Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Trong lúc bão tuyết đang đến, Trump lại mỉa mai biến đổi khí hậu

Ba’o Nguoi-Viet

January 24, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump, vốn lâu nay vẫn bày tỏ hoài nghi đối với đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu, một lần nữa bác bỏ quan ngại này khi ngụ ý rằng cơn bão tuyết khổng lồ dự kiến đổ bộ lên phần lớn nước Mỹ vào cuối tuần này mâu thuẫn với hành tinh đang ấm lên, Time cho biết vào Thứ Sáu, 23 Tháng Giêng.

“Đợt lạnh kỷ lục dự kiến sẽ ảnh hưởng đến 40 tiểu bang. Hiếm khi thấy chuyện này trước đây,” ông Trump viết trên Truth Social. “Những kẻ nổi dậy môi trường có thể vui lòng giải thích – bất cứ chuyện gì xảy ra với sự ấm lên toàn cầu???”

Một người đàn ông quét tuyết trong xe của mình ở Brooklyn sau trận bão tuyết trong đêm hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái ở New York. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

Trận bão tuyết này được dự báo sẽ mang theo băng gây hại, tuyết dày và gió giật mạnh với hơn 230 triệu người trên khắp đất nước bị ảnh hưởng từ Thứ Sáu đến Thứ Hai tuần sau. Ít nhất 14 tiểu bang, cùng với thủ đô Washington, D.C., đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Tuy nhiên, các chuyên gia khí hậu cho rằng suy nghĩ mùa đông tàn khốc kiểu này có nghĩa là không có biến đổi khí hậu, như ông Trump nói, là quan niệm sai lầm.

“Là một ‘người nổi dậy môi trường’ tự hào, thật bực mình khi phải giải thích chuyện này mỗi khi mùa đông đến,” ông Christopher Callahan, giáo sư về khoa học khí hậu tại đại học Indiana University Bloomington, nói. “Trái Đất vẫn có các mùa, và chúng ta sẽ có thời tiết mùa đông bất kể chuyện gì xảy ra với biến đổi khí hậu.”

Như Giáo Sư Callahan giải thích, hành tinh nghiêng trên trục của nó, đó là lý do tại sao chúng ta có các mùa khác nhau. Và thậm chí ngay giữa biến đổi khí hậu, Trái Đất vẫn có các thay đổi thời tiết ngày qua ngày.”

“Bởi vì biến đổi khí hậu rốt cuộc là hiện tượng lâu dài, có thể có những lúc không theo quy luật; có thể có những lúc lên lúc xuống nhưng về lâu dài nhiệt độ vẫn tăng lên,” ông Callahan nói.

Các chuyên gia đồng ý rằng, trung bình, biến đổi khí hậu khiến cho mùa đông ngắn hơn và ôn hòa hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm một số hiện tượng thời tiết cực đoan – như đợt nóng, mưa lớn, lũ lụt nghiêm trọng, hạn hán, cháy rừng cực đoan và bão – dữ dội hơn và thường xuyên hơn. Một số chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu cũng có thể làm cho các cơn trận bão tuyết trở nên dữ dội hơn.

Nhưng điều mà nhà khoa học đồng ý là, khi bầu khí quyển của Trái Đất ấm lên, nó mang theo nhiều hơi ẩm hơn, dẫn đến mưa và tuyết nhiều hơn.” (NNL)


 

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Make Christianity Great As Always

Đức cha Jean Cassaigne (ngồi) trong một tang lễ tại Sài Gòn.

Vị giám mục người Pháp này đã dành cả cuộc đời để phục vụ người cùi tại trại phong Di Linh (Lâm Đồng) do ngài sáng lập. Cuối cùng ngài cũng nhiễm bệnh và chết như một người cùi tại chính trại phong này. Nhiều nữ tu, noi gương Đức cha Jean Cassaigne, dấn thân phục vụ tại các trại phong trên khắp đất nước Việt Nam suốt 100 năm qua.

(Hình: Khiêm Đồ Xưa)

LÁNH CHIẾN LƯỢC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê”.

Dietrich Bonhoeffer, ở tù vì chống Hitler, thấy một bạn tù không chịu chào một sĩ quan đi qua – theo luật buộc – liền nói khẽ, “Chào đi! Phải biết chọn chỗ mà chết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu, “Người lánh qua miền Galilê”. Không phải vì Chúa Giêsu sợ, nhưng vì chưa phải lúc, Ngài biết chọn chỗ mà chết. Đó là một cái ‘lánh chiến lược!’.

