Bán con để tồn tại: Người cha Afghanistan đưa ra lựa chọn nghiệt ngã (BBC)

BBC

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

  • Tác giả, Yogita Limaye
  • Vai trò, Phóng viên Nam Á và Afghanistan

 

  • 20 tháng 5 2026

Khi bình minh ló dạng, hàng trăm người đàn ông đi đến một quảng trường bụi bặm tại Chaghcharan, thủ phủ của tỉnh Ghor ở Afghanistan.

Họ đứng dọc đường với hy vọng có ai đó đến đề nghị giúp đỡ. Công việc này sẽ quyết định liệu gia đình họ có được ăn trong ngày hôm đó hay không.

Tuy nhiên, khả năng thành công rất thấp.

Juma Khan, 45 tuổi, chỉ tìm được việc làm trong ba ngày trong sáu tuần qua với mức lương từ khoảng 62.000-83.000 VND mỗi ngày.

“Các con tôi đã phải đi ngủ trong cơn đói ba đêm liên tiếp. Vợ tôi khóc, các con tôi cũng vậy. Thế nên tôi đã phải xin một người hàng xóm ít tiền để mua bột mì,” ông kể.

Quảng cáo

“Tôi sống trong nỗi sợ hãi rằng các con tôi sẽ chết đói.”

Câu chuyện của ông không phải là trường hợp cá biệt.

Cảnh báo: Bài viết này chứa những chi tiết đau lòng

Skip Đọc nhiều nhất and continue reading

Đọc nhiều nhất

End of Đọc nhiều nhất

Tại Afghanistan ngày nay, theo Liên Hợp Quốc, có đến ba phần tư người dân không thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của bản thân. Tỉ lệ thất nghiệp cao, hệ thống chăm sóc sức khỏe gặp nhiều khó khăn.

Các khoản trợ cấp từng cung cấp những nhu yếu phẩm cơ bản cho hàng triệu người nay đã giảm xuống chỉ còn một phần nhỏ so với trước đây.

Đất nước này hiện đang đối mặt với nạn đói ở mức độ kỷ lục, với 4,7 triệu người – hơn một phần mười dân số Afghanistan – được ước tính đang đứng trước nguy cơ chết đói.

Ghor là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất.

Những người đàn ông ở đây đang tuyệt vọng.

“Tôi nhận được cuộc gọi nói rằng con mình đã không có gì ăn trong hai ngày,” Rabani nghẹn ngào nói.

“Tôi muốn tự tử. Nhưng rồi tự hỏi điều đó sẽ giúp ích gì cho gia đình tôi? Vì vậy, tôi ở đây để tìm việc làm.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Chụp lại hình ảnh,

Ông Juma Khan (giữa), 45 tuổi, chỉ kiếm được ba ngày công trong sáu tuần

Khwaja Ahmad chỉ kịp nói vài lời trước khi bật khóc nức nở.

“Chúng tôi đang chết đói. Những đứa con lớn của tôi đã chết, nên tôi cần phải làm việc để nuôi sống gia đình. Mà tôi già rồi, nên chẳng ai muốn thuê tôi làm việc cả,” ông nói.

Khi một tiệm bánh địa phương gần quảng trường mở cửa, chủ tiệm phân phát bánh mì cũ cho đám đông. Chỉ trong vài giây, những ổ bánh mì đã bị giật lấy, nửa tá người đàn ông tranh giành từng miếng bánh quý báu.

Đột nhiên, một cuộc chen lấn khác xảy ra. Một người đàn ông đi xe máy đến muốn thuê một người lao động để khiêng gạch. Hàng chục người đàn ông lao vào ông ta.

Trong hai giờ chúng tôi ở đó, chỉ có ba người được thuê.

Tại các cộng đồng lân cận – những ngôi nhà trống trải nằm rải rác trên những ngọn đồi cằn cỗi, màu nâu, đối lập với những đỉnh núi phủ tuyết của dãy núi Siah Koh – tác động tàn khốc của nạn thất nghiệp là điều rõ ràng.

Abdul Rashid Azimi dẫn chúng tôi vào nhà và chỉ hai đứa con của mình – cặp song sinh bảy tuổi Roqia và Rohila. Ông ôm chúng thật chặt, giải thích lý do tại sao ông lại phải đưa ra những lựa chọn khó khăn đến vậy.

“Tôi sẵn sàng bán cả con gái mình,” ông khóc nức nở. “Tôi nghèo, nợ nần chồng chất và bất lực.

Tôi đi làm về với đôi môi khô khốc, đói khát, đau khổ và hoang mang. Các con tôi đến nói với tôi: ‘Bố ơi, cho chúng con ít bánh mì’. Nhưng tôi biết cho gì đây? Công việc ở đâu chứ?”

Ông ôm Rohila, hôn cô bé trong khi khóc.

“Điều này làm tôi đau lòng nhưng đó là cách duy nhất để nuôi những đứa con khác của mình.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Chụp lại hình ảnh,

Người lao động đến đây từ sớm với hy vọng tìm được công việc vốn đã khan hiếm

“Chúng tôi chỉ có bánh mì và nước nóng để ăn uống, thậm chí không có cả trà,” mẹ của những đứa trẻ, Kayhan, nói.

Hai người con trai tuổi thiếu niên của bà làm nghề đánh giày ở trung tâm thị trấn. Một người khác thì đi nhặt rác, thứ mà Kayhan dùng làm nhiên liệu để nấu ăn.

Saeed Ahmad kể với chúng tôi rằng ông đã buộc phải bán con gái năm tuổi của mình, Shaiqa, sau khi cô bé bị viêm ruột thừa và u nang gan.

“Tôi không có tiền để trả chi phí y tế. Vì vậy, tôi đã bán con gái mình cho một người họ hàng,” ông kể lại.

Ca phẫu thuật của Shaiqa đã thành công. Số tiền cho ca phẫu thuật đến từ khoảng 3.200 USD mà cô bé được bán với giá đó.

“Nếu tôi lấy toàn bộ số tiền lúc đó, ông ta sẽ đưa con bé đi. Vì vậy, tôi nói với người đó chỉ cần đưa cho tôi đủ tiền chữa trị cho con bé bây giờ, và trong 5 năm tới ông có thể đưa cho tôi phần còn lại, sau đó anh ta có thể đưa con bé đi,” Saeed giải thích.

Cô bé vòng cánh tay nhỏ xíu của mình quanh cổ cha. Mối quan hệ thân thiết của họ rất rõ ràng, nhưng trong 5 năm nữa, cô bé sẽ phải rời đi và đến sống với người thân.

“Nếu tôi có tiền, tôi sẽ không bao giờ đưa ra quyết định này,” Saeed nói.

“Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu con bé chết mà không được phẫu thuật thì sao? Bằng cách này, ít nhất con bé vẫn còn sống.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Chụp lại hình ảnh,

Saeed Ahmad nói mình đã phải bán cô con gái năm tuổi Shaiqa

Chỉ hai năm trước, Saeed vẫn nhận được một vài sự hỗ trợ.

Khi đó, ông và gia đình – giống như hàng triệu người Afghanistan khác – nhận được viện trợ lương thực: bột mì, dầu ăn, đậu lăng và thực phẩm bổ sung cho trẻ em.

Nhưng việc cắt giảm viện trợ mạnh mẽ trong vài năm qua đã tước đi phần lớn sự hỗ trợ cứu sinh này.

Mỹ – từng là nhà tài trợ hàng đầu cho Afghanistan – đã cắt giảm gần như toàn bộ viện trợ cho nước này vào năm ngoái. Nhiều nhà tài trợ quan trọng khác cũng đã giảm đáng kể đóng góp, bao gồm cả Anh.

Số liệu hiện tại của Liên Hợp Quốc cho thấy viện trợ nhận được cho đến nay trong năm nay thấp hơn 70% so với năm 2025.

Hạn hán nghiêm trọng – đã ảnh hưởng đến hơn một nửa số tỉnh thành trong cả nước – làm trầm trọng thêm vấn đề.

“Chúng tôi không nhận được sự giúp đỡ từ ai cả – không phải chính phủ, cũng không phải các tổ chức phi chính phủ,” người dân làng Abdul Malik nói.

Chính phủ Taliban, nắm quyền vào năm 2021, cũng đổ lỗi cho chính quyền tiền nhiệm của Afghanistan – bị buộc phải từ chức khi lực lượng nước ngoài rút khỏi đất nước.

“Trong suốt 20 năm xâm lược, một nền kinh tế nhân tạo đã được tạo ra nhờ dòng tiền đô la Mỹ đổ vào,” Hamdullah Fitrat, phó phát ngôn viên của chính phủ Taliban, nói với BBC.

“Sau khi cuộc xâm lược kết thúc, chúng tôi thừa hưởng sự nghèo đói, khó khăn, thất nghiệp và các vấn đề khác.”

Tuy nhiên, chính sách của Taliban, đặc biệt là những hạn chế đối với phụ nữ, cũng là một lý do chính khiến các nhà tài trợ quay lưng.

Khi được hỏi, chính phủ Taliban bác bỏ mọi trách nhiệm về việc các nhà tài trợ rút lui, thay vào đó tuyên bố rằng “viện trợ nhân đạo không nên bị chính trị hóa”.

Fitrat cũng chỉ ra các kế hoạch của Taliban “nhằm giảm nghèo và tạo việc làm bằng cách thực hiện các dự án kinh tế lớn”, nêu tên một vài dự án cơ sở hạ tầng và khai thác mỏ.

Nhưng trong khi các dự án dài hạn có thể giúp ích vào một ngày nào đó, rõ ràng là có hàng triệu người sẽ không thể sống sót nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp.

Giống như Mohammad Hashem, người có con gái 14 tháng tuổi đã qua đời vài tuần trước.

“Con tôi chết vì đói và thiếu thuốc… Khi một đứa trẻ ốm yếu và đói khát, rõ ràng là chúng sẽ chết,” ông nói. Một vị trưởng lão địa phương cho biết tỉ lệ tử vong ở trẻ em, chủ yếu do suy dinh dưỡng, đã “tăng vọt” trong hai năm qua.

Tuy nhiên, ở đây không có hồ sơ chính thức nào về số người chết. Nghĩa trang là nơi duy nhất tìm thấy bằng chứng về sự gia tăng số ca tử vong ở trẻ em.

Vì vậy, giống như những lần trước, chúng tôi đã đếm riêng các ngôi mộ nhỏ và lớn. Số lượng mộ nhỏ nhiều gấp đôi số mộ lớn – cho thấy số trẻ em nhiều gấp đôi số người lớn.

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Chụp lại hình ảnh,

Y tá Fatima Husseini cho biết việc trẻ sơ sinh tử vong đã trở thành điều bình thường

Có thêm nhiều bằng chứng tại bệnh viện chính của tỉnh ở Chaghcharan.

Khoa sơ sinh là nơi bận rộn nhất. Mọi giường đều chật kín, có giường có hai em bé. Hầu hết đều nhẹ cân và đa số đều khó thở.

Một y tá đẩy vào một chiếc nôi nhỏ với hai bé gái sinh đôi. Hai em sinh non hai tháng. Một bé nặng 2kg, bé kia chỉ 1kg.

Tình trạng của hai em rất nguy kịch và ngay lập tức được thở oxy.

Mẹ của hai bé, Shakila 22 tuổi, đang hồi phục tại khoa sản.

“Con tôi yếu vì hầu như không ăn gì khi mang thai, chỉ có bánh mì và trà,” bà ngoại của hai bé, Gulbadan giải thích. “Đó là lý do tại sao các cháu tôi lại trong tình trạng như vậy.”

Vài giờ sau khi chúng tôi rời bệnh viện ngày hôm đó, bé gái nặng cân hơn đã qua đời trước khi kịp được đặt tên.

“Các bác sĩ đã cố gắng cứu cháu nhưng cháu đã chết,” bà ngoại đau khổ nói vào ngày hôm sau. “Tôi quấn lấy thân hình nhỏ bé của con bé và đưa về nhà. Khi mẹ nó biết chuyện thì liền ngất xỉu.”

Gulbadan chỉ vào đứa bé còn sống và nói thêm: “Tôi hy vọng ít nhất con bé sẽ sống sót.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Chụp lại hình ảnh,

Hai bé sinh đôi chào đời non tháng và gặp khó khăn trong việc thở

Y tá Fatima Husseini nói có những ngày có tới ba em bé tử vong.

“Lúc đầu, tôi thấy rất khó khăn khi chứng kiến ​​trẻ em chết. Nhưng giờ thì điều đó gần như đã trở nên bình thường với chúng tôi rồi,” cô nói.

Bác sĩ Muhammad Mosa Oldat, người điều hành khoa sơ sinh, cho biết tỉ lệ tử vong lên tới 10%, điều này là “không thể chấp nhận được”.

“Nhưng vì nghèo đói, số lượng bệnh nhân ngày càng tăng,” ông nói.

“Và ở đây chúng tôi cũng không có đủ nguồn lực để điều trị cho các em bé một cách đúng đắn.”

Trong phòng chăm sóc đặc biệt nhi khoa, bé Zameer sáu tuần tuổi đang bị viêm màng não và viêm phổi. Cả hai bệnh đều có thể chữa khỏi, nhưng các bác sĩ cần phải chụp cộng hưởng từ (MRI) và họ không có thiết bị phù hợp.

Nhưng có lẽ điều gây sốc nhất mà các nhân viên y tế nói với chúng tôi là bệnh viện công không có đủ thuốc cho hầu hết bệnh nhân, các gia đình phải mua thuốc từ các hiệu thuốc bên ngoài.

“Đôi khi, nếu còn thuốc thừa từ những em bé của gia đình khá giả, chúng tôi sẽ dùng cho những em bé mà gia đình không đủ khả năng mua thuốc,” Fatima nói.

Thiếu tiền đang buộc nhiều gia đình phải đưa ra những quyết định khó khăn.

Cháu gái còn sống của bà Gulbadan đã tăng cân một chút và nhịp thở ổn định hơn. Nhưng vài ngày sau, gia đình đã đưa em về nhà. Họ đơn giản là không đủ khả năng để giữ em ở lại bệnh viện.

Bé Zameer cũng được bố mẹ đưa về nhà vì lý do tương tự.

Những cơ thể nhỏ bé của hai em giờ đây sẽ phải tự mình chiến đấu để sinh tồn.

Imogen Anderson, Mahfouz Zubaide và Sanjay Ganguly tường thuật bổ sung


 

Nguồn gốc đích thực ngày 30 tháng 4

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May

19/05/2026

Một buổi họp mặt thân hữu giữa mươi người cộng sản tổ chức tại tư gia của bà Nguyễn thị Bình, Phó Chủ tịch nước, và do bà mời. Mọi người đang thảo luận về tình trạng đất nước bi đát: kinh tế tụt hậu, đạo đức băng hoại, chánh trị độc tài, … bổng bà Bình hỏi «Vậy, theo các anh, chúng ta sai từ bao giờ ?».

Ai cũng đều nói chúng ta sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch-đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chánh sách của mình. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc lại nói: Ta sai từ đại hội Tours.

Bà Bình không đồng ý. Nhưng qua ngày hôm sau, bà Bình bảo ông Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!”.

Câu chuyện «Ta sai từ đại hội Tours» (*) được nhà văn Lê Phú Khải kể lại trong «Lời Ai điếu » (Người Việt xb, Huê kỳ). Và ông còn cay đắng nhận xét thêm như một kết luận về sự chọn lựa đó “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Ông Nguyên Ngọc có lý? Vậy nếu không có Hội nghị Tours và không theo cộng sản, Hồ Chí Minh có thể tìm ngỏ khác để giành độc lập được không? Và theo cộng sản phải chăng là để ông tìm con đường giải phóng Việt nam khỏi ách đô hộ thực dân pháp, chỉ vì thật lòng yêu nước?

Hội nghị Tours 1920

Hội nghị diễn ra từ 25 tới 30 tháng 12 năm 1920 ở Tours, Thành phố phía Tây-Nam Paris, cách Paris 230 km. Trong hội trường, treo hai biểu ngữ lớn «Hỡi vô sản toàn thế giới, các bạn hảy đoàn kết lại» và « Giải phóng thợ thuyền là sự nghiệp của anh em lao động».

Tháng 11 năm 1918, Đệ I Thế chiến kết thúc làm xáo trộn lớp chánh trị pháp, nhứt là những đảng phái của giới thợ thuyền. Đảng Lao động pháp (SFIO= Section Française Internationale Ouvrière – Phân Bộ Pháp Quốc tế Thợ thuyền), sau khi lãnh tụ Jean Jaurès bị ám sát, dần dần bị phân hóa. Ở Đại hội Tours, một bộ phận lớn của SFIO, do ảnh hưởng cách mạng bôn-sơ-vít nga 1917, chọn theo SFIC (Section Française Internationale Communiste – Phân bộ Pháp Quốc tế Cộng sản) của Lê-nin, tiền thân của đảng cộng sản pháp (PCF) ngày nay. Phần còn lại thiểu số cực lực chống lại Lê-nin ở Đại hội Tours, theo Leon Blum, giữ đảng Xã hội (Quốc tế II).

Hồ Chí Minh, năm 1919 đã gia nhập Đảng Xã hội pháp (SFIO), tham dự Đại hội Tours với tư cách Đại biểu ngoại vi của nhóm hoạt động thuộc địa, không phải Đại biểu cao cấp, nhưng có tiếng nói ở Đại hội Tours về vấn đề dân thuộc địa pháp. Khi Đại hội bỏ phiếu, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đa số của đảng Xã hội pháp, chọn cộng sản.

Bỏ phiếu chọn cộng sản, Hồ Chí Minh làm một chọn lựa có suy nghĩ hay chỉ theo xu hướng đa số?

Có nhiều ý kiến, nhứt là cộng sản hà nội, cho rằng Hồ Chí Minh bỏ phiếu theo đa số ở Hội nghị Tours, bỏ đảng Xã hội chọn chạy theo SFIC, cộng sản pháp, là một chọn lựa có hiểu biết, chớ không hoàn toàn vì xu hướng số đông.

Trước đó vài tháng, ông được đọc «Bản Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa» (Les Thèses de Lénine sur les Questions Nationales et Coloniales, L’Humanité 16-7/7/1920, Paris) trong đó, Lê-nin phê phán luận điểm sai lầm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải lãnh đạo thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, giai cấp vô sản các nước tư bản phải đoàn kết chặt chẽ với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Những luận điểm này của Lê-nin đã mê hoặc Hồ Chí Minh như đó là chơn lý ông vừa bắt được .Sau này, khi kể lại chuyện đó, ông không ngớt lời ca ngợi: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. 

Ông mê luận cương của Lê-nin cũng đúng vì Lê-nin là người mác-xit đầu tiên đặt thẳng vấn đề giải phóng các nước bị thực dân đô hộ trong lúc đó, Đệ II Quốc tế chỉ chủ trương uu tiên tranh đấu thăng tiến giới lao động và thợ thuyền .

Nhưng với vốn hiểu biết căn bản rất giới hạn và hoàn toàn bị mê hoặc bởi điều mới vừa bắt được, Hồ Chí Minh không đủ khả năng nhận thức rỏ hơn về cộng sản và Lê-nin . Như khi cộng sản nắm chánh quyền thì đất nước sẽ vận hành ra sao ? Đời sống xã hội sẽ như thế nào?

Ta sai từ Hội nghị Tours

Ông Nguyên Ngọc nói «Ta sai từ Hội nghị Tours», tức ý muốn nói mọi nguồn gốc gây ra tình trạng thảm hại của đất nước ngày nay là ở Hội nghị Tours, nơi và lúc Hồ Chí Minh chọn theo Quốc tế III, tức chấp nhận hệ tư tưởng léninisme, đặt đảng cộng sản trên dất nước dân tộc : vì « đảng cộng sản chủ trương độc quyền lãnh đạo, thực thi chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, đặt lợi ích quốc tế III, tức cộng sản thế giới, lên trên lợi ích dân tộc » .

Từ đó, khi lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân cướp được chánh quyền, Hồi Chí Minh đem áp dụng ngay mô hình xây dựng Việt nam rặp theo khuôn mẩu léniniste :

– Nhà nước và xã hội do Đảng kiểm soát tuyệt đối,

– Không có cạnh tranh chính trị. Ai lở có ý kiếng phê phán đảng và nhà nước bị tù vì tội chống nhơn dân,

– Xã hội vận hành theo ý thức hệ, làm lợi cho cộng sản là mục tiêu tối thượng, hòan toàn không cần biết pháp luật.

– Kinh tế kế hoạch hóa tập trung . (Việt nam, tới 1986, chịu không nổi nữa, bèn « đổi mới » thành kinh tế thị trường theo địng hướng xhcn) .

Dĩ nhiên một chế độ độc tài như vậy làm sao không đưa đất nước tới hệ quả về lâu về dài dẫn tới:

– kinh tế suy thoái,

– độc tài chính trị, xã hội bị kiểm soát bởi công an – tổ chức đảng,

– sự thật bị thay bằng “đường lối” dối trá,

– đạo đức suy đồi, tham nhủng lên ngôi, giá trị tiêu chuẩn là tiền qui định đẳng cấp xã hội

Đó đúng là ý của ông Nguyên Ngọc mà bà Nguyễn thị Bình, sau một đêm không ngủ, suy nghĩ, sáng ra, bảo với ông nguyên Ngọc «Em nói đúng!»

Nhưng sau đó, chỉ ít lâu thôi, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng trên đài BBC, cũng chính bà Nguyễn thị Bình đó, lại rất bình thường, bảo «suốt thời gian theo Hồ Chí Minh, hoạt động cách mạng giải phóng đất nước, bà hoàn toàn không làm điều gì sai trái để ngày nay phải hối hận, ngoài những trường hợp đáng lẽ ra bà đã làm tốt hơn nhiều!».

Nếu không có Hội nghị Tours

Giả thử không có Hội nghị Tours hay có mà Hồ Chí Minh không theo cộng sản, thật sự vì lòng yêu nước, ông có thể có những chọn lựa khác hơn để đem lại độc lập cho Việt nam không ?

Có thể lắm chớ . Và còn có nhiều cơ hội nữa .

Như Hồ Chí Minh vẫn đi theo chủ nghĩa Marx nhưng không theo Quốc tế III, như nhiều trí thức thật lòng yêu nước thời đó, tìm đọc Mác vì tác giả phê phán chủ nghĩa đế quốc . Mà « marxisme» không phải là thứ « léninisme » của Lénine . Mác-xít vẫn tả khuynh, chống tư bản, chống đế quốc thực dân, hô hào bảo vệ quyền lợi nhơn dân lao động, không quá khích ác ôn như lê-nin-nít, ngày nay hảy còn hoạt động ở Âu châu và giúp các nước đó phát triển tốt đẹp .

Đó là chủ nghĩa «xã hội dân chủ» ..

Nếu chỉ theo « marxisme »,tức « xã hội dân chủ », Việt nam vẫn độc lập mà không cộng sản, không bị đồng hóa «đảng=dân tộc» , «yêu đảng=yêu nước» . Hơn nữa, Hồ Chí Minh vẫn có thể không thèm theo mác-xít, chỉ làm người Việt nam thuần tứy yêu nước thật lòng, vẫn có thể góp công tiếp thu và xây dựng một Việt nam độc lập được mà không bị quá nhiều di hại như hàng mươi triệu thanh niên chết vì đánh nhau cho có ngày 30/04.

Thật vậy, năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Huê Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế quốc Tây phương Anh, Mỹ, Pháp, Hòa Lan đã họp nhau tại Newfoundland, Canada, để công bố « Hiến Chương Đại Tây Dương » theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi chiến tranh kết thúc .

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng, đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và long trọng ban hành « Quyền Dân Tộc Tự Quyết » (Quyền này vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng thực tế ?) . Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa ở Á châu :

-năm l946 : Phi-luật-tân thuộc Hoa kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp,

-năm l947: Ấn-độ và Đại hồi thuộc Anh,

-năm l948: Miến-điện, Tích-lan và Palestine thuộc Anh,

-năm l949 : Việt nam (Hiệp định Pháp-Việt, tức Hiệp định Elysee, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Việt nam hoàn toàn độc lập, thu hồi hoàn toàn chủ quyền, kinh tế, ngoại giao, quân sự, thống nhứt Nam, Trung, Bắc), Ai-lao, Cao-mên thuộc Pháp, và Nam-dương thuộc Hoà-lan .

Nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý vì độc lấp đó là của Việt nam, không phải của cộng sản đệ III . Đã có nhiều cơ hội Việt nam có độc lập và có thể giử được nền độc lập nếu đã có sự hợp tác với nhau vì lòng yêu nước . Hồ Chí Minh đã chọn cộng sản, theo cộng sản và tự tôi luyện từ làm chỉ điểm cho Quốc tế Nông hội dưới bí danh Ferdinand để từng bước trở thành người cộng sản tinh ròng, trước sau,ông chỉ biết phục vụ cộng sản và chết, cũng chỉ theo cụ Mác, cụ Lê, chớ không thèm theo ông bà ông vải .

Có người nói, giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh theo chủ nghĩ dân tộc , tranh đấu giải phóng dân tộc, hoàn toàn không đúng vì léninisme chủ trương mượn chiêu bài dân tộc để tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhằm mục tiêu cộng sản .

Đây, để đừng mơ hồ về Hồ Chí Minh là người yêu nước, từng tranh đấu cho dân tộc độc lập, hảy nghe chính ông bộc bạch rỏ về tâm huyết của ông ta : “Người khẳng định Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là “mặt trời” soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (hcm toàn tập, tập xii, xb chánh trị quốc gia, hà nôi, 2011)

Ông Nguyên Ngọc nói đúng . Thật đúng đấy, nên ngày nay, ông nằm ở nhà, bạn bè tới thăm không được phép lên nhà ông vì bị đám “dùi cui” ngăn chặn . Cả chị ở giúp việc trong nhà cũng có nhiệm vụ lo bảo vệ ông, không cho ông tiếp khách sợ ông mệt.

