YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Con Tin Chúa Ơi

YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Sr. Jovy Cendana, một nữ tu thuộc Dòng Truyền giáo Chúa Thánh Thần, đã bước vào đời sống thánh hiến cách đây 38 năm. Trước đó, chị từng là một cô gái trẻ có công việc, có người yêu và có một tình yêu rất đẹp. Nhưng ngay giữa mối tình ấy, chị lại cảm nhận được tiếng Chúa mời gọi bước vào đời sống thánh hiến.

Khi chị chia sẻ điều đó với người yêu, anh không trách móc, cũng không níu kéo. Anh cho chị thời gian phân định, thậm chí còn đưa chị đến tu viện và xách hành lý giúp chị. Trước lúc chia tay, anh hứa sẽ chờ chị một năm.

Đúng một năm sau, anh đến thăm chị tại nhà tập và hỏi quyết định cuối cùng. Nhìn thấy chị bình an trong đời tu, anh nói: “Anh biết em hạnh phúc ở nơi này. Em hãy ở lại. Ở đây tốt hơn là đi một nơi nào khác. Anh sẽ không làm phiền em nữa. Nhưng nếu một ngày em rời tu viện, anh vẫn ở đây chờ em. Anh yêu em rất nhiều.”

Từ ngày ấy, họ không gặp lại nhau nữa. Sau khi chị khấn trọn đời trong ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, anh cũng lập gia đình và gửi lời chúc mừng chị qua một người bạn chung.

Gần bốn thập kỷ trôi qua, Sr. Jovy vẫn cầu nguyện cho anh và tạ ơn Chúa vì sự cao thượng của anh. Chị nhận ra tình yêu chân thật nơi anh không nằm ở việc giữ chị cho riêng mình, mà là sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng để chị được tự do đáp lại tiếng Chúa.

Câu chuyện ấy nhắc chúng ta rằng: tình yêu thật không chiếm hữu, nhưng biết dẫn người mình yêu đến gần Thiên Chúa hơn. Và với những ai được mời gọi sống đời thánh hiến, đó không phải là vì họ khước từ tình yêu con người, nhưng vì họ được mời bước vào một tình yêu lớn hơn — tình yêu dành trọn cho Chúa và Hội Thánh.


 

Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Vùng Matabele ở miền nam Zimbabwe là một miền đất khô cằn, đầy gió và im lặng. Nơi đây từng chìm trong tuyệt vọng khi đại dịch HIV/AIDS đạt đến đỉnh điểm tại châu Phi. Nhưng giữa bóng tối ấy, một tia hy vọng đã được khơi lên nhờ trái tim đầy lòng trắc ẩn của nữ tu Ludbirga Schumacher. Chính chị đã thành lập Trung tâm Sketimpilo, mở ra con đường hy vọng cho biết bao người nghèo khổ và bị bỏ rơi.

—–

Trung tâm Sketimpilo, do các Nữ tu Thừa sai Máu Châu Báu điều hành dưới sự quản lý của nữ tu Felistar Dube, CPS, đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng được tái sinh. “Sketimpilo” có nghĩa là “hãy chọn sự sống” – và đó cũng là tinh thần được sống mỗi ngày tại nơi đây.

Trung tâm được thành lập năm 1998 bởi nữ tu Ludbirga Schumacher, người Đức, trong giai đoạn đen tối nhất của Zimbabwe khi HIV/AIDS tàn phá đất nước, để lại phía sau biết bao trẻ mồ côi, người bệnh tật, bị loại trừ và gạt ra bên lề xã hội. Khi ấy, sự kỳ thị còn mạnh hơn lòng cảm thương, và nhiều người đã hoàn toàn mất hy vọng.

Một gốc cây khô lại đâm chồi

Nữ tu Ludbirga nhận ra nhu cầu cấp thiết phải nâng đỡ những trẻ em và người lớn nghèo khổ, dễ bị tổn thương, đang nhiễm bệnh hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Chị quy tụ các nhóm thiện nguyện, đào tạo những người chăm sóc cộng đồng, tổ chức các chuyến thăm viếng tại gia đình và dần khôi phục phẩm giá cho những người từng bị đánh mất giá trị của mình. Chị luôn nhắc nhở họ rằng, dù bị kỳ thị và xa lánh, cuộc đời họ vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Niềm hy vọng dần được hồi sinh. Hình ảnh một gốc cây khô mọc lên những chồi non trở thành biểu tượng của dự án – dấu chỉ rằng ngay giữa đổ vỡ và đau khổ, sự sống vẫn có thể nảy mầm. Hơn hai thập niên sau, nữ tu Felistar vẫn tiếp tục sứ mạng ấy với cùng một lòng can đảm.

Trung tâm của sự phát triển

Sketimpilo không tách trẻ em khỏi cộng đồng của các em, nhưng đem sự trợ giúp đến tận gia đình của những người dễ bị tổn thương. Nhờ sự hỗ trợ của các ân nhân, đặc biệt từ Đức và Tây Ban Nha, trung tâm hiện đóng học phí cho gần 120 trẻ em, hỗ trợ tâm lý và giúp các em không cảm thấy bị bỏ rơi trong đau khổ.

Những hoa trái đã dần xuất hiện. Hai em từng được trung tâm hỗ trợ hiện đã vào đại học – một em học ngành công tác xã hội, em còn lại học ngành phát triển cộng đồng – và nay chính các em quay trở về để phục vụ nơi từng nâng đỡ mình.

Những kỹ năng làm thay đổi cộng đồng

Một trong những sáng kiến nổi bật nhất của trung tâm là chương trình đào tạo kỹ năng thực hành. Mỗi năm, khoảng 60 bạn trẻ được đào tạo về may mặc, nông nghiệp, điện dân dụng, xây dựng và làm bánh.

Những người học xây dựng giúp dựng nhà cho các gia đình khó khăn, còn các học viên ngành điện lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho trường học và nhà dân ở vùng quê.

Một số học viên tốt nghiệp từ Sketimpilo hiện đang làm việc cho các công ty lớn trong nước, kể cả ngành điện lực Zimbabwe, qua đó xây dựng tương lai cho chính họ và cộng đồng của mình.

Đức tin và sự kiên trì

Điều hành một sứ mạng như thế giữa vùng đất đầy khó khăn kinh tế không phải điều dễ dàng. Nguồn nước khan hiếm, tài trợ luôn bấp bênh, và các gia đình đông con chỉ có thể sống tạm nhờ phần lương thực ít ỏi trung tâm phân phát mỗi tháng.

Tuy nhiên, giữa muôn vàn thử thách ấy, nữ tu Felistar vẫn nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động.

“Có những lúc chúng tôi nghĩ mình không thể tiếp tục nữa: không lương, không tiền, không có cả thực phẩm để phân phát,” chị chia sẻ. “Nhưng lời cầu nguyện giúp chúng tôi đứng vững, và niềm tín thác vào Thiên Chúa giúp chúng tôi tiếp tục bước đi.”

Niềm xác tín của chị thật đơn sơ nhưng sâu sắc: Thiên Chúa luôn mở đường cho những ai biết chọn sự sống.

