Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. – Cha Vương

Một ngày tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa nhé. 

Cha Vương

TIN MỪNG: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3:16)

Thứ 4: 15/04/2026.  (n19-23)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng trong Tân Ước hôm nay được rất nhiều người biết đến, Chúa Giê-su giải thích cho ông Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái trong nhóm Pha-ri-sêu về việc Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Nhờ tin vào Chúa Giêsu qua Bí Tích Rửa Tội, bạn trở thành tạo vật mới và là con cưng của Chúa.  Mỗi ngày bạn được mời gọi hãy cố gắng sống và thực hành lời Chúa dạy, gần gũi với Chúa hơn để mang ánh sáng và tình yêu của Ngài đến cho những người chung quanh. Vậy hành động và lời nói của bạn có phản ảnh tình yêu của Chúa để cho mọi người nhận biết rằng bạn là người Ki-tô hữu không? Sống đúng với ơn gọi làm con Chúa đòi hỏi một sự hy sinh và đặt người khác lên trên tư lợi riêng của chính mình, dấn thân chia sẻ tình yêu của Chúa cho người khác. Mỗi ngày là một cơ hội để sống trong ánh sáng của Chúa. Chúa không ép buộc ai cả nhưng để bạn tự do lựa chọn. Bạn đừng bỏ lỡ cơ hội đốt lên ngọn lửa yêu thương trong đêm tối hôm nay. Đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối nhé. 

LẮNG NGHE: Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời. (Mt 5:14a,16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là mẫu mực tình yêu cho người Ki-tô hữu, xin biến con trở thành một nhân chứng sống động cho “tình yêu tự hiến” trong môi trường sống và làm việc của con hôm nay.

THỰC HÀNH: Tìm gặp Chúa nơi tha nhân.

From: Do Dzung

****************************

CHÚA LÀ ÁNH SÁNG ĐỜI CON | st. & trình bày: Tina Ngọc Nữ

Bức họa AI lộng ngôn của Trump gợi nhớ chuyện vua Babylon ‘ăn cỏ như bò’ trong Kinh Thánh

Ba’o Nguoi-Viet

April 14, 202

Mai Phi Long/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, bóng ma của sự kiêu ngạo của bất kỳ bậc quân vương nào luôn là khởi đầu cho những sự sụp đổ kinh hoàng nhất. Sách Daniel trong Kinh Thánh ghi lại một trong những bài học đắt giá nhất về vương quyền và sự cao ngạo của con người qua câu chuyện về Vua Nebuchadnezzar của Đế Chế Babylon cổ đại.

Nebuchadnezzar, vị vua hùng mạnh bậc nhất thời cổ đại ở Trung Cận Đông, nhận được một điềm báo trong giấc mơ về một cái cây “cao đến tận trời” bị đốn hạ. Nhà tiên tri Daniel giải mã và cảnh báo vị vua này rằng, nếu không biết hối cải và thực hành sự khiêm nhường, ông sẽ bị tước mất vương quyền. 

Tổng Thống Donald Trump và bức ảnh khắc họa ông trong hình ảnh Chúa Giêsu do trí khôn nhân tạo (AI) chế ra. (Hình: Mandel Ngan/AFP via Getty Images)

Một năm sau, khi đang đứng trên nóc cung điện nhà vua dõng dạc tuyên bố: “Chẳng phải đây là Babylon vĩ đại mà chính ta đã xây dựng bằng sức mạnh quyền năng của ta để làm nơi cư ngụ cho vương triều và để hiển thị vinh quang rực rỡ của ta sao?” Đúng lúc đó, một tiếng phán từ trời vang xuống nhắc lại lời tiên tri. 

Và ngay lập tức, quyền năng của vị vua này bị tước bỏ, tâm trí ông trở nên điên loạn, và ông bị xua đuổi khỏi xã hội loài người để sống cảnh “ăn cỏ như bò,” sương đêm thấm ướt thân thể suốt bảy mùa, cho đến khi ông học được cách cúi đầu trước Đấng Tối Cao.

Hàng ngàn năm sau, tại trung tâm quyền lực của thế giới hiện đại vào thập niên 2020, một kịch bản về sự cao ngạo tương tự đang được viết tiếp bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và những dòng trạng thái trên mạng xã hội. 

Việc Tổng Thống Donald Trump tự khắc họa mình trong hình ảnh giống Chúa Giêsu chữa lành người bệnh, ngay sau khi công kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, không chỉ là một hành động lộng ngôn chính trị mà còn là một sự báng bổ đức tin sâu sắc, phơi bày sự hoang tưởng của một cá nhân đang lầm tưởng mình là “đấng cứu thế” thời kỹ thuật số (digital).

Xin được xác định rằng đây không phải là một bài viết biện minh cho quan điểm “thần quyền” nhưng là cái nhìn khách quan vào thế giới của những “con chiên” luôn tự nhận là duy tâm nhưng sẵn sàng tôn vinh một “tạo vật” dám báng bổ Đấng mà mình tôn thờ.

Phỉ báng Vatican: Áp dụng tình thương bị coi là nhu nhược

Sự việc bùng nổ khi Tổng Thống Donald Trump công khai đả kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị chủ chăn người Mỹ đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo, dẫn dắt 1.4 tỷ tín đồ trên thế giới. Ông Trump gọi người đứng đầu giáo hội là “nhu nhược trước tội ác” và “tồi tệ cho chính sách đối ngoại.” Nguyên nhân của sự giận dữ này đến từ việc vị giáo hoàng kiên quyết phản đối cuộc chiến mà Mỹ và Israel khởi xướng nhằm vào Iran và lên án sự bạo lực “phi lý và vô nhân đạo.”

Đây là một sự tấn công không chỉ quá đáng mà còn mang đầy tính ngụy biện. Tổng Thống Trump dùng lăng kính của sức mạnh thế quyền với binh lực và địa chính trị để phán xét một sứ mạng tâm linh. Ông cáo buộc nhà lãnh đạo Công Giáo ủng hộ tội ác và để Iran có vũ khí nguyên tử, trong khi thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chỉ đang thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của ngài là rao giảng hòa bình theo đúng tinh thần Phúc Âm.

Không cần phải tỉnh táo mới nhận ra được rằng Vatican không hề sở hữu bất kỳ sư đoàn quân đội thiện chiến hay phi đoàn chiến đấu cơ siêu thanh, cũng như hạm đội hàng không mẫu hạm nào cả. Vũ khí duy nhất mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV có là tình thương, sự cầu nguyện, và lời Chúa trong Phúc Âm. 

Khi Tổng Thống Trump ngạo nghễ tuyên bố rằng nếu ông không ở trong Tòa Bạch Ốc thì Đức Giáo Hoàng Leo XIV không được ngự trị ở Vatican, ông đang bộc lộ một tư duy tự mãn với quyền lực cực đoan, coi cả thể chế tôn giáo lâu đời nhất thế giới như một thứ “vật tế thần” cho chính trị. Cần phải ghi nhớ rằng đối với Giáo Hội Công Giáo, việc bầu chọn được một vị giáo hoàng đều nhờ những bí tích và ân sủng của Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đáp trả một cách đầy điềm tĩnh nhưng kiên quyết rằng ông “không sợ hãi chính quyền Trump” và sẽ không ngừng loan báo thông điệp hòa bình. Phản đối chiến tranh là nghĩa vụ của con người, huống hồ là một giáo hoàng, người được gọi là “Tôi tớ của các tôi tớ Chúa.”

Trò hề biện minh “bác sĩ” và sự xói mòn chân lý

Đỉnh điểm của sự phạm thượng diễn ra vào tối Chủ Nhật, 12 Tháng Tư, đúng vào ngày lễ Phục Sinh của Chính Thống Giáo. Tổng Thống Trump tung lên mạng Truth Social của ông một bức ảnh AI khắc họa cảnh ông mặc áo choàng trắng và khăn quàng đỏ, một tay phát ra hào quang rực rỡ, tay kia đặt lên trán một người đàn ông nằm trên giường bệnh trong bệnh viện. Bối cảnh xung quanh là Tượng Nữ Thần Tự Do, các chiến đấu cơ, và những hình thù kỳ dị trong mây nhìn xuống.

Khi vấp phải làn sóng chỉ trích gay gắt, tổng thống Mỹ đưa ra một lời giải thích mang tính quanh co hèn nhát rằng đó chỉ là hình ảnh ông trong vai một “bác sĩ” giúp mọi người khỏe lại. Một sự ngụy biện dối trá trắng trợn. 

Bất kỳ ai có kiến thức cơ bản về hội họa tôn giáo đều thấy rõ bức ảnh này sao chép y hệt các điển tích về Chúa Giêsu chữa lành người mù và người đau yếu. Việc lồng ghép hình ảnh cá nhân vào một biểu tượng thánh thiêng nhất của Công Giáo rồi sau đó chối quanh co là một hành vi thiếu trung thực, phơi bày bản chất của một chính trị gia đang cố gắng thao túng đức tin của cử tri để đánh bóng cái tôi cá nhân.

Tiếng nói của sự tỉnh thức

Hành động này của ông Trump không chỉ khiến đối thủ chính trị phẫn nộ mà còn tạo ra một cơn địa chấn trong lòng giới bảo thủ tôn giáo, những người vốn là điểm tựa vững chắc nhất cho chiến thắng tranh cử của ông vào năm 2024. Lần này, sự im lặng không còn là vàng. Những nhân vật bảo thủ nổi tiếng đã phải lên tiếng bằng những ngôn từ nặng nề nhất như:

-Bà Megan Basham (Daily Wire): Cây viết Tin Lành bảo thủ nổi tiếng gọi đây là “sự báng bổ đầy phạm thượng ” (OUTRAGEOUS blasphemy). Bà yêu cầu ông phải cầu xin sự tha thứ từ Thiên Chúa ngay lập tức.

-Tác giả bảo thủ Rod Dreher khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, hành động của tổng thống Mỹ phơi bày tinh thần của kẻ phản Chúa” (radiating the spirit of Antichrist).

-Nhà hoạt động bảo thủ Riley Gaines, người thường xuyên được ông Trump khen ngợi, phải đặt câu hỏi: “Nghiêm túc mà nói, tôi không thể hiểu tại sao ông ấy lại đăng cái này… Thiên Chúa không để bị nhạo báng như thế.” Cô nhấn mạnh rằng một chút khiêm nhường sẽ giúp ích cho ông Trump vào lúc này.

-Mục sư Douglas Wilson, người đồng sáng lập giáo phái Calvin mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth là tín đồ, gọi bức ảnh là “báng bổ” và bày tỏ sự khó chịu trước việc ông Trump được tôn sùng như một “vị thánh của công chúng” (civic holy man) thông qua các nghi thức đặt tay cầu nguyện.

-Ông John Yep, nhà lãnh đạo tổ chức Catholics for Catholics, bày tỏ sự bàng hoàng và buồn bã khi chứng kiến vị tổng thống mà người Công Giáo bỏ phiếu bầu vang dội lại đối xử với đức tin thiêng liêng bằng sự thiếu tôn trọng đến vậy.

Sự thật là, mặc dù ông Trump nhận được 69% sự ủng hộ từ giới Tin Lành da trắng và 53% từ người Công Giáo, nhưng dữ liệu từ Pew Research cho thấy niềm tin vào đạo đức của ông đang ở mức thấp báo động khi chỉ có 40% người Tin Lành và 34% người Công Giáo tin rằng ông hành động có đạo đức khi tại chức. 

Việc nhắm mắt làm ngơ trước sự phạm thượng của một lãnh đạo chính trị chỉ vì những lợi ích trần thế là một sự ấu trĩ và mù quáng tâm linh đáng sợ. Những ai nhân danh tôn giáo nhưng lại chấp nhận kẻ tự phong mình là Chúa thực chất đang phản bội lại chính những lời dạy căn bản nhất của Kinh Thánh.

Thân phận bụi tro trước cuồng nộ thiên nhiên

Để hiểu rõ sự điên rồ của lòng kiêu ngạo, hãy nhìn vào thân phận con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Dù nhân loại có tự hào về sức mạnh nguyên tử với hàng ngàn giàn hỏa tiễn trị giá hàng tỷ đô la, chúng ta vẫn vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên. Trước một cơn siêu bão san phẳng các thành phố, một trận động đất làm rung chuyển địa cầu, hay một loại virus vô hình làm cả thế giới tê liệt, mọi quyền lực của Tòa Bạch Ốc hay Ngũ Giác Đài đều trở nên bất lực.

Trước thiên tai, ngay cả những người vô thần cũng phải cúi đầu nhận ra giới hạn của con người. Trong những giây phút sinh tử giữa bão tố hay dịch bệnh, phản xạ tự nhiên của con người là tìm một sự cứu rỗi vượt ra ngoài khả năng của bản thân. 

Đó là khoảnh khắc của sự thật, nơi mọi mặt nạ của quyền lực đều rơi xuống. Vậy thì, chỉ có những kẻ hoang tưởng hoặc mắc bệnh tâm thần chính trị mới dám ngạo nghễ tự họa mình trong hình hài của Đấng Tạo Hóa. 

Sự bất đối xứng giữa một thực thể bằng xương bằng thịt, sinh ra từ bụi đất và sẽ trở về với bụi đất, với Đấng Vĩnh Hằng là một sự xúc phạm đến trí tuệ của toàn nhân loại. Việc ông Trump để các cố vấn như bà Paula White so sánh ông với Chúa Giêsu bị phản bội là một trò hề lố lăng, phơi bày sự thiếu thốn nghiêm trọng về lòng khiêm nhường.

Bài học Babylon và sự phán xét

Bài viết này không phải để đánh tiếng kêu gọi quy phục tôn giáo mà là lời vạch trần sự nguỵ biện nhân danh tôn giáo nhưng không thực hành lời dạy về sự khiêm tốn. Sự mù quáng ủng hộ một cá nhân lộng ngôn, coi thường giáo tông và tự phong mình là Chúa là dấu hiệu của một sự suy đồi văn hóa và tâm linh sâu sắc.

Lịch sử Babylon trong Kinh Thánh dạy rằng, khi một vị vua bắt đầu tin vào hào quang tự tạo của chính mình, đó cũng là lúc ông bắt đầu con đường dẫn đến đồng cỏ của sự hạ nhục. 

Tổng Thống Donald Trump, với những bức ảnh AI đầy hào quang giả tạo, đang bước đi trên chính con đường đó. Sự phán xét của lịch sử thường không nằm ở những chiến thắng bầu cử nhất thời nhưng nằm ở thái độ khiêm nhu của một nhà lãnh đạo giữ lại được trước những giá trị vĩnh cửu.

Nếu ông Trump và những người ủng hộ ông không sớm tỉnh thức khỏi cơn mê hoảng tưởng này, thì “bài học Nebuchadnezzar” không chỉ là một câu chuyện trong Kinh Thánh cổ xưa. Đó sẽ là bản án thực tại cho bất kỳ kẻ nào dám dùng quyền lực trần thế để thách thức sự thiêng liêng trong đức tin của nhân loại. Hãy nhớ rằng, dù có là tổng thống của một siêu cường, con người vẫn chỉ là những lữ khách tạm bợ trên thế gian này. 

Kẻ nào tự nâng mình lên quá cao sẽ bị hạ xuống thấp nhất, đó là quy luật bất biến của cả thần đạo lẫn nhân đạo. [đ.d.]


 

Công nghệ: kẻ đào mồ hay vị cứu tinh của độc tài?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

14/04/2026

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin vào một quy luật gần như hiển nhiên: các chế độ độc tài sớm muộn sẽ thất bại. Lý do rất đơn giản để tồn tại, họ phải cấm đoán. Và khi cấm đoán quá nhiều, xã hội sẽ nghẹt thở, sáng tạo bị giới hạn, kinh tế trì trệ, thông tin bị bóp méo. Cuối cùng, chính sự kiểm soát thô bạo đó sẽ giết chết họ. Sự sụp đổ của Liên Xô và hàng loạt nước Đông Âu dường như đã xác nhận quy luật ấy. Tuy nhiên, thế giới vẫn còn nhiều nước độc tài.

Rồi Internet xuất hiện. Nhiều người tin rằng đây sẽ là “đòn kết liễu” cuối cùng cho độc tài. Thông tin sẽ lan truyền tự do, sự thật sẽ được phơi bày, và người dân, một khi biết sự thật, sẽ không còn chấp nhận bị cai trị bằng dối trá.

Nhưng thực tế đã rẽ theo một hướng hoàn toàn khác.

Không những không sụp đổ, một số chế độ độc tài, tiêu biểu là China, lại trở nên mạnh hơn, ổn định hơn và, ở một mức độ nào đó, hiệu quả hơn. Điều đã xảy ra không phải là cái chết của độc tài, mà là sự tiến hóa của nó.

Từ “cấm tất cả” đến “kiểm soát từng người”.

Độc tài kiểu cũ vận hành theo một logic đơn giản: cấm càng nhiều càng tốt. Cấm báo chí, cấm tự do ngôn luận, cấm đi lại, cấm suy nghĩ khác biệt… Đó là một hình thức kiểm soát “đại trà”, thô và tốn kém.

Nhưng chính sự thô đó là điểm yếu. Nhà nước không thực sự biết xã hội đang nghĩ gì, đang biến động ra sao. Khi khủng hoảng xảy ra, họ thường biết quá muộn.

Internet ban đầu là một mối đe dọa nghiêm trọng. Nó phá vỡ độc quyền thông tin, làm lộ ra những điều mà chế độ muốn che giấu. Nhưng thay vì chống lại một cách tuyệt vọng, Trung Quốc đã làm điều khác: họ thích nghi.

Hệ thống kiểm duyệt,  thường được gọi là “Vạn Lý Tường Lửa”, không nhằm mục tiêu chặn toàn bộ thông tin, mà là định hướng dòng chảy của thông tin. Những gì nguy hiểm thì bị chặn, những gì có lợi thì được khuếch đại. Một thực tế “được quản lý” dần hình thành, đồng thời tạo dựng cả những hệ thống sản xuất thông tin sai lệch(fake news).

Công nghệ: từ công cụ giải phóng thành công cụ kiểm soát.

Bước ngoặt thực sự không phải là Internet, mà là sự kết hợp giữa Internet với các công nghệ mới: dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo, nhận diện khuôn mặt, theo dõi hành vi.

Ngày nay, chính quyền có thể:

–    xác định một cá nhân đang ở đâu

–    theo dõi họ di chuyển như thế nào

–    biết họ giao tiếp với ai

–    phân tích hành vi và xu hướng của họ

Các hệ thống giám sát bằng camera ở Trung Quốc được cho là thuộc loại dày đặc nhất thế giới, với hàng trăm triệu thiết bị. Công nghệ nhận diện khuôn mặt cho phép nhận diện một người chỉ trong vài giây giữa đám đông.

Khái niệm “chấm điểm công dân”, dù còn nhiều tranh cãi về mức độ triển khai, phản ánh một xu hướng rõ ràng: hành vi của cá nhân có thể được lượng hóa và thưởng – phạt một cách hệ thống.

Nếu độc tài kiểu cũ giống như việc “đóng cửa cả căn phòng”, thì độc tài kiểu mới giống như gắn một cảm biến lên từng con người.

Xã hội cũng đã thay đổi.

Không chỉ công nghệ thay đổi, con người cũng thay đổi.

Trong thế kỷ XIX và XX, nhiều cuộc cách mạng được thúc đẩy bởi những tầng lớp nghèo nhất,  những người “không còn gì để mất”. Đói nghèo, bất công và bóc lột tạo ra áp lực bùng nổ.

Ngày nay, ở nhiều nơi(đặc biệt là tại Trung Quốc), đời sống vật chất đã cải thiện đáng kể. Một tầng lớp trung lưu lớn xuất hiện. Người trẻ quan tâm đến:

–    công việc

–    thu nhập

–    tiêu dùng

–    lối sống

Họ có nhiều thứ để mất hơn là để giành. Và khi phải lựa chọn, con người thường chọn ổn định hơn là đối đầu. Họ muốn tiêu dùng, hưởng thụ, và ngày càng ít quan tâm đến cái chung.

Con người hiện đại, ở một mức độ nào đó, cũng trở nên thực dụng và khép kín hơn.

Như vậy, kiểm soát không chỉ đến từ trên xuống, mà còn được “hỗ trợ” từ chính sự thay đổi trong tâm lý xã hội.

Một thách thức đối với dân chủ phương Tây.

Mô hình Trung Quốc đặt ra một câu hỏi khó chịu cho phương Tây: Liệu phát triển kinh tế có nhất thiết dẫn đến dân chủ?

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin rằng câu trả lời là “có”. Nhưng Trung Quốc dường như đang chứng minh điều ngược lại: một quốc gia có thể vừa tăng trưởng mạnh, vừa duy trì kiểm soát chính trị chặt chẽ hơn bao giờ hết.

Trong khi đó, các nền dân chủ phương Tây lại đang đối mặt với những khó khăn của chính mình:

–    Phân cực chính trị gia tăng

–    thông tin sai lệch lan rộng

–    mạng xã hội làm suy yếu niềm tin công cộng

Những hiện tượng như sự trỗi dậy của Viktor Orbán tại Hungary hay những biến động chính trị xoay quanh Donald Trump tại Mỹ cho thấy: dân chủ không phải là một hệ thống miễn nhiễm với khủng hoảng. Vẫn có dân chủ, nhưng cũng có khủng hoảng dân chủ.

Tệ hơn, chính tự do, nền tảng của dân chủ, đôi khi lại bị khai thác để làm suy yếu dân chủ.

Một nguy cơ lan rộng: độc tài không còn “xấu hổ”

Điều đáng lo ngại nhất không phải chỉ là việc Trung Quốc duy trì được chế độ độc tài, mà là họ đang biến nó thành một mô hình có thể xuất khẩu.

Nếu trước đây, độc tài gắn với nghèo đói và thất bại, thì ngày nay, mô hình Trung Quốc lại gắn với tăng trưởng, ổn định và hiệu quả. Điều đó tạo ra một sức hấp dẫn mới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển: tại sao phải chấp nhận những bất ổn của dân chủ, khi có một con đường khác “hiệu quả” hơn?

Nguy hiểm hơn, nếu mô hình này được coi là “thành công”, nó sẽ dần làm suy yếu một niềm tin nền tảng của thế giới hiện đại: rằng tự do và dân chủ là con đường tất yếu của phát triển. Khi niềm tin đó bị lung lay, dân chủ không chỉ bị thách thức từ bên ngoài, mà còn bị xói mòn từ chính bên trong.

Công nghệ đang đứng về phía ai?

Lịch sử từng cho thấy: kiểm soát quá mức sẽ giết chết một chế độ. Nhưng hiện tại cho thấy: với công nghệ, kiểm soát có thể trở nên tinh vi, hiệu quả và ít bị phản kháng hơn.

Nỗi lo lớn là: trong kỷ nguyên công nghệ, cán cân đang nghiêng về phía nào, tự do hay kiểm soát?

Và nếu cán cân đang nghiêng về phía kiểm soát, liệu các nền dân chủ có kịp thích nghi trước khi quá muộn?

Karl Marx từng tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại: chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh, tiến hóa để tồn tại và phát triển.

Chủ nghĩa cộng sản, với tư cách một lý tưởng, vẫn còn tồn tại. Nhưng những quốc gia mang danh cộng sản ngày nay, trên thực tế, đã không còn vận hành theo những nguyên lý đó, mà chủ yếu là các chế độ độc tài.

Phải chăng, độc tài cũng đang tiến hóa, không còn thô bạo như trước, mà tinh vi, hiệu quả hơn nhờ chính những tiến bộ của khoa học kỹ thuật? Tương lai của nó sẽ ra sao?

Ở bài này, tôi nói về Trung Quốc. Nhưng Việt Nam của chúng ta, ở nhiều khía cạnh, lại là một bản sao gần như nguyên vẹn của mô hình đó. Điều này, có lẽ, các bạn hiểu rõ hơn tôi.

Mời các bạn cùng suy nghĩ và bình luận.


 

MẢNG ĐÊM SỢ SÁNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng!”.

“Chúng ta có thể dễ dàng tha thứ cho một đứa trẻ sợ bóng tối, nhưng bi kịch thực sự của một cuộc đời là khi con người sợ ánh sáng!” – Platon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiếp tục cuộc đàm đạo giữa Nicôđêmô và Chúa Giêsu. Chủ đề ánh sáng chạm đến một điều nhức nhối: được tạo dựng cho ánh sáng – nhưng con người lại sợ ánh sáng; hay ít nữa, trong mình còn một ‘mảng đêm sợ sáng’.

Trong thần học Gioan, “đêm” không chỉ là thời điểm, nhưng là một tình trạng hiện sinh. Nicôđêmô không đơn thuần “đến ban đêm”; ông đến từ một không gian chưa được ánh sáng chạm tới. Với Éloi Leclerc, con người chỉ thực sự tồn tại trong chuyển động đưa nó lại gần ánh sáng; ngoài chuyển động ấy, nó chỉ còn là một “mảng đêm”. Ánh sáng vì thế không chỉ để nhận biết, nhưng là chuyển động để bước vào; từ chối chuyển động ấy, con người không mất đi sự sống, nhưng sống trong một tình trạng bất toàn.

“Người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng!”. Đó không chỉ là một nhận định, nhưng là lựa chọn của mỗi người. Ánh sáng không bị từ chối vì xa lạ, nhưng vì nó phơi bày; và khi bị phơi bày, con người khựng lại. Nó không chọn bóng tối cách dứt khoát, nhưng cũng không đi trọn về phía ánh sáng; nó dừng ở lưng chừng, giữ mình trong một khoảng an toàn mong manh; chính ở đó, sự cao cả không bị đánh mất, nhưng bị giữ lại; một đời sống không tối hẳn, cũng không sáng trọn – trong mình còn một khoảng tối sợ sáng. “Chúng ta không chỉ là tốt hay xấu; chúng ta vừa bị tổn thương vừa được chúc phúc!” – Henri Nouwen.

Vậy mà con người không tự mình thoát ra khỏi khoảng tối ấy. Ánh sáng không chỉ là điều để hướng tới, nhưng là một sức lôi kéo. “Không ai có thể đến với Ta nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy”; nemo venit nisi tractus. Vì thế, đi về phía ánh sáng không khởi đi từ nỗ lực của con người, nhưng từ sức hút âm thầm của ân sủng. “Đừng nghĩ mình bị lôi kéo cách miễn cưỡng; linh hồn được lôi kéo bằng tình yêu!” – Augustinô. Không được cuốn hút về Chúa Kitô, con người có thể biết ánh sáng, nói về ánh sáng, nhưng vẫn không bước vào; và khi đó, sự cao cả nơi nó không mất đi, nhưng bị giữ lại trong một hiện hữu bất toàn.

Anh Chị em,

Chính ở đây, Ánh Sáng có một khuôn mặt: Chúa Kitô! “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”; Ánh Sáng không còn là một nguyên lý, nhưng là một Đấng được trao ban. Nơi Ngài, Ánh Sáng không chỉ soi tỏ, nhưng hiến mình; không chỉ phơi trần, nhưng cứu độ. “Chúa Giêsu đến để cứu rỗi, chứ không phải để kết án; với hy sinh trên thập giá, Ngài bày tỏ dung mạo yêu thương của Thiên Chúa!” – Bênêđictô XVI. Tuy nhiên, quà tặng ấy không cưỡng bách. Con người có thể bước vào, cũng có thể khước từ. Nhưng khi bước đi trong Ngài, nó không còn là một ‘mảng đêm sợ sáng’; vì ánh sáng không chỉ ở trước mặt, nhưng ở trong nó.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bồng bềnh ở lưng chừng giữa tối và sáng; xin lôi con ra khỏi ‘mảng đêm’ của mình, để con bước đi trong Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần II Phục Sinh

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 3,16-21

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. 19 Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. 20 Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. 21 Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” 


 

Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì?- Cha Vương

Xin Chúa ban muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình để bạn luôn ao ước những gì thuộc về Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé?

Cha Vương

Thứ 3: 14/04/2026.  (n26-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nghĩa là Chúa Giêsu, một người trong chúng ta đã về lại nhà với Thiên Chúa Cha và ở lại đó muôn đời. Nhờ Chúa Giêsu mà Thiên Chúa ở gần loài người chúng ta trong cách thức loài người. Và trong Phúc Âm Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). (YouCat, số 109)

SUY NIỆM: Trong Tân ước, việc Chúa về trời chấm dứt giai đoạn bốn mươi ngày được đánh dấu bằng việc Đấng đã sống lại ở gần gũi với các môn đệ. Cuối giai đoạn này Chúa Giêsu đi vào trong oai nghi của Thiên Chúa với toàn bộ nhân tính của mình. Kinh Thánh thuật lại bằng những hình ảnh tượng trưng có “mây”, có “trời”. Như Đức Bênêđictô XVI nói: “Con người có được chỗ trong Thiên Chúa”. Chúa Giêsu Kitô bây giờ ở với Chúa Cha, từ đó một ngày kia Người đến “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúa Giêsu về trời có nghĩa là Chúa Giêsu không còn là hữu hình ở dưới đất, nhưng lại vẫn luôn có mặt dưới đất. (YouCat, số  109 t.t.)

LẮNG NGHE: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. (Cv 1,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa dạy con: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3) Xin đừng để những bận tâm thế tục làm con xao xuyến và lo âu nhưng giúp con biết can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương và chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con có được chỗ ở trong Thiên Chúa. 

THỰC HÀNH: Môi trường gia đình là trường học dạy về đức tin và yêu thương, đó cũng là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Hôm nay mời bạn hãy trở thành một chứng tá cho đức tin, cho tình yêu xả kỷ của mình ngay trong gia đình bằng những hy sinh nho nhỏ, rộng lượng chia sẻ, và xây dựng một mái ấm hạnh phúc trong Chúa Ki-tô phục sinh nhé.

From: Do Dzung

*****************************

Hy Lễ Cuối Cùng – Nguyễn Hồng Ân

Tại sao Hungary và Ba Lan?- Nguyễn Thọ

Ba’o Tieng Dan

14/04/2026

Nguyễn Thọ

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành việc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

_____

[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.


 

CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT

Kim Ha

CN 8703: CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT (1)

Sáng hôm nay, có hai người bạn báo tin cho tôi về cái chết của chị Maria Thoa. Tôi giật mình vì không ngờ chị Thoa đã qua đời. Tôi bèn lên mạng email báo tin cho mọi người trong Huynh Đoàn.

Thật sự không ai có thể ngờ được là chị Thoa ra đi nhanh chóng như thế. Tôi xin tổng hợp nguồn tin do 3 người kể lại:

Tối Thứ Năm 9/4 vừa qua, chị Thoa đi đến nhà thờ nghe cha Hy giảng phòng. Vì bãi đậu xe có quá nhiều xe nên cô bạn phải lái xe đi đậu xe xa hơn ngày thường. Sau đó, chị Thoa kể với một người bạn trong Huynh Đoàn vào ngày Thứ Sáu là vì chị phải đi bộ xa nên rất mệt. Thế rồi chị bịnh cả 3 ngày sau đó.

Tin cuối cùng là chị chết khoảng 11:30 g tối ngày Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót, ngày 12/4/2026. Văn phòng Pháp Y khám nghiệm tử thi của chị và theo dõi điện thoại cầm tay của chị. Họ khám phá ra rằng lúc 11:30 giờ khuya 12/4/2026 thì chị còn nghe một đài radio Công Giáo online.

Có thể chị đã chết vào lúc 11:30g đêm 12 tháng 4 năm 2026 vì bị máu nhồi cơ tim. Dù sao cũng chưa có tin tức chính xác.

Chị Thoa là người quảng đại trong việc tông đồ và bác ái. Chị cũng ở trong hội đoàn Legio Maria nên ai ai cũng thương mến chị. Chị luôn xướng kinh trong Zoom của Huynh Đoàn Đa Minh. Tính tình chị hiền hoà. Chị ngoan đạo và sốt sắng cầu nguyện.

Điều đặc biệt và hạnh phúc nhất là chị chết vào đúng ngày Đại Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót, sau khi chị được nhận lãnh Ơn Toàn Xá của Chúa Lòng Thương Xót ban cho.

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Giờ đây chắc chị đã gặp Chúa và Thánh Gia trên Thiên Đàng. Chị đã gặp lại chồng, cha mẹ và anh chị em trong gia đình.

Tôi nghĩ chị được ơn chết lành và chết nhanh chóng mà không phải nằm trên giường trong nhiều năm tháng.

Chị hạnh phúc vì được chết trong mùa Phục Sinh, trong ngày Đại Lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Chị Thoa ơi, xin chị nghỉ yên bên Chúa! Xin chị cầu bầu cho gia đình của chúng em nhé! RIP.

Xin cả nhà đọc cảm nghiệm của chị mà tôi đã viết vào ngày 30/11/2021, cách đây 4 năm rưỡi. Đó là cảm nghiệm 5050 dưới đây:

Kim Hà,

13/4/2026

Hình: Kim Hà thăm chị Thoa Nguyễn trong bịnh viện


 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ. 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1) 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài? 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu. 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình! 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm. 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ – dĩ nhiên là với ý tốt – thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.” 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta – những người đầy thiện chí – vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng. 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế? 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Mỹ chuẩn bị xét hoàn thuế do tổng thống Trump áp đặt (RFI)

 (RFI)

Ngày 10/04/2026, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ (CBP) thông báo bắt đầu chấp nhận đơn đề nghị hoàn trả thuế kể từ ngày 20/04. Đây là giai đoạn 1 trong tiến trình hoàn trả thuế mà các nhà nhập khẩu Mỹ đã phải thanh toán theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) do chính quyền của tổng thống Trump áp đặt. Vào tháng 02/2026, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA.

Đăng ngày: 12/04/2026  

 Kiểm tra đồng đô la Mỹ tại một ngân hàng ở Hà Nội, Việt Nam. Ảnh chụp ngày 12/08/2015 REUTERS/Kham

Thu Hằng

Theo trang NHK của Nhật Bản, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ cho biết họ sẽ đơn giản hóa quy trình hoàn trả vì dự đoán sẽ tiếp nhận một số lượng lớn đơn. Trong giai đoạn 1, cơ quan này sẽ chỉ xử lý hồ sơ liên quan đến một số lô hàng chưa được thông quan và những lô hàng mới được thông quan trong vòng 80 ngày trở lại đây. “Các trường hợp [nhập khẩu] phức tạp hơn” sẽ được xử lý trong các giai đoạn sau.

Theo ước tính, đến ngày 04/03, khoảng 166 tỷ đô la tiền thuế nhập khẩu đã được chính quyền Trump thu theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA).

Vào tháng Hai, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng tổng thống Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA. Một tháng sau, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền bồi hoàn cho các nhà nhập khẩu số tiền thuế quan này.

Để đáp trả phán quyết của Tòa án Tối cao, chính quyền đã áp thuế 10% trong 150 ngày đối với nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, dựa trên một đạo luật riêng.


 

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; – Cha Vương

Hôm nay Lễ Chúa Chiên Lành và cũng là ngày cầu nguyện cho ơn gọi. Xin bạn hãy tiếp tục cầu nguyện cho các linh mục và nam nữ tu sĩ của Chúa nhé. Thành thật đa tạ!

Cha Vương

Thứ 2: 13/04/2026. (cn21-24)

TIN MỪNG: Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)

SUY NIỆM: Bạn không cần đi đâu xa, ngay trong môi trường sống của bạn bây giờ đang có những tiếng ồn ào náo nhiệt làm bạn mệt mỏi nhức cả đầu. Đúng là cuộc đời vốn luôn ồn ào náo nhiệt trong mọi nơi mọi lúc nếu bạn không biết tự chọn cho mình một nơi thanh vắng để lắng nghe tiếng Chúa. Điều đáng buồn cho con người trong thế giới hôm nay là dường như họ đang mất định hướng trong thế giới náo nhiệt. Họ rơi vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng nhưng rồi con người dường như không bao giờ hạnh phúc trong lợi thú khi họ vất vả tìm kiếm, và càng không có bình yên trong thế giới đầy bon chen tranh giành để sống. Vậy làm sao con người có thể thoát ra được thế giới ồn ào náo nhiệt này? Giải pháp hữu hiệu nhất là bạn phải dành một ít thời gian để lắng lòng, để nhận biết tiếng gọi Đức Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành. Khi bạn có Chúa là trung tâm của cuộc đời mình, bạn có thể nhìn thấy Chúa trong mọi sự. Một khi bạn nhìn thấy Chúa trong mọi sự rồi thì những tiếng động sẽ không làm bạn nhức cả đầu nữa.  Mình mời bạn hãy tặng cho chính mình mỗi ngày một vài phút cô tịch để đọc Lời Chúa nhé. Đọc Lời Chúa để nghe và nhận ra tiếng thì thầm của Thiên Chúa đang ngỏ lời với bạn: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta”(Ga 10,27-30)

LẮNG NGHE: Nghe thế, họ đau đớn trong lòng và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con người đang lạng lõng giữa muôn vàn âm thanh trong thế giới ồn ào, xin giúp con luôn chọn Chúa để được bước đi trong bình yên và hạnh phúc.

THỰC HÀNH: Thực hiện liệu pháp “2 Không” để sống bình an và hạnh phúc:

(1) Không để người khác cướp mất bình an của mình.

(2) Không để sự bình an của mình bị lệ thuộc vào cảm xúc, ồn ào, xôn xao, bàn tán, thì thầm của người khác.

From: Do Dzung

********************************

Chúa Chăn Nuôi Tôi – Nguyễn Hồng Ân

GIÓ – KHÔNG THỂ NẮM-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Gió muốn thổi đâu thì thổi!”.

“Thần Khí hành động nơi Ngài muốn, không theo điều con người định liệu!” – Tôma Aquinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến Thần Khí – tựa như gió – điều mà Nicôđêmô không thể hiểu, vì ông vẫn muốn nắm lấy điều không thể, ‘gió – không thể nắm’.

Nicôđêmô không phải là người thiếu kiến thức, nhưng là người đã biết quá rõ theo cách của mình. Khi nghe nói phải “sinh lại”, ông lập tức tìm một con đường có thể trở lại, một cách để quay về điểm khởi đầu: “Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”. Nhưng điều Chúa Giêsu nói không thuộc về những gì con người có thể lặp lại, nhưng là một khởi đầu phải được đón nhận. Và ông dừng lại ở đó. Cũng có khi, nơi chính hành trình của mình, chúng ta không thiếu ánh sáng, nhưng vẫn dừng lại; vì điều được nói ra vượt khỏi những gì chúng ta có thể chạm tới. “Nếu bạn nghĩ mình đã hiểu, thì đó không phải là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Chúa Giêsu không giải thích theo cách Nicôđêmô chờ đợi, nhưng mở ra một chiều kích khác: spiritus ubi vult spirat – gió muốn thổi đâu thì thổi. Thần Khí không đi theo lộ trình của con người, không khởi đi từ những gì con người có thể định liệu; Ngài đến và đi, vượt khỏi mọi dự tính. Vì thế, “sinh lại” không còn là một hành trình con người có thể quay lại hay lặp lại, nhưng là một biến cố xảy đến; không phải là điều có thể đạt được, nhưng là điều con người được dẫn vào. Chính ở đó, con người nhận ra một điều rất quen mà lại rất khó, đó là những thực tại không thể làm chủ; gió vẫn thổi, nhưng không ai giữ lại được – ‘gió, không thể nắm’.

Điều Nicôđêmô đón nhận trong cuộc gặp gỡ ấy không phải là một lời giải thích trọn vẹn, nhưng là một hướng mở ra: “Con Người sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. Không phải một cái nhìn đứng ngoài, nhưng là bắt đầu đi vào mầu nhiệm; không phải cố hiểu cho xong, nhưng dám ở lại trước điều vượt quá mình, để trong đó sự sống mới được khai mở. Và rồi, khi đứng dưới thập giá, đón lấy thân xác Chúa Giêsu để mai táng, Nicôđêmô bước vào điều đã được nói ra từ trước: “sinh lại” không phải là quay về điểm khởi đầu, nhưng là đi qua thập giá; điều tưởng như kết thúc lại trở thành khởi đầu; sự sống được trao ban. Chính trong tử nạn của Đức Kitô, con người được sinh ra từ trên.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “sinh lại” không còn là lời nói, nhưng là một thực tại. Ngài không chỉ nói về Thần Khí, nhưng trao Thần Khí và chính sự sống của Ngài; không chỉ được giương cao, nhưng đi đến tận cùng của trao hiến trên thập giá. Vì thế, được sinh ra từ trên không phải là đứng ngoài để hiểu, nhưng là được kéo vào chính chuyển động ấy: thông phần vào cuộc sinh nở của Đấng Cứu Chuộc, nơi tình yêu tự hiến đến tận cùng trở thành nguồn mạch của sự sống. “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết buông những hiểu biết của mình, để phó mình cho Thánh Thần tự do!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần II Phục Sinh

Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 3,7b-15

7b Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng : “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. 8 Gió muốn thổi đâu thì thổi ; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”

9 Ông Ni-cô-đê-mô hỏi Người : “Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được ?” 10 Đức Giê-su đáp : “Ông là bậc thầy trong dân Ít-ra-en, mà lại không biết những chuyện ấy ! 11 Thật, tôi bảo thật ông : chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. 12 Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được ? 13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.”