THỜI CỦA THÁNH THẦN – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha. Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi. Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.” “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con. Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần. Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ. Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi. Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện. Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a. Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi. Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm. Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy.
Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa. Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách. Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội. Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay? Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những giai đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội. Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến. Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện. Chúa sẽ có cách giải quyết của Người.
Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế,” Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại. Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy.” Điều răn của Thầy là điều nào? Là yêu thương nhau. Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na. Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy. Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu. Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu.
Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (Bài đọc I). Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin. Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa. Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới. Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người. Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình. Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (Bài đọc II). Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực. Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc. Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu. Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách.
“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!” Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa. Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường. Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng. Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa
Những Câu Chuyện Thú Vị – Chi Nguyen
Đôi đũa không múc được canh, cái thìa cũng chẳng gắp được mì. Là của bạn thì không cần tranh giành, không phải của bạn cũng chẳng cần gắng sức.
Có những việc bạn làm không thành, rất có thể là trời cao đang âm thầm bảo vệ bạn. Ví như xe hỏng bạn đến muộn, bạn lỡ hẹn, mất điện… đừng than vãn, cũng đừng nóng giận, mọi thứ đều có thể là sự an bài tốt nhất.
Vạn sự vạn vật trên đời này đến và đi đều có định số. Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa. Đời người chúng ta, mỗi người đều có bến đò, cũng đều có con thuyền trở về của riêng mình. Vậy nên hãy luôn tin rằng, mọi sự an bài của thế gian đều có đạo lý riêng. Mất ở đông ắt nhận lại ở tây, chúng ta chỉ cần làm theo tiếng gọi của bản thân, làm một người lương thiện và ấm áp.
Thực ra, chúng ta đến thế giới này chỉ có một lần duy nhất. Trăm năm sau, không còn tôi, cũng chẳng còn bạn. Chúng ta nỗ lực cả đời cũng không mang theo được một viên gạch ngói nào; chúng ta chấp niệm một kiếp cũng không mang đi được một tơ một hào yêu hận tình thù. Đời người ngắn ngủi lắm, vậy nên hãy ăn món cơm bạn muốn ăn, gặp người bạn muốn gặp, ngắm phong cảnh bạn yêu thích và làm những việc bạn đam mê. Hãy tránh xa những người, những việc làm hao mòn năng lượng của bạn.
Một người khó chiều lòng trăm người, một bức tường khó ngăn gió tám phương. Trên đời này, dù bạn sống thế nào cũng sẽ có người bình phẩm dài ngắn; dù bạn làm thế nào cũng có người khoa tay múa chân; dù bạn làm tốt đến đâu cũng có người nói bạn không ra gì. Vậy nên không cầu vạn sự như ý, chỉ cầu không thẹn với lòng, làm tốt chính mình là đủ.
Thế giới này vốn dĩ không hoàn hảo, vậy nên hãy học cách chấp nhận và thấu hiểu. Hạ thấp kỳ vọng của bản thân, đòi hỏi nhiều ở mình hơn, bớt mong cầu ở người khác. Người ta không đặt bạn vào trong mắt, hà tất phải đặt họ vào trong tâm. Người ta chẳng để ý đến bạn, bạn việc gì phải khổ sở một lòng một dạ với họ.
Tình cảm cũng vậy, tình bạn cũng thế. Xưa nay chưa từng có chuyện một người cứ mãi nhẫn nhịn, cam chịu mà duy trì được, đó phải là sự trân trọng đến từ cả hai phía. Đối với người, bạn có thể bao dung nhưng không thể dung túng; đối với tình cảm, bạn có thể chuyên nhất nhưng không thể si mê. Nếu không được coi trọng, bạn phải học cách quay lưng; nếu không được trân quý, bạn phải biết cách buông tay.
Vậy nên, mặc kệ là ai sau lưng bình phẩm về bạn thế nào, bạn đều hãy cứ xem như không. Bạn chỉ cần quan tâm đến hiện tại và tương lai của chính mình là đủ. Phàm là những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy quá mệt mỏi, hãy cứ trực tiếp kết thúc nó đi, đừng tự làm khó bản thân.
Vậy nên, nhất định phải ghi nhớ: phàm những gì ta mất đi, đều không phải là những thứ thực sự thuộc về ta; phàm những gì ta mong cầu, đều là những thứ đang trói buộc ta. Vạn vật đều là để ta dùng, chứ không thuộc sở hữu của ta. Người quân tử sai khiến vật, chứ không để vật sai khiến mình. Đạo lớn rất đơn giản: không ham muốn ắt sẽ kiên cường, thuận theo tự nhiên thì không gì là không làm được..!!!
Bài sưu tầm
– Ảnh minh hoạ
Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn
Duyên Kỳ Ngộ
(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)
Bài viết của Đặng Thái Sơn
Lời phi lộ:
Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.
\Chuyện được kể như dưới đây.
Phùng Văn Phụng
Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.
Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”
Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”
Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.
Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.
Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.
Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.
***
Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!
– Nhớ rồi, nhớ rồi!…
– Thầy nói, chụp hình, chụp hình…
– Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.
Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…
Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!
Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.
– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?
Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Đặng Thái Sơn
Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.
TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN. – Cang Huynh
Cang Huynh
TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN.
*Normandy, Pháp. 1944 bị quân Nazi Đức chiếm đóng. Phong trào Kháng chiến Pháp hiện diện khắp nơi. Những kẻ cộng tác bị xử bắn, những kẻ phản bội bị treo cổ. Tình yêu là thứ xa xỉ. Tình yêu với kẻ thù là án tử.
Một phụ nữ Pháp 19 tuổi tên là Colette L. làm việc trong một tiệm bánh mì. Mỗi sáng, cô ấy đi bộ qua một trạm kiểm soát Đức. Mỗi sáng, một người lính Đức 22 tuổi tên Hans W. nhìn cô ấy vượt qua. Mỗi sáng, đôi mắt của họ chạm nhau. Trong một giây. Sau đó họ nhìn đi chỗ khác.
Trong 6 tháng, họ đã không nói chuyện. Nó quá nguy hiểm. Anh ta là kẻ thù. Cô ấy là người bị chiếm đóng. Một cuộc trò chuyện duy nhất có thể khiến cả hai bị giết.
Rồi một ngày nào đó, Colette làm rơi cái giỏ của cô ấy. Hans đã nhặt nó lên. Ngón tay của họ chạm vào nhau. Colette thì thầm: “Merci”. “Hans thì thầm: “không có gì”. Đó là tất cả. Thế là đủ rồi. Vì gia đình anh ta sống gần biên giới Pháp – Đức nên anh nói được một ít tiếng Pháp.
Họ bắt đầu để lại những lá thư. Trong giỏ. Dưới một tảng đá. Trong một vết nứt trên tường tiệm bánh. Những dòng chữ đơn giản. “Anh đã thấy em hôm nay. Em trông thật đẹp”. “Tôi đã đếm từng giờ cho đến ngày mai.” “Bạn có tin vào Chúa không? Bây giờ tôi biết rồi. Bởi vì Ngài đã tạo ra bạn.”
Trong 4 tháng, các lá thư tiếp tục. Họ không bao giờ nói chuyện nữa. Họ không bao giờ chạm vào nhau lần nữa. Họ chỉ viết thôi.
Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 — D-Day — quân đồng minh đã đổ bộ thành công. Người Đức bắt đầu rút lui. Hans được lệnh rời khỏi ngôi làng. Anh ấy đã viết một lời nhắn cuối cùng. Anh ta để nó dưới tảng đá. Thư viết: “Tôi sẽ đi. Anh sẽ không bao giờ quên em. Anh sẽ tìm em sau chiến tranh. Chờ tôi nhé.”
Colette đã tìm thấy lá thư. Cô ấy bỏ nó vào túi. Cô ấy đi nhà thờ. Cô ấy đã cầu nguyện.
Quân Kháng chiến đã tìm thấy lá thư. Họ đã tìm thấy những lá thư khác. Họ đã tìm thấy Colette. Họ buộc tội cô ấy hợp tác. Họ nói: “Cô đã ngủ với kẻ thù. Cô đã cho anh ta thông tin. Cô là kẻ phản bội.”
Colette nói: “Tôi chưa bao giờ ngủ với anh ấy. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ấy. Chúng tôi chỉ viết thư thôi. Chúng tôi chỉ yêu.”
Quân kháng chiến đã không tin cô ấy. Họ đã tổ chức một phiên tòa. Phiên tòa kéo dài 10 phút. Bản phán quyết: có tội. Bản án: cái chết.
Colette đã bị bắn vào ngày 17 tháng 8 năm 1944. Cô ấy mới 20 tuổi. Lời cuối cùng của cô ấy: “Tôi không phải là kẻ phản bội. Tôi là một người phụ nữ yêu một người đàn ông. Chỉ có vậy thôi.”
Hans không biết. Anh ta đang rút lui về phía Đức. Ba tuần sau, anh ta đã bị bắt bởi lực lượng Mỹ. Anh ta đã ở trong trại tù chiến tranh khi nghe tin tức. Anh ấy đã ngừng ăn. Anh ta đã ngừng nói. Anh ta chết vì “suy dinh dưỡng” – nhưng những tù nhân khác nói rằng anh ta chết vì một trái tim tan vỡ. Anh ấy 23 tuổi.
Năm 2019, một đội xây dựng ở Normandy đã phá hủy một bức tường cũ. Họ tìm thấy một cái lỗ trên tường. Bên trong cái lỗ là một cái hộp thiếc. Bên trong hộp có 47 lá thư. Thư của Colette gửi cho Hans. Thư của Hans gửi Colette. Chúng đã được mẹ của Colette giấu trong bức tường, người đã tìm thấy những lá thư sau khi Colette chết và không thể chịu đựng được việc đốt cháy chúng.
Các lá thư hiện đang ở trong một viện bảo tàng ở Caen. Chúng được trưng bày trong hộp thủy tinh. Du khách đọc chúng và khóc.
Câu hỏi mà giám đốc bảo tàng – một người phụ nữ tên là Tiến sĩ Marie-Claire B. — hỏi mỗi vị khách: “Nếu sinh ra ở các quốc gia khác nhau, họ đã kết hôn và sống hạnh phúc. Nhưng họ sinh năm 1944. Vì vậy họ đã chết. Có bao nhiêu người yêu khác đã bị sát hại trong lịch sử, và bao nhiêu lá thư vẫn còn giấu trong tường, đang chờ được tìm thấy?” .
– Cang Huỳnh
lược dịch từ Échos du temps.
Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương
Trần Trân
Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương
Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.
Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II
Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.
Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.
Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.
Mặt trái của Phương Án II
Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.
Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.
Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…
Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.
Tang thương Cát Lái
Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.
Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!
Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?
Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.
Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.
Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.
Trích Bên Thắng Cuộc
-Huy Đức
NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA…
Bang Uong
Luong Vu
NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA..
Vua Charles công khai “chỉnh đốn” các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa bằng cách nhắc nhở họ về bổn phận thực thi cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với ông Trump – ngay trước mặt họ – trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội!
Trong bài phát biểu trước phiên họp chung của Quốc hội, Vua Charles III đã nhấn mạnh những cội rễ lịch sử sâu sắc gắn kết nền dân chủ Anh và Mỹ; ông lưu ý rằng Magna Carta – văn kiện cổ xưa có chức năng giới hạn quyền lực hoàng gia – đã được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án tại Tòa án Tối cao kể từ năm 1789.
Ông chỉ ra rằng Magna Carta, ra đời từ năm 1215, chính là nền tảng cho nguyên tắc khẳng định: quyền hành pháp phải có giới hạn, người dân được hưởng các quyền lợi, và nguyên thủ quốc gia cũng phải tuân thủ pháp luật.
Câu nói này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ các nhà lập pháp, khiến tất cả phải đứng dậy vỗ tay tán thưởng.
Thông điệp được gửi gắm là vô cùng rõ ràng: không một ai – ngay cả một vị vua, và chắc chắn là cả một vị tổng thống – được phép đứng trên pháp luật hay Hiến pháp.
Trong bối cảnh ông Donald Trump liên tục thách thức các giới hạn của quyền hành pháp và công kích những thể chế vốn được thiết lập để kiểm soát quyền lực của ông, lời nhắc nhở từ Vua Charles càng trở nên đầy trọng lượng và ý nghĩa.
Đó là một sự tương phản đầy mạnh mẽ: trong khi ông Trump liên tục công kích các thẩm phán, giới truyền thông và bất kỳ ai dám tìm cách kiềm chế ông, thì vị quân vương nước Anh lại đứng trước Quốc hội để tôn vinh chính những giá trị cốt lõi của trách nhiệm giải trình và một chính quyền có giới hạn quyền lực. Dân chủ – một giá trị mà ngay cả một vị vua thực thụ cũng biết trân trọng.
Nếu bạn tán đồng lời nhắc nhở đầy tinh tế nhưng cũng vô cùng dứt khoát của Vua Charles về việc không ai được đứng trên pháp luật, xin hãy nhấn “Thích” và chia sẻ bài viết này.
MẤT TÔI – ĐƯỢC TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”.
“Cho tôi một trăm người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi, tôi sẽ đem cả thế giới về cho Chúa Kitô!” – John Wesley.
Kính thưa Anh Chị em,
Để đem cả thế giới về cho Chúa Kitô, con người trước hết phải biết quên mình. Lời Chúa hôm nay hé mở một nghịch lý lạ lùng: chính lúc ‘mất tôi’, chúng ta lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất. Chỉ lúc đó, chúng ta mới thật sự biết yêu như Ngài yêu và có sức biến đổi lòng người.
Nếu áp dụng lời Chúa Giêsu hôm nay, một câu hỏi có thể nảy sinh: vậy tình yêu có thể truyền dạy được sao? Đức Bênêđictô XVI giải thích: Thiên Chúa không đòi một cảm xúc mà chúng ta không thể tạo ra. Tình yêu Kitô giáo không chỉ là cảm xúc, nhưng còn là chọn lựa của ý chí. Chính khi ý chí con người dần trùng khớp với ý chí Chúa Kitô, chúng ta mới bắt đầu biết yêu như Ngài yêu; và cũng chính lúc đó, chúng ta bắt đầu ‘mất tôi – được tôi’. “Con người không thể gặp lại chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến trao chính mình!” – Gioan Phaolô II.
Vì thế, giới răn yêu thương của Gioan không còn là chuyện “thích hay không thích”, nhưng là để con tim được biến đổi. Khi yêu như Chúa Kitô yêu, con người không đánh mất tự do; trái lại, tự do đạt tới sự viên mãn, vì ý muốn của chúng ta bắt đầu cùng nhịp với ý muốn của Thiên Chúa. Và một khi không còn bị cái tôi khép kín điều khiển, chúng ta mới có thể yêu mà không tính toán, không phân biệt và không sợ mất mát. Chính vì thế, một trăm con người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi có thể biến đổi cả thế giới. Khi không còn sống cho chính mình nữa, tình yêu của họ bắt đầu tạo nên một khác biệt. Và cũng chính lúc ‘mất tôi’, họ lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất.
Đó cũng là điều đã xảy ra với Hội Thánh sơ khai. Các tông đồ và kỳ mục đã dám “mất” đi những bảo đảm quen thuộc để đón nhận những anh em dân ngoại vào cùng một đức tin. Họ không đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài “những điều cần thiết” – bài đọc một. Đó là dấu của một cộng đoàn không còn sống theo ý riêng, nhưng theo ý muốn của Chúa Thánh Thần. Và chính khi dám ‘mất tôi’, Hội Thánh sơ khai lại ‘được tôi’, để rồi có thể reo lên: “Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ!” – Thánh Vịnh đáp ca.
Anh Chị em,
Đức Kitô đã sống nghịch lý ấy cách trọn vẹn nhất. Trên thập giá, Ngài đã “mất” tất cả: bị khước từ, bị trao nộp và hiến dâng đến giọt máu cuối cùng; một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Nhưng cũng chính lúc mất đến tận cùng, Ngài lại được tôn vinh; vì thập giá trở thành vinh quang, phục sinh trở thành khải hoàn và muôn dân trở thành gia nghiệp. Bởi thế, ai dám mất mình trong tình yêu của Đức Kitô sẽ không đánh mất cuộc đời, nhưng gặp lại chính mình trong Ngài.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin dạy con biết ‘mất tôi’ để ‘được tôi’; dám yêu mà không tính toán; dám hiến trao mà không giữ lại chính mình!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
******************************************************
Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Phục Sinh
Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 15,12-17
12 Khi ấy, đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.
16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”
YÊU MẾN CHÚA NƠI THA NHÂN-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 14,15-21)-(Chúa nhật 6 Phục sinh)
Sứ điệp: Chúa Giê-su muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu mến, phục vụ tha nhân.
***
Thể hiện tình thương
Có nhiều cách thể hiện tình thương: Các đôi tình nhân bày tỏ tình thương bằng những món quà; cha mẹ bày tỏ lòng thương con bằng chăm sóc chu đáo, ân cần giáo dục… Bạn bè thân thiết tỏ lòng yêu thương nhau bằng chia ngọt sẻ bùi…
Còn Chúa Giê-su, Ngài thể hiện tình yêu đối với Chúa Cha bằng cách nào?
Thưa, bằng sự vâng phục tuyệt đối. Ngài vâng theo ý Chúa Cha cho dù phải hiến thân chịu chết.
Trước khi nộp mình chịu khổ nạn, Chúa Giê-su cho các môn đệ biết sở dĩ Ngài hiến thân chịu khổ nạn, là “để thế gian biết rằng Ngài yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền dạy,” là chấp nhận chịu khổ nạn theo ý Chúa Cha để mang ơn cứu độ cho muôn người (Ga 14, 30-31).
Cụ thể là,
- Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng lời Chúa Cha đến nỗi để cho người ta bắt bớ, vu cáo, phỉ nhổ, tát vào mặt… mà không hề chống đối;
– Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng theo ý Chúa Cha, để cho người ta đánh đòn hung bạo, để cho vòng gai nhọn cắm sâu vào đầu, lảo đảo vác thập giá lên đồi Sọ, chịu đóng đinh vào thập giá và chết quằn quại đau thương tủi nhục để đền tội cho muôn dân.
Chúa Giê-su đã vâng lời Chúa Cha đến mức phải chết thảm thương như thế cho thấy tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha là vô biên, vô hạn.
Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách nào?
Chúa Giê-su thể hiện lòng yêu mến Chúa Cha bằng cách vâng phục Chúa Cha, thì Ngài cũng yêu cầu những ai yêu mến Ngài cũng hãy vâng giữ huấn lệnh của Ngài.
Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” và một lát sau, Ngài nhấn mạnh: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.”
Như vậy, Chúa Giê-su đòi buộc chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách tuân giữ điều răn Chúa dạy, và điều răn đó được Chúa Giê-su tóm gọn như sau:
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Như thế, Chúa Giê-su mong muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu thương chăm sóc người lân cận.
Khi sống vô cảm với người chung quanh, khi thờ ơ trước những nỗi đau của người khác, khi không ra tay giúp đỡ kẻ khốn khổ bần cùng… là chúng ta quay lưng lại với Chúa.
Lạy Chúa Giê-su,
Thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng những lời ca khen chúc tụng, bằng những câu kinh lời nguyện thì dễ, nhưng thể hiện lòng mến Chúa bằng cách yêu mến mọi người chung quanh là điều rất khó.
Xin mở rộng con tim vô cảm và đổ đầy tình thương Chúa vào lòng chúng con, để chúng con hết lòng yêu mến, phục vụ Chúa hiện diện nơi anh chị em chung quanh. Amen.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
***************************
Tin mừng thánh Gioan (14,15-21)
15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”
From: ngocnga_12 & NguyenNThu
Khi Trí Nhớ Dần Buông: Alzheimer, Dementia và Câu Chuyện Của Bộ Não Già Đi
Bang Uong
Khi Trí Nhớ Dần Buông: Alzheimer, Dementia và Câu Chuyện Của Bộ Não Già Đi
Hanh Van Vo
April 12, 2026
Có những buổi sáng, ta bước vào bếp rồi đứng khựng lại, quên mất mình vào đó để làm gì. Có những lúc cầm điện thoại trên tay mà vẫn đi tìm điện thoại. Những chuyện ấy, may thay, thường chỉ là “sương mù trí nhớ” của tuổi tác, căng thẳng, thiếu ngủ, hay quá nhiều việc phải nhớ. Nhưng khi quên không còn là chuyện thoáng qua, mà trở thành mất dần khả năng nhận diện người thân, lạc đường ngay trong khu phố quen, hay quên luôn cách mặc áo – lúc đó câu chuyện đã bước sang một thế giới khác: dementia (sa sút trí tuệ), trong đó phổ biến nhất là Alzheimer disease (bệnh Alzheimer).
Nói một cách ngắn gọn: Dementia không phải là một bệnh riêng lẻ, mà là một hội chứng – tập hợp các triệu chứng suy giảm trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, khả năng phán đoán và sinh hoạt hằng ngày. Alzheimer là nguyên nhân thường gặp nhất của dementia, chiếm khoảng 60–70% các trường hợp trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 55 triệu người đang sống chung với dementia, và mỗi năm có gần 10 triệu ca mới.
Nếu ví bộ não là một thư viện khổng lồ, thì Alzheimer giống như người thủ thư âm thầm làm rơi dần từng trang sách. Ban đầu chỉ mất vài ghi chú nhỏ: quên tên người quen, quên lịch hẹn. Sau đó là mất cả chương: quên đường về nhà, quên tên con cháu. Và ở giai đoạn muộn, đôi khi cả cuốn sách đời người trở nên mờ nhạt.
Alzheimer là gì? Điều gì xảy ra trong não?
Trong não người bệnh Alzheimer, hai “thủ phạm” chính thường được nhắc đến:
- Amyloid plaques (mảng beta-amyloid)
Đây là những mảnh protein beta-amyloid lắng đọng bất thường giữa các tế bào thần kinh, giống như rác tích tụ trong hành lang bệnh viện mà không ai quét dọn.
- Tau tangles (đám rối tau protein)
Protein tau bình thường giúp nâng đỡ cấu trúc tế bào thần kinh. Khi bị biến dạng, nó xoắn lại thành từng búi, làm hệ thống vận chuyển bên trong neuron tê liệt.
Kết quả là:
- tế bào thần kinh mất kết nối,
- synapse (khớp nối thần kinh) suy giảm,
- vùng hippocampus (hồi hải mã – trung tâm ghi nhớ) teo nhỏ dần.
Hình ảnh MRI não ở Alzheimer thường cho thấy teo hồi hải mã rất rõ – như thể ngăn kéo ký ức đang co lại từng chút một.
Cho đến nay, Alzheimer chưa có một nguyên nhân duy nhất. Đây là bệnh của nhiều yếu tố cộng hưởng:
Yếu tố nguy cơ chính
- Tuổi cao: yếu tố mạnh nhất; nguy cơ tăng rõ sau 65 tuổi.
- Di truyền: gen APOE-e4 làm tăng nguy cơ, đột biến APP, PSEN1, PSEN2 (dạng gia đình hiếm, <5%); APOE ε4 (tăng nguy cơ 3–15 lần).
- Bệnh mạch máu: tăng huyết áp, tiểu đường, mỡ máu cao.
- Ít vận động, ít giao tiếp xã hội
- Thiếu ngủ kéo dài
- Trầm cảm mạn tính
- Chấn thương sọ não trước đây
Mới nổi: rối loạn glymphatic system (hệ thống thoát thải chất thải não bộ khi ngủ) và suy giảm NAD+ – “nhiên liệu” của ty thể. 
Ngày nay, y học xem Alzheimer không chỉ là bệnh “của não”, mà còn liên quan chặt với tim mạch. Một bộ não sống nhờ mạch máu tốt; mạch máu hư thì ký ức cũng lao đao.
Dementia không chỉ có Alzheimer
Ngoài Alzheimer còn có:
- Vascular dementia (sa sút trí tuệ mạch máu)
Do nhiều vi nhồi máu não nhỏ.
- Lewy body dementia
Có thể gây ảo giác, Parkinson nhẹ.
- Frontotemporal dementia
Thường khởi phát sớm, thay đổi tính cách trước khi mất trí nhớ.
- Mixed dementia
Nhiều người lớn tuổi có cả Alzheimer + mạch máu cùng lúc.
Triệu chứng: khi quên vượt khỏi giới hạn bình thường
Giai đoạn sớm:
- quên chuyện mới xảy ra,
- hỏi đi hỏi lại một câu,
- để đồ sai chỗ,
- khó tìm từ ngữ.
- Giai đoạn trung bình:
- lạc đường nơi quen thuộc,
- nhầm ngày tháng,
- thay đổi tính tình: cáu gắt, nghi ngờ.
Giai đoạn muộn:
- không nhận ra người thân,
- mất khả năng tự ăn uống, mặc quần áo,
- phụ thuộc hoàn toàn.
Một dấu hiệu phân biệt quan trọng:
Người bình thường quên rồi nhớ lại; Alzheimer quên luôn cả chuyện mình đã quên.
Chẩn đoán hiện nay dựa vào:
- Khám lâm sàng thần kinh
Các test như MMSE, MoCA.
- MRI / CT não
Đánh giá teo não, loại trừ đột quỵ, u não.
- PET amyloid scan
Phát hiện amyloid trong não.
- Xét nghiệm dịch não tủy
Đo beta-amyloid và tau protein.
- Blood biomarkers (dấu ấn sinh học máu)
Nghiên cứu mới cho thấy plasma p-tau217 đang rất hứa hẹn, có thể trở thành xét nghiệm máu phát hiện Alzheimer sớm trong tương lai gần.
Điều trị hiện nay: giữ ký ức ở lại lâu hơn
Thuốc triệu chứng truyền thống
- Donepezil
- Rivastigmine
- Galantamine
- Memantine
Các thuốc này không chữa khỏi nhưng giúp làm chậm suy giảm nhận thức.
Thành tựu mới nhất: thuốc tác động vào amyloid
Lecanemab (Leqembi)
FDA đã phê duyệt cho Alzheimer giai đoạn sớm. Thuốc giúp giảm amyloid plaque và làm chậm tiến triển bệnh ở mức khiêm tốn nhưng có ý nghĩa.
Donanemab
Một thuốc kháng amyloid mới khác đang cho kết quả khả quan trong thử nghiệm pha III.
Đây là lần đầu tiên y học thật sự “đụng” vào gốc bệnh thay vì chỉ đỡ triệu chứng.
Điều trị không dùng thuốc: đôi khi mạnh hơn cả toa thuốc
Rất quan trọng:
- tập thể dục đều,
- ngủ đúng giờ,
- kích thích trí não (đọc, chơi nhạc, học ngoại ngữ),
- giao tiếp xã hội,
- dinh dưỡng ( Mediterranean diet.)
Liệu pháp hỗ trợ:
- Cognitive stimulation therapy (liệu pháp kích thích nhận thức)
- Âm nhạc trị liệu
- Art therapy
Có cụ già quên tên con cháu nhưng vẫn nhớ giai điệu bài hát tuổi 20 – âm nhạc đôi khi đi vòng qua nơi ký ức còn sót lại.
Thời gian sống sau chẩn đoán trung bình:
- 4–8 năm, nhưng có người kéo dài 15–20 năm.
Điều quyết định không chỉ là thuốc, mà là:
- chăm sóc gia đình,
- kiểm soát bệnh nền,
- phòng té ngã, viêm phổi, suy dinh dưỡng.
Dự phòng: cách tốt nhất là bảo vệ não từ khi chưa quên
Nghiên cứu Lancet Commission cho thấy:
Khoảng 40% trường hợp dementia có thể phòng ngừa hoặc trì hoãn bằng thay đổi lối sống.
Những điều nên làm:
kiểm soát huyết áp, đường huyết
giảm ApoB/LDL
tập thể dục 150 phút/tuần
ngủ đủ 7–8 giờ
học điều mới
giữ kết nối xã hội
điều trị mất thính lực sớm
Và đừng quên: Trí nhớ cũng như lá mùa thu
Trí nhớ không mất đi trong một ngày. Nó rời ta như lá vàng lìa cành: chậm, lặng, và đôi khi đẹp đến xót xa. Người mắc Alzheimer quên tên người thân, nhưng họ vẫn còn cảm nhận được yêu thương qua ánh mắt, bàn tay nắm, giọng nói dịu dàng.
Bệnh này dạy ta một điều rất người:
Khi trí nhớ rời đi, điều còn lại lâu nhất thường là cảm xúc.
Cho nên, nếu trong nhà có người bắt đầu quên, xin đừng vội bực. Có thể họ đang lạc trong chính ngôi nhà ký ức của mình – và chỉ cần một bàn tay dẫn đường.
Thiền vị thì nhắc ta: dù ký ức có phai, hơi thở vẫn đây, tình thương vẫn nguyên. Hãy bắt đầu hôm nay – vì não bộ, dù mong manh, vẫn biết ơn từng bước chân, từng bữa ăn lành mạnh, và từng khoảnh khắc chánh niệm.
Bạn đang đồng hành cùng ai đó hay lo cho chính mình? Hãy chia sẻ,

Chú giải từ chuyên môn
- Dementia: hội chứng sa sút trí tuệ.
- Alzheimer disease: nguyên nhân thường gặp nhất của dementia.
- Amyloid plaque: mảng protein lắng đọng bất thường.
- Tau tangle: đám rối protein tau trong neuron.
- Hippocampus: vùng não ghi nhớ.
- Synapse: điểm nối giữa các tế bào thần kinh.
DISCLAIMER
This content is for educational purposes only and does not replace professional medical advice, diagnosis, or treatment.
If you or a loved one experiences memory changes, please consult a qualified healthcare provider.
Dr Hanh Vo,
Huntingdon Valley April 2026.

Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư
Khang Duy Nguyen
Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…
Nói về cõi thơ Phạm Thiên Thư, Hà Thi trong “Phạm Thiên Thư, người thi hoá kinh Phật” đã viết: “Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo!”
Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam VN) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: “Em lễ chùa này”, “Ngày Xưa Hoàng Thị”, “Động Hoa Vàng”, “Gọi Em Là Đoá Hoa Sầu”…
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say…
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông…
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan…
Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo như thế, thật là khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Quả là cõi thơ Phạm Thiên Thư đã giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên…
Phải chăng khát vọng kiếm tìm là một yếu tính của tình yêu. Và khi nào còn khát vọng tìm kiếm thì tình yêu vẫn còn nguyên giá trị; vẫn mãi mãi là một tiếng gọi thao thiết trong cõi tâm linh của mỗi con người. Đó cũng là điều ta bắt gặp trong thơ Phạm Thiên Thư, một con người suốt đời đi tìm “bụi đỏ” khiến chúng ta không khỏi thấy se lòng. Để rồi cũng như thi nhân ta cứ mãi:
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời.
Tình ơi!… Tình ơi!…
(Ngày xưa Hoàng thị)
Hôm nay nghe tin ông mất, xin thắp một nén hương lòng kính tiễn người đi thong dong bên trời quên lãng.
Sugar Land, Texas
7 tháng 5 năm 2026
Nguyễn Duy Khang
TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…
TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…
Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng Chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng nước Mỹ, đã lưu ý đến sắc đẹp của cô tiếp viên này.
Vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàn ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình.
Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ.
Thật là quái gở không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám mục già kia.
Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…
Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình?
Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.
Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi:
– Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?
Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời:
– Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II.
Cô gái nói tiếp:
– Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?
Đức Cha trả lời:
– Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?
Cô gái sung sướng nói tiếp:
– Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?
Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi:
– Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?
Cô gái ngước đôi mắt xanh như dò hỏi:
– Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.
Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt:
– Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Jean Cassaigne đã từ chức Giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?
Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…
Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt.
Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.
Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.
Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: Tạ ơn Thiên Chúa.
Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.
Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.
Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng.
Anthony Trung Thành








