CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Patrick Lew Hayashi – PLBCông Giáo Rôma

  CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

”Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Có những con người, càng đi qua năm tháng, người ta càng nhớ.

Không phải vì họ đã làm nên những điều vĩ đại khiến lịch sử phải ghi tên, mà bởi cuộc đời họ đã lặng lẽ chạm đến trái tim của biết bao người.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một người như thế.

Suốt gần tám mươi năm qua, dòng người vẫn không ngừng tìm về Tắc Sậy. Có người đến để tạ ơn, có người đến để cầu xin, có người chỉ đơn giản muốn ngồi thật lâu bên phần mộ của một vị linh mục mà họ chưa từng gặp. Điều lạ lùng là rất nhiều người trong số ấy không phải là người Công giáo.

Họ đến vì tin rằng, ở nơi ấy có một tình yêu rất thật.

Một tình yêu đã được viết nên bằng cả cuộc đời.

Và ngày 02 tháng 7 năm 2026 tới đây, niềm tin ấy được Giáo hội long trọng tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước.

Đó không chỉ là niềm vui của Giáo phận Cần Thơ hay của người Công giáo Việt Nam, mà còn là lời tạ ơn vì giữa lòng dân tộc Việt đã có một vị mục tử sống trọn vẹn Tin Mừng của Đức Kitô.

Cha Diệp sinh năm 1897 trong một gia đình Công giáo bình dị ở miền Tây Nam Bộ.

Tuổi thơ của ngài không có gì đặc biệt. Con đường dâng mình cho Chúa cũng giống như biết bao chủng sinh khác của thời ấy: âm thầm học tập, kiên trì cầu nguyện và từng ngày chuẩn bị cho chức linh mục.

Năm 1924, ngài được truyền chức.

Không ai biết rằng, vị linh mục trẻ năm ấy sẽ trở thành một trong những gương mặt được người dân Việt Nam yêu mến nhất.

Điều làm nên sự đặc biệt của Cha Diệp không phải là những bài giảng hùng hồn.

Không phải những công trình lớn lao.

Cũng không phải những chức vụ quan trọng.

Điều làm nên con người ngài lại là những điều rất nhỏ.

Một nụ cười dành cho người nghèo.

Một lời an ủi dành cho người đang tuyệt vọng.

Một bữa cơm sẻ chia.

Một chuyến đi thăm người bệnh giữa đêm.

Một cánh cửa nhà xứ luôn rộng mở.

Ngài sống giữa người dân như một người cha hơn là một vị lãnh đạo.

Có lẽ vì thế mà người ta gọi ngài bằng cái tên rất thân thương:

“Cha Diệp.”

Không cần thêm bất cứ danh xưng nào nữa.

Rồi chiến tranh tràn về.

Những ngày đầu năm 1946, miền Tây chìm trong loạn lạc, ly tán.

Nỗi sợ hãi phủ kín các làng quê.

Người ta tìm cách chạy trốn.

Ai cũng mong giữ lấy mạng sống của mình.

Cha Diệp cũng có cơ hội để rời đi.

Nhiều người đã khuyên ngài như thế.

Nhưng nếu người mục tử bỏ đi trước, ai sẽ ở lại với đoàn chiên?

Có lẽ chính trong khoảnh khắc ấy, cuộc đời Cha Diệp đã phản chiếu rõ nhất hình ảnh của Đức Giêsu.

Ngài không chọn sự an toàn.

Ngài chọn đoàn chiên.

Ngài không chọn cứu mình.

Ngài chọn ở lại.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, Cha Diệp bị bắt cùng nhiều giáo dân.

Theo nhiều chứng từ được lưu truyền và được nghiên cứu trong hồ sơ phong chân phước, ngài đã chấp nhận hy sinh chính mình để nhiều người khác được tha mạng.

Cuối cùng, vị linh mục ấy ngã xuống.

Không phải trên bục giảng.

Không phải trong tiếng chuông nhà thờ.

Mà giữa một thời khắc đầy hận thù của chiến tranh.

Ngài chết khi vẫn đang sống đúng điều mình đã rao giảng.

“Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

Có lẽ không có bài giảng nào hùng hồn hơn chính cái chết ấy.

Có những cái chết khép lại một cuộc đời.

Nhưng cũng có những cái chết mở ra một hành trình mới.

Cha Diệp thuộc về điều thứ hai.

Từ một ngôi mộ nhỏ ở Tắc Sậy, từng đoàn người tìm đến.

Ban đầu là giáo dân trong vùng.

Rồi đến những người ở khắp mọi miền đất nước.

Ngày nay, Tắc Sậy đón những bước chân đến từ nhiều quốc gia, nhiều tôn giáo, nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Có người mang theo bệnh tật.

Có người mang theo những đổ vỡ.

Có người mang theo những lời cầu xin chưa biết ngỏ cùng ai.

Và cũng có người chỉ đến để cảm nhận một sự bình an rất khó diễn tả.

Điều giữ họ quay trở lại không phải vì những câu chuyện kỳ diệu được truyền miệng.

Mà là vì họ nhìn thấy nơi Cha Diệp hình ảnh của một con người đã yêu thương đến tận cùng.

Một tình yêu không phân biệt giàu nghèo.

Không phân biệt tôn giáo.

Không phân biệt thân quen hay xa lạ.

Một tình yêu mang khuôn mặt của Đức Kitô.

Việc Giáo hội tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước hôm nay không phải là để dựng thêm một bức tượng.

Cũng không phải để người ta chỉ biết đến ngài như một vị chuyển cầu cho những ơn lành.

Điều Giáo hội muốn nhắc chúng ta chính là chứng tá của một cuộc đời.

Giữa một thế giới mà con người ngày càng sợ mất mát, Cha Diệp dạy chúng ta biết cho đi.

Giữa một xã hội mà ai cũng muốn bảo vệ chính mình, ngài dạy chúng ta biết ở lại với người khác.

Giữa những tính toán hơn thiệt của cuộc sống, ngài nhắc chúng ta rằng tình yêu đích thực luôn cần sự hy sinh.

Có lẽ đó cũng là lý do vì sao, sau gần một thế kỷ, người ta vẫn gọi tên Cha Diệp bằng tất cả sự kính yêu.

Không phải vì ngài đã làm những điều phi thường.

Mà vì ngài đã sống điều bình thường với một tình yêu phi thường.

Yêu thương bằng cả trái tim.

Phục vụ bằng cả cuộc đời.

Và trao hiến đến hơi thở cuối cùng.

(Nguồn: Catholic News)

(Lm. Trần Chính Trực) 


 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026 acebookXEmailPrint

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

ĐẤT CỦA HEO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thành ra đón Đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ”.

“Điều duy nhất còn lại để sự dữ chiến thắng là người tốt không làm gì cả!” – Edmund Burke.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự dữ không luôn chiến thắng bằng sức mạnh của ma quỷ. Nhiều khi, chỉ cần con người không làm gì cả. Tin Mừng hôm nay kể về một vùng đất, nơi người ta coi tài sản quý hơn con người; và cuối cùng, quý hơn Thiên Chúa. Tôi gọi đó là ‘đất của heo’.

Matthêu mở đầu trình thuật bằng một chi tiết tưởng như rất nhỏ: Chúa Giêsu “sang bờ bên kia”. Đó không chỉ là một di chuyển địa lý, nhưng là một vượt biên thần học. Hy Lạp gọi to peran – không chỉ bờ bên kia Galilê, nhưng bờ bên kia của mọi ranh giới. Đó là miền đất dân ngoại, có mồ mả và đàn heo – tất cả đều gợi lên sự ô uế đối với người Do Thái. Thế nhưng, nơi con người tránh né, Chúa Giêsu lại bước vào. “Thiên Chúa luôn ở nơi con người tưởng Ngài không thể có mặt!” – Madeleine Delbrêl.

