Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “trông ngốc” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “food tem” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ. 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “mò kim đáy biển”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác.            

Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “bill”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “background” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo: “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là Thiên Chúa sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “group one” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway South 45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “Cháu xin gởi bác hai tờ báo này” 

       –   “Ði đi, đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?”. Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa 

Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Ba`i na`y dang trong Vietbao.com nga`y 08-03-2007 muc  ‘Viet Ve Nuoc My”

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  

Xem sa’ch tai day:

https://keditim.net/wp-content/uploads/2019/09/Tam-Tinh-Goi-Lai-HT.pdf

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN- Phạm Sơn Liêm – Truyen ngan HAY

Liem Pham

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN

Gửi em, người vợ vẫn còn ở Việt Nam.

Chiều nay ở California trời nắng rực. Xa lộ vẫn đặc xe. Người ta cười nói, xách va li đi nghỉ hè. Còn anh ngồi một mình trong chiếc xe cũ đậu ngoài bãi đậu của sân bay quốc tế, nhìn từng chuyến bay hạ cánh rồi lại cất cánh.

Mười hai năm rồi, em à.

 Mười hai năm kể từ ngày anh đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng và một lời hứa.

Anh vẫn nhớ buổi sáng tiễn nhau ở phi trường Tân Sơn Nhất. Em cố cười, nhưng đôi mắt đỏ hoe. Em nhét vào ba lô anh mấy gói ruốc, ít bánh tráng và tấm hình cưới đã ngả màu.

Em nắm tay anh rất lâu.

Em nói:

“Qua đó ổn định rồi nhớ đón mẹ con em nhé.”

Anh gật đầu.

Lúc ấy, anh tin mình làm được. Anh tin chỉ vài năm thôi. Rồi gia đình mình sẽ đoàn tụ.

Nhưng nước Mỹ không giống những điều người ta kể, người ta mơ.

Ban ngày anh phụ cắt cỏ.

Đêm anh rửa chén trong một nhà hàng. Có những hôm tan ca lúc hai giờ sáng, lái xe về căn phòng thuê chật hẹp, người mệt đến mức ngủ quên ngay trên ghế.

Tiền kiếm được vừa đủ trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm, gửi chút ít về cho em nuôi con.

Anh cứ nghĩ… Ráng thêm năm sau. Rồi thêm năm nữa.

Con lớn lên qua màn hình điện thoại. Ngày đầu biết đi, anh chỉ nhìn thấy. Ngày vào lớp Một, anh chỉ nhìn thấy.

Ngày sinh nhật mười tuổi, con thổi nến. Anh cũng chỉ nhìn thấy.

Mỗi lần gọi phone kết thúc, màn hình tối đen. Căn phòng lại chỉ còn một mình anh. Có những đêm lạnh sương trắng phủ cửa kính. Anh ôm tấm hình gia đình ngủ như ôm chính quê hương mình.

Suốt mười hai năm, anh không dám mua chiếc xe mới.

Không dám đi du lịch.

Không dám tiêu xài.

Anh chỉ âm thầm bỏ tiền vào một chiếc hộp thiếc. Trên nắp hộp anh dán mảnh giấy nhỏ:

“Vé máy bay cho vợ con.”

Mỗi lần bỏ thêm vài chục đô vào đó, anh lại tưởng tượng ngày em bước ra cửa hải quan. Anh sẽ chạy đến ôm hai mẹ con.

Sẽ không phải gọi video nữa.

Sẽ được nắm tay thật.

Rồi một buổi chiều… Anh nhận điện thoại từ người quen ở quê. Người ta ngập ngừng rất lâu.

Rồi nói:

“Thôi… đừng chờ nữa.”

Anh chưa kịp hiểu. Người ta nói tiếp:

“Cô ấy lấy chồng rồi.”

Anh chết lặng. Chiếc hộp thiếc trên tay rơi xuống nền garage. Những đồng tiền lăn khắp nơi.

Anh ngồi rất lâu.

Không nhặt.

Cũng không khóc.

Chỉ thấy trong lòng mình như có một căn nhà vừa sập xuống.

Anh không trách em. Thật lòng. Mười hai năm. Một người đàn bà phải một mình nuôi con, chăm cha mẹ già, đối diện bao lời dị nghị.

Mười hai năm không có một cái nắm tay. Không có một bữa cơm đủ mặt.

Không có một người đàn ông sửa mái nhà mỗi mùa mưa.

Đợi đến đâu mới gọi là đủ?

Anh chỉ đau… Vì ngày nào anh cũng sống để chờ đoàn tụ.

Còn em… Có lẽ đã mỏi mệt vì chờ.

Chiều nay, anh vẫn đến sân bay. Không phải để đón ai.

Chỉ vì nhiều năm trước anh từng hứa với chính mình rằng sẽ có ngày đứng ở đây đón vợ con. Anh đứng nhìn những gia đình ôm nhau sau cánh cửa nhập cảnh. Đứa trẻ chạy ào vào lòng cha. Người vợ khóc. Người chồng cười.

Tiếng gọi nhau vang một góc.

Anh quay mặt đi. Không phải vì ghen. Mà vì sợ người ta nhìn thấy nước mắt của một người đàn ông đã ngoài sáu mươi.

Chiếc hộp thiếc ấy anh vẫn giữ. Bên trong vẫn còn đủ tiền mua ba tấm vé.

Chỉ tiếc… Không còn ai để bay sang nữa.

Nếu một ngày con hỏi vì sao ba không đón hai mẹ con như đã hứa… Em đừng trách anh.

Cũng đừng trách em. Hãy nói với con rằng…

Có những lời hứa không thất hứa vì người ta quên.

Mà vì thời gian dài quá. Đến mức trái tim của một người không thể chờ thêm được nữa.

Tối nay, anh lại lái xe về căn apartment nhỏ. Ngoài cửa sổ, từng chiếc máy bay vẫn nối nhau bay qua bầu trời nước Mỹ. Ánh đèn của chúng sáng lắm. Nhưng chẳng chiếc nào còn chở theo giấc mơ đoàn tụ của anh nữa. Anh chỉ mong ở nơi rất xa ấy…

Em bình yên.

Con bình yên.

Vậy là đủ.

Còn anh… Sẽ cất tiền ba tấm vé ấy vào ngăn kéo. Để mỗi lần nhìn thấy, anh nhớ rằng đã có một thời mình sống bằng hy vọng, và đã yêu một người nhiều đến mức dành cả tuổi xuân nơi đất khách chỉ để chờ ngày được đón họ sang bên mình.

Phạm Sơn Liêm 


 

DẮT NGƯỜI – MÌNH LẠC – Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

“Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi!”.

“Ai muốn hiểu trọn lời Đức Kitô, phải uốn cả đời mình theo đời Ngài!” – Thomas à Kempis.

Kính thưa Anh Chị em,

Một người có thể thuộc lời Thầy mà đời mình chẳng giống Thầy. Đó là nghịch lý Lời Chúa hôm nay cảnh báo: ‘dắt người – mình lạc’.

Bản Hy Lạp gọi người “học hết chữ” là katērtisménos. Động từ gốc cũng được dùng khi người ta vá một tấm lưới rách. “Học hết chữ” vì thế không chỉ là học đủ bài, nhưng để Chúa Giêsu nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch và uốn đời mỗi người nên giống Thầy. Một tấm lưới chưa được vá vẫn có thể thả xuống biển, nhưng sẽ đánh mất chính những gì nó vừa gom được. Đời môn đệ cũng có thể như thế: sau một đời lăn lộn, cuối cùng lại thấy mình trắng tay.

Chúa Giêsu không bảo người môn đệ bỏ mặc cái rác trong mắt anh em; Ngài chỉ buộc họ phải nhìn mắt mình trước. Có khi, mải sửa lỗi người khác, chúng ta khỏi phải nhìn vào mình; mải chỉ đường, lại quên chân mình đang bước về đâu. “Cái xà” không chỉ là một tội lớn, nhưng còn là ảo tưởng rằng mình sáng vì đang cầm đèn. Chiếc đèn có thể soi rất xa, mà ngay dưới chân nó vẫn tối. “Hãy tự hỏi đâu là con đường đúng, và trước hết, hãy tự mình bước đi trên con đường này!” – Gioan Phaolô II.

Phaolô hiểu rõ nguy cơ ấy. Dù đã “trở nên tất cả cho mọi người”, ông không lấy hoa trái nơi người khác làm bảo chứng cho mình. Ông bắt thân thể phục tùng, “kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” – bài đọc một. Không phải vì khinh chê thân xác, nhưng vì ông

không để việc tông đồ thay thế cuộc hoán cải của bản thân. Có thể giúp người khác đến nơi mà chính mình bỏ cuộc giữa đường. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắc lại đích đến: “Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái!”. Đích ấy không phải thành công, nhưng là chính Chúa.

Có lúc, bạn và tôi giống người cầm đèn dẫn kẻ khác giữa đêm: ánh sáng soi bước chân họ, còn lòng mình vẫn khuất tối. Bi kịch thiêng liêng không bắt đầu khi chúng ta nói sai, nhưng khi điều đúng chỉ đi qua môi mà không đi vào đời sống. Tin Mừng không lấy khỏi tay chúng ta ngọn đèn; Chúa chỉ mời mỗi chúng ta trở lại phía sau Ngài, để chính mình được ánh sáng chạm tới trước khi soi lối cho ai. Bởi câu hỏi không chỉ là tôi đã đưa ai đến gần Chúa, nhưng tôi có còn theo sát Ngài không?

Anh Chị em,

Đức Kitô không đứng xa để chỉ đường; Ngài trở nên con đường. Trên thập giá, Ngài mang lấy sự lạc hướng của nhân loại và đi qua cái chết trong niềm vâng phục Chúa Cha. Phục Sinh cho thấy lối tự hiến ấy chính là đường về với Chúa Cha. Vì thế, nên giống Thầy không phải là lặp lại lời Ngài, nhưng để mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài thành hình trong đời mình. Chỉ ai bước sau Đức Kitô mới có thể dẫn người mà không lạc. “Ai biết Ngài là biết đường, vì chính Ngài là Đường!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch; để con vừa chỉ đúng đường, vừa trung thành bước tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Sáu Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho môn đệ dụ ngôn này: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ? 40 Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? 42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra’, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!”


 

 Anh hùng vô danh – TG Văn Chương

TG Văn Chương

 Welles Crowther | The Man in the Red Bandana

Chỉ vài phút sau khi chuyến bay United Airlines 175 đâm vào tòa tháp Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới, Welles Crowther, chàng trai mới 24 tuổi, đã để lại lời nhắn cho mẹ mình:

“Mẹ ơi, là con đây, Welles. Con chỉ muốn nói với mẹ rằng con vẫn ổn.”

Đó  là cuộc gọi cuối cùng của anh — một bằng chứng cuối cùng về tình yêu và sự trấn an.

 Welles làm nghề môi giới tài chính ở tầng 104. Nhưng khi thảm kịch xảy ra, anh không nghĩ đến sự an toàn của riêng mình. Anh chọn một con đường khác: lao xuống nơi hỗn loạn để cứu người.

 Khi đến tầng 78, giữa khói lửa và đổ nát, Welles không còn là một nhân viên văn phòng bình thường. Anh trở thành một điều gì đó lớn lao hơn — “người đàn ông với chiếc khăn bandana đỏ”.

 Anh buộc chiếc khăn đỏ quanh mặt, không phải để che giấu, mà để thở trong làn khói ngột ngạt. Rồi, với mảnh vải ấy, anh bắt đầu dẫn đường cho những người còn sống sót băng qua bóng tối và đống đổ nát.

 Welles đã bế một người phụ nữ bị thương trên tay xuống 15 tầng. Sau đó, không ngần ngại, anh quay lại. Rồi lại cứu thêm người khác. Rồi lại quay lại. Anh đã làm đi làm lại con đường tử sinh ấy nhiều lần.

 Anh nói với mọi người:

“Ai còn có thể đứng, hãy đứng dậy ngay. Và nếu bạn có thể giúp người khác, hãy làm đi.” 

Giữa tiếng kêu khóc, khói đen và nỗi sợ hãi, giọng nói của anh là ngọn đèn soi sáng, mang đến bình tĩnh và quyết tâm. Anh không la hét, không bỏ chạy. Anh chỉ hành động — bằng một sự can đảm và lòng trắc ẩn khó tin, một bản năng bảo vệ mà không trường lớp nào có thể dạy.

 Vài ngày sau, thi thể Welles được tìm thấy bên cạnh một nhóm lính cứu hỏa, trên tay vẫn còn cầm dụng cụ cứu hộ. Anh đã ngã xuống trên đường đi cứu lần cuối cùng.

 Ling Young, một trong những người sống sót nhờ anh, đã nói về Welles bằng những lời đơn giản mà lay động:

“Anh ấy là thiên thần hộ mệnh của tôi. Nếu không có anh ấy, chúng tôi đã kẹt lại ở đó, chờ cái chết.”

 Ngày hôm đó, Welles Crowther đã cứu ít nhất 12 mạng người. Anh ra đi với chiếc khăn bandana đỏ trên mặt — trở thành biểu tượng vĩnh hằng của sự hy sinh thầm lặng.

 Có những anh hùng trở thành huyền thoại. Có người thành lãnh đạo. Nhưng những anh hùng vĩ đại nhất lại có khi chỉ là những con người bình thường, và với một chiếc khăn đỏ giản dị, họ nhắc nhở chúng ta rằng: sức mạnh lớn nhất trên đời này chính là tình yêu và ý chí cứu lấy người khác. ❤️

 TG Văn Chương

 https://youtu.be/mXVeBISOXcA

 Welles Crowther – Wikipedia

From: NguyenNThu


 

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”

 Thao Teresa

 Khi một đan sĩ dòng Carthusian qua đời, vị đan sĩ sẽ được chôn cất nơi huyệt mộ do mình tự đào lúc còn sống và không để bảng tên. Đây là một nét rất đặc biệt trong linh đạo của Dòng Carthusian (Dòng Thánh Bruno)

Các đan sĩ Carthusian sống đời chiêm niệm, thinh lặng và cô tịch, hướng toàn bộ đời mình về Thiên Chúa. Cái chết vì thế không được nhìn như sự kết thúc, mà là cuộc vượt qua để đi vào sự sống đời đời với Chúa.

Việc chôn cất đơn sơ thể hiện tinh thần linh đạo của dòng.

Không đề tên trên mộ : nhấn mạnh sự khiêm nhường và từ bỏ cái tôi: đời tôi không cần được người đời ghi nhớ, chỉ cần được Thiên Chúa biết đến.

Mộ phần rất đơn sơ : nhắc rằng cuối cùng mọi người đều trở về với bụi đất.

Áo dòng trắng : người đan sĩ ra đi trong chính tu phục của đời sống thánh hiến.

Không đặt nặng hình thức của quan tài : biểu lộ sự đơn sơ và nghèo khó trong nghi thức an táng.

Khuôn mặt được phủ khăn trắng : một dấu chỉ của sự phó thác và chờ đợi ngày phục sinh.

Còn chuyện tự đào huyệt khi còn sống, nếu có trong một cộng đoàn hay thời kỳ cụ thể, thì hiểu như một việc thực hành mang tính khổ chế và nhắc nhớ về cái chết, chứ không phải vì các đan sĩ “mong chết”. Trái lại, nó giúp họ sống từng ngày với ý thức rằng cuộc đời trần thế chỉ là hành trình hướng về Thiên Chúa.

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”


 

SỰ THA THỨ PHỤC HỒI PHẨM GIÁ CON NGƯỜI – Pt Giuse Trần Văn Nhật

Pt Giuse Trần Văn Nhật

 Trong thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm một số quốc gia và họ bắt các binh lính người Anh giam ở Thái Lan để cưỡng bách lao động là làm đường xe lửa trên chiếc cầu bắc ngang qua sông Mae Klong.  Đường xe lửa này được mệnh danh là “Đường Rầy Tử Thần” (Death Railway) bởi vì quá nhiều tù nhân bị chết khi làm con đường này.

 Một hôm khi nhóm tù nhân đi lao động trở về, họ phải đi qua hai trạm kiểm soát các dụng cụ.  Ở trạm thứ nhất, lính Nhật thấy số cuốc xẻng bị thiếu một chiếc.  Viên sĩ quan Nhật vô cùng tức giận và rút súng ra lệnh phải tìm cho bằng được chiếc cuốc bị thiếu hoặc một người phải chết thay.  Trong bầu khí nặng nề đó, một tù nhân bước ra chịu chết.  Viên sĩ quan Nhật lạnh lùng cầm lấy một chiếc xẻng đánh ông này thật tàn nhẫn cho đến chết.  Đám tù nhân còn lại kéo lê cái xác đẫm máu của đồng bạn đi qua trạm kiểm soát thứ hai để trở về nhà tù.  Nhưng ở trạm này, số cuốc xẻng lại không thiếu một chiếc!  Điều đó có nghĩa đã có sự đếm sai ở trạm thứ nhất.  Tin này sau đó được lan truyền khắp nhà tù: Một người vô tội đã chết để cứu những người khác!  Ý nghĩa của cái chết này ảnh hưởng thật sâu đậm đến tinh thần các tù nhân toàn trại.  Khi Đồng Minh chiến thắng nước Nhật, các tù nhân người Anh được giải thoát — bây giờ họ gầy gò như những bộ xương — đi ngang qua các binh lính Nhật, giờ đây là tù binh, nhưng thay vì đánh đập để trả thù, họ nói, “Không còn hận thù nữa.  Không còn giết hại nữa.  Điều chúng ta cần bây giờ là sự tha thứ.”

 Câu chuyện này được kể lại và được dựng thành cuốn phim “Miracle on the River Kwai” (Phép lạ trên sông Kwai) giúp chúng ta có thể thấy được một vài điểm quan trọng mà Đức Giêsu đã đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay về sự tha thứ.

 Điểm thứ nhất, sự tha thứ chấm dứt hậu quả của một hành vi sai trái.  Khi ai đó lỗi phạm đến chúng ta, sự lỗi phạm đó có thật và gây thiệt hại.  Nếu chúng ta trả thù, hậu quả của hành vi sai trái đó vẫn tiếp tục.  Nếu các tù nhân Anh Quốc tiếp tục trả thù binh lính Nhật, sẽ có thêm người chết, sẽ gây ra đau khổ.  Nhưng khi họ tha thứ, hậu quả của hành vi sai trái đã ngừng tại đó.

 Mục đích thứ hai của sự tha thứ là để biến sự dữ thành sự thiện.  Trả thù thì dễ nhưng đó là sự dữ, chỉ có sự tha thứ mới biến đổi sự dữ thành sự thiện.  Đó cũng là câu chuyện của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Đức Hồng Y từng bị cộng sản cầm tù trong 13 năm.  Tuy bị đối xử cách bất công nhưng cố Hồng Y vẫn yêu thương người cộng sản, bởi vì theo lời cố Hồng Y, “Chúa Kitô đã dậy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô Hữu.”  Làm thế nào cố Hồng Y có thể không thù hận người giam cầm mình?  Qua các sáng tác của cố Hồng Y, như cuốn Đường Hy Vọng, Năm Cái Bánh và Hai Con Cá, v.v…, chúng ta biết cố Hồng Y đã biến sự dữ thành sự thiện.  Thay vì dùng thời gian tù đầy để gậm nhấm sự đau khổ vì bất công và suy nghĩ cách trả thù, cố Hồng Y đã dùng thời gian đó để hoán cải những người canh tù, để suy nghĩ về lời Chúa và viết thành sách, để lại những tư tưởng quý giá cho hậu thế.  Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị cầm tù về thể xác nhưng người không để sự dữ giam hãm đời mình trong hận thù và cay đắng.  Người đã biến sự dữ thành sự thiện.

 Mục đích thứ ba của sự tha thứ là để làm chủ chính mình.  Vào năm 2004, bà Jo Nodding, người Anh, bị một thiếu niên 19 tuổi, tên Darren, dùng bạo lực để hãm hiếp bà.  Sau phiên tòa xử, Darren đã bị kết án chung thân khổ sai.  Khoảng một năm sau, một tổ chức xã hội có tên Liên Lạc Các Nạn Nhân đã đến gặp bà và đề nghị một cuộc gặp gỡ giữa bà và Darren với mục đích hòa giải và xây dựng.

 Làm thế nào bà Jo có thể gặp lại can phạm đã gây đau khổ cho mình?  Bà cho biết, sau khi bị hãm hiếp, bà luôn sống trong một tâm trạng sợ hãi, và hoang mang.  Tâm trạng bất an ấy làm chủ đời bà.  Bây giờ, việc gặp lại can phạm, bà cho đó là cơ hội để làm chủ tình hình, để lấy lại tâm trạng bình an mà can phạm đã cướp mất của bà.  Sau những chuẩn bị lâu dài, mãi đến sáu năm sau (tháng Giêng 2010) cuộc gặp gỡ mới xảy ra trong khuôn viên nhà tù.

 Trong cuộc gặp gỡ, bà đã kể lại mọi chi tiết của vụ hãm hiếp, từ đầu cho đến cuối, cũng như cảm tưởng sợ hãi và xấu hổ của bà, và Darren đã khóc hối hận.  Trước khi cuộc gặp gỡ kết thúc bà nói với Darren, “Điều tôi sẽ nói với em là điều mà nhiều người rất khó hiểu, nhưng tôi tha thứ cho em về những gì em đã làm đối với tôi.  Sự hận thù chỉ tiêu diệt con người, và tôi muốn em hãy vươn lên và thành công trong đời.  Nếu em chưa tha thứ cho chính mình, thì tôi hy vọng trong tương lai em sẽ có thể.”

 Sau đó bà Jo cho biết, “Tôi không nói như thế để bào chữa cho hành động sai trái của Darren, hoặc coi thường sự kiện đã xảy ra, nhưng vì tôi muốn chính tôi được thoát khỏi gánh nặng của sự muộn phiền, và tôi hy vọng Darren có thể học được điều gì đó để vươn lên, và tha thứ cho chính mình.”

 Bà kết luận, “Khi rời căn phòng đó, tôi có cảm tưởng như mình bay bổng trên không.  Cuộc gặp gỡ đó đã chấm dứt một giai đoạn, bởi vì tôi đã nói những gì tôi muốn nói và đã làm chủ lại cuộc đời mình.  Tôi biết điều đó có ảnh hưởng mạnh đến Darren.  Tôi không còn là nạn nhân, tôi là người sống sót.  Tôi có thể biết chắc rằng từ một điều xấu xa đã xuất phát những điều tốt lành.” 1

 Ba câu chuyện nói trên phản ánh nét đẹp của sự tha thứ, mà qua câu trả lời cho ông Phêrô, Đức Giêsu đã dậy chúng ta phải đối xử thế nào với những người xúc phạm đến mình.  Tha thứ không phải là sự hèn nhát bởi vì không dễ để tha thứ.  Cần phải dũng cảm mới có thể tha thứ, và nghĩ cho cùng sự tha thứ có lợi cho bản thân chúng ta.

 Không những thế, trong dụ ngôn hôm nay còn có hai điểm quan trọng để khích lệ chúng ta hãy tha thứ: thứ nhất, những gì chúng ta có là do Thiên Chúa ban, nếu chúng ta có bị thiệt hại vì ai đó vay mượn mà không trả, nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không mất gì.

 Ý nghĩa này được thấy qua hai con nợ và hai chủ nợ.  Một người nợ rất nhiều, nhiều đến độ nhà vua phải ra lệnh bán chính ông và vợ con ông để trả nợ.  Nhưng sau khi ông nài nỉ, nhà vua đã thương xót và không những tha cho ông mà còn tha cả số nợ của ông.  Ngược lại, một người khác nợ ông một món tiền rất nhỏ, nhưng ông lại không tha thứ mà nhất định đưa họ vào tù để trả nợ.  Hành động này đến tai nhà vua và ông vô cùng tức giận đến độ ra lệnh tra tấn người này cho đến khi trả hết số nợ.

 Sự tức giận của nhà vua khiến chúng ta phải ngạc nhiên vì dường như thái độ của nhà vua đi ngược với sự tha thứ.  Nhưng chính sự mâu thuẫn đó khiến chúng ta phải nghĩ đến lý do.  Người nợ đầu tiên, khi là con nợ, ông muốn được nhà vua thương xót.  Nhưng khi là chủ nợ, ông lại muốn sự công bằng mà thực sự, số tiền ông cho vay mượn là tiền của nhà vua, chứ không phải của ông.

 Tương tự, chúng ta nợ Thiên Chúa rất nhiều — từ mạng sống đến của cải và mọi ơn phúc.  Lẽ ra chúng ta phải sử dụng đời sống và của cải để phục vụ Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, nhưng chúng ta lại quan tâm đến chính mình nhiều hơn, và khi bị thiệt hại, chúng ta lại đòi hỏi sự công bằng.  Đó là điều vô lý đối với Thiên Chúa.

 Vấn đề tội lỗi cũng vậy — đây là điểm thứ hai của dụ ngôn.  Khi phạm tội, chúng ta mắc nợ Thiên Chúa vì không sử dụng tốt những gì Chúa đã ban.  Nhưng thật may mắn, số nợ này đã được Chúa Giêsu đền trả bằng cái chết trên thập giá.  Chúng ta được tha tội là vì lòng thương xót của Chúa Giêsu.  Vì thế, khi chúng ta tha thứ cho người khác, chúng ta nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền xét xử trên chúng ta.  Ngược lại, khi không tha thứ cho người khác, điều đó có nghĩa chúng ta đòi hỏi sự công bằng và hành động đó có nghĩa chúng ta từ chối Chúa Giêsu là đấng xét xử.  Hậu quả là tội của chúng ta vẫn còn và phải đền trả trong sự đau khổ.  Đó là ý nghĩa của câu “… trong cơn thịnh nộ, nhà vua đã trao y cho quân lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

 Kitô giáo được tóm lược trong câu “Mến Chúa, yêu người,” và không có gì thể hiện sát thực câu nói này bằng sự tha thứ.  Khi tha thứ, chúng ta nhìn nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và nhìn nhận bản tính yếu đuối của con người để thông cảm cho người khác.  Sự tha thứ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu nên Người đã dậy chúng ta trong kinh Lậy Cha mà chúng ta đọc trong mỗi Thánh Lễ.  Khi tha thứ là khi chúng ta nâng đỡ nhau khôi phục lại phẩm giá con người.

 Pt Giuse Trần Văn Nhật

From: Langthangchieutim


 

ĐÚNG MÀ KHÔNG CỨU SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả!”.

“Bác ái vượt xa công lý, vì yêu là trao ban, là hiến tặng cho người khác điều thuộc về mình!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Yêu là trao điều thuộc về mình. Nhưng Tin Mừng còn đi xa hơn: biết người kia sai mà vẫn trao ban vì không tuyệt vọng về họ. Bởi một phán quyết có thể đúng về quá khứ mà vẫn không giúp một người đổi đời – ‘đúng mà không cứu sống’.

“Mà chẳng hề hy vọng được đền trả”. Bản Hy Lạp viết mēdèn apelpízontes: “chẳng hề hy vọng”. Theo cách hiểu thông dụng, apelpízō ở đây là “mong lấy lại”; nhưng trong tiếng Hy Lạp cổ, nó còn là “mất hy vọng, tuyệt vọng”. Vì thế, cả cụm còn vang lên: “chẳng hề tuyệt vọng”. Hai cách đọc gặp nhau tuyệt đẹp: không hy vọng lấy lại điều đã cho, nhưng cũng không hết hy vọng vào người đã nhận. Thiên Chúa nhân hậu với kẻ vô ân, độc ác; Ngài không đóng khung họ trong điều họ đã làm. Công lý có thể khép hồ sơ; tình yêu vẫn mở một ngày mai.

Chúa Giêsu không bảo môn đệ chỉ thôi trả đũa; Ngài đòi nhiều hơn: làm ơn, chúc lành, cầu nguyện và trao ban. Những hành động ấy đi trước sự đổi thay, để người kia còn đường hoán cải. “Cầu nguyện cho những người đã làm hại chúng ta là bước đầu tiên để biến điều ác thành điều thiện!” – Phanxicô.

Tình yêu không phủ nhận vết thương, cũng không bảo đảm kẻ dữ sẽ trở về; nó chỉ từ chối biến điều họ đã làm thành lời cuối về cuộc đời họ. Phán quyết chỉ đọc trang đã viết; lòng thương xót còn nhìn thấy điều ân sủng có thể viết tiếp. Chúng ta thường khép lại một đời người bằng một kết luận rất đúng: “Con người ấy là thế!”. Thiên Chúa thì không; Ngài thấy điều xấu nơi người ấy mà vẫn tiếp tục làm điều lành.

Điều Chúa Giêsu dạy, Phaolô áp dụng cho cộng đoàn Côrintô: “Sự hiểu biết thì sinh lòng kiêu ngạo, còn lòng bác ái thì xây dựng!” – bài đọc một. Một thần học đúng về ngẫu tượng mà quên người anh em là một thần học chưa hiểu thập giá. Chân lý thuộc về Chúa phải giúp một con người đứng lên thay vì xô họ ngã xuống. Bởi thế, “Lạy Chúa, xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca – không chỉ là lời cầu xin tránh điều sai, nhưng còn xin cho cái đúng biết mở đường sống cho người khác. Để sống được điều ấy, chúng ta chỉ còn biết cầu xin: “Xin ban điều Ngài truyền dạy, và truyền dạy điều Ngài muốn!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô biết rõ sự thật về mỗi người, nhưng không đồng nhất ai với điều tồi tệ nhất họ đã gây ra. Trên đồi Sọ, Ngài không hạ chân lý xuống để cứu tội nhân; Ngài hạ chính mình, mang lấy bản án và trả lại cho họ phẩm giá làm con. Con người nhân danh cái đúng để đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá; Thiên Chúa dùng tình yêu biến chính thập giá ấy thành ơn cứu độ cho cả nhân loại. Đó là câu trả lời của Ngài cho một thế giới ‘đúng mà không cứu sống’: chân lý chỉ đi đến cùng khi làm cho một con người sống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ sáng để nhận ra điều sai; đủ quảng đại để làm ơn cho người ghét mình; và đủ hy vọng để mở cho người anh em một tương lai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Năm Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

27 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng  “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, 28 hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. 29 Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. 30 Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 31 Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. 32 Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. 33 Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. 34 Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. 35 Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”


 

Tân tổng giám đốc Apple trình làng iPhone gập đầu tiên, bắt đầu bán 23 Tháng Mười

Ba’o Nguoi-Viet

September 9, 2026

CUPERTINO, California (NV) – Tân tổng giám đốc Apple vừa trình làng điện thoại iPhone gập đầu tiên hôm Thứ Tư, 9 Tháng Chín, bắt đầu thời kỳ mới của công ty kỹ thuật khổng lồ này, theo đài NPR.

Mẫu điện thoại mới, tên iPhone Duo, lớn bằng sổ thông hành, tượng trưng cho sự thay đổi rõ rệt nhất về kiểu dáng của iPhone kể từ khi Apple tung ra iPhone thế hệ thứ nhất cách đây gần 20 năm, mở đầu thời kỳ điện thoại thông minh.

Ông John Ternus, tổng giám đốc Apple, giới thiệu iPhone Duo tại trụ sở công ty này ở Cupertino, California hôm Thứ Tư. ( Tháng Chín. (Hình: Benjamin Fanjoy/Getty Images)

iPhone Duo ra mắt cũng là lúc đánh dấu ông John Ternus chính thức làm tổng giám đốc Apple, hứa hẹn sẽ thay đổi đáng kể về thiết liệu và mẫu mã. Ông Termus lên thay ông Tim Cook từ đầu Tháng Chín.

Mặc dù ông Cook được khen ngợi về tài kinh doanh – vốn thị trường của Apple tăng gần 13 lần trong 15 năm ông lãnh đạo – nhưng giới phê bình cho hay, suốt nhiều năm qua, sản phẩm Apple không mang “yếu tố gây ngạc nhiên” như thời cố Tổng Giám Đốc Steve Jobs, người giới thiệu iPod, iPad và iPhone đầu tiên.

Giới phân tích nhận định có thể ông Ternus, vốn là kỹ sư cơ khí, sẽ đem lại phần nào yếu tố đó một lần nữa, sau khi ông trải qua phần lớn sự nghiệp ở Apple trong lĩnh vực sản xuất.

Và khi buổi livestream hôm Thứ Tư giới thiệu tính năng mới của sản phẩm đã có, như AirPod, kéo dài được gần một tiếng, ông Ternus nhắc lại câu đặc trưng mà ông Jobs thường nói trước khi công bố thông tin quan trọng về sản phẩm. “Nhưng thực ra, còn một thứ nữa,” ông Ternus cho hay, rồi trình làng iPhone Duo.

“iPhone Duo vừa đem lại kiểu dáng hoàn toàn mới vừa giữ lại mọi thứ quý vị yêu thích và mong đợi ở iPhone. Nó cho quý vị màn hình lớn nhất từ trước tới nay trong số điện thoại iPhone nhưng vẫn dễ dàng nhét vào túi. Nó phản ảnh kỹ thuật vô cùng phức tạp, nhưng khi sử dụng vẫn cảm thấy nhẹ nhàng, và nó giúp quý vị làm được những việc từng không làm được,” ông tuyên bố.

Thực ra, điện thoại gập không phải khái niệm mới. Hai đối thủ của Apple là Samsung và Huawei đã tung ra điện thoại gập từ năm 2019 tới nay, mặc dù những mẫu ban đầu bị nhiều vấn đề về độ bền.

iPhone Duo mở ra gập lại như cuốn sách, màn hình bên ngoài rộng 5.4 inch khi gập lại, và màn hình bên trong rộng 7.6 inch khi mở ra. Mẫu điện thoại này sẽ có giá từ $1,999 (hơn $700 so với iPhone 18 Pro mẫu thấp nhất) cũng được Apple giới thiệu hôm Thứ Tư. iPhone gập bắt đầu bán từ ngày 23 Tháng Mười. (Th.Long) [kn]


 

Thánh Peter Claver, Linh Mục dòng Tên (1580-1654)-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho những giọt mưa ở Houston. Chúc bạn và gia đình một cuối tuần an lành trong Tình Yêu của Thiên Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau  và thế giới sống trong tình yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 09/09/2026.    (t7-23)

Hôm nay 09/09, Giáo hội mừng lễ nhớ Thánh Peter Claver, Linh Mục dòng Tên, truyền giáo tại nước Colombia, Nam Mỹ Tâybanha-Columbia (1580-1654). Sau khi  tốt nghiệp  tại đại học Barcelona nước Tâybanha, cậu quyết định theo ơn gọi Dòng Chúa Giêsu. Dưới sự giám hộ của thánh Alphonsô Rodriguez  cậu được huấn luyện làm chiến sĩ truyền giáo cho Nam Mỹ.

    Người Tâybanha truyền giáo tại Colombia: Khấn dòng rồi, thầy được gửi đi Cartagena nước Colombia năm 1610, được chịu chức linh mục năm 1615.   Làm việc truyền giáo tại một trung tâm mua bán người nô lệ da đen. Mỗi tháng có tới hàng ngàn nô lệ được đổi chác.

    Tự nhận mình là “nô lệ của những người nô lệ”, cha đã dành hầu cả cuộc đời mình (40 năm) để phục vụ người nô lệ.  Mỗi khi nghe có tàu  Au châu cập bến, cha đem quần áo,  thực phẩm, thuốc và nước uống cho họ,  vì thế mà cha chinh phục được nhiều người trở lại với Chúa.  Ngài đã rửa tội được 300,000 người nô lệ tại Cartagena.

    Cha Peter khi cầu nguyện, thường mở cuốn sách “Đời sống Chúa Giêsu “, nhìn vào hình ảnh Chúa trong đó mà cầu nguyện theo lối thánh Ignatio chỉ dạy.  Ngài mở nhiều đến nỗi sách rách và cũ mèn. Hình coi cũ nhất là hình Chúa Giêsu đau khổ cầu nguyện trong vườn Giêtsimani, Chúa bị đánh đòn, đội mũ gai, và chết trên thánh giá. Nhớ tới Chúa Giêsu tử nạn làm tăng sức cho cha Peter thương những người da đen cùng khổ.

    Nguyên tắc nên thánh: Cha Peter viết trong tập sổ tay 4 nguyên tắc hướng dẫn đời ngài, những nguyên tắc giúp ngài nên thánh: 

(1)Tìm Chúa trong mọi sự,

 (2) vâng lời các bề trên như vâng lời Chúa, 

(3) làm mọi sự cho vinh danh Chúa hơn, 

(4) vui lòng đón nhận bất cứ đau khổ nào, hoặc việc làm nào có thể cứu các linh hồn.

    Năm 1650, cha Peter bị bệnh dịch, mệt mỏi vì công việc, ngài nằm liệt giường 4 năm. Ngài chết tại Cartagena ngày lễ Sinh nhật Đức Mẹ  8 tháng 9 năm 1654.  Ngài được phong thánh năm 1888.  Năm 1896,  Đức Giáo Hoàng Lêô 13 đã tôn ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo da đen.

 (Nguồn: Dân Chúa, Hạnh các thánh)

Sau đây là những câu nói của thánh nhân:

❦  Chúng ta phải nói với họ bằng đôi tay rộng lượng trước khi nói với họ bằng miệng lưỡi của chúng ta.

❦ Tìm kiếm Chúa trong mọi sự và bạn sẽ tìm thấy Chúa ở bên cạnh bạn. 

❦ Để làm theo ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta phải từ bỏ chính mình: càng chết cho chính mình, thì càng sống cho Thiên Chúa. (Thánh Peter Claver)

Hôm nay mời Bạn hãy nói gương thánh nhân để nên thánh trong mọi hoàn cảnh của mình nhé. 

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=YjsmFxwgJwI

Sống cho tình yêu -tinmung.net

Mỹ-Canada: Chia rẽ là chết! – Hiếu Chân/Người Việt

B’ao Nguoi-Viet

September 9, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Từ nửa đêm 8 Tháng Chín, 2026, Canada bắt đầu áp thuế lên một số hàng xuất cảng của Mỹ, trả đũa đòn thuế quan mà chính quyền Trump đánh lên hàng Canada từ ngày 22 Tháng Tám vừa qua. Mặc dầu đòn thuế quan này không lớn xét về giá trị hàng hóa bị ảnh hưởng nhưng cho thấy xung đột giữa Tổng Thống Mỹ Donald Trump với Thủ Tướng Canada Mark Carney đang gây tổn hại cho cả hai nước. Kẻ thủ lợi đằng sau cuộc so găng này không ai khác hơn là Trung Quốc.

Ông Trump cho đăng lên mạng xã hội Truthsocial bản đồ toàn khu vực Bắc Mỹ và Trung Mỹ được phủ quốc kỳ Hoa Kỳ. (Hình: Truthsocial/DonaldTrump)

Ăn miếng trả miếng

Chính quyền Trump nhiều lần than phiền Canada “bóc lột” nước Mỹ bằng thặng dư mậu dịch “suốt nhiều năm” bất chấp thực tế các nền kinh tế Bắc Mỹ đã gắn bó chặt chẽ với nhau từ Hiệp Định Thương Mại Tự Do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1992 rồi Hiệp Định USMCA ký kết năm 2020 trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump. Các hiệp định này tạo ra một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới có tổng giá trị sản lượng khoảng $20 ngàn tỷ.

Ngay sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump đã đơn phương áp thuế nhập cảng lên một số hàng hóa Canada, viện cớ nước này đã không tích cực ngăn chặn làn sóng buôn lậu ma túy fentanyl vào Mỹ. Ông nhiều lần đe dọa sẽ biến Canada thành “tiểu bang thứ 51” của Hoa Kỳ và thích làm nhục các thủ tướng Canada bằng cách gọi họ là “thống đốc.”

Hành vi bắt nạt của ông Trump không làm cho Canada khuất phục. Và thế là để khẳng định vị thế thống trị, ông khởi sự một cuộc chiến thương mại lên một quốc gia mà cho đến nay vẫn là láng giềng thân thiết, bạn bè, đồng minh tin cậy và đối tác thương mại lớn thứ hai của Mỹ sau Mexico.

Tháng trước, ông Trump công bố đánh thuế 50% lên hàng Canada nhập cảng vào Mỹ có giá trị $20 tỷ, tương đương 5% tổng giá trị hàng hóa Canada xuất cảng sang Mỹ, bao gồm các mặt hàng rượu vang, đồ gỗ nội thất, sản phẩm sữa, xi măng, quần áo, gỗ mềm, cần câu cá, gậy hockey… Cuộc đàm phán thương mại giữa hai nước đổ vỡ. Phía Canada cáo buộc Mỹ đưa ra những điều kiện không chấp nhận được liên quan tới chủ quyền quốc gia chẳng hạn như buộc Canada phải có sự chấp thuận của Mỹ mỗi khi muốn ký hiệp định thương mại với bất kỳ quốc gia nào khác, phải “đồng bộ” chính sách thuế quan và quản lý xuất nhập cảng của Canada với chính sách của Mỹ…

Khi Canada bỏ ngang cuộc đàm phán, ông Trump tiếp tục đe dọa sẽ đánh thuế 50% lên mặt hàng xe hơi, xe tải và nguyên liệu từ Canada, có hiệu lực từ ngày 1 Tháng Giêng, năm 2027.

Xung đột vượt ra ngoài phạm vi mua bán thông thường khi ông Trump ký sắc lệnh đổi tên hồ Ontario giữa hai nước thành “Lake America.”

Theo gương ông Trump, các giới chức hàng đầu của Mỹ liên tục dùng lời lẽ khiếm nhã để sỉ nhục đối tác Canada. Bộ Trưởng Tài Chính Scott Bessent chẳng hạn coi khinh đòn thuế quan trả đũa của Canada và ví đối thủ như “một chú chó nhỏ hay sủa bậy” đang cố đi chọc giận một con chó chăn cừu Đức! Trong một hành động điên rồ mới nhất, ông Trump và Tòa Bạch Ốc cho đăng lên mạng xã hội bản đồ toàn khu vực Bắc Mỹ và Trung Mỹ được phủ quốc kỳ Hoa Kỳ với dòng chữ “United States of America.”

Trời sinh Trump sao còn sinh Carney!

Khi ban hành những chính sách thuế khắc nghiệt như vậy, ông Trump và các cộng sự của ông đinh ninh rằng Canada sẽ sớm đầu hàng vì họ là bên chịu thiệt hại nặng nề hơn. Quả thật, kinh tế Canada có quy mô chỉ bằng 1/13 nền kinh tế khổng lồ của Mỹ.

Canada có 40 triệu dân với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều tiểu bang của Mỹ, cũng có một thị trường tiêu thụ rất nhỏ, cho nên Canada phải phụ thuộc nặng nề vào thị trường Mỹ.

Theo dữ liệu của chính phủ hai nước, Canada xuất cảng sang Mỹ 68% tổng sản lượng hàng hóa mà xứ này làm ra, tương đương 25% GDP; trong đó có 80% hàng hóa được miễn thuế nhập cảng theo Hiệp Định USMCA. Ở chiều ngược lại, xuất cảng của Mỹ sang Canada chỉ khoảng 1.6% GDP của Mỹ, một phần rất nhỏ. Chính vì thế, ông Jamieson Greer, đại diện thương mại Mỹ trong chính quyền Trump, nói rằng các mức thuế này quá nhỏ để gây rắc rối cho Mỹ và coi đó là “vấn đề cấp bách của [Canada] hơn là của chúng ta.” Các nhà kinh tế dự đoán các mức thuế quan của ông Trump có thể khiến khoảng 90,000 người Canada mất việc làm.

Bất ngờ là “chú bé hạt tiêu” Canada không chịu nhượng bộ. “Chúng tôi không thể chấp nhận những gì họ đề nghị, và chúng tôi sẽ không cho họ những gì họ yêu cầu. Chúng tôi không sẵn sàng thỏa hiệp chủ quyền của Canada hoặc làm suy yếu các ngành công nghiệp chủ chốt của chúng tôi,” Thủ Tướng Canada Mark Carney công bố với báo chí ngay sau khi phái đoàn Canada rời bàn đàm phán trở về nước hôm 21 Tháng Tám.

Đã thế, ông Carney còn “lên gân” và phản pháo bằng đòn trả đũa “dollar-for-dollar” (một đổi một): đánh thuế từ 15% đến 50% lên các sản phẩm nhập cảng từ Mỹ, cũng có giá trị khoảng $20 tỷ, bắt đầu từ 8 Tháng Chín, 2026. Đòn “bắt nạt” của ông Trump dường như mất tác dụng.

Cho đến nay, ông Trump đã dùng đòn thuế quan để bắt nạt cả thế giới, nhưng chỉ ông Tập Cận Bình của Trung Quốc và ông Mark Carney của Canada chẳng những không sợ, không cúi đầu mà còn dám bật lại ăn miếng trả miếng.

Vì thế mấy ngày gần đây, ông Trump rất tức giận với láng giềng phương Bắc. Sau khi đổi tên hồ Ontario thành hồ Mỹ và vẽ lá cờ Mỹ trùm lên đất nước lá phong, ông lên mạng Truth Social ra lệnh cho General Services Administration (GSA) – cơ quan cung cấp mọi dịch vụ cho chính phủ liên bang, phối hợp với đại diện Thương Mại Mỹ, “loại bỏ toàn bộ các sản phẩm có nguồn gốc Canada” khỏi danh mục hàng hóa cần mua sắm của GSA “trừ phi Canada phục hồi sự hỗ tương đầy đủ và công bằng cho các công ty và nông dân Mỹ.”

Ông cũng viết trên mạng rằng tập đoàn chế tạo phi cơ Bombardier của Canada sẽ không còn được phép bán phi cơ của họ tại Mỹ trừ phi họ sản xuất ở Mỹ; giá cổ phần của Bombardier lập tức giảm hơn 6% trên thị trường chứng khóan Toronto hôm nay, 8 Tháng Chín!

Những tổn thất nặng nề của Canada hãy còn ở phía trước.

Vì sao Canada “quay xe”

Có một thời chưa xa, Mỹ và Canada phối hợp chặt chẽ với nhau về chính sách thương mại. Hai ngành năng lượng và xe hơi của hai nước gắn bó với nhau mật thiết đến mức mỗi chiếc xe hơi xuất xưởng đều gồm nhiều cơ phận, phụ tùng của hai nước, đều có mồ hôi của những người thợ ở hai bên biên giới. Khi Tổng Thống Joe Biden quyết định đánh thuế nhập cảng 100% lên xe điện, thép và nhôm của Trung Quốc để bảo vệ ngành xe hơi Bắc Mỹ, Canada liền làm theo, bất chấp Bắc Kinh áp thuế trả đũa lên các mặt hàng xuất cảng của Canada như thịt heo, hải sản, dầu hạt cải. Canada cũng sẵn sàng bắt giam Mạnh Vãn Châu (Meng Wanzhou), giám đốc tài chính của tập đoàn Hoa Vĩ (Huawei) theo yêu cầu của Bộ Tư Pháp Mỹ dù Bắc Kinh lập tức bắt giam hai công dân Canada để trả đũa.

Thế rồi ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc và bắt đầu đe nẹt Canada như trình bày trên. Ông Carney lên làm thủ tướng mùa Xuân năm ngoái với cam kết chống lại sự bắt nạt của ông Trump, mở rộng liên kết với các quốc gia khác. Những người ủng hộ ông Carney cho rằng, khi bị Mỹ xử ép, Canada không có lựa chọn nào khác là tìm đến các thị trường mới. Ông ta hy vọng sẽ giảm thiểu cú sốc kinh tế bằng cách đa dạng hóa thị trường, xây dựng khối liên minh thương mại với EU và các nước thuộc Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để giảm phụ thuộc vào Mỹ.

Dữ liệu Tháng Bảy cho thấy xuất cảng của Canada sang phần còn lại của thế giới đạt mức cao kỷ lục 25.6 tỷ CAD ($18,5 tỷ), tăng 56% kể từ khi Trump nhậm chức, trong khi đó xuất cảng sang Mỹ giảm 11.6%, xuống còn 50.5 tỷ CAD. Đa dạng hóa thị trường là tốt, nhưng sẽ kéo dài được bao lâu, các nước bên ngoài có thay thế được thị trường Mỹ, vừa kề cận vừa có sức mua khủng khiếp?

Bàn tay Trung Quốc

Vấn đề là cả ông Trump lẫn ông Carney đều chưa quan tâm đúng mức tới đối thủ Trung Quốc đang âm thầm xâm nhập sâu vào thị trường Bắc Mỹ để giải quyết cuộc khủng hoảng thừa của sản xuất công nghiệp nội địa. Xung đột giữa Canada và Mỹ mang lại cho Bắc Kinh cơ hội tốt hiếm có. Chính sách bắt nạt của ông Trump có phần đẩy Canada gần hơn Trung Quốc; nhưng ông Carney cũng mắc sai lầm. Trong chuyến thăm Bắc Kinh Tháng Giêng, 2026, ông đã vội vã thỏa thuận với ông Tập Cận Bình một quan hệ “đối tác chiến lược mới.” Ông kêu gọi Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Canada trong các lĩnh vực năng lượng, cơ sở hạ tầng.

Ông cho phép nhập cảng mỗi năm 49,000 xe điện (EV) Trung Quốc với mức thuế 6.1% thay cho mức 100% hiện hành; đổi lại Trung Quốc giảm thuế nhập cảng dầu hạt cải Canada từ 85% xuống 15% và xem xét giảm thuế đối với tôm hùm, cua Canada! Thỏa thuận với Bắc Kinh của ông Carney làm cho cả Washington và Mexico City bất bình, và đó có thể là căn nguyên những phản ứng mang tính trừng phạt của ông Trump trong năm 2026.

Ở nước Mỹ, ông Trump có lẽ nhìn thấy những phản ứng bất lợi của công chúng đối với đòn bắt nạt Canada, một chính sách đối ngoại ngu xuẩn. Theo một cuộc thăm dò mới của Reuters/Ipsos, 57% người Mỹ phản đối các động thái đánh thuế của ông Trump lên hàng nhập cảng từ Canada, chỉ 20% ủng hộ. Khoảng 63% người Mỹ phản đối sắc lệnh hằn học của ông về việc đổi tên Hồ Ontario thành “Hồ America.” Phản ứng tiêu cực này đặc biệt rõ rệt tại các bang giáp biên giới như Michigan, nơi nền kinh tế gắn kết chặt chẽ với Canada. Nhưng ông Trump vốn dĩ là người coi thường dư luận nên ông sẽ khó thay đổi cách hành xử.

Vẫn còn thời gian để Mỹ và Canada tránh được những hậu quả tồi tệ nhất về mặt kinh tế và chính trị từ xung đột này trước khi Trung Quốc lợi dụng sự rạn nứt ở Bắc Mỹ để trục lợi. Để đối phó với Bắc Kinh, Mỹ và Canada đều cần có nhau, chia rẽ là chết! [kn]


 

KHI TRỜI NGƯỚC LÊN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói…”.

“Yêu một người là tỏ cho họ biết rằng họ đẹp!” – Jean Vanier.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu “ngước mắt lên” nhìn các môn đệ, rồi gọi họ là có phúc. Ánh mắt Ngài trả lại cho những người nghèo bị coi thường ấy vẻ đẹp họ đã quên – ‘khi Trời ngước lên’.

Trong Matthêu, Chúa Giêsu giảng trên núi; trong Luca, Ngài xuống chỗ đất bằng. Thế mà khi bắt đầu giảng, Ngài lại “ngước mắt lên nhìn các môn đệ”. Bản Hy Lạp viết epāras – “nâng lên”: Ngài nâng mắt để nhìn. Giữa đám đông, cái nhìn ấy dừng nơi “các môn đệ” – những người đã chọn bước theo Ngài. Chúa Giêsu không khen cảnh khốn cùng; Ngài gọi họ có phúc vì dám thuộc về Ngài, dẫu nghèo, đói, khóc và bị khước từ. Trước mắt thế gian, họ thấp vì những gì họ thiếu; trong mắt Thiên Chúa, họ cao vì Đấng họ thuộc về. “Chỉ Thiên Chúa mới thực sự có thể gọi những người nghèo khó và sầu khổ là có phúc, bởi Ngài là sự thiện tối cao, Đấng hiến mình cho mọi người bằng tình yêu vô hạn!” – Lêô XIV.

Matthêu có tám mối phúc; Luca có bốn phúc, bốn hoạ. Chúa Giêsu không chia nhân loại thành người có kẻ không, nhưng chỉ ra hai cách sống: một bên còn đợi Chúa; bên kia không còn chờ Ngài. Người nghèo có phúc không vì thiếu, nhưng vì giữa thiếu thốn, họ còn chỗ cho Nước Trời. Người giàu bị cảnh báo không vì có, nhưng vì những gì đang có khép kín mọi mong đợi. Lời phúc nâng người ở dưới lên; lời hoạ gọi người ở trên xuống.

Tại sao lại đổi chỗ? Phaolô cho biết, vì “bộ mặt thế gian này đang biến đi” – bài đọc một. Nỗi buồn sẽ qua, niềm vui sẽ qua và cả những gì đang có rồi cũng qua. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắn nhủ: “Đưa mắt nhìn và hãy lắng tai!”. Phải nhìn xa hơn phần mình, bởi những gì chóng vánh không thể nói hết một đời. Khi chỉ cúi xuống phần mình, chúng ta quên mất ‘Trời đang ngước lên’ nhìn cả người thiếu kẻ thừa.

Chúng ta thường cố đứng ở nơi người khác phải ngưỡng mộ: một thành công, một lời khen, một địa vị. Vì thế, chỉ một thất bại cũng đủ làm chúng ta bải hoải. Thế nhưng, giá trị của chúng ta không do người đời định đoạt. Chúa không đợi ai đứng cao mới nhìn thấy; Ngài nhận ra mỗi người ngay nơi cuộc đời xếp họ vào chỗ thấp nhất. “Thiên Chúa ban hy vọng trước hết cho những người mà thế gian gạt bỏ như những kẻ không còn hy vọng!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nhập Thể là biến cố Trời xuống thấp nhất. Con Thiên Chúa sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi; sau cùng, nằm trong ngôi mộ mượn của một người giàu. Ngài đi xuống không để ca tụng khổ đau, nhưng để không một phận người nào nằm ngoài tầm mắt Thiên Chúa. Phục Sinh cho thấy người đời có thể chôn một người xuống tận huyệt mộ, nhưng không thể biến huyệt mộ thành lời cuối. Trong Đức Kitô, người ở dưới đang được nâng cao – đó là ‘khi Trời ngước lên’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa thiếu thốn, đừng để con tuyệt vọng; giữa đủ đầy, đừng để con tự mãn; giữa thế gian đang qua đi, cho con một lòng chọn Đấng luôn ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Tư Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

20 Khi ấy, Đức Giê-su dừng lại ở một chỗ đất bằng. Nơi đây có đông đảo dân chúng tìm đến với Người. Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói :

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.

21“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.

“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.

22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.

“Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”