SỢ TAN, SỢ CHÁY-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em là muối cho đời!”; “Là ánh sáng cho trần gian!”.

“Kitô hữu bị Lời Tin Mừng chi phối sẽ chẳng giữ mình nguyên vẹn, nhưng lan toả ánh sáng cho người khác!” – Raniero Cantalamessa.

Kính thưa Anh Chị em,

Một khi dám để Tin Mừng chi phối, chẳng ai có thể giữ mình nguyên vẹn! Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta dám không còn nguyên vẹn vì yêu thương; thế nhưng, điều làm chúng ta chùn bước lại chỉ là một nỗi ‘sợ tan, sợ cháy!’.

Muối chỉ có ích khi tan; nhưng chúng ta lại thích làm muối nguyên hạt: giữ danh dự, giữ an toàn, giữ khoảng cách. Chúng ta muốn ảnh hưởng nhưng không muốn hoà mình; muốn người khác đổi thay mà không muốn tiêu hao. Và thế là đời sống đức tin nhạt dần, không vì thiếu hoạt động, nhưng vì thiếu dấn thân – ‘sợ tan’ – đến mức “mất mình”. Cũng thế, đèn không cháy để tồn tại; đèn cháy để soi. Mỗi lần sáng là mỗi lần mòn hao. Nhưng chúng ta sợ bị hiểu lầm, từ chối, sợ bị lợi dụng nên thường che đèn dưới chiếc thùng của sự khôn ngoan an toàn, của những tính toán vừa đủ – và gọi đó là “cân bằng” – nhưng nhiều khi chỉ là để biện minh cho việc ‘sợ cháy’ một cách lịch sự. “Nếu ước mơ của bạn không làm bạn sợ, thì chúng chưa đủ lớn!” – Ellen Sirleaf.

Dám tan, dám cháy sẽ rất cụ thể khi “chia cơm cho người đói, thấy ai mình trần thì cho áo che thân” – bài đọc một. Dám tan, dám cháy không bừng lên từ những ý tưởng cao siêu, nhưng từ những tấm bánh tình yêu dám bị bẻ ra. Vì thế, Phaolô chỉ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh – bài đọc hai – và chính từ thập giá ấy, “bừng lên một ánh sáng” – Thánh Vịnh đáp ca – nơi điều xem ra yếu đuối lại chính là quyền năng của Thiên Chúa.

Kitô hữu không thiếu cơ hội làm điều tốt; nhưng vấn đề ở chỗ, muốn làm điều tốt mà không trả giá. Muốn yêu mà không đau; cho mà không mất – ‘sợ tan’; muốn chiếu sáng mà không mòn – ‘sợ cháy’. Nhưng muối không tan chỉ còn là sỏi; đèn không cháy chỉ còn là đồ trang trí tôn giáo. ‘Sợ tan, sợ cháy’, chúng ta đánh mất bản chất và căn tính! “Với tất cả những gì bạn yêu thương, chắc chắn bạn đều phải trả một cái giá nào đó!” – Agatha Christie.

Anh Chị em,

Hãy nhìn lên Chúa Kitô! Ngài không ‘sợ tan’ vào thân phận con người, không ‘sợ cháy’ cho tình yêu đến tận cùng. Trên thập giá, Ngài không giữ mình nguyên vẹn; thân mình bị bẻ ra như tấm bánh để tình yêu bị đốt cháy đến giọt cuối cùng. Chính nơi đó, ánh sáng bừng lên giữa bóng tối; muối thấm vào lịch sử nhân loại. Thuộc về Ngài, chúng ta được mời gọi bước vào cùng nhịp tự hiến ấy. Không phải để tìm đau khổ, nhưng để không trốn chạy tình yêu; không để phô diễn anh hùng, nhưng để sống trung thực với phẩm tính đã lãnh nhận. Chúng ta không được sai đi để giữ mình nguyên vẹn, nhưng để trở nên quà tặng. “Tình yêu hy sinh mọi điều để ban phước cho điều mà nó yêu!” – Edward Bulwer-Lytton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ tan vào đám đông, cho con dám hoà mình; sợ cháy đến tận cùng, cho con dám yêu đến nơi; sợ không còn nguyên vẹn, cho con trở nên quà tặng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN V THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 5,13-16

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”


 

MỘT ĐỜI LÀM MUỐI, MỘT ĐỜI LÀM ÁNH SÁNG – Lm Paul N.N 

Lm Paul N.N 

Khi tôi mới về giáo xứ, có lần đi xức dầu vào lúc 2 giờ sáng, đi ngang qua những cánh rừng cao su bạt ngàn, tôi thấy một cảnh tượng lạ lùng: những ánh đèn le lói ẩn hiện giữa màn đêm đặc quánh.  Tôi bấu vai ông trùm kêu lên… cái gì kìa?… và cuối cùng cũng chợt nhận ra: khi cả thế giới còn đang chìm trong giấc ngủ sâu, có những “vầng trăng nhỏ” bắt đầu lay động.  Đó là ánh đèn soi trên trán của những người cha, người mẹ làm nghề cạo mủ.  Họ đi vào bải lô khi trời còn chưa rõ mặt người.  Trong bóng tối lạnh lẽo và mùi mủ nồng nặc, họ lặng lẽ làm việc.  Dưới ánh đèn pin leo lét, bàn tay cha thoăn thoắt những nhát dao bén ngọt, chuẩn xác để dòng “vàng trắng” tinh khôi chảy đều vào bát sứ, đôi tay mẹ gầy guộc hứng trọn từng giọt mồ hôi rơi xuống cùng dòng mủ.  Họ chấp nhận thức, khi đời đang ngủ, chấp nhận bào mòn sức lực giữa cái lạnh thấu xương của sương đêm để đổi lấy manh áo, quyển vở cho con đến trường.  Quả là một sự hy sinh lớn lao. 

Sự hy sinh đó chính là minh chứng sống động nhất cho lời Chúa dạy: “Chính anh em là muối cho đời… là ánh sáng cho trần gian.”  Chúa không bảo ta “hãy làm” muối, Ngài khẳng định: “Anh em muối.”  Để bát canh thêm đậm đà, hạt muối phải chấp nhận tan biến.  Nếu muối không tan, nó chỉ là những tinh thể vô dụng.  Nếu ta chỉ sống cho riêng mình, giữ lại “độ mặn” cho bản thân, chúng ta sẽ không thể làm cho cuộc sống của những người xung quanh trở nên ý nghĩa hơn.  Còn ánh sáng, Ánh sáng cũng vậy, không ồn ào, chỉ cần được thắp lên là bóng tối phải lùi xa.  Ánh đèn soi trên trán người thợ cạo mủ tuy nhỏ bé, nhưng nó đủ để họ không bước hụt vào hố thẳm, đủ để nhìn rõ dòng mủ quý giá.  Ánh đèn ấy hướng về phía trước để soi đường. 

Vì thế, lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, cách riêng các bậc cha mẹ trong xứ đạo ta: Hãy giống như hạt muối phải tan đi mới làm cho thức ăn đậm đà, hãy “tan đi” tuổi trẻ, giấc ngủ và sức khỏe của mình để cuộc đời con cái không bị nhạt nhẽo, bần hàn, để nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác các con.  Hãy là Ánh sáng: Ánh đèn soi của người thợ cạo không soi sáng cả cánh rừng, nhưng đủ để thấy thân cây, thấy từng đường dao phải cạo cho đúng.  Chỉ cần lệch tay, cây sẽ bị tổn thương, mủ sẽ cạn dần.  Ánh đèn soi của người thợ cạo không chiếu sáng cho chính họ, mà chiếu vào thân cây để tìm dòng mủ, chiếu xuống con đường để bước đi vững chãi.  Kitô hữu cũng phải là ánh sáng, không phải để khoe mình, nhưng để soi đường cho người khác nhận biết sự nhân lành của Thiên Chúa.

 Con cái ta, chúng không nhìn vào những gì ta nói, mà chúng nhìn vào cách ta sống.  Khi cha mẹ chấp nhận thức dậy từ lúc trời còn tối mịt, khi đôi bàn tay chai sần vì nhát dao cạo, khi những giọt mồ hôi mặn chát thấm vào lòng đất đỏ, ấy là lúc cha mẹ đang dạy con bài học lớn nhất về sự hy sinh.  Đó chính là lúc cha mẹ đang là “Muối.”  Hạt muối không bao giờ kể công, nó âm thầm tan đi để bát cơm của con được ngọt, để tương lai của con được đậm đà hơn.  Xin đừng sợ mình bị hao mòn, vì chính sự “tan ra” của cha mẹ là dưỡng chất nuôi lớn tâm hồn và nhân cách của con cái.

 Hãy nhớ rằng chiếc đèn soi trên trán cha mẹ giữa rừng đêm không chỉ để tìm dòng mủ, mà nó còn là hình ảnh của “Ánh sáng” đức tin mà con cái đang dõi theo.  Nếu cha mẹ sống trung thực, con cái sẽ không biết dối lừa.  Nếu cha mẹ sống yêu thương và bao dung, con cái sẽ không biết hận thù.  Đừng để ánh đèn soi của mình chỉ hướng xuống đất để tìm lợi ích vật chất, nhưng hãy ngước lên để nhìn thấy trời cao, để soi đường cho con cái bước đi trong sự thiện lương.

 Làm muối cho đời không phải là làm những điều vĩ đại, mà là giữ cho lòng mình không bị “nhạt” đi trước những cám dỗ của tiền bạc hay sự vô cảm.  Làm ánh sáng cho trần gian không phải là rực rỡ hào quang, mà là giữ cho ngọn lửa mến Chúa luôn cháy trong gian bếp nhỏ, trong bữa cơm gia đình và trong cách đối đãi với xóm giềng.

 Hỡi những người cha, người mẹ, hãy là những “cuốn Tin Mừng sống” đầu tiên mà con cái mình đọc được.  Hãy là thứ muối mặn nồng của tình yêu và là ánh sáng ấm áp của gương lành, để dù cuộc đời có tăm tối đến đâu, con cái vẫn tìm được lối về nhà, lối về với Chúa, nhờ vào chính bước chân hy sinh của cha mẹ chúng hôm nay.  Hãy tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp từ chiếc đèn soi nhỏ bé để dẫn lối cho con cái đi, và giữ cho cuộc đời của các con luôn “đậm đà” vị nghĩa tình, không bị nhạt nhẽo giữa những cám dỗ cuộc đời.  Xin Chúa cho các bậc cha mẹ trong cộng đoàn chúng ta, đặc biệt nơi vùng cao su thân thương này, biết tiếp tục thắp lên ánh sáng của đời sống gương mẫu, và âm thầm làm muối mặn bằng chính mồ hôi và tình yêu mỗi ngày, để con cái, khi bước vào đời, luôn nhớ đến con đường ngay thẳng đã được soi từ chính mái nhà của mình. Amen!

