Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần…

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần trước khi trở thành một trong những tác giả bán chạy nhất thế giới. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Ông từng bị trói vào bàn và phải chịu những cú sốc điện. Khi ấy, ông chỉ là một thiếu niên mà “tội lỗi” duy nhất là muốn trở thành nhà văn thay vì luật sư. Cha mẹ ông, vì lo lắng, cho rằng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con trai là dấu hiệu của bệnh tâm thần nên đã đưa ông vào bệnh viện tâm thần tới ba lần.

Thế nhưng nhiều thập kỷ sau, chính người đàn ông ấy đã ngồi trước một tờ giấy trắng và chỉ trong mười bốn ngày đã viết nên một cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người.

Tên ông là Paulo Coelho, và câu chuyện của ông là minh chứng rằng những người chỉ trích chúng ta gay gắt nhất đôi khi lại sai hoàn toàn về tương lai của chúng ta.

Năm 1988, Paulo đã dồn hết tâm huyết vào một câu chuyện ngụ ngôn giản dị kể về hành trình của một chàng chăn cừu trẻ tuổi đi tìm ước mơ của mình qua sa mạc. Ông đặt tên cho cuốn sách ấy là The Alchemist (Nhà Giả Kim).

Ông biết cuốn sách này có điều gì đó rất đặc biệt, nhưng giới xuất bản lúc bấy giờ lại không hề quan tâm.

Nhà xuất bản đầu tiên phát hành cuốn sách đã nhìn nó nằm phủ bụi trên các kệ sách. Doanh số quá thấp nên họ quyết định ngừng phát hành và trả lại bản quyền cho tác giả.

Người ta nói với ông rằng tác phẩm của ông là một thất bại hoàn toàn.

Nhiều người có lẽ đã từ bỏ vào thời điểm đó. Xét cho cùng, những “chuyên gia” đã lên tiếng. Nhưng Paulo đã từng sống sót sau những liệu pháp sốc điện thực sự; một lá thư từ chối không thể khiến ông bỏ cuộc.

Ông tin sâu sắc vào thông điệp cốt lõi của cuốn sách mình:

“Khi bạn thực sự khao khát một điều gì đó, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được nó.”

Ông từ chối từ bỏ.

Paulo tìm được một nhà xuất bản thứ hai sẵn sàng trao cho ông cơ hội. Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra. Thành công không đến nhờ những chiến dịch quảng cáo tốn kém. Cuốn sách phát triển chậm rãi, gần như trong im lặng.

Một người đọc nó, cảm thấy trái tim mình thay đổi và giới thiệu cho một người bạn.

Người bạn ấy lại giới thiệu cho người khác.

Dần dần, những lời truyền miệng nhỏ bé ấy đã trở thành một làn sóng mạnh mẽ.

Cuốn sách đã vượt ra khỏi những con phố của Brazil để đến với mọi ngóc ngách trên thế giới.

Ngày nay, Nhà Giả Kim là một trong những cuốn sách được yêu thích nhất trong lịch sử. Nó đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Người ta có thể bắt gặp cuốn sách này trên bàn làm việc của những nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, cũng như trong ba lô của những sinh viên nghèo không có nhiều tiền.

Nếu Paulo nghe theo cha mẹ mình, có lẽ ông đã sống cả đời như một luật sư bất hạnh.

Nếu ông nghe theo nhà xuất bản đầu tiên, kiệt tác của ông có thể đã biến mất mãi mãi.

Thay vào đó, ông chọn tin vào tiếng nói bên trong mình.

Ông đã cho thế giới thấy rằng thất bại thực sự duy nhất chính là không dám bắt đầu hành trình hoặc bỏ cuộc ngay khi ai đó nói với bạn rằng bạn không thể.

Những khó khăn mà bạn đang trải qua hôm nay không phải là sự trừng phạt.

Chúng chỉ là sự chuẩn bị cho những điều tốt đẹp đang chờ đợi bạn ở phía trước.

Hãy tiếp tục bước đi, vì thế giới vẫn đang chờ được nghe câu chuyện của chính bạn. 


 

Việt Nam bị Mỹ áp thuế thương mại mới (BBC)

(BBC)

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer (phải) – người chỉ đạo cuộc điều tra thương mại đối với Việt Nam – tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng tháng 2/2026

Việt Nam nằm trong nhóm 60 đối tác thương mại sẽ bị chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế thương mại mới, ngay sau khi mức thuế tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày hết hiệu lực.

Mức thuế mới, từ 10% đến 12,5%, sẽ được áp dụng từ 0 giờ 01 ngày 25/7 theo giờ miền Đông nước Mỹ, theo thông báo đăng trên Công báo Liên bang ngày 24/7.

Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer nói Mỹ đã cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức trong gần một thế kỷ và đã đến lúc các đối tác thương mại cũng thực hiện nghiêm túc các quy định tương tự.

Theo quyết định cuối cùng, Việt Nam nằm trong số các nước sẽ chịu mức thuế 12,5%.

Các mức thuế mới được áp dụng theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, với lý do nhiều đối tác chưa thực thi đầy đủ các lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Chính quyền Mỹ cho biết các mức thuế mới sẽ bao phủ 99,4% hàng nhập khẩu vào Mỹ, nhưng miễn trừ đối với nhiều mặt hàng, bao gồm dầu khí, phân bón, một số thực phẩm và các sản phẩm đã chịu thuế theo Điều 232 vì lý do an ninh quốc gia như ô tô, thép, nhôm và đồng.

Hàng hóa đáp ứng các quy định của Hiệp định Thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) cũng được miễn thuế.

Hàng hóa từ Argentina, Bangladesh, Anh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia

Mexico, Pakistan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago sẽ chịu thuế 10%.


 

‘Luật To Đẹp’ của Trump đặt 41 tiểu bang trước nguy cơ mất một phần food stamp

Ba’o Nguoi-Viet

July 23, 2026

Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

WASHINGTON, DC (NV) – Kể từ Tháng Bảy, 2025, đến Tháng Hai, 2026, khi bắt đầu áp dụng “Luật To Đẹp” (One Big Beautiful Bill) của Tổng Thống Donald Trump đánh dấu bằng việc 3.5 triệu người bị mất các tài trợ thực phẩm qua chương trình SNAP, hay quen gọi là food stamp, theo phân tích của trung tâm Center On Budget and Policy Priorities (CBPP), một viện nghiên cứu chính sách phi đảng phái.

Giữa lúc người dân Mỹ vất vả đối mặt với chi phí thực phẩm, xăng và những nhu yếu phẩm ngày càng cao, hệ quả từ cuộc chiến Iran và chính sách đánh thuế hàng nhập cảng (tariffs), giờ lại chồng thêm tình trạng ngặt nghèo khi “Luật To Đẹp” dần dần có hiệu lực.

Bảng thông báo nhận trả bằng food stamp tại một tiệm bán thực phẩm ở Miami, Florida. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)

Theo tường thuật của KTLA và AP, có một con số lạnh lùng rằng 41 tiểu bang đứng trước nguy cơ mất một phần ngân khoản SNAP vì tỷ lệ sai sót vượt 6%, vốn chỉ chín tiểu bang đạt dưới mức này trong tài khóa 2025. 

