ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN


 

Gửi người nào tìm thấy Max -Truyen ngan HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị

Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày, và không có gì tôi làm có thể an ủi được nó cho đến khi chúng tôi tìm thấy mẩu giấy được giấu bên trong vòng cổ của nó.

Tên nó là Max. Ít nhất thì vòng cổ ghi như vậy. Một con chó lai giống Pit Bull, khoảng ba tuổi, được nhân viên kiểm soát động vật đưa đến vì bị lạc.

Nhưng Max không phải là một con chó lạc bình thường. Nó không sợ người. Nó không hung dữ. Nó không bị ốm hay bị thương.

Nó đang đau khổ tột cùng.

Tôi là Sarah, và tôi đã làm việc tại Trại cứu hộ động vật của quận được mười một năm. Tôi đã thấy hàng nghìn con chó đi qua cánh cửa này. Những con chó vui vẻ. Những con chó ốm yếu. Những con chó hung dữ. Những con chó sợ hãi. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một con chó nào giống như Max.

Nó không ăn. Không uống. Chỉ ngồi ở góc chuồng, úp mặt vào tường, hai chân che mắt, phát ra những tiếng khóc đau lòng nhất mà tôi từng nghe.

“Nó đã như vậy ba ngày rồi,” đồng nghiệp Jenny nói với tôi vào ngày đầu tiên tôi trở lại làm việc sau kỳ nghỉ. “Chúng tôi đã thử mọi cách. Thức ăn. Bánh thưởng. Đồ chơi. Nó thậm chí không thèm nhìn chúng tôi.”

Tôi đi đến chuồng của Max. Nó đúng như Jenny mô tả. Cuộn tròn trong góc, mặt giấu đi, cơ thể run rẩy với những tiếng nức nở thầm lặng.

“Chào con,” tôi nói nhẹ nhàng. “Không sao đâu. Con an toàn ở đây rồi.”

Nó không cử động. Không hề phản ứng lại tôi. Chỉ tiếp tục khóc.

Tôi ngồi xuống sàn bên ngoài chuồng của nó. “Ta biết con đang buồn. Ta biết con nhớ ai đó. Nhưng con phải ăn gì đó chứ, được không? Con phải uống nước.”

Không có chút động tĩnh gì.

Tình trạng này kéo dài thêm ba ngày nữa. Max không chịu ăn. Chúng tôi phải truyền dịch cho nó để giữ cho nó sống sót. Bác sĩ thú y đã khám kỹ lưỡng cho nó. Không có vết thương. Không có bệnh tật. Chỉ là một trái tim tan vỡ.

“Nếu nó không bắt đầu ăn vào ngày mai, chúng ta sẽ phải đưa ra quyết định,” giám đốc trại cứu hộ nói với tôi vào ngày thứ sáu. Mắt bà ấy đỏ hoe. Bà ấy đã khóc. “Chúng ta không thể để nó chịu đựng như thế này.”

Tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Nếu Max đã từ bỏ cuộc sống, chúng tôi không thể ép buộc nó sống trong đau khổ. Đêm đó, tôi ở lại muộn. Ngồi bên ngoài chuồng của Max và chỉ nói chuyện với nó. Về mọi thứ. Về những chuyện không đâu. Về con chó của tôi đã chết vì ung thư hai năm trước. Về việc tôi hiểu nỗi đau mất mát. Về việc tôi biết cảm giác muốn bỏ cuộc là như thế nào.

“Nhưng con không thể bỏ cuộc, Max,” tôi thì thầm. “Ai đó ngoài kia có thể cần con. Ai đó có thể đang tìm kiếm con ngay lúc này.”

Lần đầu tiên sau sáu ngày, Max ngẩng đầu lên. Chỉ một chút thôi. Mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là đôi mắt buồn nhất mà tôi từng thấy. Màu nâu. Sâu thẳm. Tràn đầy nỗi đau không thể chịu đựng nổi.

Rồi nó lại úp mặt vào góc chuồng.

Tôi quyết định thử một cách khác. Tôi bước vào chuồng của nó. Chậm rãi. Cẩn thận. Tôi chưa bao giờ làm điều này với một con chó mà tôi không quen biết, nhưng có điều gì đó mách bảo tôi rằng Max sẽ không làm hại tôi.