———————————————-

(*) Về chuyện ông Nguyên Ngọc nói “Ta sai từ Hội nghị Tours”, nhà thơ Thái Bá Tân có bài thơ kể rỏ lại câu chuyện rất đầy đủ

Nguyễn thị Cỏ May


 

Hoan Lạc—Lòng bạn tràn ngập niềm vui hạnh phúc vì bạn có Chúa. – Cha Vương

 Một ngày tràn đầy hoan lạc trong Chúa nhé. Không quên cậu nguyện cho nhau và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thư 4: 20/05/2026.   (n24-23)

TIN MỪNG: Còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban. (1Thx 1:6)

HOA QUẢ THỨ 2: Hoan Lạc—Lòng bạn tràn ngập niềm vui hạnh phúc vì bạn có Chúa. Đây là trạng thái của  tâm hồn. Thiên Chúa là Đấng rất gần gũi với bạn còn hơn bạn biết chính bạn nữa. Ngài là Cha yêu thương, là Con đến cứu độ và là Thánh Thần ban sự sống. Càng gần Thiên Chúa qua lối sống “hợp với lẽ phải” thì lòng bạn tràn đầy hoan lạc. Hoan lạc và hạnh phúc dựa trên bản lĩnh nội tại chứ không dựa trên chiếm hữu của cải bên ngoài; chúng gắn liền với đời sống nội tâm của ta. Nói cách khác, cuộc thăng tiến đời sống thánh thiện là con đường để đạt đến  hoan lạc và hạnh phúc. Kẻ sống thánh thiện thì cũng sống hoan lạc và hạnh phúc. Vì vậy mới có câu “tiền bạc không mua được hạnh phúc được”. 

SUY NIỆM: Trong một bài giảng, thánh Gioan Kim khẩu khẳng định rằng: “Không ai có thể làm cho ta bất hạnh nếu chúng ta không làm cho mình bất hạnh; cũng vậy, không ai làm cho chúng ta hạnh phúc nếu chúng ta không tự làm cho mình hạnh phúc.” Hoan lạc (cũng như hạnh phúc) nằm ở trong ta, và được nâng đỡ nhờ các động lực nội tại mang lại một lý tưởng sống cao thượng. Nếu bạn tích cực sống hiền hoà, nhã nhặn, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong đức ái, trong tinh thần “tương thân tương ái” thì những hành động, dù có nhỏ nhoi đến đâu cũng mang lại cho bạn và cho những người chung quanh một niềm vui nội tâm khó tả. Đó là hoa quả của Chúa Thánh Thần được phát ra từ đức ái và tạo nên một sự hiệp nhất và gần gũi với Chúa và tha nhân. Trái lại nếu bạn chỉ biết nghĩ đến cái tôi, luôn căng thẳng cau có, chìm đắm trong phiền muộn, hạn hẹp trong tư tưởng, lời nói và hành động thì cuộc sống của bạn chẳng đem lại lợi ích gì cho chính mình và cho tha nhân cả.

LẮNG NGHE: “Con ơi, hãy tin tưởng! Xin Đức Chúa trên trời cho buồn phiền của con biến thành hoan lạc. Cứ tin tưởng đi con!” (Tb 7:17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin hướng con về đường ngay chính trực để được sống bên Chúa luôn mãi vì “trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!”

THỰC HÀNH: Kết hiệp với Chúa bằng cách tăng thêm giờ cầu nguyện trong ngày.

From: Do Dzung

**************************

Sống gần mẹ – tinmung.net

NGÀI CẦU CHO TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con!”.

Trong nhiều trại tập trung, tù nhân thường cố sống thêm chỉ vì biết tên mình vẫn còn được ai đó nhắc tới bên ngoài. Bị quên lãng đôi khi còn đáng sợ hơn đói khát và gông cùm.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một sự thật đầy an ủi: giữa giờ phút đen tối nhất đời mình, Chúa Giêsu vẫn cầu nguyện cho chúng ta – ‘Ngài cầu cho tôi’.

Gioan rất ý tứ khi viết: Chúa Giêsu không chỉ cầu nguyện cho các môn đệ, nhưng còn đem họ đến trước Chúa Cha. Động từ erōtaō – “cầu xin” – ở đây không mang sắc thái van nài của kẻ yếu thế, nhưng diễn tả sự thân mật của Con với Cha. Lời nguyện ấy không chỉ là một hành vi đạo đức, nhưng là tiếng lòng của Người Con dành cho những kẻ Ngài yêu mà Cha đã trao phó. Ngài biết họ sắp tan tác, bách hại đang chờ phía trước; nhưng thay vì xin cất họ khỏi thế gian, Ngài xin Cha gìn giữ họ. Đó là chiếc ‘mỏ neo’ sâu nhất của Kitô giáo: chúng ta đứng vững không nhờ sức riêng, nhưng nhờ lời cầu nguyện của Chúa Kitô – ‘Ngài cầu cho tôi’.

Điều an ủi nhất của Kitô giáo là Mục Tử Giêsu chưa bao giờ ngừng nhớ đến chiên của Ngài. Thư Hipri sẽ nói, Ngài “hằng sống để chuyển cầu cho họ”. Nghĩa là, sau Phục Sinh, Chúa Giêsu vẫn mang những kẻ Ngài yêu vào trước mặt Chúa Cha. Nhờ đó, Hội Thánh sơ khai đã đứng vững giữa những bách hại không chỉ nhờ lòng can đảm, nhưng vì xác tín rằng, họ đang được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của một Đấng đã đi qua thập giá và chiến thắng sự chết. Với Paul Claudel, Đức Kitô không đến để xoá bỏ đau khổ, nhưng để bước vào đó bằng chính sự hiện diện của Ngài.

Sự nâng đỡ ấy được cảm nhận cụ thể nơi Phaolô, người đứng trước Thượng Hội Đồng giữa những lời kết án và chia rẽ của đám đông – bài đọc một. Chính trong đêm ấy, Chúa hiện ra và nói với ông, “Hãy vững lòng!”. Có lẽ đó cũng là kinh nghiệm của người Kitô hữu: những lúc họ tưởng mình bị bỏ mặc nhất lại là lúc Chúa ở gần nhất. Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu!”.

Anh Chị em,

Điều đẹp nhất trong lời nguyện của Đức Giêsu không phải là Ngài xin cho các môn đệ được bình an hay thành công, nhưng là “Con muốn những kẻ Cha đã ban cho Con cũng ở với Con”. Ngài không chấp nhận mất một ai trong những kẻ Ngài yêu. Ngài biết họ sẽ yếu đuối, sẽ bỏ chạy, sẽ phản bội; nhưng vẫn muốn họ ở gần mình, ở lại trong tình yêu mà Chúa Cha đã yêu Ngài từ trước muôn đời. Có lẽ đó là trung tâm của Kitô giáo: trước cả khi cố giữ lấy Chúa, chúng ta đã được yêu, được nhớ đến và được cưu mang trong lời cầu nguyện Ngài dâng lên Cha – ‘Ngài cầu cho tôi’. “Trước khi chúng ta lên tiếng, Ngài đã biết; trước khi chúng ta cầu xin, Ngài đã yêu!” – Gioan Kim Khẩu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi đức tin con chao đảo, thuyền đời con trôi dạt, cho con biết thả neo trong lời cầu nguyện của Chúa; vì con tin rằng, Chúa đang cầu nguyện cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần VII Phục Sinh

Xin cho họ được hoàn toàn nên một.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 17,20-26

20 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, 21 để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. 22 Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một : 23 Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.

24 “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. 26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”


 

BÊN NHAU TRỌN ĐỜI TRỌN KIẾP – TÌNH YÊU CÓ THẬT GIỮA ĐỜI THƯỜNG 

Sắc Màu Cuộc Sống Ngân Lộc

BÊN NHAU TRỌN ĐỜI TRỌN KIẾP – TÌNH YÊU CÓ THẬT GIỮA ĐỜI THƯỜNG 

Có những câu chuyện tình yêu đẹp đến mức ngay cả cái chết cũng không thể chia lìa. Đó là câu chuyện của ông Alexander (95 tuổi) và bà Jeanette (96 tuổi) đến từ California. Biết nhau từ năm 8 tuổi, bên nhau hơn 75 năm nghĩa tình, và rồi… họ đã cùng nhau trút hơi thở cuối cùng, bình yên trong vòng tay nhau chỉ cách nhau chưa đầy một ngày.

Bà Jeanette Toczko, 96 tuổi và chồng là Alexander Toczko, 95 tuổi, ở San Diego, California (Mỹ). Họ bắt đầu hẹn hò khi còn trẻ và làm đám cưới vào năm 1940 có với nhau 5 người con.

Họ từng nói với con cháu là họ ước được ra đi bên nhau.Trong suốt thời gian hôn nhân ông luôn mang theo bức ảnh của bà trong ví.

Khi ông Alexander quá yếu, bệnh viện chăm sóc người cao tuổi ở địa phương đã mang một chiếc giường tới nhà họ và đặt bên cạnh người vợ ông luôn yêu thương.

Ông đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay bà. Và như một phép màu của tình yêu, chỉ chưa đầy 24 giờ sau đó, bà Jeanette cũng bình yên nhắm mắt, thanh thản bước tiếp cùng ông sang thế giới bên kia. Họ đã bên nhau trọn vẹn từ hơi thở đầu tiên của tình yêu cho đến nhịp đập cuối cùng của con tim.

Một tình yêu trọn đời trọn kiếp, đi qua gần một thế kỷ vẫn vẹn nguyên hương sắc. Sự ra đi của ông bà không phải là một bi kịch, mà là một cái kết viên mãn, một bài thơ đẹp nhất về lòng thủy chung mà cuộc đời này được chứng kiến. Thật sự quá đỗi tuyệt vời và đáng ngưỡng mộ đúng không ạ!

Nguồn ảnh Internet


 

LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Xuyên Sơn

 LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng.

Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước.

Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất?

Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe:

“Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình.

Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận.

Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường.

Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường!

Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh.

Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc.

Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD.

Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột.

Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng!

Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt.

Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội.

Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp,

các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút,

các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo:

Lo nạn cướp giật, móc túi; 

lo tai nạn giao thông;

lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm;

lo hít khói bụi bị ung thư;

lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc…

Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần!

Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước.

28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô.

Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền.

Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng,

Znhưng vẫn còn cố nấn ná…

Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này.

Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948.

Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia.

70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta?

Sau hơn 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái.

Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam…

Chúa Nhật, 12 tháng Tư năm 2020 

Tác Giả: Nguyễn Thị Oanh

http://saigonecho.com/images/ra_di.jpg 


 

Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty… sẽ được phong chức linh mục.

Tuan Pham

 Ngày 23 tháng 5 năm 2026, tại Giáo phận Fresno, Cali… một người đàn ông từng sống giữa ánh đèn Hollywood, xe sang và những buổi tiệc xa hoa, sẽ quỳ xuống trước bàn thánh để được phong chức linh mục. Người ấy là Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty, thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng từng mang về cho ông khối tài sản khổng lồ. Nhưng ít ai biết rằng, phía sau nụ cười thành đạt ấy là một khoảng trống mà tiền bạc không thể lấp đầy. 

⸻ Đêm đó ở Los Angeles, trong một buổi tiệc sang trọng đầy ánh đèn và tiếng nhạc, Scott đứng lặng bên ly rượu vang. Chung quanh ông là những ngôi sao điện ảnh, người mẫu, doanh nhân… tất cả đều cười nói vui vẻ. 

Một người bạn vỗ vai ông: — “Scott, anh đang sống giấc mơ của hàng triệu người đó! Nhà đẹp, xe sang, danh tiếng… còn thiếu gì nữa?” Scott im lặng vài giây rồi khẽ đáp:

 — “Thiếu bình an…” Người kia bật cười:

 — “Anh đùa sao? Người ta sẵn sàng đánh đổi cả đời để được như anh.” Scott nhìn xa xăm:

 — “Tôi cũng từng nghĩ vậy… cho đến khi có tất cả.” Đêm ấy, khi trở về căn biệt thự rộng lớn nhưng lạnh lẽo, ông ngồi một mình trong bóng tối rất lâu. Không tiếng nhạc. Không tiếng cười. Chỉ còn sự trống trải đè nặng trong tim. Ông kể rằng chính khoảnh khắc ấy, ký ức tuổi thơ bỗng ùa về. Một cậu bé 10 tuổi ngày nào từng quỳ trong nhà thờ, từng cảm nhận một tiếng gọi rất sâu trong lòng.

 “Con hãy theo Ta…” 

⸻ Sáng hôm sau, Scott đến thăm mẹ. Người mẹ già ngạc nhiên khi thấy con trai ngồi trầm lặng khác thường. 

— “Con ổn không Scott?” Ông nhìn mẹ, đôi mắt đỏ hoe: 

— “Mẹ… nếu một ngày con bỏ hết mọi thứ thì sao?” Bà sững người:

 — “Ý con là gì?” Scott cúi đầu: 

— “Con nghĩ Chúa đã gọi con từ rất lâu rồi… chỉ là con trả lời quá muộn.” Người mẹ lặng im. Rồi bà nắm lấy tay con trai:

 — “Nếu đó là điều làm con bình an… mẹ sẽ cầu nguyện cho con.” ⸻ Ít lâu sau, giới kinh doanh Hollywood chấn động. Scott-Vincent Borba bán xe sang. Rời bỏ công ty. Từ bỏ thế giới hào nhoáng. Và trao phần lớn tài sản của mình cho từ thiện. Nhiều người không tin nổi. Một cộng sự cũ từng gọi cho ông: 

— “Scott, anh điên rồi sao? Anh đang đứng trên đỉnh cao!” Ở đầu dây bên kia, Scott nhẹ giọng: 

— “Không… lần đầu tiên trong đời, tôi mới thật sự biết mình đang đi đâu.” 

“Anh bỏ hàng triệu đô để đổi lấy cuộc sống tu viện nghèo khó?” Scott mỉm cười:

 — “Tiền bạc cho tôi tiện nghi… nhưng không cho tôi ý nghĩa.” 

Ở tuổi 42, ông bước vào chủng viện St. Patrick’s Seminary, Menlo Park, California. Từ một doanh nhân nổi tiếng, ông trở thành một chủng sinh sống đời giản dị như bao người khác. Không còn vest đắt tiền. Không còn tiệc xa hoa. Không còn những cuộc họp triệu đô. Chỉ còn tiếng chuông nhà nguyện, những giờ cầu nguyện lặng lẽ và cuộc sống phục vụ tha nhân. Một người sống gần chủng viện từng hỏi ông:

 — “ Thầy có bao giờ nhớ cuộc sống cũ không?” Scott nhìn cây thánh giá trên tường rồi đáp: 

— “Có chứ… nhưng tôi không nhớ tiền bạc. Tôi chỉ tiếc mình đã không đáp lời Chúa sớm hơn.”

 ⸻ Ngày phong chức đang đến gần. Nhiều người xem hành trình của Scott-Vincent Borba như một phép lạ giữa thời đại mà con người chạy theo danh vọng và vật chất. Một người đàn ông đã có tất cả… nhưng vẫn dám từ bỏ tất cả… để tìm điều mà tiền không mua được: 

Đức tin. Sự bình an. Và ý nghĩa thật sự của cuộc đời. Có lẽ câu nói của ông sẽ còn làm nhiều người suy nghĩ mãi: 

— “Chúa gọi tôi từ năm tôi 10 tuổi… chỉ là tôi trả lời quá muộn.”

Giuse Phạm Sơn liêm

Chủng sinh Scott Borba trong ngày thụ phong phó tế June 21-2025. 

Ảnh EWTN #linhmuc #jesus #ongoithanhhien

 


 

KHIÊM NHƯỜNG – NỀN TẢNG CỦA THÁNH THIỆN – Ed Broom, OMV  

 Ed Broom, OMV  

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ

Để chúng ta thực sự lớn lên trong sự thánh thiện, nhân đức quan trọng nhất chúng ta cần phải có là đức ái – tình yêu đích thực với Thiên Chúa và với người lân cận.  Nhưng bên cạnh đức ái – nhân đức đối thần – chúng ta còn phải có nhân đức khiêm nhường.  Theo một nghĩa nào đó, đức ái và khiêm nhường là hai trụ cột hay đá tảng cho người thực sự muốn theo đuổi một cuộc sống thánh thiện đích thực.

Đối với thánh nữ tiến sĩ vĩ đại của Giáo hội, tiến sĩ cầu nguyện, thánh Teresa Avila, khiêm nhường đơn giản là SỰ THẬT.  Đó là chúng ta nhận thức được chúng ta thực sự là ai theo chiều kích thiêng liêng, trong cái nhìn của Chúa, chủ thể của tất cả sự thật trên trần gian này.  Thật sự, chúng ta có một phẩm giá rất cao cả, đó là chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được biến đổi thành biểu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Định mệnh cuộc đời chúng ta không thể diễn tả bằng lời, đó là chúng ta được hiệp nhất với các thiên thần và các thánh trên trời để ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời.  Tuy nhiên, việc mang tội tổ tông, có những ham muốn thú vui trần tục, và là những tội nhân cho thấy bản chất dễ sa ngã của con người.

 Thật vậy, người khiêm tốn đích thực sẽ nhận ra một cách hết sức rõ ràng rằng tất cả những điều tốt lành họ đã làm và có khả năng để làm đều là do bởi quyền năng, ân sủng và sự tốt lành của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.  Mặt khác, người khiêm nhường thừa nhận rằng, tất cả những thất bại của họ, đặc biệt là các tội lỗi luân lý, đều là bởi họ lạm dụng các khả năng Chúa đã ban cho họ. 

Quả thực khiêm nhường là nhân đức hết sức quan trọng, nên chúng ta cần gắng luyện tập nhân đức này trong đời sống của mình; chúng ta hãy cố gắng đạt được nó và để nó đâm rễ sâu tận tâm hồn chúng ta.  Cầu mong cho lời nói, hành động, việc làm và ý hướng của chúng ta luôn thấm nhuần và thẩm thấu tinh thần khiêm nhường đích thực. 

Mẹ Maria và Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta.  Quả thực, cả Mẹ Maria và Đức Giêsu là Đấng thánh thiện nhất, người đã từng sống trên hành tinh này, nhưng cũng là người khiêm nhường nhất.  Chỉ một lần duy nhất Chúa Giêsu mô tả những đặc tính của Trái tim Cực Thánh của Người, một trái tim hiền lành và khiêm nhường.  Ước chi, lời cầu nguyện vang vọng sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lời cầu nguyện của sự khiêm nhường cao cả của Trái Tim Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu, Trái tim hiền lành và khiêm nhường, xin làm cho trái tim của con trở nên giống trái tim của Chúa.

 CÁC BƯỚC CHIẾN LƯỢC ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHÂN ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG TUYỆT VỜI 

  1. Trân trọng giá trị của khiêm nhường. Chúng ta không có thể đạt được bất cứ điều gì tốt đẹp trong cuộc sống nếu chúng ta không coi trọng những giá trị của nó.  Những kẻ keo kiệt thì tìm kiếm vàng; con tim rỗng tuếch thì thích được vinh danh; những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc thì đam mê nhục dục.  Tại sao?  Vì họ coi những điều tốt đẹp này là có giá trị, cho dẫu chúng là ngẫu tượng và mang giá trị sai lầm.  Chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá sự khiêm nhường là sự quan trọng nhất trong lâu đài của sự thánh thiện và là nền tảng cho sự thánh thiện.  Nếu không thì cuộc sống theo đuổi sự thánh thiện của chúng ta sẽ bị xây trên cát và sụp đổ nhanh chóng. 
  2. Hành khất trước Thiên Chúa. Trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, thánh Augustine đã khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ hành khất trước mặt Chúa.  Chúng ta rất cần Chúa trong tất cả mọi sự; chúng ta lệ thuộc vào Ngài trong mọi việc.  Nhất là chúng ta cần Thiên Chúa để sống một đời sống nhân đức và từ bỏ tính kiêu ngạo – đối cực của sự khiêm nhường – dưới mọi dạng thức và mức độ.  Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7). Lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào?  Lạy Chúa, xin ban cho con biết hiền lành và khiêm nhường trong lòng. 
  3. Dễ dàng trong việc linh hướng. Tất cả chúng ta đều có những góc khuất trong cuộc sống và đặc biệt là trong đời sống tâm linh.  Một vị linh hướng được đào tạo chuyên nghiệp sẽ giúp chúng ta rất nhiều trên hành trình tiến về thiên đàng. 
  4. Vâng phục trong việc linh hướng. Trong việc linh hướng, chúng ta phải khiêm nhường đủ để vâng phục vị Linh hướng, người thông ban ân sủng và chân lý của Thiên Chúa.  Không còn nghi ngờ gì nữa, một trong những dấu hiệu nổi bật về sự thánh thiện đích thực của thánh Faustina Kowalska là sự ngoan ngoãn và vâng phục của ngài trong việc linh hướng.  Nếu không có sự vâng phục thì thực sự không có sự tăng trưởng về đức khiêm nhường và sự thánh thiện cũng sẽ bị cản trở và bóp nghẹt.
  1. Chấp nhận sự sửa lỗi huynh đệ. Điều này thực sự nhức nhối, nhưng cần thiết cho sự trưởng thành thiêng liêng và sự trưởng thành trong sự khiêm nhường của chúng ta: chấp nhận sự sửa lỗi của huynh đệ.  Thông thường, do lòng kiêu hãnh bẩm sinh, khi ai đó chỉ ra điều chúng ta cần phải sửa chữa, chúng ta nổi giận, khước từ sự sửa chữa và đôi khi chúng ta phản ứng lại bằng sự tấn công trực diện để phòng thủ.  Một cách đơn giản chúng ta chống lại việc bị chỉ ra những thiếu sót của mình bởi vì lòng kiêu hãnh của chúng ta quá lớn.  Thánh Đa Minh Saviô đã kết bạn với một cậu bé khác trong Nhà nguyện của thánh Gioan Bosco.  Savio nài xin bạn của mình phải thẳng thắn và chỉ ra cho anh những lỗi của anh để anh có thể thăng tiến trong sự thánh thiện.  Trước khi lên 15 tuổi, Savio đã đạt được điều này và đã được phong thánh. 
  2. Chấp nhận sự sỉ nhục. Có lẽ việc sẵn sàng chấp nhận những sỉ nhục giáng xuống chúng ta khó hơn việc chấp nhận việc sửa lỗi huynh đệ.  Dù muốn hay không, chúng ta cũng sẽ phải đón lấy sự sỉ nhục.  Cơ hội ngàn vàng của chúng ta chính là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta bị hạ nhục.  Xu hướng tự nhiên của chúng ta là trả đũa.  Trong khi đó, phản ứng của các thánh khi bị sỉ nhục là im lặng, cầu nguyện cho người chống đối, và kết hợp với sự sỉ nhục của Chúa Giêsu mà Ngài đã trải qua trong cuộc khổ nạn cay đắng, tàn nhẫn và nhục nhã của Ngài.  Không có ân sủng của Thiên Chúa thì điều này là không thể, nhưng với Thiên Chúa thì tất cả đều có thể! 
  3. Bác ái và phục vụ. Đây là một bước xoay thú vị: lòng bác ái và sự phục vụ là đường dẫn đến sự khiêm nhường.  Thực ra, mỗi khi chúng ta tự hạ mình phục vụ người khác, thực hành bác ái và yêu thương người khác, chúng ta đồng thời sẽ lớn lên trong sự khiêm nhường.  Thật ra, khi chúng ta thực thi lòng bác ái – nghĩa là thực thi tình yêu siêu nhiên đối với Thiên Chúa và người thân cận – chúng ta sẽ lớn lên về tất cả các nhân đức khác, trong đó có đức khiêm nhường.
  1. Chiêm ngắm ba chiều kích của cuộc đời Chúa Giêsu biểu lộ lòng khiêm nhường tuyệt đối của ngài

Mầu Nhiệm Nhập Thể:  Việc Chúa Giêsu, Ngôi Hai trong Thiên Chúa Ba Ngôi, thực sự đã mặc lấy xác phàm và trở thành con người, là một bước nhảy vọt lớn lao của sự hèn hạ và khiêm nhường.  Thiên Chúa làm người để chúng ta có thể trở thành con cái Thiên Chúa. 

Cuộc Khổ Nạn:  Tất cả các yếu tố và chi tiết về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, đều biểu lộ một sự khiêm nhường lạ lùng và đặc biệt.  Tuy nhiên, một cách đơn giản bạn có thể chiêm ngắm mầu nhiệm thứ ba mùa thương “Chúa Giêsu đội mão gai” của Kinh Mân Côi.  Những lời nhạo báng, mỉa mai và lăng mạ, bị bịt mắt, đánh đập, giật râu, bị khạc nhổ vào mặt, và quan trọng nhất là Ngài phải đội vòng gai nhọn sắc.  Đón nhật tất cả những điều này, tiên tri Isaia đã nói, Đức Giêsu như con chiên hiền lành, im lặng bị dẫn đến lò sát sinh.  Bằng việc suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, sự kiêu ngạo của chúng ta sẽ rơi xuống vực sâu. 

Chúa Giêsu trong Thánh lễ và hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.  Rất nhiều người Công giáo thậm chí thờ ơ đối với việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật.  Nhiều người không biết quý trọng Thánh lễ.  Vẫn có những người tiếp nhận Chúa Giêsu trong tình trạng tội trọng và vì thế họ đóng đinh Chúa một lần nữa.  Nói chung, Chúa Giêsu hiện diện trong Nhà Tạm đã bị lãng quên, bị bỏ rơi, cô độc trên khắp thế giới.  Tất cả những điều trên là nguồn gốc những sỉ nhục nhức nhối và đau đớn của Chúa Giêsu, Chúa các Chúa, Vua các Vua, người yêu vĩ đại nhất của những người yêu. 

  1. Nhận thức về tội lỗi quá khứ và lòng thương xót của Chúa. Khi chúng ta bị cám dỗ được nâng cao trong sự kiêu ngạo của mình, việc nhớ lại nhiều lần chúng ta đã phạm tội xúc phạm đến Chúa Giêsu và sự xấu hổ đằng sau những hành động này.  Thật vậy, việc này có thể giúp chúng ta khiêm tốn nếu không muốn nói là rất khiêm tốn. 
  2. Mẹ Maria, mẫu gương thánh thiện và khiêm nhường.  Từ trước đến nay, trong số tất cả các tạo vật của Thiên Chúa, Mẹ Maria là người vĩ đại nhất.  Nhưng Mẹ cũng là người khiêm tốn nhất trong số những người phụ nữ.  Những lời thân thưa của Mẹ thể hiện sự khiêm nhường tuyệt vời nơi Mẹ: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa…  Linh hồn tôi vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi vì Ngài đã nhìn đến phận hèn của tôi tớ Ngài… Người bảo gì hãy làm theo….”  Những câu nói này của Mẹ Maria được ghi lại trong Kinh Thánh làm nổi bật sự thánh thiện của Đức Maria, đặc biệt là sự khiêm nhường của Mẹ. 

Cuối cùng, một trong những cách hữu hiệu nhất giúp chúng ta có thể lớn lên trong sự khiêm nhường đó là rước Chúa Giêsu Thánh Thể với sự chuẩn bị tốt nhất.  Khi đón nhận Chúa Thánh Thể, với lòng nhiệt tình và đức tin mạnh mẽ, chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho chúng ta trái tim của Ngài: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin hãy làm cho trái tim con giống trái tim Chúa.”  Đây thực sự là lối tắt dẫn đến sự thánh thiện và lòng khiêm nhường sâu sắc của tâm hồn. 

Ed Broom, OMV – 

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ
Nguồn: catholicexchange


 

SAI NHỮNG KẺ MONG MANH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Như Cha đã sai con đến thế gian, con cũng sai họ đến thế gian”.

Ngày kia, Thomas Edison đem về cho mẹ một tờ giấy. Đọc xong, bà ôm con và nói, “Con là một thiên tài; trường này quá nhỏ cho con!”. Nhiều năm sau, Edison mới biết mảnh giấy thật sự viết, “Con bà quá chậm, chúng tôi không nhận!”. Ông đã khóc và viết, “Một người mẹ anh hùng đã biến một đứa trẻ bị loại thành thiên tài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu có một bà mẹ kỳ vọng vào con, thì Chúa Giêsu càng kỳ vọng vào các môn đệ của Ngài. Họ không chỉ thay đổi thế giới, nhưng còn dự phần cứu độ nó! Tin Mừng hôm nay tiết lộ niềm tín nhiệm đầy nghịch lý ấy: Thiên Chúa không sợ ‘sai những kẻ mong manh’.

Điều đáng kinh ngạc trong Tin Mừng Gioan là Chúa Giêsu không xây dựng Hội Thánh bằng những con người hoàn hảo. Phêrô sẽ chối Thầy, Tôma sẽ nghi nan, các môn đệ sẽ bỏ chạy; vậy mà Ngài vẫn sai họ đi. Động từ Hy Lạp apostellō – “sai đi” – không chỉ mang nghĩa giao nhiệm vụ, nhưng còn diễn tả việc được tham dự vào chính sứ mạng ấy. Vì thế, Kitô hữu không phải là những người mạnh mẽ hơn người khác, nhưng là những kẻ mong manh được Thiên Chúa tín nhiệm và trao phó Tin Mừng.

Thiên Chúa thường gửi đi những con người “đủ yếu” cho sứ mạng họ nhận lãnh. Vì thế, sự mong manh không phải điều cản trở, nhưng lại là nơi quyền năng Thiên Chúa biểu lộ. Chúa Giêsu không chờ các môn đệ hoàn hảo rồi mới sai họ; Ngài ‘sai những kẻ mong manh’ giữa yếu đuối và thất bại, để họ học biết cậy dựa vào Ngài. Bình sành có nứt thì Ánh Sáng bên trong mới toả ra. “Nếu mục tiêu là sự lệ thuộc vào Thiên Chúa, thì yếu đuối lại là một lợi thế!” – Alistair Begg.

Phaolô hiểu rất rõ sự mong manh ấy. Ông biết “sói dữ”, xiềng xích và chống đối chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Vì Phaolô không cậy dựa vào sức riêng, nhưng vào “Lời ân sủng” – bài đọc một. Vậy mà giữa một thế giới đầy bất an, Thánh Vịnh đáp ca vẫn có thể reo lên, “Hỡi vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”; vì Tin Mừng chưa bao giờ được trao cho những kẻ bất khả chiến bại, nhưng cho những kẻ dễ vỡ. Kẻ tưởng mình bất khả chiến bại là kẻ đầu tiên bị loại khỏi cuộc chơi của ân sủng.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “Đấng được sai đi” đầu tiên – Đấng đã tự nguyện mang lấy mọi mong manh của phận người. Ngài bước vào thế gian không bằng quyền lực, nhưng với một thân xác có thể bị phản bội, tổn thương và đóng đinh. Thế nhưng, chính trong sự yếu hèn ấy, quyền năng cứu độ của Chúa Cha được biểu lộ. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là trở nên bất khả tổn thương, nhưng là dám để đời mình được Ngài sử dụng, ngay trong yếu đuối. Sự thánh thiện không nằm ở chiếc áo không tì vết, nhưng ở bàn chân lấm bùn vẫn dám bước đi. Có lẽ đó là lý do Chúa Giêsu vẫn tiếp tục ‘sai những kẻ mong manh’. “Thiên Chúa không đòi chúng ta thành công, nhưng để mình được Ngài sử dụng!” – Madeleine Delbrêl.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không mạnh mẽ như con tưởng; nhưng nếu Chúa vẫn còn tin con, xin cho con đủ can đảm đứng dậy và tiếp tục đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VII Phục Sinh

Lạy Cha, xin cho họ nên một như chúng ta.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 17,11b-19

11b Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14 Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. 18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.”


 

YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Con Tin Chúa Ơi

YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Sr. Jovy Cendana, một nữ tu thuộc Dòng Truyền giáo Chúa Thánh Thần, đã bước vào đời sống thánh hiến cách đây 38 năm. Trước đó, chị từng là một cô gái trẻ có công việc, có người yêu và có một tình yêu rất đẹp. Nhưng ngay giữa mối tình ấy, chị lại cảm nhận được tiếng Chúa mời gọi bước vào đời sống thánh hiến.

Khi chị chia sẻ điều đó với người yêu, anh không trách móc, cũng không níu kéo. Anh cho chị thời gian phân định, thậm chí còn đưa chị đến tu viện và xách hành lý giúp chị. Trước lúc chia tay, anh hứa sẽ chờ chị một năm.

Đúng một năm sau, anh đến thăm chị tại nhà tập và hỏi quyết định cuối cùng. Nhìn thấy chị bình an trong đời tu, anh nói: “Anh biết em hạnh phúc ở nơi này. Em hãy ở lại. Ở đây tốt hơn là đi một nơi nào khác. Anh sẽ không làm phiền em nữa. Nhưng nếu một ngày em rời tu viện, anh vẫn ở đây chờ em. Anh yêu em rất nhiều.”

Từ ngày ấy, họ không gặp lại nhau nữa. Sau khi chị khấn trọn đời trong ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, anh cũng lập gia đình và gửi lời chúc mừng chị qua một người bạn chung.

Gần bốn thập kỷ trôi qua, Sr. Jovy vẫn cầu nguyện cho anh và tạ ơn Chúa vì sự cao thượng của anh. Chị nhận ra tình yêu chân thật nơi anh không nằm ở việc giữ chị cho riêng mình, mà là sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng để chị được tự do đáp lại tiếng Chúa.

Câu chuyện ấy nhắc chúng ta rằng: tình yêu thật không chiếm hữu, nhưng biết dẫn người mình yêu đến gần Thiên Chúa hơn. Và với những ai được mời gọi sống đời thánh hiến, đó không phải là vì họ khước từ tình yêu con người, nhưng vì họ được mời bước vào một tình yêu lớn hơn — tình yêu dành trọn cho Chúa và Hội Thánh.


 

Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Vùng Matabele ở miền nam Zimbabwe là một miền đất khô cằn, đầy gió và im lặng. Nơi đây từng chìm trong tuyệt vọng khi đại dịch HIV/AIDS đạt đến đỉnh điểm tại châu Phi. Nhưng giữa bóng tối ấy, một tia hy vọng đã được khơi lên nhờ trái tim đầy lòng trắc ẩn của nữ tu Ludbirga Schumacher. Chính chị đã thành lập Trung tâm Sketimpilo, mở ra con đường hy vọng cho biết bao người nghèo khổ và bị bỏ rơi.

—–

Trung tâm Sketimpilo, do các Nữ tu Thừa sai Máu Châu Báu điều hành dưới sự quản lý của nữ tu Felistar Dube, CPS, đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng được tái sinh. “Sketimpilo” có nghĩa là “hãy chọn sự sống” – và đó cũng là tinh thần được sống mỗi ngày tại nơi đây.

Trung tâm được thành lập năm 1998 bởi nữ tu Ludbirga Schumacher, người Đức, trong giai đoạn đen tối nhất của Zimbabwe khi HIV/AIDS tàn phá đất nước, để lại phía sau biết bao trẻ mồ côi, người bệnh tật, bị loại trừ và gạt ra bên lề xã hội. Khi ấy, sự kỳ thị còn mạnh hơn lòng cảm thương, và nhiều người đã hoàn toàn mất hy vọng.

Một gốc cây khô lại đâm chồi

Nữ tu Ludbirga nhận ra nhu cầu cấp thiết phải nâng đỡ những trẻ em và người lớn nghèo khổ, dễ bị tổn thương, đang nhiễm bệnh hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Chị quy tụ các nhóm thiện nguyện, đào tạo những người chăm sóc cộng đồng, tổ chức các chuyến thăm viếng tại gia đình và dần khôi phục phẩm giá cho những người từng bị đánh mất giá trị của mình. Chị luôn nhắc nhở họ rằng, dù bị kỳ thị và xa lánh, cuộc đời họ vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Niềm hy vọng dần được hồi sinh. Hình ảnh một gốc cây khô mọc lên những chồi non trở thành biểu tượng của dự án – dấu chỉ rằng ngay giữa đổ vỡ và đau khổ, sự sống vẫn có thể nảy mầm. Hơn hai thập niên sau, nữ tu Felistar vẫn tiếp tục sứ mạng ấy với cùng một lòng can đảm.

Trung tâm của sự phát triển

Sketimpilo không tách trẻ em khỏi cộng đồng của các em, nhưng đem sự trợ giúp đến tận gia đình của những người dễ bị tổn thương. Nhờ sự hỗ trợ của các ân nhân, đặc biệt từ Đức và Tây Ban Nha, trung tâm hiện đóng học phí cho gần 120 trẻ em, hỗ trợ tâm lý và giúp các em không cảm thấy bị bỏ rơi trong đau khổ.

Những hoa trái đã dần xuất hiện. Hai em từng được trung tâm hỗ trợ hiện đã vào đại học – một em học ngành công tác xã hội, em còn lại học ngành phát triển cộng đồng – và nay chính các em quay trở về để phục vụ nơi từng nâng đỡ mình.

Những kỹ năng làm thay đổi cộng đồng

Một trong những sáng kiến nổi bật nhất của trung tâm là chương trình đào tạo kỹ năng thực hành. Mỗi năm, khoảng 60 bạn trẻ được đào tạo về may mặc, nông nghiệp, điện dân dụng, xây dựng và làm bánh.

Những người học xây dựng giúp dựng nhà cho các gia đình khó khăn, còn các học viên ngành điện lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho trường học và nhà dân ở vùng quê.

Một số học viên tốt nghiệp từ Sketimpilo hiện đang làm việc cho các công ty lớn trong nước, kể cả ngành điện lực Zimbabwe, qua đó xây dựng tương lai cho chính họ và cộng đồng của mình.

Đức tin và sự kiên trì

Điều hành một sứ mạng như thế giữa vùng đất đầy khó khăn kinh tế không phải điều dễ dàng. Nguồn nước khan hiếm, tài trợ luôn bấp bênh, và các gia đình đông con chỉ có thể sống tạm nhờ phần lương thực ít ỏi trung tâm phân phát mỗi tháng.

Tuy nhiên, giữa muôn vàn thử thách ấy, nữ tu Felistar vẫn nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động.

“Có những lúc chúng tôi nghĩ mình không thể tiếp tục nữa: không lương, không tiền, không có cả thực phẩm để phân phát,” chị chia sẻ. “Nhưng lời cầu nguyện giúp chúng tôi đứng vững, và niềm tín thác vào Thiên Chúa giúp chúng tôi tiếp tục bước đi.”

Niềm xác tín của chị thật đơn sơ nhưng sâu sắc: Thiên Chúa luôn mở đường cho những ai biết chọn sự sống.

Một nơi âm thầm nhưng tạo ảnh hưởng lớn

Do tình hình kinh tế khó khăn tại Zimbabwe và nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, các nữ tu cố gắng giúp người dân tự lập bằng cách trao cho họ kỹ năng và cơ hội việc làm.

Để duy trì các hoạt động bác ái, Sketimpilo hiện có một số phòng lưu trú, một hội trường nhỏ và dịch vụ nấu ăn. Nguồn thu từ đó được dùng để trả lương nhân viên và duy trì hoạt động của trung tâm.

Dẫu vậy, nhiều khó khăn vẫn còn đó. Các tòa nhà đã cũ kỹ, nhiều nơi được xây từ những ngày đầu năm 1998 và cần được sửa chữa. Chung quanh trung tâm cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở hiện đại hơn, nhưng nhiều người vẫn chọn Sketimpilo bởi sự bình an, tinh thần phục vụ và lòng hiếu khách nơi đây.

“Nhiều người biết rằng đây là nơi của sự chăm sóc,” nữ tu Felistar nói, “và họ đến vì họ cảm thấy an toàn.”

Luôn sống với một mục đích

Hiện nay, nữ tu Felistar là nữ tu duy nhất phục vụ toàn thời gian tại trung tâm. Dù cộng đoàn nhỏ bé, chị vẫn mang trong mình một quyết tâm lớn lao. Chị hy vọng một ngày nào đó Sketimpilo sẽ phát triển thành một trung tâm đào tạo nghề – điều mà giới trẻ trong vùng đang rất cần.

“Chúng tôi cùng nhau làm việc như những nữ tu và những người được phục vụ; tất cả đều là của lễ dâng lên Thiên Chúa,” chị nói trong tâm tình biết ơn. “Tôi cảm ơn các gia đình mà chúng tôi đang hỗ trợ – ngay cả những điều nhỏ bé chúng tôi trao tặng, quý vị luôn trân trọng. Chính lòng biết ơn ấy tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi. Và với các ân nhân, chúng tôi không thể đứng vững nếu thiếu quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho quý vị.”

Công việc của Sketimpilo hiện được nâng đỡ nhờ sự quảng đại của các đối tác như German Friends và Manus Unitas. Nhờ đó, các nữ tu CPS tiếp tục mang đến sự sống, giáo dục và phẩm giá cho những người dễ bị tổn thương nhất.

Nữ tu Christine Masivo, CPS

Nguồn: Vatican News 


 

Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày Sinh Nhật của Giáo Hội. Thánh Gioan Maria Vianê nói: “Người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ cảm nghiệm mọi thứ vui sướng trong mình. Thánh Thần dẫn chúng ta giống như một người mẹ dẫn dắt đứa con nhỏ, hoặc giống như một người sáng dẫn một người mù. Những người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ thấy việc cầu nguyện đầy hoan lạc đến nỗi họ không thấy có đủ giờ để cầu nguyện.” Để chuẩn bị tâm hồn và sống trong CTT, mời bạn cùng mình suy niệm 12 hoa quả của CTT để cảm nghiệm được niềm hoan lạc vui sướng vì được Chúa hướng dẫn trong đời nhé. Cầu nguyện cho nhau về thể giới nhé

Cha Vương

Thư 3: 19/05/2026.   (n23-23)

TIN MỪNG: Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gl 5:22-23)

HOA QUẢ THỨ 1: Bác ái—Là nhân đức dạy ta biết yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô. Bác ái gắn liền với những hành động cụ thể và thật sự phát xuất từ tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.

SUY NIỆM: Trong xã hội lạnh cảm đa dạng ngày nay có những nơi con người đang bị bỏ rơi, bị đối xử còn tệ hơn những con thú trong nhà. Dù con người có ác tâm đến đâu, bạn vẫn còn thấy chữ “nhân” được in trên những mảnh đời bất hạnh. Hơn bao giờ hết đây là lúc mà người Ki-tô hữu phải sống đúng với lời Thánh Gio-an tông đồ đã nhắc nhở: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng hãy yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3:18). Những lời này đã được thánh tông đồ diễn tả bằng một mệnh lệnh mà không một người Kitô hữu nào có thể tránh né. Đã đến lúc phải loại bỏ đi lối sống giả tạo với những lời nói trống rỗng huênh hoang qua môi miệng, và dấn thân hơn nữa vào những hành động cụ thể mà bạn được mời gọi thực hành, vì tình yêu không chấp nhận viện cớ thoái thác giả tạo.

LẮNG NGHE: Tôi xin nói điều này: gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều. (2 Cr 9:6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thánh Thần, đừng để tim con thắt lại trước những đau khổ của người khác nhưng hãy mở rộng tim con để con biết sống yêu thương và chia sẻ.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái nhỏ với một con tim yêu thương hôm nay.

From: Do Dzung

*************************************************

THÁNH THẦN XIN HÃY ĐẾN. Sáng Tác: Lm. Thành Tâm .Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Diệu Hiền.