 Lm Paul N.N

From: Langthangchieutim


 

ĐỪNG CHẠY TRƯỚC! – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút!”.

“Giáo Hội cần những Kitô hữu điên!”. Đó là câu thần chú một Giám mục đã lặp đi lặp lại tại một đại hội giới trẻ. Điên khi yêu giữa hận thù; điên khi phục vụ giữa một thế giới ích kỷ; và điên khi dám rút lui giữa ồn ào.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay chạm đúng cơn sốt thời đại: chúng ta đang chạy như điên. Chúa Giêsu bảo: Dừng lại! Và có lẽ, điều chúng ta cần nghe nhất là: ‘đừng chạy trước!’.

Thế giới quay cuồng và chúng ta biến “bận rộn” thành huy hiệu. “Tôi bận lắm!” – như thể bận là bằng chứng của các giá trị. Nhưng bận chưa chắc là sinh hoa trái; nhiều khi chỉ là dấu hiệu của một đời sống mất cân bằng, một sứ vụ thiếu gốc rễ và một nội tâm cạn nguồn. Chạy mãi, chúng ta có thể thành công; nhưng linh hồn thì teo tóp. Làm nhiều cho Chúa, nhưng không còn ở với Chúa!

Chúa Giêsu không khinh thường sứ vụ; chính Ngài đã chữa lành, giảng dạy, chạnh thương. Nhưng giữa những thành công ấy, Ngài vẫn kéo các môn đệ ra khỏi tiếng vỗ tay, “Anh em hãy lánh riêng ra!”. Đó không phải lời mời thư giãn, mà là mệnh lệnh cứu nguy. Không thể phục vụ tốt nếu phục vụ liên tục; không thể trao ban nếu bên trong rỗng không. “Thanh vắng không phải là trốn chạy cuộc đời, nhưng là nơi linh hồn gặp Đấng đang tìm kiếm nó. Ở đó, kế hoạch của Thiên Chúa trở nên lời thì thầm dễ nghe nhất!” – Thomas Merton.

Chúng ta sợ thanh vắng. Vì ở đó, không còn ai khen; không còn việc để bận; không còn lý do để chạy. Ở đó, chỉ còn Thiên Chúa và sự thật về mình; và sự thật ấy thường không dễ chịu. Vậy mà nếu không vào nơi thanh vắng, chúng ta sẽ tiếp tục chạy theo cái khẩn cấp mà đánh mất điều thiết yếu. Vì thế, trước mỗi quyết định lớn nhỏ, Tin Mừng thì thầm: ‘đừng chạy trước!’. Salômon hiểu điều đó. Giữa quyền lực và cơ hội, ông xin “một tâm hồn biết lắng nghe” – bài đọc một. “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con!” – Thánh Vịnh đáp ca. Không có cô tịch, chúng ta dễ lẫn lộn giữa nhiệt thành và nôn nóng, giữa dấn thân và phô diễn. “Trong cô tịch, ta gặp những người bạn chân thực nhất – thinh lặng, suy tư và Thiên Chúa!” – John O’Donohue.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu không chỉ dạy về thanh vắng; Ngài yêu nó, sống nó. Trước khi chọn các tông đồ, Ngài cầu nguyện suốt đêm; sau những ngày chữa lành mệt nhoài, Ngài lánh vào nơi hoang vắng; trước thập giá, Ngài ở lại với Cha trong vườn Cây Dầu. Ngài không cứu thế bằng cách chạy trước Cha, nhưng bằng cách ở lại trong ý Cha. Chính sự an tĩnh làm nên sức mạnh của tình yêu. Nếu chạy trước, chúng ta sẽ sớm kiệt sức – và có khi làm tổn thương cả những người mình phục vụ. Ở lại với Chúa, chúng ta sẽ ra đi đúng lúc, đúng cách, đúng nhịp. Vì thế, giữa mọi ồn ào mục vụ, giữa mọi kế hoạch đầy hứa hẹn, giữa mọi thôi thúc chứng tỏ mình, hãy nhớ: ‘đừng chạy trước!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có những tham vọng con gọi là nhiệt thành; có những mệt mỏi con gọi là hy sinh; xin thanh lọc động cơ trong con, để con chỉ khao khát một mình Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IV Thường Niên

Họ như bầy chiên không người chăn dắt.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,30-34

30 Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. 31 Người bảo các ông : “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. 32 Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. 33 Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. 34 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.


 

 Có những nỗi nghèo mà vật chất không thể chạm tới

Nhà Nguyện Nhỏ

Một người có thể được nuôi sống, được chăm sóc, nhưng nếu không còn ai nhìn họ như một con người, thực sự họ đang nghèo tới tận gốc.

Không được yêu thương không chỉ là thiếu một tình cảm, mà là mất đi nền tảng để tin rằng đời mình còn đáng sống.

Mẹ Teresa chỉ ra một dạng đói khát câm nín: cái đói của linh hồn bị bỏ rơi.

Có thể người ấy không kêu cứu, không có trong thống kê, nhưng họ co rút lại, khép kín, và dần chết từ bên trong.

Xã hội có thể rất phát triển, rất nhân đạo, mà vẫn đầy những kẻ cô độc.

Bởi vì ta đã học rất giỏi cách giúp đỡ mà không ngồi lại, chăm sóc mà không đụng tới, ban phát mà không nhìn sâu vào mắt người nhận.

Khi tình yêu được hành động bằng thủ tục, bằng lòng tốt hời hợt, con người vẫn được giữ cho sống, nhưng chưa được sống như một con người.

Nghèo đói lớn nhất, bởi vậy, không nằm ở cái bụng trống rỗng, mà nằm ở một trái tim không còn được ai biết tới.

nhanguyennho

May be an image of text that says '"Sự nghèo đói lớn nhất không phải là thiếu ăn hay thiếu mặc, mà là không được yêu thương. -Mẹ Teresa + nhanguyennho hangu'


 

Gã Ăn Trộm Tình – Chu Sa Lan – Truyen ngan HAY

Gã Ăn Trộm Tình – Chu Sa Lan

Nhà ông hội đồng Chữ ăn cái tết linh đình nhất từ xưa tới giờ. Lý do khiến cho ông hội đồng Chữ ăn tết lớn chính là sự hiện diện của ông quan tư Lầu, chủ quận Giồng Trôm. Làm hội đồng mấy năm nay rồi, tiếng tăm cũng có chút đỉnh song ông hội đồng Chữ vẫn chưa mãn nguyện. Làm hội đồng cũng có tiếng và có quyền lắm nhưng chưa bằng cai tổng, coi được năm ba ông hội đồng. Bởi vậy năm nay hội đồng Chữ mới bấm bụng bỏ tiền ra ăn tết lớn để mời quan tư chủ quận vào nhậu nhẹt. Quan tư mà chịu nhậu nhẹt thời sớm muộn gì ông ta cũng bắt được cái chức cai tổng. Tết, ngoài cái vụ ăn nhậu, chè chén linh đình còn phải có hai mục khác mới vui vẻ, xôm tụ và nổi đình đám là đánh võ đài và múa lân. Thuở bấy giờ, chính phủ Phú Lang Sa đã thiết lập nền đô hộ vững chắc lắm rồi nên cũng không còn cấm đoán chuyện dân chúng tập võ cũng như mở võ đài đánh võ nữa. Huống chi chuyện mở lôi đài lại do ông hội đồng và được sự chấp thuận của ông chủ quận thì có thằng nào dám théc méc. Để khoe sự sang giàu cũng như lấy điểm với sếp, hội đồng Chữ sai đầy tớ lên tận trên tỉnh mướn một đoàn múa lân giỏi nhất và nổi tiếng nhất để đúng ngày mồng một tết sẽ múa biểu diễn cho ngài quan tư và bần dân trong làng xem đã con mắt luôn. Đoàn múa lân này sẽ trổ tài để giật giải thưởng 100 đồng. Ở những năm 1920 xưa như trái đất đó thì 100 đồng có giá trị lớn lắm. Riêng về phần đánh võ đài thì giải nhất 50 đồng, giải nhì 30 đồng và giải ba 20 đồng. Ông hội đồng Chữ đã cho bố cáo trong toàn thể chục làng, năm tổng của quận Giồng Trôm nên người ta đoán sẽ có đông võ sĩ của toàn tỉnh Bến Tre tham dự. Những điều đó cộng thêm tiệc tùng sẽ khiến cho không khí trong ba ngày tết nơi nhà của hội đồng Chữ thêm phần sôi động và hấp dẫn.

Chí Nhè ngồi nhâm nhi xị đế một mình trong quán hủ tiếu của chú ba Hương tại chợ Bến Tre. Gần tháng nay y hầu như bị thất nghiệp không làm ra xu teng nào hết. Mà y nào có phải hạng làm biếng đâu. Y rất siêng năng làm lụng nhưng thời buổi gạo châu củi quế này thiên hạ đâu có làm ra đồng nào đâu mà có dư tiền của để đưa cho y. Người ta bảo ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh ”. Làm nghề nào cũng vinh quang hết kể cả nghề ăn trộm. Rất ít người biết Chí Nhè là tay ăn trộm nổi tiếng ở Sài Gòn. Trong một vụ ăn trộm lớn đổ bể, y bị mật thám tây truy lùng ráo riết. Không đất dung thân và để tránh bị túm cổ y phải tạm thời chạy xuống Bến Tre lánh nạn. Vùng này dân cư ít lại thêm nghèo khổ nên cả tháng nay y chẳng làm ăn được vố nào hết. Tiền dành dụm xài gần cạn rồi. Trong vòng 1 tháng nữa nếu không chôm chĩa được ai thì kể như y phải xách bị đi ăn mày. Là tay trộm nổi danh, y đâu có chịu hạ mình đi ăn xin. Y có cái kiêu hãnh của riêng y. Ăn xin đâu có bảnh bằng ăn trộm mặc dù cả hai đều có chữ ăn đằng trước. Ăn xin thì phải hạ mình xin xỏ, lạy lục để người ta bố thí cho mình. Như thế hổng có bảnh. Trong khi ăn trộm thì mình hổng có xin mà lấy của người ta. Người ta hổng cho mà mình lấy mới bảnh, nhất là người ta hổng làm gì được mình. Bảnh là bảnh ở chỗ đó. Huống hồ gì Chí Nhè chuyên ăn trộm của nhà giàu. Như thế còn bảnh hơn nữa vì nhà giàu có đầy tớ, tá điền, nhà năm từng cửa cài then, bảy lớp khóa mà mình vào được rồi ung dung đi ra thì mới bảnh. Nội cái chuyện đường hoàng mở khóa đi vào nhà lấy cái gì mình muốn lấy rồi ung dung chuồn mà thiên hạ chẳng làm gì mình được như thế mới gọi là đại bảnh

Đang ngồi lai rai Chí Nhè thấy hai thanh niên bước vào. Nhìn lướt qua bộ tịch y biết hai người này thuộc dân bản địa.