Việc Gioan ở tù là dấu chấm hết cho sứ vụ của một vị tiền hô; nhưng lại mở ra sứ vụ của Đấng mà vị tiền hô dọn đường. “Không ai dọn đường mà không phải hy sinh!” – A.W. Tozer. Matthêu viết rất rõ: “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng”. Khi “tiếng hô” bị trói trong ngục, Lời Nhập Thể cất tiếng giữa ngày – cùng một thông điệp – “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

Lời ấy vang lên không từ Giêrusalem phồn vinh, nhưng từ một Galilê lai tạp, nghèo nàn và bị coi thường; nơi những con người không có tiếng nói, chỉ có mồ hôi và những tấm lưới vá vội. Ấy thế, tại đó, ánh sáng được thắp lên, “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng!” – bài đọc một. Ơn cứu độ không khởi đi từ đỉnh cao quyền lực, nhưng từ những vùng trũng của phận người; không bắt đầu bằng diễn đàn, mà bằng bến thuyền và một lời gọi rất khẽ, “Hãy theo tôi!”.

Với cái nhìn mục vụ, ở đó còn có một sự khôn ngoan rất “Chúa Giêsu”. Giuđê và Giêrusalem lúc ấy căng thẳng và đầy hiểm hoạ, sẵn sàng nghiền nát bất cứ tiếng nói chói tai nào. Galilê thì khác, cởi mở, dễ đón nhận, để Lời có thể lan nhanh và bén rễ; ở đó, Chúa Giêsu gieo Lời vào những tấm lòng mềm mỏng và Lời được mang đi khắp nơi. “Lánh qua Galilê”, vì thế, là một cái ‘lánh chiến lược’, nơi “cái chết chưa được phép đến” để một Hội Thánh được mở ra!

Giữa những va chạm cuộc sống, chúng ta thường muốn đối đầu, phản ứng, chứng minh ngay. Nhưng không phải lúc nào “tiến” cũng là can đảm, và “lùi” cũng là hèn nhát! Có những lúc lùi một bước là khôn ngoan và trung tín hơn; có những im lặng không vì sợ, mà vì đang “đợi giờ của Chúa!”. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta học nơi Chúa Giêsu sự khôn ngoan của người “biết chọn chỗ mà chết”, để ánh sáng Ngài kịp bừng lên trong những “Galilê” rất tối của đời mình và đời người khác. “Không ai là kẻ ngốc khi từ bỏ điều mình không giữ được để giành lấy điều không bao giờ mất!” – Jim Elliot.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu lánh không vì sợ, nhưng vì yêu! Ngài lùi, để chúng ta có thêm một cơ hội hoán cải; Ngài trì hoãn thập giá, không phải để giữ mạng, mà để cứu thêm mạng. Galilê, đất bị coi thường, trở thành nơi Thiên Chúa khởi đầu lại với nhân loại. Và rồi, khi hạt đã được gieo đủ rộng, Ngài không lánh nữa, nhưng chường mặt lên tận thập giá. Tình yêu thật không lánh cái chết, nhưng biết ‘lánh chiến lược’ những cái chết vô ích! Tình yêu chọn đúng giờ, đúng nơi, để chết cho nhiều người được sống. “Tình yêu hy sinh mọi thứ để chúc phúc cho điều mà nó yêu thương!” – Edward Bulwer-Lytton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa đã lánh để con còn đường trở về; Chúa đã chờ để con kịp được gọi tên; xin cho con dám theo Chúa trong những chọn lựa nhỏ mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN III THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 4,12-23 

12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”


 

VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN- Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

 “Cầu nguyện là thiết lập tình bạn với Chúa, bằng cách thường xuyên trò chuyện riêng tư với Ngài, Đấng mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta.”  Đây là một trong những câu nói của thánh nữ Têrêsa thành Avila mà tôi yêu thích nhất, một người phụ nữ vô cùng thông thái.

