ĐƯỢC THA – VẪN NỢ  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”.

Ngày 27 tháng 12 năm 1983, cửa một phòng giam tại Rôma mở ra. Mehmet Ali Ağca – người đã bắn trọng thương Đức Gioan Phaolô II – ngồi đó; vị giáo hoàng bước vào. Họ ngồi bên nhau, không ai biết đã nói gì. Thế giới chỉ thấy một nghịch lý: người bắn vẫn ở đó; người bị bắn bước vào.

Kính thưa Anh Chị em,

Lòng thương xót không kết thúc, nhưng bắt đầu nơi người được tha. Lời Chúa hôm nay cho biết: bởi được Thiên Chúa xoá mọi món nợ, chúng ta mang một món nợ không bao giờ trả xong: nợ anh em lòng thương xót, nợ bước vào trước – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúa Giêsu đặt giữa một dụ ngôn bất cân xứng một tiếng vọng nghiệt ngã. “Bảy mươi lần bảy” không kéo dài phép đếm; nó chấm dứt quyền đếm. Trước nhà vua, người đầy tớ sấp mình van xin; ít phút sau, đồng bạn anh cũng sấp mình và lặp gần nguyên lời van xin ấy. Nghe lại tiếng mình mà anh không nhận ra phận mình; gặp một con nợ mà anh không nhớ mình từng là con nợ. Ân xá vua ban xoá tên anh khỏi sổ nợ, chưa xoá được sổ nợ trong lòng anh. Anh được tha món nợ cũ, nhưng vẫn mắc món nợ mới: nợ lòng thương xót.

Điều đáng nói, món nợ đồng bạn mắc là có thật. Anh không sai khi cần công lý; anh sai khi để công lý trở thành lời cuối, sau khi chính mình sống sót nhờ lòng thương xót. Lòng thương xót không phủ nhận món nợ, nhưng không để nó định nghĩa một con người. “Trong thái độ của Thiên Chúa, công lý thấm đẫm lòng thương xót!” – Phanxicô.

Tha thứ không quên tổn thương, càng không gọi điều ác là điều thiện; nhưng nhớ một sự thật lớn hơn nỗi đau. Huấn Ca nhắc: nhớ ngày tận số, nhớ mình sẽ chết, nhớ giao ước của Đấng Tối Cao. Oán giận làm thế giới chỉ còn tôi và người làm tôi đau; nhớ đến Chúa, tôi nhận ra cả hai dưới bóng lòng thương xót của Ngài. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh trở thành nhịp đập của cõi lòng: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương!”.

Trong đời thường, chúng ta không giữ sổ nợ bằng con số, nhưng bằng một lời nói, một lần bị coi thường, một ngày không được bênh vực. Càng giữ, đời mình càng xoay quanh người đã làm mình đau: họ vắng mặt mà vẫn điều khiển hiện tại. Chúng ta tưởng đang giữ họ trong món nợ cũ; thật ra, lỗi của họ đang giữ chúng ta. Vì thế, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” – bài đọc hai. Chúa mới là Chủ; vết thương không có quyền ấy. “Tha thứ là giải thoát một tù nhân và khám phá tù nhân ấy chính là mình!” – Lewis B. Smedes.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cuốn sổ nợ của nhân loại được khép lại trên thập giá. Ngài không mắc nợ ai, nhưng trả món nợ chúng ta không thể trả bằng chính mạng sống mình. Phục Sinh, Ngài trở lại với những môn đệ đã bỏ Ngài; mang theo vết thương, nhưng không mang sổ nợ; trao bình an, không đòi thanh toán. Từ đó, người môn đệ không chỉ sống nhờ ơn tha thứ, nhưng còn phải để ơn ấy đi tiếp đến người khác – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhận ra mình nơi người có lỗi, trao đi lòng thương xót đã nhận và trả suốt đời món nợ yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Chúa Nhật Tuần XXIV – Mùa Thường Niên, Năm A 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” 22 Đức Giê-su đáp  “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

23 “Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống lạy lục: ‘Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.’ 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: ‘Trả nợ cho tao!’ 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống van xin: ‘Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.’ 30 Nhưng y không chịu, cứ đi tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: ‘Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?’ 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”


 

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT.

Tran van Ba

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT.

Đi qua hơn nửa đời người rồi mới hiểu, tuổi già thật ra chẳng cần gì nhiều.

Không cần nhà thật to.

Không cần tiền thật nhiều.

Cũng chẳng cần người khác nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ.

Chỉ mong sáng thức dậy, mình còn tự bước xuống giường được.

Tự ăn, tự uống, tự đi lại, tự lo cho mình.

Không phải chuyện gì cũng nhờ đến con cháu.

Vậy thôi… mà quý lắm.

Tuổi này mới thấy, có sức khỏe là có vốn. Có bình an là có của.

Đầu óc còn minh mẫn, vẫn nhớ được tên con cháu, nhớ những người mình thương. Vẫn còn biết hôm nay mình muốn làm gì, ngày mai mình muốn sống ra sao.

Đó là phúc.

Đêm nằm xuống, lòng không còn giận ai.

Không còn day dứt vì chuyện hơn thua.

Không phải nghĩ mãi về một câu nói của người này, một việc làm của người kia.

Sáng mở mắt ra, thấy trời vẫn sáng, trong lòng vẫn nhẹ.

Có thể mỉm cười với một bữa cơm đơn giản.

Đó cũng là phúc.

Càng lớn tuổi, tôi càng sợ một chuyện hơn cả nghèo.

Đó là người trong một nhà không còn thương nhau.

Anh em vì tiền mà xa nhau.

Con cái vì đất đai mà trách móc nhau.

Cha mẹ để lại cả đống tài sản, nhưng con cháu lại chẳng còn nhìn mặt nhau.

Nghĩ cũng buồn.

Của cải mất thì còn làm lại được.

Nhà cửa hư thì còn sửa được.

Nhưng tình thân một khi đã rạn nứt, muốn hàn gắn lại đôi khi khó lắm.

Bởi vậy, về già rồi, chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua.

Ai làm mình buồn, nếu chưa thể tha thứ thì thôi, cũng đừng giữ mãi trong lòng.

Mang giận dữ theo mình chẳng khác nào tự ôm một hòn đá nặng. Người làm mình tổn thương có khi đã quên từ lâu, còn mình thì cứ mang nó hết ngày này sang ngày khác.

Buông được một chuyện, lòng nhẹ một phần.

Bớt một câu hơn thua, nhà yên thêm một chút.

Nhường nhau một bước, có khi giữ được cả một mối tình thân.

Và nếu đến tuổi này, bên cạnh mình vẫn còn một người bạn đời.

Sáng cùng nhau uống chén trà.

Trưa cùng ăn một bữa cơm.

Tối nằm cạnh nhau, hỏi một câu rất giản dị:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Nghe bình thường vậy thôi, nhưng đó là thứ tiền bạc không mua nổi.

Tuổi già cũng chẳng cần quá nhiều người bên cạnh.

Có vài người thật lòng.

Có một mái nhà để về.

Có con cháu biết thương nhau.

Có một người cùng mình chia sẻ những ngày tháng cuối đời.

Và quan trọng nhất, là trong lòng mình đã biết đủ.

Ngày còn trẻ, ta cứ nghĩ hạnh phúc là có thêm.

Thêm tiền.

Thêm nhà.

Thêm đất.

Thêm danh.

Đến khi đi gần hết một đời mới hiểu…

Hạnh phúc đôi khi lại là bớt đi.

Bớt lo.

Bớt giận.

Bớt hơn thua.

Bớt mong cầu.

Để còn lại sức khỏe, bình an và những người mình thật sự thương.

Sáu mươi, bảy mươi tuổi rồi mới thấm:

Giàu chưa chắc đã sướng.

Nhưng tuổi già không đau thân, không khổ tâm, không phải làm gánh nặng cho con cháu, trong nhà vẫn còn tiếng cười…

Thế là giàu rồi.

Một đời người, sau cùng chẳng mong gì nhiều.

Chỉ mong thân còn khỏe, lòng còn nhẹ, nhà còn ấm và người thương vẫn còn bên cạnh.

Ấy vậy thôi…

Mà có khi đã là phúc lớn nhất của một đời người.

Tran Van Ba . #NguoiCaoTuoi 


 

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001 – Cang Huynh

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Vào thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, lúc 8 giờ 40 phút sáng tại thành phố New York, một người đàn ông nắm bàn tay nhỏ bé của con trai năm tuổi trước một trường mẫu giáo. Cử chỉ yêu thương này của người cha khi đưa con đến trường trong ngày đầu tiên đã cứu sống cậu bé. Nhưng sáu phút sau, cách đó vài kilomet, chiếc máy bay đầu tiên đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới, ngay bên dưới văn phòng công ty ông.

Người đàn ông đó là Howard Lutnick, Giám đốc điều hành của Cantor Fitzgerald.

Nằm giữa tầng 101 và 105, công ty của ông bị mắc kẹt phía trên khu vực va chạm. Chỉ trong vài giây, 658 nhân viên của ông đã thiệt mạng—hai phần ba số nhân viên. Trong số các nạn nhân có những đồng nghiệp thân thiết nhất, những người bạn thời thơ ấu và cả em trai ông, Gary.

Howard lao xuống chân các tòa tháp giữa sự hỗn loạn, bụi bặm và tiếng la hét. Khi sự im lặng trở lại với đống đổ nát, thực tế ập đến với ông với một sức mạnh không thể tưởng tượng nổi: ông là người sống sót của một công ty đã bị xóa sổ.

Mọi người đều nghĩ công ty sẽ phá sản. Báo chí chỉ trích ông, và sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Nhưng Howard biết rằng nếu ông bỏ cuộc, gia đình của những đồng nghiệp đã mất sẽ không còn gì để sống.

Vì vậy, giữa những giọt nước mắt và nỗi đau buồn, ông đã đưa ra một lời hứa long trọng.

Công ty sẽ không đóng cửa.

Nó sẽ hồi sinh vì họ.

Thành công của nó giờ đây sẽ thuộc về gia đình các nạn nhân.

Trong năm năm, những người sống sót ít ỏi còn lại làm việc ngày đêm trong nỗi đau đớn tột cùng. Howard cam kết quyên góp 25% lợi nhuận của công ty trực tiếp cho các góa phụ và trẻ mồ côi, đồng thời bảo đảm bảo hiểm y tế cho họ trong mười năm. Tổng cộng, hơn 180 triệu đô la đã được phân phát cho các gia đình bị ảnh hưởng bởi thảm kịch.

Nhưng Howard đã đưa ra một lời hứa thứ hai, thậm chí còn cảm động hơn, dành cho tất cả những đứa trẻ đã mất cha hoặc mẹ vào sáng hôm đó: “Khi các con lớn lên, một chỗ ở công ty sẽ chờ các con ở đây.”

Nhiều năm đã trôi qua. Những đứa trẻ năm 2001 đã trưởng thành.

Và Howard đã giữ lời hứa của mình.

Từng đứa trẻ mồ côi một bước qua cánh cửa của công ty. Cho đến ngày nay, 57 đứa trẻ là con của các nạn nhân vẫn làm việc trong cùng những văn phòng đó và tiếp nối di sản của cha mẹ đã khuất. Vào ngày 11 tháng 9 hàng năm, công ty cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận trong ngày cho các tổ chức từ thiện trên toàn thế giới.

Howard Lutnick nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của một người đàn ông không được đo bằng những gì anh ta xây dựng trong vinh quang, mà bằng cách anh ta tôn vinh ký ức của những người anh ta yêu thương.

Trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc đời, bổn phận thực sự của người sống là giữ cho ánh sáng hy vọng của những người đã khuất luôn tỏa sáng rực rỡ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

 Lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria – Cha Vương

 Hôm nay  là ngày Lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria. Mời bạn tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của Tên cực thánh Đức Bà Maria mà luôn luôn chạy đến Mẹ với kinh Mân Côi hết lòng tin tưởng  xin Me cậ`u nguye^.n cho nhau và thế giới được an bình nhé. 

Cha Vương

Thứ 7: 12/09/2026.     (t3-23)

NGUỒN GỐC: Ngày lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria được Đức Giáo Hoàng Innocent XI thiết lập vào năm 1683, để kỷ niệm biến cố lớn lao về cuộc chiến thắng vĩ đại của người Kitô hữu chống lại quân Thổ Nhỉ Kỳ do sự che chở rất hiển nhiên của Đức Maria, Nữ Vương trên Trời.

