TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy? 

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

 “Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

 Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

 Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

 Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

 Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

 Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy. 

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm. 

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

 Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

 Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

 Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

 Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

NHỮNG BÀI POST HAY.

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

  Những ai từng đi ngang qua Trường Đại học Luật – 123 Quốc lộ 13, P. Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, Tp.HCM – đều nhận thấy một điều kỳ lạ, đó chính là cây tháp chuông ở trên có Thánh Giá của Nhà thờ Fatima cũ vẫn án ngữ sừng sững ngay trước 3 tòa nhà của trường.

 Đằng sau lịch sử tháp chuông là một câu chuyện huyền bí khó lý giải.

Lịch sử Nhà Thờ Fatima, quận Thủ Đức

Nhà Thờ Fatima Bình Triệu là một nhà thờ Công giáo thuộc Tổng giáo phận Saigon, tọa lạc tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, gần cầu Bình Triệu.

 Đây là một trong những nơi hành hương kính Đức Mẹ đồng trinh Maria nên còn được gọi là “Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu”.

  Vào tháng 5/1962, phong trào quốc tế Tông đồ Fatima tổ chức cung nghinh tượng Đức Mẹ Fatima đi nhiều quốc gia trên thế giới. Nhân dịp tượng này được rước qua Việt Nam, Linh mục Phaolô Võ Văn Bộ – trưởng ban tổ chức cuộc rước đã mua một khu đất rộng 12,5 mẫu gần Quốc lộ 13 và ga Bình Triệu để tiến hành xây dựng một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ Fatima.

Nhà thờ Fatima Bình Triệu gắn liền với những câu chuyện kỳ bí.

   Trước khi đất nhà thờ được mua tại đây, có lần đoàn rước của giáo phận Sài Gòn kiệu Đức Mẹ Fatima từ Sài Gòn đến vùng Thủ Dầu Một đi ngang khu vực này. Bỗng dưng tất cả các xe của đoàn rước bị khựng lại, tắt máy, và làm thế nào cũng không đi tiếp được.

 Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng có mặt trong đoàn rước hôm đó, liền cầu xin và nguyện rằng: “Xin Đức Mẹ cho hành trình của chúng con được tiếp tục tốt đẹp, sau này chúng con sẽ thành lập một trung tâm sùng kính Đức Mẹ ở vùng này”. Thế rồi tất cả các xe lại nổ máy lên đường dễ dàng.

 Sau đó, một bức tượng tạc theo nguyên mẫu tượng Đức Mẹ Fatima bên Bồ Đào Nha đã được dựng tại khu đất này để giáo dân đến kính viếng.

 Ngày 15/8/1966, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm phép tượng đài và cử hành thánh lễ đầu tiên tại đây.

 Ngày 8/12/1966, nhà thờ được khởi công xây dựng ngay tại khu đất mang tước hiệu “Nhà thờ Chúa Kitô” với một tháp chuông cao 30 mét, bên trên là Thánh Giá.  Những năm tiếp theo, các công trình phụ trợ khác như nhà tĩnh tâm, nhà thủy tạ, nhà mục vụ, nhà nguyện, giảng đường, phòng ăn, nhà bếp,… cũng được xây dựng.

  Ngày 7/1/1973, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm chủ lễ khánh thành và cung hiến Thánh đường. Từ đó Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ làm giám đốc trung tâm.

   Phá dỡ Nhà thờ Fatima để xây trường Đại học luật

  Sau năm 1975, chính quyền thu hồi đất của Nhà thờ Fatima để trưng dụng xây trường Đại học luật. Nhà trường cho đập phá hết Nhà thờ và nhà xứ tại đây để tiến hành xây mới hoàn toàn.

  Tuy nhiên, riêng tháp chuông có Thánh Giá ở trên thì làm cách nào cũng không thể đập phá được. Trường sử dụng mọi phương tiện, nhưng cứ cho máy xúc, máy ủi vào múc và đập là bị tắt máy. Lần nào cũng vậy, máy cứ khởi động cần lên đập phá tháp chuông là đột ngột tắt, không thể hoạt động.  

  Rút cục, người ta đành phải để tháp chuông cao sừng sững đứng giữa trung tâm sân trường.

