“Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Xuan Ly is with Phaolô Hiển Nguyễn 

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Quy định buộc Việt kiều phải khai báo tạm trú trong vòng 12 giờ cùng mức phạt “cắt cổ” lên đến 20 triệu đồng đang lộ rõ là một nước cờ kinh tế đầy toan tính. Đây không đơn thuần là quản lý hành chính, mà là một “thuế nhớ nước” được dàn dựng công phu để tận thu nguồn ngoại tệ sống.

Khi Sự Mệt Mỏi Trở Thành “Mỏ Vàng”

Tại sao lại là con số 12 giờ cực đoan? Sau một chuyến bay vắt kiệt sức lực, ai cũng cần nghỉ ngơi. Chính cái khoảng thời gian “ngơ ngác” vì lệch múi giờ ấy là lúc cái bẫy sập xuống. Chỉ cần gia đình lơ là, một biên bản phạt bằng cả tháng lương sẽ được chìa ra ngay lập tức. Đây là chiến lược “tận thu trên sự sơ hở”, biến niềm vui đoàn viên thành nỗi lo sợ bị rình rập.

Thông Điệp Ngầm: “Gửi Tiền Về, Thân Đừng Về”

Nhiều người tin rằng đây là một phần của thuyết âm mưu nhằm tối ưu hóa nguồn thu mà không cần phục vụ:

  • Hành chính hóa sự phiền hà: Thủ tục rắc rối khiến kiều bào nản lòng. Thông điệp ẩn ý rất rõ ràng: “Chúng tôi cần đô-la của các bạn, nhưng không mặn mà với sự hiện diện của các bạn.”
  • Cánh tay nối dài của ngân sách: Biến mỗi chủ nhà thành một “cai ngục” tự nguyện vì sợ phạt. Sự “rực rỡ” của thời đại này chính là biến tình thân thành công cụ để bào tiền một cách hợp pháp.

Về quê ăn Tết mà cứ như đi “trốn nã”, vừa xuống sân bay đã phải lo chạy ra phường trước khi bị “vặt lông”. Phải chăng đây chính là chiến dịch “giữ chân kiều bào ở lại hải ngoại” để họ chỉ việc ngồi yên và chuyển tiền về cho an toàn?

Le Anh

May be an image of text that says 'EATONONE NENCO NENCOICINE EATON EATONSIEI hML Chiến Dịch "Bào" Việt Kiều: Khi Tình Quê Hương Có Giá 20 Triệu!'


 

KHIÊM TỐN, BẢN NGÃ VÀ CAO CẢ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Đối với đa số chúng ta, tôi ngờ rằng chữ bản ngã có một nghĩa tiêu cực.  Kết án ai có bản ngã to là kết án họ quá tin vào họ, tự thổi phồng, tự cao và thiếu khiêm tốn.  Lúc nào chúng ta cũng cho bản ngã và khiêm tốn là ngược nhau.  Có bản ngã to là không khiêm tốn.

 Nhưng điều này có vẻ đơn giản và sai.  Có bản ngã mạnh và lớn không nhất thiết là xấu.  Đúng ra, đó là một điều cần thiết, đặc biệt khi chúng ta thực hiện một cái gì có giá trị.  Không một ai làm một cái gì lớn mà không có bản ngã mạnh, và điều này không có nghĩa là họ không khiêm tốn.Ví dụ: 

Ít ai nghĩ mẹ Têrêxa có bản ngã lớn.  Khi nghĩ về mẹ, chúng ta nghĩ đó là một người khiêm tốn bẩm sinh.  Nhưng, rõ ràng, mẹ có một bản ngã khổng lồ, một hình ảnh tự hào rất mạnh, cho phép mẹ đứng thẳng trước toàn cầu để xác quyết chân lý, xác quyết mẹ có giá trị và tin chắc tầm quan trọng của mẹ.  Mẹ có thể đứng trước bất cứ ai trên thế giới và cho họ biết con người của mẹ và lời nói của mẹ là quan trọng.  Phải có một bản ngã rất mạnh mới làm được điều này, bản ngã của họ mạnh hơn bản ngã của đa số chúng ta.  Mẹ ý thức mẹ là khí cụ duy nhất và được Chúa chúc phúc trong thế giới này, mẹ đủ yên tâm để hành động.

 Dù vậy mẹ lại khiêm tốn.  Lúc nào mẹ cũng ý thức rằng những điều làm mẹ trở nên duy nhất, cá biệt và vững mạnh không bao giờ xuất phát từ bản thân mẹ mà đến từ Thiên Chúa.  Mẹ chỉ là một băng tần của quyền năng và ân sủng của một ai đó.  Mẹ có một bản ngã khổng lồ nhưng mẹ không ích kỷ.  Mẹ không bao giờ chứa đầy cái tôi, mẹ chỉ chứa đầy Thiên Chúa.

 Người ta cũng có thể nói như vậy với đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: ngài khiêm tốn nhưng rõ ràng ngài có một bản ngã cũng khổng lồ.  Ngài có thể đứng trước hàng triệu người, giang tay ra và nói: “Cha thương các con!” (Với cả hệ luận đi kèm?), “Và quan trọng là các con phải nghe cha!”  Bản ngã của ngài phải rất mạnh mới nói được như vậy.  Đa số chúng ta sẽ run khi làm như vậy.  Chúng ta sẽ bị khống chế bởi hàng trăm rào cản nội tâm, chúng làm chúng ta tê liệt với các câu: “Bạn nghĩ bạn là ai mà nói như vậy!  Ai cho bạn có quyền nghĩ rằng cả thế giới muốn nghe bạn nói bạn thương họ?”