Vùng đất ấy có hai người bị quỷ ám, sống giữa mồ mả, bị tước mất nhân phẩm. Nhưng chỉ một lời của Chúa Giêsu, họ được trả lại tự do. Tưởng như cả thành sẽ vui mừng vì hai con người được tìm lại. Vậy mà không! Họ ra đón Chúa Giêsu chỉ để xin Ngài rời khỏi vùng đất của mình. Hai người anh em vừa được cứu vẫn không quý bằng một đàn heo. Đó là lúc Matthêu cho thấy thế nào là ‘đất của heo’.

Và này, thật chua chát: “Hỡi Con Thiên Chúa!”. Ma quỷ nhận ra Chúa Giêsu trước con người! Chúng biết mình đang đối diện với ai, biết ngày phán xét sẽ đến: “Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao?”. Nhưng chúng chỉ biết run sợ, chứ không quy phục. Dân thành thì không nhận ra Chúa Giêsu; họ không phủ nhận phép lạ, nhưng lại không muốn Đấng làm phép lạ ở lại. Hoá ra, nhận ra Đức Kitô chưa phải là thuộc về Ngài; và gặp Chúa chưa hẳn là đón nhận Ngài.

Amos cho thấy ‘đất của heo’ không chỉ ở Gađara. Đó là bất cứ nơi nào công lý bị đánh đổi lấy quyền lợi, và con người bị hy sinh cho lợi ích. Mỗi lần như thế, chúng ta lại âm thầm mời Chúa rời khỏi vùng đất của mình. Vì thế, Amos cất tiếng: “Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không quay lưng với miền đất khước từ Ngài. Dù bị đuổi khéo, Ngài vẫn tiếp tục bước tới. Chính nơi con người muốn loại trừ Ngài, Thiên Chúa lại khai mở ơn cứu độ. Từ thập giá đến Phục Sinh, Đức Kitô đã biến mọi “bờ bên kia” thành lối về với Cha. Vì thế, điều quyết định không phải là chúng ta đang thuộc về vùng nào, nhưng là có để Ngài ở lại hay không. Chỉ khi ấy, ‘đất của heo’ mới có thể trở thành đất của Tin Mừng. “Thiên Chúa không ép ai yêu; Ngài chỉ xin được đón nhận!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đuổi khéo Chúa; cho con biết quý Chúa hơn mọi lợi ích, quý con người hơn mọi của cải; để đất lòng con trở thành mảnh đất của Tin Mừng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Chưa tới lúc mà Ngài đã đến đây làm khổ loài ma quỷ chúng tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 8,28-34

28 Khi ấy, Đức Giê-su sang bờ bên kia, đến vùng đất của dân Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người ; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29 Chúng la lên rằng : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao ?” 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng : “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia.” 32 Người bảo : “Đi đi !” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo bỏ chạy vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34 Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.


 

Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện – Cha Vương  

Chúc bạn ngày đầu tuần luôn có Chúa bên cạnh để soi sáng, vỗ về, an ủi cho đến hết tuần luôn không quên cầu nguyện cho nhau và cả thế giới luôn được bình an nhé.

Cha Vương  

Th 3: 30/6/2026.    CN 26-26

Quà tặng thứ 8 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện

TIN MỪNG:  Đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án. (Ga 5:29)

SUY NIỆM: Theo quan niệm của Thánh Kinh, người công chính được hiểu là những người nỗ lực chu toàn thánh ý Thiên Chúa, chu toàn lề luật và làm điều thiện. Tuy nhiên, sự công chính nơi thánh cả Giuse không chỉ hệ tại ở việc thực thi các mệnh lệnh của lề luật, nhưng hơn thế, lòng chính trực, sự trung thành tuyệt đối của thánh nhân vượt xa những đòi hỏi của lề luật. Đức công chính nơi thánh Giuse thể hiện ở sự ngay thẳng nội tâm tương ứng với đức ngay thẳng của cách sống bên ngoài. Trước mặt Thiên Chúa, dưới ánh nhìn của Thiên Chúa, thánh nhân như thế nào thì ngài muốn bộc lộ ra như vậy. Dưới mái nhà Nazaret không có những bóng mờ ẩn ý. Trái lại, sự ngay thẳng, chân thành và cởi mở của từng thành viên đã hiệp nhất thành gia đình thánh.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện, xin giúp chúng con giữa cuộc đời đầy giả dối và bon chen, biết chọn cho mình một lối sống chân thành, ngay thẳng, dù chúng con có phải chịu thiệt thòi. Xin giúp chúng con biết noi gương ngài, luôn trung thành tuân giữ lề luật Chúa với tất cả tâm tình yêu mến, để chúng con được Chúa xót thương. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con luôn ý thức uốn nắn trí tuệ và trái tim chúng con. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen 

From: Do Dzung

***************

NGƯỜI CÔNG CHÍNH (Lm Huy Hoàng) – Cô giáo Hồng

Nhân cách Jimmy Carter-Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

 Nhân cách Jimmy Carter

Có những con người mà khi họ đi qua đời sống chính trị, dấu chân của họ không dừng lại ở dinh tổng thống hay phòng họp quốc hội, mà còn in xuống những nền đất bùn, những khung nhà gỗ, và cả những bàn tay chai sạn của kẻ nghèo. Trong số hiếm hoi ấy, có một người Mỹ tên là Jimmy Carter – một cựu Tổng thống không chọn lui vào bóng mát quyền lực, mà lại chọn đứng giữa nắng gió công trường suốt mấy chục năm trời sau khi rời nhiệm sở.

Câu chuyện bắt đầu bằng một buổi sáng Chủ nhật tưởng như bình thường. Ông vừa tròn chín mươi lăm tuổi được năm ngày thì té ngã trong nhà, trán va vào cạnh sắc, phải vào bệnh viện khâu mười bốn mũi. Người ta tưởng sau cú ngã ấy, một con người ở tuổi “cổ lai hy” như vậy sẽ chịu nằm yên. Nhưng không. Vài hôm sau, ông xuất hiện với vết bầm đen trên mặt, băng trắng dán ngang trán, đội mũ bóng chày, bước lên sân khấu ở Nashville giữa tiếng vỗ tay của hàng trăm tình nguyện viên.

Và sáng hôm sau, ông lại có mặt ở công trường. Cầm búa.

Cái hình ảnh ấy, nếu nhìn bằng con mắt hành chánh thuần túy, có thể chỉ là một ông già “không biết giữ gìn sức khỏe”. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của một xã hội từng trải, nó lại giống như một lời tuyên ngôn lặng lẽ: con người này không sống để nghỉ ngơi, mà sống để tiếp tục làm việc có ích cho tha nhân.

Ông Carter sinh năm 1924 tại Plains, Georgia – một thị trấn bé đến mức nếu không để ý, người ta có thể chạy ngang mà tưởng chỉ là một trạm xăng cũ. Gia đình ông không có tiện nghi hiện đại trong những năm đầu đời. Điện, nước máy, những thứ mà thành thị xem là hiển nhiên, chỉ đến với ông khi đã gần tuổi thiếu niên. Cha là nông dân, mẹ là y tá – một người phụ nữ về sau, ở tuổi gần bảy mươi, lại tình nguyện tham gia Peace Corps, như thể đời sống vẫn chưa đủ dài để ngừng phục vụ người khác.

Trong môi trường ấy, khái niệm “phục vụ” không phải là khẩu hiệu chính trị. Nó là nếp sống.

