Nhật Bản và Việt Nam…- Thái Hạo

Thái Hạo

Cách đây mấy ngày, thấy có tờ báo đăng tin hai thanh niên Nhật Bản bị bắt vì tội… dùng đũa cá nhân để gắp gừng trong chiếc lọ đựng gia vị trên bàn ăn của một nhà hàng, rồi quay clip và post lên mạng xã hội. Chủ quán báo cảnh sát, vì hành động “mất vệ sinh” này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ! Thôi, chắc không cần bình luận nữa về sự nghiêm ngặt của luật pháp xứ ấy.

Tình cờ là cũng hôm trước, tôi có mấy người bạn ghé chơi, trong đó có 2 người mới từ Nhật về nước. Một ông nói, đi 7 năm, về Việt Nam hai tháng rồi nhưng vẫn bị “sốc nhiệt”. Tôi hỏi vì sao bên đó đang làm ăn ngon lành thế mà lại về làm gì.

– Bị đuổi về. Vi phạm pháp luật.

Anh ta kể rằng, buôn xe hơi , mua phải một chiếc xe ăn cắp, bị bắt và giam 15 ngày, sau khi điều tra, kết luận đúng là mua nhầm chứ không phải tự mình ăn cắp, thì được thả nhưng trục xuất luôn.

Lạ là, dù bị bắt tạm giam, nhưng việc đầu tiên là cảnh sát hỏi về thực đơn và thói quen ăn uống của mình, thích ăn những món gì, khẩu vị ra sao…, có nhu cầu gì thay đổi về đồ ăn thì cứ “yêu cầu”, họ phải đáp ứng hết. Bị giam nhưng nhiều lúc quên mất là mình đang phạm tội, vì nào là kêu bật điều hòa, tăng nhiệt độ, giảm nhiệt độ, rồi nói đi mua thứ này, đi lấy thứ kia…, cảnh sát chỉ việc “ngoan ngoãn” làm theo yêu cầu. Không bao giờ có chuyện to tiếng hay tỏ thái độ bất lịch sự với mình, chỉ một lòng cúc cung “phục vụ”.

“Hết 15 ngày sau khi đã có kết luận thì được thả, về toà Đại sứ đang chuẩn bị lên đường hồi hương theo lệnh của chính quyền Nhật thì có người của sở cảnh sát tới, mang theo một chiếc áo. Chiếc áo này tôi bỏ quên ở chỗ giam giữ. Mà thực ra cũng chẳng phải bỏ quên, áo rẻ tiền, lại cũ rồi, vứt đi chứ lấy làm gì. Nhưng họ phái 3 cảnh sát mang tới tận nơi, hỏi có phải áo của anh không, giao lại đường hoàng rồi mới đi”.

Ở Nhật, nếu vì lý do nào đó mà anh “ngủ bờ ngủ bụi” thì sẽ có cảnh sát đứng canh cho ngủ, không để ai làm phiền, khi nào anh tỉnh dậy họ có làm gì mới làm, tuyệt đối không quấy rầy giấc ngủ của anh, chỉ tận tụy đứng đó, giữ đồ và “canh giấc ngủ” cho anh!

Ông bạn này còn kể, có một ông già độc thân, cứ thi thoảng lại ăn trộm ít trái cây trong vườn nhà hàng xóm, để được đi tù! Thế là cứ ra tù là lại liền ăn trộm, vì ở trong tù sướng hơn ở ngoài nhiều. Trong đó, được chăm sóc tận tình và đối xử tử tế. Ở Nhật, cảnh sát và người nhà nước đúng nghĩa là “đầy tớ” luôn. Thử vi phạm giao thông mà xem, cứ ngồi trong xe bật điều hòa mát, họ tới ăn nói lễ phép, chỉ thiếu khúm núm xin được kiểm tra nữa thôi. Không bao giờ có chuyện hách dịch kiểu như ở Việt Nam, chứ đừng nói chuyện vòi tiền…

Anh ta nói, ở Nhật đúng là có hơi “phát xít” thật, vì quy tắc rất nghiêm, cái gì cũng phải nhất nhất tuân thủ, nhưng quyền con người cao lắm, không ai được nhân danh nhà nước để xúc phạm hay đối xử thô bạo với anh, dù anh có phạm tội gì đi chăng nữa.

Còn một chuyện lạ đời này nữa: Ví dụ, người dân trồng vài cây trái trong vườn nhưng chính yếu để cho đẹp chứ rất ít khi ăn, thường để rụng đầy gốc, rồi ra siêu thị mua về dùng. Lý do là cây trái tự mình trồng thật đấy, nhưng vẫn không “chắc ăn”, cứ ra cửa hàng hay siêu thị mua về, ăn nếu lỡ có vấn đề gì thì có chỗ mà bắt đền. Thực phẩm trên thị trường Nhật gần như tuyệt đối an toàn, và nếu có nơi nào bán đồ mà ăn vào “có vấn đề gì” thì chỗ đó chỉ có điêu đứng. Oái oăm thay, ở ta mà muốn bán được hàng thì phải kèm theo câu “nhà làm”…

Những chuyện lan man không đầu không đuôi như thế nhưng cứ làm hiện dần lên hình ảnh của hai đất nước, như thuộc về hai cõi khác nhau. Đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội vừa nghiêm khắc nhưng lại cũng rất tự do và nhân văn, không còn coi “Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay”* mà vụ án cô giáo Dung vừa minh họa một cách hùng hồn?

