BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – KHI TÂM HỒN ĐƯỢC Ở LẠI TRONG TRÁI TIM THIÊN CHÚA

Anmai CSsR

 BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – KHI TÂM HỒN ĐƯỢC Ở LẠI TRONG TRÁI TIM THIÊN CHÚA

(Ga 14, 27-31a)

Bình an – hai tiếng nghe rất quen, rất gần, nhưng cũng rất xa. Quen bởi vì ai cũng nói đến, cũng chúc cho nhau: chúc bình an, cầu bình an, tìm bình an. Nhưng lại xa, bởi vì càng tìm, con người dường như càng cảm thấy nó vuột khỏi tầm tay. Bình an trở thành một điều vừa thiết yếu nhất, vừa mong manh nhất trong cuộc đời con người.

Từ thuở xa xưa cho đến hôm nay, từ những đế quốc hùng mạnh cho đến những gia đình nhỏ bé, từ những người quyền lực đến những con người bình thường, ai cũng khao khát bình an. Người ta xây dựng hệ thống luật pháp, phát triển khoa học, tích lũy của cải, thiết lập các tổ chức xã hội… tất cả cũng chỉ nhằm một điều: tìm kiếm sự ổn định, sự bảo đảm, và cuối cùng là một trạng thái gọi là “bình an”.

Nhưng điều đáng nói là: càng cố gắng xây dựng bình an theo cách của con người, thì con người lại càng cảm thấy bất an. Chiến tranh này qua chiến tranh khác. Bạo lực này nối tiếp bạo lực kia. Bệnh tật cũ chưa qua, bệnh mới đã tới. Những nỗi lo không còn chỉ ở bên ngoài, mà len lỏi sâu vào bên trong: lo âu, trầm cảm, sợ hãi, cô đơn… như những căn bệnh vô hình nhưng lại tàn phá con người cách âm thầm và dai dẳng.

Điều đó cho thấy một sự thật: bình an mà con người tự tạo dựng chỉ là một lớp vỏ mỏng manh. Nó có thể làm dịu đi phần nào những xáo trộn bên ngoài, nhưng không thể chạm đến tận đáy sâu của tâm hồn. Nó giống như một mặt hồ phẳng lặng trong chốc lát, nhưng bên dưới vẫn là những dòng xoáy ngầm đang cuộn chảy.

Chính trong bối cảnh đó, lời của Đức Giêsu vang lên trong bữa Tiệc Ly trở nên vừa tha thiết, vừa đầy sức nặng:

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng.”

Đây không phải là một lời chúc xã giao trước khi chia tay. Đây là một lời trăn trối, một gia sản thiêng liêng mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ – và cho mỗi chúng ta. Nhưng để hiểu được giá trị của món quà này, chúng ta phải đi vào chiều sâu của nó.

Bình an mà Đức Giêsu nói đến không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Ngài nói những lời này không phải trong lúc mọi sự êm đềm, nhưng trong bầu khí của sự chia ly, của phản bội, của cái chết đang đến gần. Ngài biết rõ Giuđa sắp nộp Ngài. Ngài biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Ngài biết con đường trước mặt là Thập Giá. Và chính trong hoàn cảnh đó, Ngài lại nói về bình an.

Điều này đảo lộn hoàn toàn cách hiểu thông thường của con người. Bởi vì con người thường nghĩ: có bình an là khi không có đau khổ. Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy: có một thứ bình an vẫn tồn tại ngay giữa đau khổ. Một thứ bình an không bị phá hủy bởi nghịch cảnh, không bị lay chuyển bởi thử thách, không bị tiêu tan bởi cái chết.

Đó chính là bình an của đức tin.

Đức tin không làm cho cuộc đời bớt khó khăn. Đức tin không xóa bỏ đau khổ. Đức tin không bảo đảm rằng người tin Chúa sẽ không gặp thử thách. Nhưng đức tin mở ra một cái nhìn mới: nhìn mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Khi có đức tin, con người không còn nhìn đau khổ như một sự vô nghĩa, nhưng như một phần của hành trình cứu độ. Không còn nhìn thất bại như dấu chấm hết, nhưng như một cánh cửa dẫn đến một điều tốt đẹp hơn mà Thiên Chúa đang chuẩn bị. Không còn nhìn sự dữ như là chiến thắng cuối cùng, nhưng tin rằng Thiên Chúa có thể biến đổi tất cả.

Chính vì thế, người có đức tin có thể sống bình an ngay trong những hoàn cảnh mà người khác chỉ thấy bất an.

Có những người bên ngoài rất ổn định: công việc vững vàng, gia đình đầy đủ, sức khỏe tốt… nhưng bên trong lại đầy lo lắng, sợ hãi. Ngược lại, có những người sống trong thiếu thốn, bệnh tật, hiểu lầm, thậm chí bị bách hại… nhưng tâm hồn lại bình an một cách lạ lùng.

Sự khác biệt không nằm ở hoàn cảnh, mà nằm ở đức tin.

Bình an của Đức Giêsu không phải là món quà “gói lại” để chúng ta cất giữ, nhưng là một sức sống được đặt vào trong tâm hồn. Đó là sự hiện diện của chính Ngài. Khi Ngài nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, điều đó có nghĩa là: Ngài ban chính con người của Ngài, ban chính sự hiệp thông của Ngài với Chúa Cha.

Vì thế, bình an đích thực không phải là “có mọi sự theo ý mình”, mà là “ở lại trong Thiên Chúa”. Khi tâm hồn ở lại trong Chúa, thì dù bên ngoài có sóng gió, bên trong vẫn có một điểm tựa vững chắc.

Đó là lý do tại sao Đức Giêsu tiếp tục nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi.” Đây không phải là một lời trấn an tâm lý đơn thuần, nhưng là một lời mời gọi bước vào một tương quan: tương quan tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Sợ hãi thường đến từ cảm giác mất kiểm soát. Khi con người nghĩ rằng mình phải nắm giữ mọi sự, phải kiểm soát mọi biến cố, thì chỉ cần một điều vượt khỏi tầm tay là lập tức bất an. Nhưng đức tin giúp con người buông mình vào tay Thiên Chúa, tin rằng Ngài đang dẫn dắt mọi sự, ngay cả khi mình không hiểu.

Đức Giêsu nói: “Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại với anh em.” Đây là một mầu nhiệm: sự ra đi không phải là mất mát, nhưng là điều kiện để một sự hiện diện sâu xa hơn được thiết lập. Qua cái chết và phục sinh, Đức Giêsu không còn hiện diện theo cách giới hạn của thân xác, nhưng hiện diện trong tâm hồn những ai tin.

Vì thế, bình an của Ngài không lệ thuộc vào việc Ngài “ở gần” hay “ở xa” theo nghĩa vật lý, nhưng lệ thuộc vào đức tin của người môn đệ.

Nếu có đức tin, thì ngay cả trong những lúc tưởng chừng Chúa vắng mặt nhất, con người vẫn cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Và chính sự hiện diện đó làm nên bình an.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay không chỉ dừng lại ở việc giải thích về bình an, nhưng còn là một lời mời gọi sống bình an.

Sống bình an không phải là trốn tránh thực tại, nhưng là dám đối diện với thực tại bằng ánh sáng đức tin. Không phải là phủ nhận đau khổ, nhưng là mang đau khổ vào trong tương quan với Thiên Chúa. Không phải là tìm cách loại bỏ mọi khó khăn, nhưng là học cách ở lại vững vàng giữa khó khăn.

Điều này rất cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi bị hiểu lầm, thay vì phản ứng tức giận, ta chọn bình an. Khi gặp thất bại, thay vì tuyệt vọng, ta chọn tin tưởng. Khi đối diện với bất công, thay vì nuôi hận thù, ta chọn tha thứ. Khi đứng trước tương lai bất định, thay vì lo âu, ta chọn phó thác.

Đó không phải là những lựa chọn dễ dàng. Nhưng chính trong những lựa chọn đó, bình an của Đức Giêsu được thể hiện.

Và khi một người sống bình an như thế, họ không chỉ giữ bình an cho riêng mình, nhưng còn trở thành người mang bình an đến cho người khác. Bình an của đức tin không bao giờ là một kinh nghiệm khép kín, nhưng luôn lan tỏa.

Trong một thế giới đầy chia rẽ, người Kitô hữu được mời gọi trở thành người kiến tạo hòa bình. Nhưng hòa bình bên ngoài chỉ có thể bắt đầu từ bình an bên trong. Nếu tâm hồn còn đầy bất an, thì lời nói và hành động cũng dễ trở thành nguồn gây xáo trộn.

Ngược lại, một tâm hồn bình an có sức mạnh làm dịu đi những căng thẳng, hàn gắn những rạn nứt, và mang lại hy vọng cho người khác.

Cuối cùng, bình an mà Đức Giêsu ban không chỉ dừng lại ở cuộc đời này, nhưng hướng đến sự sống vĩnh cửu. Đó là bình an của người biết mình thuộc về Thiên Chúa, đang đi về với Thiên Chúa, và sẽ được ở lại trong Thiên Chúa mãi mãi.

Vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, dù con đường phía trước có nhiều thử thách, người có đức tin vẫn có thể bước đi với một tâm hồn bình an. Không phải vì họ mạnh mẽ, nhưng vì họ tin vào Đấng mạnh mẽ hơn họ.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những xáo trộn của thời đại, biết quay về với nguồn mạch của bình an là chính Đức Kitô. Xin cho chúng ta không chỉ tìm kiếm bình an theo kiểu thế gian, nhưng biết đón nhận bình an như một ân ban của đức tin. Và xin cho bình an đó không chỉ ở lại trong tâm hồn chúng ta, nhưng còn lan tỏa đến những người chung quanh, để thế giới này, dù còn nhiều bóng tối, vẫn có thể bừng sáng lên nhờ những tâm hồn biết tin và biết yêu.

Lm. Anmai, CSsR


 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Việt Tân 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Giết người – Một tội ác ghê rợn khi chính con người cướp đi mạng sống của đồng loại mình. Người ta có thể giết nhau bằng rất nhiều cách:

  1. Tự sát: giết hại chính bản thân mình.
  2. Dùng các loại vũ khí, sức lực hoặc kỹ năng để trực tiếp giết người.
  3. Dùng trí thông minh để gián tiếp giết người.

Nhưng có 1 loại sát nhân tàn bạo với số lượng nạn nhân vô cùng lớn. Đó là cách người ta dùng 1 thứ vũ khí vô hình nhưng có sức hủy diệt lớn gấp nhiều lần bom nguyên tử. Đó là thể loại gì?

ĐÓ LÀ DÙNG TƯ TƯỞNG ĐỂ GIẾT NGƯỜI

Lịch sử ghi nhận 2 tên sát nhân tầm cỡ nhất của thế kỷ 20. Thật tình cờ cả 2 đều đến từ nước Đức. Đó là ai?

  1. Người đầu tiên không thể không nhắc đến đó là Adolf Hitler – Chủ tịch đảng công nhân Đức quốc gia xã hội chủ nghĩa – Quốc trưởng của Phát xít Đức

Vũ khí mạnh nhất ông ta dùng không phải là vũ khí hay khoa học kỹ thuật mà nước Đức sở hữu thời bấy giờ. Vũ khí lớn nhất của ông ta là 1 quyển sách tên là “Mein Kampf”. Nó chứa đựng tư tưởng của ông ta tư tưởng CHỦNG TỘC. Ông ta cho rằng dân tộc ông ta là dân tộc thượng đẳng và có kiếm đi xâm chiếm và đô hộ người khác. Nghe có vẻ lố bịch nhưng hàng triệu người Đức thời điểm ấy sau khi đọc cuốn sách đó lại tiếp thu một cách cuồng tín.

Kết hợp cùng với tư tưởng bài Do Thái của mình (một trong những bí mật vẫn chưa được giải đáp tại sao Hitler lại căm thù người Do Thái?), ông ta tiến hành giết chóc trên diện rộng. Hậu quả có khoảng 26 triệu người Do Thái bị sát hại và khoảng 50 triệu người chết trong thế chiến thứ 2 – cuộc chiến do chính Hitler và tư tưởng của ông ta phát động.

  1. Người thứ 2, người gây rất nhiều tranh cãi mặc dù chết vào năm 1883 nhưng những hậu quả của ông gây ra chủ yếu trong thế kỷ 20. Đó là Karl Marx

Vũ khí ông ta sử dụng đó là học thuyết về “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, một tư tưởng mà thậm chí còn được nhiều triệu người tin tưởng đi theo. Đó là chủ nghĩa xây dựng 1 xã hội dựa trên tiêu chí chủ yếu “Làm theo năng lực. hưởng theo nhu cầu”, xóa bỏ giai cấp tư sản.

Ông ta có một số lượng học trò đông đảo trên nhiều quốc gia, học thuyết được thấm đẫm trong đầu óc của nhiều người. Và chắc bạn thắc mắc tại sao ông ta lại có thể giết được người. Cái ông ta đặt nền móng là chủ nghĩa cộng sản. Ông ta hoàn toàn phải chịu trách nhiệm do những tội ác mà cộng sản gây ra. Hãy cùng điểm qua những vụ thảm sát của cộng sản.

– Liên Xô: Dưới sự lãnh đạo của Stalin – Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, ông ta ra sức đàn áp các thế lực chống đối trong nước. Những người không theo ông ta chỉ có 1 con đường chết. Qua những cuộc thanh trừng “Khủng bố đỏ”, “Đại thanh trừng” diễn ra trên diện rộng khắp đất nước mà theo ước tính có khoảng 20 triệu người đã bị giết hại.

– Trung Quốc: Trung Quốc vốn nổi tiếng bởi sự tàn bạo của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản những vụ thảm sát diễn ra còn tinh vi và kín kẽ hơn nhiều.

o Đầu tiên là “Cách mạng văn hóa”: Do Mao Trạch Đông – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc khởi xướng, mục tiêu là loại bỏ những thành phần tư sản tự do nhưng thực chất là để củng cố địa vị của tên đồ tể này. Hậu quả có 40 triệu người chết vì chết đói! Vâng, chết đói.

o Thảm sát Thiên An Môn: Vụ đàn áp những thành phần sinh viên, trí thức đòi dân chủ. Có khoảng 10.000 chết tại chỗ và khoảng 2 triệu người bị bắt bớ và tra tấn sau vụ việc này.

o Đàn áp Pháp Luân Công: Đây vẫn là một trong những vụ thảm sát khó hiểu nhất lịch sử nhân loại được khởi xướng bởi Giang Trạch Dân – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc – khi một tổ chức chính trị đàn áp 1 môn khí công phi chính trị. Hậu quả rất nhiều học viên môn khí công này bị bỏ tù, tra tấn đến chết, mổ lấy nội tạng bán.

– Bắc Việt: Cải Cách Ruộng Đất được khởi xướng bởi Hồ Chí Minh, là phong trào xóa bỏ phong kiến. Có khoảng 50.000 người bị giết.

– Campuchia: Được khởi xướng bởi Pol Pot (người Campuchia gốc Trung Quốc) – Chủ tịch đảng cộng sản Campuchia – gây ra cái chết của khoảng 1,5 triệu người.

Nhìn những con số nạn nhân có thể thấy sự tàn bạo và hậu quả không lường của một tư tưởng. Nó có sức tàn phá lớn gấp nhiều lần bất cứ loại vũ khí nào con người có thể chế tạo ra.

Bạn thì sao? Quan điểm của bạn là gì?

Bài của LUBI, độc giả gửi đến FB/VT


 

TRUYỆN NGẮN – Kỳ tích

Nguyen Thi Chau 

TRUYỆN NGẮN

Kỳ tích

Ông Thành năm nay mới 50 tuổi. Người ta gọi ông là “ông vua tôn thép miền Đông”. Ba nhà máy, sáu trăm công nhân, tài khoản ngân hàng dài mười hai con số. Mười năm trước, ông từng nói với phóng viên: “Tôi không tin số phận. Tôi chỉ tin vào việc tôi làm mười sáu tiếng một ngày.”

Giờ thì ông nằm đây.

Phòng ICU tầng bảy, rèm trắng, dây nhợ chằng chịt. Chiếc máy thở bên cạnh đều đặn giúp ông thở phập phồng, phì… phù… phì… phù… Mỗi nhịp thở không còn là của ông nữa. Nó là của máy!

Sáng, bác sĩ trưởng khoa nói với vợ con ông: “Chúng tôi đã làm hết phác đồ. Phần còn lại tùy thuộc vào nghị lực của bệnh nhân. Chúng tôi không tiên lượng chắc được.” 

Câu đó, y hệt bản hợp đồng làm ăn rủi ro mà ngày xưa ông hay ký. Chỉ khác là lần này, tài sản đặt cược lại là chính ông.

Ngày thứ ba nằm ICU.

Thuốc an thần giảm liều. Ông tỉnh nhiều hơn. Lần đầu sau ba mươi năm, ông có thời gian nằm im và không nghĩ đến đơn hàng, không nghĩ đến giá thép, không nghĩ  đến lãi suất ngân hàng.

Ông nhìn lên trần nhà. Màu trắng. Nhìn sang trái, máy monitor nhấp nháy 78, 79, 80. Nhìn sang phải, cô y tá đang thay chai nước biển, tay thoăn thoắt nhưng ánh mắt mệt mỏi. 

Tự nhiên ông nhớ đến bà Sáu bán xôi đầu ngõ nhà máy. Mỗi sáng bà đều dậy lúc ba giờ, lọ mọ nhóm bếp nấu xôi. Lợi nhuận một gói xôi chắc được hai nghìn. Bà lúc nào cũng vui vẻ: “Bán cho vui chú ơi, chứ lời lãi gì.”  Hồi đó ông thấy buồn cười. Giờ ông thèm được cái “vui” đó.

Đêm thứ năm nằm ICU.

Ông sốt. Máy báo động inh ỏi. Điều dưỡng chạy vào, thêm thuốc, lật người, vỗ lưng. Cơn đau rút đi, để lại một khoảng trống lạ lẫm trong ngực. 

Trong khoảng trống đó, lần đầu ông nghe rõ tiếng máy thở. Phì… phù… Mỗi lần nó đẩy khí vào phổi, ông sống! Nó dừng một phút, ông chết! Đơn giản vậy thôi. 

Cả đời ông gom góp. Nhà, xe, đất, cổ phần, mấy cái chức danh chủ tịch… Ông tưởng mình đang xây một pháo đài kiên cố để nhốt cái chết ở ngoài. Hóa ra pháo đài nào cũng có cổng, mà cái chết nó không cần chìa khóa. Nó đi bằng đường ống khí quản!

Sáng ngày thứ bảy nằm ICU.

Con trai lớn vào thăm. Nó mặc vest, vừa từ cuộc họp cổ đông về. Nó nắm tay ông, nói: “Ba ráng khỏe. Công ty đang rối. Thiếu ba không ai quyết được.” 

Ông cười trong bụng. Hóa ra mình quan trọng đến thế cơ đấy. Rồi lại thấy thương nó. Mười năm nữa, hy vọng nó sẽ không bao giờ phải nằm đây, để thằng cháu nội vào thăm sẽ nói y chang.

Chiều, vợ ông vào. Bà không nói gì, chỉ ngồi lau mặt cho ông bằng khăn ấm. Bàn tay bà chai sần, gân xanh nổi lên. Ông chợt nhớ, ba mươi năm nay mình chưa một lần hỏi bà thích gì. Cưới xong là lao vào làm ăn. Sinh nhật bà, ông tặng dây chuyền vàng. Lễ kỷ niệm, ông tặng nhẫn kim cương. Chưa bao giờ tặng một buổi chiều rảnh rỗi để hai vợ chồng đi ăn tàu hũ nóng.

Máy vẫn thở. Phì… phù… phì… phù…

Tự nhiên ông hiểu ra bấy lâu nay không phải ông thở. Ông chỉ đang nín thở mà chạy. Chạy vội qua tuổi trẻ, chạy vội qua bữa cơm gia đình, chạy vội qua tiếng cười của con, chỉ để đến đích. Mà đích là gì? Là cái giường này sao?

Đêm thứ mười  nằm ICU

Ông yếu đi. Bác sĩ tăng oxy. Trong cơn mê man, ông thấy mình đứng trước kho hàng của nhà máy. Những cuộn tôn xếp cao như núi. Ông leo lên, leo mãi, muốn leo tới đỉnh. Leo tới nơi, ông nhìn xuống. Dưới chân không có gì cả. Chỉ có gió. 

Ông choàng tỉnh dậy, nước mắt ướt khóe mi. Cô y tá trẻ tưởng ông đau, định thêm chút morphine. Ông khẽ lắc đầu. Lần đầu sau mười ngày, ông tự thở được một hơi ngắn, không cần máy đẩy.

Sáng hôm sau, chỉ số ông tốt hẳn lên. Bác sĩ gọi đó là “kỳ tích”. Ông gọi đó là “buông tay”. 

Ông nói với vợ, sau khi được rút ống thở, giọng khàn đặc: “Bà bán bớt một nhà máy, lập cái quỹ học nghề cho công nhân. Tôi nợ họ. Còn lại, chia cho tụi nhỏ. Dặn nó làm ít thôi. Sống nhiều lên.” 

Bà khóc.

Ông không khóc. Ông chỉ nhìn cái máy thở, thầm cảm ơn. Nó đã dạy ông bài học đáng giá nhất cuộc đời, mà học phí là mười ngày nằm giữa sống và chết.

Một tháng sau, ông xuất viện. Người gầy rộc, nhưng mắt sáng. Ông không đến công ty nữa. Sáng, ông ra ngõ mua xôi của bà Sáu, ngồi ăn, nói chuyện mưa nắng. Chiều, ông đón cháu đi học về, hai ông cháu ăn tàu hũ. 

Có người hỏi: “Đại gia sao sống khổ vậy, chú Thành?” 

Ông cười: “Khổ đâu? Trước kia tôi chưa biết sống mới khổ. Giờ tôi mới bắt đầu sống.” 

Đêm đến, thỉnh thoảng ông vẫn giật mình vì nhớ lại tiếng máy thở phì phù… Nhưng thay vì sợ, ông mỉm cười. Tiếng đó nhắc ông rằng, mỗi hơi thở mình tự thở được, là một món quà vô giá.

Con người ta cả đời chỉ muốn gom góp mọi thứ, cứ ngỡ càng nhiều càng an toàn. Đến khi nằm xuống, mới biết thứ duy nhất mình thực sự sở hữu là hơi thở này. Và hơi thở thì không dành cho ngày mai. Nó chỉ có giá trị ngay lúc này. Phì… vào. Phù… ra. Mất một nhịp, là nguy cơ mất tất cả.  50 tuổi, ông Thành mới hiểu bài học đó để sống cho trọn vẹn từng hơi thở.

Nguyen ThyAnh


 

“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:34-35)- Cha Vuong

Nguyện xin Chúa tuôn đổ muôn hồng ân xuống trên bạn và gia đình hôm nay. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới thời bây giờ nhé

Cha Vuong

Thứ 3: 5/5/2026.      (n6-25)

TIN MỪNG: Họ liền nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giê-su bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:34-35)

SUY NIỆM: Bạn thử nghĩ xem nếu một người giàu có đầy đủ: gia đình, nghề nghiệp, lợi tức, chức quyền, danh vọng… nhưng họ vẫn thấy còn thiếu cái gì nữa chăng? Nếu bạn trả lời rằng “CÓ” thì đoạn Tin Mừng hôm nay là một sứ điệp quan trọng. Chúa nhắc nhở rằng trên thế giới này có hai loại đói: trước hết là đói khát thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thỏa mãn được. Thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không thực phẩm nào trên trần gian này có thể thỏa mãn được. Nói cách khác, dầu bạn có giàu có hoặc thành công đến đâu đi nữa, bạn vẫn cảm thấy nơi thâm sâu lòng mình một cơn đói khát khó có thể bày tỏ được.

Đối với con người nếu chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể xác thì càng cảm thấy thiếu thốn, vì nhu cầu đẻ ra nhu cầu, nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia làm cho người ta luôn tìm kiếm mà không bao giờ thoả mãn được. Chẳng trách nào họ “xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” 

Cuộc sống hôm nay, con người cứ bôn ba vất vả về nhiều chuyện: Hết lo cơm ăn, lo áo mặc, lại lo cho có tiện nghi sang trọng. Họ dành rất nhiều thời giờ cho những việc chóng qua nhưng cuộc sống viên mãn mai sau lại chẳng mấy quan tâm. Ước mong bạn “hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh.” (Ga 6:27a)

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.” (Ga 7:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, Chúa ban tặng cho con “bánh hằng sống”, xin cho con biết siêng năng rước Mình Máu Thánh Chúa đều đặn mỗi ngày để được sống muôn đời. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên và nghiêm trang hơn nhé.

From Do Dzung

*********************************************

HÃY CHO HỌ ĂN – CN MÌNH VÀ MÁU CHÚA KITÔ – Lm Thái Nguyên

Ở LẠI GIỮA ĐỔ VỠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em!”.

“Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng sợ hãi chi; ai có Thiên Chúa sẽ không thiếu gì; chỉ một mình Ngài là đủ!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa những đổ vỡ, con người dễ xao xuyến và sợ hãi; nhưng ai có Thiên Chúa thì ‘ở lại giữa đổ vỡ’ là điều có thể.

“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em!”. Không ở lại, cành nho tự tách mình khỏi nguồn sống; và một khi đã lìa thân, nó không thể sinh trái. Tin Mừng hôm nay vì thế không bắt đầu từ kết quả, nhưng từ việc ở lại; bởi lẽ, mọi đổ vỡ sâu xa không đến từ bên ngoài, nhưng ở chỗ cành không còn gắn với thân. Có thể bên ngoài chưa mất gì, nhưng bên trong đã đứt; một khi đã đứt, sự khô héo chỉ là vấn đề thời gian.

Động từ Gioan dùng là menein – ở lại; nhưng “ở lại” không phải là đứng yên, mà là ở trong nhau. Không chỉ con người ở lại trong Chúa, mà chính Chúa ở lại trong con người; đó không còn là một tương quan ở bề mặt, nhưng là một thông dự, nơi con người và Thiên Chúa bắt đầu sống sự sống của nhau. Khi ấy, vấn đề không còn là giữ hay mất, nhưng là có để cho sự hiện diện ấy thấm vào đời mình hay không; theo Jean de Bernières, không phải chúng ta làm, nhưng là để Thiên Chúa hành động.

Chính khi sự sống ấy vận hành, sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ làm lộ ra những gì không thuộc về Ngài và thanh luyện những gì không thể ở lại. Vì thế, điều con người gọi là “đổ vỡ” không hẳn là mất mát, nhưng là dấu của biến đổi; không phải bị lấy đi, nhưng được cắt tỉa để sinh hoa trái. Tuy nhiên, không phải mọi đổ vỡ đều giống nhau; có cái làm chết, có cái làm cho sự sống trổ sinh. Trong tiến trình ấy, chúng ta không còn chỉ tránh né, nhưng học cách ở lại – ‘ở lại giữa đổ vỡ’. “Đời sống thật đơn giản: chúng ta đang sống trong một thế giới hoàn toàn trong suốt, và Thiên Chúa luôn chiếu toả trong đó!” – Thomas Merton.

Trong cộng đoàn sơ khai, đã xảy ra một đổ vỡ thật: cắt bì! Đó không chỉ là một tranh luận, nhưng là một rạn nứt có thể làm lung lay tận gốc sự hiệp nhất. Tại đó, các tông đồ nhận ra rằng không phải mọi cắt bỏ đều đến từ Thiên Chúa; có những điều tưởng là cần thiết, nhưng lại đặt những gánh nặng không phát xuất từ Ngài. Vì thế, vấn đề không còn là cắt hay không, nhưng là có ở lại trong hiệp nhất để được Thánh Thần dẫn dắt – bài đọc một.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mời gọi ở lại, nhưng Ngài ở lại trong Cha. Trong sự ở lại ấy, Ngài đi qua thập giá mà không lìa, đón nhận mọi cắt tỉa mà không mất sự sống. Vì thế, ở lại không còn là nỗ lực của con người, nhưng là được đưa vào tương quan của Con với Cha. “Thiên Chúa đã trở nên người để con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa!” – Athanasiô. Chỉ khi cắm lều trong Ngài, chúng ta mới có thể ‘ở lại giữa đổ vỡ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không lìa xa Ngài giữa thử thách, nhưng được Thánh Thần dẫn dắt để đời con trổ sinh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần V Phục Sinh

Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. 2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. 3 Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. 4 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.

5 “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. 6 Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. 7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. 8 Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”


 

THÁNG NĂM: TỪ HOA ĐỒNG CỎ NỘI ĐẾN HOA CÕI LÒNG – Phêrô Phạm Văn Trung

Phêrô Phạm Văn Trung

WHĐ (01/5/2026) – Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

Dẫn nhập 

Trong nếp sống đạo của tín hữu Công giáo Việt Nam, tháng Năm có vị trí đặc biệt.  Trong tháng này, từ những giáo xứ to lớn đến các họ lẻ nhỏ bé, không gian đều rộn ràng tiếng nhạc, lời ca tiếng hát và ngát hương hoa.  Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

  1. Trong tháng Hoa, thiên nhiên hòa cùng đức tin 

Việc tháng Năm trở thành tháng dâng kính Mẹ Maria khởi đi từ cái nôi trời Tây của truyền thống này.  Sau những tháng mùa đông dài dằng dặc, bầu trời xám xịt và giá rét lạnh căm, tháng Năm tại châu Âu là thời điểm “Xuân phân” đạt đến độ rực rỡ nhất.  Cả đất trời như bừng tỉnh, cây cối đâm chồi nảy lộc, không khí ấm áp trở lại, và đặc biệt là muôn hoa đua nở khắp các cánh đồng, núi đồi và thung lũng. 

Vẻ đẹp thanh khiết, đầy sức sống của thiên nhiên lúc này đã trở thành một biểu tượng tâm linh mạnh mẽ.  Các tín hữu sơ khai nhìn thấy vẻ đẹp của hoa cỏ phản chiếu vẻ đẹp của Đức Trinh nữ Maria, người nữ “đầy ân phúc,” là “Bông hoa đẹp nhất” mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Nếu như hoa xuân mang lại niềm vui cho trần thế sau mùa đông u ám, thì Mẹ Maria, qua tiếng “Xin vâng,” đã mang Đấng Cứu Thế đến để mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại sau “mùa đông ảm đạm” của tội lỗi.

 Truyền thống dành tháng Năm cho Mẹ Maria không xuất hiện ngay lập tức mà là một hành trình tích lũy qua nhiều thế kỷ.  Thời trung cổ, tại các quốc gia như Tây Ban Nha hay Pháp, người dân đã có thói quen thực hành các việc đạo đức đặc biệt để tôn vinh Mẹ Maria vào tháng Năm, nhằm thay thế cho các lễ hội ngoại giáo mừng mùa xuân, vốn có những yếu tố đa thần đôi khi biểu lộ cách thô thiển.  Các tín hữu muốn thánh hóa thời gian này, thay vì chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên thì họ qui hướng mọi vẻ tươi đẹp đó về Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Mẹ Maria. 

Vào thế kỷ XVI, Thánh Philipphê Nêri dạy các thiếu nhi thu lượm hoa tươi trong vườn để dâng trước bàn thờ Mẹ Maria.  Ngài muốn trẻ em tìm thấy Chúa và Mẹ Maria thông qua vẻ đẹp đơn sơ của cỏ hoa.  Thế kỷ XVIII, các tu sĩ Dòng Tên tại Ý chính thức dành trọn 31 ngày tháng Năm với các bài suy niệm, bài hát hướng về Mẹ Maria và khuyến khích giáo dân thực hiện việc này tại gia đình cũng như tại nhà thờ, đưa phong trào lan rộng toàn cầu.  Sang thế kỷ XIX – XX, truyền thống này được các Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận.  Đặc biệt, qua Thông điệp Mense Maio – Tháng Năm (1965), Đức Phaolô VI khẳng định tháng Năm là dịp đặc biệt để cầu nguyện cho hòa bình và những nhu cầu của Giáo hội. 

  1. “Vãn dâng hoa” là sự sáng tạo độc đáo của người tín hữu Việt Nam khi xưa.

 Khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã rất khôn ngoan khi không chỉ áp dụng các nghi thức phương Tây xa lạ khó nắm bắt đối với người dân Việt.  Các ngài khuyến khích giáo dân diễn tả đức tin Công giáo theo cách riêng của tâm hồn dân Việt, vốn thấm đẫm thi ca, tha thiết diễn xướng và náo nức lễ hội, như Linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955) đúc kết: “Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo…  Người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc…  Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi,”[1] “vãn dâng hoa” và việc dâng hoa của người Công giáo Việt Nam ra đời trong tâm thế văn hóa đậm chất tâm linh đó.

 Tại Việt Nam, dâng hoa không chỉ là đặt một bó hoa lên bàn thờ rồi thôi, nhưng đó là một cách biểu lộ tâm tình đạo hạnh dưới hình thức nghệ thuật.  Người tín hữu Công giáo Việt Nam khi xưa đã soạn ra những bài “vãn dâng hoa,” dựa theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, giàu hình ảnh, dễ thuộc, dễ thấm, để ngợi ca vẻ đẹp của Mẹ Maria cũng như nói lên những nỗi niềm, thân phận và niềm hy vọng cậy trông của người tín hữu Việt Nam nơi Mẹ, giữa những lao nhọc vất vả của đời sống.

 “Đền vàng quỳ trước dâng hoa
Trông lên tháp bảo thấy tòa Ba Ngôi
Mười hai nhân đức gương soi
Kính dâng Đức Mẹ đời đời ngửa trông”…

…“Bảy hoa mượn chỉ nghĩa mầu.
Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.
Hợp cùng năm sắc điều dâng,
Dường mười hai ngọc kết tầng Triều thiên”…

…“Ban ơn cho chúng con nhờ,
Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên.
Đời này được sự bằng yên,
Đời sau lại được ngợi khen hát mừng… Amen.”[2]

 Về hình thức, vãn hoa là một “lễ hội đức tin” rộn rã, đậm chất văn hóa Việt.  Từ những tà áo truyền thống đến những điệu nhạc quen thuộc, tất cả tạo nên bầu không khí náo nức, gắn kết bà con xóm đạo.  Trong đoàn rước hoa dâng kính Mẹ Maria, mọi tín hữu không phân biệt giàu nghèo đều cùng hướng về Mẹ, biến nghi thức dâng hoa, hội nhập hoàn toàn vào tình tự dân tộc, thành một phần ký ức sâu sắc. 

Ngày nay, việc dâng hoa trong tháng Hoa được tổ chức ngày càng quy mô và lộng lẫy hơn.  Các giáo xứ lớn tổ chức các đoàn dâng hoa lên tới hàng trăm người, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, với hệ thống ánh sáng, âm thanh hiện đại.  Những giáo xứ miền quê nhỏ bé cũng tổ chức dâng hoa cho Mẹ Maria, một cách đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng.  Trang phục được đầu tư đáng kể, kỹ năng múa được tập luyện bài bản, ngày càng trở nên nghệ thuật, chuyên nghiệp.

 Những thao thức mục vụ của ngày hôm nay

 Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy vẫn nhắc nhở mọi người: Chúng ta đang dâng lên Mẹ Maria tâm tình hiếu thảo hay chỉ lo lắng đến việc biểu diễn?  Thực tế, việc quá chăm chút vào kỹ thuật, trang phục đôi khi khiến người tham gia lo lắng “sai nhịp” hơn là hướng lòng về Mẹ.  Khi tính biểu diễn lấn át tinh thần suy niệm, buổi lễ chỉ để lại sự trầm trồ về hình thức mà thiếu đi sứ điệp thiêng liêng trong tâm hồn.  Tính “biểu diễn” lấn át tinh thần “suy niệm cầu nguyện”.

 Để tháng Hoa tiếp tục là nguồn mạch nuôi dưỡng đức tin cho người tín hữu hôm nay cũng như các thế hệ mai sau, việc dâng hoa cần phải là một buổi suy niệm sống động, kết nối mỗi động tác, mỗi sắc hoa với Lời Chúa và các nhân đức của Mẹ Maria.

 Hoa trắng không chỉ là sắc màu của sự thanh khiết, nhưng còn là biểu tượng Ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Khi dâng hoa trắng, người tín hữu được mời gọi thanh tẩy tâm hồn, sống trung thực và trong sạch giữa một xã hội đầy dẫy sự gian dối.  “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mátthêu 5:8).

 “Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.” *

 Hoa đỏ tượng trưng cho sự hy sinh, tình yêu nồng cháy và những đau khổ mà Mẹ đã gánh chịu dưới chân Thập giá.  Đây là cơ hội để suy niệm về sự kiên trì và lòng yêu người, giúp người ta biết chấp nhận gian khổ để dấn thân phục vụ.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15:13).

 “Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu thánh thơm chung lòng người.
Vì thương con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.” *

 Hoa vàng là biểu tượng của vinh quang Thiên Chúa và lòng tin sắt son.  Dâng hoa vàng là cam kết giữ vững đức tin trước những lôi cuốn của chủ nghĩa vật chất, lối sống thực dụng.  “Vàng thử lửa, đức tin thử gian nan… để khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin ấy sẽ trở thành lời ca tụng, vinh quang và danh dự” (1 Phêrô 1:7).

 “Quý thay này sắc hoa vàng,
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.” *

 Hoa tím là màu của thống hối và khiêm nhường.  Trong một thế giới của cái tôi kiêu hãnh, sắc tím nhắc nhở chúng ta về sự nhỏ bé của mình trước nhan Chúa như Mẹ đã từng tự nhận là “nữ tỳ hèn mọn”.

“Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Luca 1:52).

“Dịu thay hoa tím càng màu,
Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.” *

 Hoa xanh nhắn đến niềm hy vọng và sự bình an.  Giữa những lo âu về cơm áo gạo tiền, sắc xanh dâng Mẹ là lời cầu xin sự bình an trong tâm hồn và niềm cậy tin vào tương lai tươi sáng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân.  Người ấy như cây trồng bên dòng nước” (Giêrêmia 17:7-8).

 “Lạ thay là sắc hoa xanh,
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm.” *

 4.Tháng Hoa giúp biến đổi đời sống thành vườn hoa thánh thiện 

Nếu mỗi buổi dâng hoa đều kèm theo Lời Chúa và lời suy niệm ngắn gọn, súc tích, người dâng hoa và người thưởng lãm gặp gỡ được Mẹ Maria của Tin Mừng, chứ không chỉ đi xem một hình thức phô diễn nghệ thuật.

 Nhằm bảo vệ môi trường theo tinh thần của Thông điệp Laudato Si’, các cuộc dâng hoa có thể được khuyến khích dâng hoa trong những chậu, nhỏ to khác nhau.  Sau buổi dâng hoa, số hoa này có thể trồng tại khuôn viên thánh đường hoặc tặng lại cho giáo dân chăm sóc, giúp tạo nên “Vườn hoa Đức Mẹ” xanh tươi quanh năm.

 Đỉnh cao của việc dâng hoa là sống cuộc đời “Per Mariam ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu,” biến đời sống thành vườn hoa nhân đức, mến Chúa yêu người, theo mẫu gương “Fiat – Xin vâng” của Mẹ Maria.  Mỗi người cần hiểu rằng một lời tử tế, một bữa cơm cho người nghèo hay sự trung thực trong công việc mới là đóa hoa ngát hương mà Mẹ Maria mong muốn nhất để giúp chúng ta nên thánh.  Mẹ không cần hoa, chính chúng ta mới là người cần đến hoa nhằm biểu lộ rằng đôi bàn tay vốn đang dâng lên Mẹ những bông hoa đầy hương sắc cũng là đôi bàn tay đã biết chia sẻ cụ thể những buồn vui, lo âu với những người chung quanh, và rằng cõi lòng chúng ta đang dần biến đổi để biết yêu thương, hy sinh như Mẹ.  Một tháng Năm mà mỗi tín hữu hăng hái làm việc bác ái, trao gửi nụ cười và sự quan tâm chân tình mới thực sự là một tháng Hoa ý nghĩa. 

  1. Khuyến khích giới trẻ tiếp nối và đào sâu truyền thống đạo hạnh

Tháng Năm về, giữa cái nắng oi bức của mùa hè Việt Nam, những giai điệu “Mùa hoa về rồi muôn hoa xinh con hái dâng Mẹ.  Mùa hoa về rồi muôn hương thơm bay trước nhan Mẹ…” (Trầm Hương) lại vang lên đầy thân thương.  Truyền thống tháng Hoa là một kho tàng vô giá mà cha ông đã để lại.  Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy sáng bằng cách thổi vào đó hơi thở của ngày hôm nay, với các bản thánh ca có điệu nhạc tươi mới, ngôn từ gần gũi nhưng vẫn trang trọng, đúng với Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, khơi gợi được cảm thức đức tin – sensus fidei.

 Sử dụng khéo léo các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ giúp việc dâng hoa không còn là nghi thức “cổ xưa” mà trở thành cảm nghiệm tâm linh tươi mới.  Khi được gạn đục khơi trong đúng với tâm tình, các bạn trẻ sẽ tham gia với tất cả sự nhiệt huyết và đức tin cá vị, thay vì chỉ làm theo tập tục phong trào.

 Tuy nhiên, nếu tháng Hoa chỉ dừng lại ở tiếng nhạc, trang phục thướt tha, hoặc “hứng thú nghệ thuật,” thì chúng ta chỉ là khán giả đi xem một buổi trình diễn văn nghệ chứ không phải người mong muốn hoán cải nội tâm.  Chỉ khi bước ra khỏi nhà thờ sau buổi dâng hoa, mỗi người biết sống tử tế, hy sinh, tôn trọng và yêu thương nhau hơn, thì lúc đó, chúng ta mới thực sự trở thành những đóa hoa sống động làm đúng ý Chúa và Mẹ Maria.

 Phêrô Phạm Văn Trung

_________

[1] Trường Đại học Khoa học xã hội và nhận văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, https://hcmussh.edu.vn/news/item/25727

[2] Và các câu thơ khác (*) tại http://gdptttvn.org/nam-sac-bay-mau-hoa-dang-kinh-duc-me/

From: Lanthangchieutim


 

LÝ QUANG DIỆU…

8 SÀI GÒN 

LÝ QUANG DIỆU…

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)  biến đảo cá đầm lầy thành nền kinh tế thứ nhất ASEAN trong 31 năm

Lee Kuan Yew (李光耀, 1923-2015) sinh ngày 16/9/1923 tại Singapore, gia đình gốc Khách Gia (Hakka) từ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Cha là người buôn bán nhỏ, gia đình thường xuyên thiếu tiền.

Lee học Raffles Institution xuất sắc, nhận học bổng Cambridge học Luật năm 1946 sau Thế Chiến II. Tốt nghiệp double first class honours  danh hiệu cao nhất Cambridge.

### Singapore trước Lee  đảo cá đầm lầy

1959, khi Lee 35 tuổi nhận chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore dưới quyền tự trị Anh:

* Singapore là thuộc địa Anh với 1.6 triệu dân, chia 4 dân tộc thù ghét nhau (Hoa, Mã, Ấn, Anh)

* Diện tích chỉ 581 km²  không tài nguyên, không nông sản, không ngay cả nước uống (phải mua từ Malaysia)

* Tỉ lệ thất nghiệp 20%, GDP đầu người 400 USD/năm (gần Việt Nam thời đó)

* 80% dân sống trong nhà ổ chuột ven sông

* Nội chiến giữa các nhóm Cộng sản và phe ủng hộ Anh

### 1965  bị “đuổi” khỏi Liên bang Mã Lai

Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Mã Lai với hy vọng kinh tế. Nhưng Thủ tướng Tunku Abdul Rahman không chịu nổi:

* Kinh tế Singapore (đa số người Hoa) vượt kinh tế Mã Lai (đa số Hồi giáo)

* Lee Kuan Yew công khai phê bình chính sách đặc quyền cho người Mã

9/8/1965, Tunku ra đơn phương quyết định: tống Singapore ra khỏi Liên bang. Singapore trở thành QUỐC GIA ĐỘC LẬP  không tự nguyện.

Lee Kuan Yew ra TV truyền hình quốc gia, khóc trên TV  lần duy nhất trong đời:

> “Đối với tôi, đây là khoảnh khắc đau khổ. Cả đời tôi tin tưởng việc Mã Lai và Singapore là một… Bây giờ chúng ta phải đi một mình.”

Singapore một mình, không quân đội, không nước, không tài nguyên. Cả thế giới dự đoán: trong 5 năm sẽ rơi vào tay Cộng sản hoặc bị Indonesia/Malaysia nuốt.

### 31 năm cải cách thần kỳ

1959-1990, Lee làm Thủ tướng 31 NĂM liên tục  kỷ lục dài nhất của một thủ tướng dân chủ trong thời hiện đại.

Chiến lược “First-World Oasis”:

  1. Chống tham nhũng tuyệt đối: Lee thành lập CPIB (Cơ quan Điều tra Tham nhũng) năm 1952, không chừa ai. Ông xử bộ trưởng Bộ Phát triển nội thành Wee Toon Boon đi tù 4 năm vì nhận quà bằng nhà. Singapore từ tham nhũng cao nhất ASEAN trở thành #5 trong sạch nhất thế giới (2024).
  2. Nhà ở công cộng: chương trình HDB (Housing Development Board)  xây căn hộ giá rẻ cho dân nghèo. 80% dân Singapore ngày nay sống trong HDB, sở hữu nhà.
  3. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính: vượt qua phản đối từ phe người Hoa, Lee áp đặt tiếng Anh làm ngôn ngữ giáo dục. Ông tin: tiếng Anh là chìa khóa vào kinh tế toàn cầu.
  4. Mời các tập đoàn đa quốc gia: Singapore giảm thuế + xây khu công nghiệp Jurong + đảm bảo không đình công. Texas Instruments, Hewlett-Packard, ExxonMobil đặt trụ sở khu vực ở Singapore.
  5. Cảnh sát dùng roi mây: hình phạt thân thể nghiêm khắc cho tội nhỏ  vẽ bậy xử 3 roi + tù. Singapore an toàn nhất thế giới.

### Kết quả 1990  “From Third World to First”

Khi Lee từ chức năm 1990 (vẫn giữ chức Bộ trưởng Cao cấp đến 2011):

* GDP đầu người: 400 USD → 12.000 USD (tăng 30 lần)

* Hiện 2024: GDP đầu người 84.000 USD/năm  #7 thế giới, vượt Mỹ

* Sân bay Changi xếp hạng #1 thế giới mỗi năm (Skytrax)

* Cảng Singapore = cảng container lớn thứ 2 thế giới

* Tuổi thọ trung bình: 84 tuổi (cao thứ 4 thế giới)

H

* 0 người vô gia cư chính thức

Cuốn sách của ông “From Third World to First” (2000) bán hàng triệu bản, trở thành sách giáo khoa cho lãnh đạo Đông Nam Á.

### Lee Kuan Yew nói về Việt Nam

Ông nhiều lần khen ngợi và phê bình Việt Nam. Năm 2007: “Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng tham nhũng + bộ máy chậm chạp đang cản trở. Nếu Việt Nam giải quyết được, sẽ vượt Singapore trong 1 thế hệ.”

### Cái ch*t

23/3/2015, Lee Kuan Yew qua đời ở 91 tuổi vì viêm phổi. 1.4 triệu người Singapore đứng đường viếng tang lễ  40% dân số.

Tang lễ Tổng thống Mỹ Obama đến viếng. Trên thế giới, ông được coi là kiến trúc sư của một quốc gia mà Henry Kissinger viết: “Không ai khác trong thế kỷ 20 đã tạo ra một quốc gia từ con số không như Lee Kuan Yew.”

Singapore  đảo nhỏ không tài nguyên  giờ là gia đình của 6 triệu người giàu, vì 1 người đàn ông tin rằng không có lý do gì để chấp nhận thua kém.

HALAB CREATIVE


 

HIỆP THÔNG BẢN THỂ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian!”.

“Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” – Andrew Murray.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí quyết để thôi xao xuyến, tìm lại tự do. Không chỉ nên như chiếc bình rỗng để được đổ đầy, nhưng chúng ta phải đắm mình trong nguồn ấy; không chỉ nhận lãnh, nhưng ở lại.

“Anh em đừng xao xuyến!”. Xao xuyến không hẳn đến từ những gì xảy ra bên ngoài; nó phát sinh từ việc chúng ta đứng trước mọi sự. Có người ở trong thử thách mà vẫn bình an; có người không thiếu gì mà lòng vẫn bất ổn. “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” – Augustinô. Vấn đề không nằm ở hoàn cảnh thuận hay nghịch, nhưng ở chỗ bạn và tôi đang bám vào đâu, hy vọng điều gì – và sâu xa hơn, sống với ai.

Xao xuyến không chỉ là một trạng thái tâm lý; nó là dấu của một đời sống chưa ở lại, chưa ở trong. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta làm điều gì thêm, nhưng ở lại – menein – trong Ngài. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” không phải là trao một cảm giác để xoa dịu, nhưng là bình an kéo chúng ta vào sự sống của Ngài; ở đó, con người không còn giữ lấy mình, không còn chao đảo giữa sợ hãi và bám víu, nhưng bắt đầu sống từ một sự sống khác – một ‘hiệp thông bản thể’. Bình an thế gian cần hoàn cảnh thuận; bình an của Chúa vẫn còn đó giữa những đổ vỡ.

Chính trong sự ở lại ấy, bình an không còn mơ hồ, nhưng trở thành một cách hiện hữu. Phaolô là một chứng từ. Bị ném đá, tưởng đã chết; nhưng ông vẫn đứng dậy và trở lại. Hoàn cảnh không đổi; ông không còn bám vào sự sống mình giữ, nhưng sống từ Đấng nâng ông dậy và giữ ông ở lại. Vì thế, Phaolô không trốn chạy, nhưng tiếp tục loan báo: “Triều đại Ngài vinh hiển!” – Thánh Vịnh đáp ca. Ở lại như Phaolô không phải là một nỗ lực căng, nhưng là một sự buông mình. Khi không còn phải giữ lấy bản thân, lòng người dần lắng xuống, vì đã có một nơi để ở. Và trong sự ở lại ấy, bình an không còn là điều phải tìm, nhưng tự nhiên hiện diện.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã sống trọn vẹn sự ở lại ấy. Giữa xao xuyến của Vườn Dầu, giữa sợ hãi và cái chết, Ngài không giữ lấy mình, nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Cha. Vì thế, bình an Ngài ban không phải là vắng bóng thử thách, nhưng là một sự sống không tách lìa Cha, cùng nhịp với Cha. Cũng thế, chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, trong Cha, con người không chỉ thôi xao xuyến, được an ủi hay vững vàng hơn, nhưng được sống chính sự sống thần linh của Ngài – một ‘hiệp thông bản thể’. “Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Ngài!” – Athanasiô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong Ngài, để không còn xao xuyến, nhưng sống trong bình an của Ngài, bình an không ai lấy mất!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần V Phục Sinh

Thầy ban cho anh em bình an của Thầy

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 14,27-31a

27 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. 28 Anh em đã nghe Thầy bảo : ‘Thầy ra đi và đến cùng anh em’. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. 29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.

30 “Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy. 31a Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.”


 

Các mối phúc là những mối nào?-Cha Vương

Một ngày tràn đầy hạnh phúc trong Chúa, trong mọi hoàn cảnh nhé. Nhớ nhau trong lời nguyền cầu và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 4/5/2026.       (n6-24)

GIÁO LÝ: Các mối phúc là những mối nào? Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp. Phúc cho ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thoả lòng. Phúc cho ai xót thương, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho ai có tâm hồn trong trắng, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế (Mt 5, 3-12). Tại sao các mối phúc lại quan trọng? Những người mong mỏi Nước Trời phải tìm đến bảng liệt kê những ưu tiên trên của Chúa Giêsu thì sẽ biết. (YouCat, số 283 & 284)

SUY NIỆM: Từ Abraham, Thiên Chúa đã hứa với dân Người. Chúa Giêsu đã lặp lại, cho lời hứa một giá trị vĩnh cửu và coi đó là chương trình của Người: Con Thiên Chúa làm người nghèo để chia sẻ sự nghèo khó của ta, Người vui với những kẻ vui, khóc với những kẻ khóc (Rm 12,16); Người không cần đến bạo lực, trái lại, Người giơ má bên kia (Mt 5,39); Người thương xót, tạo nên hòa bình, và chỉ cho thấy con đường chắc chắn dẫn đưa về trời. (YouCat, số 283, 284 t.t.)

❦ Muốn tất cả những gì Chúa muốn, và muốn như thế luôn luôn trong mọi hoàn cảnh và không ngập ngừng, đó là Nước Trời đang ở trong ta vậy. (François Fénelon)

LẮNG NGHE: Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. (Rm 12:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, tim con đang lấp đầy những ham muốn vật chất, những ích kỷ nhỏ nhen, những hận thù ghen ghét, xin Chúa hãy đến và đổi mới tim con bằng lòng khiêm nhường nghèo khó, bằng lòng bác ái vị tha và một tình yêu chân thật để con được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa.

THỰC HÀNH: Cố gắng sống một mối phúc thật hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*******************************************

Tám Mối Phúc Thật – Nguyễn Hồng Ân | Sáng tác Lm. Gió Xuân