SAI KỊCH BẢN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ vấp ngã vì Người”.

“Tại sao những người Nazareth lại từ ngạc nhiên chuyển sang hoài nghi? Vì ân sủng của Thiên Chúa thường biểu hiện theo những cách đáng ngạc nhiên, không trùng khớp với sự mong đợi của chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng “không trùng khớp với sự mong đợi” khác nào nói ‘sai kịch bản’ chúng ta mong đợi! Đó là những gì Tin Mừng hôm nay cho thấy khi Chúa Giêsu trở về quê nhà.

Phản ứng của người Nazareth không chỉ là một phản ứng tâm lý; mà là một va chạm giữa mặc khải và “hệ hình tôn giáo” họ dựng nên. Họ không thiếu hiểu biết về Chúa Giêsu; họ “biết” gia đình, nghề nghiệp, nguồn gốc của Ngài – nhưng cái biết ấy đã trở thành rào cản! Khi Thiên Chúa tự tỏ mình trong dáng vẻ quen thuộc, chúng ta cảm thấy bị đe doạ. Bởi lẽ, một Thiên Chúa ở xa – uy nghi, khác biệt – dễ chấp nhận hơn một Thiên Chúa ở gần, chia sẻ thân phận và phá vỡ những an toàn. Nhập Thể không làm Thiên Chúa bớt cao cả; nhưng làm chúng ta phải xét lại cách hiểu về quyền năng Ngài. “Đức Giêsu đã làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên gần kề đến mức gây sốc cho bất cứ ai muốn!” – John Ortberg.

Ở đây lộ ra nghịch lý cốt lõi của đức tin: Thiên Chúa cứu độ bằng tự hạ! Quyền năng Ngài không áp đảo tự do; ân sủng Ngài không phá vỡ điều tự nhiên. Chính vì thế, mặc khải luôn có thể bị từ chối! Khi Thiên Chúa hành động không theo những tiêu chuẩn quen thuộc, chúng ta dễ kết luận Ngài ‘sai kịch bản!’. Thực ra, điều hỏng hóc không phải là kế hoạch của Thiên Chúa, mà là hình ảnh chúng ta giam giữ về Ngài.

“Họ vấp ngã vì Người”. “Vấp ngã” ở đây không đơn thuần là thất vọng; đó là scandal – tảng đá chướng ngại. Ngài trở thành tảng đá ấy vì không đáp ứng các mong đợi về một Đấng Cứu Thế quyền lực, hiển hách. Thiên Chúa chọn con đường nhỏ bé, lớn lên trong âm thầm, nói lời khôn ngoan từ môi miệng của một anh thợ mộc. Sự gần gũi ấy đòi chúng ta hoán cải cái nhìn, chứ không chỉ thay đổi cảm xúc. “Nhập Thể có nghĩa là Thiên Chúa bước vào chính cấu trúc của đời sống bình thường!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Thập giá sẽ là đỉnh cao của nghịch lý ấy. Một Đấng Cứu Thế chịu treo trên cây gỗ xem ra thất bại hoàn toàn; nhưng chính nơi yếu đuối ấy, tình yêu tự hiến được tỏ lộ trọn vẹn. Nếu chỉ tìm một Thiên Chúa xác nhận dự tính của mình, chúng ta sẽ vấp ngã; khi để Ngài là Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu tin và nhận ra ơn cứu độ đi bằng con đường tự hiến! Đừng để Thiên Chúa bước vào câu chuyện đời đã viết sẵn của chúng ta như nhân vật phụ; Ngài là Đấng viết lại nó từ bên trong. Và chỉ khi thôi đòi Ngài đừng ‘sai kịch bản’, chúng ta mới không còn “vấp ngã”, nhưng nhận biết Ngài là Đấng Cứu Độ. “Ai muốn theo Đức Kitô phải từ bỏ việc bắt Ngài theo mình!” – Dietrich Bonhoeffer.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giam Ngài trong định kiến, xin mở trí; khi mầu nhiệm làm con choáng ngợp, xin làm con vững tin; khi thực tế vượt quá hiểu biết, xin kéo con sấp mình thờ lạy!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IV Thường Niên

Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.


 

Thánh Blase (Biagio) – Cha Vương

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Blase (Biagio), mời Bạn suy niệm về đời sống nhân đức của Ngài.

Cha Vương

Thứ 3: 03/02/2026.(t2-25)

   

  Chúng ta biết nhiều về sự sùng kính của Kitô Hữu đối với Thánh Blase hơn là tiểu sử của ngài. Trong Giáo Hội Ðông Phương, ngày lễ kính ngài được coi là một ngày lễ lớn. Công Ðồng Oxford, vào năm 1222 đã cấm làm việc xác trong ngày lễ Thánh Blase (hay còn gọi là Thánh Biagio). Người Ðức và người Ðông   u rất kính trọng thánh nhân, và trong nhiều thập niên, người Công Giáo Hoa Kỳ thường chạy đến với thánh nhân để xin chữa bệnh đau cổ họng.

       Chúng ta được biết Ðức giám mục Blase chịu tử đạo năm 316 ngay trong giáo phận của ngài ở Sebaste, Armenia. Mãi cho đến 400 năm sau mới có huyền thoại viết về ngài. Theo đó, Thánh Blase là một giám mục tốt lành, làm việc vất vả để khuyến khích giáo dân sống lành mạnh về tinh thần cũng như thể xác. 

       Mặc dầu chỉ dụ Toleration, năm 311, đã cho phép tự do tôn giáo ở Ðế Quốc Rôma hơn năm năm, nhưng ở Armenia, việc bách hại vẫn còn dữ dội. Hiển nhiên là Thánh Blase buộc phải rời bỏ giáo phận và sống trong rừng núi. Ở đó ngài sống trong cô độc và cầu nguyện, làm bạn với thú rừng.

       Một ngày kia, có nhóm thợ săn đi tìm thú dữ để dùng trong đấu trường và tình cờ họ đã thấy hang động của Thánh Blase. Từ kinh ngạc cho đến sợ hãi, họ thấy vị giám mục đi lại giữa đám thú dữ một cách điềm tĩnh để chữa bệnh cho chúng. Nhận ra ngài là giám mục, họ bắt ngài về để xét xử. Trên đường đi, ngài ra lệnh cho một con sói phải thả con heo nó đang cắn giữ vì đó là của người đàn bà nghèo. Khi Thánh Blase bị giam trong tù và bị bỏ đói, người đàn bà này đã đền ơn ngài bằng cách lẻn vào tù cung cấp thức ăn cho thánh nhân.

       Ngoài ra, truyền thuyết còn kể rằng, một bà mẹ có đứa con trai bị hóc xương đã chạy đến ngài xin cứu giúp. Và sau lời truyền của Thánh Blase, đứa bé đã khạc được chiếc xương ra khỏi cổ.

       Agricolaus, Thủ Hiến xứ Cappadocia, tìm mọi cách để dụ dỗ Thánh Blase bỏ đạo mà thờ tà thần. Lần đầu tiên từ chối, ngài bị đánh đập. Lần kế tiếp, ngài bị treo trên cây và bị tra tấn bằng chiếc lược sắt cào vào thân thể. Sau cùng ngài bị chém đầu năm 316. Người được tôn kính như quan thầy các thợ chải len, những người bị đau cuống họng.

 (Nguồn: Người Tín Hữu online)

       Sau đây là Kinh cầu Thánh Blase được dùng để khẩn cầu cho những ai mang bệnh của cổ họng: “Qua lời cầu bầu của Thánh Blase, là giám mục và là vị tử đạo, xin Thiên Chúa chữa con khỏi bệnh tật của cổ họng và khỏi mọi sự dữ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Kinh cầu Thánh Blase). Xin Thánh Blase, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

***************************

XIN CHÚA CHỮA LÀNH CON – ST: HUỲNH MINH KỲ – Trình bày: Triệu Ngọc Yến

Mở án phong thánh cho Adele Brice (1831–1896)

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Mở án phong thánh cho Adele Brice, người chứng kiến những cuộc hiện ra Đức Maria đầu tiên được chuẩn nhận tại Hoa Kỳ

Với sắc lệnh do một giám mục bang Wisconsin ban hành hôm thứ Sáu, Giáo Hội Công Giáo chính thức mở án phong thánh cho Adele Brice, một người nhập cư gốc Bỉ từng được thị kiến Đức Trinh Nữ Maria.

