trong vụ tấn công tối Thứ Bảy tuần trước. Một đặc vụ Sở Mật Vụ (USSS) bị trúng đạn nhưng có mặc áo chống đạn nên sống sót, giới chức công lực cho hay. Công tố viên nói họ tin rằng bị cáo Allen bắn khẩu súng săn ít nhất một phát và một đặc vụ USSS bắn năm phát. Công tố viên chưa xác nhận đặc vụ USSS bị thương có phải trúng đạn của bị cáo Allen hay không.

Trong hồ sơ nộp lên tòa hôm Thứ Tư để yêu cầu tiếp tục giam giữ bị cáo Allen, công tố viên cho biết bị cáo này tự chụp hình mình trong phòng khách sạn Washington Hilton mà ông mướn chỉ vài phút trước vụ tấn công, và trang bị bao đạn, bao súng đeo vai và con dao đựng trong bao. Trong thông điệp của bị cáo Allen mà giới chức cho hay có lẽ tiết lộ động lực của ông, bị cáo này tự nhận mình là “Kẻ Ám Sát Liên Bang Thân Thiện” và nói bóng gió ông bất bình với một loạt việc mà chính quyền Tổng Thống Trump làm.

Tại phiên tòa ngắn ngủi hôm Thứ Năm, luật sư bị cáo Allen đồng ý để ông tiếp tục bị giam vào lúc này. Trước đó, trong hồ sơ nộp lên tòa, luật sư của ông đề nghị tạm thả ông.

Hôm Thứ Hai, bị cáo Allen bị truy tố tội mưu sát tổng thống, vận chuyển vũ khí xuyên tiểu bang và nổ súng khi đang phạm tội ác bạo lực. Tội mưu sát mang án tù tối đa chung thân, tội vận chuyển vũ khí tối đa 10 năm, còn tội nổ súng ít nhất 10 năm.

Bị cáo Allen, cư dân Torrance, California, là giáo viên và nhà chế tạo trò chơi điện tử nghiệp dư. (Th.Long) [kn]


 

NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ 1975…- Đỗ Duy Ngọc  

Việt Luận – Viet’s Herald 

Đỗ Duy Ngọc  

Đó là những ngày cuối cùng. Cuối cùng của một nhà nước, một chế độ, một quốc gia. Lúc đấy hắn chưa nghĩ được điều đó. Hắn chỉ nghĩ Việt cộng lúc này đánh rát quá. Đánh tới tận Long Khánh rồi.

Hắn thấy có người ra đi. Đã có một vài nhà bỏ trống. Có tiếng súng ậm ì lác đác. Hắn chẳng biết làm gì. Loanh quanh. Hàng ngày hắn không đến trạm xe chờ chở đến nơi làm việc nữa. Hắn bỏ việc.

Hắn thấy trống rỗng và không biết ngày mai sẽ như thế nào nữa. Hắn chẳng biết tin tức gì của gia đình ở Đà Nẵng. Không biết gia đình hắn có xuống tàu đi vô Nam không? Anh em hắn đông quá, đi kiểu ấy làm gì cũng có kẻ thất lạc. Mấy năm rồi hắn không viết thư về nhà. Hắn là thằng con đi hoang. Bỗng dưng hắn lại nhớ nhà.

Buổi chiều xuống chậm, trời oi bức chờ mưa. Cả thành phố ngơ ngác làm sao ấy. Hắn nhớ đến số tiền gởi ngân hàng. Người người xếp hàng rút tiền. Hắn cũng xếp hàng nhưng rồi không đủ kiên nhẫn đợi. Đi về. Những chuyến xe vội vã, những căn nhà vắng chủ. Đã qua ngày 26. Hắn vẫn chưa nghĩ ra được gì, đầu óc trống rỗng. Có khi lại hỗn loạn mù mịt.

Hay là kiếm mối nào di tản một chuyến. Đi chơi thôi. Hắn thèm đi chơi đâu đó. Quanh đi quẩn lại chẳng ai quen. Hắn nhớ lời của một thằng bạn, nó bảo nghe đài khi có bản nhạc Tuyết rơi giữa mùa hè thì đến chỗ này, chỗ nọ để trực thăng đón đi. Hắn muốn qua Chợ Lớn gặp ông anh. Không biết ông anh có đi không? Làm nghề luật sư lại là sếp của một cơ quan dân vận, chắc có mối bay rồi. Nhưng thôi, phận ai nấy lo, hắn qua nhiều khi lại thêm phiền người khác.