 Thêm một lần nữa, cũng giống như mẹ Têrêxa, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng sẽ nói  như vậy và ngài vẫn khiêm tốn, vì ngài biết rõ, những gì tạo nên ngài là người duy nhất, ân sủng không đến từ ngài và thuộc về ngài.  Ngài chỉ là băng tần.  Ngài có thể tiếp cận tầm cao cả và tự nhiên với tầm cao cả này, nhưng ngài không tự cho mình là cao cả và đòi hỏi tầm cao cả này cho riêng mình.  Đó là khác biệt giữa khiêm tốn và cao cả, giữa cao lớn và ích kỷ.  Một người ích kỷ có thể tiếp cận cao cả, nhưng khác với các vị thánh, người ích kỷ lấy bản sắc mình ở đó và cho rằng tự mình làm nên chuyện cao cả này.

 Về mặt thiêng liêng, chung chung người ta khó chấp nhận tầm quan trọng của bản ngã và thường chối bỏ thẳng thừng vai trò của bản ngã trên tầm cao cả, đặc biệt là tầm cao cả thiêng liêng.  Cách này cách khác, chúng ta không chấp nhận các thánh như thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng là những người có bản ngã khổng lồ – những người có niềm tự phụ lớn, nghĩ rằng họ là những người quan trọng đặc biệt.  Thay vào đó, chúng ta thường phản chiếu lên họ một hình ảnh sai về khiêm tốn, mà đối với họ thì không đúng và làm chúng ta tổn thương. 

Nó làm chúng ta tổn thương, vì đa số chúng ta, vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta, kể cả đời sống thiêng liêng, chính là bản ngã của chúng ta quá yếu.  Chúng ta mang một hình ảnh quá yếu đến mức không cho phép chúng ta làm một cái gì thật sự lớn hoặc đúng để trải rộng tình thương và lòng nhiệt thành.

 Bởi vì hình ảnh chúng ta quá yếu, không giống như mẹ Têrêxa và đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, chúng ngăn không cho chúng ta mở rộng lòng ra, nói lên chân lý và tình yêu đích thực của chúng ta.  Chúng ta có quá nhiều tiếng nói bên trong (chắc chắn nguồn gốc của nó là từ những tiếng nói bên ngoài) làm chúng ta bị tê liệt với những câu nói thường lệ: “Bạn nghĩ bạn là ai!  Đúng là tự hào và kiêu hãnh!  Đúng là bản ngã!  Bạn chưa có năng khiếu hoặc chưa giỏi để làm!  Không ai cần đến bạn!” 

Như thế, không phải vì bản ngã chúng ta mạnh nhưng vì nó yếu nên chúng ta mới cần bảo vệ nó.  Chúng ta chiến đấu để trở nên yếu mềm, chứ không phải chiến đấu để thành hoang tưởng và bảo vệ chúng ta.  Tại sao?  Chính xác vì chúng ta không đủ tự tin bên trong, vì bản ngã và niềm tự tin của chúng ta lung lay.  Thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng không bao giờ cần tự bảo vệ họ.  Họ đủ yên tâm để tỏ ra yếu mềm.  Họ có bản ngã vững mạnh.

 Chúng ta nên luôn luôn biết mệt về tính kiêu căng và ích kỷ.  Tuy nhiên, khiêm tốn giả tạo không làm cho chúng ta tránh được kiêu căng.  Thay vào đó, nó ngăn cản chúng ta đến với  nhiệt thành, yêu thương và những điều cao cả.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Bà Anna Eleanor Roosevelt (1884-1962)

My Lan Pham

 Eleanor Roosevelt 34 tuổi khi bà tìm thấy chúng ,một tập thư tình được giấu trong vali của Franklin. Ông đang hồi phục sau viêm phổi năm 1918, và bà chỉ đơn giản là dọn đồ cho chồng thì phát hiện ra sự thật: chồng bà đang ngoại tình với Lucy Mercer, nữ thư ký xã hội do chính Eleanor tuyển dụng và tin tưởng.

Sự phản bội là trọn vẹn. Bà đề nghị ly hôn. Mẹ ông dọa cắt nguồn tài chính. Các cố vấn chính trị cảnh báo điều đó sẽ hủy hoại sự nghiệp của ông. Vì vậy họ vẫn ở lại trong cuộc hôn nhân ấy ,nhưng Eleanor Roosevelt, người phụ nữ đã dành cả đời cố gắng để trở nên “đủ tốt”, đã ngừng cố gắng.

Khoảnh khắc đó không làm bà gục ngã. Nó giải phóng bà.

Nhưng để hiểu sự chuyển mình phi thường ấy, cần biết Eleanor Roosevelt là ai trước ngày hôm đó.

Bà sinh ra với tên Anna Eleanor Roosevelt ngày 11 tháng 10 năm 1884, trong giàu sang và đặc quyền nhưng phía sau là những tổn thương sâu sắc. Mẹ bà, Anna Hall Roosevelt, một mỹ nhân nổi tiếng New York, công khai gọi con gái là “Granny” vì cô bé quá nghiêm nghị, quá kém xinh. Những lời nhận xét về ngoại hình ấy đủ để phá vỡ lòng tự trọng của bất kỳ đứa trẻ nào.

Cha bà, Elliott Roosevelt, nghiện rượu. Eleanor yêu cha tha thiết ,ông là người duy nhất khiến bà cảm thấy được yêu thương nhưng căn bệnh khiến ông thất thường, vắng mặt, và phải vào viện điều trị. Khi Eleanor tám tuổi, mẹ mất. Chín tuổi, cha qua đời. Mười tuổi, bà thành trẻ mồ côi, được nuôi dạy bởi người bà lạnh lùng, nghiêm khắc.

Bà lớn lên với niềm tin rằng mình vốn dĩ không đáng được yêu. Rất nhút nhát, đầy mặc cảm, luôn sợ làm mọi người thất vọng.

Năm 19 tuổi, bà kết hôn với Franklin Delano Roosevelt ,người đàn ông đẹp trai, cuốn hút, và muốn cưới bà. Eleanor dốc sức trở thành người vợ hoàn hảo. Sáu người con trong mười năm. Quản lý sự nghiệp chính trị của chồng. Chủ trì các buổi tiếp khách dù luôn lo âu. Làm mọi điều xã hội mong đợi.