Ông bạn bảo, 200 năm nữa, may ra…

Thái Hạo

*****

Lời thơ cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình lạ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…”


 

Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ

Học viện Wecap

  Nelson Mandela (1918–2013) là lãnh tụ chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Ông bị chính quyền da trắng giam cầm suốt 27 năm, trong đó phần lớn thời gian là ở nhà tù khắc nghiệt trên đảo Robben. Ông phải làm công việc khổ sai đập đá hằng ngày, bị đối xử bất công và chịu sự giám sát chặt chẽ của những viên cai ngục da trắng hung dữ.

Trong số các cai ngục có Christo Brand – một thanh niên da trắng được giáo dục để coi người da đen là kẻ thù. Nhưng thay vì đáp lại bằng sự căm hờn, Mandela đã chọn cách đối xử với Brand bằng một lòng trắc ẩn sâu sắc. Ông không xem Brand là kẻ thù, mà xem anh là một con người đang bị vơ vét bởi tư tưởng phân biệt chủng tộc. Ông trò chuyện, hỏi thăm gia đình Brand, chia sẻ những bài học cuộc sống một cách chân thành.

Sự tử tế và nội lực tĩnh lặng của Mandela đã hoàn toàn chuyển hóa Christo Brand. Từ một kẻ coi ngục lạnh lùng, Brand trở thành người bạn thân thiết, lén mang sách báo và giúp đỡ Mandela trong những ngày tháng tăm tối nhất.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, khi bước qua cổng tù để trở thành Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Mandela đã phát biểu một câu triết lý bất hủ: “Khi tôi bước ra khỏi cánh cổng tù để đi đến sự tự do, tôi biết rằng nếu mình không để lại sự đố kỵ và lòng hận thù ở lại phía sau, thì tôi vẫn đang ở trong tù.”

Trong cuộc sống, khi bị ai đó đối xử bất công, lừa dối hay xúc phạm, chúng ta thường ôm giữ sự oán hận trong lòng. Chúng ta nghĩ rằng giận dữ là cách để trả đũa kẻ thù, nhưng thực chất, sự oán hận giống như việc ta tự uống độc dược rồi chờ đợi người khác chết. Tỉnh thức là khi bạn dũng cảm buông bỏ sự oán hận. Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ, mà là cởi trói cho chính tâm hồn bạn, để bạn bước tiếp vào tương lai với một tâm thế tự do.

HỌC VIỆN WECAP | Hiểu mình – Sửa mình để bình an và hạnh phúc

#wecap #chuyenhoatamthuc


 

THÁNH MARIA MADALENA – Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

Các giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.
Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39). 

Đàng khác, cũng chính việc Thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỷ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói chuyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18). 

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13). 

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

 Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ, nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quý giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” vào buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople. 

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

From: Langthangchieutim


 

CÂU CHUYỆN ĐẠI DƯƠNG TRONG LÒNG CON ỐC NHỎ – Trần Khắc Trường

HQ LuuBẢO TỒN TIẾNG VIỆT

 Trần Khắc Trường

Tối nay, vợ chồng tôi cụ bị đồ đạc vào bịnh viện thăm con gái sắp sanh. Ngồi phía trước phòng cấp cứu, tôi thấy một người đàn ông đã ngoài 50 tuổi với vẻ mặt khắc khổ, lo lắng và luôn thấp thỏm nhìn vào trong.

Tôi đến gần ông bắt chuyện:

– Anh chờ người nhà sanh à? vào phòng lâu chưa anh?”

Người đàn ông ấy trả lời:

– Dạ, con gái tôi vào cũng được 6 tiếng đồng hồ rồi, nhưng chưa thấy bác sĩ thông báo gì?”

Tự nhiên trái tim tôi thắt lại, cũng chẳng hiểu lý do gì, có lẽ vì bất ngờ, khi thấy hình ảnh một người cha đưa con mình đi sinh.

Tôi lại tò mò và hỏi:

– Người nhà không có ai là phụ nữ hả anh? Vì anh là đàn ông, chăm con gái sinh rất bất tiện.

Người đàn ông ấy cúi đầu xuống thấp một chút, và giọng cũng nhỏ đi:

– Mẹ nó chẳng may mất sớm, chị gái nó lại có chồng phương xa, tôi một mình nuôi con nên nhà cũng neo đơn.

Tôi lại buột miệng hỏi:

– Vậy cha đứa bé đâu anh?

Anh mỉm cười nhẹ, trên gương mặt đầy nếp nhăn và nhân từ của một người cha, rồi nói:

– Con gái tôi nhẹ dạ, chồng nó bỏ đi mất biệt, khi hay tin con tôi có thai!

Người đàn ông nói tiếp:

– Nghe đâu thằng chồng nó đã có người phụ nữ khác, con gái tôi dại khờ nên đành chịu, nhiều lần nó đòi chết, tôi khuyên nhủ nó và nói nó cố gắng sinh con, tôi sẽ ráng làm để nuôi mẹ con nó.

Tự nhiên khoé mắt tôi cay cay, không cầm được lòng, tôi hỏi anh tiếp:

– Anh làm nghề gì? Rồi sinh sống ở đâu?

Anh trả lời:

– Dạ, tôi làm bốc xếp ở Cảng Sài Gòn, thời gian rảnh chạy xe ôm kiếm thêm, nhà ở quận 4, con gái tôi làm công nhân xí nghiệp may.

Tôi im lặng vài phút, nhìn vào giỏ đồ bên dưới chân của anh, nó nhỏ gọn lắm, rồi quay sang nhìn cái vali cụ bị đồ đạc cho con gái mình, tự nhiên tôi xót xa và thương quá.

Rồi bác sĩ kêu tên con gái tôi, vợ chồng tôi vội chạy lại, mới hay thằng cháu tôi nó vẫn chưa chịu ra đời và bác sĩ lại cho về nhà.

Tôi chào tạm biệt anh, cũng chẳng kịp có món quà nào cho con gái và cháu của anh, tôi chỉ vội lấy trong vali con gái mình vài món đồ, nghĩ sẽ cần cho con gái anh và một ít quà nhỏ, cuộn vào túi đồ, để anh có chi phí trang trải cho những ngày ở bịnh viện.

Anh từ chối không nhận, tôi thuyết phục anh không được.

Đến khi tôi cầm cái túi lại và nói:

– Thứ nhất, đây là món quà tôi tặng cho con gái và cháu của anh, nó không phải món quà của anh, vì thế anh đừng vì lòng tự trọng mà không nhận cho con cháu mình. Thứ hai, tôi cảm ơn anh đã cho tôi thấy được tình cảm và sự bao dung của người cha, và cảm ơn anh vì đã là người tử tế trong cuộc đời này. Nếu anh không nhận thì xem như anh phụ lòng tôi.

Nói xong, tôi quay lưng bước đi, anh vội kêu tôi lại và nói:

– Dạ, tôi cảm ơn anh, anh cho tôi thông tin, sau này tôi nói con gái tôi đi làm, trả ơn lại cho anh.

Tôi cười và trả lời:

– Sẽ có cuộc đời trả lại cho tôi sau, còn bây giờ thì anh nhận món quà này và cầu chúc cho hai mẹ con cháu ấy được mẹ tròn con vuông, chúc anh luôn khoẻ mạnh, để che chở cho cuộc đời của con và cháu mình.

Rồi bước lên xe ra về, chẳng biết bao giờ đủ duyên gặp lại người đàn ông ấy, nhưng tôi biết mình đã đủ duyên để thấy được một bức tranh đẹp trong cuộc sống này.

Chúng ta vẫn thỉnh thoảng nghe câu nói “Cha không hoàn hảo nhưng luôn yêu thương con theo cách hoàn hảo nhất!” Và có một nghịch lý, chúng ta rất dễ nói lời yêu thương ai đó, ngoại trừ cha của mình.

Thiết nghĩ cô gái trong phòng sinh ấy, dù có đang trải qua những tổn thương đau lòng, khi đối diện với những cơn đau thập tử nhất sinh, vì phải một mình vượt cạn và thiếu vắng bóng dáng của người cha đứa bé. Nhưng điều đó có xá chi, khi bên cạnh cô gái ấy, giờ đây chính là tình yêu thương vô bờ bến của người cha vĩ đại trong cuộc đời mình.

Có một tình thương chẳng bao giờ nói mãi mãi, nhưng nó luôn tồn tại từ khi chúng ta sinh ra, đến khi lìa xa cõi đời, chính là tình mẫu tử và phụ tử của cha mẹ dành cho chính mình.

Ngồi trên xe viết lại khoảnh khắc đẹp của tình phụ tử này, trên đường từ bịnh viện về nhà.

Tôi lại thấy tối nay Sài Gòn đẹp thật.

Trần Khắc Trường


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

HƠN CẢ MÁU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!’”.

Sự trọn lành không hệ tại những thị kiến hay xuất thần, nhưng ở chỗ ý muốn chúng ta hoàn toàn phù hợp với ý muốn Thiên Chúa!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta nhận nhau vì cùng một dòng máu. Lời Chúa hôm nay hé mở một điều ‘hơn cả máu’. Chúa Giêsu hướng về các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!” – những người làm theo ý muốn Chúa Cha.

Sau câu hỏi: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”, Chúa Giêsu giơ tay chỉ những kẻ Ngài chọn. Bản Hy Lạp viết ekteinas – không chỉ là một động tác chỉ trỏ hay đưa tay, nhưng là vươn ra, duỗi ra. Động từ này gợi lên hình ảnh một vòng tay mở rộng. Chỉ một động từ cũng đã hàm chứa cả một ý định cứu độ phổ quát.

“Vòng tay vươn ra!”. Phải chăng Matthêu muốn nói rằng gia đình mới của Thiên Chúa được khai sinh ‘bằng một cử chỉ’ trước khi được định nghĩa bằng lời? Bởi nhiều khi, một vòng tay có thể nói nhiều hơn cả một bài diễn văn. Không chỉ công bố một chân lý mới, Chúa Giêsu còn biểu lộ chân lý ấy bằng một hành động. Gia đình Thiên Chúa không khởi đầu từ một định nghĩa, nhưng từ một vòng tay. “Trong các Tin Mừng, cộng đoàn của Đức Giêsu mang hình thức một gia đình hiếu khách, chứ không phải một nhóm khép kín và loại trừ!” – Phanxicô.

Nhưng ý muốn của Chúa Cha là gì? Không chỉ là một mệnh lệnh phải thi hành, nhưng là một lời mời gọi mang lấy chính trái tim của Thiên Chúa. Ngôn sứ Mikha mặc khải một Thiên Chúa không thích kết án, nhưng vui thích xót thương; không giữ mãi cơn giận, nhưng ném mọi lỗi lầm xuống đáy biển – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh cất lên lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”. Người thuộc về gia đình Thiên Chúa không chỉ làm điều Chúa muốn, mà còn học yêu như Ngài yêu, tha thứ như Ngài tha thứ, xót thương như Ngài xót thương và luôn mở ra cho người khác một cơ hội để bắt đầu lại.

