SỢ MẤT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!”. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì ‘được đặt’ dưới giường, ‘được che’ cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. ‘Sợ mất’ sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất’ các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất’ quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.

Vậy mà “sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn – bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì ‘sợ mất’, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”. Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” – Henri Nouwen.

Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” – Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.

Anh Chị em,

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”. Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó – hiến trao – sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” – Morgan Freeman. Nếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần III Thường Niên

Mang đèn tới để đặt trên đế. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong đấu ấy cho anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,21-25

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường ? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao ? 22 Vì chẳng có gì che giấu mà không được tỏ lộ, chẳng có gì bí ẩn mà không được đưa ra ánh sáng. 23 Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”

24 Người nói với các ông : “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa. 25 Vì ai đã có, thì được cho thêm ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.”


 

BỨC THƯ CỦA MỘT BÀ MẸ TỪ VIỆN DƯỠNG LÃO

Xuyên Sơn

Năm nay tôi 82 tuổi, tôi có 4 người con, 11 đứa cháu, và 2 chắt, hiện tại thì tôi đang sống trong một căn phòng rộng chừng 12m vuông..

Bây giờ nhà cửa không còn, những thứ xa hoa phù phiếm cũng không có, bù lại tôi được chăm sóc tận tình từ A đến Z; có người lo dọn dẹp phòng, chăn drap gối nệm sạch sẽ, cơm nước được lo tận nơi, mỗi ngày được đo huyết áp và cân đo thường xuyên, nói chung tôi không làm gì cả, mỗi giờ trôi đi là sự hưởng thụ trong tuổi già.

Tôi rất nhớ! Nhớ tiếng cười đùa của lũ cháu, tôi không còn thấy chúng lớn tiếng cãi vã rồi vật nhau.

Không còn được là trọng tài để phán xử đứa nào đúng, đứa nào sai.

Nhớ chúng nhiều lắm.

Tôi thèm được trở về nơi chốn cũ để tận hưởng không gian ấm áp của một thứ gọi là gia đình…

Bây giờ các con tôi, có đứa thì cách 15 ngày đến thăm tôi một lần, có đứa thì ba bốn tháng mới thấy chúng một lần, và có đứa thì chưa thấy mặt nó một lần kể từ khi tôi đến ở Viện Dưỡng Lão này.

Tôi nhớ da diết căn bếp ấm cúng của tôi, nơi đó tôi đã làm đủ các loại bánh, mùi bánh nướng thơm ngậy vẫn còn lưu giữ trong tiềm thức của tôi.

À, còn mảnh vườn sau nhà nữa, đào xới đất để trồng rau, trồng hoa cũng một tay tôi dù lúc đó tôi cũng không còn khoẻ.

Giờ thì mất hết rồi!

Tôi có sở thích đọc sách, giờ vẫn luôn có cuốn sách bên mình nhưng tôi không đọc được vì mắt đã mờ…

Tôi không biết thời gian của tôi còn bao lâu nữa, còn bao lâu thì tôi cũng phải sống trong sự cô đơn và chờ đợi…

Ở căn phòng này xem như ngôi nhà cuối đời của mình, tôi cố gắng xua đuổi nỗi buồn trong sinh hoạt hằng ngày, tôi như một nhóm trưởng,

tôi giúp những người tồi tệ hơn tôi trong giới hạn cho phép của tôi qua những mẫu chuyện vui trong sách, những lời an ủi cho họ và cho chính tôi.

Chúng tôi hát cùng nhau một bài hát cũ, và hôm sau tôi biết được người bạn phòng bên đã ra đi mãi mãi…

Họ nói bây giờ tuổi thọ kéo dài hơn.

Tại sao?

Tôi phải sống trong nỗi cô đơn dài nữa ư?

Lấp đầy sự trống trải bằng cuốn Album hình mà tôi đem theo đến đây. Hình cưới ngày xưa của tôi, hình lúc tôi sanh đứa đầu đến đứa cuối, hình tôi cười sung sướng khi ẵm đứa cháu đầu lòng, rồi đứa chắt bụ bẫm bên bà già đã đầy nếp nhăn.

Hình gia đình đầy đủ, hình lúc ông chồng già của tôi bỏ tôi đi mà về với Chúa.

Và đó là tất cả!

Nếu được mơ ước thì tôi mong các con, cháu, chắt của tôi đừng bao giờ quên hai chữ “GIA ĐÌNH” ngay cả khi cha mẹ về già, các con nên xem đó là bổn phận phải chăm lo khi họ không tự lo được cho mình…

Tôi hy vọng các thế hệ tiếp theo sẽ hiểu rằng Gia Đình là một Đại Gia Đình gồm nhiều thế hệ, gọi là sóng sau dồn sóng trước, như một chu kỳ tuần hoàn vì ai rồi cũng đến “sanh lão bệnh tử”…

Các con hãy chăm lo tốt cho cha mẹ khi họ về già… cũng giống như khi họ còn trẻ lo cho các con là chúng ta vậy…

Chi Nguyen sưu tầm

Ảnh st minh họa cho bài.


