RẼ HƯỚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Ông liền đứng dậy đi theo Người”.

 Một thương gia rất đỗi hài lòng với chiếc phong vũ biểu tốt nhất vừa sưu tầm. Nhưng về đến nhà, ông bực bội khi thấy chiếc kim cứ chỉ về phía “bão”. Lắc thế nào, kim vẫn không nhúc nhích. Ông ngồi xuống viết thư phàn nàn. Tối hôm sau trở về, phong vũ biểu không còn, cả ngôi nhà cũng không. Thì ra, chiếc kim không kẹt; nó chỉ đúng – “bão!”.

 Kính thưa Anh Chị em,

 Tin Mừng hôm nay không nói đến một chiếc phong vũ biểu ‘chỉ hướng’, nhưng nói đến một con người ‘rẽ hướng’ – Matthêu! Anh không phàn nàn với người gọi; nhưng “liền đứng dậy đi theo Người”. 

‘Rẽ hướng’ không chỉ là đổi hướng nhìn, mà là rời khỏi đường cũ, khỏi những bảo đảm cũ, khỏi sự an toàn quen thuộc. Đứng dậy, là chấp nhận mất cái tôi trước đó để bước vào một ‘cái tôi’ chưa hề biết. Chúa Giêsu không trao cho Matthêu một tấm bản đồ; Ngài trao cho anh một chiếc la bàn, kim chỉ nam của nó là “Giêsu” – Ngài. Anh không thấy gì khác ngoài một hướng đi. Và như mọi cuộc ‘rẽ hướng’ định mệnh, anh không thể mang theo tất cả. Nhiều thứ phải bỏ lại, không vì chúng xấu, mà vì chúng giữ một ai đó ở lại! Matthêu không biết đời mình sẽ đi về đâu, nhưng biết mình không thể ở nguyên chỗ cũ. Cái “liền” của Matthêu không phải là sự nông nổi, mà là khoảnh khắc của một người “đã chín” trong sự giằng co: ở lại thì an toàn, nhưng “không còn sống”. Có những lúc, “không rẽ” là chết dần; nỗi sợ chỉ là khách mời, đừng để nó dọn vào! “Hãy sống một đời tự do. Không tồn tại thứ gọi là một cuộc sống an toàn!” – Anand Mehrotra. 

Cuộc ‘rẽ hướng’ ấy mở ra một bữa tiệc. Không phải tiệc của những người đã hoàn hảo, mà của một người được gọi, “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ!”. Nếu Matthêu nói, “để mai”, có lẽ đã không có bữa tiệc, không có những gương mặt được chạm tới, không có những câu chuyện được đổi đời. Tiếng “vâng” của một người có thể mở cửa cho ân sủng đi vào nhiều phận người khác. Thế nhưng, đừng lãng mạn hoá cuộc ‘rẽ hướng’ này! Bởi cũng từ ngày ấy, Matthêu không bước vào con đường dễ hơn, nhưng gập ghềnh hơn mà cũng sâu hơn; không được bảo vệ khỏi giông tố, mà được đặt vào giữa giông tố với một “Đấng ở cùng”. ‘Rẽ hướng’ không hứa hẹn ít đau hơn; chỉ hứa hẹn ‘đúng hướng’ hơn. Và đúng hướng, đôi khi, là hướng đi qua con đường thập giá!

 Anh Chị em,

 “Ông liền đứng dậy đi theo Người”. Lời gọi theo Chúa luôn bắt đầu bằng một cuộc ‘rẽ hướng’ rất cụ thể: rẽ khỏi một thói quen không lành mạnh, một chọn lựa, một lối sống đã thành nếp. Không ai theo Chúa mà không mất gì; nhưng cũng không ai mất gì vì theo Chúa! Từ một người thu thuế, Matthêu dần trở thành nơi mà Lời có thể đi qua, nơi mà ân sủng có thể chạm tới người khác. Đó không phải là thành tựu cá nhân, mà là hoa trái của một hướng đã được đổi. “Ý nghĩa của cuộc đời là tìm ra món quà của bạn. Mục đích của cuộc đời là trao tặng nó!” – Pablo Picasso.

 Chúng ta có thể cầu nguyện,

 “Lạy Chúa, giữa bao ngả rẽ cuộc sống, giúp con can đảm luôn rẽ về hướng “Giêsu”. Đừng để con chỉ đứng “nhìn kim”, mà không bao giờ dám bước đúng hướng!”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 2,13-17

13 Khi ấy, Đức Giê-su lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người, và Người dạy dỗ họ. 14 Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lê-vi là con ông An-phê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông : “Anh hãy theo tôi !” Ông đứng dậy đi theo Người.

15 Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Đức Giê-su và các môn đệ, vì họ đông và đi theo Người. 16 Những kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người : “Sao ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?” 17 Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”


 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh…

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh, đám tang của họ không hề bị bỏ mặc. Một cán bộ địa phương sẽ có mặt để đại diện cho cộng đồng, và đứng cạnh họ là một… nhà thơ.

​Ý tưởng này ra đời vì người ta không muốn lời chào vĩnh biệt lại trở thành một thủ tục giấy tờ khô khan. Nhà thơ sẽ nhận được vài mẩu tin ít ỏi còn sót lại: một cái tên, một ngày sinh, một công việc cũ hay một địa chỉ—có khi chỉ là một chi tiết nhỏ nhoi duy nhất. Từ những mảnh ghép vụn vặn đó, một bài thơ được viết riêng để dành cho cuộc đời ấy.

​Giữa buổi lễ, bài thơ được đọc lên cho người đã khuất. Không bóng bẩy ca ngợi chiến tích, cũng chẳng tô vẽ nên những tình cảm xa lạ. Nhà thơ chỉ lặng lẽ gom nhặt những gì còn lại, biến một lời chào tạm biệt của một người vô danh thành một cử chỉ ấm áp tình người.

​Nghi lễ diễn ra không to tát,  ồn ào. Nó giản dị, gần như chẳng mấy ai hay biết. Nhưng chính vào lúc đó, người đi xa không còn đơn độc nữa. Có người đã gọi tên họ. Có người đã nhìn nhận sự hiện diện của họ trên đời.

​Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc làm này: nhắc nhở chúng ta rằng mỗi cuộc đời, dù có kết thúc trong lặng lẽ đến đâu, vẫn xứng đáng được tiễn đưa bằng một tiếng nói chân thành giữa người với người.

(The Lonely Funeral)

St


 

TÌNH NGƯỜI VÔ GIÁ – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả.

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông:

“Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!! ”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt … Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật.

Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh …

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu … Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không? ?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ … Con nghĩ đến Đấng Tối Cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài … Nếu được đến với Ngài trong giây phút này, con chắc chắn sẽ không hối hận …”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “ …và thế là, một phép lạ đã xảy ra … Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên … Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy …!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào Đấng Tối Cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất.

Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về … Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông …

Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh:

“Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi !! ”.

Anh mỉm cười từ chối:

“Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa …”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại:

“Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai … Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây …

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay … Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng …

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng … Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá …

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá:

“Tôi muốn cho cô biết một sự thật …”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt:

“Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy … Tôi chưa gặp ông bao giờ cả …”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ:

“Cô biết đấy … ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình … Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình …Và … tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế …”

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này …

Cô y tá nhìn anh run run:

“Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey …”

Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.

Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.

Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người.

Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ …

Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Sưu tầm


 

DÁM KHOÉT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ mới dỡ mái nhà…, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống!”.

“Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, thương tích và lấm lem vì đã đi ra ngoài hơn là một Hội Thánh bệnh hoạn vì khép kín và bám víu vào sự an toàn của mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Dám khoét’ – là định hướng mục vụ Tin Mừng hôm nay mở ra, không chỉ cho mái nhà ở Capharnaum, mà cho chính đời sống Hội Thánh.

Marcô kể, “Họ mới dỡ mái nhà”. Một lỗ hổng giữa đám đông. Bụi rơi, trật tự xáo trộn, bài giảng gián đoạn. Nhưng chính từ lỗ hổng ấy, một con người được đưa tới gần Chúa Giêsu; và từ đó, ơn chữa lành bắt đầu. Điều lạ là Chúa Giêsu không hề can ngăn; Ngài không đòi giữ cho căn nhà nguyên vẹn, Ngài chấp nhận “phiền phức”; vì với Ngài, con người quan trọng hơn nghi thức, và cứu độ quan trọng hơn sự chỉn chu. Nhà rách, nhưng lòng thương xót được mở ra. “Tình yêu không biết khóc với nỗi buồn của người khác thì không xứng đáng với chính tên gọi của nó!” – Henri de Lubac.

Đời sống Hội Thánh không thiếu những lễ nghi đẹp; nhưng lại nghèo về định hướng mục vụ. Lễ lạt rộn ràng, rước sách trang nghiêm, quần là áo lượt, mọi thứ đúng chỗ, đúng giờ, đúng kịch bản; nhưng không ít lần, bị đánh đồng với việc “thả bong bóng”. Chúng ta mất ăn vì hình ảnh đẹp, mất ngủ vì trật tự ngay, sao cho “xem được”; đang khi những việc rất cụ thể cần làm ngay – cho từng thành phần Dân Chúa – lại không có một hướng đi rõ rệt. Chúng ta giữ cho mái nhà quá nguyên vẹn, đang khi biết bao con người cần mình ở ngoài kia!

Đức Phanxicô gọi Hội Thánh là “một bệnh viện dã chiến”. Bệnh viện không đo bằng vẻ đẹp, mà bằng số người được cứu. Dã chiến không có chỗ cho hình thức, chỉ ưu tiên cho vết thương. Một Hội Thánh chỉ chăm chút lễ nghi mà quên sứ vụ sẽ là một Hội Thánh không ‘dám khoét’ – khoét vào sự an toàn, vào sĩ diện, vào hình thức để “đến với muôn dân” đang đói Tin Mừng. Hơn chín mươi triệu người trên đất nước này chưa biết Chúa vẫn đang chờ “những lối mở” thật sự.

Nhưng đó không chỉ là chuyện của cơ cấu, mà còn là chuyện của từng trái tim. Tôi có dám để đời sống mình bị xáo trộn vì người khác? Tôi có dám để thời gian, kế hoạch và sự yên ổn của mình bị “đục thủng” để đưa ai đó đến gần Chúa hơn? Hay tôi chỉ muốn một đời sống đạo gọn gàng, không phiền phức, không rắc rối – không ‘dám khoét?’. “Nỗi đau định hướng con cái Thiên Chúa trở nên người phục vụ mọi người!” – Thomas Merton.

Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở chỗ người bại liệt đứng dậy, mà ở chỗ “một cộng đoàn” chấp nhận để mình bị thương tích vì yêu. Phép lạ lớn nhất không chỉ là đôi chân được mạnh, mà là một căn nhà dám chịu thiệt – ‘dám khoét’ – để giữ lại một con người. Và có lẽ, chính nơi chúng ta dám đau, ân sủng mới tìm được lối để rơi xuống nhiều nhất. “Một điều kỳ diệu của cộng đoàn là giúp ta đón nhận và nâng đỡ người khác theo cách mà một mình ta không thể làm được!” – Jean Vanier.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để Hội Thánh chúng con chỉ đẹp trong nghi thức, để giữ lại mái nhà mà đánh mất con người!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. 2,1-12

1 Bấy giờ, Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà, 2 dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng. Người nói lời Thiên Chúa cho họ. 3 Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng. 4 Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống. 5 Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Này con, tội con được tha rồi.” 6 Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng : 7 “Sao ông này lại dám nói như vậy ? Ông ta nói phạm thượng ! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa ?” 8 Tâm trí Đức Giê-su thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ : “Sao các ông lại nghĩ thầm trong bụng những điều ấy ? 9 Trong hai điều : một là bảo người bại liệt : ‘Tội con được tha rồi’, hai là bảo : ‘Đứng dậy, vác chõng mà đi’, điều nào dễ hơn ? 10 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, -Đức Giê-su bảo người bại liệt-, 11 Ta truyền cho con : Đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà !” 12 Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau : “Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ !”

 CÓ ĐẠO & VÔ THẦN

Linh Mục Mi Trầm

Trong căn phòng của một bệnh viện, hai người đàn ông, một người Công giáo và một người vô thần đều bị bệnh như nhau. Thậm chí người có Đạo còn bị đau đớn và trầm trọng hơn cả người vô thần.

Ngày ngày nằm trên giường bệnh, người vô thần thường hay than thân trách phận, quằn quại đau đớn, cáu gắt tiêu cực và nguyền rủa cuộc đời.

Trái lại, người có Đạo thường nén cơn đau và không hề kêu ca gì cả. Thậm chí trên môi nhiều lúc còn nở nụ cười mãn nguyện trìu mến. Nhiều khi đau quá, thì ông lại tập trung tư tưởng cao cầu nguyện và xin Chúa giúp sức.

Người vô thần lấy làm lạ hỏi: “Tại sao ông có thể chịu được những cơn đau dữ dội như vậy? Bí quyết nào giúp ông có tinh thần lạc quan như vậy”?

Người có Đạo trả lời: “Ông bạn à! Tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chịu đựng được cơn đau cách vui vẻ vì tôi luôn ý thức rằng, Chúa luôn chăm sóc tôi từng giây từng phút. Một sợi tóc trên đầu của tôi, Chúa cũng đếm cả rồi. Tôi vinh dự được Chúa gửi Thánh giá Chúa cho tôi qua cơn bệnh này, để tôi được thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Nên tôi luôn lạc quan tín thác vào Chúa. Mỗi lần nghĩ đến Chúa chịu treo đau đớn trên Thánh giá, là tôi lại có sức mạnh nội tâm chịu đựng cơn đau”.