Luật One Big Beautiful Bill quy định các tiểu bang vượt ngưỡng sai sót 6% phải tự trả từ 5% đến 15% chi phí trợ cấp, bắt đầu sớm nhất từ Tháng Mười, 2027. Luật đặt hóa đơn trước cửa tiểu bang và buộc họ tìm tiền, cắt chương trình khác hoặc loại người đang thụ hưởng ra khỏi SNAP.

Trump áp dụng mức 6% chưa từng có tiền lệ

Mức giới hạn 6% không phải phát minh của chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Trước năm 2025, đây là tiêu chuẩn kiểm soát hành chính khi tiểu bang có tỷ lệ sai sót từ 6% trở lên phải nộp kế hoạch sửa chữa, nếu tiếp tục để sai sót cao kéo dài có thể chịu mức chế tài riêng. 

Tuy nhiên, tiền trợ cấp SNAP vẫn do chính phủ liên bang chi trả 100%. Mốc 6% khi ấy chủ yếu là chiếc đèn báo động buộc tiểu bang sửa hệ thống, chứ chưa phải đồng hồ tính tiền trên toàn bộ trợ cấp. 

Luật One Big Beautiful Bill biến chiếc đèn báo động thành hóa đơn. Từ tài khóa 2028, tiểu bang sai sót từ 6% đến dưới 8% phải trả 5% chi phí SNAP; từ 8% đến dưới 10% phải trả 10%; từ 10% trở lên phải trả 15%. Đây là lần đầu Washington chuyển một phần chi phí quyền lợi SNAP sang tiểu bang dựa trực tiếp trên tỷ lệ sai sót. Cùng lúc, phần chi phí điều hành mà tiểu bang phải gánh tăng từ 50% lên 75% bắt đầu từ tài khóa 2027.

Nghịch lý là muốn giảm sai sót, tiểu bang cần thêm nhân viên và hệ thống điện toán; nhưng Washington lại giảm kinh phí. Khi vừa thiếu tiền vừa bị đe dọa phải trả hàng trăm triệu đô la, con đường rẻ nhất có thể làm là tạo khó khăn thêm khiến ít người đạt đủ tiêu chuẩn để được ở lại trong chương trình hơn.

Sai sót không đồng nghĩa với gian lận

“Payment error rate” không phải tỷ lệ gian lận nhưng bao gồm cả việc trả thừa tiền lẫn trả thiếu tiền. Nguyên nhân có thể là người nhận khai báo sai, lợi tức chưa cập nhật, nhân viên tính nhầm, hồ sơ thiếu hoặc quy định quá phức tạp. 

Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội nhấn mạnh đây không phải thước đo gian lận vì các hoạt động mua bán trái phép quyền lợi SNAP tại cửa hàng được đo bằng chỉ số khác.

Cho nên việc dùng toàn bộ tỷ lệ sai sót để tạo cảm giác người nghèo “ăn gian” là đánh tráo khái niệm.

Một gia đình được trả thiếu cũng làm tỷ lệ tăng. Một hồ sơ bị tiểu bang tính sai cũng làm tỷ lệ tăng. Nhưng hậu quả có thể rơi xuống người hội đủ điều kiện mà không đủ khả năng đi qua “một núi giấy tờ.” 

Các chuyên gia được CNBC phỏng vấn cho biết người dân đang mất trợ cấp vì không liên lạc được, giấy tờ không được duyệt hoặc đơn bị từ chối sai.

SNAP duy trì ổn định kinh tế

Chương trình SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. Chương trình mang tính “tỷ lệ nghịch” là khi kinh tế suy yếu thì số người thụ hưởng tăng, kinh tế phục hồi thì nhu cầu giảm. 

Bởi vậy, SNAP phải đáp ứng theo thực trạng từng tiểu bang, chứ không thể bị đóng khung bằng mục tiêu tiết kiệm cố định từ Washington.

Về kinh tế vĩ mô, tiền SNAP được tiêu gần như ngay lập tức tại chợ, siêu thị và cửa hàng địa phương. Theo Giáo Sư Sara Bleich, khoa kinh tế của trường Đại Học Harvard, mỗi $1 SNAP tạo ra khoảng $1.50 đến $1.80 trong chu trình hoạt động kinh tế, hỗ trợ việc làm bán lẻ và lợi tức của nông dân. SNAP còn giảm thiếu an ninh thực phẩm, giảm nghèo và hạ chi phí y tế. Cắt SNAP không chỉ lấy đi thức ăn nhưng rút sức mua khỏi những cộng đồng nghèo, nơi mỗi Mỹ kim được “xoay vòng nền kinh tế” nhanh nhất.

Các trung tâm phát thực phẩm miễn phí (ngân hàng thực phẩm/food bank) không thể thay thế SNAP: cứ một bữa ăn do ngân hàng thực phẩm cung cấp thì SNAP cung cấp chín bữa. Kêu gọi từ thiện lấp chỗ trống là chuyển nghĩa vụ quốc gia sang các tổ chức dân sự không đủ nguồn lực.

Cắt gần $187 tỷ trước, rồi để nhu cầu thực tế tự xoay xở

Cần nói chính xác rằng luật không ghi mỗi tiểu bang phải cắt theo hạn ngạch để tổng cộng đúng $187 tỷ. Đây là con số Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội ước tính mức chi liên bang cho các chương trình trợ cấp thực phẩm, tăng dinh dưỡng giảm trong 10 năm, khoảng $186.65 tỷ. 

Nhưng cấu trúc luật được xây dựng trong tiến trình cân đối ngân sách để tạo khoản tiết kiệm ấy, qua yêu cầu làm việc, thu hẹp điều kiện hội đủ, hạn chế cách tính trợ cấp, chuyển chi phí sang tiểu bang và giảm ngân khoản điều hành.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhu cầu SNAP không phát sinh theo lịch trình “tiết kiệm” của các dân cử Cộng Hòa tại Quốc Hội mà thay đổi theo tình trạng thất nghiệp, tiền thuê nhà, giá thực phẩm, thiên tai, sức khỏe và mức lương địa phương. 

Trung tâm CBPP ghi nhận số người nhận SNAP giảm mạnh trong khi tỷ lệ thất nghiệp gần như đứng yên quanh mức 4% cho thấy rất khó kết sự suy giảm xảy ra là vì người dân bớt cần trợ giúp.

Cơ Quan Ngân Sách Quốc Hội (CBO) dự đoán riêng cơ chế bắt tiểu bang chia sẻ chi phí có thể khiến khoảng 300,000 người mất SNAP trong một tháng trung bình và ảnh hưởng quyền lợi dinh dưỡng của khoảng 96,000 trẻ em. Các thay đổi về giới hạn thời gian làm việc được dự đoán làm giảm khoảng 2.4 triệu người tham gia mỗi tháng trong giai đoạn 10 năm.

Cắt thức ăn giữa lúc giá cả và chiến phí tăng

Vào Tháng Sáu, 2026, giá tiêu thụ tại Mỹ cao hơn một năm trước 3.5%; giá thực phẩm tăng 3%, năng lượng tăng 15.7% và xăng tăng 26.7%. Chiến tranh Iran và gián đoạn quanh eo biển Hormuz không phải nguyên nhân duy nhất của lạm phát, nhưng đã tạo thêm cú sốc dầu khí và đẩy giá xăng trung bình tại Mỹ vượt $4 một gallon trong Tháng Bảy.

