Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV-Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 17/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV. Mời bạn đọc hành trình nên thánh 105 tuổi của ngài nhé, tuy hơi dài một chút không bằng phim bộ đâu, nhưng lý thú lắm!

Cha Vương

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ Ngài sống đạo ngay từ nhỏ. Khi được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, Ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, Ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.

Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, Ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho Ngài bánh đến cho Ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục Ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ Ngài nữa.

Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: – Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được. Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời: – Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, Ngài cầu nguyện: -Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?

Tiếng Chúa trả lời: – Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, Ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

Dầu vậy, thánh An tôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, Ngài nói: – Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, Ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho Ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón Ngài. Các lương dân cũng bảo nhau :

– Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ Ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy Ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi Ngài:

– Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết? Thánh nhân trả lời: Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo hóa.

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt Ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, Ngài nói: – Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến Ngài, Môn sinh của Ngài hãnh diện lắm. Nhưng Ngài bảo họ: Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua đức Giêsu Kitô.

Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, Ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

Khi Ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em Ngài lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng Ngài khuyên nhủ họ: – Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi. Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh An tôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại.

 (Nguồn: Mạng Vui Học Thánh Kinh)

Chết là từ bỏ cái tôi cái ích kỷ để được sống tự do với Chúa. “Hãy sống như phải chết mỗi ngày.” Mời bạn hãy cố “chết” đi một tí hôm nay nhé.

From: Do Dzung

Xin định nghĩa tình yêu – Hoàng Chương (Lm.Cao Huy Hoàng)

23 Điều Vô Lý Chỉ Có Ở Việt Nam

 

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

1. Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là thiên đường cộng sản. Đó là Việt Nam, Trung Quốc và….Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước của mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, kt3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền.

2. Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu vè đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.

3. Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.

4. Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trợ quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hang. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.

5. Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.

6. Đi “xin việc” ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phỉ ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?

7. Đi làm tự thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận TỔ QUỐC địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?

8. Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy vô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi “hộ khẩu con đâu?”. Thấy có ngu không?

9. Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.

10. Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy 1 giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.

11. Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác Hồ vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác Hồ hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết.

12. Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?

13. Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND.

14. Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dùng gì để chùi *** ta? (vì giới phụ nữ khiếu nại nhiều quá nên ngày nay có một số toilet đông đảo người dùng có một bàn trực chuyện bán giấy vệ sinh ).

15. Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói : “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.”

16. Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh? Chỉ thấy ở VN

17. Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.

18. Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.

19. Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm súng, chưa bao giờ có kinh nghiệp chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.

20. Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền (ngay cả việc đổ hoặc hốt rác trên đường phố), cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?

21. Đánh thuế kinh doanh trên facebook. Cái này miễn ý kiến.

22. Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được

.23. Và cuối cùng, Đảng Cộng Sản đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì? Cuộc chiến đó có nghĩa gì?

Ku Búa


 

Bài học từ cuộc đời ‘thất bại’ của người có IQ cao nhất thế giới

Bị xem là “thần đồng thất bại” vì từ bỏ công việc, sự nổi tiếng để sống một cuộc đời bình thường nhưng Kim Ung-yong vẫn cảm thấy hạnh phúc.

Có nhiều từ để miêu tả người đàn ông tài năng Kim Ung-yong: Thần đồng Hàn Quốc, nhà nghiên cứu của NASA, diễn giả và giáo sư đại học. Hành trình cuộc đời của ông Kim từ cậu bé thần đồng đến một người mong muốn cuộc sống bình thường có vẻ là một nghịch lý. Ngày nay, người Hàn Quốc vẫn nhớ tới thông điệp nổi tiếng của ông Kim: “Là người đặc biệt không quan trọng bằng việc sống một cuộc đời bình thường”.

Ông Kim Ung-yong, sinh năm 1962, từng được sách Kỷ lục Guinness ghi danh là người thông minh nhất thế giới với chỉ số IQ 210. Kim thể hiện tố chất thông minh ngay khi chào đời không lâu.

Chưa đầy 12 tháng, Kim biết nói và 24 tháng đã có thể đọc lưu loát tiếng Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức và Anh. Những năm đầu đời, Kim còn làm thơ và vẽ tranh. Từ năm 3 tuổi đến năm 6 tuổi, Kim là sinh viên ngành vật lý tại Đại học Hanyang. Kim từng xuất hiện trên chương trình truyền hình Nhật Bản để giải phương trình phức tạp khi mới 7 tuổi.

Kim được Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) mời về làm nghiên cứu tại đây năm 8 tuổi. Kim cũng có bằng tiến sĩ vật lý tại Đại học Colorado. Sau một thập kỷ làm việc ở NASA, Kim nghỉ việc để về Hàn Quốc. Kim gọi khoảng thời gian 10 năm ấy là những năm đơn độc.

“Thời điểm đó, cuộc sống của tôi giống như một cái máy: thức dậy, cân bằng phương trình, ăn rồi ngủ. Tôi thực sự không biết mình đang làm gì. Tôi cô độc và không bạn bè”, Kim tâm sự.

Với Kim, được ở gần mẹ là yếu tố quyết định khiến ông từ bỏ tất cả. Tuy nhiên, sự trở về của Kim thời đó được báo chí nước này rất quan tâm.

“Tôi phát ốm và mệt mỏi khi lại trở thành tâm điểm. Tôi cảm thấy mình giống như một con khỉ trong vườn thú. Khi ấy chưa có Twitter hay phần mềm chat yahoo nên báo giấy vẫn quyền lực hơn cả. Tôi đoán một số người thậm chí còn bắt đầu bảo tôi là tâm thần phân liệt. Tôi không muốn ai chú ý đến mình cả”, Kim cho hay.

Kim muốn có công việc ở Hàn Quốc nhưng cần phải có bằng tốt nghiệp các cấp. Vậy là thần đồng lại đi học từ đầu. Chỉ trong vòng một năm, Kim học xong chương trình cấp một và trung học cơ sở. Năm tiếp theo, ông hoàn thành bậc trung học phổ thông rồi sau đó học đại học tại một trường ở ngoại ô thành phố Seoul để tránh bị chú ý.

Quyết định rời NASA, học trường đại học ít danh tiếng và trở thành nhân viên công ty của Kim khiến nhiều người ngạc nhiên. Truyền thông Hàn Quốc gọi ông là “thần đồng thất bại”. Nhưng với thần đồng được gọi là thất bại, cuộc sống của ông là bất cứ thứ gì, trừ sự thất bại. Kim hạnh phúc khi được là nhân viên công ty bình thường. Thần đồng cho hay mọi người kỳ vọng ông trở thành nhân viên cấp cao trong chính phủ hay một công ty lớn nhưng Kim không nghĩ vậy.

“Tôi cố gắng nói với mọi người rằng tôi hạnh phúc với con đường mình chọn. Tại sao mọi người lại gọi niềm hạnh phúc của tôi là một sự thất bại?”, Kim tâm sự.
Kim luôn xem cuộc sống của ông là một sự thành công. Không nhiều người làm những

thứ mà họ thực sự muốn làm, nhưng Kim thì có. Theo Korea Herald, ông Kim năm ngoái trở thành giáo sư tại Đại học Shinhan ở tỉnh Gyeonggi. Ngoài ra, ông còn là giảng viên bán thời gian của nhiều đại học danh tiếng, trong đó có Yonsei, Sunkyunkwan và KAIST.
“Tôi rất phấn khích khi dạy tại trường đại học, công việc từ lâu đã là giấc mơ của tôi. Tôi sẽ cống hiến hết mình để truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau”, Kim nhắc tới công việc giảng dạy của mình.

Từng được ghi danh là người có chỉ số IQ cao nhất thế giới nhưng ông Kim nhận ra sự thành công về học vấn không phải là thước đo một con người. Ông Kim cũng đưa ra lời khuyên với các bậc phụ huynh, những người rất háo hức học cách nuôi dạy con mình trở thành thiên tài. Theo đó, điều tốt nhất bố mẹ có thể làm cho con cái, với tư cách là đấng sinh thành, là hỗ trợ và hướng dẫn chúng tự đạt được mục đích từng bước một.

Tự đi trên hành trình của mình, trẻ cuối cùng sẽ phát hiện ra chúng muốn đạt được điều gì trong cuộc sống. Cha mẹ nên dõi theo và để con tự tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của chúng. Ngoài ra, theo quan niệm của mình, ông Kim cũng khẳng định cuộc sống thiếu các mối quan hệ sẽ thật vô ích.

Tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới. Theo ông Kim, đó là kết quả của thực tế. Chúng ta đang mất đi cảm giác hy vọng và quên cách mơ ước. Chúng ta cần tìm ra hạnh phúc thực sự và thay đổi cách suy nghĩ, không nên theo những quy tắc xã hội cố hữu mà hãy sáng tạo cái mới.

Cộng đồng mạng bày tỏ sự ủng hộ ông Kim, đồng thời giận dữ khi truyền thông và xã hội nói chung có cách hành xử sai lầm. Một người dùng mạng có tên Youn để lại bình luận trên Naver, một trong những trang xã hội nổi tiếng nhất ở Hàn Quốc: “Ông ấy không thất bại mà thành công hơn bao giờ hết khi tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống”.


 

Đốt chết người tình trẻ, bà ở Đà Lạt uống thuốc trừ sâu tự sát

Ba’o Nguoi-Viet

January 16, 2024

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Một bà 43 tuổi ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đã đổ xăng đốt chết người tình 37 tuổi do mâu thuẫn.

Báo Tuổi Trẻ hôm 16 Tháng Giêng dẫn điều tra ban đầu cho biết bà Hoàng Thị Thúy, 43 tuổi, và ông Huỳnh Văn Hoàng, 37 tuổi, đều đã có gia đình riêng và đã ly hôn.

Hiện trường nơi xảy ra sự việc ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt. (Hình: N.X/VietNamNet)

Do có quan hệ tình cảm, cả hai thuê nhà trọ ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt, chung sống với nhau. Gần đây, họ thường xuyên cãi vã do liên quan đến chuyện tình cảm và tiền bạc.

Vào rạng sáng cùng ngày, hai người lại xảy ra mâu thuẫn. Do ghen tuông và bực tức nhiều chuyện, bà Thúy đã đổ xăng đốt nhà.

Nhiều người dân phát hiện căn nhà nơi họ sinh sống bị cháy nên chạy đến dập lửa. Khi đến nơi thì thấy ông Hoàng đã chết trong tình trạng bị thiêu cháy. Cạnh đó, bà Thúy đang bất tỉnh, xung quanh nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Họ vội đưa nạn nhân đi cấp cứu, đồng thời báo cơ quan hữu trách.

Công An Tỉnh Lâm Đồng đã đến khám nghiệm hiện trường, giảo nghiệm tử thi và làm việc với những người liên quan để điều tra vụ án.

Việc tẩm xăng đốt người tình mỗi khi xảy ra mâu thuẫn là cách được khá nhiều người ở Việt Nam thực hiện trong thời gian gần đây.

Theo báo Tuổi Trẻ, hôm 14 Tháng Mười, 2023, do bị người tình là bà ĐTMN, 54 tuổi, có ý định chấm dứt tình cảm, ông HVC, 50 tuổi, ở thành phố Biên Hòa, canh lúc bà N. vừa đi tập thể dục về, cầm theo một chai đựng xăng đến tiệm thuốc Mỹ Nhân của bà này “nói chuyện.”

Sau đó, ông C. bất ngờ kéo bà N. vào nhà rồi đổ xăng lên người cả hai và châm lửa đốt. Bà N. kịp vùng chạy ra ngoài nên may mắn thoát nạn.

Ông C. thiệt mạng tại hiện trường do phỏng nặng trong lúc tiệm thuốc bị cháy nám đen.

Sự việc thu hút hàng trăm người dân hiếu kỳ kéo đến theo dõi việc nhà chức trách dập tắt đám cháy.

Xe cứu thương chở thi thể nạn nhân rời hiện trường. (Hình: M.V/Tuổi Trẻ)

Trong một vụ tương tự xảy ra hồi đầu Tháng Chín, 2023, theo tờ Người Lao Động, do xảy ra mâu thuẫn với người yêu, ông DQH, 31 tuổi, ở tỉnh Hà Nam đã đi mua một can xăng, mang tới nhà người yêu đổ xăng ra sàn và tưới lên người mình với ý định tự thiêu.

May mắn là sau khi nhận tin báo, công an viên ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, xuất hiện kịp thời, đá rơi cái bật lửa trên tay ông H.

Nghi can DQH sau đó bị công an khống chế đưa về đồn trong lúc công an mở cuộc điều tra.

Báo Người Lao Động hồi trung tuần Tháng Ba, 2023, tường thuật vụ ông ĐNP, 50 tuổi, ở Sài Gòn, do hận người tình nên lái xe Camry đến trước cổng nhà bà này ở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, rồi tự thiêu trong xe.

Sự việc gây ra tiếng nổ lớn, người dân gần đó định cứu giúp nạn nhân nhưng bất thành. Ngọn lửa đã thiêu rụi gần như hoàn toàn phần nội thất của chiếc xe.

Khi khám nghiệm hiện trường, công an phát giác trong xe có một can nhựa vẫn còn sót lại một ít xăng, trên thi thể nạn nhân cũng nồng nặc mùi xăng. (Tr.N) [qd]


 

Xin Đừng ăn cắp…

Một làng ở miền Tây bên bờ sông Hậu nam Việt Nam, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn áp bức,hối lộ quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.

Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.

Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.

Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.

Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:

– Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.

Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:

– Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ Tam Đại Ma Vương Tham Sân Si phát sinh. Mẹ con mày nhớ phải diệt chúng khi chúng thấp thoáng trong lòng. Đừng để chúng dẫn mà khốn !

Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.

Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.

Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:

– Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!

Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.

Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:

– Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?

Cụ già ngạc nhiên:

– Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?

– Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!

Cụ già vẫn bình thản:

– Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao?

Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.

Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”

Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:

– Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?

– Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.

– Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?

Người thương gia trả lời:

– Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.

Người nông phu nói:

– Thế thì không phải túi đồ của bác.

– Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.

Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:

– Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.

Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:

– Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.

Người nông dân ngạc nhiên:

– Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?

– Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.

– Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen


 

Chữa lành một tâm hồn đau khổ

Gieo Mầm Ơn Gọi

  • 1. Chấp nhận những giới hạn của mình

Nhiều người không thể chịu được việc mình có khuyết điểm. Điều này khiến người ta đau khổ cùng cực. Nhưng thật ra, có khuyết điểm là hoàn toàn bình thường. Thiên Chúa không bao giờ chê ai đó, vì Ngài yêu thương bản thân họ như chính họ là. Chúa yêu thương trước để mời gọi chúng ta trở nên tốt hơn. Nếu cứ mãi dằn vặt bản thân thì con người sẽ không bao giờ bình an. Chấp nhận chính mình là bước khởi đầu của quá trình chữa lành những vết thương.

  • 2. Yêu thương bản thân

Sau khi chấp nhận bản thân, con người được mời gọi nhìn nhận những điểm tốt nơi mình. Có người chẳng thấy mình tốt gì cả. Điều này cũng không ổn. Thiên Chúa yêu thương con người, nên con người được mời gọi yêu thương và tôn trọng chính mình. Khám phá thấy bản thân có những điểm tốt đẹp, dù là rất nhỏ chính là bước tiếp theo của quá trình đó.

  • 3. Kiên nhẫn và cầu nguyện

Việc chờ một vết thương lành đòi hỏi thời gian. Chúa rất kiên nhẫn với con người – nên con người cũng hãy kiên nhẫn với chính mình. Và điều quan trọng là: hãy dựa vào Chúa. Chỉ có Chúa và tình yêu của Ngài mới là liều thuốc chữa lành tâm trí chúng ta.

*** Nếu không thể tin bản thân – hãy tin Chúa, Chúa làm được hết.

Nguyên Nhật

5 nữ Tiến sĩ nổi tiếng Việt Nam là những Nữ tu Công Giáo.

5 nữ Tiến sĩ nổi tiếng Việt Nam là những Nữ tu Công Giáo. Tạ ơn Chúa!

Nguon: Minh Nguyen Quang & Peter Vũ Thoại

Đóng góp của một số nữ tu Công Giáo trong giảng dạy, thực hành và nghiên cứu tâm lý học ở Việt Nam.

  1. TS. SR. FRANCOIS TÔ THỊ ÁNH (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Nữ tu dòng Đức Bà – Sơ Tô Thị Ánh là nữ Tiến sĩ trị liệu tâm lý đầu tiên của Việt Nam. Bà là một học trò của Carl Rogers – người sáng lập trường phái trị liệu nhân vị trọng tâm (Person-Centered Psychotherapy). Dưới sự tự do học thuật ở miền Nam trước năm 1975, bà Tô Thị Ánh du học tại Đại học United States International, Mỹ và tốt nghiệp tiến sĩ vào năm 1972 với luận án tiến sĩ “Eastern and Western Cultural Values, Conflict or Harmony?” (To, 1972) do đích thân Giáo sư Carl Rogers hướng dẫn. Bà được xem là người đi tiên phong và đặt nền tảng vững chắc cho ngành Tâm lý Trị liệu tại Sài Gòn từ trước năm 1975, sau năm 1975 Sơ vẫn được tham gia giảng dạy tại Khoa Công tác Xã hội, đại học Mở TP. HCM. Sinh viên tâm lý học ở Việt Nam ít ai chưa từng đọc qua tác phẩm kinh điển “Tiến trình thành nhân” của Carl Rogers với tựa tiếng anh là “On becoming a person”. Người dịch tác phẩm đó sang tiếng Việt một cách sâu sắc vào năm 1992 là bà Tô Thị Ánh. Bà cũng là đồng dịch giả một tác phẩm khác có tựa “Sa mạc nở hoa” với tác phẩm gốc là “Dibs in Search of Self” của tác giả Virginia Axline, đây là một trong những tác phẩm kinh điển về tâm lý trị liệu trẻ em.

  1. TS. SR. MARIA THECLA TRẦN THỊ GIỒNG (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Bà Trần Thị Giồng là một nữ tu Công Giáo dòng Đức Bà và cũng là một tiến sĩ tham vấn và trị liệu tâm lý với hoạt động nghề nghiệp rất “lặng lẽ” ở Việt Nam, bà hoàn thành luận án tiến sĩ tại Đại học De La Salle từ năm 1993 và đã tham gia giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam, cũng như một số các chương trình đào tạo thần học liên dòng cho các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm (Joachim, 2015). Dưới sứ vụ tôn giáo, Sơ Giồng từng là Sơ giám tỉnh của dòng Đức Bà (C.N.D) tại Việt Nam. Sơ Giồng là một trong những nữ tu Công giáo đầu tiên được chính quyền “cho phép” đi du học trở lại vào cuối những năm 1980 sau khi Việt Nam vừa chấm dứt chiến tranh. Sơ Giồng là người hiếm hoi sau năm 1975 du học ngành tâm lý học nhưng không phải ở Liên Xô như những người khác được nhà nước chỉ định. Vì vậy sau giải phóng, bà là một trong những nhân vật đầu tiên quay trở lại tiếp cận tâm lý học hiện đại – như miền nam Việt Nam đã từng làm trước năm 1975. Năm 1991 bà tốt nghiệp thạc sĩ với luận văn “Accompanied and unaccompanied adolescent Vietnamese refugees in Palawan: their problems, self concept and security level” (Giong, 1991); cho tới năm 1993, bà tốt nghiệp tiến sĩ với luận án “The effects of spiritual-psychological synthesis on anxiety, depression, and mental health of Vietnamese refugees.” (Giong, 1993); Thời điểm này ở Việt Nam,Tâm lý học Mác-xít đang chiếm một vị trí độc tôn (Sirikantraporn & Nguyen, 2020).

  1. TS. SR. TERESA TRÌ THỊ MINH THÚY (DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ THIÊM – MTGTT)

Tiến sĩ Trì Thị Minh Thúy hiện đang là giảng viên các chương trình cao học tại Khoa tâm lý học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM. Trước đây Sơ Thúy cũng từng là giảng viên của trường Đại học Văn Hiến. Năm 2012, sơ tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học De La Salle với luận án “Roles of filial piety, parental control and parental warmth in parent adolescent conflict among Vietnamese families” (Thuy, 2013). Không chỉ dấn thân vào các hoạt động phục vụ cộng đồng, Sơ cũng đóng góp cho ngành khoa học tâm lý ở Việt Nam với vai trò tác giả và đồng tác giả hàng loạt các công bố và báo cáo khoa học quốc tế và sách; một số nghiên cứu có thể kể đến như “Expression of basic emotions in pictures by German and Vietnamese art therapy students – A comparative, explorative study” (Danner-Weinberger et al., 2019). “Parental burnout around the globe: A 42-country study” (Roskam et al., 2021). “Gender Equality and Maternal Burnout: A 40-Country Study” (Roskam et al., 2022). “Parenting Culture(s): Ideal-Parent Beliefs Across 37 Countries” (Lin et al., 2023). “Three reasons why parental burnout is more prevalent in individualistic countries: a mediation study in 36 countries” (Roskam et al., 2023). Sơ cũng là đồng tác giả Chương 1: “Enhancing Resilience in Youth: Sustainable Systemic Effects in Different Environments” trong tựa sách “Enhancing Resilience in Youth – Mindfulness-Based Interventions in Positive Environments” thuộc nhà xuất bản Springer (Steinebach et al., 2019)

4-TS. SR. HOÀNG MINH TỐ NGA (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Sơ Hoàng Minh Tố Nga là một nữ tu dòng Đức Bà tại Việt Nam. Sơ tốt nghiệp cử nhân tiếng Anh và khi giảng dạy với tư cách là giảng viên đại học, sơ Nga đã tham gia vào công việc tình nguyện với bệnh nhân HIV/ AIDS và thấy rằng chăm sóc sức khỏe tâm thần là mối quan tâm thực sự của sơ. Năm 2004, sơ Nga lấy bằng thạc sĩ tham vấn tâm lý tại Đại học De La Salle với luận văn “Counselor academic training, counseling experience, and counselor self-efficacy as predictors of counselor psychological well-being” và tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành Trị liệu hệ thống và gia đình tại Đại học Minnesota, Hoa Kỳ với luận án “Borderline Features in Vietnamese Adolescence: The Roles of Childhood Trauma, Parental Bonding, and Family Functioning” vào tháng 8 năm 2014 (Hoang, 2014). Sơ Tố Nga là giảng viên Khoa Tâm lý học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. HCM từ 2007 đến tháng 3/2022 và hiện nay Sơ Tố Nga là giảng viên tại đại học Fulbright Việt Nam. Năm 2000, sơ Tố Nga thành lập Tâm lý Việt An, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp dịch vụ đào tạo, trị liệu tâm lý và trị liệu gia đình cho các cá nhân, gia đình và tổ chức, đặc biệt dành cho những người có thu nhập thấp, sẽ nhận được dịch vụ tư vấn miễn phí tại đây (HOANG to Nga, 2020; Hoang Minh To Nga, 2022).

  1. TS. SR. NGUYỄN THỊ THANH TÚ (DÒNG PHAN SINH THỪA SAI ĐỨC MẸ: FRANCISCAN MISSIONS OF MARY – FMM)

Sơ Nguyễn Thị Thanh Tú là một nữ tu Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM). Sơ tốt nghiệp tiến sĩ ngành Tâm lý trị liệu năm 2014, sau đó cô phụ trách dạy môn Sang chấn tâm lý và Trị liệu nghệ thuật cho chương trình thạc sĩ tại Đại học Saint Paul, Ottawa, Canada (2015-2017). Hiện nay, sơ là giảng viên các chương trình cao học thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM. Sơ Tú chuyên nghiên cứu về Sang chấn tâm lý và về sức bật tinh thần dưới góc nhìn của Trị liệu nghệ thuật và Liệu pháp tường thuật, bên cạnh đó Sơ cũng quan tâm tới các nghiên cứu về can thiệp tâm lý tích hợp các can thiệp tôn giáo và tâm linh cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục. Sơ đã có những công bố với vai trò tác giả chính và cũng là tác giả các chương sách tâm lý học thuộc các tập san Tâm lý học và Tâm lý học tôn giáo uy tín trên thế giới, một số có thể kể đến như “Grieving the loss linked to childhood sexual abuse survivor: A narrative therapy in search of forgiveness” (Nguyen et al., 2013). “Faith in God and posttraumatic growth: A qualitative study among Vietnamese Catholic immigrants” (Nguyen et al., 2014). “Women survivors of sex trafficking: A trauma and recovery model integrating spirituality” (Nguyen et al., 2014). “God images and resilience: A study of Vietnamese immigrants” (Nguyen et al., 2015). “Images of God and the imaginary in the face of loss: a quantitative research on Vietnamese immigrants living in Canada” (Nguyen et al., 2018). Đồng tác giả Chương “L’éthique professionnelle en counselling et en psychothérapie: une éthique de l’ordre de la rencontre” trong tác phẩm “From Psychology to Spirituality / De la psychologie a la spiritualite” (Malette et al., 2019) và tác giả đầu Chương “Art Therapy and Resilience in Child Sexual Abuse: A Case Study Report concerning Ethical Issues in Vietnam” trong tác phẩm “Positive Psychology and Spirituality in Counselling and Psychotherapy” (Nguyen et al., 2022). Đầu năm 2023, Giáo Trình thực Hành Tâm Lý Lâm sàng do Sơ Tú chủ biên vừa được xuất bản (Tú, 2023).


Tạ ơn Chúa về những điều vĩ đại. Nguyện xin Chúa đồng hành và soi sáng cho Giáo hội và quê hương Việt nam chúng con. Amen!
_______________
THAM KHẢO TỪ CÁC NGUỒN TIN TRÊN INTERNET:

  1. To, T. A. (1972). Eastern and Western Cultural Values, Conflict Or Harmony?. United States International University.
  2. Joachim, P. (2015). Q & A with Sr. Thecla Tran Thi Giong. Global Sisters Report. https://www.globalsistersreport.org/blog/q/trends/q-sr-thecla-tran-thi-giong-27356
  3. Giong, M. T. T. (1991). Accompanied and unaccompanied adolescent Vietnamese refugees in Palawan: their problems, self concept and security level. De La Salle University.
  4. Giong, M. T. T. (1993). The effects of spiritual-psychological synthesis on anxiety, depression, and mental health of Vietnamese refugees. De La Salle University.
  5. Sirikantraporn, S., & Nguyen, H. A. (2020). CHAPTER THIRTY TEACHING PSYCHOLOGY IN VIETNAM. Teaching Psychology around the World, 5.
  6. Thuy, T. T. M. (2013). Filial Piety, Parental Control and Parental Warmth as Predictors of Parent-Adolescent Conflict among Vietnamese Families. Philippine Journal of Counseling Psychology, 15(1), 1-1.
  7. Danner-Weinberger, A., Puchner, K., Keckeis, M., Brielmann, J., Tri, M. T. T., The Huy Le Hoang, Nguyen, L. H., Köppelmann, N., Rottler, E., Gündel, H., & von Wietersheim, J. (2019). Expression of basic emotions in pictures by German and Vietnamese art therapy students – A comparative, explorative study. Frontiers in Psychology, 10. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2019.00975
  8. Roskam, I., Aguiar, J., Akgun, E., Arikan, G., Artavia, M., Avalosse, H., Aunola, K., Bader, M., Bahati, C., Barham, E. J., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., … Mikolajczak, M. (2021). Parental burnout around the globe: A 42-country study. Affective Science, 2(1), 58–79. https://doi.org/10.1007/s42761-020-00028-4
  9. Roskam, I., Gallée, L., Aguiar, J., Akgun, E., Arena, A., Arikan, G., Aunola, K., Bader, M., Barham, E. J., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., … Mikolajczak, M. (2022). Gender equality and maternal burnout: A 40-country study. Journal of Cross-Cultural Psychology, 53(2), 157–178. https://doi.org/10.1177/00220221211072813
  10. Lin, G.-X., Mikolajczak, M., Keller, H., Akgun, E., Arikan, G., Aunola, K., Barham, E., Besson, E., Blanchard, M. A., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., Dunsmuir, S., Egorova, N., Escobar, M. J., … Roskam, I. (2023). Parenting culture(s): Ideal-parent beliefs across 37 countries. Journal of Cross-Cultural Psychology, 54(1), 4–24. https://doi.org/10.1177/00220221221123043
  11. Roskam, I., Aguiar, J., Akgun, E., Arena, A. F., Arikan, G., Aunola, K., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Budak, A. M., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., Dunsmuir, S., Egorova, N., … Mikolajczak, M. (2023). Three reasons why parental burnout is more prevalent in individualistic countries: a mediation study in 36 countries. Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology. https://doi.org/10.1007/s00127-023-02487-z
  12. Steinebach, C., Langer, Á. I., & Thuy, T. T. M. (2019). Enhancing resilience in youth: Sustainable systemic effects in different environments. Enhancing Resilience in Youth: Mindfulness-Based Interventions in Positive Environments. 3–17.
  13. HOANG to Nga. (2020, August 6). Harvard-Yenching Institute. https://www.harvard-yenching.org/person/hoang-to-nga/
  14. Hoang Minh To Nga. (2022, August 18). Fulbright University Vietnam. https://fulbright.edu.vn/our-team/hoang-minh-to-nga/
  15. Hoang, T. N. M. (2014). Borderline features in Vietnamese adolescence: The roles of childhood trauma, parental bonding, and family functioning. University of Minnesota.
  16. Nguyen, T.-T., & Bellehumeur, C. (2013). Grieving the loss linked to childhood sexual abuse survivor: A narrative therapy in search of forgiveness. Counselling and Spirituality / Counseling et spiritualité, 32(1), 37–58. https://psycnet.apa.org/record/2014-02857-003
  17. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C. R., & Malette, J. U. D. I. T. H. (2014). Faith in God and posttraumatic growth: A qualitative study among Vietnamese Catholic immigrants. Counseling et Spiritualite, 33(2), 137-155.
  18. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C. R., & Malette, J. (2014). Women survivors of sex trafficking: A trauma and recovery model integrating spirituality. Counselling and Spirituality / Counseling et spiritualité, 33(1), 111–133.
  19. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C., & Malette, J. (2015). God images and resilience: A study of Vietnamese immigrants. Journal of Psychology and Theology, 43(4), 271–282. https://doi.org/10.1177/009164711504300405
  20. Nguyen, T. T. T., Bellehumeur, C., & Malette, J. (2018). Images of God and the imaginary in the face of loss: a quantitative research on Vietnamese immigrants living in Canada. Mental Health, Religion & Culture, 21(5), 484–499. https://doi.org/10.1080/13674676.2018.1499715
  21. Malette, J., Bellehumeur, C. R., & Nguyen, T. T. (2019). L’éthique professionnelle en counselling et en psychothérapie: une éthique de l’ordre de la rencontre. In J. Malette, M. Rovers, & L. Sundaram (Eds.), From Psychology to Spirituality / De la psychologie a la spiritualite (Vol. 7, pp. 127–150). Peeters Publishers. https://doi.org/10.2307/j.ctv1q26wnf.9
  22. Nguyen, T. T., Malette, J., & Trinh, T. V. (2022). Art Therapy and Resilience in Child Sexual Abuse: A Case Study Report concerning Ethical Issues in Vietnam. In J. Malette, C. R. Bellehumeur, C. Kam, & B. Maisha (Eds.), Positive Psychology and Spirituality in Counselling and Psychotherapy (pp. 161–176). Peeters Publishers. https://doi.org/10.2307/jj.1357310.10
  23. Tú, N. T. T. (2023). Giáo Trình Thực Hành Tâm Lý Lâm Sàng. NXB Thế Giới

ĐẤT NƯỚC CHƯA BAO GIỜ CÓ CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY…

Chau Trieu

Thoạt nhìn cứ tưởng họ đem cặp vợ chồng rao bán con ra xét xử là để bảo vệ đứa trẻ bị rao bán, rốt cuộc lại làm khốn khổ cả 4 đứa trẻ khi mà cả cha lẫn mẹ bị tuyên phạt tổng cộng hơn 20 năm tù, bỏ lại 4 đứa con thơ không ai nuôi dưỡng. Đúng là…phạt dân là bổn phận của các quan, còn hậu quả khốn khó thế nào thì dân ráng mà chịu.

Ngẫm nghĩ…cái “tiền đồ” của chị Dậu thời phong kiến vẫn “sáng lạng” hơn chị Dậu thời xã nghĩa vì ít ra thời phong kiến chị Dậu đã không bị bỏ tù vì tội túng quẫn đem bán con. Mà cái trớ trêu là thời kiến thì do có “thực dân đô hộ”, còn thời nay tràn ngập khẩu hiệu “độc lập tự do” mà vẫn xuất hiện đầy rẫy những Lão Hạc, chị Dậu, Vợ Nhặt…

Thương cho thảm cảnh của những người cùng khổ. Vì đâu nên nỗi…hỡi những chị Dậu thời 4.0…

Amy Truc Tran


 

Điều gì đe dọa đôi Hôn phối?-Cha Vương

Chúc bạn một ngày thật ấm áp trong vòng tay yêu thương của Chúa nhé. Hãy thận trọng mặc đủ ấm khi ra ngoài nhé đừng để tay chân lạnh cóng thì nguy đó.

Cha Vương

Thứ 3: 16/01/2024

GIÁO LÝ:  Điều gì đe dọa đôi Hôn phối? Điều thực sự đe dọa đôi Hôn phối đó là tội. Điều phục hồi cho đôi hôn phối là tha thứ. Điều làm cho họ được mạnh mẽ là cầu nguyện và trông cậy vào Thiên Chúa hiện diện. (YouCat, số 264)

SUY NIỆM: Sự xung đột giữa nam và nữ trong cuộc sống lứa đôi có khi dẫn tới ghen ghét nhau, đó không phải là dấu hiệu do hai giới không thể hòa hợp nhau; cũng không phải do có khuynh hướng di truyền làm cho bất trung, hoặc là có cản trở đặc biệt về tâm lý đối với việc kết hợp để sinh sống. Thực ra, nhiều đôi vợ chồng bị đe dọa bởi thiếu đối thoại với nhau, thiếu quan tâm đến nhau. Thêm vào đó, còn có vấn đề kinh tế và xã hội nữa. Nhưng vai trò chính vẫn là tội: ghen tuông, thống trị, gây gổ, mê dâm, không trung thành, và các nhân tố phá hoại khác. Vì thế mỗi cặp vợ chồng rất cần đến tha thứ và hòa giải với nhau, nhờ bí tích Hòa giải. (YouCat, số 264 t.t.)

LẮNG NGHE: Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. (Lc 6:36-37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tội lỗi thuộc về bản tính yếu đuối ích kỷ của con người còn tha thứ thì thuộc về tình yêu và lòng vị tha của Thiên Chúa, xin cho các đôi vợ chồng biết nhận thức ra mối đe doạ trong đời sống hôn nhân của họ mà chạy đến Chúa để xin ơn tha thứ.

THỰC HÀNH: Mối đe doạ lớn nhất trong đời sống ơn gọi của bạn vào thời điểm này là gì? Hãy chạy đến Chúa với hết lòng trông cậy và xin ơn bền đỗ đến cùng nhé.

From: Do Dzung

YÊU TRONG TÌNH CHÚA | LM NGUYỄN SANG – HƯƠNG LAN 

VẾT THƯƠNG LÒNG – Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ai chưa từng trải qua cơn đau, người ấy thật sự chìm sâu trong cõi đời này.  Người nào chưa hề có một vết trầy xướt trên cơ thể thì chưa hoàn toàn đi vào cõi hiện sinh nhân thế.  Vết thương ngoài da đã đau đớn, vết thương lòng còn nhức nhối biết chừng nào.  Vết thương bên ngoài có thể được nhìn thấy, có thể dễ dàng tìm thuốc chữa trị, chứ vết thương lòng thì ai biết phải xoay sở ra sao.  Chẳng ai biết nó nông sâu thế nào, chẳng ai đo lường được mức tác hại của nó, cũng chẳng ai có thể biết một phương dược chính xác chữa lành, lại càng chẳng biết đến bao giờ thì sẽ không còn vết thương ấy nữa.

Tôi mang trong mình một vết thương, một kiểu đau nhức chẳng diễn tả được thành lời, một nỗi buồn không tên, một nỗi uất ức chôn kín.  Đó là khi tôi đã từng yêu da diết, đã từng trao gửi tất cả nỗi niềm và trọn vẹn con tim cho một người với một niềm hy vọng vô cùng lớn lao.  Để rồi, cái mà tôi nhận được là một sự hụt hẫng vô ngần vô hạn.  Tôi trách người nhưng trách luôn cả mình.  Trách người sao quá vô tâm và tàn nhẫn; trách mình sao quá vội vã, quá cả tin.  Tôi đau một nỗi đau hơn dao cứa, cơn nhức nhối cứ làm cả con người muốn nổ tung.  Tôi muốn chôn vùi nó, dùng sự quên lãng để lấp nó, nhưng đâu đó, những sục sôi trong tâm cảm vẫn cứ trở về.  Máu vẫn cứ rỉ ra từng giọt.  Tôi khóc cho vơi nhẹ tâm can.  Tôi tìm về cô đơn để trốn tránh thực tại.  Tôi cố tưởng tượng là mọi chuyện đã qua đi.  Nhưng tôi không đủ quyền năng để quay ngược thời gian, để biến mọi chuyện như chưa từng xảy đến.

Vết thương ấy làm tôi đau đã đành, nó còn làm cho tôi mất đi niềm tin vào tất cả.  Tôi chẳng còn dám mở con tim mình ra với ai.  Tôi sợ rằng vết thương kia sẽ bị xé toạc một lần nữa, và lần này, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì chắc tôi sẽ chết mất thôi.  Người ta nói thời gian sẽ chữa lành tất cả.  Tôi cũng tin vậy, nhưng chẳng biết là sẽ đến bao giờ.  Tôi bỗng nhận ra là thế gian này chẳng có gì đáng mong đợi, chẳng có ai là đáng để cậy nhờ.  Tôi sống một cuộc đời bất chấp.  Ai muốn yêu thì cứ yêu; còn tôi, cứ khép mình là an toàn nhất, để khỏi bị phản bội, khỏi phải thất vọng, khỏi phải dùng nước mắt để xoa dịu vết thương.

Tôi cũng dùng lý trí để tự trấn an mình.  Rằng vết thương ấy làm tôi lớn lên, giúp tôi nhận biết rõ ràng hơn sự phũ phàng của cuộc sống.  Rằng lỗi một phần cũng do bản thân ta, chứ trách ai bây giờ.  Rằng tôi đã sai, tôi hối tiếc lắm.  Rằng tôi phải thật mạnh mẽ để cho người khác biết rằng chẳng có gì có thể quật ngã được tôi…  Nhưng khi đối diện với lòng, tôi chẳng thể che giấu được một con người yếu đuối, mềm mỏng.  Tôi không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.  Cái giả vờ mà tôi đang cố gắng thể hiện càng chứng tỏ cho tôi thấy mình đang đau biết chừng nào.  Tôi vẫn phải tự nhủ với bản thân “vết thương ơi, cứ tạm thời chợp mắt đi nhé!”

Vết thương lòng là một kiểu vết thương rất kỳ lạ.  Nó làm người ta đau nhức vô cùng, nhưng người ta, trong một phút tủi thân, lại cứ thích nghĩ về nó.  Và cứ mỗi lần nghĩ về, vết thương lại bị khoét thêm một chút nữa.  Ta muốn giải bày ra tất cả những nỗi niềm, nhưng chẳng biết nói cùng ai.  Liệu rằng trên thế gian này, có ai đó trân trọng tình cảm của ta, sẽ lắng nghe, sẽ cảm thông và không bỡn cợt niềm tin của ta như người trước không?  Có ai đó sẵn sàng giang rộng vòng tay đón tiếp ta, ôm lấy ta, ôm lấy cả vết thương trong lòng ta, cùng ta khóc, cùng ta cười, cùng đau chung với ta không?  Nhiều câu hỏi đặt ra như thế, âu cũng chỉ là muốn nói lên khát vọng yêu và được yêu của một hữu thể nhỏ bé giữa dòng đời vạn biến vô thường này.

Một ngày nào đó, tôi lôi vết thương trong lòng ra, nhìn vào nó cách trực diện.  Tôi không trốn tránh nó, không giả vờ quên nó, không cất giấu nó âm ỉ trong lòng.  Tôi không nhìn về nó như một kiểu khơi lại những ký ức nuối tiếc.  Tôi không khoét sâu nó bằng những cảm xúc ủy mị với hai chữ “giá như.”  Tôi không tiếp tục nuôi dưỡng nó bằng một kiểu suy nghĩ trách móc.  Tôi biết rằng thời gian đã trôi qua và dù thế nào chăng nữa, mọi cái cũng chẳng thể quay trở về như trước.  Có biết bao nhiêu khả thể trong cuộc sống này mà tôi không dự đoán được, nhưng cái hiện thể mà tôi biết chính là vết thương mà tôi đang mang đây.  Nó là một phần của tôi, là cái làm nên cuộc đời tôi, là nơi tôi gặp được chính mình, thấy rõ mình, biết mình đang ở đâu, tìm gì, đi đường đúng hay sai.

Lâu lâu gợi nhớ về vết thương ấy, tôi thấy mình chơi vơi đắm chìm giữa dòng chảy thời gian, thấy nhân tình thế thái đổi dời như cơn lốc và tôi chỉ là một phần nhỏ giữa những quay cuồng này.  Tôi ôm vết thương lòng như một hành trang, một chút kỷ niệm, một cái gì nhỏ bé để gợi nhớ cho thời cuồng điên thiếu tự chủ.  Dầu vết thương có lành, nó cũng để lại sẹo.  Cái sẹo ấy trở thành dấu chứng cuộc đời, là cái giúp tôi nhớ rằng mình không phải thần thánh.  Nhìn về cái sẹo ấy, tôi mỉm cười về một thời đã qua, dù đớn đau nhưng cũng ngọt lịm vô cùng.  Tôi đã không sai khi chọn yêu.  Ít là tôi cũng đã được cảm nếm một chút niềm hạnh phúc không trọn vẹn.  Vết thương lòng không còn làm tôi đau nữa, vì tôi đã sẵn sàng chấp nhận cái giá của tình yêu tôi chọn lựa.  Tôi yêu và tôi không hối tiếc, vết thương lòng chẳng qua chỉ là bằng chứng của tình yêu thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

From: Langthangchieutim


 

 Văn Hóa Đốt Sách – Học giả Nguyễn Hiến Lê

 Học giả Nguyễn Hiến Lê sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984.

Trước 75 trong Nam không học sinh nào không đọc sách Nguyễn Hiến Lê. Ưu điểm của cụ Lê là cụ giản lược những đề tài rộng lớn, phác thảo những đại cương trong khuôn khổ một cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, nhờ vào lối văn giản dị không cầu kỳ như bản thân đời sống của cụ. Sách Nguyễn Hiến Lê hầu hết viết cho ban Tú tài nhưng không phải vì vậy đã không có những công trình lớn: Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Kinh Dịch, Bách Gia Tranh Minh… là những tập sách dày công nghiên cứu, đã đem đến vô vàn kiến thức cho thanh niên miền Nam buổi ấy. Chính vì sau hai thập niên Việt hóa học đường, không còn một học sinh nào, từ Nam ra Bắc đọc thông một quyển sách chữ Hán cũng như chữ Pháp. Thế hệ Nguyễn Hiến Lê là chiếc cầu nối tuổi trẻ Việt Nam với kho tàng thế giới. Trên 120 đầu sách, Nguyễn Hiến Lê cống hiến sở học của mình.

Sau 75 cụ Lê còn là nhân chứng của công cuộc giải phóng thô bạo trên nửa phần đất nước. Vào ngày giỗ muộn màng thứ 39, hãy cùng đọc lại ghi chép của Nguyễn Hiến Lê về nạn đốt sách của phía chiến thắng. Là những trang chữ bị kiểm duyệt.

[Trần Vũ]

*******

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp 5,6 bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn. Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Observateur (của khối thân Cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có propriétés cho biết cách dùng, trị bệnh gì… mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất 2 tháng, có khi 4 tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến … mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại 3,4 giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy 3 trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê- Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL

From: TU-PHUNG