Nó không di chuyển khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Không giật mình khi tôi nhẹ nhàng chạm vào lưng nó.

“Không sao đâu, con. Dù chuyện gì đã xảy ra, buồn cũng không sao cả.”

Đó là lúc tôi cảm nhận được điều đó. Chiếc vòng cổ của nó dày. Quá dày. Tôi nhìn kỹ hơn. Có thứ gì đó được may bên trong lớp vải. Thứ gì đó làm cho chiếc vòng cổ trở nên cồng kềnh.

Với đôi tay run rẩy, tôi cẩn thận kiểm tra chiếc vòng cổ. Có một vết rách nhỏ ở lớp lót bên trong. Tôi nhẹ nhàng kéo nó ra.

Một mảnh giấy rơi ra.

Tôi mở nó ra bằng những ngón tay run rẩy. Đó là chữ viết tay. Mực bị nhòe như thể ai đó đã khóc khi viết nó.

“Gửi người nào tìm thấy Max –

Tôi tên là Daniel Peterson. Tôi 73 tuổi và mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho tôi biết tôi chỉ còn sống được hai tháng nữa. Tôi không có gia đình. Không có ai ngoài Max.

Max là người bạn thân nhất của tôi suốt ba năm qua. Nó là lý do tôi thức dậy mỗi sáng. Lý do tôi tiếp tục chiến đấu. Lý do tôi mỉm cười vượt qua nỗi đau.

Nhưng tôi không thể chăm sóc nó nữa. Ngày mai tôi sẽ vào viện dưỡng lão. Ở đó không cho phép nuôi chó. Tôi không đủ tiền để gửi nó ở trại nuôi chó. Tôi không có ai để gửi gắm nó.

Vì vậy, tôi đang làm điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Tôi đang để nó đi.

Tôi lái xe đưa Max đến một khu phố đẹp và thả nó ra. Tôi bảo nó ở lại. Hãy ngoan ngoãn. Hãy tìm một gia đình mới yêu thương nó như tôi.

Nó không hiểu. Nó cố gắng chạy theo xe của tôi. Tôi phải lái xe đi trong khi nó vẫn chạy theo phía sau. Tiếng khóc của nó là điều tôi sẽ nghe thấy cho đến khi chết.

Tôi là một kẻ hèn nhát. Lẽ ra tôi nên đưa nó đến trại cứu hộ chó. Nhưng tôi không thể làm được. Không thể bỏ đi khi nó đang nhìn tôi. Không thể là người nhốt nó vào lồng.

Làm ơn, bất cứ ai tìm thấy Max, hãy yêu thương nó. Nó là con chó tốt nhất trên thế giới. Nó trung thành. Nó hiền lành. Nó thông minh. Nó thích chơi bóng tennis, thích ngủ dưới ánh nắng mặt trời và thích đi xe ô tô với cửa sổ mở.

Nó đang đau khổ vì tôi. Tôi biết điều đó. Nó không hiểu tại sao tôi lại bỏ rơi nó. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi xin lỗi. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi yêu nó hơn bất cứ điều gì. Làm ơn hãy nói với nó rằng không sao cả nếu nó yêu thương một người khác.

Tôi đã khâu lá thư này vào vòng cổ của nó vì tôi biết nếu ai đó tìm thấy nó, họ sẽ thắc mắc tại sao một con chó tốt như vậy lại hành động đau khổ đến vậy. Bây giờ thì bạn đã biết rồi.

Thức ăn yêu thích của nó là thịt gà. Nó có một con gấu bông nhồi bông để ngủ cùng – tôi không thể mang nó theo vì tôi không muốn nó làm mất. Nó biết các lệnh: ngồi, đứng yên, bắt tay, nằm xuống. Nó đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ. Nó chưa bao giờ cắn ai. Nó rất hoàn hảo.

Làm ơn hãy cho nó một cơ hội. Xin đừng giết nó chỉ vì nó buồn. Nó chỉ cần thời gian. Và tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu thương.

Cảm ơn vì đã tìm thấy nó. Cảm ơn vì đã đọc bức thư này. Cảm ơn vì đã cho nó cuộc sống mà tôi không thể cho nó nữa.

Hãy nói với Max rằng Danny yêu nó. Luôn luôn.

