CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53

Trầm Mặc Huơng Lai

Tôi đã đọc câu chuyện này và không thể cầm được nước mắt…

Tôi tên là Eduardo, 53 tuổi. Cách đây 6 tháng, tôi được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Vâng, nó thực sự tồn tại. Dù mọi người thường nghĩ đây là bệnh của người già, nhưng nó có thể xuất hiện ngay từ tuổi 40. Với tôi, nó ập đến ở tuổi 52.

Bác sĩ nói đây là do di truyền. Mẹ tôi mất vì Alzheimer năm 60 tuổi, ông nội tôi cũng vậy. Tôi biết mình có nguy cơ, nhưng chưa bao giờ nghĩ nó lại đến sớm thế này.

Mọi chuyện bắt đầu từ một năm trước: tôi quên sạch những cuộc trò chuyện, bị lạc đường khi lái xe ở những nơi vốn rất quen thuộc, hay đột nhiên không tìm được từ ngữ để nói… Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ là do áp lực công việc. Nhưng cái ngày mà tôi quên mất tên con gái mình trong vài giây, tôi biết mọi chuyện đã thực sự tồi tệ.

Con gái tôi là Carolina, 25 tuổi. Con bé sống với tôi từ khi mẹ nó bỏ đi nhiều năm trước. Con bé là cả thế giới của tôi. Khi nghe tin, Carolina đã tự nhốt mình trong phòng khóc hàng giờ liền. Tôi cũng khóc ở phía bên kia cánh cửa.

Nhưng sáng hôm sau, con bé bước vào phòng tôi với một cuốn sổ lớn và nói: — “Cha à, chúng ta sẽ cùng viết lại cuộc đời cha. Tất cả những gì cha không muốn quên, chúng ta sẽ làm cùng nhau.”

Kể từ đó, mỗi tối chúng tôi lại ngồi ở phòng khách. Con bé hỏi, còn tôi kể: Chuyện tôi gặp mẹ nó như thế nào. Ngày Carolina chào đời và tôi chính thức trở thành cha. Ngôi nhà đầu tiên. Những từ đầu đời của con. Ngày con tập đi xe đạp. Lễ tốt nghiệp của con… Tất cả mọi thứ.

Chúng tôi cũng viết cả những điều giản đơn nhất: món ăn tôi thích (chilaquiles xanh), những bài hát tôi yêu, những câu đùa tôi hay kể, tên bạn bè, công việc giáo viên tiểu học tôi đã gắn bó suốt 30 năm, và điều gì khiến tôi hạnh phúc (như một ly cà phê với bánh mì ngọt vào buổi sáng).

Có một tối, Carolina nói một câu khiến tôi bật khóc: — “Cha ơi, ngày mà cha không còn nhớ con là ai nữa, con sẽ đọc cuốn sổ này cho cha nghe mỗi ngày. Con sẽ nhắc cho cha nhớ cha đã từng là ai, cha là người thế nào. Và con vẫn sẽ yêu cha như thế.”

Sáu tháng trôi qua, bắt đầu có những ngày tồi tệ. Có những ngày tôi quên chỗ để chìa khóa, hỏi đi hỏi lại một câu năm lần, hay không nhớ mình đã ăn sáng chưa. Carolina chưa bao giờ nổi nóng. Con bé chỉ mỉm cười và trả lời tôi với một sự kiên nhẫn vô hạn.

Hôm qua, tôi bị một cơn kích động mạnh. Tôi tỉnh dậy mà không biết mình đang ở đâu. Tôi hoảng loạn, không nhận ra chính ngôi nhà của mình và bắt đầu gào thét vì sợ hãi. Carolina chạy vào phòng, ôm chặt lấy tôi và đọc một đoạn trong cuốn sổ: — “Tên cha là Eduardo. Cha 53 tuổi. Cha là cha của con và là người đàn ông dũng cảm nhất con từng biết. Cha đã làm thầy giáo 30 năm. Cha thích cà phê và bánh mì ngọt. Bài hát yêu thích của cha là ‘Bésame Mucho’. Còn con là Carolina, con gái của cha, và con sẽ không bao giờ để cha cô đơn.”

Từng chút một, tôi tỉnh táo lại. Con bé đã kéo tôi về thực tại bằng chính lời nói và câu chuyện của cuộc đời tôi. Tôi khóc nức nở trong vòng tay con như một đứa trẻ: — “Thứ lỗi cho cha, con gái ơi, xin lỗi con vì tất cả chuyện này.” — “Không cha ơi, cha không có lỗi gì cả. Đây không phải lỗi của cha.”

Hôm nay, Carolina cho tôi xem một thứ khiến tôi nghẹn lòng. Con bé đã bí mật quay phim những cuộc trò chuyện buổi tối. Con bé có hàng giờ video cảnh tôi đang kể chuyện, cười đùa, hát hò… là chính mình. — “Sao con lại quay lại tất cả những thứ này?” — “Để đến ngày cha không thể nói được nữa, con sẽ mở những đoạn phim này lên. Để cha được nghe lại giọng nói của chính mình. Để cha biết cha đã từng là ai. Để cha thấy mình tuyệt vời thế nào khi cha vẫn còn là cha.”

Tôi hoàn toàn gục ngã. Tôi nắm lấy tay con: — “Con không cần phải làm thế. Con còn trẻ, tương lai còn ở phía trước. Con phải ra ngoài, yêu đương, sống cuộc đời của mình… Con không cần phải ở đây để chôn vùi tuổi xuân chăm sóc cha.”

Con bé nổi giận. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó giận dữ như vậy kể từ khi tôi đổ bệnh: — “Cha à, khi mẹ bỏ đi, cha hoàn toàn có thể gửi con cho mẹ. Cha có thể làm lại cuộc đời mà không có một đứa trẻ vướng chân. Nhưng cha đã không làm thế.” Giọng con bé nghẹn lại: — “Cha đã ở lại với con. Cha làm việc gấp đôi để con không thiếu thốn thứ gì. Cha vừa là mẹ, vừa là cha. Cha có mặt trong mọi buổi lễ tốt nghiệp, mọi buổi hòa nhạc, mọi sự kiện của đời con. Chưa bao giờ, CHƯA BAO GIỜ cha để con cảm thấy mình là gánh nặng.”