“Hơn nữa, ai cũng phải trải qua quá trình Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Khi ta chấp nhận quy luật như vậy, ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản dễ chịu hơn”.

Dù sống hay chết thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Sống tôi cũng ở bên Chúa, và có bị chết tôi cũng ở bên Chúa. Chết tôi sẽ được ở bên Chúa đời đời.

Rồi ông bạn vô thần đã rất ngạc nhiên khi nghe nói như vậy.

Và ông muốn tìm hiểu về Chúa. Và hai ông đã đàm đạo tâm sự với nhau cách thân mật từ ngày đó.

Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng đã tạo nên hai tâm hồn lạc quan và bi quan hoàn toàn khác nhau. Vì một người tâm hồn có Chúa và một người thì không.

ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI CÓ ĐẠO VÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO.

Theo Internet


 

TỪ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VENEZUELA NHÌN LẠI LÝ DO THẤT BẠI CỦA NỀN DÂN CHỦ IRAQ VÀ BÀI HỌC NÀO CHO NGƯỜI VIỆT QUAN TÂM- Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Trong bài “Số Phận Nicolas Maduro và Viễn Ảnh Venezuela” đăng trên Facebook hôm 4 tháng 1, người viết có lưu ý ở phần cuối bài: “Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước [Grenada, Panama, Venezuela] cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy): “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025).

Hugo Chavez cho tới Maduro  gầy dựng và nuôi dưỡng một tầng lớp tướng lãnh và viên chức chính phủ trung thành vì quyền lợi như tướng Vladimir Padrino López, Bộ trưởng Quốc Phòng. Đó là chưa kể một số ít người nhưng có ảnh hưởng về đường lối “xã hội chủ nghĩa” (Bolivarian Socialism) của Hugo Chavez. 

Hai “ngư ông” Trung Cộng và Nga đang chờ những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và quyền lợi cá nhân tại Venezuela dẫn tới bạo động và khi đó quốc gia này sẽ trở thành một dạng “xung đột Ủy Nhiệm” (Proxy War) như đã từng diễn ra tại Syria.

Nhưng những người quyết định vận mệnh của Venezuela không phải là Mỹ, Trung Cộng hay Nga mà chính là người dân Venezuela. Nếu biết nắm bắt cơ hội, Venezuela có thể sẽ trở thành một cường quốc Châu Mỹ Latin, và nếu thất bại Venezuela có thể trở thành gần như  một Iraq khác.

Bài viết dưới đây phân tích sự thất bại của nền dân chủ Iraq sau hiến pháp 2005 và là bài học cho người Việt quan tâm đến vận nước.

——–

Không tính khoảng 4,500 quân đội các cấp và viên chức Mỹ hy sinh trong chiến tranh Iraq,  theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị và đồng sáng lập dự án “Chi phí chiến tranh” Neta Crawford, thuộc Đại học Oxford, tính toán tổng chi phí của cuộc chiến ở Iraq và Syria, dự kiến sẽ vượt 2,89 nghìn tỷ đô la. Con số ngân sách này bao gồm chi phí tính đến thời điểm hiện tại, ước tính khoảng 1,79 nghìn tỷ đô la, và chi phí chăm sóc cựu chiến binh đến năm 2050. (Neta Crawford, The Watson School of International Studies, March 15, 2023)

Mặc dù với sự hy sinh nhân sự to lớn và kinh phí khổng lồ, nền dân chủ tại Iraq vẫn còn phải đối diện với nhiều thách thức. Trong các nước láng giềng, vì địa lý chính trị, Iran tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng các phe phái quân phiệt và đảng phái chính trị tại Iraq, cánh Hồi Giáo khủng bố ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) vẫn tiếp tục gây tai họa, các thế lực chính trị nặng đầu óc địa phương trên khắp nước vẫn còn tranh chấp, các tông phái Hồi Giáo vẫn tranh giành quyền lực và tình trạng tham nhũng trầm trọng. Nói chung, so với 21 năm trước, Iraq có một vài tiến bộ nhưng nền dân chủ vẫn chưa trưởng thành.

Mustafa Al-Kadhimi, cựu Thủ tướng Iraq  2020–2022, trong bài viết “Nền Dân Chủ Ở Iraq: Một Vỏ Bọc Cho Tham Nhũng Và Vi Phạm Nhân Quyền” đăng trên diễn đàn của Trung tâm Quan hệ Quốc tế và Phát triển Bền (CIRSD) ngày 29.04.2025: “Để bảo vệ quyền và tự do của người dân, chính phủ Iraq phải thực sự là một nền dân chủ. Việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ giúp chính phủ xây dựng lòng tin và giành được sự tín nhiệm của người dân Iraq cũng như thể hiện ý chí dân chủ của họ. Đáng buồn thay, trong nhiều thập kỷ qua, người dân Iraq đã phải chịu đựng sự thất vọng do việc không tuân thủ những nguyên tắc này.”

Sự thất bại của nền dân chủ Iraq là một nghiên cứu tình huống (case study) rất quan trọng cho người Việt quan tâm đến tương lai dân chủ Việt Nam.

Trở lại một chút với cuộc Chiến tranh Iraq (Iraq War) 2003.

Ngày 19 tháng 3, 2003, cuộc chiến Iraq do TT George W. Bush phát động bằng cuộc hành quân mang tên Operation Iraqi Freedom với mục đích lật đổ chế độ Saddam Hussein chính thức bắt đầu. Saddam Hussein  bị bắt ngày 13 tháng 12 cùng năm và ngày 5 tháng 11, 2006 bị xử treo cổ. 

Chế độ cộng hòa được thiết lập với hiến pháp 2005.

Theo John McGarry, giáo sư Chính trị học tại Queen’s University, Canada, hiến pháp cộng hòa Iraq “phản ảnh hình thức tự do qua hợp tác của các cộng đồng Iraq”. Giáo sư John McGarry và người cộng tác Brendan O’Leary trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Luật Hiến Pháp Quốc Tế ( International Journal of Constitutional Law) tháng 7, 2007 đồng ý với phương thức xây dựng nền dân chủ dựa trên hiến pháp Iraq 2005.

Nhưng hiến pháp dù hoàn hảo bao nhiêu cũng chỉ là một khung sườn, một mô thức, một văn bản chứ không phải là một nền dân chủ. Nền dân chủ của một quốc gia bao gồm nhiều lãnh vực không chỉ chính trị, kinh tế mà còn văn hóa, xã hội phải được thực thi từ chính con người trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn từ chiến tranh sang hòa bình, từ độc tài sang dân chủ.

Như giáo sư John McGarry cảnh báo, thất bại của “hợp tác” sẽ dẫn đến nội chiến và tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp. Thực tế chứng minh lời cảnh báo của ông là đúng khi bạo động vẫn tiếp tục diễn ra và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Iraq.

Sự ra đời của tổ chức khủng bố  Nhà Nước Hồi Giáo Iraq (The Islamic State of Iraq, ISI) năm 2006 đã biến xung đột nội bộ Iraq thành một loại chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) giữa các bên có quyền lợi trong vùng.

Năm 2005, khi hiến pháp Iraq còn trong vòng thảo luận, người viết, trong một tiểu luận đăng trên talawas cho rằng yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp tại Iraq tùy thuộc vào người dân Iraq, trong đó bao gồm cấp lãnh đạo, có đủ khôn ngoan, nhìn ra khỏi những hàng rào đang làm cách ngăn họ hay không.

Đoạn sau đây trích từ bài viết trên talawas 21 năm trước và trích đăng lại nhiều lần với nhiều tựa bài khác nhau trên Facebook:

“Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ.

Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali, nạn nhân của cuộc chiến, chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi cũng không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra.

Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này.  Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch.

Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay.

Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.”

Lý luận trên được người viết đưa ra từ 21 năm trước. Hôm nay nếu cần phải viết lại chắc cũng không thêm bớt điểm nào bởi vì không ai trách nhiệm cho sự thịnh suy của một dân tộc ngoài chính dân tộc đó.

Như chúng ta đều thấy, cơ hội đã đến nhưng nền Cộng Hòa Iraq thất bại.  Lý do trước hết vẫn là do con người của chính quốc gia vừa thoát nạn độc tài.

Thành phần lãnh đạo Iraq từ cấp trung ương không biết nắm bắt cơ hội quốc tế vàng son vừa được đem lại phối hợp với nguồn tài nguyên phong phú vốn có để xây dựng một quốc gia mới cường thịnh cho mình và cho các thế hệ Iraq mai sau. Dự trữ dầu hỏa của Iraq lớn vào hàng thứ năm trên thế giới nhưng bài học làm giàu của Nhật Bản, Tây Đức không phải là sách gối đầu giường của những lãnh đạo Iraq sau chiến tranh.

Dù là nơi phát xuất của nền văn minh Mesopotamia với tám ngàn năm lịch sử, nhưng đúng như Loren Thompson viết trên Tạp Chí Forbes, một trong những lý do Cộng Hòa Iraq thất bại vì Iraq không có bản sắc dân tộc (national identity) riêng cho mình mà chỉ là những tập thể ô hợp do các cường quốc Châu Âu tạo ra như kết quả sự tan rã của Đế Quốc Ottoman. Người theo giáo phái Shiite  không muốn để bị cai trị bởi người theo giáo phái Sunni. Người gốc Kurds không muốn bị cai trị bởi người Á Rập.

Một quốc gia không thể vươn lên nếu không có đặc tính chung làm nên quốc gia đó.

Nền dân chủ tại Cộng Hòa Iraq sau hiến pháp 2005 đã và đang chịu đựng sự phân hóa trầm trọng. Những vụ đặt bom giết người hàng loạt không phân biệt phụ nữ hay trẻ em của tổ chức cuồng tín ISI, mâu thuẫn giữa các phần tử cơ hội, tranh giành quyền lực trong chính quyền, phân hóa sâu sắc giữa các sắc dân đã và đang làm phân liệt Iraq.

Thời gian tới, với sự can thiệp của Iran vào nội bộ chính trị Iraq qua ngã tông phái Hồi Giáo Shia chiếm đa số tại Iraq sẽ làm sự phân hóa đang có trầm trọng và đẫm máu hơn.

Ngoài ra,  hai “ngư ông” Nga và Trung Cộng đồng minh của Iran đang ngồi chờ trục lợi sẽ có cơ hội bán vũ khí, khai thác các mâu thuẫn Trung Đông tương tự như chính sách của Liên Sô sau Chiến Tranh Sáu Ngày (Six-Day War) giữa Do Thái và ba nước Ai Cập, Jordan và Syria 1967.

Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ theo đuổi chủ nghĩa  can thiệp và sẽ dẫn tới “những hậu quả trầm trọng cho hòa bình và ổn định của khu vực”.

Thất bại của Iraq có gợi lên những điều gì cho viễn ảnh Việt Nam không?

Có và có rất nhiều.

Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ có dân chủ và sự sống còn của nền dân chủ Việt Nam sẽ đặt trên vai những người Việt có ý thức và quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Iraq không thiếu tài nguyên hay tiền bạc mà thiếu con người.

Chỉ riêng trong hơn mười năm từ cuối năm 2003 đến 2014, không tính chi phí quân sự, Hoa Kỳ đã viện trợ phi quân sự tổng cộng lên tới 90 tỉ Mỹ kim để tái thiết Iraq. Kết quả thu lại được quá khiêm nhượng so với khoản viện trợ nước Mỹ đã đổ ra. Nguyên nhân để đổ thừa thì vô số. Chỉ riêng tệ nạn tham nhũng, năm 2018, theo Transparency International, Iraq thuộc vào nhóm cuối bảng, hạng 168 trong 180 nước được điều tra.

Sự tan rã của phong trào CS thế giới cho thấy cách mạng dân chủ diễn ra trong bốn dạng:

(1) Không đổ máu như Baltics, Hungary, Ba Lan.

(2) Đổ máu như Romania.

(3) Có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Ethiopia.

(4) Không có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Mông Cổ.

Cách mạng dân chủ tại Việt Nam sẽ đến bằng một trong bốn hình thức vừa nêu. Nhưng dù đến cách nào đi nữa, thực tế Iraq gợi ý cho những người Việt trong vai trò lãnh đạo một nước dân chủ còn non trẻ và những người Việt quan tâm trong cũng như ngoài nước những điểm cần phải học:

(1) Đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái và tôn giáo.

(2) Lấy trong sạch và đạo đức làm tiêu chí lãnh đạo.

(3) Vận dụng, nhưng không lệ thuộc,  ngoại lực có lợi cho kế hoạch phục hưng, hiện đại hóa và chiến lược hóa đất nước.

(4) Đừng bao giờ tin nhưng khéo léo bang giao với Trung Cộng khi nội lực dân tộc chưa hoàn toàn hồi phục và đất nước chưa được hiện đại hóa.

Trần Trung Đạo

 


 

Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

Tony Nguyễn

 Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

* Gia đình Rubina Aminian được cho là đã nhìn thấy hàng trăm nạn nhân trẻ tuổi trước khi nhận dạng thi thể con gái mình

– Emma Bussey, Fox News 13/1/2026

Một nữ sinh viên 23 tuổi đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Iran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran, một nhóm có trụ sở tại Na Uy, khi chế độ tiếp tục đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình trên toàn quốc.