Rồi bà tìm thấy những lá thư chứng minh rằng “hoàn hảo” vẫn chưa đủ. Bà chưa bao giờ là đủ.

Nhưng nếu không thể có được tình yêu bằng cách trở nên hoàn hảo, thì bà sẽ sống là chính mình và làm những việc có ý nghĩa.

Năm 1921, Franklin mắc bệnh bại liệt khi mới 39 tuổi. Ngôi sao chính trị đang lên bỗng đứng trước nguy cơ chấm dứt sự nghiệp. Mẹ ông muốn ông rút về Hyde Park sống đời tàn tật. Eleanor ,khi ấy đã tìm thấy sức mạnh của chính mình ,kiên quyết không để ông bỏ cuộc.

Bà trở thành “đôi chân” của chồng. Bà dự những cuộc họp ông không thể đến. Bà diễn thuyết khi ông không thể đi xa. Bà trở thành cầu nối của ông với thế giới.

Và bà phát hiện mình làm điều đó rất xuất sắc.

Khi Franklin trở thành tổng thống năm 1933, Eleanor từ chối vai trò Đệ nhất phu nhân truyền thống chỉ tổ chức tiệc trà và mỉm cười trước ống kính. Bà trở thành điều nước Mỹ chưa từng thấy.

Bà tổ chức họp báo hằng tuần nhưng chỉ dành cho nữ phóng viên, buộc các tòa soạn phải tuyển phụ nữ nếu muốn tiếp cận Nhà Trắng. Hàng chục phụ nữ có sự nghiệp báo chí nhờ chiến lược nữ quyền ấy.

Bà viết chuyên mục “My Day” trên báo sáu ngày mỗi tuần suốt 27 năm. Bà kiếm tiền riêng, tự quản tài chính, có tiếng nói độc lập với chồng.

Bà đi khắp nước Mỹ trong thời kỳ Đại Khủng Hoảng. Xuống hầm mỏ than. Thăm trại lao động di cư. Gặp các lãnh đạo công đoàn và nhà hoạt động dân quyền. Franklin gọi bà là “đôi mắt và đôi tai của tôi”. Các cố vấn gọi bà là “kẻ xen vào”. Bà không quan tâm.

Mật vụ ghét bảo vệ bà vì bà luôn đến những nơi họ cho là nguy hiểm ,khu dân cư người da đen, các cuộc đình công, vùng nghèo đói. Bà tin công việc của mình quan trọng hơn sự an toàn cá nhân.

Rồi đến năm 1939. Marian Anderson, một trong những giọng ca opera vĩ đại nhất thế giới, bị từ chối biểu diễn tại Constitution Hall ở Washington, D.C., chỉ vì bà là người da đen. Tổ chức Daughters of the American Revolution áp dụng chính sách “chỉ dành cho người da trắng”.

Eleanor Roosevelt là thành viên của tổ chức này. Bà có thể im lặng. Nhưng bà đã công khai từ chức trong một bức thư gây chấn động:

“Tôi hoàn toàn không đồng ý với thái độ từ chối Constitution Hall đối với một nghệ sĩ vĩ đại. Quý vị đã có cơ hội dẫn dắt theo hướng tiến bộ, nhưng tổ chức của quý vị đã thất bại.”

Sau đó bà góp phần tổ chức một sự kiện chưa từng có: buổi hòa nhạc miễn phí trên bậc thềm Đài tưởng niệm Lincoln.

Ngày 9 tháng 4 năm 1939, 75.000 người tụ tập để nghe Marian Anderson hát. Đó trở thành một trong những khoảnh khắc dân quyền mạnh mẽ nhất trước khi phong trào dân quyền bùng nổ bởi Eleanor Roosevelt đã dùng đặc quyền của mình để tạo ra công lý.

Các lời đe dọa giết người đến ngay sau đó. FBI lập hồ sơ theo dõi bà. Báo chí bảo thủ gọi bà là cộng sản. Những người ủng hộ phân biệt chủng tộc ở miền Nam căm ghét bà. Bà vẫn tiếp tục làm việc.

Bà vận động luật chống lynching. Ủng hộ công đoàn. Thúc đẩy quyền phụ nữ và bình đẳng chủng tộc ,những lập trường khiến bà vừa được ngưỡng mộ nhất vừa bị ghét bỏ nhất nước Mỹ.

Khi Franklin qua đời năm 1945, mọi người nghĩ bà sẽ nghỉ hưu. Bà đã 60 tuổi, làm Đệ nhất phu nhân suốt mười hai năm.

Nhưng bà bắt đầu công việc quan trọng nhất đời mình.

Tổng thống Truman bổ nhiệm bà vào Liên Hợp Quốc. Năm 1946, bà trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền LHQ, phụ trách soạn thảo một tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu ,xác định những quyền cơ bản cho mọi con người.

Đó là nhiệm vụ gần như bất khả thi. Các nhà ngoại giao từ hàng chục quốc gia với hệ thống hoàn toàn khác nhau phải đồng thuận về những nguyên tắc chung. Chiến tranh Lạnh đang bắt đầu. Mỹ và Liên Xô đã đối đầu.

Eleanor dành hai năm thương lượng, thuyết phục, thỏa hiệp, đấu tranh. Những ngày làm việc 18 giờ. Tự học ngoại giao quốc tế. Không bao giờ bỏ cuộc.

Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Đại hội đồng LHQ thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Eleanor là người dẫn dắt văn kiện ấy vượt qua mọi trở ngại.

Tuyên ngôn trở thành nền tảng của luật nhân quyền quốc tế. Nó được dịch ra hơn 500 ngôn ngữ. Truyền cảm hứng cho các phong trào công lý khắp thế giới.

Eleanor Roosevelt cô gái từng bị nói là xấu xí và vô giá trị, người vợ bị phản bội, người phụ nữ từng tin mình không đủ ,đã góp phần tạo nên một văn kiện định nghĩa phẩm giá con người cho toàn thế giới.

Bà làm việc cho đến vài tuần trước khi qua đời năm 1962, hưởng thọ 78 tuổi. Bà không bao giờ ngừng viết, nói, đi, và đấu tranh.

Tổng thống Truman gọi bà là “Đệ nhất phu nhân của thế giới”. Tổng thống Kennedy nói bà là một trong những phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Mỹ. Nhưng khi còn sống, hàng triệu người ghét bà vì bà không chịu im lặng và chỉ làm cảnh.

Bà từng bị gọi là cô gái xấu xí nhất New York. Chồng ngoại tình với chính người làm việc cho bà. Và rồi bà trở thành người phụ nữ quyền lực nhất nước Mỹ.

Bà đã định nghĩa lại vai trò của một Đệ nhất phu nhân. Đấu tranh cho quyền dân sự khi điều đó rất nguy hiểm. Góp phần viết nên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Tất cả bắt đầu từ khoảnh khắc sự phản bội khiến bà ngừng tìm kiếm sự chấp nhận và bắt đầu đòi hỏi công lý.

Theo Incredible and Strange Everything

My Lan Phạm

May be an image of text that says 'SR She was calle called ugly. Her husband betrayed her with her own employee. Then she rewrote what it meant to be powerful- and changed the world forever.'


 

Khi người ta tìm thấy anh, hai mươi ba ngày sau đó, anh không hề đơn độc.

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

May be an image of dog and arctic

Năm 2013, tại vùng Patagonia của Argentina, Bernardo Leónidas Quirós đã mất tích sau khi chiếc xe của anh bị hỏng giữa một khu vực hoang vu, xa đường sá và nơi trú ẩn. Đi cùng anh là chú chó chăn cừu Đức tên Talero. Theo những bằng chứng thu thập được gần đây nhất,Bernardo đã rời xe và đi bộ với hy vọng tìm được sự trợ giúp.

Rồi cơn bão tuyết ập đến.

Cái lạnh ở Patagonia không cho phép bất kỳ sai lầm nào. Khoảng cách trở nên vô tận, phương hướng biến mất, và cơ thể con người dần khuất phục. Bernardo đã không sống sót và chết vì hạ thân nhiệt, một mình giữa vùng đất lạnh lẽo không chút khoan dung.

Khi đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm được thi thể, cảnh tượng trước mắt khiến họ lặng người. Talero vẫn ở đó. Nó không rời đi. Suốt nhiều tuần liền, nó canh giữ bên chủ của mình, ngày lẫn đêm.

Những người cứu hộ nói rằng chú chó đã xua đuổi thú hoang và có lẽ đã cố giữ ấm cho Bernardo bằng cách ép sát thân mình vào anh. Không còn gì có thể làm cho người đàn ông ấy nữa, nhưng con chó thì không bỏ đi. Nó không hiểu về cái kết. Nó chỉ tiếp tục làm điều mà nó biết làm: ở lại.

Talero được tìm thấy còn sống — kiệt sức, suy yếu, nhưng vẫn ở đúng chỗ của mình.

Câu chuyện này không nói về một sự anh hùng ngoạn mục. Nó nói về một lòng trung thành không cần lời giải thích, không biết đến sự bỏ rơi, không phân biệt giữa hy vọng và tuyệt vọng. Trong một thế giới nơi con người thường rời đi khi mọi thứ trở nên khó khăn, hình ảnh một con chó ở bên cạnh một thi thể giữa giá lạnh băng tuyết nhắc chúng ta rằng:

đôi khi, hình thức thuần khiết nhất của tình yêu chỉ đơn giản là không quay lưng bỏ đi.

TG Văn Chương

ST.


 

THÁNH THIỆN VÔ TRÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”.

“Khi đôi môi cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, đó không phải là thờ phượng – đó là đóng kịch!” – Romano Guardini.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không công kích lễ nghi, nhưng chạm vào những trái tim cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, những trái tim ‘thánh thiện vô trùng!’.

Như các biệt phái, chúng ta có thể rất đúng luật, chỉn chu, chuẩn mực; chúng ta rửa tay trước khi ăn, giữ chay đúng ngày, đọc kinh đủ giờ, tham dự phụng vụ đều đặn. Tất cả đều tốt. Chúa Giêsu không phủ nhận truyền thống; Ngài chỉ lật ngược vấn đề: điều gì đang diễn ra bên trong? Có khi môi miệng chúng ta mấp máy thành thạo, nhưng lòng lại không hề rung động; đứng trong đền thờ, mà đôi khi, trái tim thì đứng ngoài. Và thế là, thay vì để Thiên Chúa thanh tẩy mình, chúng ta lại dùng nghi lễ để che chắn mình. Một đời sống đạo như thế dễ trượt vào ‘thánh thiện vô trùng’. “Không cần nhiều lời, chỉ cần để nội tâm thưa ‘xin vâng’ trong từng lời kinh, từng cử chỉ – và bạn sẽ được biến đổi!” – Fulton Sheen.

Vì thế, vấn đề không phải là bỏ nghi lễ, nhưng là để nghi lễ dẫn chúng ta vào tương quan sống động với Thiên Chúa. “Phụng vụ không phải là điều chúng ta làm ra, nhưng là điều chúng ta bước vào!” – Henri de Lubac. Nếu phụng vụ là nơi chúng ta bước vào mầu nhiệm tự hiến của Chúa Kitô, thì chúng ta càng không thể bước vào mà lòng vẫn khép kín. Nếu Thánh Lễ là nơi Ngài trao mình, thì chúng ta không thể chỉ trao môi miệng.

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”. Xa không phải vì thiếu hình thức, nhưng vì thiếu tình yêu; xa vì chúng ta muốn một thứ đạo đức không làm mình đau, một sự công chính không đòi mình đổi thay. Nhưng theo Chúa Kitô là để mình bị uốn nắn, bị lột bỏ, bị thanh luyện. Đó không phải là sự ‘thánh thiện vô trùng’, mà là sự thánh thiện biết yêu đến mức chấp nhận bị thương.

Anh Chị em,

Đức Kitô không dựng hàng rào quanh sự thánh thiện của mình. Ngài chạm vào người phong hủi để làm họ được sạch; để một phụ nữ tội lỗi chạm vào chân mình hầu cô được tha. Chung bàn với hạng thu thuế, Ngài không kết án nhưng để cứu linh hồn họ. Và cuối cùng, Ngài chết trần trụi giữa máu và bụi, giữa tiếng chế nhạo và mùi tử khí. Sự thánh thiện của Ngài không ‘vô trùng’; đó là sự thánh thiện dám bị thương tích, dám mang lấy vết nhơ để trao lại cho chúng ta sự sống. Hôm nay, Chúa Giêsu không mời chúng ta bớt đạo đức; Ngài mời chúng ta đạo đức thật. Không chỉ tôn kính bằng môi miệng, nhưng bằng trái tim; không chỉ giữ luật, nhưng để luật dẫn đến yêu thương. Chỉ khi ấy, việc thờ phượng của chúng ta mới thôi là trình diễn, và trở thành gặp gỡ. “Mọi nghi thức chỉ là vỏ bên ngoài nếu không có lửa từ bên trong!” – Romano Guardini.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau một đức tin sạch sẽ, cho con dám để Chúa chạm vào vết thương sâu kín nhất; xin thanh tẩy con bằng tình yêu đã đổ máu của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *******************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 7,1-13

1 Khi ấy, có những người Pha-ri-sêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giê-su. Họ là những người từ Giê-ru-sa-lem đến. 2 Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. 3 Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do-thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân : họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận ; 4 thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn ; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. 5 Vậy, người Pha-ri-sêu và kinh sư hỏi Đức Giê-su : “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa ?” 6 Người trả lời họ: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng :

Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,
còn lòng chúng thì lại xa Ta.
7Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích,
vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.

8 Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.” 9 Người còn nói : “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa, để nắm giữ truyền thống của các ông. 10 Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng : ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử !’ 11 Còn các ông, các ông lại bảo : ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng : những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘co-ban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, 12 và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa. 13 Thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông còn làm nhiều điều khác giống như vậy nữa !”


 

Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào?- Cha Vương

Trận Super Bowl 2026 thật ấn tượng! Xin cho người thắng đừng quá hống hách và người thua đừng quá tự ti. Một ngày bình yên trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 9/2/2026. (10-25)

GIÁO LÝ: Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào? Ơn thánh Chúa luôn tôn trọng tự do của con người, nó khơi gợi và mời gọi con người đáp lại hoàn toàn tự do. Ơn thánh không ép buộc, tình yêu Chúa muốn con người tự ý chấp nhận. (YouCat, số 340)

SUY NIỆM: Ta luôn có thể từ chối ân sủng. Ân sủng không phải cái gì ở bên ngoài, xa lạ với con người, thật sự ân sủng là điều mà tự do của con người khao khát rất sâu xa. Ân sủng chạm đến trong ta là để Thiên Chúa đi trước và ta tự ý đáp lại. (YouCat, số  340 t.t.)

❦  Đức Maria nói: Đây tôi là tôi tá Chúa, tôi “xin vâng” như lời thiên thần dạy. (Lc 1,38)

❦  Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. (Rm 3,23-24)

❦  Thánh thiện không phải là chuyện xa xỉ cho một số người, nhưng đơn giản là bổn phận của bạn và của tôi. (Mẹ Têrêsa Calcutta)

LẮNG NGHE: Anh em đã được gọi để hưởng tự do, có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. (Gl 5:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tự do là món quà cao quý và lớn lao nhất mà Chúa ban cho con nhưng nó cũng là điều khủng khiếp nhất nếu con dùng nó để thỏa mãn cái tôi ích kỷ, thỏa mãn đam mê nhục dục thấp hèn, xin cho con luôn biết cộng tác với ơn Chúa để những việc làm trong ngày hôm nay sinh nhiều hoa trái.

THỰC HÀNH: Thánh Tôma Aquinô nói tự do là “khả năng của ý chí con người, nhờ đó con người có thể điều hướng những hoạt động của mình đến cùng đích”. Cùng đích ở đây là sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc trong Chúa. Mời bạn hãy xét mình coi mình có sử dụng món quà tự do đúng với ý định của Chúa không nhé. Hãy làm một thay đổi để sống tốt đẹp hơn. 

From: Do Dzung

*********************

Bao La Tình Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Thể hiện: Kiều Oanh Nguyễn

Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm…

Tony Nguyễn

“Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm. Rồi bà ấy bước vào ngân hàng và tặng đi 150,000 đô la.”

No photo description available.

Nếu bạn thấy Oseola McCarty đi bộ qua Hattiesburg, Mississippi, bạn sẽ thấy những gì mọi người khác đều thấy: một người phụ nữ da đen nhỏ bé, lớn tuổi, đi đôi giày cũ và mặc chiếc váy đơn giản, đẩy chiếc xe đẩy hàng về ngôi nhà gỗ không sơn của mình. Bạn sẽ không bao giờ đoán được khối tài sản mà bà ấy đang sở hữu – hoặc sự hy sinh mà bà ấy sắp thực hiện.

Tuổi thơ của Oseola kết thúc năm mười một tuổi. Đó là những năm 1920 ở miền Nam nước Mỹ, và dì của bà bị ốm nặng. Ai đó phải chăm sóc bà ấy. Việc học của bà dừng lại ở lớp sáu. Giấc mơ trở thành y tá của bà tan biến trước khi kịp bén rễ.

Điều không dừng lại là công việc.

Trong bảy mươi lăm năm tiếp theo, Oseola chỉ làm một việc: giặt quần áo cho người khác. Không phải ở tiệm giặt là. Mà là ở sân sau nhà, cúi người trên tấm ván giặt, nhúng tay trần vào nước sôi. Áo sơ mi. Váy. Ga trải giường. Bà ấy tính tiền vài xu mỗi món. Từ lúc mặt trời mọc cho đến khi ánh sáng tắt dần. Mỗi ngày.

Các sinh viên đại học đi ngang qua cửa sổ nhà bà trên đường đến Đại học Southern Mississippi, sách vở kẹp dưới cánh tay, tương lai rộng mở. Bà nhìn họ qua khung cửa kính và tự hỏi cảm giác ngồi trong lớp học là như thế nào. Lật từng trang sách và hiểu những con chữ. Bước lên sân khấu với mũ và áo tốt nghiệp.

Nhưng Oseola không bao giờ than phiền. Bà làm việc. Và bà tiết kiệm.

Không có ô tô. Không có tivi màu. Không có kỳ nghỉ. Bà chưa bao giờ đi máy bay hay ngủ ở khách sạn. Bà sống một cuộc sống giản dị đến kinh ngạc, bỏ từng đồng xu tiết kiệm vào các tài khoản tiết kiệm rải rác ở các ngân hàng địa phương. “Tôi không tiêu tiền,” bà nói một cách thẳng thắn. “Tôi tiết kiệm.”

Năm 1995, ở tuổi tám mươi bảy, bàn tay của Oseola bị biến dạng do viêm khớp. Hàng chục năm giặt giũ trong nước nóng đã phá hủy các khớp xương của bà. Bà không thể làm việc được nữa. Thời gian của bà không còn nhiều.

Bà bước vào ngân hàng và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Tôi có bao nhiêu tiền?”

Khi nhân viên ngân hàng tổng kết các tài khoản của bà, con số khiến cả hai người đều kinh ngạc: 280,000 đô la.

Oseola có thể đã mua được ngôi nhà mơ ước của mình. Bà ấy lẽ ra có thể đi khắp thế giới. Bà ấy lẽ ra có thể sống những năm cuối đời trong sự thoải mái mà bà chưa từng được biết đến.

Thay vào đó, bà nghĩ về những sinh viên đại học đó. Những người có ánh mắt tràn đầy hy vọng. Nền giáo dục đã bị tước đoạt khỏi bà. Những cơ hội mà bà đã bị từ chối chỉ vì bà nghèo và là người da đen ở miền Nam nước Mỹ thời kỳ Jim Crow.

Bà đã đưa ra quyết định với sự rõ ràng tuyệt đối. Bà dành một phần nhỏ cho nhà thờ của mình. Bà chỉ giữ lại đủ để trang trải các hóa đơn. Sau đó, bà quyên góp 150,000 đô la cho Đại học Southern Mississippi—một trường đại học thậm chí còn không cho phép sinh viên da đen nhập học cho đến những năm 1960—để tạo ra học bổng cho sinh viên người Mỹ gốc Phi không đủ khả năng chi trả học phí đại học.

Khi các phóng viên hỏi lý do, bà trả lời với sự giản dị đầy xúc động: “Tôi muốn các con có được nền giáo dục mà tôi không có. Tôi muốn chúng có cơ hội.”

Cả thế giới dừng lại.

Người phụ nữ nhỏ bé này, người đã sống trong sự vô danh gần chín mươi năm, bỗng trở thành biểu tượng quốc gia chỉ sau một đêm. Tổng thống Clinton đã mời bà đến Nhà Trắng và trao tặng bà Huân chương Công dân Tổng thống. Bà đã cầm ngọn đuốc Olympic. Đại học Harvard đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Người phụ nữ bỏ học từ lớp sáu đã trở thành Tiến sĩ Oseola McCarty.

Nhưng không gì sánh được với ngày bà gặp Stephanie Bullock—một sinh viên xuất sắc mười tám tuổi. Người nhận học bổng Oseola McCarty đầu tiên.

Stephanie ôm chầm lấy người phụ nữ yếu ớt và khóc. “Cảm ơn bà vì đã thay đổi cuộc đời cháu.”

Oseola mỉm cười, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ của bà. “Tôi chỉ vui vì mình đã làm được điều gì đó. Tôi không muốn chết mà không để lại gì cho ai cả.”

Oseola McCarty qua đời vào ngày 26 tháng 9 năm 1999, ở tuổi chín mươi mốt. Nhưng bà không để lại gì cho ai cả.

Bà đã để lại tất cả.

Quỹ học bổng của bà hiện đã tăng lên hơn 1 triệu đô la. Mỗi năm, những người trẻ tuổi—nhiều người trong số họ là sinh viên da đen từ các gia đình nghèo ở Mississippi—bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp với mũ và áo choàng. Họ cầm bằng cấp. Họ bước vào tương lai được tạo nên nhờ một người phụ nữ đã dành bảy mươi lăm năm cúi mình bên nồi nước sôi, tiết kiệm từng đồng xu, mơ ước về một cơ hội mà bà sẽ không bao giờ có được nhưng người khác sẽ có.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã quyên góp thêm tiền. Những người lạ từ khắp nước Mỹ đã gửi tiền quyên góp. Sự hy sinh của một người phụ nữ làm nghề giặt giũ đã khơi nguồn cho một phong trào hào phóng vẫn tiếp diễn hai mươi sáu năm sau khi bà qua đời.

Bà đã chứng minh rằng sự giàu có thực sự không phải là những gì bạn tích lũy được – mà là những gì bạn sẵn sàng cho đi. Một cuộc đời, sống có mục đích và sự hy sinh, có thể vang vọng qua nhiều thế hệ. Điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là trao cho người khác cơ hội mà bạn chưa từng có.

