LO XÂY – QUÊN CẤT – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi!”.

“Người ta đào huyệt chôn Pakhom; từ đầu đến chân, sáu bộ đất là tất cả những gì ông cần!” – Lev Tolstoy.

Kính thưa Anh Chị em,

Sáu bộ đất cho Pakhom, người cả đời chỉ biết có đất! Người phú hộ trong Tin Mừng hôm nay cũng mắc một sai lầm tương tự. Cả hai đều ‘lo xây – quên cất!’.

Ông được mùa, và đúng đắn khi muốn xây thêm kho. Sai lầm của ông bắt đầu từ cuộc độc thoại: “Mình phải làm gì đây?”. Từ đầu đến cuối, chỉ có “mình”, “của mình”; không một lời hướng về Thiên Chúa, không một lời nhắc đến tha nhân. Ông có kế hoạch cho mọi thứ, trừ chính sự sống của mình. Trớ trêu thay, ông tính đời ông bằng năm; và xem ra, Chúa tính đời ông bằng đêm. Ông biết phải cất lúa vào đâu, nhưng không biết cất đời mình vào tay ai. Kho lẫm có thể kéo dài mùa màng, nhưng không kéo dài nổi một ngày sống!

Được mùa là một niềm vui, nhưng niềm vui ấy sẽ lớn hơn nếu có người cùng vui. Nhà phú hộ chỉ nghĩ đến chuyện giữ lại, chẳng nghĩ đến chuyện trao đi. Của cải có thể nối rộng vòng tay ông với bao người, nay lại nhốt chặt ông trong thế giới riêng. Ông không nghèo vì thiếu của; ông nghèo vì dư của. Kho ông càng lớn, đời ông càng chật. Ông lo xây lẫm cất của dưới đất, quên mất tích luỹ kho tàng trên trời. Cứ thế, ‘lo xây – quên cất!’.

“Chúng ta cứ lo thu xếp những điều ngoài tầm tay, cho một thời điểm mà mình chẳng chắc sẽ tới!” – Blaise Pascal.

Mải mê xây công trình của mình, nhà phú hộ quên mình là công trình của Thiên Chúa. Ngài đã có một dự định cho đời ông từ trước: “Chính Chúa dựng nên ta, và ta thuộc về Người!” – Thánh Vịnh đáp ca. Phaolô còn đi xa hơn: “Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị”

– bài đọc một. Kế hoạch ấy không nhằm giúp ông có thêm bao nhiêu, nhưng để qua ông, bao người nhận được những điều tốt lành từ Ngài.

Có khi chúng ta dành cả đời để vun đắp những gì sẽ để lại, mà lơ là những gì có thể mang theo. Sợ thiếu cho ngày mai, chúng ta chẳng sợ hôm nay mình chưa sống cho ai. Điều đáng tiếc không phải là những gì chúng ta chưa kịp có, mà là những cơ hội yêu thương đã đi qua đời mình – không bao giờ trở lại.

“Có những người có rất ít mà trao đi tất cả. Họ tin vào sự sống và sự phong phú của nó; lẫm của họ chẳng bao giờ cạn!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Đức Kitô, Đấng giàu có, chẳng có kho lẫm nào để cất giữ, mở cho chúng ta kho tàng không bao giờ cạn. Ngài không chỉ dạy chúng ta cho đi, nhưng còn hiến mình trên thập giá để nhân loại được sống đời đời. Nơi Ngài, những gì trao đi chẳng bao giờ mất! Noi gương Ngài, chúng ta học cách làm giàu trước Thiên Chúa: xây đời mình bằng những việc lành, cất giữ cho đời sau những gì hôm nay biết sẻ chia. Đừng để một đời ‘lo xây – quên cất!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chỉ mang theo những gì con trao; đừng để con mải lo đầy lẫm mà quên đầy lòng; dạy con mở tay trước nỗi thiếu thốn của anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/19.html

Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 12,13-21

13 Khi ấy, có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” 14 Người đáp : “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?” 15 Và Người nói với họ : “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”

16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này : “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, 17 mới nghĩ bụng rằng : ‘Mình phải làm gì đây ? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu !’ 18 Rồi ông ta tự bảo : ‘Mình sẽ làm thế này : phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. 19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng : hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !’ 20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta : ‘Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?’ 21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”


 

“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14:27)- Cha Vuong

Houston hôm nay trời lạnh, đừng quên Chúa là hơi ấm Bình an cho những ai đau khổ. Hãy mạnh mẽ lên nhé! Xin hơi ấm của Chúa sưởi ấm  cho nhau và cả thế  giới nữa nhé 

CN: 18/10/2026.     (n17-21)

TIN MỪNG: Đức Giê-su bảo: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” (Mc 10:38)

SUY NIỆM:  “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” Nếu bạn được hỏi câu này bạn thì bạn phải trả lời như thế nào? Chúa hỏi các môn đệ của Người câu hỏi này với ngụ ý là để giúp họ hiểu được ý nghĩa của sự đau khổ mà họ sẽ phải chịu nếu họ muốn tiếp tục theo Chúa. Chính Người nói: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14:27). Thánh Phêrô cũng nói: “Đức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người”(1Pr 2:21). Quả thật, không còn con đường nào khác cho người Kitô hữu nữa ngoài con đường đau khổ. Có qua đau khổ thì mới đến vinh quang! Theo Chúa không có đường tắt! Khi đau khổ xảy đến với bạn, bạn hãy kết hiệp nó với sự đau khổ của Đức Kitô, xin Người giúp bạn biết chịu đựng nó và biết lợi dụng nó. Đau khổ có thể dạy chúng ta sống khiêm nhường, kiên nhẫn, tha thứ và biết phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Như những đau khổ của Đức Kitô dẫn Người đến chiến thắng vinh quang thế nào thì những đau khổ xảy đến với bạn, cũng vậy, sẽ chấm dứt vào một ngày nào đó trong niềm vui vĩnh cửu trên Trời. Niềm vui và hy vọng trong đau khổ mới chính là cách sống của môn đệ của Đức Kitô chứ không phải là việc theo đuổi địa vị, quyền cao chức vọng.

LẮNG NGHE: Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần. (Hr 4:15-16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa giàu lòng xót thương, nhân loại đang đối diện với bao nhiêu đau thương mất mát của đại dịch, xin giúp con nhận biết sự khôn ngoan và giá trị của chén đắng, của thập giá để con can đảm theo Chúa cho đến cùng.

THỰC HÀNH: Bạn nghĩ thế nào về câu hỏi này: Những đau khổ của bạn có tăng thêm ý nghĩa khi liên kết với Thập Giá của Đức Kitô không?

From: Do Dzung

**************

Thánh Ca | Chén Đắng – Lm. JB Nguyễn Sang

6 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN ĐANG TR ẦM CẢM, CHỨ KHÔNG PHẢI LƯỜI BIẾNG

Ngan Minh Ngo

Nội dung do AI tao ra

6 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN ĐANG TR ẦM CẢM, CHỨ KHÔNG PHẢI LƯỜI BIẾNG

Chắc chắn rồi! Vì ai cũng có những ngày như thế. Ai cũng từng có lúc uể oải, thiếu động lực, chẳng thiết tha điều gì. Nhưng trong một xã hội đầy cạnh tranh khốc liệt, nơi con người bị ám ảnh bởi tiền bạc và thành công, chúng ta lại cảm thấy tội lỗi khi không làm ra tiền hoặc không bận rộn với một việc gì đó. Và cũng bởi vì chúng ta chỉ là con người, sống trong căng thẳng triền miên, lao đầu vào công việc không ngừng nghỉ thì sớm muộn gì cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần và cảm xúc của chính mình.

Nhưng nếu đó không chỉ là sự mệt mỏi nhất thời thì sao? Nếu sự “lười biếng” ấy thực chất là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn thì sao? Hãy cùng điểm qua 6 dấu hiệu sau đây để biết liệu bạn có đang mắc kẹt trong vòng xoáy của trầm cảm hay không:

  1. Bạn không thể tự kéo mình ra khỏi tình trạng này

Sự lười biếng thường chỉ xuất hiện khi ta có một việc quan trọng cần làm nhưng lại không muốn bắt tay vào hoặc khi cơ thể đã quá tải vì làm việc quá sức. Trong những lúc như vậy, chỉ cần một danh sách việc cần làm, một bài diễn thuyết truyền cảm hứng hay một mục tiêu nho nhỏ cũng có thể giúp ta vực dậy tinh thần.

Nhưng trầm cảm thì không. Nó không phải là thứ mà bạn có thể đơn giản “vứt bỏ” hay “vượt qua” chỉ bằng ý chí. Dù ai đó có bảo bạn “vui lên đi” hay “chỉ cần suy nghĩ tích cực hơn”, điều đó cũng chẳng ích gì. Trầm cảm là một căn bệnh tâm lý nghiêm trọng, cần được điều trị bằng liệu pháp chuyên sâu, thậm chí có khi phải dùng thuốc. Và điều đáng sợ là nó thường xuyên quay lại, khiến người bệnh phải mất nhiều tháng trị liệu để có thể lấy lại cân bằng trong cuộc sống (Lépine & Briley, 2011).

  1. Bạn không thể tìm lại niềm vui

Một dấu hiệu rõ ràng khác cho thấy đây không chỉ là sự lười biếng thông thường, đó là khi bạn thường xuyên cảm thấy cô đơn, buồn bã và vô vọng mà không rõ lý do. Không chỉ mệt mỏi và cạn kiệt năng lượng, bạn còn thấy lòng mình trống rỗng, chán nản mà chẳng hiểu vì sao. Điều tệ nhất là, dù có cố gắng thế nào, bạn cũng không thể tự làm mình vui lên.

Ngủ nhiều hơn cũng không giúp bạn thấy khá hơn. Món ăn yêu thích chẳng còn hấp dẫn. Những buổi gặp gỡ bạn bè cũng chẳng mang lại chút niềm vui nào. Kể cả những điều bạn từng đam mê nhất hay những người bạn yêu thương nhất cũng không thể kéo bạn ra khỏi vực thẳm ấy (Hammen, 2005).

  1. Bạn mất hết hứng thú với mọi thứ

Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (2013), một trong những dấu hiệu điển hình của trầm cảm là “mất hứng thú hoặc không còn cảm giác vui vẻ với những hoạt động từng yêu thích”. Nếu bạn nhận ra mình không còn động lực hay quan tâm đến bất cứ điều gì, không chỉ công việc hay học tập mà cả những điều nhỏ bé trong cuộc sống, thì đó chính là hồi chuông cảnh báo đầu tiên.

Người trầm cảm thường thu mình lại, không còn hứng thú với sở thích cá nhân, cũng chẳng muốn giao tiếp với ai. Họ chọn cách ở lì trong phòng, nằm trên giường, để thời gian trôi qua một cách vô định… Và đó cũng chính là dấu hiệu tiếp theo mà bạn cần lưu tâm…

  1. Bạn không còn có thể vận hành cuộc sống như trước nữa

Bạn có cảm thấy sự “lười biếng” của mình ngày càng mất kiểm soát? Nó đã trở thành một gánh nặng mà bạn không thể xoay xở nổi? Nó đang cản trở công việc, học tập và cả cuộc sống cá nhân của bạn? Nó đã gây ra không ít rắc rối cho bạn?

Nếu câu trả lời là có, thì có lẽ bạn không chỉ đơn giản là lười biếng. Trong tâm lý học, để chẩn đoán trầm cảm, các chuyên gia thường dựa vào bốn tiêu chí bất thường, gọi là “4D”: Lệch chuẩn (Deviance), Khổ đau (Distress), Nguy hiểm (Danger), và Rối loạn chức năng (Dysfunction). Nếu sự “lười biếng” của bạn khiến bạn không thể vận hành cuộc sống như bình thường, không thể hoàn thành những việc thiết yếu hằng ngày, thì có lẽ đã đến lúc bạn nên tìm đến một chuyên gia sức khỏe tâm lý để được giúp đỡ.

  1. Sự “lười biếng” của bạn không bắt nguồn từ điều gì cụ thể

Lười biếng thường đi kèm với trì hoãn và có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có người cho rằng đó là dấu hiệu của sự thiếu tự tin. Có người lại nghĩ nó đến từ việc không được công nhận hay động viên. Nó cũng có thể là hậu quả của kỷ luật bản thân kém, thiếu kiểm soát hoặc không có hứng thú.

Nhưng còn trầm cảm thì sao? Điều gì gây ra trầm cảm?

Sự thật là, ngay cả các nhà tâm lý học cũng chưa thể tìm ra một nguyên nhân cụ thể. Nhưng có một điều chắc chắn: trầm cảm thường không bị kích hoạt bởi một sự kiện đơn lẻ. Đôi khi, nó không có bất kỳ lý do rõ ràng nào (Carter & Garber, 2011). Nó có thể len lỏi vào bạn một cách âm thầm, khiến bạn bỗng chốc trở nên buồn bã, mất năng lượng và chán chường mà chẳng hiểu vì sao.

  1. Sự “lười biếng” này không phải là lựa chọn của bạn

Cuối cùng, nhưng có lẽ cũng là điểm quan trọng nhất: lười biếng có thể thay đổi, nhưng trầm cảm thì không thể tự biến mất.

Khi bạn cảm thấy uể oải hay thiếu động lực, bạn vẫn có thể làm gì đó để thay đổi, nghỉ ngơi, tìm cảm hứng, thử những cách tăng năng suất, lên kế hoạch, đặt mục tiêu nhỏ để vực dậy tinh thần. Nhưng với trầm cảm, mọi chuyện không đơn giản như vậy.

Bất kỳ ai hiểu về trầm cảm, đặc biệt là những người từng trải qua nó, đều sẽ nói với bạn rằng không ai lại muốn mình bị trầm cảm. Nếu có thể lựa chọn, họ chắc chắn sẽ thoát ra ngay lập tức. Nhưng thực tế là, họ không thể.

Nhiều người mắc trầm cảm còn mang theo cảm giác tội lỗi, xấu hổ và bất lực (Gotlib & Hammen, 2008). Vì vậy, đừng bao giờ nói với ai đó rằng họ chỉ đang “tìm kiếm sự chú ý.” Bệnh tâm lý không phải là trò đùa, cũng không phải là thứ ai đó có thể điều khiển theo ý muốn.

Vậy, bạn có thấy mình trong những dấu hiệu trên không? Bạn có đang cảm thấy mình lười biếng trong một khoảng thời gian dài và bắt đầu tự hỏi liệu có điều gì nghiêm trọng hơn đang diễn ra?

Nếu bạn hoặc ai đó mà bạn quen biết đang phải đối mặt với trầm cảm, đừng ngần ngại tìm đến chuyên gia tâm lý để được hỗ trợ. Bởi vì,       trầm cảm càng được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ càng dễ dàng hơn.

Nguồn Internet 


 

Khiêm nhường là mẹ đẻ của các nhân đức – Cha Vương

Chúc bình an! Thánh Clement Hòbauer nói: “Phúc cho những ai đọc Kinh Mân Côi với hiểu biết. Họ sẽ học được tất cả những gì thuộc về đức tin, ánh sáng, niềm hy vọng và tình yêu mến ẩn chứa trong Kinh Mân Côi.” Vậy nửa Tháng Mân Côi còn lại mời bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và cho thế giới được an lành  nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 17/10/t2026.      (n16-21)

NĂM SỰ VUI

Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai. Khiêm nhường là mẹ đẻ của các nhân đức. Mẹ Maria khiêm nhường trong các bổn phận. Mẹ chu toàn mọi bổn phận cách êm ái, không sôi nổi háo hức, luôn luôn mãn nguyện, luôn luôn sẵn sàng đón nhận những bổn phận mới. Mẹ chu toàn bổn phận với sự điềm tĩnh, không tỏ ra khó khăn gì và cũng không bao giờ xin an ủi, không bao giờ gây chú ý. 

Hôm nay, qua 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy xin cho được sống khiêm nhường như Mẹ vậy. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến gặp một trinh nữ. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.   (Luca 1:26-27) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà. (Luca 1:28) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. (Luca 1:29) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Sứ thần liền nói: Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. (Luca 1:30) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. (Luca 1:31) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao… triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.(Luca 1:32-33) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Luca 1:32-33) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Sứ thần đáp: Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà. (Luca 1:35a) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.(Luca 1:35b) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Bà Ma-ri-a nói: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói. (Luca 1:38) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ,… (Kinh Hãy Nhớ)

From: Do Dzung

*****

Lời Nguyện Cho Quê Hương _ Elvis Phương

DÙ NGHI – VẪN ĐI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”.

“Con không xin thấy tận chân trời; một bước thôi cũng đủ cho con!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Không thấy tận chân trời, người môn đệ vẫn đi. Tin Mừng Khánh Nhật Truyền Giáo kể một điều lạ: các môn đệ còn hoài nghi, Chúa Giêsu vẫn sai họ lên đường, ‘dù nghi – vẫn đi’.

Matthêu không giấu sự phân vân ấy. Bản Hy Lạp viết edístasan – “đã hoài nghi”; cũng động từ ấy xuất hiện khi Chúa Giêsu kéo Phêrô lên khỏi nước: “Sao lại hoài nghi?”. Phêrô đã bước về phía Chúa mà lòng vẫn chao đảo; ở đây, các môn đệ đã đến nơi Ngài hẹn mà lòng chưa hết chông chênh. Vậy mà Ngài vẫn đến gần, trao cho họ sứ mạng. Chúa Giêsu không đợi họ vững vàng mới gửi Tin Mừng đến muôn dân. Điểm tựa của họ là lời Ngài: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất!”. Muôn dân được trao cho những người còn ngờ vực; sự yếu đuối của họ không khiến Ngài rút lại lòng tín nhiệm.

Chúa Giêsu trao cho các môn đệ điều lớn hơn sức họ: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Những người còn cần học tin nay có trách nhiệm giúp người khác tin. Có những điều chỉ khi lên đường, kẻ được sai mới hiểu lời đã nghe; có những lần gặp người khác, họ mới thấy lòng tin của mình cần lớn lên. Giao cho họ muôn dân, Ngài không để họ một mình với muôn dân: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày!”. Họ mang sứ điệp đi, nhưng có Ngài cùng đi; và chính sứ điệp ấy tiếp tục đổi đời họ.

“Hội Thánh loan báo Tin Mừng, nhưng trước hết, chính Hội Thánh cần đón nhận Tin Mừng!” – Phaolô VI.

Tin Mừng ấy đổi đời những ai còn ngồi trong bóng tối: “Đứng lên, bừng sáng lên!”, vì “ánh sáng của ngươi đến rồi” – bài đọc một. Càng đến với muôn dân, người môn đệ càng phải học yêu những người Thầy muốn cứu, kể cả những người họ từng ngại đến gần; vì lẽ Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ” – bài đọc hai. Đức tin lớn lên khi lòng người môn đệ rộng theo lòng Thầy. Có khi người chúng ta chưa dám đến gần lại giúp chúng ta nhận ra lòng mình còn hẹp. Từ những bước chân ấy, “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu” – Thánh Vịnh đáp ca.

Dù đời mình chưa đủ tốt, lòng tin chưa đủ vững, hãy cứ bắt đầu nói về Chúa cho người khác! Nghe họ kể, cùng họ đi qua một chuyện khó. Có khi chính lúc ấy, chúng ta mới hiểu sâu hơn Đấng mình muốn giới thiệu. Chúng ta cần Ngài, người ấy còn cần hơn.

“Đức tin được củng cố khi chia sẻ cho người khác!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh đến gần những người còn hoài nghi bằng đôi chân từng mang dấu đinh. Những người Ngài sai đi đã có lúc bỏ Ngài; nay họ được hứa Ngài không bỏ họ. Ngài trao việc lớn cho họ mà không quên họ cần đỡ nâng từng ngày. Hội Thánh lên đường từ cuộc gặp gỡ ấy, mang theo ký ức về những lần mình được tha, được yêu. Vì thế, ‘dù nghi – vẫn đi’: giới thiệu Đấng đã tìm lại mình, và tin Ngài cũng đang tìm người chúng ta sắp gặp.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con bước tới khi lòng còn trăm mối; biết tựa vào Ngài khi giúp người khác đứng lên; và để Tin Mừng con mang đi đổi mới chính con trước!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO, CẦU CHO CÔNG CUỘC LOAN BÁO TIN MỪNG

CHÚA NHẬT ÁP CUỐI THÁNG 10:

https://l1nq.com/4ln3idd


 

TỪ MỘT LỜI KINH KÍNH MỪNG GIỮA ĐÊM ĐẾN HÀNH TRÌNH CẢ GIA ĐÌNH TRỞ LẠI ĐẠO

Con Tin Chúa Ơi

TỪ MỘT LỜI KINH KÍNH MỪNG GIỮA ĐÊM ĐẾN HÀNH TRÌNH CẢ GIA ĐÌNH TRỞ LẠI ĐẠO

Lucia Trương Lý Thanh Tâm sinh ngày 6/6/1987 trong một gia đình khi ấy chưa theo đạo Công giáo.

Đêm mẹ em chuyển dạ, gia đình rất khó khăn, không có tiền, người cha phải bế vợ đi bộ gần 1km ra đường lớn tìm xe. Giữa đêm khuya vắng lặng, ông chợt nhớ đến Kinh Kính Mừng từng được một người Công giáo dạy trước đó. Ông vừa khóc vừa đọc kinh, xin Chúa và Đức Mẹ thương giúp.

Sau nhiều trắc trở, hai vợ chồng mới đến được Bệnh viện Thánh Tâm. Tại đây, gia đình được thông báo em bé không còn sống và chỉ còn cách tập trung cứu người mẹ. Bé được chuyển xuống kho lạnh để chờ lo hậu sự.

Quá đau đớn, người cha đi ra trước tượng Đức Mẹ trong khuôn viên bệnh viện và than khóc. Đúng lúc ấy, một nữ tu là y tá đến an ủi rồi bảo ông vào nhìn con lần cuối để biết là trai hay gái và đặt tên cho bé.

Khi mở tấm vải trắng đang quấn quanh em, ông bất ngờ thấy bàn tay bé còn cử động. Ông lập tức chạy đi gọi bác sĩ.

Với gia đình, đó là một biến cố đặc biệt mà họ tin là ơn Chúa và Đức Mẹ đã thương cứu bé Thanh Tâm.

Sau đó, em còn trải qua thêm những tai nạn rất nặng khi còn nhỏ nhưng vẫn vượt qua. Mỗi lần như thế, gia đình lại càng tin rằng Chúa và Đức Mẹ vẫn đang âm thầm gìn giữ.

Dù từng nhiều lần trì hoãn lời hứa theo đạo, cuối cùng, qua những biến cố liên tiếp và cả sự yêu thương của cha xứ cùng giáo dân xứ Hưng Bình, cả gia đình đã quyết định học giáo lý.

Cuối năm 1987, cả 7 người trong gia đình được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và chính thức gia nhập Hội Thánh Công giáo.

Nhìn lại hành trình đã qua, chị Anna Trương Thị Hoài Thương, chị gái của Thanh Tâm, chỉ biết tạ ơn vì tin rằng Thiên Chúa và Đức Mẹ đã kiên nhẫn chờ đợi, nâng đỡ và dẫn cả gia đình trở về với Chúa.

Một lời Kinh Kính Mừng giữa đêm tối, một em bé được phát hiện còn sống nơi kho lạnh, rồi cuối cùng là cả một gia đình tìm thấy đức tin. 


 

Sống lâu, sống khỏe (Kỳ 5) – Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Ba’o Nguoi-Viet

October 16, 2026

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khỏe mang tính tổng quát. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp. Nhiều thông tin thiết thực và bổ ích khác về sức khỏe cũng được phát trên đài 106.3 FM ở vùng Orange County, California, vào mỗi sáng Chủ nhật từ tám đến chín giờ, trong chương trình Radio Sống Vui (nghe trên radio hay vào Google hay Youtube, search Radio Song Vui https://www.youtube.com/@radiosongvui)

Một bữa cơm Việt Nam hoàn toàn có thể là một bữa ăn tốt. (Hình minh họa: Hong Son/Pexels)

Các loại hạt: tốt nhưng không phải ăn bao nhiêu cũng được

Hạnh nhân (almond), óc chó (walnut), hạt dẻ cười (pistachio nuts), hạt điều, đậu phộng và nhiều loại hạt khác có thể góp phần vào một chế độ ăn lành mạnh. Chúng cung cấp chất béo không bão hòa, protein, chất xơ và nhiều vi chất.

Đậu phộng tuy về thực vật học thuộc nhóm cây họ đậu chứ không phải hạt cây, nhưng về cách sử dụng và thành phần dinh dưỡng thường được xếp chung với các loại hạt trong đời sống hàng ngày.

Một điều dễ quên là các loại hạt chứa khá nhiều năng lượng trong một lượng nhỏ. Một nắm nhỏ và một tô đầy hạt không giống nhau.

Nếu dùng một lượng vừa phải các loại hạt để thay bánh, kẹo hoặc snack chế biến, đó có thể là một sự thay thế tốt. Nhưng nếu sau ba bữa ăn đầy đủ lại ăn thêm một lượng lớn hạt mỗi tối, tổng năng lượng vẫn có thể quá nhiều.

Một thực phẩm tốt không có nghĩa là số lượng không còn quan trọng.

Dầu olive có tốt đến mức nên uống mỗi ngày?

Dầu olive, đặc biệt là dầu olive nguyên chất (extra-virgin olive oil), là một nguồn chất béo quan trọng trong kiểu ăn Địa Trung Hải truyền thống. Nó chứa nhiều acid béo không bão hòa đơn cùng nhiều hợp chất thực vật.

Trong nghiên cứu PREDIMED, một nhóm người tham gia được cung cấp dầu olive nguyên chất như một phần của kiểu ăn Địa Trung Hải và có kết quả tim mạch tốt hơn so với nhóm đối chứng.

Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta nên uống dầu olive bằng muỗng như uống thuốc.

Dầu olive vẫn là chất béo và chứa nhiều năng lượng. Một muỗng canh dầu có khoảng 120 calorie. Nếu chỉ thêm vài muỗng dầu olive vào bữa ăn hiện tại mà không thay thế thứ gì khác, tổng năng lượng có thể tăng đáng kể.

Điểm quan trọng hơn là sự thay thế. Dùng dầu olive thay cho một phần bơ, mỡ động vật hoặc một số nguồn chất béo kém thuận lợi khác có ý nghĩa hơn so với việc giữ nguyên mọi thứ rồi uống thêm dầu olive.

Dầu olive có thể là một thực phẩm tốt. Nó không phải là thuốc trường sinh.

Thịt đỏ: không cần biến một món ăn thành kẻ thù

Trong dinh dưỡng, chúng ta thường thích chia thức ăn thành hai nhóm rất đơn giản: tốt và xấu. Thực tế phức tạp hơn.

Thịt đỏ cung cấp protein, sắt, vitamin B12 và nhiều chất dinh dưỡng khác. Vấn đề thường nằm ở số lượng, tần suất, loại thịt, cách chế biến và các thực phẩm mà nó thay thế.

Một phần thịt bò nạc thỉnh thoảng trong bữa ăn có nhiều rau, cá và đậu, khác với việc ăn ngày nào cũng ăn nhiều thịt đỏ.

Cũng cần phân biệt thịt đỏ với “thịt chế biến” (processed meat), tức là thịt đã được biến đổi bằng những phương pháp như ướp muối, hun khói hoặc thêm chất bảo quản để tăng hương vị hay kéo dài thời gian sử dụng. Bacon, hot dog, xúc xích và nhiều loại thịt nguội thuộc nhóm này.

Nói “hạn chế thịt chế biến” không có nghĩa là người Việt phải trở thành người ăn chay. Chúng ta đang nói về tỷ lệ và tần suất tiêu thụ thực phẩm trong cả chế độ ăn, không phải biến một món ăn thành kẻ thù.

Thực phẩm siêu chế biến là gì?

Một thuật ngữ ngày càng xuất hiện nhiều là “thực phẩm siêu chế biến” (ultra-processed foods).

Đây thường là những sản phẩm công nghiệp trải qua nhiều bước chế biến và chứa những thành phần ít khi được sử dụng trong căn bếp gia đình, chẳng hạn như một số chất tạo hương, tạo màu, chất nhũ hóa và các dạng đường, tinh bột hay chất béo đã được tinh chế.

Tuy nhiên, cần tránh một hiểu lầm khác: không phải cứ “chế biến” là xấu.

Sữa chua qua chế biến. Cá đóng hộp qua chế biến. Rau đông lạnh cũng qua chế biến. Những thực phẩm này vẫn có thể là thành phần hữu ích trong một chế độ ăn lành mạnh.

Điều đáng quan tâm hơn là khi một phần lớn năng lượng hàng ngày đến từ nước ngọt, bánh kẹo, chips, thức ăn nhanh, ngũ cốc ăn sáng chứa nhiều đường, thịt chế biến và nhiều loại snack công nghiệp.

Nhiều nghiên cứu quan sát cho thấy việc tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến có liên quan đến nguy cơ cao hơn đối với nhiều vấn đề sức khỏe. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn đang được nghiên cứu, và không nên đơn giản hóa rằng mọi thực phẩm được xếp vào cùng một nhóm đều có tác động giống hệt nhau.

Một nguyên tắc thực tế dễ nhớ hơn là: phần lớn thức ăn trong ngày nên đến từ những thực phẩm tương đối gần với nguyên liệu ban đầu của chúng.

Muối, đường và cách nấu cũng quan trọng

Một bữa ăn có nguyên liệu tốt vẫn có thể chứa quá nhiều muối hoặc đường.

Điều này đặc biệt đáng chú ý trong món Việt Nam vì nước mắm, nước tương, bột nêm và nhiều loại nước chấm có thể làm lượng sodium tăng lên khá nhanh. Sodium là thành phần chính trong muối ăn và nếu dùng quá nhiều có thể góp phần làm tăng huyết áp ở nhiều người.

Điều đó không có nghĩa là phải ăn hoàn toàn nhạt và mất hết hương vị. Mục tiêu là nhận biết rằng sodium không chỉ đến từ muối mà chúng ta nhìn thấy. Nó còn có trong nước chấm, thức ăn chế biến, đồ hộp, mì ăn liền và nhiều món ăn tại nhà hàng.

Đường cũng tương tự. Một chút đường trong nấu ăn khác với việc thường xuyên uống nước ngọt, trà sữa, cà phê chứa nhiều đường và ăn nhiều bánh kẹo.

Nhiều khi không cần một cách ăn mới. Chỉ cần giảm dần lượng muối, nước chấm, đường thêm vào và các đồ uống có đường đã là một thay đổi đáng kể.

Người Việt có cần bỏ cơm không?

Đây là một câu hỏi rất thường gặp, và câu trả lời ngắn gọn là: không phải tất cả mọi người đều cần bỏ cơm.

Cơm là nguồn carbohydrate và năng lượng quen thuộc của người Việt. Vấn đề thường không phải chỉ là “có ăn cơm hay không,” mà là ăn bao nhiêu, ăn cùng những gì và cơ thể của người đó xử lý carbohydrate như thế nào.

Một chén cơm trong bữa ăn có nhiều rau, cá hoặc đậu hũ khác với hai hay ba chén cơm trong bữa ăn ít rau rồi sau đó uống thêm nước ngọt.

Người vận động nhiều cũng khác với người gần như ngồi cả ngày. Người có đường huyết bình thường khác với người bị tiểu đường hoặc kháng insulin.

Gạo lứt và các loại ngũ cốc nguyên hạt thường giữ lại nhiều chất xơ và cấu trúc hạt hơn gạo trắng. Nhưng điều đó cũng không biến gạo lứt thành một loại thuốc và gạo trắng thành chất độc.

Nếu một người thích cơm trắng, câu hỏi thực tế hơn có thể là: Ăn bao nhiêu? Có thể tăng rau và protein phù hợp để giảm tỷ lệ cơm trong bữa ăn hay không? Sau bữa ăn có vận động không? Đường huyết và cân nặng hiện đang như thế nào?

Trong dinh dưỡng, câu trả lời tốt hiếm khi chỉ là “được ăn” hoặc “không được ăn.”

Không cần ăn hoàn hảo

Một vấn đề khác của các kiểu ăn hiện đại là chúng có thể khiến người ta cảm thấy việc ăn uống trở nên quá phức tạp.

Hôm nay nghe nói carbohydrate xấu.

Ngày mai nghe nói chất béo xấu.

Hôm sau lại nghe về một loại trái cây hay thực phẩm bổ sung mới có thể giúp sống lâu.

Kết quả là nhiều người không biết nên tin ai.

Có lẽ chúng ta nên trở lại một số nguyên tắc đơn giản hơn: ăn nhiều thực phẩm thực vật và rau, có nguồn protein thích hợp, ăn cá và các loại đậu thường xuyên, dùng trái cây nguyên dạng, hạn chế thịt chế biến và thực phẩm siêu chế biến, giảm đồ uống có đường, chú ý lượng muối và đừng ăn quá nhiều chỉ vì một món được gọi là “tốt.”

Không cần mỗi bữa ăn đều hoàn hảo.

Nếu phần lớn những gì chúng ta ăn trong nhiều năm là hợp lý, thì một bữa tiệc, một tô phở hay một miếng bánh sinh nhật thỉnh thoảng không phá hủy sức khỏe.

Một cách ăn tốt phải là cách mà chúng ta có thể sống cùng, chứ không phải một hình phạt mà chúng ta cố chịu đựng.

Một bữa cơm Việt Nam hoàn toàn có thể là một bữa ăn tốt

Hãy tưởng tượng một bữa cơm rất bình thường: một phần cá hấp hoặc cá kho, một đĩa rau, một tô canh, có thể thêm đậu hũ, một lượng cơm vừa phải và một phần trái cây sau bữa ăn.

Không cần avocado, quinoa hay kale. Không cần phải gọi nó là Mediterranean diet.

Nếu tổng thể cách ăn có nhiều rau, cá, đậu và những thực phẩm ít chế biến; có lượng tinh bột phù hợp; ít thịt chế biến, ít đường thêm vào và không quá nhiều muối, thì chúng ta đang đi theo một hướng khá gần với những mô hình ăn uống có bằng chứng tốt hiện nay.

Đây cũng là một điều đáng mừng.

Ăn uống lành mạnh không nhất thiết có nghĩa là phải từ bỏ văn hóa ăn uống của mình. Chúng ta có thể giữ những món đã ăn từ nhỏ và điều chỉnh tỷ lệ, nguyên liệu cũng như cách chế biến.

Nhưng ăn đúng món vẫn chưa đủ

Cho đến đây, chúng ta chủ yếu trả lời câu hỏi: “Nên ăn gì?”

Nhưng một người có thể ăn toàn những thực phẩm được xem là tốt mà vẫn ăn quá nhiều. Ngược lại, một người lớn tuổi có thể quá sợ tăng cân, ăn quá ít và dần mất cơ bắp.

Vì vậy còn một câu hỏi khó hơn:

Nên ăn bao nhiêu?

Và câu hỏi này trở nên đặc biệt quan trọng khi chúng ta lớn tuổi.

Trong nghiên cứu về lão hóa, “hạn chế năng lượng” (calorie restriction), nghĩa là giảm lượng năng lượng tiêu thụ nhưng vẫn phải bảo đảm đủ dưỡng chất, đã kéo dài tuổi thọ ở một số loài động vật. Ở con người, những nghiên cứu như CALERIE cũng cho thấy một số thay đổi đáng chú ý về chuyển hóa và một số dấu ấn liên quan đến tốc độ lão hóa.

Nhưng điều đó không có nghĩa là càng ăn ít càng sống lâu.

Nhịn ăn gián đoạn (intermittent fasting), chẳng hạn chỉ ăn trong một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày, cũng đang được nghiên cứu rất nhiều. Nhưng liệu nhịn 16 giờ và ăn trong 8 giờ có thật sự giúp con người sống lâu hơn hay chủ yếu chỉ giúp một số người kiểm soát lượng thức ăn và cân nặng tốt hơn?

Và sau tuổi 65, chúng ta còn phải đối diện với một vấn đề ngược lại: nếu giảm cân bằng cách ăn quá ít, chúng ta có thể mất cả cơ bắp. Cân nhẹ hơn nhưng người yếu hơn chưa chắc đã là thành công. [dt]

(Còn tiếp)

Tài liệu tham khảo

1-Estruch R, Ros E, Salas-Salvado J, và cộng sự. Primary Prevention of Cardiovascular Disease with a Mediterranean Diet Supplemented with Extra-Virgin Olive Oil or Nuts. New England Journal of Medicine. 2018;378.
2-Ahmad S, Moorthy MV, Lee IM, và cộng sự. Mediterranean Diet Adherence and Risk of All-Cause Mortality in Women. JAMA Network Open. 2024;7.
3-U.S. Department of Health and Human Services và U.S. Department of Agriculture. Dietary Guidelines for Americans, 2020–2025.
4-World Health Organization. Healthy Diet (Tổ Chức Y Tế Thế Giới).
5-Lane MM, Gamage E, Du S, và cộng sự. Ultra-processed food exposure and adverse health outcomes: umbrella review of epidemiological meta-analyses. BMJ. 2024;384.
6-National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine. Dietary Reference Intakes for Sodium and Potassium. National Academies Press. 2019.
7-National Institutes of Health, National Heart, Lung, and Blood Institute. Heart-Healthy Eating.
8-Kraus WE, Bhapkar M, Huffman KM, và cộng sự. 2 years of calorie restriction and cardiometabolic risk: exploratory outcomes of a multicentre, phase 2, randomised controlled trial. Lancet Diabetes & Endocrinology. 2019;7:673–683.
9-Waziry R, Ryan CP, Corcoran DL, và cộng sự. Effect of long-term caloric restriction on DNA methylation measures of biological aging in healthy adults from the CALERIE trial. Nature Aging. 2023;3:248–257.
10-de Cabo R, Mattson MP. Effects of Intermittent Fasting on Health, Aging, and Disease. New England Journal of Medicine. 2019;381:2541–2551.


 

Nói với Tù nhân Lương tâm – Mai Thanh Truyết

 Mai Thanh Truyết

Xin nói ngay, đó là vấn đề “giao tiếp” giữa người Việt hải ngoại và những “người tù lương tâm”, hay người tranh đấu trong nước “bị” cộng sản Việt Nam “tống khứ’ ra hải ngoại. Dường như, nhiều người Việt hải ngoại cảm thấy có “cái gì lấn cấn” trong giao tiếp đó?  Bài viết xin bàn về vấn đề nầy qua những suy nghĩ chủ quan của người viết. 

***

Phải thành thật mà nói, cái “lấn cấn” nêu trên là có thật, nhưng nó không đơn thuần là vấn đề khác quan điểm chính trị, mà nó nằm sâu hơn trong khoảng cách và không gian giữa hai bên thường không cùng đứng trên một “điểm chung” về ký ức, ngôn ngữ và cảm xúc khi giao tiếp với nhau.

Những ngăn cách ở hai đầu cầu

1- Một bên nói bằng “ký ức”, một bên nghe bằng “kinh nghiệm”: Số đông người Việt hải ngoại mang theo những ký ức đau thương về ngày 30/4/1975, về mất nước, mất nhà, về tù cải tạo, vượt biên, chia lìa gia đình, mất mát tài sản. Trong khi đó, một người sinh ra hoặc lớn lên ở Việt Nam sau 1975 có thể nhìn lịch sử qua một hệ thống giáo dục, xã hội và trải nghiệm hoàn toàn khác dưới thể chế “xã hội chủ nghĩa”.

Vì vậy, cùng một chữ như “giải phóng”, “quốc gia”, “cộng sản”, “hòa hợp”, “tự do”, “quê hương” nhưng hai người có thể nghe thấy hai ý nghĩa khác nhau. Không phải họ không hiểu tiếng Việt; nhưng họ không cùng hiểu “ý nghĩa phía sau tiếng Việt” xuyên qua những từ ngữ trên!

2- Có một khoảng cách giữa “người ra đi” và “người ở lại”: Đây có lẽ là điểm chúng ta cùng cảm thấy rõ nhất. Người ra đi thường mang trong mình câu chuyện đã bị đẩy ra khỏi quê hương. Nếu nói về người Việt rời Việt Nam sau 1975, thì có những người ra đi trong hoàn cảnh bị cưỡng bức, có người vượt biên, có người đi diện HO, có người đoàn tụ gia đình, có người ra đi vì lý do kinh tế hoặc nghề nghiệp. Đứng về mặt tâm lý, những người cảm thấy mình bị đẩy khỏi quê hương, chữ “quê hương” sau đó không còn chỉ là một địa danh, mà trở thành một phần căn cước tị nạn.

Ngược lại, người ở lại sau 30/4/1975 hay những người sinh đẻ sau ngày trên có thể mang câu chuyện kể về … một người đã sống trong quê hương đó suốt mấy chục năm. Vì vậy, khi người trong nước nói về Việt Nam hôm nay, họ có thể không chỉ đang nói về một đất nước hiện tại, họ đang chạm vào một Việt Nam mà người kia đã mất.

Đây là lý do một câu nói tưởng như rất bình thường đôi khi lại tạo ra phản ứng rất mạnh.

Người hải ngoại có thể nghĩ: “Anh không hiểu những gì chúng tôi đã trải qua.” Người trong nước có thể nghĩ: “Các anh đã đi rồi, các anh đâu biết chúng tôi đã sống như thế nào sau đó.” Cả hai câu ấy đều là những trải nghiệm cá nhân. Nhưng khi gặp nhau, nếu mỗi bên lấy trải nghiệm riêng của mình làm thước đo duy nhất của lịch sử, chắc chắn cuộc đối thoại rất dễ bị khựng lại.

Đó chính là một khoảng trống kinh nghiệm, một cách ngăn vô tình và vô hình…

3- Cả hai bên thường nói chuyện với một “hình ảnh” chứ không nói với con người trước mặt: Người hải ngoại đôi khi không nhìn người Việt trong nước như một cá nhân cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người trong chế độ”. Ngược lại, người trong nước đôi khi cũng không nhìn người hải ngoại như một người Việt cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người chống cộng”, “người bỏ nước ra đi”, hoặc “người Mỹ gốc Việt”.

Vì vậy, người A không còn nói chuyện với người B, mà người A nói chuyện với một hình ảnh mà mình đã dựng lên về người B.

Và cuộc giao tiếp hay đối thoại bắt đầu bế tắc ngay từ đầu…

4- Làm sao để hai người không đồng ý với nhau vẫn có thể nói chuyện với nhau như những người Việt Nam: Một sự giao tiếp giữa hai bên cần được giải tỏa những ức chế trên. Thông cảm nhau trong đối thoại không nhất thiết có nghĩa là xóa ký ức, cũng không có nghĩa là bắt người này phải tha thứ cho người kia, càng không có nghĩa là viết lại lịch sử để … cùng nghe với nhau.

The bridge doesn’t stop the river from flowing.

It simply gives us a way to cross it.

Nhưng mà là, tôi chấp nhận rằng anh có một lịch sử cá nhân khác tôi, và tôi vẫn muốn nghe anh nói. Từ đó mới có thể đi đến bước thứ hai là anh nghe câu chuyện của tôi, tôi nghe câu chuyện của anh. Từ đó, mới có thể có bước thứ ba: “Chúng ta thử tìm xem, ngoài những điều đã chia cắt chúng ta, còn điều gì thuộc về cả hai.”

Và đây, chính là khái niệm về “Một Nhịp Cầu Cho Tương Lai Việt Nam”, và cây cầu ấy, không nên được xây bằng cách bắt hai đầu cầu phải giống nhau. Nó được xây bằng cách tạo ra một “khoảng giữa”, nơi người đã ra đi và người ở lại có thể bước đến mà không phải từ bỏ ký ức, căn cước hay niềm tin của mình. Và, khoảng giữa cầu, chính là nơi “dung chứa” tuổi trẻ Việt, những Gen Z Việt cùng đi xây một Việt Nam tương lai.

Chiếc cầu Việt Nam tương lai

1- Hòa hợp không phải là “anh phải nghĩ giống tôi”: Câu chuyện Việt Nam đã được tạo ra qua nhiều biến cố lịch sử đau thương, do đó, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh thường có một phản xạ tự nhiên nhưng khác nhau qua cách nhìn. Một người từng trải qua tù đày có quyền nhìn lịch sử khác hơn một người chưa từng trải qua tù đày. Một người đã vượt biển có quyền nhìn năm 1975 khác một người sinh ra năm 1995. Một người lớn lên ở Việt Nam sau 1975 cũng có quyền nhìn đất nước của mình bằng những kinh nghiệm mà người ra đi trước đó không có.

Vì vậy, không có ai cần phải từ bỏ ký ức của mình để bắt đầu đối thoại. Sự việc “Không đồng ý” và “không thể nói chuyện” là hai chuyện khác nhau.

Anh có thể không đồng ý về nguyên nhân của 30/4/1975; không đồng ý về chế độ chính trị; không đồng ý về cách đánh giá lịch sử; không đồng ý về tương lai Việt Nam; nhưng anh vẫn có thể ngồi cùng một bàn với những người bạn ở Việt Nam.

Đó mới là một xã hội trưởng thành. Một cuộc đối thoại tốt không phải là cuộc đối thoại mà cuối cùng cả hai cùng nói: “Bây giờ tôi hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.” Đây có lẽ là một nguyên tắc rất đáng để đặt vào trọng tâm của vấn đề hòa hợp dân tộc.

2- Điều cần thay đổi trước tiên là “tư thế” khi bước vào cuộc đối thoại: Khi bắt đầu cuộc đối thoại giữa hai bên, trong và ngoài nước, những câu mào đầu rất quan trọng. Nếu một bên bước vào với một tâm thế giải thích sự thật lịch sử… có lẽ, phía bên kia, trong tư thế phòng thủ, sẽ nghĩ ngay rằng “bên kia muốn dạy mình, muốn tuyên truyền…’Và câu chuyện trở nên tẽ nhạt, bế tắc.

Ngược lại, nếu hai bên bước vào bằng câu chào hỏi là “Tôi muốn nghe anh đã sống ở Hoa Kỳ hay Việt Nam như thế nào”, chắc chắn bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn. Đây không phải là kỹ thuật ngoại giao, mà là sự tôn trọng kinh nghiệm của một con người.

3- “Đối thoại lịch sử” và “Đối thoại con người”: Đối thoại lịch sử sẽ hỏi: Ai đúng? Ai sai? Ai gây ra điều gì? Ai phải chịu trách nhiệm? Những câu hỏi ấy cần thiết, vì lịch sử không thể bị xóa bỏ. Nhưng nếu chúng ta chỉ bắt đầu bằng những câu hỏi ấy, chúng ta rất dễ quay trở lại cuộc chiến của ký ức. Chiếc cầu quê hương vẫn còn lững lờ chưa nối được hai đầu.

Nhưng nếu đối thoại giữa hai bên, người Việt trong và ngoài nước bắt đầu bằng những câu khác như: Anh đã sống qua những gì? Gia đình anh đã mất những gì? Điều gì làm anh đau nhất? Điều gì anh vẫn còn hy vọng? Anh muốn Việt Nam của con cháu mình sẽ như thế nào? Đến đây, sẽ có một điều rất lạ có thể hiện ra là hai người bất đồng về quá khứ nhưng có thể phát hiện họ có một phần tương đồng rất lớn về tương lai của con cái.

4- “Khoảng giữa” của một chiếc cầu tương lai: Chúng ta đã thấy hai bên bờ của chiếc cầu: Một bên là ký ức lịch sử, còn một bên là hiện tại. Nhưng cây cầu không nhất thiết phải nằm ở giữa lịch sử và hiện tại. Cây cầu phải nằm ở tương lai. Chúng ta có thể cùng nghĩ xem con cháu chúng ta muốn một Việt Nam như thế nào.

Đó chính là bước chuyển từ “lịch sử của chúng ta” sang “tương lai của tất cả chúng ta”. Nhưng có một điều kiện rất quan trọng là chúng ta không được dùng “tương lai” để xóa “quá khứ” đi. Vì quá khứ là một ký ức lịch sử đã hằn sâu trong tâm khảm của người Việt hải ngoại, một giai đoạn lịch sử dân tộc.

Chấp nhận quá khứ, chấp nhận sai lầm trong quản lý … để cùng xây dựng chiếc cầu tương lai cho tuổi trẻ!

Và đó là một cây cầu giúp những con người có những ký ức khác nhau cùng trở lại nhận ra mình vẫn có một phần tương lai chung. Chắc chắn, chiếc cầu nối tương lai sẽ được TUỔi TRẺ Việt thênh thang đón chào.

Câu chuyện tiếp xúc với những “tù nhân lương tâm”

 Qua kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều người mang danh là “tù nhân lương tâm” trẻ tại Mỹ, tình thân tương đối “nặng”, đến mời nhau đến nhà ăn cơm, trao đổi trong thân tình. Mà sao, tôi vẫn thấy có một “cái gì” (tôi không biết?) cách xa, ngờ ngợ. Trong câu chuyện, đôi khi tôi cảm nhận được sự dè dặt của họ. Trái lại, tôi rất cởi mở, nhứt là đối với một số tuổi trẻ ở Houston (xin miễn nêu tên). Tại sao họ phải dè dặt như vậy? Sao họ không dám “mở lòng” để cùng nhau nói về chuyện Đất và Nước.

 Tôi hỏi ý kiến của AI, và được trả lời như sau: “Thưa anh, sau khi đọc kỹ câu hỏi của anh, tôi nghĩ cái “ngờ ngợ” anh cảm nhận không nhất thiết có nghĩa là họ không tin anh. Có thể chính anh đang chạm vào một lớp tâm lý rất sâu của những người đã từng hoạt động đối kháng trong nước, rồi ra hải ngoại. Tôi xin phân tích, nhưng phải nói rõ: không thể biết động cơ riêng của những bạn trẻ trên ra sao, nếu chính họ chưa nói ra. Vì vậy, dưới đây là những khả năng tâm lý–xã hội có thể giải thích hiện tượng anh quan sát, chứ không phải kết luận về từng người.

  •     Người từng sống trong môi trường phải “giữ miệng” rất lâu có thể không bỏ thói quen đó ngay. Đây có lẽ là khả năng đầu tiên tôi nghĩ đến. Một người hoạt động trong nước, đặc biệt là người từng bị bắt, bị thẩm vấn, bị quản chế hoặc bị theo dõi, có thể đã hình thành một nguyên tắc sinh tồn là không phải điều gì mình nghĩ cũng nói ra. Không phải với ai cũng nói hết. Các tài liệu về những người mà anh nêu cho thấy họ từng nằm trong nhóm các nhà hoạt động bị bắt, giam hoặc chịu các hạn chế sau khi ra tù. Điều này rất khác với một người như anh, đã sống nhiều năm trong một môi trường mà phát biểu ý kiến chính trị là một quyền bình thường. Cho nên anh có thể bước vào bữa cơm với tâm thế: “Chúng ta là người Việt với nhau, cứ nói chuyện thật lòng.” Còn người đối diện có thể vô thức vẫn có một cái “thắng”: “Nói đến đâu? Nói với ai? Người này thực sự muốn biết điều gì?” Cái thắng ấy có thể tồn tại ngay cả khi họ quý trọng anh.

      Còn một điều sâu thẳm hơn là họ có thể chưa biết anh thuộc “ngăn” nào. Đây là điều tôi nghĩ anh nên đặc biệt lưu ý. Anh là một người Việt hải ngoại nhưng không hoàn toàn nằm trong hình ảnh “người Việt hải ngoại” mà một người trẻ từ Việt Nam thường hình dung. Anh có lịch sử, quan điểm, trải nghiệm và cách nhìn riêng. Nhưng họ chưa chắc biết hết điều đó. Trong vài lần gặp đầu tiên, họ có thể tự hỏi: “Ông này muốn tìm hiểu mình thật hay muốn tìm hiểu hoạt động của mình?” “Ông ấy muốn nghe câu chuyện của mình hay muốn biết mình nghĩ gì về cộng đồng hải ngoại?” “Nếu mình nói thật, câu chuyện này sẽ được sử dụng như thế nào?” Không cần phải có sự nghi ngờ cá nhân mới xuất hiện những câu hỏi đó. Chỉ cần quá khứ của họ đã dạy họ phải thận trọng. 

  •     Và tôi nghĩ có một nghịch lý rất thú vị là chính sự cởi mở của anh đôi khi có thể làm họ… dè dặt hơn. Điều này nghe có vẻ ngược đời. Anh nói: “Tôi rất cởi mở.” Nhưng người đối diện chưa chắc đã có cùng tốc độ mở lòng. Anh có thể mở cửa 90% ngay từ đầu. Họ có thể chỉ mở 20%, quan sát một thời gian, rồi mới lên 40%, 60%… Không phải vì họ không thích anh. Mà vì cơ chế tin tưởng của hai người được hình thành trong hai hoàn cảnh khác nhau.

Anh có thể nghĩ: “Tôi đã mở lòng với anh rồi, tại sao anh chưa mở lòng với tôi?” Còn họ có thể nghĩ: “Ông ấy rất cởi mở, nhưng mình cần thời gian để biết sự cởi mở ấy đi đến đâu.” Đây là hai trạng thái tâm lý hoàn toàn có thể cùng tồn tại.

  •     Tôi còn nghĩ có một “khoảng cách thế hệ” mà anh có thể chưa nhìn thấy. Anh nói rất hay: “Nhứt là đối với tuổi trẻ.” Nhưng chính chữ “tuổi trẻ” có thể là một phần của câu chuyện. Anh thuộc một thế hệ Việt Nam đã trải qua những biến cố lịch sử rất lớn và có một ký ức dài về Việt Nam. Những người anh gặp có thể thuộc một thế hệ khác. Họ có thể không muốn bị đặt vào câu chuyện: “Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản – 1975 – hải ngoại – quốc nội.”

Trong khi đối với anh, những vấn đề đó là một phần tự nhiên của câu chuyện Đất và Nước. Họ có thể muốn nói: “Tôi đấu tranh cho quyền con người.” “Tôi muốn đất nước thay đổi.” “Tôi muốn có tự do.” Nhưng khi câu chuyện chuyển sang “Đất và Nước”, họ có thể cảm thấy mình đang bước vào một vùng lịch sử rất rộng và rất nhạy cảm. Và họ lại dè dặt.

  •     Một điểm tôi nghĩ rất đáng chú ý: “tù nhân lương tâm” có thể là một căn cước mà họ không muốn mang vào bàn ăn. Tôi không nói họ không tự hào về những gì mình đã làm. Nhưng khi một người đã được cộng đồng hải ngoại biết đến chánh yếu qua danh xưng “tù nhân lương tâm”, thì người khác rất dễ tiếp xúc với họ trước hết như một biểu tượng chính trị. Trong khi họ có thể chỉ muốn được nhìn như một người mẹ, một người cha, một người trẻ, một người Việt Nam, một con người có những vui buồn riêng.

Các tổ chức và truyền thông hải ngoại trong nhiều năm đã dùng danh xưng này trong những chiến dịch vận động và tưởng niệm. Cho nên có thể họ có một nhu cầu rất tự nhiên: “Xin đừng biến tôi thành một biểu tượng. Hãy nói chuyện với tôi như một con người bình thường.”

Nếu đúng như vậy, thì bữa cơm gia đình, chuyện đời thường, chuyện con cái, chuyện quê hương… đôi khi lại là con đường gần nhất để họ mở lòng.

  •                 Và có một lý do khác mà tôi nghĩ anh nên để ý là họ có thể sợ làm anh thất vọng. Điều này không thể biết nếu chưa hỏi họ, nhưng về mặt tâm lý nó hoàn toàn có thể xảy ra. Một người trẻ từ Việt Nam gặp một người lớn tuổi hải ngoại có lịch sử hoạt động lâu dài, có kiến thức và có những quan niệm rất rõ về Việt Nam. Họ có thể nghĩ: “Ông ấy kỳ vọng mình phải nghĩ thế này.” trong khi anh lại không hề có ý đó. Anh chỉ muốn nghe họ nói mà thôi, nhưng họ không biết. Và thế là anh càng muốn họ nói thật, thì họ càng sợ nói sai, và chính điều này làm cho họ càng dè dặt. Đây là một nghịch lý rất đẹp nhưng cũng rất buồn của việc giao tiếp.

Và AI kết luận: Khi gặp một người Việt trẻ hôm nay, anh có thể vô thức đặt họ vào một câu chuyện mà họ không hoàn toàn thuộc về: 1975 – hải ngoại – cộng sản – chống cộng – hòa hợp – Việt Nam. Trong khi một người trẻ có thể đang nghĩ: công việc, lo cho gia đình, nghĩ đến tự do cá nhân, cùng chuẩn bị cho tương lai, v.v.

Cả hai người cùng yêu Việt Nam, nhưng “bản đồ hay lộ trình” trong tâm khảm hoàn toàn khác nhau. Đây có lẽ là điều anh đang gặp ở một số người trẻ mà anh vừa nói.

Có lẽ, AI nghĩ đúng tâm lý của các em tù nhân lương tâm trên. Quý vị thấy thế nào? 

Suy nghiệm bản thân

Riêng đối với người viết, sở dĩ những bạn trẻ “tù nhân lương tâm” “sợ” hay “e ngại” tiếp xúc, hay “tâm sự” với người Việt hải ngoại, nhứt là những người đang tranh đấu cho một Việt Nam tương lai.

  •     Có lẽ, họ sợ vì có mang một định kiến (không dám nói là đúng hay sai) là người Việt hải ngoại “coi” họ tranh đấu trong nước là chỉ mong cầu được “một cái vé máy bay một chiều” đẩy ra ngoại quốc mà thôi!
  •     Không kể một lý do đời sống khác là việc cả gia đình bước vào một vùng đất lạ, với bao lo âu về cơm áo gạo tiền…Họ không còn đầu óc nào để suy nghĩ thêm về tương lai…đất nước (?)
  •     Thêm một điểm tế nhị nữa là họ còn có gia đình, cha mẹ, anh em, người thân cật ruột trong nước. Họ e sợ những sinh hoạt tranh đấu (?) ở hải ngoại sẽ ảnh hưởng đến an ninh của người thân.

Qua trên, có lẽ giải thích được phần nào lý do những người tù lương tâm e ngại sự tiếp xúc với người Việt hải ngoại. Riêng người viết, thiết nghĩ, với tư thế của một người ở thế hệ I, đang đi tìm một cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, trong khi họ có thể vẫn đang nhìn tôi như một người của một thế hệ trước. Tôi nhìn thấy tôi đang đứng trong một tư thế hết sức đặc biệt, đặc biệt ở chỗ đứng, một chân trong thế kỷ XX, và một chân trong thế kỷ XXI. Nếu tôi dùng suy nghĩ và ký ức của thế kỷ XX để đặt những câu hỏi về tương lai của các cháu qua thế kỷ XXI, thì thiết nghĩ, cuộc đối thoại có lẽ suôn sẻ hơn, thấm tình dân tộc hơn chăng?

Và có lẽ câu hỏi lớn nhất mà tôi nên đặt cho những người trẻ ấy phải chăng là: “Nếu không phải sống với những gì thế hệ của cha, chú đã sống, thì các cháu muốn xây dựng Việt Nam như thế nào?”

Tôi tin câu hỏi nầy có thể khơi mở được một cánh cửa cho tuổi trẻ mà những câu hỏi về quá khứ chưa mở được. Và có lẽ, tôi vừa hoàn tất phần việc của mình rồi.

Đã đến giờ trao cây đuốc cho người trẻ rồi, đứng sang một bên!

Mai Thanh Truyết

Tiết Thu Houston – 10-2026


 

Bí quyết sống hoà hợp với người khó tính

Sống với người khó ở, khó tính làm sao sống hoà thuận.

GEMINI trả lời:

Sống chung hoặc làm việc với một người khó tính, khó chiều luôn là một thử thách lớn, dễ khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi, ức chế và căng thẳng. Tuy nhiên, thay vì tìm cách “cảm hóa” hay thay đổi họ—vốn là điều rất khó hoặc bất khả thi—chúng ta có thể thay đổi cách ứng xử để bảo vệ năng lượng bản thân và duy trì sự hòa thuận.

Dưới đây là một số cách hiệu quả để ứng phó và chung sống hòa bình với người khó tính:

1. Thay đổi tư duy và góc nhìn

  • Hiểu rằng vấn đề nằm ở họ, không phải ở bạn: Sự khó chịu, phàn xét hay cay nghiệt của họ thường bắt nguồn từ áp lực cá nhân, tính cách lâu năm, hoặc sự bất như ý trong cuộc sống của chính họ, chứ không phải vì bạn dở. Đừng vơ mọi chỉ trích vào lòng hay tự dằn vặt bản thân.
  • Hạ kỳ vọng: Đừng kỳ vọng một người khó tính bỗng dưng trở nên dễ chịu, cởi mở hay ngọt ngào. Khi không đặt kỳ vọng quá cao, bạn sẽ bớt thất vọng và dễ dàng mỉm cười cho qua hơn khi họ cằn nhằn.

2. Kỹ thuật giao tiếp và ứng xử

  • Giữ vững bình tĩnh (Không “bật” lại ngay lập tức): Khi họ bắt đầu phàn nàn hoặc gây sự, phản ứng bốc đồng hoặc cãi tay đôi chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Sự bình tĩnh và im lặng của bạn chính là “gáo nước lạnh” dập tắt cơn khó ở của họ.
  • Lắng nghe nhưng không thấm vào người (Active Listening): Đôi khi họ chỉ muốn xả sự bực dọc hoặc muốn tỏ ra mình quan trọng. Hãy để họ nói hết, gật đầu cho qua chuyện mà không cần phải tranh cãi đúng sai trong những chuyện nhỏ nhặt.
  • Đặt ranh giới rõ ràng: Nếu sự khó tính của họ biến thành sự xúc phạm, công kích cá nhân hoặc thao túng tâm lý, bạn cần lịch sự nhưng kiên quyết vạch ranh giới. Ví dụ: “Con sẵn sàng lắng nghe khi bố/mẹ/anh/chị bình tĩnh hơn, nhưng con không tiếp nhận cách nói chuyện nặng lời này.”

3. Chủ động tạo khoảng cách và bảo vệ năng lượng

  • Giới hạn thời gian tiếp xúc: Nếu đó là người thân hoặc đồng nghiệp mà bạn bắt buộc phải gặp mỗi ngày, hãy cố gắng thu hẹp thời gian tương tác ở mức cần thiết cho công việc hoặc sinh hoạt chung.
  • Tách biệt cảm xúc (Detachment): Hãy xem họ như một “thời tiết xấu” trong ngày. Bạn biết trời đang mưa hoặc gió bão, bạn không ghét cơn bão, bạn chỉ đơn giản là mặc áo mưa hoặc ở trong nhà để không bị ướt. Đừng để cảm xúc của họ chi phối tâm trạng của bạn.

4. Tìm kiếm điểm chung và sự tích cực

  • Tập trung vào khía cạnh khác: Hầu hết những người khó tính vẫn có những ưu điểm khác như trách nhiệm, sự cẩn thận hoặc khả năng lo toan. Hãy nhìn vào những điểm tốt đó để dễ bề dung hòa.
  • Khen ngợi đúng lúc: Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng những người khó tính thường là những người thiếu sự công nhận hoặc luôn bất an. Đôi khi, một lời công nhận chân thành cho việc họ làm tốt (dù rất nhỏ) có thể làm họ mềm lòng và bớt gai góc đi rất nhiều.

“Tuổi già là thời sung sướng nhất”- Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Xuân Hồng 

 BS Đỗ Hồng Ngọc

…Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan, cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.

Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cộng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

…Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. Mối lo âu về tài chánh cũng nhẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược, chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để được về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ, mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Người trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuộc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó

Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?

Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,

Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…


 

GIỮ HẠT HAY GIỮ MÙA? – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác!”.

“Hạt giống không bao giờ thấy được bông lúa!” – Albert Schweitzer.

Kính thưa Anh Chị em,

Người nông dân không gieo hạt vì yêu hạt; ông gieo hạt vì yêu mùa. Hạt lúa chỉ đứng trước một chọn lựa: giữ lấy hay trao hiến mình.

Tin Mừng hôm nay đặt cho mỗi người chúng ta một câu hỏi: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’.

Khi nghe dụ ngôn hạt lúa, chúng ta khó tìm được ai hiểu lời Chúa Giêsu sâu xa hơn Ignatiô Antiôkia. Trên đường ra pháp trường, ngài tự ví mình là “lúa mì của Thiên Chúa”. Ignatiô hiểu rằng hạt lúa chỉ hoàn thành ơn gọi của nó khi chấp nhận rơi xuống đất.

Vì thế, điều Ignatiô tìm kiếm không phải là sống lâu hơn, nhưng là sinh nhiều hoa trái hơn.

Thật nghịch lý: hạt lúa không bao giờ nhìn thấy ngày mùa mà nó làm nên; nó chết đi trong lòng đất, đồng lúa mới ra đời nhiều tháng sau đó. Cũng vậy, khi bước vào đấu trường Rôma, Ignatiô không thấy được những thế hệ Kitô hữu sẽ được nâng đỡ bởi chứng tá của mình. Mùa gặt luôn thuộc về tương lai; người gieo không gặt vào ngày vãi. Hạt giống sống cho một mùa gặt không thuộc về mình; người môn đệ đích thực không sống bằng điều trước mắt, mà bằng hoa trái Thiên Chúa cho trổ sinh từ sự trao hiến của họ.

Phaolô nhắc:“Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời”

– bài đọc một. Niềm hy vọng ấy không khiến chúng ta coi nhẹ đời này; nó giúp chúng ta trao hiến mà không đòi thấy ngay kết quả. Ignatiô có thể mất sự sống nơi đấu trường, nhưng không mất Đấng mình thuộc về. Người môn đệ cũng có thể ra đi khi công việc còn dở dang; phần còn lại, họ phó cho Thiên Chúa. “Đây là thời gieo, không phải thời gặt. Thiên Chúa đang gieo; ngày kia Ngài sẽ gặt. Phần tôi, tôi chỉ cố trở thành một hạt giống tốt, rơi vào lòng đất và trong tay Ngài!” – Alfred Delp.

Phần chúng ta , đấu trường có thể không phải là Rôma, nhưng là gia đình, cộng đoàn hay công việc mỗi ngày. Chính ở đó, chúng ta phải đối diện với những chọn lựa rất nhỏ nhưng rất thật: giữ lại hay trao đi thời gian; giữ lại hay trao đi khả năng; giữ lấy mình hay sống cho người khác.

Có khi chúng ta giữ được một buổi sáng yên hàn, nhưng để một người anh em đang cần mình phải đợi.

Hạt vẫn còn nguyên trong tay; mùa chẳng có gì để hái.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là hạt lúa đầu tiên rơi vào lòng đất. Trên thập giá, người ta chỉ thấy một sự sống tàn lụi; từ ngôi mộ trống, cả một mùa lúa chín mới mở ra. Hội Thánh, các vị tử đạo và mỗi người chúng ta là những bông lúa mọc lên từ Hạt Lúa ấy. Qua bao thế hệ, đồng lúa vẫn lan xa; nơi tưởng chỉ còn cái chết, sự sống đã vàng rộ. Đức Kitô mời chúng ta tiếp tục gieo hạt lúa đời mình vào đồng lúa ấy, để còn có những mùa sau. Trong Ngài, câu hỏi vẫn là: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’. “Con người không thể tìm thấy chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến mình cho người khác!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mở tay con để trao điều đang giữ; mở lòng con để tin vào mùa hái; cho con dám gieo cả đời mình trong Ngài – rồi mùa sẽ đến!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thánh IGNATIÔ ANTIÔKIA, giám mục, tử đạo, 

17/10 – Thứ Bảy Tuần XXVIII Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/17.html

Nếu hạt lúa chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”