Rubina Aminian, sinh viên ngành thiết kế dệt may và thời trang tại trường Cao đẳng Kỹ thuật và Dạy nghề Shariati dành cho nữ sinh ở Tehran, đã bị giết vào ngày 8 tháng 1 sau khi rời trường và tham gia các cuộc biểu tình ở thủ đô, theo Tổ chức Nhân quyền Iran.

Cô là một trong số ít nạn nhân của cuộc bất ổn gần đây mà danh tính đã được công khai xác nhận.

“Các nguồn tin thân cận với gia đình Rubina, trích dẫn lời nhân chứng, nói với Tổ chức Nhân quyền Iran rằng nữ sinh người Kurd trẻ tuổi đến từ Marivan đã bị bắn từ phía sau ở cự ly gần, viên đạn trúng vào đầu cô,” nhóm này cho biết trong một tuyên bố.

Sau cái chết của cô, gia đình Aminian đã đi từ nhà ở Kermanshah, miền tây Iran, đến Tehran để nhận dạng thi thể con gái.

Theo các nguồn tin được Tổ chức Nhân quyền Iran trích dẫn, gia đình đã được đưa đến một địa điểm gần trường cao đẳng, nơi họ nhìn thấy thi thể của hàng trăm người trẻ tuổi được cho là đã bị giết trong các cuộc biểu tình.

“Hầu hết các nạn nhân là những người trẻ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, những người đã bị lực lượng chính phủ bắn vào đầu và cổ ở cự ly gần,” một nguồn tin thân cận với gia đình cho biết.

Gia đình ban đầu bị cấm nhận dạng thi thể Aminian và sau đó bị ngăn cản không cho mang thi thể về, nhóm này cho biết.

Sau nhiều nỗ lực, người thân cuối cùng đã được phép nhận thi thể và trở về Kermanshah.

Khi họ đến đó, lực lượng tình báo được cho là đã bao vây nhà của gia đình và không cho phép chôn cất.

Theo Tổ chức Nhân quyền Iran, gia đình buộc phải chôn cất thi thể Aminian bên lề đường giữa Kermanshah và thành phố Kamyaran gần đó.

Gia đình cũng không được phép tổ chức lễ tang, và một số nhà thờ Hồi giáo ở Marivan được cho là đã bị cấm tổ chức lễ tưởng niệm.

Các cuộc biểu tình chống chính phủ leo thang ở Iran được thúc đẩy bởi sự tức giận lan rộng về sự đàn áp chính trị và khó khăn kinh tế, bao gồm cả lạm phát gia tăng. Cơ quan Tin tức về Hoạt động Nhân quyền có trụ sở tại Mỹ ước tính hôm thứ Ba rằng hơn 16,700 người đã bị bắt giữ.

Các nhóm nhân quyền khác đã báo cáo số người chết rất cao, với một số ước tính vượt quá 3,000 người, theo phóng viên nước ngoài chính của Fox News, Trey Yingst.

Tổ chức Nhân quyền Iran mô tả Aminian trong một tuyên bố là “một phụ nữ trẻ tràn đầy niềm vui sống và đam mê thời trang và thiết kế quần áo, người mà những giấc mơ đã bị chôn vùi bởi sự đàn áp bạo lực của Cộng hòa Hồi giáo.”

https://www.foxnews.com/…/iranian-student-shot-head…

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Rubina Aminian, một sinh viên thiết kế dệt may 23 tuổi, đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Tehran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran. (Tổ chức Nhân quyền Iran)


 

Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

Phan Thúy Hà

 Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

(Phúc Trạch – Hương Khê – Hà Tĩnh)

———

Bà ngoại tôi bị bắn ngay sau buổi đấu tố, tại sân vận động xã Phúc Trạch. Đầu bà gục xuống, họ kéo xác bà lại cái hố bên bụi tre đã đào sẵn. Hôm đó đấu tố hai người, bà ngoại tôi là Hoàng Thị Chất và linh mục Trần Trọng Kiểng, vị linh mục chịu án mấy chục năm tù.

Năm năm sau, mẹ tôi bốc xương cốt bà từ cái hố bên bụi tre về nghĩa địa. Mẹ thấy nhiều vết đạn ở sọ. Trong tay bà có chuỗi tràng hạt. Bà cầu nguyện lúc đó.

Bà ngoại sinh mẹ tôi – Võ Thị Hoa – năm 1921. Ông ngoại mất khi mẹ chưa nhớ được mặt ông. Mười mấy năm sau bà ngoại đi bước nữa, sinh thêm dì Huệ. Ông bà ở xứ đạo Phủ Lễ, ven sông Ngàn Sâu. Nhà tranh ba gian, thưng mên, trong khu vườn xanh mát. Ông bà có ba sào ruộng, bà thêm nghề nấu rượu, nấu cao, ông bốc thuốc Nam.

Bắn bà, rồi họ lôi ông đi giam. Giam loanh quanh mấy nhà ở thượng huyện, rồi đưa ra trại giam nào đó ngoài miền tây Nghệ An.

Sửa sai rồi, người ta được về, ông vẫn không được về. Ông chết ở trại nào đó ngoài Nghệ An, năm 1960

Cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến ở Trung Lào. Họ đến tận nơi bắt về.

O Xuân, người làng tôi, đi chăn trâu, bị sao đó mà chết trên đồi sim. Vài ba người bị đưa đi tra hỏi về cái chết đột ngột đó.

Họ bắt cha tôi về chịu tội giết o Xuân.

Nghe tin, mẹ tôi chạy đi đưa cho cha bộ quần áo. Đội nhận bộ quần áo, đuổi mẹ về, không cho gặp cha, không cho hỏi.

Mẹ tôi ruột gan rối bời.

Mẹ bị bắn, cha dượng bị bắt, lại tới lượt chồng.

Không biết xảy ra chuyện gì.

Đoàn người kéo đến. Đuổi mẹ con ra khỏi nhà. Mẹ tôi xin thúng hột mít khô mang đi ăn đỡ.  Không cho.

Ông bà nội chỉ có một đứa con là cha tôi. Ông bà mất rồi, để lại cho cha ngôi nhà gỗ lim ba gian và hai gian nhà ngang. Hai gia đình nào đó vào ở ngôi nhà lim, một gia đình ở nhà ngang. Ruộng và vườn họ gắn bảng tên người được chia quả thực.

Ba gia đình vào ở được mấy bữa thì cãi lộn. Tháo nhà chia ba. Hai nhà vác các vì nhà đi, nhà ở lại ra vườn chặt gỗ chắp vá vào chỗ gỗ lim đã tháo.

Mẹ tôi với sáu đứa con, từ 1 đến 11 tuổi,  ra ở cái lều ngoài đồng. Ở bên nhà ngoại, dì Huệ cũng bị đuổi ra khỏi nhà. Ngôi nhà của ông bà ngoại nông dân đến ở. Dì Huệ 16 tuổi ra ngoài chòi ở một mình, không được qua lại với gia đình tôi.

Đội cho một miếng đất bên bãi bồi sông Ngàn Sâu. Bắt phải làm, không được để hoang.

Sáng, mẹ giao việc cho các con, đứa giữ em, đứa khiêng nước ngoài sông về dùng, đứa đi hái rau dại, mẹ vác cuốc ra ngoài bãi đào.

Chiều về, mẹ ra trụ sở Đội trình báo trong ngày này đã làm những gì. Đến tối, lại ra nhà ông Hường để chịu đấu tố.

Mẹ tay bồng em một tuổi, ngồi giữa sân, nghe đấu tố. Họ hỏi mẹ thuê ai chém o Xuân, mẹ bỏ thuốc độc ai. Mẹ không nhận. Mẹ im lặng họ càng giận dữ. Em ngủ gà gật trong cánh tay mẹ.

Khuya, mẹ được về. Sáng mai mẹ lại vác cuốc ra bãi sông. Cuốc hết miếng đất thì trỉa đỗ.

Đất phù sa, đỗ tốt, sai quả.

Bãi bồi, chỉ một đêm mưa to là ngập lụt. Làm nhưng không thu hoạch được. Đêm mưa, sáng mai nóng ruột, mẹ lội nước ra hái được một bao đỗ, lúc trở về nước sông dâng cao, chảy xiết, mẹ thoát chết trong gang tấc.

Em trai bốn tuổi, nóng sốt, động kinh. Hai chị em tôi chạy sang nhà ông lang bốc thuốc. Đứng ngoài bờ rào, chị tôi kêu cứu: Ông ơi em con ốm lắm, lên kinh, mẹ con nói ông có thuốc chi cứu em con với. “Chi, đồ địa chủ cho mi chết”. Ông ta trong nhà nói vọng ra. Anh Tảo đội trưởng đội cải cách ở nhà ông mà chúng tôi không biết.

Em tôi chết. Mẹ và anh tôi lấy manh chiếu cuốn em lại, buộc túm hai đầu, buộc vào cái đòn tre khiêng em đi chôn ở cồn đất người ta chỉ cho.

Dì Huệ bị canh giữ chặt ở cái chòi, không cho đến. Có thêm vài thanh niên đến nằm chắn ngang lối đi. Dì Huệ liều bước qua. Dì bị điệu đi chịu đấu tố mấy đêm liền. Tội bước qua đầu nông dân. Mẹ tôi cũng bị lôi đi, vì liên lụy.

Một năm qua đi. Tình hình bớt căng thẳng, sang giai đoạn sửa sai. Gia đình tôi nương nhờ một góc vườn nhà thờ ở xóm Thuỷ Lạc, được bà con dựng giúp nhà tre vách nứa. Dì Huệ về ở với chúng tôi. Chị em tôi được đi học.

Ba chị em học cùng lớp 1, co cụm lại với nhau, không dám chơi với các bạn. Mỗi khi thầy cô dạy bài nói đến địa chủ, phong kiến thì các bạn chỉ trỏ chúng tôi. Giờ ra chơi, vài bạn nhảy từ bàn này sang bàn khác qua đầu chị em tôi. Ra ngoài lớp, các bạn đá vào chân chúng tôi rồi cười với nhau. Chúng tôi sợ, chỉ dám về nhà méc mẹ và dì.

Cha tôi chết ngoài trại giam.

Khi cha chết rồi, một o bị bắt vì cái chết của o Xuân, được thả, mới đến nhà gặp mẹ thú tội. Tha lỗi cho em, sợ quá, em khai bậy là nhà chị thuê. Bà mẹ o Xuân thì nói: Nhà chị đạo đức, tôi không tin nhà chị làm chuyện đó. Họ nói ra những lời khi không còn giá trị gì nữa.

Một dạo, bốn giờ sáng là mẹ tôi dậy, ngồi trên giường khóc. Khóc bà ngoại, khóc con, khóc chồng. Mẹ đọc kinh cầu nguyện.

Mẹ bắt đầu một ngày mới như vậy.

Mẹ khuyến khích các con học, đọc sách.

Thấy chúng tôi học, một ông đến bảo, học làm gì, con địa chủ ai cho làm gì mà học, đi rú, đi câu cá thì hơn. Mẹ bảo, cho chúng nó đi học sau này còn biết viết cái thư, cái đơn, không phải mượn người viết là được.

Mẹ kêu đọc chuyện cho mẹ nghe. Mẹ thích nghe chuyện, và cũng là để chúng tôi tập đọc. Tôi chỉ có chuyện trong sách tập đọc để đọc. Tôi đọc cho mẹ nghe truyện ngụ ngôn “Hươu, rùa và tên địa chủ”. Tôi thấy truyện hay, mà được vài dòng, mẹ nạt, sách vậy cũng đọc, cũng học.

Chúng tôi học đến lớp 10 thì ngưng, không được xác nhận lý lịch để học lên đại. Em út (đứa em hồi mẹ bồng trong những đêm đấu tố) nay thi đỗ Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Có giấy báo nhập học. Yêu cầu lý lịch, hộ khẩu, giấy xác nhận đã bán 50 kg gạo cho Mậu dịch. Cả nhà xay giã dần tràng suốt ngày đêm để kịp bán cho Mậu dịch, lấy giấy xác nhận. Ông cán bộ xã không ký vào lý lịch cho đi học. Vậy là em không được đi học, ở nhà đi bộ đội. Đi bộ đội ba năm, em về thi lại đại học. Tôi cũng đi bộ đội, đến ngày hoà bình thi vào Đại học Bách khoa.

***

Cả gia đình tôi chuyển vào ở Bà Rịa- Vũng Tàu. Năm 1992, khi cuộc sống ổn định, chúng tôi về quê bốc hết mộ phần vào gần gia đình. Chỉ còn mộ ông ngoại và cha nữa là chưa tìm được.

Chúng tôi chỉ biết ông và cha mất ở trại giam nào đó ngoài miền Tây Nghệ An, mường tượng qua vài lá thư cha gửi về, nhưng cụ thể ở trại giam nào thì không biết.

Cha tôi mất trước ông ngoại hai năm. Khi cha mất, ông ngoại viết thư về cho biết, ông và bạn tù đã chôn cất cha, khắc bia mộ bằng đá, ghi họ tên quê quán ngày mất, một trăm năm sau cũng không mờ nếu không bị ai đập phá.

Chúng tôi nhờ người bạn tù của cha dẫn đến trại giam ở Tân Kỳ. Lục tìm hồ sơ và tìm được mộ ông ngoại. Không tìm được hồ sơ và mộ của cha tôi.

Ba năm sau chúng tôi lại đi tìm mộ cha, nhờ cả thầy tìm hài cốt, vẫn không tìm được.

Chúng tôi đi sang các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Nhờ công an giúp đỡ. Công an hướng dẫn đến trại 6. Cán bộ trại đưa cho hàng chục cuốn sổ, danh sách các cố phạm nhân cải cách ruộng đất.

Giở qua vài chục trang. Đập vào mắt chúng tôi:

Biên bản phạm nhân chết.

Phan Văn Châu. Chết ngày ngày 22/2/58. Tuổi: 38.

Thành phần: Địa chủ. Can tội: BL – CHRĐ – ĐĐND (Chúng tôi luận ra là Bóc lột – Chiếm hữu ruộng đất – Đánh đập nông dân). Án 20 năm.

Đọc bản án của cha mà nước mắt chảy tràn.

Chúng tôi ra bãi tha ma. Bãi tha ma rộng vài héc ta, trâu bò thả rong, mộ có bia, mộ không có bia, mộ gần như mất dấu, chỉ là một nấm đất, có mộ con cháu đến nhận nhưng không đưa đi được.

Tìm gần cả buổi chúng tôi không thấy mộ cha đâu. Tôi gạt hàng rào, len vào rẫy mì. Thấy một ngôi mộ. Vạch cỏ cây, thấy một bia đá vững chắc, gạt bụi đất. Tôi hét lên. Cha đây rồi. Anh em tôi nằm lăn ra trước mộ cha mà khóc, mà tạ tội.

Phan Thuý Hà


 

RỬA BẰNG MÁU-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (1, 29-34) Chúa nhật 2 thường niên)

Sứ điệp: Chỉ có Máu thánh Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa mới có thể tẩy xóa tội lỗi con người.

***

Vào mùa hè, vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Trị.

Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:

– “Tay bẩn lấy thì lấy nước mà rửa, còn ‘nước’ bẩn lấy gì mà rửa?”

Viên thị vệ lúng túng chẳng biết trả lời sao. Vua Duy Tân bèn nói:

– “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa!”

Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.

Đúng vậy, khi đất nước bị dơ bẩn vì sự chà đạp của quân thù thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, quyết lấy máu đào rửa sạch nỗi nhục vong quốc.

Xưa kia, vua Duy Tân cho rằng “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa.” Vậy thì hôm nay, khi linh hồn ta bị tội lỗi làm cho ô uế và chịu hậu quả tai hại khôn lường, thì lấy gì mà rửa?

Không có bất kỳ chất tẩy nào trên thế gian có thể tẩy xoá được vết nhơ và hậu quả của tội lỗi. Tội lỗi loài người chỉ có thể được rửa sạch bằng máu của Ngôi Hai Thiên Chúa mà thôi.

Trong thời Cựu ước, người có tội cần đến máu bò, máu chiên để làm lễ xoá tội cho mình. Sách Lê-vi chép: “Nếu một người đã phạm tội, làm điều Đức Chúa cấm… thì nó sẽ đưa đến cho tư tế một con bò, dê hoặc chiên làm lễ vật tạ tội. Nó sẽ đặt tay trên đầu con vật đó và sát tế nó … Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho người ấy và y sẽ được tha (Lê-vi 4, 27-32).

CHÚA GIÊ-SU HIẾN MÌNH LÀM HY LỄ XÓA TỘI

Tuy nhiên, Thiên Chúa cho biết rằng: “Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi” (Dt 10,4). Vì thế, Ngôi Hai Thiên Chúa đành hoá thân làm người, trở thành Con Chiên mới, thay thế cho những con chiên chịu sát tế trong thời Cựu ước để rửa sạch tội lỗi thế gian.

Ngay từ đầu, ông Gioan tẩy giả đã nhận ra vai trò làm Chiên đền tội của Chúa Giê-su nên “khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).

Thế là Chúa Giê-su cam phận làm Chiên mới để hiến thân chịu chết và đổ máu mình xoá bỏ tội lỗi thế gian, vì chỉ có máu châu báu của Thiên Chúa mới có thể rửa sạch tội lỗi loài người.

Hôm xưa, Ngài đã dâng hiến thân mình trên thập giá trên đồi Can-vê, đổ máu thánh mình ra rửa sạch tội lỗi muôn người. Và hôm nay, Ngài tiếp tục dâng mình làm lễ tế cho Thiên Chúa Cha trong các Thánh lễ hằng ngày để đền tội cho nhân loại. Vì thế, trước khi cho các tín hữu rước lễ, linh mục chủ sự nâng cao Mình thánh Chúa và giới thiệu với mọi người rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã cho chúng con nên một với Chúa và kêu gọi chúng con cùng vác thập giá, cùng chịu khổ nạn với Chúa hằng ngày.

Xin cho chúng con luôn kết hợp mật thiết với Chúa, dâng lên Chúa những khó nhọc đau khổ trong đời, để góp phần với Chúa đền tội cho chính mình và bao người chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan (Ga 1, 29-34)

Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.

Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.” Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”  Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

From: ngocnga_12@ & NguyenNThu


 

CHÚA GIÊSU LÀ AI? – Giuse Đinh Tất Quý

Giuse Đinh Tất Quý

 Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện trước dân chúng.  Vì dân chúng chưa biết Chúa, nên Gioan Tẩy giả đã giới thiệu về Chúa cho mọi người.  Gioan đã giới thiệu Chúa bằng hai hình ảnh xem ra có vẻ tương phản với nhau: Ngài vừa là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, vừa là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn của Thiên Chúa.  Nhìn thoáng qua thì chúng ta thấy như vậy nhưng nhìn thật sâu, thật kỹ thì chúng ta thấy hai hình ảnh trên không những không đối chọi mà ngược lại còn bổ túc và soi sáng cho nhau: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang nhưng cuộc sống của Ngài ở trần gian là cuộc sống như một Người Tôi Tớ, Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa ở giữa loài người.  Nói một cách thật ngắn gọn thì chúng ta thấy Chúa đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng. 

  1. Chúa Giêsu là ai? 
  1. Vâng Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang. 

Điều này Gioan đã công khai làm chứng.  Lời chứng của Gioan có một giá trị hết sức đặc biệt.  Toàn bộ bài Tin mừng hôm nay nói lên điều đó.  “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian.  Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.  Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.”  Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người.  Tôi đã không biết Người.  Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”  Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” 

Vâng đúng như vậy, Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang: Đấng xóa bỏ tội trần gian, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.  Có lẽ không còn từ nào nói về Chúa Giêsu cao hơn nữa. 

2. Nhưng bên cạnh hình ảnh về một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang chúng ta lại còn thấy Gioan nói về Chúa như một Con Chiên của Thiên Chúa.  Gioan đã có ý muốn nói gì khi giới thiệu về Chúa như thế? 