Vẫn cơm chợ Trương Minh Giảng. Ngày hai bữa. Lê la quán vỉa hè. Bạn bè đi đâu mất hết. Tình hình có vẻ căng. Nghe nói Việt cộng đã về đến Biên Hòa. Rồi sao nữa ta? Kệ mẹ, đến đâu hay đó. Sáng định mua tờ báo xem tin tức thế nào, nhưng rồi không mua. Biết cũng thế mà không biết cũng vậy. Làm được chi. Có nước đâu cho cá vẫy.

Nghe đồn ông Thiệu bay đi rồi. Nghe nói ông Hương lên. Ai lên ai xuống thì cũng vậy. Biết chi cho mệt. Hóa ra không như hắn nghĩ, mỗi nhân vật có ảnh hưởng đến vận nước khác nhau. Người ta bảo có tay pilot nào đó cướp máy bay quay lại thả bom Dinh Độc Lập và phi trường Tân Sơn Nhứt. Hắn vẫn chưa rút được tiền nhưng ngân hàng đã đóng cửa. Bỏ mẹ, kiểu này dám mất tiền sao? Một gia tài chứ ít chi. Rồi làm sao tiếp tục sống đây. Bây giờ hắn mới ý thức nguy cơ khi trắng tay.

Chiều hôm trước hắn đã lên xe như một tình cờ ở một cơ quan của Mỹ góc Hiền Vương, Trương Minh Giảng. Một gia đình lếch thếch đi vào đấy vừa lúc hắn đi tới, một thằng bé rời tay mẹ, loạng quạng ngã, hắn dắt cậu bé theo đoàn vào và nghiễm nhiên trở thành người trong toán di tản. Xe chạy về hướng phi trường, nhưng bị quân cảnh chặn xét ở cổng xe lửa số 6 Trương Minh Ký, lệnh Tổng thống mới là không cho thanh niên ra đi. Hắn xuống và đi ngược đường xe chạy. Ghé tiệm cơm, ngồi nghĩ lung tung. Hắn liên tưởng đến cánh bèo giạt, hắn đang giạt như bèo.

Chiều 29 lúc đang đứng hút thuốc trước sân thì thấy chủ nhà hấp tấp ra đi. Cả một đoàn con cháu. Nhà có con là sĩ quan hải quân, tàu đang đợi ở cảng. Hắn định đi theo. Cả chiếc tàu thêm một người thì có làm sao. Bà cụ bảo ối giời ơi, một lần đi tàu há mồm vào đây, bây giờ lại xuống tàu đi nữa. Khổ thế! Rõ là giời đày. Chúa cứu giúp chúng con.

Lên đến cầu Trương Minh Giảng thì hắn dừng lại, bỏ đoàn quẹo qua đường. Hắn thấy mình ăn theo vô duyên. Trời chực mưa. Có tiếng nổ lớn hướng Bà Quẹo hay ngã tư Bảy Hiền. Có cột khói đen ở phía đó cuồn cuộn lên. Hắn vào quán kêu một ly bạc xỉu đá, đốt một điếu thuốc và tự nghĩ mình bỏ cuộc vậy đúng không?

Cô chủ quán nói trong trỏng: Nghe tụi nó nói mấy cha Việt cộng vô rút hết móng tay sơn màu xanh đỏ, mấy hổm rày kiếm cái cắt móng tay mà không biết để đâu, tìm hoài không thấy. Có tiếng cười hề hề: Kiếm cái kềm tui cắt cho.. Bà lo lấy chồng đi chứ Việt cộng vô là bắt lấy lính của họ đó nghe, lấy bộ đội là mạt phận rồi…

Hắn lại nghe mà chẳng nghĩ gì, hắn cũng chẳng thèm nghĩ rồi thân phận hắn ra sao nữa. Nhà thuê, chủ nhà đi rồi, trước mắt tháng này khỏi trả tiền nhà là vui rồi. Một đoàn xe lính chạy ngang, những cây súng vươn ra, đoàn xe vội vã chẳng biết đi đâu. Không khí như đông cứng lại. Hắn chợt nhớ nhà bên cạnh có hai cô bé dễ thương hình như cũng đi hôm qua rồi. Cửa nhà đóng im ỉm.