Adele Brice (1831–1896) không biết đọc viết, nhưng đã đi bộ khắp vùng nông thôn Wisconsin để dạy giáo lý cho trẻ em và các gia đình. Bà được biết đến nhiều nhất qua ba lần Đức Maria hiện ra—đây là những cuộc hiện ra duy nhất tại Hoa Kỳ được Giáo Hội chính thức chuẩn nhận.

Năm ngoái, hơn 200.000 khách hành hương đã đến kính viếng Đền Đức Mẹ Champion ở Wisconsin, theo cha Anthony Stephens, tu sĩ Dòng Linh mục Lòng Thương Xót và hiện là giám đốc đền thánh, cho biết với EWTN News.

Ngay từ lần rước lễ lần đầu khi còn nhỏ tại Bỉ, Adele đã cảm nhận tiếng gọi đời sống thánh hiến. Tuy nhiên, khi gia đình quyết định di cư sang Hoa Kỳ, bà đã đi theo, tin tưởng lời khuyên của cha xứ. Bà không bao giờ trở thành nữ tu, “nhưng vẫn trung thành với tiếng gọi nền tảng ấy,” theo David Ricken, Giám mục giáo phận Green Bay, người đã công bố sắc lệnh ngày 30/1.

Cha John Girotti, Tổng đại diện và Điều phối viên giáo triều giáo phận Green Bay, nhấn mạnh nơi Adele đức tính kiên trì: bà sang Hoa Kỳ khi ngoài 20 tuổi—không hẳn theo ý mình—nhưng vì lòng hiếu thảo. Bà còn bị mù một mắt do tai nạn thời thơ ấu. “Bà có đức tin, yêu mến Thiên Chúa và bền bỉ tiến bước,” cha Girotti nói. “Đức tin ấy giúp bà ‘dời núi’ như lời Chúa Giêsu.”

Trong các thị kiến, Đức Maria mời gọi Adele dạy giáo lý cho trẻ em; vì thế, bà hiến trọn đời cho ơn gọi giáo dục. Dù mặc tu phục, bà không khấn dòng; với tư cách giáo dân, bà tận hiến đời mình cho việc dạy đức tin Công giáo. “Từ giây phút nghe Đức Trinh Nữ nói với mình, cuộc đời bà được biến đổi hoàn toàn,” cha Girotti kể. Dù nghèo khó, hỏa hoạn, đói kém, bà vẫn không ngừng loan báo Tin Mừng, với đức tin lớn lao.

Sau khi xây dựng nhà nguyện và trường học tại nơi Đức Mẹ hiện ra, cộng đoàn đã trải qua một đêm mà cha Stephens ví như “Trận Giêricô”. Năm 1871, khi đám cháy vây quanh khu đất, Adele và cộng đoàn cầu nguyện dọc theo hàng rào. “Lửa cháy đến hàng rào rồi cháy vòng quanh, không thiêu rụi nhà nguyện; sáng hôm sau mưa đổ xuống,” cha Stephens kể. Ngài gọi đền thánh là “nơi của cầu nguyện”.

Khách hành hương đến đây rất đa dạng—từ người Công giáo sốt sắng, người ngoài Công giáo, đến những người đã xa rời Giáo Hội—và có nhiều lần xưng tội chân thành. Đền thánh cũng ghi nhận những chữa lành thể lý nhỏ và chữa lành luân lý, trong đó có trường hợp một phụ nữ khỏi chứng đau nửa đầu kéo dài 15 năm.

Một vị thánh người Mỹ

Khi Hoa Kỳ tiến gần kỷ niệm 250 năm lập quốc, cha Stephens nói thật phấn khởi khi một người Mỹ được tuyên phong Tôi tớ Chúa. “Căn tính Công giáo phải định hình cách chúng ta sống như người Mỹ—hai điều ấy hoàn toàn hòa hợp,” ngài nói, mời gọi các tín hữu noi gương nhân đức anh hùng của Adele.

Giám mục Ricken hy vọng đây là bước khởi đầu để khám phá thêm các vị thánh người Mỹ, nhớ lại lời mời gọi trước đây của Đức Bênêđictô XVI dành cho Giáo Hội tại Hoa Kỳ. Ngài cũng chia sẻ niềm vui khi thấy nhiều gia đình trẻ hiện diện trong buổi công bố án phong thánh: “Thật đẹp, nhất là vì Adele gắn bó trọn đời với trẻ em.”

“Đức Mẹ đã sai bà đi vào miền đất hoang dã để dạy trẻ em những điều cốt yếu của đức tin,” Đức Giám mục nói. “Và bà vẫn đang làm điều ấy, như chúng ta thấy tối nay, khi rất nhiều trẻ em và gia đình quy tụ.”

Nguồn: ACI Prensa / EWTN News (bài do Kate Quiñones thực hiện).


 

Giáo hội lo ngại về việc trục xuất hàng loạt người Haiti khỏi Hoa Kỳ-Vũ Văn An 

Vũ Văn An 

31/Jan/2026

Vietcatholic.net

Các thành viên của Đơn vị An ninh Tổng hợp Cung điện Quốc gia tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 26 tháng 1 năm 2026. (Ảnh: Odelyn Joseph/AP.)

Eduardo Campos Lima, trong bản tin của Crux ngày 31 tháng 1 năm 2026, tường trình rằng: Khi người Haiti sắp mất Quy chế Bảo vệ Tạm thời (TPS) vào ngày 3 tháng 2, khoảng 330,000 người tị nạn và người nhập cư dự kiến sẽ bị buộc phải rời khỏi Hoa Kỳ và trở về quốc gia vùng Caribe đang bị tàn phá bởi bạo lực.

Giáo hội Haiti lo ngại về hậu quả của biện pháp này đối với các cộng đồng địa phương và công việc từ thiện của chính họ.

Khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức vào tháng 1 năm 2025, việc thu hồi TPS của người Haiti là một trong những quyết định đầu tiên của ông.

Đã có những vụ kiện chống lại biện pháp này, và sự không chắc chắn về cách thức tiến trình sẽ diễn ra vẫn còn rất cao.

Viễn cảnh hàng trăm nghìn người Haiti mất quyền sinh sống tại Mỹ không chỉ gây lo ngại cho các cộng đồng định cư ở đó, mà còn cho cả người dân Haiti.

“Việc có thêm 300,000 người Haiti ở đây sẽ là một thảm họa,” Cha Gilbert Peltrop, tổng thư ký Hội đồng các Dòng tu Haiti, nói với Crux.

Ngài cho biết những khó khăn ở quốc gia vùng Caribe này đã quá lớn đến nỗi sự xuất hiện đột ngột của một số lượng lớn người như vậy sẽ càng làm trầm trọng thêm tình trạng hỗn loạn.

Ngài nói: “Những người di tản trong nước đang sống trong điều kiện rất khó khăn”.

Cha Peltrop nói thêm rằng Giáo hội sẽ không thể giúp đỡ nhiều trong tình huống đó.

Ngài cho biết: “Chúng tôi không có cơ sở hạ tầng đủ khả năng tiếp nhận một số lượng lớn người như vậy”.

Được thiết lập theo luật năm 1990, chương trình TPS (Tình trạng Bảo vệ Tạm thời) được áp dụng cho người Haiti sau trận động đất tàn phá đất nước năm 2010. Chương trình cho phép người nhập cư và người tị nạn được ở lại Mỹ hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định và có thể được gia hạn nếu tình hình ở quốc gia xuất xứ của họ vẫn còn nguy hiểm.