Một nơi âm thầm nhưng tạo ảnh hưởng lớn

Do tình hình kinh tế khó khăn tại Zimbabwe và nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, các nữ tu cố gắng giúp người dân tự lập bằng cách trao cho họ kỹ năng và cơ hội việc làm.

Để duy trì các hoạt động bác ái, Sketimpilo hiện có một số phòng lưu trú, một hội trường nhỏ và dịch vụ nấu ăn. Nguồn thu từ đó được dùng để trả lương nhân viên và duy trì hoạt động của trung tâm.

Dẫu vậy, nhiều khó khăn vẫn còn đó. Các tòa nhà đã cũ kỹ, nhiều nơi được xây từ những ngày đầu năm 1998 và cần được sửa chữa. Chung quanh trung tâm cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở hiện đại hơn, nhưng nhiều người vẫn chọn Sketimpilo bởi sự bình an, tinh thần phục vụ và lòng hiếu khách nơi đây.

“Nhiều người biết rằng đây là nơi của sự chăm sóc,” nữ tu Felistar nói, “và họ đến vì họ cảm thấy an toàn.”

Luôn sống với một mục đích

Hiện nay, nữ tu Felistar là nữ tu duy nhất phục vụ toàn thời gian tại trung tâm. Dù cộng đoàn nhỏ bé, chị vẫn mang trong mình một quyết tâm lớn lao. Chị hy vọng một ngày nào đó Sketimpilo sẽ phát triển thành một trung tâm đào tạo nghề – điều mà giới trẻ trong vùng đang rất cần.

“Chúng tôi cùng nhau làm việc như những nữ tu và những người được phục vụ; tất cả đều là của lễ dâng lên Thiên Chúa,” chị nói trong tâm tình biết ơn. “Tôi cảm ơn các gia đình mà chúng tôi đang hỗ trợ – ngay cả những điều nhỏ bé chúng tôi trao tặng, quý vị luôn trân trọng. Chính lòng biết ơn ấy tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi. Và với các ân nhân, chúng tôi không thể đứng vững nếu thiếu quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho quý vị.”

Công việc của Sketimpilo hiện được nâng đỡ nhờ sự quảng đại của các đối tác như German Friends và Manus Unitas. Nhờ đó, các nữ tu CPS tiếp tục mang đến sự sống, giáo dục và phẩm giá cho những người dễ bị tổn thương nhất.

Nữ tu Christine Masivo, CPS

Nguồn: Vatican News 


 

Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày Sinh Nhật của Giáo Hội. Thánh Gioan Maria Vianê nói: “Người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ cảm nghiệm mọi thứ vui sướng trong mình. Thánh Thần dẫn chúng ta giống như một người mẹ dẫn dắt đứa con nhỏ, hoặc giống như một người sáng dẫn một người mù. Những người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ thấy việc cầu nguyện đầy hoan lạc đến nỗi họ không thấy có đủ giờ để cầu nguyện.” Để chuẩn bị tâm hồn và sống trong CTT, mời bạn cùng mình suy niệm 12 hoa quả của CTT để cảm nghiệm được niềm hoan lạc vui sướng vì được Chúa hướng dẫn trong đời nhé. Cầu nguyện cho nhau về thể giới nhé

Cha Vương

Thư 3: 19/05/2026.   (n23-23)

TIN MỪNG: Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gl 5:22-23)

HOA QUẢ THỨ 1: Bác ái—Là nhân đức dạy ta biết yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô. Bác ái gắn liền với những hành động cụ thể và thật sự phát xuất từ tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.

SUY NIỆM: Trong xã hội lạnh cảm đa dạng ngày nay có những nơi con người đang bị bỏ rơi, bị đối xử còn tệ hơn những con thú trong nhà. Dù con người có ác tâm đến đâu, bạn vẫn còn thấy chữ “nhân” được in trên những mảnh đời bất hạnh. Hơn bao giờ hết đây là lúc mà người Ki-tô hữu phải sống đúng với lời Thánh Gio-an tông đồ đã nhắc nhở: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng hãy yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3:18). Những lời này đã được thánh tông đồ diễn tả bằng một mệnh lệnh mà không một người Kitô hữu nào có thể tránh né. Đã đến lúc phải loại bỏ đi lối sống giả tạo với những lời nói trống rỗng huênh hoang qua môi miệng, và dấn thân hơn nữa vào những hành động cụ thể mà bạn được mời gọi thực hành, vì tình yêu không chấp nhận viện cớ thoái thác giả tạo.

LẮNG NGHE: Tôi xin nói điều này: gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều. (2 Cr 9:6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thánh Thần, đừng để tim con thắt lại trước những đau khổ của người khác nhưng hãy mở rộng tim con để con biết sống yêu thương và chia sẻ.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái nhỏ với một con tim yêu thương hôm nay.

From: Do Dzung

*************************************************

THÁNH THẦN XIN HÃY ĐẾN. Sáng Tác: Lm. Thành Tâm .Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Diệu Hiền.

  73, ai bảo đã già?

Nguoi-Viet

   73, ai bảo đã già?

Ở tuổi 73, hầu như mọi người đều đã tận hưởng những năm tháng nghỉ hưu. Nhưng với bà Dawn Zuidgeest-Craft thì không như vậy. Mùa hè này, bà sẽ bắt đầu chương trình nội trú tại các cơ sở y tế ở vùng Tây Michigan sau khi hoàn thành chương trình trường y, và theo đó, trở thành sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới từ trước đến nay.

“Tôi đang phá vỡ mọi kỷ lục,” bà Zuidgeest-Craft chia sẻ với đài địa phương 13 ABC NewsNow hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm. “Tôi sẽ là sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới, theo những gì chúng tôi có thể tìm hiểu được.”

Đến Tháng Bản này, khi chính thức bắt đầu công việc của một bác sĩ nội trú, bà sẽ bước sang tuổi 73. Nhưng với bà, điều đó hoàn toàn không phải là rào cản. “Có những người không sinh ra để nghỉ hưu, đó không phải là một phần của họ,” bà nói với đài 13 ABC NewsNow. “Và đó chắc chắn là tôi.”

Theo cuộc phỏng vấn, bà Dawn Zuidgeest-Craft không phải là người xa lạ với ngành y. Bà đã dành phần lớn cuộc đời mình trong lĩnh vực này, làm y tá chuyên khoa sơ sinh tại các đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU) ở vùng Tây Michigan trong nhiều thập niên. Sau khi hoàn thành chương trình y tá thực hành sơ sinh, bà bắt đầu làm việc tại vệnh viện Blodgett ở Grand Rapids từ năm 1982.

Nhưng ước mơ trở thành bác sĩ chưa bao giờ tắt trong người phụ nữ này, và cả với người chồng của bà. Vì vậy, ở tuổi 69, bà quyết định thực hiện điều đó. Bà ghi danh nhập học tại một trường y ở vùng Caribe như một phần trong danh sách những điều cần làm trước khi chết của cả hai vợ chồng.

“Đó là một hòn đảo tên Anguilla, nằm đối diện với St. Martin,” bà kể lại. “Cảnh đẹp tuyệt vời. Tôi đã làm bạn với những con cá. Thật tuyệt. Tôi phải vượt qua cùng kỳ thi USMLE, phải hoàn thành cùng số giờ học và cùng số lượng nghiên cứu như tất cả những sinh viên khác.”

