NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…

8 SÀI GÒN

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?”

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây “tội ác” nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá”.

Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:

Doãn quốc Sỹ:

Sau 30/4/75, Thầy – tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn – ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào “biệt kích văn hoá” của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung – Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm “Đi” dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa”.

Duyên Anh:

Sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 6 năm từ 76 đến 81. Ông bị giam tại trại giam Đầm Đùn , mà sau này ông mô tả trong cuốn “Trại Đầm Đùn” đầy sự kinh khủng của cái đói, cái rét và sự khắc nghiệt. Năm 1983, ông vượt biên sang Pháp. Năm 1988, ông bị hành hung bởi những người Việt cực đoan tại Mỹ vì những quan điểm chính trị trong quá khứ và hiện tại. Cuộc hành hung gây cho ông thương tích khá nặng, nên sau đó ông bị tai biến và mất khả năng nói và qua đời tại Pháp trong sự lặng lẽ.

Mai Thảo:

Chỉ có cây đại thụ này né được nhà tù cải tạo nhờ trốn tránh ẩn dật với nhiều tên giả ở Việt Nam sau 75. Đến năm 1977, ông đã trốn thoát khỏi VN bằng đường biển. Sang Mỹ, ông sống cô độc và làm bạn với rượu và cây viết. Ông định cư tại Cali và tiếp tục mở lại tạp chí Văn để gom góp những mảnh vỡ của văn học miền Nam. Khi mất, ông để lại tập thơ “Ta thấy hình ta là những miếu đền” – như một tiếng thở dài về sự tàn phai và thân phận lưu vong.

Tô Thùy Yên:

Ông được coi là nhà thơ lớn nhất với tư duy triết học sâu sắc của miền Nam, nên ông là nhà thơ bị đi cải tạo lâu nhất, tổng cộng 13 năm.  Năm 88, ông ra tù, ông viết ” Bài thơ Ta về”_ một kiệt tác thời hậu chiến. Bài thơ không  có sự hận thù, chỉ có bao dung và nỗi buồn trước vận nước và lòng người. Năm 1993, ông sang Mỹ và sống lặng lẽ trong tâm thế một người đã đi đến tận cùng khổ đau.

Thanh Tâm Tuyền:

Vừa là sĩ quan tâm lý chiến cấp Đại úy, vừa được coi là nhà thơ khai phóng thể thơ tự do, vừa là nhà viết tiểu thuyết hiện sinh, nên ông bị bắt đi cải tạo ngay sau 30/4 suốt 7 năm từ 75 đến 82. Trong tù, ngoài nỗi đau thế xác, ông còn chịu một nỗi đau thầm kín là một người con ông bị mất tích trên đường đi tìm tự do. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện H.O. Ông qua đời năm 2006 vì ung thư phổi.

Phan Nhật Nam:

là sĩ quan binh chủng Dù và là nhà văn quân đội với những bút ký chiến sự rực lửa, ông bị đi học tập cải tạo ngay sau 30/4. Ông chịu cảnh tù đày suốt 14 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt từ nam ra bắc, trong đó có 8 năm biệt giam. Năm 1993, ông sang Mỹ định cư theo diện H.O.

Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca:

Sau 30/4, cả hai vợ chồng đều bị bắt và liệt vào “biệt kích văn hoá”. Nhã Ca bị giam khoảng 2 năm và được thả về chăm sóc cho 6 đứa con nhỏ. Còn Trần Dạ Từ phải chịu tù đày 12 năm từ 75 đến 88 tại nhiều trại giam. Nhờ sự vận động của các tổ chức quốc tế và sự can thiệp của chính phủ Thụy Điển, gia đình vợ chồng được bảo lãnh sang Thụy Điển vào tháng 9/1988.

Nhưng cũng có nhiều người không thể vượt qua sự khắc nghiệt của trại cải tạo và đã chết.

Nguyễn Mạnh Côn:

Ông bị bắt năm 1976 và đưa đi cải tạo ở trại giam Xuyên mộc. Để phản đối chính sách của trại giam, ông đã tuyệt thực, và rồi kiệt sức và qua đời ngày 1/6/1979. Khí tiết của ông được các bạn tù nhắc lại như một huyền thoại về phẩm giá.

Hồ Hữu Tường:

Một  nhà trí thức, một nhà văn lớn cũng qua đời năm 1980 trong thời gian giam giữ tại các trại cải tạo.

Vũ Hoàng Chương:

Bị bắt vào trại cải tạo sau 30/4 nhưng được  thả về năm 76 vì bệnh tật, nhưng vì quá suy sụp sau thời gian bị giam cầm khiến ông qua đời chỉ 5 ngày sau khi về nhà.

Hoạ sĩ Choé:

Tên thật là Nguyễn Hải Chí, là một tài năng bẩm sinh, nổi danh với những bức hí hoạ chính trị sắc sảo. Sau vài tháng làm báo với chế độ mới, ông bị bắt đi cải tạo từ 76 đến 85. Sau khi ra tù, ông tìm cách vượt biên nhưng không thành nên bị tù thêm một thời gian nữa. Năm 1997, ông bị đột quỵ và hai mắt vị loà nên ông chuyển qua làm thơ. Cuối năm 2002, ông được đưa sang Mỹ chữa trị nhưng không khỏi mù. Ông mất năm 2003 tại Virginia.

Số phận các nhà văn nữ ít nghiệt ngã hơn.

Nguyễn Thị Hoàng:

Sau 75 , bà cùng gia đình đi kinh tế mới ở Suối Dầu – Khánh Hòa khoảng 3 năm, làm đủ thứ nghề từ rẫy ruộng cho đến buôn bán nhỏ để nuôi con.

Túy Hồng:

Sau 75 định cư ở Mỹ. Bà tiếp tục viết văn và cộng tác với các tạp chí cho đến khi qua đời vào ngày 19/7/2020 tại Oregon, Hoa kỳ.

Lệ Hằng:

Bà rời VN sang Úc định cư 1989. Bà tiếp tục viết và cộng tác với các tạp chí văn học Việt.

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ:

Riêng bà, là khổ. Sau 75 bà ở lại VN và trải qua những giai đoạn khó khăn, phải sống lê lết vì nuôi đứa con gái út bị bệnh. Hiện tại, bà sống ở Lộc ninh – Bình Phước với cuộc sống cũng tạm ổn nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các tổ chức văn bút.

Còn một số người ở lại VN như Sơn Nam, Võ Hồng, Quách Tấn, Vũ Hạnh. Có người hội nhập hợp tác với chế độ mới, có người lặng lẽ “gác bút”.

Câu chuyện về số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975 không chỉ là một câu chuyện văn chương, mà còn là những mảnh ghép từ nhiều phận đời với đầy đủ bi thương của một giai đoạn lịch sử vào thế kỷ 20, khi cây bút bị coi là “tội ác”.

DYNH ANH


 

KHÔNG AI SỐNG DỄ HƠN AI – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

Có một điều mà con người rất hay lầm tưởng: nhìn vào cuộc đời của người khác và nghĩ rằng họ đang sống dễ dàng hơn mình. Ta thấy một nụ cười và cho đó là hạnh phúc trọn vẹn. Ta thấy một thành công và cho rằng con đường của họ trải đầy hoa. Ta thấy một mái ấm và tưởng rằng bên trong đó chỉ có yêu thương không vết xước. Nhưng sự thật là, làm gì có cuộc sống của ai dễ dàng hơn ai. Mỗi con người là một câu chuyện dài, và phần mà người khác nhìn thấy chỉ là một đoạn rất ngắn, rất sáng, rất được “chọn lọc” trong vô vàn những góc tối mà họ đã đi qua.

Có người bước đi nhẹ nhàng, không phải vì con đường bằng phẳng, mà vì họ đã quen với việc gồng mình qua những đoạn gập ghềnh. Có người mỉm cười rất tươi, không phải vì họ chưa từng khóc, mà vì họ đã khóc quá nhiều đến mức không muốn ai nhìn thấy nước mắt nữa. Có người thành công sớm, không phải vì họ gặp may mắn hơn, mà vì họ đã đánh đổi những năm tháng mà người khác đang vui chơi, nghỉ ngơi, để âm thầm nỗ lực. Cũng có người đi chậm, không phải vì họ kém cỏi, mà vì họ đang mang theo những gánh nặng mà người khác không hề biết.

Chúng ta thường so sánh cuộc đời mình với người khác bằng những gì hiện ra trước mắt, mà quên rằng mỗi người đều đang chiến đấu trong một trận chiến rất riêng. Có những trận chiến không có tiếng súng, không có khói lửa, nhưng lại dai dẳng và mệt mỏi đến tận cùng. Đó là cuộc chiến với nỗi sợ hãi, với những tổn thương trong quá khứ, với áp lực của hiện tại, và với những bất an về tương lai. Có người chiến đấu với bệnh tật, có người chiến đấu với cô đơn, có người chiến đấu với sự thiếu thốn, có người lại chiến đấu với chính sự trống rỗng trong lòng mình. Không ai thật sự rảnh rỗi hay nhẹ nhõm như vẻ ngoài họ thể hiện.

Đôi khi ta ghen tị với một ai đó vì họ có những thứ mà ta không có. Nhưng ta không biết rằng, để có được điều đó, họ đã phải mất đi những gì. Có những cái giá không thể đo đếm bằng tiền bạc hay danh vọng. Có những đêm mất ngủ, những lần thất bại, những lần bị từ chối, những khoảnh khắc tưởng chừng như không thể đứng dậy nổi nữa. Nhưng rồi họ vẫn đứng dậy, không phải vì họ mạnh mẽ hơn, mà vì họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tiếp tục.

Cuộc sống không phải là một cuộc thi xem ai dễ dàng hơn, mà là một hành trình riêng của mỗi người. Mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một hoàn cảnh khác nhau, một gánh nặng khác nhau, và cả một ơn gọi khác nhau. Có người được trao nhiều, có người được trao ít, nhưng điều đó không làm cho cuộc đời của ai nhẹ hơn hay nặng hơn một cách tuyệt đối. Bởi vì khi được trao nhiều, người ta cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Khi có nhiều thứ để giữ, người ta cũng có nhiều thứ để lo sợ mất đi.

Thế nên, điều quan trọng không phải là so sánh, mà là hiểu và cảm thông. Khi ta hiểu rằng không ai sống dễ dàng hơn ai, ta sẽ bớt đi sự phán xét. Ta sẽ không còn vội vàng kết luận về một con người chỉ qua vài hình ảnh bề ngoài. Ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với người khác, vì ta biết rằng họ cũng đang mệt mỏi theo cách của họ. Và quan trọng hơn, ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với chính mình.

Có những ngày ta thấy mình yếu đuối, thấy mình chậm chạp, thấy mình thua kém. Nhưng nếu nhìn lại thật sâu, ta sẽ nhận ra rằng mình cũng đã đi qua rất nhiều điều không hề dễ dàng. Những gì ta đang có hôm nay, dù nhỏ bé, cũng là kết quả của rất nhiều cố gắng âm thầm. Ta không cần phải trở thành ai khác. Ta không cần phải sống nhanh hơn hay giỏi hơn người khác. Ta chỉ cần sống thật với hành trình của mình, kiên nhẫn với chính mình, và bước đi từng bước, dù chậm, nhưng vững.

Cuộc đời không hứa hẹn sự dễ dàng cho bất cứ ai. Nhưng cuộc đời luôn cho mỗi người đủ sức để đi qua phần của mình, theo cách của mình. Và có lẽ, điều đẹp nhất không phải là một cuộc sống không có khó khăn, mà là một con người biết đứng lên sau khó khăn, biết yêu thương giữa những tổn thương, và biết bình an ngay cả khi cuộc đời không như ý.

Vì vậy, thay vì hỏi “tại sao cuộc sống của người khác dễ hơn mình”, có lẽ ta nên tự hỏi: “mình đã đi được bao xa trên con đường của mình rồi?”. Khi ta thay đổi cách nhìn, ta sẽ nhận ra rằng, không ai thật sự hơn ai trong sự dễ dàng. Tất cả chúng ta, theo những cách rất khác nhau, đều đang cố gắng sống, cố gắng yêu, và cố gắng giữ cho mình không gục ngã giữa cuộc đời này.