Nước mắt giàn dụa trên mặt con: — “Bây giờ đến lượt con, cha ạ. Cha đã bảo vệ con khi con yếu ớt. Con sẽ bảo vệ cha khi cha không còn tự chủ được nữa. Vì đó mới là gia đình. Đó là những gì cha đã dạy con.”

Chúng tôi ôm nhau khóc. — “Con sẽ không hối hận chứ con gái? Kể cả khi cha không biết con là ai?” — “Không bao giờ cha ạ. Bởi vì ngay cả khi cha không nhớ con là ai, thì CON vẫn luôn biết cha là ai. Cha là người hùng của con. Và người ta không bao giờ bỏ rơi người hùng của mình.”

Tôi không biết mình còn bao nhiêu thời gian trước khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Nhưng tôi biết rằng, khi ngày đó đến, tôi sẽ không cô đơn. Tôi có Carolina. Con bé sẽ nhắc cho tôi nhớ tôi là ai. Con bé sẽ đọc cho tôi nghe câu chuyện đời mình. Con bé sẽ yêu tôi ngay cả khi tôi không còn nhớ nổi tên con.

Điều đó cho tôi sự bình yên.

Sáng nay thức dậy, trong giây lát tôi không nhớ nổi hôm nay là thứ mấy. Nhưng tôi nhìn thấy cuốn sổ trên bàn cạnh giường. Tôi mở trang đầu tiên ra, Carolina đã viết những dòng chữ lớn: “CHA LÀ EDUARDO. CHA CÓ MỘT ĐỨA CON GÁI YÊU CHA BẰNG CẢ TRÁI TIM. MỌI CHUYỆN SẼ ỔN THÔI.”

Alzheimer có thể đánh cắp ký ức của tôi. Nó sẽ tắt dần tâm trí tôi. Nó sẽ lấy đi tất cả. Nhưng có một thứ nó không bao giờ lấy đi được: đó là tình yêu. Tình yêu vẫn ở đó. Nó mạnh mẽ hơn bất kỳ căn bệnh nào.

TG Văn Chương


 

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay.

Make Christianity Great As Always

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay. Một số trường Đại học Mỹ đang chứng kiến nhiều sinh viên trẻ quyết định trở thành con Chúa sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng về Đức Tin Công giáo. Mong sao các bạn luôn trung tín với con đường mình đã chọn (Theo St. Isidore’s Catholic Student Center – Trung tâm Mục vụ Sinh viên của trường)

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.


 

ĐỂ THẤT BẠI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”.

“Điều Thiên Chúa chữa lành – khi chúng ta thất vọng – là bảo đảm rằng mục đích của Ngài không thể thất bại!” – A. W. Pink.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu khá lặng, “Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”. Không điều kiện, chỉ một lời gọi và các ông bước tới. Ngài biết những con người này – rồi đây – sẽ tan tác, và Ngài sẽ bị họ bỏ rơi. Có thể nói, Ngài gọi họ… ‘để thất bại!’.

Trong đời sống đức tin, chúng ta mong một ơn gọi luôn ổn định, được ghi nhận, được bảo đảm. Muốn trung thành, nhưng chúng ta cũng muốn an toàn; sẵn sàng theo Chúa, miễn là con đường ấy đừng quá chông chênh, đừng đòi trả giá quá nhiều. Nhưng sự thật lại khác! Nhiều lúc, Chúa không gọi chúng ta để thành công, mà gọi bạn và tôi ‘để thất bại’, hầu mọi chỗ dựa quen thuộc lần lượt rơi khỏi tay, và mỗi người đứng trơ trọi trước một chọn lựa: tôi yêu Chúa vì Chúa, hay chỉ vì những gì Ngài từng ban? “Thất bại là một phần môi trường của Thiên Chúa để hình thành nhân cách chúng ta!” – Erwin McManus.

Chính trong những thất bại ấy, Thiên Chúa gỡ từng chiếc mặt nạ, để mỗi người gặp lại sự thật đáng thương của mình – yếu hơn, ít trung tín hơn, và ít quảng đại hơn chúng ta vẫn tưởng. Vậy mà đó cũng là thời điểm ơn gọi được tinh luyện! Không còn dựa vào hình ảnh tốt đẹp bản thân, chúng ta bám vào lòng thương xót Chúa; không còn tự tin vào sức riêng, chúng ta hiểu thế nào là cần đến ân sủng; và không còn đủ kiêu hãnh để đứng một mình, chúng ta học quỳ xuống. Có những lúc, Chúa để chúng ta thất bại trong cả những điều thánh nhất, để hiểu rằng, ơn cứu độ không đi qua sức riêng, mà đi qua sự tự hiến của Đức Kitô trong mỗi người.

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Với con mắt thế gian, cuộc đời Ngài kết thúc trong thất bại; nhưng chính ở đó, Chúa Cha hoàn tất công trình cứu độ. Con đường cứu thế không hề dễ, nhưng đi qua lối tự hiến đến cùng. Có thể nói, Chúa Cha đã để Con Một Ngài học bài học đầu tiên – đến ‘để thất bại’ – nhưng từ trong thất bại ấy, sự sống mới được sinh ra. “Nhìn ra ngoài, con xao động; nhìn vào trong, con đau buồn; nhìn lên Chúa Giêsu, con an nghỉ!” – Corrie Ten Boom.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô, chúng ta hiểu, những đổ vỡ của mình không nằm ngoài nhịp sóng của Ngài. Khi thấy mình thua cuộc, bất thành, bất lực trước những yếu đuối lặp đi lặp lại, rất có thể, bạn và tôi đang được mời gọi đi vào cùng một mầu nhiệm mà Chúa Kitô đã đi – mầu nhiệm của một tình yêu không bỏ cuộc, cả khi mọi sự xem ra đã mất. Vì thế, điều đáng sợ không phải là thất bại, mà là khép lòng trong thất bại; không phải là ngã, mà là không còn tin mình vẫn được gọi, được yêu, và vẫn được dắt đi cả trên những đoạn đường tối nhất. “Chúa Giêsu không đến để biến người xấu thành tốt; nhưng để biến kẻ chết thành người sống!” – Ravi Zacharias.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những tan tác, cho con tin: chương trình Chúa vẫn lớn lên; giữa bao đổ vỡ, mầm sống Ngài gieo vẫn trổ sinh. Giữ con ở lại trên con đường chưa xong ấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su gọi những kẻ Người muốn, để các ông ở với Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su lên núi và gọi những kẻ Người muốn. Các ông đến với Người. 14 Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng, 15 với quyền trừ quỷ. 16 Người lập Nhóm Mười Hai gồm có : ông Si-môn -Người đặt tên là Phê-rô-, 17 ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi-, 18 rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, 19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.


