CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

CHẾT ÊM ÁI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được!”.

“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!” – John Maxwell.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa một thế giới đã quen “sự thoải mái vốn là kẻ thù của tăng trưởng”, nhân lễ hai thánh Giám mục Timôthê và Titô, lời của Phaolô vang lên như một hồi chuông đánh thức trái tim của người môn đệ mọi thời vốn có thể đang chết – một cái ‘chết êm ái!’.

Phaolô không cảnh báo về những kẻ thù bên ngoài, nhưng về một sự nguội lạnh bên trong! Vì thế, “Phải khơi dậy đặc sủng!”. Đặc sủng không bị cướp mất, mà bị bỏ quên; bị bỏ quên đủ lâu, đức tin sẽ rơi vào tình trạng nguy biến ngấm ngầm – không đau, không phản kháng, chỉ là một cái ‘chết êm ái’ trong vùng an toàn. “Ở đâu đó trên đường đời, ta đã biến lệnh truyền – đòi giá phải trả – của Đức Kitô thành một lời mời gọi an nhàn!” – David Platt. Vậy nếu một đức tin sống dở, chết dở, ‘an toàn’ như thế thì làm sao người môn đệ có thể sống sứ vụ “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm?” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, ơn gọi môn đệ, xét cho cùng, là một lời mời bước ra khỏi những tính toán thế tục hầu tình yêu cứu độ có thể chảy qua đời mình, chảy vào thế giới.

Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu cũng không đồng tình với kiểu an toàn đó. Ngài sai các môn đệ như chiên vào giữa sói, không túi tiền, bao bị, giày dép; nghĩa là họ phải tín thác tuyệt đối vào Đấng sai mình, cho phép Tin Mừng lấy khỏi họ mọi chọn lựa khôn ngoan kiểu thế gian. Bởi lẽ, khi không còn liều mình vì Tin Mừng, rất có thể không ai còn thật sự “bước đi”; họ chỉ đang “đứng yên” trong những lối mòn đạo đức. Khi đức tin không còn được kể bằng đời sống, nó sẽ bị đẩy vào chỗ riêng tư, lịch sự; Tin Mừng – bấy giờ – không bị từ chối, chỉ bị… để yên. Và chính trong sự “để yên” đó, điều từng có sức cứu độ mất dần khả năng đánh thức lương tâm người khác – nó đang ‘chết êm ái!’. “Đức tin không được bày tỏ sẽ héo tàn; cộng đoàn không sứ vụ sẽ mất sức sống!” – Van Rheenen.

Anh Chị em,

“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!”. Nhìn lên thập giá, chúng ta hiểu rằng, ơn cứu độ không được sinh ra từ một tình yêu thoải mái, an toàn. Chúa Kitô không giữ sự sống cho riêng mình, không chấp nhận cứu độ nhân loại bằng một cái ‘chết êm ái’, nhưng trao ban đến tận cùng. Nhưng chính từ cái tận cùng ấy, sự sống được mở ra; và cũng từ sự tự hiến ấy, Hội Thánh được chào đời như “một cộng đoàn được sai đi!”. Ước gì lời của Phaolô hôm nay trở thành hồi còi thức tỉnh bạn và tôi – “Hãy khơi dậy đặc sủng!” – để đức tin không chỉ được giữ, mà được sống; không chỉ được bảo toàn, mà còn được tặng trao! “Có người muốn sống trong tiếng chuông nhà thờ; còn tôi, tôi muốn đem sứ vụ cứu độ đến tận những nơi mà vô vàn con người đang mất phương hướng!” – C.T. Studd.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin hà hơi vào tim con khi nó đang nguội lạnh; gọi con đứng dậy khi con quen ngủ yên; đừng để con chết yên ả trong những ngày tưởng là bình an!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

*****************************

Lời Chúa lễ Thánh Timôthê và Titô Giám mục, Thứ Hai, Tuần III Thường Niên

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,1-9

1 Khi ấy, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông :

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : “Bình an cho nhà này !” 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. 7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Trong lúc bão tuyết đang đến, Trump lại mỉa mai biến đổi khí hậu

Ba’o Nguoi-Viet

January 24, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump, vốn lâu nay vẫn bày tỏ hoài nghi đối với đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu, một lần nữa bác bỏ quan ngại này khi ngụ ý rằng cơn bão tuyết khổng lồ dự kiến đổ bộ lên phần lớn nước Mỹ vào cuối tuần này mâu thuẫn với hành tinh đang ấm lên, Time cho biết vào Thứ Sáu, 23 Tháng Giêng.