Những người chỉ trích chương trình, như cố vấn của Trump, Stephen Miller, đã lập luận trong nhiều năm rằng chương trình cho phép người nước ngoài có được việc làm gây bất lợi cho công dân Mỹ. Một lập luận thường xuyên khác chống lại TPS là chương trình này được duy trì cho công dân của các quốc gia mà tình trạng thảm khốc đã thay đổi từ lâu.

Nhưng điều đó chắc chắn không đúng với Haiti. Quốc gia này không chỉ vẫn phải đối mặt với hậu quả của trận động đất – với nhà cửa và cơ sở hạ tầng chưa bao giờ được xây dựng lại hoàn toàn – mà còn rơi vào tình trạng hỗn loạn xã hội ngày càng gia tăng kể từ vụ ám sát cựu Tổng thống Jovenel Moïse năm 2021.

Hiện tại, các băng đảng tội phạm như Viv Ansanm kiểm soát 90% thủ đô Port au Prince. Theo Văn phòng Tích hợp của Liên Hợp Quốc tại Haiti (BINUH), các cuộc tấn công do các nhóm vũ trang thực hiện nhằm vào thường dân đã dẫn đến ít nhất 8,100 người thiệt mạng từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2025.

Bạo lực tình dục đã trở nên phổ biến. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2025, đã có 7,470 trường hợp bạo lực dựa trên giới tính.

Sự kết hợp giữa bạo lực và thiên tai — Haiti bị lũ lụt ở tỉnh Đông Bắc vào tháng 5 và bị bão vào tháng 10 và tháng 11 — đã làm trầm trọng thêm điều kiện sống của hàng triệu người Haiti trong năm ngoái.

Theo Liên Hợp Quốc, 1.4 triệu người phải di dời — khoảng 12% tổng dân số — và 5.7 triệu người đang phải đối diện với tình trạng thiếu lương thực.

Các bệnh như dịch tả đã hoành hành ở nhiều vùng của đất nước. Trẻ em bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, với 3.3 triệu em cần một số hình thức hỗ trợ nhân đạo. Gần 330,000 trẻ em dưới 5 tuổi đang bị suy dinh dưỡng cấp tính.

Các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Cộng hòa Dominica, đã cưỡng chế hồi hương 270,000 người nhập cư và tị nạn Haiti vào năm ngoái.

Cha Agler Cherizier thuộc dòng Scalabrinian nói với Crux: “Thông thường, chúng ta không nên nói về việc trục xuất người Haiti về Haiti, vì đất nước đang trải qua thời kỳ cực kỳ khó khăn, cả về an ninh lẫn chính trị xã hội”.

Cha Cherizier nói thêm: Việc trục xuất sẽ làm tăng thêm khó khăn cho các gia đình, “vì mỗi người di cư sống ở nước ngoài đều là nguồn thu nhập cho gia đình họ”.

Haiti sẽ phải vật lộn để tiếp nhận những người bị trục xuất về mặt hỗ trợ và tạo việc làm cho họ, vị linh mục cho biết, nhưng đó không phải là nhiệm vụ dễ dàng.

Sản xuất và thương mại hầu như không thể thực hiện được ở nhiều vùng của Haiti do bạo lực băng đảng. Các nhóm tội phạm đang liên tục mở rộng phạm vi hoạt động sang các thành phố và vùng nông thôn khác.

Một nhà truyền giáo người Mỹ sống ở Haiti nói với Crux rằng một số cuộc đột kích trong vài tuần qua đã gây ra thương vong ở những nơi như Kenscoff, cách thủ đô vài dặm.

Vào đêm ngày 29 tháng 1, các thành viên của Viv Ansanm đã tấn công khu vực Kajak, thuộc Kenscoff, giết chết bảy người — sáu người lớn và một trẻ em. Nhà cửa bị đốt cháy và các cửa hàng bị phá hoại.

Nhà truyền giáo và nhóm của ngài đã tiếp nhận một số người sống sót. Một trong số họ bị mất một chân.

Một tuần trước đó, những người đàn ông có vũ trang đã đột kích vào cộng đồng Tabarre. Một phụ nữ chạy trốn khỏi những kẻ tấn công đã rơi xuống hố rác tự hoại và bị thương nặng, khiến khuôn mặt bị biến dạng. Bà đã được phẫu thuật với sự giúp đỡ của nhóm truyền giáo.

Ngài nói: “Đó là những ví dụ cho thấy tại sao việc hồi hương không an toàn”.

Ngày 29 tháng 1, Giám mục Brendan J. Cahill, chủ tịch Ủy ban Di cư của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, và Giám mục A. Elias Zaidan, chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình Quốc tế của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đã đưa ra một tuyên bố kêu gọi chính quyền Trump xem xét lại việc hủy bỏ quy chế TPS (Tình trạng bảo vệ tạm thời) cho người Haiti.

Tuyên bố nêu rõ: “Hiện tại đơn giản là không có cơ hội thực tế nào cho việc hồi hương an toàn và có trật tự của người dân Haiti”.

Cahill và Zaidan nói rằng “Chính quyền Trump vẫn có cơ hội làm điều đúng đắn – bảo vệ tính mạng con người, duy trì luật pháp và thúc đẩy sự ổn định lớn hơn cho người dân trong nước và trên toàn thế giới.”

Tại Haiti, Giáo hội sẽ tiếp tục đóng vai trò tương tự, Cha Cherizier nói, nhằm mục đích “đánh thức lương tâm của các nhà lãnh đạo chính trị”.

Ngài kết luận: “Ngoài ra, trong chừng mực có thể, thông qua các hoạt động xã hội của Giáo hội, Giáo hội có thể tiếp tục thực hiện các công việc bác ái để mang lại cho họ phần nào sự an ủi”.


 

CHO NÓ ĂN! -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cho con bé ăn!”.

“Khi con cái chúng ta gặp khủng hoảng và cần sự nuôi dưỡng tâm linh, liệu chúng ta có biết cách cho chúng điều đó không? Và làm sao có thể làm được điều đó, nếu chính chúng ta không được nuôi dưỡng bởi Tin Mừng?” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay ghi lại một chi tiết rất đời thường: Chúa Giêsu bảo họ, “Cho con bé ăn!”. Không phải một phép lạ khác, không một diễn từ dài; chỉ một mệnh lệnh giản dị – ‘cho nó ăn!’.

Chúng ta thích dừng lại ở khoảnh khắc phép lạ – một bàn tay nắm lấy tay em bé và tiếng gọi “Talitha kum!”. Nhưng Chúa Giêsu không chỉ trả lại sự sống; Ngài bảo đảm sự sống ấy được nuôi dưỡng. Phục sinh không phải là một cảm xúc cao trào; phục sinh phải được chăm sóc mỗi ngày. Có bao nhiêu “con bé” quanh chúng ta đang sống mà như chết? Những người trẻ mất phương hướng; những tâm hồn mỏi mệt; những đứa con khoá cửa phòng, khoá luôn trái tim. Chúng ta có thể cầu xin cho chúng một phép lạ; nhưng sau phép lạ, ai sẽ ‘cho nó ăn?’. Và điều này đòi hỏi sự quên mình! “Phương thuốc cho mọi thứ là nước mặn: mồ hôi, nước mắt, hoặc biển cả!” – Isak Dinesen.

Đức Lêô XIV đặt một câu hỏi rất thật: “Nếu chúng ta không được nuôi bằng Tin Mừng, làm sao nuôi được người khác?”. Một người cha cạn kiệt đức tin, một người mẹ nguội lạnh cầu nguyện, một mục tử không còn sống với Lời – lấy gì để trao? Bánh chúng ta trao sẽ mang hương vị của chính đời sống mình. “Những gì bạn để lại không phải là khắc trên bia đá, mà là dệt nên trong cuộc sống của người khác!” – Pericles. Marcô còn kể chuyện một phụ nữ băng huyết len vào đám đông, chạm vào áo Chúa Giêsu. Bà đói! Đói một “sự chạm đến cứu độ”. Và bà được no – Ngài là nguồn lương thực!