Vậy mỗi ngày, chúng ta chọn sẽ để ai định hình trái tim mình? Khư khư giữ ý riêng, chúng ta vẫn đứng ngoài vòng tay của Chúa. Chỉ khi biết nhường chỗ cho thánh ý Ngài, chúng ta không chỉ đổi một quyết định, mà đang đổi cả căn tính mình thuộc về. “Thánh thiện hệ tại việc mỉm cười đón nhận và làm theo thánh ý Thiên Chúa!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Cử chỉ nhỏ bé trong căn nhà năm xưa chỉ là khởi đầu. Trên đồi Canvê, cánh tay vươn ra ấy sẽ mở rộng đến tận cùng. Đức Kitô dang tay không còn để chỉ về một nhóm môn đệ, nhưng để quy tụ toàn thể nhân loại vào gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ nay, tình thân ấy không còn được xác định bởi huyết thống, dân tộc, biên giới hay màu da, nhưng bởi những con người cùng mang lấy trái tim của Chúa Cha. Chính nơi thập giá, chúng ta hiểu thế nào là điều ‘hơn cả máu’: sống tình yêu tự hiến của Đức Kitô!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa luôn định hình trái tim con; để càng thuộc về Chúa, con càng thuộc về những người Ngài trao cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) – Cha Vương

Chúc một ngày bình yên trong Chúa, mời bạn noi gương các vị Thánh trong lịch phụng vụ để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình nhé.

Cha Vương

Thư 2: 20/7/2026.     (n14-25)

Bạn có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

    Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

    Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. 

Ngày 21/10/2012, Đức Bênêdictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

    Bạn có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi bạn phải làm điều gì đó mà bạn sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp– và rồi bạn hãy làm điều bạn phải làm!   

    Thánh nhân nói: “Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Người là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Người sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế.”

Xin Thánh Kateri Tekakwitha, cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************

CÓ CHÚA CÙNG ĐI – Nguyễn Hồng Ân

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm


 

Thắng Argentina 1-0, Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch World Cup

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

EAST RUTHERFORD, New Jersey (NV) – 16 năm trước, Tây Ban Nha lần đầu lên ngôi vô địch thế giới bằng bàn thắng duy nhất của Andres Iniesta vào lưới Hòa Lan ở hiệp phụ thứ hai thì tại World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres vào lưới Argentina đã đưa Tây Ban Nha lần thứ nhì vô địch thế giới theo đúng kịch bản mà lớp đàn anh mình thực hiện.

Nếu bốn năm trước tại Qatar, Argentina đã mở đầu trận chung kết bằng hai bàn thắng vào lưới đối thủ ngay trong hiệp một thì cả trận chung kết 2026 suốt 90 phút hai hiệp chính, Argentina không có lấy nổi một cú sút về phía cầu môn Tây Ban Nha. Phải đến khi nhận bàn thua ở phút 106 và vùng lên thì Argentina mới có cú sút đầu tiên.

Đội tuyển Tây Ban Nha nâng cao cúp vàng vô địch World Cup 2026. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vô hiệu hóa Messi như thế nào là câu hỏi được đặt ra rất nhiều cho Tây Ban Nha trước trận chung kết. Và đúng như huấn luyện viên Luis de la Fuente lên tiếng là không thể kèm Messi nên cách tốt nhất là đừng để đội hình và lối chơi của mình bị phá vỡ bởi Messi qua việc thực hiện đúng ý đồ theo cách chơi luân chuyển trái bóng mà Tây Ban Nha thành công từ đầu giải đến giờ.

Suốt 45 phút hiệp một, Argentina gần như chỉ phòng ngự, thỉnh thoảng là những pha bóng dài phản công nhưng thủ môn Simon và hàng phòng ngự Tây Ban Nha đã không khó hóa giải.

Ngược lại thì những Yamal, Oyarzabal, Cucurella tiếp cận cầu môn Argentina nhưng những cú sút không đủ lực hoặc bị hàng thủ dày đặc Argentina đánh bật ra.

Ferran Torres (số 7), người hùng của trận đấu, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng duy nhất cho Tây Ban Nha, hạ gục Argentina, lên ngôi vô địch thế giới lần thứ hai. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Chút lo lắng cho đương kim vô địch khi trung vệ giữ vai trò trụ cột trong hàng phòng ngự Lisandro Martinez không thể thi đấu tiếp tục từ phút 44 do chấn thương. Thay đổi bắt buộc của huấn luyện viên Lionel Scaloni đưa lão tướng 38 tuổi Otamendi vào thay chỉ là biện pháp chữa cháy.

Hiệp hai vẫn là sức ép ngày càng gia tăng của Tây Ban Nha về phía cầu môn Argentina. Olmo buộc thủ môn Martinez giật mình cản phá cú sút xa chịu phạt góc. Ferran Torres đánh đầu cận thành từ đường chuyền của Yamal nhưng vào tầm đón thủ môn Argentina.

Khung thành luôn bị đe dọa nhưng Argentina lại mất thêm trung vệ thứ hai là Romero chấn thương rời sân ở phút 70.

 

Ferran Torres (7) tung cú sút ghi bàn duy nhất đưa Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup 2026 sau 120 phút dồn ép và thi đấu trên chân trước Messi và các cầu thủ Argentina. (Hình: Jewel Samad / AFP via Getty Images)

Mất cặp trung vệ trụ cột và mới phút thứ 70 nhưng Argentina đã thay đủ năm cầu thủ nhưng vẩn chưa có cú sút cầu môn nào. Ngược lại thì Tây Ban Nha làm được tất cả trừ bàn thắng.

Đến phút 75, huấn luyện viên Luis de la Fuente tung cùng lúc “siêu dự bị” Merino và cơn lốc trái Williams vào với mong muốn giải quyết trận đấu ngay trong 90 phút.