Khi còn nhỏ, quan điểm của tôi về cầu nguyện rất cứng nhắc và khuôn mẫu.  Nhờ sự gương mẫu của cha mẹ và các thầy cô giáo Công giáo, tôi thuộc kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, kinh Hãy Nhớ, kinh Sáng Danh…  Bạn nói đến kinh nào là tôi biết kinh đó.  Tôi thuộc làu các hình thức cầu nguyện theo cấu trúc như kinh Mân Côi, đàng Thánh Giá và tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi trải qua lại quá an toàn hoặc ít đụng chạm tới những bộn bề của cuộc sống.  Tôi lấp đầy giờ Chầu Thánh Thể bằng lời kinh Mân Côi, Lectio Divina[1]  hoặc các lời nguyện và suy tôn Thánh Thể, rồi sau đó nhanh chóng kết thúc giờ cầu nguyện bằng những lời nguyện cá nhân.  Mặc dù tất cả các phương pháp cầu nguyện này đều tốt lành và hữu ích, nhưng chúng ta nên ưu tiên dành cho Chúa không gian để đáp lại. 

Không có lời cầu nguyện nào là hoàn hảo cả.  Thực tế thì đôi khi cầu nguyện có thể và trở nên lộn xộn. Giống như trong các mối quan hệ với con người, những cuộc trò chuyện có thể trở nên rối tung khi chúng ta tức giận, sợ hãi hoặc thất vọng về một tình huống hay một người nào đó.  Tôi nghĩ rằng nhiều lần chúng ta cố gắng lảng tránh những cảm xúc này trong cầu nguyện.  Chúng ta nghĩ rằng mình phải thể hiện bản thân tốt nhất, hoàn hảo nhất trước mặt Chúa, nhưng đó không phải điều Ngài mong muốn.  Chúa biết bản chất con người của chúng ta – Ngài dựng nên ra chúng ta – vì vậy chúng ta đừng sợ Ngài quay lưng lại khi chúng ta nói ra những thử thách và đau khổ của mình cho Ngài biết.  Chúa muốn chúng ta thành thật và bày tỏ hết những mỏng giòn, yếu đuối với Ngài, giống như với người bạn thân nhất.  Điều này có nghĩa là, đôi khi chúng ta có thể bước vào cầu nguyện trong cơn giận dữ với Chúa vì một điều gì đó đang diễn ra trong cuộc sống của mình, hãy cứ thế mà cầu nguyện.  Hãy kêu lên với Chúa, khóc với Chúa, và sẵn sàng để Ngài đón nhận trọn vẹn con người bạn.  Chỉ khi chúng ta thực sự chân thành với Chúa trong cầu nguyện thì mối quan hệ giữa ta với Ngài mới có thể phát triển.  Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện, đó là để củng cố mối quan hệ với Cha trên trời.

 Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc, điều này thực sự diễn ra như thế nào?  Tôi có thể nói với bạn một điều chắc chắn rằng: việc cầu nguyện của mỗi người mỗi khác, nhưng mục tiêu cuối cùng là đi vào sự hiện diện thánh thiêng của Chúa.  Tôi khuyên bạn mỗi ngày hãy dành riêng một khoảng thời gian để trò chuyện với Chúa.  Đó có thể là 30 phút trong khi đi đến nơi làm việc, 10 phút đầu tiên của buổi sáng hoặc thậm chí 20 phút trước khi đi ngủ; nhưng hãy cố gắng dành riêng khoảng thời gian cụ thể này để cầu nguyện mỗi ngày.  Bạn có thể nghĩ rằng lịch trình của mình quá bận rộn để cầu nguyện hàng ngày, nhưng thưa bạn, ngay cả Chúa Giêsu cũng dành thời gian nghỉ ngơi khỏi việc chữa bệnh, giảng dạy, rao giảng và thực hiện phép lạ để cầu nguyện.  Cách cầu nguyện tốt nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất là ở một mình với Chúa và nói chuyện với Ngài từ trái tim.  Và tôi có thể hứa rằng khi bạn dành thời gian cho những cuộc trò chuyện này với Chúa, mọi thứ khác sẽ đi đúng hướng.

 Lời khuyên khác của tôi khi bạn đi sâu hơn vào mối quan hệ với Chúa là hãy phó thác mọi sự trong cuộc sống của bạn cho Ngài.  Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2611 nói rằng: “Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa,’ nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha.  Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.”  Khi cầu nguyện, chúng ta nên trình bày mọi niềm vui, tạ ơn, thử thách, đau khổ, lo lắng và mối quan tâm, nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng và mong muốn phó thác những điều đó cho Chúa, và tin rằng Ngài có một kế hoạch cho cuộc sống của chúng ta.  Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta bơ vơ hay mãi mãi trong đau khổ vì Ngài là một Thiên Chúa nhân từ; chúng ta phải có lòng tin!  Nếu bạn đang vật lộn với tư tưởng buông bỏ hoàn toàn, tôi khuyên bạn nên đọc Kinh Cầu Tín Thác, làm tuần Cửu nhật Dâng mình cho Chúa Giêsu, hoặc thậm chí chỉ cần chiêm ngắm linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. 

 Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để củng cố sự tốt lành và cần thiết của việc cầu nguyện theo cấu trúc trong cuộc sống của chúng ta.  Tôi không đề nghị bạn từ bỏ Kinh Mân Côi hay Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì đây là những công cụ cầu nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện của chúng ta nơi Nước Trời.  Tôi muốn lưu ý rằng những công cụ thánh thiện này không phải là mục đích cuối cùng.  Tôi khuyến khích bạn mở lòng cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn lời cầu nguyện của bạn, và đừng để lời cầu nguyện theo cấu trúc trở thành phương tiện duy nhất để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.

 Lời khuyên cuối cùng của tôi là hãy cầu xin những điều lớn lao.  Không có ước muốn nào là quá lớn đối với Chúa, vì vậy hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào đặt tình yêu lên đầu, Chúa là Đấng yêu thương chúng ta luôn mong muốn tuôn đổ hồng ân dồi dào cho mỗi người chúng ta.  Khi cầu nguyện, hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Xin Chúa ban Thánh Thần của Ngài xuống trên bạn!  Xin Ngài hướng dẫn bạn khi chọn trường đại học, xin việc hoặc tìm kiếm bạn đời.  Hãy cho Chúa biết những ước muốn của bạn và lặng lẽ chờ đợi Ngài trả lời, bởi vì cầu nguyện luôn được cho là cuộc trò chuyện giữa chúng ta và Chúa, giúp tình bạn thiêng liêng triển nở.

 Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper – Chuyển ngữ: Lê Minh
Từ: Catholic Exchange

From: Langthangchieutim


 

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar

My Lan Pham

Năm 1874, chính quyền bảo một người phụ nữ hãy đứng sang một bên và để thiên nhiên quyết định ai sống, ai chết. Bà từ chối.

Mùa đông năm ấy ở British Columbia vô cùng khắc nghiệt. Trên cao trong dãy núi Cassiar, bảy mươi lăm thợ mỏ bị tuyết rơi không ngừng vùi lấp. Các lối mòn biến mất. Sông ngòi đóng băng cứng. Đường tiếp tế hoàn toàn sụp đổ.

Thức ăn cạn kiệt trước tiên. Rồi đến sức lực. Sau đó là hy vọng.

Bệnh scorbut (thiếu vitamin C) lặng lẽ xuất hiện: lợi sưng lên, răng lung lay, hút cạn sinh lực của những người vốn đã đói lả. Họ bị mắc kẹt trong bóng tối và cái lạnh, đếm từng ngày trôi qua mà không biết liệu có ai còn nhớ đến sự tồn tại của họ hay không.

Không một đội cứu hộ nào sắp đến.

Nellie Cashman nghe tin về họ ở thung lũng phía dưới. Bà là một người nhập cư gốc Ireland, vóc người nhỏ bé, điều hành một nhà trọ và cửa hàng phục vụ thợ mỏ và lữ khách. Bà đã sống một cuộc đời gian khó. Bà hiểu thế nào là đói. Thế nào là lạnh. Và thế nào là bị bỏ rơi.

Khi biết bảy mươi lăm người đàn ông đang chết dần trên núi, bà không chờ đợi giới chức hành động. Bà đi đến với họ.

Chính quyền tìm cách ngăn cản bà. Họ nói các đèo đã đóng. Họ nói tuyết quá dày. Họ nói cố gắng đi lúc này chẳng khác nào tự sát.

Họ nghĩ bà sẽ nghe lời.

Nellie không tranh cãi. Không cầu xin. Bà chỉ lặng lẽ bắt đầu tổ chức.

Bà tập hợp sáu người đàn ông sẵn sàng theo bà. Bà thu gom 1.500 pound lương thực, thuốc men và vật dụng. Không động cơ. Không máy móc nặng nề. Chỉ có xe trượt tuyết, giày đi tuyết, dây thừng và ý chí sắt đá.