Hắn ra cảng Sài Gòn, thuyền bè, tàu lớn tàu nhỏ lung tung, người ta ra đi vội vã, chen lấn nhau. Hắn lại về. Hắn leo lên một chiếc xe đạp trong đống ngổn ngang xe cộ. Đạp như một kẻ an nhàn. Ngang Trần Quý Cáp, hắn chợt nhớ đây cũng là một địa điểm đón người. Hắn tạt vào, hòa lẫn với dòng người đang lúc nhúc ở đó. Chẳng ai hỏi giấy tờ, kiểm soát gì. Ai cũng dáo dác, mặt ai cũng thẫn thờ. Kệ mẹ. Đã bảo là bèo giạt thì cứ để cho nó giạt.

Lại chất lên xe, chở qua tòa nhà cao ở Lê Văn Duyệt. Chở đó suốt đêm. Trực thăng lên xuống trên bầu trời, súng lác đác nổ. Mờ sáng thì tan hàng. Hắn lầm lũi đi về. Phố vắng. Giấy tờ bay trắng đường. Nhiều công sở bị phá tan tành và đầy người hôi của. Hắn đi trong phố giấy bay ngập dưới chân hắn cũng không nghĩ gì. Bèo chưa trôi thì đứng lại.

Ở bên kia dãy nhà trước hẻm 220, cả một toán nhảy dù án ngữ, súng lăm le ở mấy cửa sổ. Hắn lo cho mái tóc dài chấm vai của hắn, hắn nhờ bạn cắt ngắn bớt. Hẻm lao xao. Trời vẫn không nắng nổi. Thằng bạn hải quân thắng chiếc xe Jeep cái két trước cửa: Giờ này còn ngồi đây. Đi. Thì đi. Chạy ra Bason ở Cường Để, tàu vừa nhổ neo. Chiếc tàu hàng đầy chặt người lừ đừ trôi. Vẫn còn người bám dây leo lên. Lại về.

Đến dốc cầu Trương Minh Giảng đã thấy xuất hiện đám cầm súng mang băng đỏ. Thất thểu xuống xe. Chiếc xe bị trưng dụng ngay. Hai tiếng đồng hồ sau, có lệnh buông súng đầu hàng. Đầu ngõ có nhiều người khóc. Những người lính cởi áo quần, ở trần giữa phố. Đường đầy quân trang. Bên trụ đèn, một bà già lặng lẽ đứng khóc, người lính cũng quẹt nước mắt. Có tiếng người rú kên: Trời ơi !!!

Thỉnh thoảng vẫn những tràng súng nổ và tiếng pháo đì đùng. Rồi đoàn quân với xe tăng tiến vào. Tiếng xích sắt nghiến mặt đường. Hắn thấy tê tái. Hắn nhận thức Sài Gòn đã mất. Và số tiền trong ngân hàng của hắn cũng chẳng còn. Hắn đứng ở đầu dốc hẻm 220 và cũng khóc. Hắn thấy tiếc mà không hiểu tiếc cái gì?

Đỗ Duy Ngọc  

Tháng 4.1975


 

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Xuyên Sơn

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh.

Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên.

Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi.

Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù.

Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương.

Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…

Đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản.

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác.

Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm.

Sau 30/4/75, ‘đất nước sạch bóng quân thù’, ‘cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội’…

Một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 46 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản :

Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán;

đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…

Đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng ?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng:

Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền;

kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách Ruộng đất diễn ra 

(sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…

Tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và khống chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam.

Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm;

cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc…

Một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau :

cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước.

Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…

Khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân,

đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Nỗi đau nào lớn hơn?

Nguồn: Sự Thật 30/4/1975.


 

Ngày cuối tháng 4 – Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…

Khang Duy Nguyen is in Sugar Land, TX.

Khuya nay tình cờ đọc Bài Thơ “TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN” của tác giả nhà thơ Đỗ Trung Quân sáng tác năm 1982  mà mình đọc cảm nhận thấy sự thật chua xót và phủ phàng của thân phận con người…..

1.

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm

Các anh từ Bắc vào Nam

Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc

Các anh đến

Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác

Của xì ke, gái điếm, cao bồi

Của tình dục,ăn chơi

“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính nguỵ

Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ

Các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”

Văn hoá lai căng không cội nguồn dân tộc

Ngòi bút các anh thay súng

Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi

Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ

Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản

Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn

Là thiêu thân uỷ mị, yếu hèn

Các anh hùa nhau lập toà án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể

Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý

Có anh thợ điện ra đi không về

Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me

Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa

Đi từ tuổi hai mươi

Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh

Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hoá thân vào sóng nước

Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc

Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không

Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng

Áo chùng đen đẫm máu

Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo

Những vị giáo sư trên bục giảng đường

Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi – của chúng ta.

Có tiếng cười

Và tiếng khóc.

3.

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót

Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi

Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện

Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển

Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình

Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hi sinh…

4.

Và khi ấy

Thì chính “các anh”

Những người nhân danh Hà Nội

Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới

Chửi đã đời

Chửi hả hê

Chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của chính mình

Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh

Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!

Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc

Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt

Những bà mẹ làm ra hạt lúa

Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin

Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm

Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ

Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”

Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân

Các anh

Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân

Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu

Cũng phanh ngực áo,cũng xỏ dép sa bô

Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio…

Bia ôm và gái

Các anh ngông nghênh tuyên ngôn”khôn và dại”

Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào…

Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.

Tội nghiệp em

Tội nghiệp anh

Tội nghiệp chúng ta những người thành phố

Những ai ngổn ngang quá khứ của mình

Những ai đang cố tẩy rửa “lí lịch đen”

Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.

Xin ngả nón chào các ngài

“Quan toà trong sạch”

Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi

Bình thản đổi thay lốt cũ

Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn

Hồn nhiên xanh muôn thưở

Để yên cho xương rồng, gai góc

Chân thật nở hoa.

Này đây!

Xin đổi chỗ không kì kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa

Nơi một góc (chỉ một góc thôi)

Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…

Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào”thượng đế”

Khi sống hả hê giữa một thiên đường

Ai bây giờ

Sẽ

Tạ lỗi

Với Trường Sơn?

Ngày cuối tháng 4 _ Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…..

Một ngày Đại Tang của tất cả các gia đình Việt Nam và có cả gia đình của tôi trong số phận đó.

Một ngày bi hận hãi hùng cho tất cả các chú bác quân dân cán chính và của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Một ngày cuối tháng 4, một ngày lặng lẽ trôi qua như bao ngày… nhưng nó vẫn còn hằn sâu trong tâm khảm của tất cả các gia đình Miền Nam nước Việt cách đây đã 51 năm và sẽ tiếp tục như một vết thương âm thầm trong từng gia đình có người thân mất mát trong ngày đau thương của dân Việt lưu vong. 

Xin cùng thắp nén hương lòng và tưởng Niệm Quân, Dân, Cán, Chính của chính phủ của nước Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong ngày 30 tháng Tư năm 1975 và trong suốt 20 năm chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ quân đội đồng minh đã cùng chiến đấu với chúng ta và đã hy sinh; chúng ta cũng tưởng niệm những đồng bào đã mất trên biển, trên rừng sâu trong khi đi tìm tự do, và thinh lặng tưởng niệm anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đã vị quốc vong thân hay vùi thây trên biển cả, trên rừng sâu núi thẳm khi vượt thoát cộng sản tìm tự do.

Cũng không quên cầu nguyện cho những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến. Sinh Bắc Tử Nam…. Những người cũng vì một lý tưởng thống nhất đất nước để rồi đến tận bây giờ nhiều lắm những bất an và không được đối xử tử tế bắt công ngay trong chính cuộc sống mà cả đời họ đã đánh đổi xương máu để đi tìm.

Sống đến tuổi này,  tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian.  Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

30 tháng 4 năm 2026