BỊ QUẬT NGÃ ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” – bài đọc một.

“Thiên Chúa chỉ có thể lấp đầy một linh hồn khi đã làm cho nó trống rỗng!” – Gioan Thánh Giá.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải mọi gục ngã đều là kết thúc; có những trống rỗng, những thất bại mở ra một ở lại khác. Lời Chúa hôm nay cho thấy: hành trình đức tin không chỉ là đứng vững hay đi tiếp, nhưng là dám ‘bị quật ngã để ở lại’.

Saolô không chỉ ngã xuống; ông bị đánh gãy một cách hiểu về Thiên Chúa. Cú quật ngã ấy không đơn thuần là một biến cố thể lý, nhưng là sự sụp đổ của một nhiệt thành sai hướng; tại đó, một con người tưởng mình đang phục vụ Thiên Chúa lại bị đặt trước chính Ngài mà ông không nhận biết. “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”; câu hỏi ấy không chỉ tra vấn hành vi, nhưng vạch ra một đứt gãy: ông đã tách Chúa Kitô khỏi chính những người ông đang bách hại; và chính tại điểm này, ông bị quật ngã. “Ngài không nói: ‘Sao ngươi bắt bớ các tôi tớ Ta?’, nhưng: ‘Sao ngươi bắt bớ chính Ta?’” – Gioan Kim Khẩu.

Nhưng Saolô không bị quật ngã để bị loại trừ; ông bị quật ngã để được dẫn vào. Mù loà, ông để cho người khác dắt đi; im lặng, ông học lại cách lắng nghe; trống rỗng, ông bắt đầu được lấp đầy. Chính khi không còn tự đứng vững, Saolô mới được đặt vào một tương quan khác: không còn là kẻ nhân danh Thiên Chúa để bắt bớ, tống ngục; nhưng là người được ở lại trong Ngài. Từ đó, hành trình của ông không còn là khẳng định mình, nhưng là rao giảng Đấng sống trong mình: “đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng” – Đáp ca; hành trình của con người dám ‘bị quật ngã để ở lại’.

Nếu Đamas là nơi Saolô ngã, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy đích điểm của cú ngã ấy: không phải chỉ để đổi hướng, nhưng để ở lại. Chúa Giêsu không nói về một tương quan dành riêng cho một ai, nhưng được ban cho mọi người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy!”. “Ở lại” – menein – không là một cảm xúc, nhưng là một sự gắn kết liên lỉ, một ở trong nhau. Điều đã được mặc khải nơi Phaolô, nay được ban cho mọi tín hữu: không còn đứng ngoài, nhưng ở trong Ngài, và để Ngài ở trong mỗi người.

Anh Chị em,

Đức Kitô, Đấng đã chấp nhận bị quật ngã trên đồi Sọ, chịu đóng đinh để mở ra một ở lại trong phục sinh. Nơi Ngài, bị quật ngã không còn là mất mát, nhưng trở thành lối vào; không còn là cố giữ, nhưng là được giữ lại trong một tình yêu lớn hơn. Vì thế, hành trình ‘bị quật ngã để ở lại’ không chỉ là câu chuyện của Saolô, nhưng là câu chuyện của mỗi chúng ta: khi những gì chúng ta bám víu bị đánh đổ, khi những bảo đảm lung lay, đó có thể là lúc chúng ta được dẫn vào để ở lại. “Thế gian trao cho con sự tiện nghi, nhưng con không được dựng nên cho điều đó; con được dựng nên cho sự cao cả!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin quật ngã nơi con những gì không thuộc về Ngài; dẫn con vào trong Ngài; giữ con lại trong tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần III Phục Sinh

Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 6,52-59

52 Khi ấy, người Do-thái tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

59 Đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um.


 

Việt Nam chịu tác động giá nặng nề nhất ở Đông Nam Á

Theo báo Nikei Á Châu

thay thếNgười mua sắm đang xem hàng tại một siêu thị ở Bangkok vào ngày 22 tháng 4. Một nhà phân tích cảnh báo về giá thực phẩm tăng cao trong khu vực do chi phí năng lượng tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. (Ảnh của Ken Kobayashi)

Sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế

SINGAPORE — Lạm phát tiêu dùng đang gia tăng trên khắp Đông Nam Á, do sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Iran, với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông như Việt Nam và Philippines chứng kiến ​​mức tăng giá mạnh nhất trong nhiều năm vào tháng 3.

Kể từ khi việc vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz bắt đầu bị hạn chế vào tháng 3, nền kinh tế toàn cầu đã phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng thiếu hụt các nguyên liệu đầu vào công nghiệp quan trọng như naphtha.

Darren Tay, người đứng đầu bộ phận rủi ro quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại BMI, nói với Nikkei Asia,  “Do tác động lạm phát được phân bổ rộng rãi hơn trên toàn bộ nền kinh tế công nghiệp của Đông Nam Á” chính điều này làm cho tác động trở nên nặng nề hơn so với các nền kinh tể ở Châu Âu.

Ông lưu ý rằng điều này khác với xu hướng ở châu Âu, nơi cú sốc chủ yếu được truyền tải thông qua giá khí đốt tự nhiên và hóa đơn tiền điện của các hộ gia đình.

thay thế

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo số liệu chính thức, chỉ số giá tiêu dùng của nước này đã tăng 4,65% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 3, đạt mức cao nhất trong 5 năm.

CỬA CHUỒNG Ở ÐÂU?- Lm. Mark Link, S.J. 

Lm. Mark Link, S.J. 

“Hình ảnh mục tử nhân lành làm nổi bật mối tương giao và sự hiến thân của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta.”

 Vào thời Chúa Giêsu, khi màn đêm buông xuống, các mục tử lùa đàn chiên của họ vào chuồng.  Nếu ở gần làng, họ sẽ lùa chúng vào cái chuồng công cộng, còn nếu ở xa làng, thì họ sẽ lùa chúng vào một cái chuồng ở ngoài đồng hoặc đôi khi trong một cái hang.  Các mục tử làm thế là để che chở bầy chiên khỏi sương đêm lạnh lẽo và khỏi lũ thú rừng.  Trong bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu ám chỉ đến cả hai loại chuồng trên.

