Lễ Kính Đức Mẹ Fatima- Cha Vương

Hôm nay là ngày lễ Kính Đức Mẹ Fatima, xin Mẹ Fatima cầu cùng Chúa  cho những nơi đang bị chiến tranh tàn phá trên thế giới được chấp dứt để cho an bình toả lan khắp nơi trên hoàn cầu Amen 

Cha Vương

Thứ 2: 11/05/2026.  (n13-24)

TIN MỪNG: Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. (Khải Huyền 12:1)

SUY NIỆM: Nói đến Fatima mà thì ai, không ít thì nhiều, cũng nghe đến. Fátima là thành phố ở Bồ Đào Nha, thuộc khu tự quản Ourém, quận Santarém, phân vùng “Medio Tejo”, vùng Trung Bồ Đào Nha. Trước đây Fatima chỉ là 1 thôn nhỏ. Tên thôn phát sinh từ tiếng Ả Rập. Một truyền thuyết kể rằng 1 công chúa người Hồi giáo tên là Fátima (nghĩa là một người tỏa sáng), đã trở lại đạo Công giáo khi kết hôn với bá tước Ourém năm 1158, trong thời kỳ lực lượng Kitô giáo chiếm xứ này. Fátima là nơi hành hương lớn thứ tư của người Công giáo khắp thế giới (sau Đức Mẹ Guadalupe ở México, Thành Vatican và Đức Mẹ Lộ Đức (Pháp). Hàng năm có khoảng trên 4-5 triệu lượt người đã tới thăm Fatima. Bồ Đào Nha cũng là nơi mà thánh Giacôbê Tông đồ đã từng băng ngang để đến truyền giáo tại Tây-ban-nha vào khoảng 2000 năm trước. Tại Fatima, Đức Mẹ đã truyền dạy ba mệnh lệnh: 

1) Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống;

 2) Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ;

 3) Lần hạt Mân Côi mỗi ngày để cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại và cho nền hòa bình trên thế giới.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ xin cho con biết nghe và làm theo những mệnh lệnh Mẹ nhắn nhủ để được hạnh phúc bên con Mẹ luôn mãi.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! “là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mátthêu 7:21

THỰC HÀNH: Hãy làm một việc hy sinh hôm nay. Trước khi làm hãy đọc lời kinh sau đây. Đây là lời mà ba em trẻ đã nhận từ Mẹ vào ngày 13 tháng 6 năm 1917 tại Fatima. “Lạy Chúa Giê-su, con xin làm việc hy sinh này vì lòng mến Chúa, và để đền đáp tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ và để các tội nhân được hoán cải.” (Kinh Hy Sinh)

From: Do Dzung

*********************************

Lạy Mẹ Fatima – Nguyện Xin Mẹ Fatima – Nguyễn Hồng Ân

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Xuyên Sơn

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Cuộc sống không phải là chiến trường, nên không cần phải phân định thắng thua.

Giữa người với người, nếu cảm thông tăng lên thì hiểu lầm sẽ giảm xuống.

Giữa việc với việc, nếu nhường nhịn tăng lên thì đấu tranh sẽ giảm xuống.

Có một số việc cần phải nhẫncó một số người cần phải nhường, không thể tranh giành thấp cao!

Đừng bao giờ dùng ánh mắt và sự hiểu biết của mình đi bình luận chuyện đúng – sai của người khác.

Cũng không nhất thiết phải cầu xin sự tán đồng và thấu hiểu của ai cả, vì mỗi người đều có quan điểm và cá tính riêng.

Chúng ta thường quá xem trọng bản thân mới có chuyện lo buồn về được – mất,

rồi cho rằng người khác không hiểu mình.

Cho nên nói: càng mở lòng ra thì niềm vui càng lớn, bao dung càng rộng sẽ nhận được càng nhiều!

Đừng bàn luận chuyện sau lưng người khác, cũng không cần quá để tâm đến những lời đồn thổi về mình.

Vì một người vô dụng thì không có gì để nói, càng xuất sắc sẽ càng bị để ý và bình phẩm.

Miệng lưỡi người khác chúng ta không thể khống chế được, việc dễ dàng nhất là giữ cho mình một tấm lòng nhẹ nhõm, rồi bước qua những rối rắm cuộc đời…

Nguồn:

Trích sách THẢ TRÔI PHIỀN MUỘN của Ni Sư SUỐI THÔNG

(st)


 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

  Đình Phùng 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

 Từ Joseph Phạm Nguyên

Bạn sẽ làm gì khi đối mặt với 6 tên cướp có vũ khí để bảo vệ những người không cùng máu mủ? Với Anthony Omari, câu trả lời nằm ở vết sẹo dài vĩnh viễn trên khuôn mặt anh.

Đêm kinh hoàng tại trại trẻ Faraja (Kenya)

Khi đang ngủ say, chàng thanh niên 24 tuổi bỗng choàng tỉnh bởi tiếng động lạ. Trước mắt anh là 6 tên trộm hung hãn đã đột nhập vào mái ấm – nơi anh và mẹ đang cưu mang 37 đứa trẻ tội nghiệp.

Không một chút do dự, Omari vồ lấy chiếc búa dưới gầm giường, một mình lao vào chống trả quyết liệt để đuổi lũ thủ ác ra ngoài. Nhưng bi kịch xảy ra khi anh vừa quay lưng để dỗ dành những đứa trẻ đang hoảng loạn:

Một tên cướp lẻn lại, vung dao rựa chém thẳng vào mặt Omari.

Dù máu chảy đầm đìa và đau đớn tột cùng, anh vẫn dùng chút sức tàn cuối cùng để khóa chặt cánh cửa, ngăn không cho lũ cướp quay lại xâm hại bọn trẻ trước khi ngã gục.

Sức mạnh của lòng nhân ái: Khi thế giới cùng lên tiếng

Vết chém khiến Omari phải khâu 11 mũi và để lại vết sẹo rùng rợn. Thế nhưng, câu chuyện của anh đã chạm đến trái tim hàng triệu người khi được chia sẻ trên Reddit:

80.000 USD (gần 2 tỷ VNĐ) được quyên góp chỉ trong vài ngày.

3.600 nhà hảo tâm từ 46 quốc gia đã chung tay hành động.

Kết quả: Một hàng rào kiên cố được dựng lên, các em nhỏ lần đầu được ngủ trên giường ấm nệm êm thay vì sàn nhà lạnh lẽo.

Cái kết đẹp cho một “Thiên thần hộ mệnh”

Nhiều năm trôi qua, “người hùng có vết sẹo” năm nào giờ đã là một Kỹ sư dân dụng thành đạt với công ty xây dựng riêng. Dù bận rộn, anh vẫn luôn quay về thăm “gia đình lớn” tại Faraja – nơi anh đã từng suýt hy sinh mạng sống để bảo vệ.

Bài học rút ra: Lòng can đảm không phải là không biết sợ hãi, mà là khi bạn biết có thứ gì đó quan trọng hơn cả bản thân mình cần được bảo vệ.

Hãy chia sẻ câu chuyện truyền cảm hứng này nếu bạn thấy cảm phục hành động của Anthony Omari!

#AnthonyOmari #Hero #InspiringStory #LòngTốt #CâuChuyệnCảmĐộng #Kenya #FarajaOrphanage


 

CHẾT TRƯỚC TỬ ĐẠO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường!”.

“Khi Đức Kitô gọi một người, Ngài mời người ấy đến để chết!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy người tử đạo không chết khi máu đổ, nhưng từ lúc chấp nhận đứng về phía Chúa Kitô dù phải bị loại trừ. Khởi đầu của một cái chết âm thầm hơn – ‘chết trước tử đạo!’.

Trong Tin Mừng Gioan, bị “khai trừ khỏi hội đường” không chỉ là mất một nơi cầu nguyện, nhưng là bị lấy đi một bầu khí quyển để hít thở và thuộc về – koinōnia. Người môn đệ không chỉ mất một chỗ ngồi trong hội đường, nhưng còn mất cả ‘oxy của sự công nhận’. Chúa Giêsu không báo trước cho họ một cuộc bách hại máu đổ hay ngục tù, nhưng là một cuộc tước bỏ âm thầm và dai dẳng hơn: bị đẩy ra bên lề vì danh Ngài. Chính ở đó, người môn đệ bắt đầu bước vào điều mà Kitô giáo về sau gọi là tử đạo – một chứng tá phải trả giá bằng đời mình. Origen hiểu tử đạo không chỉ hệ tại ở việc đổ máu, nhưng còn ở đời sống không ngừng thuộc trọn về Chúa Kitô.

Thật vậy, thuật ngữ “tử đạo” trong Kitô giáo bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp martyria – “làm chứng”. Ban đầu, nó không mang nghĩa cái chết, nhưng là một chứng tá sống động về Đức Kitô. Chỉ về sau, khi các Kitô hữu sẵn sàng trả giá bằng chính mạng sống mình, “chứng nhân” mới trở thành “người tử đạo”. Vì thế, điều Chúa Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ không đơn thuần là sức chịu đựng trước khổ đau, nhưng là khả năng không chối bỏ sự thật ngay cả khi điều đó khiến họ không còn thuộc về đâu nữa. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với một điều gì đó quá nhỏ bé!” – Thomas Merton.

Có lẽ vì thế, nỗi sợ lớn nhất của con người chưa bao giờ là đau khổ, nhưng là bị loại trừ. Người ta có thể chấp nhận mất nhiều thứ, miễn vẫn còn biết mình thuộc về một ai đó, một cộng đoàn nào đó. Thế nhưng, theo Chúa Giêsu, sẽ có lúc người môn đệ phải chọn giữa việc được thuộc về thế gian và việc thuộc về sự thật. Và đó là nơi cuộc tử đạo âm thầm nhất bắt đầu: không còn sống để được chấp nhận, nhưng để làm chứng. Đó là cuộc hành hình êm ái đối với cái tôi luôn muốn được thế gian công nhận. Đó cũng là lúc con người bắt đầu ‘chết trước tử đạo’. “Chỉ tình yêu mới đáng tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã trải qua sự “bị khai trừ” sâu xa nhất. Trước khi chịu đóng đinh, Ngài đã chấp nhận bị khước từ bởi dân mình, bị bỏ rơi bởi các môn đệ và bị kết án như kẻ lạc đạo. Thập giá là đỉnh cao của sự vô gia cư! Chính trong sự bị loại trừ ấy, Ngài không ngừng làm chứng rằng Ngài ở trong Chúa Cha. Có lẽ đó là điều sâu nhất của tử đạo Kitô giáo: không phải chết vì đau khổ, nhưng vì đã chọn thuộc về Đấng mình yêu hơn tất cả, Đấng đã yêu mình vô cùng. “Thà tôi chết trong Đức Kitô Giêsu còn hơn thống trị tận cùng trái đất!” – Ignatiô Antiôkia.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không sống để được thế gian chấp nhận; không sống để được đám đông tung hô; nhưng sống để thuộc về Ngài và cho Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VI Phục Sinh

Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,26 – 16,4a

15 26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.

16 1 “Thầy đã nói với anh em các điều ấy, để anh em khỏi bị vấp ngã. 2 Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. 3 Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy. 4a Nhưng Thầy đã nói với anh em những điều ấy, để khi đến giờ họ hành động, anh em nhớ lại là Thầy đã nói với anh em rồi.”


 

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức.

My Lan Pham

Vào tháng 7 năm 1942, lực lượng SS đã sẵn sàng “thanh lý” khu ổ chuột Do Thái. Những chiếc xe tải đang chờ để chở đàn ông, phụ nữ và trẻ em đến các trại tử thần. Nhưng họ gặp phải một chướng ngại mà không bao giờ ngờ tới: một luật sư quân đội 51 tuổi tên là Albert Battel.