 

NGƯỜI KHÔN HIẾM KHI NÓNG NẢY: BẢN LĨNH CỦA SỰ TĨNH LẶNG VÀ NGHỆ THUẬT QUẢN TRỊ TÂM THẾ

Gieo Mầm Ơn Gọi 

Lm. Anmai, CSsR

Trong hành trình tu dưỡng của một đời người, có lẽ bài học khó khăn nhất không nằm ở việc chinh phục thế giới bên ngoài, mà chính là cuộc trường chinh chinh phục những cơn bão lòng. Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, nhưng thực tế, người khôn ngoan là kẻ biết rèn giũa bản tính ấy qua sự mài lỳ của lý trí. Họ hiếm khi nóng nảy, không phải vì họ mang trong mình một trái tim hóa đá hay một tâm hồn vô cảm trước những nghịch cảnh, mà bởi họ đã đi qua đủ những đổ vỡ để hiểu rằng: Cái giá của một phút “sướng miệng” thường là những năm tháng hối hận dài đằng đẵng. Sự nóng nảy, xét cho cùng, là một loại chất độc mà ta tự uống nhưng lại mong người khác phải chết.

Sự nóng nảy không bao giờ là biểu tượng của sức mạnh, dù đôi khi nó mang một lớp vỏ bọc đầy uy lực bằng những tiếng quát tháo hay những lời nhục mạ. Ngược lại, khi ta nổi giận, đó là lúc ta đang phơi bày toàn bộ sự bất lực của mình trước thực tại. Người khôn ngoan hiểu một chân lý sắc lạnh: Nóng nảy không làm mình mạnh hơn, nó chỉ giúp người khác nhìn thấu điểm yếu của mình. Khi bạn nóng giận, bạn đánh mất khả năng kiểm soát tình hình và trao quyền điều khiển cảm xúc của mình vào tay kẻ đối diện. Một người làm chủ được cơn giận là một người cầm lái chắc chắn nhất cho con tàu cuộc đời mình, họ không để những cơn sóng dữ cuốn phôi đi lý trí và những thành quả đã dày công xây dựng.

Chính vì hiểu rõ quy luật đó, người khôn chọn cách im lặng. Sự im lặng của họ không phải là sự hèn nhát, không phải là sự trốn tránh hay cam chịu, mà là một sự chọn lọc có ý thức. Họ hiểu rằng có những cuộc cãi vã mà thắng lợi cũng chỉ là một đống tro tàn của các mối quan hệ. Thắng một người thân để rồi mất đi tình cảm, thắng một người đồng nghiệp để rồi tạo ra kẻ thù, thắng một người lạ để rồi rước lấy sự mệt mỏi – những chiến thắng ấy thực chất là những thất bại thảm hại nhất. Họ biết buông đúng lúc để không tự phá nát cuộc đời mình chỉ vì một phút hơn thua vụn vặt.

Lời nói khi đã phát ra, giống như bát nước hất đi, không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn. Người khôn ngoan luôn khắc cốt ghi tâm rằng: Có những lời xin lỗi dù chân thành đến đâu cũng không thể xóa nhòa vết sẹo mà sự nóng nảy đã khắc lên trái tim người khác. Một chiếc đinh đóng vào tường rồi nhổ ra vẫn để lại lỗ thủng, một lời mạt sát nói ra rồi rút lại vẫn để lại nỗi đau thầm kín. Do đó, họ học cách “nhẫn tâm” với chính những cơn bốc đồng của mình. Họ kiềm tỏa nó, bóp nghẹt nó từ khi nó còn là một đốm lửa nhỏ trong tâm trí, không để nó bùng lên thành đám cháy thiêu rụi cả rừng xanh công đức và nhân cách.

Biết khi nào nên im lặng, biết khi nào nên quay lưng, đó chính là đỉnh cao của sự trưởng thành. Người càng từng trải càng ít nói, không phải vì họ nghèo nàn vốn từ hay không còn gì để chia sẻ, mà vì họ đã thấu hiểu giá trị của sự thinh lặng. Họ nhận ra rằng ngôn từ nếu không làm cho thế giới tốt đẹp hơn thì tốt nhất nên được giữ lại trong lòng. Họ dành thời gian để quan sát, để thấu hiểu và để cảm thông thay vì phán xét hay đáp trả bằng sự hung hãn. Họ hiểu rằng trong cuộc đời này, giữ được cái tâm bình thản giữa muôn vàn biến động mới là cách tốt nhất để giữ được cả cuộc đời.

Sự tỉnh thức trong từng hơi thở, sự chậm lại trong từng phản ứng là minh chứng cho một nội lực thâm hậu. Khi ta không còn bị chi phối bởi những kích động bên ngoài, khi ta có thể mỉm cười trước những lời khiêu khích, đó là lúc ta thực sự tự do. Người khôn ngoan biến sự nóng nảy thành sự nhẫn nại, biến sự bốc đồng thành sự thâm trầm. Họ xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng của sự điềm tĩnh, bởi họ biết rằng một tâm hồn tĩnh lặng là một hồ nước trong vắt, nơi mà chân lý và hạnh phúc có thể soi bóng rõ ràng nhất. Cuối cùng, bản lĩnh của một con người không được đo bằng việc họ đã hạ gục bao nhiêu người, mà được đo bằng việc họ đã chế ngự được chính mình bao nhiêu lần trước những cơn bão giận.

Lm. Anmai, CSsR


 

THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:
  – Thiên Chúa là gì? 

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy. 

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời. 

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

 Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:
  – Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới. 

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:  – Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

 Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:
  – Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

 Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó. 

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
  – Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
  – Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

 Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn. 

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

  – Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:
  – Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả. 

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:
  – Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng. 

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:
  –   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

 Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:
  –  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”. 

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa. 

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo. 

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay 27/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/01/2026. (t2-25)

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la  mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la  biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

    Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

    Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

    Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

    Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

    Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la  là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

     Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

    Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

 (Nguồn: Dòng Tên) Mời bạn suy niệm 3 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hoại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si). 

