Chuyện của Thanh – Chuyện của Descartes

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

24/06/2026

Yêu bác lòng ta trong sáng hơn?(Francais dans commentaire)

Gần đây tôi lại rất quan tâm đến hiện tượng cuồng tín và sự xơ cứng trong tư duy của con người, đặc biệt là của người Việt chúng ta. Vì vậy hôm nay tôi mạo muội nói đến một khía cạnh trong tư tưởng của Descartes mà theo tôi vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Mong các bạn đọc và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng cũng nên nhớ rằng René Descartes không chỉ là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông còn là nhà toán học thiên tài, người để lại cho chúng ta hệ tọa độ Descartes, hình học giải tích mà học sinh khắp thế giới vẫn phải học đến ngày nay. Khi ông bắt đầu dạy nhân loại cách hoài nghi và tự tư duy, thì Marx và Lenin còn ở rất xa trong tương lai. Thành thử, xét theo gia phả tư tưởng, họ cũng chỉ là những hậu duệ sinh sau đẻ muộn. Vậy nên đừng vội phán quyết trước khi nghe xem ông già ấy đang nói gì. Ông đã sống cách đây gần bốn thế kỷ, nhưng đôi khi lại hiện đại hơn không ít người đang sống ở thế kỷ XXI.

Thế kỷ XVII là một thời kỳ cách mạng về tư tưởng. Nhưng cuộc cách mạng ấy lại bắt nguồn từ những tiến bộ khoa học. Những khám phá liên tiếp xuất hiện, làm lung lay nhiều chân lý vốn được xem là bất biến từ hàng nghìn năm trước.

Chẳng hạn, từ thời cổ đại, người ta tin theo hệ thống của Ptolemy rằng Trái Đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ và Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Nhưng các công trình của Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei và Johannes Kepler đã chứng minh điều ngược lại: chính Trái Đất quay quanh Mặt Trời.

Từ thời Aristotle, người ta cũng tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Nhưng các thí nghiệm của Galileo cho thấy tốc độ rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của vật như người ta từng nghĩ…

Chính vì đã chứng kiến những “chân lý vĩnh cửu” lần lượt sụp đổ như vậy mà René Descartes đi đến một kết luận: không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì nó được truyền lại từ truyền thống hay được khẳng định bởi kẻ cầm quyền. Mọi khẳng định đều phải được lý trí xem xét và kiểm chứng.

Trước sự đảo lộn ấy, Descartes đặt ra một câu hỏi căn bản: làm thế nào để phân biệt đâu là sự thật, đâu là sai lầm?

Câu trả lời của ông thật táo bạo: hãy bắt đầu bằng sự nghi ngờ.

Descartes quyết định nghi ngờ tất cả: những điều được truyền lại từ truyền thống, những gì các bậc quyền uy khẳng định, những điều sách vở viết ra, thậm chí cả những gì giác quan của chính mình cảm nhận được, bởi giác quan đôi khi cũng đánh lừa con người.

Ông đẩy sự nghi ngờ đi đến tận cùng. Nhưng rồi, giữa biển nghi ngờ ấy, ông phát hiện ra một chân lý không thể phủ nhận. Nếu tôi đang nghi ngờ, tức là tôi đang suy nghĩ. Và nếu tôi đang suy nghĩ, thì chắc chắn tôi đang tồn tại. Từ đó ra đời câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.”

Câu nói này không chỉ khẳng định sự tồn tại của con người. Nó còn khẳng định rằng tư duy của chính chủ thể là điểm xuất phát đầu tiên của mọi tri thức chắc chắn.

Mặc dù vẫn tin vào Chúa, Descartes đề cao vai trò của lý trí cá nhân trong việc tìm kiếm chân lý. Theo ông, con người không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì truyền thống hay kẻ cầm quyền khẳng định như vậy.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Khi quan sát một số hiện tượng tranh luận chính trị ngày nay ở Việt Nam, người ta có cảm giác rằng rất đông người đang đi theo con đường hoàn toàn ngược lại với Descartes. Một điều được xem là đúng vì nó được phát ra từ một nguồn có thẩm quyền. Sự nghi ngờ bị xem là lệch lạc. Câu hỏi bị xem là nguy hiểm. Tư duy độc lập trở thành điều đáng ngờ.

Nhưng Descartes dạy chúng ta điều ngược lại: nghi ngờ không phải là điểm yếu. Nghi ngờ là khởi đầu của tư duy.

Người biết nghi ngờ có thể sai, nhưng vẫn còn cơ hội tìm ra sự thật. Người không bao giờ nghi ngờ rất dễ biến niềm tin của mình thành giáo điều và nhầm lẫn giữa lòng trung thành với một học thuyết và việc đi tìm chân lý.

Có lẽ bài học lớn nhất mà Descartes để lại cho nhân loại là:

Trước khi tin, hãy suy nghĩ. Trước khi đi theo đám đông, hãy tự mình kiểm chứng.

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, thì đối cực của nó có thể là: “Tôi chỉ lặp lại, nên tôi không còn tư duy.”.

Mà đã không còn tư duy thì chắc vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại như con người hay tồn tại như CON BÒ NHAI LẠI thì đó lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Descartes không bảo chúng ta phải tin ông. Ngược lại, ông khuyên chúng ta hãy nghi ngờ, kiểm chứng và tự suy nghĩ.

Đó có lẽ là điểm khác biệt giữa người tư duy và người cuồng tín. Người tư duy có thể thay đổi ý kiến khi đối diện với sự thật. Người cuồng tín thì bắt sự thật phải phục tùng ý kiến của mình.

Những ồn ào gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh hay Chuyện với Thanh cho thấy một nghịch lý thú vị: nhiều người khẳng định mình yêu sự thật, nhưng lại coi những điều được nghe kể là những chân lý hiển nhiên. Vì thế, thay vì tranh luận về các lập luận hay sự kiện được nêu ra, họ lập tức phẫn nộ, lên án và chụp mũ, chửi bới bất cứ ai dám kể một câu chuyện khác đi. Trong khi đó, toàn bộ triết học của Descartes lại bắt đầu bằng một hành động rất đơn giản: dám nghi ngờ.

Vì thế, dù là cuồng cộng sản, cuồng bác, cuồng Putin, cuồng Trump hay cuồng bất kỳ thần tượng nào khác, họ đều có một điểm chung: họ yêu niềm tin của mình hơn sự thật.

Còn Descartes thì đề nghị điều ngược lại: Trước khi tin, hãy suy nghĩ.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng xem ra lời khuyên ấy vẫn còn quá khó đối với không ít người.

Một thời, nhiều người trong chúng tôi đã thuộc lòng những câu thơ của Tố Hữu:

“Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn,

Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.”

Đó là những câu thơ « đẹp » trong bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc yêu một con người đến mức xem người ấy là nguồn gốc của sự trong sáng đạo đức và chân lý lại chính là điều mà Descartes sẽ cảnh báo. Bởi TỪ ẤY, ta không còn tự hỏi mình đúng hay sai nữa, mà chỉ tự hỏi mình đã đủ trung thành hay chưa.

Vậy có thơ rằng:

Yêu bác thì nên suy nghĩ hơn,

Xin nguyện cùng người không ngố mãi,

Có thế đời ta mới tốt hơn.


 

PHÉP LẠ KHÔNG AI THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi!”.

“Điều cốt yếu thì mắt không nhìn thấy!” – Saint Exupéry.

Kính thưa Anh Chị em,

Ai cũng bị cuốn hút bởi những phép lạ hiển nhiên. Nhưng trong Tin Mừng hôm nay, phép lạ lớn nhất Chúa Giêsu thực hiện lại vô hình. Tôi gọi đó là ‘phép lạ không ai thấy’.

Người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người bại liệt. Ai cũng chờ một phép lạ có thể nhìn thấy. Nhưng Chúa Giêsu lại bắt đầu bằng một lời không ai ngờ tới: “Này con, cứ yên tâm!”. Hy Lạp ghi là teknon – “con”, một tiếng gọi của sự thuộc về. Chúa Giêsu nhìn thấy nơi anh một người con trước khi người đời nhìn thấy một người bại liệt. Vì thế, trước khi nói đến tội lỗi hay bệnh tật, Ngài phục hồi tương quan của anh với Thiên Chúa. Đó là phép lạ đầu tiên của trình thuật, dù chẳng ai nhận ra. “Đời sống thiêng liêng bắt đầu khi chúng ta biết mình là người được Thiên Chúa yêu thương!” – Henri Nouwen.

Sau tiếng gọi ấy là một lời còn gây sửng sốt hơn: “Tội con được tha rồi!”. Không ai thấy tội được tha; cũng không ai kiểm chứng được một linh hồn vừa được giải thoát. Vì thế, các kinh sư cho rằng Ngài nói phạm thượng. Và chính ở điều không thể nhìn thấy ấy, Chúa Giêsu mặc khải quyền tha tội thuộc về Thiên Chúa nơi chính Ngài: “Con Người có quyền tha tội dưới đất”. Thân xác có thể vẫn nằm đó, nhưng bên trong, một sự chữa lành đã bắt đầu!

Các kinh sư không tin Chúa Giêsu có quyền tha tội; cũng thế, tư tế Amátgia không tin Amos được Thiên Chúa sai đến – bài đọc một. Cả hai khước từ một quyền bính không do con người trao ban. Nhưng chính trong sự khước từ ấy, chân lý của Thiên Chúa càng được tỏ lộ. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh!”.

Chúng ta thường chỉ nhận ra phép lạ khi hoàn cảnh đổi thay; nhưng nhiều khi, phép lạ lớn nhất đã xảy ra từ lâu: một trái tim biết sám hối, một lương tâm được bình an, một con người được giao hoà với Chúa. Đó là những phép lạ âm thầm, nhưng lại quyết định vận mệnh đời đời của mỗi người. Theo Đức Bênêđictô XVI, điều hữu hình chỉ là dấu chỉ của điều vô hình. Phép lạ chữa lành không phải là đích đến, nhưng là ngưỡng cửa dẫn con người vào mầu nhiệm tha thứ của Đức Kitô, điều mắt thường không thể nhìn thấy. Vì một khi con người được tha thứ, họ không chỉ đứng dậy, nhưng còn được trả lại hướng đi về Thiên Chúa.

Anh Chị em,

Đức Kitô đến không chỉ để tha tội, nhưng để đưa con người trở về với Chúa Cha như những người con. Trên thập giá, Ngài giao hoà chúng ta với Chúa Cha; trong phục sinh, Ngài mở con đường trở về nhà Cha cho những người con. Vì thế, phép lạ lớn nhất Đức Kitô thực hiện không phải chỉ là chữa lành thân xác, nhưng là phục hồi phẩm vị làm con của mỗi người trước mặt Thiên Chúa. Đó chính là ‘phép lạ không ai thấy’. “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những bại liệt vô hình trong con; phục hồi phẩm vị nghĩa tử, để đời con trở thành phép lạ của lòng thương xót Chúa mà ai cũng có thể thấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Dân chúng tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. 2 Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi !” 3 Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng : “Ông này nói phạm thượng.” 4 Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy ? 5 Trong hai điều : một là bảo : “Tội con được tha rồi”, hai là bảo : “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn ? 6 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội – bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Đứng dậy, vác giường mà đi về nhà !” 7 Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. 8 Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.


 

Tình trạng âm thầm khiến nhiều người phải sống phụ thuộc vào người khác khi về già 

Dr. Christina Nguyen 

 Tình trạng âm thầm khiến nhiều người phải sống phụ thuộc vào người khác khi về già  –  Chia sẻ từ một bác sĩ tại Mỹ

– Ban đầu có thể chỉ là những chuyện rất nhỏ.

– Quên mình để chìa khóa ở đâu.

– Không nhớ tên một người quen.

– Hỏi lại câu vừa mới hỏi.

– Đi vào phòng rồi quên mình định làm gì.

Gia đình thường tự trấn an: “Lớn tuổi rồi, ai chẳng hay quên.”

Và đúng là không phải mọi lần đãng trí đều có nghĩa là bệnh.

Nhưng khi những thay đổi về trí nhớ và tư duy bắt đầu ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày, vấn đề không còn chỉ là “hay quên”.

Ba mẹ không nhớ mình đã uống thuốc hay chưa.

Không còn quản lý được tiền bạc.

Lái xe rồi quên đường về nhà.