Sau cùng, câu hỏi không chỉ dành cho những đứa trẻ; chính trong mỗi chúng ta cũng có một “con bé” mong manh – phần hồn dễ tổn thương, dễ bỏ cuộc. Nếu không được nuôi bằng Lời và Thánh Thể, phần ấy sẽ dần lịm tắt. ‘Cho nó ăn!’ – một mệnh lệnh nhỏ, nhưng là chương trình mục vụ của cả đời sống Kitô hữu: được nuôi dưỡng và biết nuôi dưỡng! “Khi bạn lớn lên, bạn sẽ nhận ra mình có hai bàn tay: một để giúp bản thân, và một để giúp người khác!” – Maya Angelou.

Anh Chị em,

Một tâm hồn không được nuôi bằng sự thật sẽ lớn lên bằng ảo tưởng; một trái tim không được nuôi bằng tình yêu sẽ đi tìm những thay thế rẻ tiền. ‘Cho nó ăn!’, vì thế, không chỉ là việc của cha mẹ; đó còn là trách nhiệm của mọi người lớn trước những tâm hồn bé nhỏ. Một lời khích lệ đúng lúc, một giờ đọc Kinh Thánh chung, một Thánh Lễ được tham dự với ý thức – đó là những mẩu bánh nuôi dưỡng sự sống nội tâm. Vì thế, trước hết, chúng ta phải no; phải để mình được Tin Mừng đánh thức; phải để Chúa Kitô nắm tay mình và nói, “Trỗi dậy!”. Một người đói không thể cho người khác no; lắm khi họ chỉ trao đi sự thiếu thốn của mình!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đói mà tưởng mình no, xin đánh thức con; con khát mà tưởng mình say, xin hồi tỉnh con; con rỗng mà tưởng mình đầy, xin đổ tràn con bằng chính Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IV Thường Niên

Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 5,21-43

21 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. 22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, 23 và khẩn khoản nài xin : “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống.” 24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, 26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác. 27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người. 28 Vì bà tự nhủ : “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.” 29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. 30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi : “Ai đã sờ vào áo tôi ?” 31 Các môn đệ thưa : “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi ?’” 32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. 33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. 34 Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo : “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?” 36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” 37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. 38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. 39 Người bước vào nhà và bảo họ : “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy ? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” 40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm. 41 Người cầm lấy tay nó và nói : “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là : “Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !” 42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc. 43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.


 

HÃY DÀNH THỜI GIỜ – (Mẹ Teresa Calcutta)

Cộng Đoàn CGVN Birmingham

HÃY DÀNH THỜI GIỜ

(Mẹ Teresa Calcutta)

Hãy dành thì giờ suy nghĩ. Đó là nguồn sức mạnh.

Hãy dành thì giờ để cầu nguyện. Đó là sức mạnh toàn năng.

Hãy dành thì giờ cất tiếng cười. Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.

Hãy dành thì giờ chơi đùa. Đó là bí quyết để trẻ mãi không già.

Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu. Đó là ưu tiên Thiên Chúa ban cho.

Hãy dành thì giờ để cho đi, vì một ngày quá ngắn để ích kỷ.

Hãy dành thì giờ đọc sách. Đó là nguồn khôn ngoan.

Hãy dành thì giờ để thân thiện. Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.

Hãy dành thì giờ để làm việc. Đó là giá của thành công

Hãy dành thì giờ cho bác ái. Đó là chìa khóa cửa thiên đàng.”


 

Một người tên Vasili Arkhipov đã cứu cả thế giới

My Lan Pham

Ngày 27 tháng 10 năm 1962 ,ngày mà các sử gia sau này gọi là “Thứ Bảy Đen” , Khủng hoảng Tên lửa Cuba chạm tới điểm nguy hiểm nhất. Quân đội Mỹ và Liên Xô đứng sát bờ vực chiến tranh hạt nhân. Dưới làn nước ấm của vùng Caribe, một tàu ngầm Liên Xô mang số hiệu B-59 bị mắc kẹt, hoàn toàn vô hình với thế giới phía trên.

Bên trong “chiếc quan tài thép” ấy, điều kiện sống đã trở nên không thể chịu đựng. Hệ thống điều hòa đã hỏng nhiều ngày trước trong cái nóng nhiệt đới, nhiệt độ bên trong vượt quá 49°C (120°F). Nhiều người gục xuống vì say nóng. Nồng độ CO₂ tăng dần tới mức chết người. Mỗi hơi thở đều giống như đang chết đuối. Thủy thủ đoàn không nhận được bất kỳ liên lạc nào từ Moscow suốt gần một tuần. Với họ, rất có thể Thế chiến III đã nổ ra rồi.

Rồi những vụ nổ bắt đầu.

Trên mặt nước, 11 tàu khu trục của Hải quân Mỹ đã bao vây tàu ngầm và thả bom chìm. Phía Mỹ xem đó là những “bom chìm huấn luyện” ,phát tín hiệu cảnh cáo để buộc tàu ngầm phải nổi lên. Nhưng phía Liên Xô không hề biết điều đó. Với thủy thủ đoàn B-59, bị mắc kẹt trong bóng tối và cái nóng ngạt thở, mỗi tiếng nổ vang lên như hồi chuông tận thế. Thân tàu rên rỉ. Thiết bị rung bật. Con người bám víu vào bất cứ thứ gì có thể giữ được.

Cuối cùng, Thuyền trưởng Valentin Savitsky không chịu nổi nữa. Kiệt quệ, thiếu oxy, và tin rằng chiến tranh đã bắt đầu, ông gào lên giữa hỗn loạn:

“Có thể chiến tranh đã nổ ra trên kia rồi trong khi chúng ta nhào lộn ở đây! Chúng ta sẽ bắn ngay bây giờ! Chúng ta sẽ chết, nhưng sẽ nhấn chìm tất cả bọn chúng ,chúng ta sẽ không trở thành nỗi nhục của hạm đội!”

Ông ra lệnh chuẩn bị Vũ khí Đặc biệt: một ngư lôi hạt nhân với sức công phá 15 kiloton ,đủ để xóa sổ toàn bộ hạm đội Mỹ phía trên. Nếu phóng đi, Hoa Kỳ sẽ cho rằng chiến tranh hạt nhân đã bắt đầu. Moscow sẽ bị tấn công trong vài giờ. Liên Xô sẽ đáp trả. Hàng trăm triệu người sẽ chết.

Nhưng quy trình của Liên Xô yêu cầu sự đồng thuận tuyệt đối của ba sĩ quan cao cấp nhất trên tàu trước khi phóng vũ khí hạt nhân.

Thuyền trưởng đồng ý.

Chính ủy chính trị đồng ý.

Hai phiếu cho sự hủy diệt.

Rồi họ quay sang người thứ ba.

Vasili Arkhipov ,chỉ huy hải đội và phó chỉ huy của toàn bộ lữ đoàn tàu ngầm ,nắm lá phiếu quyết định. Mọi lập luận đều dẫn tới việc đồng ý. Những vụ nổ là thật. Mối đe dọa là tức thì. Thuyền trưởng ra lệnh. Thủy thủ đoàn đang nhìn vào ông. Đất nước của ông có thể đã bị tấn công. Nói “có” sẽ là điều dễ dàng nhất trên đời.

Arkhipov nhìn những khuôn mặt xung quanh. Ông lắng nghe các tiếng nổ. Ông cảm nhận cái nóng ngạt thở. Và rồi ông nói một từ:

“Không.”