   Năm mươi vạn quân Thổ Nhỉ Kỳ tiến đánh sát thành Vienna và đang đe dọa toàn cỏi  A^u châu. Trong ngày lễ Bát Nhật kính ngày Sinh Nhật Mẹ Maria, Sobieski, vua xứ Ba Lan, quyết tâm đến cứu giúp thành Vienna đang bị quân Thổ bao vây khốn đốn. Vị vua này bắt đầu tiến quân với thánh lễ Misa. Sau khi sốt sắng rước Mình Thánh Chúa xong, ông tiến đến trước bàn thờ giang hai tay hình thánh giá và dỏng dạc hô lớn: “Chúng ta hãy mạnh dạn tiến quân, Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta và Đức Mẹ Maria sẽ trợ giúp chúng ta.” Lòng tin tưởng của vị vua thánh thiện này đã được đền đáp. Quân Thổ mặc dù rất đông đảo nhưng bị tấn công bất ngờ đã bỏ chạy trong rối loạn. Và từ đó danh thánh Mẹ Maria được tôn kính cho đến ngày hôm nay. 

   Thật là chính đáng khi tôn kính tên cực thánh Maria trong những ngày lễ kính của Giáo Hội Công giáo bên cạnh tên cực thánh Giêsu. Tên Maria là một tên cực thánh, đầy vinh quang, một tên có âm điệu dịu dàng, một tên khi gọi đến đều được mọi ơn cứu rổi. Các thánh đã cố gắng ghi lại nhiều điều lạ lùng tuyệt vời khi thốt lên tên cực thánh Maria. Niềm vinh quang của tên cực thánh Maria mà Thiên Chúa đã ban cho cha mẹ của Đức Nữ Đồng Trinh và là tên được Chúa chúc phúc mà thiên thần Gabriel đã rao truyền đầy lòng tôn kính và từ đó mọi thế hệ người Công giáo đã âu yếm lập lại trên đầu môi mỗi ngày; Thiên đàng đã ban cho thế gian một tên cực đẹp và thế gian đã ca tụng tên Maria với một âm điệu vang vọng hiền hòa. Thánh Pierre de Blois nói: “Nghe tên cực thánh Maria, toàn Giáo Hội đều quỳ gối, và những lời cầu xin và nguyện cầu của mọi người được vang vọng lên từ khắp mọi phương trời.”

   Thánh Bonaventure thường cầu nguyện: “Tên của Mẹ đầy vinh quang, ôi Đức Mẹ Chúa Trời, ôi tên cực thánh là nguồn hạnh phúc tuyệt vời.” Chân phước Henri Suzo; “Tên của Mẹ ngọt ngào biết dường nào.” Thánh Ambrose nói: “Tên của Mẹ là hương thơm tỏa ra mọi ngưồn ân sủng. Nhưng đối với thánh Ephrem còn gọi tên của Đức Mẹ Maria là Chìa khóa cửa Thiên Đàng và thánh Bernard thì nói là khi kêu đến tên Maria thì mọi quỷ dữ đều bỏ chạy trốn.

 (PT Huỳnh Mai Trác)

THÁNH TÍCH: Bên Ý có một cô gái đang đi dọc đường, giữa một nơi xa vắng, gặp phải một tên cướp. Tên cướp ấy có tiếng là hung hãn và đã đoạt của cùng giết chết nhiều người. Giữa lúc bơ vơ không ai cứu chữa, cô sợ hãi khiếp kinh. Giáp mặt cô, tên cướp bảo rằng: “Cô hãy nghe ta, bằng không ta sẽ giết”. Trong lúc nguy khốn, cô chợt nhớ đến Đức Mẹ, liền kêu tên Cực trọng Maria, cô lạy tên cướp và xin vì Đức Mẹ mà tha cho mình. Tên cướp nghe nói đến tên Maria thì dừng lại, nghĩ một lúc rồi bảo cô ta: “Được, vì Đức Mẹ mà ta tha chết cho cô, nhưng xin cô nhớ cầu Đức Mẹ cho ta với”. 

Ta xem tên Cực trọng Đức Mẹ linh ứng dường nào, tên cướp định hãm hại cô gái, nhưng vừa nghe tên Cực Thánh Đức Mẹ liền đổi lòng, chẳng những tha cho cô ta, mà lại đưa cô ta qua quảng đường đầy cheo leo ấy nữa. 

*Trong mọi hoàn cảnh, mời bạn hãy kêu tên cực thánh Đức Bà Maria và luôn luôn chạy đến Mẹ với hết lòng tin tưởng nhé.

From: Do Dzung

*****

MẸ MARIA – NGUYỄN HỒNG ÂN

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Các bác sĩ ước tính cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Sau đó, tình trạng của cô trở nên nguy kịch đến mức ngay cả tỷ lệ mong manh đó cũng giảm xuống chỉ còn một con số.

Tuy nhiên, cô đã sống sót.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Lauren đang trên đường đến văn phòng của mình tại Cantor Fitzgerald, nằm trên tầng 105 của Tháp Bắc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới.

Ở nhà, cô có một người chồng và một cậu con trai mười tháng tuổi tên là Tyler.

Cô ấy không bao giờ đến được văn phòng của mình.

Khi Lauren bước vào sảnh, chuyến bay 11 đã đâm vào tòa tháp phía trên cô. Nhiên liệu cháy từ máy bay lan rộng qua các trục thang máy, trong khi một bức tường lửa quét qua sảnh.

Lauren đã cố gắng thoát khỏi tòa nhà, nhưng cô bị bỏng hơn 82% cơ thể.

Những gì xảy ra sau đó không được tính bằng ngày.

Mà bằng năm.

Lauren đã trải qua gần hai tháng trong tình trạng hôn mê do thuốc an thần gây ra. Cô ấy đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật, đối mặt với những biến chứng nghiêm trọng và dành nhiều tháng để phục hồi chức năng thể chất và tinh thần.

Cô ấy nằm viện tại Bệnh viện NewYork-Presbyterian trong 91 ngày.

Sau đó, cô được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng, nơi cô ở thêm ba tháng nữa.

Ngay từ đầu, chỉ có một suy nghĩ duy nhất luôn ám ảnh cô.

Cô ấy muốn được gặp lại con trai nhỏ của mình.

Khi Lauren cuối cùng cũng được về nhà vào tháng 3 năm 2002, sáu tháng đã trôi qua kể từ buổi sáng tháng 9 định mệnh ấy khi cô rời nhà đi làm.

Nhưng quá trình phục hồi của cô vẫn chưa kết thúc.

Năm ngày một tuần, cô trở lại bệnh viện để trị liệu vài giờ, ngoài ra còn có một buổi trị liệu tại nhà vào Chủ nhật.

Và việc hồi phục không có nghĩa là trở thành người phụ nữ giống hệt như trước đây.

Nó có nghĩa là học cách sống với một cơ thể mang những vết sẹo vĩnh viễn từ buổi sáng định mệnh ấy.

Mười năm sau, Lauren kể lại câu chuyện của mình trong cuốn hồi ký, “Sức Mạnh Vô Biên”.

Cô không miêu tả sức mạnh như việc được miễn nhiễm khỏi bi kịch.

Cuộc đời cô đã chứng minh một điều gì đó khó khăn hơn nhiều.

Sức mạnh cũng có thể là việc thức dậy sau khi mọi thứ đã thay đổi và quyết định, hết lần này đến lần khác, tiếp tục xây dựng lại cuộc sống của mình.

Bạn nghĩ điều gì cần nhiều can đảm hơn: vượt qua một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể vượt qua, hay tiếp tục cuộc chiến trong những năm tháng sau đó?

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

Thương chiến Mỹ-Canada: Cầm đuốc đốt nhà mình – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

September 10, 2026

Trúc Phương/Người Việt

“Phe ta bắn phe mình” là chính xác những gì đang xảy ra khi Tổng Thống Trump gây ra cuộc hỗn loạn xuyên biên giới Mỹ-Canada. Ở đây không là chuyện “đao kiếm vô tình” mà thể hiện rất rõ của việc thiếu suy nghĩ đến mức cầm súng bắn thẳng vào chân người nhà. Điều hài hước nhất là chính các tiểu bang MAGA là những nơi “dính chưởng” của đại giáo chủ “Thần Giáo MAGA” Donald Trump.

Thủ Tướng Mark Carney (phải) nói chuyện với Tổng Thống Donald Trump trong bữa trưa tại Hội Nghị Thượng Đỉnh G7 ở Evian, miền đông nước Pháp, hôm 16 Tháng Sáu. (Hình minh họa: Evelyn Hockstein/POOL/ AFP via Getty Images)

Những tiểu bang nào “dính chưởng?”

Ngày 8 Tháng Chín, ông Trump ký lệnh cấm nhập cảng sản phẩm sữa, đồ uống có cồn và xe máy từ Canada trong vòng ba tuần. Cùng lúc, ông điều chỉnh phạm vi một số thuế quan. Các thay đổi về thuế quan có hiệu lực ngày 15 Tháng Chín, trong khi lệnh cấm có hiệu lực ngày 29 Tháng Chín.

Chưa hết, ông Trump dọa tăng thuế đối với kim loại và xe hơi nhập từ Canada lên 50% vào ngày 1 Tháng Giêng, 2027. Theo thăm dò Reuters công bố đầu Tháng Chín, chỉ 20% người Mỹ ủng hộ chính sách thuế quan nhằm vào Canada.

Vấn đề không chỉ là chính sách thuế quan mà là thái độ ngúng nguẩy làm nư rất trẻ con của ông già hơn 80 tuổi Donald Trump. Ngày 7 Tháng Chín, ông Trump lên cơn thịnh nộ khi nhắm vào công ty Canada Bombardier Aerospace. Ông gào thét trên Truth Social: “KHÔNG ĐƯỢC BÁN SẢN PHẨM CỦA BOMBARDIER TẠI MỸ NỮA! HÃY MUA HÀNG MỸ. BAY BẰNG MÁY BAY MỸ. THƯỞNG THỨC RƯỢU VÀ ĐỒ UỐNG MỸ. CHƠI THUYỀN TRÊN HỒ MỸ. NƯỚC MỸ TRÊN HẾT!”

Điều nực cười ở chỗ, với đòn tấn công này, ông Trump coi như “bắn nhầm” đồng minh là Thượng Nghị Sĩ Roger Marshall (Cộng Hòa-Kansas) – người đang đối mặt ứng viên Dân Chủ là ông Adam Hamilton tại một tiểu bang vốn được coi là “thành trì đỏ.” Cần biết, trụ sở chính của Bombardier tại Mỹ đặt ở thành phố Wichita của Kansas, nơi họ sử dụng hơn 1,000 lao động. Bombardier tạo việc làm cho người lao động Mỹ tại ít nhất 10 tiểu bang. Chuỗi cung ứng của họ liên quan khoảng 2,800 công ty trên khắp nước Mỹ.

Toàn cảnh, cuộc chiến leo thang với Canada gây nhốn nháo vùng Trung Tây – nơi định đoạt kết quả một số cuộc đua quan trọng nhất trong kỳ bầu cử giữa kỳ. Chính khu vực này là nơi góp phần tạo nên hai chiến dịch thành công của ông Trump, chẳng hạn Iowa và Ohio (nơi ông củng cố sự ủng hộ của Cộng Hòa); và Pennsylvania, Wisconsin, Michigan (nơi ông lội ngược dòng giành chiến thắng trong cả hai lần tranh cử). Trong cuộc bầu cử 2024, ông Trump thắng đậm tại Michigan khi giành được toàn bộ 15 phiếu đại cử tri.

Michigan có kim ngạch thương mại hàng năm đạt khoảng $80 tỷ với tỉnh Ontario của Canada. Theo Politico, hàng hóa xuất cảng trị giá khoảng $1.3 tỷ của Michigan đang đối mặt với các mức thuế trả đũa mới từ Canada. Đây là một trong những con số cao nhất so với các tiểu bang khác. Chuck Lippstreu, chủ tịch Hiệp Hội Kinh Doanh Nông Nghiệp Michigan, cho biết, “hàng hóa được vận chuyển qua lại giữa biên giới Michigan và Ontario, có thể nhiều lần trong suốt quá trình sản xuất thực phẩm. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của mối quan hệ thương mại hai chiều với Canada, đặc biệt đối với một tiểu bang biên giới như chúng tôi, nơi cũng nằm trên một trong những hành lang thương mại nhộn nhịp nhất lục địa.”

Điều này cũng đúng với công nghiệp xe hơi – lĩnh vực đóng góp khoảng ¼ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Michigan và tạo việc làm cho hàng trăm ngàn người. Quy trình sản xuất linh kiện và lắp ráp nhiều mẫu xe hàng đầu của Mỹ đều diễn ra ở cả hai bên biên giới. Chẳng hạn mẫu xe bán tải F-Series Super Duty của Ford được sản xuất tại một nhà máy ở Oakville, Ontario; hộp số xe được sản xuất tại Ohio; trục xe đến từ Michigan, còn động cơ được sản xuất tại Ontario.

Ông Trump nói đi nói lại, “CHÚNG TA KHÔNG CẦN CANADA, HỌ MỚI CẦN CHÚNG TA!” Tuy nhiên, có thể “chúng ta” không “cần” Canada nhưng các đảng viên Cộng Hòa trong khu vực thực sự “cần” ông Trump không làm rạn nứt quan hệ thương mại với đồng minh Canada, ít nhất từ nay đến bầu cử giữa kỳ. Cần biết, quyền kiểm soát Hạ Viện phụ thuộc phần lớn vào kết quả ba cuộc đua gay cấn tại Iowa, một cuộc đua ở Wisconsin và ba hoặc bốn cuộc đua ở Pennsylvania.

Điều đáng chú ý nhất là giới chính trị gia Cộng Hòa tại vùng Trung Tây đến nay vẫn không dám công khai chỉ trích thuế quan của ông Trump. Nhân vật gần như duy nhất lên tiếng là Thượng Nghị Sĩ Susan Collins (Cộng Hòa, Maine). Chẳng phải Susan Collins lo lắng gì cho số phận cử tri, bà chỉ quan tâm đến cái ghế của bà, trong bối cảnh đang đối mặt cuộc đua tái đắc cử đầy cam go trước đối thủ Dân Chủ là Troy Jackson. Năm 2025, bà Susan Collins cùng ba thành viên Cộng Hòa bỏ phiếu ủng hộ Dân Chủ kêu gọi ông Trump bãi bỏ các mức thuế áp lên Canada. Lần này, bà gọi việc leo thang thuế quan là một “sai lầm” và kêu gọi hai bên trở lại bàn đàm phán…

Tác động thuế quan gây ảnh hưởng rất sâu rộng tại Maine, làm tăng chi phí đối với hàng loạt mặt hàng, từ thép, giấy đến sản phẩm từ sữa. Kể cả muối rải đường dùng để bảo trì giao thông trong mùa Đông cũng tăng. Theo Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế Maine, Canada là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Maine. Tổ chức này ước tính khoảng 40% tổng kim ngạch xuất cảng hàng hóa của Maine là sang thị trường Canada.

Tại Ohio, cuộc chiến thương mại cũng trở thành vấn đề nóng trong cuộc đua giành ghế Thượng Viện giữa thượng nghị sĩ của Cộng Hòa là Jon Husted và cựu thượng nghị sĩ của Dân Chủ là Sherrod Brown. Đây là một trong những cuộc đua đáng chú ý nhất của Thượng Viện 2026. Reuters xếp Ohio vào nhóm chín cuộc đua có khả năng quyết định quyền kiểm soát Thượng Viện. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy Sherrod Brown đang dẫn Jon Husted khoảng 3-4 điểm.

Tương tự, tại Michigan, vấn đề ông Trump gây sự với Canada cũng biến tiểu bang này thành mặt trận quan trọng trong cuộc đua Thượng Viện giữa cựu dân biểu Cộng Hòa là Mike Rogers và ứng viên Dân Chủ Abdul El-Sayed. Và không dừng ở những tiểu bang chiến trường quen thuộc, phe Dân Chủ đang mở rộng tham vọng sang cả Iowa và Alaska – những thành trì Cộng Hòa mà họ nay nhìn thấy cơ hội bất ngờ để phá vỡ thế phòng thủ của Cộng Hòa tại Thượng Viện…

“Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”

Ngành công nghiệp xe hơi Mỹ vốn điêu đứng từ sau COVID-19 và khó khăn tiếp tục bủa vây ngay cả trước khi ông Trump áp thuế 50% lên các dòng xe mang lại lợi nhuận cao mà “Bộ Ba” nhà sản xuất xe hơi (Big Three) chế tạo tại Ontario. Nhìn chung, “thành phố xe hơi huyền thoại” Detroit (Michigan) là một trong những nơi chịu tác động trực tiếp nhất của cuộc chiến thương mại. Không đơn thuần là một thành phố sát biên giới, Detroit nằm ở trung tâm của nền kinh tế xuyên biên giới Detroit-Windsor.

Detroit nằm đối diện Windsor, Ontario, chỉ cách nhau qua sông Detroit. Hai thành phố được nối bằng cầu Ambassador Bridge và nay thêm Gordie Howe International Bridge. Detroit-Windsor là cửa quốc tế bận rộn nhất Bắc Mỹ về giá trị thương mại. Michigan cho biết tuyến này vận chuyển hơn một phần tư tổng thương mại Mỹ-Canada, trị giá khoảng $700 tỷ mỗi năm. Chỉ riêng cây cầu Ambassador Bridge đã giúp giao thương hơn $140 tỷ hàng hóa mỗi năm, tương đương khoảng $390 triệu/ngày. Gần một nửa lượng hàng qua đây liên quan đến xe hơi, phụ tùng, máy móc, thiết bị, nhựa và điện tử.

Chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất xe hơi Mỹ đan xen chặt chẽ qua lại giữa hai bên biên giới và rất khó tách rời. Ngoài xe tải hạng nặng – loại xe giờ đây phải chịu mức thuế 50% khiến doanh số sụt nghiêm trọng – “Bộ Ba” nhà sản xuất còn lắp ráp nhiều mẫu xe khác tại Canada, trong đó có Dodge Charger, Chrysler Pacifica và Chrysler Voyager. Theo các biện pháp trả đũa của ông Trump, thuế suất đối với sedan và xe tải nhẹ – vốn ở mức “chỉ” 25% – cũng sẽ tăng lên 50% vào ngày 1 Tháng Giêng, 2027. Các hãng xe còn phải chịu mức thuế 50% đối với thép và nhôm nhập cảng từ Canada.

Theo phân tích của National Taxpayers Union Foundation (thông qua công cụ theo dõi thuế quan Tariffs Tracker), thuế quan khiến Michigan thiệt hại khoảng $23 tỷ (tương đương $5,619 mỗi hộ gia đình) kể từ năm 2025. Đây là mức thiệt hại cao thứ ba cả nước, chỉ đứng sau California và Texas…

Như nói ở trên, dù đang bị bắn vào chân, giới chính trị gia Cộng Hòa tại các tiểu bang bị ảnh hưởng bởi đòn thuế quan vẫn gần như im như hến. Abdul El-Sayed (ứng viên Dân Chủ tranh cử Thượng Viện) và Jocelyn Benson (ngoại trưởng tiểu bang Michigan, đang tranh chức thống đốc kế nhiệm bà Gretchen Whitmer) giận đến mức thường xuyên chỉ trích hết lời các đối thủ Cộng Hòa. Ông Abdul El-Sayed nói: “Nếu bạn khơi mào cuộc chiến thương mại với Canada thì bạn không gì hơn là một kẻ khốn nạn.”

Dù vậy, với một số tín đồ MAGA, nguy cơ “đói rã họng” vẫn chẳng là gì to tát. The Washington Post thuật, khi được hỏi liệu có tin cuộc chiến thương mại của ông Trump đang bảo vệ việc làm tại địa phương mình hay không, cử tri Misti Robinette (nữ công nhân Ford) vẫn “can đảm” trả lời: “Tôi tin tưởng tuyệt đối. 500%!!” rằng Trump là “vị tổng thống tuyệt vời nhất mà tôi nghĩ mình từng chứng kiến trong đời!!!”

Cái này dân gian kêu là “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay!” [dt]


 

THA THỨ LÀ TỰ CỨU MÌNH – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (18, 21-35) Chúa nhật 24 thường niên)

Tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình là điều rất khó, lắm người không làm được, giận ai là giận dai dẳng, năm nầy qua tháng khác, có khi giận đến cuối đời!

Để có thể tha thứ cho người khác, trước hết, chúng ta cần nhận thức rằng: Tha thứ cho người khác thì có lợi cho chính ta, còn giận hờn ghim gút người khác là tự đày đọa chính mình.

 Có hai lý do đòi buộc mỗi người phải tha thứ.

– Lý do thứ nhất:

Nếu ta có tha thứ cho người khác thì Chúa mới tha tội cho ta. Đây là điều kiện bắt buộc phải có để được ơn tha thứ.

Chúa Giê-su khắc sâu điều nầy vào tâm trí chúng ta qua dụ ngôn Tin mừng thánh Mát-thêu sau đây: Một tên đầy tớ nợ vua một món nợ kếch xù, dù bán tất cả những gì anh có cũng không thể trả hết nợ; nhưng vì anh van xin nài nỉ, nên nhà vua đã động lòng tha hết nợ cho anh.

Vậy mà sau đó, anh ta lại tống cổ người bạn của mình vào ngục chỉ vì người nầy mắc nợ anh một số tiền nhỏ hơn nhiều.

Khi nhà vua biết được điều thất đức nầy, ông “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày trả hết nợ cho ông.”

Rồi Chúa Giê-su kết luận: “Cha của Thầy ở trên Trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 23-35).

 – Lý do thứ hai: Tha thứ cho người khác là tự cứu mình.

Có người xúc phạm đến ta khiến ta giận hờn tức tối.

Người làm ta tổn thương vẫn ăn ngon, ngủ yên, đang vui sống cuộc đời của họ; còn ta thì ngày ngày mang theo sự tức giận trong lòng, để nó giày vò tâm trí ta, làm huyết áp tăng cao, mất ăn mất ngủ, mất bình an… Đây chính là nguyên nhân gây nhiều tác hại lên sức khỏe thể xác và tinh thần.

Vậy thì hãy khôn ngoan dứt bỏ giận hờn! Đừng tiếp tục ôm hận, giữ hờn và nhai đi nhai lại những chuyện làm cho lòng ta đau đớn.

Hãy dứt bỏ ngay. Đừng trao cho người khác quyền xâm chiếm hồn ta, phá hỏng sức khỏe và đánh cắp sự bình an của ta.

Ta tha thứ cho người khác không phải vì họ đáng được tha, mà vì ta xứng đáng được bình an.

Vậy thì hãy buông bỏ nó ngay hôm nay.

Hãy cứu lấy chính mình ngay lúc nầy!

Đừng biến một lỗi lầm của người khác thành bản án trừng phạt đời ta!

 Lạy Chúa Giê-su,

Hành động cao cả nhất, câu nói đẹp nhất, đáng ghi nhớ nhất trong đời Chúa, đó là lời Chúa thân thưa cùng Thiên Chúa Cha khi đang bị treo thân trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.”

Chúa không những không trách móc hay lên án những người đóng đinh mình, mà còn tỏ lòng thương xót, sẵn sàng tha thứ và hơn thế nữa, cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho họ.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để sẵn sàng tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con. Amen.

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu 


 

LẠY CHÚA  – RỒI THÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”.

“Chỉ người tin mới vâng phục; và chỉ người vâng phục mới tin!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải ai gọi “Lạy Chúa, lạy Chúa!” cũng để Chúa làm Chúa. Lời Chúa hôm nay chỉ ra khoảng cách giữa lời tuyên xưng trên môi và sự vâng phục trong cuộc sống – ‘Lạy Chúa – rồi thôi’.

Trong câu “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”, bản Hy Lạp viết kaleîte – “gọi” và poieîte – “làm”; cả hai đều ở thì hiện tại. Đây không phải một lần yếu đuối, nhưng một mâu thuẫn đã thành nếp: vẫn gọi mà không làm; vẫn trao Ngài một danh xưng, nhưng giữ cho mình quyền quyết định. Lời tuyên xưng không sai; chỉ bị giữ lại trên môi, không xuống tới đôi tay. Chúa Giêsu không hỏi chúng ta nói đúng chưa; Ngài hỏi điều chúng ta nói đã thành điều chúng ta sống chưa. Có một đức tin đúng từng chữ mà vẫn sai cả một đời. 

Để cho thấy lời tuyên xưng phải đi sâu đến đâu, Chúa Giêsu ví hai người cùng nghe lời Ngài với hai người xây nhà. Một người “đào sâu và đặt nền móng trên đá”; người kia “xây nhà ngay mặt đất, không nền móng”. Chúng ta thường muốn thay đổi phần nhìn thấy: sửa một thói quen, thêm một việc đạo đức, giữ cho lời nói ngay ngắn. Thế nhưng, làm điều Chúa dạy không phải tô thêm vẻ Kitô giáo cho căn nhà, nhưng để Ngài trở thành nền tảng cho cả đời mình. Bão tố không tạo ra chỗ yếu; nó chỉ phơi ra điều mặt tiền từng che giấu. “Thay đổi cuộc đời không phải là trang điểm; nó đòi thay đổi nền tảng, nghĩa là tìm thấy Tảng Đá là Chúa Kitô!” – Phanxicô.

Phaolô đưa lời tuyên xưng “Lạy Chúa!” ấy đến tận bàn tiệc Thánh Thể. Tín hữu Côrintô muốn dự tiệc của Chúa mà vẫn có mặt ở một bàn khác: “Anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được!” – bài đọc một. Thánh Thể không phải một việc đạo đức đặt bên cạnh đời sống; đó là sự thuộc về. “Hãy trở nên điều anh em lãnh nhận; hãy lãnh nhận điều anh em là!” – Augustinô. Miệng có thể hát: “Lạy Chúa, con sẽ dâng lễ tế tạ ơn Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – nhưng lòng vẫn chia cho nhiều chủ. Không phải ai uống chén của Chúa cũng để đời mình thuộc về Chúa: người môn đệ có thể rước lấy Chúa Kitô mà vẫn không để Ngài đi xuống những chọn lựa của mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống chén Ngài chưa uống, cũng không dạy chúng ta điều Ngài chưa sống. Điều Ngài dạy suốt ba năm, đặc biệt những gì Ngài nói trong bữa Tiệc Ly, Ngài đã sống trọn vẹn ngày thứ Sáu. Con Thiên Chúa không giữ quyền quyết định cho mình, nhưng vâng phục Chúa Cha đến cùng. 

Vì thế, cả cơn lũ thập giá cũng không thể lay chuyển một đời đã đặt nền trong thánh ý Cha. Phục Sinh là lời Chúa Cha xác nhận: một đời vâng phục không kết thúc trong mất mát! Nơi Đức Kitô, không có ‘Lạy Chúa – rồi thôi’; chỉ có “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!” – và đi đến cùng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống bằng những lời đẹp; cho con can đảm chọn điều đúng; và biến điều con tin nên một đời trung tín!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Bảy Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt. 44 Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho! 45 Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.

46 “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa ! Lạy Chúa !’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?

47 “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. 48 Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. 49 Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành.”


 

Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “trông ngốc” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “food tem” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ. 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “mò kim đáy biển”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác.            

Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “bill”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “background” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo: “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là Thiên Chúa sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “group one” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway South 45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “Cháu xin gởi bác hai tờ báo này” 

       –   “Ði đi, đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?”. Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa 

Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Ba`i na`y dang trong Vietbao.com nga`y 08-03-2007 muc  ‘Viet Ve Nuoc My”

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  

Xem sa’ch tai day:

https://keditim.net/wp-content/uploads/2019/09/Tam-Tinh-Goi-Lai-HT.pdf

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN- Phạm Sơn Liêm – Truyen ngan HAY

Liem Pham

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN

Gửi em, người vợ vẫn còn ở Việt Nam.

Chiều nay ở California trời nắng rực. Xa lộ vẫn đặc xe. Người ta cười nói, xách va li đi nghỉ hè. Còn anh ngồi một mình trong chiếc xe cũ đậu ngoài bãi đậu của sân bay quốc tế, nhìn từng chuyến bay hạ cánh rồi lại cất cánh.

Mười hai năm rồi, em à.

 Mười hai năm kể từ ngày anh đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng và một lời hứa.

Anh vẫn nhớ buổi sáng tiễn nhau ở phi trường Tân Sơn Nhất. Em cố cười, nhưng đôi mắt đỏ hoe. Em nhét vào ba lô anh mấy gói ruốc, ít bánh tráng và tấm hình cưới đã ngả màu.

Em nắm tay anh rất lâu.

Em nói:

“Qua đó ổn định rồi nhớ đón mẹ con em nhé.”

Anh gật đầu.

Lúc ấy, anh tin mình làm được. Anh tin chỉ vài năm thôi. Rồi gia đình mình sẽ đoàn tụ.

Nhưng nước Mỹ không giống những điều người ta kể, người ta mơ.

Ban ngày anh phụ cắt cỏ.

Đêm anh rửa chén trong một nhà hàng. Có những hôm tan ca lúc hai giờ sáng, lái xe về căn phòng thuê chật hẹp, người mệt đến mức ngủ quên ngay trên ghế.

Tiền kiếm được vừa đủ trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm, gửi chút ít về cho em nuôi con.

Anh cứ nghĩ… Ráng thêm năm sau. Rồi thêm năm nữa.

Con lớn lên qua màn hình điện thoại. Ngày đầu biết đi, anh chỉ nhìn thấy. Ngày vào lớp Một, anh chỉ nhìn thấy.

Ngày sinh nhật mười tuổi, con thổi nến. Anh cũng chỉ nhìn thấy.

Mỗi lần gọi phone kết thúc, màn hình tối đen. Căn phòng lại chỉ còn một mình anh. Có những đêm lạnh sương trắng phủ cửa kính. Anh ôm tấm hình gia đình ngủ như ôm chính quê hương mình.

Suốt mười hai năm, anh không dám mua chiếc xe mới.

Không dám đi du lịch.

Không dám tiêu xài.

Anh chỉ âm thầm bỏ tiền vào một chiếc hộp thiếc. Trên nắp hộp anh dán mảnh giấy nhỏ:

“Vé máy bay cho vợ con.”

Mỗi lần bỏ thêm vài chục đô vào đó, anh lại tưởng tượng ngày em bước ra cửa hải quan. Anh sẽ chạy đến ôm hai mẹ con.

Sẽ không phải gọi video nữa.

Sẽ được nắm tay thật.

Rồi một buổi chiều… Anh nhận điện thoại từ người quen ở quê. Người ta ngập ngừng rất lâu.

Rồi nói:

“Thôi… đừng chờ nữa.”

Anh chưa kịp hiểu. Người ta nói tiếp:

“Cô ấy lấy chồng rồi.”

Anh chết lặng. Chiếc hộp thiếc trên tay rơi xuống nền garage. Những đồng tiền lăn khắp nơi.

Anh ngồi rất lâu.

Không nhặt.

Cũng không khóc.

Chỉ thấy trong lòng mình như có một căn nhà vừa sập xuống.

Anh không trách em. Thật lòng. Mười hai năm. Một người đàn bà phải một mình nuôi con, chăm cha mẹ già, đối diện bao lời dị nghị.

Mười hai năm không có một cái nắm tay. Không có một bữa cơm đủ mặt.

Không có một người đàn ông sửa mái nhà mỗi mùa mưa.

Đợi đến đâu mới gọi là đủ?

Anh chỉ đau… Vì ngày nào anh cũng sống để chờ đoàn tụ.

Còn em… Có lẽ đã mỏi mệt vì chờ.

Chiều nay, anh vẫn đến sân bay. Không phải để đón ai.

Chỉ vì nhiều năm trước anh từng hứa với chính mình rằng sẽ có ngày đứng ở đây đón vợ con. Anh đứng nhìn những gia đình ôm nhau sau cánh cửa nhập cảnh. Đứa trẻ chạy ào vào lòng cha. Người vợ khóc. Người chồng cười.

Tiếng gọi nhau vang một góc.

Anh quay mặt đi. Không phải vì ghen. Mà vì sợ người ta nhìn thấy nước mắt của một người đàn ông đã ngoài sáu mươi.

Chiếc hộp thiếc ấy anh vẫn giữ. Bên trong vẫn còn đủ tiền mua ba tấm vé.

Chỉ tiếc… Không còn ai để bay sang nữa.

Nếu một ngày con hỏi vì sao ba không đón hai mẹ con như đã hứa… Em đừng trách anh.

Cũng đừng trách em. Hãy nói với con rằng…

Có những lời hứa không thất hứa vì người ta quên.

Mà vì thời gian dài quá. Đến mức trái tim của một người không thể chờ thêm được nữa.

Tối nay, anh lại lái xe về căn apartment nhỏ. Ngoài cửa sổ, từng chiếc máy bay vẫn nối nhau bay qua bầu trời nước Mỹ. Ánh đèn của chúng sáng lắm. Nhưng chẳng chiếc nào còn chở theo giấc mơ đoàn tụ của anh nữa. Anh chỉ mong ở nơi rất xa ấy…

Em bình yên.

Con bình yên.

Vậy là đủ.

Còn anh… Sẽ cất tiền ba tấm vé ấy vào ngăn kéo. Để mỗi lần nhìn thấy, anh nhớ rằng đã có một thời mình sống bằng hy vọng, và đã yêu một người nhiều đến mức dành cả tuổi xuân nơi đất khách chỉ để chờ ngày được đón họ sang bên mình.

Phạm Sơn Liêm 


 

DẮT NGƯỜI – MÌNH LẠC – Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

“Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi!”.

“Ai muốn hiểu trọn lời Đức Kitô, phải uốn cả đời mình theo đời Ngài!” – Thomas à Kempis.

Kính thưa Anh Chị em,

Một người có thể thuộc lời Thầy mà đời mình chẳng giống Thầy. Đó là nghịch lý Lời Chúa hôm nay cảnh báo: ‘dắt người – mình lạc’.

Bản Hy Lạp gọi người “học hết chữ” là katērtisménos. Động từ gốc cũng được dùng khi người ta vá một tấm lưới rách. “Học hết chữ” vì thế không chỉ là học đủ bài, nhưng để Chúa Giêsu nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch và uốn đời mỗi người nên giống Thầy. Một tấm lưới chưa được vá vẫn có thể thả xuống biển, nhưng sẽ đánh mất chính những gì nó vừa gom được. Đời môn đệ cũng có thể như thế: sau một đời lăn lộn, cuối cùng lại thấy mình trắng tay.

Chúa Giêsu không bảo người môn đệ bỏ mặc cái rác trong mắt anh em; Ngài chỉ buộc họ phải nhìn mắt mình trước. Có khi, mải sửa lỗi người khác, chúng ta khỏi phải nhìn vào mình; mải chỉ đường, lại quên chân mình đang bước về đâu. “Cái xà” không chỉ là một tội lớn, nhưng còn là ảo tưởng rằng mình sáng vì đang cầm đèn. Chiếc đèn có thể soi rất xa, mà ngay dưới chân nó vẫn tối. “Hãy tự hỏi đâu là con đường đúng, và trước hết, hãy tự mình bước đi trên con đường này!” – Gioan Phaolô II.

Phaolô hiểu rõ nguy cơ ấy. Dù đã “trở nên tất cả cho mọi người”, ông không lấy hoa trái nơi người khác làm bảo chứng cho mình. Ông bắt thân thể phục tùng, “kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” – bài đọc một. Không phải vì khinh chê thân xác, nhưng vì ông

không để việc tông đồ thay thế cuộc hoán cải của bản thân. Có thể giúp người khác đến nơi mà chính mình bỏ cuộc giữa đường. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắc lại đích đến: “Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái!”. Đích ấy không phải thành công, nhưng là chính Chúa.

Có lúc, bạn và tôi giống người cầm đèn dẫn kẻ khác giữa đêm: ánh sáng soi bước chân họ, còn lòng mình vẫn khuất tối. Bi kịch thiêng liêng không bắt đầu khi chúng ta nói sai, nhưng khi điều đúng chỉ đi qua môi mà không đi vào đời sống. Tin Mừng không lấy khỏi tay chúng ta ngọn đèn; Chúa chỉ mời mỗi chúng ta trở lại phía sau Ngài, để chính mình được ánh sáng chạm tới trước khi soi lối cho ai. Bởi câu hỏi không chỉ là tôi đã đưa ai đến gần Chúa, nhưng tôi có còn theo sát Ngài không?

Anh Chị em,

Đức Kitô không đứng xa để chỉ đường; Ngài trở nên con đường. Trên thập giá, Ngài mang lấy sự lạc hướng của nhân loại và đi qua cái chết trong niềm vâng phục Chúa Cha. Phục Sinh cho thấy lối tự hiến ấy chính là đường về với Chúa Cha. Vì thế, nên giống Thầy không phải là lặp lại lời Ngài, nhưng để mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài thành hình trong đời mình. Chỉ ai bước sau Đức Kitô mới có thể dẫn người mà không lạc. “Ai biết Ngài là biết đường, vì chính Ngài là Đường!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch; để con vừa chỉ đúng đường, vừa trung thành bước tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Sáu Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho môn đệ dụ ngôn này: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ? 40 Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? 42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra’, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!”