 

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn…

My Lan Pham

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn, rồi sau đó trở thành người phụ nữ khiến cả thế giới phải dừng lại và lắng nghe.

Trước khi là Waris Dirie, cô chỉ là một bé gái du mục trong sa mạc Somalia, một trong mười hai người con sinh ra trong một gia đình sống nay đây mai đó cùng lạc đà và dê, tồn tại nhờ sữa và sức chịu đựng. Khi mới năm tuổi, mẹ cô giữ chặt cô lại trong khi một người phụ nữ khác dùng dao lam thực hiện cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Không có thuốc mê. Không có bệnh viện. Chỉ có nỗi đau không thể tưởng tượng nổi ,  nỗi đau sẽ ám ảnh cơ thể cô suốt cả đời.

Năm mười ba tuổi, cha cô thông báo rằng cô sẽ bị gả cho một người đàn ông sáu mươi tuổi để đổi lấy năm con lạc đà. Waris đã đưa ra một lựa chọn lẽ ra có thể giết chết cô: cô bỏ trốn, một mình, băng qua sa mạc Somalia vào ban đêm. Cô đi bộ suốt nhiều tuần lễ không thức ăn, không nước uống, không bản đồ. Cô bị sư tử rượt đuổi. Suýt chết vì mất nước. Nhưng cô vẫn tiếp tục bước đi, được thúc đẩy bởi thứ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ ,sự từ chối chấp nhận cuộc đời mà người khác đã áp đặt lên mình.

Cuối cùng, cô đến được Mogadishu, rồi sang London, nơi cô sống cùng những người họ hàng xa và làm giúp việc nhà. Cô không biết tiếng Anh. Không có học vấn. Ban ngày cô lau dọn nhà cửa, ban đêm tự học đọc chữ. Và rồi, trong một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể có thật, cô được một nhiếp ảnh gia thời trang phát hiện khi đang làm việc tại McDonald’s vào năm 1987.

Chỉ trong vài tháng, Waris Dirie trở thành siêu mẫu quốc tế, xuất hiện trên trang bìa của Vogue, Elle và Glamour. Cô sải bước trên các sàn diễn ở Paris, Milan và New York. Cô xuất hiện trong một bộ phim James Bond. Thế giới thời trang tôn vinh vẻ đẹp lạ lẫm của cô, những đường nét sắc sảo, và sự “lột xác” ngoạn mục từ vô danh thành nổi tiếng toàn cầu.

Nhưng Waris mang trong mình một bí mật mà cô chưa từng kể với bất kỳ ai trong cuộc sống mới ấy. Những vết sẹo thể xác và tinh thần từ nạn cắt xén sinh dục nữ vẫn còn đó. Chấn thương luôn hiện diện, ẩn dưới những bộ váy hàng hiệu và ánh đèn máy ảnh. Và cô không thể ngừng nghĩ đến hàng triệu bé gái khác đang phải chịu đựng điều mà cô đã sống sót.

Năm 1997, ở đỉnh cao sự nghiệp người mẫu, Waris đã làm một việc khiến cả ngành thời trang chấn động: cô công khai nói về nạn cắt xén sinh dục nữ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Marie Claire. Cô kể với cả thế giới chính xác những gì đã xảy ra với mình khi mới năm tuổi. Cô mô tả nỗi đau, những biến chứng y tế kéo dài suốt đời, và tổn thương tâm lý. Cô gọi tên một tập tục đã được che giấu trong im lặng văn hóa suốt nhiều thế kỷ.

Phản ứng từ công chúng là cực kỳ dữ dội. Người quản lý của cô cảnh báo rằng sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Một số người trong cộng đồng của cô cáo buộc cô phản bội văn hóa Somalia. Nhưng cũng có một điều khác xảy ra: phụ nữ trên khắp thế giới bắt đầu lên tiếng. Những người sống sót bắt đầu chia sẻ câu chuyện của họ. Tập tục vốn được bảo vệ bởi sự xấu hổ và im lặng bỗng dưng bị đưa vào ánh sáng toàn cầu.

Waris không dừng lại. Năm 1997, cô trở thành Đại sứ Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về việc loại bỏ nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Cô viết tự truyện Desert Flower, trở thành bestseller quốc tế và sau đó được chuyển thể thành phim. Năm 2002, cô thành lập Quỹ Desert Flower, dành riêng cho việc loại bỏ FGM và giúp những người sống sót tiếp cận chăm sóc y tế và tâm lý.

Hoạt động vận động của cô đã góp phần thay đổi luật pháp. Nhiều quốc gia châu Âu tăng cường luật chống FGM. Các quốc gia châu Phi lâu nay phớt lờ vấn đề bắt đầu ban hành lệnh cấm. Liên Hợp Quốc cũng đã công bố ngày 6 tháng 2 là Ngày Quốc tế “Không khoan nhượng” đối với nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ, một phần nhờ vào chiến dịch không mệt mỏi của cô.

Bạn có thể tưởng tượng đứng trên sàn diễn thời trang, nơi mọi người tôn vinh cơ thể bạn, trong khi bạn mang trong mình nỗi biết rằng thứ gì đó đã bị tước đoạt một cách bạo lực? Bạn có thể tưởng tượng đánh đổi tất cả những gì bạn đã xây dựng để nói ra một sự thật khiến người ta cảm thấy khó chịu?