Daniel Peterson”

Tôi khóc nức nở. Không thể thở được. Không thể nhìn thấy gì qua những giọt nước mắt. Max đã bị bỏ rơi bởi người mà nó yêu thương nhất trên thế giới. Nó không hiểu tại sao. Nó đang chờ Danny quay lại. Khóc vì Danny. Đau buồn vì Danny.

“Ôi Max,” tôi thì thầm. “Ôi con ơi. Ông ấy không muốn bỏ rơi con. Ông ấy buộc phải làm vậy. Ông ấy yêu con rất nhiều.”

Max quay lại. Nhìn tôi. Thấy tôi đang khóc. Và lần đầu tiên sau sáu ngày, nó tiến lại gần một người thay vì tránh xa.

Nó đặt đầu vào lòng tôi. Và nó khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc.

Tôi ôm Max suốt đêm. Đọc bức thư cho nó nghe hết lần này đến lần khác. “Danny yêu con. Ông ấy rất xin lỗi. Ông ấy muốn con được hạnh phúc. Ông ấy muốn con tìm được một gia đình mới.”

Sáng hôm sau, tôi mang thịt gà đến. Món ăn yêu thích của Max. Tôi ngồi trong chuồng của nó và đưa cho nó ăn.

Nó ăn. Không nhiều. Nhưng nó đã ăn.

Tiến triển tốt.

Trong tuần tiếp theo, Max dần dần hồi phục. Nó bắt đầu ăn uống đều đặn. Bắt đầu uống nước. Bắt đầu nhận biết mọi người. Nhưng  nó vẫn có đôi mắt buồn bã ấy.

Tôi gọi điện đến tất cả các viện dưỡng lão trong khu vực. Cuối cùng cũng tìm thấy nơi mà Daniel Peterson đang ở.

“Tôi rất tiếc,” y tá nói với tôi. “Ông Peterson đã qua đời bốn ngày trước. Một cách thanh thản. Ông ấy cứ hỏi về con chó của mình. Muốn biết liệu có ai tìm thấy nó không. Chúng tôi nói với ông ấy rằng có, có người đã tìm thấy nó. Ông ấy mỉm cười và nói ‘tốt’.” Đó là những lời cuối cùng của ông ấy.”

Tôi cúp máy và khóc suốt một tiếng đồng hồ. Sau đó tôi đến chuồng của Max. Ngồi xuống bên cạnh nó.

“Danny đã ra đi rồi, con ạ. Ông ấy không bỏ rơi con vì không yêu con. Ông ấy bỏ rơi con vì yêu con quá nhiều. Ông ấy muốn con có một cuộc sống tốt hơn. Hạnh phúc hơn. Được yêu thương nhiều hơn.”

Max nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã ấy. Và tôi đã đưa ra một quyết định.

“Con sẽ về nhà với ta.”

Tôi nhận nuôi Max ngày hôm đó. Đưa nó về nhà. Cho nó xem sân vườn. Chiếc ghế sofa. Chiếc giường. Mua cho nó một con gấu bông giống hệt con gấu mà Danny đã mô tả.

Max mang con gấu đó đi khắp mọi nơi trong nhiều tháng. Ngủ cùng nó. Khóc vào nó. Dần dần vết thương lòng cũng lành lại.

Đã hai năm rồi. Max vẫn có những khoảnh khắc buồn bã. Thỉnh thoảng nó vẫn ngồi ở góc nhà và khóc. Nhưng giờ nó cũng chơi đùa. Chạy nhảy. Âu yếm. Yêu thương.

Tuần trước, tôi đưa Max đến thăm mộ của Danny. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mộ ông ấy sau nhiều tháng tìm kiếm. Max ngửi bia mộ. Nằm xuống bên cạnh. Đặt đầu lên hai chân trước.

“Danny, nếu ông đang nghe thấy, Max vẫn ổn,” tôi nói to. “Nó được yêu thương. Nó an toàn. Hầu hết các ngày nó đều hạnh phúc. Nó nhớ ông. Cả hai chúng tôi đều biết nó sẽ không bao giờ ngừng nhớ ông.” “Nhưng nó đang sống cuộc sống mà ông muốn dành cho nó.”

Max ngước nhìn bầu trời. Cái đuôi của nó vẫy một lần. Rồi hai lần. Như thể nó nghe thấy điều gì đó mà tôi không nghe thấy.

Chúng tôi ở đó khoảng một tiếng. Sau đó Max đứng dậy, rũ người và đi về phía xe. Nó ngoảnh lại nhìn một lần. Rồi nó nhảy vào xe và chờ đợi cuộc phiêu lưu tiếp theo của chúng tôi.

Lá thư của Danny giờ được đóng khung trong phòng khách của tôi. Thỉnh thoạt tôi đọc nó cho Max nghe. Nhắc nhở nó về nguồn gốc của nó. Về việc nó được yêu thương nhiều như thế nào. Về việc người chủ đầu tiên của nó đã từ bỏ tất cả để Max có được mọi thứ.

Max giờ là người bạn thân nhất của tôi. Người bạn đồng hành không thể thiếu của tôi. Là lời nhắc nhở tôi rằng tình yêu không kết thúc chỉ vì cuộc sống kết thúc.

Nếu bạn đang đọc bài này và bạn đang ở trong hoàn cảnh giống như Danny, làm ơn đừng bỏ rơi con chó của bạn. Hãy tự mình đưa chúng đến trại cứu hộ. Hãy nói lời tạm biệt một cách đàng hoàng. Hãy cho chúng thấy rằng bạn yêu chúng ngay cả khi bạn phải rời xa chúng. Hãy viết một lá thư giải thích câu chuyện của chúng.

Bởi vì Max đã trải qua sáu ngày nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó sai. Nghĩ rằng Danny không còn muốn nó nữa. Không con chó nào phải chịu đựng nỗi đau đó.

Và nếu bạn đang đọc bài này và bạn làm việc tại một trại cứu hộ, hãy kiểm tra vòng cổ. Kiểm tra kỹ lưỡng. Đôi khi có một câu chuyện được giấu bên trong giải thích tất cả mọi thứ.

Max chưa bao giờ là một con chó bị tổn thương. Nó là một con chó đang đau buồn. Có sự khác biệt.

Nó chỉ cần ai đó hiểu nỗi đau của nó. Cho nó thời gian. Để cho nó thấy rằng việc yêu thương trở lại là điều bình thường.

Danny đã tặng tôi món quà tuyệt vời nhất khi giấu lá thư đó trong vòng cổ của Max. Ông ấy đã tặng Max cho tôi. Và Max, ngược lại, đã cứu tôi khỏi nỗi đau của chính mình.

Chúng tôi đã cứu nhau. Giống như Danny đã hy vọng.

ST


 

THAY HỌ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi!”.

“Căn tính của chúng ta không ở những gì chúng ta làm hay không làm, hay những gì xảy ra với mỗi người. Căn tính ấy được tìm thấy nơi Đức Giêsu Kitô!” – Abel Damina.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu căn tính của chúng ta chỉ được tìm thấy nơi Đức Giêsu Kitô, thì Lời Chúa hôm nay nói rõ: chỉ khi sống theo ý Chúa Cha như Ngài, chúng ta mới thuộc về Ngài. Và như vậy, trong Chúa Kitô, chúng ta được ‘thay họ’, đổi tên!

Đổi tên, ‘thay họ’, đặt chúng ta trước một sự thật không dễ chịu: có những ràng buộc rất thật, rất thân, rất thiêng liêng, nhưng không đủ để làm nên chỗ thuộc về cuối cùng. Đứng ngoài hay ngồi trong không còn là vấn đề khoảng cách, mà là vấn đề căn tính vốn không đến từ nơi sinh ra, mà từ ý muốn của Thiên Chúa được đón nhận hay khước từ. “Không có gì trong tôi là nguyên bản. Tôi là nỗ lực kết hợp của tất cả những ai tôi từng biết!” – Chuck Palahniuk.

Nói cách khác, theo Chúa không chỉ là thêm một mối quan hệ vào đời mình, mà là để mối quan hệ đó “định hình các mối quan hệ khác!”. Từ nay, tôi không còn được định danh “con của ai”, “thuộc nhóm nào”, “đứng về phía nào”; nhưng điều quan trọng là “ai đang dẫn dắt đời tôi mỗi ngày?”. “Căn tính đích thực là món quà của Thiên Chúa, một khám phá đầy ngạc nhiên, rồi là một lựa chọn cam kết!” – David Powlison. Chính tại đây, một đứt gãy âm thầm xảy ra: những gì từng cho chúng ta cảm giác an toàn bắt đầu mất quyền quyết định; những gì từng dẫn đường bắt đầu bị đặt lại; và chúng ta phải học cách bước đi khi không còn bản đồ.

Nhưng ‘thay họ’ không phải là biến cố xảy ra một lần. Đó là một tiến trình kéo dài, lặp đi lặp lại trong những chọn lựa rất nhỏ: giữ hay buông, nói hay im, ở lại hay rút lui, trung thành hay thoả hiệp. Mỗi lần chọn theo ý Chúa thay vì ý riêng, là mỗi lần chúng ta để cho cái tên mới được khắc sâu thêm vào đời sống. Vì thế, có những ngày chúng ta cảm thấy mình lạc lõng ngay trong những nơi rất quen thuộc, vì căn tính mới không còn khớp với khuôn mẫu cũ. Theo nghĩa đó, làm môn đệ không chỉ là học theo Chúa, mà là chấp nhận để đời mình được định danh lại – thêm một lần nữa, ‘thay họ!’.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã chấp nhận mang họ của chúng ta: họ phàm nhân, họ tội lỗi, họ bị loại trừ. Trên thập giá, Ngài đứng vào chỗ của những kẻ không còn tên, để chúng ta được gọi bằng danh của Chúa Con; Ngài không chỉ dạy ý muốn của Cha, mà sống trọn ý muốn ấy cho đến cùng. “Cái chết của Chúa Kitô mang tính thế mạng… Ngài nhận lấy chỗ của chúng ta!” – Sinclair Ferguson. Vì thế, mỗi khi chấp nhận để ý muốn Thiên Chúa dẫn dắt, chúng ta không bước một mình, nhưng bước trong cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô – Đấng đã đổi phận, để chúng ta có thể ‘thay họ’, đổi tên, và thật sự thuộc về Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con nghe nhiều tiếng, cho con nhận ra tiếng Chúa; khi con đứng giữa ngã ba, cho con chọn theo ý Ngài; khi con mệt nhoài, cho con chọn ở lại!”. Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần III Thường Niên

Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô Mc 3,31-35

31 Khi ấy, mẹ và anh em Đức Giê-su đến, đứng ở ngoài, cho mời Người ra. 32 Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người. Có kẻ nói với Người rằng : “Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy !” 33 Nhưng Người đáp lại : “Ai là mẹ tôi ? Ai là anh em tôi ?” 34 Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói : “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. 35 Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi.”


 

Thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ – Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 vị thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ, mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thu 2: 26/01/2026. (t4-22)

Mời bạn nghe bài nhạc tân cổ, hay quá! Tình Chúa tình người nối nhịp con tim…, Gai càng nhọn lời ca càng thánh thót…

Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôtê thì giống như của một giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng Thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng phúc âm và chịu đau khổ.

 Thánh Timôtê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân “hỗn hợp”, nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô Giáo. Sau đó, Timôtê được Thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và Thánh Phalô cùng sáng lập Giáo Hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với Thánh Phaolô, Timôtê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được Thánh Phaolô gửi đi truyền giáo — thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà Thánh Phaolô thành lập.

    Khi Timôtê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôtê cũng bị tù (Do Thái 13:23). Và Thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôtê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô. Timôtê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. (“Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung” Thánh Phaolô viết trong thư I gửi Timôtê 4:12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôtê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của Thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôtê: “Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn” (1 Tim 5:23).

 Thánh Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của Thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là dân ngoại, Thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: “Khi tôi đến Troas, tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không được gặp Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia. Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách — xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến” (2 Côrintô 2:12a, 13; 7:5-6).

    Trong thư  gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô Giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.

    Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong “sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn”. Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ.

 (Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=SeLGW71zCWg

Tình Con Yêu Chúa (Tân Cổ)

GEORGE WASHINGTON VÀ KHOẢNH KHẮC ÔNG TỪ CHỐI TRỞ THÀNH VUA

My Lan Pham

Năm 1783, tại Newburgh, bang New York, George Washington đứng trước một lựa chọn có thể làm rẽ hướng lịch sử nước Mỹ.