 Phần đầu bài Phúc âm, Người ám chỉ đến loại chuồng làng công cộng, đặc biệt nhắc đến lúc sáng sớm, khi người mục tử đến chuồng làng công cộng nhận bầy của mình để dẫn chúng đi ăn cỏ suốt ngày, Chúa Giêsu nói: “Người giữ cửa sẽ mở cửa cho anh ta; chiên anh sẽ nghe tiếng anh khi anh gọi tên từng con một và dẫn chúng ra.  Khi mang chúng ra rồi, anh đi phía trước, lũ chiên đi theo anh vì chúng nhận biết giọng nói của anh”

 Phần sau của bài Phúc âm, Chúa Giêsu ám chỉ đến loại chuồng ở ngoài đồng đặc biệt Người nói đến lối vào chật hẹp trong chuồng mà bầy chiên phải đi qua.  Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa chuồng chiên… Ai bước qua Ta mà vào thì sẽ được cứu: người ấy sẽ vào, và ra, rồi tìm được đồng cỏ.”  Trong cuốn sách nhan đề The Holy Land (đất thánh).  John Kellman mô tả một cái chuồng chiên ngoài đồng như sau: nó có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.  Kellman kể rằng ngày nọ một du khách Thánh Ðịa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron.  Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu?  Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng.”  Ðoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó.  Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta. 

Có hai điều nổi bật trong câu chuyện dễ thương này.  Thứ nhất là tính cách duy nhất ngày càng tăng lên giữa người mục tử và bầy súc vật của anh.  Phần lớn đàn chiên được nuôi để lấy len.  Một mục tử phải hiện diện với bầy chiên của mình 365 ngày một năm, và thường là đủ 24 giờ một ngày.  Người mục tử phải biết rõ chiên mình đến mức phải biết con nào có móng mềm, con nào đau vì ăn bậy, con nào hay bỏ bầy chạy rông…  Thứ hai là sự hiến thân sâu sắc của người mục tử cho bầy chiên, thậm chí liều mạng sống cho chúng. 

Chính trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu mường tượng trong tâm trí khi Người nói: “Ta là mục tử nhân lành” (Ga 10: 11).  Chúa Giêsu muốn nói rằng, mối tương giao và sự hiến thân của Người cho chúng ta tương tự như mối tương giao và sự hiến thân của người mục tử cho bầy chiên mình.  Giống như người mục tử, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta 365 ngày mỗi năm, 24 giờ mỗi ngày.  Người đã từng nói với các môn đệ: Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20).

 Giống như người mục tử, Chúa Giêsu cũng biết rõ mỗi người chúng ta một cách thân mật sâu xa.  Người biết ai trong chúng ta yếu kém về đức tin, ai trong chúng ta thường dễ ngã lòng, ai trong chúng ta thường hay bỏ bầy đi rông.  Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta.  Người luôn luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta.  Và nếu lỡ chúng ta bỏ bầy đi rông thì Người sẽ bỏ lại 99 con chiên để đi kiếm chúng ta.  Ðiều Thiên Chúa nói với dân riêng Người qua miệng tiên tri Isaia, cũng chính là điều Chúa Giêsu đích thân nói với mỗi người chúng ta : “Ðừng sợ, Ta gọi ngươi bằng tên…  Ngươi rất quí báu đối với Ta…  Ðừng sợ!  Này đây Ta ở với ngươi” (Isaia 43: 1, 4-5). 

Bài Phúc âm hôm nay đặc biệt thích hợp cho ngày các bà mẹ.  Giống như người mục tử, giống như Chúa Giêsu, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với bầy con hoặc gia đình mình.   

Không có gì mà bà mẹ không làm để bảo vệ cho bầy con khỏi cơn nguy hiểm.  Và bà sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối.  Tình yêu của một bà mẹ dành cho gia đình vẫn hoạt động ngay cả khi tự thân bà không thể bảo vệ cho bầy con của bà nữa. 

Có câu chuyện thật dễ thương trong cuốn tự thuật của Jimmy Cagney, nam diễn viên nổi tiếng ở HollyWood.  Câu chuyện xảy ra vào thời tuổi trẻ của Cagney khi mẹ ông đang nằm trên giường chờ chết.  Chung quanh giường có bốn cậu con trai đều mang tên Cagney và cô em gái duy nhất của họ là Jeannie.  Vì bị nhồi máu cơ tim, bà Cagney không nói được nữa.  Sau khi lần lượt bá cổ cả năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải, cánh tay duy nhất còn hoạt động đựơc lên.  Jimmy mô tả những gì xảy ra sau đó: 

“Mẹ tôi dùng ngón tay chỉ Harry rồi chỉ vào ngón trỏ của bàn tay vô dụng của bà, sau đó chỉ tôi rồi chỉ vào ngón giữa, rồi chỉ Eddie rồi chỉ vào ngón áp út, chỉ Bill rồi chỉ vào ngón út, chỉ Jeannien rồi chỉ vào ngón cái.  Ðoạn bà cầm ngón cái để vào giữa lòng bàn tay, rồi áp chặt ngón cái dưới bốn ngón kia tụm lại. Sau đó bà dùng bàn tay còn khỏe vỗ nhẹ lên nắm đấm bàn tay trái” (James Cagney).

 Jimmy nói rằng cử chỉ của mẹ ông thật tuyệt vời.  Mọi người đều biết ý nghĩa của cử chỉ ấy, tức bốn anh em có bổn phận che chở cho bé Jeannie sau khi mẹ họ qua đời.   Đó là một cử chỉ đẹp và đầy ý nghĩa mà không lời nào có thể diễn tả hay hơn. 

Tôi vui mừng vì chúng ta có ngày dành riêng cho các bà mẹ để nhắc nhở chúng ta về bản chất của người mẹ và để nhắc nhở các bà mẹ về sứ vụ mà Chúa kêu gọi họ. 

Tôi vui mừng vì ngày các bà mẹ trùng hợp với Chúa nhật hôm nay với những lời Chúa Giêsu nói về người mục tử.  Bởi vì sự thân mật và sự hiến thân trọn vẹn của một bà mẹ cho gia đình mình là một phản ảnh hoàn hảo sự thân mật và hiến thân trọn vẹn của người mục tử cho bầy súc vật của anh.  Và hơn tất cả, tình thân và sự hiến thân cho gia đình của một bà mẹ phản ảnh hoàn hảo tình thân mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta. 

Vì thế, chúng ta hãy hân hoan vui mừng và cầu xin cho ngày hôm nay sẽ kéo các thành viên trong gia đình gần lại với nhau hơn, đồng thời quí chuộng lẫn nhau hơn, đặc biệt đối với bà mẹ của họ. 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

“Nhóm….Xin thành thật chia vui” rồi chấm hết – Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb

Suy tư 7:

“Nhóm….Xin thành thật chia vui” rồi chấm hết – Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb

Với người có đức tin Ki-tô giáo thì chết đi là một niềm vui, vì về với Đức Chúa Giê-su, Đấng mà họ trông đợi kết hợp với Ngài; nhưng với những người không có đức tin thì chết là một nỗi buồn không thể tả được, vì họ mất đi vĩnh viễn một người thân thiết…

Thời nay, người lương và người có đạo sống chung lẫn lộn, lương giáo kết bạn với nhau, làm việc với nhau, cùng nhau chia sẻ những vui buồn, nên việc tang chế họ đều có đến chia buồn với nhau, cho nên đừng làm cho họ hiểu lầm khi người Ki-tô hữu mất đi người thân yêu là chuyện đáng vui vẻ !?

Tôi thấy có người Ki-tô hữu khi đi truy điệu phúng điếu nhà tang cũng là người Ki-tô hữu, trên bức liễn thêu một hàng chữ nổi bật: “Nhóm….Xin thành thật chia vui” rồi chấm hết, họ đem giấy trắng mực đen ra nói rằng, đây là thư thánh Phao-lô viết rất rõ ràng, rồi nói “quý vị không học Kinh Thánh nên không hiểu”…

Người không phải là Ki-tô hữu sẽ hiểu sao về câu “chia vui” ấy, người bên lương hiểu sao về câu ấy, những người Ki-tô hữu khác hiểu sao về câu “chia vui” cụt lủn ấy???

Người ta có ác cảm với đạo Công Giáo cũng có khi vì những câu cụt lủn ấy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)

 Năm Phụng vụ của Hội Thánh là gì? – Cha Vương

Ước mong bạn cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong mỗi việc làm trong ngày nhé! Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé 

Cha Vương

Thứ 4: 22/04/2026   (n26-23)

GIÁO LÝ:  Năm Phụng vụ của Hội Thánh là gì? Năm Phụng vụ hay Năm của Hội thánh cử hành mừng kính mầu nhiệm đời sống Chúa Kitô, từ việc Nhập thể tới việc trở lại lần thứ hai trong vinh quang, trong thời gian một năm. Năm Phụng vụ bắt đầu từ mùa Vọng, thời gian chờ đợi Chúa Cứu Thế, cao điểm thứ nhất là Lễ Giáng sinh. Sau đó, hướng về cao điểm thứ hai quan trọng hơn là lễ Phục sinh, cử hành cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa. Mùa Phục sinh kéo dài và kết thúc với lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trong năm Phụng vụ còn cử hành các lễ kính Đức Mẹ, kính các thánh, qua đó Hội thánh ca ngợi Thiên Chúa đã đem loài người tới ơn cứu độ. Năm Phụng vụ kết thúc vào Chúa nhật lễ Chúa Giêsu làm Vua. (YouCat, số 186)

SUY NIỆM: Năm Phụng vụ nhắc nhở và trình bày luôn đổi mới không ngừng về đời sống Chúa Kitô, đó là một công trình vĩ đại của nhân loại. Thiên Chúa coi năm ấy như của mình và ban nó cho ta hết năm này qua năm khác, hiến tặng ta trong một ánh sáng luôn mới mẻ như là mới đến với ta lần đầu. (Jochen Klepper—1903 – 1942, văn sĩ Đức), (YouCat, số 186 t.t.)

❦ Công đồng Vaticano II dạy: Trong khi cử hành những mầu nhiệm cứu độ như thế, Giáo Hội rộng mở cho các tín hữu sản nghiệp nhân đức và công nghiệp của Chúa, khiến cho những mầu nhiệm này có thể nói là hiện diện qua mọi thời đại, ngõ hầu các tín hữu tiếp xúc với các mầu nhiệm đó sẽ được đầy tràn ơn cứu độ (PV 102).

LẮNG NGHE: Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối. Vì thế, anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa. (Ep 5:15-17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi khi con cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các nghi thức phụng vụ, nhất là trong thánh lễ Missa, Chúa tiếp tục đổ tràn ơn cứu chuộc xuống để cho con được sống vì Chúa nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6:51) Xin giúp con hiểu được giá trị cao siêu của “sản nghiệp nhân đức” Chúa ban mà hăng say tham dự vào mầu nhiệm thánh để được sống muôn đời với Chúa. 

THỰC HÀNH: Mỗi khi tham dự Thánh Lễ, mời bạn hãy tắt nguồn điện thoại di động để khỏi bị chia trí

From: Do Dzung

*************************************

Chúa Trong Đời Con – Bảo Trân – Tác Giả: Lm. Thái Nguyên  

KHÔNG AI TỰ ĐẾN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy!”.

“Bạn đã không tìm Ngài, nếu Ngài đã không tìm bạn trước!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Con người thường tưởng mình đi tìm Thiên Chúa; nhưng thật ra Thiên Chúa luôn đi tìm con người trước, và dẫn vào một tương quan. Chính Ngài lôi kéo; vì thế, ‘không ai tự đến’ với Ngài.

Khi nói “Chẳng ai đến với tôi được”, Chúa Giêsu không chỉ phủ nhận khả năng tự sức của con người, nhưng còn mặc khải rằng đức tin không khởi đi từ ý chí, mà từ một ân sủng đi trước – gratia praeveniens. Vì thế, “lôi kéo” ở đây không phải là cảm xúc, nhưng là hành động của Chúa Cha, âm thầm quy hướng con người về Con của Ngài. “Thiên Chúa đã muốn mời gọi con người được tham dự vào chính sự sống của Ngài!” – Dei Verbum. Nhờ đó, đức tin không còn là việc tìm kiếm một đối tượng, nhưng là được đưa vào một tương quan, để sống sự sống của chính Thiên Chúa. Mọi khởi đầu đều thuộc về Ngài; không do nỗ lực của bất cứ ai.

Nếu không ai tự mình đến được với Chúa Giêsu, thì việc “đến” không còn là sáng kiến của con người, nhưng là một đáp trả hồng ân. Thiên Chúa dựng nên con người không cần nó, nhưng khi cứu nó, Ngài muốn có nó. Không ép buộc, nhưng mở ra một lời ưng thuận. “Thiên Chúa không áp đặt; Ngài mời gọi và chờ đợi sự đáp lại của chúng ta!” – Bênêđictô XVI. Vì thế, ân sủng không huỷ tự do, nhưng đi trước để tự do có thể đáp lại. Và con người, khi ấy, không còn là kẻ khởi đầu, nhưng là kẻ thưa “vâng”. Vì thế, ‘không ai tự đến’.

Chính trong chuyển động ấy, việc “lôi kéo” không còn là điều khó hiểu, nhưng được thấy rõ trong những biến cố cụ thể. Chẳng hạn, viên thái giám Êthióp không tự mình tìm đến với niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh; ông được dẫn từng bước qua trung gian – mediated grace: Thần Khí gợi ý, Philipphê tiến lại, Lời mở ra, và đức tin dần hình thành. Không có gì ngẫu nhiên; mọi sự như được dọn đường: Thiên Chúa đi trước, con người từng bước đáp lại. Vì thế, điều xảy ra nơi viên thái giám không phải là một quyết định riêng lẻ, nhưng là hoa trái của một hành trình được dẫn vào một tương quan đã khởi sự.

Anh Chị em,

Mọi chuyển động chỉ đạt đến viên mãn nơi Đức Kitô. Ngài không chỉ là đích đến của sự “lôi kéo”, nhưng là nơi con người thực sự được lôi kéo vào một tương quan sống động với Ba Ngôi. “Bánh hằng sống” không chỉ được ban, nhưng là Đấng Hằng Sống trao ban chính mình, để con người không còn đứng bên ngoài, nhưng được dự phần vào sự sống và hoạt động của Ngài – một sự sống không ngừng tuôn trào, lôi kéo con người về chính nguồn mạch của nó. Và điều đó chạm đến chính chúng ta: không phải tự sức đi tìm Thiên Chúa, nhưng ở lại trong Đức Kitô; khi ấy, đức tin không còn là nỗ lực, nhưng là một sự sống được bước vào. “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con tưởng mình tìm Chúa, xin cho con biết mình chỉ đang được lôi kéo; khi con sợ mất mình, xin dạy con biết buông bỏ; và khi con khước từ, xin kéo con về!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần III Phục Sinh

Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,44-51

44 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy ; và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. 45 Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ : Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. 46 Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. 47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. 48 Tôi là bánh trường sinh. 49 Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. 50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. 51 Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”


 

TRỞ THÀNH MỘT NHÀ THẦN BÍ THỰC HÀNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Tôi có dạy một khóa học về nhà thần bí nổi tiếng Thánh Gioan Thánh Giá.  Vì đây không phải là khóa học bắt buộc đối với bất kỳ học viên nào, tôi thường bắt đầu buổi học đầu tiên bằng cách hỏi mỗi học viên tại sao họ lại quan tâm đến khóa học này.  Các câu trả lời rất đa dạng: “Tôi tham gia khóa học này vì cha linh hướng của tôi bảo tôi tham gia.”  “Tôi luôn tò mò về thần bí học.”  “Tôi học bất cứ môn nào được dạy vào tối thứ Ba!”  Tuy nhiên, một tối nọ, một phụ nữ đã đưa ra câu trả lời này: “Tôi tham gia khóa học này vì tôi là một nhà thần bí thực hành.”

Điều đó khiến một số người ngạc nhiên.  Thật sao?  Một nhà thần bí thực hành sao? 

Liệu ai đó có thể là một nhà thần bí thực hành không? 

Điều đó phụ thuộc vào cách bạn hiểu về trải nghiệm thần bí.  Nếu bạn đánh đồng trải nghiệm thần bí với những điều phi thường, với những hiện tượng siêu nhiên (những thị kiến, những trạng thái xuất thần, những trạng thái ý thức thay đổi hoàn toàn, hoặc sự xuất hiện kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, một thiên thần hay một vị thánh) thì bạn không thể là một nhà thần bí thực hành.  Mặc dù những hiện tượng phi thường như vậy thực chất có thể là trải nghiệm thần bí (và thực sự đánh dấu trải nghiệm của một số nhà thần bí cổ điển), nhưng trải nghiệm thần bí bình thường không được đặc trưng bởi bất kỳ hiện tượng tôn giáo ngoại thường nào.  Thật vậy, nó thường nghi ngờ bất cứ điều gì phi thường và yêu cầu phải được phân định một cách kỹ lưỡng hơn. 

Trải nghiệm thần bí bình thường, hầu hết các nhà thần bí, không dựa trên điều phi thường.  Ngược lại, nó dựa trên chính nền tảng của sự bình thường.  Điều này có nghĩa là gì?

Một nhà thần bí đương đại nổi tiếng, Ruth Burrows, nữ tu dòng Cát Minh người Anh, định nghĩa trải nghiệm thần bí như sau.  Trải nghiệm thần bí là được Chúa chạm đến theo một cách vượt quá những gì chúng ta có thể diễn đạt, hình dung, hoặc thậm chí cảm nhận một cách có ý thức.  Đó là điều chúng ta biết nhiều hơn là nghĩ. 

Về bản chất, một Thiên Chúa không thể diễn tả được chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả được; một Thiên Chúa vượt ra ngoài khái niệm, chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả thành lời; một Thiên Chúa vượt ra ngoài ngôn ngữ chạm đến chúng ta theo một cách không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ thành lời; và một Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống, chạm đến chính nguồn gốc của sự sống, để chúng ta biết, một cách trực giác, cả bản thân mình lẫn cách mình đứng trước Thiên Chúa. 

Điều này nghe có vẻ khá trừu tượng, nhưng không phải thế như Ruth Burrows giải thích khi dùng câu chuyện của chính bà. 

Trong cuốn tự truyện của mình, Trước Thiên Chúa Hằng Sống, Ruth Burrows (mất năm 2023) chia sẻ câu chuyện về việc, ngay khi bà hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản và lên kế hoạch cho việc học đại học, một trải nghiệm thần bí đã tác động và thay đổi cuộc đời bà một cách triệt để. 

Vào thời điểm đó trong cuộc đời, bà không thực sự nghiêm túc với đức tin của mình.  Việc thực hành đức tin của bà mang tính học thuộc lòng hơn là sốt sắng, nhưng bà đã tham gia một khóa tĩnh tâm với một số phụ nữ trẻ khác cùng tuổi.  Một trong những điều bà được yêu cầu làm trong khóa tĩnh tâm đó là ngồi trong nhà nguyện im lặng một giờ đồng hồ nhiều lần mỗi ngày.  Những giờ im lặng đó khiến bà mệt mỏi và bà sợ hãi. 

Tuy nhiên, một ngày nọ, trong một trong những giờ phút ấy, khi ngồi im lặng, bà đã có (sau này bà gọi là) một trải nghiệm thần bí.  Không có những thị kiến siêu nhiên, không có sự xuất thần, không có sự xuất hiện của thiên thần, mà chỉ có một khoảnh khắc sáng suốt phi thường, đầy ân sủng; một khoảnh khắc mà lần đầu tiên bà hiểu rõ bản thân mình, vượt ra ngoài những gì bà có thể nghĩ, diễn đạt thành khái niệm, hay diễn đạt thành lời.  Đó là khoảnh khắc mà bà được lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi hệ tư tưởng, lột bỏ mọi hình ảnh tự thân giả tạo, lột bỏ mọi dáng vẻ đối với người khác, trần trụi về mặt cảm xúc và đạo đức, bà chỉ biết – biết mình là ai và mình đứng trước Chúa và mọi người như thế nào. 

Khoảnh khắc thần bí của bà là một khoảnh khắc hoàn toàn chân thành, một khoảnh khắc không che phủ, như gốc Latinh của từ này gợi ý (sine- without và cere-wax).  Giống như tất cả những nhà thần bí, bà đã phải vật lộn để diễn tả thành lời một điều gì đó phần lớn không thể diễn tả được, nhưng lại in dấu ấn lên tâm hồn bà theo một cách đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà. 

Với định nghĩa về thần bí học như vậy, tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những nhà thần bí thực hành, nghĩa là, tất cả chúng ta đều được mời gọi trong sự tĩnh lặng của trái tim, hoặc có lẽ trong trải nghiệm được nâng lên về mặt tâm hồn hoặc bị nghiền nát về mặt tâm hồn, để đứng hoặc quỳ gối trước Chúa với sự chân thành tuyệt đối, không chút giả tạo, trần trụi về mặt đạo đức, lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi điều giả dối, để ngay lúc đó, chúng ta có thể biết chân tướng mình là ai và mình đứng trước Chúa, trước tha nhân, và trước chính con người thật của mình như thế nào.  Chúng ta cần cầu nguyện cho sự sáng suốt đó và thể hiện rõ ràng ý định đó trong lời cầu nguyện. 

Vậy chúng ta làm điều đó bằng cách nào?  Chúng ta làm điều đó bằng cách cố gắng hết sức trong lời cầu nguyện để tập trung vào sự chân thành và sự trần trụi của tâm hồn, bằng cách cầu xin Chúa nhìn thấu tất cả những gì giả dối trong chúng ta để chúng ta có thể biết Chúa biết đến mình như thế nào. 

Trong lời cầu nguyện của mình, Dag Hammarskjöld thường cầu xin Chúa: “Xin cho con có được sự sáng suốt để phản chiếu cuộc sống và khuôn đúc nó trong trái tim thanh khiết, và có được sự tự vấn có ý thức để đưa con vào con đường phản chiếu sự vĩ đại của cuộc sống.”  Cầu xin điều đó trong lời cầu nguyện chính là trở thành một nhà thần bí thực hành. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

 Vài hàng khi đến tuổi 84 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Nói về cuộc đời, tôi sống trên 80 năm, làm sao viết thật đơn giản mà đầy đủ ý nghĩa, ghi lại những tâm sự, muốn gởi gấm cho những người thân yêu.

Tôi không thể ngờ được tôi ở tù lâu quá mà không chết trong tù, Chúa đã cho tôi sống tới ngày hôm nay (84 tuổi)

Bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời tôi là trình diện đi tù, bị giam giữ gần 8 năm trong các trại tù khắc nghiệt ở miền Bắc Việt Nam. (Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh)

Bước ngoặt thứ hai là tìm đến đời sống tâm linh. Cầu nguyện với Chúa và Đức Mẹ ở Fatima, Bình Triệu do Giáo sư Nguyễn Gia Phách, cựu giáo sư trường Lương Văn Can dẫn đi. Tôi đã gia nhập đạo Chúa, rửa tội ngày 15 tháng 8 năm 1991, là ngày lễ Đức Mẹ hồn xác về trời, ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng do cha Bạch Văn Lộc làm phép thanh tẩy.

-Bước ngoặt thứ ba là bỏ xứ sở, rời bỏ những người thân yêu, ra đi, giống như ông Abraham (trong Cựu Ước), mà không biết đi về đâu, không biết làm nghề gì để sống. Tôi đến Mỹ ngày 01 tháng 11 năm 1993, máy bay đáp xuống phi trường Hobby và về sống ở một chung cư trên đường Town Park (Houston).

Từ năm 2008 đến nay, tôi có tham gia lớp Thánh Kinh với thầy Bạch và

Từ năm 2009 đến nay giúp cho lớp Tân Tòng của nhà thờ.

Suy nghiệm:

Biết rằng, sau khi tôi chết thì 5, 10 năm nữa, chẳng còn ai nhắc đến mình, nhưng tôi vẫn sống lạc quan, cố gắng viết vài ý nghĩ để lại cho đời sau, để lại cho con cháu và cho các bạn rất quý mến của tôi.

Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau trong ngày sau hết, đó là niềm hy vọng tuyệt vời của chúng ta, trong thân phận làm người.

Muốn viết thật nhiều để diễn tả hết tâm sự của mình, nhưng khả năng thì giới hạn, chắc chắn không thể nào diễn tả hết được sự ao ước, những ý nghĩ, những công việc, có lẽ tôi chẳng bao giờ làm được, vì không còn bao nhiêu thi gian nữa tôi còn sống trên dương thế này.

Thời gian sống bây giờ tôi chỉ dám tính từng ngày chứ không bao giờ dám tính sống từng năm.

Con người sống lâu cũng là quý nhưng đóng góp gì cho xã hội còn quý giá hơn.

Nếu có ai gây gỗ, chỉ trích, nói xấu, vu cáo mình, mình phải làm sao?

Yêu thương họ và cầu nguyện cho họ.

Phùng Văn Phụng

Ngày 21 tháng 04 năm 2026


 

LỖ HỔNG MANG HÌNH CHÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tất cả những kẻ Chúa Cha đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai!”.

Con gái của Bertrand Russell tâm sự: “Đã một thời, trong sâu thẳm tâm hồn cha tôi, có một khoảng trống được Thiên Chúa lấp đầy; nhưng khi ông tống Ngài ra, ông không bao giờ tìm được bất cứ điều gì khác để đặt vào đó!” – Katharine Tait.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết: con người có thể đẩy Thiên Chúa ra khỏi đời mình; nhưng không gì thay thế được Ngài. Một ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ ở đó âm thầm đòi được lấp đầy; và chính nơi đó, lời hứa “không để mất một ai” của Chúa Giêsu bắt đầu vang lên.

Trong bối cảnh diễn từ Bánh Hằng Sống, sau dấu lạ hoá bánh, Chúa Giêsu không dừng lại ở của ăn mau hư nát, nhưng hướng đám đông đến của ăn thường tồn – chính Ngài. Trong viễn tượng Gioan, cơn đói này mang chiều kích cánh chung – eschatological – quy hướng về viên mãn – pleroma – nơi chính Ngài. “Không để mất một ai” không tách rời mặc khải này: Ngài là bánh từ trời; ai đến với Ngài sẽ không còn đói, ai tin vào Ngài sẽ không còn khát. Như thế, ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ không chỉ là một cảm nghiệm; nó gặp được lời đáp ngay trong con người Chúa Giêsu – Đấng không chỉ nói về sự sống, nhưng trở thành bánh nuôi sự sống.

Vậy mà cơn khát của con người là khôn cùng – như Origen nói: “Người là chúa hụt nhớ miền trời xa!”. Mỗi lần chúng ta tưởng đã đủ, nó lại lên tiếng; mỗi lần chúng ta tưởng đã nắm, nó lại tuột đi. Bởi lẽ, ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ không chấp nhận những gì ít Chúa hay không mang hình Ngài; chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy lỗ hổng có dáng dấp Ngài. Thế nhưng, đứng trước một sự viên mãn như thế, chúng ta lại chần chừ; như thể sợ đánh mất điều gì đó rất quen.

“Đừng sợ Chúa Kitô! Ngài không lấy gì đi nhưng ban cho bạn tất cả. Hãy dâng toàn thân cho Ngài, chúng ta sẽ nhận lại gấp trăm. Vâng. Hãy mở ra, mở rộng những cánh cửa cho Chúa Kitô và bạn sẽ tìm thấy sự sống đích thực!” – Bênêđictô XVI. Trải nghiệm ‘mở ra’ ấy cũng là trải nghiệm của Saolô – một biệt phái cuồng tín, hãnh tiến, mù quáng, đã từng lầm lạc bách hại Hội Thánh – bài đọc một. Nhưng một khi mở ra cho Chúa Kitô, ông không còn là mình như trước; Saolô trở nên Phaolô, một lợi khí của Ngài. Hội Thánh mừng vui, dân ngoại hân hoan, và “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Tôi sẽ không để mất một ai!”. Chúa Kitô không để mất một ai; Ngài đi tìm và chạm tới từng cuộc đời. Một Matthêu ở bàn thu thuế; một Giakêu leo lên cây; một phụ nữ khát bên giếng giữa trưa; một người bị bắt quả tang trong tội. Và ở phút cuối, trên thập giá, Ngài vẫn kịp lấp đầy một cuộc đời đang tàn lụi. Nghịch lý thay, Đấng lấp đầy mọi sự lại muốn được “lấp đầy” bởi tình yêu của con người; không phải vì Ngài thiếu, nhưng vì Ngài yêu. Một ‘giấc mơ kép’ mở ra: con người được lấp đầy bởi Thiên Chúa, và Thiên Chúa được lấp đầy bởi con người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không đầy ắp Chúa, trái tim con sẽ đầy những thứ không phải Ngài. Cho con biết con thuộc về ai. Hãy lấp đầy con và con sẽ lấp đầy Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần III Phục Sinh

Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con, thì được sống muôn đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,35-40

35 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ ! 36 Nhưng tôi đã bảo các ông : các ông đã thấy tôi mà không tin. 37 Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”


 

 “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24) – Cha Vương

Một ngày hạnh phúc trong Chúa nhé. Không quên cậu Nguyện cho nhau và thể giới nhé 

Cha Vương

Thứ 3: 21/04/2026.    (t3-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (Ga 6:1-2)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn tự nghĩ rằng: Tôi theo Chúa để được ích lợi gì? Tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật rằng trước khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, “Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ”. Lúc này uy tín và ảnh hưởng  của Chúa đang lên cao. Cho nên họ theo Chúa vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật. Vậy trong cuộc sống đạo hàng ngày và qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, là một người Công Giáo, bạn nhận thức được điều gì trong tâm hồn? Nếu chỉ nhẩm đi nhẩm lại mấy câu kinh như đọc những câu thần chú để được vào Thiên Đàng thì ai làm chẳng được. Phải không bạn? Nếu hôm nay có người nào hỏi, điều gì làm cho người Công Giáo hãnh diện nhất? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này là gì? Bạn đã và đang làm gì để trưởng thành trong đời sống đức tin? Theo Chúa là một hành trình dài vượt qua những danh lợi ảo tưởng. Bạn hãy nhìn vào các môn đệ của Chúa coi. Từ những kẻ nhút nhát và thất học, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm, dám dùng cái chết để làm chứng cho Tin Mừng phục sinh. Sự thay đổi triệt để này của các môn đệ chính là bằng chứng khả tín cho một đức tin sống động và mạnh mẽ. Nếu được như vậy bạn hãy tìm gặp Chúa hàng ngày trong các Bí Tích do chính Thiên Chúa thiết lập để được biến đổi nhé. 