– Anh làm ba chung thôi rồi đi nghen anh hai… Anh mà uống nhiều quá hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Mình còn phải đi xa lắm. Từ đây mà lội xuống tới chợ quận Giồng Trôm cũng phải mất ngày đường rồi…

Nghe thanh niên nhỏ tuổi nói, Chí Nhè đâm ra tò mò nên giả vờ vừa nhậu vừa ngó mong ra đường mà tai thì lắng nghe câu chuyện.

– Tao nghe nói hội đồng Chữ giàu lắm hả mậy?

– Hết biết luôn anh Hai… Ổng giàu từ đời ông nội, ông cố ông sơ ông sờ ông sẩm giàu ra. Đất vườn của ổng thì chó chạy le lưỡi ra cũng chưa giáp. Đất ruộng thì ngựa chạy què giò luôn. Tiền của ông đốt tui với anh cháy thành than…

Nghe thanh niên nói một hơi thật dài, Chí Nhè khoái trá ngồi rung đùi, nhủ thầm không ngờ vận của mình chưa tới nỗi mạt. Giàu cỡ hội đồng Chữ nếu y vào được nhà thì tha hồ chôm chĩa tiền bạc, vòng vàng và nữ trang quí giá. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm mà lị. Ông bà mình nói đâu có sai trật.

– Anh hai biết hông… chỉ cần anh với tôi lên múa may vài thế võ là mình cũng được ổng đãi ăn nhậu no nê ba bữa rồi. Nếu chó ngáp phải ruồi, mình đoạt giải nhất, nhì hoặc ba cũng có vài chục bạc xài chơi…

Thanh niên được gọi là anh Hai nghe nói cười ha hả đoạn cất giọng ồm ồm.

– Chú ba mày nói phải đó… Vậy mình ăn lẹ lẹ rồi đi… Tao uống vài chung cho đỡ ghiền thôi…

Hai thanh niên ăn uống, trả tiền xong mới vội vàng lên đường. Chí Nhè còn ngồi lại ung dung nhậu. Chỉ cần nghe được câu chuyện thôi đủ rồi. Dù ở Sài Gòn song là tay ăn trộm nổi danh y tất phải mò ra đường để tới nhà hội đồng Chữ. Uống cạn xị đế, Chí Nhè trả tiền rồi trở về nhà trọ lấy gói đồ nghề xong theo đường cái đi Giồng Trôm. Vừa ra khỏi xóm nhà đông đúc dân cư, y cắm đầu chạy một mạch để bắt kịp hai thanh niên mà y đã gặp trong quán rượu. Làm ăn trộm không cần phải giỏi võ mà cần phải có cặp giò dài thước tám để lỡ bị bể mánh thì dọt cho lẹ. Lúc còn nhỏ y đã được ông già tía truyền thụ hết mánh khoé trong nghề ăn trộm, mà quan trọng nhất là chạy cho lẹ. Muốn chạy cho lẹ thì người ta phải biết cách làm cho thân hình của mình nhẹ bâng. Nói theo con nhà võ chính cống thì phải học thuật khinh thân đề khí. Trước thì học cách thức biến thân thể của mình nhẹ đi. Sau đó thì học cách bước nhanh, bước đều, bước xa và bước dai, bước hoài hổng mệt. Chí Nhè nổi tiếng là tay ăn trộm nhờ vào tài leo trèo và chạy nhảy của mình. Ngoài ra y còn có tánh kiên nhẫn, mưu mô và sáng dạ nữa.

Chạy một đỗi, Chí Nhè thấy dạng hai người thấp thoáng đằng trước mặt mình không xa lắm. Mừng thầm y bước nhanh hơn nữa. Khi tới rạch Giẹt Sậy thì y bắt kịp hai người kia. Cả ba ngồi đò qua con rạch lớn.

– Hai anh đi đâu vậy?

Chí Nhè gợi chuyện. Thanh niên nhỏ thó và còn trẻ hơn mau mắn trả lời.

– Tụi này đi Giồng Trôm…

Chí Nhè cười mím chi.

– Chắc hai anh đi coi đánh võ đài ở nhà ông hội đồng Chữ hả?

Thanh niên cao lớn nhìn y chăm chú giây lát rồi mới gật đầu trả lời.

– Tụi này đi đánh chứ hổng phải đi coi. Còn chú mày?

Chí Nhè chưa kịp thốt, y mau mắn nói tiếp.

– Ta coi tướng của chú mày chắc đi ăn chực chứ đánh võ gì…

Dứt câu y cười hề hề. Không những không giận vì câu nói xỏ của thanh niên cao lớn mà Chí Nhè còn cười hắc hắc như thích thú.

– Anh nói đúng đó… Tôi ở bên Mỹ Tho lận. Nghe thiên hạ đồn ông hội đồng Chữ ăn tết lớn có múa lân và đánh võ nên tôi cuốc bộ xuống coi cho biết. Tướng của tôi mà đánh võ gì. Có gì là tôi xách đít chạy trước… Nghề của tôi là nghề chạy chứ hổng phải đánh nhau…

Hai thanh niên lạ cười sằng sặc vì câu nói giỡn của Chí Nhè. Họ xưng tên họ với nhau. Thanh niên cao lớn là Hai Nhịn, còn người kia tên Nhục. Đường xa nhưng vừa đi vừa nói chuyện nên đường thành ngắn.

– Nói thật với hai anh… Tía má tôi nghèo quá… Tay làm hàm nhai mà nhiều khi hổng có cái gì để nhai… Nghe ông hội đồng Chữ ăn tết lớn nên tôi tới, trước là coi đánh võ cho vui sau là ăn chực được bữa nào đỡ bữa đó. Hai ngày nay tôi có hột cơm nào vào bụng đâu…

Nghe Chí Nhè than thở, Hai Nhịn, dù hổng có ưa cái bản mặt của Chí Nhè cũng phải động lòng thương xót bèn vỗ vai cái bụp rồi cười ha hả.

– Chú mày nói nghe cũng tội nghiệp… Vậy thì đi theo tụi này tới nhà hội đồng Chữ kiếm bữa cơm…

Chí Nhè mừng rỡ nhập bọn liền. Hai Nhịn hỏi khi họ dừng lại ở Lương Quới uống chén trà giải khát.

– Hôm nay hai mươi chín Tết rồi. Mình tới Giồng Trôm kịp không Nhục?

– Kịp chứ anh hai… Mình đi hơn hai phần ba đường rồi. Ráng cuốc một hơi nữa là phẻ re. Tới nhà ông hội đồng Chữ là được ăn nhậu thả giàn… hè… hè…

– Anh làm tôi bị kiến cắn bụng…

Ực cạn chén trà âm ấm, Chí Nhè xen vào. Hai Nhịn quay mặt đi chỗ khác để giấu vẻ khó chịu của mình. Hổng biết tại sao mà anh ta hổng ưa được cái bản mặt của Chí Nhè. Anh ta cảm thấy từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói của cái ” thằng có tướng học trò mà bộ giò ăn trộm ” này có cái gì hổng thành thật và đãi bôi. Có lẽ cũng biết điều đó hay muốn lấy lòng hai người bạn đồng hành nên Chí Nhè nhanh nhẩu móc túi trả tiền luôn cho ba người. Ra tới đường cả ba cắm đầu bước một mạch. Khi dừng lại bên bờ con rạch Bình Chánh họ mới thở phào cảm thấy mỏi mệt và đói bụng. Băng qua cây cầu ván họ thấy nhà cửa nhiều hơn. Dân làng cất nhà dọc theo hai bên đường. Họ hỏi thăm đường tới nhà hội đồng Chữ. Đi một đỗi họ thấy xa xa trong khu vườn dừa xanh um nổi lên toà nhà thắp đèn sáng trưng mặc dù trời chưa tối lắm.

– Chà ông hội đồng Chữ chơi nổi à nghen… Đèn măng xông sáng trưng hổng thua gì đèn điện…

Chí Nhè buột miệng khen. Cười hềnh hệch Nhục nói thêm vào như cố tình làm thân với người quen mới.

– Ổng giàu nhất trong số mấy ông hội đồng của quận Giồng Trôm đó. Ngặt là ổng cũng bần tiện nhất…

– Bởi vậy ổng mới giàu…

Hai Nhịn xen vô. Như để khoe với Chí Nhè là mình biết nhiều, y cười khành khạch nói tiếp.

– Tao nghe đồn năm nay vì muốn bắt cái chức cai tổng nên ổng mới chịu bỏ tiền ra ăn tết lớn để lấy lòng ông chủ quận. Ổng mời đội múa lân và treo giải thưởng một trăm đồng. Còn mở võ đài thì cũng có giải thưởng. Ổng còn mổ heo vật bò mời bà con lối xóm tới ăn nhậu thả cửa… Chú mày cứ việc ăn chơi…

Chí Nhè cười hì hì.

– Hai anh có cần phụ gì tôi phụ cho…

Liếc nhanh Nhục một cái Hai Nhịn lắc đầu.

– Tao đánh võ thì có thằng Nhịn cho nước rồi. Chú mày cứ đứng coi hoặc đi lòng vòng chơi cũng được…

– Anh Hai dạy đúng lắm. Tôi sẽ đi lòng vòng cho biết nhà cửa của ông hội đồng rộng lớn cỡ nào…

Vừa đi vừa tán dóc một lúc thì tới nhà. Họ được mời ăn uống rồi về chỗ nghỉ ngơi chờ ngày mai mới bắt đầu đánh võ đài và xem múa lân.

Cô năm Thơm đứng nhìn mình trong gương giây lát rồi mỉm cười sung sướng. Năm nay ông già tía của cô ăn tết lớn vì muốn làm vui lòng quan tư để bắt cái chức cai tổng, song bên trong ông còn có một ý ngầm khác mà chỉ có gia đình cô biết mà thôi. Đó là chọn cho cô một ông chồng trong số đám thanh niên tụ về đây. Không kể trai tráng chửa vợ trong làng và luôn cả các làng lân cận, sẽ có nhiều chàng trai ở trên tỉnh đổ về trước là ăn nhậu chùa sau coi múa lân và đánh võ đài. Đây là dịp cho cô chấm một anh nào tài kiêm văn võ. Con gái cùng trang lứa với cô trong làng vừa tới tuổi trăng tròn thì đã có người rước rồi; trong khi cô tuổi không những trăng tròn mà qua trăng khuyết rồi trăng méo xẹo cũng chưa có ai rước về. Hổng chừng tới lúc trăng lặn mất cô cũng chưa có chồng nữa. Mà cô đâu có xấu, tật nguyền, chanh chua đanh đá gì. Ông hội đồng Chữ bằng lòng gã con cho bất cứ chàng trai trẻ nào coi vừa ý mình và họ phải ở rể. Ngặt là ở chỗ đó. Vừa ý ông ta tức phải môn đăng hộ đối, phải danh giá và giàu có. Vì vậy mà năm nay ở cái tuổi trăng rụng xuống cầu rồi mà cô năm Thơm vẫn còn cu ky. Đêm đêm trong phòng riêng cô đơn vò vỏ, cô mơ màng tới một một người chồng, ai cũng được miễn là cô thương người đó và người đó thương cô. Tiền bạc cô hổng cần bởi vì tiền của ông già tía cô xài mãn đời cũng chưa hết. Mở cửa bước ra ngoài lan can cô nhìn xuống gian nhà lá thắp đèn sáng trưng. Từ đó tiếng cười nói của khách vọng lại nghe rõ mồn một khiến cho cô năm Thơm mỉm cười. Cô ước gì trong số người lạ này có một chàng thanh niên hổng cần đẹp trai, học giỏi, giàu sang gì hết. Mấy thứ đó cô ba hổng cần. Cô chỉ cần có người nào rớt vào đôi mắt chim chích chòe của cô mà thôi.

Ăn uống no bụng xong, thấy trời còn sáng Chí Nhè bèn rảo một vòng quanh nhà ông hội đồng Chữ để dọ đường đi nước bước. Đi ăn trộm là phải biết rõ đường đi lối về để vào thì êm rơ mà ra cũng êm ru bà rù. Hoặc giả nếu bị chủ nhà phát giác thì mình cũng biết đường mà chạy thoát thân. Tay chấp đít, miệng phì phèo điếu thuốc vấn, anh ta đảo đôi mắt chuyên nghề chôm chỉa để ghi nhớ không bỏ sót chỗ nào đầy tớ canh gác, bao nhiêu cửa, giờ nào ngủ thức. Chỉ mới dạo sơ một vòng thôi mà Chí Nhè đã nhận ra cái khó của mình nếu muốn lẻn vào nhà hội đồng Chữ để trổ tài đạo chích. Cái chuyện cửa đóng then gài đối với y hổng đáng kể bởi vì y có thể đục tường khoét vách, trổ nóc nhà xuống hay cùng lắm chui theo lỗ chó để vào nhà. Cái mà y ngại nhất chính là đông người quá. Chưa kể hai vợ chồng và con cái, nội kẻ hầu người hạ, đầy tớ, tá điền không cũng đã hai chục mạng rồi. Đó là chưa kể nhà hội đồng Chữ, đêm mai tức đêm ba mươi sẽ có thêm ông quan tư nữa. Ông chủ quận đi đâu cũng có lính theo bảo vệ với súng dài súng ngắn đủ loại. Đi lạng quạng, đám lính này tưởng y là Việt Minh, nó phàng cho một phát là bỏ mạng. Đảo tới đảo lui, lượn qua lượn lại hai vòng, Chí Nhè chú ý tới một địa điểm mà y nghĩ mình có thể dùng nó để đột nhập vào trong nhà của hội đồng Chữ. Đó là căn gác lửng thắp đèn sang sáng, có ban công de ra ngoài rồi có một cây bông sứ cành lá rườm ra. I Leo lên cây này, chuyền ra nhánh, y có thể nhảy xuống ban công rồi theo đó mở cửa căn gác vào trong nhà. Chỗ này hơi khuất và tối hơn các chỗ khác cho nên y nghĩ mình có thể vào nhà mà người bên trong căn gác không hề hay biết. Y tính chờ tới ban ngày sẽ xem xét cẩn thận hơn rồi tối mai tức đêm ba mươi sẽ bí mật lẻn vào nhà của hội đồng Chữ.

Vừa chậm rãi bước vừa quan sát đường đi nước bước, Chí Nhè trở về chỗ của ngủ của mình. Ngang qua một gian nhà y nghe giọng nói khàn khàn vang ra.

– Tổ cha cái thằng Tư… Bịnh gì hổng bịnh mà nó đợi tới ngày mần ăn lớn lại bịnh. Ăn nhậu tầm bậy tầm bạ rồi bây giờ ói mửa tùm lùm. Hổng có nó rồi lấy ai thế đây… Múa lân mà thiếu người thì làm sao ăn giải được…

Nghe người này nói như vậy, chắc được ông tổ ăn trộm nhập vào làm cho Chí Nhè bật ra ý kiến hay ho. Mỉm cười y bước vào căn lều dựng bằng lá dừa.

– Chú mày đi đâu dậy?

Một người đàn ông tác ngoài bốn mươi, mặc bộ bà ba trắng, tóc búi củ hành hất hàm hỏi. Chí Nhè cười hì hì.

– Dạ chào bác… Tui tên Chí. Tôi đi dạo ngoài kia nghe bác than thở nên vào đây xem có giúp gì được cho bác hông…

Người đàn ông trọng tuổi nhìn chăm bẳm Chí Nhè như muốn coi giò coi cẳng. Lát sau ông ta chắt lưỡi.

– Tướng của chú em ta coi cũng được ngặt vì cái vai này hổng phải ai cũng làm được… Chú em có coi múa lân lần nào chưa?

Chí Nhè cười hì hì.

– Gì chứ múa lân tui coi hoài… Tui khoái coi múa lân mà múa lân tui cũng biết chút đỉnh…

Ra dấu cho Chí Nhè ngồi xuống cái ghế đẩu xong người đàn ông chậm rãi vấn điếu thuốc. Đốt lửa bập bập mấy cái, hít hơi dài ông ta từ từ nói.

– Chẳng giấu gì chú em… Tui tên Tám Bền, là chủ đội múa lân nổi tiếng của tỉnh Bến Tre. Năm nay tui được ông hội đồng mời xuống đây trổ tài cho bà con coi và cũng để giật cái giải thưởng 100 đồng của ông hội đồng Chữ. Lấy được giải không những tiếng tăm lên mà còn có trăm bạc xài chơi…

Chí Nhè gật đầu cười nhưng không nói gì hết. Y đợi cho ông chủ đội múa lân phun ra rồi lúc đó mới tương kế tựu kế.

– Thường thì các đội múa lân khác chỉ có 5 thôi nhưng kỳ này tui đem theo 6 đứa lận. Kỳ này ông hội đồng treo giải 100 đồng nên tôi biết giải phải treo thật cao. Bởi vậy tôi tính cho 6 đứa lên thì mới ăn giải được. Ngặt nỗi thằng cháu bên vợ của tui nó nhậu bậy bạ rồi ói mửa tùm lum nên thiếu mất một đứa. Có 5 thì làm sao mà ăn giải được…

Dù chỉ hiểu lơ mơ về chuyện múa lân song vốn có đầu óc lương lẹo, Chí Nhè cười hì hì.

– Tưởng chuyện gì chứ chuyện đó dễ ợt… Tui thế chỗ anh gì đó cho bác…

Tám Bền nhìn chăm bẳm Chí Nhè như quan sát tướng tá xong mới hỏi.

– Chú em biết võ hông?

Thấy Chí Nhè dụ dự chưa trả lời, Tám Bền cười lên tiếng.

– Hổng biết võ thì hổng có múa lân được…

– Võ gì cũng được hả bác?

– Ừ… Thiếu Lâm, Bình Định, võ ta, võ tiều gì cũng được miễn đừng có vỏ cua vỏ còng thôi…

Nghe Tám Bền giễu, Chí Nhè cười khành khạch. Anh ta chưa kịp nói gì, Tám Bền ứng tiếng liền.

– Đâu chú em đứng tấn cho qua coi…

Bảo múa quyền, múa kiếm hay đao thương thì Chí Nhè còn e dè chứ đứng tấn thì dễ ợt. Nạt tiếng nhỏ, anh ta đạp tấn đinh. Vốn con nhà võ làm gì Tám Bền không nhận ra Chí Nhè có học võ, ít nhất cũng hơn chục năm. Gật gù Tám Bền cười hà hà vỗ vai Chí Nhè.

– Được rồi… Qua nhận chú em vào thế chỗ cho thằng Miễn. Mỗi ngày qua trả cho chú em một đồng. Nếu giật được giải nhất thì qua thưởng chú em 5 đồng…

Chí Nhè nhận lời không do dự. Bình thường y sẽ chê tiền công của Tám Bền. Mấy đồng bạc lẻ đó nhằm nhò gì đối với tay ăn trộm nghề. Nhưng vì có chủ ý riêng nên y tạm ẩn thân trong đội múa lân để chờ giờ hành sự. Núp dưới bóng đội múa lân thì hổng có ai nghi ngờ y hết.

Tám Bền và đám trai tráng của ông ta trong đó có Chí Nhè đứng dưới đất nhìn lên lan can của căn gác lửng nơi mà hội đồng Chữ sẽ treo cái phong bì đỏ đựng 100 đồng. Đội múa lân phải đủ sức chồng người cao tới chỗ đó sẽ giật được giải thưởng. Im lặng đứng ngắm nghía cái lan can cao vòi vọi, Tám Bền chắt lưỡi.

– Ông hội đồng Chữ chơi bứt gân thiên hạ… Cao như vầy thì tao dám cá trăm ăn một chẳng có đội nào giật được giải…

Quay qua Tư Trật Búa, phó đội múa lân của mình, ông ta cười hỏi.

– Thằng Tư, mày coi mình lên nổi không?

– Tui hổng biết anh Tám… từ nào tới giờ mình đâu có lên cao dữ dậy…

Lẩm nhẩm tính giây lát Tư Trật Búa gật gật cái đầu chơm bơm. Quay sang Chí Nhè, anh ta cười nói với Tám Bền.

– Chú Chí dù có võ song vì mới dô nghề vả lại ốm yếu nhỏ con nên tôi cho chú đứng trên cùng. Anh Tám thấy đặng hông?

Rít hơi thuốc rê, Tám Bền gật đầu cười.

– Thằng Tư mày tính coi bộ hạp ý tao. Nhưng mà chú phải dạy thêm nghề cho thằng Chí múa đúng bài bản để làm đẹp mắt ông hội đồng…

– Cái đó anh Tám đừng có lo… Trưa nay sau khi ăn cơm xong tui sẽ chỉ cho chú Chí vài cú lắc là xong liền… Với lại khi chồng lên cao thì chú hổng cần múa nữa mà lo giật tiền rồi xuống cho lẹ…

Hổng biết nghĩ cái gì mà Chí Nhè xen vào chuyện bằng câu hỏi.

– Chỗ đó cao thật… Hổng biết họ cất làm chi căn gác cao trật ót luôn… Cao cỡ đó té là dập lá lách… Ai ở chi mà cao vậy?

Quay nhìn Chí Nhè, Tám Bền cười cười.

– Đó là phòng ngủ của cô năm Thơm, con gái út của ông hội đồng… Chú ráng lên tới đó múa lân cho cổ coi… biết đâu chú em lại lọt vào mắt của cô năm…

Chí Nhè cười hề hề như khoái chí về lời nói đùa của Tám Bền. Trưa hôm đó ăn cơm xong, Tư Trật Búa lôi Chí Nhè ra chỗ vắng dạy tập múa lân. Học chữ nghĩa, tiếng tây tiếng u thì Chí Nhè tối dạ chứ học múa lân thì y sáng dạ lắm. Chỉ cần múa may một hồi là y múa gọn hơ và coi bộ thuộc bài bản lắm.

Đêm ba mươi tết trời tối ngửa bàn tay hổng thấy. Tuy chưa tới canh ba mà mọi người đều say ngủ trừ Chí Nhè. Ngồi trên nhánh cây bông sứ de tới gần lan can của căn gác lửng mà cũng là phòng ngủ của cô năm Thơm, y ngó và căn phòng thắp đèn mờ mờ. Chốc chốc y lại thấy bóng người đi đi lại lại. Ngồi một hồi tê chân y lầm bầm.

– Con nhỏ này hổng biết ăn cái giống gì mà thức khuya quá…

Y vừa lầm bầm mấy tiếng là đèn trong phòng cô năm Thơm tắt phụt. Chờ một lát, đoán chừng cô năm Thơm đã ngủ rồi, Chí Nhè nhanh nhẹn trổ tài. Đầu tiên y quăng sợi dây thừng ra. Sợi dây này bện bằng tơ tằm mềm mại và chắc chắn lắm, có sức chịu hai ba người đeo cũng hổng đứt. Một đầu của sợi dây tơ có móc sắt để móc chặt vào lan can. Ghì mạnh vài lần thấy không bị tuột, y mới buộc sợi dây vào nhánh cây làm thành chiếc thang dây để trèo vào phòng ngủ của cô năm Thơm. Nhanh hơn sóc, Chí Nhè đã đứng yên nơi ban công rồi sau đó bò về cánh cửa. Hên quá. Cô năm đi ngủ mà hổng có khoá cánh cửa mở ra ban công. Có lẽ cô nghĩ đâu có ai trèo lên cao để vào phòng của mình được. Lẻn vào trong phòng, Chí Nhè đứng im cho mắt quen với bóng tối xong mới bắt đầu quan sát cảnh vật. Trên chiếc giường rộng mùng buông trắng tinh, có dáng cô năm Thơm nằm ngửa ngủ mê mệt. Bước tới chiếc tủ đứng kê ở góc phòng, Chí Nhè bắt đầu lục lọi để kiếm vòng vàng nữ trang. Y biết con gái nhà giàu như cô năm Thơm thì thiếu gì vòng vàng, dây chuyền, cà rá, kiềng vàng. Rảo một vòng y tìm được mớ nữ trang. Tuy nhiên bao nhiêu đó chưa làm y vừa ý vì hổng lẽ vào nhà một ông hội đồng giàu nứt vách đổ tường mà chỉ lấy có chút nữ trang à. Đã lỡ ăn trộm rồi thì phải ăn cho no chứ. Nghĩ như thế nên Chí Nhè nhè nhẹ rút cái then cài cửa phòng cô năm rồi mở cánh cửa ra. Trong nhà tối thui do đó phải lần mò hồi lâu y mới mò ra cái cầu thang dẫn xuống dưới nhà. Vì tối quá y giẫm lên con chó đang nằm tại đầu cầu thang. Bị đau con chó sủa gâu gâu

– Ăn trộm… trộm… ăn trộm… tụi bây…

Ông hội đồng Chữ la lớn báo động cho người nhà và đầy tớ. Hoảng hồn Chí Nhè vọt trở lên lầu. Vào trong phòng cô năm Thơm, khoá cửa chặt cứng y bước ra ngoài ban công. Dưới đất, ngoài sân đuốc cháy sáng loà. Lính chạy rần rật khiến cho Chí Nhè biết mình không thể thoát thân trong lúc này. Lẹ bước trở vào trong phòng cô năm y đứng im suy nghĩ. Phen này lành ít dữ nhiều rồi. Có lẽ nhờ ông thần ăn trộm mách nước nên y vỗ trán mình cái bạch rồi à tiếng nhỏ. ” Tam thập lục kế chun dô mùng là thượng sách…”

Ý nghĩ vừa bật lên, y vén mùng chui vào giường cô năm Thơm.

– Ai vậy…? Ai chui dô giường của tui dậy?

Cô năm hỏi bằng giọng ngái ngủ. Lanh trí, Chí Nhè vung tay mặt bịt miệng cô năm không cho la làng còn tay trái chẹn ngay ngực. Sợ cô năm vùng vẩy, y leo nằm đè lên người của cô ta.

– Cô mà la lên là tui đâm đổ ruột…

Cô năm Thơm sợ cứng người vì câu hăm doạ của thằng ăn trộm. Hắn dám làm lắm à, vì cô biết hắn một tay đang bịt miệng mình, một tay chận lên ngực ngoài ra còn nằm đè lên làm cho cô không nhúc nhích gì được. Chưa hết cô cảm thấy có cái gì giống như con dao cứng và nóng hổi đang chỉa ngay bụng. Con dao này mà đâm một cái là trào máu liền.

– Thơm ơi… con ngủ hay thức dậy con… ăn trộm vào nhàn mình con ơi… con có thấy ăn trộm hông con…

Tiếng ông hội đồng Chữ vang ngoài cửa. Thúc mạnh con dao nhọn đang chĩa vào bụng, Chí Nhè thì thầm vào tai cô năm.

– Nói cô hổng thấy ăn trộm…

Giọng của cô năm Thơm cất lên như còn ngái ngủ.

– Dạ con mới thức… con đâu có thấy ăn trộm, ăn cắp gì đâu ba… con cài cửa chặt cứng mà ba…

– Vậy hả con… chắc nó sọ chạy mất rồi… thôi ngủ tiếp đi con…

Đợi cho tiếng bước chân mất hẵn, Chí Nhè mới thôi bịt miệng song vẫn còn nằm đè lên người cô năm.

– Anh đè lên người tui làm tui nghẹt thở…

– Im… cô lạng quạng tui đâm lủng ruột…

– Tui có làm gì đâu mà anh đòi đâm tui…

Cô năm mếu máo. Hết sợ bị bắt vì tội ăn trộm thì Chí Nhè lại nghĩ chuyện bậy bạ. Mũi ngửi mùi thơm thơm bốc ra từ da thịt của cô gái chưa chồng, tay thì đang đè lên ngực, người thì nằm đè với con dao nhọn lễu chỉa ngay bụng, Chí Nhè cảm thấy lòng lâng lâng vì đang nằm ở cái thế thượng phong.

– Cô tên gì?

– Dạ em tên Thơm…

Cô năm xưng em và giọng cô nghe ngọt ngào làm sao. Chí Nhè hít hít mũi.

– Hèn chi em thơm quá… Em cho anh ngửi chút nghen…

– Ngửi cái gì… có gì đâu mà ngửi…

Chí Nhè cười hề hề. Vốn dân giang hồ hắn thừa kinh nghiệm để biết những cô gái quê như cô năm Thơm còn ngây thơ và thật thà lắm. Chỉ cần chút mánh khoé là y sẽ có dịp may để ăn trộm.

– Em mà hổng cho anh ngửi là anh đâm em lủng ruột chết liền…

Vừa nói Chí Nhè vừa thúc mạnh con dao cứng ngắt và nhọn lễu của mình vào ngay tử huyệt của cô năm. Xanh mặt cô năm lắp bắp.

– Anh muốn ngửi thì ngửi đi mà anh đừng có đâm em tội nghiệp em lắm anh ơi…

Cô năm ngưng nói khi bàn tay của Chí Nhè mở nhanh mấy cái nút áo và sợi dây lưng quần. Cô cắn răng hít hà, rên rỉ, nằm im để mặc cho thằng ăn trộm hổng có ăn trộm vòng vàng nữ trang gì hết mà lại ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Suốt đêm hôm đó, không biết bao nhiêu lần thằng ăn trộm tha hồ ăn trộm mà cô chủ nhà chẳng có ” bớ làng nước ơi ăn trộm…” gì hết. Tờ mờ sáng, thằng ăn trộm bỏ đi mà cô năm Thơm vẫn nằm im nhìn theo với ánh mắt buồn buồn.

Trưa mồng một tết. Giờ múa lân bắt đầu. Đúng theo chương trình thì trước nhất đội múa lân sẽ biểu diễn cho khán giả coi rồi sau đó trổ tài chồng người lên trời để giật cái giải thưởng một trăm đồng đựng trong cái phong bì đỏ được treo nơi ban công phòng của cô năm Thơm. Thiên hạ ngồi đứng, chen chúc nhau để được coi đội múa lân của ông Tám Bền, một đội múa lân nổi tiếng nhất của tỉnh Bến Tre. Múa lân là một nghệ thuật. Chỉ cần nhìn thoáng qua con lân của Tám Bền, người có óc thưởng thức và chút hiểu biết về thuật múa lân đều phải nhìn nhận ông ta quả đã luyện tập được một đội múa lân tuyệt diệu. Khi cái đầu chuyển động là khúc mình và cái đuôi cũng phải chuyển theo, nhưng chuyển động như thế nào để làm cho con lân giống như sống dưới mắt nhìn của khán giả. Ngoài ra sự chuyển động đó còn phải ăn nhịp với tiếng trống và tiếng đàn nữa. Không biết Tám Bền tìm đâu ra một người làm ông địa, mà dân làng phải cười ra nước mắt khi nhìn cái bụng bự của y lắc lư theo nhịp chuyển động của con lân. Chắc bị ma nhập nên Chí Nhè múa cái đầu con lân lanh lẹ, nhịp nhàng, và đúng điệu khiến cho mấy anh em trong đoàn thở hổng kịp. Nghe thiên hạ hò la vỗ tay ầm ỉ Tám Bền khoái chí. Dạo đủ ba vòng, con lân dừng lại tại chỗ mà trên cao kia là phòng ngủ của cô năm Thơm. Đây là phút giây mà mọi người chờ đợi và đây cũng chính là phút giây ăn tiền nhất của đội múa lân. Họ phải chồng người lên cao để lấy cái phong bì đỏ treo lơ lửng trên lan can. Hổng chồng lên cao được là hổng có tiền. Chồng lên cao mà một người chân không vững thì có cơ ngã lăn ra đất làm trò cười cho thiên hạ. Khó hơn nữa là trong lúc chồng người lên cao họ vẫn phải múa chứ không được ngừng nghỉ. Hét tiếng trợ oai, Tư Trật Búa đạp tấn rùn người đứng làm trụ. Ăn tiền hay không phần lớn do ở y, bởi vì tất cả sức nặng của nguyên con lân năm người đều chịu trên thân thể của y. Cái đuôi là Tư Trật Búa, còn cái đầu con lân là Chí Nhè. Y là người chồng sau cùng và là người đứng trên cao nhất để lấy phong bì. Năm người lần lượt đứng trên vai nhau thành một cây người cao nghều nghệu song vẫn còn một khoảng cách khá xa mới tới chỗ treo phong bì. Tới phiên Chí Nhè trổ tài. Hét tiếng trong trẻo, y chỏi mạnh chân xuống đất lấy đà. Là tay trộm nổi danh, nên tài leo trèo và chạy nhảy của y có hạng lắm. Thân hình cao thước sáu, nặng 40 ký lô vọt lên trời cao ngang tầm của đồng bạn và bằng cái chao mình y đứng thẳng trên vai của người này. Thiên hạ la thiếu điều bể nhà khi thấy đầu con lân trổ tài. Ngay cả Tám Bền còn phải đứng tim khi chứng kiến Chí Nhè bay người lên đứng trên vai của đồng bạn. Tiếng trống nổi ầm ầm. Đứng trên cao, như có ý định thầm kín nào đó, Chí Nhè bắt đầu chuyển động cái đầu lân chứ chưa chịu nhảy lên lấy phong bì. Hể y động thì năm người làm thân và đuôi con lân cũng phải chuyển theo tạo ra con lân cao ngất ngưỡng trên trời. Thiên hạ khoái quá hò hét vang lừng. Ngay lúc đó mọi người nghe tiếng hét trong trẻo của Chí Nhè vang lên rồi thân hình y vọt lên cao hơn chút nữa vừa đủ để cho y đỡ nhẹ cái phong bì màu đỏ rồi tà tà rơi xuống đất, còn năm người kia cũng lần lượt nhảy xuống. Thiên hạ vỗ tay rần rần hoan hô cho đội múa lân đã lấy được giải thưởng của chủ nhà. Theo thông lệ thì đội múa lân sẽ trình diện với chủ nhà và khán giả. Ngồi trên khán đài sau lưng ba của mình, cô năm Thơm nhìn trân trân người thủ vai cái đầu con lân. Trong bộ võ phục màu đen, thắt lưng trắng, chân mang hài xão, người vừa trổ tài giật giải thưởng không ai khác hơn là cái bản mặt đáng ghét của thằng ăn trộm mà đêm hôm qua đã ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Bây giờ hắn đang đứng với nụ cười và ánh mắt nhìn làm cho cô đỏ mặt, run rẩy tay chân và hơi thở rộn ràng.

Đêm mồng năm thật im vắng. Tết đã qua và sinh hoạt trong nhà của hội đồng Chữ cũng trở lại bình thường. Chỉ có cô năm Thơm là không được bình thường. Cô thờ thẩn như người mất hồn. Tên ăn trộm bỏ đi mất biệt mang theo số vòng vàng nữ trang của cô. Điều đó chẳng làm cô bận tâm. Điều khiến cho cô buồn là hắn đi không có lời từ biệt. Ngồi im lặng trước gương cô thở dài lấy cái lược đồi mồi chải nhè nhẹ mái tóc huyền của mình. Nghe có tiếng cửa mở cô quay lại. Trước mặt cô là tên ăn trộm. Gã không có gì khác lạ. Nếu có là nụ cười thân thiện và ánh mắt nhìn âu yếm.

– Anh trở lại đây làm gì?

Cô năm thờ ơ hỏi. Tên ăn trộm cười nhẹ.

– Anh trả lại em mấy món nữ trang mà anh đã lấy…

Đặt cái túi vải đựng vòng vàng và nữ trang lên giường, tên ăn trộm cười tiếp.

– Em có muốn anh trở lại nữa không?

Mắt ươn ướt lệ, cô năm Thơm khẽ gật đầu. Tên ăn trộm bước tới thì thầm vào tai cô những gì mà chỉ thấy cô cười gật đầu lia lịa. Ba tháng sau, dân trong làng kéo nhau đi ăn đám cưới của cô năm Thơm. Chàng rể của ông hội đồng tên Chí, nhà cửa ở Sài Gòn. Không ưng ý chàng rể lắm song ông hội đồng Chữ cũng phải gả con vì cái bụng của cô năm Thơm bắt đầu u lên rồi. Trể thì cái bụng sẽ còn lớn hơn nữa. Vì cô năm Thơm không muốn sống xa cha mẹ đã già nên Chí bằng lòng ở rể. Lâu ngày sống gần nhau ông hội đống Chữ đâm ra thương thằng rể biết chí thú làm lụng mà hổng có ăn chơi đàn đùm.

chu sa lan

From: Tu-Phung


 

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

Thứ 5: 5/2/2026. (t6-21)

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục. 

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.” 

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. 

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Kinh cầu nguyện với Thánh Agata

“Ôi Thánh Agata, trinh nữ cao quý và vinh quang, đã làm tất cả các phép lạ giữa những đau đớn khủng khiếp nhất, được Chúa gởi Thánh Phêrô đến để chữa lành các vết thương. Từ trời cao, qua lời cầu bàu mãnh liệt của nữ thánh tử đạo, xin cho con cũng được lành như nữ thánh. Thánh Agata, niềm vinh dự của Chúa, bị quan thái thú, Quintien hung ác xẻo vú, xin Thánh Agata cầu bàu cùng Chúa và Đức Mẹ cho con, cho con khỏi các triệu chứng của căn bệnh này. Amen”.

Sau đó đọc ba lần câu: “Lạy Thánh Agata, xin cầu nguyện cho con và đọc thêm Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh. 

From: Do Dzung

*************************

Xin Chúa Đoái Thương Chữa Lành Chúng Con

NHÂN ĐỨC LẺ LOI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới”.

“Một nhân đức đứng một mình sẽ sớm ngã!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhân đức không thể đứng một mình! Lời Chúa hôm nay cho thấy, bi kịch của Hêrôđê không khởi đi từ lưỡi gươm, nhưng từ một ‘nhân đức lẻ loi!’.

Hêrôđê không hoàn toàn mù loà. Ông kính nể Gioan, biết Gioan là người công chính, thánh thiện; ông còn “thích nghe” Gioan. Nghĩa là trong lòng ông vẫn còn một khoảng sáng. Nhưng khoảng sáng ấy bị cô lập. Kính nể mà không hoán cải; lắng nghe mà không quyết tâm; xúc động mà không đổi thay – đó là một ‘nhân đức lẻ loi’. Nó không đủ sức chống lại dục vọng, sĩ diện và nỗi sợ. “Một thói xấu luôn mở cửa cho nhiều thói xấu khác!” – Grêgôriô Cả.

Vậy mà các nhân đức luôn tăng trưởng như một cơ thể sống: đức tin mở đường cho đức cậy, đức cậy bền bỉ trong thử thách, đức ái hoàn thiện tất cả. Tách một nhân đức khỏi toàn bộ, chúng ta không còn đức hạnh, chỉ còn những mảnh vỡ đạo đức. Hêrôđê kính sợ Gioan nhưng không đủ tiết độ để chặn đứng đam mê; không có công chính để trả tự do cho người vô tội; không có can đảm để rút lại một lời thề ngông cuồng. Dục vọng sinh bất công; bất công sinh dối trá; dối trá sinh bạo lực. Và cuối chuỗi domino đó, một cái đầu nằm trên mâm – như một kết cục không thể tránh – là cái giá phải trả cho những thoả hiệp ban đầu. “Nhân đức là một bản hoà âm; chỉ cần một dây đứt, cả nhạc cụ sẽ lạc điệu!” – Tôma Aquinô.

Cơ chế ấy không xa lạ! Chúng ta thích nghe Lời Chúa, nhưng không muốn Lời chạm vào những vùng tối; kính trọng sự thật, nhưng không dám để sự thật làm bẽ mặt; giữ lại một vài nhân đức “đẹp”, trong khi âm thầm dung dưỡng một đam mê không được thanh luyện. Tội lỗi không bùng nổ trong một đêm; nó lớn lên từ những nhượng bộ nhỏ mà chúng ta tự trấn an. Và rồi, đến một lúc, chúng ta nhận ra đời mình bị chi phối không phải bởi ánh sáng, nhưng bởi bóng tối đã “được mời vào từ trước”. “Xiềng xích của thói quen thường quá nhẹ để cảm thấy, cho đến khi quá nặng để bẻ gãy!” – Samuel Johnson.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm Chúa Kitô, chúng ta thấy điều ngược lại. “Các Mối Phúc là bức tự hoạ của Ngài!” – Von Balthasar. Nơi Ngài, không có mảnh vỡ nào trong đời sống nội tâm. Nghèo khó không tách khỏi vâng phục; hiền lành không rời công chính; xót thương không đối nghịch sự thật; trong sạch không đứng ngoài thập giá. Mỗi Mối Phúc là một nhịp đập của cùng một trái tim, và trái tim ấy hoàn toàn thuộc về Chúa Cha. Nơi Ngài, các nhân đức không đứng lẻ loi; chúng quy tụ trong đức ái và đạt tới sự toàn vẹn cứu độ. Cũng thế, đời sống thiêng liêng của chúng ta không thể dừng lại ở một vài nét đẹp rời rạc; đường nên thánh không phải là sưu tập đức tính, nhưng là bước vào sự hiệp nhất nội tâm của Chúa Con. “Nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là nên giống toàn bộ đời sống của Ngài!” – Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thích nghe mà không đổi thay, xin đánh thức con; con thích ánh sáng mà chuộng bóng tối, xin hoán cải con; con sợ mất mình nên đánh mất Chúa, xin quy tụ lòng con nên một!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần IV Thường Niên

Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,14-29

14 Khi ấy, vua Hê-rô-đê nghe biết về Đức Giê-su, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói : “Đó là ông Gio-an Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.” 15 Kẻ khác nói : “Đó là ông Ê-li-a.” Kẻ khác nữa lại nói : “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ.” 16 Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói : “Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy !”

17 Số là vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, 18 mà ông Gio-an lại bảo : “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài !” 19 Bà Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được. 20 Thật vậy, vua Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.

21 Một ngày thuận lợi đến : nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê. 22 Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái : “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.” 23 Vua lại còn thề : “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được.” 24 Cô gái đi ra hỏi mẹ : “Con nên xin gì đây ?” Mẹ cô nói : “Đầu Gio-an Tẩy Giả.” 25 Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng : “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.” 26 Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. 27 Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, 28 bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ. 29 Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt trong một ngôi mộ. 


 

LÒNG THAM CỦA CON NGƯỜI KHI KHÔNG BIẾT ĐỦ

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Con người khổ không hẳn vì thiếu, mà khổ nhiều hơn vì không biết mình đã đủ. Khi lòng tham lên tiếng, những gì đang có bỗng trở nên nhỏ bé, những điều đã đạt được bỗng hóa vô nghĩa. Ta bắt đầu nhìn cuộc đời bằng ánh mắt so sánh, đo đếm hạnh phúc của mình bằng tiêu chuẩn của người khác, rồi tự tay biến bình yên thành bất an.

Lòng tham không xuất hiện ồn ào. Nó đến rất khẽ, núp sau những mong cầu tưởng như chính đáng. Ban đầu chỉ là muốn hơn hôm qua một chút, rồi hơn người bên cạnh một bước. Dần dần, khi đạt được điều này, ta lại sinh ra ham muốn khác. Có tiền rồi muốn thêm quyền, có quyền rồi muốn thêm danh, có danh rồi muốn thêm sự tôn thờ. Cái “đủ” bị dời mãi về phía xa, còn tâm thì chẳng bao giờ chịu dừng lại.

Người không biết đủ thường sống trong trạng thái thiếu thốn triền miên, dù tay họ đang nắm rất nhiều. Ăn một bát cơm mà nghĩ đến mâm cao cỗ đầy, ở trong căn nhà ấm áp mà mơ đến lâu đài của kẻ khác. Họ có thể cười, nhưng nụ cười luôn thấp thoáng nỗi lo mất mát. Họ có thể giàu, nhưng trong lòng lại nghèo nàn sự an yên.

Lòng tham khiến con người dễ đánh đổi. Đánh đổi thời gian lấy tiền bạc, rồi dùng tiền bạc để mua lại chút thời gian còn sót. Đánh đổi sức khỏe lấy thành công, đến khi thành công thì sức khỏe không còn. Đánh đổi sự tử tế để đạt lợi ích trước mắt, đến lúc quay đầu mới nhận ra mình đã mất đi điều quý giá nhất là nhân cách.

Đáng sợ nhất của lòng tham là nó làm mờ lương tri. Khi không biết đủ, người ta dễ biện minh cho sai trái của mình. Một bước lấn tới được gọi là “khôn ngoan”, một lần tổn hại người khác được xem là “cạnh tranh”. Lâu dần, ranh giới giữa đúng và sai bị xóa nhòa, chỉ còn lại câu hỏi: làm sao để được nhiều hơn.

Có những người cả đời chạy theo cái gọi là hơn thua, đến cuối con đường mới nhận ra mình chưa từng sống thật. Họ có thể sở hữu nhiều thứ, nhưng chưa từng sở hữu chính mình. Bởi tâm luôn hướng ra ngoài, nên chưa bao giờ quay vào trong để hỏi: mình cần gì, và mình đủ chưa.

Biết đủ không phải là an phận hay ngừng cố gắng. Biết đủ là hiểu rõ giới hạn của lòng mình, là nỗ lực trong tỉnh thức, không để ham muốn kéo mình đi quá xa khỏi giá trị cốt lõi. Người biết đủ vẫn làm việc, vẫn vươn lên, nhưng không để thành bại quyết định sự bình an trong tâm.

Khi con người học được hai chữ “đủ rồi”, lòng sẽ nhẹ. Nhẹ để biết trân trọng những điều đang có. Nhẹ để thấy hạnh phúc không nằm ở việc hơn người khác, mà ở việc hôm nay mình sống có ngay thẳng, có tử tế, có an nhiên hay không. Lúc ấy, dù đời có cho thêm hay bớt, tâm vẫn vững vàng.

Thứ con người cần nhất không phải là nhiều hơn, mà là sâu hơn. Sâu trong hiểu biết, sâu trong thương yêu, sâu trong sự tỉnh thức. Khi lòng đủ sâu, tham tự khắc cạn. Khi tâm đã đủ đầy, cả thế gian rộng lớn cũng chỉ vừa vặn trong một nụ cười bình thản.

Tg Phạm Nhật Minh

Ngày 30/01/2026

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Muối và ánh sáng là hai chất liệu rất bình thường và cũng rất cần thiết cho cuộc sống con người.  Muối và ánh sáng không hiện hữu cho bản thân, nhưng hiện hữu để phục vụ.  Muối làm cho đồ ăn thêm hương vị và cần thiết cho sức khỏe.  Ánh sáng giúp con người phân biệt và nhận ra đường lối phải đi.  Bài Tin Mừng hôm nay được đặt trong ngữ cảnh bài giảng trên núi, liền ngay tám mối phúc thật mà chúng ta đã suy niệm tuần trước.  Giữa bài giảng về tám mối phúc thật và đoạn Tin Mừng hôm nay có mối liên hệ sâu sắc: những gì Chúa Giê-su mời gọi chúng ta thực hiện (trở nên muối và ánh sáng) là điều kiện để đạt được những mối phúc mà Người đã nói trước đó.

 Dưới ánh sáng của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hiểu rõ hơn lời ngôn sứ I-sai-a (Bài đọc I).  Vị ngôn sứ kêu gọi Ít-ra-en quảng đại chia sẻ với người nghèo, cứu giúp và nâng đỡ những ai lâm cảnh bần cùng đói khổ.  Khi làm như thế, “ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành.”  Những gì vị ngôn sứ diễn tả tiếp đó chứng minh một sự thật này: khi quảng đại chia sẻ với tha nhân, sự thánh thiện và niềm vui thiêng liêng sẽ thấm đượm cuộc đời chúng ta, và khi ấy, Chúa sẽ nhận lời chúng ta kêu cầu.  Ở đoạn cuối của Bài đọc này, vị ngôn sứ khẳng định một lần nữa: “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói… thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”  Thật là kỳ diệu, những việc thiện hảo có khả năng phát ra ánh sáng thần thiêng, đồng thời làm cho những người thực hiện công việc ấy cũng trở nên ánh sáng.

Ý tưởng ánh sáng còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 111 được đọc trong phần Đáp ca.  Ánh sáng của Chúa chiếu rọi kẻ ngay lành, nhờ đó họ cũng trở nên ánh sáng và lan tỏa xung quanh soi cho những người đang đi trong tối tăm.  Cũng như muối và ánh sáng hiện hữu để phục vụ, Ki-tô hữu trở nên muối và ánh sáng để giúp nhiều người nhận biết Chúa.  Những việc thiện chúng ta làm sẽ giúp cho mọi người ca tụng Chúa, và như thế, Chúa được tôn vinh nơi chúng ta.  Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng.  Chiếc đèn không để sử dụng cho riêng mình, nhưng cho người khác.  Ki-tô hữu là ánh sáng để giúp cho người khác nhận ra đường đi.  Đó là con đường của Chân lý.

Thánh Phao-lô (Bài đọc II) lại muốn suy tư về ánh sáng trong mầu nhiệm thập giá.  Thông thường, người ta tự hào về những vinh quang danh giá.  Ngược lại, Phao-lô lại tự hào về thập giá Đức Ki-tô.  Hơn nữa, trong quãng đời còn lại của mình, ông không còn chú tâm đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su, mà là Đức Giê-su chịu đóng đinh.  Sở dĩ như thế vì Phao-lô đã cảm nhận rõ nét sức mạnh và ân sủng của Chúa, khi ông chấp nhận những gian nan vì Danh Ngài.  Ông luôn xác tín vào lời Chúa hứa: “Ơn Ta đủ cho con!”  Lời hứa ấy đã giúp ông tìm được sức mạnh giữa những thử thách.

Ki-tô hữu sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian.  Cuộc sống chúng ta luôn bị bủa vây bởi những cám dỗ tư bề.  Có những lúc muối đức tin trở nên nhạt và vô dụng.  Tại sao muối lại nhạt?  Chắc chắn Chúa Giê-su không nói về muối theo nghĩa hóa học, vì theo lẽ thường, muối không thể tự nhiên mất vị mặn.  Ở đây, Người muốn nói đến người môn đệ đánh mất căn tính, sống đức tin hời hợt, không còn sức ảnh hưởng đối với môi trường xung quanh.  Chúa Giê-su cảnh báo: đức tin có thể bị “nhạt” nếu ta thỏa hiệp; đời sống thiêng liêng có thể “mất vị” nếu ta sống theo thế gian; người môn đệ có thể trở nên vô dụng nếu đánh mất tinh thần Tin Mừng.  Đây không phải lời kết án, mà là lời mời gọi trở lại với nguồn mặn của mình: Lời Chúa, Thánh Thể, và đời sống yêu thương.

Khi Chúa Giê-su dùng hình ảnh muối để nói với chúng ta, là Người dựa vào thực tế ở đất nước Ít-ra-en.  Tại đó, có một loại muối trong lòng đất hay muối mỏ, không tinh khiết như muối biển tinh luyện ngày nay.  Nó trộn lẫn với đất, thạch cao và khoáng chất.  Khi gặp ẩm, natri clorua tan hết, chỉ còn lại cặn trắng trông giống muối nhưng không còn mặn.  Vì thế, người ta vứt ra đường cho người ta giẫm lên – đúng như lời Chúa nói.

Cuộc sống hôm nay còn nhiều khó khăn, nhưng “thà thắp nên một ngọn nến nhỏ còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”  Thay vì bình luận, chỉ trích và phê phán, mỗi chúng ta hãy cố gắng gieo mầm yêu thương giữa trần gian.  Như muối làm cho thực phẩm thêm hương vị, Ki-tô hữu hãy sống thánh thiện để đem hương vị Tin Mừng vào cuộc sống.  Như ánh sáng giúp soi đường đi, Ki-tô hữu hãy thực thi bác ái để góp phần chiếu sáng thế gian.  Thánh Phao-lô khẳng định: đức tin của chúng ta không dựa vào lẽ khôn ngoan của người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.  Quả vậy, Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện nơi chúng ta những điều kỳ diệu, nếu chúng ta biết cậy trông nơi Ngài.

Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta đã viết: “Tình yêu là hoa trái lúc nào cũng đang đúng mùa, và ai cũng có thể với tay chạm tới – Love is a fruit in season at all times, and within reach of every hand.”  Điều này cũng có nghĩa: đừng than trách không có hoa trái, chỉ là do mình có đưa tay ra hái hay không thôi.  Xin cho chúng ta nhận ra những cơ hội luôn hiện hữu xung quanh mình để trở nên muối và ánh sáng cho cuộc sống hôm nay. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 From: Langthangchieutim


Những Điều Cần Phải Thực Hiện – Bài viết của Phùng Văn Phụng

Bài viết của Phùng Văn Phụng

Đọc bài viết của Linh mục Mi Trầm như sau:

Đã Đến Lúc Phải Thực Hiện “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với người khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời người. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa.
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè. Người khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho người. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. 10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo InternetTừ FB Linh mục Mi Trầm

Tha thứ cho mình và cho người. Làm quen với sự chết. Hãy thuận hòa với Thượng Đế. Ba điều chót 8, 9, 10 tôi thường xuyên nhắc nhở mình và cố gắng thực hành.

Không tha thứ là lấy sự sai lầm của người khác mà trừng phạt chính mình. Không tha thứ là mình uống thuốc độc mà mong người mình không ưa hay mình thù ghét sẽ chết.

Nhà văn, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê có nhắc nhở rằng làm việc phải có kỷ luật, nếu không có tư tưởng gì để viết, cứ đúng giờ 8 giờ sáng, 2 giờ chiều tự động ngồi vào bàn viết, tư tưởng sẽ có, để viết bài. Ông Nguyễn Hiến Lê hạn chế việc tham dự tiệc tùng. Vì vậy cho nên ông đã để lại cho đời hơn trăm tác phẩm có giá trị.

Tôi đã không áp dụng kỷ luật cho bản thân nên không để lại được gì cho đời sau.

Nếu làm việc đều đặn, kiên trì, kỷ luật giống như nhà văn Nguyễn Hiến Lê – vô cùng khó khăn. Nhưng nếu làm được như vậy, có lẽ đã có “cái gì đó?” để lại cho đời sau.

Nhưng mà nếu có để lại “cái gì” cho đời sau thì liệu rằng được thời gian bao lâu để có người còn nhớ đến mình. Nguyễn Du đã nói:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà như khấp Tố Như”.

Thi sĩ Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, tác giả Truyện Kiều còn nói như thế; còn mình, người bất tài thì sao?

Tin tức bảo tuyết vừa qua:

Trận bảo tuyết vừa qua, tính đến 7 giờ tối ngày thứ hai 19 tháng 01 năm 2026, ít nhất có 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang chịu ảnh hưởng.

Hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị mất điện hôm thứ hai hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hay bị hoãn.

nguồn: https://www.nguoi-viet.com

Vài cảm nghĩ riêng tư:

Chúa nhật ngày 01 tháng 02 vừa qua, có hai người thân đã ra đi, đó là anh Trần Hùng Peter, lớn hơn tôi một tuổi, trong Đoàn Liên Minh Thánh Tâm của Giáo xứ Ngôi Lời Nhập Thể và anh Út Muôn, nhỏ hơn tôi một tuổi, con cô sáu tôi ở làng Tân Tập, quận Cần Giuộc.

Thật là một điều kỳ diệu đến hôm nay tôi vẫn còn sống mặc dầu sức khỏe có yếu đi, mau mệt. Uống thuốc nhiếp hộ tuyến, thuốc cao mở và thuốc đau bao tử đều đặn mỗi ngày.

Từ một người thích thể thao, đã từng thi chạy đua, rồi không thể chạy đua được nữa, sau hơn 6 tháng trị bịnh sốt rét ngã nước do bác sĩ người Pháp điều trị mới hết được.

Học nhiều quá không chơi thể thao, không tập thể dục, rồi đi tù, chịu đựng gian khổ, chịu đói triền miên, còn bốn tháng nữa là đủ 8 năm tù, cho nên sức khỏe không như trước kia được.

Như vậy, mà sống được tới ngày hôm nay, còn 6 tháng nữa đã tới 84 tuổi tây (tính tuổi ta là 85 tuổi) có phải là điều quá sức kỳ diệu không? Tạ ơn Chúa.

–         Có công việc làm để sinh hoạt tuổi già như trồng cây, đọc sách – Tôi có website để đưa bài lên và thỉnh thoảng viết vài bài – vậy là tôi có việc làm, rất vui rồi.

–         Có đủ tiền để sống không phải nhờ cậy con cái.

–         Có đủ sức khỏe để còn lái xe được, một tuần ba lần, còn có thể vô “24 Hour Fitness”, để đi bộ, để tập thể dục được là mừng lắm rồi.

–         Còn ăn uống, tự túc được, không phải nhờ người khác tắm rửa, đút cơm v.v… vậy là quý lắm rồi.

Làm sao biết được lúc nào mình sẽ ra đi. Ai ai rồi cũng phải chết. Sinh lão bịnh tử là qui luật của tạo hoá. Có sinh là có tử.

Tam đoạn luận “làm người ai cũng phải chết, tôi là người, vậy tôi phải chết” người ta cho rằng đó là câu nói của triết gia Socrates?

Cần gởi lại cho con cháu những tâm sự, những kỷ niệm, lời nhắc nhở, những lời khuyên, có lẽ tôi đã viết đầy đủ trong các bài viết, đã đưa lên Website “kẻ đi tìm” rồi.

Phùng Văn Phụng

Ngày 03 tháng 02 năm 2026


 

KHÔNG THÀNH CÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân!”.

“Họ phải nói nhân danh Chúa Giêsu và rao giảng Nước Thiên Chúa mà không lo lắng về việc liệu có thành công hay không. Thành công – sự thành công đó phải để Chúa quyết định!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho thấy thực tế các môn đệ sẽ nói mà không phải ai cũng nghe; dẫu vậy, họ “vẫn phải rao giảng và để thành công cho Chúa quyết định”. Vì thế, Hội Thánh ngay từ đầu – dĩ nhiên – đã trải nghiệm một khởi điểm… ‘không thành công’.

Các môn đệ lên đường không với bảo đảm thành công, nhưng với một lời sai đi. Họ không biết, người nghe sẽ thế nào. Có nơi mở cửa; có nơi đóng lại. Có người tin; có kẻ dửng dưng. Nhưng điều quan trọng không nằm ở kết quả, mà ở sự trung tín. Điều đáng nói là sự ‘không thành công’ ấy không chỉ đến từ bên ngoài; ngay chính họ sau ba năm ở với Thầy cũng từng chậm tin. Khi nghe loan báo Thầy sống lại, họ nghi ngờ; đối diện mầu nhiệm Phục Sinh, họ lúng túng. Trước khi trở thành người thuyết phục người khác, họ đã phải đi qua bóng tối trong chính mình. Rõ ràng, sứ vụ được trao cho những con người mong manh. “Thành công không phải chấm hết, thất bại không phải diệt vong; điều quyết định là dũng khí tiếp tục!” – Winston Churchill.

Cũng vậy, với chúng ta. Khi quá ám ảnh bởi kết quả, chúng ta vô tình đặt mình vào trung tâm; nhưng khi buông mọi thành quả cho Chúa, chúng ta trở lại đúng vị trí của người được sai. Có những mùa ‘không thành công’ không phải vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang thanh luyện động cơ của chúng ta. Ngài lấy đi sự bảo đảm để trả lại sự phó thác; Ngài bẻ gãy sự kiểm soát để mở ra tự do; Ngài làm nghèo kết quả để làm giàu tình yêu. Vì thế, nếu đồng hoá giá trị của mình với những thành quả, chúng ta sẽ sớm nản lòng; nhưng nếu tâm niệm rằng, chúng ta chỉ là những người được sai, chúng ta sẽ học cách giũ bụi – không cay đắng, không thất vọng, để chỉ tiếp tục lên đường. “Nhờ kiên trì, nhiều người chiến thắng từ những gì dường như chắc chắn là thất bại!” – Benjamin Disraeli.

Anh Chị em,

Hãy nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu. Nếu đo bằng thành công nhân loại, đó là một thất bại: bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị kết án và đóng đinh. Không đám đông ủng hộ, không chiến thắng hiển nhiên. Thập Giá là hình ảnh tận cùng của ‘không thành công’. Thế nhưng chính nơi ấy, tình yêu đạt tới mức viên mãn và Nước Thiên Chúa được khai mở, ơn cứu độ tuôn trào. Bởi đó, khi Hội Thánh hay khi mỗi chúng ta đi qua những mùa khô khốc – không được đón nhận – chúng ta không ở ngoài con đường của Chúa Kitô. Ngài đã đi trước trong kinh nghiệm bị từ chối. Và chính từ nơi tưởng như thất bại ấy, mùa cứu rỗi nở hoa. “Thất bại tưởng chừng của Thứ Sáu Tuần Thánh đã là hạt mầm của sáng Phục Sinh!” – Raniero Cantalamessa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bị khước từ, xin giữ con trung tín; khi con không thấy kết quả, xin giữ con tự do; khi con rao giảng, cho con – đừng tìm con – chỉ tìm vinh quang Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IV Thường Niên

Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,7-13

7 Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. 8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; 9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. 10 Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” 12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. 13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.