 Trong trường có một phòng phải xây bịt kín lại và để nguyên đó vì không thể sử dụng. Đây cũng là nơi đặt bàn làm Lễ  trong Nhà thờ Fatima trước đây. Trường đã nhiều lần cho máy vào đập phá bàn làm Lễ nhưng không cách nào đập được nên đành phải xây bịt kín lại.

  Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày nay, rất nhiều điều kỳ lạ đều đã có lời giải đáp mang tính logic cao. Tuy nhiên, dù cho khoa học phát triển xa đến cấp độ nào, vẫn còn rất nhiều sự kiện phi thường vượt quá tầm kiểm soát của con người và chưa thể có được câu trả lời thỏa đáng. Và niềm tin vào những điều huyền bí vẫn tiếp tục…

Sưu tầm


 

RA ĐI ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy ra đi thì có lợi cho anh em!”.

“Ngài rời khỏi mắt chúng ta để chúng ta trở về với lòng mình và gặp thấy Ngài ở đó!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc ra đi khiến người ta xa nhau mãi mãi; nhưng cũng có những cuộc ra đi làm cho một sự gần gũi trở nên sâu hơn trong lòng người. Lời Chúa hôm nay mở ra nghịch lý ấy: Chúa Giêsu ‘ra đi để ở lại’.

Trong Tin Mừng Gioan, cái “lợi” Chúa Giêsu nói đến chính là việc các môn đệ được nhận lấy Thánh Thần, Đấng Ngài gọi là Paraklētos – Đấng Bảo Trợ. Thuật ngữ Hy Lạp này không chỉ mang nghĩa “Đấng an ủi”, nhưng còn là “Đấng đứng bên cạnh”, “Đấng biện hộ”. Sự ra đi của Chúa Giêsu không trở thành vắng mặt, nhưng mở ra một sự hiện diện sâu xa hơn trước. Kitô giáo vì thế không sống bằng ký ức về một nhân vật vĩ đại của quá khứ. Nếu Chúa Giêsu chỉ “đã từng hiện diện”, Tin Mừng đã khép lại từ lâu. Chính Thánh Thần làm cho Ngài vẫn tiếp tục ở cùng và hoạt động giữa Hội Thánh.

Sự hiện diện ấy không phải một ý niệm trừu tượng. Từ ngục tối Philipphê, “vào quãng nửa đêm, Phaolô và Sila hát thánh ca cầu nguyện” – bài đọc một. Chỉ một Hội Thánh xác tín Chúa Phục Sinh vẫn đang ở cùng mình mới có thể hát giữa xiềng xích như thế. Và chính trong đêm tối ấy, Thánh Thần tiếp tục hoạt động: cửa ngục mở ra, viên cai ngục được biến đổi và cả gia đình ông đón nhận phép rửa. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh đáp ca trở thành kinh nghiệm sống động: “Lạy Chúa, Ngài ra tay uy quyền giải thoát con!”. Chúa Giêsu đã ra đi, nhưng Ngài vẫn tiếp tục đồng hành với dân thánh của Ngài – mãi cho đến ngày nay. “Đức Kitô không bao giờ vắng mặt khỏi Hội Thánh của Ngài!” – Henri de Lubac.

Ai trong chúng ta rồi cũng từng trải qua một sự vắng mặt như thế: một người mình yêu đã ra đi, một tương quan không còn như trước, những lúc cầu nguyện mà Thiên Chúa xem ra xa vắng. Nhưng cũng chính trong những khoảng trống ấy, con người nhiều khi lại khám phá một chiều sâu của tình yêu mà trước đây mình chưa từng nhận ra. Có những tình yêu chỉ thực sự ở lại khi người mình yêu không còn ở trước mắt. Chính trong những vắng mặt ấy, con người học lại cách yêu, cách nhớ và cách ở cùng nhau bằng chiều sâu của tâm hồn. Một cách khác của ‘ra đi để ở lại’. “Hai linh hồn chúng ta vốn là một; nên dẫu tôi phải ra đi, đó không phải là đổ vỡ, nhưng là một sự mở rộng!” – John Donne.