Trong khi đó, Bộ Quốc Phòng cho biết chiến tranh Iran tiêu tốn khoảng $37.5 tỷ tính đến ngày 21 Tháng Bảy và xin thêm $67.1 tỷ. 

Hạ Viện do Đảng Cộng Hòa lãnh đạo vừa thông qua đề nghị ngân sách $95 tỷ, trong đó $60 tỷ dành cho Ngũ Giác Đài và $13 tỷ cho các nhu cầu an ninh khác. 

Không thể nói mỗi Mỹ kim cắt khỏi SNAP được chuyển thẳng sang một trái hỏa tiễn; ngân sách liên bang không vận hành bằng cách đánh dấu từng đồng đô la. Nhưng sự đối chiếu cho thấy thứ tự ưu tiên: tiền chiến tranh được gọi là khẩn cấp, còn tiền cho bữa ăn của trẻ em lại bị đặt dưới phép thử sai sót hành chính. 

SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. (Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

“Bán cái” cho tiểu bang để Washington thoái thác nghĩa vụ 

Mục tiêu công khai của chính quyền ông Trump là buộc tiểu bang chịu trách nhiệm với việc chống lãng phí và bảo vệ người đóng thuế. Nhưng cơ chế này còn “bán cái” cho tiểu bang qua việc Washington đặt tiêu chuẩn, giảm tài trợ kinh phí rồi chuyển hóa đơn xuống dưới. 

Nếu tiểu bang phải tăng thuế, cắt giáo dục, giảm dịch vụ khác hoặc siết SNAP để cứu đói cho cư dân thì chính phủ liên bang đổ hô rằng “đó là lựa chọn của tiểu bang.”

Đây cũng là cách cắt chương trình mà không phải công khai tuyên bố sẽ lấy thức ăn của hàng triệu người. Một lá thư thất lạc hoặc tài liệu không tải được lên mạng có thể dẫn đến kết quả cắt trợ cấp cho một cư dân đứng trước nguy cơ đói ăn.

Cũng không thể nói một khoản SNAP cụ thể trực tiếp trả cho một khoản giảm thuế cụ thể. Tuy nhiên, đáng đề cập đến là các chương trình dành cho người lợi tức thấp bị cắt trong cùng đạo luật kéo dài nhiều ưu đãi thuế cá nhân và doanh nghiệp, gồm khấu hao nhanh, khấu trừ chi phí nghiên cứu và ưu đãi đối với lợi tức kinh doanh. 

Phân tích của CBO cho thấy gia đình thuộc 10% lợi tức thấp nhất mất trung bình khoảng $1,214 nguồn lực mỗi năm, trong khi 10% cao nhất được thêm khoảng $13,622 và nhóm giàu nhất nhận gần 64% tổng mức gia tăng nguồn tài chính. Đó là bằng chứng rõ về chiều phân phối của đạo luật cắt từ thành phần phía dưới dồn lên trên. (Congressional Budget Office)

“To Đẹp” với người giàu, khắc nghiệt với người đói

Tên gọi One Big Beautiful Bill nghe như một lời quảng cáo bóng bẩy. Nhưng với gia đình trong hoàn cảnh tài chánh chật vật phải chọn giữa tiền thuê nhà, thuốc men và thực phẩm, vẻ “đẹp” ấy rất khó nhìn thấy. 

Với học sinh nghèo mất con đường tự động vào bữa ăn miễn phí, với người cao niên phải chứng minh lại từng giấy tờ, và với tiểu bang bị đặt giữa tăng thuế và cắt trợ cấp. Luật “To” này không hề “Đẹp.”

Điều mỉa mai là nhiều cử tri lợi tức thấp tiếp tục bỏ phiếu cho những chính trị gia với khẩu hiệu đầy mỹ từ về bảo tồn giá trị văn hóa, duy trì bản sắc nhưng thực tế làm ngân sách theo hướng có lợi nhất cho người giàu và đại công ty. 

Không phải là họ thiếu hiểu biết, nhưng cái bẫy quá tinh vi hơn thế. Họ được mời bỏ phiếu vì nỗi sợ và lòng trung thành đảng phái, trong khi sự chuyển giao tài sản diễn ra bằng những công thức khó hiểu như “tỷ lệ sai sót 6%.”

Sau cùng, Big Beautiful Bill có thể thật sự “big” đối với hóa đơn chiến tranh, “beautiful” đối với các mục giảm thuế của người giàu cuối năm, nhưng đối với người nghèo và học sinh cần một bữa ăn, ba chữ cái thứ nhì trong bảng mẫu tự đứng chung với nhau, “BBB” còn có nghĩa là: “Đói!” [kn]


 

KHÁM PHÁ KHO BÁU TIN MỪNG-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (13, 44-46) Chúa nhật 17 thường niên)

Kho báu núi Tàu

Vụ việc nầy được báo chí trong nước đăng tải khá nhiều trong những năm gần đây, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả.

 Từ năm 1963, cụ Trần Văn Tiệp nắm được những thông tin rất thuyết phục cho rằng trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam, quân đội Nhật Bản sau khi bị quân đồng minh đánh bại, được lệnh rút khỏi Việt Nam, có mang đi một khối lượng vàng rất lớn nhờ vơ vét được tại các nước châu Á mà họ chiếm đóng, nhưng vì bị phe đồng minh theo dõi, quân Nhật không thể chuyển ngay số vàng mà họ chiếm được về nước nên đã chôn giấu chừng 4.000 tấn vàng trên núi Tàu, một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Tuy Phong, gần nhà máy nước Vĩnh Hảo, tỉnh Bình Thuận, để chờ khi có cơ hội thuận tiện sẽ đưa về Nhật sau.

 Cụ Tiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho phép thăm dò và khai thác và đã đầu tư rất nhiều tiền bạc cho dự án này suốt 22 năm trời, nhưng không may, đến tháng 3 năm 2015, giấy phép hết hạn, cụ phải ngừng công cuộc thăm dò mà vẫn chưa tìm thấy dấu vết kho tàng.

 Câu chuyện nầy liên quan mật thiết với dụ ngôn Chúa Giê-su dạy hôm nay:

 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”

Kho báu quý nhất trên đời

 Có một kho báu triệu lần đáng quý hơn bất cứ kho báu nào khác ở trần gian đang nằm trong tầm tay chúng ta nhưng tiếc thay, có nhiều người không biết đến, đó là Lời Chúa phán dạy trong Tin mừng, ta gọi đó là kho báu Tin mừng.

 Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì nhờ lời Chúa dạy trong Tin mừng mà muôn người được cứu rỗi và được hưởng phúc thiên đàng đời đời vinh hiển.

Các thánh Tông đồ, các thánh nam nữ được hưởng phúc thiên đàng không phải vì chiếm hữu được kho báu trần gian, không phải vì có nhiều vàng ngọc châu báu… nhưng vì các ngài thủ đắc được kho tàng lời Chúa trong Tin mừng và áp dụng những lời khôn ngoan đó vào cuộc sống.

 – Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì khi được thấm nhuần những lời dạy của Tin mừng, tính nết con người được cải thiện, phẩm chất con người được nâng cao, đời sống con người thêm hạnh phúc… trong khi những người nắm giữ kho báu trần gian dễ bị sa đọa vì xa hoa và lạc thú do tiền tài mang lại, nên dễ dàng đánh mất hạnh phúc thiên đàng.

Kiên tâm tìm kiếm kho báu Tin mừng

 Cụ Trần Văn Tiệp đã thao thức đào xới, tìm kiếm kho báu núi Tàu suốt 22 năm. Còn chúng ta, chúng ta có chấp nhận bỏ ra mỗi ngày mươi phút để khai thác kho báu Tin mừng hay không?

 Kho báu trần gian thường nằm ở chốn rừng hoang, ở những nơi xa xôi hiểm trở hoặc dưới lòng đất sâu… nên cần phải mạo hiểm, cần đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức may ra mới chiếm hữu được; trong khi kho báu Tin mừng nằm trong tầm tay mọi người, muốn khai thác lúc nào cũng được mà không phải tốn kém. Vậy thì chúng ta hãy khởi sự khai thác ngay hôm nay để làm giàu cho đời sống thiêng liêng của mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã mang kho báu Tin mừng là Lời khôn ngoan của Thiên Chúa từ Trời xuống để ban tặng cho chúng con.

 Xin cho chúng con biết miệt mài khai thác hằng ngày để được sống trong bình an, hạnh phúc ở đời nầy và được hưởng phúc lộc đời đời với Chúa mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****

Tin mừng Mát-thêu 13, 44-46

44 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Bài học của Na-Uy : Mỏ dầu hỏa

Bài học Na Uy: Câu chuyện “hũ gạo” và tầm nhìn xuyên thế kỷ.

Năm 1969, những người ngư dân ngoài khơi Na Uy bỗng thấy một cảnh tượng lạ lẫm: những giàn khoan dầu mọc lên giữa đại dương. Mỏ Ekofisk được tìm thấy, mở ra một trong những túi dầu lớn nhất thế giới.

Lúc đó, Na Uy biết mình sắp giàu to. Nhưng bạn biết đấy, hầu hết các quốc gia khi bỗng dưng “trúng số” nhờ dầu mỏ đều vấp phải một sai lầm chết người: Là có bao nhiêu tiêu bấy nhiêu. Quyết định ngược đời Trong khi những nước khác như Venezuela, Irak, Lybie hay Nigeria tiêu sạch tiền dầu vào các dự án hào nhoáng rồi cuối cùng rơi vào nợ nần khi dầu cạn, thì Na Uy lại chọn một lối đi riêng.

Năm 1990, Quốc hội Na Uy đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước: Thay vì tiêu tiền dầu, họ đem đi cất.

Không phải cất một phần đâu, mà là gần như tất cả. Họ lập ra một quỹ đầu tư. Quy tắc cực kỳ đơn giản nhưng gây sốc: Toàn bộ lợi nhuận từ dầu mỏ sẽ được đổ vào quỹ này để đi đầu tư khắp thế giới. Mỗi năm, Chính phủ chỉ được phép rút ra một phần nhỏ (khoảng 3%) để chi tiêu. Phần còn lại? Cứ để đó cho nó “đẻ” thêm tiền. Mãi mãi.

Và lòng kiên trì thắng được sự cám dỗ

Lúc đó, nhiều người bảo họ điên. “Giàu mà không tiêu à?”, “Sao không giảm thuế, xây thêm đường sá ngay đi?”.

Chính phủ Na Uy chỉ trả lời đơn giản: “Vì con cháu chúng ta rồi sẽ ra đời, và chúng sẽ cần số tiền này hơn chúng ta bây giờ.”

Năm 1996, họ bỏ 150 triệu đô la đầu tiên vào quỹ. Suốt 30 năm sau đó, bất kể kinh tế đi xuống hay dân tình kêu ca, các chính trị gia Na Uy vẫn giữ đúng lời hứa. Họ không động vào “tiền xương máu” của tương lai để mua vui cho hiện tại.

Kết quả của việc “chọn cháu chắt thay vì bản thân”

Đến cuối năm 2025 này, quỹ này đã chạm mốc 2.000 tỷ đô la.

Hãy tưởng tượng: Na Uy chỉ có khoảng 5,6 triệu dân. Nếu chia đều, mỗi người dân nghiễm nhiên có khoảng 357.000 đô la (hơn 9 tỷ đồng) trong tài khoản chung.

Nhưng điều kinh ngạc nhất là gì? Hơn một nửa giá trị của quỹ hiện nay không phải đến từ tiền bán dầu, mà đến từ tiền lãi đầu tư. Hiện tại, số tiền quỹ này kiếm được từ việc sở hữu cổ phần của gần 9.000 công ty khắp thế giới (như Apple, Microsoft, Amazon…) còn nhiều hơn cả tiền bán dầu thô.

Một di sản vĩnh cửu

Dầu mỏ rồi sẽ hết, có thể là 30 hay 50 năm nữa. Nhưng với người Na Uy, điều đó chẳng còn đáng sợ.

Khi giọt dầu cuối cùng được hút lên, họ vẫn sẽ có một “núi tiền” khổng lồ tiếp tục sinh lời. Nhờ đó, trẻ em Na Uy vẫn được đi học miễn phí, người già vẫn có lương hưu cao, và người bệnh vẫn được chăm sóc y tế hàng đầu — tất cả nhờ vào những thùng dầu đã bán từ nửa thế kỷ trước.

Cái tài của người Na Uy không phải là tìm thấy dầu. Cái tài của họ là biết nói “Không” với đồng tiền dễ dãi hôm nay để đổi lấy sự thịnh vượng bền vững cho mai sau. Ngoài việc là chính sách kinh tế, đó còn là một bài học về sự tử tế: Sống và xây dựng cho những người thế hệ tương lai mà chúng ta hôm nay thậm chí sẽ không bao giờ gặp mặt.

Anh chị nghĩ như thế nào về quyết sách của chính phủ Na Uy?

From: Tu-Phung


 

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

Đặt bạn vào vị trí của một Triết gia, Khoa học gia, nhà Thần học, bạn nghĩ gì về: sự Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận? Chúng liên kết nhau thế nào trong cuộc sống con người?

Đây là một câu hỏi mang tính gợi mở rất lớn, chạm đến những băn khoăn cốt lõi nhất về nhân sinh. Khi đặt ba góc nhìn — Triết gia, Khoa học giaNhà Thần học — bên cạnh nhau, ta không thấy sự bài xích lẫn nhau mà là một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về cuộc sống.

GEMINI Tra Loi:

1. Dưới góc nhìn của Triết gia

Triết học coi ba khái niệm này là các trụ cột để định hình thái độ sống và tư duy nhân sinh:

  • Vô thường (Impermanence): Là bản chất của thực tại. Mọi vật, mọi trạng thái hay cảm xúc đều nằm trong dòng chảy biến đổi liên tục. Triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus từng đúc kết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” — bởi cả dòng nước lẫn con người bước xuống đó đều đã khác đi từng giây.
  • Nhân quả (Causality): Là quy luật của trách nhiệm. Mọi suy nghĩ, lựa chọn và hành động hôm nay đều là nguyên nhân gieo vào thực tại, từ đó gặt hái kết quả trong tương lai. Nhân quả gạt bỏ sự ngẫu nhiên vô nghĩa, khẳng định con người là chủ thể tạo nên số phận của chính mình.
  • Định mệnh / Số phận (Fate / Determinism): Là cuộc đối thoại giữa Tính tất địnhÝ chí tự do (Free Will). Định mệnh không hẳn là một kịch bản bất biến được gán sẵn, mà là tập hợp những điều kiện ban đầu nằm ngoài tầm kiểm soát của ta (nơi sinh ra, thời đại, gia cảnh).