Bật bếp nhưng quên tắt.

Dễ tin người lạ và có thể bị lừa.

Không còn đủ khả năng tự đưa ra những quyết định quan trọng.

Khi suy giảm nhận thức đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến khả năng sống độc lập, người bệnh có thể đã bước sang giai đoạn sa sút trí tuệ.

Sa sút trí tuệ không phải tên của một bệnh duy nhất.

Nó là một hội chứng có thể do Alzheimer, bệnh mạch máu não, Lewy body và nhiều nguyên nhân khác gây ra.

Điều đáng sợ nhất không chỉ là quên.

Mà là một người từng tự chăm sóc bản thân, tự đi làm, nuôi con, quản lý tài chính và quyết định mọi việc trong gia đình…

… có thể dần phải phụ thuộc vào người khác trong từng bữa ăn, viên thuốc và sinh hoạt hằng ngày.

Đây có lẽ là một trong những mất mát lớn nhất của tuổi già:  Không chỉ là cơ thể yếu đi, mà là dần mất quyền kiểm soát chính cuộc đời mình.

Nhưng có một điều mà nhiều người không biết.

Sự mất độc lập ở tuổi 70 không phải lúc nào cũng bắt đầu ở tuổi 70.

Sức khỏe não bộ khi về già được xây dựng trong nhiều thập kỷ trước đó.

– Cao huyết áp không được kiểm soát.

– Tiểu đường.

– Cholesterol cao.

– Hút thuốc.

– Ít vận động.

– Mất ngủ kéo dài.

– Mất thính lực không được điều trị.

– Trầm cảm.

– Cô lập xã hội.

Những yếu tố này có thể âm thầm ảnh hưởng đến não bộ từ tuổi 30, 40 và 50, rất lâu trước khi một người nhận thấy trí nhớ của mình thay đổi.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể bảo đảm sẽ không bao giờ mắc Alzheimer hay sa sút trí tuệ.

Tuổi tác, di truyền và nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát vẫn đóng vai trò quan trọng.

Nhưng những gì chúng ta làm từ bây giờ có thể góp phần giảm bớt một phần nguy cơ và giúp mình duy trì khả năng hoạt động độc lập lâu hơn.

Vậy bạn có thể làm gì ngay bây giờ?

Không cần thay đổi tất cả cùng một lúc.

Có thể bắt đầu từ vài việc khá đơn giản.

  1. Biết những chỉ số cơ bản của mình

– Huyết áp, đường huyết và cholesterol không chỉ liên quan đến tim mạch.

– Chúng cũng ảnh hưởng đến hệ thống mạch máu nuôi não.

Nếu đã lâu chưa khám sức khỏe định kỳ, có thể bắt đầu bằng việc kiểm tra những chỉ số này và trao đổi với bác sĩ nếu chúng bất thường.

Cao huyết áp hoặc cholesterol cao thường không gây triệu chứng rõ ràng, nên nhiều người thường không cảm thấy gì dù đã bị nhiều năm.

  1. Tìm một hình thức vận động có thể duy trì

– Không nhất thiết phải đến phòng gym hoặc tập thật nặng.

– Có thể là đi bộ nhanh, đạp xe, bơi, chơi thể thao hoặc tập kháng lực vài lần mỗi tuần.

Hãy chọn một hoạt động phù hợp với lịch sống và có thể duy trì trong thời gian dài.

Nếu bạn chưa có thói quen vận động, có thể bắt đầu bằng 15–20 phút mỗi ngày.

Vận động không chỉ hỗ trợ sức khỏe tim mạch mà còn giúp duy trì khối cơ, khả năng giữ thăng bằng và sự độc lập về thể chất khi lớn tuổi.

  1. Chăm sóc giấc ngủ thay vì chỉ cố chịu mệt

Nếu thường xuyên mất ngủ, ngáy lớn, thức dậy vẫn mệt hoặc buồn ngủ nhiều vào ban ngày, có thể trao đổi với bác sĩ để tìm nguyên nhân.

Giấc ngủ kém kéo dài không phải lúc nào cũng chỉ là hậu quả của một cuộc sống bận rộn, mà nhiều khi là hệ quả của một số b.ệ.n.h có thể điều trị được.

B.ệ.n.h ngưng thở khi ngủ, lo âu, trầm cảm hoặc một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, sự tập trung và trí nhớ.

  1. Tiếp tục học và làm những việc đòi hỏi tư duy

– Học một ngôn ngữ, chơi nhạc cụ, đọc một chủ đề mới, viết lách, làm thủ công hoặc tham gia một công việc cần giải quyết vấn đề.

– Mục tiêu không phải là “luyện não” thật nhiều.

– Mà là giữ cho cuộc sống vẫn có sự tò mò, học hỏi và thử thách.

  1. Giữ những mối quan hệ có ý nghĩa

– Có thể chủ động gọi cho một người bạn, tham gia một nhóm cộng đồng, duy trì sinh hoạt với nhà thờ, chùa, hoặc dành thời gian gặp gỡ gia đình.

– Những mối quan hệ này không chỉ giúp tinh thần tốt hơn, mà còn khiến chúng ta tiếp tục trò chuyện, lắng nghe, ghi nhớ, phản ứng và kết nối với người khác.

  1. Xử lý sớm những vấn đề có thể điều trị

– Nếu bạn cảm thấy thính lực và thị lực đang dần sa sút, cảm thấy t.r.ầ.m cảm, l.o â.u hoặc đang dùng nhiều lịa thuốc khiến mình buồn ngủ, chóng mặt hay khó tập trung, có thể trao đổi với bác sĩ thay vì cố thích nghi trong thời gian dài.

– Một số vấn đề tưởng như nhỏ có thể ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động hằng ngày và khả năng kết nối với mọi người.

Tránh những điều có thể gây tổn thương não

– Đội mũ bảo hiểm khi cần.

– Thắt dây an toàn khi lái xe

– Không hút thuốc.

– Hạn chế rượu bia.

– Bảo vệ thính lực khi làm việc trong môi trường quá ồn.

Đây không phải những cách bảo đảm ngăn được sa sút trí tuệ.

Nhưng chúng là những việc thực tế có thể giúp giảm bớt một phần nguy cơ.

Không cần làm hoàn hảo.

Chỉ cần chọn một việc phù hợp nhất với mình và bắt đầu từ đó.

Với cha mẹ hoặc người thân lớn tuổi, nên chú ý khi sự hay quên bắt đầu ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày:

* Hỏi đi hỏi lại cùng một câu.

* Quên uống thuốc hoặc uống thuốc nhiều lần.

* Không còn quản lý được tiền bạc.

* Đi lạc ở nơi quen thuộc.

* Gặp khó khăn với công việc từng làm rất thành thạo.

* Thay đổi rõ rệt về tính cách, phán đoán hoặc hành vi.

Không phải mỗi lần quên tên ai đó đều có nghĩa là sa sút trí tuệ.

Nhưng khi trí nhớ bắt đầu ảnh hưởng đến khả năng sống độc lập, việc đánh giá sớm là cần thiết.

Và cũng không nên mặc định đó chắc chắn là Alzheimer.

Rối loạn tuyến giáp, thiếu vitamin, trầm cảm, tác dụng phụ của thuốc, mất ngủ hoặc một số bệnh lý khác cũng có thể ảnh hưởng đến trí nhớ.

Phát hiện sớm có thể giúp bạn tìm những nguyên nhân có thể điều trị, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và chuẩn bị trước khi một cuộc khủng hoảng xảy ra.

Ai rồi cũng sẽ già.

Nhưng những lựa chọn hôm nay có thể góp phần quyết định chúng ta sẽ giữ được sự minh mẫn và độc lập bao lâu.

Bởi vì mục tiêu không chỉ là sống thọ.

Mà là sống thọ trong một cơ thể vẫn có thể vận động, một bộ não vẫn có thể suy nghĩ minh mẫn, và một cuộc đời độc lập, không phụ thuộc vào người khác.

Bạn nghĩ gì về những chia sẻ này? Hãy comment cho mình biết nhé.

Hãy chia sẻ nếu bạn cảm thấy hữu ích!

Dr. Christina Nguyễn


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất

My Lan Pham 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất… Sự thật phía sau khiến cả thế giới xúc động

Một người mẹ đưa cô con gái mười hai tuổi vào một rạp chiếu phim ở Paris.

Bà mỉm cười và nói:

“Con cứ ngồi xem phim nhé. Mẹ sẽ quay lại trước khi bộ phim kết thúc.”

Cô bé Marie Claude ngoan ngoãn gật đầu.

Bộ phim kết thúc. Đèn trong rạp bật sáng. Khán giả lần lượt ra về.

Cô bé vẫn ngồi đó, chờ mẹ.

Nhưng người mẹ đã không bao giờ trở lại.

Không phải vì bà bỏ rơi con.

Mà bởi ngay sau khi rời khỏi rạp, bà lao đi để cảnh báo các đồng đội trong lực lượng Kháng chiến rằng Gestapo đang chuẩn bị bao vây họ.

Bà không đến kịp.

Gestapo đã bắt chính bà trước.

Người phụ nữ ấy là Odette Fabius.

Sinh năm 1910 trong một gia đình Do Thái lâu đời tại Pháp, bà hoàn toàn có thể chọn cách im lặng để bảo toàn tính mạng dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã.

Nhưng bà đã chọn con đường nguy hiểm hơn.

Tháng 11 năm 1941, Odette gia nhập mạng lưới tình báo Réseau Alliance, bí mật chuyển những thông tin quân sự quan trọng cho Anh quốc.

Tháng 4 năm 1943, bà bị bắt, bị giam biệt lập, bị tra khảo, nhưng tuyệt nhiên không tiết lộ bất cứ điều gì.

Đầu năm 1944, bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück cùng hàng nghìn nữ tù nhân khác.

Số tù nhân của bà là 27393.

Giữa cái lạnh cắt da, sự đói khát và những hàng rào thép gai, Odette vẫn không từ bỏ hy vọng.

Bà tìm cách vượt ngục.

Ba ngày sau, bà bị bắt lại.

Theo những lời kể còn được lưu truyền, hình phạt dành cho bà là năm mươi roi giữa sân trại trước sự chứng kiến của các nữ tù nhân khác.

Bà không hề kêu một tiếng.

Người ta kể rằng khi viên cai ngục hỏi vì sao bà có thể chịu đựng được như vậy, bà chỉ bình thản đáp:

“Tôi là người Pháp.”

Sau đó, bà tiếp tục bị biệt giam trong phòng tối rồi chuyển đến khu trừng phạt khắc nghiệt nhất của trại.

Đầu năm 1945, khi sức khỏe gần như suy kiệt, bác sĩ Anne Spoerry đã bí mật che giấu bà trong bệnh xá, giúp bà tránh khỏi những đợt tuyển chọn tù nhân đưa đi tử hình.

Tháng 4 năm 1945, chỉ ít ngày trước khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, Hội Chữ thập đỏ đã đưa bà sang Thụy Điển điều trị.

Bà hôn mê gần một tháng rồi dần hồi phục.

Sau chiến tranh, Odette sống thêm bốn mươi lăm năm, viết hồi ký, được trao nhiều huân chương cao quý của nước Pháp và trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm.

Còn cô bé Marie Claude ngày nào cũng sống sót qua chiến tranh cùng cha mình.

Nhiều năm sau, khi được hỏi liệu mẹ mình có nên mạo hiểm như thế hay không, bà chỉ mỉm cười và nói:

“Mẹ tôi không thể sống theo cách nào khác. Đó chính là con người của bà.”

Có những người sống rất lâu nhưng dần bị lãng quên.

Có những người ra đi từ rất lâu, nhưng lòng dũng cảm của họ vẫn sống mãi.

Odette Fabius là một trong những con người như thế.

#MyLanPham #OdetteFabius #LịchSử #ThếChiếnThứHai #Pháp #Ravensbruck #PhụNữPhiThường #LòngDũngCảm #KhôngBaoGiờLãngQuên 


 

NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tu Đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ 

NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

* * *

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận. Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ. Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo. Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn. Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa. Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ. Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức. Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn. Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình. 


 

 BÍ ẨN KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

 BÍ ẨN KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH

Tháng 3 năm 2012, Lawrence Anthony (sinh năm 1950), nhà bảo vệ môi trường và tác giả của cuốn sách “Lời nguyền của các con voi”, người Nam Phi chết vì bệnh tim tại nhà riêng ở khu bảo tồn Thula Thula. Gia đình chuẩn bị an táng. Không ai thông báo cho báo chí về sự ra đi của ông. Thông tin chỉ được biết giữa những người thân gần gũi nhất. Thế mà bỗng nhiên, 12 giờ sau cái chết của Anthony, các con voi to xác bỗng xuất hiện và tiến lại gần nhà.

Có 2 đàn voi, khoảng hơn 30 con. Chúng đến từ cách xa hàng chục cây số, đi xuyên qua lãnh thổ khu bảo tồn thiên nhiên mà đã nhiều năm chúng tránh xa vì chiến tranh và một lần bị thương do lũ săn bắn trộm. Chính Lawrence Anthony đã tiếp nhận chúng, cứu chúng khỏi bị giết, giúp chúng hồi phục sức khỏe. Anthony bị ốm nặng và nhiều tháng không ra khỏi nhà. Thế mà ngày ông mất, lũ voi lại biết. Chúng đến gần ngôi nhà và dừng lại. Chúng đứng thành hàng, im lặng. Không ăn, chỉ đứng yên. Chúng đứng 2 ngày rồi lặng lẽ rời đi xuyên qua khu bảo tồn.

Gia đình Anthony bị sốc: không ai gọi chúng, không ai chuyển thông tin, không biết cách nào mà lũ voi ở cách xa hàng chục cây số lại biết là người từng cứu sống chúng đã chết.

Các nhà khoa học biết rằng voi có trí nhớ phi thường và khả năng nhận ra con người sau hàng chục năm không gặp. Họ cũng biết rằng voi đau khổ trước cái chết của đồng loại và thường trở lại nơi có các bộ xương của tổ tiên chúng. Chúng dùng vòi cham vào các bộ xương này, đứng im lặng hồi lâu trước khi rời đi. Nhưng trường hợp với Anthony thì vẫn là câu đố mà khoa học không có lời giải đáp.

Mối liên hệ nào khi cách xa nhau cả chục cây số? Đó không phải là sự huấn luyện, không phải là phản xạ có điều kiện, không phải ngẫu nhiên. Đó là gì đó lớn hơn khiến các con thú hoang dã khổng lồ từ cách xa cảm nhận được sự mất mát từ người đã cho chúng cơ hội sống thứ hai. Không ai biết . 


 

CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT CỦA CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP.

Duc Thong DO

***** 

1-Lịch sử và nguyên nhân cái chết của Cha Trương Bửu Diệp

8 Thg 11 2025

20 Min By: Lm. Binh Ha

Tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 tháng 1 năm 1897 tại làng Tấn Đức, An Giang (thuộc địa phận Phnom Penh thời bấy giờ). Ngay từ nhỏ, cậu bé Diệp đã được gia đình định hướng theo con đường tu trì: năm 1909 (12 tuổi), cha cậu gửi cậu vào Tiểu Chủng viện Cù Lao Giêng để nuôi dưỡng ơn gọi linh mục. Sau đó, thầy Diệp tiếp tục học tại Đại Chủng viện Nam Vang (Campuchia) và thụ phong linh mục năm 1924 tại Phnom Penh. Vị tân linh mục trẻ trở về phục vụ Giáo hội Việt Nam: từ năm 1924–1927, ngài làm linh mục phó tại họ đạo Hố Trư (tỉnh Kandal, Campuchia) rồi chuyển về làm giáo sư chủng viện Cù Lao Giêng (1927–1929). Tháng 3 năm 1930, Cha Diệp nhận nhiệm sở mới tại họ đạo Tắc Sậy, tỉnh Bạc Liêu, mở ra 16 năm mục vụ đầy nhiệt thành nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tại giáo xứ Tắc Sậy, Cha Trương Bửu Diệp nổi tiếng là một mục tử tận tụy và giàu lòng nhân ái. Không chỉ chăm lo đời sống đức tin cho giáo dân, ngài còn tích cực mở rộng hoạt động truyền giáo, thành lập thêm nhiều họ đạo nhỏ trong vùng như Bà Đốc, Cái Côn, An Hải, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn…. Tính tình cha Diệp rất hiền lành, nhưng khi giảng Lời Chúa thì lúc hùng hồn mạnh mẽ, lúc lại êm đềm sâu lắng – lối giảng truyền cảm ấy gây ấn tượng mạnh nơi giáo dân. Đặc biệt, ngài hết lòng thương yêu người nghèo khó và khách lỡ đường, không phân biệt lương hay giáo. Ông Huỳnh Văn Lập (người từng giúp lễ cho cha) kể rằng Cha Diệp thường mời những người nghèo đói vào nhà xứ, mở kho lúa của nhà thờ để họ lấy lúa xay giã làm gạo ăn qua cơn đói. Với đời sống khiêm nhường và bác ái, cha Trương Bửu Diệp nhanh chóng trở thành điểm tựa tinh thần không chỉ cho người Công giáo, mà cả nhiều lương dân quanh vùng cũng quý mến vị linh mục hiền lành này.

Bối cảnh lịch sử Nam Bộ thập niên 1940

Thập niên 1940, miền Nam Việt Nam chìm trong khói lửa chiến tranh và loạn lạc. Chiến tranh thế giới kết thúc để lại khoảng trống quyền lực: thực dân Pháp lăm le tái chiếm thuộc địa, trong khi phát xít Nhật vừa đảo chính lật đổ Pháp rồi đầu hàng Đồng minh, tạo điều kiện cho các lực lượng bản xứ nổi dậy. Tại Nam Bộ, tình hình đặc biệt rối ren với sự xuất hiện của nhiều thế lực quân sự và chính trị chồng chéo. Lực lượng Việt Minh cách mạng tràn về nông thôn kêu gọi kháng chiến, đồng thời các giáo phái vũ trang như Cao Đài, Hòa Hảo cũng nổi lên tranh giành ảnh hưởng ở nhiều địa phương. Bên cạnh đó, một số toán quân phiệt địa phương, tàn quân Nhật và các nhóm vũ trang tự phát cũng lợi dụng thời cơ để hoành hành. Tất cả tạo nên cục diện “tam quốc phân tranh” đầy bất trắc cho người dân miền Tây Nam Bộ sau Cách mạng Tháng Tám.

Trong bối cảnh hỗn loạn ấy, nhiều cộng đồng Công giáo ở miền Tây rơi vào tình thế nguy hiểm. Một số linh mục và giáo dân đã phải tạm lánh nạn khỏi xứ đạo để bảo toàn mạng sống khi chiến tranh lan đến. Riêng tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu), Cha Trương Bửu Diệp kiên quyết không rời bỏ đoàn chiên. Mặc cho chiến sự ngày càng đến gần, ngài từ chối mọi lời khuyên lánh nạn. Thậm chí Cha Bề Trên Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu từng kêu gọi cha Diệp ẩn tránh tạm thời; phía người Pháp cũng ba lần cho xe đến đón ngài lánh về nơi an toàn. Nhưng Cha Diệp quả quyết đáp: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”. Lời khẳng định ấy thể hiện rõ lập trường đức tin của vị mục tử: ngài chọn ở lại cùng chia sẻ hiểm nguy với giáo dân, đúng như tinh thần người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Chính lựa chọn can đảm này đã đặt nền móng cho sự hy sinh anh dũng của Cha Trương Bửu Diệp trong cơn binh biến.

Sự kiện dẫn đến cái chết năm 1946

Tháng 3 năm 1946, vùng Bạc Liêu trở thành điểm nóng xung đột giữa các lực lượng. Vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, biến cố đau thương đã ập xuống họ đạo Tắc Sậy: Cha Trương Bửu Diệp cùng hàng chục giáo dân của ngài bị một toán vũ trang ập đến bắt đi giữa đêm loạn lạc. Có nguồn tư liệu cho rằng lực lượng vũ trang địa phương đã lùa cha Diệp cùng khoảng 70 giáo dân và giam họ vào một kho lúa (lẫm lúa) ở Cây Gừa, dự tính châm lửa thiêu sống tất cả. Trước tình cảnh đoàn chiên bị đe dọa, Cha Diệp vẫn bình tĩnh an ủi mọi người, ban ơn giải tội và chuẩn bị tinh thần cho họ sẵn sàng chết vì đức tin. Ngài tha thiết xin những kẻ bắt giữ tha mạng cho giáo dân, nhận mọi nguy hiểm về phần mình: Cha Diệp nguyện chịu chết thay để cứu mạng đoàn chiên. Cuối cùng, kẻ bắt giữ đã chấp nhận lời khẩn cầu hy sinh ấy – chúng kéo cha đi và thủ tiêu ngài trong đêm, nhưng thả tự do cho các giáo dân còn lại. Nhờ sự hy sinh của vị mục tử, hơn 70 giáo hữu Tắc Sậy đã thoát chết và lẩn trốn an toàn trong đêm tối hỗn loạn.

Tuy nhiên, ai là thủ phạm sát hại Cha Trương Bửu Diệp và động cơ thực sự của chúng vẫn là vấn đề gây tranh cãi suốt nhiều thập kỷ. Trong hoàn cảnh chiến tranh phe phái phức tạp, đã xuất hiện nhiều giả thuyết khác nhau. Một số nhân chứng và tài liệu Công giáo ở hải ngoại cho rằng chính lực lượng Việt Minh đã bắt và sát hại Cha Diệp do nghi ngờ ngài cộng tác với Pháp, vốn là thế lực thực dân thù địch với cách mạng. Trong khi đó, các nguồn thông tin tại Việt Nam lại nghiêng về khả năng ngài bị giết do mâu thuẫn giữa các giáo phái địa phương. Cụ thể, theo lời kể lưu truyền, có hai sĩ quan Nhật đào ngũ sau Thế chiến II đã gia nhập lực lượng Cao Đài của một thủ lĩnh quân sự địa phương. Hai người Nhật này được cho là đã vu cáo Cha Diệp cấu kết với thực dân Pháp và trực tiếp tham gia sát hại ngài. Giả thuyết này hàm ý rằng cái chết của cha Diệp là hệ quả của tranh chấp phe phái: một bên là nhóm vũ trang Cao Đài có thù nghịch với người Pháp, bên kia là linh mục Công giáo bị nghi ngờ liên hệ với Pháp. Sự thật có lẽ nằm ở giao điểm của những yếu tố chính trị – tôn giáo chồng chéo trong vùng.

Mãi đến gần đây, cuộc điều tra lịch sử của Giáo phận Cần Thơ (2011–2017) mới đưa ra kết luận chính thức, góp phần sáng tỏ vụ việc. Bản báo cáo của giáo phận, dựa trên lời khai tuyên thệ của 23 nhân chứng (trong đó 13 người trực tiếp chứng kiến), khẳng định chắc chắn Cha Trương Bửu Diệp bị sát hại bởi hai tên lính Nhật đào ngũ vào ngày 12/3/1946. Những kẻ này hành động với động cơ “lòng thù ghét đức tin Công giáo” (odium fidei) – nghĩa là giết ngài chủ yếu vì oán ghét tôn giáo của ngài Báo cáo cũng bác bỏ mọi cáo buộc cho rằng Việt Minh hay Đảng Cộng sản Đông Dương liên quan đến vụ việc, coi đó là “vô căn cứ”. Song song đó, ủy ban điều tra của Giáo hội chỉ ra một nguyên nhân bổ trợ: sự xung đột lợi ích tại địa phương. Cha Diệp nổi tiếng là người kiên quyết bảo vệ đất đai và tài sản của giáo xứ, bênh vực quyền lợi người nghèo thay vì để các nhóm bạo lực chiếm đoạt. Chính lập trường cứng rắn này khiến ngài trở thành cái gai trong mắt một số kẻ xấu muốn trục lợi. Từ những mâu thuẫn âm ỉ ấy, họ đã cấu kết với nhóm lính Nhật và lực lượng vũ trang bản địa để triệt hạ vị linh mục. Có thể nói, Cha Trương Bửu Diệp đã trở thành nạn nhân của cả hận thù tôn giáo lẫn lòng tham và thù oán cá nhân trong thời loạn.

Sau khi Cha Diệp bị hành quyết, thi thể ngài bị bọn sát nhân vứt xuống ao nước gần kho lúa. Vài ngày sau, giáo dân mới bí mật tìm được thi hài cha trong tình trạng đặc biệt thương tâm: thân mình trần trụi, trên đầu và sau gáy có hai vết chém sâu, nhưng điều kỳ lạ là đầu vẫn chưa lìa khỏi cổ. Ngày nay, nhiều lời kể cho biết chính Cha Diệp đã “hiện về báo mộng” cho các chức sắc biết chỗ tìm xác ngài dưới ao nhà ông giáo Sự. Khi được vớt lên, thi thể cha Diệp vẫn hai tay chắp trước ngực, nét mặt bình thản như đang cầu nguyện, tựa như dấu hiệu ngài đã đón nhận cái chết trong niềm phó thác. Để tránh nguy hiểm, giáo dân lén an táng cha tại phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo gần đó. Mãi đến năm 1969, hài cốt cha mới được cải táng về lại nhà thờ Tắc Sậy nơi ngài từng coi sóc suốt đời mục vụ. Sự hy sinh oanh liệt và những tình tiết ly kỳ quanh cái chết của Cha Trương Bửu Diệp đã nhanh chóng lan truyền, làm nền tảng cho một niềm tin đặc biệt nơi giáo dân về sự thánh thiện của vị mục tử tử đạo.

Đức tin và sự hy sinh của người mục tử

Câu chuyện Cha Trương Bửu Diệp chấp nhận cái chết để bảo vệ đoàn chiên đã trở thành một biểu tượng sáng ngời về đức tin và lòng mục tử trong Công giáo Việt Nam. Ngay từ trước khi bị bắt, ngài đã thể hiện tinh thần “sống chết với đoàn chiên” qua việc ở lại giáo xứ giữa cơn binh biến, bất chấp hiểm nguy cận kề. Quyết định ấy xuất phát từ niềm tin son sắt và ơn gọi mục tử nơi Cha Diệp: ngài noi gương Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lànhluôn sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đàn chiên của mình. Trong giờ phút thử thách khốc liệt, cha Diệp vẫn vững vàng chu toàn bổn phận linh mục ban bí tích hòa giải, nâng đỡ tinh thần cho giáo dân, rồi hiến dâng mạng sống mình để đổi lấy sự sống cho người khác. Hành động “thí mạng vì bạn hữu” cao cả ấy chính là minh chứng hùng hồn cho tình yêu Kitô giáo mà Cha Diệp đã sống và giảng dạy.

Với Giáo hội Công giáo, cái chết của Cha Trương Bửu Diệp mang ý nghĩa của một sự tử đạo đích thực. Ngài đã chết vì trung thành với đức tin và bổn phận mục tử, dưới bàn tay những kẻ oán ghét đạo Chúa. Tinh thần quả cảm và sự phó thác của cha khi đối diện cái chết nêu gương cho hàng vạn tín hữu. Hình ảnh vị linh mục quỳ cầu nguyện trong khoảnh khắc sinh tử, rồi bình thản đón nhận nhát gươm sát hại, đã khơi dậy nơi lòng người niềm xúc động sâu xa về sức mạnh của đức tin. Nhiều giáo dân thời bấy giờ truyền tai nhau rằng Cha Diệp qua đời như một “hạt lúa mục nát” để trổ sinh hoa trái đức tin cho cộng đoàn – một cách ví von theo tinh thần Phúc Âm. Sau này, khi tưởng nhớ ngài, Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn từng chia sẻ rằng Cha Trương Bửu Diệp “là một linh mục thánh thiện, luôn lo lắng cho tương lai Giáo hội và khích lệ giáo dân sống đạo sâu sắc… Ngài đã sống và chết trọn vẹn cho họ”. Sự hy sinh anh hùng của Cha Diệp không chỉ cứu sống đoàn chiên Tắc Sậy năm ấy, mà còn trở thành ngọn đuốc đức tin soi sáng cho các thế hệ tín hữu Công giáo Việt Nam noi theo.

Mầu nhiệm quanh cái chết và lòng sùng kính Cha Diệp

Sau biến cố tử đạo của Cha Trương Bửu Diệp, nhiều câu chuyện mầu nhiệm và lòng sùng kính đặc biệt đã hình thành xung quanh ngài. Trước hết phải kể đến việc tìm thấy thi hài cha Diệp một cách nhiệm lạ: Giáo dân thuật lại rằng chính cố linh mục đã hiện về trong giấc mơ “chỉ điểm” nơi kẻ thủ ác giấu xác ngài dưới ao, giúp họ vớt được thi thể để an táng. Từ đó, mộ phần của Cha Diệp – dù ban đầu nằm khiêm tốn ở một họ đạo nhỏ – đã sớm trở thành điểm đến thiêng liêng cho những ai mến mộ ngài. Người ta tin rằng sự bình an trên nét mặt cha lúc qua đời và việc hai tay ngài vẫn chắp nguyện đã báo hiệu sự thánh thiện của vị tử đạo Chúa. Nhiều người bắt đầu kín đáo cầu khấn Cha Diệp, xin ngài bầu cử cùng Chúa cho họ vượt qua khốn khó trong cuộc sống.

Đặc biệt, từ sau năm 1975, các lời đồn về ơn lành và phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Cha Trương Bửu Diệp ngày càng lan rộng. Khởi đầu là câu chuyện ly kỳ năm 1977 tại Bảo Lộc (Lâm Đồng): Một bà cụ ngoại giáo nghèo bị ung thư bao tử giai đoạn cuối, nằm chờ chết, bỗng gặp “một linh mục Công giáo” ghé qua cho vài viên thuốc và tự giới thiệu là cha sở Tắc Sậy, rồi vội vã đi ngay. Uống thuốc xong, bà cụ bất ngờ khỏi bệnh. Quá đỗi ngạc nhiên và cảm kích, gia đình đưa bà tìm về tận Tắc Sậy (Bạc Liêu) để tạ ơn vị linh mục đã cứu mạng. Khi đến nhà thờ Tắc Sậy, vừa nhìn thấy bức ảnh trên mộ phần Cha Trương Bửu Diệp, bà cụ kinh ngạc nhận ra đó chính là vị linh mục đã cho thuốc mình hôm trước!. Câu chuyện “ơn lạ” này nhanh chóng loan truyền khắp nơi. Sau sự kiện ấy, ngày càng đông người từ các miền đất nước lũ lượt tìm đến mộ cha Diệp để cầu xin ơn lành và tạ ơn ngài, tạo nên phong trào hành hương sôi động suốt những năm cuối thập niên 1970.

Từ thập niên 1980 trở đi, lòng sùng kính cha Trương Bửu Diệp thật sự bùng nổ mạnh mẽ. Hằng năm, đặc biệt vào dịp lễ giỗ ngài (11–12 tháng 3 dương lịch), dòng người hành hương đổ về Tắc Sậy mỗi lúc một đông. Không chỉ người Công giáo mà cả nhiều người ngoài Kitô giáo cũng tìm đến phần mộ cha để cầu nguyện, xin ơn. Nhà thờ Tắc Sậy – nơi an nghỉ của Cha Diệp – dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng nhất miền Tây Nam Bộ, được dân gian ưu ái gọi là “Nhà thờ Cha Diệp”. Khách hành hương thuộc mọi tôn giáo cho biết họ đã nhận được nhiều ơn phúc nhiệm mầu sau khi khấn nguyện với Cha Diệp, từ những ơn chữa lành bệnh tật cho tới sự bình an trong tâm hồn. Hàng trăm, hàng ngàn tờ cáo phó tạ ơn được người mộ đạo gửi về nhà thờ như minh chứng sống động cho niềm tin vào sự linh thiêng của vị linh mục tử đạo.

Ngày nay, khu mộ phần của Cha Trương Bửu Diệp nằm trong Thánh đường Tắc Sậy khang trang, thường xuyên nghi ngút khói hương của khách hành hương. Ngôi mộ bằng đá đỏ đơn sơ khắc tên ngài được đặt trang trọng giữa gian cung thánh, bên trên là tượng Chúa Giêsu chịu đội mão gai, xung quanh luôn tươi mới những bình hoa và lễ vật感 tạ từ người đến viếng. Hai bên mộ, trên tường nhà thờ, là những câu liễn lớn đề chữ thư pháp: “Sống hiền danh phổ thác – Chết nêu gương sáng ngời”, như tóm lược cuộc đời và cái chết anh dũng của Cha Diệp. Khung cảnh tôn nghiêm ấy chính là trái tim của trung tâm hành hương – nơi mọi người dâng lời cầu nguyện và bày tỏ lòng kính ngưỡng đối với cha. Theo thời gian, những hiện tượng được cho là “ơn lạ” nhờ Cha Diệp chuyển cầu nhiều vô kể, đến mức người viết tiểu sử phải thừa nhận: “Sự lạ đếm không xuể”. Dù Giáo hội thận trọng chưa dùng từ “phép lạ” khi chưa điều tra xác minh, nhưng trong lòng đại chúng, cha Trương Bửu Diệp đã được tôn kính như một vị thánh sống, một điểm tựa thiêng liêng mang lại niềm hy vọng và nâng đỡ đức tin cho biết bao người.

Tầm ảnh hưởng và di sản

Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua từ ngày Cha Trương Bửu Diệp hy sinh, nhưng ảnh hưởng của ngài vẫn in sâu trong đời sống tôn giáo và văn hóa của người Công giáo Việt Nam, đặc biệt tại miền Nam và trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trước hết, tấm gương mục tử của Cha Diệp đã trở thành nguồn cảm hứng tinh thần mạnh mẽ. Nhiều thế hệ linh mục và giáo dân miền Nam lớn lên với câu chuyện về Cha Diệp – vị linh mục dám sống chết vì đoàn chiên – như một huyền thoại có thật về lòng trung kiên với đức tin. Trong những giai đoạn Giáo hội gặp khó khăn (như thời kỳ chiến tranh, hay giai đoạn sau 1975), chính ký ức về sự hy sinh của ngài đã tiếp thêm sức mạnh cho người tín hữu kiên trì bám trụ với niềm tin tôn giáo. Cha Diệp còn được nhớ đến như một mục tử luôn đứng về phía người nghèo khổ, yếu thế, sẵn sàng bảo vệ công lý xã hội – điều này làm ngài được kính phục không chỉ trong cộng đồng Công giáo mà cả bởi nhiều người ngoài Công giáo.

Thứ hai, Cha Trương Bửu Diệp đã để lại một di sản cụ thể là trung tâm hành hương Tắc Sậy. Từ một họ đạo nhỏ bé ban đầu, nay Thánh địa Tắc Sậy đã trở thành địa điểm hành hương tôn giáo nổi tiếng, đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách mỗi năm. Nhờ tấm lòng yêu mến Cha Diệp của cả giáo dân trong và ngoài nước, nhà thờ Tắc Sậy đã được mở rộng khang trang để phục vụ khách hành hương. Nhiều đóng góp từ người mộ đạo khắp nơi (kể cả đồng bào hải ngoại) đã giúp xây dựng nên ngôi thánh đường đồ sộ cùng nhà lưu niệm 5 tầng trưng bày tư liệu về cha Diệp ngay tại khuôn viên nhà thờ. Chính quyền địa phương cũng xếp Tắc Sậy vào tuyến điểm du lịch tâm linh của tỉnh, cho thấy sự ghi nhận giá trị văn hóa – tín ngưỡng của nơi này. Bằng sự linh thiêng lan tỏa, mộ phần Cha Diệp đã góp phần gắn kết tinh thần cộng đồng: không phân biệt tôn giáo hay xuất xứ, mọi người có thể gặp nhau tại Tắc Sậy trong cùng một niềm tin vào điều thiện và phép màu của lòng tin.

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, danh tiếng Cha Trương Bửu Diệp cũng vang vọng và tạo nên sợi dây liên kết đặc biệt. Nhiều hội đoàn và tổ chức mang tên Cha Diệp được thành lập ở Hoa Kỳ, Úc, châu Âu nhằm quy tụ những người ái mộ ngài. Chẳng hạn, tại Little Saigon (California, Mỹ) có Trương Bửu Diệp Foundation, một văn phòng mà đồng hương thường tìm đến để xin khấn và chia sẻ các ơn lành được cho là nhờ lời chuyển cầu của cha. Các hội ái mộ cha Diệp ở hải ngoại còn tích cực thu thập chứng từ về các phép lạ, hỗ trợ Giáo hội trong tiến trình tuyên thánh cho ngài. Với người Việt xa quê, hình ảnh Cha Diệp – một vị tử đạo Việt Nam cận đại – vừa là niềm tự hào đức tin, vừa là điểm tựa tâm linh cho cộng đồng lưu vong giữ vững gốc rễ văn hóa và tôn giáo.

Cuối cùng, tầm ảnh hưởng của Cha Trương Bửu Diệp được khẳng định một cách chính thức qua tiến trình tuyên thánh của Giáo hội Công giáo. Năm 2012, Tòa Thánh đã cấp phép mở hồ sơ phong thánh cho ngài, và cha Diệp được đặt vào hàng “Tôi tớ Chúa”【1†】. Đến ngày 25 tháng 11, 2024, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ký sắc lệnh công nhận Cha Trương Bửu Diệp đã tử đạo “vì lòng thù ghét đức tin”, tức chính thức nhìn nhận ngài là một vị tử đạo của Giáo hội. Quyết định này mở đường cho việc tôn phong Chân phước (Á Thánh) cho cha Diệp, dự kiến sẽ được ấn định trong thời gian sắp tới. Như vậy, từ một linh mục quê mùa xứ đồng bằng, Cha Trương Bửu Diệp đang dần được tôn vinh trên bình diện toàn cầu của Giáo hội hoàn vũ. Sự kiện này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là niềm vinh dự lớn lao đối với Giáo hội Việt Nam và cộng đồng tín hữu Việt trên khắp thế giới.

Kết luận: Cuộc đời và cái chết của Cha Trương Bửu Diệp là một thiên anh hùng ca thấm đẫm tinh thần đức tin và lòng bác ái. Trong khói lửa loạn ly của thập niên 1940, ngài đã sống trọn vẹn thiên chức mục tử, chấp nhận hy sinh cao cả vì đoàn chiên. Thời gian trôi qua, hy sinh ấy không hề bị lãng quên mà trái lại đã kết tinh thành một di sản thiêng liêng quý giá. Từ miền quê Bạc Liêu đến đô thị Sài Gòn, từ Việt Nam đến hải ngoại, hình ảnh Cha Trương Bửu Diệp – người mục tử tử đạo – tiếp tục tỏa sáng, nâng đỡ đức tin của bao tâm hồn. Ngài đã đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng của tình yêu Thiên Chúa, để lại bài học muôn đời về lòng trung thành với đức tin, lòng yêu thương con người và sự hy sinh vô vị lợi. Những giá trị đó chính là đóng góp to lớn và lâu dài nhất của Cha Trương Bửu Diệp cho đạo cũng như đời, xứng đáng được tôn vinh và noi gương cho các thế hệ mai sau.

Tài liệu tham khảo:

  • Báo Công giáo & Dân tộc: “Theo dấu chân cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp”.
  • Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: “Nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu”.
  • Vatican News: “Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sẽ được phong chân phước”.
  • Giáo phận Cần Thơ – HĐGMVN: “Chân dung Linh mục Việt Nam: LM Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp”.
  • Lm. Giuse Nguyễn Văn Thư: “Truyện dài cha Trương Bửu Diệp”.
  • AsiaNews: “The soon to be Saint Father Diep… honored even by non-Christians”.
  • Phúc trình Điều tra Tuyên thánh Gp. Cần Thơ (2025).

NGUỒN: Lịch sử và nguyên nhân cái chết của Cha Trương Bửu Diệp

……………………………………  

2-Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897–1946) – Cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp, cái chết và ý nghĩa cho ngày nay

Phêrô Vũ Văn Hài

19/12/2025

2851

Chia sẻ

WHĐ (12/11/2025) – Đây là tài liệu chính thức của Giáo phận Cần Thơ, đã được Tòa Thánh Vatican chuẩn thuận, được đúc kết từ cuộc điều tra kéo dài nhiều năm với nhiều nhân chứng, trở thành Tiểu sử chính thức của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp.

Lời giới thiệu

  1. Tiểu sử sơ lược của Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp (1897-1946)
  2. Cuộc điều tra
  3. Nhân cách và Sự nghiệp của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

3.1. Về tình yêu của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với mọi người

3.2. Thái độ của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với người nghèo, đặc biệt giữa nạn đói năm 1944-1945

  1. Cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và nguyên nhân

4.1. Sự thật

4.2. Động cơ

  1. Ý nghĩa của cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

5.1. Lời tuyên bố đó có ý nghĩa gì?

5.2. Thật sự, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã chết vì đức tin và để bảo vệ quyền lợi của người nghèo

Lời giới thiệu

Đây là tài liệu chính thức của Giáo phận Cần Thơ, được Toà Thánh Vatican chuẩn thuận.

Tài liệu này là kết quả của cuộc điều tra sau nhiều năm, với nhiều nhân chứng, được tóm gọn lại trở thành Tiểu sử chính thức về Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, do Giáo phận Cần Thơ công bố.

Theo quy định của Bộ Phong Thánh của Giáo hội Công giáo, ngày 11 tháng 10 năm 2021, Điều 52a: “Các tài liệu của Cuộc Điều Tra và Positio (tập hồ sơ) về việc tử đạo, các nhân đức anh hùng, sự hiến dâng mạng sống và việc tôn kính cổ truyền sẽ được giữ bí mật tuyệt đối trong vòng năm mươi (50) năm kể từ khi kết thúc cuộc điều tra. Mọi sự tham khảo bởi bên thứ ba phải được Thánh Bộ chấp thuận bằng văn bản”. Thế nên, những nhân vật và những nhân chứng về cuộc Tử đạo của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp trong tài liệu này được viết tắt (Ví dụ như: Ông Q., Linh mục V., Bà H., Ông S…).

Ước mong mọi thành phần Dân Chúa đón nhận và phổ biến tài liệu chính thức này, để Danh Chúa được vinh quang và nhiều người được hưởng ơn cứu độ.

Cần Thơ, ngày 15 tháng 8 năm 2025

Giám mục Giáo phận Cần Thơ

Phêrô LÊ TẤN LỢI

Nơi an nghỉ của Cha Phanxi cô Xavier Trương Bửu Diệp

  1. Tiểu sử sơ lược của Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp (1897-1946)

Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp sinh ngày 01 tháng 01 năm 1897 tại Tấn Đức, nay là xã Long Kiến, tỉnh An Giang. Cha là ông Trương Văn Đặng (1860-1935) và mẹ là bà Nguyễn Thị Thanh (1862-1904). Gia đình sống tại họ đạo Cồn Phước, do linh mục Nguyễn Linh Sớm, sinh năm 1857, coi sóc. Đây là một gia đình Công giáo làm nghề nông, sống theo những giá trị truyền thống của người Việt.

Sau khi vợ mất vào năm 1904, ông Trương Văn Đặng đưa con trai là cậu Diệp qua Battambang, Campuchia kiếm sống. Ông tái hôn với bà Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1890. Sau đó, hai vợ chồng cùng cậu Diệp trở về Cồn Phước, An Giang sinh sống. Tại đây, họ sinh thêm được một cô con gái tên là Trương Thị Thìn.

Năm 1909, khi lên 12 tuổi, cậu Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được nhận vào học bậc trung học tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vì từ thời bấy giờ cho đến năm 1955, tất cả các xứ đạo Công giáo trên lãnh thổ Việt Nam bên kia sông Hậu (Giáo phận Long Xuyên và Cần Thơ hiện nay) đều thuộc về Giáo phận Phnom Penh, do một giám mục người Pháp, thuộc Hội Thừa sai Ba Lê, cai quản, cho nên, sau khi tốt nghiệp, cậu Diệp được nhận vào Đại chủng viện Phnom Penh, Campuchia.

Năm 1924, Thầy Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được thụ phong linh mục. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó tại một làng người Việt Nam gọi là Hố Trư – nay là Ploutrey, xã Thomokô, huyện Lvea Em, tỉnh Kandal, Campuchia. Cho đến ngày nay, người dân trong làng vẫn còn nhắc nhớ về cha phó Phanxicô Xavier Diệp.

Đầu năm 1928, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được điều về dạy học tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, An Giang.

Tháng 3 năm 1930, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được bổ nhiệm làm chánh xứ Tắc Sậy. Đây là một họ đạo nhỏ ở tỉnh Bạc Liêu, ngài cũng phải coi sóc cả Khúc Tréo và các giáo dân sống rải rác trong vùng. Dưới sự hướng dẫn của Cha Diệp, số giáo dân tăng lên đáng kể, và nhiều nhà thờ mới được xây dựng. Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã rất thành công trong công tác mục vụ và truyền giáo, cho đến khi qua đời vào ngày 12 tháng 3 năm 1946.

  1. Cuộc điều tra

Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp có sức ảnh hưởng rất lớn, không chỉ ở tỉnh Bạc Liêu, tại Giáo phận Cần Thơ, mà còn ở nhiều nơi khác trên đất nước Việt Nam và cả nước ngoài. Mộ phần của ngài ở Tắc Sậy thu hút đông đảo mọi thành phần đến kính viếng, và hình ảnh của ngài hiện diện ở khắp nơi.

Lòng sùng kính của rất nhiều người dành cho Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và tầm ảnh hưởng vươn xa của ngài, không phải do Giáo phận Cần Thơ chủ ý tạo ra hay dẫn dắt, nhưng điều này đã được phát sinh và lan toả một cách tự nhiên trong lòng dân chúng và ngày càng phổ biến và phát triển.

Đài Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Trong những trường hợp như thế này, Giáo hội Công Giáo luôn phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt để xác minh tính xác thực và giá trị của lòng sùng kính đó. Cho nên, từ năm 2011 đến năm 2017, Giáo phận Cần Thơ đã tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng về cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp. Một cách cụ thể, một Ủy Ban Sử Học của Giáo Phận đã được thành lập để xem xét tất cả các tài liệu khả dĩ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp giúp tìm hiểu về cuộc đời và những sự kiện dẫn đến cái chết bi thảm của ngài. Hai mươi ba nhân chứng, cả Công giáo lẫn không Công giáo, đã được thẩm vấn sau khi công khai tuyên thệ làm chứng cách trung thực. Trong số đó, có 13 người là nhân chứng tận mắt chứng kiến, 10 người khác làm chứng về những gì họ nghe được từ những người trực tiếp chứng kiến.

Thể theo yêu cầu của Giáo phận Cần Thơ, Tòa Thánh đã xem xét kỹ lưỡng phương pháp tiến hành và kết quả của cuộc điều tra này, kể cả việc tham khảo ý kiến của một nhóm sử gia độc lập, và cuối cùng đã tuyên bố kết quả của cuộc điều tra là đáng tin cậy.

Do đó, vào ngày 25/11/2024, Đức Giáo hoàng Phanxicô cho phép Giáo phận Cần Thơ tiến hành các bước tiếp theo: chính thức công nhận linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là một mẫu gương sống Đạo cho ngày nay; và ban cho ngài danh hiệu truyền thống là “Chân phước”.

  1. Nhân cách và Sự nghiệp của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Tất cả các nhân chứng đều mô tả Cha Phanxicô Xavier Diệp là một linh mục tốt, tận tâm trong việc thi hành các bổn phận tôn giáo, nghiêm túc trong việc giữ gìn các nề nếp truyền thống trong gia đình (gồm có em gái, em rể và hai cháu của ngài), và rất quảng đại đối với người khác. Ngài đặc biệt quan tâm đến người nghèo khó, trẻ em, người bệnh tật, và những người đau khổ vì chiến tranh hay những tai ương khác.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp rất rộng lượng. Ngài không hề phân biệt đối xử giữa người giáo dân hay anh chị em lương dân, giữa Công giáo với các Tôn giáo khác, và ngài cũng không quan tâm đến yếu tố sắc tộc hay chính kiến. Tất cả những ai nghèo khổ đều có thể đến gặp ngài trực tiếp và được ngài đón tiếp trong tình bằng hữu và với những cử chỉ chia sẻ giống y như nhau.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp phát gạo cho bà con lương giáo

Để minh họa thêm, xin trích dẫn một vài lời khai thực tế của các nhân chứng sau khi họ tuyên thệ nói sự thật.

3.1. Về tình yêu của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với mọi người

Ông Q., một giáo dân, cho biết: “Cha sống giản dị, gần gũi, yêu thương và phục vụ giáo dân, nên bà con yêu mến cha… Cha yêu thương mọi người. Cha giúp đỡ mọi người lương giáo. Ai cần gì thì xin cha, cha cho”.

Linh mục V., lúc đó là một linh mục trẻ, kể lại: “Cha rất gần gũi, hiểu biết, phục vụ và yêu thương giáo dân. Dù trong hoàn cảnh xã hội loạn lạc, nguy hiểm, Cha Diệp vẫn ở lại với giáo dân chứ không chịu tản cư đi lánh nạn… Cha Diệp siêng năng làm lễ, giải tội và đi đến các họ lẻ và giáo điểm; và cha thường xuyên đi thăm những người già cả, ốm yếu, và giúp đỡ những người nghèo lương giáo”.

Bà L., lúc đó còn là một thiếu nữ, khi Cha Diệp qua đời, vẫn nhớ rất rõ: “Con thấy Cha Diệp khiêm nhường, hiền lành, đơn sơ, gần gũi giáo dân. Con nhớ cha hay đi thăm bà con, vào nhà để xem họ sinh sống làm sao… Cha Diệp cũng nhân từ và biết cách hoán cải người tội lỗi. Thời đó, ba con là con nhà khá giả, ham mê ăn chơi, không lo làm việc. Cha Diệp gặp ba con khuyên giải, hướng dẫn. Nhờ đó ba con hối cải, sửa đổi, và siêng năng làm việc”.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp rửa tội cho bà con dự tòng

Lời tóm tắt xác đáng nhất về điểm này là của Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn, người quen biết với Cha Phanxicô Xavier Diệp: “Ngài là một mục tử tốt lành, yêu thương, phục vụ, và sống chết với đoàn chiên… Ngài không chỉ tận tình chăm sóc những giáo dân trong họ đạo mà cả những lương dân; không chỉ trong họ đạo được trao phó mà cả những giáo điểm xa xôi… Cha thường xuyên đến những giáo điểm và họ đạo này cử hành Thánh lễ và các Bí tích cho giáo dân, và còn thăm viếng lương dân. Để đến được những nơi đó, cha thường đi bằng ghe xuồng hoặc đạp xe đạp… Cha Diệp tốn nhiều thời gian và hao tổn nhiều sức lực, tâm trí trong việc linh mục của mình. Cha yêu thương và biết dân rất rõ. Cha rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày và thiêng liêng của họ. Cha phục vụ họ và hy sinh cuộc đời cho họ”.

3.2. Thái độ của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đối với người nghèo, đặc biệt giữa nạn đói năm 1944-1945

Ông G., một giáo dân, khẳng định mạnh mẽ: “Cha Diệp thương mến cả người giáo cũng như người lương. Những người nghèo khổ được cha yêu thương, giúp đỡ nhiều lắm. Ba con là Biện Việc của giáo họ được cha bảo phải giúp đỡ người nghèo tùy hoàn cảnh của người ta. Lúc đó ngoài Bắc đang đói kém: có một số người Bắc tản cư vào Tắc Sậy, cha cũng giúp đỡ họ nhiều. Nhiều người xin học đạo. Cha còn lo lắng cho những người lương nhiều hơn nữa”.

Bên trong nhà thờ Tắc Sậy

  1. Cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp và nguyên nhân

Cuộc điều tra kỹ lưỡng của Giáo phận Cần Thơ, dựa trên sự kiện và lời khai, đã bác bỏ hoàn toàn những giả định vô căn cứ xung quanh cái chết của Cha Diệp, và làm sáng tỏ động cơ vụ sát hại ngài.

Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp bị chém đầu

4.1. Sự thật

Hoàn cảnh cái chết của Cha Diệp đã được làm sáng tỏ ngoài sự nghi ngờ: ngài bị sát hại bởi hai lính đào ngũ Nhật Bản.

Cụ thể, thi thể của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp được tìm thấy trong một ao cá; đầu bị chém chẻ làm đôi từ đỉnh đầu xuống cổ bởi một nhát kiếm. Không giống với bất kỳ binh lính nào khác trong khu vực, chỉ có lính Nhật Bản mới được trang bị và sử dụng thành thạo loại vũ khí này. Trên thực tế, nhiều người đã thấy những người lính Nhật đào ngũ mang kiếm Nhật bên mình trong địa bàn giam giữ Cha Diệp.

Bà H. kể lại: “Trong đám đó thì có mấy thằng Nhật… Mỗi thằng Nhật có mang kiếm dài, sáng giới. Lúc con đi từ lẫm bên kia sang lẫm ba má con, thằng Nhật tưởng con trốn nên rút kiếm dài sáng giới kê vào cổ con”.

Chính mắt một thành viên trong nhóm quân hỗn tạp đã đưa Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp cùng với người dân Tắc Sậy, cả Công giáo lẫn người lương, đến kho thóc Cây Gừa, và đã chứng kiến vụ hành quyết. Anh ta không tưởng tượng được rằng ngày hôm đó sẽ kết thúc bằng vụ sát hại một con người vô tội mà mọi người dân trong vùng đều kính trọng và yêu mến. Sau đó, anh ta vẫn là một người bạn của những người Công giáo từng là giáo dân của Cha Diệp. Ông D., một giáo dân, làm chứng: “Con không mắt thấy tai nghe sự kiện Cha Diệp bị bắt nhốt, vì con sống ở trong Chủ Chí… Nhưng con có người bạn là ông B. … Sau này, tối ngày ông ấy lại nhà con chơi và ông ấy kể chuyện này chuyện kia cho con nghe… Ổng kể rằng: ‘Bọn lính bắt Cha Diệp đến một cái ao cạn của nhà bên cạnh. Họ kêu cha quỳ xuống, rồi rút gươm ra chém cha từ sau về phía trước. Hai thằng lính người Nhật là người chém Cha Diệp. Thằng tên là N., thằng kia tên là Th.. Có ba thằng Nhật, Thằng Nhật T. thì ở nhà’. Sau khi Cha Diệp bị giết, khoảng mấy bữa thì con biết tin liền, vì những người ở Tắc Sậy ra vào đây nói cho biết”.

Lời khai gián tiếp này được đánh giá là đáng tin cậy, vì người kể chuyện không đặt mình vào vị trí thuận lợi; ngược lại, suốt quãng đời, anh ta vẫn xấu hổ vì đã là một kẻ cộng tác về mặt chất thể trong vụ hành quyết một con người vô tội. Lời khai của ông G., người đã đi tìm và kiểm tra thi thể của Cha Diệp, đã chứng thực sự việc: “Họ chém Cha Diệp hai nhát: nhát đầu, nhưng bị run tay hay sao đó, mà nhát chém bị lạng sớt sau ót. Rồi họ chém nhát thứ hai mới đứt cái đầu. Sau đó họ đạp xác Cha Diệp xuống cái giếng lạng”.

Ông S., một thành viên của gia đình Phật tử, là chủ đất nơi vụ hành quyết được thực hiện, làm chứng rộng hơn, và đề cập đến một số động cơ của những kẻ hành quyết: “Trong nhóm này có hai thằng Nhật tàn quân bị Tây đuổi… Họ lấy những cái tên Việt Nam… Hai thằng Nhật này là người giết Cha Diệp. Vì cái cách chết của Cha Diệp cho thấy điều đó. Cha bị chém chết từ phía ót sau ra phía trước còn dính da ở trán là cách chém của Nhật. Anh tôi về thăm nhà thấy những cây cau trong vườn bị chặt ngang ngọt sớt bởi kiếm của Nhật. Dao kiếm bình thường không chặt ngọt sớt được như vậy… Tại sao hai thằng Nhật này giết Cha Diệp? Hai thằng này thù Tây, vì Nhật bị thua Tây. Tụi nó coi Cha Diệp theo Đạo của Tây, theo Tây. Tụi nó ghét Tây nên nó giết Cha để trả thù Tây”.

Bà con lương giáo cầu nguyện nơi mộ phần của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

4.2. Động cơ

(a) Sau khi sự thật được xác nhận, những cáo buộc đằng sau cái chết của Cha Diệp đã được rõ ràng:

Cuộc điều tra của Giáo phận đi đến kết luận chắc chắn rằng cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp không liên quan đến “Việt Minh” hay “Đảng Cộng sản Đông dương” và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, “Đảng Cộng sản Đông dương” đã ra “Thông cáo tự ý giải tán” vào ngày 11 tháng 11 năm 1945 (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945-1947), NXB Chính trị quốc gia, hà Nội 2000, trang 19-20).

Còn Mặt trận Việt Minh lúc bấy giờ đặt nhiệm vụ trọng tâm là tìm được sự ủng hộ từ tất cả người Việt Nam, bất kể tín ngưỡng tôn giáo (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945-1047), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, số 9, trang 29).

Cuộc điều tra cũng chỉ ra rằng: các chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu của nền độc lập nước nhà luôn nhằm mục tiêu thúc đẩy hòa bình và bảo vệ mạng sống. Dưới đây là đoạn trích trong “Thư gửi Đồng Bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến, và uỷ ban hành chính Nam Bộ”, đăng trong Báo Cứu quốc, số 182, ngày 10 tháng 3 năm 1946, trước ngày Cha Phanxicô Xavier Diệp bị sát hại: “…Trong thời kỳ đình chiến này, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỷ luật là cần thiết hơn lúc nào hết. Và rồi đây, sau khi hòa bình đã thoả hiệp được, thì tinh thần phấn đấu của anh em vẫn là những lực lượng quý báu để đảm bảo cho nền độc lập hoàn toàn của nước nhà sau này. Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa. Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả tốt đẹp hơn nữa”. (xem: Hồ Chí Minh toàn tập, Quyển 4 (1945-1946), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, trang 228-229).

(b) Thái độ của Cha Diệp đối với Việt Minh như thế nào?

Tình hình xã hội thời bấy giờ khá phức tạp như lời người con trong gia đình Phật tử ở vùng lân cận Tắc Sậy, là chủ mảnh đất mà Cha Diệp bị giam giữ và bị giết vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, đã kể lại như sau: “Tình hình chính trị và xã hội ở vùng Tắc Sậy và Cây Gừa này vào những năm 1945-1946 rất loạn lạc, giặc giã… Gia đình tôi phải tản cư đi chỗ khác để nhà trống và hai lẫm lúa trống không người coi sóc. Thỉnh thoảng về thăm coi chút xíu. Vì thế, những người ta bắt và nhốt Cha Diệp và bà con ở Tắc Sậy trong hai lẫm lúa của ba tôi”.

Cũng như các giám mục và linh mục Công giáo Việt Nam thời bấy giờ, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp ủng hộ một quốc gia Việt Nam độc lập khỏi mọi cường quốc nước ngoài. Tuy nhiên, lập trường của ngài là ủng hộ một cuộc cách mạng hòa bình, không phải chiến tranh hay bạo lực. Điều này thể hiện rất rõ nét qua thái độ của Cha Diệp đối với Việt Minh. Ngài không hề có ác cảm với họ, nhưng không muốn tham gia vào các hoạt động quân sự. Và ngài đối xử với những người lính bình thường của họ rất thân thiện và ấm áp như với tất cả những người trẻ tuổi khác.

Những người lính Việt Minh ở gần Tắc Sậy không ngần ngại đến thăm Cha Diệp một cách thoải mái, thậm chí khá là thân thiện, như lời Bà L., một giáo dân, làm chứng: “Con không thấy Cha Diệp làm chính trị hay quân sự. Nhưng con biết Cha Diệp có quan hệ giao tiếp tốt với hết mọi người: người Pháp, người Nhật, người Cao Đài; người Việt Minh… đến thăm cha cũng tiếp chuyện bình thường”.

Cô M., con gái của một giáo dân sống gần Cha Diệp kể về thái độ như một người cha của Cha Diệp đối với những người lính trẻ Việt Minh: “Con không thấy có đồn bót, lính bộ đội Việt minh hay lính Pháp ở nhà thờ Tắc Sậy. Sau này con nghe ba con nói lại là vài bộ đội Việt Minh đến gặp Bác Diệp để xin bánh tét. Bác nhờ giáo dân gói bánh tét đem cho họ”.

(c) Cha Diệp có thông đồng với quân đội Pháp không?

Câu trả lời cho câu hỏi này một lần nữa là: “Không!”. Một số lời khai có tuyên thệ cho phép cuộc điều tra kết luận rằng Cha Diệp không hề thông đồng với quân đội Pháp.

Bà A., sau khi tuyên thệ đã làm chứng: “Con không thấy Cha Diệp có lính ở nhà thờ và cũng không có liên hệ nhiều với người Tây”.

Ông G., một giáo dân khác, có câu trả lời chi tiết hơn về mối quan hệ của Cha Diệp với các nhóm vũ trang ở vùng đất bên kia sông Hậu: “Sau khi Nhật Bổn thất trận rồi, nó mới trao quyền lại cho người Pháp. Lúc đó lính Pháp đã trở lại đóng đồn ở Hộ Phòng, cách Tắc Sậy khoảng 2km. Theo con hiểu, người Pháp tôn trọng đạo Thiên Chúa. Khi Tây đi ruồng, người lương giáo đều tụ về nhà thờ. Lúc đó Cha Diệp ra đứng trước nhà thờ. Tây và ‘Thổ’ [Khmer] thấy cha thì bỏ đi luôn… Cha chỉ chăm sóc con chiên mà thôi. Cha không có lính tráng để giữ nhà thờ. Với quân đội Pháp và lính đánh thuê của họ, mối quan hệ rất căng thẳng, nhưng bằng nhân cách của mình, Cha Diệp đã buộc họ phải tôn trọng thường dân”.

Bà H. giải thích thêm: “Vào thời đó, ở Tắc Sậy loạn lạc, bất an. Lính Tây và lính Thổ ở Hộ Phòng thỉnh thoảng đi ruồng ở Tắc Sậy. Họ đến bắt đàn bà con nít, nên Cha thường kêu mọi người đến nhà thờ tập trung để cha mặc áo dòng đứng bảo vệ. Nhiều người phải bỏ xứ Tắc Sậy tản cư đi các nơi khác”.

Bà Nh., một giáo dân khác, giải thích cách Cha Diệp kiên quyết từ chối bất kỳ sự bảo vệ nào của Pháp: “Ông Cố Diệp không làm chính trị, quân sự gì hết. Ông cố chỉ lo làm việc của Linh mục. Thỉnh thoảng có ông Tây bà Đầm đến nhà thờ Tắc Sậy đi lễ Giáng Sinh, chứ không đến thăm cha… Vì các ‘ông biện Họ’ biết vụ việc tranh chấp đất đai với nhà thờ khiến người ta thù ghét, nên mới khuyên ngài đi lánh nạn một thời gian. Nhưng Ông Cố không chịu. Ông Cố nói: ‘Chết sống ở giữa họ đạo. Ai muốn giết ông Cố thì giết!’. Nhưng con biết các ông biện có đem cha đi lánh nạn ban đêm ở bên kia sông. Nhiều lần họ muốn bắt Cha Diệp ban đêm nhưng không gặp cha. Vì thế, họ tính chuyện bắt Cha Diệp ban ngày”.

Cuối cùng, một nhân chứng làm chứng rằng Cha Diệp đã bác bỏ những đề nghị thực tế mà người Pháp đưa ra: “Con hồi đó con còn nhỏ. Nhưng con nghe người lớn ở Tắc Sậy kể lại rằng thằng Pháp lại nói với cha rằng cho giáo dân đi lính cho nó, thì nó cho súng giữ nhà thờ. Nhưng cha không chịu. Cha nói: ‘Không. Linh mục thì cần gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo phe phái chính trị nào’”.

(d) Âm mưu giết người

Câu hỏi sau đây nên đặt ra: Tại sao Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là một linh mục nghèo, khiêm tốn, trong một họ đạo tầm thường mà lại bị sát hại? Ai sẽ được lợi khi giết Cha Diệp?

Tranh chấp thực sự mà Cha Diệp có liên quan là với một số ít địa chủ. Trong cuộc tranh chấp này, Cha Diệp đã kiên quyết bảo vệ quyền lợi của những người nghèo, những người thấp kém trong xã hội cần có đất đai để sinh sống. Cũng vậy, Cha bảo vệ quyền lợi của Giáo hội, mà cụ thể là giáo xứ, trong việc quản lý đất đai mà giáo xứ sở hữu để giúp đỡ những gia đình khó khăn, phần đông là những người chạy nạn đói. Một số địa chủ không chấp nhận điều đó, và tuyên bố tất cả đất khai hoang trong khu vực là lợi ích riêng của họ. Nhiều nhân chứng, chủ yếu là giáo dân, cho biết rõ danh tính và cách thức thâu tóm đất đai của những kẻ tham vọng đó. Ví dụ:

Bà L. cho biết: “Con biết một ông điền chủ tên gọi là Ông chủ Z. có tranh chấp đất đai với Cha Diệp. Ông Chủ Z. lấn ranh đất Nhà Chung. Cha Diệp phải đưa ra tòa và cha thắng kiện”.

Ông Q. kể rằng: “Con nghe nói vì lý do tranh chấp đất đai ở Đồng Gò. Ông Chủ Z. tranh chấp đất với Cha Diệp, nhưng ông ấy thua kiện. Ông phe phái với các chủ đất khác, tìm cách bắt Cha Diệp. Ông chủ Z. là người chủ mưu”.

Bà A. có nhắc đến tên một địa chủ khác được đào tạo ở Pháp. Người này có thể đã trở thành một trong những đồng phạm của ông Z.: “Mọi người yêu mến Cha, ngoại trừ ông Ba Y. Một lần con đã nghe ông ta tranh luận với Cha Diệp và gọi ‘mày’ và ‘tao’ với Cha”.

Bà Nh. làm chứng rằng: “Còn thêm một cái nhà thờ ở vùng biển nữa gọi là nhà thờ An Hải. Ông chủ Z. được chính quyền người Pháp cho ông ta khai khẩn đất đai và hóa đất mấy ngàn công ở vùng biển. Cha Diệp xin chính quyền Pháp đất để xây nhà thờ. Chính quyền Pháp đồng ý. Họ lấy lại một số đất của ông Chủ Z. và cho Cha Diệp để xây nhà thờ và cho giáo dân nghèo làm ruộng sinh sống. Cha Diệp đã xây nhà thờ An Hải và đem dân xuống dưới đó sinh sống. Hồi đó, con có xuống nhà thờ An Hải hát lễ. Từ đó, ông chủ Z. sinh ra thù ghét Cha Diệp vì ông bị mất quyền lợi. Con nghe mấy ông Biện nói chuyện với nhau về ông chủ Z. như vậy”.

Nhân chứng cuối cùng khẳng định chắc chắn sự tồn tại của một âm mưu giết Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp. Cô N. khai: “Con nghe dư luận cho rằng, hồi đó có ông chủ Z. tranh chấp đất đai ở biển Gành Hào với Cha Diệp. Ông chủ Z. là người giầu có. Cha con nói lại rằng Cha Diệp có giấy tờ đất đai, còn ông chủ Z. không có giấy nên ông ta thua kiện. Do đó, mấy năm sau, khi Cha Diệp mời ông Chủ Z. đi dự lễ Noel, ông không còn đi lễ nữa. Sau này, ông mướn người ta giết Cha Diệp”.

  1. Ý nghĩa của cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp

Từ nhiều năm nay, rất nhiều người, thuộc mọi tầng lớp xã hội và hoàn cảnh khác nhau, từ khắp nơi trên đất nước và cả từ nước ngoài, thuộc nhiều tôn giáo – tín ngưỡng – niềm tin khác nhau… đổ về mộ phần của Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp tại Tắc Sậy, thuộc Giáo phận Cần Thơ. Và rất nhiều người, lương cũng như giáo, khi đến với Cha Diệp đã nhận được nhiều ơn lành qua sự cầu bầu của ngài. Bằng chứng hùng hồn nhất về lời cầu bầu của ngài là rất nhiều lời tạ ơn được dâng lên cho ngài qua những bảng tạ ơn nơi trung tâm hành hương Tắc Sậy. Nhiều người đến với ngài và qua lời bầu cử của ngài, họ đã đến gần với Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã suốt đời tôn thờ và tận tâm phục vụ.

Giáo phận Cần Thơ đã nỗ lực chào đón mọi người như cách thức mà Cha Diệp đã chào đón những người gặp khó khăn. Các linh mục được Giám mục yêu cầu hướng dẫn và hỗ trợ tinh thần và vật chất cho khách hành hương. Và sau khi đã ghi nhận, tìm hiểu và chứng thực về ý nghĩa của lòng mộ mến Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp của đông đảo dân chúng, và cứu xét cách thận trọng và khôn ngoan dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, sao cho phù hợp với đức tin Công Giáo và quy tắc sống Đạo, Giáo phận Cần Thơ đã thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng xem xét và phê chuẩn về cuộc điều tra mà Giáo phận đã tiến hành từ năm 2011 đến nay.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã trả lời cho thỉnh cầu của Giáo phận Cần Thơ vào ngày 25 tháng 11 năm 2024, khi ngài tuyên bố rằng: “Cha Trương Bửu Diệp đã bị giết vì lòng thù ghét đức tin vào ngày 12 tháng 3 năm 1946” và truyền công bố sự thật ấy cho tất cả mọi thành phần trong Giáo hội Công Giáo và cho tất cả những người thành tâm thiện chí.

5.1. Lời tuyên bố đó có ý nghĩa gì?

Trong suốt cuộc đời mình, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã trở nên tất cả cho mọi người để phục vụ mọi người, và dành tình cảm đặc biệt cho những người dễ bị tổn thương nhất: trẻ em, người già, người bệnh và người nghèo.

– Đối mặt với sự lạm dụng của các băng nhóm vũ trang, Cha đã bảo vệ những người yếu thế nhất: phụ nữ, thiếu nữ, và trẻ em.

– Đối với những anh chị em bất hạnh, đặc biệt những nạn nhân của nạn đói năm 1945, Cha đã khôn ngoan tổ chức các hoạt động cứu trợ hiệu quả.

– Đối với việc quản lý đất đai tập thể, Cha đã ra sức bảo vệ không vì lợi ích cá nhân, mà là để bảo vệ quyền lợi của người nghèo.

– Đối với việc mục vụ của một mục tử giữa đoàn chiên, Cha đã sống và chết vì niềm tin, Cha không phân biệt đối xử, trái lại, luôn chạnh lòng thương xót mọi người, cho dù họ thuộc tầng lớp xã hội nào, có quan điểm chính trị ra sao, hoặc thuộc về tín ngưỡng nào…

– Là một người yêu chuộng hòa bình và là bạn của mọi người, Cha không khinh miệt hay thù ghét ai, và luôn từ chối tham gia vào các hành động vũ trang chống lại đồng bào của mình, dù thuộc phe phái nào, thậm chí còn từ chối vũ khí để tự vệ.

– Cha đã chết vì những lý tưởng trên đây, và mọi người biết đến Cha đều yêu mến, cho dù họ thuộc tôn giáo hay chính kiến khác nhau.

– Tuy nhiên, Cha đã trở thành nạn nhân của một số ít kẻ muốn chiếm đoạt tài sản của người nghèo.

5.2. Thật sự, Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp đã chết vì đức tin và để bảo vệ quyền lợi của người nghèo

Người Công giáo giờ đây gọi Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là “Vị Tử đạo” vì Cha đã hy sinh mạng sống của mình cho những người được giao phó cho Cha, để bảo vệ đức tin Kitô giáo, và các đức tính yêu thương, công bằng và hòa bình – là những điều không thể tách rời khỏi đức tin Kitô giáo.

Người Công giáo muốn tôn phong Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là “Chân phước Tử đạo” vì Cha đã thể hiện thật rõ nét qua cuộc sống và cái chết của mình các Mối Phúc thật trong Phúc Âm: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó… Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói… Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc… Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa…” (Lc 6, 20-22)

Nhà khấn Cha Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp tại giáo xứ Cồn Phước, Chợ Mới

Nguồn: LINH MỤC PHANXICÔ XAVIER TRƯƠNG BỬU DIỆP (1897-1946) – CUỘC ĐỜI, NHÂN CÁCH, SỰ NGHIỆP, CÁI CHẾT VÀ Ý NGHĨA CHO NGÀY NAY – Nhân chứng Đức Tin – Hoa Xương Rồng

Chia sẻ

NGUỒN: Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897–1946) – Cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp, cái chết và ý nghĩa cho ngày nay | Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm


 

CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Patrick Lew Hayashi – PLBCông Giáo Rôma

  CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

”Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Có những con người, càng đi qua năm tháng, người ta càng nhớ.

Không phải vì họ đã làm nên những điều vĩ đại khiến lịch sử phải ghi tên, mà bởi cuộc đời họ đã lặng lẽ chạm đến trái tim của biết bao người.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một người như thế.

Suốt gần tám mươi năm qua, dòng người vẫn không ngừng tìm về Tắc Sậy. Có người đến để tạ ơn, có người đến để cầu xin, có người chỉ đơn giản muốn ngồi thật lâu bên phần mộ của một vị linh mục mà họ chưa từng gặp. Điều lạ lùng là rất nhiều người trong số ấy không phải là người Công giáo.

Họ đến vì tin rằng, ở nơi ấy có một tình yêu rất thật.

Một tình yêu đã được viết nên bằng cả cuộc đời.

Và ngày 02 tháng 7 năm 2026 tới đây, niềm tin ấy được Giáo hội long trọng tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước.

Đó không chỉ là niềm vui của Giáo phận Cần Thơ hay của người Công giáo Việt Nam, mà còn là lời tạ ơn vì giữa lòng dân tộc Việt đã có một vị mục tử sống trọn vẹn Tin Mừng của Đức Kitô.

Cha Diệp sinh năm 1897 trong một gia đình Công giáo bình dị ở miền Tây Nam Bộ.

Tuổi thơ của ngài không có gì đặc biệt. Con đường dâng mình cho Chúa cũng giống như biết bao chủng sinh khác của thời ấy: âm thầm học tập, kiên trì cầu nguyện và từng ngày chuẩn bị cho chức linh mục.

Năm 1924, ngài được truyền chức.

Không ai biết rằng, vị linh mục trẻ năm ấy sẽ trở thành một trong những gương mặt được người dân Việt Nam yêu mến nhất.

Điều làm nên sự đặc biệt của Cha Diệp không phải là những bài giảng hùng hồn.

Không phải những công trình lớn lao.

Cũng không phải những chức vụ quan trọng.

Điều làm nên con người ngài lại là những điều rất nhỏ.

Một nụ cười dành cho người nghèo.

Một lời an ủi dành cho người đang tuyệt vọng.

Một bữa cơm sẻ chia.

Một chuyến đi thăm người bệnh giữa đêm.

Một cánh cửa nhà xứ luôn rộng mở.

Ngài sống giữa người dân như một người cha hơn là một vị lãnh đạo.

Có lẽ vì thế mà người ta gọi ngài bằng cái tên rất thân thương:

“Cha Diệp.”

Không cần thêm bất cứ danh xưng nào nữa.

Rồi chiến tranh tràn về.

Những ngày đầu năm 1946, miền Tây chìm trong loạn lạc, ly tán.

Nỗi sợ hãi phủ kín các làng quê.

Người ta tìm cách chạy trốn.

Ai cũng mong giữ lấy mạng sống của mình.

Cha Diệp cũng có cơ hội để rời đi.

Nhiều người đã khuyên ngài như thế.

Nhưng nếu người mục tử bỏ đi trước, ai sẽ ở lại với đoàn chiên?

Có lẽ chính trong khoảnh khắc ấy, cuộc đời Cha Diệp đã phản chiếu rõ nhất hình ảnh của Đức Giêsu.

Ngài không chọn sự an toàn.

Ngài chọn đoàn chiên.

Ngài không chọn cứu mình.

Ngài chọn ở lại.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, Cha Diệp bị bắt cùng nhiều giáo dân.

Theo nhiều chứng từ được lưu truyền và được nghiên cứu trong hồ sơ phong chân phước, ngài đã chấp nhận hy sinh chính mình để nhiều người khác được tha mạng.

Cuối cùng, vị linh mục ấy ngã xuống.

Không phải trên bục giảng.

Không phải trong tiếng chuông nhà thờ.

Mà giữa một thời khắc đầy hận thù của chiến tranh.

Ngài chết khi vẫn đang sống đúng điều mình đã rao giảng.

“Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

Có lẽ không có bài giảng nào hùng hồn hơn chính cái chết ấy.

Có những cái chết khép lại một cuộc đời.

Nhưng cũng có những cái chết mở ra một hành trình mới.

Cha Diệp thuộc về điều thứ hai.

Từ một ngôi mộ nhỏ ở Tắc Sậy, từng đoàn người tìm đến.

Ban đầu là giáo dân trong vùng.

Rồi đến những người ở khắp mọi miền đất nước.

Ngày nay, Tắc Sậy đón những bước chân đến từ nhiều quốc gia, nhiều tôn giáo, nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Có người mang theo bệnh tật.

Có người mang theo những đổ vỡ.

Có người mang theo những lời cầu xin chưa biết ngỏ cùng ai.

Và cũng có người chỉ đến để cảm nhận một sự bình an rất khó diễn tả.

Điều giữ họ quay trở lại không phải vì những câu chuyện kỳ diệu được truyền miệng.

Mà là vì họ nhìn thấy nơi Cha Diệp hình ảnh của một con người đã yêu thương đến tận cùng.

Một tình yêu không phân biệt giàu nghèo.

Không phân biệt tôn giáo.

Không phân biệt thân quen hay xa lạ.

Một tình yêu mang khuôn mặt của Đức Kitô.

Việc Giáo hội tuyên phong Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên bậc Chân phước hôm nay không phải là để dựng thêm một bức tượng.

Cũng không phải để người ta chỉ biết đến ngài như một vị chuyển cầu cho những ơn lành.

Điều Giáo hội muốn nhắc chúng ta chính là chứng tá của một cuộc đời.

Giữa một thế giới mà con người ngày càng sợ mất mát, Cha Diệp dạy chúng ta biết cho đi.

Giữa một xã hội mà ai cũng muốn bảo vệ chính mình, ngài dạy chúng ta biết ở lại với người khác.

Giữa những tính toán hơn thiệt của cuộc sống, ngài nhắc chúng ta rằng tình yêu đích thực luôn cần sự hy sinh.

Có lẽ đó cũng là lý do vì sao, sau gần một thế kỷ, người ta vẫn gọi tên Cha Diệp bằng tất cả sự kính yêu.

Không phải vì ngài đã làm những điều phi thường.

Mà vì ngài đã sống điều bình thường với một tình yêu phi thường.

Yêu thương bằng cả trái tim.

Phục vụ bằng cả cuộc đời.

Và trao hiến đến hơi thở cuối cùng.

(Nguồn: Catholic News)

(Lm. Trần Chính Trực) 


 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

ĐẤT CỦA HEO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thành ra đón Đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ”.

“Điều duy nhất còn lại để sự dữ chiến thắng là người tốt không làm gì cả!” – Edmund Burke.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự dữ không luôn chiến thắng bằng sức mạnh của ma quỷ. Nhiều khi, chỉ cần con người không làm gì cả. Tin Mừng hôm nay kể về một vùng đất, nơi người ta coi tài sản quý hơn con người; và cuối cùng, quý hơn Thiên Chúa. Tôi gọi đó là ‘đất của heo’.

Matthêu mở đầu trình thuật bằng một chi tiết tưởng như rất nhỏ: Chúa Giêsu “sang bờ bên kia”. Đó không chỉ là một di chuyển địa lý, nhưng là một vượt biên thần học. Hy Lạp gọi to peran – không chỉ bờ bên kia Galilê, nhưng bờ bên kia của mọi ranh giới. Đó là miền đất dân ngoại, có mồ mả và đàn heo – tất cả đều gợi lên sự ô uế đối với người Do Thái. Thế nhưng, nơi con người tránh né, Chúa Giêsu lại bước vào. “Thiên Chúa luôn ở nơi con người tưởng Ngài không thể có mặt!” – Madeleine Delbrêl.

Vùng đất ấy có hai người bị quỷ ám, sống giữa mồ mả, bị tước mất nhân phẩm. Nhưng chỉ một lời của Chúa Giêsu, họ được trả lại tự do. Tưởng như cả thành sẽ vui mừng vì hai con người được tìm lại. Vậy mà không! Họ ra đón Chúa Giêsu chỉ để xin Ngài rời khỏi vùng đất của mình. Hai người anh em vừa được cứu vẫn không quý bằng một đàn heo. Đó là lúc Matthêu cho thấy thế nào là ‘đất của heo’.

Và này, thật chua chát: “Hỡi Con Thiên Chúa!”. Ma quỷ nhận ra Chúa Giêsu trước con người! Chúng biết mình đang đối diện với ai, biết ngày phán xét sẽ đến: “Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao?”. Nhưng chúng chỉ biết run sợ, chứ không quy phục. Dân thành thì không nhận ra Chúa Giêsu; họ không phủ nhận phép lạ, nhưng lại không muốn Đấng làm phép lạ ở lại. Hoá ra, nhận ra Đức Kitô chưa phải là thuộc về Ngài; và gặp Chúa chưa hẳn là đón nhận Ngài.

Amos cho thấy ‘đất của heo’ không chỉ ở Gađara. Đó là bất cứ nơi nào công lý bị đánh đổi lấy quyền lợi, và con người bị hy sinh cho lợi ích. Mỗi lần như thế, chúng ta lại âm thầm mời Chúa rời khỏi vùng đất của mình. Vì thế, Amos cất tiếng: “Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không quay lưng với miền đất khước từ Ngài. Dù bị đuổi khéo, Ngài vẫn tiếp tục bước tới. Chính nơi con người muốn loại trừ Ngài, Thiên Chúa lại khai mở ơn cứu độ. Từ thập giá đến Phục Sinh, Đức Kitô đã biến mọi “bờ bên kia” thành lối về với Cha. Vì thế, điều quyết định không phải là chúng ta đang thuộc về vùng nào, nhưng là có để Ngài ở lại hay không. Chỉ khi ấy, ‘đất của heo’ mới có thể trở thành đất của Tin Mừng. “Thiên Chúa không ép ai yêu; Ngài chỉ xin được đón nhận!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đuổi khéo Chúa; cho con biết quý Chúa hơn mọi lợi ích, quý con người hơn mọi của cải; để đất lòng con trở thành mảnh đất của Tin Mừng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Chưa tới lúc mà Ngài đã đến đây làm khổ loài ma quỷ chúng tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 8,28-34

28 Khi ấy, Đức Giê-su sang bờ bên kia, đến vùng đất của dân Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người ; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29 Chúng la lên rằng : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao ?” 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng : “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia.” 32 Người bảo : “Đi đi !” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo bỏ chạy vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34 Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.


 

Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện – Cha Vương  

Chúc bạn ngày đầu tuần luôn có Chúa bên cạnh để soi sáng, vỗ về, an ủi cho đến hết tuần luôn không quên cầu nguyện cho nhau và cả thế giới luôn được bình an nhé.

Cha Vương  

Th 3: 30/6/2026.    CN 26-26

Quà tặng thứ 8 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện

TIN MỪNG:  Đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án. (Ga 5:29)

SUY NIỆM: Theo quan niệm của Thánh Kinh, người công chính được hiểu là những người nỗ lực chu toàn thánh ý Thiên Chúa, chu toàn lề luật và làm điều thiện. Tuy nhiên, sự công chính nơi thánh cả Giuse không chỉ hệ tại ở việc thực thi các mệnh lệnh của lề luật, nhưng hơn thế, lòng chính trực, sự trung thành tuyệt đối của thánh nhân vượt xa những đòi hỏi của lề luật. Đức công chính nơi thánh Giuse thể hiện ở sự ngay thẳng nội tâm tương ứng với đức ngay thẳng của cách sống bên ngoài. Trước mặt Thiên Chúa, dưới ánh nhìn của Thiên Chúa, thánh nhân như thế nào thì ngài muốn bộc lộ ra như vậy. Dưới mái nhà Nazaret không có những bóng mờ ẩn ý. Trái lại, sự ngay thẳng, chân thành và cởi mở của từng thành viên đã hiệp nhất thành gia đình thánh.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, Đấng công chính, thánh thiện, xin giúp chúng con giữa cuộc đời đầy giả dối và bon chen, biết chọn cho mình một lối sống chân thành, ngay thẳng, dù chúng con có phải chịu thiệt thòi. Xin giúp chúng con biết noi gương ngài, luôn trung thành tuân giữ lề luật Chúa với tất cả tâm tình yêu mến, để chúng con được Chúa xót thương. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con luôn ý thức uốn nắn trí tuệ và trái tim chúng con. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen 

From: Do Dzung

***************

NGƯỜI CÔNG CHÍNH (Lm Huy Hoàng) – Cô giáo Hồng