Anh Chị em,

Chính Đức Giêsu đã đi qua kinh nghiệm của một Đấng dường như bị bỏ lại một mình. Trên thập giá, Ngài không chỉ bị thế gian khước từ, nhưng còn bước vào bóng tối của cảm giác như bị Chúa Cha bỏ rơi. Thế nhưng, chính ở tận cùng của sự lạc lõng ấy, Ngài phó mình hoàn toàn cho Cha. Có lẽ đó là nghịch lý sâu nhất của mầu nhiệm Kitô giáo: càng “ra đi”, Ngài càng “ở lại” sâu hơn trong tình yêu của Cha và trong lòng nhân loại. Henri Nouwen từng viết, chính trong vắng mặt, con người học được thế nào là hiện diện!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con tuyệt vọng vì những vắng mặt; cho con biết rằng, có những hiện diện chỉ trở nên sâu hơn trong Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần VI Phục Sinh

Nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 16,5-11

5 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Bây giờ Thầy đến cùng Đấng đã sai Thầy, và không ai trong anh em hỏi : ‘Thầy đi đâu ?’ 6 Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nên lòng anh em tràn ngập ưu phiền. 7 Song, Thầy nói thật với anh em : Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. 8 Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử : 9 về tội lỗi : vì chúng không tin vào Thầy ; 10 về sự công chính : vì Thầy đến cùng Chúa Cha, và anh em không còn thấy Thầy nữa ; 11 về việc xét xử : vì Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi.”


 

Lễ Kính Đức Mẹ Fatima- Cha Vương

Hôm nay là ngày lễ Kính Đức Mẹ Fatima, xin Mẹ Fatima cầu cùng Chúa  cho những nơi đang bị chiến tranh tàn phá trên thế giới được chấp dứt để cho an bình toả lan khắp nơi trên hoàn cầu Amen 

Cha Vương

Thứ 2: 11/05/2026.  (n13-24)

TIN MỪNG: Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. (Khải Huyền 12:1)

SUY NIỆM: Nói đến Fatima mà thì ai, không ít thì nhiều, cũng nghe đến. Fátima là thành phố ở Bồ Đào Nha, thuộc khu tự quản Ourém, quận Santarém, phân vùng “Medio Tejo”, vùng Trung Bồ Đào Nha. Trước đây Fatima chỉ là 1 thôn nhỏ. Tên thôn phát sinh từ tiếng Ả Rập. Một truyền thuyết kể rằng 1 công chúa người Hồi giáo tên là Fátima (nghĩa là một người tỏa sáng), đã trở lại đạo Công giáo khi kết hôn với bá tước Ourém năm 1158, trong thời kỳ lực lượng Kitô giáo chiếm xứ này. Fátima là nơi hành hương lớn thứ tư của người Công giáo khắp thế giới (sau Đức Mẹ Guadalupe ở México, Thành Vatican và Đức Mẹ Lộ Đức (Pháp). Hàng năm có khoảng trên 4-5 triệu lượt người đã tới thăm Fatima. Bồ Đào Nha cũng là nơi mà thánh Giacôbê Tông đồ đã từng băng ngang để đến truyền giáo tại Tây-ban-nha vào khoảng 2000 năm trước. Tại Fatima, Đức Mẹ đã truyền dạy ba mệnh lệnh: 

1) Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống;

 2) Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ;

 3) Lần hạt Mân Côi mỗi ngày để cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại và cho nền hòa bình trên thế giới.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ xin cho con biết nghe và làm theo những mệnh lệnh Mẹ nhắn nhủ để được hạnh phúc bên con Mẹ luôn mãi.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! “là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mátthêu 7:21

THỰC HÀNH: Hãy làm một việc hy sinh hôm nay. Trước khi làm hãy đọc lời kinh sau đây. Đây là lời mà ba em trẻ đã nhận từ Mẹ vào ngày 13 tháng 6 năm 1917 tại Fatima. “Lạy Chúa Giê-su, con xin làm việc hy sinh này vì lòng mến Chúa, và để đền đáp tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ và để các tội nhân được hoán cải.” (Kinh Hy Sinh)

From: Do Dzung

*********************************

Lạy Mẹ Fatima – Nguyện Xin Mẹ Fatima – Nguyễn Hồng Ân

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Xuyên Sơn

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Cuộc sống không phải là chiến trường, nên không cần phải phân định thắng thua.

Giữa người với người, nếu cảm thông tăng lên thì hiểu lầm sẽ giảm xuống.

Giữa việc với việc, nếu nhường nhịn tăng lên thì đấu tranh sẽ giảm xuống.