Chúng ta biết Thành ngữ Chiên của Thiên Chúa là một thành ngữ hết sức kỳ diệu. 

Chúng ta biết thời Cựu ước trong ngày lễ Đền tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế.  Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối.  Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc.  Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội. 

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian,”  phải chăng ngài cũng có ý cho mọi người hiểu rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta.

 Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân Do thái vào sa mạc.  Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết: Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn cả tội lỗi cả thế gian nữa (1Ga 2,2). Thánh Tông Đồ Phêrô còn nói rõ hơn: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính  (1Pr 2,24).  Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta đã thành thánh hết.  Lý do là vì thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn.  Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta. 

2.Chúng ta hợp tác thế nào?  

Nói một cách thật vắn là chúng ta hãy sống như Chúa đã sống.  Cuộc sống của Chúa là bài học và cũng là tấm gương cho chúng ta. 

Chúng ta tự hỏi Chúa đã sống như thế nào? Ngài đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng. 

Qua Tin Mừng chúng ta thấy mặc dầu là Thiên Chúa nhưng Chúa đã sống hoà mình với mọi người.  Nhưng khi sống hòa mình với mọi người chúng ta thấy Ngài vẫn luôn giữ được phẩm giá của mình là Thiên Chúa.  Xin được gửi đến anh chị em một bài thơ mà tác giả là Rabindranath Tagore, một nhà văn hào được cả loài người kính nể và yêu mến.  Ông đã có rất nhiều cảm nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu mặc dù ông không phải là một người có đạo.  Đây là một bài thơ ông viết ra để để mô tả về cuộc đời của Chúa, một cuộc đời cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài vẫn giữ được tâm hồn cao thượng.

 Sáng hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng.

Con cử thắc mắc mãi: ở nhà quê thì có gì vui đâu mà lại đi tổ chức… du lịch?

Vậy mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cầy đằng sau con trâu gầy còm của một bác nông dân.

Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ vào một mảnh ruộng khác đang khô nước.

Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa…

Con cũng đành phải làm theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những vất vả cực nhọc!  Rõ khổ!

Đến quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cầy chất phác và vui tính sau khi uống một bát nước vối họ mời.

Chúa quay lại bảo con: “Nào, chúng mình về một khu ngoại thành đi!”

Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành cho khách du lịch để nghỉ ngơi…

Vậy mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại đã ghé vào, xắn tay áo xin cùng làm với họ.

Chúa cũng xúc đá, cũng đội sọt cát trên vai hoặc lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường…

Cứ thế, vừa làm Chúa vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm lưng áo.

Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ mệt, hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.

Xập tối Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc sau khi rít một điếu thuốc rê với họ.

Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó.

Con cứ ngỡ phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối,

Đói bụng lắm rồi còn gì.

Thế mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng phong.

Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm đổ thuốc, lau mặt thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên mùi hôi tanh ghê sợ.

Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp hối sau đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng nỗi tủi nhục, bị con cháu và xã hội xua đuổi.

Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ giúp giặt khăn rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa…

Mãi đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt cho cụ già vừa qua đời.

Về lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây, khổ quá đi mất!

Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện, biết vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vạ vật như thế này…

Thế rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con: “Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé”

Con thở phào yên tâm.

Nhưng tối khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào?

Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha…”

Đến lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật lên lời tâm nguyện:

“Con cố gắng cúi mình khiêm nhu, xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi, vẫn không sao chạm được…

Vâng sống như Chúa Giêsu là sống như thế: Cao cả trong những cái tầm thường nhưng tầm thường với một tâm hồn cao cả. 

Xin được kết cũng bằng một bài thơ khác của Tagore. 

Lạy Thiên Chúa, đây lời con cầu nguyện: Xin tận diệt, tận diệt trong tim con mọi biển lận tầm thường. Xin cho con sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.  Xin cho con sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.  Xin cho con sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.  Xin cho con sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.  Và cho con sức mạnh tràn trề để nâng mình theo ý Ngài luôn.  Amen! 

Giuse Đinh Tất Quý

 From: Langthangchieutim


 

Số người chết trong biểu tình ở Iran lên đến 2,000, thậm chí có thể cả chục ngàn

Ba’o Nguoi-Viet

January 13, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Số người thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ngày càng leo thang ở Iran được cho là hàng ngàn, trong đó một giới chức Iran đưa ra con số là 2,000 người chết nhưng các tổ chức nhân quyền ước tính là có thể cao hơn nhiều, Reuters đưa tin hôm Thứ Ba, 13 Tháng Giêng.

Một giới chức Iran giấu tên nói với Reuters rằng 2,000 người, bao gồm cả nhân viên an ninh, thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ở Iran mà hiện đã bước sang tuần thứ ba.

Người biểu tình Iran ở thủ đô Tehran hôm 9 Tháng Giêng. (Hình: Mahsa/Middle East Images/AFP via Getty Images)

Giới chức Iran gọi những người biểu tình là “bọn khủng bố” và cáo buộc họ gây bạo loạn.

Trong khi đó, Tổng Thống Donald Trump đe dọa sẽ có hành động quân sự đối với chế độ thần quyền Iran nếu họ đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình. Ông cảnh báo hôm Chủ Nhật rằng Iran “bắt đầu” vượt qua lằn ranh đỏ ông đưa ra.

Trong khi đó, Iran International, kênh tin tức tiếng Ba Tư có trụ sở tại London, viết trong một bài xã luận hôm Thứ Ba rằng họ tin có 12,000 người thiệt mạng. Họ gọi đây là vụ tàn sát nhân mạng lớn nhất trong lịch sử đương đại của Iran vốn diễn ra trong hai đêm từ ngày 8 đến ngày 9 Tháng Giêng.

“Dựa trên dữ liệu có sẵn và thông tin kiểm tra chéo thu được từ các nguồn đáng tin cậy, bao gồm Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Tối Cao và văn phòng tổng thống, ước tính ban đầu của các cơ quan an ninh của Cộng Hòa Hồi Giáo là có ít nhất 12,000 người đã thiệt mạng,” tờ báo này cho biết.

Các cuộc biểu tình bùng phát vào cuối Tháng Mười Hai do khó khăn kinh tế nhưng kể từ đó trở thành phẫn nộ đối với chế độ của Iran.

Ông Trump sẽ họp với các giới chức hàng đầu để xem xét các lựa chọn đáp trả.

Các chuyên gia và cựu giới chức Mỹ nói rằng nếu không tấn công quân sự, ông Trump có thể đem đến những hỗ trợ quan trọng như giúp người biểu tình truy cập mạng Internet hoặc tấn công mạng để làm gián đoạn các trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chế độ. (NNL) [đ.d.]