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức. Ông không phải kẻ nổi loạn hay một thanh niên bốc đồng. Ông là một người đàn ông trung niên từng hành nghề luật sư trước chiến tranh. Nhưng khi nhìn thấy đoàn xe SS lao về phía cây cầu bắc qua sông San , lối duy nhất dẫn vào khu ổ chuột ông quyết định rằng mình đã chứng kiến quá đủ.

Battel ra lệnh hạ thanh chắn cây cầu xuống. Khi viên chỉ huy SS dừng xe lại và yêu cầu được đi qua, Battel không hề nao núng. Ông nói rằng họ không được phép vào.

Viên sĩ quan SS chết lặng. Hắn đe dọa Battel sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng, nhưng Battel vẫn không lùi bước. Thay vào đó, ông đánh một quân bài có thể khiến mình bị xử bắn ngay tại chỗ. Ông quay sang binh lính của mình và đưa ra một mệnh lệnh lạnh người.

“Nếu chúng cố vượt qua cây cầu này, hãy nổ súng,” ông nói với các xạ thủ súng máy.

Đó là khoảnh khắc im lặng hoàn toàn và đầy kinh hoàng. Những người lính Đức giờ đây đang chĩa súng thẳng vào cảnh sát Đức. Viên chỉ huy SS nhận ra Battel hoàn toàn nghiêm túc nên cuối cùng đã chùn bước. Hắn ra lệnh cho đoàn xe quay đầu rời đi.

Nhưng Battel biết thời gian không còn nhiều. SS sẽ quay lại với thêm quân và mệnh lệnh cứng rắn hơn. Ông không lãng phí dù chỉ một giây. Ông đưa xe quân đội của mình chạy thẳng vào khu ổ chuột Do Thái.

Ông không đến đó để bắt người. Ông đến để cứu họ. Ông gõ cửa từng nhà và bảo những gia đình đang hoảng loạn hãy mang theo bất cứ thứ gì có thể. Dựa vào một kẽ hở đầy khôn khéo, ông tuyên bố những người này là “lao động thiết yếu” cho nỗ lực chiến tranh.

“Lên xe ngay! Nhanh lên!” ông thúc giục họ. Ông đã đưa được gần 100 gia đình lên xe. Sau đó ông chở họ ra khỏi khu ổ chuột và giấu họ trong doanh trại quân đội địa phương dưới sự bảo vệ của quân đội.

Tin tức về hành động chống đối này truyền thẳng đến cấp cao nhất. Heinrich Himmler, kẻ đứng đầu SS, vô cùng tức giận. Hắn đích thân xem xét vụ việc và ghi một dòng đen tối vào hồ sơ của Battel. Hắn hứa rằng ngay khi chiến tranh kết thúc, Battel sẽ bị bắt, bị khai trừ khỏi đảng và “xử lý thích đáng”.

Sau đó Battel bị buộc rời quân ngũ vì vấn đề tim mạch. Khi chiến tranh kết thúc, ông sống một cuộc đời lặng lẽ và bị lãng quên ở Tây Đức rồi qua đời năm 1952. Ông chưa bao giờ khoe khoang. Ông không viết sách. Ông chỉ quay lại làm luật sư.

Nhưng những gia đình mà ông cứu sống thì không bao giờ quên. Năm 1981, ông được Yad Vashem truy tặng danh hiệu Yad Vashem “Righteous Among the Nations” “Người công chính giữa các dân tộc”.

Trong một thế giới chìm trong bóng tối hoàn toàn, lương tâm chính là ánh sáng duy nhất còn lại. Chúng ta thường nói “Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh” để biện minh cho sự im lặng của mình, nhưng Albert Battel đã chứng minh rằng ngay cả trong một hệ thống được xây dựng trên nỗi sợ hãi, con người vẫn luôn có quyền lựa chọn.

Làm điều đúng đắn hiếm khi dễ dàng, và thường rất nguy hiểm, nhưng đó cũng là điều duy nhất giữ cho chúng ta còn là con người. 


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “ Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “ trông ngốc ” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “ Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas ; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “ food tem ” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ . 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “ mò kim đáy biển ”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác. 

           Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “ bill ”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “ background ” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “ Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc  để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “ Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo :  “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “ Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có  tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là  Thiên Chúa  sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “ group one ” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway  South  45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “ Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “ Cháu xin gởi bác hai tờ báo này ” 

       –   “ Ði đi , đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?” . Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “ tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa

 Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  


 

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường – Tác giả Phùng Văn Phụng 

Tác giả Phùng Văn Phụng 

 Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la. 

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8. 

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ. 

1)Được làm con Thiên Chúa: 

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa. 

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma. 

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình. 

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Sách Sáng thế ký, câu 27) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4: 6,7) 

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba., Cha ơi”. 

2)Lòng tin của con đã cứu con

a)Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết: 

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” (Mc 5: 25-34) 

b)Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường: 

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha-kum” nghĩa là “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được… người ta kinh ngạc sững sờ. (Mc 5: 35-42) 

c)Chúa chữa người mù: 

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. (Mc 10: 46-52) 

d)Chúa chữa người phong cùi.

 Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” (Luca 7: 12-19) 

3)Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã. 

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền (thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11, 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua sáu luân xa, thuộc nhâm mạch và đốc mạch. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “thiền” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.  

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó, lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn. 

3)Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform) 

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở: “Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.” 

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất… 

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “transform” sự xấu thành sự tốt. “Ơn thánh” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “transform” nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ở cùng”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ. 

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa. 

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời. 

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “có Chúa ở cùng” thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu? 

Phùng Văn Phụng  

(1)  Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

Những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao?

Hôm nay Thứ 7 đầu tháng, kính Đức Mẹ, chúc bạn và gia đình một ngày bình yên trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Đừng quên làm một hy sinh nhỏ như là một đoá hoa thiên dâng lên cho Mẹ trong ngày hôm nay. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thế giới được Bình An nhé

Cha Vương

Thứ 7: 09/05/2026.    (n7-22)

TIN MỪNG: Nào anh em chẳng biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao? Anh em đừng lầm. Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp. (1 Cr 6:9-10)

SUY NIỆM: Nhiều người sau khi đã đi đường nhân đức ít lâu, liền ngừng chân nghỉ bước vui lòng ở lại đường lối mình đã đi; xong ơn thánh sủng không khi nào nói được rằng: “Đủ rồi”. Có người lại nghĩ miễn sao đừng sống đạo ngược thì thôi; như thế chưa đủ! Người tốt hằng ngày phải gắng sức tiến tới trên đường lành. Đến ngày thế mạt nhiều giáo dân sẽ phải bỡ ngỡ thấy mình mắc nợ Chúa vì đã không dùng những phương thế tốt để nên thánh. Trên đường nhân đức ai không tiến tới, tức là lùi lại; ai không lợi dụng các dịp mình đã được, tức là hỏng mất. Ai tận tâm làm tôi Chúa, Người sẽ ban xuống cho muôn ơn lành. Và dầu con cư xử hẹp hòi với Chúa, người cũng sẽ ở nhân từ quảng đại với con. 

(x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:4:3) 

LẮNG NGHE: Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí. (2 Cr 3:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, đôi khi con cố gắng một hồi rồi đuối sức, vì con rất giới hạn, tầm thường và yếu đuối, hơn nữa con còn bị chi phối bởi hoàn cảnh và môi trường sống nữa, bị chi phối bởi sức mạnh của ma quỉ nữa. Chúa dạy con: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu cùng Chúa cho con để con mỗi ngày một tiến trên đàng nhân đức và đừng để con dừng chân lùi bước làm mất lòng Chúa hôm nay.

THỰC HÀNH: Bạn sẵn sàng chưa? Cố gắng hết sức từ bỏ một tật xấu để trở nên hoàn thiện hơn.

From: Do Dzung

******************************************

Hiền Thục – Mẹ Hằng Cứu Giúp

SỰ VẮNG MẶT BIẾT THỞ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”.

“Cô độc không đến từ việc không có ai ở quanh mình, nhưng từ việc không thể chia sẻ những điều mình cho là quan trọng và sâu xa!” – Carl Jung.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói rằng các môn đệ sẽ không mồ côi, chẳng phải vì Chúa Giêsu vẫn ở quanh họ, nhưng vì Ngài ở trong họ bằng hơi thở của Thánh Thần. Khởi đầu của một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thần học Gioan xem Thánh Thần không như “người thay thế”, nhưng là cách Chúa Giêsu tiếp tục ở lại sau Phục Sinh. Vì thế, sự ra đi của Ngài không tạo nên khoảng trống; nhưng mở ra một cách thức ở lại. Chính Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu không còn chỉ ở trước mặt họ, nhưng trong họ. “Thầy về cùng Cha” không phải là rút lui khỏi thế gian, nhưng là sự chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại và sâu hơn. Càng không thể bị chạm tới, Ngài càng đi vào chiều sâu con người! “Ngài ở trong con còn sâu hơn phần sâu thẳm nhất của con, và cao hơn phần cao nhất nơi con!” – Augustinô.

Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là “Thần Khí sự thật” – Pneuma tēs alētheias. “Sự thật” không chỉ là điều đúng, nhưng là điều làm lộ con người thật. Vì thế, công việc của Thánh Thần không phải là thêm kiến thức, nhưng là kéo con người ra khỏi những phiên bản giả của chính mình. Có lẽ vì vậy mà thế gian không thể đón nhận Thánh Thần; bởi thế gian chỉ quen tin vào những gì có thể nắm giữ, đang khi Thánh Thần không như một vật thể. Còn người môn đệ, họ không sống như kẻ nhớ Chúa, nhưng như kẻ đang được Chúa cư ngụ. Ngài vắng mặt, một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thánh Thần cũng không làm người môn đệ khép kín trong những cảm xúc thiêng liêng, nhưng mở họ ra cho thế giới. Nhờ “thở hơi Thánh Thần”, đức tin không còn là một ký ức về vị Thầy đã vắng bóng, nhưng trở thành một sự sống lan rộng và làm rung động lòng người. Tại Samaria, các tông đồ đặt tay để tín hữu lãnh nhận Thánh Thần – bài đọc một; Phêrô mời gọi các Kitô hữu “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho ai chất vấn về niềm hy vọng” của mình – bài đọc hai. Từ đó, dân ngoại mừng, tín hữu vui – “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” như Thánh Vịnh đáp ca cất lên.

Anh Chị em,

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”. Điều đáng sợ không phải Thiên Chúa vô hình, nhưng là một thế giới không còn ai hiện diện với ai. Đức Giêsu Kitô không hề mồ côi, Ngài hằng ở với Cha, cùng Cha và trong Cha; ngay cả trên thập giá khi mọi tương quan tưởng như tan vỡ. Từ sự hiệp thông ấy, Ngài không để người môn đệ sống như kẻ bị bỏ rơi. Theo Yves Congar, Thánh Thần không bao giờ tách khỏi Đức Kitô; chính Ngài làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội và nơi người tín hữu. Chúa Thánh Thần là cách Ngài ở lại! Nhờ đó, nỗi cô độc sâu nhất nơi lòng người được chữa lành nhờ thở hơi Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống giữa một thế giới đầy kết nối nhưng thiếu hiện diện; xin cho con biết ở lại trong Ngài và hiện diện cho tha nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT, TUẦN VI PHỤC SINH, NĂM A

Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 14,15-21

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”