Những con số chỉ phản ánh một phần câu chuyện: ước tính có khoảng 200 triệu bé gái và phụ nữ hiện đang sống đã trải qua FGM. Nhưng nhờ Waris và phong trào mà cô giúp khởi xướng, tỷ lệ này đang giảm. Ở một số quốc gia, tập tục này đã giảm hơn một nửa chỉ trong một thế hệ.

Waris Dirie không chỉ sống sót qua chấn thương ,cô đã biến nó thành một phong trào toàn cầu. Cô biến nỗi đau vốn định im lặng thành tiếng nói cho hàng triệu người. Cô chứng minh rằng đôi khi điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là từ chối giữ bí mật xấu hổ của người khác.

Ngày nay, cô tiếp tục công việc vận động, chia thời gian giữa châu Âu và châu Phi. Cô không còn là cô bé mười ba tuổi sợ hãi chạy qua sa mạc. Cô cũng không chỉ là siêu mẫu rời bỏ danh vọng. Cô là người phụ nữ đã nhìn thẳng vào hàng thế kỷ bạo lực được bình thường hóa và nói: “Chuyện này kết thúc ở thế hệ của tôi.”

Cô từng bị bán với giá năm con lạc đà. Rồi cô trở thành vô giá.

Chia sẻ từ trang Virgins

My Lan Phạm


 

CẦN KHOẢNG CÁCH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các môn đệ dành cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn”.

“Khoảng lặng là lò luyện biến đổi. Không có khoảng lặng, chúng ta vẫn là nạn nhân của xã hội!” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, giữa biển người náo nhiệt, Chúa Giêsu chọn “một chiếc thuyền nhỏ”; không để tránh con người, nhưng để không đánh mất “hướng đi cứu độ” dành cho con người – nói cách khác, Ngài ‘cần khoảng cách!’.

Đám đông không hề xấu. Đến với Chúa Giêsu, họ mang theo bệnh tật, khổ đau và những mong chờ rất thật và rất người. Nhưng những nhu cầu chính đáng ấy lại có sức cuốn khốc liệt! Nếu để bị dẫn dắt bởi những con sóng của đám đông, Chúa Giêsu sẽ không còn là Đấng được sai đến, mà chỉ còn là người đáp ứng những nhu cầu. Bấy giờ, đường thập giá dễ bị thay bằng con đường của thành công nhanh. “Chiếc thuyền nhỏ”, vì thế, là dấu chỉ của sự “tự do nội tâm”: không sống theo thị hiếu; không bước theo tiếng vỗ tay; nhưng trung thành với điều Chúa Cha muốn, cả khi điều ấy kéo Ngài vào con đường khó chịu nhất – đường thập giá! “Người vĩ đại là người – ngay giữa đám đông – vẫn giữ được sự độc lập của thinh lặng với một sự dịu dàng trọn vẹn!” – Ralph Emerson.

Tin Mừng còn cho thấy một nghịch lý khác: các thần ô uế nói đúng về Chúa Giêsu, nhưng Ngài lại cấm chúng nói. Vì không phải lời đúng nào cũng dẫn người ta đến gặp Chúa; có những lời chỉ làm đám đông sôi sục mà lòng người thì “không đổi!”. “Hãy dè chừng sự cằn cỗi của một cuộc đời bận rộn!” – Socrates. Chúa Giêsu không chọn con đường của bận rộn, nhưng của biến đổi. Ngài chọn con đường chậm, âm thầm – con đường của gặp gỡ và đổi mới từ bên trong. Với chúng ta, nguy cơ lớn không hẳn là làm điều xấu, mà là làm rất nhiều điều tốt nhưng không còn “đi ra từ trung tâm” – Giêsu – của ơn gọi. Chúng ta có thể bị cuốn phăng bởi lịch trình, bởi trách nhiệm, đến mức mọi quyết định chỉ còn là “bị đẩy đi” một cách vô hồn, chứ không còn là bước theo một Ai đó. Khi ấy, dù vẫn phục vụ, bạn và tôi lại dễ đánh mất bình an và niềm vui thuở ban đầu.

Anh Chị em,

Cao điểm của chọn lựa “một chiếc thuyền nhỏ” được Marcô kể ở một chỗ khác, “Sáng sớm, khi trời còn tối, Người đi ra nơi thanh vắng mà cầu nguyện”. Trước khi để cho ngày mới tràn vào bằng bao nhiêu tiếng gọi, Ngài lui về với nguồn mạch – tương quan với Chúa Cha. Từ nơi thinh không ấy, Ngài lại đi ra, tiếp tục chữa lành, tiếp tục giảng dạy, nhưng với một hướng đi không bị áp lực chung quanh chi phối. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta tự hỏi: điều gì đang quyết định nhịp sống của tôi? Lời Chúa, hay sức ép của hoàn cảnh? Sứ mạng, hay những đòi hỏi không bao giờ vơi? Có thể, để yêu đúng và đi đúng, tôi cũng ‘cần khoảng cách?’. “Không phải sự gia tăng hằng ngày mà là sự giảm bớt hằng ngày. Hãy cắt bỏ những điều không thiết yếu!” – Bruce Lee.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa ồn ào, xin cho con ‘còn lặng’; giữa tiếng vỗ tay, xin cho con ‘còn thật’; và giữa thành công, xin cho con ‘còn thuộc về’ Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Các thần ô uế kêu lên : Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,7-12

7 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ lui về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giu-đê, 8 từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. 9 Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn. 10 Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, khiến tất cả những ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người. 11 Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì phủ phục trước mặt Người và kêu lên : “Ông là Con Thiên Chúa !” 12 Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai.


 

Không nóng giận là phẩm chất của người đại trí tuệ – Thiên Cầm

Thiên Cầm

Chỉ những người có tu dưỡng mới có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân, không hề nóng giận trước bất kể sự việc gì. Cũng bởi vì không nóng giận nên mọi việc người đó làm đều là lý tính, có thể tỉnh táo đánh giá tình hình và đưa ra phương án sáng suốt. Điều này phải là bậc đại trí tuệ mới có thể làm được.