Và như thế, cuộc sống – dù không dễ dàng – lại trở nên có ý nghĩa hơn rất nhiều, bởi vì mỗi bước đi đều là một chiến thắng thầm lặng, mỗi ngày trôi qua đều là một minh chứng rằng ta vẫn đang mạnh mẽ hơn những gì ta từng nghĩ.

Lm. Anmai, CSsR


Một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm

My Lan Pham

 Năm 1991, hai người leo núi tình cờ phát hiện một thi thể bị đóng băng trong dãy Alps. Ban đầu, họ nghĩ đó là một người hiện đại gặp nạn gần đây. Nhưng sự thật lại khiến cả giới khoa học kinh ngạc.

Đó là Ötzi, một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm.

Thi thể của ông được bảo quản gần như nguyên vẹn trong băng. Da, tóc, thậm chí cả dạ dày vẫn còn đủ để các nhà khoa học phân tích. Và từ đó, họ dần ghép lại câu chuyện về những giờ phút cuối cùng của ông.

Ông không phải là một con người “nguyên thủy” đơn giản như chúng ta thường tưởng. Trên người ông có hơn 60 hình xăm, nhiều trong số đó nằm ở những vị trí giống với điểm châm cứu, có thể liên quan đến việc chữa đau. Ông mang theo một chiếc rìu bằng đồng, một vật cực kỳ quý hiếm vào thời đó, cùng với dao đá, cung tên và các dụng cụ sinh tồn. Quần áo của ông được làm nhiều lớp, giày được thiết kế để giữ ấm ,tất cả cho thấy một mức độ hiểu biết và thích nghi đáng kinh ngạc.

Phân tích sâu hơn cho thấy một điều bất ngờ: ông không chết vì tai nạn.

Một mũi tên đã bắn trúng vai ông từ phía sau. Ông bị tấn công, và nhiều khả năng đã chết trong lúc cố gắng trốn thoát. Bữa ăn cuối cùng của ông vẫn còn trong dạ dày, cho thấy mọi thứ xảy ra rất nhanh, không có thời gian chuẩn bị.

Điều khiến câu chuyện này đặc biệt không chỉ là cái chết, mà là cách nó thay đổi góc nhìn của chúng ta về quá khứ.

Hơn 5.000 năm trước, con người đã có quần áo chuyên dụng, công cụ tinh vi, hiểu biết về cơ thể và có thể cả y học cơ bản. Họ không “đơn giản” như chúng ta vẫn nghĩ. Họ cũng sống, đấu tranh, bị truy đuổi và chết đi, giống như chúng ta hôm nay.

Ötzi không chỉ là một xác ướp trong băng.

Ông là một khoảnh khắc của lịch sử được đóng băng lại, nhắc chúng ta rằng con người, dù ở thời đại nào, vẫn luôn phức tạp, mong manh và đầy câu chuyện chưa kể.

My Lan Phạm

   Ảnh “xác ướp” là ảnh thật (chụp thi thể trong phòng thí nghiệm).

* Ảnh “khuôn mặt” :là tái dựng khoa học (dựa trên hộp sọ + dữ liệu DNA), không phải ảnh chụp khi còn sống.

* Các hình về quần áo, công cụ là hiện vật thật được tìm thấy cùng ông.


 

TIẾNG QUEN – LÒNG LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng không nhận biết tiếng người lạ!”.

Một người Mỹ du lịch Syria, thấy ba người chăn chiên cùng dẫn đàn vật trên một con đường. Người thứ nhất gọi, “Men ah! Men ah!”. Chiên tách đàn, theo anh. Người thứ hai cũng gọi; chiên theo. Người Mỹ xin mũ, cầm gậy, rồi gọi, “Men ah! Men ah!”. Không con nào ngẩng lên. “Chiên không nghe ai khác sao?” – “Có chứ! Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”. Lời Chúa hôm nay không hỏi chúng ta nghe gì, nhưng hỏi: Con khoẻ không? Vì có những lúc, chính nơi thân thuộc nhất, lại xảy ra ‘tiếng quen – lòng lạ’.

Không phải mọi âm thanh đều là tiếng gọi; và không phải cứ nghe là nhận ra. Với Gioan, “nghe” không dừng ở giác quan, nhưng là tương quan: chiên nhận ra tiếng chủ vì nó thuộc về. Chủ chiên quen nói với chiên, nó ngẩng lên và đi theo; với người lạ thì không. Vì thế, vấn đề không phải có bao nhiêu tiếng vang chung quanh, nhưng ở chỗ bạn và tôi quen với tiếng nào; bởi chỉ nơi sự thân quen được nuôi dưỡng, việc nhận ra mới trở thành gần như một phản xạ.

Gioan không dừng lại ở việc nghe như một phản xạ tự nhiên. Động từ ông dùng vượt quá akouo – nghe như âm thanh chạm vào tai; nó hướng tới ginosko – nhận biết phát sinh từ gắn bó. Vì thế, nhận ra không là kết quả của phân tích, nhưng là hoa trái của một đời sống đã quen với tiếng ấy. Chiên không so sánh các giọng; nó chỉ quay về với tiếng mình đã sống cùng. Gioan không xây thần học trên “nghe”, nhưng trên sự tương thuộc. Một khi sự thuộc về này phai đi, tiếng vẫn còn mà lòng đã vắng; ‘tiếng quen – lòng lạ’. “Không gì làm lòng người trở nên chai cứng cho bằng sự quen thuộc với những điều thánh” – J.C. Ryle.