LẮNG NGHE: Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi phút giây trong cuộc sống trần gian là một chuẩn bị dài lâu cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, xin giúp con luôn tìm kiếm Chúa trong các Bí Tích là “máng thông ơn” qua đó Chúa ban ân sủng để giúp con trở nên giống Chúa mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn.

From: Do Dzung

*******************************************

Hạnh phúc đời con -tinmung.net

Làm ruộng trên đất Mỹ – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu.

Gia đình Phạm, người Việt gốc Bắc, đã rời quê hương và đến California, Mỹ, vào những năm đầu thập niên 1950, trong làn sóng di cư sau chiến tranh. Họ đến bằng con đường hợp pháp nhờ chương trình tái định cư dành cho những người tìm cơ hội làm ăn tại Mỹ, mang theo hành trang ít ỏi nhưng đầy ý chí và khát vọng.

Sau một thời gian sinh sống và tích lũy kinh nghiệm lao động tại California, năm 1951, họ quyết định rời miền duyên hải để định cư tại Stuttgart, Arkansas, nơi vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mỡ, nhưng lao động cật lực là điều kiện sống còn. Chính tinh thần tự lực, kỷ luật và đoàn kết gia đình đã giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong hoàn cảnh xa lạ, nơi họ vừa là người nhập cư, vừa là nông dân phải học cách thích nghi với xã hội và tập quán mới.

Tháng Năm, 1951, gia đình ông Phạm thuê 60 mẫu đất từ một điền chủ  ở Stuttgart, Arkansas, người đã mất con trai tại Iwo Jima. Chủ đất thường nhận xét rằng gia đình Phạm làm việc với kỷ luật như những người lính. Minh Phạm, 48 tuổi, cùng vợ là Bùi, 45 tuổi, và sáu người con bước vào mùa vụ mới với bao lo lắng và hy vọng.

Ngày 8 tháng Năm, máy bơm nước của họ bất ngờ hỏng. Cánh đồng lúa cần được tưới nước trước ngày 15 tháng Năm, nếu không hạt giống sẽ không nảy mầm. Giếng sâu 120 feet, nhưng máy bơm thay thế có giá 400 đô-la trong khi họ chỉ có 60 đô-la. Ngân hàng từ chối cho vay, chủ đất cũng không giúp được gì.

Không để thất bại chặn đứng, Minh tập hợp các con lớn – những cậu con trai 18, 16 và 14 tuổi, cùng hai cô con gái 12 và 10 tuổi. Bùi ở lại trông con út và chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình. Không có máy móc, họ bắt tay vào đào một con kênh từ con lạch gần đó – dài 1.200 thước qua đất sét nặng nề của đồng bằng Arkansas. Đất bám vào từng cái xẻng, rễ liễu dày phải cắt bằng rìu, nhưng họ không ngại. Tinh thần và quyết tâm của gia đình thể hiện rõ qua từng nhát xẻng, từng giọt mồ hôi.

Họ làm việc tới 18 giờ mỗi ngày, liên tục năm ngày. Người con út mang nước để duy trì sức lực cho mọi người. Cậu con trai 14 tuổi ngất hai lần vì kiệt sức, nhưng mỗi lần đều quay lại tiếp tục đào. Đêm 14 tháng Năm, ngay trước hoàng hôn, họ cuối cùng cũng thông kênh. Nước tràn vào rạch, lấp đầy 52 mẫu đất vào sáng hôm sau. Lúa bén rễ và phát triển, cứu gia đình khỏi nguy cơ mất mùa.

Vụ mùa đó đã thay đổi vận mệnh gia đình Phạm. Đến tháng Chín, họ tiết kiệm đủ để mua máy bơm mới. Năm 1959, họ mua luôn mảnh đất mà trước đây từng thuê. Người con trai 16 tuổi, Paul, nhập ngũ năm 1952 và phục vụ tại Hàn Quốc. Trong một bức thư gửi về nhà, anh viết: “Các con đã đào được một dặm, giờ con sẽ bước đi trên đó.” Anh trở về an toàn. Cô con gái út, Anna, sau này trở thành kỹ sư nông nghiệp và thường nói: “Chúng tôi thất bại với máy bơm, nhưng con mương thì không.”

Câu chuyện của gia đình Phạm còn là bức tranh sinh động về xã hội nông thôn Arkansas thời hậu chiến. Stuttgart là trung tâm sản xuất lúa của miền Nam nước Mỹ, nơi các nông dân phải đối mặt với hạn hán, đất sét nặng và thiếu vốn. Những người nhập cư như gia đình Phạm không chỉ phải thích nghi với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải học luật đất đai, tập quán canh tác và vận dụng kỹ năng lao động từ truyền thống quê nhà. Minh Phạm, người cha, vốn là công nhân may ở California, đã truyền tinh thần kỷ luật và tự lực cho các con, trong khi Bùi Phạm, người mẹ, giữ vững tinh thần và chăm lo cho bữa ăn, sức khỏe cả gia đình. Những người con lớn thể hiện trách nhiệm vượt tuổi, tinh thần sáng tạo và ý chí không khuất phục trước khó khăn.

Sự thành công của gia đình ông Phạm còn gắn với ý nghĩa lâu dài: Paul trở thành người lính kỷ luật và trưởng thành, Anna theo đuổi ngành kỹ thuật nông nghiệp để phát triển giải pháp bền vững cho nông dân. Việc họ duy trì nghề trồng lúa, mua lại đất và cải tiến cơ sở hạ tầng nông nghiệp cho thấy tinh thần tự lực, kiên trì và đoàn kết gia đình luôn là yếu tố quyết định sự thành công. Câu chuyện nhấn mạnh rằng, trong lịch sử nông thôn Mỹ, người nhập cư Việt cũng có thể xây dựng đời sống ổn định và phát triển, góp phần vào cộng đồng, vừa bảo tồn truyền thống, vừa hòa nhập xã hội mới.

Bài học rút ra từ gia đình họ Phạm là sự kết hợp giữa kỷ luật, sáng tạo và tinh thần gia đình có thể vượt qua mọi thử thách. Họ không chỉ vượt qua một cơn khủng hoảng vật chất tức thời, mà còn xây dựng nền tảng cho đời sống lâu dài, thể hiện một triết lý sống giản dị nhưng sâu sắc: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kiên trì và đoàn kết sẽ dẫn đến thành công. Đây là câu chuyện truyền cảm hứng cho mọi thế hệ, nhắc nhở rằng lao động và ý chí con người luôn chiến thắng những nghịch cảnh, và rằng mỗi gia đình, dù xuất thân từ nơi xa xôi, đều có thể tạo dựng tương lai vững chắc qua nỗ lực không ngừng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin

 My Lan Pham 

Ông chỉ là một cậu bé khi mẹ bị đưa vào trại tâm thần và bị giữ lại đó gần hai mươi năm. Năm 1903, ông nhận ra một sự thật lạnh lẽo rằng mình hoàn toàn đơn độc.

Không có người cha để nương tựa, cũng không có mái nhà để quay về. Ông chỉ là một cái bóng nhỏ bé lạc lõng giữa cỗ máy khổng lồ và vô cảm của London.

Muốn hiểu thiên tài của “Gã lang thang nhỏ bé”, người ta phải nhìn vào những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin. Ông sinh năm 1889 trong cảnh nghèo khổ khắc nghiệt ở khu Nam London. Mẹ ông, Hannah, từng là nghệ sĩ sân khấu nhưng dần mất giọng, không còn khả năng nuôi con.

Cha ông gần như không tồn tại. Một người đàn ông chìm trong rượu và qua đời khi mới ba mươi chín tuổi, để lại cho con cái chỉ một cái họ.

Tuổi thơ của Charlie là chuỗi ngày đói khát và chạy trốn. Ông cùng anh trai Sydney sống trong những căn phòng ẩm thấp, tối tăm. Họ chuyển chỗ ở gần như mỗi tháng để tránh tiền thuê nhà, vác theo những tấm nệm mỏng đi qua những con hẻm hẹp phủ đầy sương mù.

Họ ngủ trong những căn hầm lạnh lẽo, nơi tường rỉ nước và không khí đặc quánh mùi than. Khi cuộc sống trở nên không thể chịu đựng nổi, hai anh em bị đưa vào Trường Hanwell dành cho trẻ mồ côi và trẻ nghèo.

Nơi đó giống như một cơn ác mộng.

Bọn trẻ bị lột bỏ quần áo, bị cạo đầu để tránh chấy rận, và bị đánh bằng roi để học cách im lặng.

Với cậu bé bảy tuổi, cái lạnh và thức ăn tồi tệ vẫn chưa phải điều đau đớn nhất. Điều khiến ông tổn thương sâu sắc là cảm giác bị bỏ rơi. Suốt mười tám tháng, không một lần mẹ đến thăm. Trong sự im lặng nặng nề của những phòng ngủ tập thể, ông tự xây cho mình một lớp vỏ để tồn tại. Ông tự nói với bản thân rằng mình sẽ trở thành diễn viên vĩ đại nhất thế giới. Đó không chỉ là ước mơ, mà là cách duy nhất để ông không gục ngã.

Khi mẹ hoàn toàn suy sụp tinh thần vào năm 1903, ông bị đẩy ra đường phố London.

Ông trở thành một đứa trẻ lang thang, đi qua các khu chợ với ánh mắt luôn đói khát.

Ông học cách ngủ đứng trong các ô cửa để tránh cảnh sát. Ông học cách nhanh tay lấy một củ cải hay một mẩu bánh mì rồi biến mất trước khi bị phát hiện.

Ông đứng trước các quán rượu, không phải để uống mà để quan sát. Ông nhìn những kẻ say loạng choạng, những quý ông chỉnh lại chiếc mũ trên đầu, và những người nghèo cố giữ chút phẩm giá dù đôi giày đã rách nát.

Mỗi con người ông gặp đều trở thành một bài học. Ông ghi nhớ từng cử chỉ của nỗi khốn cùng và âm thầm biến chúng thành tiếng cười trong tâm trí.

Sân khấu cuối cùng đã kéo ông ra khỏi bóng tối. Ông có một vai diễn trong vở Sherlock Holmes và từ đó không bao giờ quay đầu lại. Khi đặt chân đến Mỹ, ông mang theo một nỗi ám ảnh duy nhất là không bao giờ muốn đói thêm một lần nào nữa.

Ở tuổi hai mươi sáu, ông đã trở thành biểu tượng của cả thế giới.

Thế nhưng những vết thương từ tuổi thơ chưa bao giờ rời bỏ ông. Ông trở thành một người cầu toàn đến cực đoan, có thể quay đi quay lại một cảnh hàng trăm lần chỉ để đạt đến sự hoàn hảo, như thể cố gắng kiểm soát một thế giới mà trước đây ông chưa từng làm chủ được.

“Gã lang thang nhỏ bé” không chỉ là một nhân vật. Đó là hình bóng của chính tuổi thơ ông, một con người nhỏ bé trong bộ quần áo rộng thùng thình, kiên quyết không để cuộc đời nghiền nát mình.

Charlie Chaplin đã biến cái lạnh, cơn đói và sự cô đơn thành tiếng cười lan tỏa khắp thế giới. Ông chứng minh rằng dù khởi đầu có tăm tối đến đâu, con người vẫn có thể tự viết nên kết cục của chính mình.

Di sản của ông cho thấy rằng tiếng cười đôi khi chính là hình thức dũng cảm nhất để chống lại một thế giới khắc nghiệt.

“Gã lang thang nhỏ bé” luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã không chỉ là một vai diễn, mà còn là người bảo vệ cho đứa trẻ từng bị tổn thương sâu sắc bên trong con người ông.

My Lan Pham

Screenshot