Có một số việc cần phải nhẫncó một số người cần phải nhường, không thể tranh giành thấp cao!

Đừng bao giờ dùng ánh mắt và sự hiểu biết của mình đi bình luận chuyện đúng – sai của người khác.

Cũng không nhất thiết phải cầu xin sự tán đồng và thấu hiểu của ai cả, vì mỗi người đều có quan điểm và cá tính riêng.

Chúng ta thường quá xem trọng bản thân mới có chuyện lo buồn về được – mất,

rồi cho rằng người khác không hiểu mình.

Cho nên nói: càng mở lòng ra thì niềm vui càng lớn, bao dung càng rộng sẽ nhận được càng nhiều!

Đừng bàn luận chuyện sau lưng người khác, cũng không cần quá để tâm đến những lời đồn thổi về mình.

Vì một người vô dụng thì không có gì để nói, càng xuất sắc sẽ càng bị để ý và bình phẩm.

Miệng lưỡi người khác chúng ta không thể khống chế được, việc dễ dàng nhất là giữ cho mình một tấm lòng nhẹ nhõm, rồi bước qua những rối rắm cuộc đời…

Nguồn:

Trích sách THẢ TRÔI PHIỀN MUỘN của Ni Sư SUỐI THÔNG

(st)


 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

  Đình Phùng 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

 Từ Joseph Phạm Nguyên

Bạn sẽ làm gì khi đối mặt với 6 tên cướp có vũ khí để bảo vệ những người không cùng máu mủ? Với Anthony Omari, câu trả lời nằm ở vết sẹo dài vĩnh viễn trên khuôn mặt anh.

Đêm kinh hoàng tại trại trẻ Faraja (Kenya)

Khi đang ngủ say, chàng thanh niên 24 tuổi bỗng choàng tỉnh bởi tiếng động lạ. Trước mắt anh là 6 tên trộm hung hãn đã đột nhập vào mái ấm – nơi anh và mẹ đang cưu mang 37 đứa trẻ tội nghiệp.

Không một chút do dự, Omari vồ lấy chiếc búa dưới gầm giường, một mình lao vào chống trả quyết liệt để đuổi lũ thủ ác ra ngoài. Nhưng bi kịch xảy ra khi anh vừa quay lưng để dỗ dành những đứa trẻ đang hoảng loạn:

Một tên cướp lẻn lại, vung dao rựa chém thẳng vào mặt Omari.

Dù máu chảy đầm đìa và đau đớn tột cùng, anh vẫn dùng chút sức tàn cuối cùng để khóa chặt cánh cửa, ngăn không cho lũ cướp quay lại xâm hại bọn trẻ trước khi ngã gục.

Sức mạnh của lòng nhân ái: Khi thế giới cùng lên tiếng

Vết chém khiến Omari phải khâu 11 mũi và để lại vết sẹo rùng rợn. Thế nhưng, câu chuyện của anh đã chạm đến trái tim hàng triệu người khi được chia sẻ trên Reddit:

80.000 USD (gần 2 tỷ VNĐ) được quyên góp chỉ trong vài ngày.

3.600 nhà hảo tâm từ 46 quốc gia đã chung tay hành động.

Kết quả: Một hàng rào kiên cố được dựng lên, các em nhỏ lần đầu được ngủ trên giường ấm nệm êm thay vì sàn nhà lạnh lẽo.

Cái kết đẹp cho một “Thiên thần hộ mệnh”

Nhiều năm trôi qua, “người hùng có vết sẹo” năm nào giờ đã là một Kỹ sư dân dụng thành đạt với công ty xây dựng riêng. Dù bận rộn, anh vẫn luôn quay về thăm “gia đình lớn” tại Faraja – nơi anh đã từng suýt hy sinh mạng sống để bảo vệ.

Bài học rút ra: Lòng can đảm không phải là không biết sợ hãi, mà là khi bạn biết có thứ gì đó quan trọng hơn cả bản thân mình cần được bảo vệ.

Hãy chia sẻ câu chuyện truyền cảm hứng này nếu bạn thấy cảm phục hành động của Anthony Omari!

#AnthonyOmari #Hero #InspiringStory #LòngTốt #CâuChuyệnCảmĐộng #Kenya #FarajaOrphanage


 

CHẾT TRƯỚC TỬ ĐẠO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường!”.