Người ta sẽ đi theo tiếng mình quen. Chỉ cần đủ Lời Chúa để thấm giọng của Ngài; đủ lặng để lòng không bị lấn át. Từ đó, một thói quen cầu nguyện hình thành, đủ bền để nhận ra, đủ tỉnh để bước theo giữa bao bận rộn. “Ngài ở trong con, mà con lại ở ngoài Ngài!” – Augustinô. Phêrô từng chất vấn, “Những gì ô uế… không bao giờ lọt vào miệng con”; nhưng trong cầu nguyện và phân định, ông nhận ra tiếng Chúa. Cộng đoàn không còn tranh luận, nhưng lắng đọng; và khi lắng xuống, họ nhận ra Chúa cũng mở lối sự sống cho dân ngoại – bài đọc một.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ nghe, nhưng luôn ở trong tiếng của Cha; những gì Ngài nói và làm đều phát xuất từ Cha. Ngài không bị lôi kéo vì không thuộc về những tiếng khác; và chính trong sự hiệp thông ấy, Ngài trở thành tiếng mà chiên nhận ra. Còn chúng ta, không phải lúc nào cũng nhạy để nghe; nhiều khi vẫn đọc, vẫn cầu nguyện, nhưng lòng đã ở nơi khác: những tiếng lạ vốn luôn ngọt ngào. Tiếng vẫn quen, mà lòng không còn chạm. Không phải Chúa ngừng nói, nhưng chúng ta thôi ở lại; và khi không còn ở lại, sẽ là ‘tiếng quen – lòng lạ’. “Chúa nói với chúng ta bằng nhiều cách, nhưng chúng ta cần học biết lắng nghe!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dường như con không khoẻ, có lẽ đã ‘bệnh’. Xin chữa lành con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần IV Phục Sinh

Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 10,11-18

11 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. 14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, 15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

16 “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. 17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. 18 Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” 


 

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

NHỮNG BÀI POST HAY.

Có những chuyện tình ngỡ chỉ tồn tại trên những thước phim điện ảnh kinh điển, nhưng lại bước ra đời thực với đầy đủ những dư vị từ ngọt ngào nhất đến đắng chát nhất. Đó là câu chuyện của bà Marie-Thérèse Abbey, một người phụ nữ Pháp đã dành cả đời để tìm lại mối tình đầu, để rồi nhận lấy một cái kết không ai có thể ngờ tới ở tuổi 86.

> Từ ly Ricard tại căn cứ NATO đến cuộc chia ly nửa thế kỷ

Câu chuyện bắt đầu vào cuối thập niên 1950, tại căn cứ quân sự NATO ở Fontainebleau, Pháp. Khi đó, Marie-Thérèse là một nữ thư ký song ngữ trẻ trung, thanh lịch. Cô gặp James Abbey, một sĩ quan quân đội Mỹ hào hoa đang đóng quân tại đây.

Giữa những căng thẳng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tình yêu của họ nảy nở một cách giản dị: Ông mời bà uống Coca-Cola – biểu tượng của văn hóa Mỹ; bà mời ông nhấp ly rượu Ricard nồng đượm đặc trưng của nước Pháp. Thế nhưng, lịch sử đã rẽ hướng. Năm 1966, Pháp rút khỏi bộ chỉ huy NATO, các căn cứ đóng cửa. James phải theo đơn vị về nước, Marie-Thérèse ở lại. Những lá thư thưa dần rồi mất liên lạc, mỗi người tự xây dựng tổ ấm riêng ở hai bờ đại dương.

> Cuộc tái ngộ định mệnh sau 60 năm

Tưởng chừng thời gian đã vùi lấp tất cả, nhưng sau khi cả hai đều đã góa bụa ở tuổi xế chiều, định mệnh đã đưa họ tìm thấy nhau qua mạng xã hội vào năm 2022. Ở tuổi ngoài 80, ngọn lửa tình yêu cũ bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Chẳng nề hà khoảng cách, bà Marie-Thérèse quyết định rời bỏ quê hương để sang Alabama (Mỹ) đoàn tụ với James.

Cuối năm 2023, họ chính thức trở thành vợ chồng. Những tưởng đó là cái kết viên mãn cho “mối tình xuyên thế kỷ”, nơi họ sẽ cùng nhau đi nốt đoạn đường đời còn lại. Nhưng định mệnh một lần nữa trêu ngươi: Chỉ vài tháng sau đám cưới, ông James đột ngột qua đời vào tháng 5/2024.

Bi kịch từ lòng người và vòng xoáy pháp lý

Cái chết của người chồng cũng là lúc bà Marie-Thérèse rơi vào một “trận chiến” tàn khốc mà bà không hề chuẩn bị trước. Theo luật bang Alabama, bà có quyền hưởng một phần gia tài, bao gồm căn nhà trị giá khoảng $175.000. Thế nhưng, các con riêng của ông James đã ngay lập tức ra tay để gạt người mẹ kế ra khỏi di sản của cha mình.

Chỉ hai ngày sau tang lễ, họ cắt điện, nước, và thay đổi địa chỉ nhận thư chính thức để bà không thể nhận được các giấy tờ từ sở Di trú. Do nhập cảnh bằng visa du lịch (ESTA) và đã quá hạn 7 tháng trong khi thủ tục xin thẻ xanh chưa hoàn tất, bà Marie-Thérèse trở thành người cư trú bất hợp pháp.

Đỉnh điểm của sự tàn nhẫn diễn ra khi một người con của ông James, vốn là cựu cảnh sát, đã báo tin cho Cơ quan Di trú và Hải quan (ICE).

> Còng tay, xích chân và lệnh trục xuất

Hình ảnh một cụ bà 86 tuổi, đang mặc áo ngủ, bị nhân viên công vụ còng tay và xích chân dẫn đi đã làm rúng động truyền thông nước Pháp. Bà không được phép mang theo thuốc trị bệnh, bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt suốt 2 tuần tại các trại tạm giam ở Alabama và Louisiana.

Bà chia sẻ trong nước mắt trên đài TF1 rằng bà bị đối xử như một tội phạm nguy hiểm. Phải đến khi Lãnh sự quán Pháp can thiệp quyết liệt, bà mới được trả tự do để… bị trục xuất về Pháp với lệnh cấm nhập cảnh vào Mỹ trong nhiều năm.

> Lời kết

Bà Marie-Thérèse hiện đã trở về Pháp, sống tại một viện dưỡng lão. Dù trắng tay về tài sản và mang theo nỗi đau bị đối xử tàn tệ tại nơi bà từng gọi là “quê hương thứ hai”, bà vẫn khẳng định mình không hối hận.

Câu chuyện của bà không chỉ là một bi kịch về di trú hay tranh chấp tài sản, mà còn là một nốt lặng buồn về lòng người. Ở tuổi 86, thay vì một cuộc sống bình yên, bà đã trải qua những cung bậc kinh khủng nhất: từ đỉnh cao hạnh phúc của ngày cưới đến sự lạnh lẽo của xiềng xích ICE. Nhưng sau tất cả, ít nhất bà đã được sống trọn vẹn những tháng ngày cuối cùng bên người mình yêu – một trải nghiệm mà có lẽ, không một quy định pháp lý hay sự nghiệt ngã nào có thể tước đoạt được trong ký ức của bà.

#anhpt_didyouknow

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

St


 

TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM THỪA NHẬN SỰ THAM CHIẾN CỦA 310 NGHÌN BINH SĨ TRUNG CỘNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM?

Đặng Đình Mạnh

Bài viết đăng tải trên Người Việt

Sau 50 năm, kể từ khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn tại miền Nam kéo dài gần hai thập kỷ kết thúc cho đến nay, truyền thông của nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đã công khai cho biết có đến 310 nghìn quân Trung Cộng đã từng được Hà Nội đưa vào lãnh thổ Việt Nam để tham chiến tại miền Nam.

Tuy thông tin này không mới, vì một vài chính khách, hoặc học giả phương tây đã từng đưa tin này từ khá lâu, nhưng khi ấy, do thông tin được đưa từ một phía, nên vẫn còn gây nhiều nghi hoặc cho công chúng. Thế nhưng, khi lần này thông tin được thừa nhận chính thức từ truyền thông trong nước thì đây là lần đầu tiên.

Chúng đã giúp tái khẳng định một điều mà công chúng vốn đã nghi ngờ từ lâu về sự tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng, bên cạnh những sự trợ giúp về khí tài, phương tiện, tài chính, kỹ thuật và cố vấn quân sự từ một số quốc gia Cộng Sản như Liên Xô (cũ), Bắc Hàn, Trung Cộng…

Nghi vấn được đặt ra rằng tại sao sự việc đã được nhà cầm quyền Cộng Sản giấu diếm ngần ấy năm (hơn 50 năm), thì bây giờ lại sẵn sàng tự nhiên bạch hóa thông tin về chúng? Mặc cho việc bạch hóa thông tin này đã có thể bóc mẽ sự giả dối của chế độ về động cơ thúc đẩy cuộc cưỡng chiếm miền Nam dưới danh nghĩa “Đánh đuổi quân Mỹ xâm lược”.

Vì lẽ, với sự hiện diện, tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam thì về bản chất pháp lý, chúng không có gì khác biệt đối với sự hiện diện, tham chiến của binh sĩ Hoa Kỳ cả. Cho nên, nếu nói quân Mỹ xâm lược thì cùng lúc đó, nói quân Trung Cộng xâm lược cũng chẳng có gì là sai.

Theo đó, khi thừa nhận công khai việc đưa hơn 310 nghìn binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến vào các năm 1965-1968, trong đó, trả giá bằng số thương vong lên đến gần 2.500 người. Xem ra, chế độ Hà Nội đang kể lể cho công chúng nghe về công trạng to lớn của Trung Cộng góp phần trong chiến thắng ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế, giúp chế độ Cộng Sản nắm giữ độc quyền quyền lực chính trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong suốt 50 năm qua.

Qua đó, đã gởi những tín hiệu rất đáng lo ngại cho đất nước trong những ngày sắp đến.

Một mặt, để chế độ Hà Nội thuyết phục người dân về tính chính đáng khi mời binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ để tham gia diễn binh trong ngày kỷ niệm “chiến thắng” của chế độ.

Mặt khác, chuẩn bị tâm lý cho người dân để chấp nhận sự hà hiếp, lấn lướt của Trung Cộng trong mọi vấn đề, bao gồm cả vấn đề lãnh thổ, hải đảo trong tương lai như một cách để trả ơn.

Chưa kể đến việc tạo sự quen mắt cho công chúng khi trong tương lai, quân đội Trung Cộng có thể sẽ đổ bộ vào Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ cho chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “anh em” khi bị đe dọa về khả năng mất chính quyền.

Như để “thẩm định” điều này, ngày 24 Tháng Tư 2025, trong khi Trung Cộng gởi gần 120 binh sĩ qua Việt Nam để tập dượt, chuẩn bị cho buổi diễn binh tại Sài Gòn, thì mặt khác, truyền thông chính thức của Trung Cộng là Tân Hoa Xã cũng đã công khai thông tin về việc binh sĩ Trung Cộng đổ bộ lên bãi đá Hoài Ân, thuộc cụm đảo Thị Tứ, Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền.

Kèm theo tin, báo Trung Cộng đăng ảnh 4 binh sĩ thuộc lực lượng hải cảnh Trung Cộng đang căng quốc kỳ trên bãi đá sau khi đã đổ bộ lên đây. Điều đáng nói, vẫn theo thông tin từ Tân Hoa Xã, việc đổ bộ trùng vào ngay thời điểm người đứng đầu Trung Cộng là Chủ Tịch nước Tập Cận Bình đang có chuyến thăm và làm việc chính thức tại Hà Nội.

Liệu chừng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục lên tiếng phê phán hành động xâm nhập hải đảo, tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Cộng để bảo lưu chủ quyền của đất nước theo công pháp quốc tế, hay sẽ phải giữ im lặng để… trả ơn cho món nợ chiến tranh?

Mặt khác, việc nhà cầm quyền Cộng Sản công khai thừa nhận những công ơn to lớn của Trung Cộng, đã hỗ trợ cho Hà Nội giành chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam, vô hình trung, làm lộ mặt trái trong mối quan hệ hai nước trong những năm cuối thập kỷ bảy mươi. Khi ấy, trong sự mâu thuẫn tột độ giữa hai quốc gia Cộng Sản là Liên Xô và Trung Cộng, thì Hà Nội đã công khai chọn phe đứng về phía Liên Xô.