Sau giai đoạn học lý thuyết, bà thực hiện các ca lâm sàng tại Chicago, West Virginia, New York và Nam Texas. Dù nhiều người đã gọi bà là “điên rồ”, bà Zuidgeest-Craft không hề nản lòng. Bà cho biết mình muốn dùng tấm bằng y khoa để hành nghề và mang những trải nghiệm, sự khôn ngoan của mình vào công việc chăm sóc bệnh nhân.

“Với tôi, được chăm sóc người khác về mặt y tế là một đặc quyền,” bà chia sẻ. “Nhiều bệnh nhân của tôi sẽ ở độ tuổi xấp xỉ tôi, lớn hơn hoặc nhỏ hơn một chút.”

Bà Zuidgeest-Craft có bốn người con, trong đó có cô Ginger Zee, nhà khí tượng học trưởng đầu tiên là nữ giới tại một mạng truyền hình lớn của Mỹ, hiện đang công tác tại đài ABC.  Tài năng cũng như tinh thần không đầu hàng rõ ràng là di sản chảy trong huyết mạch của cả gia đình.

Trong một đoạn video nhắn gửi đến mẹ mà đài 13 ABC NewsNow thu thập được, cô Ginger Zee đã không giấu được xúc động: “Điều quan trọng nhất mà con muốn mẹ biết là con đã được truyền cảm hứng suốt cả cuộc đời, không chỉ từ những gì mẹ đang làm bây giờ, mà từ chính con người của mẹ mỗi ngày, và tất nhiên cả việc mẹ vẫn theo đuổi ước mơ ở độ tuổi này. Con biết tuổi tác đang là tâm điểm chú ý, và có lẽ mẹ không muốn điều đó, nhưng thật sự rất tuyệt vời khi được chứng kiến. Con hy vọng mọi người đều học được điều gì đó từ câu chuyện này. Điều mà mẹ đã dạy con là không bao giờ được nói ‘không thể’. Đừng để ai nói với bạn rằng điều đó là không thể, vì nó hoàn toàn có thể, và Dawn sẽ làm được. Con hứa đấy. Con yêu mẹ.”

Câu chuyện của bà Dawn Zuidgeest-Craft không chỉ là kỳ tích cá nhân, mà còn là lời nhắc nhở đầy sức mạnh rằng không có giới hạn nào là tuyệt đối. Nếu bạn còn đam mê và quyết tâm, thì chưa bao giờ là quá muộn.

https://www.nguoi-viet.com/…/cu-ba-73-tuoi-sinh-vien…/ 


 

Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI – Dược sĩ Thoa 

Dược sĩ Thoa 

 Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Có một giai đoạn trong đời, con người ta bắt đầu sống chậm lại…

Và tự hỏi:

“Mình sống đến giờ để làm gì?”

Hồi trẻ, đa số chúng ta thường chỉ nghĩ:

  • làm sao kiếm được nhiều tiền hơn
  • mua được nhà
  • lo cho con cái
  • có cuộc sống ổn định

Ngày nào cũng quay cuồng với cơm áo gạo tiền.

Sáng mở mắt lo công việc.

Tối mệt quá ngủ thiếp đi.

Rồi tháng này qua tháng khác.

Cho đến một ngày:

Cơ thể bắt đầu đau.

Ngủ không ngon.

Huyết áp tăng.

Đường huyết tăng.

Mỡ máu cao.

Bạn bè bắt đầu có người nằm viện.

Có người đột quỵ.

Có người ung thư.

Có người vừa mới còn nói chuyện hôm trước… hôm sau đã không còn nữa.

Lúc đó con người mới giật mình:

Hóa ra cuộc đời không dài như mình nghĩ.

Và cũng từ đó, nhiều cô chú anh chị bắt đầu nhận ra:

Sống không chỉ là tồn tại.

Nếu chỉ sống để ăn, để kiếm tiền rồi cuối cùng kiệt sức, bệnh tật, gia đình căng thẳng…

Thì nhiều khi đến cuối đời vẫn thấy trống rỗng.

Dược sĩ Thoa gặp nhiều người rất giàu.

Nhà đẹp.

Xe đẹp.

Ra ngoài ai cũng nể.

Nhưng đêm về mất ngủ nhiều năm.

Ăn uống kiêng đủ thứ.

Tinh thần lúc nào cũng áp lực.

Con cái xa cách.

Gia đình không hạnh phúc.

Nhưng cũng có những cô chú:

Sống rất giản dị thôi.

Không quá giàu.

Nhưng khỏe mạnh.

Ngủ ngon.

Gia đình yên ấm.

Con cái hiếu thảo.

Ra đường ai cũng quý.

Đến lúc đó mới hiểu:

Một đời người thành công không phải chỉ đo bằng tiền.

Mà còn đo bằng:

  • mình sống có bình an không
  • khỏe mạnh không
  • người thương không
  • có ai nhớ tới mình bằng sự tử tế không

Có người cả đời chỉ chăm chăm kiếm tiền…

Nhưng quên mất cha mẹ đang già đi từng ngày.

Đến lúc cha mẹ bệnh mới hối hận:

“Ngày xưa giá như mình dành thời gian nhiều hơn.”

Có người trẻ khỏe không chịu chăm cơ thể.

Thức khuya.

Ăn uống thất thường.

Stress kéo dài.

Cho rằng sức khỏe là chuyện của tương lai.

Đến khi bệnh rồi mới bắt đầu cuống cuồng tìm mọi cách chữa trị.

Cho nên càng lớn Dược sĩ Thoa càng thấy:

Ý nghĩa thật sự của một đời người…

Có lẽ không phải là mình sở hữu bao nhiêu.

Mà là:

Mình đã sống thế nào.

Mình có tử tế với cha mẹ không.

Có chăm lo cho sức khỏe không.

Có sống đàng hoàng với gia đình không.

Có để lại điều gì tốt đẹp cho con cái không.

Nhiều cha mẹ cứ hỏi:

“Để lại gì cho con mới là quý?”

Thật ra thứ con cái nhìn nhiều nhất không phải tài sản…

Mà là cách cha mẹ sống.

Nếu cha mẹ:

  • sống tử tế
  • biết yêu thương
  • biết cố gắng
  • biết vượt khó
  • biết giữ sức khỏe
  • biết đối nhân xử thế

…thì đó đã là món tài sản rất lớn cho con rồi.

Vì trẻ con không học bằng tai.

Mà học bằng mắt.

Cuộc đời cuối cùng rồi ai cũng già đi.

Tiền nhiều tới đâu cũng không mang theo được.

Nhưng:

Một người sống tử tế…

Một người biết yêu thương…

Một người biết giúp đỡ người khác…

Một người để lại sự bình an cho gia đình…

…thì khi nhìn lại, cuộc đời đó đã rất có ý nghĩa rồi.

Có khi đến một độ tuổi nào đó…

Con người ta mới nhận ra:

Cha mẹ già đi nhanh hơn mình nghĩ.

Sức khỏe mất đi nhanh hơn mình tưởng.

Và thời gian để yêu thương cũng không còn nhiều như trước.

Nếu bài viết này khiến cô chú anh chị suy nghĩ về cuộc đời mình…

Hãy chia sẻ để người thân mình đọc được khi vẫn còn kịp.

