Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.  Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.  Tác giả: Vũ Đông Hà    *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

*****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.     *****

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 


 

Sài Gòn hay Thành phố Hồ Chí Minh: Thế hệ trẻ sử dụng tên nào? (BBC)

BBC

Người dân đi xem lễ diễu binh dịp 30/4/2025 tại TP HCM

3 tháng 7 – 2026

Sinh ra ở các thập niên sau ngày Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người thuộc “thế hệ 9x-2k” (chỉ những người sinh trong khoảng thời gian 1990-2009) không trải qua thời khắc lịch sử ấy, mà chỉ biết tên gọi mới đã trở thành điều hiển nhiên.

Với họ, hai cái tên “Sài Gòn” và “Thành phố Hồ Chí Minh” không phải là một sự lựa chọn đối lập, mà là “hai lớp nghĩa cùng tồn tại”.

Dù có cách diễn đạt khác nhau, những người trẻ mà BBC News Tiếng Việt phỏng vấn đều nhìn nhận “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức của thành phố, thường được sử dụng trong các giấy tờ thủ tục hành chính, trong khi “Sài Gòn” vẫn là cái tên hiện diện trong đời sống thường ngày.

‘Sài Gòn phóng khoáng, nghĩa tình, cởi mở và bao dung

Sinh năm 1996 và lớn lên tại TP HCM, rapper có nghệ danh là Christian Cang cho biết anh hiểu rằng sau năm 1975, Sài Gòn được đổi tên thành TP HCM theo quyết định của nhà nước.

Tuy nhiên, trong đời sống thường ngày, anh vẫn quen gọi nơi mình sống là “Sài Gòn” vì “tự nhiên, ngắn gọn và gần gũi”.

“Mình lớn lên nghe mọi người xung quanh gọi như vậy, nên thành thói quen,” Christian Cang nói với BBC News Tiếng Việt.

Theo nam rapper này, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên hành chính chính thức, còn “Sài Gòn” gợi lên hình ảnh về văn hóa, con người, nhịp sống và ký ức của nhiều thế hệ.

Anh cho rằng chính giá trị văn hóa đó khiến cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện phổ biến trong tên các nhà hàng, quán cà phê, doanh nghiệp tư nhân và thương hiệu địa phương, như Bia Sài Gòn, Saigontourist, hay các khách sạn như Rex Hotel Saigon, Hotel Continental Saigon… 

“Nếu làm nhạc, có lẽ mình sẽ dùng tên ‘Sài Gòn’. Trong âm nhạc, mình ưu tiên cảm xúc và hình ảnh. ‘Sài Gòn’ nghe gần gũi, giàu chất thơ và hợp với màu sắc mình đang theo đuổi,” Christian Cang nói.

Tuy vậy, anh nhấn mạnh rằng điều quan trọng với bản thân không nằm ở tên gọi, mà ở tình yêu dành cho con người và nơi mình đang sống.

“Nếu dùng vài từ để mô tả ‘người Sài Gòn’, mình sẽ chọn: phóng khoáng, nhiệt tình, nghĩa tình, cởi mở, chịu khó và bao dung. Mình tin những điều đó góp phần tạo nên một thành phố mà ai đến cũng có cơ hội bắt đầu lại,” Christian Cang chia sẻ.

Khi được hỏi về “chất Sài Gòn”, Christian Cang cho rằng điều nổi bật của thành phố là sự đa dạng, nơi người từ nhiều miền đất khác nhau cùng đến sinh sống và lập nghiệp.

“Chính điều đó làm mình học được cách tôn trọng sự khác biệt và dễ hòa nhập với mọi người. Nếu có điều gì mang màu sắc ‘Sài Gòn’ trong mình thì chắc là sự cởi mở, thích kết nối và khá thoải mái trong cách sống,” nam rapper cho biết.

Là một nghệ sĩ, anh nói rằng điều mình muốn mang vào âm nhạc không chỉ là “chất của Sài Gòn”, mà còn là tinh thần yêu thương và hy vọng.

“Dù đến từ đâu, mình nghĩ điều kết nối chúng ta vẫn là cách đối xử với nhau và sống có ích cho cộng đồng,” nghệ sĩ này nhấn mạnh.

Phố đi bộ Nguyễn Huệ là một điểm đến quen thuộc của giới trẻ tại TP HCM

‘Sài Gòn cho đời thường, TP HCM cho giấy tờ thủ tục’

Nếu Christian Cang xem “Sài Gòn” là cái tên của cảm xúc, thì với Hồng Hoa, 20 tuổi, sinh viên năm hai tại một trường đại học ở TP HCM, “Sài Gòn” và “TP HCM” đơn giản là hai cách gọi dành cho hai hoàn cảnh khác nhau.

“TP HCM là tên hành chính, chính thức được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ và các hoạt động của nhà nước. Còn ‘Sài Gòn’ mang ý nghĩa gần gũi, gợi nhớ về lịch sử, văn hóa và nhịp sống rất đặc trưng của thành phố,” Hoa nói.

Bởi vậy, trong những cuộc trò chuyện với gia đình hay bạn bè, cô gọi nơi mình lớn lên là “Sài Gòn”. “Nghe tự nhiên và ngắn gọn hơn.

“Nhưng khi làm việc, học tập hoặc trong các tình huống trang trọng thì mình sẽ dùng TP HCM vì đó là tên chính thức,” nữ sinh viên giải thích.

Theo Hoa, việc cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong thơ ca, âm nhạc hay trên những thương hiệu là điều không khó lý giải.

“Cái tên Sài Gòn đã gắn bó với rất nhiều thế hệ nên mang giá trị lịch sử và cảm xúc rất lớn. Trong thơ ca, âm nhạc hay thương hiệu, tên này tạo cảm giác thân quen, dễ nhớ và cũng thể hiện bản sắc riêng của thành phố. Vì vậy, dù tên chính thức là TP HCM, ‘Sài Gòn’ vẫn được sử dụng rất phổ biến trong đời sống và văn hóa,” cô chia sẻ.

Sinh ra và lớn lên giữa nhịp sống hối hả của thành phố, Hoa cảm thấy bản thân chịu ảnh hưởng bởi chính môi trường ấy.

“Mình quen với nhịp sống nhanh, thích nghi khá nhanh với môi trường mới và cởi mở trong giao tiếp,” cô nói.

Khi được hỏi về điều gì làm nên hình ảnh “người Sài Gòn”, nữ sinh viên trả lời: “Mình cũng thấy người Sài Gòn thường có thói quen giúp đỡ người khác, khá thoải mái và dễ kết bạn.”

Tuy vậy, Hoa cũng không muốn cảm nhận của mình trở thành khuôn mẫu cho người khác.

“Đó chỉ là cảm nhận cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, không thể nói tất cả người ở cùng một địa phương thì đều giống nhau. Khi lên đại học, được gặp bạn bè từ nhiều vùng miền khác nhau, mình nghĩ ai cũng có tình yêu với quê hương và đều cố gắng học tập, làm việc để phát triển bản thân.”

Với nhiều người trẻ, xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là tới Quận 1, nơi có những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà…

‘Sài Gòn thân thiện, hào sảng’

Với Huỳnh Phối Trân, một người gốc Hoa sinh năm 1990, tên gọi “Sài Gòn” chưa bao giờ biến mất khỏi cuộc sống thường ngày.

“Mình vẫn dùng tên Sài Gòn với bạn bè, đồng nghiệp vì ngắn gọn và tự nhiên. Còn khi nói tiếng Hoa với ba mẹ, họ hàng thì gọi là ‘Sáy Cung’ (西贡, Tây Cống), tức Sài Gòn,” cô chia sẻ.

Ngay cả khi chuyển ra Hà Nội sinh sống và làm việc suốt 5 năm qua, Trân cho biết những người xung quanh vẫn thường hỏi: “Trân ở Sài Gòn ra hả?” thay vì “ở TP HCM”.

Theo cô, “Sài Gòn” không đơn thuần là một địa danh mà còn gợi lên cả một lối sống và những ký ức tuổi thơ.

“Hồi nhỏ, mỗi lần xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là mình nghĩ đến Quận 1, đến những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà, những con đường đông đúc và nhộn nhịp. Trong suy nghĩ của mình khi đó, ‘lên Sài Gòn’ có nghĩa là đi đến nơi sầm uất, hiện đại và ‘style’ [phong cách] hơn những khu vực khác.”

Cái tên ấy, theo Phối Trân, cũng gắn với nhiều dấu ấn văn hóa và ẩm thực.

Cà phê Sài Gòn, ốc Sài Gòn… nghe là biết một phong vị rất riêng. Chẳng hạn như ốc ở Sài Gòn có rất nhiều cách chế biến với đủ hương vị khác nhau, còn ở Hà Nội mình thường thấy biển hiệu ‘ốc Hải Phòng’ hơn là ‘ốc Hà Nội’.”

Sống ở Hà Nội nhiều năm cũng khiến cô nhận ra sức hút mà cái tên “Sài Gòn” vẫn mang trong mắt nhiều người.

“Nhiều đồng nghiệp từng nói với mình rằng họ muốn chuyển vào Sài Gòn sống vì cảm thấy ở đó dễ sống hơn, các ngành dịch vụ, chẳng hạn ăn uống, phục vụ tốt hơn…

“Họ cũng hay bảo người Sài Gòn thân thiện, năng động và hào sảng. Cá nhân mình cũng có cảm nhận như vậy,” cô nói.

Đối với Phối Trân, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức trên giấy tờ, còn “Sài Gòn” vẫn là cái tên của những ký ức, của nếp sinh hoạt thường ngày và của một bản sắc mà cô tin rằng nhiều người vẫn cảm nhận được, dù thành phố đã mang tên mới gần nửa thế kỷ.

Một quán ốc tại TP HCM

‘Sài Gòn ấm áp, hiếu khách’

Là con của một gia đình người Việt gốc Sài Gòn nhưng sinh ra và lớn lên ở Pháp, Ava Trần mang trong mình một mối gắn bó khá đặc biệt với thành phố này.

Cô gái sinh năm 1996 đã chuyển về Việt Nam sinh sống khoảng 5 năm gần đây, sau nhiều năm qua lại giữa Pháp và quê hương của cha mẹ.

Ava thừa nhận cô không biết chính xác Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào, chỉ đoán rằng việc này diễn ra sau năm 1975. Cô cũng tự hỏi liệu cái tên “Sài Gòn” có phải do người Pháp đặt từ thời Pháp thuộc hay không, dù chưa có dịp tìm hiểu kỹ.

Trong cảm nhận của Ava, “Sài Gòn” là tên gọi nguyên thủy của thành phố, còn “Thành phố Hồ Chí Minh” là cái tên gắn với một giai đoạn lịch sử mới sau khi chiến tranh kết thúc.

Một điều khiến cô thích thú là cho đến thời điểm được BBC đặt câu hỏi, cô mới nhận ra chính bản thân mình cũng vô thức sử dụng hai tên gọi tùy theo ngôn ngữ. Khi nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, cô thường dùng “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”. Nhưng mỗi khi chuyển sang tiếng Việt, cái tên bật ra một cách tự nhiên lại là “Sài Gòn”.

Theo Ava, sự hiện diện bền bỉ của cái tên “Sài Gòn” trong đời sống có lẽ bắt nguồn từ việc nhiều người vẫn xem đó là tên gốc của thành phố, một cái tên gắn với ký ức và cảm giác chân thực. Cô cũng nói rằng mình thích âm điệu của từ “Sài Gòn” hơn và tin rằng đó cũng là một phần lý do khiến nhiều người vẫn quen sử dụng tên gọi này.

Ở Pháp, Ava cho biết người trẻ ngày nay thường gọi thành phố là “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”, trong khi những người lớn tuổi từng sống qua thời kỳ Chiến tranh Việt Nam vẫn gọi là “Saïgon”, với cách phát âm theo tiếng Pháp.

Từ nhỏ, Ava đã nhiều lần theo gia đình về thăm thành phố, nơi họ vẫn còn ngôi nhà cũ và nhiều người thân sinh sống. Những chuyến trở về ấy cũng định hình cái nhìn của cô về con người nơi đây.

“Với tôi, người Sài Gòn ấm áp và hiếu khách. Họ lúc nào cũng mang lại cảm giác tích cực, thoải mái,” cô nói.


 

ÂN SỦNG KHÔNG Ở TRỌ – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Rượu mới thì đổ vào bầu mới!”.

“Hãy tưởng tượng bạn là một ngôi nhà. Thiên Chúa sẽ làm những điều bạn không ngờ. Ngài định xây nên một cung điện để chính Ngài ở trong đó!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa không tìm một chỗ ở tạm trong cuộc đời chúng ta. Ngài không xin một góc nhỏ của trái tim, nhưng muốn biến nó thành nơi Ngài cư ngụ. Lời Chúa hôm nay mặc khải một sự thật tuyệt đẹp: ‘ân sủng không ở trọ’.

Chúa Giêsu nói, “Người ta không đổ rượu mới vào bầu da cũ”. Bản Hy Lạp viết oinon neon – “rượu mới”; nhưng với “bầu mới”, Matthêu lại dùng askous kainous. Điều thú vị là neos chỉ cái mới theo thời gian, còn kainos nói đến cái mới về phẩm chất. Đức Kitô không chỉ ban một sức sống mới; Ngài còn đổi mới chính con người để đón nhận sức sống ấy. Ân sủng không bằng lòng với một trái tim cũ; nó làm nên một trái tim mới để Thiên Chúa làm chủ. “Linh hồn là lâu đài nơi Thiên Chúa vui thích cư ngụ!” – Têrêxa Avila.

Chúng ta thường muốn Chúa ban rượu mới, nhưng lại giữ nguyên bầu cũ: những thói quen cũ, nỗi sợ cũ, cách nghĩ cũ, những vùng tối không muốn mở cửa. Chúng ta xin bình an, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát; xin đổi mới, nhưng không muốn bị xáo trộn; xin ân sủng, nhưng chỉ dành cho Chúa một không gian nhỏ trong đời mình. Vì thế, rượu mới không thiếu; điều thiếu là một con người dám để Thiên Chúa hành động. Ân sủng không phá huỷ, nhưng cũng không chịu bị nhốt trong một đời sống chưa thực sự muốn biến đổi. “Chúng ta luôn bị cám dỗ gắn sự mới mẻ của Tin Mừng vào những thái độ cũ!” – Phanxicô.

Đó cũng là thái độ của Israel đối với Thiên Chúa, Đấng hành động trong suốt lịch sử cứu độ. Ngài không vá víu những gì đã đổ nát; qua Amos, Ngài hứa: “Ngày ấy, Ta sẽ dựng lại lều xiêu vẹo của Đavít” – bài đọc một. Ngài không sửa chữa một căn nhà cũ, nhưng tái thiết một ngôi nhà hoàn toàn mới để dân Ngài lại được ở với Ngài. Điều Ngài thực hiện với nhà Đavít, Chúa Kitô cũng thực hiện với trái tim mỗi người. Ân sủng không đến để sửa sang, nhưng để kiến tạo một con người mới cho Thiên Chúa. Vì thế, ở đâu có Chúa, ở đó có bình an. “Điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Chú Rể của Giao Ước mới. Trong Ngài, Thiên Chúa không chỉ ban rượu mới của ân sủng, nhưng còn kết ước với nhân loại bằng một tình yêu ở lại đến muôn đời. Ngài là nguồn mạch của mọi ân sủng, là nhân loại mới Chúa Cha khai mở giữa thế gian. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không còn chỉ hứa ở với dân, nhưng thực sự cắm lều giữa nhân loại. Ai ở lại trong Ngài cũng được đổi mới để trở thành đền thờ của Thiên Chúa. ‘Ân sủng không ở trọ’; nó không ghé qua cuộc đời chúng ta, nhưng biến chính cuộc đời chúng ta thành nơi Thiên Chúa hằng cư ngụ. “Trời của tôi là Thiên Chúa ở trong linh hồn tôi!” – Elizabeth of the Trinity.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con, để ân sủng Chúa không tạt qua, nhưng định cư; không chỉ dạm chơi, nhưng ở lại; biến cả cuộc đời con thành đền thờ của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

**************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn 

Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 9,14-17

14 Khi ấy, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng : “Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay ?” 15 Đức Giê-su trả lời : “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, đang khi chàng rể còn ở với họ ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi khỏi họ, bấy giờ họ mới ăn chay. 16 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá sẽ co lại, khiến chỗ rách lại càng rách thêm. 17 Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt : rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới : thế là giữ được cả hai.”


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

CHỒNG ĐIÊN – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

 CHỒNG ĐIÊN

Đó là đêm mưa bão, chị bị sốt, anh chạy ngược chạy xuôi lo cho chị. Nửa đêm, nhắm tình hình không ổn, mặc trời mưa gió, anh bế chị vào viện. Vừa chạy vừa kêu tên chị mãi, không có tiền, vay mượn mãi chỉ đủ cho chỉ nằm trong một ngày. Sáng hôm sau, anh phải đi bán máu để có tiền mua thuốc cho chị. Những ngày chị bệnh, anh phải một tay kiếm tiền, một tay nấu cháo, thuốc thang cho chị. Để có tiền anh phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng mệt mỏi vì thức khuya dậy sớm và bán máu. Ngày chị lành bệnh , cũng là ngày anh ngục ngã.

Anh bị ngã xe trên đường về vì hoa mắt. Tai nạn đó không lấy đi sinh mệnh của anh nhưng lấy đi của chị rất nhiều nước mắt khi anh trở thành một đứa trẻ lên ba. Anh không biết gì cả, thích cười thích khóc, không hiểu mình đang nghĩ gì. Nghe tin anh bệnh như thế , cả nhà chị tìm mọi cách tác động tới chị để chị bỏ anh mà về sống với gia đình. Không nhẫn tâm bỏ anh lại một mình, chị bị gia đình mình bỏ rơi. Không còn cách nào khác, chị đành cùng anh sống trong căn nhà lạnh lẽo. Chị đành bán đi miếng đất sinh nhai của hai vợ chồng để lấy tiền chữa trị cho anh. Chạy hết bệnh viện này tới bệnh viện khác, bệnh anh vẫn không khỏi.

Không còn cách nào khác, chị đành gửi anh vào bệnh viện tâm thần. Một tuần sau, nước mắt chị lại trào ra khi nhìn thấy anh đứng trước nhà gọi chị. Dù anh đang là đứa trẻ lên ba nhưng anh vẫn nhớ đường về nhà tìm chị.

Chị rụng rời chân tay ôm anh khóc không thôi.

Chị thề với lòng sẽ không đưa anh đi đâu cả.

Chị siết lấy anh cứ như sợ anh lại biến mất.

Vậy là từ đó, chị đâu anh ở đó. Anh ăn rất khỏe dáng người cao to. Nhìn đằng sau cứ như tràn trề sinh lực, nhưng chỉ khi nói chuyện với anh, mọi người mới vỡ lẽ.

Mỗi ngày sáng sáng anh lại gánh giỏ cá ra chợ cho chị bán, xong rồi lại đi lang thang. Đúng 11h anh lại đến gánh về cho chị. Anh hiền lành, thấy ai làm gì nặng cũng nhào vào giúp nên mọi người ở chợ rất thương. Họ vẫn thường cho anh bánh trái, ai khá hơn thì dúi cho chút tiền. Anh đều bỏ vào bọc, dành cho chị tất.

Mọi người đùa với anh gì anh cũng chỉ cười giả lả. Nhưng ai đó không biết lỡ lời gì tới chị là anh sẵn sàng cho người đó một cú đấm. Có lần, anh nổi cơn đánh một người bán sống bán chết chỉ vì người ấy khen chị xinh. Chỉ đến khi chị đến ôm anh, anh mới thôi.

Ở cái chợ này, chả ai dám tranh chỗ bán với chị cả, vì mỗi lần có cãi nhau với chị hay là giành khách, anh cũng đều có mặt, đứng che chị lại, tay lăm lăm thanh gỗ sẵn sàng ăn thua với họ.

Ai cũng ngán ngại, họ bảo chấp chi thằng điên nên họ bỏ qua điều đó.

Rồi ba chị sinh tật uống rượu. Ngày càng nghiện, ông mất. Được tin chị khóc ngất, thấy chị khóc, anh cũng ôm chị vào lòng và khóc theo. Khóc xong, chị dẫn anh ra tiệm vàng bán sợi dây chuyền mà anh tặng khi quen cưới nhau. Thấy chị tháo sợi dây, anh giật lại. Anh biết chị rất thích nó nên không muốn cho chị bán. Chị cười buồn, bán để cho má làm đám ma ba, sau này anh đi làm mua cho em cái khác lớn hơn, đẹp hơn. Anh mới chịu buông tay cười cười theo chị. Từ đó, anh chỉ đem cái bánh, chai nước về cho chị chứ không hề thấy đưa chị tiền.

Không biết tại vì không uống thuốc hay lý do gì mà dạo này anh lại có thêm bệnh động kinh. Mỗi lần lên cơn co giật lại sùi bọt mép. Hết cơn anh lại đập phá những ai đứng gần đó, nhưng khi chị ôm anh vào lòng, anh đều trở lại bình thường. Người ta khuyên chị cho anh vào viện. Bác sĩ bảo anh đã chuyển sang tâm thần nặng, phải đưa vào khu cách ly. Chị đành nói dẫn anh đi chơi. Đưa vào đó anh cứ khóc, ôm chầm lấy chị, chị cũng ôm chặt anh, mãi chị mới buông anh ra được. Nước mắt chảy dòng, chị phải cố chạy thật nhanh để không nghe tiếng anh gọi.

Tháng nào chị cũng xuống thăm anh. Chẳng làm gì cả cứ nhìn anh , khóc đã đời rồi về. Anh cũng vậy gặp chị là đòi về. Nhiều lúc chị cũng muốn đưa anh về lắm nhưng không thể.

Rồi một ngày, bệnh viện thông báo anh đã mất vì trong một lần lên cơn anh đã đập đầu vào tường.

Họ bảo trước lúc mất anh luôn miệng gọi tên chị. Chị ngất lên ngất xuống .

Hôm làm thủ tục chôn cất anh. Chị được bệnh viện đưa túi đồ của anh, bên trong toàn là hình của chị. Dưới những bộ đồ có một cái hộp, trong đó có một sợi dây chuyền bạc cùng tờ giấy anh ghi nguệch ngoạc tên chị.

Nước mắt chị chảy ròng…, nhớ người chồng điên!

Fb Lão Ngoan Đồng


 

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY – nhà báo Nguyễn Hồng Lam

Thao Teresa

 Bài viết của nhà báo Nguyễn Hồng Lam, không cùng tôn giáo.

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY

Tháng 7/1993, tốt nghiệp Đại học, tôi vào đời  bằng những chuyến đi qua lại dài ngày xuống miền Tây – vùng đất không quá xa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh nhưng trước đó tôi chưa có điều kiện biết nhiều.

Trên tất cả các chuyến xe đò tôi đi, ở tất cả các tuyến ngang dọc, tôi để ý thấy kính ngay trước mặt tài xế đều dán, treo hoặc gắn ảnh một vị  Linh mục cương nghị, khuôn mặt rất đàn ông với bộ râu chổi sể rất…mãnh liệt.

Đó là lần đầu tiên tôi biết đến Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị chủ chiên của giáo xứ – nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu đã mất từ gần nửa thế kỷ trước đó.

Điều kỳ lạ là, ngay cả những chủ xe, lái xe không tôn giáo hoặc theo các tôn giáo khác cũng đặt ảnh ông trang trọng trong xe mình. Đôi khi, ảnh Cha Diệp được thành kính đặt chung, ngang hàng với tượng Phật Bà Quan Âm, tượng ông Địa, tranh thánh Con mắt Thiên Quang Cao Đài…

Nói chung, người ta hiểu ngay, trong tín ngưỡng dân gian, di ảnh ông được xem như một tấm bùa hộ mệnh. Nhà xe, không phân biệt đức tin tôn giáo đều treo di ảnh ông như ký thác một niềm tin, mong ước an toàn cho những hành trình.

Nguyễn Lê Tùng, bạn đại học của tôi, đồng thời là chủ xe kiêm tài xế ở Rạch Giá khẳng định: “Linh lắm! Ảnh của Ngài được rước từ nhà thờ Tắc Sậy”.

Tôi tin. Nhìn ánh mắt ông trong ảnh, tôi thấy toát lên vẻ kiên định, cảm nhận được sự bao dung và ấm áp. Ai phúc đức với dân, được nhân dân tôn quý, tôi kính trọng và ngưỡng mộ người đó.

Hơn 30 năm nay, đi qua đi lại cung đường về Cà Mau, hễ thuận tiện là tôi lại ghé đến nhà thờ Tắc Sậy.

Tôi không phải giáo dân, cũng không mong cầu gì cả.

Tôi chỉ đến để chiêm ngưỡng một địa chỉ văn hóa, nơi một nhân cách cao cả từng sống và chết cho đức tin và sứ mệnh của mình; để tìm hiểu nhiều hơn về một con người từng sống và chết trong thanh thản với người dân xứ sở mình ngay giữa thời loạn lạc.

Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại An Giang, được truyền chức Linh mục năm 1924.

Ông nhận nhiệm sở tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu) từ tháng 03/1930, là linh mục thứ hai quản lý họ đạo này kể từ khi thiết lập nhà thờ Tắc Sậy vào năm 1925. 

Ông được người dân trong vùng nhớ đến bởi sự giản dị, ân cần, luôn sẵn lòng quan tâm đến người nghèo và khách lỡ đường, người gặp nạn cần cứu giúp, không phân biệt tôn giáo.

Ông tích cực trong việc phát chẩn, cứu đói; dành cả đất nhà thờ làm nghĩa trang an táng cho người nghèo không phải giáo dân.

Người Công giáo mang ơn ông vì những bài giảng giản dị dễ hiểu nhưng hùng hồn, thuyết phục.

Dưới sự phấn đấu và chủ trì của ông, nhà thờ Tắc Sậy đã được chuyển từ trong sâu ra ngoài mặt tiền quốc lộ, ngày một phát triển hơn, giúp đỡ được cho nhiều người hơn.

Cha Diệp đã mở rộng được 6 cộng đoàn Công giáo mới, lên tận xứ Đầu Sấu – Cần Thơ ngày nay.

Giai đoạn 1945 -1946, Nhật – Pháp và các giáo phái đánh nhau liên miên, biến khu vực Bạc Liêu – Cà Mau thành nơi tao loạn.

Nhiều  giáo dân trong khu vực phải tản cư.

Linh mục bề trên Trần Minh Ký ở Bạc Liêu đã viết thư kêu gọi Linh mục Trương Bửu Diệp tạm lánh, chờ  khi khu vực Tắc Sậy, Hộ Phòng ổn định sẽ quay trở lại.

Nhưng ông từ chối: “Tôi sống giữa đàn chiên, chết cũng giữa đàn chiên, tôi không đi đâu hết”. Bởi là mục tử, ông không bỏ rơi con chiên trong hoạn nạn.

Theo tư liệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 12/03/1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị lính Nhật (đào ngũ) bắt đi cùng với hơn 70 giáo dân tại giáo xứ Tắc Sậy, dự định tập trung thiêu chết họ.

Ôn tồn, nhẫn nại nhưng cương quyết, Cha Diệp đã dùng mọi cách thuyết phục, đấu tranh với lũ bạo quyền để ngăn chặn tội ác thảm sát, cứu dân lành.

Vì thế, ông bị chúng chặt sát hại, ném xác xuống ao. Hung thủ đích thực đã ra tay đến nay vẫn chưa được xác định. 

Nhưng cũng nhờ đó, ngay trong đêm ấy, 70 giáo dân đã được thả về và tản cư an toàn!

Suốt tám thập kỷ sau ngày Linh mục Trương Bửu Diệp thọ nạn, nhiều giáo dân và người ngoài Công giáo đã tin rằng họ đã từng nhận được “phép lạ” từ việc cầu nguyện với ông.

Hình ông được treo trang trọng nhiều nơi như gửi gắm một ước nguyện an lành

Sau 80 năm, Linh mục Trương Bửu Diệp đã được Giáo hội Công giáo phong Chân phước (hay còn gọi là  Á thánh – Beatus) vào ngày 2/7/2026.

Đây là lần đầu tiên một lễ phong Chân phước được tổ chức tại Việt Nam.

Trước đó, vào năm 2012, ông đã được Tòa thánh Vatican tuyên phong Tôi tớ Chúa ( Servus Dei) và sau đó là Đấng Đáng kính (Venerabilis).

Với tuyên vị Chân phước (Beatus trong tiếng La tinh hoặc Beatification trong tiếng Anh), việc tôn kính, sùng kính và cầu nguyện công khai chỉ được phép diễn ra trong phạm vi địa phương, giáo phận, hoặc quốc gia của vị đó.

Cha Diệp được phong Chân Phước vì được Giáo hội công nhận tử vì đạo.

Nếu (và cần) có thêm một phép lạ được Giáo hội công nhận xảy ra sau khi đã được phong Chân phước, ông sẽ được phong Hiển thánh (Sanctus, Canonization).

Khi được tuyên phong bậc cao nhất này, việc tôn kính và mừng kính ngài sẽ trở thành bắt buộc hoặc phổ quát trong toàn thể Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới.

Xin chúc mừng Hồng ân Thiên Chúa đã tưới đến Cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Đại Hồng ân cũng đã ở rất gần, bởi từ lâu, trong lòng đông đảo người dân miền Tây, Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã sống trọn trong đức tin gắn với phép lạ.

Chưa được tuyên phong, Cha Diệp cũng đã hóa thánh giữa cộng đồng!

nhà báo Nguyễn Hồng Lam


 

Số lính thương vong trong cuộc chiến Ukraine vượt 2 triệu

Ba’o Nguoi – Viet

July 2, 2026

KIEV, Ukraine (NV) – Hơn 2 triệu binh sĩ Nga và Ukraine tử trận hoặc bị thương trong bốn năm Nga xâm lăng Ukraine, theo kết quả nghiên cứu mới hôm Thứ Tư, 1 Tháng Bảy, New York Times đưa tin.

Cuộc chiến Ukraine có lẽ đã vượt qua trận Stalingrad thời Đệ Nhị Thế Chiến, trận chiến được coi là đẫm máu nhất lịch sử, theo CNN.

Lính Ukraine khiêng quan tài anh Yaroslav Varnak, 23 tuổi, tử trận trong cuộc chiến với Nga, ở Kiev hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Tetiana Dzhafarova/AFP via Getty Images)

Theo kết quả nghiên cứu được Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Mỹ công bố, Nga bị tổn thất nặng hơn: 1.4 triệu quân thiệt mạng hoặc bị thương kể từ Tháng Hai, 2022, khi ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, xua quân qua xâm lăng Ukraine.

Trong số đó, 450,000 tử trận, nhiều gấp bốn lần số lính Mỹ thiệt mạng trong tất cả cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại.

Ukraine có 525,000 tới 625,000 lính tử trận hoặc bị thương, trong đó, số người thiệt mạng khoảng 125,000 tới 150,000.

Giới chức từng cảnh báo rất khó ước tính số thương vong trong cuộc chiến này vì họ cho rằng Nga thường đếm bớt đi con số thực sự, còn Ukraine không tiết lộ số thương vong chính thức của nước này. Cuộc nghiên cứu của CSIS dựa vào con số mà chính phủ Anh và Mỹ và một số nguồn khác ước tính.

“Những con số này đáng kinh ngạc,” ông Seth G. Jones và ông Riley McCabe, hai người thực hiện cuộc nghiên cứu này, cho hay.

Về thương vong, Nga ngày càng bị tổn thất nhiều hơn Ukraine nhiều, ông Jones và ông McCabe cho biết. Trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ số thương vong có lẽ tăng lên gần 8:1, nghĩa là cứ mỗi lính Ukraine thiệt mạng hoặc thương vong thì tám lính Nga bị như vậy, theo hai ông này.

Hầu hết bốn năm chiến tranh, tỉ số đó khoảng hai tới ba lính Nga thiệt mạng hoặc thương vong so với một lính Ukraine bị như vậy. Ông Jones và ông McCabe cho hay tỉ số đó hiện đang tăng lên vì Ukraine đạt tiến bộ trong chương trình “drone” (máy bay điều khiển từ xa), đặc biệt là có thể mở rộng “vùng tiêu diệt” xung quanh tiền tuyến.

Ở Nga, số thương vong trong cuộc chiến này không xảy ra đều khắp nơi: Vùng nghèo hơn và sắc tộc thiểu số có lính thương vong nhiều hơn. Tin tức về những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh hầu như không còn đàn ông đang trở nên phổ biến trên báo chí đối lập ở nước này. Và theo cuộc nghiên cứu của CSIS, hiện tại, số quân mà Nga tuyển thêm không theo kịp số thương vong mà nước này đang hứng chịu. (Th.Long)


 

Cho đi, tức là lãnh nhận – Cha Vương 

Chúc bạn những ngày nghỉ dài “July 4th” (Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ) thật hạnh phúc bên bạn bè và gia đình. Đừng quên cầu nguyện nhau và cho những người đã hy sinh cho nền độc lập, tự do, và hoà bình trên đất nước Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung nhé.

Cha Vương 

Th 5: 02/07/2026.     (CN-23)

TIN MỪNG: Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. (Mt 10:42)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống ngày nay bạn thấy có những điều rất là nghịch lý nhưng lại rất là đúng. Thí dụ: Sinh con cho người giúp việc—rõ là con của mình nhưng nó lại gần gũi với người giúp việc hơn; thế giới ảo “thật” hơn thế giới thực; tất cả mọi thứ đều tăng giá, chỉ có con người là ngày càng mất giá. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su cũng vạch ra cho bạn những nghịch lý để giúp bạn sống trưởng thành hơn trong ơn gọi người Ki-tô hữu của mình: 

(1) Cho đi, tức là lãnh nhận—bạn muốn được yêu thương ư? Vậy hãy tập cho đi những gì là thương mến đi.

(2) Ai tìm thì sẽ mất; ai chịu mất thì sẽ tìm lại được—bạn đang kiếp tìm gì vậy? Sự ích kỷ (tức là chỉ tìm chính bản thân mình, đặt mình làm chuẩn mực cho người khác phải theo) thì sẽ làm cho con người lâm vào tình trạng vong thân, đánh mất chính mình. Nếu bạn sẵn sàng dấn thân cho đi trong yêu thương, vui vẻ phục vụ thì bạn sẽ tìm được chính bản thân mình. 

(3) Ai giúp người khác thì bản thân mình sẽ được giúp đỡ—bạn muốn được giúp đỡ ư? Bạn hãy làm một điều rất đơn giản được nêu ra trong Tin Mừng hôm nay đi. Dù chỉ là một bát nước lã thôi ấy vậy mà món quà tưởng chừng như vô giá trị ấy lại có ý nghĩa trước mặt Chúa và xứng đáng nhận phần thưởng. “Của cho không quan trọng bằng cách cho”, một bát nước lã đã trở thành quà tặng có giá trị, vì nó được trao tặng với cả tâm hồn, với tình mến yêu và lòng chân thành. Ước mong bạn hãy áp dụng những điều nghịch lý trên vào cuộc sống hàng ngày để minh chứng cho Tin Mừng của Chúa.

LẮNG NGHE: CHÚA Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, con cầu xin cho họ xin cho họ nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai con.”  (Ga 17:21-22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu không so đo tính toán, không ích kỷ nhỏ nhen để mọi người nhận biết con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Tập sống chân thành với chính mình hơn. Đừng sống “ảo” nhé.

From: Do Dzung

*************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Sáng tác: Duy Nhạc – Angelo Band

Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc

Lê Đình Hùng

Mai Ton T TuyetNHỮNG BÀI POST HAY.

«Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc»: Kết luận chuẩn xác của một người đàn ông lớn tuổi.

(Trích dẫn của K.A.A – Về Hạnh phúc – Thật đơn giản)

****

«Tiền bạc còn tốt hơn con cháu và thứ tình yêu giả tạo của chúng».

Gửi các đồng niên và tất cả những ai vẫn còn đang nghĩ rằng tuổi già là câu chuyện về sự an nhàn và vui vầy bên con cháu.

Tôi không phải nhà tâm lý học, tôi chỉ là một người đàn ông bình thường. Tôi đã sống 65 năm trên đời, trong đó 5 năm cuối là những năm tháng hạnh phúc, bất chấp mọi bệnh tật.

Tôi muốn nói ra những điều người ta thường không dám nói thành tiếng, để tránh làm vỡ mộng những kỳ vọng của người khác.

Tại sao tôi lại hạnh phúc? Chính vì tôi đã nhận ra một điều đơn giản.

Đến năm 60 tuổi, tôi hiểu ra điều cốt lõi: Trở thành nhà vô địch ở độ tuổi này không có nghĩa là chạy nhanh hơn tất cả mọi người.

Nó có nghĩa là biết cách sống sót dưới áp lực, khi cơ thể đau nhức, còn tâm lý thì lung lay vì huyết áp, tiểu đường và đủ thứ bệnh tật. Và đó chính xác là thực tế tuổi già của tôi.

Mà tuổi già, các bạn ạ, có một đặc tính rất khốn nạn — nó luôn giáng những đòn chí mạng vào những niềm hy vọng.

Tôi từng hy vọng các con mình sẽ sống ở gần. Nhưng con trai tôi đã chuyển đến Moscow, lấy vợ thành phố, và cô con dâu thì bảo thẳng là “thấy ngại” khi phải về vùng quê hẻo lánh của chúng tôi.

Con gái tôi thì ở Serbia, chồng nó là một cậu trai tốt. Nhưng quá xa xôi. Cậu con trai út sống cách tôi không xa, có ba đứa con trai — tức là ba đứa cháu nội của tôi. Cứ ngỡ thế là: «Đến đây với ông nào».

Lúc nhỏ thì đúng là như thế. Nhưng cứ hễ chúng lên 13 tuổi một cái là hết. Ông chẳng còn cần thiết nữa. Chúng chỉ nhớ đến ông khi cần tiền.

Quan sát những người ở độ tuổi trên 55, tôi đã rút ra vài kết luận cay đắng.

Bắt đầu từ nỗi thất vọng lớn nhất — Con cái.

Chúng ta sinh chúng ra, đầu tư tất cả vào chúng, rồi ngồi chờ chúng sẽ trở thành chỗ dựa cho mình. Sẽ không có chuyện đó đâu. Con cái không cứu nổi bạn khỏi sự cô đơn.

Thực ra, chúng chẳng cứu bạn khỏi bất cứ điều gì cả. Nếu chúng ở ngay cạnh bạn — điều đó có nghĩa là bạn đang cướp đi cuộc sống của chúng và bào mòn tài nguyên của chúng.

Tôi đã chứng kiến những người phụ nữ quen biết già đi nhanh chóng vì phải chăm sóc mẹ già, khi các bà mẹ hút cạn những năm tháng thanh xuân của con gái mình.

*Đàn ông không có quyền làm như vậy.

Phụ nữ có lẽ có thể — họ có những vai trò khác. Nhưng tôi nói với tư cách là một người đàn ông: Con cái hoàn toàn tự do và không nợ nần gì bạn cả.

Chúng có cuộc sống riêng. Chúng là niềm vui, là lý do để bạn mỉm cười, nhưng không phải là cái nạng của bạn khi về già, cũng không phải là tấm bảo hiểm cho một cái kết đột ngột.

Tự nhiên đã an bài rằng đàn ông là “vật liệu tiêu hao” và các ông già thì phải ra đi trước các bà già.

Sự quan tâm của con cái chỉ là một phần thưởng thêm (bonus), không hơn không kém. Đòi hỏi chúng phải quan tâm liên tục là sự ích kỷ thuần túy của tuổi già, thứ biến bạn thành một đứa trẻ hay hờn dỗi. Đừng tự cho phép mình trở nên như vậy.

Bây giờ là về những thứ thực sự có thể dựa dẫm: Sức khỏe và Tiền bạc.

Đó mới là nguồn vốn chính.

Không phải con cái, không phải các mối quan hệ, cũng không phải công lao trong quá khứ. Chỉ có những gì bạn có thể sờ thấy và tiêu được mà thôi. Những điều giản đơn đã trở thành cứu cánh của tôi. Không vội vã — đó là luật.

Hãy chấp nhận tuổi tác, tự giới hạn bản thân, và đừng chen chân vào những nơi dành cho giới trẻ.

Lương hưu không phải là cuộc sống, đó là sự sinh tồn.

Trông cậy vào nhà nước là tự hạ thấp lòng tự trọng của mình. Tuổi già của bạn là trách nhiệm của chính bạn. Lương hưu chỉ là khoản bố thí từ nhà nước. Họ cũng muốn bỏ mặc bạn lắm chứ, nhưng vì bạn là cử tri, nên họ phải giữ cho bạn không bị chết đói.

Vì vậy, chỉ nên tính toán dựa trên số tiền tiết kiệm của chính mình — dù ít ỏi, nhưng phải là của cá nhân bạn. Chúng mang lại sự tự tin. Chúng cho bạn quyền tự do xoay xở.

Những kết luận cuối cùng mà tôi đã ghi lại trong nhật ký:

*Thứ nhất: Tiền bạc đáng tin hơn con cái. Nghe có vẻ phũ phàng? Đúng vậy. Nhưng đó là thực tế.

  Tiền của bạn là tiền của bạn. Tiền của con cái là tiền của chúng. Nếu con cái tự nguyện giúp đỡ — hãy hạn chế sự nhiệt tình đó của chúng. Đàn ông là người tạo ra nguồn lực, chứ không phải đi tước đoạt.

*Thứ hai: Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của bạn. Suốt cả cuộc đời. Nhưng từ năm 60 tuổi, nó là một chế độ đặc biệt.

Nếu không đủ sức để đứng dậy và ép bản thân làm điều gì đó — tất cả những thứ khác đều mất đi ý nghĩa. Tuyệt đối mọi thứ.

*Thứ ba: Đừng mong đợi bất cứ điều gì từ bất kỳ ai. Cuộc sống của bạn — ngày vui của bạn. Tự mình tổ chức — tự mình ăn mừng. Họ không đến — thì thôi, chẳng sao cả.

*Thứ tư: Tuổi già có cái lợi của nó. Ốm yếu có cái lợi. Yếu đuối có cái lợi. Nhưng tất cả những điều đó đều là sự ích kỷ. Một thứ lợi ích sai lầm. Tuổi già là dành cho những người mạnh mẽ. Những kẻ yếu đuối sẽ bị chìm nghỉm trong đó.

*Thứ năm: Thời trẻ chúng ta sống vì tương lai. Sau tuổi 60, phải sống cho hiện tại. Không có tương lai nào cả. Cuộc đời là hữu hạn. Ở tuổi 60 của chúng ta, cha mẹ hầu như đều đã ra đi. Và chính họ đã tặng cho chúng ta sự thấu hiểu về cái kết của đời người. Vì vậy, phải sống cho kịp. Không phải để tích lũy — mà là để sống cho kịp.

Tuổi già là kỳ thi bài bản về sự trưởng thành.

Đó là một giải đấu vô địch. Đó là một trò chơi roulette. Con đường này bạn sẽ phải đi một mình — ốm đau, yếu ớt, bất lực, già nua, lú lẫn. Kỳ thi này sẽ không có ai thi hộ bạn cả. Con cái yêu thương bạn ư?

Tuyệt vời. Sự giúp đỡ của chúng là phần thưởng thêm, không phải là nền tảng vững chắc.

Lựa chọn rất đơn giản — sự cam chịu (thuận theo tự nhiên).

Cam chịu không phải là yếu đuối. Đó là lòng dũng cảm để chấp nhận sự thật. Hoặc là bạn chấp nhận tuổi già và tự xây dựng kịch bản cá nhân theo luật chơi của nó.

Hoặc là bạn ngồi chờ một phép màu không bao giờ đến. Bởi vì cái kết sẽ đến. Không một lời cảnh báo. Nhưng nếu bạn đã chấp nhận điều đó — bạn đã là người chiến thắng rồi.

Tôi đã học được cách tự ăn mừng một mình.

Như vậy đối với tôi dễ dàng hơn.

Vợ tôi mất cách đây 6 năm vì bạo bệnh. Tôi không muốn có thêm bất kỳ ai ở bên cạnh mình nữa.

(LĐH* st & dịch) 


 

KHÔNG BIẾT ĐI MÔ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến!”.

“Không có cộng đoàn thì khó tìm được Chúa Giêsu!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay kể chuyện Tôma vắng nhà. Tám ngày sau, ông trở lại và “Điđymô” mới nhận ra: ngoài Đức Kitô và cộng đoàn của Ngài, ông thật sự… ‘không biết đi mô’.

Mở đầu trình thuật, Gioan ghi rất đơn sơ: Tôma “không ở với các ông”. Bản Hy Lạp viết meth’ autōn – “ở với các ông”. Chỉ thiếu việc “ở với” ấy, Tôma lỡ mất cuộc gặp đầu tiên với Đấng Phục Sinh. Tôma không mất Chúa vì nghi ngờ; ông lỡ cuộc gặp đầu tiên vì không “ở với”. Vấn đề của ông không chỉ là thiếu bằng chứng, nhưng là thiếu hiệp thông. Đức tin không bắt đầu bằng việc đủ lý lẽ, nhưng bằng việc ở lại với những người chờ Chúa.

Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại đến. Lần này, Tôma “ở với các ông”. Đối với Tôma, con đường gặp Đức Kitô đi ngang qua cộng đoàn. Và đó là cách Đức Kitô muốn mạc khải: Hội Thánh luôn là nơi Ngài quy tụ, hiện diện và ban bình an. Vì thế, cộng đoàn không chỉ là nơi các tín hữu gặp nhau, nhưng là nơi Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình cho họ. Ai tự tách mình khỏi cộng đoàn, sớm muộn cũng đánh mất nơi mình vẫn có thể gặp Đấng Phục Sinh. “Cộng đoàn là nơi những vết thương được chạm đến và đức tin được phục hồi. Không ở đó, Tôma đã không thể chạm vào những dấu đinh!” – James Martin.

Đó cũng là điều Phaolô nhắc các tín hữu Êphêsô: “Anh em là người nhà của Thiên Chúa!” – bài đọc một. Hội Thánh không chỉ là một tổ chức, nhưng là gia đình được Đức Kitô quy tụ và xây dựng. Vì thế, rời cộng đoàn không chỉ là xa một nơi chốn, nhưng là xa mái nhà thiêng liêng, nơi đức tin được nuôi dưỡng và lớn lên. Không ai có thể làm môn đệ một mình; cũng không ai có thể sống đức tin mà không cần đến anh chị em mình. Chính từ cộng đoàn ấy, người môn đệ mới có thể lên đường “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng” như Đáp ca mời gọi.

Như Tôma, có những lúc chúng ta không hẳn mất đức tin, nhưng âm thầm rời xa cộng đoàn vì những lý do khác nhau. Chúng ta nghĩ mình vẫn có thể tin một mình. Vậy mà chỉ khi lòng trở nên trống vắng và lạc hướng, chúng ta mới nhận ra: xa Đức Kitô, xa Hội Thánh của Ngài, xa cộng đoàn…, mình thật sự ‘không biết đi mô’.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh không chỉ quy tụ Hội Thánh; chính Ngài là nguồn mạch hiệp thông của Hội Thánh. Trong Ngài, Hội Thánh được dự phần vào sự sống Ngài hằng sống với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Vì thế, Hội Thánh không chỉ là nơi con người gặp nhau, nhưng là nơi họ được thông dự vào sự sống Ba Ngôi. Ở lại trong Đức Kitô, hiệp thông không còn là nỗ lực giữ nhau, nhưng là sự sống được nhận lãnh và thông ban; để rồi cộng đoàn được sai đi lan toả sự sống ấy. Điều này chỉ xảy ra khi chúng ta ở lại trong Hội Thánh, chứ không đứng ngoài cộng đoàn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đôi lúc giữa cộng đoàn, con vẫn lạc, xin kéo con về; đôi lúc con muốn bỏ đi, ‘không biết đi mô’, xin níu con lại; ở lại mà lòng vẫn đi, xin đưa con vào hiệp thông!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Kính Thánh Tôma Tông đồ 03/7 Thứ Sáu, Tuần XIII Thường Niên

Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,24-29

24 Có một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”


 

Ở HIỀN GẶP LÀNH – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

 Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

 Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

 Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

 Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

 Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Mỹ và Mình

Mỹ và Mình

Ở Mỹ được hơn 30 năm tôi thấy một số khác biệt giữa người Mỹ và người Việt mình (chỉ nói về phần đông chứ không phải là tất cả đâu nhen). Tôi nghĩ còn rất nhiều khác biệt nữa mời các bạn góp ý thêm nha.

  1. Mỹ làm việc thiện vì lòng hảo tâm. Mình làm việc thiện để “mua phước” cho bản thân và gia đình.
  2. Mỹ làm sếp không lên mặt. Mình làm lớn là làm lối.
  3. Sếp Mỹ không cần kêu họ bằng chức vị. Sếp Mình sẽ tức giận nếu không được thưa gởi kính trọng.
  4. Ngày lễ Giáng sinh sếp Mỹ mua quà nhỏ tặng công nhân cảm ơn. Còn Mình thì mua quà lớn tặng Sếp để lấy lòng.
  5. Mỹ tổ chức đám cưới không tính toán lời lỗ. Mình thì trời mưa vào ngày tiệc cưới là méo mặt vì ít người đi dự sẽ lỗ nặng.
  6. Mỹ tổ chức sinh nhật cho con chỉ có con và bạn bè của con. Mình tổ chức sinh nhật cho con mà khách mời toàn là bạn bè của cha mẹ.
  7. Mỹ đi đúng giờ. Mình chuyên xài giờ cao su.
  8. Mỹ bảo vệ động vật hoang dã. Mình mà gặp là bắt về làm thịt ngay.
  9. Mỹ dạy con vừa học vừa làm. Mình cưng con bắt chỉ chuyên tâm vào học.
  10. Mỹ cho con tự do tranh luận với cha mẹ. Mình bắt con phải tuân lời, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  11. Mỹ dám hỏi dám nói. Mình không dám hỏi mà dám nói lén, nói xấu sau lưng.
  12. Mỹ cầm dao cắt từ ngoài vào trong. Mình cắt từ trong ra ngoài.
  13. Mỹ dùng máy rửa chén để rửa chén dĩa. Mình dùng máy rửa chén để úp chén dĩa cho ráo sau khi rửa bằng tay.
  14. Mỹ biết bơi nhưng không dạy nếu không được đào tạo để huấn luyện. Mình thì chỉ cần biết bơi sơ sơ là làm thầy dạy lại cho người khác.
  15. Mỹ không xoa đầu hay nựng nịu con nít. Mình thì ngược lại.
  16. Mỹ tiêu tiền phung phí nên phải bỏ tiền thuê người quản lý tiền bạc và tiêu pha. Mình thì biết tiết kiệm nên chẳng cần phí tiền thuê người lo việc vô duyên này.
  17. Mỹ để y tá lo cho thân nhân khi nhập viện. Mình thì vào ở chung với thân nhân để tự tay săn sóc.
  18. Nhà thương Mỹ rất tôn trọng và yêu thương bệnh nhân bất kể giàu nghèo. Nhà thương Mình thì coi bệnh nhân nghèo như con …ghẻ và thương túi tiền của bệnh nhân giàu.
  19. Đến nhà thương Mỹ mà lơ ngơ là có người hỏi han và nhiệt tình giúp đỡ dẫn đường tới tận nơi. Còn đến nhà thương Mình mà lơ ngơ là có cả đám “cò” tới bắt mánh làm tiền.
  20. Về già Mỹ dắt chó đi dạo. Mình thì về già dắt cháu đi dạo. (Đúng với tui ghê)
  21. Người Mỹ rất thích nhìn vào mắt của người đối thoại. Người Việt thì quan niệm nhìn thẳng vào mắt người đối thoại là thất kính hoặc không lịch sự.
  22. Người Mỹ mà bấm còi xe là mắng xe khác đi ẩu không đúng luật. Còn người Mình bấm còi xe là xin đường.
  23. Người Mỹ lái xe tốc độ nhanh thì chạy lane trái. Thấy có người chạy sau nhanh hơn thì tự sang qua lane phải để nhường đường. Người Mình thì hay lạng lách tranh đường.
  24. Người Mỹ chạy xe hơi thấy xe 2 bánh hoặc người đi bộ là lách tránh xa. Người Mình thì mặc bây bây lo tránh, lỡ va quẹt gây tai nạn thì cán chết luôn.
  25. Mỹ già nhiều tiền là cho từ thiện, VN mình già nhiều tiền cho con cháu.
  26. Mỹ thấy ai bị tai nạn ngoài đường thì nhào vô giúp, VN mình thấy ai bị nạn phần nhiều tránh xa để khỏi bị đổ thừa…….
  27. Mỹ bỏ rác vô túi quần đem về, mình thì cứ bỏ ngay tại chổ.
  28. Mỹ lái xe có trật tự, mình mua hết Orange County California nên mình muốn lái xe sao cũng được (ở OrangeCounty).
  29. Mỹ đi đám cưới là để chung vui, quà tặng tượng trưng. Mình đi đám cưới là phải tính toán sao cho coi được, nhất là bố mẹ đã đi đám con  mình, nay vừa mừng vừa trả nợ

32.Mỹ trong những ngày nghỉ ngoài đường vắng hơn, mình thì ngược lại !

33.Mỹ không hỏi tuổi hỏi lương. Mình thì hỏi tuổi để dễ xưng hô và sau đó hỏi lương bao nhiêu. Thiệt ngại quá xá.

  1. Ở Mỹ người dân nói xấu, chưởi Tổng thống không sao. Ở VN nói xấu, bắt chước lãnh đạo là đi ủ tờ.
  2. Mỹ không hỏi những câu hỏi personal question. VN mình hỏi tới bến luôn. Hu hu
  3. Mỹ chơi súng, Việt chơi dao!

37.Quân đội Mỹ chỉ chào nhau khi còn trong giờ làm việc, VN thấy sếp ở đâu cũng phải đứng dậy chào

  1. Mỹ: Cha mẹ tới thăm con cái thi ra hotel ngủ.. 

Việt: Cha Mẹ ở với Con Cái.

  1. Mỹ:  Tiền Vợ, vợ xài… Tiền Chồng, Chồng xài

Việt:  Tiền Vợ là của Vợ, Tiền Chồng cũng là tiền của Vợ

Jonathan Vu Nguyễn