“Đợt lạnh kỷ lục dự kiến sẽ ảnh hưởng đến 40 tiểu bang. Hiếm khi thấy chuyện này trước đây,” ông Trump viết trên Truth Social. “Những kẻ nổi dậy môi trường có thể vui lòng giải thích – bất cứ chuyện gì xảy ra với sự ấm lên toàn cầu???”

Một người đàn ông quét tuyết trong xe của mình ở Brooklyn sau trận bão tuyết trong đêm hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái ở New York. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

Trận bão tuyết này được dự báo sẽ mang theo băng gây hại, tuyết dày và gió giật mạnh với hơn 230 triệu người trên khắp đất nước bị ảnh hưởng từ Thứ Sáu đến Thứ Hai tuần sau. Ít nhất 14 tiểu bang, cùng với thủ đô Washington, D.C., đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Tuy nhiên, các chuyên gia khí hậu cho rằng suy nghĩ mùa đông tàn khốc kiểu này có nghĩa là không có biến đổi khí hậu, như ông Trump nói, là quan niệm sai lầm.

“Là một ‘người nổi dậy môi trường’ tự hào, thật bực mình khi phải giải thích chuyện này mỗi khi mùa đông đến,” ông Christopher Callahan, giáo sư về khoa học khí hậu tại đại học Indiana University Bloomington, nói. “Trái Đất vẫn có các mùa, và chúng ta sẽ có thời tiết mùa đông bất kể chuyện gì xảy ra với biến đổi khí hậu.”

Như Giáo Sư Callahan giải thích, hành tinh nghiêng trên trục của nó, đó là lý do tại sao chúng ta có các mùa khác nhau. Và thậm chí ngay giữa biến đổi khí hậu, Trái Đất vẫn có các thay đổi thời tiết ngày qua ngày.”

“Bởi vì biến đổi khí hậu rốt cuộc là hiện tượng lâu dài, có thể có những lúc không theo quy luật; có thể có những lúc lên lúc xuống nhưng về lâu dài nhiệt độ vẫn tăng lên,” ông Callahan nói.

Các chuyên gia đồng ý rằng, trung bình, biến đổi khí hậu khiến cho mùa đông ngắn hơn và ôn hòa hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm một số hiện tượng thời tiết cực đoan – như đợt nóng, mưa lớn, lũ lụt nghiêm trọng, hạn hán, cháy rừng cực đoan và bão – dữ dội hơn và thường xuyên hơn. Một số chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu cũng có thể làm cho các cơn trận bão tuyết trở nên dữ dội hơn.

Nhưng điều mà nhà khoa học đồng ý là, khi bầu khí quyển của Trái Đất ấm lên, nó mang theo nhiều hơi ẩm hơn, dẫn đến mưa và tuyết nhiều hơn.” (NNL)


 

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Make Christianity Great As Always

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Vị giám mục người Pháp này đã dành cả cuộc đời để phục vụ người cùi tại trại phong Di Linh (Lâm Đồng) do ngài sáng lập. Cuối cùng ngài cũng nhiễm bệnh và chết như một người cùi tại chính trại phong này. Nhiều nữ tu, noi gương Đức cha Jean Cassaigne, dấn thân phục vụ tại các trại phong trên khắp đất nước Việt Nam suốt 100 năm qua.

(Hình: Khiêm Đồ Xưa)

LÁNH CHIẾN LƯỢC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê”.

Dietrich Bonhoeffer, ở tù vì chống Hitler, thấy một bạn tù không chịu chào một sĩ quan đi qua – theo luật buộc – liền nói khẽ, “Chào đi! Phải biết chọn chỗ mà chết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu, “Người lánh qua miền Galilê”. Không phải vì Chúa Giêsu sợ, nhưng vì chưa phải lúc, Ngài biết chọn chỗ mà chết. Đó là một cái ‘lánh chiến lược!’.

Việc Gioan ở tù là dấu chấm hết cho sứ vụ của một vị tiền hô; nhưng lại mở ra sứ vụ của Đấng mà vị tiền hô dọn đường. “Không ai dọn đường mà không phải hy sinh!” – A.W. Tozer. Matthêu viết rất rõ: “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng”. Khi “tiếng hô” bị trói trong ngục, Lời Nhập Thể cất tiếng giữa ngày – cùng một thông điệp – “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

Lời ấy vang lên không từ Giêrusalem phồn vinh, nhưng từ một Galilê lai tạp, nghèo nàn và bị coi thường; nơi những con người không có tiếng nói, chỉ có mồ hôi và những tấm lưới vá vội. Ấy thế, tại đó, ánh sáng được thắp lên, “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng!” – bài đọc một. Ơn cứu độ không khởi đi từ đỉnh cao quyền lực, nhưng từ những vùng trũng của phận người; không bắt đầu bằng diễn đàn, mà bằng bến thuyền và một lời gọi rất khẽ, “Hãy theo tôi!”.

Với cái nhìn mục vụ, ở đó còn có một sự khôn ngoan rất “Chúa Giêsu”. Giuđê và Giêrusalem lúc ấy căng thẳng và đầy hiểm hoạ, sẵn sàng nghiền nát bất cứ tiếng nói chói tai nào. Galilê thì khác, cởi mở, dễ đón nhận, để Lời có thể lan nhanh và bén rễ; ở đó, Chúa Giêsu gieo Lời vào những tấm lòng mềm mỏng và Lời được mang đi khắp nơi. “Lánh qua Galilê”, vì thế, là một cái ‘lánh chiến lược’, nơi “cái chết chưa được phép đến” để một Hội Thánh được mở ra!

Giữa những va chạm cuộc sống, chúng ta thường muốn đối đầu, phản ứng, chứng minh ngay. Nhưng không phải lúc nào “tiến” cũng là can đảm, và “lùi” cũng là hèn nhát! Có những lúc lùi một bước là khôn ngoan và trung tín hơn; có những im lặng không vì sợ, mà vì đang “đợi giờ của Chúa!”. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta học nơi Chúa Giêsu sự khôn ngoan của người “biết chọn chỗ mà chết”, để ánh sáng Ngài kịp bừng lên trong những “Galilê” rất tối của đời mình và đời người khác. “Không ai là kẻ ngốc khi từ bỏ điều mình không giữ được để giành lấy điều không bao giờ mất!” – Jim Elliot.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu lánh không vì sợ, nhưng vì yêu! Ngài lùi, để chúng ta có thêm một cơ hội hoán cải; Ngài trì hoãn thập giá, không phải để giữ mạng, mà để cứu thêm mạng. Galilê, đất bị coi thường, trở thành nơi Thiên Chúa khởi đầu lại với nhân loại. Và rồi, khi hạt đã được gieo đủ rộng, Ngài không lánh nữa, nhưng chường mặt lên tận thập giá. Tình yêu thật không lánh cái chết, nhưng biết ‘lánh chiến lược’ những cái chết vô ích! Tình yêu chọn đúng giờ, đúng nơi, để chết cho nhiều người được sống. “Tình yêu hy sinh mọi thứ để chúc phúc cho điều mà nó yêu thương!” – Edward Bulwer-Lytton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa đã lánh để con còn đường trở về; Chúa đã chờ để con kịp được gọi tên; xin cho con dám theo Chúa trong những chọn lựa nhỏ mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN III THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 4,12-23 

12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”


 

VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN- Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

 “Cầu nguyện là thiết lập tình bạn với Chúa, bằng cách thường xuyên trò chuyện riêng tư với Ngài, Đấng mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta.”  Đây là một trong những câu nói của thánh nữ Têrêsa thành Avila mà tôi yêu thích nhất, một người phụ nữ vô cùng thông thái.