Ông giữ được sự bình tĩnh đến khó tin. Giọng nói vững vàng:

“Đây không phải là tấn công,” ông khẳng định. “Đây là tín hiệu. Là cảnh báo buộc chúng ta nổi lên. Nếu chúng ta phóng vũ khí này, chúng ta sẽ kết thúc thế giới. Chúng ta không thể biết chiến tranh đã bắt đầu hay chưa. Chúng ta phải nổi lên và xác minh.”

Thuyền trưởng bùng nổ giận dữ. Một cuộc cãi vã dữ dội nổ ra trong phòng điều khiển chật hẹp. Sĩ quan tranh cãi. Mọi người la hét. Áp lực khủng khiếp đè nặng. Nhưng Arkhipov từ chối xoay chìa khóa. Không có phiếu của ông, việc phóng là bất khả thi.

Trong những phút dài như hàng giờ, ông kiên định. Rồi ,gần như không thể tin nổi ,ông thuyết phục được thuyền trưởng xem xét lại. Họ sẽ nổi lên. Họ sẽ liên lạc. Họ sẽ xác nhận sự thật trước khi kết liễu nền văn minh.

B-59 trồi lên khỏi làn nước đen và phá vỡ mặt biển. Các tàu khu trục Mỹ lập tức bao quanh. Những khoảnh khắc căng thẳng trôi qua. Nhưng không có tên lửa. Không có tấn công. Không có chiến tranh. Tàu ngầm được hộ tống rời đi. Thủy thủ đoàn trở về nhà. Và thế giới tiếp tục quay ,không hề biết mình đã ở gần bờ vực hủy diệt đến mức nào.

Khi B-59 trở về vùng biển Liên Xô, thủy thủ đoàn phải đối mặt với sự nhục nhã. Họ đã bị phát hiện và buộc phải nổi lên ,một nỗi xấu hổ trong hệ thống quân đội Liên Xô cứng nhắc. Arkhipov sống phần đời còn lại trong vô danh. Ông không tìm kiếm sự ghi công. Ông qua đời lặng lẽ năm 1998, vì phơi nhiễm phóng xạ từ một tai nạn tàu ngầm khác nhiều năm trước. Thế giới không hề biết ông đã làm gì.

Mãi đến năm 2002, khi các hồ sơ Liên Xô được giải mật và một hội nghị tại Havana công bố toàn bộ câu chuyện về B-59. Các quan chức Mỹ lắng nghe trong sự sững sờ, khi nhận ra họ đã ở gần chiến tranh hạt nhân đến mức nào. Thomas Blanton, giám đốc Cơ quan Lưu trữ An ninh Quốc gia, tóm lược di sản của Arkhipov bằng một câu:

“Bài học ở đây là: một người tên Vasili Arkhipov đã cứu cả thế giới.”

Một người. Một từ. Một quyết định được đưa ra dưới áp lực không thể tưởng tượng.

Ông không cứu một thành phố.

Không cứu một quốc gia.

Ông cứu mọi con người đã sống kể từ ngày đó , mọi đứa trẻ, mọi giấc mơ, mọi bình minh, mọi ngày mai.

Arkhipov chứng minh một điều sâu sắc về bản chất con người: lòng dũng cảm thực sự không nằm ở việc bạn bóp cò nhanh đến đâu, mà ở sức mạnh giữ cho bàn tay bạn vững vàng khi mọi thứ xung quanh là hỗn loạn. Ở việc chọn lý trí khi hoảng loạn dường như là điều chính đáng. Ở việc nhận ra rằng có những quyết định quá quan trọng để đưa ra trong cơn giận dữ.

Mỗi hơi thở bạn đã hít vào, mỗi người bạn đã yêu, mỗi khoảnh khắc bạn đã sống ,đều tồn tại vì, vào một buổi chiều ngột ngạt ở Caribe, một người đàn ông mà thế giới chưa từng biết đến đã quyết định rằng nhân loại xứng đáng có thêm một cơ hội nữa.

Theo World’s History

My Lan Phạm


 

Bà mất tất cả, trừ mạng sống – Gerda Weissmann Klein (1924–2022)

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Một người phụ nữ đang hấp hối nói với một người lính rằng cô là người Do Thái.

Câu trả lời chỉ ba chữ của anh đã thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, Volary, Tiệp Khắc.

Cô đứng ở cửa một nhà máy.

Gầy trơ xương. Gần như sắp chết.

Hai mươi tuổi — nhưng không còn trông giống một con người.

Chỉ còn 30 ký.Tóc bạc trắng vì đói. Quần áo rách nát, đầy chấy rận.

Ba năm không được tắm rửa. Sau lưng cô, 119 phụ nữ khác nằm la liệt trên mặt đất, thoi thóp thở.

Họ là những người còn sót lại cuối cùng.

Ba tháng trước đó, 4.000 phụ nữ Do Thái bị ép phải đi bộ. Một cuộc hành quân tử thần từ Đức sang Tiệp Khắc. 560 km giữa mùa đông.

Không áo khoác. Gần như không có thức ăn. Ai ngã xuống — bị bắn chết tại chỗ.

Gerda Weissmann đã chứng kiến 3.880 phụ nữ chết dọc đường.

Bạn thuở nhỏ. Những người xa lạ rồi trở thành chị em.

Tất cả đều chết. Cô vẫn tiếp tục bước đi. Không phải vì cô mạnh hơn.

Không phải vì còn hy vọng. Mà vì trong túi áo cô có một tấm ảnh duy nhất của gia đình. Và chừng nào còn bước tiếp, họ vẫn chưa hoàn toàn biến mất.

Cha mẹ. Anh trai.

Tất cả đều đã bị giết trong các trại tập trung.

Cô là người cuối cùng còn sống. 

Ba năm trước cuộc hành quân, Gerda đã sống sót qua các trại lao động của phát xít Đức. Đói khát. Bệnh tật.Sự tàn bạo không thể diễn tả.

Nhưng cô giữ được một thứ mà Đức quốc xã không thể cướp đi:

Danh tính của mình.

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, cô nghe thấy tiếng xe tiến lại.

Lính Mỹ. Một viên trung úy trẻ bước xuống từ chiếc jeep.

Ánh mắt anh chạm vào ánh mắt của cô gái gầy gò, kiệt quệ — trông già hơn tuổi rất nhiều.

Gerda nói bằng tiếng Anh ngập ngừng, câu duy nhất cô có thể thốt ra:

“Chúng tôi là người Do Thái.” Người lính dừng lại. Rồi nói hai chữ:

“Tôi cũng vậy.”

Anh tên là Kurt Klein.

Một người Do Thái gốc Đức, đã chạy sang Mỹ năm 1937.

Anh gia nhập quân đội Mỹ để chiến đấu chống lại chế độ đã phá hủy thế giới của mình.

Và giờ đây, anh đứng trước mặt một cô gái đang hấp hối.

Điều Kurt làm tiếp theo, Gerda sẽ nhớ suốt 77 năm.

Anh giữ cửa cho cô. Một cử chỉ rất nhỏ.

Nhưng là điều cô chưa từng được cảm nhận từ năm mười lăm tuổi.

Phẩm giá. Sự tôn trọng. Tính người.

Sau này Kurt nói:

“Cô ấy bước về phía tôi, và tôi đã gặp người vĩ đại nhất mà tôi từng biết.”

Trong những tuần tiếp theo, anh giúp chăm sóc các nạn nhân sống sót.

Anh và Gerda trò chuyện.

Giữa cái chết, sự tàn phá, nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng…

một điều bất ngờ đã xảy ra. Sự kết nối. Sau khi Kurt được điều đi nơi khác, họ viết thư cho nhau.

Lời nói thành cảm xúc. Cảm xúc thành sự chắc chắn. Ngày 18 tháng 6 năm 1946, Paris.

Họ kết hôn.

Họ chuyển đến Buffalo, New York. Kurt đi làm. Gerda nuôi ba đứa con.

Họ xây dựng một cuộc đời từ tro tàn.

Nhưng Gerda không thể quên 3.880 người còn lại.

Năm 1957, bà xuất bản hồi ký: All But My Life — Mất tất cả, trừ mạng sống.

Cái tên đã nói lên tất cả.

Đức quốc xã đã lấy đi gia đình bà.

Tuổi thơ. Sức khỏe. Quá khứ.

Nhưng không lấy được mạng sống.

Cuốn sách trở thành một tư liệu quan trọng về Holocaust.

Được giảng dạy ở trường học, đại học.

Hàng triệu người đọc. Gerda trở thành tiếng nói cho những người không còn tiếng nói.

Bà đi khắp nơi nói chuyện. Không mệt mỏi. Suốt nhiều thập kỷ.

Thông điệp của bà không bao giờ thay đổi:

Hãy nhớ. Hãy lên tiếng trước thù hận. Hãy bảo vệ tự do — mong manh.

Hãy chọn phẩm giá và lòng trắc ẩn.

Năm 1995, bộ phim tài liệu One Survivor Remembers đoạt giải Oscar.

Năm 2010, Tổng thống Obama trao cho bà Huân chương Tự do Tổng thống.

Kurt qua đời năm 2002. Họ có 56 năm hôn nhân.

Gerda tiếp tục một mình.

Tiếp tục nói. Tiếp tục dạy. Tiếp tục nhắc thế giới phải nhớ.

Cho đến ngày 3 tháng 4 năm 2022.

Bà 97 tuổi.

Bà đã sống sót qua điều tưởng như không thể sống sót.

Biến chấn thương thành chứng nhân.

Biến nỗi đau thành mục đích sống.

Và tất cả bắt đầu từ hai chữ:

“Tôi cũng vậy.”

Một người lính giữ cửa cho một cô gái đang hấp hối.

Rồi dành 56 năm sau đó để tiếp tục giữ cửa cho cô — cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Họ không chỉ sống sót sau Holocaust.

Họ đã chiến thắng nó. Không phải bằng cách quên đi. Mà bằng cách ghi nhớ.

Và xây dựng một cuộc đời có ý nghĩa từ đống đổ nát của diệt chủng.

4.000 phụ nữ bắt đầu cuộc hành quân vào tháng 1 năm 1945.

120 người sống đến tháng 5.

Gerda dành 77 năm để tưởng nhớ 3.880 người không sống sót.

Đó không chỉ là sống sót.

Đó là biến bi kịch thành mục đích.

Biến điều tồi tệ nhất của loài người thành cuộc đấu tranh cho điều tốt đẹp nhất.

Bà đã ra đi. Nhưng tiếng nói của bà còn đó. Lời chứng của bà còn đó.

Và lời nhắc của bà vẫn còn: Hãy nhớ. Đừng bao giờ quên.

Không bao giờ tái diễn nữa.

Gerda Weissmann Klein (1924–2022)

Bà mất tất cả, trừ mạng sống. Và rồi bà dành chính mạng sống ấy cho những người đã mất. Và chúng ta sẽ nhớ.

Bởi sau tất cả những gì bà đã sống sót, và tất cả những gì bà đã trao lại cho nhân loại, đó là điều tối thiểu chúng ta phải làm.

TG Văn Chương

#anhchiquandiemcanhan


 

Cambodia bắt giữ hơn 2,000 người tại trung tâm lừa đảo, có 177 người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

February 1, 2026

PHNOM PENH, Cambodia (NV) – Cảnh sát Cambodia càn quét một trung tâm cờ bạc và lừa đảo ở tỉnh Sway Rieng bắt giữ hơn 2 ngàn người mà trong số đó có 177 người Việt Nam.

Vụ càn quét diễn ra sáng ngày 31 Tháng Giêng tại một trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến rộng lớn với 22 tòa nhà cao tầng trong thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng, gần biên giới với Việt Nam, đối diện với hai tỉnh Tây Ninh và Long An.

Một số người bị bắt khi 700 cảnh sát Cambodia bố ráp 22 tòa nhà thuộc trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến thuộc thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng. (Hình: SCMP/Bộ Nội Vụ Cambodia)

Báo chí Cambodia nói khoảng 700 cảnh sát đặc nhiệm đã được sử dụng trong cuộc càn quét này. Họ đã bắt giữ tất cả 2,044 người ngoại quốc thuộc chín quốc tịch khác nhau. Trong đó, người Trung Quốc bị bắt nhiều nhất với 1,792 người. Kế đến là 179 người Miến Điện, 177 người Việt Nam, 30 người Nepal, 5 người Đài Loan, một người Malaysia, hai người Lào, 36 người Ấn Độ và một người Mexico.

Báo South China Morning Post, ngày 1 Tháng Hai, dẫn lời phát ngôn viên Bộ Nội vụ Cambodia cho hay “Cambodia không phải nơi an toàn cho tội phạm mà là địa ngục của tội phạm.”

Người ta chỉ thấy nước này mạnh tay trấn áp các trung tâm cờ bạc và lừa đảo sau khi ông trùm Chen Zhi (Trần Chí) trùm các ông trùm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị áp lực trục xuất và dẫn giải về Trung Quốc.

Ngày 7 Tháng Giêng vừa qua, Trần Chí, 38 tuổi, và hai phụ tá cũng người Hoa, bị Cambodia bắt giữ, lột quốc tịch, rồi chuyển giao cho Trung Quốc. Tay này từng bị chính phủ Mỹ cáo buộc lừa đảo, đánh cắp một số tiền điện tử (bitcoin) trị giá tới $15 tỷ. Ông sử dụng một mạng lưới khổng lồ các cơ sở cờ bạc, lừa đảo trực tuyến tại Cambodia và tại nhiều nước khác để hoạt động hơn chục năm qua trong sự làm ngơ của nước này.

Theo nhà cầm quyền Phnom Penh thống kê, để rửa nghi vấn tiếp tay băng đảng tội phạm quốc tế, chỉ riêng chín tháng đầu của năm 2025, họ đã phá vỡ 48 tổ chức lừa đảo trực tuyến và đưa ra tòa kết án 168 người. Gần 3,000 người ngoại quốc đã bị trục xuất về nguyên xứ. Cuộc bố ráp đầu năm nay tại thị trấn Bavet vốn nổi tiếng với các trung tâm lừa đảo trực tuyến và cờ bạc xuyên biên giới mà không ít người Việt là nạn nhân, rồi sau đó, bị ép buộc trở thành những kẻ tiếp tay lừa đảo người Việt tại quê nhà.

Không thấy có những thống kê chính thức nhưng người ta từng thấy có các vụ bắt giữ và trục xuất từ vài chục đến vài trăm người Việt từ các trung tâm cờ bạc và lừa đảo tại Cambodia trong những năm qua.

Cả trăm người xếp hàng trước trụ sở Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Khnom Penh ngày 19 Tháng Giêng, 2026. Phóng viên AFP hỏi thăm chi tiết thì tất cả đều từ chối trả lời. (Hình: AFP/Getty Images)

Báo chí tại Việt Nam từng đưa tin 177 người Việt Nam tại các trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị Cambodia trục xuất ngày 12 Tháng Hai, 2025. Từ ngày 27 Tháng Sáu đến 18 Tháng Bảy, 2025, Cambodia đã bố ráp 45 địa điểm tại thủ đô Phnom Penh và 11 tỉnh, bắt giữ tổng cộng 2,270 người trong đó có 161 người Việt Nam.

Giữa Tháng Tám, 2025, Cambodia đã trục xuất 353 người Việt Nam sau một đợt truy soát ở một khu vực đối diện tỉnh Tây Ninh. Sau đó ngày cuối Tháng Mười năm này, báo Khmer Times đưa tin Cambodia trục xuất 63 người quốc tịch Việt Nam trong đó có 11 phụ nữ bị cáo buộc “cư trú bất hợp pháp và tham gia các hoạt động lừa đảo trực tuyến.”

Hàng ngàn người Việt Nam đã bị dụ dỗ “việc nhẹ lương cao” ở Cambodia. Ban đầu họ là nạn nhân, bị nhốt và bị thu hết giấy tờ tùy thân, hộ chiếu rồi bị ép trở thành những người lừa đảo các người đồng hương khác, theo lời khai của một số người khi bị trả về nước. Nếu không thi hành, họ bị tra tấn, đánh đập và bỏ đói. Gia đình một số người đã phải trả những số tiền lớn để giải thoát. (NTB) [kn]


 

 Lễ Dâng Chúa trong đền thờ – Cha Vương

Ngày Chúa Nhật hạnh phúc và bình an trong tình yêu thương của Chúa nhé.

Cha Vương

CN: 1/2/2026.   (n2-25)

TIN MỪNG: Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ. Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.” (Lc 2: 30-32)

SUY NIỆM: Hôm nay là Lễ Dâng Chúa trong đền thờ. Năm 450, lễ này được gọi là Lễ Gặp gỡ của Chúa vì Chúa Giêsu tiến vào Đền Thờ và “gặp gỡ” các tư tế, cùng với ông Simêon và bà Anna, những đại diện của dân Thiên Chúa. Rồi vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5, lễ này đã được cử hành tại Rôma. Và sau đó, nghi thức làm phép nến được thêm vào để nhắc nhở rằng Chúa Giêsu là “ánh sáng soi đường cho muôn dân.” Đó là lý do tại sao lễ này đôi khi còn được gọi là Lễ Nến.

   Đền Thờ Giêrusalem là dấu chỉ của Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với dân riêng của Ngài là Ítraen, Thân Thể Chúa Giê-su là Đền Thờ mới, là dấu chỉ của Giao Ước mới được ký kết với Thiên Chúa bằng chính máu Ngài, qua hy lễ  Thánh Giá. Giao Ước mới  đã không chỉ được ký kết với một dân tộc, một mầu da, một tiếng nói, nhưng với toàn thể nhân loại, vì Đức Giêsu đã tự hiến mình để cứu chuộc tất cả mọi người, bất phân mầu da, ngôn ngữ, văn hoá, chính kiến, giai tầng,  hoàn cảnh … như chính Ngài đã nói với các môn đệ trước khi lên đường đi chịu chết: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24).

   Trong ngày lãnh nhận bí tích rửa tội bạn được cha mẹ và những người thân thương đưa vào đền thờ của Giao Uớc Mới, bạn được sức dầu, được thánh hiến và trở thành con Chúa. Bạn cũng được trao cho một cây nến với ánh sáng lấy từ cây nến Phục Sinh. Điều này nhắc nhở rằng bạn đã được Chúa Kitô soi sáng, và hãy luôn luôn sống như con cái sự sáng và bền vững trong đức tin. Nhờ đó, khi Chúa đến, bạn được ra nghinh đón Người và toàn thể các Thánh trên trời. Bạn có thực sự sống như con cái sự sáng không? Xin Chúa Thánh Thần biến đổi và thánh hoá bạn để mọi người nhận ra bạn là con cái của sự sáng nhé.

LẮNG NGHE: Lạy THIÊN CHÚA, giữa nơi đền thánh, chúng con hồi tưởng lại tình CHÚA yêu thương. Danh thánh CHÚA gần xa truyền tụng, tiếng ngợi khen Ngài khắp cõi lừng vang; tay hữu CHÚA thi hành công lý. (Tv 48:10-11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con xin dâng linh hồn và thân xác con cho Chúa, “chớ gì sống chết con được giữ một lòng kính mến Chúa luôn.”

THỰC HÀNH: Hết lòng tin tưởng, hãy dâng lên Chúa tất cả những vui buồn sướng khổ trong ngày hôm nay. 

From: Do Dzung

***********************

DÂNG CHÚA TRONG ĐỀN THỜ – Lm Bùi Ninh

GẦN MÀ XA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa”.

“Có thể ở trong nhà thờ mà không ở trong Đức Kitô!” – Charles Spurgeon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng lễ Dâng Chúa vào Đền Thánh mời chúng ta tự hỏi, tôi thường vào nhà thờ để gặp Chúa, hay chỉ để chu toàn một việc đạo đức? Vì có thể ở trong nhà thờ mà không ở trong Đức Kitô – ‘gần mà xa’ là thế!

Lên đền thờ, Hài Nhi được ẵm vào nơi Thiên Chúa ngự. Nghịch lý thay, Đấng là Chủ bước vào nhà của mình như một người khách. Đó không chỉ là một nghi thức, nhưng là khởi đầu của một mầu nhiệm: Thiên Chúa đến trong dáng vẻ nhỏ bé, âm thầm. Simêon thấy ánh sáng; người khác chỉ thấy một đứa trẻ – một hiện diện, hai khoảng cách! Ngài đến âm thầm, để ai mở lòng thì thấy. Đền thờ rồi sẽ sụp đổ, nhưng điều thực sự rêu phong là lòng người. Khi trái tim không còn nhận ra Đấng đang ở giữa mình, thì dù đá còn nguyên, nơi thiêng thánh đã bắt đầu hoang phế từ bên trong. “Bi kịch của đời sống không phải Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là chúng ta vắng mặt!” – Paul Tillich.

Thánh Thể không vắng, sự hiện diện không thiếu; điều có thể thiếu là cái nhìn của Simêon – đôi mắt biết chờ, tấm lòng biết khát. Thiên Chúa vẫn ở đó, không cưỡng ép lòng người. “Gần mà xa” – không vì Ngài lùi bước, nhưng vì trái tim khép lại. Và khi lòng khép, khoảng cách không đo bằng không gian, mà bằng sự dửng dưng. Ngày lễ hôm nay không chỉ nói về một Hài Nhi; nó hỏi mỗi chúng ta: đền thờ lòng tôi có nhận ra Đấng đang đến hay Ngài vẫn rất xa xôi?

Chúa Giêsu không chỉ được ẵm “vào đền thờ”, nhưng để chính mình được dâng như một của lễ; không để chiếm chỗ, nhưng để trao mình. Ngay từ phút đầu tiên lên Giêrusalem, đời Ngài đã là một hành trình hy tế – hiến trao, hiện diện – thuộc trọn về Cha. Vì thế, khoảng cách không nằm ở việc chúng ta có đến nhà thờ hay không, nhưng ở chỗ chúng ta có dám trở thành của lễ? Có thể hiện diện đều đặn, nhưng đời sống vẫn khép kín; gần bàn thờ mà chưa từng đặt mình lên bàn thờ. Khi chưa dám hiến trao, bạn và tôi vẫn còn đứng ngoài mầu nhiệm – vẫn ‘gần mà xa’. “Đối nghịch với tình yêu không phải là thù ghét, nhưng là dửng dưng!” – Elie Wiesel.

Anh Chị em,

Hài Nhi Giêsu được bế lên Giêrusalem để được tiến dâng; nhưng của lễ ấy không dừng ở nghi thức. Từ cánh tay của Maria, Ngài đi vào cuộc dâng hiến trọn đời. Giêrusalem chỉ là khởi điểm; Canvê mới là đỉnh cao. Ở đó, không còn đôi tay mẹ cha dâng thay, nhưng chính Ngài sẽ tự hiến. Nếu tại đền thờ, Ngài được đặt vào tay Chúa Cha, thì trên thập giá, Ngài đặt cả nhân loại vào tay Cha. Một đời bắt đầu bằng việc được dâng, và hoàn tất trong việc tự hiến – từ Đền Thờ bằng đá đến Đền Thờ Thập Giá, từ ánh nến hiền hoà đến máu và nước chảy tuôn – bừng lên ánh sáng cứu độ muôn dân. “Tự hiến là luật của hiện hữu!” – Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con lên đền thờ, mà chưa bước vào mầu nhiệm; con chạm bàn thờ, mà chưa đặt mình lên đó; dạy con tự hiến như Chúa, để không còn xa… mà gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Hai, 02/01, DÂNG CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH

Chính mắt con được thấy ơn cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.        Lc 2,22-32 

22 Khi đã đủ thời gian, đến ngày các ngài phải được thanh tẩy theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, 23 như đã chép trong Luật Chúa rằng : “Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa”. 24 Ông bà cũng lên để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 25 Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. 26 Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. 27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để làm điều người ta quen làm theo luật dạy, 28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng :

29“Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31Chúa đã dành sẵn cho muôn dân :
32Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”


 

Biển không nói – HỒI KÝ THUYỀN NHÂN !

Biển không nói

Thuyền nhân !

Hồi ký này không được viết để kể lại một chuyến đi, mà để ghi nhận những gì đã không thể trở về cùng người sống sót.

Những trang sau không tìm kiếm sự cảm thông, không yêu cầu phán xét, và cũng không mong được tha thứ.

Chúng chỉ tồn tại vì có những điều đã xảy ra ngoài khơi xa, nơi luật pháp không với tới, và sự im lặng đã kéo dài quá lâu.

Nếu còn điều gì cần nói, thì chỉ một điều này:

Biển không nói.

Nhưng con người thì phải nhớ.

HỒI KÝ THUYỀN NHÂN

Tôi rời bến vào một buổi sáng không gió.

Nước sông đục, mùi bùn và dầu máy quyện vào nhau như một lời tiễn biệt không ai nói ra. Tôi không quay đầu. Không ai trong chúng tôi quay đầu. Quay lại để làm gì, khi phía sau đã khép lại bằng sợ hãi, và phía trước, dù là biển, vẫn còn một chữ “sống” mỏng manh để bám.

Con thuyền nhỏ hơn tôi tưởng. Người thì nhiều hơn. Chúng tôi ngồi ép vào nhau, vai chạm vai, đầu gối chạm đầu gối, nhưng ai cũng cô độc theo cách riêng. Có người ôm một túi gạo như ôm sinh mạng. Có người nắm chặt tay con, như thể chỉ cần buông ra là đứa trẻ sẽ rơi khỏi đời này.

Những ngày đầu, biển hiền. Sóng nhỏ. Trời cao. Chúng tôi chia nhau từng ngụm nước, từng miếng bánh khô. Mỗi sáng mặt trời lên, tôi tự nhủ: thêm một ngày. Đến đêm, tôi lại tự nhủ: chưa chết. Chỉ cần hai câu đó là đủ để đi tiếp.

Rồi nước cạn.

Rồi người bắt đầu lả đi.

Rồi hải tặc đến.

Biển đêm hôm đó lặng đến lạ kỳ. Chúng tôi, những con người xa lạ gom góp niềm tin vào một chiếc ghe nhỏ, nhìn về phía chân trời với hy vọng đổi đời. Thế nhưng, hy vọng ấy vụt tắt khi một chiếc tàu lạ vọt tới.

Dưới ánh đèn pha quét qua quét lại như mắt quỷ, những gương mặt đen sạm, tay lăm lăm vũ khí nhảy xổ lên tàu. Lúc đó, biển không còn là mẹ hiền nữa, biển trở thành một hố đen sâu thẳm sẵn sàng nuốt chửng lấy chúng tôi.

Không có cảnh hỗn loạn như trong phim. Chỉ là một chiếc tàu xuất hiện quá nhanh, tiếng máy nổ đột ngột xé toạc sự im lặng mà chúng tôi đã quen. Họ bước lên thuyền như bước vào chỗ của mình. Ánh mắt họ lướt qua từng người, không tò mò, không do dự. Tôi hiểu ngay lúc đó: chúng tôi không phải là con người trong mắt họ.

Tôi bị chọn.

Không vì lý do gì đặc biệt.

Chỉ vì tôi còn trẻ.

Khoảnh khắc rời con thuyền cũ, tôi nhớ rất rõ bàn tay một người đàn bà khác nắm lấy tay tôi rồi buông ra. Không ai nói gì. Trên biển, lời nói là thứ xa xỉ. Chúng tôi học cách im lặng để sống.

Những ngày sau đó, thời gian mất hình dạng. Tôi không còn đếm ngày. Tôi đếm nhịp thở. Tôi tồn tại như một cái bóng, làm mọi thứ chỉ để tránh điều tệ hơn. Tôi học được rằng cơ thể có thể chịu đựng rất nhiều, nhưng tâm trí thì không quên. Nó ghi lại mọi thứ, lặng lẽ, để dành cho những năm sau.

Khi họ trả tôi về, không có lời giải thích. Tôi trở lại con thuyền cũ như một người khác. Không ai hỏi. Tôi cũng không kể. Chúng tôi nhìn nhau bằng một thứ ánh mắt mà chỉ những người đã đi qua biển mới hiểu: đừng mở ra. Có những chuyện, nếu mở ra giữa đại dương, thì tất cả sẽ chìm.

Chúng tôi trôi thêm nhiều ngày nữa. Có người chết. Có người được thủy táng , thả xuống nước, không kèn không trống. Biển nhận người rất nhanh. Nhanh đến mức đáng sợ.

Khi con tàu cứu hộ xuất hiện ở phía chân trời, tôi đã không khóc nổi. Nước mắt đã cạn khô từ những ngày lênh đênh trên “vùng biển chết”. Tôi hiểu rằng, mình vừa từ cõi chết trở về, mang theo những vết sẹo không bao giờ mờ trong tâm khảm.

Cuối cùng, chúng tôi đến được bờ. Đất liền dưới chân tôi không vững như tôi tưởng. Tôi run. Không phải vì mệt, mà vì cơ thể không còn biết thế nào là an toàn.

Ở trại tị nạn, người ta phát cho tôi một con số. Hỏi tôi vài câu. Ghi chép. Họ hỏi tôi có bị làm hại không. Tôi gật đầu. Chỉ vậy. Tôi không có từ ngữ để giải thích, và tôi cũng không muốn giải thích. Có những điều, khi nói ra, người nói sẽ phải sống lại thêm một lần nữa.

Những năm sau đó, tôi định cư. Tôi học ngôn ngữ mới. Tôi đi làm. Tôi lập gia đình. Tôi sinh con. Bề ngoài, đời tôi giống như rất nhiều đời khác: cần cù, lặng lẽ, không gây chú ý. Nhưng bên trong, tôi luôn mang theo biển.

Biển theo tôi vào giấc ngủ.

Vào mùi nước mặn khi rửa cá.

Vào tiếng máy tàu nghe thấy từ rất xa.

Có những đêm tôi thức giấc, tim đập nhanh, cơ thể co lại như đang ở trên boong tàu cũ. Tôi phải chạm tay vào tường, vào sàn nhà, để nhắc mình rằng tôi đang ở đây, trên đất liền, an toàn. An toàn, một khái niệm tôi mất rất lâu mới dám tin.

Tôi không kể chuyện này cho con tôi. Tôi không muốn biển đi theo nó. Nhưng tôi viết ra đây, vì nếu tôi không viết, thì những gì đã xảy ra sẽ chỉ còn tồn tại trong im lặng. Và im lặng, tôi đã hiểu, là thứ đã che chở cho tội ác quá lâu.

Tôi không cần được thương hại.

Tôi chỉ cần được ghi nhận.

Chúng tôi đã vượt biển không phải để trở thành nạn nhân trong ký ức người khác, mà để sống. Nhưng cái giá của việc sống sót, có những người phải trả suốt cả đời.

Nếu bạn đọc đến đây, xin nhớ một điều:

chúng tôi không phải là con số.

không phải là chú thích lịch sử. chúng tôi là những người đã mang biển vào trong người, và vẫn phải học cách sống tiếp, trên đất liền.

Tôi đã đi qua biển.

Biển không nói gì.

Những điều mất đi

không trở lại cùng tôi.

Tôi còn sống.

Chỉ vậy thôi.

Phạm Sơn Liêm. Từ FB Lamkim Trong