Ông nắm trong tay sự trung thành tuyệt đối của quân đội ,đủ để chiếm lấy quyền lực tối cao. Nhưng ông đã chọn kết thúc chiến tranh và bảo vệ nền cộng hòa non trẻ, thay vì trở thành vị vua đầu tiên của nước Mỹ.

Khoảnh khắc ấy nguy hiểm hơn nhiều so với cách sách lịch sử thường kể lại.

Chiến tranh giành độc lập về cơ bản đã kết thúc, nhưng đất nước thì chưa ổn định. Quốc hội cạn tiền. Binh sĩ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không được trả lương. Sự phẫn nộ lan rộng trong quân đội. Một số sĩ quan bắt đầu bàn bạc việc kéo quân về Washington, giải tán chính quyền dân sự và trao quyền lực cho Washington như một nhà vua hoặc lãnh tụ quân sự.

Âm mưu ấy có tên gọi: Âm mưu Newburgh.

Mọi cuộc cách mạng đều có khoảnh khắc này ,nơi lý tưởng va chạm trực diện với quyền lực.

Washington hiểu rõ điều đó. Quân đội yêu mến ông. Ông đã cùng họ chịu đựng mùa đông khắc nghiệt ở Valley Forge, bệnh tật, đói khát và những thất bại cay đắng. Nếu ông muốn nắm quyền, không ai có thể ngăn cản. Nền cộng hòa khi ấy vẫn chỉ là một ý tưởng mong manh. Còn Washington thì là một con người thật, với quyền lực thật trong tay.

Ngày 15 tháng 3 năm 1783, Washington bước vào căn phòng nơi các sĩ quan đang chờ đợi.

Họ mong ông ủng hộ.

Họ mong ông nổi giận.

Họ mong ông cho phép.

Nhưng ông đã làm điều ngược lại.

Washington lên tiếng một cách điềm tĩnh. Ông bác bỏ âm mưu, nhắc nhở họ về mục tiêu của cuộc chiến và cảnh báo hậu quả nếu quân đội quay lưng lại với chính quyền dân sự. Căn phòng vẫn căng thẳng. Không ai lay chuyển.

Rồi Washington làm một điều không ai ngờ tới.

Ông lấy ra một lá thư để đọc. Ông nhìn xuống, dừng lại một chút, rồi đeo kính vào. Sau đó, ông nói chậm rãi:

“Thưa các ngài, xin hãy thứ lỗi cho tôi.

Tôi đã già đi trong sự phục vụ các ngài,

và giờ đây, đôi mắt tôi cũng không còn như trước nữa.”

Căn phòng lặng đi hoàn toàn.

Đó không phải là diễn xuất.

Đó là sự thật được nói ra đúng lúc.

Lần đầu tiên, các sĩ quan nhìn thấy cái giá của cuộc chiến hiện rõ trên chính cơ thể người chỉ huy của họ: tuổi trẻ đã mất, sức khỏe suy kiệt, một đời sống bị bào mòn bởi trách nhiệm. Washington không xin sự phục tùng. Ông nhắc họ rằng quyền lực không kiểm soát sẽ phá hủy chính điều họ đã chiến đấu để giành lấy.

Âm mưu Newburgh chấm dứt ngay trong khoảnh khắc đó.

Cuối năm ấy, Washington từ chức Tổng tư lệnh quân đội và trở về Mount Vernon. Vua George III của Anh, khi nghe tin này, đã nói rằng nếu Washington thật sự từ bỏ quyền lực, “ông ta sẽ là người vĩ đại nhất thế giới.” Đó không phải lời khen ,mà là sự kinh ngạc. Bởi quyền lực hiếm khi tự nguyện được đặt xuống.

Sau này, khi được mời làm Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, Washington chấp nhận một cách miễn cưỡng. Và rồi ông lại làm điều khác thường thêm một lần nữa: ông rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ, dù không có điều luật nào buộc ông phải làm vậy. Ông hiểu rằng ở lại lâu hơn sẽ làm suy yếu nền cộng hòa mà ông góp phần tạo dựng.

George Washington không phải con người hoàn hảo.

Ông sở hữu nô lệ.

Ông từng đưa ra những quyết định quân sự sai lầm.

Ông có thể cứng rắn đến tàn nhẫn khi cho rằng sự sống còn của quốc gia bị đe dọa.

Chính vì thế, bài học từ ông không nằm ở sự hoàn hảo ,mà ở sự kiềm chế.

Sự vĩ đại của Washington không nằm ở việc giành chiến thắng.

Nó nằm ở chỗ ông biết khi nào phải buông tay khỏi quyền lực.

Đế chế được tạo ra khi lãnh đạo bám víu quyền lực.

Cộng hòa tồn tại khi họ biết rời đi.

George Washington không được nhớ đến chỉ vì ông đã thắng một cuộc chiến.

Ông xứng đáng được nhớ đến vì, khi chiến tranh kết thúc, ông từ chối trở thành thứ mà mình đã chiến đấu để lật đổ.

Theo True Stories

My Lan Phạm


 

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

CHẾT ÊM ÁI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được!”.

“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!” – John Maxwell.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa một thế giới đã quen “sự thoải mái vốn là kẻ thù của tăng trưởng”, nhân lễ hai thánh Giám mục Timôthê và Titô, lời của Phaolô vang lên như một hồi chuông đánh thức trái tim của người môn đệ mọi thời vốn có thể đang chết – một cái ‘chết êm ái!’.

Phaolô không cảnh báo về những kẻ thù bên ngoài, nhưng về một sự nguội lạnh bên trong! Vì thế, “Phải khơi dậy đặc sủng!”. Đặc sủng không bị cướp mất, mà bị bỏ quên; bị bỏ quên đủ lâu, đức tin sẽ rơi vào tình trạng nguy biến ngấm ngầm – không đau, không phản kháng, chỉ là một cái ‘chết êm ái’ trong vùng an toàn. “Ở đâu đó trên đường đời, ta đã biến lệnh truyền – đòi giá phải trả – của Đức Kitô thành một lời mời gọi an nhàn!” – David Platt. Vậy nếu một đức tin sống dở, chết dở, ‘an toàn’ như thế thì làm sao người môn đệ có thể sống sứ vụ “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm?” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, ơn gọi môn đệ, xét cho cùng, là một lời mời bước ra khỏi những tính toán thế tục hầu tình yêu cứu độ có thể chảy qua đời mình, chảy vào thế giới.

Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu cũng không đồng tình với kiểu an toàn đó. Ngài sai các môn đệ như chiên vào giữa sói, không túi tiền, bao bị, giày dép; nghĩa là họ phải tín thác tuyệt đối vào Đấng sai mình, cho phép Tin Mừng lấy khỏi họ mọi chọn lựa khôn ngoan kiểu thế gian. Bởi lẽ, khi không còn liều mình vì Tin Mừng, rất có thể không ai còn thật sự “bước đi”; họ chỉ đang “đứng yên” trong những lối mòn đạo đức. Khi đức tin không còn được kể bằng đời sống, nó sẽ bị đẩy vào chỗ riêng tư, lịch sự; Tin Mừng – bấy giờ – không bị từ chối, chỉ bị… để yên. Và chính trong sự “để yên” đó, điều từng có sức cứu độ mất dần khả năng đánh thức lương tâm người khác – nó đang ‘chết êm ái!’. “Đức tin không được bày tỏ sẽ héo tàn; cộng đoàn không sứ vụ sẽ mất sức sống!” – Van Rheenen.

Anh Chị em,

“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!”. Nhìn lên thập giá, chúng ta hiểu rằng, ơn cứu độ không được sinh ra từ một tình yêu thoải mái, an toàn. Chúa Kitô không giữ sự sống cho riêng mình, không chấp nhận cứu độ nhân loại bằng một cái ‘chết êm ái’, nhưng trao ban đến tận cùng. Nhưng chính từ cái tận cùng ấy, sự sống được mở ra; và cũng từ sự tự hiến ấy, Hội Thánh được chào đời như “một cộng đoàn được sai đi!”. Ước gì lời của Phaolô hôm nay trở thành hồi còi thức tỉnh bạn và tôi – “Hãy khơi dậy đặc sủng!” – để đức tin không chỉ được giữ, mà được sống; không chỉ được bảo toàn, mà còn được tặng trao! “Có người muốn sống trong tiếng chuông nhà thờ; còn tôi, tôi muốn đem sứ vụ cứu độ đến tận những nơi mà vô vàn con người đang mất phương hướng!” – C.T. Studd.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin hà hơi vào tim con khi nó đang nguội lạnh; gọi con đứng dậy khi con quen ngủ yên; đừng để con chết yên ả trong những ngày tưởng là bình an!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

*****************************

Lời Chúa lễ Thánh Timôthê và Titô Giám mục, Thứ Hai, Tuần III Thường Niên

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,1-9

1 Khi ấy, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông :

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : “Bình an cho nhà này !” 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. 7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Trong lúc bão tuyết đang đến, Trump lại mỉa mai biến đổi khí hậu

Ba’o Nguoi-Viet

January 24, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump, vốn lâu nay vẫn bày tỏ hoài nghi đối với đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu, một lần nữa bác bỏ quan ngại này khi ngụ ý rằng cơn bão tuyết khổng lồ dự kiến đổ bộ lên phần lớn nước Mỹ vào cuối tuần này mâu thuẫn với hành tinh đang ấm lên, Time cho biết vào Thứ Sáu, 23 Tháng Giêng.

“Đợt lạnh kỷ lục dự kiến sẽ ảnh hưởng đến 40 tiểu bang. Hiếm khi thấy chuyện này trước đây,” ông Trump viết trên Truth Social. “Những kẻ nổi dậy môi trường có thể vui lòng giải thích – bất cứ chuyện gì xảy ra với sự ấm lên toàn cầu???”

Một người đàn ông quét tuyết trong xe của mình ở Brooklyn sau trận bão tuyết trong đêm hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái ở New York. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

Trận bão tuyết này được dự báo sẽ mang theo băng gây hại, tuyết dày và gió giật mạnh với hơn 230 triệu người trên khắp đất nước bị ảnh hưởng từ Thứ Sáu đến Thứ Hai tuần sau. Ít nhất 14 tiểu bang, cùng với thủ đô Washington, D.C., đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Tuy nhiên, các chuyên gia khí hậu cho rằng suy nghĩ mùa đông tàn khốc kiểu này có nghĩa là không có biến đổi khí hậu, như ông Trump nói, là quan niệm sai lầm.

“Là một ‘người nổi dậy môi trường’ tự hào, thật bực mình khi phải giải thích chuyện này mỗi khi mùa đông đến,” ông Christopher Callahan, giáo sư về khoa học khí hậu tại đại học Indiana University Bloomington, nói. “Trái Đất vẫn có các mùa, và chúng ta sẽ có thời tiết mùa đông bất kể chuyện gì xảy ra với biến đổi khí hậu.”

Như Giáo Sư Callahan giải thích, hành tinh nghiêng trên trục của nó, đó là lý do tại sao chúng ta có các mùa khác nhau. Và thậm chí ngay giữa biến đổi khí hậu, Trái Đất vẫn có các thay đổi thời tiết ngày qua ngày.”

“Bởi vì biến đổi khí hậu rốt cuộc là hiện tượng lâu dài, có thể có những lúc không theo quy luật; có thể có những lúc lên lúc xuống nhưng về lâu dài nhiệt độ vẫn tăng lên,” ông Callahan nói.

Các chuyên gia đồng ý rằng, trung bình, biến đổi khí hậu khiến cho mùa đông ngắn hơn và ôn hòa hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm một số hiện tượng thời tiết cực đoan – như đợt nóng, mưa lớn, lũ lụt nghiêm trọng, hạn hán, cháy rừng cực đoan và bão – dữ dội hơn và thường xuyên hơn. Một số chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu cũng có thể làm cho các cơn trận bão tuyết trở nên dữ dội hơn.

Nhưng điều mà nhà khoa học đồng ý là, khi bầu khí quyển của Trái Đất ấm lên, nó mang theo nhiều hơi ẩm hơn, dẫn đến mưa và tuyết nhiều hơn.” (NNL)


 

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Make Christianity Great As Always

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Vị giám mục người Pháp này đã dành cả cuộc đời để phục vụ người cùi tại trại phong Di Linh (Lâm Đồng) do ngài sáng lập. Cuối cùng ngài cũng nhiễm bệnh và chết như một người cùi tại chính trại phong này. Nhiều nữ tu, noi gương Đức cha Jean Cassaigne, dấn thân phục vụ tại các trại phong trên khắp đất nước Việt Nam suốt 100 năm qua.

(Hình: Khiêm Đồ Xưa)