Họ lên đường, lao vào một biển trắng xóa.

Suốt bảy mươi bảy ngày, núi non chống lại họ. Tuyết nuốt chửng đôi chân. Gió cắt xuyên qua cả len lẫn da thịt. Tiến lên được bao nhiêu được tính bằng từng mét ngắn ngủi. Ban đêm họ run rẩy, không biết liệu bình minh có đến hay không.

Không ít lần, những người đàn ông muốn quay lại. Không ít lần, con đường hoàn toàn biến mất.

Mỗi lần như vậy, Nellie lại nhắc họ vì sao họ ở đó. Bà nói về những gương mặt đang chờ đợi trong bóng tối. Về những người sẽ không thể sống sót thêm một tuần nếu không có cứu trợ. Bà không lớn tiếng. Không đe dọa. Bà chỉ không chấp nhận rút lui.

Cuối cùng, họ cũng đến được sườn núi cuối cùng.

Khi Nellie bước ra khỏi cơn bão và vào trại thợ mỏ, những người đàn ông tưởng rằng mình đang ảo giác. Một người phụ nữ đứng đó với thức ăn. Với thuốc men. Với chính sự sống trong tay.

Bà không dừng lại để nhận lời cảm ơn. Không đòi hỏi thù lao. Bà bắt tay vào việc ngay.

Bà cho họ ăn từ từ để cơ thể có thể hồi phục. Bà chữa trị cho người bệnh. Bà ở lại cho đến khi từng người một đủ khỏe để tự rời khỏi núi.

Bảy mươi lăm mạng người đã bước ra khỏi dãy núi ấy chỉ vì một người phụ nữ không chấp nhận từ “không thể”.

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà là Thiên thần của Cassiar. Cái tên theo bà suốt quãng đời dài và không yên nghỉ, khi bà di chuyển từ trại này sang trại khác, giúp đỡ ở bất cứ nơi nào cần.

Nellie Cashman chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý. Bà không chờ đợi sự cho phép. Bà nhìn thấy khổ đau và bước về phía nó, ngay cả khi cả thế giới bảo bà hãy quay lưng lại.

Chúng ta sống trong một thời đại thường chờ sự chấp thuận rồi mới hành động. Nellie nhắc chúng ta rằng có những khoảnh khắc không đòi hỏi sự thận trọng. Chúng đòi hỏi lòng can đảm.

Bà không được bổ nhiệm.

Bà không được cử đi.

Bà vẫn đi.

Một người hàng xóm không chịu quay mặt làm ngơ.

Một người lãnh đạo chưa từng xin được làm lãnh đạo.

Một anh hùng hiểu rằng đôi khi làm điều đúng đắn nghĩa là thách thức tất cả những ai nói rằng bạn không thể.

Chia sẻ từ Story 1

My Lan Phạm


 

HƠN CẢ CHỐNG ĐỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ nói Người mất trí”.

“Phỉ báng và vu khống nào quan trọng gì – nếu người ta sỉ nhục mình – khi lương tâm bênh vực chúng ta?” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến kẻ thù, mà nói đến người nhà; không nói đến chống đối từ bên ngoài, mà nói đến hiểu lầm từ bên trong – một nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”.

Có thể nói, sứ mệnh Chúa Cha giao đã cuốn phăng Chúa Giêsu! Với con mắt “hợp lý” của thế gian, đó là thiếu cân bằng; với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là trung tín. Thân nhân không phủ nhận điều Ngài làm, nhưng không hiểu con đường Ngài đi; vì thế, họ dễ kéo Ngài về phía an toàn. Tin Mừng cho thấy: sứ mệnh không đo bằng sự tiện lợi, và ơn gọi không đóng khung trong sự yên ổn. Chúa Giêsu không mất giờ sửa lại hình ảnh; Ngài tiếp tục làm điều phải làm. Không phải chống đối đẩy chúng ta lạc hướng, mà là khi chúng ta đổi lương tâm lấy sự yên thân. Và từ khoảnh khắc ấy, dư luận bắt đầu lèo lái cuộc đời chúng ta. “Hãy chú trọng lương tâm hơn danh tiếng. Vì lương tâm là con người thật của bạn, danh tiếng là điều người khác nghĩ về bạn!” – Mesa Selimovic.