Đọc xong bài này, điều cô chú anh chị thấy “đáng giá nhất” ở tuổi hiện tại là gì?

  • Sức khỏe
  • Gia đình
  • Bình an
  • Nội lực
  • Tiền bạc
  • Hay một điều khác?

Một câu trả lời của cô chú có thể khiến rất nhiều người khác thức tỉnh.

Dược sĩ Thoa

#BữaThôTáiSinh #DsThoaĐồngHành #ĂnĐúngSốngKhỏe 


 

Nữ tu ấy đã 110 tuổi khi thế giới một lần nữa nhắc đến bí mật của bà. Cecylia Roszak.

 My Lan Pham 

 Nữ tu ấy đã 110 tuổi khi thế giới một lần nữa nhắc đến bí mật của bà.

Cecylia Roszak.

Một nữ tu dòng Đa Minh người Ba Lan đã sống gần như cả cuộc đời trong tu viện. Bà chơi đàn organ trong các buổi lễ. Hát trong ca đoàn. Và bước vào đời sống tu hành từ năm 21 tuổi.

Nhưng gần như không ai biết bà đã làm gì vào năm 1941.

Khi đó bà 33 tuổi. Bà sống cùng các nữ tu khác trong một tu viện Đa Minh nhỏ gần Vilnius, một trong những trung tâm văn hóa Do Thái lớn nhất Đông Âu thời bấy giờ.

Tu viện nhỏ bé.

Yên tĩnh.

Tách biệt khỏi thế giới.

Các nữ tu cầu nguyện, lao động và sống sau những bức tường kín.

Rồi quân Đức kéo đến.

Tháng 6 năm 1941, lực lượng Đức Quốc xã chiếm đóng Vilnius. Không lâu sau, các cuộc thảm sát bắt đầu. Tại Ponary, một khu rừng gần thành phố, hàng chục nghìn người Do Thái đã bị giết trong thời kỳ Holocaust.

Những người sống sót bị nhốt vào khu Do Thái Vilnius.

Trong số đó có Abba Kovner, một nhà thơ và nhà hoạt động trẻ người Do Thái, người sớm nhận ra một điều khủng khiếp mà nhiều người khác chưa hiểu: đây không còn là bạo lực riêng lẻ nữa.

Đây là sự hủy diệt có hệ thống.

Họ cần phải kháng cự.

Nhưng trước tiên, họ cần một nơi để ẩn náu, suy nghĩ, viết lách và tổ chức.

Kovner cùng những thanh niên Do Thái khác đã tìm đến tu viện Đa Minh ấy.

Bề trên của tu viện là Anna Borkowska, còn được gọi là Mẹ Bertranda.

Bà đã mở cửa.

Đó mới là điều phi thường.

Các nữ tu sống kín thường không tiếp khách.

Họ không giao tiếp với thế giới bên ngoài.

Và chắc chắn không được chuẩn bị để che giấu những người Do Thái đang chạy trốn dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã.

Nhưng họ vẫn làm.

Họ không yêu cầu những người Do Thái phải cải đạo.

Không bắt họ tham dự thánh lễ.

Không yêu cầu họ từ bỏ con người thật của mình.

Họ cho họ nơi trú ẩn.

Thức ăn.

Không gian.

Và sự im lặng an toàn.

Trong nhiều tháng, chín nữ tu Công giáo Ba Lan và mười bảy thanh niên Do Thái đã sống dưới cùng một mái nhà. Những người chạy trốn phụ giúp công việc trong tu viện. Các nữ tu chia sẻ chút ít lương thực ít ỏi của mình. Và bên trong những bức tường vốn chỉ vang lên lời cầu nguyện ấy, một phong trào kháng chiến dần được hình thành.

Sơ Cecylia là một phần của cộng đồng đó.

Một người phụ nữ kín đáo.

Một nữ tu sống âm thầm.

Một trong những con người mà lịch sử thường bỏ quên vì họ không bao giờ tìm kiếm ánh đèn sân khấu.

Nhưng bà đã ở đó.

Giúp đỡ.

Che chở.

Giữ những bí mật có thể khiến mình mất mạng.

Chính trong tu viện ấy, Abba Kovner đã viết lời kêu gọi đi vào lịch sử của phong trào kháng chiến Do Thái. Ông cảnh báo thanh niên Do Thái rằng đừng tin vào những lời lừa dối, rằng Hitler đang tìm cách tiêu diệt người Do Thái ở châu Âu.

Những lời ấy trở nên nổi tiếng:

“Đừng bước vào lò sát sinh như những con cừu.”

Bản tuyên ngôn được bí mật đưa ra khỏi tu viện rồi lan tới khu Do Thái Vilnius. Sau đó nó tiếp tục lan rộng tới nhiều nơi khác. Đây là một trong những lời cảnh báo rõ ràng đầu tiên rằng Đức Quốc xã đang tiến hành một cuộc hủy diệt có hệ thống, và nó trở thành văn bản nền tảng cho phong trào kháng chiến vũ trang của người Do Thái.

Các nữ tu không chỉ cho họ chỗ trú.

Họ còn giúp sự thật được đưa ra thế giới.

Năm 1943, Gestapo bắt giữ Mẹ Bertranda. Tu viện bị đóng cửa và các nữ tu bị phân tán.

Sơ Cecylia trở về Kraków.

Bà quay lại với đời sống cầu nguyện.

Quay lại với cây đàn organ.

Quay lại với sự im lặng.

Mẹ Bertranda sống sót. Abba Kovner cũng sống sót. Sau chiến tranh, ông di cư đến Israel, tham gia chiến đấu, tiếp tục viết và trở thành một nhân vật quan trọng của văn học Hebrew hiện đại.

Nhưng ông chưa bao giờ quên những nữ tu ấy.

Năm 1984, Yad Vashem đã công nhận Anna Borkowska, Cecylia Roszak và các nữ tu khác trong tu viện là “Những người công chính giữa các dân tộc”.

Kovner đã đến để vinh danh người phụ nữ từng mở cửa cho mình nhiều thập kỷ trước.

Ông gọi bà là “mẹ”.

Không phải vì máu mủ.

Không phải vì tôn giáo.

Mà vì bà đã cho ông nơi trú ẩn.

Sơ Cecylia tiếp tục sống thêm nhiều năm nữa. Bà bước sang tuổi 100. Rồi 105. Rồi 110. Bà trở thành một trong những nữ tu cao tuổi nhất thế giới.

Bà hiếm khi nhắc đến những gì đã xảy ra.

Không biến lòng dũng cảm của mình thành màn trình diễn.

Không biến quá khứ thành huy chương cá nhân.

Bà sống như cách mình vẫn luôn sống: cầu nguyện, âm thầm và phụng sự.

Bà qua đời ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại Kraków.

Hưởng thọ 110 tuổi.

Trong tang lễ của bà, có một vòng hoa lớn được gửi đến từ một người phụ nữ tên Wanda, một cô bé Do Thái mà sơ Cecylia từng giúp đỡ sau khi cha mẹ cô bị sát hại.

Đó chính là di sản của bà.

Không chỉ là những cái tên trong hồ sơ.

Không chỉ là những danh hiệu.