Rõ ràng, sau khi đã đạt được mục đích của mình là cưỡng chiếm miền Nam, nắm giữ được quyền lực độc quyền trên toàn lãnh thổ, thì việc chế độ Hà Nội chọn theo phe Liên Xô để chống lại Trung Cộng. Đồng thời, đàn áp, xua đuổi Hoa Kiều về nước là thái độ “Ăn cháo, đá bát”, “Qua cầu rút ván” khiến Trung Cộng phải động binh, đưa quân đội tràn vào 6 tỉnh biên giới để “Dạy cho Việt Nam bài học” là có nguyên nhân chính đáng, không oan uổng gì cả.

Cái oan uổng là dân chúng của 6 tỉnh biên giới không có tội tình gì mà phải chết tức tưởi, tan cửa, nát nhà vì sự bất trung, bất tín của những kẻ lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đối với đàn anh Trung Cộng.

Ngày nay, chế độ Hà Nội muốn dựa vào Trung Cộng để duy trì lâu hơn sự độc tài của mình trên đất nước, cho nên, phải ra mặt công khai kể lể ơn nghĩa ngày trước. Qua đó, ép buộc người dân phải chịu đựng những sự ức hiếp sắp tới sẽ càng ngày càng gia tăng của Trung Cộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội, chứ không chỉ trong phạm vi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo.

Thế nên, xét ra, công trạng của Trung Cộng chỉ mang lại lợi ích cho chế độ Cộng Sản Hà Nội, giúp Cộng Sản giành được chính quyền trên toàn lãnh thổ, giúp Cộng Sản duy trì sự độc tài để thu vén lợi ích cho đảng, cho cá nhân và đàn áp nhân dân.

Nhưng đối với nhân dân Việt Nam, công trạng của Trung Cộng không mạng lại lợi ích gì cho nhân dân cả, mà trái lại, còn là tai họa cho nhân dân. Theo đó, nhân dân Việt Nam không mang ơn gì của Trung Cộng cả.

Viết từ Hoa Thịnh Đốn, tháng 04/2025

* Ảnh binh sĩ Trung Cộng tham gia diễu binh tại Sài Gòn

Screenshot

 

Thủ phạm xả súng tại Nhà Trắng được xác định là kỹ sư hàng đầu liên quan đến NASA – Cole Tomas Allen.

Lê Thanh Hoàng Dân

“TIN NÓNG: Thủ phạm xả súng tại Nhà Trắng được xác định là kỹ sư hàng đầu liên quan đến NASA – Cole Tomas Allen, 31 tuổi, đến từ Torrance, California, đã bị bắt giữ với tư cách là nghi phạm cố gắng bắn Tổng thống Trump tại Bữa tối Phóng viên Nhà Trắng (White House Correspondents’ Dinner).

Tổng thống Trump đã được sơ tán an toàn sau khi tiếng súng nổ. Lực lượng thực thi pháp luật đã vô hiệu hóa mối đe dọa và bắt giữ Allen ngay tại hiện trường…”

Copy FB “David Thiên Ân”.

“Điều khiến câu chuyện này trở nên gây sốc: Allen sở hữu chính xác những kỹ năng chuyên môn mà drone cần. Hắn ta từng là Nghiên cứu sinh Hè tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực NASA (NASA JPL), làm kỹ sư cơ khí tại IJK Controls thiết kế hệ thống gimbal đa trục tiên tiến và hệ thống ổn định, thiết kế bàn quang học và hệ thống liên lạc laser tại Fluid Synchrony, đồng thời từng làm Trợ giảng tại Caltech.

Đây chính là những khả năng kỹ thuật chính xác cần thiết cho các pod nhắm mục tiêu chính xác, drone quân sự cao cấp, drone giám sát và drone cấp độ cartel — bao gồm định hướng chính xác, ổn định, liên lạc laser, quang học và các tải trọng ISR (Tình báo, Giám sát, Trinh sát) tiên tiến.

Tuy nhiên, dù có sự nghiệp kỹ thuật cao cấp, lương cao tại NASA, các nhà thầu hàng không vũ trụ và Caltech, hồ sơ công khai cho thấy đến năm 2025–2026, Allen chỉ làm việc bán thời gian với vai trò gia sư tại C2 Education, kiếm được một phần nhỏ so với mức lương tiềm năng của anh ta.

Một người 31 tuổi với chuyên môn NASA/JPL + gimbal + liên lạc laser lẽ ra phải làm việc tại Raytheon, Northrop Grumman hoặc các nhà thầu quốc phòng, kiếm 140.000–200.000 USD/năm kèm theo giấy phép an ninh. Thay vào đó, hồ sơ công khai cho thấy hắn ta gần như không có tài sản nào đáng kể, gần như không có dấu chân kỹ thuật số, và đột ngột chuyển sang làm gia sư với hồ sơ thấp.

Hiện tại hắn ta cũng đang phát triển một trò chơi điện tử mang tên “First Law” — một game về các robot phản loạn phá vỡ quy tắc đạo đức để làm hại con người. Hồ sơ này không khớp với nhau.

Cuộc điều tra đang tiếp tục và đang được mở rộng nhanh chóng.”

#CàPhêBuổiSáng #ĐiểmBáo


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN….

8 SÀI GÒN 

Bà ấy không cố gắng làm nên lịch sử – bà chỉ cố gắng sống sót. Năm 1966 trong chiến tranh Việt Nam, một bà mẹ Nam Việt Nam đã nhảy xuống sông gần Qui Nhơn hướng về phía quân đội Sài Gòn. Bà ôm chặt bốn đứa con khi họ băng qua dòng nước sâu, bỏ lại phía sau tất cả nhà cửa ruộng vườn. Ngôi làng của họ bị pháo kích dữ dội, mang theo nỗi sợ hãi kinh hoàng.

Khoảnh khắc được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia Kyoichi Sawada. Ông đã nhìn thấy một cảnh tượng ngoài sức tưởng tượng, một gia đình đang ôm chặt lấy nhau hỗn loạn giữa dòng nước sâu. Bức ảnh cho thấy không vũ khí, không chiến tuyến, chỉ có một người mẹ đang gánh vác cả thế giới của mình cố gắng vượt qua dòng nước và sự bất định. Sau đó, bức ảnh đã giành được giải Ảnh báo chí Thế giới của Năm, trở thành một trong những hình ảnh mạnh mẽ nhất thời điểm đó.