“Khi Đức Kitô gọi một người, Ngài mời người ấy đến để chết!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy người tử đạo không chết khi máu đổ, nhưng từ lúc chấp nhận đứng về phía Chúa Kitô dù phải bị loại trừ. Khởi đầu của một cái chết âm thầm hơn – ‘chết trước tử đạo!’.

Trong Tin Mừng Gioan, bị “khai trừ khỏi hội đường” không chỉ là mất một nơi cầu nguyện, nhưng là bị lấy đi một bầu khí quyển để hít thở và thuộc về – koinōnia. Người môn đệ không chỉ mất một chỗ ngồi trong hội đường, nhưng còn mất cả ‘oxy của sự công nhận’. Chúa Giêsu không báo trước cho họ một cuộc bách hại máu đổ hay ngục tù, nhưng là một cuộc tước bỏ âm thầm và dai dẳng hơn: bị đẩy ra bên lề vì danh Ngài. Chính ở đó, người môn đệ bắt đầu bước vào điều mà Kitô giáo về sau gọi là tử đạo – một chứng tá phải trả giá bằng đời mình. Origen hiểu tử đạo không chỉ hệ tại ở việc đổ máu, nhưng còn ở đời sống không ngừng thuộc trọn về Chúa Kitô.

Thật vậy, thuật ngữ “tử đạo” trong Kitô giáo bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp martyria – “làm chứng”. Ban đầu, nó không mang nghĩa cái chết, nhưng là một chứng tá sống động về Đức Kitô. Chỉ về sau, khi các Kitô hữu sẵn sàng trả giá bằng chính mạng sống mình, “chứng nhân” mới trở thành “người tử đạo”. Vì thế, điều Chúa Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ không đơn thuần là sức chịu đựng trước khổ đau, nhưng là khả năng không chối bỏ sự thật ngay cả khi điều đó khiến họ không còn thuộc về đâu nữa. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với một điều gì đó quá nhỏ bé!” – Thomas Merton.

Có lẽ vì thế, nỗi sợ lớn nhất của con người chưa bao giờ là đau khổ, nhưng là bị loại trừ. Người ta có thể chấp nhận mất nhiều thứ, miễn vẫn còn biết mình thuộc về một ai đó, một cộng đoàn nào đó. Thế nhưng, theo Chúa Giêsu, sẽ có lúc người môn đệ phải chọn giữa việc được thuộc về thế gian và việc thuộc về sự thật. Và đó là nơi cuộc tử đạo âm thầm nhất bắt đầu: không còn sống để được chấp nhận, nhưng để làm chứng. Đó là cuộc hành hình êm ái đối với cái tôi luôn muốn được thế gian công nhận. Đó cũng là lúc con người bắt đầu ‘chết trước tử đạo’. “Chỉ tình yêu mới đáng tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã trải qua sự “bị khai trừ” sâu xa nhất. Trước khi chịu đóng đinh, Ngài đã chấp nhận bị khước từ bởi dân mình, bị bỏ rơi bởi các môn đệ và bị kết án như kẻ lạc đạo. Thập giá là đỉnh cao của sự vô gia cư! Chính trong sự bị loại trừ ấy, Ngài không ngừng làm chứng rằng Ngài ở trong Chúa Cha. Có lẽ đó là điều sâu nhất của tử đạo Kitô giáo: không phải chết vì đau khổ, nhưng vì đã chọn thuộc về Đấng mình yêu hơn tất cả, Đấng đã yêu mình vô cùng. “Thà tôi chết trong Đức Kitô Giêsu còn hơn thống trị tận cùng trái đất!” – Ignatiô Antiôkia.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không sống để được thế gian chấp nhận; không sống để được đám đông tung hô; nhưng sống để thuộc về Ngài và cho Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VI Phục Sinh

Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,26 – 16,4a

15 26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.

16 1 “Thầy đã nói với anh em các điều ấy, để anh em khỏi bị vấp ngã. 2 Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. 3 Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy. 4a Nhưng Thầy đã nói với anh em những điều ấy, để khi đến giờ họ hành động, anh em nhớ lại là Thầy đã nói với anh em rồi.”


 

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức.