 

Lionel Messi (10) hiếm hoi có pha đi bóng như thế. (Hình: Florencia Tan Jun/Getty Images)

Liên tiếp hai phút 76, 77, thủ môn Martinez cứu thua từ hai cú sút xa của Rodri và Cubarsi. Tây Ban Nha chơi bóng nửa sân dồn ép nhưng hàng phòng ngự Argentina dù chắp vá nhưng vẫn chống trả kiên cường.

Argentina đã khó còn khó hơn khi phút 90+3 Fernandez nhận thẻ vàng thứ hai rời sân do lỗi vào bóng ác ý với Cubarsi.

Đương kim vô địch chỉ thoát thua trong hai hiệp chính nhờ thủ môn Martinez bay người cứu thua từ cú đá phạt hiểm hóc của của Yamal ở phút 90+8.

Hai đội bước vào hiệp phụ với lợi thế 11 đánh 10 thuộc về Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên Luis de la Fuente sử dụng hết quyền thay người để đưa những cầu thủ tấn công vào với hy vọng sẽ tìm được bàn thắng. Kiên trì tấn công và tấn công, cuối cùng thì nỗ lực của Tây Ban Nha đã được đền bù. Phút 106 từ đường chuyền sâu xuống biên trái, William đè hậu vệ Molina của Argentina đánh đầu ngược lên cho Ferran Torres trên đà băng xuống tung cú sút căng hạ gục thủ môn Martinez ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Lamine Yamal (số 19) của Tây Ban Nha và Alexis Mac Allister (số 20) của Argentina. (Hình: Odd ANDERSEN / AFP via Getty Images)

16 năm trước cũng ở hiệp phụ thứ hai Andres Iniesta ghi bàn duy nhất vào lưới Hòa Lan đưa Tây Ban Nha đoạt cúp vô địch lần đầu tiên thì chung kết World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres đã đưa Tây Ban Nha lẩn thứ nhì vô địch thế giới.

Một chức vô địch xứng đáng dành cho đội bóng chơi hay hơn và đẹp hơn. (Phú Trường) [kn]


 

Tâm lý của người bi quan, chán nản, không muốn tiếp xúc với ai cả?

Xin hỏi: Tâm lý của người bi quan, chán nản, không muốn tiếp xúc với ai cả.  Làm sao cho họ có thể lạc quan trở lại?

Gemini trả lời:

Khi một người rơi vào trạng thái bi quan, chán nản và muốn thu mình lại, không muốn tiếp xúc với ai, họ thường đang trải qua sự kiệt quệ về mặt cảm xúc hoặc có thể là dấu hiệu của trầm cảm, lo âu, hoặc khủng hoảng tâm lý.

Để giúp họ tìm lại sự lạc quan, điều quan trọng nhất là sự kiên nhẫn và tinh tế, không thể nóng vội hay ép buộc. Dưới đây là những cách bạn có thể đồng hành và hỗ trợ họ:

  1. Thay đổi cách tiếp cận (Chân thành và không phán xét)
  • Lắng nghe mà không phán xét: Khi họ chịu mở lòng, hãy lắng nghe để hiểu chứ không phải để đưa ra lời khuyên hay dạy bảo. Tránh những câu nói mang tính gạt đi cảm xúc của họ như: “Có chuyện gì đâu mà phải buồn”, “Ngoài kia nhiều người còn khổ hơn”… Thay vào đó, hãy công nhận cảm xúc của họ: “Mình hiểu giai đoạn này thực sự khó khăn với bạn”.
  • Sự hiện diện thầm lặng: Nếu họ chưa sẵn sàng nói chuyện, đừng ép buộc. Hãy cho họ biết bạn vẫn luôn ở đó khi họ cần. Đôi khi chỉ cần một tin nhắn nhắn nhủ nhắn gọn: “Khi nào thấy đỡ hơn thì nhắn mình nhé, mình luôn sẵn sàng” hoặc ngồi im lặng bên cạnh họ cũng là một sự an ủi lớn.
  1. Giúp họ kết nối lại từ những bước rất nhỏ
  • Không ép buộc tham gia đám đông: Người đang chán nản rất sợ những nơi ồn ào hoặc phải xã giao. Đừng cố kéo họ đi tiệc tùng hay gặp gỡ nhóm bạn đông người. Hãy bắt đầu bằng những cuộc gặp 1-1 ở không gian yên tĩnh.
  • Rủ làm những việc không cần nói nhiều: Bạn có thể rủ họ đi dạo công viên, đi xem phim, hoặc cùng nấu một món ăn đơn giản. Những hoạt động này giúp họ tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách tự nhiên mà không bị áp lực phải giao tiếp.
  1. Khơi dậy năng lượng tích cực một cách tự nhiên
  • Khuyến khích vận động nhẹ: Vận động giúp cơ thể giải phóng endorphin (hormone hạnh phúc). Bạn có thể rủ họ đi bộ ngắn vào buổi sáng hoặc buổi chiều. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và thiên nhiên có tác động rất tốt đến việc cải thiện tâm trạng.
  • Gợi nhắc về những điều họ từng thích: Nhắc lại một sở thích cũ, một món ăn họ từng mê, hoặc một kỷ niệm vui vẻ một cách khéo léo để kích hoạt lại những cảm xúc tích cực đã bị che lấp bởi sự bi quan.
  • Ghi nhận những nỗ lực nhỏ nhất: Khi họ chịu bước ra khỏi phòng, chịu ăn một bữa tử tế, hay mỉm cười một cái, hãy âm thầm vui mừng và khích lệ họ. Với người trầm cảm hay chán nản, mỗi việc nhỏ như vậy đều cần một nỗ lực rất lớn.
  1. Tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn nếu cần thiết

Nếu tình trạng này kéo dài quá lâu (trên 2 tuần) đi kèm với các dấu hiệu nghiêm trọng như bỏ ăn, mất ngủ triền miên, bỏ bê hoàn toàn bản thân hoặc có suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống, đây có thể là bệnh lý về tâm lý.

Hãy khéo léo gợi ý và đồng hành cùng họ đến gặp bác sĩ tâm lý hoặc chuyên gia tham vấn để có lộ trình điều trị đúng hướng.


 

Thời Trung Cổ có thể dạy chúng ta điều gì về cách phòng tránh kiệt sức? (BBC)

(BBC)

19 tháng 7 2026

Căng thẳng và kiệt quệ về tinh thần không phải là hiện tượng mới.

Từ thời Trung Cổ, con người đã phải đối mặt với những vấn đề tương tự.

Và theo một số học giả, những lời khuyên của thời kỳ này về cách vượt qua tình trạng kiệt sức vẫn còn giá trị đáng ngạc nhiên cho đến ngày nay.

Nhà tu hành John Cassian mô tả các triệu chứng của tình trạng này gần như không thay đổi theo thời gian: mệt mỏi, tuyệt vọng, chỉ muốn rời bỏ công việc, đầu óc mơ hồ và mất tập trung.

Ông gọi đó là “một dạng rối loạn vô lý của tâm trí”, khiến nhiều người cảm thấy mình vô dụng, lười biếng và chỉ mong được ngủ để trốn tránh thực tại.

Nếu từng trải qua tình trạng kiệt sức hay trầm cảm, nhiều người ngày nay có thể nhận ra những cảm giác này và cho rằng chúng là hệ quả của cuộc sống hiện đại.

Tuy nhiên, Cassian đã viết về chúng từ thế kỷ thứ 5, và đối tượng của ông không phải các nhân viên văn phòng hay doanh nhân, mà là những tín đồ Cơ đốc giáo thời kỳ đầu kiệt quệ sau quá trình tu tập tâm linh.

Liệu những ghi chép cổ xưa đó có thể giúp giải thích tình trạng kiệt sức của con người hiện đại, thậm chí gợi ý cách vượt qua nó?

Đó là lập luận của nhà sử học Peter Jones trong cuốn sách mới Self-Help from the Middle Ages: A Journey into the Medieval Mind (Tạm dịch: Tự giúp mình thời Trung Cổ: Hành trình khám phá tư duy Trung Cổ).

Cuốn sách cho thấy cách những người mà tác giả gọi là “các linh mục trị liệu” đã hướng dẫn các giáo dân của họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần

Vào thế kỷ thứ 5, John Cassian là một trong những nhà tư tưởng Kitô giáo đầu tiên được gọi là “linh mục trị liệu”

Nghiên cứu của Peter Jones cho thấy cảm giác kiệt sức đã xuất hiện rất phổ biến trong suốt chiều dài lịch sử.

Theo ông, việc nhận ra rằng con người ở mọi thời đại đều từng trải qua những giai đoạn u ám như vậy có thể mang lại sự an ủi cho những ai đang vật lộn với khủng hoảng tinh thần.

“Có rất nhiều điều thông thái trong thời Trung Cổ,” ông Jones nói.

Ông cho rằng, cũng giống như những năm gần đây nhiều cuốn sách khai thác triết học Khắc kỷ của thời cổ đại để giúp con người đối phó với cuộc sống hiện đại, có lẽ đã đến lúc mọi người nên tìm đến những bản thảo thời Trung Cổ để học hỏi.

Lạc giữa Siberia

Ý tưởng viết cuốn sách đến với Jones sau khi chính ông trải qua một giai đoạn khủng hoảng mà ông gọi là “mùa đông lạnh giá nhất trong cuộc đời”.

Vì một quyết định mà đến nay ông vẫn khó lý giải, Jones nhận lời làm Chủ nhiệm khoa Lịch sử tại Đại học Tyumen ở vùng Siberia (Nga).

Mùa đông ở đây khắc nghiệt đến mức chỉ sau khoảng 20 phút ở ngoài trời, ông đã mất hoàn toàn cảm giác ở hai chân.

Bên cạnh rào cản ngôn ngữ, ông còn luôn nhớ gia đình ở Dublin.

“Tôi lẽ ra phải nghiên cứu, chuẩn bị bài giảng và tiếp tục cuộc sống của mình,” ông viết.

“Nhưng tôi không thể ép bản thân làm bất cứ việc gì.”

Ngày nay, từ “sloth” [con lười] thường được hiểu là lười biếng hay chây lười.

Tuy nhiên, theo ông Jones, các tác giả thời Trung Cổ nhìn nhận trạng thái này theo cách khác: họ cho rằng đằng sau sự uể oải là một khoảng trống và nỗi đau về mặt tinh thần, chứ không đơn thuần là sự lười nhác.

Trong quá trình xây dựng khóa học về Bảy tội lỗi của con người, ông Jones nhận ra những mô tả của các tác giả Trung Cổ phản chiếu chính trải nghiệm của mình.

“Bạn sẽ thấy họ đã trải qua đúng những gì chúng ta đang trải qua,” ông nói.

“Những cảm xúc ấy chưa bao giờ thay đổi, và con người ở mọi thời đại đều phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tương tự.”

“Acedia”, hay sự lười biếng, là một trong Bảy Tội Lỗi Chết Người – khuôn khổ thời trung cổ để hiểu về bản chất con người

Theo Peter Jones, Bảy tội lỗi của con người không xuất hiện trong Kinh Thánh mà được hình thành bởi các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo thời kỳ đầu, trong đó có John Cassian.

Sau này, Giáo hoàng Gregory I (Gregory Đại đế) đã hệ thống hóa và hoàn thiện khái niệm này.

Trong cuốn sách của mình, ông Jones viết rằng Gregory cho rằng Bảy tội lỗi của con người là “công cụ hoàn hảo để lập bản đồ những rối loạn của tâm trí”.

Hệ thống này giúp con người nhận diện và sắp xếp các suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, gồm bảy trạng thái: kiêu ngạo, đố kỵ, giận dữ, lười nhác, tham lam, háu ăn và dục vọng.

Đến thế kỷ 13, nhiều cẩm nang đã được biên soạn để hướng dẫn các linh mục cách giúp tín đồ vượt qua những vấn đề này trong quá trình xưng tội.

“Khi đọc những tài liệu ấy, bạn sẽ thấy chúng khá giống với liệu pháp tâm lý ngày nay,” ông Jones nói.

Thay vì chỉ trích hay lên án, các linh mục khuyến khích những cuộc trò chuyện sâu sắc, đặt nhiều câu hỏi để hiểu rõ nguyên nhân của những khủng hoảng tinh thần.

Acedia – khoảng trống của tâm hồn

Trong Bảy tội lỗi của con người, Jones cho rằng “sloth” (thường được dịch là lười nhác) phản ánh đúng nhất trạng thái ông từng trải qua ở Siberia.

Ngày nay, từ này thường được hiểu là sự lười biếng có chủ ý.

Tuy nhiên, các tác giả thời Trung Cổ lại nhìn nhận nó theo nghĩa sâu sắc hơn.

Họ gọi trạng thái đó là acedia – một khái niệm chỉ sự thiếu vắng tình yêu, sự tê liệt trong khả năng quan tâm và một khoảng trống của tâm hồn.

Jones viết rằng acedia là trạng thái “khi những điều từng khiến bạn vui vẻ và hứng khởi giờ đây chỉ còn lại sự lạnh nhạt và thờ ơ.”

Theo ông, cách hiểu này gần với khái niệm kiệt sức hoặc trầm cảm trong tâm lý học hiện đại hơn là sự lười biếng đơn thuần.

Một bản khắc năm 1612 mô tả tật lười biếng (acedia) – theo các nhà tư tưởng thời trung cổ, đây là một chứng bệnh có thể chữa được

Peter Jones cho biết ông đặc biệt đồng cảm với một văn bản từ thế kỷ 13, được lưu giữ tại Thư viện Trinity College Dublin và có ký hiệu MS 306.

Tác giả của bản thảo mô tả trạng thái acedia như “đứng giữa một dòng sông chảy xiết, đối mặt với dòng nước cuồn cuộn đập vào chân nhưng không còn đủ sức để bước tiếp.”

Theo ông Jones, hình ảnh đó diễn tả chính xác cảm giác trì trệ, bất lực và không còn động lực mà ông từng trải qua trong mùa đông ở Siberia.

Ông cũng tìm thấy sự đồng cảm trong các tác phẩm của “Archpoet” – bút danh của một tác giả vô danh người Đức sống vào thế kỷ 12.

Những bài thơ của Archpoet kể về nỗi chán chường khi làm công việc hành chính, với những lời than phiền mà ông Jones cho rằng nhiều nhân viên văn phòng ngày nay có thể thấy quen thuộc.

“Ông ấy viết về việc phải làm việc không ngừng nghỉ trong một công việc vô nghĩa, tầm thường, nơi bạn cống hiến tất cả nhưng cuối cùng lại kiệt sức vì phải gồng gánh quá nhiều,” ông Jones nói.

Theo ông Jones, những lời tâm sự cách đây gần 900 năm cho thấy cảm giác quá tải trong công việc và kiệt sức tinh thần không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại, mà đã là một phần trong trải nghiệm của con người từ nhiều thế kỷ trước.

Peter Jones không phải là nhà sử học duy nhất nhận thấy những điểm tương đồng giữa các vấn đề tinh thần thời Trung Cổ và con người hiện đại.

Trong cuốn sách Exhausted (Kiệt sức), nhà sử học văn hóa kiêm chuyên gia cố vấn phát triển năng lực lãnh đạo Anna Katharina Schaffner cho rằng acedia – trạng thái suy kiệt tinh thần được các tín đồ Cơ đốc giáo thời Trung Cổ mô tả – có nhiều điểm tương đồng với hội chứng kiệt sức ngày nay.

Theo bà, những người mắc acedia cũng có các biểu hiện quen thuộc với xã hội hiện đại, như ăn uống để giải tỏa cảm xúc, tìm đến những hoạt động giải trí vô bổ hoặc gây xao nhãng thay vì tập trung vào công việc hay những việc có ý nghĩa.

Những triệu chứng này rất gần với cách kiệt sức được mô tả trong tâm lý học hiện đại.

Bà Schaffner cho rằng đây là một vòng luẩn quẩn điển hình.

“Bệnh nhân mắc acedia ngày càng mất khả năng suy ngẫm và hướng đến những giá trị tinh thần, trong khi những cách họ chọn để lấy lại năng lượng lại chỉ khiến tình trạng trở nên tồi tệ hơn,” bà viết.

“Theo nghĩa đó, họ chẳng khác gì chúng ta – những người của thế kỷ 21 đang kiệt sức vì công việc, tìm đến đủ loại hoạt động đánh lạc hướng không hiệu quả để trốn tránh cảm giác mệt mỏi.”

Cánh đồng đầy gai và những ngọn núi cao

Vậy những người thời Trung Cổ đã khuyên gì để vượt qua tình trạng này?

Tác giả bản thảo MS 306 không đưa ra lời khuyên trực tiếp mà mượn một hình ảnh trong Kinh Thánh:

“Dù muốn hay không, người Jebusite vẫn sống trong biên giới của bạn. Bạn có thể khuất phục họ, nhưng không thể tiêu diệt họ.”

Theo Peter Jones, người Jebusite là một bộ tộc cổ từng chiếm giữ Jerusalem và rất khó bị đánh đuổi.

Bằng cách này, tác giả đang khuyên người đang chán nản hãy học cách sống chung với cảm xúc của mình, mà không cần chống lại chúng.

Luận thuyết về các đức tính và thói xấu của William Peraldus khuyên những người bị kiệt sức về tinh thần nên tìm kiếm một mục đích cao cả hơn

Cuốn Treatise on the Virtues and Vices (Luận về các đức hạnh và thói xấu) của William Peraldus cũng đưa ra lời khuyên theo hướng tương tự.

Theo ông Peter Jones, Peraldus viết:

“Hãy nhớ rằng cánh đồng đầy gai góc rồi một ngày cũng sẽ đơm hoa kết trái.”

Ông dùng hình ảnh này để nhắc rằng những giai đoạn khó khăn không kéo dài mãi và vẫn có thể mang lại điều tốt đẹp trong tương lai.

Để thay đổi cách nhìn nhận cuộc sống, Peraldus khuyên mỗi người nên tìm cho mình một “ngọn núi vững chãi” – tức một mục đích sống hoặc một điều có ý nghĩa đủ lớn để giúp họ vượt qua nghịch cảnh.

“Bạn cần điểm tựa và sức mạnh từ một người mình yêu thương hoặc từ một điều mình thực sự yêu quý để vượt qua giai đoạn khó khăn,” Jones giải thích.

“Nếu bạn vẫn giữ được niềm tin vào những điều mình yêu quý, thì cuối cùng chúng cũng sẽ quay trở lại với bạn.”

Peter Jones thừa nhận rằng khi diễn giải những tư tưởng này bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng có thể nghe khá sáo rỗng nếu tách khỏi bối cảnh và chiều sâu của các văn bản gốc.

Tuy nhiên, theo ông, những lời khuyên của các tác giả thời Trung Cổ lại đáng kinh ngạc vì rất giống với nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại dành cho người kiệt sức hoặc gặp khó khăn về cảm xúc.

Ví dụ, Liệu pháp Chấp nhận và Cam kết (Acceptance and Commitment Therapy – ACT) khuyến khích con người thừa nhận và chấp nhận cảm xúc của mình thay vì cố gắng loại bỏ hay kiểm soát chúng.

Bên cạnh việc học cách sống cùng những cảm xúc ấy, ACT còn khuyên mỗi người xác định những giá trị cốt lõi của bản thân và từng bước hành động phù hợp với các giá trị đó.

Theo Jones, nếu thêm vào những hình ảnh ẩn dụ thời Trung Cổ như “cánh đồng đầy gai” hay “ngọn núi vững chãi”, thì triết lý của ACT ngày nay gần như tương đồng với lời khuyên mà William Peraldus đã đưa ra cách đây khoảng 800 năm.

Quan trọng hơn cả, các nhà tư tưởng thời Trung Cổ nhắc chúng ta rằng biết tha thứ cho bản thân có thể là một sức mạnh lớn – điều cũng là một chủ đề xuyên suốt trong nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại.

Trong các bản thảo của mình, Cassian đã đề cập đến các triệu chứng mệt mỏi, tuyệt vọng, suy giảm trí nhớ và khao khát “sự an ủi của giấc ngủ”

Jones dẫn lại những trước tác từ thế kỷ 12 của Bernard of Clairvaux – một trong những người đồng sáng lập Knights Templar.

“Ông ví việc sống một cuộc đời tốt đẹp giống như chạy trên một địa hình gồ ghề, và nói rằng bất kỳ ai chạy đủ xa rồi cũng sẽ có lúc vấp ngã hoặc khuỵu xuống,” Jones giải thích.

“Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ có những khoảnh khắc hoàn toàn mất phương hướng.”

Theo Jones, chỉ cần nhận ra rằng mình không đơn độc trong những đau khổ đang trải qua cũng đã là một nguồn an ủi lớn.

Dù bạn đang phải chịu đựng điều gì, con người đã cảm thấy như vậy suốt hàng nghìn năm qua.

“Thật an ủi khi nhận ra rằng trong suốt chiều dài lịch sử, đã có biết bao người cũng từng trải qua những điều như mình,” ông nói.

*****

David Robson là một nhà báo khoa học từng đoạt nhiều giải thưởng và là tác giả. Cuốn sách mới nhất của ông, The Laws of Connection: 13 Social Strategies That Will Transform Your Life (tạm dịch: Những Quy Luật Của Sự Kết Nối: 13 Chiến Lược Xây Dựng Quan Hệ Có Thể Thay Đổi Cuộc Sống Của Bạn), được xuất bản tại Anh bởi Canongate Books và tại Mỹ, Canada bởi Pegasus Books vào tháng 6/2024.

Ông sử dụng tài khoản @davidarobson trên Instagram và Threads, đồng thời viết bản tin 60-Second Psychology trên Substack.