Cái đáng sợ không là bị nói xấu, mà là đánh mất bình an. Vì thế, thử thách lớn nhất không luôn là những xung đột công khai, mà là áp lực âm thầm của việc “làm yên lòng mọi người” những muốn chúng ta “chậm lại” hoặc “bỏ cuộc”. Áp lực ấy nhiều khi khiến chúng ta rẽ khỏi đường hẹp – một thử thách ‘hơn cả chống đối!’. Trong khoảnh khắc ấy, chúng ta được hỏi: điều gì đang quyết định hướng đi của tôi – tiếng gọi của Chúa hay mong đợi của người? “Đừng làm gì trái lương tâm ngay cả khi nhà nước yêu cầu!” – Albert Einstein.

Ở đây, Mẹ Maria trở thành một điểm tựa lặng lẽ. Mẹ không tìm cách làm cho con đường của Con mình trở nên dễ chấp nhận; Mẹ chọn tin, chọn theo, và giữ ánh nhìn gắn chặt vào mầu nhiệm Chúa đang thực hiện. Mẹ dạy chúng ta yêu thương không phải là giữ người yêu trong vùng an toàn, mà là tôn trọng con đường Chúa dành cho họ, dù nó dẫn qua bóng tối.

Anh Chị em,

Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy xác phàm, mà còn mang lấy thân phận bị hiểu lầm. Bị tiếng “mất trí”, Ngài đi vào trải nghiệm cô độc sâu nhất của kiếp người, để ở đó, mặc khải căn tính thật của mình – Con Một chỉ sống bởi ý Cha! Vì thế, bị loại trừ không phá huỷ sứ mạng; trái lại, thanh luyện và đưa sứ mạng đến chỗ viên mãn trên thập giá – nơi vâng phục trở thành hy lễ cứu độ. Mỗi lần chọn lương tâm được soi sáng bởi ân sủng hơn là sự an toàn, chúng ta được thông phần vào chính sự vâng phục cứu độ ấy; đồng thời, cho phép đời mình tháp nhập vào cuộc Vượt Qua của Đấng từng trải qua nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”. “Đức tin nâng đỡ linh hồn; hy vọng tiếp sức. Kinh nghiệm bảo phải vậy; và tình yêu bảo cứ để nó diễn ra!” – Elizabeth Seton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bị hiểu lầm, cho con đừng quay lưng; khi con bị bỏ lại, cho con đừng bỏ cuộc; khi con bị xâu xé, cho con vẫn ở lại trong thánh ý Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Thân nhân của Người nói rằng Người đã mất trí.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,20-21

20 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ trở về nhà, và đám đông lại kéo đến, nên Người và các môn đệ không sao ăn uống được. 21 Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.


 

 

ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

Linh Mục Mi Trầm

 ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa..
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè.. Nguời khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo Internet


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh.

Nguyễn Lai is with Thái Lai Anna.

#GNsP – Đó là cha Vicent Capodanno, Hoa Kỳ. Cậu bé Capodanno sinh năm 1929 gần thành phố New York, trong một gia đình đạo hạnh. Là con út trong một gia đình mười anh chị em có gốc Ý di cư đến Hoa Kỳ. Cha mẹ cậu là dân lạo động. Hằng ngày phải thức khuya dậy sớm để nuôi bầy con đông đúc. Cha là thợ đóng tàu, mẹ buôn bán tạp hóa. Tuy nhiên sau một ngày lao động vất vả, cả gia đình quây quần đọc kinh tạ ơn Chúa.

Cha từng nói rằng, “gia đình chúng tôi  rất thân thiện, gần gũi, và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi luôn làm việc chung với nhau. Bữa ăn tối là trọng tâm của gia đình tôi. Chúng tôi không bao giờ ăn cho đến khi mọi người ngồi vào bàn, ngay cả chú chó cũng quẩn quanh gần bàn!”

Ông James, người anh trai của cha vẫn còn sống và kể lại rằng, cha Vincent thưở bé “rất bình dị và bình thường, nhưng em có một niềm tin vững mạnh và lòng đạo đức tốt lành. Em luôn hăng say trong những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, nhiệt tâm trong các công tác đoàn thể.”

Năm 1949, vào học kỳ I tại Đại học Fordham, chàng sinh viên trẻ Vicent Capodanno tâm sự với một người bạn thân rằng, chàng muốn trở thành một linh mục chứ không muốn làm bác sĩ, như chàng nghĩ trước đây.