Khi còn nhỏ, quan điểm của tôi về cầu nguyện rất cứng nhắc và khuôn mẫu.  Nhờ sự gương mẫu của cha mẹ và các thầy cô giáo Công giáo, tôi thuộc kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, kinh Hãy Nhớ, kinh Sáng Danh…  Bạn nói đến kinh nào là tôi biết kinh đó.  Tôi thuộc làu các hình thức cầu nguyện theo cấu trúc như kinh Mân Côi, đàng Thánh Giá và tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi trải qua lại quá an toàn hoặc ít đụng chạm tới những bộn bề của cuộc sống.  Tôi lấp đầy giờ Chầu Thánh Thể bằng lời kinh Mân Côi, Lectio Divina[1]  hoặc các lời nguyện và suy tôn Thánh Thể, rồi sau đó nhanh chóng kết thúc giờ cầu nguyện bằng những lời nguyện cá nhân.  Mặc dù tất cả các phương pháp cầu nguyện này đều tốt lành và hữu ích, nhưng chúng ta nên ưu tiên dành cho Chúa không gian để đáp lại. 

Không có lời cầu nguyện nào là hoàn hảo cả.  Thực tế thì đôi khi cầu nguyện có thể và trở nên lộn xộn. Giống như trong các mối quan hệ với con người, những cuộc trò chuyện có thể trở nên rối tung khi chúng ta tức giận, sợ hãi hoặc thất vọng về một tình huống hay một người nào đó.  Tôi nghĩ rằng nhiều lần chúng ta cố gắng lảng tránh những cảm xúc này trong cầu nguyện.  Chúng ta nghĩ rằng mình phải thể hiện bản thân tốt nhất, hoàn hảo nhất trước mặt Chúa, nhưng đó không phải điều Ngài mong muốn.  Chúa biết bản chất con người của chúng ta – Ngài dựng nên ra chúng ta – vì vậy chúng ta đừng sợ Ngài quay lưng lại khi chúng ta nói ra những thử thách và đau khổ của mình cho Ngài biết.  Chúa muốn chúng ta thành thật và bày tỏ hết những mỏng giòn, yếu đuối với Ngài, giống như với người bạn thân nhất.  Điều này có nghĩa là, đôi khi chúng ta có thể bước vào cầu nguyện trong cơn giận dữ với Chúa vì một điều gì đó đang diễn ra trong cuộc sống của mình, hãy cứ thế mà cầu nguyện.  Hãy kêu lên với Chúa, khóc với Chúa, và sẵn sàng để Ngài đón nhận trọn vẹn con người bạn.  Chỉ khi chúng ta thực sự chân thành với Chúa trong cầu nguyện thì mối quan hệ giữa ta với Ngài mới có thể phát triển.  Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện, đó là để củng cố mối quan hệ với Cha trên trời.

 Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc, điều này thực sự diễn ra như thế nào?  Tôi có thể nói với bạn một điều chắc chắn rằng: việc cầu nguyện của mỗi người mỗi khác, nhưng mục tiêu cuối cùng là đi vào sự hiện diện thánh thiêng của Chúa.  Tôi khuyên bạn mỗi ngày hãy dành riêng một khoảng thời gian để trò chuyện với Chúa.  Đó có thể là 30 phút trong khi đi đến nơi làm việc, 10 phút đầu tiên của buổi sáng hoặc thậm chí 20 phút trước khi đi ngủ; nhưng hãy cố gắng dành riêng khoảng thời gian cụ thể này để cầu nguyện mỗi ngày.  Bạn có thể nghĩ rằng lịch trình của mình quá bận rộn để cầu nguyện hàng ngày, nhưng thưa bạn, ngay cả Chúa Giêsu cũng dành thời gian nghỉ ngơi khỏi việc chữa bệnh, giảng dạy, rao giảng và thực hiện phép lạ để cầu nguyện.  Cách cầu nguyện tốt nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất là ở một mình với Chúa và nói chuyện với Ngài từ trái tim.  Và tôi có thể hứa rằng khi bạn dành thời gian cho những cuộc trò chuyện này với Chúa, mọi thứ khác sẽ đi đúng hướng.

 Lời khuyên khác của tôi khi bạn đi sâu hơn vào mối quan hệ với Chúa là hãy phó thác mọi sự trong cuộc sống của bạn cho Ngài.  Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2611 nói rằng: “Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa,’ nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha.  Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.”  Khi cầu nguyện, chúng ta nên trình bày mọi niềm vui, tạ ơn, thử thách, đau khổ, lo lắng và mối quan tâm, nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng và mong muốn phó thác những điều đó cho Chúa, và tin rằng Ngài có một kế hoạch cho cuộc sống của chúng ta.  Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta bơ vơ hay mãi mãi trong đau khổ vì Ngài là một Thiên Chúa nhân từ; chúng ta phải có lòng tin!  Nếu bạn đang vật lộn với tư tưởng buông bỏ hoàn toàn, tôi khuyên bạn nên đọc Kinh Cầu Tín Thác, làm tuần Cửu nhật Dâng mình cho Chúa Giêsu, hoặc thậm chí chỉ cần chiêm ngắm linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. 

 Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để củng cố sự tốt lành và cần thiết của việc cầu nguyện theo cấu trúc trong cuộc sống của chúng ta.  Tôi không đề nghị bạn từ bỏ Kinh Mân Côi hay Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì đây là những công cụ cầu nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện của chúng ta nơi Nước Trời.  Tôi muốn lưu ý rằng những công cụ thánh thiện này không phải là mục đích cuối cùng.  Tôi khuyến khích bạn mở lòng cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn lời cầu nguyện của bạn, và đừng để lời cầu nguyện theo cấu trúc trở thành phương tiện duy nhất để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.

 Lời khuyên cuối cùng của tôi là hãy cầu xin những điều lớn lao.  Không có ước muốn nào là quá lớn đối với Chúa, vì vậy hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào đặt tình yêu lên đầu, Chúa là Đấng yêu thương chúng ta luôn mong muốn tuôn đổ hồng ân dồi dào cho mỗi người chúng ta.  Khi cầu nguyện, hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Xin Chúa ban Thánh Thần của Ngài xuống trên bạn!  Xin Ngài hướng dẫn bạn khi chọn trường đại học, xin việc hoặc tìm kiếm bạn đời.  Hãy cho Chúa biết những ước muốn của bạn và lặng lẽ chờ đợi Ngài trả lời, bởi vì cầu nguyện luôn được cho là cuộc trò chuyện giữa chúng ta và Chúa, giúp tình bạn thiêng liêng triển nở.

 Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper – Chuyển ngữ: Lê Minh
Từ: Catholic Exchange

From: Langthangchieutim


 

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar

My Lan Pham

Năm 1874, chính quyền bảo một người phụ nữ hãy đứng sang một bên và để thiên nhiên quyết định ai sống, ai chết. Bà từ chối.

Mùa đông năm ấy ở British Columbia vô cùng khắc nghiệt. Trên cao trong dãy núi Cassiar, bảy mươi lăm thợ mỏ bị tuyết rơi không ngừng vùi lấp. Các lối mòn biến mất. Sông ngòi đóng băng cứng. Đường tiếp tế hoàn toàn sụp đổ.

Thức ăn cạn kiệt trước tiên. Rồi đến sức lực. Sau đó là hy vọng.

Bệnh scorbut (thiếu vitamin C) lặng lẽ xuất hiện: lợi sưng lên, răng lung lay, hút cạn sinh lực của những người vốn đã đói lả. Họ bị mắc kẹt trong bóng tối và cái lạnh, đếm từng ngày trôi qua mà không biết liệu có ai còn nhớ đến sự tồn tại của họ hay không.

Không một đội cứu hộ nào sắp đến.

Nellie Cashman nghe tin về họ ở thung lũng phía dưới. Bà là một người nhập cư gốc Ireland, vóc người nhỏ bé, điều hành một nhà trọ và cửa hàng phục vụ thợ mỏ và lữ khách. Bà đã sống một cuộc đời gian khó. Bà hiểu thế nào là đói. Thế nào là lạnh. Và thế nào là bị bỏ rơi.

Khi biết bảy mươi lăm người đàn ông đang chết dần trên núi, bà không chờ đợi giới chức hành động. Bà đi đến với họ.

Chính quyền tìm cách ngăn cản bà. Họ nói các đèo đã đóng. Họ nói tuyết quá dày. Họ nói cố gắng đi lúc này chẳng khác nào tự sát.

Họ nghĩ bà sẽ nghe lời.

Nellie không tranh cãi. Không cầu xin. Bà chỉ lặng lẽ bắt đầu tổ chức.

Bà tập hợp sáu người đàn ông sẵn sàng theo bà. Bà thu gom 1.500 pound lương thực, thuốc men và vật dụng. Không động cơ. Không máy móc nặng nề. Chỉ có xe trượt tuyết, giày đi tuyết, dây thừng và ý chí sắt đá.

Họ lên đường, lao vào một biển trắng xóa.

Suốt bảy mươi bảy ngày, núi non chống lại họ. Tuyết nuốt chửng đôi chân. Gió cắt xuyên qua cả len lẫn da thịt. Tiến lên được bao nhiêu được tính bằng từng mét ngắn ngủi. Ban đêm họ run rẩy, không biết liệu bình minh có đến hay không.

Không ít lần, những người đàn ông muốn quay lại. Không ít lần, con đường hoàn toàn biến mất.

Mỗi lần như vậy, Nellie lại nhắc họ vì sao họ ở đó. Bà nói về những gương mặt đang chờ đợi trong bóng tối. Về những người sẽ không thể sống sót thêm một tuần nếu không có cứu trợ. Bà không lớn tiếng. Không đe dọa. Bà chỉ không chấp nhận rút lui.

Cuối cùng, họ cũng đến được sườn núi cuối cùng.

Khi Nellie bước ra khỏi cơn bão và vào trại thợ mỏ, những người đàn ông tưởng rằng mình đang ảo giác. Một người phụ nữ đứng đó với thức ăn. Với thuốc men. Với chính sự sống trong tay.

Bà không dừng lại để nhận lời cảm ơn. Không đòi hỏi thù lao. Bà bắt tay vào việc ngay.

Bà cho họ ăn từ từ để cơ thể có thể hồi phục. Bà chữa trị cho người bệnh. Bà ở lại cho đến khi từng người một đủ khỏe để tự rời khỏi núi.

Bảy mươi lăm mạng người đã bước ra khỏi dãy núi ấy chỉ vì một người phụ nữ không chấp nhận từ “không thể”.

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà là Thiên thần của Cassiar. Cái tên theo bà suốt quãng đời dài và không yên nghỉ, khi bà di chuyển từ trại này sang trại khác, giúp đỡ ở bất cứ nơi nào cần.

Nellie Cashman chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý. Bà không chờ đợi sự cho phép. Bà nhìn thấy khổ đau và bước về phía nó, ngay cả khi cả thế giới bảo bà hãy quay lưng lại.

Chúng ta sống trong một thời đại thường chờ sự chấp thuận rồi mới hành động. Nellie nhắc chúng ta rằng có những khoảnh khắc không đòi hỏi sự thận trọng. Chúng đòi hỏi lòng can đảm.

Bà không được bổ nhiệm.

Bà không được cử đi.

Bà vẫn đi.

Một người hàng xóm không chịu quay mặt làm ngơ.

Một người lãnh đạo chưa từng xin được làm lãnh đạo.

Một anh hùng hiểu rằng đôi khi làm điều đúng đắn nghĩa là thách thức tất cả những ai nói rằng bạn không thể.

Chia sẻ từ Story 1

My Lan Phạm


 

HƠN CẢ CHỐNG ĐỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ nói Người mất trí”.

“Phỉ báng và vu khống nào quan trọng gì – nếu người ta sỉ nhục mình – khi lương tâm bênh vực chúng ta?” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến kẻ thù, mà nói đến người nhà; không nói đến chống đối từ bên ngoài, mà nói đến hiểu lầm từ bên trong – một nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”.

Có thể nói, sứ mệnh Chúa Cha giao đã cuốn phăng Chúa Giêsu! Với con mắt “hợp lý” của thế gian, đó là thiếu cân bằng; với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là trung tín. Thân nhân không phủ nhận điều Ngài làm, nhưng không hiểu con đường Ngài đi; vì thế, họ dễ kéo Ngài về phía an toàn. Tin Mừng cho thấy: sứ mệnh không đo bằng sự tiện lợi, và ơn gọi không đóng khung trong sự yên ổn. Chúa Giêsu không mất giờ sửa lại hình ảnh; Ngài tiếp tục làm điều phải làm. Không phải chống đối đẩy chúng ta lạc hướng, mà là khi chúng ta đổi lương tâm lấy sự yên thân. Và từ khoảnh khắc ấy, dư luận bắt đầu lèo lái cuộc đời chúng ta. “Hãy chú trọng lương tâm hơn danh tiếng. Vì lương tâm là con người thật của bạn, danh tiếng là điều người khác nghĩ về bạn!” – Mesa Selimovic.

Cái đáng sợ không là bị nói xấu, mà là đánh mất bình an. Vì thế, thử thách lớn nhất không luôn là những xung đột công khai, mà là áp lực âm thầm của việc “làm yên lòng mọi người” những muốn chúng ta “chậm lại” hoặc “bỏ cuộc”. Áp lực ấy nhiều khi khiến chúng ta rẽ khỏi đường hẹp – một thử thách ‘hơn cả chống đối!’. Trong khoảnh khắc ấy, chúng ta được hỏi: điều gì đang quyết định hướng đi của tôi – tiếng gọi của Chúa hay mong đợi của người? “Đừng làm gì trái lương tâm ngay cả khi nhà nước yêu cầu!” – Albert Einstein.

Ở đây, Mẹ Maria trở thành một điểm tựa lặng lẽ. Mẹ không tìm cách làm cho con đường của Con mình trở nên dễ chấp nhận; Mẹ chọn tin, chọn theo, và giữ ánh nhìn gắn chặt vào mầu nhiệm Chúa đang thực hiện. Mẹ dạy chúng ta yêu thương không phải là giữ người yêu trong vùng an toàn, mà là tôn trọng con đường Chúa dành cho họ, dù nó dẫn qua bóng tối.

Anh Chị em,

Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy xác phàm, mà còn mang lấy thân phận bị hiểu lầm. Bị tiếng “mất trí”, Ngài đi vào trải nghiệm cô độc sâu nhất của kiếp người, để ở đó, mặc khải căn tính thật của mình – Con Một chỉ sống bởi ý Cha! Vì thế, bị loại trừ không phá huỷ sứ mạng; trái lại, thanh luyện và đưa sứ mạng đến chỗ viên mãn trên thập giá – nơi vâng phục trở thành hy lễ cứu độ. Mỗi lần chọn lương tâm được soi sáng bởi ân sủng hơn là sự an toàn, chúng ta được thông phần vào chính sự vâng phục cứu độ ấy; đồng thời, cho phép đời mình tháp nhập vào cuộc Vượt Qua của Đấng từng trải qua nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”. “Đức tin nâng đỡ linh hồn; hy vọng tiếp sức. Kinh nghiệm bảo phải vậy; và tình yêu bảo cứ để nó diễn ra!” – Elizabeth Seton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bị hiểu lầm, cho con đừng quay lưng; khi con bị bỏ lại, cho con đừng bỏ cuộc; khi con bị xâu xé, cho con vẫn ở lại trong thánh ý Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Thân nhân của Người nói rằng Người đã mất trí.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,20-21

20 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ trở về nhà, và đám đông lại kéo đến, nên Người và các môn đệ không sao ăn uống được. 21 Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.


 

 

ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

Linh Mục Mi Trầm

 ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa..
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè.. Nguời khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo Internet