Mà là những cuộc đời tiếp tục được tồn tại.

Những đứa con.

Những đứa cháu.

Những gia đình nguyên vẹn tồn tại được vì trong thời khắc tăm tối nhất, có những người phụ nữ đã mở một cánh cửa.

Chín nữ tu dòng Đa Minh đã đưa ra một quyết định vào năm 1941.

Họ không ngoảnh mặt làm ngơ.

Không hỏi liệu điều đó có an toàn hay không.

Không xem đức tin như một ý niệm dễ chịu.

Họ sống đức tin ấy bằng cách trở thành nơi trú ẩn cho người khác.

Và trong những căn phòng nơi họ từng cầu nguyện, một nhà thơ đã viết nên những lời vang vọng khắp các khu Do Thái ở châu Âu:

“Đừng bước vào lò sát sinh như những con cừu.”

Chín nữ tu.

Mười bảy người chạy trốn.

Một cánh cửa mở ra.

Và một sự thật đã góp phần thắp lên ngọn lửa kháng chiến. 


 

Đức tin là gi`?

Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. (Dt 11:1)

Đức tin là tin vào những điều mà mình không thấy. Phần thưởng của đức tin là thấy những điều mình tin.

Trong sách “Những Kinh Nghiệm sống để lại” của Trần Văn Điền

VINH QUANG MANG DẤU ĐINH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha!”.

“Không vị thánh nào chọn đau khổ; họ chọn ý muốn của Thiên Chúa, cho dù điều đó có nghĩa là đau khổ!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không chọn đau khổ, Ngài chọn ý muốn của Cha. Và từ đó, thập giá trở thành ‘vinh quang mang dấu đinh’.

Với Gioan, Chúa Giêsu không bao giờ gọi thập giá là thất bại; ngược lại, Ngài gọi đó là “giờ tôn vinh”. Doxa – “vinh quang” trong tiếng Hy Lạp – nơi Gioan không diễn tả quyền lực hay chiến thắng theo kiểu thế gian, nhưng là lúc tình yêu Thiên Chúa được tỏ bày trọn vẹn nhất. Vì thế, chính khi bị treo lên thập giá, Chúa Giêsu mới thật sự được “nâng lên”; và chính từ những dấu đinh ấy, vinh quang Thiên Chúa bắt đầu chiếu sáng. Với Hans Urs von Balthasar, chính nơi sự tự huỷ và vâng phục đến cùng của Đức Kitô mà vinh quang Thiên Chúa được mặc khải trọn vẹn nhất.

Thế nhưng, thế gian luôn sợ một thứ ‘vinh quang mang dấu đinh’. Con người thích một Thiên Chúa chiến thắng hơn là một Thiên Chúa chịu chết; thích ánh hào quang hơn những vết thương. Vì thế, thập giá vẫn là điều xúc phạm với lý trí và khó chấp nhận với lòng người. Nhưng chính nơi bị lột trần mọi quyền lực, thập giá mặc khải khuôn mặt thật của Thiên Chúa: không thống trị bằng sức mạnh, nhưng cứu độ bằng tình yêu. Vinh quang không có dấu đinh chỉ là thứ trang sức rẻ tiền của thế gian! Có lẽ vì thế, chỉ ai dám yêu đến đau mới bắt đầu hiểu thế nào là vinh quang của thập giá.

Phaolô đã hiểu thứ ‘vinh quang mang dấu đinh’ đó khi ông để mình “bị Thần Khí trói buộc” mà tiến về Giêrusalem – bài đọc một. Ông biết xiềng xích và gian truân đang chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Bởi lẽ, với Phaolô, điều quan trọng không còn là bảo vệ bản thân, nhưng là hoàn tất ý muốn của Thiên Chúa. Hành trình của người môn đệ chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi trong vinh quang trần thế, nhưng là sự can đảm bước vào bóng tối để làm chứng cho Ánh Sáng. Vì thế, đệ tử của một Thiên Chúa chịu đóng đinh không thể đi tìm một ngai vàng để trị vì. Và khi một con người dám yêu Chúa lớn hơn sự an toàn của mình, thập giá bắt đầu trở thành lời ca tụng. Có lẽ vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới có thể reo lên, “Vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô hiểu rằng, giờ tôn vinh Chúa Cha không phải là lúc Ngài thoát khỏi thập giá, nhưng là lúc Ngài yêu và vâng phục đến cùng trên thập giá. Vì thế, nơi Ngài, đau khổ không còn là nơi Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là nơi tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Và có lẽ, mỗi khi chúng ta dám chọn ý Chúa hơn ý mình, dám yêu hơn giữ mình an toàn, đời chúng ta cũng bắt đầu mang lấy một ‘vinh quang mang dấu đinh’. Thà mang vết sẹo cùng Đức Kitô, còn hơn mang vương miện cùng thế gian! “Chiều xuống của đời người, chúng ta sẽ bị xét xử chỉ bởi tình yêu!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cứu con khỏi thứ vinh quang giá rẻ; dạy con yêu đến quên mình; và cho thập giá đời con cũng biết trổ sinh vinh quang Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần VII Phục Sinh

Lạy Cha, xin Cha tôn vinh Con Cha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 17,1-11a

1 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. 2 Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. 3 Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.

4 “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5 Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian. 6 Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha. 7 Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha, 8 vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con ; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con.

9 “Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha. 10 Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con ; và con được tôn vinh nơi họ. 11a Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian ; phần con, con đến cùng Cha.”


 

Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm không?- Cha Vương

Chúc bình an nhé, xin Chúa chúc lành và gìn giữ bạn luôn mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 18/5/2026  (t3-21-24)

GIÁO LÝ: Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm không?

Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm khi người ta có ý thức, có tự do và có ý muốn. (YouCat, số 288)

SUY NIỆM: –Người ta không thể (hoàn toàn) quy trách nhiệm về hành vi của một người nếu họ bị bó buộc làm, vì sợ, vì không biết, vì ma túy, hoặc do thói quen xấu. Càng biết việc tốt, càng tập luyện để hoàn thành việc tốt, người ta càng tránh xa không làm nô lệ của tội lỗi (Rm 6,17; 1Cr 7,22). Thiên Chúa mơ ước những người tự do cảm thấy mình có trách nhiệm về mình, về người thân cận mình và về cả trái đất. Nhưng tất cả lòng thương xót Chúa cũng quan tâm tới những người bị lệ thuộc, hàng ngày người đề nghị với họ tự giải thoát mình và bước đi tới tự do. (YouCat, số  t.t.)

❦ Con đường dẫn tới mục đích, bắt đầu khi bạn đảm nhận trách nhiệm hoàn toàn về các hành vi của bạn. (Dante Alighieri, 1265-1321, triết gia, thi sĩ Ý)

LẮNG NGHE: Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ. (Dt 4:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong đời sống có những lần con đã bỏ chạy và trốn tránh trách nhiệm với nhau để cứu thân mình, xin giúp con biết ý thức những việc con làm mà đảm nhận trách nhiệm hoàn toàn về các hành vi của con.

THỰC HÀNH: Tích cực hơn về việc chia sẻ trách nhiệm hằng ngày với nhau trong gia đình bạn.

From: Do Dzung

**************************************

TỰ TÌNH – NGUYỄN HỒNG ÂN – Sáng tác: Sr. M. Tigon 

Mất tích – Nguyễn Thị Thanh Dương-

Nguyễn Thị Thanh Dương

Chuyện xóm tôi 30 tháng tư 1975.

Sau ngày 30 tháng tư 1975 bao nhiêu gia đình gặp cảnh tang thương mất mát. Thành phố đã ngừng tiếng súng, cộng quân đã quản trị thủ đô Sài Gòn.

Người ta lần lượt sớm muộn trở về với gia đình, dù là tấm thân tàn nhiều thương tích, dù lòng còn hằn nỗi đau của người bại trận sau cuộc chiến tranh dài.

Nhưng xóm tôi có bốn người mất tích mà vẫn chưa thấy trở về và cũng chẳng nghe tin tức gì từ họ.

Chồng chị Kim Oanh là lính đóng ở Tây Ninh. Anh không về nhà cha mẹ ruột cũng chưa về với vợ con. Không biết giờ này anh đang ở đâu?

Chị Kim Oanh và hai đứa con nhỏ ngày đêm trông ngóng tin anh.

Chị Hương cũng như chị Kim Oanh, có một con nhỏ và bụng thì đang mang bầu vài tháng. Chồng chị là đại úy đóng quân ngay Long An, chẳng xa Sài Gòn là bao. Chẳng lẽ anh không kịp chạy về với vợ con trong lúc dầu sôi lửa bỏng?

Người thân và hàng xóm của hai chị không ai dám nghĩ tới những xác chết vô thừa nhận, có xác được đắp chiếu, có xác nằm sấp nằm ngửa đầy máu me chẳng rõ mặt mày bên những đống rác, những quân dụng, vật dụng bị đốt cháy ngùn ngụt hay đã cháy xong còn lại một đống tro tàn lửa bỏng ở khắp các tỉnh lộ, ở ngoài đường phố Sài Gòn của những ngày tàn cuộc chiến.

Họ đều lạc quan an ủi và cầu mong rằng biết đâu anh ấy đang lẩn trốn đâu đó chưa dám ra trình diện chính quyền hoặc may mắn hơn đã di tản đi Mỹ..

Bảo Huân

Trường hợp thứ ba là nhà chị Yên. Thằng Bảo con trai lên 7 và Ngọc đứa con gái lên 5, chẳng liên quan gì đến lính tráng mà cũng biệt tăm biệt tích.

Ngày 29 tháng tư chị Yên dẫn hai con đến nhà cậu Dũng, người em ruột ở Sài Gòn gần bến Bạch Đằng để bàn tính cùng họ tìm cách xuống tàu chạy trốn khỏi Sài Gòn đang mất vào tay Việt Cộng.

Khi đã quyết định chị Yên để hai con ở lại, vội vã về nhà đợi chồng sẽ từ trại lính trở về cùng sửa soạn hành lý cần thiết tối thiểu để mang theo cuộc hành trình.

Khi vợ chồng chị Yên quay lại nhà Dũng thì cả nhà mới tá hỏa hai đứa con chị Yên đã đi đâu mất rồi, tìm hoài không thấy. Chúng đi chơi đâu đó hay đợi bố mẹ lâu nên sốt ruột ra ngoài đi tìm chăng?

Cả hai gia đình lo lắng tìm con tìm cháu không thấy, chẳng còn tâm trí nào mà ra bến Bạch Đằng mong được lên tàu như dự tính nữa.

Vợ chồng chị Yên đau khổ bao nhiêu thì vợ chồng cậu Dũng cũng khổ đau bấy nhiêu, thêm lòng dày vò ân hận vì không trông nom để thất lạc hai cháu nhỏ trong thời điểm nhà tan cửa nát này.

Sau ngày 30 tháng tư, có người hàng xóm quả quyết với vợ chồng chị Yên là họ thấy thằng Bảo và con Ngọc ở bến tàu Sài Gòn, họ cũng tìm cách chen lấn đám đông để lên tàu nhưng không được.

Một năm trôi qua, chị Kim Oanh vẫn không nghe tin tức của chồng nên chị làm bàn thờ chồng, lấy ngày 30 tháng Tư làm ngày giỗ.

Chị Yên cũng định lập bàn thờ hai con cho có hương khói ấm lòng nếu chúng đã vong mạng trong cái ngày 30 tháng Tư định mệnh đó. Nhưng anh Yên, không biết để an ủi tinh thần vợ hay anh vẫn lạc quan thật sự, anh nói rằng cứ chờ đợi và biết đâu sẽ có ngày tìm được tung tích hai con.

Chị Hương tuy vẫn không có tin tức chính thức của chồng, nhưng chị nghe loáng thoáng từ mấy người lính của chồng chị, kẻ thì nói rằng vẫn gặp anh những ngày cuối tháng Tư, người thì nói anh đã lên tàu ra khơi.

Những tin tức mong manh đó đã là sự thật. Một hôm chị Hương nhận được thư chồng từ…trại tù cải tạo, chị mới vỡ lẽ ra chồng đã rời Việt Nam đến đảo Guam và trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín. Hiện tất cả đang bị giam cầm chứ không được trở về ngay với gia đình như họ đã lầm tưởng đã mong muốn khi quyết định hồi hương.

Thời buổi bao cấp nghèo đói một nách hai con thơ lại phải lo cho người chồng đang tù tội chị Hương đã không thể gồng gánh lâu dài nổi. Chị trách chồng đã đến được bến bờ tự do mà còn đâm đầu quay trở về Việt Nam để khổ cho chính bản thân mình và khổ cho cả vợ con. Cha mẹ chồng đều qua đời chỉ còn anh chị em mỗi người một phận dù có thương anh cũng chẳng ai giúp được gì.

Hai năm sau chị Hương bán nhà. Hàng xóm bàn tán là chị Hương lấy chồng cán bộ, chị dọn đi nơi khác để tránh những dèm pha dị nghị của hàng xóm. Có người còn ác miệng kể chi tiết hơn là chị đã gởi trả hai đứa con về bên nội để tự do vui duyên mới?

Năm năm sau chồng chị Hương ra tù và có về xóm cũ, căn nhà cũ đổi chủ. Anh sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trẻ đẹp trai oai hùng ngày nào mà chỉ sau mấy năm tù tội cộng sản đã biến hình tiều tụy già nua. Không gặp vợ con, anh quay về làng quê, không biết những người thân của anh còn có ai, hai con của anh có ở với họ hàng bên nội hay đang ở với mẹ nơi nào? hàng xóm ai cũng cảm thương và tò mò thắc mắc nhưng không ai biết được câu trả lời.

******************

Gia đình cậu Dũng đi Mỹ theo diện HO tháng Hai năm 1992.

Mười bảy năm trôi qua, cả gia đình chị Yên và gia đình cậu Dũng luôn mang nặng nỗi đau đớn trong lòng nhưng họ vẫn hằng mong có dịp tìm ra tung tích hai đứa trẻ thất lạc dù mong manh như mò kim đáy biển. Ở Việt Nam không có tin tức gì của chúng thì biết đâu sang Mỹ sẽ tìm ra manh mối.

Chị Yên gởi Dũng một túi hồ sơ gồm giấy tờ khai sinh và hình ảnh mới nhất so với thời điểm 1975 của thằng Bảo, con Ngọc để sang đến Mỹ cậu Dũng sẽ đăng tin tìm hai cháu.

Sau hai năm nhờ các cơ quan, hội hồng thập tự tại Mỹ tìm kiếm không thành công cậu Dũng đành báo tin cho anh chị. Tình trạng lại trở về như thuở ban đầu, chẳng biết chúng sống chết nơi đâu?

Thế là 3 gia đình có người thân “mất tích” hôm 30 tháng Tư năm 1975 ở xóm tôi đều đã có những đoạn kết buồn.

Gia đình chị Yên vẫn tiếp tục cố nuôi ngọn lửa hy vọng mỏi mòn suốt mấy chục năm qua hai đứa con còn sống đâu đó trên cõi đời này nhưng họ vẫn thắp nhang cho chúng vào mỗi năm 30- tháng Tư.

Gia đình chị Kim Oanh, chồng chị mãi mãi không một nấm mồ. Nhưng hình ảnh anh trên bàn thờ vẫn hương khói khi tháng Tư về

Gia đình chị Hương. Người chồng đã vì thương nhớ vợ con mà dại dột từ phương trời tự do quay trở về Việt Nam vừa rơi vào tay cộng sản, chưa gặp vợ, chưa nói với vợ lời vui mừng tao ngộ đã vào vòng tù tội. Gia đình tan nát, tình nghĩa vợ chồng bạc bẽo chia lìa. Bao nhiêu năm qua, vợ chồng con cái họ có dịp nào gặp lại nhau chưa?

NTTD


 

THIÊN CHÚA LUÔN LÀ NGƯỜI LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói!” – bài đọc một.

“Đức tin là tác động của Thiên Chúa, soi sáng tâm trí và niêm phong trái tim! Con đường phía trước luôn bất ngờ. Nó là quà tặng đơn thuần của Ngài!” – Jacobus Arminius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu con đường đức tin luôn bất ngờ, thì có lẽ bởi Thiên Chúa không bao giờ là Đấng con người có thể hiểu hết. Càng bước theo Ngài, chúng ta càng nhận ra: ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’.

Thực trạng đức tin của các tín hữu Êphêsô thật đáng suy nghĩ: họ tin Chúa, nhưng không biết Chúa Thánh Thần. Thật ra, điều ấy cũng có thể là thực trạng của nhiều người. Chúng ta biết nhiều điều về Chúa, nhưng chưa chắc đã thật sự để Ngài dẫn đi. Có lẽ vì “pneuma” – Thần Khí – cũng có nghĩa là gió; mà gió thì không ai giữ, càng không ai điều khiển được. Thiên Chúa luôn lớn hơn điều con người tưởng mình đã biết về Ngài.

Với bài Tin Mừng, các môn đệ tưởng mình đã hiểu Chúa Giêsu. “Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự… chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến!” – một tuyên bố tự tin, nhưng cũng non trẻ. Chúa Giêsu phá vỡ ảo tưởng ấy: “Anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả!”. Đó luôn là nghịch lý của đời sống đức tin: càng tưởng đã nắm được Thiên Chúa, con người càng đánh mất Ngài. Karl Rahner từng nói, “Thiên Chúa không phải là một đối tượng để sở hữu, nhưng là một mầu nhiệm để con người mãi mãi bước vào!”. Vì thế, ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’: càng đến gần, Ngài càng mở ra những chiều sâu chưa ai chạm tới. Đóng khung Thiên Chúa vào lý thuyết là cách nhanh nhất để khai tử mầu nhiệm!

Thật ra, điều đáng sợ nhất không phải là không biết Thiên Chúa, nhưng là tưởng mình đã biết Ngài quá rõ. Một đức tin không còn ngạc nhiên rất dễ trở thành một đức tin đang chết. Giáo đoàn Êphêsô không biết Chúa Thánh Thần; các môn đệ lại quá tự tin về Thầy. Một bên thiếu, một bên tưởng đã đủ; nhưng cả hai đều cần được dẫn vào một cuộc gặp gỡ sâu hơn. Đó là cách Thiên Chúa hành động: phá vỡ những hình ảnh cũ về chính Ngài để kéo con người ra khỏi một đức tin quen thuộc, an toàn và khép kín. “Mỗi lần tôi nghĩ mình đã hiểu Thiên Chúa, đó thường là lúc tôi bắt đầu đánh mất Ngài!” – Meister Eckhart.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, Chúa Cha không bao giờ là “người lạ”, vì giữa Ngài với Cha luôn có một sự hiệp thông trọn vẹn của tình yêu, ngay cả trong bóng tối thập giá. Chính nơi tưởng như bị bỏ rơi nhất, Ngài vẫn thưa, “Con phó linh hồn con trong tay Cha!”. Còn với chúng ta, ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’, bởi chúng ta quên rằng, đức tin không phải là chiếm hữu Thiên Chúa, nhưng là để Ngài dẫn mình đi vào những điều luôn lớn hơn mình. Đức Giêsu không cần chúng ta thấu suốt Ngài, nhưng cần chúng ta bước theo Ngài. Bởi lẽ, một đức tin an toàn thường là một đức tin đang hấp hối. Søren Kierkegaard từng bông đùa: đức tin nhìn thấy rõ nhất trong bóng tối!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để đức tin con trở nên cũ kỹ; đừng để trái tim con thôi ngỡ ngàng; và đừng để con sợ những bất ngờ của Chúa Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VII Phục Sinh

Can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 16,29-33

29 Khi ấy, các môn đệ thưa với Đức Giê-su rằng : “Bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. 30 Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến.” 31 Đức Giê-su đáp : “Bây giờ anh em tin à ? 32 Này đến giờ -và giờ ấy đã đến rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. 33 Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.” 


 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

Dr. Christina Nguyen 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ,và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

10 năm sau, mình tham dự lễ tốt nghiệp của Creighton University School of Medicine với tư cách là một giảng viên, mình mới nhận ra rằng: Hồi đó mình ngây thơ thật.

Vì có những thứ trong nghề Y không ai dạy trong trường lớp. Có những bài học mà phải mất nhiều năm mới hiểu.

Và đây là 7 điều mình ước gì mình biết 10 năm về trước, cũng như một lời nhắn gửi đến các bạn bác sĩ vừa mới tốt nghiệp.

  1. Tấm bằng bác sĩ không phải là đích đến. Nó chỉ là tấm vé bước vào một hành trình khó hơn.

– Ngày tốt nghiệp rất đẹp.

– Gia đình tự hào.

– Bạn bè chúc mừng.

– Ai cũng nói: “Giỏi quá, thành bác sĩ rồi.”

Nhưng thật ra, ngày đó không phải là ngày ta “đã xong.”

Đó là ngày cuộc đời bắt đầu hỏi ta một câu khó hơn: “Bây giờ, bạn sẽ trở thành con người như thế nào khi mang trên mình trách nhiệm này?”

Bởi vì từ giây phút đó trở đi, chữ “bác sĩ” không còn chỉ là một danh xưng.

– Nó là trách nhiệm.

– Là niềm tin người khác đặt vào mình.

– Là những quyết định dù rất nhỏ, nhưng có thể ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của một bệnh nhân.

  1. Trong nghề Y, giỏi thôi chưa đủ. Bền mới quan trọng.

– Trong Y khoa, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người giỏi.

– Ai cũng học rất chăm.

– Ai cũng từng là người nổi bật ở đâu đó.

– Ai cũng từng quen với việc cố thêm một chút, chịu thêm một chút, làm thêm một chút.

Nhưng đi đường dài, thứ giữ chúng ta lại với nghề không chỉ là trí thông minh.

– Mà là sức bền.

– Là khả năng đứng dậy sau một ngày tồi tệ.

– Là khả năng không đánh mất sự tử tế khi bản thân đang mệt mỏi.

– Là khả năng tiếp tục học, tiếp tục sửa, tiếp tục trưởng thành, dù đôi khi bên trong mình cũng đầy hoang mang.

Nghề Y không chỉ cần những người giỏi.

Nghề Y cần những người đủ bền để không trở nên chai sạn.

  1. Đừng đợi đến khi kiệt sức mới học cách chăm sóc bản thân.

10 năm trước, mình từng nghĩ hy sinh sức khỏe là một phần của sự tận tụy.

– Thức khuya là bình thường.

– Ăn vội là bình thường.

– Không tập thể dục là bình thường.

– Mình luôn tự nói: “Mình bận lắm.”

Mình đã từng đi khuyên bệnh nhân ngủ đủ, ăn uống điều độ, vận động thường xuyên, trong khi chính mình thì làm ngược lại.

– Sau này mình mới hiểu:

Một bác sĩ kiệt sức có thể vẫn làm việc, vẫn khám bệnh, vẫn làm xong hồ sơ bệnh án.

Nhưng sự thật là chúng ta không thể chăm sóc người khác lâu dài nếu bản thân mình cứ dần cạn kiệt.

Chăm sóc bản thân không phải là ích kỷ.

Đó là một phần của trách nhiệm nghề nghiệp.

  1. Không phải mạnh mẽ là không đau. Có khi chỉ là giỏi che giấu.

– Trong nghề Y, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người nhìn bên ngoài rất ổn.

– Rất bình tĩnh.

– Rất chuyên nghiệp.

– Rất giỏi tay nghề.

Nhưng đằng sau vẻ ngoài đó, có thể là những đêm mất ngủ.

Những ca bệnh ám ảnh.

Những lần tự nghi ngờ bản thân.

Nếu có lúc bạn thấy mình yếu đuối, điều đó không có nghĩa là bạn không phù hợp với nghề này.

Mà chỉ có nghĩa rằng bạn cũng là một con người.

Và nghề Y, dù cao quý đến đâu, cũng vẫn được làm bởi những con người bằng xương bằng thịt.

  1. Sẽ có những ngày bạn tự hỏi: “Mình có thật sự thuộc về nơi này không?”

– Nhất là nếu bạn là người nhập cư.

– Nếu tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ.

– Nếu bạn không lớn lên trong hệ thống này.

– Nếu bạn phải học không chỉ kiến thức y khoa, mà còn học cả văn hóa giao tiếp, cách kết nối, cách đọc những tín hiệu không ai nói thẳng.

Sẽ có lúc bạn bước vào một căn phòng và thấy mình khác những người khác.

– Khác giọng nói.

– Khác nền tảng.

– Khác trải nghiệm.

– Khác cách người ta nhìn mình.

Nhưng cảm giác “không thuộc về” không phải lúc nào cũng là sự thật.

Đôi khi nó chỉ là dấu hiệu bạn đang bước vào một căn phòng lớn hơn phiên bản cũ của chính mình.

Hãy tin rằng “Mình cũng có quyền có mặt ở đây vì mình xứng đáng.”

  1. Đừng đánh mất bản thân chỉ để trở thành một “bác sĩ tốt.”

– Bạn có thể là bác sĩ, nhưng bạn vẫn là một con người.

– Bạn vẫn cần ngủ.

– Cần nghỉ.

– Cần bạn bè.

– Cần gia đình.

– Cần niềm vui.

– Cần một cuộc đời ngoài bệnh viện.

– Cần những ngày không phải gồng.

Nghề Y là một phần rất lớn của cuộc đời bạn.

Nhưng nó không nên nuốt chửng toàn bộ con người bạn.

Bởi vì một bác sĩ mất đi sự kết nối với chính mình, sớm muộn cũng sẽ khó kết nối sâu sắc với bệnh nhân.

Giữ lại một phần đời sống cho bản thân không làm bạn bớt tận tụy.

Nhưng có thể giúp bạn còn đủ đầy để tiếp tục tận tụy lâu dài.

  1. Thành công không chỉ là match được vào nội trú, tốt nghiệp, hay trở thành bác sĩ chính thức. Thành công là sau tất cả, có khi chỉ là vẫn còn muốn làm điều tử tế.

10 năm nhìn lại, mình nhận ra có rất nhiều cột mốc mình từng tưởng là “đích đến.”

– Tốt nghiệp trường Y.

– Vào nội trú

– Tốt nghiệp nội trú

– Trở thành bác sĩ chính thức

– Làm giảng viên

– Hướng dẫn thế hệ sau.

Mỗi cột mốc đều đáng tự hào.

Nhưng cột mốc quan trọng nhất có lẽ không nằm trên CV.

Mà là:

– Sau những năm tháng áp lực đó, mình có còn giữ được trái tim ấm áp không?

– Mình có còn nhìn bệnh nhân như một con người không?

– Mình có còn nhìn các bạn sinh viên với sự bao dung không?

– Mình có còn nhớ mình đã từng bắt đầu như thế nào không?

Bởi vì cuối cùng, nghề Y không chỉ thử thách kiến thức của mình.

Nó thử thách cả nhân cách, lòng kiên nhẫn, sự tử tế, và khả năng giữ mình không trở nên lạnh lùng sau quá nhiều mệt mỏi.

10 năm trước, mình nghĩ tấm bằng Y khoa là bằng chứng rằng mình đã đi rất xa.

10 năm sau, mình mới hiểu, đi xa không chỉ là có thêm chức danh, thêm kinh nghiệm, hay thêm những dòng trên CV.

Mà đôi khi đi xa là sau tất cả những áp lực, va vấp, mất ngủ, nghi ngờ bản thân, mình vẫn còn giữ được một trái tim đủ mềm để thương người, và một cái lưng đủ thẳng để tiếp tục bước tiếp.

Nhân dịp mùa tốt nghiệp năm nay, mình mến gửi đến các bạn tân bác sĩ hôm nay:

Chúc mừng các bạn. Các bạn không cần phải hoàn hảo ngay từ đầu. Chỉ cần đừng ngừng học, đừng ngừng trưởng thành, và quan trọng nhất là đừng để những thử thách của nghề Y khiến bạn quên mất lý do vì sao mình đã bắt đầu.

Welcome to Medicine!

Bạn nghĩ gì về những chia sẻ này? Hãy chia sẻ cho mình biết nhé.

Nếu bạn có người thân và bạn bè trong ngành Y, hãy chia sẻ bài viết cho họ.

Dr. Christina Nguyễn

Hình: Bs. Sidra Akhter và mình trước khi vào lễ tốt nghiệp.