Cùng năm đó, Capodanno xin vào dòng Truyền giáo Maryknoll, vì bị thu hút bởi sứ mệnh truyền bá Tin mừng cho những người đặc biệt nơi các vùng đất xa xôi. Khi trở thành tu sĩ Dòng Maryknoll, thầy Capodanno rất ngưỡng mộ Đức Giám mục Phanxicô Xavier Ford, vị Giám mục chết rũ tù Cộng sản tại Hoa Lục năm 1950, với khẩu hiệu Giám mục của ngài là “cùng chịu đau khổ với Chúa”. Người thứ hai mà thầy Capodanno ngưỡng mộ nữa là Đức Giám Mục Patrick Byrne, vị Giám mục bị Cộng sản Bắc Hàn bắt bỏ tù. Đức cha Patrick Byrne đã từng nói rằng “nếu tôi bị xử bắn, tôi sẽ vui chịu để thông hiệp với những thương đau của anh em tôi.”

Những lời ấy của vị Giám mục luôn ghi khắc trong tim thầy. Khi chịu chức linh mục, vào năm 1958 cha Capodanno đã tình nguyện xin đến phục vụ cho những người Hakka ở Đài Loan. Sau 7 năm làm việc ở Đài Loan, cha Capodanno được thuyên chuyển về trường trung học ở Hồng Kông. Cha không vui lắm trước sự hoán chuyển này! Vì là một nhà truyền giáo Maryknoll, cha thích đi ra truyền giáo hơn là ở một chỗ dạy học.

Sau đó cha Capodanno xin được làm cha Tuyên úy cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Cha đã được Bề trên chấp thuận lời xin này vào năm 1965. Gần 1 năm sau, tức vào Tuần Thánh năm 1966 cha được gửi về Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 7, đóng ở phía Nam Đà Nẵng, một thành phố ở miền Đông Nam Việt Nam. Ngài là một Tuyên úy Công giáo duy nhất trong vùng, nên trách vụ của Ngài thật nặng nề.

Những người lính Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng đặt cho cha Capodanno biệt danh “kẻ phục dịch”, vì ngài chia sẻ mọi sự cho họ. Bất cứ khi nào họ cần tới cha, cha dường như đang ở đó – cầu nguyện với người bị thương, an ủi người đang hấp hối, và khuyến khích những người đi chiến đấu. Điều đáng trân quí nhất mà tất cả mọi người lính đều nhìn nhận cha Capodanno là một người trong số họ, cha không phải là kẻ xa lạ hay giai cấp, mặc dầu cha không bao giờ mang vũ khí, ngoại trừ khi có nghĩa vụ phải làm như vậy! Vũ khí của cha là tình yêu và tinh thần.

Cha Capodanno là người đồng hành với trung đoàn trên mọi chiến trường, liều mạng vì quân binh của mình. Trong một trận đánh bị Việt cộng tấn công bằng lựu đạn, khiến nhiều binh sĩ thương vong,  cha đã trực tiếp băng bó cho các binh sĩ. Lần khác cha đã cõng một người lính bị thương băng qua đám cháy để cứu sống anh. Trong các trận địa, cha làm người tải thương, cha cầu nguyện chúc lành, xức dầu bệnh nhân cho các binh sĩ trong cơn nguy tử… Cha chẳng màng tới sự an toàn cho sinh mạng mình, mặc dù cha đã từng thừa nhận mình cũng là người “rất sợ chết.” Cha Capodanno làm việc không ngưng nghỉ, mỗi ngày cha dâng lễ, ngồi tòa giải tội và luôn sẵn sàng để hướng dẫn tâm linh cho binh lính. Lúc rảnh rỗi cha thường đi bộ và lắng nghe những người lính tâm sự.

Thiếu tá Ray Harton nhớ lại một trong những cuộc gặp mặt đầu tiên của ông với cha Capadanno khi ông đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công địch. “Cha ấy chỉ đi lướt qua và dừng lại một thoáng, nhưng ánh mắt của ngài như có một thần lực thu hút tôi… làm cho tâm hồn tôi dâng trào thổn thức!”

Vào sáng ngày 4 tháng 9 năm 1967, cha Capodanno tình nguyện đi tác chiến với đơn vị Thủy Quân Lục Chiến để giải cứu một đơn vị khác đang bị Việt Cộng tấn công ở Quế Sơn. Biết rằng đây là cuộc chiến đầy khốc nghiệt, ngài đã dành nhiều giờ trong đêm để cầu nguyện cho những người lính đã hy sinh và đang nguy tử. Không bao lâu sau máy bay chở cha Capadanno hạ cánh, đơn vị của cha bị một lực lượng gần hai ngàn quân Cộng Bắc Việt bao vây. Khi đội quân Thủy Lục Chiến của cha vượt qua đỉnh đồi, thì bị trọng pháo và đại liên bắn liên hồi… Người lính truyền tin vừa điện cho hay “Quân binh của chúng ta đang bị càn quét!”. Và rồi một tin nhắn khác “Có nhiều người bị thương và hấp hối…”

Nghe tin ấy cha Vincent quyết tâm đến với anh em binh lính của cha. Cha đã chạy như con thoi đến với các binh sĩ bị thương và ban bí tích cuối cùng cho những người hấp hối. Mặc dù bị bắn hai lần – một lần vào mặt và một lần vào tay phải – cha vẫn tiếp tục tìm kiếm người bị thương, nói với họ, “Chúa Giêsu nói: con hãy vững tin. Chúa là sự thật và là sự sống”.

Nhìn thấy một quân nhân khác bị thương, rên lên đau đớn, cha Capodanno đã quên thân mình chạy ùa đến với anh. Khi cha vừa quỳ xuống bên anh, một loạt liên thanh nổ rền giết chết cả hai người ngay lập tức. Vài giờ sau, một trong những người lính lấy xác cha Capodanno cho hay, khắp thân thể cha bị nát nhừ với 27 viên đạn, nhưng gương mặt “Cha như đang mỉm cười, và mắt cha khép lại như đang ngủ hay đang cầu nguyện.”

Cha Vincent Capodanno đã được Hoa Kỳ trao tặng Huân chương danh dự cao quí nhất của Quốc hội vì lòng dũng cảm của cha.

Tin tức về cái chết của cha Capodanno làm rung động toàn thể Thủy Quân Lục Chiến trên khắp miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cha đã gây nhiều âm hưởng cho cuộc sống của anh em binh lính một cách sâu xa. Một năm sau, nhiều anh em Thủy quân Lục Chiến đã thốt lên “Cha Capadanno đã dâng hiến mạng sống của cha, không ai trên trần thế này có thể làm được gì nữa ngoại trừ Đức Kitô… Nhiều anh em Thủy quân lục chiến và binh lính đã trở lại đạo Công giáo nhờ tấm gương hy sinh của cha. Họ nói “đối với tôi, cha ấy là một vị thánh.”

Cha Capodanno đã sống và chết như một vị tử đạo phục vụ cho những binh sĩ trong một cuộc chiến chính nghĩa. Qua cái chết, Cha Capodanno đã truyền cảm hứng về lòng quả cảm và hy vọng cho tha nhân. Nhiều người đã đến khấn xin ngài và đã nhận được những ơn chữa lành qua lời bầu cử của ngài. Trong số đó có một nữ tu Việt Nam được chữa lành khỏi bệnh ung thư. Một trường hợp khác là ông Ernest, một bác sĩ thú y Việt Nam đang thất vọng và muốn tự vẫn, tình cờ ông ta mở chiếc ví ra thấy một tờ giấy của mẹ ông viết lại lời cầu nguyện với cha Capadanno. Ông đã đọc những lời nguyện ấy và nhờ lời cầu nguyện của cha Capodanno, Ernest đã vượt qua được giờ phút khủng khoảng. Ông Ernest vẫn còn sống cho tới ngày nay. Một cậu bé khác bị ung thư máu đã được cha mình đưa đến mộ của cha Capodanno trên đảo State cầu nguyện xin ơn chữa lành và cậu bé đã được khỏi bệnh cách kỳ diệu đến các bác sĩ phải hết sức kinh ngạc.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Đức Thánh Cha Benêdictô XVI đã tôn vinh cha Capodanno lên hàng “Tôi Tớ Chúa”. Và với ba trường hợp lành bệnh cách mầu nhiệm trên cùng những hy sinh trên chiến trường Việt Nam, cha đang được điều tra để tiến đến việc tuyên phong Hiển Thánh.

(NguồnTin Mừng cho Người Nghèo do LM Vũ Hoàng Trương biên soạn dựa trên bài viết của Thanh Quảng 2017)