Trong sách Trang Tử có kể câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc như sau:

Tề Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi. Được mười hôm, vua hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được. Gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Mười hôm sau, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Được rồi. Gà bây giờ nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đầu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực ra thì đủ các ngón hay. Gà khác coi thấy cũng đủ sợ, phải lùi chạy.”

Gà chọi nóng nảy, ham khiêu chiến sẽ thích gây gổ, đấu đá chẳng ngưng. Nhưng con gà chọi thiện chiến thực sự lại trông “tựa như gà gỗ” nhưng có thể trầm tĩnh thi triển “các ngón hay” của mình. Kỳ thực Trang Tử muốn thông qua câu chuyện ngụ ngôn này để nói lên một đạo lý rằng có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân thì mới có thể làm việc lớn.

Gia Cát Lượng nói: “Lười nhác thì không thể tinh thâm, nóng nảy mạo hiểm thì không thể lý tính”. Khi lửa giận bốc lên sẽ che mờ lý trí của con người. Khi ấy con người thường sẽ mắc sai lầm mà chuốc lấy bại vong. Chỉ có buông bỏ tư tâm, trong lòng mới không bất bình oán hận, cơn nóng giận mới bị tiêu trừ từ trong trứng nước.

Có một câu chuyện về nhà Nho nổi tiếng Vương Dương Minh thế này. Vào năm Minh Chính Đức, Ninh Vương tạo phản, chỉ trong vòng một tháng Vương Dương Minh đã nhanh chóng bình định quân phiến loạn, giúp quốc gia tránh được tổn thất to lớn.

Nhưng ở triều đình, Vương Dương Minh bị kẻ khác sinh lòng đố kỵ, vu khống ông câu kết với Ninh Vương, vì việc chẳng thành, nên mới bán đứng Ninh Vương để bảo toàn tính mệnh. Chính Đức hoàng đế nghe theo lời dối trá của thuộc hạ, yêu cầu Vương Dương Minh thả Ninh Vương, định rằng sẽ thân chinh ngự giá.

Dẹp yên quân phản loạn là công lao lớn, nhưng Vương Dương Minh không những không được ghi nhận còn bị vu khống hãm hại. Đối mặt với tình cảnh này, Vương Dương Minh không hề nóng giận. Ông tới tìm Trương Vĩnh, giao phó toàn bộ công lao cho ông ta, để ông ta trừ bỏ đám hoạn quan kết bè kết đảng. Sau đó ông tự mình vào triều, bày tỏ tâm nguyện không tranh với đời, hoá giải đại hoạ một cách êm đẹp.

Vậy nên, khi bình phẩm về Vương Dương Minh, hậu thế mới có câu: “Vào lúc nguy cấp, vẫn dự liệu như thần, trí tuệ không hề lay chuyển.”

Có câu, “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”, người không nóng giận không phải kẻ đần mà là bậc đại trí giả. Một người khi không để tâm tới vật ngoại thân, được mất tuỳ duyên mới có thể giữ được sự an định trong nội tâm, không vui vì vật ngoại thân, không buồn vì được mất cá nhân của mình.

Thiên Cầm biên tập

From: Tu-Phung


 

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ

Debora Viet Kieu

Khi Titanic chìm xuống lòng đại dương, trên con tàu ấy có mặt John Jacob Astor IV — một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Khối tài sản trong ngân hàng của ông đủ để xây dựng tới 30 con tàu Titanic.

Thế nhưng, vào khoảnh khắc đối diện với cái chết, ông đã chọn điều mà mình tin là đúng đắn về mặt đạo đức: nhường chỗ trên thuyền cứu hộ cho hai đứa trẻ đang hoảng loạn.

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy có Isidor Straus, đồng sở hữu chuỗi bách hóa lớn nhất nước Mỹ — Macy’s. Khi được mời lên thuyền cứu sinh, ông bình thản nói:

“Tôi sẽ không bao giờ lên thuyền khi vẫn còn phụ nữ và trẻ em trên tàu.”

Vợ ông, bà Ida Straus, cũng từ chối rời đi. Bà nhường chỗ của mình cho cô hầu gái mới, Ellen Bird, rồi lựa chọn ở lại bên chồng trong những giây phút cuối cùng.

Bà nói khẽ nhưng kiên định:

“Chúng ta đã sống bên nhau suốt bao năm. Nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng.”

Những con người ấy — giàu có, quyền lực, có thể mua gần như mọi thứ — đã từ bỏ tài sản, thậm chí cả sinh mạng, để giữ trọn phẩm giá và nguyên tắc sống.

Chính lựa chọn đó đã khiến họ trở nên vĩ đại hơn mọi khối tài sản họ từng sở hữu.

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ, và đó chính là biểu tượng cao đẹp nhất của văn minh và bản chất con người.


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi


 

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Tiếng Dân News

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Trong bức thư gửi cho Thủ Tướng Jonas Gahr Støre của Na Uy vào cuối tuần vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump than phiền rằng, vì Na Uy không cho ông giải thưởng Hòa Bình, nên ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của nước Mỹ, không cần phải tranh đấu cho hòa bình nữa. Lập trường của Trump là “No prize, No Peace”.

Ông ta viết nguyên văn trong thư như sau: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù [tôi] đã ngăn chặn hơn 8 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ”.

Trump thực sự bị ám ảnh một cách điên cuồng về giải Nobel. Ông ta đã không hiểu được rằng Ủy Ban Nobel Na Uy, chứ không phải chính phủ Na Uy và chắc chắn không phải chính phủ Đan Mạch, mới là những người quyết định ai chiến thắng giải thưởng đó. Tuy nhiên, giờ đây ông không những đổ lỗi cho Na Uy vì đã không trao giải thưởng đó cho ông ta, mà còn sử dụng điều đó như một lý do để biện minh cho việc xâm lược Greenland.

Trump tuyên bố xạo láo rằng ông ta đã ngăn ngừa được hơn 8 cuộc chiến tranh trong nhiệm kỳ II. Tuyên bố của Donald không chính xác dựa trên thông tin từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Mặc dù chính quyền Trump đã tuyên bố “chấm dứt 8 cuộc chiến tranh trong 8 tháng” (bao gồm Israel-Hamas, Israel-Iran, Rwanda-Cộng hòa Dân chủ Congo, Thái Lan-Campuchia, Pakistan-Ấn Độ, Armenia-Azerbaijan, Ai Cập-Ethiopia và Serbia-Kosovo), nhưng các chuyên gia kiểm chứng thông tin đã phát hiện ra rằng, đây là một sự phóng đại.

Trong một số trường hợp, giao tranh vẫn tiếp diễn bất chấp các thỏa thuận hòa bình. Trong một số cuộc xung đột, chẳng hạn như giữa Ấn Độ và Pakistan, các quan chức địa phương cho biết, mức độ can thiệp của ông Trump rất giới hạn. Một số cuộc xung đột được liệt kê là những tranh chấp kéo dài, cường độ thấp hoặc tranh chấp ngoại giao chứ không phải là những cuộc chiến tranh toàn diện, quy mô lớn. Các cuộc xung đột lớn ở Trung Đông vẫn tiếp diễn, và công việc giải quyết tình hình ở Gaza vẫn đang được tiến hành cho đến năm 2026.

Trong cùng bức thư, Trump xem ra không công nhận Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch. Ông ta viết nguyên văn như sau:

“Đan Mạch không thể bảo vệ vùng đất đó khỏi Nga hoặc Trung Quốc, và tại sao họ lại có ‘quyền sở hữu’ vùng đất đó? Không có bất kỳ văn bản nào chứng minh điều đó, chỉ có một con thuyền cập bến ở đó cách đây hàng trăm năm, nhưng chúng tôi cũng từng có thuyền cập bến ở đó”.

Về mặt pháp lý, Greenland là một phần của Vương Quốc Đan Mạch nhưng hoạt động như một lãnh thổ tự trị với quyền tự quản rộng rãi, nghĩa là họ quản lý hầu hết các vấn đề nội bộ trong khi Đan Mạch phụ trách chính sách đối ngoại, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Greenland là công dân Đan Mạch và có con đường dẫn đến độc lập thông qua Đạo luật Tự trị năm 2009, trong đó nếu có yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý và sự chấp thuận của Quốc Hội Đan Mạch để tách khỏi Đan Mạch hoàn toàn.

Vương Quốc Đan Mạch bao gồm ba phần: Đan Mạch, Quần đảo Faroe và Greenland. Tất cả đều nằm dưới sự cai trị của cùng một vị vua, nhưng hai quốc gia sau được hưởng quyền tự trị rộng rãi trong các vấn đề nội bộ. Liên minh này được gọi là Vương Quốc Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Rigsfællesskabet). Tiếng Đan Mạch là ngôn ngữ chính trên cả ba vùng.

Vương quốc Đan Mạch đã tồn tại hơn 1000 năm, với chế độ quân chủ thống nhất có nguồn gốc từ vua Viking Gorm the Old (mất khoảng năm 958) và Harald Bluetooth (người đã thống nhất Đan Mạch và du nhập Kitô giáo khoảng năm 965 sau Công nguyên). Đây là một trong những chế độ quân chủ liên tục lâu đời nhất châu Âu, mặc dù lãnh thổ và quyền lực của nó đã thay đổi đáng kể thông qua các liên minh (như Liên minh Kalmar) và các cuộc chiến tranh, và cuối cùng phát triển thành chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1849.

Một lần nữa, trong bức thư Trump không quên nhắc tới tham vọng chiếm Greenland vì lý do an ninh của Hoa Kỳ và một phần vì Đan Mạch không đủ sức chống lại Nga và Trung Quốc. Ông viết: “Tôi đã làm nhiều hơn cho NATO so với bất kỳ người nào khác kể từ khi tổ chức này được thành lập, và giờ đây, NATO nên làm điều gì đó cho Hoa Kỳ. Thế giới sẽ không an toàn trừ khi chúng tôi kiểm soát hoàn toàn và tuyệt đối Greenland”.

Căng thẳng liên quan đến Greenland đã leo thang mạnh mẽ trong tuần qua, và thư của Trump đã tạo thêm mức độ bất ổn mới trong chiến dịch nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo này.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn qua điện thoại với NBC News, Donald Trump đã không loại trừ khả năng chiếm Greenland bằng vũ lực. Ông nói “Không bình luận”. Ông nhấn mạnh rằng ông sẽ “100%” tiếp tục thực hiện kế hoạch áp thuế đối với các quốc gia châu Âu nếu ông không có được Greenland”.

Chiến tranh nóng liên quan đến Greenland đang chuyển thành chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Liên Âu. Trong khi đó, Trung Quốc kêu gọi Mỹ ngừng sử dụng cái gọi là “mối đe dọa từ Trung Quốc” làm lý do để áp thuế đối với các quốc gia châu Âu, những nước đã phản đối kế hoạch mua lại Greenland của Trump.

Cuối năm 2018, Trump yêu cầu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, xem xét một ý tưởng do một doanh nhân nổi tiếng đưa ra: Liệu Hoa Kỳ có nên mua Greenland hay không. Bolton nói, ông không xem xét vấn đề này. Ông nhớ lại mình đã nói: “Chúng ta có những lợi ích chiến lược quan trọng ở đó”.

Theo cựu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, doanh nhân đề nghị Donald Trump mua Greenland là Ronald Lauder, người thừa kế tập đoàn Mỹ phẩm Estée Lauder. Ông Lauder đưa ra ý tưởng này cho Trump trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên. Lauder là một người bạn lâu năm của Trump và là một nhà tài trợ lớn, đã đề nghị làm trung gian liên lạc với chính phủ Đan Mạch để đàm phán, mặc dù sau đó Trump lại nhận ý tưởng này là của mình.

Khi báo Wall Street Journal đăng tải câu chuyện này hồi tháng 8 năm 2019, “mọi chuyện bắt đầu tệ đi từ đó,” Bolton nhớ lại. Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen gọi ý tưởng mua Greenland của Trump là “vô lý”. Trump gọi tuyên bố của thủ tướng là “xấu xa” và “không phù hợp”. Trump bảo Bolton hủy chuyến thăm Copenhagen.

Tuy nhiên, tám năm sau, việc Trump theo đuổi Greenland đã trở thành trọng tâm trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông. Trong những ngày gần đây, ông đã tăng cường áp lực lên các nhà lãnh đạo châu Âu nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo lớn nhất thế giới này cho Hoa Kỳ.

Trump là một người có mong tham vọng bành trướng lãnh thổ và việc chiếm Greenland nằm trong tham vọng đế quốc này. James Polk, tổng thống thứ 11 của Mỹ, vào giữa thế kỷ 19, đã thực hiện mở rộng lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trump đã treo bức chân dung của Polk trong Phòng Bầu Dục.

James Polk đã mở rộng lãnh thổ nước Mỹ một cách đáng kể thông qua việc theo đuổi mạnh mẽ học thuyết “Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny), bằng cách sáp nhập Texas, giải quyết vấn đề biên giới Oregon với Anh và giành chiến thắng trong Chiến Tranh Mỹ-Mexico, dẫn đến việc Mexico nhượng lại California, New Mexico và nhiều vùng lãnh thổ khác, mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và thêm vào diện tích hơn một triệu dặm vuông.

Thế kỷ 21 hoàn toàn khác biệt với thế kỷ 19. Điều đáng sợ là Trump không có kiến thức về lịch sử. Các nhà phê bình và các sử gia thấy rõ điều này qua những phát ngôn sai lầm của Trump về các nhân vật như Lincoln (không biết ông ấy là đảng viên Cộng Hòa), hay Nhà Trắng từng bị Canada, không phải Anh, đốt cháy và sự thiếu hiểu biết về các sự kiện phức tạp như nội chiến Mỹ. Ông từng mạnh mẽ bảo vệ các biểu tượng của Liên Minh Miền Nam và tấn công các dự án nghiên cứu lịch sử về vấn đề chủng tộc.

Sau khi thắng cử năm 2024, ngay lập tức Trump hướng sự chú ý đến việc mua lại Greenland của Đan Mạch, theo những người tham gia vào các cuộc thảo luận. Trump ám chỉ rằng nếu Đan Mạch không từ bỏ quyền kiểm soát Greenland, ông có thể sẽ dùng vũ lực để chiếm lấy.

Theo các thỏa thuận của NATO, Hoa Kỳ có thể đóng quân và triển khai các khí tài quân sự ở Greenland tùy thích. Việc chiếm Greenland không dễ và không cần thiết. Trump đang làm cho mối quan hệ của Hoa Kỳ với các đồng minh thân cận nhất trở nên xấu đi và bắt đầu một cuộc chiến thương mại tàn khốc.

Cuối tuần qua, hàng ngàn người tập trung trước Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Copenhagen của Đan Mạch và thủ đô Nuuk của Greenland để biểu tình phản đối tham vọng đế quốc của Trump đối với Greenland. Một số người đội những chiếc mũ đỏ nhại lại khẩu hiệu nổi tiếng MAGA với dòng chữ “Make America Go Away” (Làm cho Mỹ biến đi).

Nếu Trump có chiếm được Greenland (xác suất 0%), an ninh của Mỹ cũng sẽ bị suy yếu vì Mỹ có thể mất các căn cứ ở lục địa Âu châu, mất luôn cả hai nước láng giềng gần, mất cả sự tin cậy của đồng minh. Sau canh bạc này, Trump và Mỹ trắng tay, khó có thể khôi phục lại NATO như xưa. Đó là cái giá phải trả vì dân Mỹ đưa một nhân vật đần độn và điên khùng lên làm tổng thống.

Nếu Trump phải chiếm Greenland vì an ninh của Mỹ, Nga cũng sẽ nêu lý do tương tự để chiếm Ukraine, và Trung Quốc cũng có cớ để chiếm Đài Loan. Ảnh hưởng dây chuyền sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng. Sau Greenland sẽ là Canada và Mexico. Sau Ukraine sẽ là các nước Baltic. Sau Đài Loan sẽ là Việt Nam và Phi Luật Tân. Tóm lại, cá lớn sẽ nuốt cá bé và thế giới sẽ hỗn loạn.

Các dân biểu Cộng Hòa thường không muốn công khai phản đối tổng thống, người đã nhiều lần kêu gọi loại bỏ những người bất đồng chính kiến ​​trong đảng khỏi chức vụ. Sau nhiều cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy, hầu hết công chúng Mỹ phản đối việc mua Greenland hay chiếm hòn đảo này bằng võ lực. Các nhà lập pháp Cộng Hòa đã thay nhau chỉ trích ý kiến điên rồ của Trump.

Thượng nghị sĩ Thom Tillis (Cộng Hòa, North Carolina) phát biểu trong bài diễn thuyết trước Thượng viện tuần vừa qua: “Ý nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ chiếm Greenland, một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch, là điều vô lý. Ai đó cần phải nói với tổng thống rằng người dân Greenland, cho đến thời điểm hiện tại, thực sự rất ủng hộ Mỹ và rất ủng hộ sự hiện diện của Mỹ”.

Dân biểu Don Bacon (Cộng Hòa, Nebraska) nói với báo Omaha World-Herald: “Nếu ông ta thực hiện những lời đe dọa đó, tôi nghĩ đó sẽ là dấu chấm hết cho nhiệm kỳ tổng thống của ông ta. Và ông ta cần phải biết: Lối thoát duy nhất là nhận ra rằng Đảng Cộng Hòa sẽ không dung thứ cho điều này và ông ta sẽ phải lùi bước. Ông ta ghét bị từ chối, nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ Đảng Cộng Hòa cần phải kiên quyết”.

“Với tư cách là người đứng đầu phái đoàn Hoa Kỳ tại [Hội đồng Nghị viện NATO], tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương của chúng ta”, dân biểu Mike Turner (Cộng Hòa, Ohio) viết trên X. “Chúng ta phải tôn trọng chủ quyền của người dân Đan Mạch và Greenland”.

Trong một cuộc phỏng vấn với CNN tuần trước, Thượng nghị sĩ John Kennedy (Cộng Hòa, Louisiana) cho biết: “Việc xâm lược Greenland và tấn công chủ quyền của một quốc gia thành viên NATO khác sẽ là hành động cực kỳ ngu ngốc. Tổng thống Trump không phải là người ngu ngốc đến mức đó”.

Ngày nào Trump còn ngồi trong phòng bầu dục, ngày đó dân Mỹ còn khốn khổ với những vấn đề cơm áo gạo tiền, ngoài ra còn phải lo những chuyện biến động trên thế giới do chính Trump gây ra, mặc dù ông hứa không can thiệp vào chuyện của các nước khác để lo cho dân Mỹ. Cử tri Mỹ có cơ hội trục xuất Trump ra khỏi Nhà Trắng vào tháng 11 sắp tới.

__________

Tham khảo:

– Chris Stein, “Republican dissent as key figures warn Trump against Greenland pursuit”. The Guardian, January 17, 2026.

– Meridith McGraw, Alex Leary, Josh Dawsey, “Why an Emboldened Trump Set His Sights on Greenland”. WSJ, January 19, 2026.

– James C. Reynolds, “Trump links Greenland pursuit to Nobel Peace Prize snub in extraordinary letter to Norway’s PM”. The Independent, January 19, 2026.

– Jeffrey Gettleman, Henrik Pryser Libell, “Trump Links His Push for Greenland to Not Winning Nobel Peace Prize”. New York Times, January 19, 2026.

– Ellen Francis, Steve Hendrix, “Trump ties Greenland takeover bid to Nobel Prize in text to Norway leader”. Washington Post, January 20, 2026.

– Anne Applebaum, “Trump’s Letter to Norway Should Be the Last Straw”. The Atlantic, January 19, 2026.

https://baotiengdan.com/…/trump-khong-co-giai-thuong…/

Tiếng Dân News

News & media website


 

Trump đối mặt lời kêu gọi phế truất sau khi gửi thư ‘bắt đền’ thủ tướng Na Uy

Ba’o Nguoi-Viet

January 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Thượng Nghị Sĩ Ed Markey (Dân Chủ-Massachussetts), người sẽ phải trải qua kỳ bầu cử sơ bộ trước đối thủ cùng đảng trong năm nay, kêu gọi phế truất Tổng Thống Donald Trump theo Tu Chính Án thứ 25 sau khi ông Trump “bắt đền” thủ tướng Na Uy.

Trong thư, ông Trump thừa nhận rằng ông có lẽ sẽ không gây áp lực buộc Đan Mạch nhượng lại Greenland nếu ông được Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Nobel Hòa Bình năm 2025, theo báo mạng The Hill hôm Thứ Ba, 20 Tháng Giêng.

Thượng Nghị Sĩ Ed Markey phát biểu tại một buổi họp báo tại Quốc Hội hồi Tháng Năm, 2025. (Hình minh họa: Kayla Bartkowski/Getty Images)

“Hãy vận dụng Tu Chính Án thứ 25,” ông Markey viết trên mạng xã hội bên cạnh hình ảnh bài báo của nhật báo The New York Times đưa tin ông Trump liên kết việc ông đòi thâu tóm Greenland với việc không được trao giải Nobel trong một tin nhắn gửi cho lãnh đạo Na Uy, Thủ Tướng Jonas Gahr Store.

NYT đưa tin rằng ông Store nhận được một lá thư từ ông Trump hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Giêng, trong đó ông nói thẳng rằng việc ông không được giải Nobel thúc đẩy ông có thái độ quyết liệt đòi chiếm Greenland, vùng lãnh thổ của Đan Mạch.

Trong thư trả lời, Thủ Tướng Store nói rằng chính phủ Na Uy không có quyền hạn gì trong việc trao giải Nobel, và Ủy Ban Nobel Na Uy hoạt động độc lập với chính phủ.

Lời kêu gọi này của ông Markey về việc vận dụng Tu Chính Án 25 để phế truất ông Trump có thể sẽ không đi đến đâu.

Làm như vậy sẽ đòi hỏi Phó Tổng Thống JD Vance và đa số thành viên nội các của ông Trump phải chuyển đến Quốc Hội tuyên bố rằng tổng thống không thể thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo chức trách của mình.

Sau đó, ngay lập tức quyền lực sẽ được chuyển giao cho phó tổng thống.

Tu Chính Án 25 yêu cầu Quốc Hội phê chuẩn quyết định phế truất ông Trump trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ phó tổng thống và nội các.

Quyết định này cần được đa số tuyệt đối, tức hai phần ba lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Nếu không, tổng thống sẽ vẫn nắm quyền.

Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ Ed Markey không phải là thành viên Quốc Hội duy nhất kêu gọi phế truất ông Trump.

 “Tổng thống Mỹ bị tâm thần nghiêm trọng và điều đó đang khiến tất cả tính mạng của chúng ta gặp nguy hiểm. Có Tu Chính Án thứ 25 là có lý do của nó – chúng ta cần vận dụng nó ngay lập tức,” Dân Biểu Yassamin Ansari (Dân Chủ-Arizona) viết trên X trong khi chia sẻ bức thư ông Trump gửi cho Thủ Tướng Store.

Trong một diễn biến khác, Tiến Sĩ Jonathan Reiner, bác sĩ tim của cố phó Tổng Thống Dick Cheney, hôm Thứ Hai kêu Quốc Hội mở điều tra khả năng thực thi chức vụ của ông Trump.

“Bức thư này, và thực tế là tổng thống đã chỉ đạo nó, được gửi đến các nước Châu Âu khác, cần kích hoạt một cuộc điều tra lưỡng đảng của Quốc Hội về khả năng thực thi chức vụ của tổng thống,” ông Reiner viết trên X. (NNL) [đ.d.]


 

Một người đàn ông chỉ học hết lớp 8, đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi

Tony Nguyễn

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: “Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này.”

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: “Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng.”

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về “quyền được trợ giúp pháp lý”. Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là “cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng”. Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: “Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại.”

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời “bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn”—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: “Điều này không đúng.”

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.