Người phụ nữ giặt giũ đến từ Hattiesburg chưa từng học đại số, điều dưỡng hay văn học. Nhưng bà đã dạy cho thế giới bài học quan trọng nhất: rằng sự hy sinh thầm lặng, không được chú ý và không được đền đáp, có thể thay đổi cuộc sống của hàng nghìn người. Rằng bạn không cần phải giàu có mới có thể hào phóng. Rằng tình yêu không được đo bằng những gì bạn giữ lại, mà bằng những gì bạn từ bỏ để người khác có thể vươn lên.

https://en.wikipedia.org/wiki/Oseola_McCarty


 

THỜI LÁO – (Bs. Đỗ Hồng Ngọc)

Việt Nam Defence

(Bs. Đỗ Hồng Ngọc)

No photo description available.

Chúng ta đang ở thời đại nói láo toàn tập!…

Toàn Láo Cả!

Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?

Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.

Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.

Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.

Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.

Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.

Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.

Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.

Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.

Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.

Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.

Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.

Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.

Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.

Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.

Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.

Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..

Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.

Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…

Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..

Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám quanh. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.

Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.

Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.

Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.

Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!

BS ĐỖ HỒNG NGỌC


 

HAI NHÀ TOÁN HỌC VIỆT NAM RỜI HOA KỲ

Bùi Văn Phú

 Trong 10 ngày qua đã có hai nhà toán học người Việt từ giã Hoa Kỳ về đầu quân cho Đại học Hong Kong, Trung Quốc. Đó là giáo sư Đại học Yale Vũ Hà Văn, từng đạt giải thưởng Fulkerson, và giáo sư Ngô Bảo Châu, giải Fields, từ Đại học Chicago.

Chính sách bài chống di dân của chính quyền Trump đã khiến nhiều nhà khoa học nước ngoài từ bỏ nước Mỹ để tìm một môi trường học thuật và nghiên cứu thuận lợi hơn.

Những năm qua, dù giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Chicago, từ năm 2011 giáo sư Ngô Bảo Châu, có quốc tịch Pháp, còn là Giám đốc Khoa học tại Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tại Việt Nam.

Giáo sư Vũ Hà Văn, quốc tịch Việt Nam, từ năm 2018 giữ chức vụ Giám đốc Khoa học tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VinBigData) và Quỹ Đổi mới sáng tạo (VinIF) thuộc Tập đoàn Vingroup. Dự án VinUni 500 của ông Phạm Nhật Vượng khởi xướng năm ngoái nhằm chiêu mộ 500 nhân tài cho đất nước đã có sự tham gia của giáo sư Văn.

Mặc dù đã được nhà nước Việt Nam chào đón và hai giáo sư cũng đã có những đóng góp cho toán học nước nhà, nhưng có lẽ vì môi trường học thuật và trang thiết bị tại Việt Nam chưa đủ tầm nên hai ông đã không về quê nhà mà chọn Đại học Hong Kong ở Trung Quốc, một đại học hàng đầu của châu Á, để tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy.


 

ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8)-Cha Vương

Ngày Chúa Nhật Super Bowl thật hào hứng nhưng đừng bỏ Lễ nhé.

Cha Vương

CN: 8/2/2026. (9-25)

TIN MỪNG: Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8)

SUY NIỆM: Khi dựng lên con người Chúa ban cho bạn một trí khôn để nhận biết Chúa và nhận ra chính mình. Khi con người đánh mất đi khả năng này, họ sẽ gây ra rất nhiều rắc rối trong môi trường sống. Do đó nhà Triết gia Hy Lạp Socrate nói: “Hãy tự Chính biết mình”. Ai biết mình sẽ thành công trong cuộc sống, ai không tự biết mình sẽ đi đến thất bại và đôi khi có thể hủy hoại cả cuộc đời. Bài Tin Mừng hôm nhắc nhở bạn về sự “nhận biết” để tiến lên trên con đường nhân đức. Bạn nhận biết Chúa là Đấng giàu lòng xót thương và nhận ra mình là người yếu đuối tội lỗi và tầm thường. Ông Phê-rô đã nhận được điều này. Nhờ có tâm hồn khiêm tốn Phê-rô nhật biết Thiên Chúa không luận phạt nhưng rộng lòng tha thứ. “Người không bẽ gãy cây lau bị giập, cũng tim đèn còn khói chẳng nỡ tắt đi”. (Is 42:3). Như Chúa đã biến đổi và thánh hoá Phê-rô thế nào thì hôm nay Chúa cũng muốn làm cho bạn như vậy. Ngài muốn cho bạn cơ hội để hoán cải và làm lại cuộc đời cho tốt hơn. Vậy bạn hãy thành tâm chạy đến Chúa như Phê-rô đi! “Lạy Chúa,… con là kẻ có tội”, xin thương xót con.

LẮNG NGHE: Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” (Lc 15:18-19)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Xin ban cho con một trí khôn để con nhận biết Chúa, một trái tim để con yêu mến Chúa, một đức khôn ngoan để biết tìm ra Chúa, một tác phong biết làm vui lòng Chúa, một dạ trung thành bền bỉ biết chờ đợi Chúa, và một lòng hy vọng cuối cùng được ôm lấy Chúa. (Thánh Tôma Aquinô)

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội 

From: Do Dzung

*******************

BIẾT CHÚA BIẾT CON – Sáng Tác: Lm. Ân Đức – Ca Sỹ: Phi Nguyễn

HƠN CẢ PHÉP MÀU – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

HƠN CẢ PHÉP MÀU

May be an image of child

Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó anh phải rời xa quê hương Ukraina, bỏ lại người vợ Anna và cậu con trai Jacob của mình. Martin và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh cũng không hề hay biết.

