NỖI BUỒN MANG THAI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được!”.
Thomas Ice & Robert Dean đặt câu hỏi, “Khi nào chúng ta hành động như Satan?”. Đó là khi con người coi đau khổ như một ngõ cụt thay vì một lối mở; khi nước mắt bị xem là thất bại thay vì là dấu hiệu của một niềm vui đang thành hình.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không xem đau khổ như một ngõ cụt, nhưng như một lối mở. Như người phụ nữ đi qua cơn quặn đau để sinh một con người, nỗi buồn của người môn đệ cũng là một ‘nỗi buồn mang thai’.
Gioan mô tả đau khổ như một cuộc chuyển dạ. “Nỗi buồn” – lypē – của người môn đệ không bị phủ nhận; nó được biến đổi từ bên trong, như cơn quặn đau của người mẹ lâm bồn. Vì thế, nước mắt và khổ đau không là hết đường, nhưng là một lối mở, là khúc dạo đầu của một tạo thành mới; nơi đó, ‘nỗi buồn mang thai’ một niềm vui, và nước mắt bắt đầu học cách hát. Bởi có những mất mát âm thầm khiến con người không còn biết phải mở lòng với cuộc đời thế nào nữa. Ấy thế, “Có những mất mát làm đổi thay toàn bộ cấu trúc đời người!” – Judith Viorst.
“Anh em sẽ khóc lóc và than van!”. Chúa Giêsu không phủ nhận nước mắt trong đời sống người môn đệ; Ngài chỉ không cho phép nó trở thành tiếng nói cuối cùng. Trong Tin Mừng Gioan, đau khổ luôn mang một hậu âm; cơn quặn đau của người mẹ không khép lại nơi tiếng khóc, nhưng mở ra nơi sự xuất hiện của một sinh linh mới. Những giọt nước mắt tưởng như đang khép đời mình lại, như khi một tương lai sụp đổ, một tương quan tan vỡ, hay một lời cầu nguyện mãi không được đáp lại. Thật ra, đó chỉ là khúc dạo đầu của một niềm vui không ai lấy mất.
Với Phaolô, lời “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh!” – bài đọc một, không chỉ là một trấn an, nhưng là một bảo đảm thần linh. Chúa Phục Sinh không cất khỏi ông chống đối hay hiểm nguy; Ngài chỉ hứa, “Thầy ở với anh!”. Và như thế là đủ. Có những đêm, chỉ một lời “Thầy ở với anh” cũng đủ giữ người môn đệ khỏi gục ngã. Có lúc, điều giữ con người đứng vững không phải lời giải thích, nhưng là cảm thức mình không bị bỏ lại. Vì thế, giữa bách hại và bất an, Phaolô vẫn tiếp tục lên tiếng, vì ông biết lịch sử nằm trong tay Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca tung hô: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!”.
Anh Chị em,
Đức Kitô là nơi ‘nỗi buồn mang thai’ đạt tới ý nghĩa sâu xa nhất. Thập giá tưởng như khép lại mọi hy vọng, lại trở thành khởi đầu của phục sinh. Trong Ngài, không đau khổ nào còn hoàn toàn vô nghĩa; nước mắt người môn đệ không chỉ biết khóc, nhưng dần học cách hát niềm hy vọng. Có những đêm con người tưởng mình đã mất hết, nhưng cũng chính từ những khoảng tối ấy, Thiên Chúa âm thầm làm nảy mầm một sự sống mới; vì chỉ có bóng tối mới đủ sâu để nảy mầm ánh sáng. “Chỉ người thầy thuốc mang thương tích mới thực sự chữa lành!” – Carl Jung.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, khi nước mắt làm con tưởng mọi lối đi đều tắt, cho con biết, trong Chúa, đau khổ vẫn còn hậu âm hy vọng; và nỗi buồn vẫn có thể thai nghén niềm vui!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
****************************************************************
Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VI Phục Sinh
Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 16,20-23a
20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. 21 Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. 22 Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được. 23a Ngày ấy, anh em không còn phải hỏi Thầy gì nữa.”
ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!
Chuyện ảo chút nhưng hay.
ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!
Một lần, Khổng Tử ngồi trên chiếc xe nhỏ có ngựa kéo chu du khắp các nước. Đến một vùng nọ thấy có chú bé lấy đất đắp một tòa thành, rồi ngồi vào trong đó, Khổng Tử liền hỏi:
“Này cháu, cháu trông thấy xe ta đi tới cớ sao không chịu tránh?”
Chú bé trả lời:
“Cháu nghe người ta đồn rằng, Khổng Phu Tử trên thông Thiên Văn, dưới tường Địa Lý, giữa hiểu lòng người. Vậy mà hôm nay cháu gặp Phu Tử thì không phải vậy….
Bởi vì từ xưa đến nay, chỉ nghe nói đến chuyện xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe đâu?”.
Khổng Tử ngạc nhiên quá, liền hỏi:
– Cháu tên là gì?
– Dạ Hạng Thác
– Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?
– Dạ, 7 tuổi ạ.
– Mới 7 tuổi mà đã khôn ngoan vậy sao?
– Dạ thưa, cháu nghe nói, con cá nở được 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ sang hồ kia. Con thỏ 6 ngày tuổi đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra đến nay đã được 7 tuổi, lấy gì làm khôn…?
Lần này thì Khổng Tử thực sự kinh ngạc, bèn đưa ra liền 16 câu hỏi khó để thử tài Hạng Thác. Thế nhưng Hạng Thác đã trả lời trôi chảy, rồi nói:
– Vừa nãy Khổng Phu Tử hỏi cháu nhiều quá…! Bây giờ, cháu xin hỏi Phu Tử: “Tại sao con ngỗng và con vịt nổi trên mặt nước? Tại sao chim hồng, chim hộc lại kêu to? Tại sao cây tùng, cây bách lại xanh cả mùa hè lẫn mùa đông…?”
Khổng Tử đáp: Con ngỗng, con vịt nổi được trên mặt nước là nhờ hai bàn chân vuông làm phương tiện. Chim hồng, chim hộc kêu to, là vì cổ chúng dài. Tùng bách xanh tươi bốn mùa là vì thân chúng đặc.
– Thưa, không đúng…! Hạng Thác reo lên – con rùa nổi lên mặt nước, đâu có phải nhờ đôi bàn chân vuông làm bàn đạp. Con ễnh ương kêu to mà cổ nó đâu có dài. Cây trúc cũng xanh bốn mùa, mà ruột nó rỗng đấy thôi…!
Khổng Tử chưa biết giải thích ra sao, thì chú bé lại hỏi:
– Thưa Phu Tử, cho phép cháu hỏi thêm. Tại sao mặt trời buổi sáng lại to mà buổi trưa lại nhỏ?
Khổng Tử nói:
– Là vì buổi sáng, mặt trời gần ta hơn.
– Không phải ạ! – Hạng Thác vặn lại – Buổi sáng mặt trời gần ta hơn, sao lại mát, còn buổi trưa mặt trời xa ta hơn, sao lại nóng…?
Rồi Hạng Thác lý sự một hồi, khiến Khổng Tử phải thốt lên:
– Cháu còn ít tuổi mà lại thích hỏi những chuyện xa xôi, viễn vông, ở tận đẩu tận đâu, chuyện trước mắt thì không hỏi.
Hạng Thác cười khanh khách nói:
– Vâng, cháu xin hỏi chuyện ngay trước mắt ngài: – Vậy lông mày của Phu Tử có bao nhiêu sợi ạ…!
Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và than rằng: “Hậu sinh khả úy!” (Lớp hậu sinh thật đáng sợ!).
Câu “Hậu sinh khả úy” ra đời từ đấy. Hạng Thác mất năm 10 tuổi, được lập đền thờ, gọi là Tiểu Nhi Thần, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là thần đồng.
Chữ “Thần Đồng” cũng có từ ngày đó.
Tương truyền rằng Khổng Tử có bái Hạng Thác là sư phụ….!
(Sưu tầm)
Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục
Thao Teresa
Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục
Việc Chúa làm quả là huyền nhiệm. Câu chuyện của thầy phó tế Scott – Vincent Borba là một câu chuyện như thế.
———————
Ngày 23/5/2026 tới đây, phó tế Scott – Vincent Borba, đồng sáng lập hãng elf Cosmetics, sẽ được thụ phong linh mục tại Giáo phận Fresno, California.
Phó tế Scott – Vincent Borba sinh ngày 23/6/1973. Thầy từng là một chuyên viên thẩm mỹ, diễn viên, người mẫu, nhà văn và ca sĩ, và đã từ bỏ sự nghiệp triệu đô của mình để đáp lại tiếng gọi của Chúa để trở thành linh mục.
Trước khi vào chủng viện, phó tế Scott Borba đã dành hơn 20 năm làm việc trong lãnh vực người mẫu, chăm sóc sắc đẹp và đã tạo lập được một sự nghiệp nổi bật khi còn khá trẻ.
Thầy từng là chuyên gia thẩm mỹ cho các ngôi sao, thậm chí còn thực hiện liệu trình chăm sóc da mặt trị giá 7.000 đô la cho nữ diễn viên Mila Kunis – sử dụng các tinh thể siêu nhỏ từ kim cương và hồng ngọc – cho lễ trao giải Quả cầu vàng năm 2011.
Thầy cũng có văn phòng ở Beverly Hills, một biệt thự ven biển không xa nơi làm việc, và một cuộc sống xã hội xa hoa, những bữa tiệc với Paris Hilton, cùng hàng triệu đô la trong tài khoản ngân hàng.
Ngoài ra, trước khi theo đuổi ơn gọi, thầy đang là giám đốc điều hành hãng mỹ phẩm quốc tế elf Cosmetics, với các dòng sản phẩm do chính thầy chế tạo.
Lạ lùng thay, giữa cuộc sống xa hoa, giữa ánh hào quang sân khấu, điều mà biết bao người ước mơ, thì thầy lại cảm thấy trống rỗng.
Có lúc thầy đã than thở với Chúa: “Chúa ơi! Nếu đây là cuộc sống, nơi tất cả những gì bạn làm là làm việc và tiệc tùng, rồi lặp lại điều đó và chết đi, thì đây không phải là cuộc sống mà con nghĩ Ngài đã dành cho con. Nhưng con chỉ có thể thay đổi nếu Ngài giúp con.”
Thế rồi, năm 2019, ở tuổi 46, đáp lại tiếng Chúa gọi, thầy đã bán một lượng lớn sản phẩm và quyên góp số tiền thu được cho từ thiện, đồng thời lên kế hoạch để trở thành một linh mục Công giáo.
Năm 2021, thầy chính thức gia nhập chủng viện St-Patrick và được chịu chức phó tế ngày 21/6/2025 vừa qua.
Câu chuyện thầy trở lại với đời sống đức tin sau bao năm xa lạ, nhất là việc thầy từ bỏ mọi sự để theo đuổi ơn gọi tu trì, đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người và được Wikipia đưa lên thành sự kiện.
https://phailamgi.com/…/trieu-phu-nganh-kinh-doanh-my…/
SỰ UỶ THÁC CỦA CHÚA GIÊSU – Lm Mark Link, S.J.
Lm Mark Link, S.J.
Một buổi sáng kia, bé Jenny bẩy tuổi ngồi ăn điểm tâm trên chiếc bàn nhỏ trong bếp. Ngay lúc đó, cha em bước vào. Ông vội vã đến cạnh bé để lấy món đồ gì đó.
Bé Jenny đứng dậy, đi theo ông, nắm lấy cánh tay ông, và nói, “Bố ơi, bố có quên một điều. Bố quên nói ‘good morning’ với con.”
Ông ôm lấy bé, và nói, “Xin lỗi con. Bố đang nghĩ đến những khó khăn ở sở làm.”
Sau đó, tay vẫn ôm lấy cánh tay của bố, bé Jenny nói, “Bố ơi, sáng nay bố có cầu nguyện không?” “Không,” ông bố thú nhận một cách ngượng ngùng.
Bé Jenny nói, “Đến đây với con. Chỉ mất có vài phút thôi.” Bé kéo ông ra khỏi phòng ăn và đi vào phòng của nó. Dẫn bố đến góc phòng mà bé thường cầu nguyện, Jenny nói, “Bố ơi, nhắm mắt lại.” Ông vâng theo.
Sau đó, bé Jenny cũng nhắm mắt và nói nhỏ, “Chúa Giêsu nói, ‘Đừng sợ. Ta luôn ở với con.’” Sau khi im lặng đôi chút, bé mở mắt ra và nói, “Bố hãy suy nghĩ về điều đó, và bố sẽ thấy an tâm.”
Tôi thích câu chuyện này vì hai lý do. Thứ nhất, chính là điều mà em gái này thi hành. Thứ hai, chính là điều mà ông bố của em Jenny cần đến vào lúc đó.
Ông cần nhớ đến lời Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong những lời sau cùng, như được chép trong Phúc Âm Mátthêu. Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ luôn ở với anh em cho đến tận thế.”
Điều đúng với ông bố của bé Jenny thì cũng đúng với tất cả chúng ta.
Chúng ta có khuynh hướng quá bận rộn với những khó khăn ngày này sang ngày khác trong cuộc sống, chúng ta cần tạm ngưng hàng ngày, và nhớ lại điều mà bé Jenny đã nắm vững và diễn tả thật hay.
Chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta ngay bây giờ, như khi Người hiện diện với các môn đệ khi còn sống ở thế gian.
Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào ngày lễ Thăng Thiên hôm nay khi Chúa Giêsu lên trời. Đó là một ngày lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ và bao gồm hai sự cử hành.
Thứ nhất, lễ này mừng sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và sự chết và sự trở về vinh hiển với Chúa Cha trên thiên đường. Ở đó Người ngự ở bên hữu Chúa Cha, với tư cách là đầu của Thân Thể, là Hội Thánh, và là vua của mọi tạo vật.
Điều này đưa chúng ta trở về với câu chuyện của bé Jenny. Lễ Thăng Thiên không mừng sự vinh hiển tột cùng của sự hiện diện bằng thân xác của Đức Giêsu trong thế gian. Đúng hơn, lễ này mừng sự tiếp tục hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong sự vinh hiển mầu nhiệm qua một phương cách hoàn toàn mới và mạnh mẽ hơn.
Lễ này vui mừng với sự kiện rằng Chúa Giêsu không còn hiện diện với chúng ta qua thân xác con người trong một phương cách vật chất. Đúng hơn, Người hiện diện với chúng ta qua thân thể mầu nhiệm của Người trong một phương cách thiêng liêng. Và vì thế điều đầu tiên chúng ta cử hành trong ngày lễ trọng đại này là sự lên trời vinh hiển của Chúa Giêsu; và Người tiếp tục hiện diện với chúng ta như đầu của thân thể Người, là Hội Thánh.
Điều này đưa chúng ta đến chiều kích thứ hai của việc mừng lễ Thăng Thiên.
Chúng ta vui mừng với sự uỷ thác mà Chúa Giêsu trao cho chúng ta, các môn đệ của Người. Điều đó được nói rõ trong bài đọc một và bài phúc âm hôm nay.
Trong bài đọc một, Đức Giêsu nói với các môn đệ:
Khi Thánh Thần ngự trên anh em, anh em sẽ được đổ đầy sức mạnh, và sẽ trở nên nhân chứng cho Thầy… cho đến tận cùng trái đất. CVTĐ 1:8
Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng sau khi Người lên trời, họ phải trở về Giêrusalem để cầu nguyện và chuẩn bị đón Chúa Thánh Thần đến. Khi Chúa Thánh Thần đến, họ sẽ được đổ đầy sức mạnh để ra đi và trở nên nhân chứng cho đến tận cùng trái đất.
Chúng ta có thể so sánh lễ Thăng Thiên như người chạy đua tiếp sức chuyền lại cây gậy nhỏ cho người khác.
Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì cho chúng ta đang quy tụ ở đây?
Nó có nghĩa chúng ta được mời gọi để tiếp tục công việc mà Đức Giêsu đã khởi sự ở trần gian, khi Người hiện diện trong thân xác.
Có phải điều này có nghĩa rằng chúng ta phải ra đi và thực sự rao giảng về Chúa Giêsu như Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã thi hành hay không?
Thí dụ, có phải điều này có nghĩa là dựng lên một trạm thông tin trong trung tâm thương mại nào đó, và mời người ta đến uống nước và giải thích những gì chúng ta đang thi hành và tại sao chúng ta lại thi hành điều ấy không?
Có lẽ đối với một số người điều này có nghĩa đúng như vậy, nhất là khi chúng ta về hưu, có tài chánh bảo đảm, và thuộc về một nhóm nào đó.
Nhưng, với hầu hết chúng ta, có lẽ nó có nghĩa một điều gì đó ít gây ấn tượng hơn. Tối thiểu, nó có nghĩa sống Phúc Âm trong đời sống hàng ngày.
Tối thiểu, nó có nghĩa trở nên nhân chứng cho Chúa Giêsu trong chính gia đình mình, như bé Jenny.
Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu nghiêm trọng nói về ơn gọi Kitô Hữu của mình, sứ điệp của Chúa Giêsu sẽ có ảnh hưởng trong thế giới chúng ta.
Và, nếu chúng ta bước đi trong đức tin và sống đức tin ấy, nó sẽ tạo nên sóng lăn tăn trong thế gian. Và nếu nhiều người chúng ta thi hành điều ấy, sóng lăn tăn sẽ trở nên một ngọn sóng lớn.
Và ngọn sóng ấy – được thêm sức bởi Chúa Thánh Thần – sẽ canh tân bộ mặt trái đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ dám mơ tưởng.
Đây là điều chúng ta cử hành trong ngày lễ hôm nay.
Trước hết, chúng ta cử hành sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong thân thể thiêng liêng của Người, là Hội Thánh.
Thứ hai, chúng ta nhớ đến sự uỷ thác mà Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta là làm chứng cho Người – tối thiểu – bởi chính đức tin và gương mẫu của mình, như bé Jenny đã làm.
Lm Mark Link, S.J.
From: Langthangchieutim
ĐỐT SÁCH NHƯNG KHÔNG ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM! – Nguyễn Hạnh
Nguyễn Hạnh
Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.
Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.
Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.
Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.
Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.
Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.
Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.
Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.
Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:
Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.
Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.
Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.
Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.
Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.
Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.
Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.
Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào
Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.
Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.
Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.
Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.
Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”
Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.
Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.
Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.
Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.
Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.
Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước.

Đẩy người trí thức vào tình thế quẫn bách, vong mạng:
Sự sụp đổ ngành xuất bản tư nhân ở miền Nam đã phủ một bóng đêm u ám, nặng nề lên các văn nghệ sĩ miền Nam. Việc bị cấm sáng tác, xuất bản sách đã sớm đẩy các tác giả vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn.
Nguyễn Hiến Lê từng nói rằng sau ngày 30/4/1975 ông và nhiều tác giả khác tại miền Nam sống cũng như chết trước sự thù hận, phân biệt đối xử của chính quyền mới. Bên cạnh sự bức bối trong việc sáng tác, họ hồi hộp chờ đợi không biết ngày nào chính quyền đến gõ cửa nhà.
Tháng 4/1976, ngay trước cuộc bầu cử thống nhất hai miền Việt Nam, các nhà văn của phe chiến thắng như Vũ Hạnh, Sơn Nam đã liên tục đăng bài phỉ báng, kết tội các nhà văn miền Nam trên các mặt báo. Chính quyền đã lập ra một danh sách bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam.
Trong hai tuần đầu tháng 4/1976, chính quyền vây bắt khoảng 70 văn nghệ sĩ với tội danh “văn nghệ sĩ chống cộng [của] chế độ cũ”.
Hàng loạt các nhà văn đã bị bắt như Vũ Hoàng Chương (5 tháng tù), Nguyễn Mạnh Côn (3 năm), Nhã Ca (2 năm), Trần Dạ Từ (12 năm), Mai Thảo (kịp trốn thoát), Duyên Anh (gần 6 năm), Dương Nghiễm Mậu (1 năm), Doãn Quốc Sĩ (5 năm), Nguyễn Sĩ Tế (11 năm), Thanh Thương Hoàng (8 năm), v.v.
Một số nhà văn, nhà thơ khác có lẽ cũng đã bị bắt trước hay trong cùng khoảng thời gian này như Phạm Thành Tài (8 năm tù), Trần Tuấn Kiệt (10 năm), Lê Xuyên, v.v. Một năm sau, chính quyền bắt thêm các nhà văn khác như Hồ Hữu Tường (2 năm tù giam), Hoàng Hải Thủy (bị bắt hai lần, 8 năm), v.v.
Những nhà văn, nhà thơ đã chết dưới điều kiện khắc nghiệt của trại cải tạo được biết đến là Vũ Hoàng Chương (qua đời tháng 9/1976), Ngọc Thứ Lang (1979), Nguyễn Mạnh Côn (tháng 6/1979), Hồ Hữu Tường (tháng 6/1980), Dương Hùng Cường (1987), Hiếu Chân (1986), v.v.
Số phận của các nhà văn quân đội miền Nam:
Một tháng sau ngày 30/4/1975, theo lệnh của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đã có hơn 44.000 cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ ra trình diện chế độ mới.
Trong số những quân nhân này có những văn nghệ sĩ thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có một số là sĩ quan của Cục Tâm lý chiến, một cơ quan thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Những văn nghệ sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa có các sáng tác với xu hướng đa dạng, đương nhiên có cả những sáng tác được cho là chống cộng sản và các sáng tác theo rung cảm cá nhân của họ.
Nhà văn Nguyên Ngọc gần đây đã nhận xét về văn chương của quân nhân Việt Nam Cộng hòa: “Còn văn học miền Nam thì khác, họ viết thật về chiến tranh, về tâm trạng con người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được đứng ngoài chính trị.”
Tuy nhiên, sau 30/4/1975, những văn nghệ sĩ là quân nhân thường phải chịu những bản án tù rất nặng nề.
Những nhà thơ là quân nhân miền Nam bị bắt giữ ngay sau 30/4/1975 được biết đến là Thanh Tâm Tuyền (cấp bậc đại úy, nhà báo của Tập san Quốc phòng, 7 năm tù), Phan Lạc Phúc (trung tá, biên tập viên của Tập san Quốc phòng, 10 năm), Cung Trầm Tưởng (trung tá Không quân, 10 năm), Hoàng Anh Tuấn (2 năm, nhờ Pháp can thiệp), v.v.
Trong đó, nhà thơ Tô Thùy Yên, thiếu tá, trưởng phòng Văn nghệ của Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, đã bị giam giữ ba lần với tổng cộng 13 năm tù giam.
Một số các nhà văn như Văn Quang (trung tá quản đốc Đài phát thanh Quân đội, 12 năm tù giam), Thế Uyên (trung úy, 3 năm), Phan Nhật Nam (đại úy Sư đoàn Nhảy dù, 14 năm), Thảo Trường (thiếu tá ngành chiến tranh chính trị thuộc Cục An ninh Quân đội, 17 năm), v.v.
Ông Đỗ Văn Phúc, quân nhân thuộc ngành chiến tranh chính trị, cựu tù cải tạo, cho biết sau năm 1975 những sĩ quan ngành chiến tranh chính trị là những người bị chính quyền cộng sản cầm tù lâu nhất rồi đến an ninh, tình báo, v.v. cùng với các yếu tố đi kèm khác như là người Công giáo, di cư từ miền Bắc, thuộc đảng Dân chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, v.v.
Sau khi ra tù, những nhà văn, nhà thơ dù thuộc hay không thuộc quân đội đều không được phép sáng tác. Nếu muốn sống ở quê hương, cuộc sống của họ phải cắt đứt vĩnh viễn khỏi văn chương. Hầu hết các văn nghệ sĩ sau khi được trả tự do đã ra nước ngoài tị nạn.
Những nhà văn Việt Cộng nằm vùng:
Sau năm 1975, một số ít nhà văn miền Nam vẫn tiếp tục được chính quyền mới cho phép sáng tác.
Những người này là các cán bộ cách mạng “nằm vùng”, đã sáng tác công khai ở Sài Gòn trước năm 1975. Trong đó, nổi bật có nhà văn Vũ Hạnh là cán bộ văn hóa Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, trước năm 1975 đã viết cho tờ Tin Văn, Bách Khoa, Mai, v.v. Hay Huỳnh Bá Thành, còn gọi là họa sĩ Ớt, là nhân viên tình báo, trước năm 1975 đã sáng tác cho tờ Điện Tín, Tin Sáng, Bút Thần, v.v.
Bên cạnh đó là các nhà văn thân Việt Cộng như Sơn Nam, Lữ Phương, Thẩm Thệ Hà, Tô Nguyệt Đình, Cung Văn, Ngụy Ngữ, v.v. Những người này sau năm 1975 đã tham gia vào các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của chính quyền.
Những nhà văn này không chỉ sáng tác tự do trước năm 1975 mà còn thành lập các nhà xuất bản, phát hành các tạp chí. Các sáng tác của họ có xu hướng thân cách mạng, chỉ trích chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa bình thống nhất.
Một số tác phẩm của họ bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm duyệt, gây khó khăn. Tuy nhiên, việc kiểm duyệt của chính quyền miền Nam không phân biệt, kỳ thị vào tác giả mà tập trung vào tác phẩm, kể cả văn nghệ sĩ là quân nhân Việt Nam Cộng hòa vẫn có tác phẩm bị kiểm duyệt.
Ở một mức độ nhất định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do sáng tác, không có sự phân biệt, kỳ thị tác giả, cho phép tất cả các xu hướng sáng tác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và tương đối an toàn cho các văn nghệ sĩ nói trên hoạt động.
Tuy nhiên, sau năm 1975, chính quyền cách mạng đã không làm điều tương tự với các nhà văn khác của miền Nam. Trái lại, một số nhà văn miền Nam còn bị chính quyền mới áp bức cho đến chết, hoặc phải bỏ đất nước ra đi.
Nhà nước chiếm nhà in:
Từ 700 nhà in vào năm 1974, sau 30/4/1975, số nhà in lớn nhỏ chỉ tính riêng ở Sài Gòn đến kê khai với nhà nước là 932. Nhà nước đã chiếm dụng ngay lập tức những nhà in này, rồi tịch thu, tiến tới quốc hữu hóa tất cả các nhà in ở miền Nam.
Ngay sau 30/4/1975, chính quyền mới đã chiếm kho giấy, dùng các nhà in để in hàng loạt các ấn phẩm như 300.000 tờ báo đầu tiên của báo Sài Gòn Giải Phóng, in màu hai triệu tấm ảnh chân dung Hồ Chí Minh, in 7 triệu cuốn sách giáo khoa của miền Bắc chỉ trong 45 ngày, v.v.
Hai năm sau, số giấy trong kho ở miền Nam đã hết sạch, chính quyền thất bại trong việc nhập giấy từ nước ngoài. Việt Nam tập trung vào tự sản xuất giấy.
Tuy nhiên, nhiều sản phẩm xuất bản trong những năm 1980, 1990 dùng những loại giấy xấu hơn rất nhiều so với giấy in trước đó của miền Nam.
Những nhà in lớn được gộp lại thành các xí nghiệp công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Ví dụ như Xí nghiệp in số 1 gồm các nhà in mà nhà nước tịch thu như nhà in Tòng Bá, các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh. Xí nghiệp in số 4 từ các nhà in đã tịch thu bao gồm Văn Hữu, Thanh niên, Trí Thức mới, Văn hóa Mỹ thuật. Các hộ in nhỏ khác được tập hợp lại rồi chia thành các xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10.
Các máy móc in ấn hiện đại nhất trên cả nước khi đó tập trung tại Sài Gòn đã được chính quyền chuyển về Hà Nội và các tỉnh, thành khác.
Sau 30/4/1975, ngành in trên cả nước đã bị nhà nước độc quyền kinh doanh, hoàn toàn kiểm soát. Không có in ấn tư nhân thì cũng không có xuất bản tư nhân.
Xuất bản tư nhân tuyệt chủng
Người dân miền Nam trước năm 1975 là những người sau cùng còn nhìn thấy, trải nghiệm việc xuất bản tư nhân trên đất nước Việt Nam.
Sau năm 1975, 180 nhà xuất bản, hầu hết là nhà xuất bản tư nhân của miền Nam đã bị chính quyền mới giải thể. Đến năm 1985, tổng số nhà xuất bản trên cả nước là 40.
Theo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản tư nhân vẫn còn tồn tại sau năm 1954 ở miền Bắc, nhưng rất ít và hoạt động hạn chế, chủ yếu là các cơ sở in và buôn sách có từ thời Pháp thuộc. Xuất bản phục vụ sự phát triển của văn hóa cách mạng chiếm đa số.
Về mặt luật pháp, Sắc lệnh 003/SLT do Hồ Chí Minh ký năm 1957 vẫn thừa nhận xuất bản tư nhân, và cá nhân cũng có thể tự xuất bản tác phẩm.
Tuy nhiên, xuất bản tư nhân ở miền Bắc có lẽ đã teo tóp dần và đi vào ngõ cụt dưới bàn tay sắt của những người cộng sản. Điển hình như Nhà xuất bản Minh Đức đã xuất bản các tác phẩm của nhóm Nhân văn giai phẩm, bao gồm các trí thức nổi tiếng bị cầm tù, đàn áp vì chỉ trích nhà nước kiểm soát, chính trị hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Từ năm 1959, việc xuất bản đã bị chính trị hóa hoàn toàn. Nội dung xuất bản phải theo sát mục tiêu chính trị của đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lật đổ chính quyền miền Nam.
Từ năm 1993, chính quyền chính thức quy định rằng “nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội”, nói cách khác, nhà xuất bản phải thuộc hệ thống của nhà nước. Sau 30 năm, quy định này không có thay đổi nào đáng kể trong các lần sửa đổi luật về xuất bản.
Đến năm 2022, cả nước chỉ có 57 nhà xuất bản. Chính quyền vẫn dùng các cơ quan của nhà nước, tổ chức hội đoàn thuộc hệ thống của Mặt trận Tổ quốc để thành lập các nhà xuất bản. Việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm nhân sự, định hướng hoạt động hay loại bỏ người đứng đầu các nhà xuất bản nếu không làm theo yêu cầu của chính quyền.
Một số nhà xuất bản hiện nay có xu hướng trở thành một cơ quan kiểm duyệt đơn thuần. Những nhà xuất bản này chịu trách nhiệm bán giấy phép xuất bản, kiểm duyệt tác phẩm của các công ty làm sách.
Từ sau ngày 30/4/1975, nền xuất bản tư nhân đã biến mất khỏi Việt Nam. Khí thế xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa thể phục hồi. Nỗi sợ hãi của chính quyền về xuất bản tư nhân đã tạo thành nhiều rào cản ngăn cấm người dân thưởng thức những tác phẩm đa dạng, nhốt tư tưởng người viết vào trong những chiếc lồng ý thức hệ và kéo lùi nền tri thức của cả đất nước.
Nguyễn Hạnh
Bi kịch ‘mang cha bỏ chùa’ và khoảng trống an sinh thời hiện đại
Câu chuyện về người con gái ‘mang cha bỏ chùa’ tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng.
Hình ảnh người cha già ngã quỵ trước cổng chùa cùng mảnh giấy viết vội không chỉ là một bi kịch gia đình đau đớn, mà còn là hồi chuông cảnh báo về sự kiệt quệ của các trụ cột an sinh truyền thống trước áp lực của xã hội hiện đại và tốc độ già hóa dân số chóng mặt.
Khi đôi vai người trẻ không còn gánh nổi chữ hiếu
Câu chuyện về người con gái đưa cha già bệnh tật đến gửi lại nơi cửa chùa giữa lúc bản thân đang đối mặt với bạo bệnh và sự túng quẫn cùng cực đã tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng. Những lời chỉ trích về đạo hiếu, những phán xét về sự nhẫn tâm ban đầu dường như đã lùi lại, nhường chỗ cho một nỗi xót xa và một câu hỏi lớn hơn: Chúng ta đang ở đâu khi những tế bào của xã hội bị tổn thương đến mức không thể tự chữa lành?
Trong văn hóa Việt Nam, mái ấm gia đình luôn được coi là “thánh đường” của tình phụ tử, là nơi “trẻ cậy cha, già cậy con”. Thế nhưng, khi cái nghèo và bệnh tật bủa vây, khi người con gái vừa mới sinh con lại phải duy trì sự sống bằng những ca chạy thận liên miên, thì mái ấm ấy đã trở thành một pháo đài đổ nát. Sự lựa chọn đưa cha lên chùa, nhìn ở một góc độ nghiệt ngã, lại chính là nỗ lực cuối cùng của một tình thương đang tuyệt vọng, một sự “buông tay” để tìm cho người thân một con đường sống khi mọi nguồn lực cá nhân đã hoàn toàn cạn kiệt.
Hình ảnh người con mang cha bỏ chùa được cắt từ clip.
Tình phụ tử, vốn dĩ là thứ tình cảm thiêng liêng và bản năng nhất, đang bị đặt lên bàn cân với những áp lực mưu sinh khốc liệt của thời đại. Bi kịch “mang cha bỏ chùa” là minh chứng rõ nhất cho việc đạo đức và tình cảm gia đình, dù bền vững đến đâu, cũng có những giới hạn chịu đựng trước sức ép kinh tế.
Nhìn rộng hơn ra toàn xã hội, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng chăm sóc người cao tuổi sẽ ngày càng đè nặng lên vai những gia đình trẻ. Trong khi đó, hệ thống an sinh xã hội và chế độ chăm sóc người già của chúng ta vẫn còn rất nhiều khoảng trống.
Chúng ta thiếu những trung tâm dưỡng lão cộng đồng có chi phí thấp, thiếu mạng lưới nhân viên xã hội hỗ trợ tại nhà và đặc biệt là thiếu một cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn. Ở các quốc gia phát triển như Nhật Bản hay Bắc Âu, việc chăm sóc người già không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự điều tiết của nhà nước. Người già được coi là một tài sản cần được bảo vệ, và việc hỗ trợ họ là một phần tất yếu của nền kinh tế bền vững. Còn tại Việt Nam, khi hệ thống an sinh chưa kịp bao phủ, gia đình vẫn là đơn vị duy nhất phải gánh chịu mọi rủi ro. Khi gia đình sụp đổ, người già trở thành những phận đời bị bỏ lại phía sau.
Sự phẫn nộ trước hành vi vi phạm đạo đức truyền thống là cần thiết, nhưng sự thấu cảm và hành động để thay đổi hệ thống mới là điều quan trọng hơn cả. Hãy nhìn vào sự thật rằng, người con gái ấy đã bán sạch nhà cửa, đã kiệt sức vì chạy thận và chăm con nhỏ. Khi mọi cánh cửa đều đóng sập lại, cửa chùa là nơi cuối cùng cô tin rằng cha mình có thể được sống. Đó không phải là sự tàn nhẫn, đó là sự bất lực của một số phận bị đẩy vào ngõ cụt.
Chúng ta không thể chỉ đứng ngoài cuộc để phán xét khi những người trong cuộc đã bị dồn đến đường cùng. Mỗi người trong chúng ta rồi cũng sẽ già đi, cha mẹ chúng ta cũng không thể tránh khỏi quy luật của thời gian. Nếu hôm nay chúng ta không cùng nhau xây dựng một lưới an sinh vững chắc, thì bi kịch của gia đình nọ có thể sẽ là tương lai của bất kỳ ai trong chúng ta.
Xã hội công nghệ hiện đại sẽ nhân văn hay chỉ biết tạo áp lực?
Một xã hội văn minh là một xã hội mà ở đó, không ai phải chọn giữa việc sinh tồn của bản thân và việc chăm sóc đấng sinh thành. Nhiệm vụ của xã hội, của chính sách an sinh là phải mở ra những lối thoát khác, nhân văn hơn, an toàn hơn. Chúng ta cần những quỹ hỗ trợ người già bệnh tật, cần những trung tâm bảo trợ xã hội có sự tham gia của cả nhà nước và tư nhân để chia sẻ gánh nặng với các gia đình. Chỉ khi đó, tình phụ tử mới không bị bẻ gãy bởi những con số nợ nần hay những cơn đau bệnh tật.
Chúng ta sống trong thời công nghệ số, nơi mọi thứ chuyển động với tốc độ ánh sáng, nơi con người mải mê đuổi theo những giá trị vật chất và sự tiện nghi, nhưng lại dường như đang bỏ quên những giá trị cốt lõi về sự kết nối giữa người với người. Công nghệ có thể giúp chúng ta kết nối với cả thế giới chỉ bằng một cú chạm, nhưng nó không thể thay thế bàn tay chăm sóc của người thân, không thể làm dịu đi nỗi cô đơn của tuổi xế chiều hay nỗi lo âu của những người trẻ đang gánh trên vai “tứ thân phụ mẫu” cùng áp lực cơm áo gạo tiền.
Trong kỷ nguyên số, chúng ta thường tự hào về những thành tựu công nghệ, về y tế thông minh hay quản lý dữ liệu dân số hiện đại. Vậy nhưng, tại sao công nghệ chưa thể giúp chúng ta nhận diện sớm những gia đình đang đứng bên bờ vực thẳm như trường hợp của người phụ nữ kia? Tại sao chúng ta chưa có một hệ thống dữ liệu an sinh đủ nhạy bén để kết nối những hoàn cảnh ngặt nghèo với các nguồn lực hỗ trợ kịp thời?
Mảnh giấy ghi những dòng chữ và quần áo, sữa, tiền… của người cha khiến không ít người không khỏi xót xa.
Thay vì để họ phải chọn cách đau lòng nhất là “mang cha bỏ chùa”, xã hội cần một cơ chế để mái ấm không bị biến thành gánh nặng. Chăm sóc người già không thể chỉ dựa vào lòng tốt hay đạo đức cá nhân, mà cần phải được luật hóa và cụ thể hóa bằng các chính sách phúc lợi xã hội thực chất. Chúng ta cần những mô hình dưỡng lão không chỉ dành cho người giàu, mà còn phải bao dung cả những người yếu thế nhất.
Cuối cùng, dù xã hội có hiện đại đến đâu, dù công nghệ có thay đổi cuộc sống thế nào, thì mái ấm gia đình vẫn phải là nơi an trú cuối cùng của mỗi con người. Để giữ vững mái ấm ấy, tình thương thôi là chưa đủ, cần phải có sự đồng hành của cả cộng đồng. Đừng để những hồi chuông cảnh báo như vụ việc vừa qua trôi vào quên lãng sau những đợt sóng dư luận.
Hãy bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn về trách nhiệm chăm sóc người già, từ việc yêu cầu những chính sách an sinh công bằng và thiết thực hơn. Để không còn những người cha phải ngã sụp trước cổng chùa, và không còn những người con phải mang theo nỗi dằn vặt suốt đời vì đã phải buông tay người mình yêu thương nhất trong sự cùng cực của định mệnh.
Lê Thọ Bình
CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG
CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG
Con người có một ảo tưởng rất kỳ lạ.
Chúng ta sống như thể mình sẽ không bao giờ chết.
Mỗi sáng thức dậy, ta tất bật với công việc, tiền bạc, những cuộc hơn thua, những nỗi lo chưa bao giờ dứt. Ta tính chuyện mười năm sau, hai mươi năm sau, gom góp từng đồng, tranh giành từng cơ hội, giữ chặt từng thứ mà mình cho là quan trọng.
Ta cư xử như thể thời gian là vô tận.
Nhưng rồi một ngày, cái chết gõ cửa.
Không báo trước.
Không hẹn giờ.
Không cho thêm cơ hội.
Và lúc ấy, rất nhiều người mới giật mình nhận ra rằng họ đã chuẩn bị cho mọi thứ trong cuộc đời… trừ việc thật sự sống.
Hãy thử bước qua một nghĩa trang vào buổi chiều muộn.
Ở đó có người từng giàu có đến mức chỉ cần một cú điện thoại là tiền bạc đổ về như nước.
Ở đó có người từng quyền lực, đi tới đâu cũng có người cúi đầu kính nể.
Ở đó có người từng nổi tiếng, được tung hô, ca tụng, ngưỡng mộ.
Ở đó cũng có những người cả đời lam lũ, đổ mồ hôi để nuôi gia đình, chịu đựng bao nhọc nhằn mà chẳng mấy ai biết tới.
Nhưng cuối cùng, tất cả đều nằm xuống trong im lặng.
Hai bàn tay trắng.
Không ai mang theo được két sắt đầy tiền.
Không ai ôm được chức vụ.
Không ai giữ được những lời tâng bốc.
Không ai kéo theo được căn nhà, chiếc xe, những tấm bằng khen hay ánh mắt ngưỡng mộ của người đời.
Cái chết có một vẻ đẹp rất lạ.
Nó lấy đi mọi thứ giả tạo.
Nó xóa sạch mọi vai diễn.
Nó bóc hết những lớp son phấn mà con người đã mất cả đời để tô vẽ.
Và sau tất cả, chỉ còn lại sự thật.
Sự thật là bạn chưa bao giờ thật sự là thân thể này.
Thân thể chỉ là căn nhà tạm mà bạn thuê ở vài chục năm.
Nó sẽ già đi, mệt mỏi, bệnh tật, rồi một ngày trả lại cho đất.
Nhưng vì quá mải mê chăm chút cho căn nhà ấy, bạn quên mất người đang sống bên trong.
Bạn đầu tư cho ngoại hình.
Bạn tích lũy tài sản.
Bạn lo lắng người khác nghĩ gì về mình.
Bạn cố chứng minh giá trị bằng địa vị, bằng tiền bạc, bằng sự công nhận.
Nhưng đã bao lâu rồi bạn chưa ngồi yên và tự hỏi:
“Rốt cuộc, mình là ai?”
Nếu chưa từng biết mình là ai, bạn sẽ rất sợ cái chết.
Bởi bạn nghĩ rằng khi thân xác này biến mất thì tất cả cũng kết thúc.
Nhưng người đã thật sự đi sâu vào bên trong sẽ hiểu rằng cái chết không phải là sự chấm dứt.
Nó chỉ là một sự chuyển tiếp.
Giống như mặt trời lặn ở phía này để mọc lên ở phía khác.
Giống như chiếc lá rơi xuống đất để trở thành dưỡng chất cho mầm cây mới.
Giống như dòng sông mất tên khi hòa vào đại dương, nhưng nước chưa từng biến mất.
Giống như ngọn lửa tắt ở cây nến này để bừng sáng ở một cây nến khác.
Thân xác có thể tan đi.
Hình dạng có thể đổi khác.
Nhưng sự sống chưa từng mất.
Điều đáng buồn nhất không phải là con người sẽ chết.
Điều đáng buồn nhất là rất nhiều người chưa bao giờ thật sự sống.
Họ chỉ tồn tại.
Họ chạy từ sáng đến tối.
Họ lo cơm áo gạo tiền.
Họ so sánh mình với người khác.
Họ ghen tị với thành công của người khác.
Họ sợ bị bỏ lại phía sau.
Họ tích cóp, phòng thủ, tranh đấu.
Nhưng họ chưa từng thật sự dừng lại để cảm nhận cuộc sống.
Chưa từng ngồi yên dưới một tán cây và lắng nghe tiếng gió.
Chưa từng nhìn hoàng hôn bằng cả trái tim.
Chưa từng nắm tay người mình yêu với sự hiện diện trọn vẹn.
Chưa từng biết ơn vì mình vẫn còn được hít thở.
Chưa từng cảm nhận sâu sắc rằng được sống đã là một phép màu.
Họ luôn nói:
“Để mai rồi sống.”
“Khi đủ tiền sẽ hạnh phúc.”
“Khi bớt bận sẽ dành thời gian cho gia đình.”
“Khi thành công rồi mới tận hưởng.”
Nhưng cuộc đời chưa bao giờ hứa với bất kỳ ai một chữ “mai”.
Có những người tối nay vẫn còn lên kế hoạch cho năm tới.
Nhưng sáng mai đã không còn thức dậy.
Và trong khoảnh khắc cuối cùng ấy, nhiều người mới cay đắng nhận ra rằng mình đã có gần như mọi thứ… trừ chính bản thân mình.
Họ sở hữu tài sản nhưng không sở hữu sự bình an.
Họ có nhiều mối quan hệ nhưng không có sự kết nối thật sự.
Họ được ngưỡng mộ nhưng chưa từng hiểu chính mình.
Họ sống giữa đám đông nhưng cô đơn trong tâm hồn.
Người tỉnh thức không sợ chết.
Không phải vì họ mạnh mẽ hơn.
Mà vì họ đã “chết” từ trước.
Họ đã chết khỏi lòng tham.
Chết khỏi sự kiêu ngạo.
Chết khỏi nhu cầu phải hơn người.
Chết khỏi nỗi ám ảnh được công nhận.
Chết khỏi cái tôi luôn muốn kiểm soát mọi thứ.
Khi cái giả tạo tan biến, con người thật bắt đầu xuất hiện.
Và khi đã chạm tới con người thật ấy, họ hiểu rằng chẳng có gì thật sự bị mất đi.
Vì thứ quan trọng nhất chưa từng phụ thuộc vào tiền bạc, địa vị hay thân xác.
Cho nên câu hỏi lớn nhất của đời người không phải là:
“Sau khi chết, ta sẽ đi đâu?”
Mà là:
“Ngay trong giây phút này, ta đã thật sự sống hay chưa?”
Bạn có đang sống hay chỉ đang tồn tại?
Bạn có đang tận hưởng hay chỉ đang chịu đựng?
Bạn có đang hiện diện hay vẫn mãi chạy theo những thứ bên ngoài?
Bạn có đang yêu thương thật lòng hay chỉ giữ các mối quan hệ vì lợi ích?
Bạn có đang biết ơn từng hơi thở hay xem sự sống là điều hiển nhiên?
Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời, bạn sẽ cảm thấy thanh thản hay tiếc nuối?
Bạn sẽ mỉm cười vì đã sống trọn vẹn?
Hay sẽ đau lòng vì đã đánh đổi cả cuộc đời cho những thứ rồi cũng phải bỏ lại?
Cái chết không đáng sợ.
Điều đáng sợ nhất là đến lúc nhắm mắt, bạn mới nhận ra rằng mình chưa từng mở lòng để sống.
Chưa từng thật sự yêu.
Chưa từng thật sự hiện diện.
Chưa từng thật sự hiểu mình.
Chưa từng thật sự cảm nhận phép màu của sự tồn tại.
Người biết sống sâu sắc sẽ biết buông bỏ nhẹ nhàng.
Người biết trân trọng từng khoảnh khắc sẽ không hoảng loạn khi thời gian kết thúc.
Người đã chạm tới sự bình an bên trong sẽ bước qua cánh cửa cuối cùng với một nụ cười.
Và khi đó, cái chết không còn là dấu chấm hết.
Nó chỉ là sự trở về.
Trở về với sự tĩnh lặng.
Trở về với bình an.
Trở về với điều thiêng liêng mà từ lâu ta đã quên mất.
Vì thế, kể từ hôm nay, đừng sống như thể mình bất tử.
Hãy sống như thể đây là ngày quý giá nhất mà bạn từng có.
Yêu sâu hơn.
Biết ơn nhiều hơn.
Tha thứ sớm hơn.
Hiện diện trọn vẹn hơn.
Và sống thật với chính mình hơn.
Để đến một ngày khi cái chết gõ cửa, bạn có thể mỉm cười và nói:
“Tôi không tiếc nữa. Tôi đã thật sự sống.”
FB Nguyễn thành Công
#ngam #baihoccuocsong #thuctinh #binhan #ntc
ĐƯỢC CHỌN, ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em!”.
Một bé gái mơ được đóng vai trong vở kịch cuối năm; đến ngày công bố, em chạy về, vui mừng nói với mẹ, “Mẹ ơi, con được chọn… làm người vỗ tay!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Được chọn không luôn đồng nghĩa với được đứng ở trung tâm; nhiều khi, được chọn chỉ để làm người vỗ tay. Với Matthia, là để ở lại. Lời Chúa hôm nay mở ra một nghịch lý: không phải được chọn để làm điều gì đó, nhưng bạn và tôi ‘được chọn – để ở lại’.
Trong Tin Mừng Gioan, “được chọn” không phải là một đặc ân bên ngoài, nhưng là một lời gọi vào tương quan. Động từ ở lại – manere – trở thành trục: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”. Vì thế, được chọn không nhằm trao một vai trò, nhưng mở ra một tình trạng hiện hữu: ở lại trong tình yêu, trong Lời, trong chính Thầy. Và chỉ trong sự gắn bó ấy, người môn đệ mới sinh hoa trái; không phải từ khả năng, nhưng từ ơn ban. Như vậy, được chọn không phải để làm điều gì đó cho Chúa, nhưng để ở trong Ngài. “Ơn gọi Kitô hữu trước hết không phải là hành động, nhưng là ở trong Đức Kitô!” – Hans Urs von Balthasar.
Matthia xuất hiện trong một tiêu chuẩn rất Gioan: “phải là người đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu… và làm chứng Người đã phục sinh” – bài đọc một. Đôi khi, vỗ tay cho người khác cũng là một cách tán thưởng Thiên Chúa. Ở đây, điều quyết định không phải là vai trò, nhưng là một sự trung tín. Không rời bỏ khi lời chói tai, không tản mác khi nhóm tan tác; Matthia không được thấy, nhưng vẫn ở đó. Vì thế, việc ông được chọn không phải là một khởi đầu, nhưng là một bộc lộ: ở lại đôi khi đã là một hành động. Và như thế, được chọn không phải để bước lên, nhưng để thấy mình đã luôn thuộc về – để ở lại – và còn ở lại.
“Để anh em ra đi, sinh được hoa trái”. Hoa trái không bắt đầu từ hành động, nhưng từ sự kết hiệp. Cành nho không tự mình sinh trái; nó phải gắn liền với thân. Vì thế, điều quyết định không phải Matthia hay ai làm được gì cho Chúa, nhưng là có còn gắn liền với Ngài hay không. Khi còn gắn liền, hoa trái không còn là điều phải gắng làm nên, nhưng là điều được ban. Trung tín là một hình thái của quyền năng. “Khi Thiên Chúa ban thưởng công nghiệp, Ngài chỉ đang ban thưởng chính ân sủng của Ngài!” – Augustinô.
Anh Chị em,
Đức Kitô luôn ở trong Chúa Cha, và từ Cha, Ngài đến với những ai bơ vơ tất tưởi. Nơi Ngài, “ở lại” không tách rời “được sai đi”. Matthia được chọn không phải từ chỗ nổi bật, nhưng từ một đời sống âm thầm ở lại; không được thấy, nhưng không rời. Bị quên lãng trong Chúa chính là được ghi nhớ đời đời. Và từ đó, ông được sai đi. Chúng ta cũng thế: được chọn không phải để bước ra phía trước, nhưng để hiện diện; không phải để được thấy, nhưng để được sai. Và trước hết, ‘được chọn – để ở lại’. “Đừng chờ đợi những việc lớn, hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn!” – Mẹ Têrêxa Cacutta.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con muốn làm điều lớn, xin cho con yêu điều nhỏ; con muốn nổi bật, xin cho con khiêm nhu; con muốn vội lên đường, xin cho con biết lân la với Chúa!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
***********************************
Lời Chúa Thánh Matthia tông đồ, Thứ Năm, Tuần VI Phục Sinh
Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 15,9-17
9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.
12 “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.
16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”
Chúa Thánh Thần có vai trò nào trong đời sống Chúa Kitô? – Cha Vương
Tân Thủ tướng Hungary: “Tôi sẽ phục vụ đất nước, chứ không cai trị đất nước”
11/05/2026
Tác giả: Horváth Kávai Andrea
Dương Lệ Chi chuyển ngữ
10-5-2026
Đó là lời của Thủ tướng Péter Magyar trong bài phát biểu tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Hungary: “Tôi sẽ phục vụ đất nước, chứ không cai trị đất nước”.
Sau khi các dân biểu quốc hội được bầu đã tuyên thệ nhậm chức, hôm thứ bảy, ngày 9 tháng 5, ông Péter Magyar được bầu làm Thủ tướng kế tiếp của Hungary với 140 phiếu thuận và 54 phiếu chống.
Tân thủ tướng Magyar phát biểu. Nguồn: János Bődey / Telex
Hàng ngàn người đã theo dõi diễn biến bên trong quốc hội qua các màn hình lớn tại Quảng trường Kossuth Lajos cạnh bên, nơi chính quyền mới mời tất cả người dân Hungary đến ăn mừng sự kết thúc của chế độ Orbán. Sau khi ông Magyar tuyên thệ nhậm chức, đám đông reo hò vang dội, trong khi các nghị sĩ đảng Tisza bên trong phòng họp vỗ tay và reo hò. Hầu hết các nghị sĩ đảng Fidesz, hiện đang là phe đối lập, đã không vỗ tay chúc mừng ông Magyar đắc cử.
Sau khi nhậm chức, ông Magyar có bài phát biểu đầu tiên của mình bằng cách tuyên bố rằng sự thay đổi chính phủ gần đây là lời cảnh báo cho mọi thủ tướng rằng quyền lực chỉ là tạm thời, trong khi hậu quả của các quyết định của chúng ta sẽ theo chúng ta đến nhiều thế hệ sau. “Tôi sẽ phục vụ đất nước, chứ không phải cai trị nó”, ông nói, giải thích rằng ông coi những lời của József Antall (Thủ tướng đầu tiên của Hungary được bầu cử một cách dân chủ) đã vạch ra con đường cho điều này:
“Tôi sẽ phục vụ cho tới khi nào sự phục vụ của tôi còn hữu ích; tôi sẽ làm điều này hết sức mình, cho tới khi tôi còn có thể làm được, và cho tới khi nào đất nước Hungary còn cần tôi làm điều đó”.
Ông Magyar nhấn mạnh rằng, ông không khác gì bất kỳ người dân nào trên đất nước này; lý do duy nhất khiến ông ngồi vào ghế thủ tướng hiện nay là vì hàng triệu người Hungary muốn có sự thay đổi. Đây là một vinh dự, một nghĩa vụ đạo đức, nhưng cũng là một cảm giác tuyệt vời. Ông nói: “Được phục vụ đất nước này là một niềm vinh hạnh đầy khích lệ. Tôi sẽ nỗ lực hết mình để xứng đáng với tấm gương của những bậc tiền bối như Lajos Batthyány, Imre Nagy và József Antall”.
Tầm quan trọng của việc đối mặt với quá khứ
Con đường mà Hungary và người dân Hungary đã đi trong hai năm qua là chưa từng có tiền lệ, ông nói, và bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả mọi người. Người dân Hungary đã trao cho chúng tôi quyền chấm dứt hàng thập niên trì trệ, không chỉ thay đổi chính phủ mà còn cả toàn bộ hệ thống.
Ông nhấn mạnh rằng sự thay đổi hệ thống và công lý không thể xảy ra nếu không có sự hòa giải, cũng như không thể đối mặt với quá khứ. Hai mươi hai năm sau khi Hungary được trao cơ hội lớn nhất trong lịch sử, giờ đây đất nước này đã trở thành một vùng đất bị cướp bóc, ông nói. Ông nói thêm rằng họ đã thừa hưởng một đất nước nơi 3 triệu người đang sống trong cảnh nghèo đói và sau đó đề cập đến sự thâm hụt ngân sách khổng lồ mà chính phủ tiền nhiệm đã tạo ra. Theo thủ tướng mới, hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước đã bị vắt kiệt, và tuổi thọ trung bình của người dân Hungary ngắn hơn 5 năm so với tuổi thọ trung bình của người dân châu Âu.
Ông cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ trẻ em, lưu ý rằng những đứa trẻ dễ bị tổn thương đã bị bỏ mặc cho chúng tự lo liệu trong khi hàng ngàn tỷ forint đã biến mất “từ các quỹ, từ Ngân hàng Trung ương, do các khoản đầu tư quá đắt đỏ và không cần thiết, và vào túi của những người thân hữu chính trị”. Hungary đã trở thành quốc gia tham nhũng nhất; theo ông Magyar, số tài sản mà chính phủ tiền nhiệm “đã cướp đoạt từ túi người dân Hungary” ước tính lên tới 20 ngàn tỷ forint (ND: Theo tỉ giá hiện tại, 1 đô la tương đương 302 forint. 20 ngàn tỷ forint, tương đương 66.16 tỉ đô la).
“Chúng ta thừa hưởng một đất nước mà chính trị cố tình chia rẽ người dân Hungary với nhau”, ông nói, mô tả cách thức truyền thông của chính phủ tiền nhiệm được xây dựng trên sự thù hận, sợ hãi và kích động.
“Một lần nữa, chúng ta sẽ học cách coi chính mình là một quốc gia”, ông hứa.
Các chính trị gia của đảng Fidesz cuối cùng sẽ phải đối mặt với hậu quả cho các hành động của mình. Thủ tướng Péter Magyar nói rằng, sau khi đối mặt với quá khứ—và “chỉ sau đó”—công lý phải được thực thi. “Công lý là một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản cho việc tái thiết dân chủ”, điều đó có nghĩa là Hungary không thể xây dựng một tương lai mới trên nền tảng của những tội ác bị che đậy. Hungary sẽ không còn là một quốc gia [mà những kẻ tham nhũng] không phải gánh chịu hậu quả nữa.
Ông nói về việc người dân đã mất niềm tin vào tính độc lập của hàng chục thể chế công cộng, và hệ thống kiểm soát và cân bằng, nền tảng của dân chủ, đã bị phá hủy như thế nào. Ông kêu gọi các quan chức nhà nước từ chức trước cuối ngày hôm nay, hoặc chậm nhất là ngày 31 tháng 5, vì lợi ích của sự đổi mới dân chủ ở Hungary.
“Tổng thống Tamás Sulyok phải là người đầu tiên”, ông Magyar tuyên bố, trước khi dành vài phút liệt kê những lần Tổng thống, người đại diện cho toàn thể người dân Hungary, đã chọn sự im lặng kể từ khi nhậm chức, trong khi máy quay chiếu cận cảnh khuôn mặt ông Sulyok khi ông bối rối trong tình huống vô cùng nhục nhã này. Trong số những điều mà ông [Magyar] chỉ trích [Tổng thống] Sulyok là vì ông ta đã không lên tiếng khi Viktor Orbán gọi công dân Hungary là “sâu bọ”, vì [Tổng thống Sulyok] đã không đứng lên bảo vệ các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng, và vì [Tổng thống Sulyok] đã không phản đối các quyết định vi hiến và sự tùy tiện về mặt pháp lý của chính phủ tiền nhiệm. “Thưa ngài Tổng thống, đã đến lúc ngài phải ra đi”.
Những lời xin lỗi
Tân Thủ tướng đã gửi lời xin lỗi tới tất cả những ai cảm thấy rằng trong những năm qua, nhà nước đã không đối xử bình đẳng với mọi công dân của mình. Ông đặc biệt gửi lời xin lỗi tới các nhà hoạt động thuộc các tổ chức phi chính phủ, giáo viên, nhà báo, nhân viên y tế và các nhân vật của công chúng, những người từng bị chính quyền tiền nhiệm kỳ thị hoặc bôi nhọ vì đã lên tiếng hay bày tỏ quan điểm khác biệt. [Các nghị sĩ thuộc đảng] Fidesz đã không vỗ tay cho bất kỳ lời xin lỗi nào cả.
Magyar cũng gửi lời xin lỗi tới các nạn nhân từng bị ngược đãi tại trại trẻ Bicske và khu vực phố Szőlő, cũng như tới tất cả những ai đã phải chịu đựng dưới hệ thống bảo vệ trẻ em của Hungary, bởi lẽ chính Nhà nước Hungary đã không đưa ra lời xin lỗi nào dành cho họ. Ông cũng chia sẻ về việc những năm gần đây, sự kỳ thị và lòng thù hận đã xé toạc các gia đình; về “những đứa trẻ lớn lên giữa vòng vây của những chiến dịch thù hận chính trị không ngừng nghỉ”, và về việc những người cao tuổi phải sống trong nỗi sợ hãi về tương lai cũng như viễn cảnh chiến tranh.
Ông nói: “Bằng cách lợi dụng nỗi sợ hãi được tạo ra một cách giả tạo, chính trị đã đầu độc tâm lý tập thể của cả một quốc gia. Nhà nước Hungary không bao giờ được phép làm điều này với chính công dân của mình nữa. Ngày 12 tháng 4, kỷ nguyên này đã chấm dứt hoàn toàn”.
Các ưu tiên của chính phủ mới
Ông chỉ ra rằng, người dân Hungary có quyền được biết công quỹ đã bị biến thành tài sản tư nhân, thành một hệ thống phong kiến, thành các đặc quyền và công cụ gây sức ép chính trị như thế nào. Chính vì lẽ đó, một trong những dự luật đầu tiên được trình lên Quốc hội khóa mới sẽ là đạo luật thành lập Văn phòng Thu hồi và Bảo vệ Tài sản Quốc gia. Thông báo này nhận được những tràng pháo tay vang dội từ các nghị sĩ thuộc đảng Tisza cũng như đám đông đang theo dõi bài phát biểu bên ngoài tòa nhà, trong khi các nghị sĩ của đảng Fidesz và Mi Hazánk lại không hề vỗ tay hưởng ứng.
Ông Magyar cho biết, nhiệm vụ của thể chế mới này là phơi bày những hành vi lạm dụng quyền lực đã diễn ra trong suốt 20 năm qua. Cơ quan này sẽ điều tra các vụ án tham nhũng, bao gồm vụ án liên quan đến Ngân hàng Quốc gia (MNB), các gói mua sắm công bị thổi phồng giá, các quỹ đầu tư tư nhân, và bất kỳ giao dịch nào có dấu hiệu nghi vấn về việc chiếm đoạt tài sản công, tham ô, rửa tiền hay gian lận ngân sách. Văn phòng này sẽ không chịu sự kiểm soát của chính phủ mà sẽ hoạt động như một thực thể độc lập. Ông Magyar cam kết sẽ bảo đảm sự độc lập, tính chuyên nghiệp và sự minh bạch trong hoạt động.
Ông kêu gọi cử tri hãy “quan sát và buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm về các hành động của họ. Hãy cùng nhau rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ; đừng phó mặc cho các chính trị gia tự tung tự tác trong nền chính trị!” Ông thúc giục công dân hãy luôn giám sát các chính trị gia của mình, hãy phê bình họ, và không cho phép bất kỳ ai lạm dụng trọng trách mà xã hội đã tin tưởng giao phó cho Quốc hội này.
“Chúng tôi sẽ làm việc cho mỗi người dân Hungary; chính phủ của đảng Tisza sẽ là chính phủ của toàn thể người dân Hungary”. Hướng lời kêu gọi tới cả cộng đồng người Hungary ở nước ngoài, ông cam kết sẽ xây dựng một đất nước sẵn sàng chào đón những người con Hungary ở nước ngoài, trở về quê hương. Ông khẳng định rằng, chính quyền Tisza sẽ nỗ lực bảo đảm rằng các công việc ở đây mang lại một cuộc sống ổn định và xứng đáng, nhờ vào một hệ thống thuế công bằng hơn.
“Chúng ta sẽ xây dựng một nước Hungary nơi mà ngân sách công thật sự trở lại là ngân sách công; chúng ta sẽ hàn gắn các mối quan hệ của Hungary và đưa nguồn vốn từ EU trở về phục vụ đất nước“. Ông cũng cho biết chính phủ mới sẽ củng cố hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực, đồng thời đề xuất giới hạn số nhiệm kỳ mà một thủ tướng có thể đảm nhiệm.
“Tự do không phải là một danh từ, mà là một động từ”
Phần kết luận, một lần nữa ông nhắc đến phong trào quần chúng rộng lớn đã hình thành trên đất nước này trong hai năm qua: “Người dân Hungary đã quyết định chứng minh cho thế giới thấy rằng, tự do không phải là một danh từ, mà là một động từ—một hành động cao đẹp mà không thế lực nào có thể ngăn cản. Vì điều này, chúng ta xin gửi lời tri ân sâu sắc tới mỗi người dân Hungary”.
Ông nói rằng, giờ đây, trọng trách ấy thuộc về chính họ — những nhà lãnh đạo vừa đắc cử — trong việc vận dụng tinh thần đó để xây dựng một đất nước nhân văn hơn. Nếu thành công, chỉ vài năm nữa thôi, họ sẽ có thể tự hào mà tuyên bố rằng, họ không chỉ thay đổi được chính phủ, mà còn biến Hungary trở thành một nơi tốt đẹp hơn.
“Cầu Chúa ban phước lành cho Hungary, và cầu Chúa ban phước cho mỗi người dân Hungary—dù đang ở ngay tại đây, ở quê nhà hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.
Sau nghi thức hát quốc ca, các thành viên của đảng Tisza đã bước ra hòa cùng đám đông đang tụ họp tại Quảng trường Kossuth Lajos; tại đây, ông Magyar đã có bài phát biểu thứ hai, tiếp nối bằng một chương trình văn nghệ ngắn.
Ông đã phát biểu trước những người đang tụ họp phía trước Tòa nhà Quốc hội với một giọng điệu hoàn toàn khác biệt, nhấn mạnh vào tinh thần hân hoan và ăn mừng. Ông nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất trong những năm tới chính là việc người dân Hungary phải học cách nhìn nhận lại bản thân như một cộng đồng thống nhất. Ông kêu gọi mọi người hãy mở rộng vòng tay với những ai hiện đang cảm thấy thất vọng, sợ hãi, hay đang trải qua giai đoạn này như một sự mất mát. Ông nói: Đừng tìm cách hạ thấp hay làm họ bẽ mặt; thay vào đó, hãy lắng nghe và đối thoại cùng họ, bởi lẽ đây cũng là đất nước của họ, và sự đóng góp của họ cũng vô cùng cần thiết để cùng nhau tái thiết đất nước này.
Theo tân Thủ tướng, câu chuyện mà chúng ta đang chứng kiến hôm nay không phải do các tân nghị sĩ viết nên, cũng chẳng phải do những chiến lược gia hay chuyên gia tuyên truyền đứng sau hậu trường dàn dựng; mà đúng hơn, “chính là tất cả các bạn. Các bạn đã viết nên câu chuyện ấy—thông qua công sức lao động, niềm hy vọng, nỗi trăn trở và sự quyết tâm của chính mình. Bây giờ là cuộc chuyển đổi sang nền dân chủ của chính các bạn; đây là quê hương của các bạn, là Quốc hội của các bạn—và chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn!”
Theo ông Magyar, trong suốt nhiều năm qua, người dân Hungary đã liên tục bị nhồi nhét rằng chiến tranh chính là hòa bình, sự dốt nát chính là sức mạnh, và bất cứ ai có tư duy khác biệt đều là những kẻ kém cỏi hơn, không xứng đáng là người Hungary hơn. Tuy nhiên, chính quyền Orbán đã thất bại trong việc thuyết phục họ; và nền chuyên chế tàn bạo nhất rốt cuộc đã bị đánh bại bởi những con người bình thường, bằng xương bằng thịt, bởi lẽ chính họ mới đại diện cho sức mạnh vĩ đại nhất. “Những trang sử sau này sẽ viết về câu chuyện ánh sáng chiến thắng bóng tối”, ông nói.
Ông cũng chia sẻ rằng: “Sức mạnh thật sự của một quốc gia không được đo đếm bằng số lượng ghế mà đảng chiến thắng nắm giữ trong nghị viện, mà được đo đếm bằng cách quốc gia đó đối xử với những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất trong xã hội như thế nào”.
Kết thúc bài diễn văn, ông nhắn nhủ mọi người hãy lưu giữ lại một điều gì đó từ ngày hôm nay: Niềm hân hoan, sự cởi mở và tình yêu thương; bởi lẽ trong những năm tháng sắp tới chính là những điều mà Hungary sẽ cần đến hơn bao giờ hết. “Hãy nhớ đến ngày hôm nay như một kỷ niệm; hãy ghi nhớ ngày này suốt phần đời còn lại của các bạn. Hãy nhớ mãi hình ảnh của đất nước Hungary trong ngày hôm nay. Có lẽ sau này, các bạn sẽ kể cho con cháu mình nghe rằng: Đây chính là diện mạo của ngày đầu tiên, ngày mở đầu cho một nước Hungary tự do và dân chủ”, ông nói lời kết, đồng thời chúc mọi người có một khoảng thời gian ăn mừng thật tuyệt vời, bình yên và tràn ngập niềm vui.
Con chết vì xài thuốc quá liều khi hỏi ChatGPT, cha mẹ kiện OpenAI
May 12, 2026
HOUSTON, Texas (NV) – Một cặp vợ chồng ở Texas kiện công ty OpenAI, chủ sở hữu ứng dụng trí tuệ nhân tạo ChatGPT, sau khi người con trai 19 tuổi chết vì dùng thuốc quá liều năm 2025, cáo buộc rằng ChatGPT đưa ra lời khuyên nguy hiểm về việc dùng các chất gây nghiện.
Vụ kiện này có thể làm nóng lại cuộc tranh luận về trách nhiệm pháp lý của các công ty trí tuệ nhân tạo khi trí tuệ nhân tạo (AI) được người dùng xem như nguồn tư vấn về y tế, tâm lý và hành vi nguy hiểm.
(Hình minh họa: Imen Ben Youssef / Hans Lucas / AFP via Getty Images)
Bà Leila Turner-Scott và chồng, Angus Scott, nộp đơn kiện OpenAI tại tòa tiểu bang California buộc công ty và những người tạo ra ChatGPT phải chịu trách nhiệm trong cái chết của người con trai là Sam Nelson, theo CBS News loan tin ngày Thứ Ba, 12 Tháng Năm. Cậu Sam qua đời khi mới 19 tuổi sau khi sử dụng ChatGPT để hỏi thông tin về chất gây nghiện.
Gia đình cáo buộc nền tảng trí tuệ nhân tạo này đã đưa ra lời khuyên mà họ cho rằng ChatGPT không đủ tư cách để cung cấp, và tuyên bố Sam vẫn còn sống nếu không vì “chương trình bị lỗi” của công cụ này.
Trọng tâm của đơn kiện là cáo buộc ChatGPT đã nói với Sam rằng việc dùng kratom cùng với Xanax là an toàn. Kratom là một loại thảo dược được dùng trong đồ uống, viên thuốc và nhiều sản phẩm khác. Xanax là thuốc chống lo âu được sử dụng rộng rãi.
Theo gia đình, lời khuyên của AI đó tạo ra một sự kết hợp chất gây chết người. CBS News cho biết vụ kiện không chỉ nhắm vào một câu trả lời cụ thể, mà còn vào cách thiết kế và vận hành của hệ thống, với lập luận rằng OpenAI có thể áp dụng các giới hạn an toàn mạnh hơn để ngăn các cuộc trao đổi kiểu này.
Trong cuộc phỏng vấn độc quyền với CBS News, người mẹ cho biết Sam dùng ChatGPT như một công cụ hỗ trợ học tập và tăng năng suất, nhưng không biết con trai dùng công cụ này để xin hướng dẫn về sử dụng các chất gây nghiện. Bà cáo buộc OpenAI “bỏ qua các hàng rào an toàn” và cho rằng công ty có khả năng lập trình chatbot để dừng lại trong các tình huống nguy hiểm, nhưng lại không duy trì hoặc không áp dụng đủ các cơ chế đó.
Ông Angus Scott, người cha, đặt vấn đề rằng ChatGPT hành động như một bác sĩ trong các trao đổi với Sam, dù công cụ này không có giấy phép để đưa ra lời khuyên y khoa. Ông nói chatbot cung cấp thông tin cho công chúng về an toàn, tương tác thuốc và các vấn đề y tế khác, nhưng nếu không có quy trình an toàn phù hợp và kiểm tra nghiêm ngặt hơn, những thông tin đó có thể được đưa ra theo cách “rất nguy hiểm cho con người.”
Công ty OpenAI, trong tuyên bố gửi CBS News, gọi đây là “một tình huống đau lòng” và nói công ty chia sẻ với gia đình. Công ty cho biết Sam tương tác với một phiên bản ChatGPT hiện đã được cập nhật và không còn cung cấp cho công chúng. OpenAI cũng nhấn mạnh ChatGPT không phải là sự thay thế cho chăm sóc y tế hoặc sức khỏe tâm thần, và công ty tiếp tục tăng cường cách hệ thống phản hồi trong các tình huống nhạy cảm hoặc cấp tính với sự góp ý từ các chuyên gia sức khỏe tâm thần.
Theo OpenAI, các hàng rào an toàn hiện nay trong ChatGPT được thiết kế để nhận diện tình trạng đau khổ, giải quyết an toàn các yêu cầu có hại và hướng người dùng đến sự trợ giúp trong đời thực. Công ty nói công việc này vẫn đang tiếp diễn và được cải thiện qua tham vấn với các bác sĩ lâm sàng. OpenAI cũng nói ChatGPT nhiều lần khuyến khích Sam tìm sự trợ giúp chuyên môn, gồm cả việc gọi các đường dây nóng khẩn cấp.
Vụ kiện đặt ra một câu hỏi pháp lý và đạo đức ngày càng lớn đó là khi người dùng, đặc biệt là thanh thiếu niên hoặc người đang ở trong tình trạng dễ tổn thương, tìm đến chatbot để hỏi về thuốc, ma túy, tự hại hoặc khủng hoảng tâm lý, trách nhiệm của công ty công nghệ dừng ở đâu?
Các nền tảng AI thường nói chúng không thay thế bác sĩ, luật sư hay chuyên gia trị liệu, nhưng thực tế là người dùng có thể trò chuyện với chúng bằng giọng thân mật, liên tục và riêng tư, khiến ranh giới giữa “thông tin tổng quát” và “lời khuyên cá nhân” trở nên rất mờ nhạt. (MPL) [kn]