My Lan Pham

Vào tháng 7 năm 1942, lực lượng SS đã sẵn sàng “thanh lý” khu ổ chuột Do Thái. Những chiếc xe tải đang chờ để chở đàn ông, phụ nữ và trẻ em đến các trại tử thần. Nhưng họ gặp phải một chướng ngại mà không bao giờ ngờ tới: một luật sư quân đội 51 tuổi tên là Albert Battel.

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức. Ông không phải kẻ nổi loạn hay một thanh niên bốc đồng. Ông là một người đàn ông trung niên từng hành nghề luật sư trước chiến tranh. Nhưng khi nhìn thấy đoàn xe SS lao về phía cây cầu bắc qua sông San , lối duy nhất dẫn vào khu ổ chuột ông quyết định rằng mình đã chứng kiến quá đủ.

Battel ra lệnh hạ thanh chắn cây cầu xuống. Khi viên chỉ huy SS dừng xe lại và yêu cầu được đi qua, Battel không hề nao núng. Ông nói rằng họ không được phép vào.

Viên sĩ quan SS chết lặng. Hắn đe dọa Battel sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng, nhưng Battel vẫn không lùi bước. Thay vào đó, ông đánh một quân bài có thể khiến mình bị xử bắn ngay tại chỗ. Ông quay sang binh lính của mình và đưa ra một mệnh lệnh lạnh người.

“Nếu chúng cố vượt qua cây cầu này, hãy nổ súng,” ông nói với các xạ thủ súng máy.

Đó là khoảnh khắc im lặng hoàn toàn và đầy kinh hoàng. Những người lính Đức giờ đây đang chĩa súng thẳng vào cảnh sát Đức. Viên chỉ huy SS nhận ra Battel hoàn toàn nghiêm túc nên cuối cùng đã chùn bước. Hắn ra lệnh cho đoàn xe quay đầu rời đi.

Nhưng Battel biết thời gian không còn nhiều. SS sẽ quay lại với thêm quân và mệnh lệnh cứng rắn hơn. Ông không lãng phí dù chỉ một giây. Ông đưa xe quân đội của mình chạy thẳng vào khu ổ chuột Do Thái.

Ông không đến đó để bắt người. Ông đến để cứu họ. Ông gõ cửa từng nhà và bảo những gia đình đang hoảng loạn hãy mang theo bất cứ thứ gì có thể. Dựa vào một kẽ hở đầy khôn khéo, ông tuyên bố những người này là “lao động thiết yếu” cho nỗ lực chiến tranh.

“Lên xe ngay! Nhanh lên!” ông thúc giục họ. Ông đã đưa được gần 100 gia đình lên xe. Sau đó ông chở họ ra khỏi khu ổ chuột và giấu họ trong doanh trại quân đội địa phương dưới sự bảo vệ của quân đội.

Tin tức về hành động chống đối này truyền thẳng đến cấp cao nhất. Heinrich Himmler, kẻ đứng đầu SS, vô cùng tức giận. Hắn đích thân xem xét vụ việc và ghi một dòng đen tối vào hồ sơ của Battel. Hắn hứa rằng ngay khi chiến tranh kết thúc, Battel sẽ bị bắt, bị khai trừ khỏi đảng và “xử lý thích đáng”.

Sau đó Battel bị buộc rời quân ngũ vì vấn đề tim mạch. Khi chiến tranh kết thúc, ông sống một cuộc đời lặng lẽ và bị lãng quên ở Tây Đức rồi qua đời năm 1952. Ông chưa bao giờ khoe khoang. Ông không viết sách. Ông chỉ quay lại làm luật sư.

Nhưng những gia đình mà ông cứu sống thì không bao giờ quên. Năm 1981, ông được Yad Vashem truy tặng danh hiệu Yad Vashem “Righteous Among the Nations” “Người công chính giữa các dân tộc”.

Trong một thế giới chìm trong bóng tối hoàn toàn, lương tâm chính là ánh sáng duy nhất còn lại. Chúng ta thường nói “Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh” để biện minh cho sự im lặng của mình, nhưng Albert Battel đã chứng minh rằng ngay cả trong một hệ thống được xây dựng trên nỗi sợ hãi, con người vẫn luôn có quyền lựa chọn.

Làm điều đúng đắn hiếm khi dễ dàng, và thường rất nguy hiểm, nhưng đó cũng là điều duy nhất giữ cho chúng ta còn là con người. 


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa)