“Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Hồng Lam 

 “Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Việt Nam không phải là quốc gia “trắng tay” về dầu khí. Từ thềm lục địa phía Nam, những mỏ dầu từng mang lại nguồn thu lớn, từng được xem là “át chủ bài” của nền kinh tế. Đã có thời, người ta nói đến dầu khí như một niềm tự hào – thứ tài nguyên giúp đất nước có vị thế hơn trên bản đồ năng lượng.

Nhưng rồi, một nghịch lý dần hiện ra:

có dầu… nhưng vẫn thiếu xăng.

Thậm chí có lúc phải nhập khẩu, phải đi mua, thậm chí “xin” hỗ trợ từ bên ngoài.

Vì sao lại như vậy?

Thứ nhất, có dầu thô không đồng nghĩa với có xăng để dùng. Dầu khai thác lên phải qua lọc hóa mới thành xăng, dầu diesel… Trong khi đó, năng lực lọc dầu trong nước còn hạn chế, phụ thuộc vào vài nhà máy lớn. Chỉ cần một trục trặc, một lần bảo trì, là thị trường trong nước lập tức chao đảo.

Thứ hai, bài toán quản lý và điều hành. Giá xăng không hoàn toàn theo thị trường, mà bị điều tiết bởi nhiều yếu tố. Khi giá thế giới biến động, doanh nghiệp nhập khẩu lỗ, không mặn mà nhập hàng, dẫn đến thiếu nguồn cung. Cây xăng đóng cửa, người dân xếp hàng – hình ảnh không ai muốn thấy nhưng đã từng xảy ra.

Thứ ba, một phần tài nguyên được xuất đi dưới dạng thô, giá trị thấp, rồi lại nhập về sản phẩm đã qua chế biến với giá cao hơn. Một vòng luẩn quẩn: bán rẻ – mua đắt. Nếu không nâng cao công nghiệp chế biến, thì dù có tài nguyên, lợi ích thực sự vẫn rơi vào tay nơi khác.

Còn câu chuyện “đi xin xăng” – có thể không phải theo nghĩa đen hoàn toàn, nhưng lại phản ánh một tâm thế: tự chủ chưa đủ vững. Khi gặp khó khăn, vẫn phải trông chờ vào nguồn bên ngoài để ổn định trong nước.

Điều đáng suy nghĩ không phải là Việt Nam có bao nhiêu mỏ dầu, mà là: chúng ta đã tận dụng nó hiệu quả đến đâu?

Tài nguyên không phải là câu trả lời cuối cùng. Có những quốc gia không có giọt dầu nào nhưng vẫn dư thừa năng lượng. Ngược lại, có nơi “ngồi trên mỏ” nhưng vẫn loay hoay với bài toán thiếu hụt.

Vấn đề không nằm dưới lòng đất.

Mà nằm ở cách con người vận hành những gì lấy lên từ đó.

Nếu không thay đổi tư duy và cách làm, thì nghịch lý này sẽ còn lặp lại:

có tài nguyên… nhưng không có sức mạnh.

HongLam


 

THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH

Son Bui

nhất hùng

Cuộc chiến phi nghĩa mà Điện Kremlin khơi mào không chỉ là một vết đen trong lịch sử nhân loại mà còn là một bài học đắt giá về sự ảo tưởng quyền lực. Nga đã bước vào cuộc chiến với tham vọng “chớp nhoáng”, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một vũng lầy tự sát.

Thất bại chiến lược ngay từ đầu, huyền thoại về “đội quân mạnh thứ hai thế giới” đã sụp đổ hoàn toàn sau thất bại thảm hại tại Kyiv. Kế hoạch lật đổ chính quyền Ukraine trong vài ngày đã biến thành một cuộc tiêu hao vô vọng, phơi bày sự thối nát và lạc hậu của bộ máy quân sự. Nga không chỉ đang thua trên chiến trường, họ đang tự hủy hoại tương lai của chính mình. Hàng trăm ngàn binh sĩ Nga đã ngã xuống hoặc tàn phế chỉ để phục vụ cho tham vọng cá nhân của một kẻ độc tài. Nga đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng nhân khẩu học trầm trọng khi thế hệ trẻ – nguồn lao động chính – bị đẩy vào lò xay thịt. Nga đã bị đá văng khỏi hệ thống tài chính toàn cầu. Việc bị cắt đứt công nghệ phương Tây và chảy máu chất xám khiến nền kinh tế Nga lùi lại hàng thập kỷ, trở thành một “trạm xăng” lệ thuộc vào các đối tác châu Á.

Muốn ngăn chặn NATO, nhưng hành động của Nga lại khiến NATO mở rộng mạnh mẽ nhất trong lịch sử (với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển). Biến Biển Baltic thành “hồ của NATO” là một thất bại địa chính trị không thể bào chữa. Từ một cường quốc, Nga giờ đây bị coi là một “quốc gia bị ruồng bỏ”, mất đi tiếng nói tại các diễn đàn quốc tế và bị các tòa án hình sự quốc tế truy nã lãnh đạo.

Ukraine cũng đang phải trả cái giá quá đắt bằng máu, nhưng đó là cái giá để mua lại tự do vĩnh viễn. Hàng ngàn dân thường vô tội bị sát hại, những thành phố bị san phẳng, hàng triệu người phải ly hương. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn của kẻ thù. Một phần đất đai ở phía Đông và Nam đang bị giày xéo bởi quân xâm lược. Tuy nhiên, đây là sự chiếm đóng phi pháp và sẽ không bao giờ được thế giới công nhận. Cả một thế hệ trẻ em Ukraine phải lớn lên trong tiếng còi báo động và hầm trú ẩn, một vết sẹo tâm lý không gì bù đắp được.

– Nga “Được” gì? – Một vài mảnh đất hoang tàn, những thành phố chết không còn sự sống. Nga chiếm được đất nhưng mất đi linh hồn và tương lai dân tộc. Cái “được” này chỉ là sự an ủi hão huyền cho một đế chế đang giãy chết.

– Ukraine ĐƯỢC gì? – Thoát Nga vĩnh viễn, Ukraine đã đập tan sợi dây xích ảnh hưởng của Nga. Sự lệ thuộc về văn hóa, chính trị và năng lượng đã chấm dứt hoàn toàn. Ukraine không còn là “hậu viện”, mà là tiền đồn của văn minh phương Tây. Chưa bao giờ dân tộc Ukraine đoàn kết như hiện nay. Cuộc chiến đã tôi luyện nên một tinh thần thép, khẳng định chủ quyền không thể xâm phạm. Ukraine hiện là biểu trưng toàn cầu cho lòng dũng cảm. Họ nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của thế giới tự do và đang trên lộ trình không thể đảo ngược để gia nhập EU và NATO.

Ukraine hiện sở hữu một trong những đội quân thiện chiến nhất châu Âu, được trang bị vũ khí hiện đại và có kinh nghiệm thực chiến dày dạn nhất thế giới.

Rồi đây, Nga sẽ nhìn qua biên giới và thấy một Ukraine không chỉ giàu có hơn mà còn sở hữu sức mạnh công nghệ vượt trội đến mức không một kẻ xâm lược nào dám mơ tưởng đến việc vượt qua biên giới một lần nữa.

Ukraine sẽ không chỉ là một quốc gia được cứu rỗi, mà là quốc gia dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Nga đã chọn quá khứ, còn Ukraine lại chọn tương lai.

Cuộc chiến này chắc chắn sẽ để lại những vết sẹo dài, nhưng với tinh thần thép và sự nhạy bén về công nghệ, Ukraine đang tự viết nên một chương mới – nơi họ không còn là nạn nhân của lịch sử, mà là người dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Trong khi đó, những sai lầm chiến lược và sự lạc hậu sẽ là bài học cay đắng mà Điện Kremlin phải mang theo trong nhiều thập kỷ tới.

Nga có thể chiếm thêm vài vùng đất, nhưng họ đã mất đi tư cách của một cường quốc.

Ukraine có thể mất đi nhà cửa, nhưng họ đã giành lại được linh hồn của dân tộc và vị thế tự tôn trên bản đồ thế giới. Kẻ xâm lược cuối cùng sẽ phải rời đi trong ô nhục, còn Ukraine sẽ đứng vững như một biểu tượng của tự do.

“THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH.


 

BẤT TỬ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!”.

Năm 125 sau Công nguyên, Aristides giải thích sự thành công lạ thường của “một tôn giáo mới”: “Bất kỳ một Kitô hữu chân chính nào rời khỏi thế giới, họ đều hân hoan dâng lời cảm tạ Chúa; họ mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn! Như bất tử, họ đang đi từ một nơi này đến một nơi khác gần đó; một sự dịch chuyển không thể phi thường hơn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Đứng trước cái chết, Chúa Giêsu nói rất thật về sự ‘bất tử’ của Ngài – “Tôi Hằng Hữu!”. Lời Chúa hôm nay tiết lộ: chúng ta sợ chết, nhưng lại sống như thể đời mình chẳng có gì đáng để sống.

“Tôi Hằng Hữu!”. Ghi lại lời này của Thầy, tác giả trở lại lời tựa Phúc Âm của mình; ở đó, ‘phượng hoàng Gioan’ chắp cánh bay lên tận mút cùng của tạo thành, “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ngài không bắt đầu từ hôm qua; Ngài có trước mọi thứ chúng ta đang bám víu. Tuy nhiên, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể để xuống ở với con người hầu cứu lấy con người. Và dẫu đã về bên hữu Cha, Ngài vẫn đang có mặt với loài người. Và điều lạ là Ngài không đứng xa, nhưng vẫn ở lại trong một đời rất gần với chúng ta. “Chúa Kitô không xa chúng ta; Ngài gần chúng ta hơn chính chúng ta với bản thân mình!” – Augustinô.

Chúa Giêsu còn nói, “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết!”. Hãy nhìn vào Abraham, ông giữ lời Chúa và được sống trong lời hứa – bài đọc một. Với Đavít, giao ước Chúa đã lập với Abraham sẽ mãi trường tồn, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, Abraham ‘bất tử’ với miêu duệ của mình; còn chúng ta, giữ bao thứ khác mà lòng vẫn trống.

Vì thế, khi nói “sẽ không bao giờ phải chết”, Chúa Giêsu nói đến cái chết linh hồn. Ai giữ lời Ngài, sẽ không biết cái chết ‘kiểu đời đời’ này! Có một kiểu chết không cần đợi đến ngày nhắm mắt – khi tôi sống mà lòng không còn thuộc về Chúa. Vì thế, sự hiệp thông với Đấng hằng sống sẽ không bị phá vỡ bởi cái chết; đúng hơn, được đào sâu bởi nó! “Không gì có thể thực sự tách chúng ta… mối dây liên kết với Chúa Kitô vẫn còn nguyên!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Tôi Hằng Hữu!”. Dẫu “hằng hữu”, Con Thiên Chúa vẫn cam lòng chịu – hạn hữu – chết cho tội lỗi của con người; nhưng Ngài đã sống lại cho sự ‘bất tử’ của nó! Ngài đang ở rất gần, nhưng chúng ta vẫn có thể sống như thể Ngài không có mặt. Vì thế, không chỉ khi còn sống, chúng ta hân hoan ca tụng Ngài, mà cả khi rời thế giới, chúng ta vẫn “mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn”. Là con Đấng Bất Tử, chúng ta sống sự sống thần linh của Ngài ngay hôm nay; vậy mà không ít lần, dẫu đang nhởn nhơ, chúng ta vẫn đang “chết dần” từng ngày mà không nhận ra. Vậy hãy sống tâm thế của con cái Thiên Chúa ngay hôm nay, giữa đời thường – tâm hồn luôn hướng lên cao cùng với lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Và như thế, bạn và tôi ‘bất tử!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ chết nhưng lại sống hời hợt; con giữ nhiều thứ mà mất chính mình; xin cho con sống sao để không “chết” khi còn đang sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần V Mùa Chay

Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,51-59

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.”

52 “Người Do-thái liền nói : “Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : ‘Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.’

53 “Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai ?” 54 Đức Giê-su đáp : “Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.”

57 Người Do-thái nói : “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !” 58 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !”

59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. 


 

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1:38)-Cha Vương

Hôm nay Lễ Truyền Tin, ước mong bạn trở thành một người con ngoan chính hiệu của Chúa hôm nay nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau và toàn thể giới  Amen 

Cha Vương

Thứ 4: 25/03/2026.  (t6-22)

TIN MỪNG: Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1:38)

SUY NIỆM: Một trong những thử thách khó khăn nhất trong cuộc sống là từ bỏ ý mình để làm theo ý muốn của người khác. Nó đi ngược với bản tính tự nhiên của con người. Không những nó không có ích gì cho cá nhân mà nó cũng chẳng hay ho gì trong xã hội cả bởi vì thế gian luôn đề cao về quyền tự do và quyền tự quyết của con người. Do đó người đời mới có câu: “Sống có một lần, vì vậy, hãy làm những gì bạn muốn khi bạn có thể!” Là những người theo Chúa, bạn phải bơi ngược dòng, “đức vâng lời trọng hơn của lễ”. Đức vâng lời rất cần thiết cho tất cả mọi người, không ngoại trừ bất kỳ ai, cho dù người đó là bề trên hay người dưới, giáo sĩ hay giáo dân, người ra lệnh hay kẻ thừa hành. Thánh Grêgoriô nói: “Đức vâng phục là nhân đức duy nhất làm phát sinh và bảo tồn mọi nhân đức khác trong linh hồn.” Chừng nào đức vâng phục triển nở, các nhân đức khác cũng sẽ phát triển theo, và sẽ sinh hoa trái. Chỉ “có một điều ĐỨC CHÚA đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn.” (Mi 6:8) Nếu bạn muốn làm hài lòng Chúa thì hãy noi gương theo Đức Mẹ và các thánh sẵn sàng xin vâng trong mọi điều Chúa dạy cũng như chấp nhận mọi thử thách mà Chúa gởi đến với tâm tình mến yêu. Một khi bạn làm được như vậy rồi thì phép lạ của Chúa cũng chỉ ở trong tầm tay của bạn mà thôi “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37) Ước mong bạn hãy mở lòng để cho con tim mình được hoán cải, biết vâng lời để sám hối và trở về với Chúa nhé.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mt 7:21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin tăng lòng tin cậy mến nơi chúng con để trong cuộc lữ hành dương thế, mọi nơi mọi lúc chúng con luôn biết phó thác tin cậy và kính mến Chúa trọn cả cuộc đời mình và luôn biết sẵn sàng vâng theo thánh ý của Ngài trong mọi hoàn cảnh. Amen

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm 3 kinh—Tin, Cậy, Mến

From: Do Dzung

******************

ALBUM THÁNH CA THÁNG MÂN CÔI🎵XIN VÂNG

Bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vạn Điều Hay

 Cha mẹ ly hôn nhưng người đau lòng nhất là những đứa con – bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Khi một cuộc hôn nhân đi đến hồi kết, các bậc cha mẹ thường xem đó như một lối thoát. Một quyết định dứt khoát để khép lại những mâu thuẫn kéo dài, để tìm lại sự bình yên cho riêng mình.

Nhưng với những đứa trẻ, ly hôn chưa bao giờ là sự giải thoát. Ngược lại, đó là khởi đầu của một nỗi buồn dài – một khoảng trống âm thầm lớn dần trong tim, nơi các em không thể gọi tên, cũng không biết phải chia sẻ cùng ai.

Xót xa bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vừa qua, một câu chuyện đau lòng khiến nhiều người không khỏi nghẹn lại. Hình ảnh một người anh trai quỳ bên thi thể em gái, khóc đến kiệt quệ, vừa gạt nước mắt vừa nghẹn ngào trách Bố của mình em nói “Con không cần gì cả con chỉ cần em thôi. Bố cũng sai mà mẹ cũng sai, còn người đau lòng nhất chính là em”.

Em là Dương Thị Nhi, 17 tuổi, ngụ tại Cao Bằng. Những dòng thư em để lại khiến bất cứ ai đọc qua cũng phải lặng đi: “Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều, con thấy mệt mỏi quá, con không biết phải làm sao cả…”

Điều gì đã đẩy một cô bé còn chưa kịp trưởng thành đến lựa chọn kết thúc sinh mệnh của mình như vậy?

Trước đó, em cũng từng có một gia đình trọn vẹn như bao người khác có cha, có mẹ, có anh trai, có những tháng ngày bình yên tưởng chừng sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng hạnh phúc ấy tan vỡ quá nhanh khi cha mẹ quyết định mỗi người một lối đi.

Sau ly hôn, Bố của Nhi sống ngay đối diện ngôi nhà cũ, nhưng là trong một gia đình khác với người vợ mới và sự chăm sóc dành cho con riêng. Nỗi đau ấy không ồn ào, nhưng như một nhát dao âm thầm khắc sâu vào trái tim non nớt của em.

Mái ấm từng ấm áp bỗng trở nên lạnh lẽo, tiếng cười từng rộn ràng giờ chỉ còn lại những khoảng lặng kéo dài. Bởi có những khoảng cách không nằm ở địa lý, mà nằm ở tình cảm. Trong sự tuyệt vọng trầm cảm kéo dài, nỗi đau mà không ai thấu hiểu cuối cùng em chọn cách tự kết thúc sinh mệnh chính mình.

Trong bức thư tuyệt vọng gửi mẹ, em viết:

“Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều… con thấy lạc lõng, bơ vơ… con chưa có ước mơ rõ ràng, cũng không biết phải đi theo con đường nào.

Chuyện gia đình mình thật sự khiến con buồn lắm… con không hiểu tại sao bố lại mong muốn được sự thông cảm của tụi con, trong khi chính bố đã nói những lời ruồng bỏ…

Nhiều lúc con ước là có ai hỏi con ổn không… nhưng mọi người chỉ bảo con ‘hãy mạnh mẽ’… con không biết phải bắt đầu từ đâu…”

Những dòng chữ ấy không chỉ là lời trăn trối, mà là một tiếng kêu cứu đã bị bỏ lỡ.

Em viết cho mẹ bằng tất cả yêu thương và day dứt. Nhưng khi nhắc đến cha, em chỉ để lại một câu ngắn ngủi: “Con sẽ hận bố nhiều lắm.”

Một câu nói ngắn, nhưng đủ để khắc sâu nỗi đau mà một đứa trẻ đã phải gánh chịu.

Có lẽ, sự ra đi của em sẽ khiến những người làm cha mẹ phải giật mình suy ngẫm. Nhưng đó là một cái giá quá đắt. Và hơn hết, đây là một lời cảnh tỉnh: trước khi quyết định ly hôn, hãy nhìn vào con nhìn vào những tổn thương mà các em có thể phải gánh chịu.

Trước khi ly hôn cha mẹ hãy quan tâm đến cảm xúc của con

Các nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng, những đứa trẻ lớn lên trong gia đình ly hôn có xu hướng gặp khó khăn trong việc xây dựng các mối quan hệ, khó thân thiết với người khác, dễ mất niềm tin vào hôn nhân và có tỷ lệ đổ vỡ cao hơn khi trưởng thành.

Một đứa trẻ có quyền được yêu thương trọn vẹn từ cả cha lẫn mẹ. Có quyền được lớn lên trong sự gắn kết của hai phía gia đình nội, ngoại. Nhưng chỉ vì ly hôn và đặc biệt là vì cách ứng xử chưa đúng đắn của người lớn các em có thể đánh mất hình tượng của một người cha, một người mẹ, thậm chí đánh mất luôn cảm giác thuộc về.

Nỗi đau ấy không dừng lại ở một cá nhân, mà còn lan rộng, để lại những rạn nứt khó hàn gắn trong cả hai phía gia đình.

Với con, ngôi nhà thân thuộc không còn nguyên vẹn, đồng nghĩa với việc cảm giác an toàn cũng không còn như trước. Nỗi buồn của trẻ không phải lúc nào cũng bật thành tiếng khóc. Nhiều khi, đó là nỗi niềm thầm lặng mà con mang theo mỗi ngày.

Có những đứa trẻ bắt đầu tự trách bản thân nghĩ rằng vì mình chưa đủ ngoan, chưa đủ tốt nên cha mẹ mới rời xa nhau. Sự dằn vặt ấy khiến trái tim non nớt trở nên nặng nề, làm con dần mất đi sự tự tin và khép mình lại với thế giới.

Có đứa trẻ cố tỏ ra mạnh mẽ, nhưng sâu thẳm bên trong là sự cô đơn và nỗi sợ rằng gia đình thứ từng được tin là mãi mãi có thể tan vỡ bất cứ lúc nào.

Đau đớn nhất, là khi các em bị mắc kẹt giữa hai bờ tình cảm. Con yêu cả cha lẫn mẹ, nhưng lại luôn lo sợ rằng sự gần gũi với người này sẽ làm tổn thương người kia. Một trái tim nhỏ bé, lại phải gánh trên mình một lựa chọn quá lớn.

Ly hôn là điều không ai mong muốn, nhưng trong nhiều hoàn cảnh, lại là điều khó tránh.

Vì thế, nếu không muốn đi đến đổ vỡ, mỗi người khi bước vào hôn nhân cần đủ tỉnh táo, thận trọng và nghiêm túc trong việc lựa chọn bạn đời, hiểu rõ mục đích của sự gắn bó trước khi quyết định.

Còn nếu một ngày buộc phải ly hôn, xin hãy nghĩ cho con trước khi nghĩ cho mình. Hãy nghĩ đến những nỗi đau mà con có thể phải mang theo. Bởi người lớn có thể bắt đầu lại. Nhưng tuổi thơ của một đứa trẻ một khi đã rạn vỡ sẽ không bao giờ có thể trở lại vẹn nguyên như ban đầu.

vandieuhay.net

Ảnh: FB Những câu chuyện cuộc sống


 

CÁC ƠN ĐẠI XÁ TRONG TUẦN THÁNH  

Chiếu theo Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina ) do Đức Thánh Cha Phaolo VI ban bố ngày 1 tháng 1 năm 1967 và Cẩm Nang Về Các Ân Xá (Enchiridion Indulgentiarum) ấn bản thứ tư năm 1999, các việc làm vào những dịp sau đây trong Tuần Thánh được hưởng nhận các ơn Đại Xá Hội Thánh rộng ban cho các tín hữu như sau :

– Tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau Thánh Lễ Tiệc Ly, ai hát kinh Tantum Ergo (đây Nhiêm Tích Vô Cùng Cao Quý) hoặc Chầu Mình Thánh Chúa đủ 30 phút thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui feria V Hebdomadae Sanctae, si in sollemni repositione Ss.mi Sacramenti, post Missam in Cena Domini, strophas Tantum ergo pie recitaverit; Ss.mum Sacramentum visitaverit ad adorandum per dimidiam saltem horam”

 – Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ai tham dự nghi lễ Thờ lạy và hôn kính Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui in sollemni actione liturgica feriae VI in Passione et Morte Domini adorationi Crucis pie interfuerit”

– Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, trong Đêm Vọng Phục Sinh, ai tuyên lại lời hứa khi Rửa Tội hoặc có thể thay bằng Tín Biểu các Tông Đồ, Kinh Tin Kính công đồng Nicea-Constantinople thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

 “Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui, in celebratione Vigiliae Paschalis …., vota baptismalia qualibet formula legitime adprobata renovaverit. …. symbolum Apostolorum vel symbolum Nicaenum-Constantinopolitanum pie recitaverit;

– Các ngày khác trong Tuần Thánh và các ngày khác quanh năm, ai viếng đủ 14 chặng Đàng Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui vel ipse pium exercitium Viae Crucis peregerit vel, dum illud a Summo Pontifice peragitur et ope instrumenti televisifici vel radiophonici propagatur, ei sese pie univerit”

 Các ơn Đại Xá ngày mỗi ngày được hưởng nhận 1 lần và có thể nhường cho các linh hồn.

Để lãnh nhận ơn Đại Xá cần giục lòng ăn năn, chê ghét, dốc lòng chừa mọi tội trọng, tội nhẹ đã phạm, dứt lòng quyến luyến tội lỗi và theo các điều kiện hưởng ơn Đại Xá thông thường :

– Xưng Tội

– Rước Lễ trong chính ngày hưởng ơn Đại xá

– Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng : có thể cầu theo ý chỉ hoặc đọc thay bằng 1 Kinh Lạy Cha để hiệp ý cùng Đức Giáo Hoàng.

Xin Anh Chị Em loan báo rộng rãi điều này để Danh Chúa cả sáng và sinh ơn ích cho các linh hồn.

 From: ngocnga_1& NguyenNThu


 

QUYỀN NĂNG BIẾT CHỜ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói!”.

“Thiên Chúa đang chờ hình ảnh của Ngài, âm vang của Ngài, lời đáp của Ngài nơi chúng ta!” – Jürgen Moltmann.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa ngày lễ Truyền Tin cho thấy một nghịch lý: Thiên Chúa toàn năng, nhưng không áp đặt; Ngài đến, ngỏ lời, rồi chờ – chờ một lời “vâng” từ một thiếu nữ. Không phải vì bất lực, nhưng vì tôn trọng. Đó là một ‘quyền năng biết chờ’.

Điểm then chốt là lời đáp của Maria: “fiat mihi” – một tiếng “xin vâng” mở ra lịch sử cứu độ. Thiên Chúa không cần ai “xin vâng” để là Thiên Chúa; nhưng Ngài chờ “xin vâng” để cứu độ. Một “xin vâng” không chỉ là đáp lời, nhưng còn là “xin hãy xảy ra nơi tôi!”. Đây không phải là cam chịu, mà là một ưng thuận chủ động, mở lòng trọn vẹn cho Thiên Chúa hành động. Ngài không thiếu sức mạnh để làm, nhưng Ngài muốn có sự ưng thuận để biến đổi. Thiên Chúa không thiếu sức mạnh; Ngài chỉ từ chối cưỡng ép. “Chúa Kitô đứng trước cửa mỗi tâm hồn và chờ đợi, không cưỡng ép, nhưng mời gọi yêu thương!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, Truyền Tin không phải là mệnh lệnh, nhưng là đối thoại. Sứ thần loan báo, rồi dừng lại. Thiên Chúa nói vừa đủ – rồi im lặng. Chính trong khoảng lặng ấy, tự do con người được tôn trọng đến tận cùng. Thiên Chúa không chen vào quyết định của con người, dù biết con người có thể từ chối chính ơn cứu độ của mình. Một mạo hiểm của tình yêu! Một khoảng lặng đủ để cứu độ, hoặc để đánh mất. Cứu độ không khởi đi từ áp đặt, nhưng từ một khoảng lặng Thiên Chúa chủ ý để lại – ‘quyền năng biết chờ’.

Không chỉ chờ một lời; Đấng Toàn Năng còn nâng đỡ lời ấy bằng một dấu chỉ: “Kìa bà Elisabeth…”. Và như vậy, lời hứa thuở Isaia không còn xa – bài đọc một – nó đang thành hình nơi một cung lòng son sẻ. Từ đó, lịch sử đi vào một nhịp khác: “Này con đến để thực thi ý Ngài” – bài đọc hai. Và kìa, lời “xin vâng” của Mẹ hoà vào lời “xin vâng” của Con – “Lạy Thiên Chúa, con đến để thực thi ý Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca. Hai “lời đáp” chạm nhau – và quyền năng Thiên Chúa được khai mở nhờ chính sự đáp trả ấy.

Anh Chị em,

“Này con đến để thực thi ý Ngài!”. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu chỉ chờ để thi hành ý Cha; Ngài không đi trước giờ của Cha, nhưng ở lại trong lời “xin vâng” đó qua từng khoảnh khắc. Và cũng trong cuộc đời ấy, Ngài chờ những người tội lỗi trở về: chờ ánh mắt của người phụ nữ tội lỗi, chờ lời thú nhận của người thu thuế, chờ tiếng kêu muộn màng của anh trộm lành. Ngài không ép buộc, không đóng cửa; nhưng kiên nhẫn đứng đó. Và Ngài chờ bạn, chờ tôi, chờ từng ngày trong từng chọn lựa lớn nhỏ. Con Thiên Chúa thi hành ý Cha bằng ‘quyền năng biết chờ’ – và chờ cho đến hết đời. “Chúa không vội vàng với trái tim con người; Ngài đồng hành, ngay cả đến tận cùng sự kháng cự của nó!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường nôn nóng, xin kéo con lại; con thường đi trước ý Chúa, xin dạy con biết chờ; con thường ngại dấn thân, giúp con dám thưa ‘xin vâng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************************

LỜI CHÚA LỄ TRUYỀN TIN, 25/3

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi. 


 

Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, chúc bạn mọi sự tốt đẹp trong tình yêu Chúa và Mẹ nhé. Xin luôn nhớ đến nhau trong lời cầu nguyện  và Xin một lời cầu nguyện khẩn thiết cho nền hoà bình trên thế giới đang bị đe doạ.

Cha Vương

Thứ 3: 24/03/2026.  (t5-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Đức Giêsu là “Con một Thiên Chúa” có nghĩa là gì? Khi Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “Con một của Thiên Chúa” (Ga 3,16), khi thánh Phêrô và các tông đồ cũng gọi Người như vậy, thì điều này có nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu đích thực là Con trên hết mọi người con. (YouCat, số 74)

SUY NIỆM: Trong nhiều đoạn Tân ước (Ga 1,14.18; 1Ga 4,9; Dt 11,7…) Chúa Giêsu được gọi là “Con”. Khi chịu phép rửa và biến hình, tiếng nói từ trời xác nhận Chúa Giêsu là “Con yêu dấu”. Chúa Giêsu mở màn cho các môn đệ biết Người có quan hệ độc nhất với Cha Người trên trời: “Mọi sự Cha Tôi đã giao phó cho Tôi, và không ai biết rõ Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết rõ Chúa Con trừ Người Cha và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27). Khi sống lại, thì thật rõ ràng Chúa Giêsu Kitô thực sự là Con Thiên Chúa. (YouCat, số 74 t.t)

❦ Người ta không chỉ trích Chúa Kitô. Người ta chỉ trích các Kitô hữu vì họ không giống như Chúa Kitô. (Francois Mauriac, 1914-1996, tiểu thuyết gia Pháp).

 Không biết Kinh Thánh, tức là không biết Chúa Kitô” (Thánh Giê-rô-ni-mô)

LẮNG NGHE: Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (Lc 1:35)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa,/ con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự,/ vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng,/ lại vì Chúa / thì con thương yêu người ta như mình con vậy./ Amen.

THỰC HÀNH: Mình quan sát, đôi khi chính mình cũng vấp phải, sự lịch thiệp nơi cơ quan hay trước công chúng lắm lúc được trau chuốt hơn là sự tế nhị, dịu dàng trong gia đình… (đối với vợ, chồng, con cái, cha mẹ, …) Mời bạn làm một thay đổi trong Mùa Chay này nhé

From: Do Dzung

**********************

Chỉ Có Một Chúa – Nguyễn Hồng Ân

Lễ Giỗ Trưng Nữ Vương  &  162 Nữ Tướng Anh Hùng Liệt Nữ Dân Tộc


Lễ Giỗ Trưng Nữ Vương &  162 Nữ Tướng Anh Hùng Liệt Nữ Dân Tộc

 6 tháng 2 năm Bính Ngọ Quốc Lịch 4905 – 24 tháng 3 năm 2026

                                Đền Quốc Tổ tại Seattle Washington State 2025

Lễ Húy Nhật Trưng Nữ Vương

“Hiện nay có khoảng 6 triệu người Minangkabau (tên của vùng đất) trên hòn đảo Sumatra – Indonesia được các nhà cổ sử cho là có nguồn gốc Việt Cổ đã trên 2000 năm. Họ còn giữ nhiều tập tục như:  tục ăn trầu nhuộm răng, giữ luôn tập tục mẫu hệ, dựng nhà kiểu nhà sàn Việt Cổ. Người Việt Cổ hiện diện tại đây thật dễ hiểu, khi Mã Viện thắng trận và Hai Bà đã tuẫn tiết. Mã Viện ra lệnh tàn sát quân dân Lĩnh Nam đặc biệt gia tộc các nữ tướng và cũng tàn sát các dòng họ Trưng-Thi-Đô-Úy. Một số Đô Đốc sẵn có thuyền chiến và giặc Đông Hán cũng không giỏi hải chiến nên nhiều quân dân còn sống sót đã lên thuyền tìm nơi “tỵ nạn” và đoàn thuyền đã lên được đảo Sumatra – Indonesia gần eo biển Malacca hiện nay.”                                       

Lạc Việt

Đã từ lâu lắm, toàn dân Việt Nam luôn quý mến và ngưỡng mộ Hai Bà vì các Ngài đã đứng lên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Đông Hán đã cai trị nước ta từ năm -111 (trước Công Nguyên) đến năm 40 (sau Công Nguyên). Cuộc kháng chiến  kéo dài từ năm 30 đến năm 40. Thắng trận sau khi chiếm lại 65 thành trì Hai Bà lên làm vua đặt tên nước là Lĩnh Nam  đóng đô ở Mê Linh cho đến năm 43 (Đô kỳ trong cõi Mê Linh – Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta).

Sau đó nhà Hán sai Mã Viện sang báo thù, Hai Bà và quân dân Bách Việt – Lĩnh Nam đã bị thua trận và Nhà Hán tiếp tục đặt ách nô lệ lên Dân Tộc ta suốt một nghìn năm cho đến thời Ngô Vương Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ I năm 939 (Sau Công Nguyên) Nhà Ngô đã lấy lại chủ quyền cho phần đất thuộc Lạc Việt Sông Hồng. Phần còn lại của Bách Việt Lĩnh Nam (Thời các Vua Hùng) từ bờ nam sông Dương Tử (sông Trường Giang ngày nay), Ngũ Lĩnh Quảng Đông Quảng Tây vẫn tiếp tục bị giặc Hán đô hộ và tiếp tục bị Hán hoá cho đến tận ngày nay.

Tuy vậy, có lẽ đa số chúng ta mới nghe lần đầu danh hiệu của Hai Bà là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. Nhân đây chúng ta cùng rà soát lại một số yếu tố lịch sử liên quan đến cuộc Kháng Chiến chống Quân Xâm Lược nhà Đông Hán vào năm 30-40 sau Công Nguyên.

Như chúng ta đã biết, Mã Viện và quân Đông Hán sau khi thắng trận (năm 43 sau Công Nguyên) đã đặt ách nô lệ lên Dân Tộc ta suốt 1000 năm, và ngay lập tức chúng trả thù man rợ là tàn sát 1/3 Quân Dân Âu Lạc, đặc biệt là giết sạch các gia tộc mang dòng họ Trưng, Thi, Đô, Úy…

Một ngàn năm, thời gian dài dằng dặc tăm tối trong kiếp nô lệ giặc Phương Bắc. Chính trong thời kỳ này, Giặc Tàu cố gắng đồng hóa Dân Tộc ta bằng tất cả mọi thủ đoạn: 

“Giặc Tàu xuyên tạc Lịch Sử Việt,

Giặc Tàu xuyên tạc Nguồn Gốc Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt 4000 năm Tiền Sử Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Truyền Thuyết Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Lãnh Thổ  Việt,

Giặc  Tàu chiếm đoạt Văn Minh Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Kiến Trúc và Kỹ Thuật Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Chữ Viết của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Biểu Tượng Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt học thuyết Đạo và Đức của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Danh Dự và Vinh Quang của Tộc Việt”

(website:danhgiactau)

 *****

Trong suốt 1000 năm đó, Giặc Tàu đã hoàn chỉnh thêm chữ Việt, hệ thống hóa và gọi là chữ “Hán” và bắt dân ta học loại chữ này. Giới thượng lưu Việt dùng chữ “Hán” trong giao tiếp với bọn cai trị, nhưng vẫn tiếp tục giữ chữ Nam, chữ riêng của người Nước Nam, nhưng nói trại ra là chữ Nôm. Trong chữ Nôm có ghi được cả cách phát âm rất đặc thù của người Việt khác xa với chữ Hán (Chữ Nôm có phần tượng hình để chỉ ý nghĩa và phần tượng thanh để chỉ phát âm – Hình tượng thì giống chữ “Hán” nhưng đọc thì theo âm Việt. Tổ tiên ta đã thông minh sáng tạo để tiếp tục giữ được giọng nói của Người Việt. Sự khác biệt này rất quan trọng để chống Hán Hóa.

         Chữ Nôm:           些

        Đọc là: Trăm năm trong cõi người ta.

Cha Ông chúng ta tiếp tục dùng chữ Nôm sau khi Ngô Quyền giành độc lập và Chữ Nôm đã phát triển cao độ trong các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê  với những áng văn tuyệt tác của Truyện Kiều – Nguyễn Du, những tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương…Đặc biệt Hoàng Đế Quang Trung đề cao văn học chữ Nôm.

Đến Triều Nguyễn Gia Long (1804) sau khi đánh bại nhà Nguyễn Tây Sơn, Gia Long trả thù tàn ác gia tộc nhà Tây Sơn và các tướng lãnh của Đại Đế Quang Trung đã oai hùng cùng ông và quân dân chống giặc ngoại xâm là 30 vạn Quân Thanh như Nữ Tướng Bùi thị Xuân (1789) …v.v… Gia Long cũng đã chôn vùi nhiều điều tốt đẹp của thời Quang Trung Hoàng Đế đồng thời có việc xử dụng nhiều quan triều gốc Hán, điều này đưa đến việc xử dụng chữ Hán một cách phổ quát thay chữ Nôm.  Lịch sử Việt được viết bởi người Hán được dùng rộng rãi. Đó là lý do tại sao chúng ta có những bài học lịch sử phiến diện, đề cao “Thiên Triều” và hạ thấp công lao hay tầm mức của các Anh Hùng Liệt Nữ Việt.

Trong chiều hướng Hán Hóa của Giặc Tàu, thời nào cũng vậy, nếu không xóa được các chiến tích Việt, thì “Thiên Triều” cũng cố gắng hạ thấp các chiến tích hay chuyển hóa các mục tiêu  của chiến tích.

Bây giờ thì chúng ta có thể hiểu tại sao Sử Việt (do Tàu viết) được xử dụng dưới thời 150 năm Triều Nguyễn (Gia Long) lại có những bài sử ngắn gọn như “Hai Bà Trưng”, thực tế là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam hoặc “Bà Triệu Ẩu” có tính nhục mạ, thực tế là Nữ Anh Thư Triệu thị Trinh…v.v…

Trở lại danh xưng Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam mà sử “Việt Tàu” gọi ngắn gọn là Hai Bà Trưng. Chúng ta cùng nhìn lại bối cảnh cuộc Khởi Nghĩa Giải Phóng Dân Tộc do Hai Bà và Quân Dân Bách Việt – Văn Lang đã thực hiện đánh đuổi nhà Đông Hán ra sao ?

Từ năm -111 (trước công nguyên) đến năm 30 (sau công nguyên) Bách Việt – Văn Lang nói chung và Lạc Việt Sông Hồng nói riêng bị nhà Hán xâm lăng, tuy vậy sự đô hộ chưa toàn diện, Lac Hầu, Lạc Tướng vẫn là những quan tướng Việt lo việc an dân như thời Hùng Vương. Nhà Hán chỉ thâu thuế lúa gạo là chính.

Đến năm 30-40 Hán Vũ Đế bắt đầu cho quân xâm lược trú đóng và đặt ách nô lệ hà khắc ảnh hưởng trực tiếp từ Vùng Đồng Đình Dương Tử đến rặng Ngũ Lĩnh (Quảng Đông-Quảng Tây) và vùng Sông Hồng trong đó có việc Tô Định giết Thi Sách chồng Bà Trưng (chị) là Lạc Tướng huyện Châu Diên vùng Lạc Việt – Sông Hồng.

Bà Trưng đã được các thủ lãnh tôn vinh là Đế để lãnh đạo cuộc kháng chiến giành Độc Lập của các tộc Bách Việt – Văn Lang ở bờ Nam sông Dương Tử (nay là Trường Giang) , và ở Lạc Việt – Sông Hồng. Bà Trưng (chị) không chỉ vì thù chồng và hận giặc Tô Định tham tàn như sử “Việt-Tàu” viết, mà chí lớn hơn người đã đứng lên liên kết, một cuộc liên kết rộng lớn bao gồm cả vùng Đồng Đình Hồ, vùng Ngũ Lĩnh sông Tương và vùng Sông Hồng cùng đứng lên Giải Phóng Đất Nước khỏi sự thống trị tham tàn của Giặc Đông Hán.

Dưới đây là lãnh thổ của Bách Việt – Lĩnh Nam  thời Trưng Đại Đế năm 40 sau Tây Lịch (bản đồ của website: danhgiactau)

 Công cuộc gìn giữ độc lập cho Dân Tộc được khởi đầu bởi Thánh Gióng, một thanh niên rất trẻ cùng toàn dân chống giặc Ân đời Hùng Vương Thứ VI. Và bây giờ năm 40 đã qua các thời Vua Hùng – Văn Lang, vận nước suy vi vì bị giặc Đông Hán thống trị, Bà Trưng đã cùng rất nhiều các nữ tướng trên khắp lãnh thổ Bách Việt – Văn Lang đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà.

Các Nữ Đại Tướng và Các Nữ Đô Đốc (danh xưng Công Chúa dưới sự chỉ huy của Trưng Đại Đế: 

Danh tướng Trưng Công Chúa (Bà Trưng Em) Đại Tướng trấn thủ Quận Giao Chỉ – Vùng đất Lạc Việt sông Hồng.

Danh tướng Thánh Thiên Công Chúa giữ chức Bình Ngô Đại Tướng Quân thống lĩnh binh mã trấn thủ quận Nam Hải hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm Yên Dũng Bắc Ninh Việt Nam và ở cả hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây của Trung Hoa.

 Danh tướng Lê Chân, Nữ Tướng miền biển khởi nghĩa ở An Biên Hải Phòng được Trưng Vương phong làm Đông Triều Công Chúa giữ chức Trấn Đông Đại Tướng Quân thống lĩnh đạo quân Nam Hải hiện có Đền Nghè ở An Biên Hải Phòng.

 Danh tướng Vũ Thị Thục khởi nghĩa ở Tiên La Thái Bình được Trưng Vương phong làm Bát Nàn đại tướng, Uy Viễn Đại Tướng Quân Trinh Thục Công Chúa hiện có đền thờ ở Phượng Lâu Phù Ninh Phú Thọ và Tiên La Hưng Hà Thái Bình.

 Danh tướng Vương Thị Tiên được Trưng Nữ  Vương phong làm  Ngọc Quang công chúa được thờ ở Đền Sầy và miếu thờ ở xã Gia Sinh huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Tương truyền Bà có công giúp Trưng Nữ Vương đánh giặc và gieo mình tự vẫn tại xã Hữu Bị huyện Mỹ Lộc phủ Thiên Trường Nam Định.

 Ba vị danh tướng Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống và Đào Tam Lang của Trưng Nữ Vương hi sinh trong trận Bồ Lăng đánh với quân Hán tại khu vực nay là ngã ba sông Dương Tử  và sông Ô Giang thuộc địa phận thành phố Trùng Khánh Trung Hoa. Để tưởng nhớ công ơn của 3 anh em họ Đào nhân dân Đa Tốn đã lập miếu thờ. Đào Đô Thống thờ ở miếu Sén Tóc thôn Ngọc Động, Đào Chiêu Hiển thờ ở Nghè Ông Hai thôn Lê Xá và Đào Tam Lang ở Nghè cũ sau chuyển về Nghè Lê Xá.

 Danh tướng Nàng Nội, nữ tướng vùng Bạch Hạc khởi nghĩa ở xã Bạch Hạc thành phố Việt Trì Phú Thọ ngày nay được Trưng Vương phong làm Nhập Nội Bạch Hạc Thủy Công Chúa. Hiện thành phố Việt Trì có đền thờ Bà.

 Danh tướng Lê Thị Hoa, Nữ tướng anh hùng khởi nghĩa ở Nga Sơn Thanh Hóa được Trưng Vương phong làm Nga Sơn Công Chúa giữ chức Bình Nam Đại Tướng Quân phó thống lĩnh đạo binh Cửu Chân. Hiện có đền thờ ở Nga Sơn Thanh Hóa. 

Danh tướng Hồ Đề phó nguyên soái khởi nghĩa ở động Lão Mai Thái Nguyên được Trưng Vương phong làm Đề Nương Công Chúa Giữ chức phó nguyên soái Trấn Viễn Đại Tướng Quân Đình Đông Cao Yên Lập Phú Thọ ở Hồ Đề.

 Danh tướng Xuân Nương (có chồng là Thi Bằng em trai của Lạc Tướng Thi Sách) Bà là chưởng quản quân cơ khởi nghĩa ở Tam Nông Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Đông Cung Công Chúa giữ chức Nhập Nội Chưởng Quản Quân Cơ Nội Các. Hiện có đền thờ ở Hưng Nha Tam Nông Phú Thọ.

 Hai danh tướng Nàng Quỳnh và Nàng Quế, tiên phong phó tướng khởi nghĩa ở Châu Đại Man Tuyên Quang được Trưng Vương phong làm Nghi Hòa Công Chúa giữ chức Hổ Oai Đại Tướng Quân  lãnh đạo quân Nhật Nam trấn thủ vùng Bắc Nam Hải. Hiện ở Tuyên Quang còn miếu thờ hai vị nữ anh hùng.

 Danh tướng Đàm Ngọc Nga, Tiền Đạo Tả Tướng khởi nghĩa ở Thanh Thủy Thanh Sơn Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Nguyệt Điện Tế Thế Công Chúa giữ chức Tiền Đạo Tả Tướng Quân phó thống lĩnh đạo binh Nam Hải hiện có đền thờ ở Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Hoa.

 Danh tướng Trần Thị Phương Châu tuẫn tiết ở Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Hoa. Năm 39 sau công nguyên được Trưng Vương phong làm Nam Hải Công Chúa hiện có đền thờ ở Khúc Giang Quảng Đông.

 Danh tướng Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Hương quê ở động Hoa Lư Ninh Bình theo Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa được thờ ở đình Đông Ba thuộc thôn Đông Ba xã Thượng Cát quận Bắc Từ Liêm Hà Nội.

 Danh tướng Thiều Hoa, Tiên Phong Nữ Tướng khởi nghĩa ở Tam Thanh Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Đông Cung Công Chúa giữ chức Tiên Phong Hữu Tướng. Hiện ở xã Hiền Quan Tam Nông Phú Thọ có miếu thờ bà.

 Danh tướng Quách A, Tiên Phong Tả Tướng khởi nghĩa ở Bạch Hạc Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Khâu Ni Công Chúa giữ chức Tiên Phong tả tướng tổng trấn Luy Lâu. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu Phú Thọ.

 Danh tướng được Trưng Vương phong làm Vĩnh Hoa Công Chúa Nội Thị Tướng Quân khởi nghĩa ở Tiên Nha Phú Thọ. Bà có nhiều trận đánh thần kỳ giẹp tan quân của đại tướng nhà Hán là Ngô Hán ở các vùng Độ Khẩu nay thuộc tỉnh Vân Nam và Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam của Trung Hoa ngày nay.

 Danh tướng Lê Ngọc Trinh đại tướng khởi nghĩa ở Lũng Ngòi Vĩnh Tường Vĩnh Phúc được Trưng Vương phong là Ngọc Phượng Công Chúa giữ chức Chinh Thảo Đại Tướng Quân phó thống lĩnh đạo quân  ở Quế Lâm. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường Vĩnh Phúc.

 Danh tướng Lê Thị Lan, tướng quân khởi nghĩa ở Đường Lâm Sơn Tây được Trưng Vương phong làm Nhu Mẫn Công Chúa giữ chức Trấn Tây Tướng Quân, phó thống lãnh đạo Minh Hán Trung. Hiện ở Hạ Hòa Vĩnh Phúc có miếu thờ Bà.

 Danh tướng Phật Nguyệt, Tả Tướng Thủy Quân khởi nghĩa ở Thanh Ba Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt Công Chúa giữ chức Thao Giang Thượng Tả Tướng Thủy Quân Chinh Bắc Đại Tướng Quân tổng trấn khu hồ Đồng Đình – Trường Sa. Bà có trận đánh kinh hồn chiến thắng Mã Viện, Lưu Long và Đoàn Chí ở Hồ Đồng Đình nay thuộc tỉnh Hồ Nam. Hiện di tích về  Bà còn rất nhiều tại chùa Kiến Quốc thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, tại ngôi chùa trên núi Thiên Đài trong hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh. Bà là nữ tướng gây kinh hoàng nhất cho nhà Hán.

 Danh tướng Trần Thiếu Lan hiện có miếu thờ tại cửa Thẩm Giang chảy vào hồ Đồng Đình nay thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Hoa. Cả ngàn năm qua, mỗi lần sứ thần của Việt Nam đi ngang qua đều vào tế lễ Bà.

 Danh tướng Phương Dung khởi nghĩa ở Lang Tài Bắc Ninh được Trưng Vương phong làm Đăng Châu Công Chúa giữ chức Trấn Nam Đại Tướng Quân thống lĩnh đạo binh Giao Chỉ.

 Danh tướng Trần Năng, Chưởng Lĩnh Trung Quân khởi nghĩa ở Thượng Hồng Hải Dương được Trưng Vương phong làm Hoàng Công Chúa, Vũ Ky Đại Tướng Quân giữ chức Chưởng Lĩnh Trung Quân. Hiện ở Yên Lãng Vĩnh Phúc có đền thờ Bà.

 Danh tướng Trần Quốc hay Nàng Quốc, Trung Dũng Đại Tướng Quân, khởi nghĩa ở Gia Lâm Hà Nội được Trưng Vương phong làm Gia Hưng Công Chúa Trung Dũng Đại Tướng Quân giữ chức Đô Đốc Chưởng Quản Thủy Quân trấn Bắc Nam Hải. Bà có trận thủy chiến lẫy lừng ở quận Uất Lâm nay thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Hoa. Hiện ở Hoàng Xá Kiêu Kỵ Gia Lâm Việt Nam và cả dọc bờ biển các tỉnh Quảng Đông Phúc Kiến Hải Nam Trung Hoa ngày nay còn nhiều đền thờ Nàng Quốc. Dân ở các vùng này đã tôn bà là Giao Long Tiên Nữ giáng trần vì bà rất hiển linh.

 Tam Nương Tả Đạo Tướng Quân gồm 3 danh tướng chị em Đạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương. Trưng Vương phong Hồng  Nương làm An Bình Công Chúa. Thanh Nương làm Bình Xuyên Công Chúa. Đạm Nương làm Quất Lưu Công Chúa trao cho chức Kỵ Binh Lĩnh Nam. Đình Quất Lưu Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.

 Danh tướng Quý Lan, Nội Thị Tướng quân khởi nghĩa ở Lũng Động Chí Linh Hải Dương được Trưng Vương phong là An Bình Công Chúa, giữ chức Nội Thị Tướng Quân (Lễ Bộ Thượng Thư). Hiện ở Liễu Sơn Lập Thạch Vĩnh Phúc có đền thờ Quý Lan.

 Bà Chúa Bầu khởi nghĩa ở vùng Lập Thạch Vĩnh Phúc. Hiện ở Lập Thạch Sơn Dương có đền thờ tưởng nhớ công lao của Bà.

 Danh tướng Sa Giang quê ở Trường Sa – Hồ Nam là người Hán sang giúp triều đình Lĩnh Nam được Trưng Vương phong làm Lĩnh Nam Công Chúa. Bà là một nhân vật lịch sử. Hiện ở ngoại ô huyện Phong Đô tỉnh Tứ Xuyên Trung Hoa có đền thờ Bà.

 Danh tướng Đô Thiên cũng là người Hán ứng nghĩa theo Lĩnh Nam được Trưng Vương phong làm Động Đình Công giữ chức Trung Nghĩa Đại Tướng Quân thống lĩnh đại quân Hán Trung tổng trấn Trường Sa (Hồ Nam). Hiện vùng Lưỡng Quảng của Trung Hoa có rất nhiều miếu thờ Ông.

 Danh tướng Phùng thị Chính quê ở Tuấn Xuyên Vạn Thắng Ba Vì được Trưng Vương phong làm Chưởng Nội Thị Tướng Quân. Bà nổi tiếng với trận đánh ở Lãng Bạc. Sinh con giữa trận chiến một tay ôm con một tay giết giặc. Có đền thờ Bà tại thôn Tuấn Xuyên xã Vạn Thắng huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

  Ngoài ra còn có các thủ lĩnh người Tày người Nùng và người Choang tại tỉnh Quảng Tây lãnh đạo nhân dân tham gia cuộc khởi nghĩa của Trưng Nữ Vương.

 *****

Sau khi thắng giặc xâm lược Hán Vũ Đế, năm 40 AD Bà Trưng lên ngôi Nữ Hoàng Đế đặt tên nước là Lĩnh Nam. Lãnh thổ gần tương đương với nước Văn Lang của các vua Hùng ngày xưa. Nước Lĩnh Nam được chia làm 6 Quận: Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm. Các nữ danh tướng hiện còn nhiều đền thờ lập thành “Thần Hoàng Làng” ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam sông Dương Tử Trung Hoa.

 Sáu Quận của nước Lĩnh Nam từ bờ Nam Dương Tử đến đèo Hải Vân:

Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam

 Cuộc chiến hầu như khởi động đồng loạt trên toàn lãnh thổ bao la của Bách Việt từ Hồ Đồng Đình đến rặng Ngũ Lĩnh thượng nguồn sông Tương đến vùng Sông Hồng (cực Nam là Đèo Hải Vân).

Trận chiến được mở đầu trên Đồng Đình Hồ (thủ phủ xa xưa của tộc Việt) khi 20 vạn Quân Hán thiện chiến tràn xuống từ vùng Hoàng Hà phải đối đầu với binh lực của Công Chúa Phật Nguyệt – Nữ Tướng của vùng Hồ Đồng Đình. 7 vạn quân Hán đã bị giết trong số 20 vạn quân xâm lược và khoảng 1000 trong 2000 chiến thuyền của giặc bị phá huỷ. 

Đền Trưng Nữ Vương

Với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trên một địa bàn rộng lớn như thế, cùng với những chiến công hiển hách như vậy, sao dân ta chỉ gọi là Hai Bà Trưng như Sử Giặc Tàu viết.

Để ít nhất tương đương với nhà Đông Hán lúc đó là Hán Quang Vũ Đế, các Tướng vùng khắp nơi trên lãnh thổ Bách Việt – Văn Lang từ Hồ Đồng Đình đến Rặng Ngũ Lĩnh vào tận đến vùng Sông Hồng hẳn sẽ phải tôn vinh Ngài là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam.

Ngày nay, chúng ta cũng không nên dựa theo sử Tàu mà gọi vi Nữ Anh Hùng có một không hai trên thế giới cổ kim đơn giản là Hai Bà Trưng mà nên  gọi Ngài là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam hay ít nhất là Trưng Nữ Vương.

Với dòng lịch sử oai hùng như vậy của Trưng Đại Đế, TT Trump đã nhắc đến công lao “Hai Bà” trong chuyến viếng thăm VN tại Đà Nẵng năm 2017 như một lời nhắc nhở thâm thuý : “Không ai cho chúng ta Độc Lập, mà phải tự giành lấy Độc Lập như ‘Hai Bà’ đã làm từ năm 40”. Lời nhắc nhở này, người Việt chúng ta cảm thấy “nhục” hơn là hãnh diện khi Đại Họa Mất Nước đã gần hoàn tất dưới triều đại của các Hán Gian Cộng Sản.  

 Lạc Việt

Nhân ngày lễ giỗ Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam & 162 Nữ Tướng Anh Hùng Dân Tộc 6 tháng 2 năm Bính Ngọ QL4905 (Mar 24, 2026

 Tài liệu tham khảo:

1–website www.danhgiactau.com 

2–Bài trả lời phỏng vấn GS Trần Đại Sĩ

3—Website www.daotienthanh.org

4- Cội Nguồn Việt Tộc – Phạm Trần Anh

5- Lược Sử 7000 năm Tộc Việt – Nguyễn thanh Đức

6- Youtube Channel: Thai Tu Sin TV

 Ghi chú:

1–Động Đình Hồ hay Đồng Đình Hồ

Động Đình Hồ là địa danh chúng ta thường nghe. Đây chính là nơi Tổ Tiên chúng ta xuất hiện cách đây gần 5000 năm . Vùng này xưa kia rộng lớn như Biển Hồ ở phía Nam bờ sông Dương Tử. Hệ thống Hồ chằng chịt nối kết với sông Dương Tử. Do đó người Bách Việt rất giỏi về bơi lội lặn sâu, nghĩa là có khả năng vùng vẫy dưới nước như Rồng. 

Khoảng giữa hồ có nhiều núi và nhiều hang động như trong cảnh giới cõi tiên. Đây chính là nơi Mẹ Âu Cơ ngự trị. Bởi vậy truyền thuyết Dân Tộc ta là con cháu Tiên Rồng, tức là một sự kết hợp kỳ diệu của con người trong cảnh giới tuyệt vời của Nước và Non. Do đó Dân Tộc Việt chúng ta cũng gọi Quê Hương là Đất Nước. 

Theo sự nghiên cứu về chữ Việt cổ thì Vùng này lại gọi là Đồng Đình Hồ. Đồng là cùng, chung nhau. Đình là triều đình là bàn việc nước. Vậy Hồ Đồng Đình có núi non có nhiều hang động như là nơi Tiên Cảnh, Tổ Tiên ta xuất phát từ đây nên cũng dùng nơi này để cùng nhau bàn việc nước. 

2–Tại sao chúng ta lại gọi mình là người Kinh.

Tổ tiên chúng ta xuất phát từ vùng Đồng Đình Hồ. Gần hồ, những nơi nước không sâu có loại cỏ Kinh mọc san sát cao hơn đầu người. Trong những cuộc chiến chống quân xâm lược, tổ tiên chúng ta thường dùng nơi này làm chiến khu hay trận địa chiến. Người Việt đã chế ra một loại vũ khí có cán dài, trên đầu có bọc sắt nhọn và cũng ngay gần đầu có làm cái móc câu liêm. Trong đám cỏ Kinh rậm rạp này, chiến binh Việt dễ ẩn núp và khi gặp giặc tiến công thường cưỡi ngựa thì chiến binh Việt dùng vũ khí này móc cho ngựa quỵ xuống rồi cũng dùng mũi nhọn để đâm địch thủ. Vùng Đồng Đình “Thủ Đô” có nhiều cỏ Kinh nên người Việt gọi nhau là người gốc Kinh. Chữ để chỉ người Việt của thời kỳ này và tại vùng Đồng Đình  có hình cái Vũ Khí như vừa diễn tả. 

3–Cũng có sách chỉ ra rằng:

Sở dĩ Sử Tàu gọi Hai Bà là Trưng Trắc & Trưng Nhị là có ý miệt thị: Trưng Trắc là Trưng phản trắc và Trưng Nhị là Trưng hai lòng. Có lẽ cũng tương tự như chúng gọi Bà Triệu Thị Trinh là Triệu Ẩu là có ý khinh miệt

4–Sở dĩ ngày nay sau 1000 năm nô lệ

chúng ta còn biết đến công trạng của Trưng Đại Đế và đặc biệt công đức của 162 Nữ Đại Tướng (danh hiệu Công Chúa) là nhờ đền thờ của các vị mà tộc Việt khắp nơi trên lãnh thổ Tàu vẫn còn gìn giữ tôn thờ. Ngay cả các triều đại vua chúa của ta thời Đinh Lê Lý Trần hoặc đích thân hoặc các phái đoàn ngoại giao đều ghé đền Trưng Đại Đế tại Đồng Đình Hồ để thắp nhang kính viếng.

 From: My Tran 


 

“XIN VÂNG” – SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ – Sr. Tâm Năng

Sr. Tâm Năng

 Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh.  Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ.  Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người.  Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài.  Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay. 

Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý.  Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó. 

Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ. 

Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa.  Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại.  Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm viếng bà Isave.  Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ.  Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave. 

Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin.  Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc.  Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời.  Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy.  Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin.  Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao. 

Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.  Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày.  Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác.  Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa.  Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.

 Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù… tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn. 

Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa. 

Sr. Tâm Năng

From: Langthangchieutim


 

Mỹ : Chiến tranh Trung Đông làm giá xăng cùng chi phí sinh hoạt leo thang (RFI)

(RFI)

Cuộc chiến tranh tại Trung Đông đã đẩy gia nhiên liệu tăng vọt và làm dấy lên nhiều lo ngại lạm phát ở khắp nơi trên thế giới từ ba tuần qua. Tại Mỹ, tổng thống Donald Trump đã ngày càng bị áp lực do giá xăng tăng liên tục cùng với chi phí sinh hoạt leo thang trái với những hứa hẹn tranh cử của ông.

Đăng ngày: 23/03/2026 

Một cơ sở lọc dầu ở Fujairah, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất bốc cháy do trúng drone tấn công của Iran ngày 14/03/2026. © Altaf Qadri / АР

Anh Vũ

Thông tín viên RFI  Edward Maille tại Atlanta ghi nhận qua phóng sự

Tại bãi đỗ xe của một trạm xăng, Dallas vừa đổ đầy bình với giá 71 đô la,  trong khi cách đây vài tuần chỉ mất khoảng 40 đô la.

« Điều này ảnh hưởng tới việc đi lại  của chúng tôi. Chúng tôi có gia đình sống  ở Florida, đi lại mất 5 tiếng lái xe . Bình thường gần như hàng tháng  chúng tôi vẫn đi thăm gia đình, nhưng giờ đây mỗi chuyến đi như vậy tốn thêm 150 đô la. Vì thể nhiều tuần vừa rồi chúng tôi đã không gặp gia đình Đúng là có ảnh hưởng. » 

Đứng bên chiếc xe mui trần của mình, Mike tỏ ra lạc quan. Anh cho biết  từng chứng kiến xăng tăng rồi giảm nhiều lần trong đời. Nhưng chi phí sinh hoạt những năm gần đây buộc anh phải chú ý hơn với các khoản chi tiêu. Mike cho biết : « Ba năm gần đây, chúng tôi thấy giá thực phẩm tăng khá nhiều ở Mỹ. Trước đây đi chợ tốn 45 đô la, giờ là 90 đô la, vì thế tôi phải chặt chẽ về tài chính, kiểu như là mình có thực sự cần đến những quả dâu này hay không ».


 

TỰ HUỶ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!”.

“Thiên đàng quan tâm đến thập giá; địa ngục khiếp hãi nó! Đang khi loài người – những sinh vật duy nhất – ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của nó! Ơn cứu độ chỉ đến khi Chúa Kitô được giương cao!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: ơn cứu độ chỉ đến từ thập giá Chúa Kitô! Nó không đến từ ước muốn hay sự sẵn lòng của một ai đó; nó phát xuất từ lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa, đến nỗi Ngài như phải ‘tự huỷ’. Đó là điều khó tin nhất!

Khi Israel kêu trách Chúa, rắn lửa – tượng trưng cho tội lỗi – bò ra cắn chết nhiều người – bài đọc một. Môsê van xin, Ngài bảo, “Hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống!”. Rắn đồng được treo lên đã cứu một dân; Chúa Kitô được treo lên sẽ cứu muôn dân. Con người chết không chỉ vì nọc độc, mà vì không chịu nhìn lên!

Chúa Kitô đã ‘tự huỷ’ chính mình. Đó là một tình yêu của một Đấng chấp nhận hạ mình đến cùng để kéo con người ra khỏi bóng tối và sự chết – không bị ràng buộc bởi điều kiện, không bị khuất phục bởi nỗi sợ hay tính toán. Nhưng điều lạ lùng là: nỗi đau vẫn còn đó, vết cắn vẫn còn đó; Ngài không xoá hiểm nguy, nhưng đặt ngay giữa nó một dấu chỉ cứu sống. Cứu độ không đến từ việc tránh né, nhưng từ việc dám đối diện và nhìn lên. Chính ở đó, sự sống bắt đầu. Nhìn lên, không phải để hết đau đớn, nhưng để thấy một tình yêu ‘tự huỷ’ đang mở ra – cho bạn, cho tôi – đến tận cùng. “Thập giá là cách Thiên Chúa nối kết đau khổ với tình yêu!” – Georgia Harkness.

Đó là điều khiến thập giá trở nên khó chấp nhận – nhưng đó lại là nơi duy nhất có thể chữa lành. “Thập giá Chúa Kitô chịu đóng đinh không phải là một vật trang trí hay một tác phẩm nghệ thuật; nhưng là mầu nhiệm về sự huỷ diệt của Thiên Chúa vì tình yêu. Sự cứu rỗi thế giới không được thực hiện bằng cây đũa thần của một vị thần tạo ra mọi thứ; thay vào đó, nó được thực hiện bằng sự đau khổ của Con Thiên Chúa và bằng chính cái chết của Ngài!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Như vậy, Chúa Kitô – Đấng được giương cao – đã không giữ lại điều gì cho mình. Ngài không cứu bằng quyền lực, nhưng bằng việc ‘tự huỷ’ đến tận cùng, trao ban chính mình trong đau đớn và vâng phục. Ngài không xuống khỏi thập giá – vì tình yêu không rút lui. Và chính lúc bị treo lên trong yếu đuối, Ngài lại tỏ lộ trọn vẹn căn tính của mình: Con của Cha, sống hoàn toàn cho Cha, và hiến mình vì chúng ta. Nhìn lên Ngài, chúng ta hiểu: ‘tự huỷ’ không phải là mất đi, nhưng là con đường để tình yêu đạt tới viên mãn. “Tin vào Chúa Kitô là vác lấy thập giá, bước theo Ngài trên con đường tình yêu tự hiến!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con xác tín, không nhìn lên, con sẽ ở lại với vết cắn; nhìn lên, con bắt đầu sống. Đừng để con là ‘sinh vật duy nhất’ ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 ***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần V Mùa Chay

Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,21-30

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được.” 22 Người Do-thái mới nói : “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói : ‘Nơi tôi đi, các ông không thể đến được’ ?” 23 Người bảo họ : “Các ông bởi hạ giới ; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này ; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. 24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” 25 Họ liền hỏi Người : “Ông là ai ?” Đức Giê-su đáp : “Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó. 26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật ; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.” 27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha. 28 Người bảo họ : “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy. 29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.” 30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.