Vài năm sau, Martin được trả tự do, lúc này anh kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhìn vẻ bề ngoài của anh lúc bấy giờ như một ông già lọm khọm. Không những vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm vợ con mình. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột cùng và anh vẫn không hề hay biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã cho mẹ con cô ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa. Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, cuộc đời vốn không ai có thể biết trước. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và con tin rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng sẽ đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Sau khi biết chuyện, hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô biết mình không thể sống được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”. Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu nữa. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Về phần Martin, người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta, một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh. Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học ngày xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua bao biến cố thăng trầm, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, cả hai đều cảm thấy đúng là duyên phận.

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta nói với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.

Nhưng cuối cùng mong muốn mãnh liệt được trở thành một người mẹ của cô đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Em hãy đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ đi”. Greta vui mừng khôn xiết, cô lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”.

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đến cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng anh chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng đôi mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt lay động bởi tình yêu thương của mình dành cho em gái.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ: “Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, anh xúc động thốt lên: “Kỳ tích, thật là kỳ tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng con. Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kỳ tích này rồi”.

Sự thiện lương của Martin, lòng nhân ái của Greta và lời hứa đầy trách nhiệm của cậu bé Jacob, tất cả đã tạo nên một kỳ tích. Hạnh phúc thực sự luôn tồn tại, chỉ cần bạn biết tin tưởng và sống đúng với con người thật của chính mình, phép màu của số phận có thể sẽ đến với bạn trong tương lai.

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

NHỐN NHÁO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân tới đó”.

“Nhiều người vội không phải vì sống quá đầy, mà vì sợ hoài phí cuộc đời. Không làm điều cần làm, chẳng còn giờ cho điều gì khác, họ là những người nhốn nháo nhất!” – Eric Hoffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Bạn có thuộc hạng “không làm điều cần làm?”. Lời Chúa hôm nay nói đến sự ‘nhốn nháo’, “Nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân tới đó”.

“Họ rảo khắp vùng ấy”. Nghe thật sốt sắng; nhưng sốt sắng không luôn đồng nghĩa với đạo đức. Người ta có thể chạy vì khát khao Chúa; cũng có thể chạy vì trống rỗng; đôi khi không phải vì yêu nhiều, mà vì thiếu một điều duy nhất: sự thật với chính mình! Israel xưa từng rước Hòm Bia vang trời; cùng nhau, họ hát ca khúc, “Lạy Chúa, xin đứng dậy, ngự về chốn nghỉ ngơi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Họ sát tế chiên bò “không sao đếm nổi” – bài đọc một. Nhưng Thiên Chúa lại nói, “Dân này kính Ta ngoài môi ngoài miệng, còn lòng chúng thì xa Ta!”. Hoá ra có một thứ đạo đức ồn ào mà rỗng ruột, một thứ nhiệt thành che giấu một trái tim chưa hoán cải. Người ta có thể làm rất nhiều cho Chúa… hầu khỏi để Chúa làm điều gì đó trong mình.

Cũng thế, dân chúng thời Chúa Giêsu. Họ rảo khắp tìm Ngài, mang theo bệnh nhân, mong một cuộc đời bớt đau; nhưng ít ai xin ơn tha thứ – phần sâu nhất – nơi tội lỗi và những thoả hiệp âm thầm đang làm mục ruỗng linh hồn. “Rất nhiều người tìm đến Chúa Giêsu để được chữa lành thể lý, nhưng rất ít người đến để xin ơn tha thứ. Tha thứ mới là phép lạ lớn nhất!” – Phanxicô.

‘Nhốn nháo’ không chỉ là chạy nhiều; nó còn là tránh né! Tránh một lần quỳ xuống và nói: “Con sai rồi!”. Có khi chúng ta rất giỏi lễ lạt, sinh hoạt dày đặc; mọi sự xem ra “đúng”, nhưng tầm nhìn mục vụ là “chuyện xa xỉ”. Bong bóng thì đẹp, nhưng vỡ nhanh; sau tiếng vỗ tay, mọi sự đâu vào đó. Và trong khi tay đầy việc, linh hồn tôi vẫn đói. ‘Nhốn nháo’ vì thế, không chỉ vô hồn – nó tập cho dân Chúa quen với lối sống đạo hình thức mà thiếu quỳ gối. “Khi tôn giáo trở thành trình diễn, linh hồn lặng lẽ rời khỏi căn phòng!” – Ronald Rolheiser.

Anh Chị em,

Giữa đám đông chen lấn, tâm Chúa Giêsu vẫn tịnh. Họ xô đẩy Ngài, nhưng lòng Ngài luôn hướng về Cha, về những linh hồn khao khát được cứu. Ngài không tìm sự tán dương; Ngài tìm những con tim biết mở ra, hầu chữa lành căn nguyên những đổ vỡ. Sau những thành công, Ngài lặng lẽ rút lui. Bình an của Ngài không đến từ sự ngưỡng mộ, nhưng từ sự hiệp thông với Cha. Cũng thế, chỉ khi chúng ta thôi ‘nhốn nháo’, dám đứng yên, để Ngài chạm vào điều đau nhất, chúng ta mới thực sự bình an. Thế giới không cần thêm những Kitô hữu bận rộn; thế giới cần những Kitô hữu tịnh tâm, hướng về Chúa, được chữa lành. “Chỉ khi bạn tìm kiếm Chúa trong thinh lặng của từng giây phút, bạn mới nhận ra: Ngài đã ở đó, chờ bạn để chữa lành mọi vết thương âm thầm nhất!” – Carlo Carretto.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ quỳ xuống, xin cho con can đảm; con sợ nói “con sai rồi”, xin cho con khiêm hạ; con sợ mất mát, xin cho con dám mất để được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Bất cứ ai chạm đến Người, thì đều được khỏi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,53-56

53 Khi ấy, qua biển rồi, Đức Giê-su và các môn đệ ghé vào đất liền tại Ghen-nê-xa-rét và lên bờ. 54 Thầy trò vừa ra khỏi thuyền, thì lập tức người ta nhận ra Đức Giê-su. 55 Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó. 56 Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người ; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi.