Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Cha Vương

Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Mình và Máu Thánh Chúa, ước mong bạn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn mình nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện và thế giới nhe 

Cha Vương

CN: 07/6/2026.        (n11-23)

TIN MỪNG: Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6:58)

SUY NIỆM: Thánh Cyrillô thành Alexandria mô tả sự tác động của Bí Tích Thánh Thể đối với người Kitô hữu Công Giáo như sau: “khi sáp nóng chảy được kết hợp với một loại sáp khác.” Cũng như vậy hành trình của người Kitô hữu là một cuộc hành trình để trở nên giống Chúa Kitô, để “ở lại trong Ngài” và Ngài ở trong chúng ta. Bí Tích Thánh Thể là nơi xảy ra điều này. Việc đón đón nhận Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể (BTTT) tháp nhập con người chúng ta vào thân thể của Chúa Kitô. BTTT là Bí Tích của sự hiệp nhất! Khi bạn rước Mình và Máu Thánh Chúa bạn được trở nên như Chúa (you become what you eat). Điều này có thực sự xảy ra trong tâm hồn bạn hay không? Nếu bạn càng được kết hiệp gần gũi với Chúa Kitô trong BTTT, thì bạn càng được kết hợp chặt chẽ với tất cả những người khác. Nói cách khác, Bí Tích Thánh Thể giống như chất keo kết nối bạn với Chúa Giêsu và với mọi anh chị em khác trong Giáo Hội. Thế mà khi rước Chúa vào lòng, đôi khi lòng bạn vẫn còn đầy ắp những thù hằn ghen ghét… Thảm nào Chúa dạy rằng: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5:23-24) 

Việc làm hoà với nhau là “điều kiện trước hết” trước khi rước Chúa vào lòng! Nếu làm được như vậy thì việc rước Chúa sẽ mang lại hiệu quả quá tuyệt vời không những cho chính bạn và cho những người chung quanh nữa. 

Thánh Tôma Aquino mô tả như sau: “Cao quý và lạ lùng thay bữa tiệc của Chúa, bữa tiệc mang lại ơn cứu độ và đầy dịu ngọt! Quả thật, còn gì quý giá hơn bữa tiệc ấy? Ở đó không phải là thịt bê thịt dê như trong luật cũ nữa, mà là chính Đức Ki-tô, Thiên Chúa thật, được dọn ra cho chúng ta rước lấy. Còn gì kỳ diệu hơn bí tích này? Nếu bạn muốn trở nên dịu ngọt trong hành động, lời nói và tư tưởng, bạn hãy chạy đến Chúa trong Bí Tích Thánh Thể đi. Càng rước Chúa thì bạn càng trở nên dịu ngọt. Mình Máu Thánh Chúa là linh dược cao quý lạ lùng, và là nguồn mạch của hạnh phúc cho những ai kết hợp với Ngài.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì luôn kết hợp với tôi, và tôi luôn kết hợp với người ấy.” (Ga 6:56)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, xin cho con biết một niềm sùng kính mến yêu bí tích kỳ diệu này, để luôn được nghiệm thấy ơn Chúa cứu chuộc con qua việc rước Mình và Máu Thánh Chúa vào lòng thường xuyên hơn.

THỰC HÀNH: Thường xuyên kiểm tra lại tâm hồn mình trước khi rước Chúa vào lòng nhé.

From: Do Dzung

*********************************

Mình Máu Chúa – Lm Quang Uy DCCT- Lãng Du 

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV-Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ 

CHƯƠNG V

NỀN VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

  1.   Sau khi xem xét cách thức mà AI đang biến đổi một số khía cạnh của đời sống và xã hội, đặc biệt là những hệ lụy nghiêm trọng đối với phẩm giá con người, giờ đây chúng ta phải hướng sự chú ý đến một vấn đề còn bi thảm hơn nữa, đó là chiến tranh. Ở đây, câu hỏi không đơn thuần là hiệu suất của các công cụ mới, mà còn là nguy cơ công nghệ khi tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm sẽ làm cho các quyết định sinh tử trở nên nhanh chóng và phi nhân hơn, đồng thời biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thì và khả thi. Trong một thế giới càng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hòa bình không chỉ đơn thuần là một vấn đề trong số những vấn đề khác, mà là điều kiện tiên quyết cho công ích phổ quát và thước đo sự trưởng thành về đạo đức của các dân tộc, đặc biệt là những người có trách nhiệm cai trị.
  2.   Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang thay đổi bản chất của các xung đột. Bên cạnh chiến tranh truyền thống, đã xuất hiện các hình thức hỗn hợp như tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và việc tự động hóa các quyết định chiến lược. AI đóng vai trò như một nhân tố thúc đẩy trong các tiến trình này, đặc biệt là trong bối cảnh mà nhiều công nghệ vốn mang tính lưỡng dụng (có thể dùng cho cả mục đích tốt lẫn xấu). Do đó, những gì được tạo ra để phòng thủ có thể nhanh chóng bị chuyển đổi công năng sang tấn công, và ranh giới mong manh giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Dù AI có thể tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ thường dân, nó cũng có thể hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng vũ lực, che chắn con người khỏi trách nhiệm và dung dưỡng một nền văn hóa mà trong đó kẻ thù bị giảm xuống thành một con số thống kê, và nạn nhân trở thành “thiệt hại ngoài ý muốn”. Đối mặt với những biến đổi này, chúng ta phải nhắc nhớ các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội — nhân phẩm, công ích, mục tiêu phổ quát của của cải, tính bổ trợ, tính liên đới và công lý — vì đó là những tiêu chuẩn để phán đoán xem liệu công nghệ có đang thực sự phục vụ nhân loại hay đang khuất phục họ. Do đó, chúng ta nên coi các nguyên tắc này như những hướng dẫn cho việc đưa ra quyết định của mình.
  3.   Vì vậy, trong chương này, tôi sẽ so sánh hai cách tiếp cận đối lập nhau mà tôi đã gợi lên qua hình ảnh Thánh Kinh trong phần Mở đầu. Một bên là sự cám dỗ xây dựng Tháp Babel, dựa vào quyền lực và sự kiêu ngạo. Bên kia đòi hỏi sự kiên nhẫn để tái thiết Giêrusalem “từng viên gạch một”, như thời ngôn sứ Nehemia, bằng cách bảo vệ nhân loại và lợi ích chung.
  4.   Nếu xem xét các động lực toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng hơn sự lan rộng của một nền văn hóa quyền lực có tính đặc trưng của sự phân cực và bạo lực. Tháp Babel hiện đại không chỉ được nhìn thấy trong mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, mà còn trong cuộc đụng độ từ xa giữa các chủ nghĩa đế quốc đối lập, giữa các cường quốc muốn bảo tồn quyền tối thượng của mình và những thế lực khát khao giành lấy quyền tối thượng đó, dẫn đến vô số xung đột cục bộ. Hơn nữa, dường như không có giới hạn nào cho cuộc đua — vốn được thúc đẩy bởi một tham vọng phi nhân — nhằm phát triển các công nghệ càng ngày càng mạnh mẽ hơn hoặc nhằm đảm bảo quyền kiểm soát chúng. Tuy nhiên, bất chấp vòng xoáy đi xuống này, chúng ta vẫn có thể thoáng thấy một phần lớn nhân loại đang nỗ lực để giữ gìn nhân tính và làm việc để xây dựng thành thánh của sự chung sống và hòa bình. Trớ trêu thay, chúng ta thường là những thợ xây vô tình và những kiến trúc sư vụng về của thành đô này, có khả năng thực hiện những nghĩa cử hào phóng nhưng lại thiếu một tầm nhìn tổng thể. Dự án xây dựng này chậm hơn, ít dễ thấy hơn và ít hào nhoáng hơn, đang chờ đợi một sự thấu hiểu tốt hơn và sự phối hợp lớn hơn để có thể trở thành trách nhiệm có ý thức và rõ ràng của mọi cộng đồng, từ các gia đình cho đến các Quốc gia, và các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Chính triển vọng dấn thân này, công trường xây dựng niềm hy vọng này, là điều chúng ta gọi là “nền văn minh tình thương”.

Nền văn minh tình thương trong kỷ nguyên kỹ thuật số

  1.   Khi Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặt ra cụm từ “nền văn minh tình thương”[177], thế giới đang ở giữa thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chạy đua vũ trang và bất ổn kinh tế trầm trọng. Trong bối cảnh đó, Hội Thánh đã đề ra một con đường thay thế cho con đường đối đầu ý thức hệ giữa các hệ thống, và hình dung ra một trật tự xã hội trong đó công lý và bác ái đan quyện vào nhau, và tình thương trở thành nguyên tắc dẫn đường cho đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngày nay, chúng ta phải kiên quyết khôi phục tầm nhìn này, vì nền văn minh tình thương không phải là một điều không tưởng và ngây thơ, mà là một dự án đòi hỏi khắt khe, bao gồm việc chuyển hóa bác ái thành các cấu trúc của công lý, tạo hình thức thể chế cho tình huynh đệ và coi những người khác — dù là cá nhân hay các dân tộc — như những đồng minh cần thiết để xây dựng công ích. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nhắc nhở chúng ta, chỉ có tình yêu xã hội này mới có thể trở thành một nền văn hóa và một chuẩn mực, và từ đó mang lại một trật tự quốc tế ổn định, biến sự chung sống vũ trang đơn thuần tuý thành một cộng đồng với một tương lai chung.[178]
  2.   Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, nhận định này càng cho thấy ý nghĩa nền tảng của nó. Các mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự phát triển của AI tạo ra các mối ràng buộc càng ngày càng chặt chẽ hơn, liên kết, theo thời gian thực, các quyết định được đưa ra ở một nơi với những hệ quả mà chúng tạo ra ở những nơi khác. Theo nghĩa này, những lời của Công đồng Vaticanô II về sự phụ thuộc lẫn nhau càng ngày càng gia tăng giữa các dân tộc vẫn mang tính thời sự, vì công ích đang có một chiều kích càng ngày càng phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại.[179] Do đó, dự án về một nền văn minh tình thương phải đảm nhận nhiệm vụ chuyển hóa sự phụ thuộc lẫn nhau có tính áp đặt này thành một sự liên đới có tính tự nguyện và được lựa chọn. Đây chính là nguyên tắc dẫn đường cho các tiến trình công nghệ. Trí tuệ nhân tạo giúp chúng ta hiệu quả hơn hoặc kết nối hơn thì chưa đủ; nó còn phải phục vụ cho việc xây dựng một gia đình nhân loại phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ chung, trong đó sự gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự cho việc gặp gỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Nền văn hóa quyền lực

  1.   Trong thời đại chúng ta, một nền văn hóa quyền lực đang ngự trị, trong đó sự sẵn có của các nguồn lực và khả năng thống trị có khuynh hướng áp đặt các chương trình nghị sự và tiêu chuẩn cho việc đưa ra quyết định. Bằng cách này, lợi ích chung của nhân loại bị đẩy lùi vào hậu trường và bi kịch cụ thể của các dân tộc trong chiến tranh bị hạ xuống thành một cân nhắc thứ yếu so với các lợi ích chiến lược. Nền văn hóa quyền lực này xâm nhập vào xã hội, thay đổi các mối quan hệ và hành vi, và lớn mạnh bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi sức mạnh quân sự càng ngày càng lớn hơn, tận dụng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa hiện thực sai lầm, vốn khăng khăng rằng không có sự lựa chọn nào khác.

Sự bình thường hóa chiến tranh

  1.   Vào năm 1965, những lời của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã vang lên mạnh mẽ tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Đừng bao giờ có chiến tranh nữa, đừng bao giờ có chiến tranh nữa!”[180] Chúng ta phải thừa nhận rằng, bất chấp những mong muốn và tuyên bố vì hòa bình, sáu mươi năm qua đã bị ghi dấu bởi các xung đột với sự tàn bạo đáng kinh ngạc, thường ảnh hưởng đến các thường dân trên một bình diện rộng lớn, dẫn đến cái chết của các nạn nhân vô tội, di dân hàng loạt, bất ổn xã hội và những vết thương lâu dài. Tuy nhiên, trên diễn ngôn công cộng, từng có một niềm tin phổ quát rằng chiến tranh chỉ nên là giải pháp cuối cùng, phải tuân theo các giới hạn đạo đức và pháp lý nghiêm ngặt, và luôn định hướng theo một tầm nhìn chính trị về hòa bình. Tiếp theo những bước phát triển trong giai đoạn ngay sau Đệ nhất Thế chiến, một bước ngoặt đã xảy ra sau Đệ nhị Thế chiến: hòa bình đã được đặt làm trọng tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, với ý định “cứu thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh,”[181] Tương tự như vậy, hiến pháp của nhiều quốc gia đã hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các hoàn cảnh cực đoan và bị giới hạn nghiêm ngặt. Ngay cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất chấp sự tồn tại của các xung đột nghiêm trọng, ý thức rằng phải tránh một cuộc thế chiến mới bằng mọi giá vẫn luôn hiện hữu.
  2.   Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô thức thực sự trong các cuộc thảo luận công cộng và trong các quyết định liên quan đến việc tái vũ trang, với sự hồi sinh đáng lo ngại của chiến tranh như một công cụ của chính trị quốc tế, trong khi chính những nguyên tắc luân lý vốn trước đây đã từng giới hạn việc sử dụng chiến tranh lại đang bị suy giảm. Các xung đột khu vực kéo dài theo thời gian, căng thẳng leo thang và các sự đe dọa lẫn nhau đang trở thành chuyện gần như bình thường, và các hình thức xung đột được thúc đẩy bởi khát vọng bành trướng lãnh thổ, vốn được cho là đã thuộc về qua khứ, nay lại đang tái xuất hiện. Các tường thuật truyền thông có tính phân cực, thường được khuếch đại bởi các thuật toán ưu tiên cho xung đột và đối đầu, đang dần hình thành và điều kiện hóa dư luận quần chúng.
  3.   Chúng ta cũng đang chứng kiến một sự mất mát đáng lo ngại về ký ức lịch sử, khi những nhân chứng trực tiếp của nạn diệt chủng Holocaust và hai cuộc Thế chiến đang dần biến mất. Điều này dẫn đến việc viết lại quá khứ một cách có chọn lọc hoặc bóp méo, trong một bối cảnh mà các tin giả và sự thao túng các câu chuyện che mờ các bài học đã được rút ra. Không có một ký ức sống động về những nỗi kinh hoàng của chiến tranh, các quyết định chính trị có nguy cơ được đưa ra chỉ dựa trên quyền lực, mà không có bất kỳ sự cân nhắc nào cho những hậu quả lâu dài.
  4.   Đối với tất cả những điều này, các chiều kích truyền thông và kỹ thuật số đang thêm vào các yếu tố mới và có tính quyết định. Các mạng lưới truyền thông, các môi trường thông tin bị phân mảnh và các thuật toán vốn ưu tiên các nội dung gây xung đột có thể phóng đại sự phân cực và oán hận, gia tăng tuyên truyền và làm cho việc phân định chung trở nên khó khăn hơn. Do đó, chiến tranh không chỉ được chiến đấu bằng vũ lực, mà còn bị điều kiện hóa về mặt văn hóa qua các tường thuật đơn giản hóa, tâm lý bạn-hay-thù, thông tin sai lệch và sự sợ hãi. Khi ký ức lịch sử phai mờ và các nguyên tắc đạo đức bảo vệ thường dân cũng như những người dễ bị tổn thương nhất bị suy yếu, việc biện minh cho bạo lực là điều cần thiết, không thể tránh khỏi hoặc thậm chí là “đã được thanh lọc” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bối cảnh này, nhân loại đang trượt dài vào một nền văn hóa quyền lực bạo tàn, trong đó hòa bình không còn xuất hiện như một trách nhiệm phải gánh vác, mà là một cuộc đình chiến mong manh giữa các cuộc xung đột. Ngày nay, hơn bao giờ hết, mà không làm tổn hại đến quyền tự vệ theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, điều quan trọng là phải tái khẳng định rằng học thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn đã quá thường xuyên bị lạm dụng để biện minh cho bất kỳ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời[182]. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thăng tiến sự sống con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ảnh một sự nghèo nàn trong mối quan hệ vốn luôn để lại những hệ lụy thảm khốc cho quần chúng thường dân.

Sức mạnh không giới hạn

  1.   Sự phát triển của tổ hợp công nghiệp-quân sự đã trở thành một đặc điểm định hình bối cảnh chính trị hiện nay và đã trở nên một ngành then chốt trong nền kinh tế của nhiều quốc gia khác nhau. Mối liên kết chặt chẽ giữa các lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự và các quyết định chính trị tạo ra một “quốc gia vũ trang”, trong đó chiến tranh xuất hiện như một phần mở rộng tự nhiên của chính trị, và thị trường vũ khí trở thành một động lực tự trị đằng sau các quyết định quân sự. Chúng ta cũng không thể phớt lờ các lợi ích kinh tế khổng lồ đằng sau chiến tranh. Ngành công nghiệp vũ khí, và các quốc gia cung cấp vũ khí, thu lợi nhuận từ một thị trường phát triển rất mạnh chính nhờ vào các cuộc xung đột. Theo nghĩa này, cũng có những lợi ích tài chính góp phần thúc đẩy những căng thẳng ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
  2.   Các kho vũ khí quân sự đang nhận được sự chú ý trở lại. Trong quá khứ, việc nhận thức được mối đe dọa từ các loại vũ khí có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại đã thúc đẩy các con đường hướng tới giảm bớt căng thẳng và đàm phán  giải trừ quân bị . Tiếc thay, cách tiếp cận này đã bị bỏ lại phía sau, và sự tiến hóa của các kho vũ khí hạt nhân — bao gồm cả triển vọng sử dụng “chiến thuật” của nó — làm cho việc sử dụng các loại vũ khí như vậy có vẻ ít bất khả thi hơn trước. Trong bối cảnh này, Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân, có hiệu lực vào năm 2021 với sự ủng hộ của hơn bảy mươi quốc gia, là một bước đi quan trọng. Tuy nhiên, nó có nguy cơ phần lớn chỉ có tính biểu tượng vì các cường quốc hạt nhân lớn đã không đồng ý tham gia. Điều này dẫn đến niềm tin sai lầm nhưng lan rộng rằng răn đe hạt nhân là một điều kiện tiên quyết không thể thiếu được cho sự an ninh. Điều này cũng góp phần vào một cuộc tranh đua vũ trang mới, vốn khó kiểm soát và đi kèm với việc dỡ bỏ dần các thỏa thuận cắt giảm hạt nhân, cũng như phát triển các vũ khí “thu nhỏ”, khiến việc sử dụng chúng dường như là một lựa chọn khả thi hơn.
  3.   Lý luận tương tự cũng áp dụng cho chiến tranh truyền thống. Lực lượng quân sự, các sáng kiến ngoại giao yếu ớt và sự phức tạp của các lợi ích liên quan góp phần vào các xung đột có khuynh hướng trở nên kéo dài, với chi phí cực kỳ cao về nhân lực và môi trường. Khởi đầu một cuộc chiến dễ dàng hơn nhiều so với việc chấm dứt nó, vậy mà, cuộc thảo luận về phòng ngừa xung đột vẫn có tính bên lề một cách bi thảm.
  4.   Tình hình càng trở nên bất ổn do sự hiện diện của các tác nhân vũ trang mới, chẳng hạn như các nhóm thánh chiến, dân quân tư nhân và các mạng lưới tội phạm đánh dấu sự chấm dứt quyền độc quyền sử dụng vũ lực của Chính quyền. Thường các nhóm này đan xen các động cơ ý thức hệ mơ hồ với các lợi ích kinh tế cụ thể, biến chiến tranh thành một “lối sống” cho cả thế hệ thanh thiếu niên và trẻ em. Ở đây, mục tiêu không còn là một chiến thắng dứt điểm, mà là sự kéo dài xung đột như một nguồn quyền lực và thu nhập.

Vũ khí và trí tuệ nhân tạo

  1.   Tình hình được đề cập ở trên gắn liền với sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí, đặc biệt là những hệ thống có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Trong thời gian gần đây, Tòa Thánh đã nhận định rằng việc triển khai các hệ thống vũ khí tự động càng ngày càng trở nên dễ dàng hơn đang làm cho chiến tranh có vẻ “dễ thực hiện” hơn, đồng thời càng ngày càng ít chịu sự kiểm soát trực tiếp của con người. Điều này vi phạm nguyên tắc rằng quân lực chỉ nên được sử dụng như một giải pháp cuối cùng trong các trường hợp tự vệ chính đáng.[183] Vì lý do này, việc phát triển và sử dụng AI trong chiến tranh phải chịu những ràng buộc đạo đức nghiêm ngặt nhất, để đảm bảo sự tôn trọng phẩm giá con người và tính thánh thiêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc đua phát triển các loại vũ khí như vậy.[184]
  2.   Đôi khi có người nói về “các tác nhân đạo đức nhân tạo”, như thể máy móc có khả năng phân biệt giữa đúng và sai một cách nhất quán hơn một con người. Tuy nhiên, phán đoán đạo đức không thể bị giảm xuống thành tính toán, vì nó liên quan đến lương tâm, trách nhiệm cá nhân và việc nhận ra người khác như một con người. Do đó, không được phép phó thác các quyết định chết người hoặc các quyết định gây ra những hậu quả không thể đảo ngược cho các hệ thống nhân tạo. Không thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt luân lý. AI không loại bỏ tính phi nhân vốn có của xung đột; thực ra nó chỉ có thể làm cho xung đột xảy ra nhanh hơn và ngày càng trở nên phi nhân hơn, hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng bạo lực, biến phòng thủ thành dự đoán các mối đe dọa, và do đó hạ các nạn nhân xuống thành dữ liệu. Bằng cách này, nó sẽ tập cho chúng ta quen với ý nghĩ rằng bạo lực là điều không thể tránh khỏi và chỉ cần được tối ưu hóa. Điều đó không làm giảm bớt tầm quan trọng của việc truyền dẫn, trong mức độ có thể, các giá trị và phán đoán đúng đắn vào các hệ thống nhân tạo mà chúng ta xây dựng, để chúng có thể đóng góp vào một hệ sinh thái đạo đức, mà trong đó con người có khả năng lắng nghe lương tâm của chính họ tốt hơn, cũng như cho phép các mô hình AI thiết lập các ranh giới phù hợp.
  3.   Chỉ kêu gọi một loại đạo đức chung chung là chưa đủ. Các tiêu chuẩn cụ thể cho việc phân định phải được thiết lập. Tiêu chuẩn thứ nhất liên quan đến trách nhiệm cá nhân. Khi một quyết định tấn công trở nên tự động hóa hoặc mơ hồ, nguy cơ chối bỏ trách nhiệm sẽ tăng lên. Vì lý do này, chuỗi trách nhiệm phải có thể nhận diện và có thể kiểm chứng được; những người thiết kế, huấn luyện, cấp phép và sử dụng công nghệ phải chịu trách nhiệm về các quyết định của họ. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến khung thời gian đạo đức để đưa ra phán đoán. Trong khi AI có khuynh hướng đẩy nhanh các tiến trình đưa ra quyết định, tốc độ và hiệu suất không bao giờ được là động lực tối cao cho các quyết định không thể đảo ngược được đưa ra trong bối cảnh chiến tranh. Tiêu chuẩn thứ ba là nhận diện và bảo vệ thường dân. Bất kỳ công nghệ nào tạo điều kiện cho các cuộc tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt của con người đều làm hạ thấp ngưỡng cửa đạo đức của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không được nhầm lẫn giữa binh lính và người không tham chiến, cũng như phải nghĩ đến tác động trên quần chúng không có khả năng tự vệ.
  4.   Các tiêu chuẩn này đưa đến một số đòi hỏi không thể thương lượng được. Thứ nhất, tất cả các hệ thống được sử dụng trong bối cảnh chiến tranh phải đảm bảo khả năng truy vết và tái dựng các tiến trình đưa ra quyết định, để trách nhiệm giải trình và lỗi lầm không bị đổ hoàn toàn cho “máy móc”. Thứ hai, quyết định sử dụng vũ lực gây chết người không thể được ủy quyền cho các tiến trình mơ hồ hoặc tự động hóa, mà phải nằm dưới sự kiểm soát hiệu quả, tự ý thức và có trách nhiệm của con người. Cuối cùng, điều cấp bách là phải thiết lập một khuôn khổ chung — cả ở cấp độ quốc tế — nhằm kiềm chế cuộc chạy đua vũ trang công nghệ và đảm bảo sự bảo vệ mạnh mẽ cho thường dân và các cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự sống còn của họ.

Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương

  1.   Nền văn hóa quyền lực cũng xuất phát từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Các thể chế được thành lập để bảo vệ khái niệm về một tương lai chung cho tất cả các dân tộc và một lợi ích chung toàn cầu dường như đã bị suy yếu. Điều này không chỉ do những giới hạn về cấu trúc, mà còn do sự thiếu vắng thường xuyên ý chí chung để hỗ trợ và cải cách chúng, hoặc để công nhận thẩm quyền đạo đức của chúng. Thay vì đạt được tiến bộ, chúng ta đang thụt lùi so với bước ngoặt quan trọng của thế kỷ thứ hai mươi. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở châu Âu được theo sau bởi một sự toàn cầu hóa chủ yếu về kinh tế, vốn thiếu một khuôn khổ chính trị đầy đủ có khả năng duy trì đối thoại và hòa bình. Một niềm tin gần như mù quáng đã được đặt vào khả năng của thị trường trong việc tạo ra sự thịnh vượng, dân chủ và ổn định. Trên thực tế, thay vì tự động tạo ra sự thống nhất và hòa bình, việc toàn cầu hóa đã kích động các phản ứng có tính cực đoan, dựa trên bản sắc và chủ nghĩa dân tộc. Kết quả hoàn toàn xa với là chủ nghĩa đa phương đích thực; thay vào đó, một tình trạng đa cực thiếu trật tự và đầy xung đột đã xuất hiện, trong đó tinh thần nghi kỵ đang chiếm ưu thế.
  2.   Đồng thời, một cám dỗ mới đã tái xuất hiện là bịa ra một căn tính tập thể dựa trên sự đối lập với kẻ thù, được thúc đẩy bởi những tường thuật trong đó mỗi bên tự coi mình là nạn nhân và do đó có quyền được bồi thường hoặc phạt báo oán (retribution). Việc giảm thiểu các vấn đề phức tạp thành các phạm trù đơn giản hóa — “tôi là trên hết”, “bạn hay thù”, “chúng ta hay họ” — tạo điều kiện cho các quyết định thường thiếu trách nhiệm và làm xói mòn lòng tin lẫn nhau giữa các quốc gia. Sức mạnh của luật pháp quốc tế do đó bị thay thế bởi tuyên bố rằng “lý kẻ mạnh là lý phải”. Hậu quả là, các tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các Quốc gia hoặc xử lý các tội ác chiến tranh thường bị suy yếu hoặc bị lờ đi, để lại những hệ lụy tàn phá đối với văn hóa chính trị và sự gắn kết xã hội.[185]
  3.   Trong bối cảnh này, việc xây dựng hòa bình đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Hợp tác vì sự phát triển, giải trừ quân bị, phòng ngừa xung đột và thiết lập lòng tin lẫn nhau bị bỏ bê nhân danh chính trị quyền lực. Những thành tựu của luật nhân đạo cũng đang bị tổn thương. Thực vậy, nguyên tắc tương xứng trong việc đáp trả hành vi xâm lược, việc bảo vệ quyền tiếp cận nguồn nước, thực phẩm và các nhu yếu phẩm, và sự tôn trọng mạng sống của thường dân, đặc biệt là trẻ em, lại bị coi là những tàn tích ngây thơ của quá khứ.

Một chủ nghĩa hiện thực chính trị giả định

  1.   Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mù quáng đáng kể về tinh thần và văn hóa. Một thứ chủ nghĩa thực dụng sai lầm thôi thúc chúng ta cắt đứt cội nguồn lịch sử của mình, như thể có thể khai mào một loại “sáng tạo mới” tách rời khỏi quá khứ. Ngay cả những người viện dẫn các nguyên tắc đạo đức quan trọng cũng có thể rơi vào thứ chủ nghĩa hư vô lịch sử này, khi lầm tưởng rằng những sự tàn bạo của thế kỷ thứ hai mươi không bao giờ có thể xảy ra nữa. Tuy nhiên trong thực tế, chính những động lực đó đang trỗi dậy dưới những diện mạo mới. Ý tưởng cân bằng và răn đe vũ trang dường như đang tự tái khẳng định. Tuy nhiên ngày nay, trái ngược với động lực hai bên của Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng của các gián điệp và chiến trường làm cho ý tưởng này càng ngày càng trở nên mong manh. Các xung đột leo thang dẫn đến các cuộc chiến tranh bất cân xứng và “hỗn hợp”, được chiến đấu không chỉ trên chiến trường mà còn trên các mặt trận kinh tế, tài chính và không gian mạng, nơi thông tin sai lệch và các chiến dịch nuôi dưỡng nỗi sợ hãi của con người được sử dụng để thao túng dư luận. Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả những quốc gia ở Nam Bán cầu, việc gia tăng chi tiêu quân sự được trình bày như là đáp ứng duy nhất đối với một tương lai bất định hoặc các mối đe dọa được người ta cảm thấy. Trong khi đó, chi phí thực tế lại đè nặng lên những người nghèo nhất, những người thấy các nguồn lực dành cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.
  2.   Cốt lõi của các vấn đề này là một chủ nghĩa hiện thực sai lầm, dựa không chỉ trên não trạng thống trị của vũ lực, mà còn trên niềm tin văn hóa và nhân chủng học rằng, chiến tranh là một phần không thể tránh được của bản tính con người. Người ta nói rằng mọi thứ luôn luôn như vậy, trừ những khoảng ngưng chiến tạm thời, và sẽ luôn luôn như vậy! Kết quả là, mối bận tâm không còn là việc tìm kiếm hòa bình — vốn đã bị mất đi như một điểm tham chiếu trên trường quốc tế — mà là làm thế nào và khi nào thì thực hiện hành động quân sự. Chính lập luận này duy trì quan điểm rằng, sẽ là vô trách nhiệm nếu không chuẩn bị cho xung đột. Tuy nhiên, tôi muốn lập luận rằng, điều thực sự vô trách nhiệm chính là Realpolitik, hình thức “chủ nghĩa hiện thực” chính trị gieo rắc vào lương tâm và xã hội một thái độ cam chịu trước tính không thể tránh được của chiến tranh, và bác bỏ hòa bình cũng như đối thoại như những lập trường không tưởng hoặc phi lý, vốn phớt lờ các rủi ro liên quan. Trên thực tế, hòa bình không phải là một niềm hy vọng ngây thơ, cũng không đơn thuần là sự vắng bóng chiến tranh; thay vào đó, nó luôn khả thi như là hoa quả của công lý và bác ái.
  3.   Trong một bầu không khí như vậy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng đan quyện vào nhau và cuối cùng bình thường hóa các sai lầm nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và sự cuồng tín dựa trên bản sắc liên minh với các chính sách kinh tế phi lý, trong khi chính trị thường quay về phía thông tin sai lệch và chế giễu đối thủ, đồng thời nuôi dưỡng các nỗi sợ hãi và oán hận một cách có hệ thống. Do đó, sự đa dạng càng ngày càng bị coi như một mối đe dọa, điều này thúc đẩy khát vọng chiếm hữu, ý muốn thống trị, các tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực và một nỗi sợ hãi đối với những người khác mình, từ đó tạo ra một môi trường trong đó các xung đột mới có thể phát triển một cách gần như vô hình.[186]
  4.   Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến tranh mới, có lẽ còn nguy hiểm hơn những cuộc chiến trong quá khứ, vì chúng có khuynh hướng coi thường mọi giới hạn đạo đức. Những gì từng bị coi là không thể chấp nhận được, giờ đây có thể được thực hiện hầu như không chút do dự, trong khi phản ứng quốc tế càng ngày càng bị ảnh hưởng bởi lợi ích của từng Chính phủ riêng lẻ hơn là bởi mức độ nghiêm trọng khách quan của các tình huống. Các quyết định giờ đây dường như được thúc đẩy gần như duy nhất bởi các tính toán kinh tế, được biện minh qua các sự bóp méo về truyền thông, sự nhiệt tình được dàn dựng và những “giấc mơ” vốn chắc chắn sẽ tan vỡ, tạo ra sự thất vọng và bạo lực sâu sắc hơn. Khi con người tin rằng không có gì là thực sự chân thật và các nguyên tắc chỉ là những lời nói rỗng tuếch, thì ngòi nổ trong tim họ đã được thắp lên cho những đợt bùng phát mới của sự bất khoan dung và hung hãn.
  5.   Trong các tình cảnh này, vấn đề về các biện pháp bảo vệ cụ thể để ngăn ngừa bạo lực trong tương lai vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một con đường nguy hiểm mở ra, ở chỗ những gì dường như không thể tưởng tượng nổi ngày hôm nay có thể trở nên chấp nhận được ngày mai nhân danh sự hữu dụng hoặc an ninh. Ở các quốc gia bị đánh dấu bởi các căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả năng một số nhà lãnh đạo có thể coi xung đột vũ trang như một cách hiệu quả để chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề nội bộ, và là một công cụ bất chấp đạo lý để quản lý các khó khăn.
  6.   Một trách nhiệm đặc biệt đè nặng lên vai những người làm việc trong lãnh vực nghiên cứu. Tất cả các bên đóng vai trò chính trong lãnh vực này — các khoa học gia, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các vị hữu trách trong lĩnh vực học thuật, chính trị gia và những người khác — phải làm việc với một đầu óc minh bạch và có trách nhiệm, đồng thời duy trì một nhận thức nhạy bén về bối cảnh rộng lớn hơn của các tiến bộ công nghệ mà họ góp phần nuôi dưỡng, bao gồm cả những tiến bộ liên quan đến AI. Khi con người tự giới hạn mình vào việc chỉ nhìn đến lãnh vực riêng của họ, họ có thể tự lừa dối mình khi tin rằng họ đang thực hiện các hành động trung lập về mặt đạo đức và né tránh các câu hỏi về những mục đích tối hậu dẫn dắt một số thử nghiệm. Bằng cách này, họ có nguy cơ hợp tác — có lẽ một cách vô tình — với các dự án đáng ngờ vốn thúc đẩy các hình thức bạo lực, thao túng và thống trị mới.

Xây dựng nền văn minh tình thương

  1.   Việc xây dựng một thế giới trong trạng thái xung đột vĩnh viễn là một sự dữ và phải được gọi đúng tên của nó. Cách miêu tả này về tình hình hiện tại của chúng ta có vẻ ảm đạm hoặc bi quan, nhưng tôi coi đó là điều cần thiết phải làm. Tuy nhiên, viễn cảnh Kitô giáo không giới hạn ở việc lên án sự dữ. Chúng ta nhìn nhận lịch sử dưới ánh sáng của Chúa Chịu Đóng đinh và Phục sinh, Đấng mà Chúa Cha đã ban cho “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Chúng ta không coi hiện tại như một số phận được định đoạt sẵn, mà là một cơ hội cho sự hoán cải cá nhân và tập thể. Hơn nữa, chúng ta tin quyền năng của Nước Trời, vốn lớn lên từ kích thước nhỏ bé của một hạt cải, một khi được gieo xuống, sẽ nảy mầm và lớn lên (x. Mc 4,26-32). Trong khi sự hỗn loạn của việc nhầm lẫn ở khắp chung quanh chúng ta, điều thiện vẫn âm thầm lớn lên từ lòng đất. Theo lời của ngôn sứ Isaiah: “Này, Ta sắp làm một việc mới, việc đó đang nảy chồi, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,19).
  2.   Một phân tích kỹ lưỡng hơn về lịch sử xác nhận điều này. Ngay cả trong những đêm tối tăm nhất, Chúa vẫn khơi dậy những người nam và người nữ không chịu bỏ cuộc, những người kiên trì làm điều thiện, những người bảo vệ kẻ dễ bị tổn thương và mở ra các con đường dẫn đến hòa giải. Ký ức về các vị thánh, những người công chính và những người xây dựng hòa bình thường bị lãng quên chỉ ra cho chúng ta thấy rằng ân sủng không loại bỏ xung đột một cách thần kỳ, nhưng thay vào đó, nó khơi nguồn cho sự kháng cự tích cực đối với sư dữ và một sự sáng tạo đáng kinh ngạc trong việc làm điều thiện. Các Kitô hữu nhìn thấy bóng tối và thừa nhận nó đúng như bản chất của nó, nhưng họ không chỉ nhìn chằm chằm vào nó một cách thụ động, vì họ biết ánh sáng và hiểu rằng bóng tối đã không thể thắng được ánh sáng và không thể đánh bại nó (x. Ga 1,5). Vì lý do này, ngay cả khi sự đau khổ dường như là điều quyết định, các Kitô hữu vẫn phục vụ điều thiện và được nâng đỡ bởi một niềm hy vọng thần học vốn mang lại cho thực tại cả ý nghĩa và phương hướng.

Tất cả chúng ta đều có thể góp phần

  1.   Tuy nhiên ở thời điểm này, một sự cám dỗ tinh vi có thể xuất hiện, cụ thể là suy nghĩ rằng các vấn đề quá lớn và chúng ta quá nhỏ bé, và do đó các lựa chọn của chúng ta không thể tạo ra sự khác biệt. Đây là một hình thức từ bỏ lịch sự, thường được ngụy trang dưới danh nghĩa là chủ nghĩa hiện thực. Chắc chắn, không phải ai cũng có cùng quyền lực để tạo ra sự khác biệt. Có những người quản trị, đưa ra quyết định đầu tư, lãnh đạo các thể chế, tiến hành nghiên cứu, giáo dục, sản xuất hoặc cung cấp thông tin, và rồi có những người dường như chỉ sống cuộc sống hàng ngày của họ. Tuy nhiên, không ai là không có trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều có những lãnh vực hành động của riêng mình, và chính tại đó — chứ không phải nơi nào khác — chúng ta phải lựa chọn xem nên nuôi dưỡng não trạng vũ lực (ngay cả khi chỉ qua sự thờ ơ, hoài nghi, dối trá hoặc thù hận), hay gìn giữ tư duy hòa bình (bằng sự thật, điều độ, gần gũi và chăm sóc).
  2.   Tác giả Công giáo thế kỷ thứ hai mươi J.R.R. Tolkien, qua lời của một nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết của ông, đã mô tả trách nhiệm của chúng ta cách này: “Phần của chúng ta không phải là làm chủ tất cả các đợt thủy triều của thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để nâng đỡ thời đại mà Thiên Chúa đã đặt chúng ta vào, nhổ tận gốc sự dữ trên những cánh đồng mà chúng ta biết, ngõ hầu những người sống sau này có thể có đất sạch để cày cấy.”[187] Nền văn minh tình thương sẽ không trỗi dậy từ một nghĩa cử đơn lẻ hay hào nhoáng, mà từ tổng số những hành động trung tín nhỏ bé và kiên định vốn phục vụ như một bức tường thành chống lại sự phi nhân. Vì lý do này, thật xứng đáng để dừng lại suy ngẫm về một số khía cạnh của cách thức mà chúng ta, mỗi người theo cách riêng của mình, có thể hợp tác trong việc xây dựng nền văn minh tình thương. Mà không có ý định thâu tóm toàn bộ chủ đề này, tôi muốn đề nghị năm con đường hướng tới trách nhiệm hàng ngày và công cộng: nhu cầu giải giới ngôn từ, xây dựng hòa bình qua công lý, nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân, nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh và hồi sinh đối thoại cũng như chủ nghĩa đa phương.

Nhu cầu giải giới ngôn từ

  1.   Đóng góp thứ nhất mà chúng ta có thể thực hiện để hướng đến một nền văn minh nhân đạo hơn là lưu tâm đến lời nói của mình. “Chúng ta hãy giải giới ngôn từ và chúng ta sẽ giúp giải trừ vũ khí của thế giới.”[188] Lời nói có sức mạnh to lớn, là một điều chúng ta kinh nghiệm trong các tương tác hàng ngày của mình; thí dụ, lời nói được thốt ra có thể thay đổi tâm trạng của chúng ta theo hướng tốt hơn hoặc xấu hơn. “Hòa bình bắt đầu với mỗi người trong chúng ta: trong cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác và nói về người khác. Theo nghĩa này, cách chúng ta truyền thông có tầm quan trọng căn bản: chúng ta phải nói ‘không’ với cuộc chiến của ngôn từ và hình ảnh, chúng ta phải từ bỏ mô hình chiến tranh.”[189] Do đó, tất cả chúng ta phải xét mình về những lời nói mà chúng ta sử dụng, những định kiến chúng ta có và sự hung hãn rõ ràng hay ngầm ẩn tiềm bên trong chúng. Chúng ta có một cơ hội thực sự để đóng góp cho công ích mỗi khi chúng ta nói sự thật, đưa ra lời khuyên bảo khôn ngoan, nâng đỡ những người cần sự an ủi, lên án bất công và lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói.

Xây dựng hòa bình qua công lý

  1.   Tất cả chúng ta, ở mọi cấp độ, đều có thể đóng góp vào việc xây dựng nền tảng của hòa bình, đó chính là công lý. Chúng ta không đơn thuần tìm kiếm bất kỳ loại hòa bình nào — chẳng hạn như sự vắng bóng xung đột bằng mọi giá — nhưng thay vào đó, một nền hòa bình đích thực phát sinh từ công lý. “Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa công lý của cá nhân và hòa bình của mọi người.”[190] Bình luận về câu thánh vịnh “công lý và hòa bình đã ôm hôn nhau” (Tv 84,11), Thánh Augustinô đã viết: “Không ai là không khao khát hòa bình, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng thi hành công lý… Nhưng hãy thực hiện các công việc của công lý, hãy nhớ rằng công lý và hòa bình đã ôm lấy nhau; chúng không mâu thuẫn với nhau. Tại sao bạn lại chống lại công lý? Ở đây, chẳng hạn, công lý bảo bạn không được trộm cắp, nhưng bạn không thèm để ý đến; không được ngoại tình, và bạn giả điếc làm ngơ; không được làm cho người khác những gì bạn không muốn người khác làm cho mình; không được nói về người lân cận những điều bạn không muốn người khác nói về mình… Vậy bạn có muốn đạt được hòa bình không? Thì hãy thực thi công lý!”[191] Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý!

Nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân

  1.   Có những lúc, để vẫn còn là con người, chúng ta phải gạt bỏ các sự dè dặt của mình và bày tỏ lập trường. Trong một số xung đột, thật bất công khi giữ thái độ trung lập, và chỉ tuyên bố rằng chúng ta không đồng lõa là chưa đủ.[192] Khi chứng kiến việc ném bom vào thường dân, tấn công vào bệnh viện, trường học hoặc cơ sở hạ tầng thiết yếu, và bạo lực ảnh hưởng đến trẻ em, chúng ta đang đối diện với những việc xấu xa làm tổn thương chính nhân loại. Vì lý do này, chúng ta không thể tự giới hạn mình ở cấp độ phân tích trừu tượng. Đức Phanxicô đã khuyến khích chúng ta “chạm vào da thịt bị thương tổn”[193] của những người đau khổ, nhìn vào khuôn mặt của họ, lắng nghe câu chuyện của họ và thừa nhận những vết thương của họ. Các sự kiện đau thương đòi hỏi cả lịch sử lẫn ký ức, vế trước để kể lại các sự thật, vế sau để làm chứng cho các kinh nghiệm đã sống.
  2.   Việc dành chỗ cho các quan điểm và tiếng nói của các nạn nhân qua truyền thông và giáo dục giúp chúng ta nhận thức được vực thẳm của sự dữ vốn có trong chiến tranh, và nói chung trong mọi hình thức bạo lực. Nó giúp chúng ta từ chối sự bình thường hóa xung đột; không ngoành mặt đi khi phẩm giá con người bị vi phạm; và phục hồi cho các nạn nhân phẩm giá được công nhận và được lắng nghe.[194] Việc chú ý đến các tiếng nói này củng cố niềm tin rằng, ngoại trừ các nhóm thiểu số bạo lực, nhân loại không hề khao khát chiến tranh. Bằng một cách thế đặc biệt, Hội Thánh có thể là một nơi lưu giữ ký ức sống động cho các nạn nhân. Như Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nhắc nhở, Hội Thánh cảm thấy mình phải biến tiếng nói của những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh quá khứ và tiếng nói của những người còn sống mà ngày nay vẫn mang vết thương thành của chính mình, để những tiếng kêu than của họ có thể trở nên một lời kêu gọi cho hòa bình và sự hòa hợp chứ không phải là khúc dạo đầu cho các xung đột mới.[195]

Nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh

  1.   Chúng ta đang cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh để tránh cả chủ nghĩa lý tưởng chính trị lẫn chủ nghĩa hoài nghi. Có một loại chủ nghĩa lý tưởng, để bảo tồn thế giới quan của riêng mình, có xu hướng lựa chọn các sự thật một cách có chọn lọc, bóp méo và tái đặt tên chúng. Những người ủng hộ chủ nghĩa này cuối cùng cư ngụ trong một thực tại được xây dựng để phù hợp với niềm tin của riêng họ. Ngược lại, cũng có một hình thức chủ nghĩa hiện thực hạ đẳng, vốn lẩm lẫn sự quan sát với sự cam chịu, lập luận rằng vì vũ lực ngự trị nên nó sẽ luôn luôn ngự trị. Chủ nghĩa hiện thực đích thực không từ bỏ việc thay đổi thế giới; thật vậy, chủ nghĩa này bắt đầu bằng việc nhận diện rõ ràng các lợi ích, các nỗi sợ hãi, các ràng buộc và các động lực quyền lực, chính là để xác định những gì có thể đạt được, và các biện pháp cần thiết để đạt được chúng. Nó không giản lược chính trị thành đạo đức; nó cũng không đầu hàng trước bạo lực. Thay vào đó, nó tìm kiếm các con đường khả thi để làm cho hòa bình trở nên nhiều hơn đơn thuần là một từ ngữ, qua các thể chế đáng tin cậy, các bảo chứng có thể kiểm chứng được, các cuộc đàm phán kiên nhẫn, phòng ngừa xung đột và bảo vệ thường dân.

Hồi sinh đối thoại

  1.   Để xây dựng nền văn minh tình thương, chúng ta cần phải dấn thân vào đối thoại, vì đây là phương tiện hàng đầu cho sự chung sống giữa con người và các quốc gia. Nó cũng là giải pháp thay thế cho xung đột công khai. Vào đêm trước của Thế Chiến Thứ hai, Đức Piô XII đã khẳng định rằng không có gì bị mất với hòa bình, trong khi với chiến tranh mọi sự đều có thể bị mất sạch. Ngài nhấn mạnh rằng con người phải quay lại nói chuyện với nhau, bởi vì một cuộc đối thoại chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng của một giải pháp danh dự.[196]
  2.   Thật vậy, đối thoại là một phần bình thường của đời sống con người và không chỉ liên quan đến các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Nó bao gồm việc đạt được một thái độ tìm cách rèn đúc các mối dây nối kết tình huynh đệ được xây dựng trên sự lắng nghe, một phong thái cởi mở, dành thì giờ cho nhau và thậm chí là lãng phí thời gian cùng nhau. Vì nếu chúng ta trải nghiệm những cuộc gặp gỡ đích thực với tha nhân, với những người khác biệt, những người xa lạ và người di cư, thì việc thậm chí chỉ nghĩ đến chiến tranh thôi cũng trở nên khó khăn bội phần.
  3.   Ở cấp độ chính trị, có một nhu cầu cấp bách phải chuyển từ “nền văn hóa quyền lực” sang một “nền văn hóa thương lượng” chân chính, trong đó đối thoại và ngoại giao trở thành các phương tiện chuẩn mực để giải quyết xung đột. Giorgio La Pira đã bày tỏ hy vọng rằng “phương pháp chiến tranh được thay thế bằng phương pháp hòa bình, là phương pháp thương lượng, gặp gỡ, hội tụ, nghĩa là phương pháp đích thực của con người!”[197] Nhận thức rằng tất cả các dân tộc đều chia sẻ một tương lai chung đòi hỏi “nền văn hóa thương lượng” phải trở nên một cam kết chính trị và văn hóa càng ngày càng được chia sẻ rộng rãi, có khả năng từ từ dẫn dắt nhân loại thoát khỏi vòng xoáy của bạo lực.
  4.   Gửi đến những người có vinh dự và trách nhiệm quản trị, tôi muốn lặp lại những lời mà tôi đã nói vào lúc bắt đầu Triều đại Giáo hoàng của mình: “Các dân tộc trên thế giới của chúng ta khao khát hòa bình, và gửi đến các nhà lãnh đạo của họ, tôi kêu gọi với tất cả tâm can: Chúng ta hãy gặp gỡ, hãy nói chuyện, hãy thương lượng! Chiến tranh không bao giờ là không thể tránh khỏi. Vũ khí có thể và phải bị làm cho im tiếng, vì chúng không giải quyết được các vấn đề mà chỉ làm chúng gia tăng. Những người làm nên lịch sử là những người xây dựng hòa bình, chứ không phải những người gieo rắc hạt giống đau khổ. Những người lân cận của chúng ta trước hết không phải là kẻ thù của chúng ta, mà là đồng bào của chúng ta; không phải là tội phạm để bị thù ghét, mà là những người nam và người nữ khác mà chúng ta có thể trò chuyện cùng. Chúng ta hãy từ bỏ những quan niệm nhị nguyên kiểu tà giáo Mani (Manichean notions), vốn rất đặc trưng của não trạng bạo lực, chia thế giới thành những người tốt và những người xấu..”[198]
  5.   Trong việc từ bỏ thái độ bạo lực, đối thoại liên tôn đóng một vai trò quyết định, bởi vì ở trọng tâm của các con đường tinh thần lớn lao đều nằm một thông điệp hòa bình.[199] Trong khi những người dùng danh nghĩa Thiên Chúa để hợp thức hóa chủ nghĩa khủng bố, thì bạo lực hoặc chiến tranh phản bội bản tính chân thật của Ngài, vì chiến đấu nhân danh tôn giáo có nghĩa là tấn công chính tôn giáo.[200] “Tinh thần Assisi”, được gợi lên bởi Thánh Gioan Phaolô II và được tiếp nối bởi Đức Phanxicô — chẳng hạn như qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của Al-Azhar — cho thấy rằng các tín đồ có thể kín múc từ các nguồn mạch chân thật nhất của các truyền thống tinh thần đặc thù của họ, ở đó không có chỗ cho “sự thù hận được thánh hóa”.

Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương

  1.   Trong các mối quan hệ quốc tế, đối thoại là một công cụ ngoại giao không thể thay thế được để phòng ngừa các xung đột và xây dựng lại các mối dây liên kết của lòng tin. Đối diện với các buổi phát sóng bốc đồng, những luận điệu hung hãn và chính trị quyền lực đặc trưng cho thời đại của chúng ta, “vị trí của ngoại giao là thúc đẩy đối thoại với tất cả các bên, bao gồm cả những bên đối thoại bị coi là kém ‘thuận tiện’ hoặc không được coi là hợp pháp để thương lượng.”[201] Do đó, chúng ta nên được sử dụng từng chút khiêm tốn và kiên nhẫn để nuôi dưỡng ngay cả những dấu chỉ thiện chí nhỏ nhoi nhất giữa các bên trong xung đột, nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình.
  2.   Không gian mạng (cyberspace) cũng đã trở thành một chiến trường. Các cuộc tấn công mạng (cyberattack), thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng, được dàn dựng với sự trợ giúp của AI, có thể làm bất ổn toàn bộ các quốc gia ngay cả trước khi xung đột vũ trang công khai bùng nổ. Hơn nữa, trong lãnh vực này, việc quy trách nhiệm thường không chắc chắn. Khi không rõ ai đã thực hiện một cuộc tấn công, nguy cơ phản ứng không tương xứng, tính toán sai lầm và leo thang xung đột sẽ tăng lên. Vì thế, ngoại giao phải có khả năng hoạt động hữu hiệu trong môi trường mới này, bằng cách thương thảo các quy tắc chung cho việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số, nhằm bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi các hình thức bạo lực “vô hình” nhưng có thật.
  3.   Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, là các công cụ thiết yếu để cổ võ một nền văn minh tình thương, vì các tổ chức này có thể thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia và khuyến khích việc giải quyết các xung đột bằng con đường hòa bình, sự phát triển toàn diện của các dân tộc, sự bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ quân bị và chăm sóc cho công trình tạo dựng. Qua những nỗ lực đó, cộng đồng quốc tế có thể góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người tị nạn và các nhóm thiểu số, chuyển các nguồn lực từ chi tiêu quân sự sang phát triển con người, đồng thời bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. Tòa Thánh ủng hộ và đồng hành với các nỗ lực này, đồng thời cũng nhận ra rằng những yếu điểm hiện tại của Liên Hiệp Quốc và hệ thống chính trị quốc tế cho thấy cần phải có những cải tổ sâu rộng. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh về mặt kỹ thuật, bởi vì cuộc khủng hoảng về niềm tin và các giá trị, vốn cũng ảnh hưởng đến những nền tảng luân lý của các quốc gia, đang làm cho việc định hướng chủ nghĩa đa phương vào công ích đích thực trở nên khó khăn hơn.[202]
  4.   Trong bối cảnh quốc tế, chính sách ngoại giao của Tòa Thánh chọn nguyên tắc lòng thương xót của Tin Mừng như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đây là một trong những cách thức mà Tòa Thánh đặt mình vào việc phục vụ nhân loại, từ đó kêu gọi các lương tâm nhân danh đức ái và chân lý, bảo vệ phẩm giá của mọi người và lên tiếng thay cho người nghèo, người di cư và các nạn nhân của chiến tranh. Bằng cách này, nền ngoại giao của Giáo hoàng bày tỏ tính phổ quát của Hội Thánh và đóng góp vào việc xây dựng một nền văn minh tình thương, ở đó ngay cả các công nghệ mới cũng có thể được hướng về công ích.

Cầu nguyện và hy vọng

  1.   Các con đường thực thi trách nhiệm này được nâng đỡ bởi cầu nguyện, và đến phiên chúng lại nuôi dưỡng cầu nguyện. Thực ra, đối với mỗi người trong chúng ta, hòa bình trước hết đến “từ Thiên Chúa, Thiên Chúa Đấng yêu thương tất cả chúng ta, một cách vô điều kiện.”[203] Đó là một món quà được Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của Người vào ngày Phục Sinh: “Bình an cho các con! Đó là sự bình an của Đức Kitô Phục sinh. Một sự bình an không vũ trang và giải trừ vũ khí, khiêm tốn và kiên trì.”[204] Với những lời này, tôi đã chào chúc Hội Thánh và thế giới vào ngày tôi được bầu vào Tòa thánh Phêrô. Tôi ước ao lặp lại chúng bây giờ, và kính mời mọi người cầu xin món quà này. Chúng ta hãy không bao giờ mệt mỏi cầu nguyện cho hòa bình và dấn thân đạt được nó trong các mối liên hệ của chúng ta và trong xã hội.

 From: NguyenNThu

 [177]   X. Thánh Phaolô VI, Kinh Truyền Tin (17 tháng 5, 1970): Insegnamenti di Paolo VI, vol.  VIII, 506.

[178]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.

[179]   X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[180]   Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 881.

[181]   Liên Hiệp Quốc, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, San Francisco (26 tháng 6, 1945), Preamble.

[182]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: “Trong những thập niên gần đây, mọi cuộc chiến tranh đơn lẻ dường như đều được “biện minh” một cách bề nổi. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo có nói đến khả năng tự vệ chính đáng bằng lực lượng quân sự, điều này đòi hỏi phải chứng minh được rằng một số “điều kiện nghiêm ngặt về tính hợp pháp luân lý” đã được đáp ứng. Thế nhưng, người ta rất dễ rơi vào một cách giải thích quá rộng rãi về quyền tiềm năng này. Bằng cách đó, một số người cũng sẽ biện minh một cách sai lầm cho cả các cuộc tấn công “phòng ngừa” hoặc các hành vi chiến tranh mà khó có thể tránh khỏi việc kéo theo “những tác hại và hỗn loạn nghiêm trọng hơn chính sự dữ cần phải loại bỏ.’”

[183]   X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hoá và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et Nova (14 tháng 1, 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.

[184]   X.  ibid., 103: AAS 117 (2025), 204.

[185]   X. Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Phiên họp toàn thể của “Hiệp hội các cơ quan viện trợ các Giáo hội Đông phương (ROACO)” (26 tháng 6, 2025): AAS 117 (2025), 847-849.

[186]   X. Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 53 (8 tháng 12, 2019): AAS 112 (2020), 54-61.

[187]   J.R.R. Tolkien, The Lord of the Rings. The Return of the King, Phần III, Sách 5, Chương IX, New York 1965, 190.

[188]   Diễn văn dành cho các đại diện truyền thông, (12 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 682.

[189]   Ibid.

[190]   Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 31, (1 tháng 1, 1998), 1: AAS 90 (1988), 147.

[191]   Thánh Augustine, Enarrationes in Psalmos, 84, 12: CCSL 39, Turnhout 1956, 1172-1173.

[192]   X. Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24 tháng 10, 2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.

[193]   Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.

[194]   X. ibid., 261: AAS 112 (2020), 1062.

[195]   X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 878-879.

[196]   X. Piô XII, Sứ điệp truyền thanh: Giờ khắc nghiêm trọng (24 tháng 8, 1939): AAS 31 (1939), 334.

[197]   Giorgio La Pira, Riflessioni sul Concilio.  Bài nói chuyện của Giáo sư Giorgio La Pira, Thị trưởng Florence, với Phong trào Hướng đạo Nữ Công giáo Pháp “Guides de France”(Rome, 4 tháng 9, 1962), Florence 1962, 6.

[198]   Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Đại Năm Thánh các Giáo hội Đông phương (14 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 686.

[199]   X.  Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.

[200]   X. Phanxicô, Lời kêu gọi hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình với chủ đề: ‘Khát khao Hòa bình: Đối thoại giữa các Tôn giáo và các Nền văn hóa” (20 tháng 9, 2016): AAS 108 (2016), 1124.

[201]   Phanxicô, Diễn văn dành cho các thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh (9 tháng 1, 2025): AAS 117 (2025), 110.

[202]   X. Phanxicô, Diễn văn dành cho các đại biểu tham dự Hội nghị lần thứ 38 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) (20 tháng 6, 2013): AAS 105 (2013), 616-617.

[203]   Phép lành “Urbi et Orbi” Lần Đầu (8 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 660.

[204]   Ibid.


 

NĂM PHÉP LẠ THÁNH THỂ HÀNG ĐẦU MÀ CHÂN PHƯỚC CARLO ACUTIS LIỆT KÊ 


NĂM PHÉP LẠ THÁNH THỂ HÀNG ĐẦU MÀ CHÂN PHƯỚC CARLO ACUTIS LIỆT KÊ 

Chân phước Carlo Acutis đã liệt kê 32 phép lạ Thánh Thể — Đây là 5 phép lạ hàng đầu 

Chúa Giêsu nói với Thánh Thôma, “Có phải vì đã thấy Thầy nên anh đã tin?  Phước cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20:29). 

Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, một điều gì đó tuyệt vời xảy ra.  Theo lời của Kinh Tin Kính dân Chúa:

 Chúa Kitô không thể hiện diện như vậy trong bí tích Thánh Thể trừ khi biến đổi thực tại của bánh thành Thân thể Người và biến đổi thực tại của rượu thành Máu Người, chỉ giữ nguyên các đặc tính của bánh và rượu mà giác quan chúng ta cảm nhận được. Sự thay đổi bí ẩn này được Giáo hội gọi một cách rất thích hợp là sự biến thể. 

Nói cách khác, Giáo hội dạy rằng “bản chất” – “nature” của bánh và rượu thay đổi khi truyền phép, nhưng “chất thể” – “substance” vẫn giữ nguyên. Trước và sau khi truyền phép, Mình và Máu có mùi, hình dạng, vị và cảm giác giống như bánh và rượu trước đó. 

Đôi khi, rất hiếm khi, trong Thánh lễ, những chất thể của bánh và rượu dường như thay đổi theo một cách nào đó cùng với bản chất. Những điều này được gọi là phép lạ Thánh Thể. 

Chân phước Carlo Acutis đã tạo ra một trang web liệt kê các Phép lạ Thánh Thể trên khắp thế giới. Trong khi danh sách của ngài bao gồm 32 Phép lạ Thánh Thể cho Ý, thì năm phép lạ này là những phép lạ nổi tiếng và được viếng thăm nhiều nhất.

 1.Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena

Ở vùng Umbria thấp hơn là thị trấn cổ Orvieto.  Được bảo tồn trong nhà thờ trang trí công phu của thành phố là Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena.  Phép lạ này dẫn đến lễ Mình Máu Thánh Chúa hay Corpus Christi. 

Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang trên đường hành hương đến Rôma, khi ngài dừng chân tại Bolsena.  Theo truyền thuyết, ngài đã nghi ngờ về giáo lý Công Giáo về Sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể.  Ngay sau khi truyền phép, bánh thánh bắt đầu chảy máu.  Quá kinh ngạc, ngài đã hoãn Thánh lễ và đi thẳng đến Orvieto, nơi Đức Giáo Hoàng Urban IV đang cư trú.

 Đức Giáo Hoàng đã điều tra về bánh thánh kỳ diệu và khăn thánh đẫm máu (vải bàn thờ bằng vải lanh) và xác nhận tính xác thực của nó.  Ngài đã thiết lập một lễ mới trong lịch phụng vụ: Lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô thường được gọi là lễ Corpus Christi. 

2.Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano 

Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano, xảy ra tại vùng Abruzzo, là phép lạ nổi tiếng nhất trong Giáo Hội Công Giáo. 

Phép lạ xảy ra vào thế kỷ thứ tám trong một nhà thờ do các tu sĩ Basilianô quản lý.  Tương tự như ở Bolsena, một trong những linh mục đã nghi ngờ Sự Hiện Diện Thực Sự.  Khi ngài đọc lời truyền phép, bánh thánh đã biến thành thịt, rượu thành máu.  Thân thể mang hình dạng của một trái tim, và Máu đông lại thành năm giọt hình dạng không đều. 

Năm 1970, phép lạ này đã được khoa học kiểm chứng.  Các bác sĩ kết luận rằng phần thịt là mô tim người và máu là máu của người.  Cả hai đều thuộc cùng nhóm máu AB. 

Ngày nay, thánh tích được bảo quản trong một nhà thờ Phanxicô.  Mặc dù thường khó để phân biệt chi tiết của các phép lạ Thánh Thể khác, Lanciano là độc nhất.  Có thể đến gần nhờ một cầu thang ngay phía sau thánh tích.  Thịt được bảo quản trong một mặt dây chuyền bằng bạc, các giọt máu trong một chén pha lê. 

3.Phép lạ Thánh Thể ở Siena 

Vào ngày 14 tháng 8 năm 1730, bọn trộm đã lấy trộm một hộp đựng bánh thánh bằng bạc từ một nhà thờ Phanxicô ở Siena.  Hộp đựng bánh thánh chứa 351 bánh thánh đã được thánh hiến, nhiều bánh thánh đã được thánh hiến vì lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày hôm sau.  Ba ngày sau, những bánh thánh bị đánh cắp đã được tìm thấy trong một nhà thờ gần đó và được trả lại cho nhà thờ Phanxicô. 

Các tu sĩ dòng Phanxicô xác minh rằng những chiếc bánh thánh này là bánh thánh bị đánh cắp.  Năm thập niên sau, vào ngày 14 tháng 4 năm 1780, những chiếc bánh thánh này được kiểm tra và phát hiện là “không có bất kỳ sự thay đổi nào.” 

Vào các năm 1789, 1889, 1815 và 1854, nhiều cuộc kiểm tra khác đã được tiến hành.  Trong một lần, một số bánh thánh chưa được thánh hiến đã được niêm phong trong hộp thiếc trong 10 năm.  Khi mở lại, ủy ban chỉ tìm thấy giun và các mảnh mục nát thay vì bánh thánh. 

Trong một cuộc điều tra khác vào năm 1914, theo sáng kiến của Đức Giáo Hoàng Pius X, báo cáo cuối cùng nêu rõ: 

Các hạt dường như được bảo quản tốt, không có bất kỳ dấu hiệu biến đổi hoặc nấm mốc nào, cũng không bị hư hỏng do sự biến đổi của sâu mọt hoặc các loại ký sinh trùng khác, thường thấy ở các sản phẩm bột mì.

 Ngoài ra, tuyên bố còn nêu rõ: 

Các hạt tạo nên một hiện tượng kỳ lạ, có liên quan phong phú, đảo ngược các định luật tự nhiên về bảo toàn vật chất hữu cơ.  Đây là một sự kiện độc đáo được lưu giữ trong biên niên sử khoa học. 

Năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Siena trong một chuyến viếng thăm mục vụ.   Khi chứng kiến phép lạ, ngài đã thốt lên: “Đây là Sự Hiện Diện Thực Sự!” 

4.Phép lạ Thánh Thể ở Cascia

Trong Thung lũng Valnerina của Umbria, gần thành phố nơi Thánh Bênêđíctô thành Nursia sinh ra, là Cascia.  Trong khi hầu hết những người hành hương đến đó để tỏ lòng tôn kính Thánh Rita, sinh năm 1371 và qua đời năm 1447, bên dưới vương cung thánh đường lưu giữ hài cốt của thánh nữ vẫn còn lưu giữ một phép lạ Thánh Thể khác. 

Vào năm 1330, một linh mục đang chuẩn bị đến thăm một giáo dân đang hấp hối không xa Siena.  Ngài đã bất cẩn đặt một bánh thánh đã thánh hiến vào sách kinh nguyện của mình thay vì trong một hộp đựng bánh thánh.  Khi đến nhà người đàn ông bệnh tật, ngài đã nghe ông xưng tội và ban phép xá giải cho ông.  Khi mở sách kinh nguyện, ngài phát hiện ra bánh thánh đang chảy máu, cả hai trang đều dính đầy máu.  Một trong những trang được bảo quản tại Cascia. 

5.Phép lạ Thánh Thể ở Macerata

Phép lạ Thánh Thể ở Macerata theo mô hình ở Bolsena và Lanciano.  Năm 1356, một linh mục đang cử hành Thánh lễ và nghi ngờ về Sự Hiện Diện Thực Sự.  Trong khi truyền phép, máu tuôn ra từ bánh thánh đã truyền phép rơi vào chén thánh, cũng như trên khăn trải bàn thờ. 

Sau thánh lễ, vị linh mục đã nhanh chóng báo cáo sự việc với Giám mục, và vị Giám mục đã mở một cuộc điều tra theo giáo luật. 

Mặc dù các tài liệu điều tra không còn được lưu giữ do sự đàn áp của Napoleon, vải lanh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ lớn của thành phố.

 Mặc dù không ai biết được ý muốn của Chúa, có lẽ Người cho phép xảy ra những phép lạ Thánh Thể để chúng ta, giống như các linh mục nghi ngờ và Thánh Tôma, cũng có thể “thấy và tin.”

 Source: National Catholic Register

From: Langthangchieutim


 

 NI CÔ XIN ĐƯỢC RỬA TỘI ĐỂ THEO CHÚA.

Hội Thích Nghe Cha Lm. GB Phương Đình Toại – TGP Sài Gòn

Truyền Thông Công Giáo Việt Nam

NI CÔ XIN ĐƯỢC RỬA TỘI ĐỂ THEO CHÚA.

Theo lẽ thường, Thánh Lễ thường được cử hành tại Nhà Thờ, tại Nguyện Đường. Có những trường hợp đặc biệt vì hoàn cảnh nào đó thì Thánh Lễ được cử hành tại tư gia. Chiều hôm nay, một Thánh Lễ hết sức đặc biệt được cử hành ở một nơi hết sức đặc biệt đó là tại một ngôi chùa. Chuyện đặc biệt này xảy đến vì lẽ người quá cố là người trụ trì ngôi chùa thân yêu mang tên Quan Âm (Bình Hưng – Bình Chánh).

Chuyện xẩy ra là trong những ngày cuối năm 2010, ở căn phòng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch vang lên những lời kinh, tiếng hát để cầu nguyện cho bệnh nhân. Cạnh lời kinh tiếng hát ấy có cả việc cử hành bí tích giải tội và cả rửa tội nữa.

Rồi một ngày kia, nằm trong căn phòng nhỏ ấy bỗng dưng có bệnh nhân ngồi dậy và xin những người đang làm việc tông đồ là “muốn theo đạo Chúa!” Hết sức ngạc nhiên vì lẽ bệnh nhân rõ ràng là một sư cô nhưng lại ngỏ ý theo đạo. Một người bình thường bảo theo đạo đã là khó huống hồ chi là một vị sư cô.

Thế rồi, ngày 13 tháng 12 năm 2010 tại bệnh viện, sư cô Lương Thị Phụng đã được nhận bí tích Thánh Tẩy trở thành con cái Chúa với tên mới là Maria Lương Thị Phụng.

Sau những ngày chạy chữa, sư cô trở về ngôi chùa thân thương của mình. Tình người, tình Chúa cũng đi theo sư cô về ngôi chùa ấy. Thi thoảng những người giúp cho sư cô biết Chúa, biết Đạo cũng đến để thăm hỏi, để cầu kinh.

Chỉ sau một thời gian tin theo Chúa, Maria Lương Thị Phụng đã được Chúa gọi về Nhà Cha trên trời ngày 7 tháng 2. Thể theo lời thỉnh nguyện của người quá cố, gia đình đồng ý cho linh mục đến Chùa Quan Âm (nơi sư cô trụ trì) để dâng lễ cầu nguyện cho người ra đi.

Hiện diện trong ngôi Chùa hôm nay, hiện diện trong Thánh Lễ an táng cho Maria Lương Thị Phụng hôm nay hết sức dễ thương. Chủ tế là một linh mục dòng Chúa Cứu Thế, bài ca, bài đọc được các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán và các sơ thuộc nữ tử bác ái Vinh Sơn, một số giáo dân và cả gia đình tang quyến. Đặc biệt là trong Thánh Lễ này có cả sự hiện diện của quý tu sĩ của Chùa và những phật tử thân quen với người quá cố.

Trước khi cử hành Thánh Lễ, mọi người chào nhau bằng ánh mắt của tình thương, của tình liên đới giữa những người mang danh là Phật tử và giữa những người mang tên Giêsu. Vài người hỏi linh mục chủ tế rằng có ngạc nhiên không thì ngài mỉm cười bảo “Thiên Chúa có đường lối của Ngài”.

Trong bài chia sẻ, linh mục chủ tế mượn hình ảnh của anh chàng Giakêu trèo lên cây sung để gặp Chúa để diễn tả hình ảnh của một Maria Lương Thị Phụng. Maria Phụng nằm trên giường bệnh nhưng một ngày kia đã ngồi lên và xin học đạo. Thế là trên giường bệnh, Maria Phụng đã tuyên xưng niềm tin của mình … Thiên Chúa chọn mỗi người mỗi kiểu và mỗi cách. Cách đây chừng 1 tuần lễ, linh mục cũng dâng lễ An táng cho mẹ của một nữ tu cũng vừa theo Chúa hơn chục năm. Bà cố năm nay thọ 96 tuổi nhưng mới theo Chúa thôi. Đặc biệt là chính bà cố là người thúc đẩy ông cố theo Chúa nữa. .. Thiên Chúa chọn, Thiên Chúa gọi mỗi người mỗi cách riêng không ai biết … Như hôm nao nhà của Giakêu đón nhận ơn cứu độ thì hôm nay nhà của Maria Lương Thị Phụng cũng đón nhận ơn cứu độ. Không chỉ mình Maria Phụng thôi nhưng hôm nay ngôi nhà thân thương này đã được Chúa đến viếng thăm và ban ơn cứu độ.

Thánh Lễ được cử hành hết sức trang nghiêm và sốt sắng cùng với lời ca tiếng hát thánh thiêng của các sơ và cả sự thành tâm của tang quyến, của Phật tử.

Hết sức dễ thương, người đại diện của tang quyến nói lời cảm ơn ngắn gọn: “Con xin cảm ơn Cha, cảm ơn các sơ đã đến cầu kinh, nguyện hát cho mẹ của con!” Người con nuôi của vị sư trụ trì Chùa hết sức đơn giản.

Hình ảnh của bà Maria Lương Thị Phụng thật dễ thương. Bà được Thiên Chúa chọn, Thiên Chúa gọi trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt: trong bệnh viện, trong tư cách là nữ tu trụ trì Chùa.

Thiên Chúa gặp con người trong mọi nẻo đường đời. Có thể là một trẻ sơ sinh hay là một người lớn, và cũng có thể là một vị sư trụ trì của một ngôi chùa nữa. Thiên Chúa luôn có cách của Ngài.

Thế là từ ngày 13 tháng 12 năm 2010, Hội Thánh Công Giáo có thêm một kitô hữu nữa tên là Maria và ngày 7 tháng 2 năm 2011 Nước Trời lại có thêm một công dân mang tên Maria Lương Thị Phụng nữa.

Tạ ơn Chúa vì tất cả những hồng ân, những kỳ công Ngài thêu dệt trong cõi nhân sinh này.

THANH TÂM


 

NGƯỜI NO VẪN ĐÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống!”.

“Có những cơn đói không bánh nào nuôi nổi!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta có thể no bánh, no tiện nghi, no thành công, mà lòng vẫn đói. “Có những cơn đói không bánh nào nuôi nổi!”. Lời Chúa hôm nay trả lời nghịch lý ấy: ‘người no vẫn đói’.

Thông thường, một khoảng trống vừa được lấp đầy thì một khoảng trống khác lại xuất hiện. Con người dường như luôn đói nhiều hơn những gì mình đang có. Chính vì cơn cồn cào ấy, Chúa Giêsu nói: “Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống!”. Ngài không hứa ban thêm một thứ để thoả dạ, nhưng trao chính mình làm nguồn sống. Vật chất chỉ lấp đầy dạ dày; chỉ Đấng Tạo Hoá mới lấp đầy linh hồn.

Không chỉ nói đến của ăn, Chúa Giêsu còn nói đến việc ăn chính thịt Ngài. Ở đây, Gioan đổi động từ quen thuộc phagein – “ăn”, sang trōgein – “nhai”, “gặm”; ngôn ngữ trở nên mạnh hơn vì điều được mặc khải cũng lớn hơn. Ngài không trao một giáo huấn để suy ngẫm, nhưng hiến chính mình làm của ăn. Cơn đói sâu nhất của con người không thể được nuôi bằng một ý tưởng về Thiên Chúa, nhưng bằng chính Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Thể không phải là một ý tưởng để suy nghĩ, nhưng là một Đấng để đón nhận; không phải một kỷ niệm để nhớ lại, nhưng là một sự sống để hiệp thông. “Con người có một khoảng trống hình Thiên Chúa trong lòng mình!” – Blaise Pascal.

Vậy mà con người đói không chỉ vì thiếu của ăn, nhưng vì còn thiếu một nơi để thuộc về. Bởi đó, không dừng lại ở việc cho ăn, Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”. Gioan gọi đó là menein – “ở lại”. Thánh Thể không chỉ lấp đầy một cơn đói – ‘người no vẫn đói’ – nhưng còn đưa con người vào một mái nhà. Điều làm lòng người no thoả không chỉ là có thêm một điều gì đó, nhưng là thuộc về một Ai đó.

Bài đọc Đệ Nhị Luật nhắc đến manna trong sa mạc. Đó là lương thực cho một chặng đường; Thánh Thể là lương thực cho cả cuộc đời. Manna giữ dân Chúa khỏi chết; Thánh Thể cho con người được sống nhờ Chúa Kitô. Vì thế, theo Phaolô, cùng chia sẻ một tấm bánh, chúng ta trở nên một thân thể trong Chúa Kitô – bài đọc hai. Điều Thánh Thể xây dựng không chỉ là những tâm hồn đạo đức, nhưng là một dân mới, Hội Thánh – Giêrusalem mới. Và dân ấy không ngừng cất tiếng: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ là Đấng đáp lại cơn đói của con người; Ngài còn mặc khải cơn khát của Thiên Chúa. Nếu con người đói Thiên Chúa, thì Thiên Chúa cũng “đói” con người: Ngài muốn hiệp thông, muốn ở lại, muốn nên một với họ. Trên thập giá, Ngài kêu lên: “Tôi khát!”. Thánh Thể không phải đài tưởng niệm vô tri, mà là nhịp đập tình yêu đang tuôn chảy. Thánh Thể không chỉ là bí tích của lương thực, nhưng còn là bí tích của một tình yêu luôn tìm kiếm và tự hiến. Yêu thương không chỉ là cúi xuống ban ơn, mà là hoà quyện và tan chảy vào nhau.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con vẫn đói giữa bao điều tưởng đủ. Xin cho con biết ở lại trong Chúa và Chúa ở lại trong con; vì chỉ một mình Ngài mới làm con no thoả!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ, NĂM A

Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,51-58

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”


 

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Phạm Quốc Hùng

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Hồi trẻ cứ tưởng sống là phải “gom”. Gom tiền, gom chức tước danh phận, gom thật nhiều cho mình và cho con cho cháu.

Tới lúc tóc bạc,chân chùn gối mỏi, tui mới hiểu sống tới cuối đời cần học hai chữ: Buông bỏ và Tha thứ. Không học hai chữ đó thì già rồi mà lòng nặng như đá.

Hồi 30 tuổi, ai nói một câu không vừa ý là tui nhớ. Thằng bạn mượn tiền không trả, tui giạn không nhìn mặt nó luôn. Vợ cằn nhằn một buổi, tui dỗi cả tháng. Tui tưởng giữ cái giận đó là giữ cái “tôi” của mình. Giữ cho mình khỏi … thua.

Tới 60 tuổi, tui bệnh một trận thập tử nhất sinh. Nằm trên giường bệnh, tay chân không nhấc nổi, mắt nhìn lên trần nhà. Tự nhiên mấy chuyện hồi trẻ nó hiện về. Thằng bạn mượn tiền, vợ cằn nhằn,… Tất cả như mấy cuộn phim cũ. Tui muốn chửi, muốn tính sổ, mà miệng khô, họng nghẹn. Lúc đó tui mới thấy: giữ giận 30 năm, người chết trước là mình. Nó chết trước vì tim nó nghẹn, vì đêm nào cũng mất ngủ.

Từ giường bệnh bước xuống, tui tập buông. Buông không phải là thua. Buông là thấy cái gì không vác nổi nữa thì đặt xuống. Con cái lớn rồi, nó có đường nó. Đất đai tính toán chi cho mệt, chết có mang theo được đâu. Người ta nói xấu mình, kệ. Mình sống cho mình với trời đất, không sống để đóng vai “người hoàn hảo” trong mắt thiên hạ.

Buông bỏ của tuổi già nó nhẹ lắm. Nó không ồn ào như trai trẻ “bỏ là bỏ cho mày thấy”. Buông của người già giống như ông già quét lá. Lá rụng thì quét, quét rồi gió lại thổi rụng. Quét cho sân sạch để mình đi, không quét để lá nó đừng rụng nữa. Buông là chấp nhận “được thì ít, mất thì nhiều”. Mà mất rồi thì thôi, ôm vô làm gì cho mỏi tay.

Mà buông không thì chưa đủ. Buông xong, trong lòng còn cái cấn. Cái cấn đó tên là “hận”. Nên tuổi già phải học thêm chữ “tha thứ”.

Tha thứ khó hơn buông gấp chục lần. Buông là bỏ đồ vật. Tha thứ là bỏ người. Mà người đó có khi là vợ mình 40 năm, là anh em máu mủ, là thằng bạn ngồi chung chiến hào. Tha thứ không có nghĩa là nói “mày đúng”. Tha thứ là nói “tao mệt rồi, tao không muốn mang mày trong tim tao thêm ngày nào nữa”.

Tui có ông bạn, vợ ổng mất sớm. Ổng giận bà nhạc 20 năm vì bà ngăn cản ngày xưa. Giận tới mức con cháu lấy vợ lấy chồng ổng cũng không nhìn mặt sui gia. 70 tuổi, ổng tai biến, nằm một chỗ. Con cháu đẩy xe lăn đưa ổng qua nhà bà nhạc. Bà nhạc giờ cũng 85, lưng còng, mắt mờ. Hai người già ngồi nhìn nhau. Không ai nói “xin lỗi”. Bà nhạc chỉ rót ly nước: “Uống đi anh Sáu”. Ông bạn tui cầm ly nước, tay run, nước mắt chảy. Ổng nói với tui sau đó: “Tui tha cho bả, không phải vì bả xứng đáng. Tui tha vì tui muốn trước khi nhắm mắt, trong tim tui chỉ còn ấm, không còn đá”.

Đó, tha thứ của tuổi già là vậy. Không rình rang, không kể công. Tha để mình ngủ ngon. Tha để lúc con cháu hỏi “Ông bà có gì dặn không?”, mình chỉ cười, chứ không trăn trối chuyện thù hận.

Đàn ông tha thứ kiểu đàn ông. Giận thì mặt đỏ, tha thì một câu “bỏ đi”. Nói bỏ là bỏ, không nhắc lại. Đàn bà tha thứ kiểu đàn bà. Khóc ba đêm, nấu ba nồi cháo, rồi nói “tui tha”. Tha rồi nhưng vẫn nhớ, vẫn sợ. Khác nhau, nhưng cái đích thì một: cho lòng nhẹ.

Người trẻ sợ buông vì sợ mất. Người già buông vì biết giữ cũng không được bao lâu. Người trẻ khó tha vì còn sung, còn “cái tôi” to bằng cái đình. Người già dễ tha vì “cái tôi” đó theo năm tháng nó mòn, nó nhỏ lại bằng hạt đậu.

Tui nghiệm ra một điều: Quãng đời còn lại của mình ngắn lắm. Ngắn tới mức không đủ để giận ai thêm một lần, không đủ để ôm một cục than trong lòng thêm một đêm.

Buông bỏ để tay mình trống, còn nắm tay con cháu. 

Tha thứ để tim mình ấm, còn thương được người.

Tới tuổi này, tui không mong giàu, không mong thọ. Tui chỉ mong mỗi đêm nhắm mắt, trong lòng không còn ai để ghét, không còn chuyện gì để tiếc. Ngủ một giấc, sáng mai thức dậy, thấy nắng, thấy lá rụng, thấy lòng mình… không.

“Không” ở đây là không còn nặng. Vậy là đủ.


 

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .- Tác gỉa : Phạm Thành Châu

Nguyen Thi Chau

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .

Truyện hay cuối tuần

LỜI TỎ TÌNH CŨNG LÀ LỜI TRĂN TRỐI .

Tác gỉa : Phạm Thành Châu .

***

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thuyên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất.

Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào.

Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng.

Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả!

Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự.

Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh.

Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường.

Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào.

Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”.

Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô.

Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta.

Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”.

Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình.

Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta.

Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử.

Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng

“Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao.

Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…”

Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi?

Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi.

Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường.

Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận.

Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi”

Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp

“Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi.

Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu.

Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…

Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà.

Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…”

Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..”

Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế.

Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp

“Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn.

Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”.

Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác.

Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế”

Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau.

Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu.

Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô.

Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi da~ có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay”

Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh.

Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra.

Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằngmuốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù.

Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi.

Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi.

Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần.

Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm.

Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi.

Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi.

Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên.

Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ.

Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi.

Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò.

Tù chỉ có 15 phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết.

Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ.

Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ.

Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.

Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên 10 năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt.

Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó,chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe.

Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi.

Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau.

Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải 5 giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết là em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm…

Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.

Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Nhưng than ôi ! thật ra là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu 


 

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Một vị linh mục 27 tuổi biết rõ mình sắp chết.

Ba tháng trước khi nhắm mắt, ngài đã bình thản kể về điều đó với một người anh em linh mục. Một cách rõ ràng, điềm tĩnh. Không phải là một lời đoán mò — mà là một sự thật ngài đã hoàn toàn chấp nhận.

Ngài tên là Miroslav.

TIẾNG GỌI

Ngài sinh năm 1920 tại một ngôi làng nhỏ ở Istria, Croatia. Một người trẻ mang trong mình tiếng gọi thiêng liêng. Ngài sang Rome học thần học để trở thành linh mục. Khi Thế chiến II bùng nổ, ngài được gọi về quê hương và được thụ phong vào năm 1943, ngay giữa khói lửa chiến tranh.

Ngài trở thành một hình mẫu hiếm hoi: một vị mục tử được giáo dân yêu mến sâu sắc. Ngài làm sống dậy các giáo xứ mình đi qua. Ngài thắp sáng nơi đó bằng các bí tích, bằng đức tin và niềm hy vọng. Ngài không sợ hãi, đầy tài năng và chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.

Thế rồi chiến tranh kết thúc.

Một thế lực mới lên nắm quyền.

ÁP LỰC

Chính quyền Cộng sản Nam Tư tiếp quản đất nước vào năm 1945. Sứ mệnh của họ rất rõ ràng: đàn áp Giáo hội. Xóa sổ, kiểm soát và khiến Giáo hội biến mất.

Các Giám mục bị bắt giữ. Linh mục bị quấy rối, bị đánh đập, bị bỏ tù. Đức Tổng Giám mục vĩ đại của Zagreb bị tống giam. Thông điệp đưa ra là không thể nhầm lẫn: cúi đầu trước chính quyền, hoặc bị hủy diệt.

Hầu hết các linh mục chọn cách im lặng. Đó là cách duy nhất để sinh tồn.

Nhưng Miroslav thì không.

SỰ KIÊN CƯỜNG

Ngài lên tiếng. Ngài công khai bảo vệ đức tin. Ngài che chở cho các linh mục trẻ khỏi sự bách hại. Ngài đứng ra làm lá chắn giữa chính quyền và những người giáo dân đang bị áp bức.

Điều đó khiến ngài lọt vào tầm ngắm. Điều đó khiến ngài trở nên nguy hiểm.

Đến mùa hè năm 1947, khi chứng kiến chế độ siết chặt gọng kìm và hiểm nguy ngày càng cận kề, có điều gì đó trong ngài đã dịch chuyển. Ngài không sợ hãi. Ngài đã sẵn sàng.

Ngài nói với các chủng sinh của mình: “Làm linh mục nghĩa là sẵn sàng đổ máu vì đức tin.”

Vào tháng Sáu, ngài viết trong nhật ký dâng lên Chúa: “Nếu đó là ý Ngài, con ước được về bên Ngài càng sớm càng tốt.”

Ngài biết trước mọi chuyện. Và ngài bình an.

KHOẢNH KHẮC

Ngày 24 tháng 8 năm 1947, ngài đến một ngôi làng nhỏ tên là Lanišće.

Sứ mệnh của ngài rất đơn giản nhưng tuyệt đẹp, điều mà các linh mục đã làm suốt hàng thế kỷ qua: ban bí tích Thêm Sức cho các em nhỏ. Đặt tay lên các tín hữu trẻ và củng cố đức tin Công giáo cho các em. Trao ban những bí tích mà chính quyền muốn dập tắt.

Ngài vẫn làm điều đó. Công khai. Không chút sợ hãi.

Sau thánh lễ, ngài cùng một linh mục khác đến nhà xứ để ban bí tích cho những em đến muộn. Lúc đó vào khoảng 11 giờ trưa.

Bất ngờ, cánh cửa bị đạp tung.

Một nhóm người ủng hộ chính quyền xông vào. Họ bắt giữ ngài. Họ vật ngài xuống đất và ghìm chặt ngài lại.

Và họ đâm ngài. Hết nhát này đến nhát khác. Ngay vào cổ.

Máu ngài chảy dài trên sàn nhà và bắn lên cả những bức tường.

Và khi sự sống dần rời bỏ thân xác, Miroslav đã hét lên hai lần:

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Rồi ngài ra đi.

SỰ IM LẶNG

Chính quyền cố gắng xóa sạch sự hiện diện của ngài. Gia đình muốn chôn cất ngài tại quê nhà, nhưng họ từ chối. Họ biến ngôi mộ của ngài thành một thứ để kiểm soát, một biểu tượng cho quyền lực của họ.

Trong nhiều thập kỷ, câu chuyện của ngài chỉ tồn tại qua những lời thì thầm. Ở một góc nhỏ của Croatia. Giữa những con người yêu kính ngài và quyết không lãng quên.

Phần còn lại của thế giới chưa từng biết đến tên ngài.

SỰ PHỤC SINH

Thế rồi chế độ cộng sản sụp đổ.

Và vào năm 2013, 66 năm sau ngày ngài hy sinh, sự thật cuối cùng đã được đưa ra ánh sáng.

Giáo hội Công giáo tuyên phong Miroslav Bulešić là vị Tử đạo. Bậc Chân phước. Cuối cùng ngài đã được tôn vinh.

Buổi lễ diễn ra tại Pula, trong một đấu trường La Mã cổ đại được xây dựng từ hai ngàn năm trước. Hai mươi ngàn người đã tụ họp tại giảng đường ấy để tuyên bố rằng: tên của người đàn ông này sẽ không bị lãng quên. Máu của ngài không đổ xuống vô ích.

Những kẻ giết ngài muốn xóa sổ ngài mãi mãi.

Nhưng giờ đây, tên ngài được xướng lên trong các nhà thờ trên khắp thế giới.

Ngài đã có thể chọn im lặng. Chọn giải pháp an toàn. Chọn sống sót.

Nhưng ngài đã chọn trung kiên. Chọn bảo vệ người khác. Chọn đứng về phía một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình. Ngay cả khi biết trước lưỡi dao đang đợi sẵn.

“Tội danh” của ngài là gì? Ban bí tích Thêm Sức cho trẻ em.

Di sản ngài để lại là gì? Một người trẻ nhìn thấy cái chết cận kề mà không hề chớp mắt. Người vẫn cầu nguyện ngay cả khi đang trút hơi thở cuối cùng. Hơi thở cuối cùng là một lời kinh, chứ không phải một tiếng thét gào đau đớn.

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Họ đã cố chôn vùi ngài hai lần. Một lần dưới lòng đất. Một lần trong sự im lặng.

Nhưng ngài đã phục sinh trên cả hai.

#MiroslavBulesic #TuDao #DucTin #CauChuyenCamHung See less


 

TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo 

 TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ

Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng (TC) khác nhau tùy theo nguồn ước lượng và gia tăng hàng năm. Năm 2023, trên giấy tờ ngân sách gia tăng 7.7 phần trăm, tính theo dollar lên đến 227.9 tỷ. Năm nay, 2026, theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (The International Institute for Strategic Studies (IISS)), ngân sách quốc phòng TC lên đến 277 tỉ dollar. Lần nữa đó cũng chỉ là thông tin “chính thức” từ nhà nước, con số thật sự sẽ cao hơn.

TC có quân đội hiện dịch khoảng 2.3 triệu quân với 500 ngàn quân trừ bị. TC có kho vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân và hiện đại hơn tất cả các quốc gia khác ở Á Châu. Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) có hơn hai triệu nam và nữ được đào tạo đang tại ngũ, khiến lực lượng này trở thành lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới.

Nhưng cho dù tối tân bao nhiêu và đông đảo bao nhiêu cũng không thể so với 27 ngàn đầu đạn nguyên tử, các hạm đội hùng mạnh và 250 sư đoàn bộ binh được trang bị tận răng của Liên Xô trước ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Liên Xô đã sụp đổ.

Lý do? LX sụp đổ do ung thối từ bên trong.

Mùa đông 1985, Eduard Shevardnadze, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại Giao Liên Xô chia sẻ với Gorbachev, tân Chủ tịch Liên Xô, “mọi thứ đã bị ung thối và phải cần thay đổi”. Gorbachev cũng đã nhận ra điều đó và họ đã hợp tác để thúc đẩy những thay đổi cấp bách qua các cải tổ kinh tế chính trị (Perestroika) và công khai hóa các hoạt động thông tin ngôn luận (Glasnost).

Perestroika có lý do vì vào thời điểm đó Liên Xô đang chịu đựng sự suy thoái kinh tế như giá dầu thô giảm xuống mức thấp kỷ lục, chi phí chiến tranh Afghanistan, chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém với Mỹ, nuôi một đạo quân hiện dịch trên bốn triệu người v.v…

Nhưng tại sao kinh tế Perestroika phải tiến hành đồng thời với công khai hóa Glasnost?

Liên Xô thập niên 1980 mặt ngoài khá “ổn định”. Ngoại trừ nhà trí thức lớn Andrei Sakharov đang bị lưu đày ở Gorky, tại Liên Xô không có một phong trào dân chủ nào nổi bật có khả năng thách thức sự cai trị của đảng CS. 

Nhưng Gorbachev biết sự băng hoại của văn hóa xã hội Liên Xô không biểu hiện qua các phong trào, qua vài nhân vật bất đồng chính kiến mà trong mọi mặt, mọi ngõ ngách của đời sống.

Perestroika và Glasnost ra đời quá trễ nên chẳng những không cứu được LX mà lại đẩy LX sụp nhanh hơn.

Nhiều năm sau, Gorbachev trả lời câu hỏi này: “Cái khuôn mẫu Soviet thất bại không chỉ ở mức độ kinh tế xã hội mà thất bại ở mức độ văn hóa. Trong xã hội Liên Xô, các tầng lớp người dân, các thành phần có học, thành phần trí thức đã từ chối một chế độ không tôn trọng quyền làm người, trấn áp người dân cả về vật chất lẫn tinh thần.”

Các đế quốc La Mã, Ottomans, Áo-Hung chết trước, LX chết sau và Trung Cộng đang bước trên ngõ cụt.  Ngày cuối của TC cũng sẽ ảm đạm không khác.

Năm 1989, Trung Cộng đã bước một bước khá dài trên con đường “tự diễn biến” về cả kinh tế lẫn xã hội. Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa do Chu Ân Lai đề ra từ 1963, lợi tức tính theo đầu người Trung Quốc chưa đến 100 dollars và nhiều khu vực còn chìm trong đói khát. Mười năm sau lợi tức đầu người đã tăng gấp ba lần và Trung Cộng tạm gọi đang bước qua khỏi thời kỳ nghèo đói. Về mặt quốc tế, họ Đặng mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều nước trong đó có những nước cựu thù như Mỹ, Nhật và hòa hoãn với Liên Xô.

Trung Quốc trong giai đoạn 1989 cũng trong thời kỳ “ổn định” nhưng biến cố Thiên An Môn bùng nổ giữa sự ngạc nhiên của giới cai trị Bắc Kinh.

Sau biến cố Thiên An Môn, Trung Cộng áp dụng chính sách “bế môn tỏa cảng” về mặt tự do nhân quyền và văn hóa xã hội. Hệ thống tuyên truyền đã từng bước chuyển hướng nhận thức của các thế hệ trẻ Trung Quốc từ yêu tự do dân chủ thời 1989 sang chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Giáo sư Zheng Wang, người đã dạy tại một số đại học Trung Cộng viết trên tạp chí Time rằng ông rất ngạc nhiên ngay cả những sinh viên ưu tú nhất cũng biết rất ít về sự kiện Thiên An Môn mới xảy ra vài năm trước trong khi biết rất chi tiết cuộc kháng chiến chống Nhật cách đây trên 70 năm.

Trung Cộng hiện đang trong thời kỳ “ổn định” nhưng qua chính sách bưng bít thông tin tuyệt đối hiện nay tại Trung Cộng cho thấy Tập Cận Bình cũng biết một Thiên An Môn khác có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Bằng chứng tại Bắc Hàn, mục tiêu thuần hóa dân tộc do ba đời độc tài họ Kim chủ trương, diễn ra suốt hơn 70 năm nhưng vẫn không và sẽ không bao giờ thắng được sự đối kháng trong lòng người. Nếu có cơ hội dù nguy hiểm bao nhiêu, người dân Bắc Hàn vẫn sẽ vượt thoát. Điều đó chứng minh, không bao giờ có “ổn định” trong một xã hội độc tài toàn trị.

Sức phản kháng trong từng con người là một sức mạnh thiêng liêng và luôn âm ỉ cháy. Cách thể hiện ở mỗi người mỗi khác nhưng giống như những cành hướng dương, khát vọng của con người dù là ai đều hướng tới tự do.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.

Cuộc chiến xoi mòn từng mảng của chế độ độc tài đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân. Mỗi người Việt yêu tự do và yêu quê hương, thay vì ngồi chờ mặt trời rồi sẽ mọc hãy thắp lên một ngọn nến bằng khả năng và điều kiện của mình.

Nếu đúng vậy thì bao giờ TC sụp đổ?

Gordon Chang, nhà phân tích kinh tế chính trị đã làm việc 20 năm tại lục địa Trung Quốc, trong tác phẩm The Coming Collapse of China, xuất bản 2001, tiên đoán TC sẽ đổ vào năm 2011.

Lý do, theo Chang trong phần hỏi đáp về tác phẩm của ông, đã viết: “Mao Trạch Đông, người sáng lập ra TC, xây dựng một xã hội bất bình thường và cô lập chính nó từ các quốc gia khác. Hệ thống đó có thể tồn tại mãi cho đến khi TC biệt lập từ thế giới, nhưng những người kế tục Mao đã tìm cách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Khi một quốc gia trở nên hội nhập nhiều hơn với các quốc gia khác, một lực đẩy áp dụng cho toàn thế giới – chính trị, kinh tế và xã hội – cũng ảnh hưởng TC. Tại một điểm trong tiến trình này, hệ thống bất bình thường của Mao sẽ bị bỏ rơi vì về căn bản không thích hợp với vai trò mà TC tìm kiếm trong hệ thống quốc tế. Một thời gian ngắn, chính phủ TC sẽ không còn khả năng để đáp ứng với các thách thức của một xã hội mở rộng và năng động.”

TC không đổ như Gordon Chang đoán.

Thận trọng hơn Gordon Chang, công ty Stratfor, một công ty thông tin tình báo chiến lược toàn cầu trong Dự đoán Thập niên công bố ngày 21 tháng Giêng, 2010 cho rằng nền kinh tế TC sẽ đổ trong vòng 10 năm tới. Trả lời thay mặt cho Stratfor, Peter Zeihan, phó chủ tịch công ty, giải thích lý do: “Chúng tôi đã phân tích vấn đề này trước đây về một hệ thống kinh tế Trung Quốc bất ổn và chúng tôi nghĩ sự bất ổn đó đạt điểm vỡ khi các mâu thuẫn nội tại của Trung Quốc bùng ra và tan nát.”

TC vẫn chưa đổ theo ước tính của Stratfor.

Tuy nhiên, dù không xảy ra như Gordon Chang dự đoán hay chưa xảy ra như Stratfor ước tính, cả hai và nhiều các nhà phân tích kinh tế chính trị đều có một nhận xét căn bản rất giống nhau rằng TC sớm muộn cũng sẽ đổ vì phải đương đầu với những khó khăn không thể vượt qua.

Một chế độ khi sinh ra đã mang mầm mống của những mâu thuẫn tiệt tiêu có tính bản chất, chế độ đó sẽ phải sụp đổ.

Những vấn đề của TC:

Dân Số Già Nua

Dân số tại các quốc gia tiên tiến có khuynh hướng tăng chậm và điều này có nghĩa tỉ lệ người cao tuổi ngày tăng cao so với thế hệ vừa sanh. Theo ước tính của đề án Pew Research Global Attitudes Project, năm 2050 TC sẽ chỉ tăng 25 triệu so với 400 triệu của Ấn Độ. Các phân tích dân số ước tính TC đang trở nên quốc gia không chỉ già nhất thế giới mà còn già nhanh nhất thế giới. Trong thời gian vài năm nữa, TC sẽ là viện dưỡng lão khổng lồ. Một quốc gia già nua có nghĩa các chi phí an sinh xã hội, dịch vụ y tế cũng gia tăng một cách tương ứng và là một gánh nặng không chịu nổi cho đất nước 1.4 tỉ dân. Lực lượng lao động phần lớn được dùng trong giai đoạn sản xuất dây chuyền, thiếu sáng tạo kỹ nghệ mang tính tiên tiến và khai phá. Phần lớn hàng hóa, dù tiêu dùng hay kỹ thuật cao cấp cũng được phát minh, sáng chế từ nhiều nước khác.

Theo WHO (World Health Organization): “Trung Quốc là một trong những quốc gia có dân số già đi nhanh nhất thế giới. Dân số trên 60 tuổi ở Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 28% vào năm 2040 do tuổi thọ cao hơn và tỷ lệ sinh giảm. Sự thay đổi nhân khẩu học to lớn này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội mới cho phát triển y tế công cộng và kinh tế xã hội – đặc biệt là phát triển một hệ thống tích hợp phục vụ nhu cầu sức khỏe và xã hội của người cao tuổi, với khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bình đẳng bất kể khu vực địa lý.” (WHO, Ageing and health in China, 1 October 2022)

Tham Nhũng

Tham nhũng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới nhưng tại các nước do đảng CS cai trị tham nhũng không chỉ trầm trọng mà còn có tính đảng. Gọi là tính đảng bởi vì tình trạng tham nhũng phát sinh ngay trong lòng cơ chế chính trị, do cơ chế nuôi dưỡng, tràn lan sang các bộ phận của hệ thống và dần dần làm hư thối toàn xã hội.

Đầu năm 2015, trước áp lực quốc tế và sức phản kháng của người dân như mạch nước ngầm đang chuyển động, Tập Cận Bình lo lắng và tuyên bố sẽ đẩy mạnh chính sách chống tham nhũng. Tuy nhiên, hành động của họ Tập chỉ nhằm mục đích thanh trừng các phần tử chống đối và củng cố quyền lực cá nhân hơn là gia tăng minh bạch trong chính phủ.

Sự phân cách giàu nghèo xảy ra tại hầu hết các nước phát triển, trong đó, một vài phần trăm người dân sở hữu một nguồn lớn của cải xã hội. Tại TC, chỉ một phần trăm trong tổng số trên một tỉ người sở hữu 40 phần trăm của cải. Điều khác giữa TC và các quốc gia tư bản là số tài sản mà một phần trăm nắm giữ tại TC phần đông là do tham ô, hủ hóa, là do bóc lột máu xương, mồ hôi nước mắt của người dân làm ra.

Thiếu Tính Chính Danh Lãnh Đạo Đất Nước

Theo tác giả Ross Terrill trong tác phẩm The New Chinese Empire tại TC chủ quyền của con người không tồn tại ngay cả trong lý thuyết chứ đừng nói chi là thực tế. Mọi quyền hạn đều tập trung trong tay đảng nhưng không ai bầu đảng CS, không ai trao cho đảng quyền lãnh đạo. Trong thời kỳ mới mở cửa, người dân tập trung xây dựng cuộc sống sau khi vừa bước ra khỏi thời tem phiếu nên có khuynh hướng chấp nhận hay không quá quan tâm đến việc ai lãnh đạo mình nhưng thái độ đó đang thay đổi nhanh chóng.

Tại TC không có một cơ quan, đoàn thể xã hội nào mà không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS. Mặc dù quốc gia có nhiều ngàn tờ báo nhưng không có tờ báo nào đưa vấn đề chính sách ra bàn cãi. Khi mức độ hội nhập vào thế giới gia tăng, sự bất mãn trong quần chúng đối với đảng và nhà nước CS cũng gia tăng.

Bất Ổn Xã Hội

Theo Gini Index, tiêu chuẩn đo lường mức độ mất cân xứng trong việc phân phối lợi tức gia đình, TC là một trong số mười phần trăm mất cân xứng nhất trên thế giới. Hiện nay các sinh viên tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm tốt như các thế hệ sinh viên trước đây. Nhà báo Peter Aitken trích dữ liệu từ Trung Quốc cho biết “ tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 16 đến 24 tuổi đã tăng từ 15,3% vào năm 2022 lên mức đáng kinh ngạc là 21,3% vào tháng 6, đánh dấu con số này tăng vọt 25%, theo dữ liệu từ Trung Quốc – mức cao kỷ lục khiến Bắc Kinh ngừng công bố thêm số liệu.”

Theo South China Morning Post đăng ngày 21 tháng 4,, 2026: “Tỷ lệ thất nghiệp chính thức của thanh niên Trung Quốc đã tăng lên 16,9% trong tháng 3, với thêm 12,7 triệu sinh viên tốt nghiệp dự kiến sẽ gia nhập thị trường lao động vào mùa hè này.”

Các thành phần giàu có đang tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài để mua tài sản cố định và tìm cách định cư. TC có nhiều tỉ phú nhất thế giới nhưng đa số dân TC vẫn phải sống với lợi tức trung bình khoảng 10 dollar một ngày.

Xã hội bưng bít TC không thể thích nghi với thế giới luôn đổi thay và sinh động. Các chính sách tự diễn biến của các lãnh đạo TC đều có tính cách chiến thuật, phòng thủ, vá víu từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu của toàn cầu hóa TC gặp ít nhiều may mắn về cung ứng hàng hóa rẻ cho thị trường thế giới nhưng về lâu dài khi mức cung cầu được bão hòa, mức độ phát triển kinh tế sẽ chậm lại.

Ô Nhiễm

Đây là lãnh vực mà TC giữ kỷ lục hàng đầu thế giới trong nhiều năm chưa có đối thủ tranh giành được. Điều kiện an toàn hầm mỏ, TC cũng được liệt vào mức tệ hại nhất thế giới. Nước, không khí, kỹ nghệ bị ô nhiễm là nguồn của các bệnh ung thư và các bệnh liên quan đến bộ phận hô hấp.

Hai tác giả Joseph Kahn và Jim Yardley của The New York Times trong bài điều tra năm 2007 cho rằng tình trạng ô nhiễm đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cũng theo bài điều tra này, 500 triệu người dân Trung Quốc không có nước uống an toàn vệ sinh. Chỉ vỏn vẹn 1 phần trăm dân chúng thở không khí với mức độ trong lành tương tự như một người dân Âu Châu thở. Đảng và nhà nước CSTQ công bố hàng loạt các chương trình bảo vệ môi trường nhưng không đạt kết quả bởi vì người dân không có quyền góp ý và báo chí không được phép phê bình.

Vì có nhiều ẩn số chưa giải đáp được nên không ai có thể có một câu trả lời dứt khoát TC sẽ chuyển hóa qua tự do dân chủ trong hòa bình hay sẽ trở thành một hay nhiều nước tự do sau một cuộc chiến tranh đẫm máu. Về mặt đối nội, để tồn tại, các cải cách kinh tế chính trị sẽ diễn ra tại TC trước mắt cũng như lâu dài nhưng kinh nghiệm “đổi mới” tại Liên Xô trước năm 1991 cho lãnh đạo CSTQ biết “đổi mới” quá đà sẽ dẫn đến những phản ứng xã hội ngoài tầm kiểm soát của đảng.

Lịch sử Trung Quốc cho thấy rất ít khi một biến cố chính trị diễn ra trong êm đẹp. Xác suất rất thấp cho một cuộc cách mạng nhung, cách mạng da cam, hoa lài diễn ra tại TC. Cách mạng tại TC sẽ là cách mạng máu. Vũ khí của giới cầm quyền dù có hiện đại bao nhiêu cũng không thể ngăn chặn được sức mạnh của toàn dân khi họ đã quyết tâm đứng dậy.

Một yếu tố mà lãnh đạo TC không dự đoán được là sự phẫn uất bùng nổ của 1.4 tỉ dân. “Năm nọc độc” như bộ máy tuyên truyền TC gọi gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Pháp Luân Công, các nhà tranh đấu dân chủ. Trong số đó bốn “nọc độc” nằm ngay trong lục địa và sẽ trở thành lực lượng quyết định số phận của đảng CSTQ.

TC theo lý thuyết buộc sẽ giảm cường độ các xung đột và tranh chấp với các nước láng giềng để tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, theo Andy Morimoto phân tích trong “Can China Fall Peacefully?” đăng trong The National Interest lúc đó TC sẽ phát động chiến tranh để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng CS. “Sự xúi giục của nước ngoài” thường là bình phong để thanh trừng nội bộ đảng.

Theo Andy Morimoto, làm việc tại Hội Đồng Chicago Về Các Vấn Đề Thế Giới, “viễn ảnh hòa bình tại Á Châu không nhiều hứa hẹn” và ông đề nghị chính phủ Hoa Kỳ nên tập trung vào việc tăng cường quân sự tại Á Châu bởi vì tiên đoán hợp lý nhất vẫn là chiến tranh sẽ bùng nổ trong tương lai.

Lối thoát của Việt Nam?

Để giới hạn hay giảm nhẹ mức ảnh hưởng của chiến tranh, chọn lựa duy nhất của Việt Nam là phải thoát ra khỏi quỹ đạo TC trước khi TC đổ.  Lich sử nhân loai đã chứng minh mọi chế độ chà đạp lên quyền con người sớm hay muộn đều phải đổ. Một người yêu nước, khôn ngoan, thức thời là người biết chọn một chỗ đứng, một hướng đi về phía dân tộc vì tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng cho con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

(Viết thêm từ Chính Luận Trần Trung Đạo) 


 

Tuổi già … bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Anh Thu Nguyen

 Ở quốc gia phát triển như Singapore, tuổi thọ trung bình gần 85 tuổi.

Nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh chỉ dừng lại ở khoảng 74.

Ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình khoảng 74 tuổi…

nhưng tuổi khoẻ mạnh cũng chỉ khoảng 64.

Điều đó có nghĩa là rất nhiều người phải sống cùng bệnh tật suốt… 10 năm cuối đời……

10 năm…

…là khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra rồi lớn lên đi học.

Quảng đường dài

Có những người chỉ là đau lưng, nhức gối, mất ngủ, đi chậm hơn, mệt hơn.

Nhưng cũng có rất rất nhiều người… đặc biệt là phụ nữ… sau cả một đời hy sinh cho chồng con, lại nằm trên giường bệnh những năm cuối đời.

Tay yếu chân run … mắt mờ…

Một cú ngã thôi.

….. cần người chăm sóc hỗ trợ…

Rủi ro nằm 1 chỗ

Rồi bắt đầu chuỗi ngày: loét tì đè, tiểu không tự chủ, phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu… thậm chí có người dần mất trí nhớ, mất nhận thức, không còn biết mình là ai nữa.

Thực lòng mà nói… tôi không muốn dùng những từ quá nặng nề hay thương cảm.

Nhưng đó thật sự là……một bi kịch mà chẳng ai muốn bước vào.

====

Điều đau lòng nhất là: rất nhiều người nghĩ tuổi già bệnh tật là “đương nhiên”.

KHÔNG!!!!!

Rất nhiều thứ chúng ta hoàn toàn có thể làm sớm hơn… để cơ thể già đi chậm hơn.

– Ăn đủ đạm để giữ cơ.

– Đi bộ, tập kháng lực để giữ xương.

– Ngủ đủ để não được nghỉ ngơi.

– Bỏ bớt đường ngọt, rượu bia, thuốc lá.

– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

– Bổ sung vitamin D, omega 3, canxi, glu.tathione, nội tiết… đúng cách khi cơ thể bắt đầu thiếu hụt.

Đừng đợi đến lúc đau mới chăm mình.

Vì tuổi già không đến vào năm 60 tuổi.

Nó bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Tôi gặp rất nhiều phụ nữ:

Cả đời lo cho chồng con ăn ngon, ngủ ngon… nhưng bản thân thì ăn qua loa, thiếu chất, không vận động, không khám bệnh.

Đến khi cơ thể “đòi nợ” thì đã quá muộn!

Nên nếu hôm nay bạn còn đi lại được, còn tự chăm sóc được bản thân, còn khỏe để ôm con cháu…

Thì xin hãy bắt đầu yêu lấy cơ thể mình từ bây giờ.

Không phải để sống thật lâu.

Mà để những năm cuối đời… vẫn còn được sống như một con người khỏe mạnh, minh mẫn và có kí ức!