Góc nhìn triết học: Vô thường nhắc ta buông bỏ sự bám chấp; Nhân quả nhắc ta sống có trách nhiệm; còn Định mệnh nhắc ta biết chấp nhận những gì không thể thay đổi để tập trung vào những gì có thể chuyển biến.

2. Dưới góc nhìn của Khoa học gia

Khoa học không dùng các khái niệm tâm linh, nhưng giải thích các hiện tượng này bằng những ngôn ngữ chính xác của tự nhiên:

  • Vô thường $\rightarrow$ Entropy và Sự tiến hóa: Vũ trụ luôn vận hành theo định luật Nhiệt động lực học — mọi hệ thống từ ngôi sao, tế bào đến xã hội đều đi từ trật tự đến biến đổi và tan rã. Sự sống diễn ra nhờ quá trình không ngừng trao đổi chất và đột biến gen.
  • Nhân quả $\rightarrow$ Nguyên nhân & Hậu quả (Cause and Effect): Đây là nền tảng của phương pháp khoa học và Vật lý cổ điển. Định luật Newton, các phản ứng hóa học hay y học hiện đại đều dựa trên nguyên lý: không có kết quả nào xuất hiện mà không có nguyên nhân báo trước.
  • Định mệnh $\rightarrow$ Điều kiện biên & Xác suất (Probability): Khoa học xem “định mệnh” là sự kết hợp giữa mã gen, môi trường sống ban đầutính ngẫu nhiên/xác suất (như trong Cơ học lượng tử hay Lý thuyết hỗn loạn – Chaos Theory). Việc một người mắc bệnh hay gặp may mắn thường là sự tương tác giữa yếu tố di truyền, hành vi và xác suất thống kê.

Góc nhìn khoa học: “Số phận” là bộ bài ngẫu nhiên mà tự nhiên chia cho bạn, nhưng cách bạn chơi bộ bài đó tuân theo các quy luật nhân quả của vật lý, sinh học và hành vi.

3. Dưới góc nhìn của Nhà Thần học

Trong thần học và các truyền thống tôn giáo lớn, ba yếu tố này gắn kết chặt chẽ với tâm linh và đạo đức:

  • Phật giáo:
    • Vô thường ($Anicca$) là cốt lõi của thế gian.
    • Nhân quả / Nghiệp ($Karma$) là quy luật công bằng của vũ trụ. Nghiệp không phải là sự trừng phạt hay ban thưởng từ bên ngoài, mà là phản chiếu tự nhiên của hành vi ($Cetanā$).
    • Số phận: Phật giáo phủ nhận một định mệnh cố định. Nghiệp cũ tạo ra hoàn cảnh hiện tại, nhưng “nghiệp mới” tạo ra ngay trong giây phút này có thể chuyển hóa và thay đổi hoàn toàn tương lai.
  • Kitô giáo & Các tôn giáo Abraham:
    • Sự Quan phòng (Divine Providence) & Tự do ý chí: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ có trật tự và có ý định tối thượng. Tuy nhiên, Ngài ban cho con người tự do ý chí để tự lựa chọn con đường của mình.
    • Nhân quả: Được thể hiện rõ qua nguyên lý gieo-gặt: “Ai gieo giống nào sẽ gặt thứ ấy”.

Góc nhìn thần học: Vô thường giúp con người nhận ra tính ngắn ngủi của đời sống trần thế để hướng về giá trị vĩnh cửu; Nhân quả và Định mệnh là bài học tâm linh để con người rèn luyện sự khiêm nhường, lòng tin và tình yêu thương.

4. Sự liên kết giữa ba yếu tố trong cuộc sống con người

Nếu dung hợp cả ba góc nhìn thành một hình ảnh ẩn dụ, cuộc đời con người giống như một hành trình chèo thuyền trên dòng sông:

[Định mệnh / Số phận]       [Vô thường]            [Nhân quả]

(Điều kiện ban đầu &        (Dòng chảy &        (Cú chèo lái &

 Những yếu tố khách quan)    Thời tiết thay đổi)  Lựa chọn hướng đi)

          │                       │                     │

          └───────────────────────┼─────────────────────┘

                                  ▼

                     [Cuộc đời & Tương lai con người]

  1. Định mệnh là chiếc thuyền bạn được trao và điểm xuất phát trên sông (bạn không chọn được nơi mình sinh ra, gen di truyền hay gia cảnh).
  2. Vô thường là bản chất của dòng sông (nước luôn chảy, thời tiết có lúc giông bão, có lúc êm đềm; sức khỏe và cảnh trí hai bên bờ luôn đổi thay).
  3. Nhân quả là cách bạn cầm mái chèo (mỗi quyết định rẽ trái, rẽ phải, chèo tiếp hay dừng lại đều quyết định vị trí của con thuyền ở khúc sông tiếp theo).

Lời kết

  • Nhận thức Vô thường mang lại sự tĩnh lặng và khả năng thích ứng trước sóng gió.
  • Hiểu rõ Nhân quả trao cho bạn sức mạnh và sự chủ động để gieo những điều tốt đẹp ngay từ hôm nay.
  • Chấp nhận Định mệnh mang lại sự bình an, giúp bạn ngưng oán trách những điều không thể chọn lựa.

Sự tương tác liên tục giữa ba yếu tố này chính là nét đẹp và ý nghĩa sâu xa nhất của hành trình làm người: Dù không thể chọn bộ bài được chia, bạn luôn có toàn quyền quyết định cách mình sẽ chơi bài.


 

TRÁI TIM CŨNG CÓ KÝ ỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó không đâm rễ!”.

“Quá khứ không bao giờ chết; nó thậm chí còn chưa qua!” – William Faulkner.

Kính thưa Anh Chị em,

Quá khứ không bao giờ thực sự qua đi; nhiều khi nó vẫn âm thầm sống trong chúng ta. Mảnh đất từng bị giẫm nát sẽ khác với đất được chăm sóc. Trái tim con người cũng vậy: ‘trái tim cũng có ký ức’.

Không phải đất nào cũng giống nhau. Có mảnh mềm, có mảnh cứng; có nơi đầy sỏi đá, có nơi um tùm gai góc. Đó không chỉ là địa chất của cánh đồng, mà còn là địa chất của tâm hồn. Theo năm tháng, mọi chọn lựa, mọi tổn thương, những lần khép lòng hay mở lòng đều âm thầm để lại dấu vết. Bởi thế, trước khi hạt giống kịp bén rễ, mảnh đất đã mang sẵn cả một lịch sử. Trái tim giữ lại những vết thương của quá khứ, và biến chúng thành lớp đất chai sần ngăn Lời Chúa bén rễ.

Dụ ngôn Chúa Giêsu kể không ca ngợi một mảnh đất tốt, nhưng mặc khải một người gieo quảng đại. Hạt giống được gieo khắp nơi, không vì đất nào cũng xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa không bao giờ thôi hy vọng con người được biến đổi. Đó không phải là lãng phí, mà là cách Ngài yêu thương. Ngài không chờ đất tốt rồi mới gieo; Ngài gieo để đất có cơ hội trở nên tốt. Ngài không nhìn mảnh đất như nó đang là, nhưng như nó có thể trở thành. Logic của ân sủng là thế: luôn đi trước mọi công trạng và mở ra khả năng đổi thay.

Nhưng mọi sự phải bắt đầu từ nơi sâu kín nhất. Giêrêmia cho thấy điều Thiên Chúa muốn chữa lành không phải là hoàn cảnh, mà là lòng người, để “chúng sẽ không còn sống buông thả theo lòng dạ xấu xa” – bài đọc một. Bản Hy Lạp của bài đọc viết kardía – “trái tim”, trung tâm của ký ức và những chọn lựa. Vì thế, điều Chúa muốn biến đổi không phải là hạt giống – Lời vốn luôn tốt lành – nhưng là lòng người, mảnh đất bên trong. Chỉ khi đất lòng được Ngài canh giữ mới có thể trở thành mảnh đất sinh lợi. Thảo nào Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!”.

Phần chúng ta, điều cản trở Lời nhiều khi không phải chúng ta không nghe, nhưng chúng ta nghe bằng một trái tim còn rỉ máu vì quá nhiều thương tổn. Ký ức còn hằn thương tích dễ biến hy vọng thành nghi ngờ, lời mời gọi thành nỗi sợ, và hạt Lời thành điều không thể bén rễ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không né tránh thập giá; chính nơi đó, Ngài chữa lành trái tim con người từ tận căn, để những gì đã qua không còn trói buộc hiện tại và Lời có thể đâm rễ. Vì thế, đừng sợ mang đến cho Ngài những ký ức làm chúng ta nặng lòng, những vết thương chưa khép, những tội lỗi đang giấu kín. Đấng đã yêu chúng ta đến cùng sẽ kiên nhẫn biến đất chai cứng thành nơi có thể trổ sinh hoa trái. Nơi Đức Kitô, ‘trái tim cũng có ký ức’, nhưng ký ức không còn là số phận. “Mọi sự sẽ ổn, mọi sự sẽ ổn, và mọi sự rồi sẽ ổn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để quá khứ con cầm tù hiện tại; đừng để vết thương cũ quyết định cách con sống; xin chạm đến và chữa lành những điều con chưa bao giờ thôi đau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Hành trinh đi tìm tự do của một” Boat-people” – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/07/2026

Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.

Mùa hè 2026


 

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG

Cang Huynh

 

*Một người đàn ông từng đi nhà thờ mỗi cuối tuần dần dần bỏ đạo.

Tuần này qua tuần khác, rồi đến tháng. Một ngày nọ, vị linh mục quyết định đến thăm ông.

Khi đến nơi, cửa trước mở sẵn nên ông bước vào. Người đàn ông đang ngồi một mình trước lò sưởi. Ông chào vị linh mục bằng một cái gật đầu nhẹ và ra hiệu cho ông ngồi xuống.

Cả hai đều im lặng.

Họ chỉ đơn giản là nhìn ngọn lửa nhảy múa trên những khúc củi.

Sau vài phút, vị linh mục đứng dậy, cầm lấy cái kẹp than, và cẩn thận lấy một cục than hồng ra khỏi lửa. Ông đặt nó sang một bên, cách xa những cục than đang cháy khác, rồi ngồi xuống lại.

Sự im lặng tiếp tục.

Lúc đầu, cục than vẫn còn đỏ rực. Nhưng từ từ, không còn hơi ấm của những cục than xung quanh, ánh sáng bắt đầu mờ dần. Chẳng bao lâu sau, nó trở nên lạnh lẽo, tối tăm và vô hồn.

Vị linh mục lại đứng lên, dùng kẹp than nhấc cục than đen lên, và đặt nó trở lại vào giữa ngọn lửa.

Chỉ trong chốc lát, nó lại bắt đầu sáng rực. Chẳng mấy chốc, nó cháy sáng rực rỡ như những cục than bên cạnh.

Vị linh mục đặt chiếc kẹp xuống và lặng lẽ bước về phía cửa.

Ngay trước khi rời đi, người đàn ông lên tiếng.

“Cảm ơn vì đã đến,” ông nói. “Và cảm ơn vì bài giảng bên lò sưởi. Tôi sẽ đến nhà thờ vào Chủ nhật này.”

Đôi khi không cần lời giải thích dài dòng.

Một cục than được lấy ra khỏi lửa sẽ nhanh chóng mất đi hơi ấm. Nhưng khi được đặt trở lại ngọn lửa, nó lại bắt đầu cháy.

Đức tin có thể là điều cá nhân, nhưng nó không bao giờ được sống hoàn toàn một mình. Cộng đồng mang lại cho chúng ta sự khích lệ, trách nhiệm, sự an ủi và sức mạnh trong những lúc ngọn lửa của riêng chúng ta bắt đầu lụi tàn.

Đôi khi chúng ta không quay trở lại vì ai đó đã tranh cãi với chúng ta.

Chúng ta quay trở lại vì ai đó đã lặng lẽ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta vẫn thuộc về một cộng đồng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373) – Cha Vương

Chúc bình an đến Bạn và gia đình, hôm nay 23/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn thánh nữ làm quan thầy nhé.  Không quyên cầu Nguyện cho nhau và thế giới được an bình nhé 

Cha Vương

Thứ 5: 23/07/2026.     (t4-25)

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển—từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các thị kiến ấy làm nền tảng cho đời sống của thánh nữ — luôn luôn chú trọng đến đức ái hơn là trông đợi các ơn huệ thiêng liêng.

     Thánh Bridget là một người trong hoàng gia Thụy Ðiển, được thừa hưởng sự đạo đức của cha mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã yêu quý sự thống khổ của Ðức Kitô. Khi mười bốn tuổi, vâng lời cha, ngài kết hôn với vua Thụy Ðiển là Magnus II và có tám người con (người con thứ là Thánh Catarina ở Thụy Ðiển). Sau khi nhà vua từ trần ngài sống một cuộc đời rất khổ hạnh.

     Trong thời gian hôn nhân, Thánh Bridget cố gắng ảnh hưởng tốt đến vua Magnus. Dù chưa hoàn toàn thay đổi, nhà vua cũng đã ban cho ngài đất đai và cơ sở để thiết lập một đan viện cho nam giới và nữ giới. Tổ chức này sau đó phát triển thành một tu hội, được gọi là Tu Hội Thánh Bridget the Order of the Most Holy Savior (Bridgettines) và được Đức Giáo Hoàng Urban V chuẩn nhận năm 1370 hiện vẫn còn.

     Vào Năm Thánh 1350, Thánh Bridget bất chấp bệnh dịch đang lan tràn khắp  u Châu, ngài thực hiện cuộc hành hương đến Rôma. Ngài không bao giờ trở về Thụy Ðiển và những năm ở Rôma thật không sung sướng chút nào vì bị chủ nợ săn đuổi và bị chống đối bởi sự thối nát trong Giáo Hội thời bấy giờ.

     Chuyến hành hương sau cùng của ngài đến Ðất Thánh thì bị hỏng vì đắm tầu và cái chết của người con trai. Ngài qua đời ngày 23 tháng 7 năm 1373 tại Rome, nước Ý. Ngài được chôn cất tại tu viện Vadstena, Thụy Điển. Thánh nữ Bridget được Đức Giáo Hoàng Bonifacius IX tôn phong hiển thánh ngày 07 tháng 10 năm 1391 và đặt là quan thầy của Thụy Điển.

Lời Bàn: Các thị kiến của Thánh Bridget, thay vì cô lập ngài khỏi các sinh hoạt của thế gian, đã đưa ngài can dự vào nhiều vấn đề đương thời, dù đó là chính sách của hoàng gia hay của giáo triều Avignon. Ngài không thấy sự mâu thuẫn giữa các cảm nghiệm thần bí và các sinh hoạt trần tục, và cuộc đời ngài chứng minh rằng SỰ THÁNH THIỆN CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC GIỮA NƠI THƯƠNG TRƯỜNG.

Sau đây mời bạn suy niệm những câu nói của Thánh Bridget:

❦  Nếu Thiên Chúa chịu đựng những trận đòn và sự hành hạ, thì ta nhiều khi phải chịu đựng những lời nói và những sự nghịch lý. 

❦  “Tội lỗi của một người cho dù có nặng nề đến đâu đi nữa, nhưng nếu họ trở về với Mẹ với trọn con tim và quyết tâm sửa cải thực sự thì Mẹ lập tức sẵn lòng tiếp nhận họ, Mẹ sẽ không kể bao nhiêu tội lỗi họ  đã phạm trước, nhưng chỉ nhìn đến thiện chí và việc họ trở về mà thôi. Người ta xưng tụng Mẹ là Hiền Mẫu nhân lành, và thực sự lòng từ nhân của Con Mẹ đã làm cho Mẹ hết sức nhân lành; và chỉ có những ai có thể mà lại không chịu đến với lòng nhân lành mới thực sự là kẻ khốn nạn.” (Lời Mẹ phán với thánh nữ Bridget nước Thụy Điển)

From: Do Dzung

***********

NHÓM THIÊN CA | CHÚA YÊU CON NHIỀU | TINA NGỌC NỮ | SÁNG TÁC: TIẾN NGUYỄN | THIÊN CA GROUP

MẮT ĐỔI – THẾ GIỚI ĐỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy!”.

“Cuộc khám phá đích thực không phải là tìm những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới!” – Marcel Proust.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chuyến đi không mở ra một vùng đất mới, nhưng mở ra một cách nhìn mới. Mọi sự vẫn y nguyên, chỉ cách nhìn đổi khác. Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta rằng, ‘mắt đổi – thế giới đổi’.

Chúa Giêsu nói, “Họ nhìn mà không nhìn; nghe mà không nghe, không hiểu!”. Bản Hy Lạp viết syníēmi – “hiểu”, theo nghĩa “ghép các mảnh”. Người Do Thái đã có mọi mảnh ghép: Lề Luật, các ngôn sứ, tiếng Gioan Tẩy Giả, các phép lạ… nhưng họ không nhận ra tất cả những mảnh ấy đang quy về Đức Giêsu Kitô. Không phải họ thiếu dữ kiện, họ chỉ đọc sai ý nghĩa các dữ kiện: phép lạ phát xuất từ quỷ vương; Gioan quỷ ám; Chúa Giêsu bợm nhậu, phạm luật… Mỗi biến cố đứng riêng chỉ là một sự kiện; được ghép lại, toàn bộ lịch sử cứu độ mới có một khuôn mặt – khuôn mặt Đức Kitô! “Đức Kitô là chuẩn mực để toàn bộ lịch sử được giải thích!” – Hans Urs von Balthasar.

Đó cũng là bi kịch xưa của Israel. Thiên Chúa đã đưa dân vào đất chảy sữa và mật; nhưng họ không nối kết mọi ân huệ với Đấng ban ân huệ – “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh”. Israel không bỏ Thiên Chúa vì hết ân huệ; nhưng bỏ Ngài ngay giữa lúc đầy ân huệ: tôn thờ những gì đôi tay mình tạo nên, “làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” – bài đọc một. Không chỉ đánh mất nguồn sống, họ đánh mất khả năng nhận ra Đấng là nguồn sống. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca là lời tuyên xưng của một người đã nhận ra: “Lạy Chúa, Ngài quả là nguồn sống!”.

Với chúng ta, đời sống cũng đầy những điều rời rạc. Có điều là niềm vui, có điều là nước mắt, có điều không bao giờ hiểu nổi. Nhiều khi chúng ta xin Chúa đổi hoàn cảnh; Chúa lại muốn đổi con người đang nhìn hoàn cảnh. Chỉ khi đặt tất cả vào bàn tay Thiên Chúa, chúng ta mới nhận ra không có mảnh ghép nào vô nghĩa. Khi đôi mắt đổi, cả thế giới cũng đổi. Thế giới đổi không phải vì thế giới khác đi, nhưng vì người nhìn đã khác đi.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đổi thế giới, nhưng đổi chính đôi mắt nhìn thế giới. Với ánh mắt của Ngài, thập giá không còn là đau khổ, nhưng là tình yêu hiến dâng; mất mát không còn là kết thúc, nhưng là khởi đầu; cái chết không còn là ngõ cụt, nhưng là cửa ngõ bước vào sự sống. Cuộc khám phá lớn nhất của Kitô hữu không phải là đi đến nơi khác, nhưng là nhìn mọi sự bằng ánh nhìn của Đức Kitô. Đôi mắt ấy mở ra dưới chân thập giá, nơi thất bại trở thành tình yêu; và trong ánh sáng phục sinh, nơi cái chết trở thành sự sống. Bởi lẽ, ‘mắt đổi – thế giới đổi’. Chỉ khi nhìn về Đức Kitô, đôi mắt chúng ta mới thật sự nhìn đúng mọi sự. Bởi lẽ, đôi mắt chỉ nhìn thấy điều trái tim biết khao khát. “Vẻ đẹp sẽ rực sáng trong trái tim người khao khát nó, hơn trong đôi mắt người nhìn thấy nó!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra Chúa giữa những điều bình thường, thấy tình yêu Ngài trong mọi biến cố, và bước đi bình an giữa những điều con chưa hiểu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

“Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?”- by Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

 “Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?” 

( Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

Cả một đời người, Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?. 

Lời giới thiệu

Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.

Cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó.”

TVG

Gần đây tôi đọc được một bài viết của một tác giả người Trung Quốc. Đọc xong, trong lòng cứ suy nghĩ mãi. Không phải vì câu chuyện quá buồn, mà bởi nó khiến mình nhận ra một điều rất giản dị: “Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.”

Có lẽ vì thế mà con người cứ mãi đi tìm hạnh phúc, nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hiểu điều đáng quý nhất thường nằm ở những điều rất bình thường.

Năm 3 tuổi, tôi nắm chặt cây kẹo mút trong tay và tin rằng đó là cả thế giới. Chỉ cần có cây kẹo ấy là tôi có thể vui cả ngày, chẳng cần nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

Năm 5 tuổi, tôi mất cả buổi chiều để đuổi theo một con chuồn chuồn. Khi bắt được nó, tôi vui sướng như vừa có được một kho báu. Đối với một đứa trẻ, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như vậy.

Năm 9 tuổi, tôi nằm dưới bóng cây, ngắm ánh nắng len qua từng k lá và tận hưởng một kỳ nghỉ hè bình yên. Khi ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần ngày nào cũng được rong chơi như thế thì cuộc sống đã quá đủ đầy.

Đến năm 13 tuổi, tôi bắt đầu tin rằng một tờ giấy báo trúng tuyển vào trường trung học tốt với hạng cao sẽ quyết định cả tương lai của mình. 

Năm 18 tuổi, tôi lại dốc hết sức lực chỉ để nhận được giấy báo được nhập học từ ngôi trường đại học mà tôi hằng mơ ước. Lúc ấy, tôi tưởng rằng chỉ cần bước chân vào cánh cổng đại học này là cuộc đời sẽ mở ra một trang mới rực rỡ. 

Rồi năm 23 tuổi, khi rời khỏi ghế nhà trường để bước vào xã hội, tôi mới hiểu kiếm được một công việc ổn định mới là điều quan trọng nhất. Những ước mơ tuổi trẻ dần nhường chỗ cho cơm áo gạo tiền, cho những hóa đơn phải thanh toán vào cuối tháng và những áp lực mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới. 

Năm 24 tuổi, trong ngày cưới của mình, nhìn người con gái sắp trở thành vợ, tôi chợt nhớ đến cô bạn năm 16 tuổi mà mình từng thầm yêu thương. Có chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng rồi tôi hiểu mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có người cần được trân trọng. Người đứng trước mặt tôi lúc ấy mới là người quan trọng nhất.

 Hai năm sau, khi đứng ngoài phòng bảo sinh và nghe tiếng khóc đầu tiên của con cất lên, tôi bỗng nhận ra trái tim mình từ nay đã có thêm một nơi để hướng về. Kể từ giây phút ấy, mọi cố gắng của tôi đều chỉ mong con có một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Năm 30 tuổi, những khoản vay mua nhà, mua xe khiến tôi cảm thấy tiền bạc là điều quan trọng nhất. Tôi lao vào công việc, miệt mài kiếm sống và luôn tự nhủ rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.

Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra con người dường như “không bao giờ thấy đủ.”  Có được điều này thì lại mong điều khác ngay. Đạt được mục tiêu này lại tiếp tục chạy theo mục tiêu khác. 

Người xưa từng nói: “Tri túc thường lạc,” nghĩa là “biết đủ thì vui.” Đáng tiếc là khi còn trẻ, rất ít người hiểu được ý nghĩa của bốn chữ ấy.

Năm 38 tuổi, người cha vốn nghiêm khắc và mạnh mẽ cả đời bỗng bắt đầu hỏi ý kiến tôi trước mỗi quyết định. Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra, cha mình đã già thật rồi. Người đàn ông từng dắt tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ giờ đây đã không còn khỏe mạnh như trước. 

Đến năm 45 tuổi, ngồi trong văn phòng với mái tóc lấm tấm bạc, tôi chợt nhớ đến những ước mơ của tuổi đôi mươi. Hóa ra, trên đường mưu sinh, tôi đã vô tình bỏ quên rất nhiều điều từng khiến trái tim mình rung động.

Năm 50 tuổi, nhìn con trai nắm tay người con gái nó yêu bước vào thánh đường, tôi mới hiểu hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ là được nhìn thấy con cái bình an và trưởng thành. Điều từng quan trọng nhất với tôi ngày nào, giờ đây đã trở thành hạnh phúc của con.

Năm 60 tuổi, tôi tiễn cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong khoảnh khắc ấy, những lời quở trách của cha, những tiếng cằn nhằn của mẹ mà trước đây tôi từng thấy phiền lòng lại trở thành ký ức quý giá nhất.

 Người xưa có câu: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.” Chỉ khi mất đi, con người mới hiểu có những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại là món quà vô giá.

 Năm 70 tuổi, người bạn đời của tôi cũng rời đi trước. Con cháu đều đã có cuộc sống riêng, căn nhà bỗng trở nên yên ắng hơn bao giờ hết. Mỗi lần nhìn những cặp vợ chồng già cùng nhau tản bộ, tôi lại nhớ đến bà nhà tôi. Hóa ra, thứ đáng quý nhất không phải là những gì mình sở hữu, mà là người vẫn còn có thể cùng mình đi hết quãng đường còn lại.

 Đến năm 75 tuổi, khi nằm trong bệnh viện và biết thời gian của mình không còn nhiều, tôi gọi điện cho cháu nội trai. Ban đầu tôi định nói thật nhiều điều, muốn dặn nó phải sống thế này, phải lựa chọn thế kia để sau này không hối tiếc. Nhưng khi cuộc gọi được kết nối, tất cả những lời chuẩn bị sẵn đều tan biến. Tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông nhớ con nhiều. Khi nào rảnh thì con về thăm ông nhé.

 Một năm sau, cháu trai trở về. Con trai, con dâu quỳ bên giường bệnh, nước mắt không ngừng rơi. Tôi cảm thấy mí mắt mình ngày càng nặng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy cha mẹ đang đứng trước mặt, vẫn trẻ như ngày nào, vẫn nở nụ cười hiền hậu quen thuộc. Họ dang rộng vòng tay đón tôi. Tôi chạy về phía họ và kỳ lạ thay, càng chạy tôi càng trở lại hình hài của một đứa trẻ ba tuổi. Tôi lại được cha mẹ ôm vào lòng như thuở bé.

 Trước khi rời đi, tôi ngoái đầu nhìn lại. Con trai, con dâu và đứa cháu nội trai vẫn ôm lấy thân xác già nua của tôi mà khóc. Tôi biết rồi nỗi đau ấy cũng sẽ dần nguôi ngoai, bởi vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục, giống như ngày xưa tôi đã từng tiếp tục sống sau khi tiễn cha mẹ mình.

 Đến lúc ấy, tôi mới hiểu rằng cả đời con người luôn đi tìm một điều quan trọng nhất. Nhưng thật ra, điều quan trọng nhất chưa bao giờ là một thứ cố định. Tuổi thơ có niềm vui của tuổi thơ, tuổi trẻ có khát vọng của tuổi trẻ, tuổi trung niên có những gánh vác riêng, còn tuổi già lại chỉ mong những người mình yêu thương vẫn còn ở bên cạnh.

 Có lẽ vì vậy mà người xưa luôn nhắc con cháu phải biết trân trọng hiện tại. Bởi điều hôm nay ta đang xem là bình thường, biết đâu ngày mai lại trở thành điều khiến ta nhớ nhất. Tiền bạc rồi cũng tiêu hết, danh vọng rồi cũng phai nhạt, chỉ có “tình thân, những điều tử tế đã trao đi và những ký ức đẹp đã cùng nhau tạo nên” mới thật sự ở lại trong lòng người khác.

Suy cho cùng, cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó. 

Có như vậy, khi ngoảnh đầu nhìn lại, chúng ta sẽ không phải tiếc nuối vì đã sống quá vội vàng mà quên mất những điều đáng quý nhất đang ở ngay bên cạnh mình.

Tú Uyên

From: NguyenNThu