Ông đi qua Hải quân Hoa Kỳ, rồi bước vào chính trường Georgia, làm Thống đốc, rồi trở thành Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ từ năm 1977 đến 1981. Nhưng điều khiến người ta nhớ đến ông không nằm ở những bức tường Nhà Trắng, mà nằm ở điều xảy ra sau khi ông rời khỏi nơi đó.

Thông thường, cựu tổng thống là một vị trí nghỉ ngơi có tổ chức: diễn thuyết, hồi ký, cố vấn, quỹ từ thiện mang tên mình. Nhưng Carter lại rẽ sang một hướng khác, có phần… thô sơ hơn, nếu nói theo kiểu chính trị: ông cầm búa, đội mũ bảo hộ, đi xây nhà cho người nghèo.

Từ năm 1984, ông tham gia Habitat for Humanity – một tổ chức chuyên xây dựng và sửa chữa nhà ở cho người thu nhập thấp. Ban đầu, có lẽ ông nghĩ đó chỉ là một lần thử. Nhưng đời sống đôi khi không hỏi ý định ban đầu của con người. Nó chỉ lặng lẽ biến một thói quen thành định mệnh.

Carter không xây nhà một mình. Ông kéo theo vợ mình, bà Rosalynn Carter, đi từ công trình này sang công trình khác. Hai người già, giữa đám tình nguyện viên trẻ, cùng trộn hồ, đóng ván, dựng tường. Có khi họ xuất hiện ở New York, thấy một công trình thiếu người, liền xắn tay vào làm và gọi thêm người khác đến.

Người ta nói về “lãnh đạo bằng hành động” rất nhiều trong sách vở. Nhưng ở đây, nó không còn là lý thuyết. Nó là mùi gỗ mới cắt, là mồ hôi thấm áo, là những mái nhà hoàn thành cho những gia đình vốn không có gì ngoài hy vọng.

Trong hơn ba thập kỷ, vợ chồng Carter đã góp phần xây dựng, sửa chữa và phục hồi hàng ngàn căn nhà trên khắp thế giới. Không phải để ghi tên, mà để người khác có chỗ mà ghi địa chỉ.

Thế rồi đến năm 2015, ông bước vào một thử thách khác: ung thư di căn lên não. Ở tuổi chín mươi, với chẩn đoán ấy, người ta thường chuẩn bị cho đoạn kết. Nhưng Carter, vẫn với giọng bình thản lạ lùng, nói rằng ông đã có một cuộc đời đẹp và sẵn sàng cho bất cứ điều gì đến.

Nhưng y học hiện đại, với liệu pháp miễn dịch mới, lại viết thêm một đoạn khác cho câu chuyện ấy. Sau vài tháng điều trị, bệnh tình lui lại. Và ông tiếp tục trở lại công trường, như thể vừa rời một cuộc họp dài hơi.

Có một chi tiết rất nhỏ nhưng đáng nhớ: ông từng ngã lần nữa vào năm 2019, chấn thương hông. Người ta lại tưởng lần này ông sẽ dừng. Nhưng không lâu sau, ông lại xuất hiện, vẫn công việc cũ, vẫn nhịp búa cũ.

Rồi đến một buổi sáng Chủ nhật khác, năm chín mươi lăm tuổi, cú ngã trong nhà, mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím. Nhưng chỉ vài ngày sau, ông lại đứng trên sân khấu Ryman Auditorium, và sáng hôm sau lại ra công trường.

Người ta có thể đặt câu hỏi: đây là nghị lực hay là cố chấp? Là lý tưởng hay là thói quen? Nhưng có lẽ, với Carter, ranh giới ấy không còn quan trọng. Bởi khi một đời sống đã gắn với việc “làm điều có ích”, thì việc dừng lại trở nên khó hiểu hơn việc tiếp tục.

Có một câu nói rất giản dị nhưng mang nhiều tầng nghĩa: “Some people talk about what they believe. Jimmy Carter built it.” – có người nói về điều họ tin, còn Carter thì xây nó lên.

Nếu nhìn rộng hơn, câu chuyện này không chỉ là tiểu sử của một cựu tổng thống Mỹ. Nó là một kiểu phản chiếu cho thời đại: thời đại mà quyền lực thường được đo bằng chức vụ, nhưng giá trị lâu dài lại được đo bằng mức độ con người đó có thể rời bỏ quyền lực mà vẫn tiếp tục hữu ích cho xã hội hay không.

Trong một thế giới mà danh vọng thường đi kèm với nghỉ ngơi, Carter chọn lao động. Trong một thời đại mà tuổi già thường được định nghĩa bằng sự rút lui, ông lại biến nó thành một dạng tiếp tục.

Ông qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại Plains, Georgia, thọ một trăm tuổi – trở thành vị tổng thống sống thọ nhất lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng điều đáng nói không phải là con số trăm năm ấy, mà là cách ông đã sử dụng gần như trọn vẹn thời gian sau khi rời quyền lực.

Người ta có thể đồng ý hoặc không đồng ý với các chính sách của ông khi còn tại vị. Lịch sử chính trị không bao giờ đơn giản. Nhưng khi nhìn lại phần đời sau cùng, khó ai có thể phủ nhận một điều: ông đã biến khái niệm “phục vụ công chúng” thành một hành vi kéo dài, không cần chức danh, không cần diễn đàn.

Trong một xã hội dễ mỏi mệt, nơi con người thường ngừng lại rất sớm vì nghĩ rằng mình đã “làm đủ”, hình ảnh một ông già chín mươi lăm tuổi đội mũ bóng chày, cầm búa trên công trường, có thể không giải quyết được vấn đề gì lớn lao. Nhưng nó gợi một câu hỏi khác, âm thầm hơn: rốt cuộc, chúng ta dừng lại vì đã hết khả năng, hay vì đã hết ý muốn?

Và có lẽ, chính ở chỗ đó, câu chuyện của Carter không kết thúc bằng cái chết, mà tiếp tục sống trong những căn nhà mà ông từng giúp dựng lên – nơi có người ở, có ánh đèn, có tiếng trẻ con, và có một dấu vết rất nhỏ của một người tin rằng việc sống là để làm điều gì đó cho người khác.

Đoàn Xuân Thu. (Melbourne)


 

BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

BBC News Tiếng Việt

 BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

(Photo by HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images)

Hôm nay, báo giấy Tuổi Trẻ ra số cuối cùng. Những ngày kế tiếp, Tuổi Trẻ chỉ còn phiên bản điện tử.

Báo Người Lao Động, Pháp luật TP HCM, Phụ nữ TP HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn… thì ngưng hẳn.

Một nền báo chí sôi động hậu 1975 ở Sài Gòn-TP HCM đã “hoàn thành sứ mệnh”.

Như một sự tái hiện lịch sử: Ngày này 45 năm trước, báo Tin Sáng của Lực lượng thứ ba cũng được chính quyền tuyên bố “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Tin Sáng là tờ báo hiếm hoi trước 1975 được phép tái bản sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhưng thời gian hoạt động cũng không dài.

Cùng nhìn lại nền báo chí cách mạng của thành phố thịnh vượng nhất nước trong 50 năm qua.

#BBCNewsTiengViet #BaochiVietNam #XahoiVietNam #ChinhtriVietNam


 

Mừng kính trọng thể 2 thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô – Cha Vương

Hôm nay Giáo hội mừng kính trọng thể 2 thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô, mừng lễ bổn mạng đến những ai chọn Phê-rô và Phao-lô làm quan thầy nhé. Chúc mừng, chúc mừng! Không quen cầu nguyện cho nhau và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 29/06/2026.      (t3-21)

Sơ lược tiểu sử Thánh Phê-rô:

. Sinh tại Bethsaida, xứ Galilê, làm nghề đánh cá

. Thánh Phêrô là tông đồ trưởng trong số mười hai thánh tông đồ của Chúa Giêsu.

. Luôn có mặt trong những biến cố quan trọng trong đời Chúa Giêsu

. Thánh Phêrô được Chúa trao cho quyền cai quản Hội Thánh.

. Tử đạo tại Rôma năm 64 dưới thời Hoàng Đế Nêron (chịu đóng đinh ngược)

. Ngôi mộ Ngài theo truyền thống ngự dưới chân tòa thánh Vatican

Sơ lược tiểu sử Thánh Phao-lô:

. Sinh vào thập niên đầu của công nguyên, tức là cùng thời với Chúa Giêsu. 

. Thánh Phaolô có tên là Saolô, tuy là người Do thái, thuộc chi họ Benjamin, nhưng Saolô sinh ra và lớn lên ở Tarsus, thủ phủ của tỉnh Cicilia, nay là miền nam Thổ nhĩ kỳ. 

. Ngài vóc dáng thấp bé, nhưng thông minh vượt xa những người cùng lứa tuổi. Lúc nhỏ được giáo dục ở Tarsus là một trung tâm nổi tiếng về văn hoá và triết học. Lớn lên, Saolô được gởi lên Giêrusalem, học với Thầy Gamaliel Cả, theo những tiêu chuẩn khắt khe nhất của nhóm Biệt phái. 

. Saolô là một người lỗi lạc trong lãnh vực văn chương và triết học của cả ba nền văn hóa chính thời đó là Hy lạp, La tinh và Do thái. Ngài thuộc lòng Kinh Thánh của người Do thái, tức là bộ Cựu Ước. Saolô hết sức nhiệt thành đối với truyền thống của cha ông.

. Tuy là biệt phái, xét theo lề luật, nhưng ngài đã trở lại đạo khoảng 33/35. 

. Sau khi bị cầm tù lần thứ hai tại Rôma, có lẽ ngài đã bị chém đầu vào khoảng năm 67 tại Aquas Salvias, (theo truyền thống—độ 5km về hướng nam Rôma, ba năm sau khi Thánh Phê-rô tử đạo), và được mai táng trên đường Ostia, nơi đây, người ta xây vương cung thánh đường thánh Phaolô-ngoại thành.

“Phê-rô và Phao-lô là hai tông đồ khác nhau như nước với lửa: Phê-rô là dân đánh cá ít học, Phao-lô thuộc tầng lớp trí thức; Phê-rô theo Chúa ngay từ đầu, còn Phao-lô là ‘đứa con đẻ non’ (x. 1Cr 15,8) mãi sau này mới theo Chúa; Phê-rô gắn bó với Ki-tô hữu gốc Do Thái, còn Phao-lô rao giảng cho dân ngoại. Khác nhau về gốc gác, về quan điểm truyền giáo, thế nhưng, trong Đức Giê-su, cùng với Đức Giê-su và vì Đức Giê-su, Đấng cả hai quý mến hơn mọi sự trên đời, Phê-rô và Phao-lô hiệp nhất trong một công trình chung: xây dựng Hội thánh của Đức Giê-su bằng lòng nhiệt thành hăng say rao giảng, bất chấp đòn vọt, tù đày, như thánh Phao-lô đã thốt lên: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Hai vị còn giống nhau trong cái chết hy sinh mạng sống cho Đấng mình yêu: Phê-rô bị đóng đinh ngược đầu xuống đất, Phao-lô bị chém đầu.

“Nhớ rằng Hội thánh chủ ý mừng hai vị tông đồ trong một ngày lễ chính là để nêu cao tinh thần hiệp nhất trong công cuộc xây dựng Hội thánh. Bạn có quyết gạt bỏ những bất đồng để cùng hiệp nhất xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, đoàn thể… không?” (Trích: 5 phút suy niệm)

Lạy Chúa, hai Thánh Phê-rô và Phao-lô đã theo Chúa đến cùng và sống trong tinh thần hiệp nhất để xây dựng Hội thánh của Chúa, xin cho con biết gạt bỏ hận thù, kỳ thị, tranh chấp, nghi kị, kết án lẫn nhau… để cộng tác với Chúa xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ… mỗi ngày một tốt đẹp hơn. 

From: Do Dzung

*******************

T. Phêrô & Phaolô (29-6) – Thánh Vịnh 33 – ĐÁP CA – Ca sĩ: Công Minh

PHỤC SINH TRONG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ”.

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” – Thư Hipri.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” lại ngủ trong một con thuyền giữa bão tố. Chính qua đó, Matthêu kín đáo kể câu chuyện ‘phục sinh trong thuyền’.

Các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu giữa cơn bão. Nhưng Matthêu không viết đơn giản: “Ngài thức dậy”. Ông dùng động từ Hy Lạp egertheis – “trỗi dậy”, một động từ sẽ ngân vang ở cuối Tin Mừng. Matthêu cũng không giữ chi tiết “chiều đến” của Marcô, vì điều ông muốn nhấn mạnh không phải là thời điểm, nhưng là chính con người Chúa Giêsu. Ông còn gọi cơn bão là seismos, “cơn địa chấn”, một từ sẽ trở lại dưới chân thập giá và ngôi mộ trống vào một buổi sớm khi trời còn tờ mờ. Như vậy, ngay giữa cảnh biển động, Matthêu đã gieo một âm vang Phục Sinh.

Con thuyền từ rất sớm đã trở thành hình ảnh Hội Thánh. Sự hiện diện của Chúa Giêsu không làm sóng gió biến mất; nhưng chính giữa bão, đức tin mong manh của các môn đệ mới được phơi bày. Vậy mà Hội Thánh không chìm, không phải vì con thuyền vững chắc, cũng không vì các môn đệ chèo giỏi, nhưng vì Chủ thuyền vẫn ở đó. Hoá ra, nền tảng của Hội Thánh không nằm ở sức mạnh con người, nhưng ở Đấng không bao giờ rời con thuyền của mình. “Hãy biết rằng Đức Kitô luôn ở với bạn, cho đến tận thế. Nếu Đức Kitô ở với tôi, tôi còn sợ gì?” – Gioan Kim Khẩu.

Có những cơn bão không nổi lên ngoài biển, nhưng âm thầm nổi lên trong lòng một dân đã quên công lý. Amos đã nghe tiếng gầm của cơn bão ấy từ lâu: “Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi?” – bài đọc một. Điều Thiên Chúa dẹp yên không chỉ là sóng gió bên ngoài, mà còn là hỗn mang trong lòng người. Con thuyền ấy cũng là con thuyền của giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và mỗi người chúng ta. Điều đáng sợ không phải sóng lớn, nhưng là khi chúng ta để nỗi sợ lèo lái đời mình. Vì thế, chúng ta cần Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” hướng dẫn. Lời cầu của Thánh Vịnh trở nên rất thật: “Xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”.

Anh Chị em,

Con thuyền rồi cũng cập bến, không phải vì biển đời hết bão, nhưng vì Đức Kitô đã đi trọn hành trình ấy trước. Ngài đã đi qua thập giá để mở lối vào vinh quang Phục Sinh. Vì thế, con thuyền của Hội Thánh và của mỗi người vẫn có thể tiếp tục hành trình. Đức Lêô XIV nhắc rằng, cơn bão chưa phải là câu hỏi lớn nhất; câu hỏi lớn nhất vẫn là: “Người này là ai?”. Khi nhận ra Đấng đang ở trong thuyền là ai, nỗi sợ không còn cầm lái. “Khi Đức Kitô bước vào thuyền, gió liền yên!” – Hilary of Poitiers. Chính vì thế, ‘phục sinh trong thuyền’ không chỉ là câu chuyện của biển hồ Galilê, nhưng còn là niềm hy vọng của mọi con thuyền đang hướng về Nước Cha trên trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội Thánh giữa biển đời; nâng đỡ chúng con trong mọi thử thách; và cho chúng con luôn nhận ra Chúa đang ở trong con thuyền của mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 8,23-27

23 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. 24 Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. 25 Các ông lại gần đánh thức Người và nói : “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất !” 26 Đức Giê-su nói : “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin !” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

27 Người ta ngạc nhiên và nói : “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi…Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam.                                    

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

24 Tháng 6, 2026

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

Cô giáo Lan năm ấy đã ngoài ba mươi, vẫn sống một mình trong căn phòng tập thể cũ của trường vùng ven. Lương giáo viên ít ỏi, bữa cơm chỉ đủ đạm bạc, nhưng lòng cô thì chưa bao giờ cạn yêu thương.

Một chiều mưa tầm tã, trên bậc thềm trạm y tế xã, cô Lan nhìn thấy hai bé trai sinh đôi quấn chung một tấm áo mỏng, khóc khàn cả giọng. Bên cạnh chỉ có mảnh giấy nhàu nát: “Nhờ ai đó nuôi giúp, tôi không đủ khả năng…”

Cô Lan bế cả hai lên, tim thắt lại. Từ giây phút ấy, cuộc đời cô rẽ sang một lối khác.

Cô đặt tên cho hai em là Minh và Nam. Sáng cô đi dạy, trưa tranh thủ về nấu nồi cháo lớn, chiều lại dắt hai đứa ra ngã tư bán vé số. Những đêm mất điện, ba mẹ con ngồi học dưới ánh đèn dầu leo lét. Minh học giỏi Toán, Nam mê Vật lý và luôn hỏi cô:

— “Cô ơi, sao máy bay lại bay được?”

Cô Lan mỉm cười, xoa đầu:

— “Vì có ước mơ nâng nó lên.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, máy bay và văn bản

Nhiều năm trôi qua, Minh và Nam lớn lên trong tiếng rao vé số, trong những buổi phụ hồ cuối tuần, và trong những trang sách mượn từ thư viện trường. Cô Lan chưa từng mua cho mình chiếc váy mới, nhưng tiền học của hai con thì chưa bao giờ thiếu.

Ngày Minh và Nam đậu vào trường đào tạo phi công, cô Lan khóc suốt đêm. Đó là lần đầu tiên cô cho phép mình tin rằng: hi sinh rồi sẽ có ngày nở hoa.

Mười lăm năm sau, tại sân bay rộn ràng ánh đèn, hai chàng phi công trẻ trong bộ đồng phục chỉnh tề đứng đón một người phụ nữ tóc đã bạc nhiều. Cô Lan run run nhìn hai con, còn chưa kịp nói gì thì phía sau có một người đàn bà khác bước tới.

Bà ta tự nhận là mẹ ruột của Minh và Nam. Bà kể về những năm tháng túng quẫn, về quyết định bỏ con trong nước mắt. Cuối câu chuyện, bà đặt lên bàn phong bì 10 triệu đồng, nói là “tiền chi phí nuôi nấng ngày xưa”, rồi xin được nhận lại con.

Sân bay bỗng lặng đi.

Minh khẽ đẩy phong bì lại, giọng bình tĩnh nhưng dứt khoát:

— “Chúng tôi không nhận.”

Nam tiếp lời, mắt đỏ hoe nhưng không run:

— “Mẹ sinh ra chúng tôi, nhưng người nuôi chúng tôi thành người là cô Lan.”

Hai anh em quay sang nắm tay cô giáo, rồi đưa ra quyết định cuối cùng:

“Chúng tôi sẽ làm thủ tục pháp lý để cô Lan là mẹ hợp pháp của chúng tôi. Từ hôm nay, mọi phụng dưỡng, yêu thương, và danh phận làm mẹ — chỉ dành cho một người.”

Người phụ nữ kia bật khóc, còn cô Lan thì òa lên trong vòng tay của hai “đứa trẻ” năm nào. Ngoài kia, một chiếc máy bay rẽ mây cất cánh.

Có những người mẹ không sinh ra con — nhưng chính họ đã cho con đôi cánh để bay cả cuộc đời.


 

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

 My Lan Pham  

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

Ở tuổi 96, Clint Eastwood đã phá vỡ mọi ảo tưởng dễ chịu về tuổi già. Ông không cố tô hồng thực tế, cũng không kể những câu chuyện an ủi rằng tuổi xế chiều chỉ toàn bình yên và hạnh phúc.

Trong một bài phát biểu gần đây, ông chia sẻ thẳng thắn về những thay đổi của cơ thể theo năm tháng. Xương khớp mất dần sự linh hoạt. Mọi cử động đều chậm hơn. Ánh sáng chói khiến đôi mắt đau nhức. Ngay cả việc hít thở đôi khi cũng trở thành một nỗ lực.

Và đó mới chỉ là khởi đầu.

Với phong thái cứng cỏi vốn đã trở thành dấu ấn của mình, Eastwood nói về điều mà rất nhiều người né tránh. Ông không hứa hẹn rằng tuổi già là khoảng thời gian thanh thản vô tận.

Thay vào đó, ông vẽ nên một bức tranh chân thực về những gì xảy ra khi một con người tiến gần đến cột mốc một thế kỷ.

“Ánh sáng làm đau mắt bạn, và ngay cả việc thở cũng có thể trở nên nặng nhọc. Cơ thể không còn hợp tác như trước nữa, và mỗi bước đi đều cần phải tính toán.”

Theo ông, sự suy yếu của xương và cơ bắp chỉ là phần nổi của tảng băng.

Điều nặng nề nhất của tuổi già lại nằm ở cảm xúc và tinh thần.

Khi bước sang tuổi chín mươi, thế giới quen thuộc quanh bạn thay đổi một cách sâu sắc.

Bạn nhìn lại và nhận ra rằng phần lớn những người từng biết mình khi còn trẻ, những người cùng chia sẻ ký ức, những câu chuyện cười chỉ riêng hai bên hiểu và những năm tháng khó khăn, giờ đây đều đã rời xa.

Vòng tròn những gương mặt thân quen ngày càng thu hẹp.

Điện thoại hiếm khi còn reo.

Nhịp sống chậm lại đến mức tĩnh lặng.

Viên thuốc đắng nhất không phải là những cơn đau thể xác.

Mà là cảm giác không còn ai thật sự muốn ngồi xuống và lắng nghe bạn.

Khi hiện tại trở nên cô đơn và yên ắng, con người tự nhiên tìm về quá khứ.

Eastwood cho rằng việc sống lại những ký ức cũ không phải là dấu hiệu của sự suy giảm trí nhớ.

Đó là cách con người tìm kiếm sự kết nối với chính cuộc đời mình.

Có lẽ vì vậy mà người già thường kể đi kể lại cùng một câu chuyện, thêm vào vài chi tiết nhỏ rồi lại quay về những ký ức quen thuộc.

Không phải vì họ muốn khoe khoang hay chiếm lấy cuộc trò chuyện.

Mà vì ở đó, họ từng mạnh mẽ, từng được yêu thương và từng có ý nghĩa.

“Bạn thấy mình cứ lặp lại những câu chuyện cũ, thêm vài chi tiết, không phải để thuyết phục ai, mà chỉ để cảm thấy mình vẫn còn gắn kết với điều gì đó. Bạn cố truyền lại những điều mình biết cho thế hệ trẻ, ngay cả khi nhìn thấy sự chán nản trong ánh mắt của họ.”

Chúng ta đang sống trong một xã hội coi tuổi thọ như một chiếc cúp chiến thắng.

Mọi người chúc mừng ai đó chỉ vì họ sống đủ lâu.

Nhưng lại quên mất sự cô đơn khủng khiếp đi kèm với tuổi thọ ấy.

Chúng ta ca ngợi cái mới, cái nhanh và sự kết nối không ngừng.

Trong khi gần như không còn chỗ cho nhịp sống chậm rãi, lặp lại và bình lặng của những người rất già.

Clint Eastwood là một huyền thoại điện ảnh.

Nhưng những lời ông nói không chỉ dành cho riêng mình.

Đó cũng là tiếng lòng của biết bao cụ ông, cụ bà vô danh đang sống ở khu phố của chúng ta hay lặng lẽ ngồi trong những bữa cơm gia đình.

Họ là những thư viện sống của lịch sử.

Trong họ chứa đựng những câu chuyện đã góp phần tạo nên thế giới mà chúng ta đang sống hôm nay.

Khi chúng ta chậm lại một chút, cất điện thoại sang một bên và thật lòng lắng nghe, điều kỳ diệu sẽ xảy ra.

Khoảng cách giữa các thế hệ được thu hẹp.

Cuối cùng, những nếp nhăn trên gương mặt người già không chỉ là dấu vết của thời gian.

Đó là tấm bản đồ của một cuộc đời đã được sống trọn vẹn.

Và được ngồi bên họ, lắng nghe hành trình ấy, chính là một đặc ân.

#MyLanPham #ClintEastwood #TuoiGia #GiaTriCuocSong #LangNghe #NguoiGia #SongCham #CamHung #CuocSong 


 

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung – Truyen ngan HAY

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung

April 2, 2019 

*** Tác giả Từ Dung là con gái út Nhà Văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long (1907-1948) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Về mặt dung nhan, vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm của mẹ tôi đã hơn một lần làm rung động những người phái nam có địa vị quan trọng trong nhiều lãnh vực xã hội. Bà cao dong dỏng, thân hình đều đặn thanh tú, nước da mịn màng trắng trẻo, dáng đi yểu điệu và uyển chuyển, khuôn mặt trái soan, cặp mắt hơi hiếng (lé kim), mơ màng nhưng sâu sắc, miệng cười duyên dáng với chiếc răng khểnh và cặp môi đầy đặn. Tôi có đọc vài cuốn sách viết về mẹ tôi với những lời mô tả thiên lệch bắt nguồn từ những ghen ghét nhỏ mọn. Những người viết này cố tình hạ thấp dung nhan, phẩm hạnh của bà vì đố kị nên những người từng được tiếp xúc với bà vô cùng bất mãn vì những dối trá trắng trợn đó. Theo ý một số những người có dịp tiếp xúc với bà, bà là một trong những người đẹp và hợp thời trang nhất tại Hà Nội vào những thập niên 1930-40. Ngay cả về sau, khi đã trên bốn mươi tuổi và có bốn người con lớn, bà vẫn là một phụ nữ có vẻ đẹp sang trọng và thanh lịch có tiếng ở Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, trong lúc ở giá để nuôi các con ăn học thành tài, mẹ tôi đã từ chối khéo léo và khiêm nhượng những người đàn ông theo đuổi bà và về sau họ vẫn quý mến và nể phục tư cách của mẹ tôi. Một trong những người này đã qua đời đã giữ lòng thương quý mẹ tôi ngay cả khi bà đã tạ thế. Khi ra đi nước ngoài, ông gửi thơ về nhờ tôi đặt lên mộ mẹ tôi một bó hồng đỏ thắm mỗi tuần lễ, như ông vẫn thường làm trước khi ra đi!

Mẹ tôi đã từ chối tất cả những người đàn ông đến sau, vì trong trái tim của bà chỉ có hình bóng của một người yêu duy nhất, đó là ba tôi, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long.

Về công, tức là tài năng khéo léo, ít có người phụ nữ nào có tài nấu nướng những món ăn Việt cũng như Pháp tuyệt xảo như mẹ tôi. Nào canh bóng, vây, bào ngư, nấm nhồi giò, chả nem rán, bánh chưng gói, món Tây thì súp legume, bò hầm đậu, cua phá xi…

Các ngày giỗ chạp, tiệc rượu linh đình, một mặt mẹ tôi nấu ăn và chỉ dẫn cho người giúp việc, một mặt tiếp đãi khách với nụ cười hiền thục trên môi. Ai cũng phải mến yêu bà. Chị Thu tôi đã lớn thì giúp một tay, còn tôi bé út nhất nhà (cách anh Lân đến 9 tuổi) chỉ chạy chơi và chực ăn trứng luộc trên bàn thờ!

Sau này mẹ tôi mở tiệm Chả Cá Thăng Long (1959) ở đầu đường Phan Thanh Giản. Tiệm rất đắt khách và là một trong những tiệm ăn sang trọng thanh lịch và ngon lành tinh khiết nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Về ngôn, khoa ăn nói, mẹ tôi ăn nói nhã nhặn, điềm đạm và nhu thuận, lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh. Bà cũng dạy các con phải ăn nói đàng hoàng. Ngoài phái nam ra, phái nữ cũng thương mến bà, bạn bè và các bà cô, dì hai bên họ đều tìm đến bà khi hoạn nạn, nhưng cũng có một số nhỏ đem lòng ganh tị và tìm cách bôi nhọ thanh danh bà.

Về phẩm hạnh, không ai có thể chối cãi rằng mẹ tôi là một phụ nữ đảm đang, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con mà không hề phàn nàn, than vãn.

THỜI THƠ ẤU CỦA MẸ TÔI BA MẸ TÔI GẶP GỠ NHAU

Sinh ra trong một gia đình quý phái, trưởng giả, mẹ tôi lại có những đức tính đơn giản, tốt bụng hay thương người. Ông ngoại tôi làm tham tá công chánh dưới thời Pháp thuộc, bà ngoại tôi là một mệnh phụ đài các nhưng khôn ngoan, biết quản lý tài sản của ông tôi, biết tiết kiệm. Mẹ tôi lại là con một nên được lo toan rất chu đáo, quá chu đáo đến nỗi mẹ tôi cảm thấy ngộp thở. Bà ngoại tôi tính tình độc đoán, muốn chồng con phải phục tùng theo cách sinh hoạt của bà. Thậm chí mẹ tôi chỉ được quyền chơi những đồ chơi bà ngoại cho phép. Mẹ tôi kể lại rằng một lần ông ngoại lén cho mẹ một con búp bê mà mẹ tôi thích, khi bà ngoại biết được, bà lập tức vứt đi. Mẹ tôi khóc và nhớ mãi chuyện ấy. Bà ngoại rất yêu mẹ tôi, nhưng cụ vẫn giữ tính khắc nghiệt đó nên có những đụng chạm cãi vã không thể tránh được giữa hai mẹ con.

Khi ba mẹ tôi gặp gỡ nhau, họ bị tiếng sét ái tình đánh choáng váng. Một bên cảm vì sắc, một bên mến vì tài. Ba tôi tuy ít nói, nhưng có lối châm biếm khôi hài thật duyên dáng và sâu sắc đã chinh phục được trái tim trong trắng của mẹ tôi. Tính cách khôi hài này được thể hiện trong tập “Trước vành móng ngựa”. Mối tình của ba mẹ tôi là nguồn hứng khởi của mối tình của Duy và Thơ trong “Con đường sáng”. Là một phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm và chịu ảnh hưởng phong trào văn hóa mới vì mẹ tôi theo học trường Pháp và tốt nghiệp trường Pháp, bà thông cảm và hỗ trợ chí hướng phi thường của ba tôi, người đã từ chối chức tri huyện khi tốt nghiệp cử nhân luật, sau lại bỏ chức biện lý vì chống lại tòa án Pháp thuộc ngày đó. Điều này thể hiện trong tác phẩm “Trước vành móng ngựa”.

Phải là một phụ nữ phi thường mới thấu hiểu và tôn trọng một tâm hồn phi thường như ba tôi, và mới hy sinh tuổi xuân sắc để giúp đỡ chồng một cách đắc lực trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và đất nước.

Lần đầu khi đi xem mắt mẹ tôi tại tòa biệt thự của bà ngoại tôi ở bãi biển Sầm Sơn, ba tôi đã bị tiếng sét ái tình. Mối tình đẹp như thơ đó đã bị cả hai bên gia đình phản đối, bên nội vì lý do bà nội tôi không chuộng gia đình trưởng giả, bên ngoại vì không cho là đủ môn đăng hộ đối. Nhưng ba mẹ tôi đã vượt thắng tất cả để tìm đến nhau và lập gia đình!

MỘT CUỘC HÔN NHÂN ĐẦY HY SINH VÀ CHIA LY

Chị cả tôi, chị Minh Thu, ra đời năm 1934, là tác phẩm đầu tiên của sự kết hợp tuyệt vời đó. Năm kế là anh Nguyễn Tường Ánh và cách một năm nữa là anh Nguyễn Lân. Ba mẹ tôi những tưởng anh Lân là con út rồi vì lúc đó ba tôi rất ít khi ở nhà, ông đã bị quay vào guồng máy thời cuộc lúc ấy. Khi ba tôi bị bắt, bị tra tấn tại sở mật thám và sau bị đi đày ở Vụ Bản, Chân Lạp Sơn, mẹ tôi rất lo buồn và đi lại tiếp tế nhiều lần. Tháng Tám, 1946, ba tôi cầm đầu phái đoàn hòa giải, trong đó có cả người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, của bên Việt Minh, và có nhân viên bộ Công Chính là kỹ sư Đỗ Xuân Dung để xem tình hình nước lụt ở Việt Trì (ngã ba sông Hồng Đào) và ba tôi bị bắt. Khi được thả ra, ba tôi sang Trung Hoa gặp gỡ bác Nguyễn Tường Tam và các anh em khác. Thời gian đó mẹ tôi thường xuyên mang vật phẩm và tiền bạc sang tiếp tế cho ba tôi và các anh em khác. Ngoài ra, một tay bà lo dạy dỗ các con, chăm sóc mẹ già và cũng một tay bà lo toan hỗ trợ người chồng cách mạng lưu vong nơi xứ người. Phụ nữ như thế không phải ở thời đại nào cũng có!

Ba mẹ tôi lúc ấy như Chức Nữ Ngưu Lang, chẳng được thường xuyên gặp gỡ nên mỗi lần trùng phùng thật quý giá vô cùng! Tôi là kết qủa của một trong những lần gặp gỡ đó. Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi.

Tôi ra đời ngày 30 tháng Mười năm 1946 tại Hà Nội trong tình thương yêu của cả nhà. Ba tôi vẫn ở biền biệt bên Trung Hoa nên chẳng thấy mặt tôi, chỉ nhận được tin tức qua thư tín gia đình.

Lần gặp gỡ cuối cùng của ba mẹ tôi năm 1948 tại Hongkong rồi sau đó ba tôi bị một cơn đau tim tạ thế trên đường đi xe lửa về Quảng Châu, lúc đó tôi được 19 tháng. Được tin sét đánh, mẹ tôi phải lo tiền bạc quay trở lại chôn cất ba tôi tại Quảng Châu. Hiện nay không còn biết mộ phần nằm đâu nữa vì các nấm mồ đều bị khai quật dưới chế độ Cộng Sản!

Kể từ đó, mẹ tôi ở vậy nuôi con cho đến khi các con khôn lớn. Bố con tôi chỉ biết nhau qua hình ảnh thư từ. Tôi được nghe kể lại về ba tôi qua lời nói của mẹ, của anh chị và của cậu tôi, Như Phong Lê Văn Tiến.

Tôi nghĩ rằng tôi được thừa hưởng óc khôi hài châm biếm của ba tôi, cũng như dòng máu văn chương chảy cuồn cuộn trong tim óc!

Tại Hà Nội, gia đình tôi sống tại đường Lý Thái Tổ, Hàng Vôi. Trường Hàng Vôi là ngôi trường đầu tiên trên con đường học vấn của tôi. Năm 1990, trước khi rời Việt Nam, tôi ghé thăm ngôi nhà gia đình và ngôi trường thơ ấu. Ngôi nhà xinh đẹp hai tầng có cây bàng trước sân giờ đây ngăn ra cho tám hộ ở, phòng ngăn bằng vải rideau. Bàn thờ tổ tiên vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ còn một ông lão còn nhớ về nguồn gốc căn nhà.

Trở lại năm 1954, chúng tôi rời căn nhà thân yêu lên đường vào Nam trên một chiếc phi cơ quân đội. Tôi mới có 8 tuổi nên chỉ nhớ là mẹ tôi vội trở lại miền Bắc để thanh toán mấy căn nhà ở Hà Nội của bà tôi và gom tiền bạc để sinh sống trong Nam. Lúc đó sắp sửa đóng cửa ra vào hai miền nên các anh chị, tôi lo lắng sợ mẹ tôi bị kẹt lại Hà Nội.

Khi mẹ về, chúng tôi hết sức mừng rỡ. Chúng tôi tạm ở chia với họ hàng bên ngoại một căn nhà đường Đặng Dung, Tân Định. Đó là thời gian đẹp nhất của đời tôi! Mẹ con, anh chị em đoàn tụ yêu mến nhau. Tôi ở tuổi bắt đầu ý thức được tình cảm quý báu của gia đình. Ý nguyện của tôi là anh chị em tôi sẽ trở lại quây quần như thời đó!

Khi đến học lớp Tư trường Huỳnh Thị Ngà thì tôi gặp khó khăn với cô giáo Nam Kỳ với giọng đọc chính tả mới lạ. Tôi có đến mười lỗi trong bài “Lạc vào rừng” vì tôi không hiểu gì cả. Các bạn chế nhạo accent Bắc kỳ và gọi tôi “Bắc kỳ ăn rau muống”. Đó là bài học đầu tiên của tôi về kỳ thị địa phương dạy tôi sau này chống lại mọi thứ kỳ thị trên cõi đời này!

ĐỜI SỐNG TẠI SAIGON

Cùng lúc ấy, mẹ tôi mở tiệm phở và chả cá Thăng Long trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, sau chuyển về tiệm chả cá Thăng Long trên đường Phan Thanh Giản. Sau này ngẫu nhiên quán cà phê nhạc Từ Dung của tôi mở năm 1978 cũng lại tọa lạc trên con đường Trần Quang Khải và người hầu bàn trưởng tại chả cá Thăng Long tên là anh Tư lại trở thành người pha cà phê chính của quán Từ Dung.

Tiệm chả cá Thăng Long do họa sĩ Nguyễn Gia Trí trang hoàng có một vẻ Á Đông trang nhã với những chiếc cột đỏ, những tấm bình phong và hình vẽ đặc biệt Việt Nam rất mỹ thuật. Một tấm tranh dân gian của Phạm Tăng treo dọc cả bức tường trong căn phòng riêng của quán. Bức tranh này sau tôi bị một tay văn sĩ hạng b, c gì đó lừa lấy mất!

Căn nhà mẹ tôi mua rộng lớn, một bên mở tiệm, còn một bên gồm năm phòng để gia đình tôi ở. Tiệm luôn đông khách tấp nập và các danh nhân, nghệ sĩ như Mặc Thu, Nguyễn Hoạt, bác Nhất Linh, Chu Tử thường xuyên đến ăn chả cá. Thế nhưng vấn đề tài chính không mấy khả quan vì mẹ tôi quá tốt bụng, luôn nuôi ăn ở và trả lương cho 6,7 người giúp việc nên tiền vào tuy khá nhưng ra cũng lắm. Mẹ tôi không bao giờ từ chối mở hầu bao giúp cho những người đến cầu cứu gia đình tôi!

Lúc đó chị Minh Thu, anh Tường Ánh lập gia đình nhưng lúc đầu anh Ánh vẫn ở chung với mẹ tôi. Các anh chị có gia đình riêng nên không còn gần gũi nhau như xưa. Tôi cảm thấy mẹ buồn nhưng không biết an ủi mẹ ra sao, chỉ biết rúc vào lòng mẹ. Khi anh Ánh và vợ dọn đi ở riêng trong một căn nhà mẹ mua cho anh, tôi được thừa hưởng căn phòng trống cạnh phòng anh Lân. Trước mặt hai căn phòng là một sân cement nhỏ trồng vài cây cảnh như cây trúc đào, cây mận sai trái vì tôi chôn xác con mèo dưới gốc cây.

Đằng sau phòng tôi là một cây trứng cá trái mọng nước và rất ngọt. Căn phòng này đã ghi một ấn tượng sâu đậm về thời thơ ấu của tôi sống êm đềm trong tay mẹ hiền. Có phòng riêng rồi nhưng tôi vẫn đòi ngủ với mẹ để được hít mùi da thịt của bà, thơm mùi nước hoa Guerlain và mùi phấn. Tôi cũng đòi mẹ ngâm thơ Kiều hoặc hát quan họ cho nghe như lúc còn bé tí. Cũng vì vậy mà tôi rất thuộc Kiều và những bài thơ ru em. Mẹ tôi yêu nhạc Đông phương nhưng cũng mê nhạc cổ điển Tây phương, nên khi mẹ mất, gia đình tôi mở nhạc Bach và Beethoven bên quan tài để hương hồn mẹ tôi về thưởng thức, thay vì giọng ê a của các vị sư hay kinh của các cha cố!

Sau này mẹ tôi bắt đầu gặp khó khăn về tài chính nên phải bán đi một số nữ trang. Lúc đó là đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đổ sang Việt Nam nên mẹ tôi theo trào lưu cũng dẹp tiệm chả cá và cho Mỹ thuê một bên nhà để mở nhà hàng có âm nhạc tên là Kontiki. Đêm nào tôi cũng được nghe tiếng đàn hát vọng sang từ bên nhà hàng của ban nhạc Đăng Tiến, thỉnh thoảng tôi cũng sang hát chơi những bản như Autumn leaves, A very precious love, Mona Lisa….

(Ảnh: Bà Hoàng Đạo)

Tôi khoảng 16 tuổi, tuổi đầy mộng đẹp và bắt đầu mơ đến tình yêu!

Mấy năm sau mẹ tôi bán căn nhà rộng lớn đường Phan Thanh Giản và mua căn nhà nhỏ hơn có ba phòng ngủ và một căn gác ở Ngã năm bình hòa đường Chu Văn An. Nhiều người ngăn cản bà mua căn nhà này vì nó nằm cuối ngõ cụt và có mộ phần đằng sau nhà nên theo địa lý rất xấu. Không biết có phải là mê tín không mà sau này mẹ tôi bị ung thư nặng và chết tại nhà đó, bà ngoại tôi cũng chết theo ở tuổi 98 vì quá đau đớn, mẹ tôi là con duy nhất của cụ, cậu tôi Như Phong Lê văn Tiến bị bắt giam cũng ở đó, gia đình vợ chồng tôi thì phân tán, chia ly. Năm Mậu Thân 1968 nơi này là tử địa của tàn quân Việt Cộng, sau khi VC thất bại trong trận tổng công kích Saigon đã rút lui về nơi đây. Ngôi nhà chúng tôi bị đạn bắn từ máy bay xuống lỗ chỗ đầy những vết đạn, cũng may là khi cả khu phố bốc cháy như một con rồng lửa thì bỗng dừng lại khi tới nhà chúng tôi. Thật là một phép lạ!

Tôi giúp mẹ, bà ngoại và hai mẹ con bác giúp việc chạy khỏi nhà, chân phải chạy lung tung tránh xác VC nằm đầy ngõ và tránh tầm đạn của hai bên bắn nhau. Một ông hỏi ông khác «ai đánh ai?», ông kia trả lời «quân mình đánh quân ta»!

Từ lúc đó mẹ tôi bị ung thư bên cánh tay trái và căn bệnh kéo dài tới năm 1975 thì mẹ tôi mất. Người y sĩ đã hết lòng chữa chạy cho mẹ là bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một người bạn thân của gia đình. Hai bác sĩ khác của gia đình tôi là bác sĩ Phan Huy Quát và bác sĩ Kỳ Quan Thân.

Cánh tay xinh đẹp, nuột nà, trắng bóc của mẹ tôi chỉ để đeo những nữ trang qúy giá nay đã bị cắt đi đến hai lần, và sau cùng căn bệnh quái ác đã ăn vào tủy sống làm mẹ hôn mê trong 24 tiếng đồng hồ trước khi từ gĩa cõi đời. Trước khi bị hôn mê, căn bệnh ăn vào tủy làm bà thấy mọi vật nhuộm muôn màu muôn sắc.

Không có gì diễn tả nổi nỗi đau đớn của người mắc bệnh ung thư. Lầu 5 của viện ung thư ở Gia Định phải rào lại vì nhiều người trong cơn đau đã nhảy xuống tự vận. Trong khoảng cuối cùng của cuộc đời đầy hy sinh, chịu đựng, đau đớn, bà vẫn tiếp tục làm phước, giúp người. Bà bảo trợ cho một số người bị ung thư trong viện, trong số đó có một anh binh sĩ trẻ, đẹp trai như Alain Delon. Anh bị ung thư xương chân, chỉ trong vài tháng là từ trần. Mẹ tôi, lúc đó đã phải dùng tới codein cho bớt đau và bò lết dưới đất rên la, cũng vẫn lo cho anh trong những ngày chót của cuộc đời anh!

Tại sao một phụ nữ hiền hậu như mẹ tôi và có lòng thương người lại phải chịu một số phận đớn đau như vậy? Khi mẹ tôi chết đi, bà không bám víu vào một niềm tin tôn giáo nào cả vì bà không tìm thấy đức tin nơi cuối đời. Lúc gần chết, bà cảm thấy hoang mang…

Khi nhìn ngắm xác mẹ trong chiếc áo trắng tôi mặc cho bà và cành hoa lan trắng trước ngực bà, tôi mới ý thức được nỗi mất mát lớn lao đến thế nào. Đã quá muộn để chiều chuộng mẹ, để nói rằng mẹ ơi con yêu mẹ, để cám ơn bà cho tôi đời sống hôm nay và niềm tin ngày mai.

Có một con bướm trắng bay quanh quan tài của mẹ nhiều lần trước khi hạ huyệt, có phải chăng linh hồn mẹ muốn từ giã các con lần cuối?

Từ Dung xin thay mặt người quá cố cũng như các anh chị gửi lời cám ơn anh Sơn con của cô Thế đã lo việc rải tro xuống biển cho bà và mẹ chúng tôi tại Việt Nam để linh hồn bà và mẹ chúng tôi được siêu thoát và xin Chuá ban phước lành cho anh và gia đình anh.

Chấm hết

TỪ DUNG