Những điều anh ấy làm tiếp theo còn quan trọng hơn. Thay vì giữ số tiền thưởng, Sawada đi tìm gia đình chạy giặc đó. Khi tìm thấy họ, anh ta đã trao cho họ tất cả mọi thứ – tiền, và bản sao bức ảnh. Với bức ảnh đó đã cho cả thế giới thấy nỗi đau và sợ hãi của họ. Đối với anh ấy, đó không phải vì danh tiếng vì anh ấy muốn làm điều gì đó đánh thức lương tri thế giới.

Nhiều năm sau, năm 1970, Sawada đã thiệt mạng khi vẫn đang tác nghiệp đưa tin về chiến tranh Việt Nam. Câu chuyện của anh ấy nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi bức ảnh nổi tiếng là một cuộc đời thực sự – đầy sợ hãi, tình yêu và sức mạnh mà không bức ảnh nào có thể lột tả trọn vẹn.

CANG HUỲNH

lược dịch từ Échos du temps.


 

KHÔNG PHẢI LỐI VÀO, NHƯNG LÀ CỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi là cửa cho chiên ra vào!”.

Tại một triền đồi Palestine, nhóm du khách thấy một ràn chiên không có cửa thì thắc mắc. Người chăn chiên chỉ vào khoảng trống và nói: “Tôi là cửa. Chiều đến, tôi nằm ngay lối ấy; không con chiên nào ra, không con sói nào vào, trừ khi bước qua tôi”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói về một lối vào, nhưng về một con người; không phải một đường đi, nhưng là một tương quan: ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’.

Chúa Giêsu không chỉ chỉ ra một lối vào, nhưng nhận mình là cửa – ego eimi hē thyra. Ở đây, đức tin không còn là tìm một con đường, nhưng là bước vào một sự hiệp thông. “Cửa” không chỉ để đi vào, nhưng là chính Ngài; không phải là một điểm dừng, nhưng là nơi sống còn, từ đó sự sống mở ra. Vì thế, không ai đi vào bằng một lối khác, nhưng per ipsum – qua chính Ngài; và chỉ khi bước qua Ngài, con người mới thực sự sống. “Thiên Chúa trước hết không phải là một ý niệm, nhưng là một thực tại lôi kéo chúng ta vào trong đó!” – Von Balthasar.

Nếu “cửa” không còn là một lối vào, thì “đi vào” không còn là một hành động; nhưng là một nhận ra: tiếng mục tử. Ở đây, vấn đề không phải là tìm đúng đường, nhưng là nhận ra đúng tiếng. Không phải mọi âm thanh đều dẫn đến sự sống; chỉ tiếng của mục tử mới mở ra lối vào sự sống. Vì thế, việc đi qua cửa bắt đầu từ một sự nhận ra, không phải từ chính mình; nhưng từ tiếng gọi, nơi ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’. Giữa bao tiếng ồn của đời sống, không phải lúc nào con người cũng nghe ra tiếng đó.

Sự sống ấy làm nên những con người được biến đổi – những kẻ từng sợ hãi nay dám làm chứng, những cộng đoàn từng khép kín nay dám tuyên xưng – bài đọc một. Và vì thế, điều được hứa không phải là sự an toàn, nhưng là sự sống dồi dào – “Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào” – một sức sống trào tràn từ chính Ngài, Đấng “chăm sóc linh hồn” – bài đọc hai. Những ai đi qua Ngài mà ra vào thì được no thoả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đây, con người nhận ra điều mình thiếu không phải là lối đi, nhưng là một nơi để thuộc về. Con người có thể đi rất xa mà vẫn không thực sự ở trong. “Hãy ở lại trong Ngài, và bạn sẽ được đổi mới!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Sự sống mà cửa Giêsu dẫn vào chính là sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, Đức Kitô là cửa không chỉ để con người đi qua, nhưng để đưa con người vào trong chính sự sống thần linh. Giữa những giới hạn rất thực, con người vẫn có thể hiện diện, mà không thực sự ở lại. Và chỉ khi được ở lại trong sự sống yêu thương này, con người mới thực sự sống – ngay trong những giới hạn. “Con người chỉ thực sự tìm thấy mình khi biết trao ban chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con lây lất như chiên không người chăn, cho con dám bước qua Ngài, để được sống sự sống Ngài trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH – NĂM A

Tôi là cửa cho chiên ra vào.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,1-10

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.”


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu


 

Thánh Mác-cô – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình đầy tràn ơn sủng của Chúa. Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh Mác-cô, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.  Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 25/04/2026.  (t3-23)

Thánh Mác-cô là cháu của thánh Bác-na-ba. Người đã đi theo thánh tông đồ Phao-lô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, và theo đến tận Rô-ma. Người cũng là môn đệ của thánh Phê-rô và là thông ngôn của thánh Phê-rô, đã soạn lời giảng của thánh Phê-rô thành sách Tin Mừng. Truyền thống cho rằng người đã sáng lập giáo đoàn A-lê-xan-ri-a. (Nguồn: Kinh Phụng Vụ)

Những gì chúng ta biết về Thánh Mác-cô thì trực tiếp từ Tân Ước. Ngài thường được coi là nhân vật Mác-cô trong Tông Ðồ Công Vụ 12:12 (Khi Phêrô thoát khỏi ngục và đến nhà mẹ của Máccô).

Phao-lô và Bác-na-ba  muốn đưa Mác-cô đi trong chuyến truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một vài lý do nào đó, Mác-cô đã ở lại Giêrusalem một mình. Trong cuộc hành trình thứ hai, Phaolô lại từ chối không muốn đem theo Mác-cô, bất kể sự nài nỉ của Bác-na-ba, điều đó chứng tỏ Mác-cô đã làm phật lòng Phao-lô. Sau này, Phao-lô yêu cầu Mác-cô đến thăm ngài khi ở trong ngục, điều đó cho thấy sự bất hòa giữa hai người không còn nữa.

Là Phúc Âm đầu tiên và ngắn nhất trong bốn Phúc Âm, Mác-cô nhấn mạnh đến việc Ðức Giêsu bị loài người tẩy chay trong khi chính Người là Thiên Chúa. Phúc Âm Thánh Mác-cô có lẽ được viết cho Dân Ngoại tòng giáo ở Rô-ma—sau cái chết của Thánh Phê-rô và Phao-lô khoảng giữa thập niên 60 và 70.

Cũng như các thánh sử khác, Mác-cô không phải là một trong 12 tông đồ. Chúng ta không rõ ngài có biết Ðức Kitô một cách cá biệt hay không. Một số sử gia cho rằng vị thánh sử này đã nói đến chính ngài trong đoạn Ðức Kitô bị bắt ở Giệtsimani: “Bấy giờ một người trẻ đi theo Người chỉ khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh, nhưng anh tuột tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Máccô 14:51-52).

Tương truyền thì Mac-cô thành lập Giáo Hội Alexandria (Ai Cập) và chịu tử đạo tại đó năm 68 (bị kéo lê trên đường đá cho đến chết). Thánh tích của ngài được đưa về Venice năm 815. Thành phố Venice, nổi tiếng với quảng trường San Marco, một vương cung thánh đường vĩ đại ở đây được cho là nơi chôn cất thánh nhân. Thánh Mác-cô là quan thầy của thành phố Venice và còn là quan thầy của những người làm nghề gương và các lục sự.

Dấu hiệu của Thánh Mác-cô là con sư tử có cánh, do bởi đoạn Mác-cô diễn tả Gio-an Tẩy Giả như một “tiếng kêu trong hoang địa” (Máccô 1:3), mà các nghệ nhân so sánh tiếng kêu ấy như tiếng sư tử gầm. Ðôi cánh của sư tử là bởi áp dụng thị kiến của Êgiêkien về bốn con vật có cánh cho các thánh sử.

LỜI BÀN: Cuộc đời Thánh Mác-cô đã hoàn tất những gì mà mọi Kitô Hữu được mời gọi để thi hành: rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ðặc biệt, phương cách của Thánh Mác-cô là qua sự viết văn. Những người khác có thể loan truyền Tin Mừng qua âm nhạc, nghệ thuật sân khấu, thi văn hay giáo dục con em ngay trong gia đình.

LỜI TRÍCH: Hầu hết những gì Thánh Mác-cô viết đều có đề cập đến trong các Phúc Âm khác — chỉ trừ bốn đoạn. Sau đây là một đoạn: “… Chuyện nước trời cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa” (Máccô 4:26-29). 

(Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Do Dzung

***********************************

HÃY ĐẾN MÀ XEM _ St. Sr. KIM LONG 

SƯ TỬ CÓ ÐÔI CÁNH – Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia


Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

Khách du lịch đến thưởng ngoạn Venice, một thành phố mơ mộng nằm trên sông nước và được làm tăng thêm vẻ đẹp bằng những công trình kiến trúc độc đáo cũng như bằng những tác phẩm nghệ thuật thời danh nằm ở mạn đông bắc Italia, không thể bỏ qua công trường Marcô, công trình mang tên của vị thánh bổn mạng của thành phố Venice và cũng là vị thánh Giáo hội mừng kính hôm nay.


Trên con đường tiến gần đến công trường Marcô, du khách nhìn thấy một con sư tử có đôi cánh đứng sừng sững trên một ngọn tháp cao.  Hình sư tử này nhắc đến sự nghiệp viết sách Phúc Âm đầu tiên của thánh Marcô, như chứng từ của sử gia Papias, sinh sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết như sau:

“Marcô, người thông ngôn của Phêrô, đã viết ra đúng những gì nhớ được, tuy không theo thứ tự, về những điều Ðức Kitô đã nói và đã làm.  Marcô không trực tiếp nghe Chúa giảng, cũng không phải là môn đệ của Ngài.  Nhưng ông đã tháp tùng Phêrô, người đã giảng dạy theo những gì ông cảm thấy cần thiết, chứ không phải chủ tâm thuật lại lời Chúa một cách có hệ thống.”

Marcô là người thông ngôn và lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng, vì thế không lạ gì ở cuối bức thư thứ nhất, Phêrô gọi ông là “Marcô, người con của tôi.”

Ngoài sự gần gũi với thánh Phêrô, Marcô cũng tiếp xúc lân cận với Phaolô, bắt đầu vào lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 44, khi Phaolô và Barnaba đưa về Giêrusalem số tiền cộng đoàn Antiokia quyên được để trợ giúp cộng đoàn Mẹ.  Khi trở về, Barnaba đem theo Marcô, là cháu của ông.

Sau đó, trong khi đồng hành với Phaolô và Barnaba để hoạt động truyền giáo ở đảo Cypre, vì một sự bất đồng ý kiến nào đó, Marcô đã bỏ về Giêrusalem.  Vì lý do này, trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô đã nhất quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu.  Sự kiện này đã gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba.

Nhưng trong những ngày cuối đời, khi chờ đợi ngày hành quyết, Phaolô đã viết thư nhắn với Timôthê: “Hãy đem cả Marcô đến nữa, vì tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy lắm.”  Bạn bè người ta muốn gặp trong những ngày cuối đời phải là những người đồng sinh đồng tử!

Những chi tiết khác nhau đó của cuộc đời của thánh Marcô không lấy gì làm chắc.  Có tài liệu cho là thánh nhân chết tự nhiên.  Tài liệu khác lại cho là thánh nhân được phúc tử đạo.  Vương cung thánh đường tại công trường Marcô ở Venice tự hào là còn giữ lại hài cốt của Ngài.

Trong cuộc sống, Marcô đã chu toàn bổn phận mà mọi người Kitô được kêu gọi phải thực thi: Ðó là rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Ðức Kitô.  Marcô đã thực hiện công việc này đặc biệt qua công tác viết sách Phúc Âm, những người Kitô khác qua kịch nghệ, âm nhạc, thơ phú hay qua việc dạy đạo cho con em quanh bàn ăn của gia đình hoặc qua cuộc sống chứng tá trong những sinh hoạt và nếp sống hằng ngày.

Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

From: Langthangchieutim