From: Do Dzung

*************************

Nguyện cầu – Nguyễn Hồng Ân (Sáng tác Lm. Thành Tâm)

NAY VẬY, MAI KIA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người gieo giống đây là người gieo Lời!”.

“Tiến triển là không thể nếu không thay đổi, và những ai không thể đổi tư duy thì không thể thay đổi bất cứ điều gì!” – Bernard Shaw.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, không thể sinh hoa kết trái nếu không có biến chuyển; hạt Lời chỉ lớn lên khi cách nghĩ của lòng người chịu đổi thay – một lòng người ‘nay vậy, mai kia!’.

Dụ ngôn không chỉ hỏi bạn đang là loại đất nào, mà sâu xa hơn: đất ấy “đang trở thành gì?”. Không đất nào sinh ra đã là đất tốt; chỉ có những mảnh đất “đang được biến đổi – hoặc đang bị bỏ mặc!”. Bốn loại đất không là bốn hạng người cố định, mà là bốn trạng thái có thể luân chuyển – ‘nay vậy, mai kia’ – trong cùng một con người! Nay, vệ đường – nghe mà không dừng lại; mai, sỏi đá – hứng khởi nhưng không bám rễ; rồi thành gai góc – đời sống bóp nghẹt; và cũng có lúc là đất tốt. Vì thế, trọng tâm không phải là, “Tôi, loại đất nào?” mà là “Tôi đang để mình trôi về hướng nào?”.

Tiếp đến, hạt giống không đổi; chỉ có “độ mở” lòng người đổi. Vấn đề không nằm ở sức sống của Lời, mà ở “độ rộng” của tim! Không vì Lời yếu, mà vì con tim có thể khép lại theo nhiều cách rất tinh vi – dửng dưng, nông cạn, hoặc bận rộn cùng những lo lắng trông có vẻ rất “chính đáng”. Và chúng có thể trở thành những “lực kéo” quen thuộc kéo đời sống chúng ta xuống bởi quá nhiều thứ phải lo. Vì thế, Lời không chết vì bị chống đối, mà vì bị đặt sau quá nhiều ưu tiên khác! Bạn không thể làm nên việc lớn nếu bị phân tâm bởi những việc nhỏ. “Nơi bạn dồn sự chú ý là nơi bạn dành thời gian theo đuổi!” – Idowu Koyenikan.

Vậy mà người gieo cứ gieo, không dò đất, không chọn chỗ, và không ‘sẻn so’ hạt giống. Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta là đất tốt; nhưng Ngài gieo vì tin đất “có thể hoá tốt”. Điều đó mở ra một chân trời hy vọng cho mỗi người, và một cái nhìn bao dung với người khác – hôm nay, vệ đường; mai kia, đất tốt – và Thiên Chúa vẫn không ngưng gieo. Vậy điều quan trọng không phải là tôi đã từng thế nào, mà là hôm nay tôi có cho phép Lời “ở lại?”. “Cách duy nhất để hiểu được sự thay đổi là đắm mình vào nó, hoà nhịp và cùng nhảy!” – Alan Watts.

Anh Chị em,

Giữa những đổi thay của lòng người, “Chúa Kitô vẫn là một – hôm qua cũng như hôm nay!”. Nơi Ngài, không có “lưỡng lự”, không có “có lẽ”, không có “để sau”, chỉ một tiếng “có” trọn vẹn dành cho Chúa Cha và cho con người. Vì thế, dù chúng ta “khép mở thất thường”, Ngài vẫn nhẫn nại gieo; dù chúng ta té lên ngã xuống, Ngài không mệt mỏi tha, và không thôi yêu thương. Chúng ta chậm, Ngài đợi; chúng ta lạc, Ngài dẫn về. Chính sự trung tín không đổi ấy bảo đảm cho ngày mùa cứu rỗi: không vì bạn và tôi luôn là đất tốt, nhưng vì đã để cho Ngài ở lại, cày xới, và biến đổi. “Đổi suy nghĩ, và bạn sẽ đổi thế giới!” – Vincent Peale.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những lối quanh co, Chúa đã chờ con; qua biến cố lớn nhỏ, Chúa đã gọi con; cho con bớt thất thường để trung thành với những chọn lựa lặng lẽ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần III Thường Niên

Người gieo giống đi ra gieo giống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,1-20

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống ngồi trên thuyền đang đậu dưới biển, còn tất cả dân chúng thì ở trên bờ. 2 Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ :

3 “Các người nghe đây ! Người gieo giống đi ra gieo giống. 4 Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả. 8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả : hạt được ba chục, hạt được sáu chục, hạt được một trăm.” 9 Rồi Người nói : “Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”

10 Khi còn một mình Đức Giê-su, những kẻ ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai mới hỏi Người về các dụ ngôn. 11 Người nói với các ông : “Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em ; còn với những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn, 12 để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.”

13 Người còn nói với các ông : “Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn ? 14 Người gieo giống đây là người gieo Lời. 15 Những kẻ ở bên vệ đường, nơi Lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến lấy đi Lời đã gieo nơi họ. 16 Còn những kẻ được gieo trên nơi sỏi đá là những kẻ khi nghe Lời thì liền vui vẻ đón nhận, 17 nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời ; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, họ vấp ngã ngay. 18 Những kẻ khác là những kẻ được gieo vào bụi gai : đó là những kẻ đã nghe Lời, 19 nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. 20 Còn có những người được gieo trên đất tốt : đó là những kẻ nghe Lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ được ba chục, kẻ được sáu chục, kẻ được một trăm.”


 

Bắn chết người gần Little Saigon, trốn về Việt Nam, nghi can gốc Việt bị giải về Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Lê Việt Quốc Bảo, 21 tuổi, bị tình nghi bắn hai thiếu niên ở Stanton, California, làm một người chết và một bị thương nặng, sau đó trốn về Việt Nam, rồi bị bắt và bị giải giao về Mỹ hôm 21 Tháng Giêng, theo Văn Phòng Biện Lý Orange County (OCDA) cho biết hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng.

Nghi can đang bị giam tại nhà tù Orange County và sẽ bị truy tố tội giết người và âm mưu giết người.

Nghi can Lê Việt Quốc Bảo. (Hình: OCDA)

Ngoài ra, còn có hai nghi can gốc Việt khác trong án mạng này là Danny Huỳnh và Troy Quang Lư cũng bị giam ở nhà tù quận hạt.

Theo OCDA, nghi can Lê Việt Quốc Bảo bị tố cáo là một trong năm đồng phạm và là một trong hai người nổ súng bắn chết em Samuel Vidal, 15 tuổi, cư dân San Bernardino, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025.

Sự việc xảy ra vào khoảng 2 giờ trưa ở khu nhà có dãy số 11000 đường Court, giữa đường Beach với trường trung học Rancho Alamitos High School.

Bốn ngày sau, nghi can gốc Việt trốn về Việt Nam, FBI được xác nhận với sự trợ giúp của cơ quan điều tra phía Việt Nam.

Bắt đầu từ Tháng Mười, 2025, FBI, cùng với sự trợ giúp của Sở Cảnh Sát Orange County và đơn vị điều tra tội phạm của Biện Lý Cuộc Orange County, bắt đầu cuộc truy lùng quốc tế đối với nghi can Lê Việt Quốc Bảo.

Theo yêu cầu của FBI, an ninh Việt Nam bắt Lê Việt Quốc Bảo, rồi Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại Giao Việt Nam tiến hành giải giao nghi can về Mỹ.

Ngày 21 Tháng Giêng, nghi can Lê Việt Quốc Bảo được đưa lên máy bay về Mỹ và đưa vào nhà tù Orange County qua sự phối hợp của nhiều cơ quan liên bang và địa phương.

Nghi can Ali Ibrahim Alsouqi. (Hình: OCDA)

Hai nghi can gốc Việt khác – Danny Huỳnh, 24 tuổi, bị tố cáo là người nổ súng, và Troy Quang Lư, 21 tuổi, bị tố cáo là người lái xe cùng đồng bạn bỏ trốn lúc xảy ra sự việc – cũng bị truy tố nhiều tội hình, bao gồm giết người và có ý định giết người, và đang bị giam tại nhà tù Orange County.

Còn nghi can thứ tư, Ali Ibrahim Alsouqi, đang trốn ở Jordan, OCDA tin là như vậy. 

Nghi can thứ năm chưa được xác định, vẫn theo OCDA. 

Theo thông cáo, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025, Ali Ibrahim Alsouqi dàn xếp cho bốn người khác đến nhà anh ở Garden Grove, nơi họ lên kế hoạch bắn các thành viên băng đảng đối thủ.

Hôm đó, nghi can Lê Việt Quốc Bảo gặp Danny Huỳnh, Troy Quang Lư, và một người chưa được xác định tại nhà nghi can Alsouqi.

Tất cả năm người sau đó lên chiếc Mercedes Benz màu đen của Troy Quang Lư. Chủ xe sau đó che bảng số xe trước khi lái đến Stanton để thực hiện kế hoạch.

Khoảng 2 giờ chiều, Vidal và người bạn 13 tuổi đụng độ những thanh niên che mặt trên chiếc Mercedez ở đường Court. Danny Huỳnh bước ra khỏi xe, bắt đầu nổ súng vào hai thiếu niên.

Lê Việt Quốc Bảo, lúc đó ngồi phía trước, bên cạnh người lái xe Troy Quang Lư, nổ súng ra.

Nạn nhân Vidal bị bắn năm phát, thủng tim, phổi, gan, và tụy, chết tại chỗ.

Thiếu niên 13 tuổi bị bắn vào ngực, nhưng sống sót.

Vài giờ sau, Troy Quang Lư bị bắt.

Đoạn đường ở Stanton, nơi xảy ra án mạng. (Hình: Google Maps)

Các nhà điều tra xác nhận Danny Huỳnh, Lê Việt Quốc Bảo, Ali Ibrahim Alsouqi, và một người chưa xác định là những người ngồi trong xe cùng với Troy Quang Lư.

Nếu bị kết tội, nghi can Lê Việt Quốc Bảo có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân vì đồng lõa với bốn người khác trong án mạng ngày 5 Tháng Bảy, 2025, giết chết Samuel Vidal, và làm bị thương nặng thiếu niên 13 tuổi, bạn của nạn nhân.

Troy Quang Lư có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân và Danny Huỳnh có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân.

Nghi can Alsouqi bị truy tố một tội âm mưu giết người và có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân, nếu bị kết tội.

Stanton có khoảng 40,000 cư dân, tọa lạc sát phía Bắc Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Thành phố từng có một nghị viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất vào năm 2019. (Đ.D.)


 

Nợ ân tình – TG Văn Chương

TG Văn Chương

Cách đây ba tháng, thằng con đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi gây tai họa: nó làm nát bét chiếc xe gia đình vì mải nhắn tin lúc lái. Ơn trời, không ai bị thương, nhưng bảng báo giá sửa xe làm tôi muốn xỉu: 4.200 đô. Riêng tiền bảo hiểm bắt mình tự chịu đã là 2.500 đô rồi. Tôi vừa giận, vừa run. Nhà làm gì có số tiền đó. Tôi phải cày hai công việc một lúc, chồng tôi thì mất sức lao động. Có những tháng, cả nhà phải thắt lưng buộc bụng, đắn đo mãi giữa việc đóng tiền điện hay mua đồ ăn.

Anh thợ sơn xe chỉ tôi đến một chỗ dưới mạn Nam thành phố. — “Dưới đó rẻ hơn,” ảnh nói. “Nhưng chỉ nhận tiền mặt thôi nhé.”

Tôi lái xe đến một nơi trông chẳng khác gì bãi đồng nát. Xe cộ rỉ sét chất đống, cỏ dại mọc lởm chởm qua những vết nứt bê tông. Tấm biển hiệu thì bạc phếch, treo lủng lẳng sắp rụng. Tôi đã định quay đầu xe đi về cho rảnh nợ.

Thế rồi, một ông lão lẹt bẹt bước ra. Chắc cũng phải 75 tuổi trở lên. Bộ đồ công nhân lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay hơi run run. Ông nói với cái giọng địa phương đặc sệt: — “Xe cần sửa hả cô?”

Tôi kể hết nỗi khổ của mình. Ông nhìn cái xe, lầm bầm rồi đi vào trong. Một lúc sau, ông cầm ra cái bảng kẹp giấy: — “Tôi lấy 800 đô thôi.” Tôi há hốc mồm: — “Nhưng người ta bảo tận…” — “Kệ họ. Họ đòi thay đồ mới, sơn xịn nên mới đắt,” ông thản nhiên đáp. “Tôi có đồ tốt rồi, tôi sẽ làm cho nó chạy chắc chắn là được. 800 đô nhé.” — “Dạ… rồi khi nào thì tôi phải gửi tiền ông?” — “Giờ đưa trước 50 đô cũng được. Còn lại bao giờ có thì đưa, không vội.”

Tôi đứng ngẩn tò te: — “Sao ông lại tin tôi thế?” Ông nhìn tôi bằng ánh mắt của một người đã trải đời: — “Hồi chiến tranh, có một người lạ đã giấu cả nhà tôi trong kho thóc của họ suốt nửa năm trời. Họ chẳng lấy một đồng, chỉ dặn: ‘Sau này có điều kiện thì hãy giúp lại người khác’. Tôi thì chẳng có kho thóc nào để giấu ai cả, nhưng tôi biết sửa xe.”

Tôi đã đứng khóc ngon lành ngay giữa cái bãi xe cũ nát đó.

Ông sửa xong trong ba ngày. Xe chạy êm ru, chắc chắn. Lúc đến lấy xe, tôi thấy một bà cụ đang vừa khóc vừa múa may bên chiếc xe móp méo của mình. Ông lão chỉ gật đầu, đặt tay lên vai bà cụ rồi cầm lấy chìa khóa. — “Lại một ca ‘từ thiện’ nữa hả ông?” — Tôi hỏi khẽ. Ông nhún vai: — “Chồng bà ấy mới mất, chưa có lương hưu. Không có xe thì bà ấy không đi thăm cháu được. Thôi, giúp bà ấy một tay.”

Suốt hai tháng sau, mỗi lần có chút tiền, 50 hay 100 đô, tôi lại mang qua trả ông. Lần nào ghé, tôi cũng thấy một người nào đó đang ở đó — khi thì anh bố đơn thân, lúc thì anh công nhân vừa mất việc. Họ đều lái những chiếc xe nát tưởng chỉ có nước bán sắt vụn, nhưng vẫn chạy tốt nhờ bàn tay ông lão — người chỉ lấy tiền theo kiểu “tùy tâm”… hoặc chẳng lấy xu nào.

Lần cuối cùng sang trả nốt nợ, tôi tò mò hỏi: — “Ông cứ làm thế này mãi thì sống sao nổi?” Ông mỉm cười hiền từ: — “Cũng có người trả đủ tiền mà cô. Tiền của họ giúp tôi duy trì cửa hàng, còn những người trả ít giúp tôi duy trì… cái tâm mình. Thế là huề.”

Tuần trước, tôi chạy ngang qua xưởng của ông. Cửa đóng then cài, có tấm biển “Bán nhà” dựng trước sân. Tôi hoảng quá, gọi ngay vào số điện thoại trên danh thiếp. Con gái ông bắt máy, giọng nghẹn lại: — “Cha cháu mất hôm thứ Ba rồi cô ạ. Cụ bị đột quỵ ngay tại xưởng.”

Tôi lặng người, tim thắt lại. — “Chị em cháu đang kiểm kê sổ sách,” cô ấy nói tiếp. “Trong ngân hàng cụ chỉ có 847 đô. Nhưng cuốn sổ tay của cụ… có tận 73 người vẫn còn nợ tiền. Tổng cộng hơn 30.000 đô.” Cô ấy dừng lại một chút, rồi kể: — “Cụ để lại mảnh giấy ghi: ‘Xóa nợ hết đi. Họ cần cái xe để mưu sinh hơn là cha cần tiền’.”

Đám tang ông hôm qua đông lắm. Cả 73 con người có tên trong sổ đều đến. Những người xa lạ không quen biết nhau, nhưng đều mang ơn ông lão — người đã không bỏ mặc chúng tôi lúc khốn khó. Chúng tôi gom tiền lại, trả hết các khoản nợ còn tồn của xưởng, rồi đưa phần còn lại cho con gái ông.

Về nhà, con trai tôi hỏi: — “Mẹ ơi, sao mẹ khóc nhiều thế? Mẹ có thân với ông ấy lắm đâu.” Tôi bảo con: — “Bởi vì ông ấy đã dạy mẹ một bài học mà thế hệ của con cần phải biết. Mỗi ngày, con nhìn thấy rất nhiều người — nhưng hãy thực sự nhìn thấy họ. Thấy cái xe họ hỏng, thấy lòng họ đau, thấy túi họ rỗng. Lúc đó con phải chọn: mình sẽ là người chìa tay ra giúp, hay là người quay lưng bỏ đi?”

Thằng bé im lặng. Tháng trước, tôi thấy nó bắt đầu đi làm tình nguyện ở chỗ phát cơm từ thiện. Nó không khoe khoang, cứ lặng lẽ mà làm thôi.

Cái xưởng của ông lão vẫn đang treo biển bán. Tấm biển “Chỉ nhận tiền mặt” vẫn còn đó. Nhưng 73 người chúng tôi đều hiểu ý nghĩa thật sự của nó là gì: Có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Lúc nào có thì trả. Nếu có thể thì trả.

Vì có những món nợ không thể tính bằng tiền. Đó là món nợ của lòng trắc ẩn: Nhớ rằng vào cái ngày ta tuyệt vọng nhất, đã có một người bằng lòng “sửa chữa” cuộc đời ta mà không đòi hỏi gì.

TG Văn Chương

From: T. Nguyen


 

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Gieo Mầm Ơn Gọi

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Ngày 16/10/1943. Rome vừa rơi vào tay phát xít Đức được năm tuần. Pietro chạy đến cửa sổ.

Những gì ông nhìn thấy đã thay đổi cuộc đời mình mãi mãi.

Xe tải quân sự lấp đầy những con phố hẹp của khu Do Thái. Lính SS lôi các gia đình ra khỏi nhà. Trẻ em gào khóc gọi cha mẹ khi bị đẩy lên xe. Người già loạng choạng, hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Pietro chứng kiến hơn 1.200 người bị bắt đi. Ông hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì.

Hai ngày sau, những chuyến tàu rời Rome hướng về Auschwitz. Chỉ có 16 người sống sót trở về.

Nhưng điều ám ảnh Pietro nhất là những người đã thoát được trong hỗn loạn ,các gia đình tản mác trốn chạy. Họ đang ở đâu? Họ có thể sống sót được bao lâu trong một thành phố đầy rẫy lính Đức Quốc xã?

Đêm đó, Pietro đưa ra một quyết định.

Chủng viện chỉ cách nơi lùng bắt vài dãy nhà. Những bức tường đá dày, các phòng ngủ bỏ trống ,và một thứ mà Đức Quốc xã không dễ chạm tới: sự bảo hộ của Vatican.

Pietro bắt đầu âm thầm, trò chuyện với các linh mục khác. Không lâu sau, gia đình đầu tiên xuất hiện ,một gia đình Do Thái tuyệt vọng tìm nơi trú ẩn.

Ông dẫn họ lên căn phòng tầng ba. “Ở đây các bạn sẽ an toàn,” ông nói. Nhưng chính ông cũng hiểu: sự bảo vệ của Vatican không phải là tuyệt đối.

Rồi nhiều gia đình nữa đến. Nhà Rosenberg. Nhà Cohen. Nhà Segre. Mỗi người chạy trốn, chỉ mang theo những gì kịp vơ lấy. Pietro biến chủng viện thành nơi trú ẩn bí mật. Phòng ngủ thành nơi ở. Kho chứa thành bếp. Trẻ con được dạy phải nói thì thầm ,ngay cả khi chơi đùa.

Nhưng ẩn náu thôi chưa đủ. Họ cần giấy tờ.

Pietro chưa từng làm giả giấy tờ bao giờ. Nhưng nỗi sợ là một người thầy rất nhanh. Ông nghiên cứu giấy chứng nhận rửa tội cho đến khi có thể sao chép hoàn hảo. Ông làm việc dưới ánh nến, xóa đi những danh tính cũ và tạo ra những cuộc đời mới.

Gia đình Rosenberg trở thành Romano.

Sarah Cohen trở thành Maria Colombo.

Mỗi tờ giấy là một canh bạc. Nếu bị phát hiện, cái chết là điều chắc chắn.

Mỗi ngày trôi qua là một cuộc đếm ngược. Tuần tra. Lục soát. Tin đồn. Mỗi đêm, Pietro lắng nghe, sợ hãi tiếng giày đinh vang lên trên nền đá.

Ba mươi bảy người. Mười hai đứa trẻ.

Mùa đông đến sớm. Thức ăn cạn dần. Hệ thống sưởi gần như không hoạt động. Sốt lan rộng. Cha mẹ ôm con khóc trong im lặng, hiểu rằng cuộc sống cũ đã không còn.

Nhưng họ vẫn còn sống.

Tháng Hai, Pietro nghe tin về một cuộc đột kích tại San Lorenzo ,mười hai gia đình bị phát hiện và trục xuất. Ông quen các linh mục ở đó. Những người đã đưa ra lựa chọn giống mình.

Đêm đó, nỗi sợ suýt đánh gục ông. Ông đã nghĩ đến việc yêu cầu các gia đình rời đi. Rủi ro quá lớn.

Nhưng rồi bé Sarah ,giờ là Maria ,đưa cho ông một bức vẽ: hình ảnh chủng viện, phía dưới là hai từ viết nguệch ngoạc:

“Ngôi nhà an toàn.”

Pietro giữ bức vẽ ấy suốt phần đời còn lại.

Đến mùa xuân, hy vọng xuất hiện. Quân Đồng minh đang tiến gần. Các gia đình bắt đầu dám nói về “sau này”.

Ngày 4/6/1944, xe tăng Mỹ tiến vào Rome.

Pietro đứng trước cổng chủng viện khi các gia đình bước ra ánh sáng lần đầu tiên sau tám tháng. Họ khóc. Họ ôm chầm lấy ông, hứa sẽ không bao giờ quên.

Ba mươi bảy người bước vào với thân phận kẻ chạy trốn.

Họ rời đi với tư cách những người sống sót.

Sau chiến tranh, Pietro trở lại cuộc sống bình thường: giảng dạy chủng sinh, lo những công việc thường nhật. Năm 1973, Giáo Hoàng Paul VI phong ông làm Hồng y.

Pietro hiếm khi nhắc đến chiến tranh. Ngay cả khi các nhà báo tìm đến “vị linh mục anh hùng”, ông vẫn kín tiếng.

Ông mang ký ức ấy một mình ,tiếng trẻ con khóc, những giấy tờ giả trong túi áo, và gương mặt của những người không kịp đến cửa ông đúng lúc.

Năm 1985, khi 73 tuổi, Israel vinh danh ông là Người Công Chính giữa các Dân Tộc. Ông gặp lại những người mình từng che chở và bế trên tay những đứa cháu ,tương lai được tạo nên từ những lựa chọn của ông.

“Tôi chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm,” ông nói.

Nhưng ai cũng biết đó không phải là sự thật giản đơn.

Không phải ai cũng dám liều mạng vì người xa lạ.

Không phải ai cũng biến nơi làm việc thành nơi trú ẩn.

Không phải ai cũng tạo dựng lại những cuộc đời khi Đức Quốc xã đang tuần tra ngoài kia.

Pietro Palazzini qua đời năm 2000, hưởng thọ 88 tuổi ,56 năm sau ngày những chuyến xe lăn bánh về Auschwitz.

Tại lễ tang của ông, người đứng lên phát biểu không phải là các Hồng y hay chức sắc cao cấp.

Mà là những gia đình.

Những đứa trẻ năm xưa giờ đã là người lớn. Những người từng thì thầm tên thật của mình sau cánh cửa chủng viện, nay bế trên tay chính các cháu của họ.

Họ nói về một linh mục trẻ đã chọn mở cửa giúp người khác, vào thời điểm mà quay lưng làm ngơ mới là lựa chọn an toàn và dễ dàng nhất.

Pietro Palazzini chưa bao giờ chắc chắn rằng mình đã cứu được đủ người. Ông mang theo suốt đời nỗi day dứt về những người không kịp gõ cửa. Nhưng có một điều không thể phủ nhận:

Ba mươi bảy con người đã sống sót vì ông đã hành động.

Và từ ba mươi bảy sinh mạng ấy, hàng chục, rồi hàng trăm cuộc đời khác đã được sinh ra.

Họ mang theo ký ức, sự sống và lòng can đảm ấy đi tiếp.

Điều đó quan trọng hơn mọi danh hiệu.

Quan trọng hơn mọi lời ca ngợi.

Vì trong một thời đại mà im lặng đồng nghĩa với an toàn,

Pietro Palazzini đã chọn can đảm.

Và nhờ vậy, lịch sử có thêm những người được sống.

(Theo Inspire Daily )


 

Ít nhất 34 người chết vì bão tuyết, hơn 11,000 chuyến bay bị hủy hoặc trễ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

NEW YORK, New York (NV) Hàng ngàn người ở Mỹ sẽ trải qua một đêm lạnh cóng nữa mà không có điện sau khi bão mùa Đông lớn trút thêm tuyết xuống vùng Đông Bắc và phủ băng giá tại nơi ở miền Nam hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng, theo AP.

Tính tới 7 giờ tối Thứ Hai (giờ miền Tây Hoa Kỳ), ít nhất 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang bị ảnh hưởng, theo USA TODAY.

Công nhân dọn dẹp tuyết trên vỉa hè sau trận bão tuyết ở Silver Spring, Maryland, hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Tuyết rơi dày đặc, hơn 1 foot trải dài 1,300 dặm từ Arkansas  tới vùng New England, làm giao thông bị ngưng trệ, hàng loạt chuyến bay bị hủy và  trường học khắp nơi phải đóng cửa hôm Thứ Hai. Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) dự báo nhiều nơi phía Bắc Pittsburgh, Pennsylvania, tuyết rơi tới 20 inche và gió lạnh tới âm 25 độ F cuối hôm Thứ Hai tới Thứ Ba.

Cái lạnh khắc nghiệt ảnh hưởng tới 2/3 nước Mỹ này chưa dứt. Hôm Thứ Hai, NWS cho hay một đợt không khí lạnh khác từ Bắc Cực dự trù sẽ giữ nhiệt độ lạnh cóng ở những nơi hiện đã bị tuyết và băng đá bao phủ. Và chuyên gia dự báo thời tiết cho biết một trận bão mùa Đông khác có thể ập vào nhiều khu vực miền Đông cuối tuần này.

Trong ít nhất 29 người chết, có hai người bị xe cào tuyết cán ở Massachusetts và Ohio, một số người thiệt mạng do tai nạn xe trượt tuyết ở Arkansas và Texas, và thi thể một phụ nữ bị tuyết chôn vùi được cảnh sát tìm thấy sau khi người ta nhìn thấy phụ nữ này ra khỏi quán rượu ở Kansas. Ở thành phố New York, giới chức loan báo tám người được phát giác thiệt mạng ngoài trời cuối tuần qua.

Tính tới tối Thứ Hai, hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị cúp điện, theo poweroutage.com, hầu hết ở miền Nam, nơi mưa tuyết làm cành cây bị gãy và dây điện bị đứt, khiến phía Bắc Mississippi và nhiều nơi ở Tennessee bị cúp điện.

Hôm Thứ Hai, hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hoặc bị hoãn, theo trang web theo dõi chuyến bay flightaware.com. Trước đó, hôm Chủ Nhật, 45% chuyến bay ở Mỹ bị hủy, nhiều nhất kể từ đại dịch COVID-19, theo công ty phân tích hàng không Cirium.

Theo dự báo, tuyết tiếp tục rơi từ nhẹ tới trung bình ở vùng New England tới hết tối Thứ Hai.

Hàng loạt văn phòng liên bang, tiểu bang, địa phương và trường học loan báo đóng cửa ít nhất tới hết Thứ Hai tuần này, theo USA Today.

Vì nhiều vụ cúp điện xảy ra khắp miền Đông đất nước, chuyên gia khí tượng và giới chức tình trạng khẩn cấp đang ngày càng lo ngại về cái lạnh khắc nghiệt theo sau trận bão này vào Thứ Hai.

“Vẫn chưa hết nguy hiểm cho dù bão tan,” ông Brian Hurley, chuyên gia Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS), nói với USA Today. “Nhiều nơi vẫn còn bị đóng băng nặng nề, mưa lạnh cóng, mưa tuyết và tuyết rơi, sẽ tiếp tục lạnh dưới mức đóng băng tới hết tuần làm việc.”

“Chúng tôi đang lo người dân sẽ hứng nhiệt thời tiết lạnh cóng mà không có điện,” ông Hurley nói.

Trận bão tuyết này lan qua vùng Trung Đại Tây Dương nửa đêm hôm Thứ Bảy rồi di chuyển qua vùng Đông Bắc hôm Chủ Nhật. (Th.Long) [kn]


 

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN


 

Gửi người nào tìm thấy Max -Truyen ngan HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị

Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày, và không có gì tôi làm có thể an ủi được nó cho đến khi chúng tôi tìm thấy mẩu giấy được giấu bên trong vòng cổ của nó.

Tên nó là Max. Ít nhất thì vòng cổ ghi như vậy. Một con chó lai giống Pit Bull, khoảng ba tuổi, được nhân viên kiểm soát động vật đưa đến vì bị lạc.

Nhưng Max không phải là một con chó lạc bình thường. Nó không sợ người. Nó không hung dữ. Nó không bị ốm hay bị thương.

Nó đang đau khổ tột cùng.

Tôi là Sarah, và tôi đã làm việc tại Trại cứu hộ động vật của quận được mười một năm. Tôi đã thấy hàng nghìn con chó đi qua cánh cửa này. Những con chó vui vẻ. Những con chó ốm yếu. Những con chó hung dữ. Những con chó sợ hãi. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một con chó nào giống như Max.

Nó không ăn. Không uống. Chỉ ngồi ở góc chuồng, úp mặt vào tường, hai chân che mắt, phát ra những tiếng khóc đau lòng nhất mà tôi từng nghe.

“Nó đã như vậy ba ngày rồi,” đồng nghiệp Jenny nói với tôi vào ngày đầu tiên tôi trở lại làm việc sau kỳ nghỉ. “Chúng tôi đã thử mọi cách. Thức ăn. Bánh thưởng. Đồ chơi. Nó thậm chí không thèm nhìn chúng tôi.”

Tôi đi đến chuồng của Max. Nó đúng như Jenny mô tả. Cuộn tròn trong góc, mặt giấu đi, cơ thể run rẩy với những tiếng nức nở thầm lặng.

“Chào con,” tôi nói nhẹ nhàng. “Không sao đâu. Con an toàn ở đây rồi.”

Nó không cử động. Không hề phản ứng lại tôi. Chỉ tiếp tục khóc.

Tôi ngồi xuống sàn bên ngoài chuồng của nó. “Ta biết con đang buồn. Ta biết con nhớ ai đó. Nhưng con phải ăn gì đó chứ, được không? Con phải uống nước.”

Không có chút động tĩnh gì.

Tình trạng này kéo dài thêm ba ngày nữa. Max không chịu ăn. Chúng tôi phải truyền dịch cho nó để giữ cho nó sống sót. Bác sĩ thú y đã khám kỹ lưỡng cho nó. Không có vết thương. Không có bệnh tật. Chỉ là một trái tim tan vỡ.

“Nếu nó không bắt đầu ăn vào ngày mai, chúng ta sẽ phải đưa ra quyết định,” giám đốc trại cứu hộ nói với tôi vào ngày thứ sáu. Mắt bà ấy đỏ hoe. Bà ấy đã khóc. “Chúng ta không thể để nó chịu đựng như thế này.”

Tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Nếu Max đã từ bỏ cuộc sống, chúng tôi không thể ép buộc nó sống trong đau khổ. Đêm đó, tôi ở lại muộn. Ngồi bên ngoài chuồng của Max và chỉ nói chuyện với nó. Về mọi thứ. Về những chuyện không đâu. Về con chó của tôi đã chết vì ung thư hai năm trước. Về việc tôi hiểu nỗi đau mất mát. Về việc tôi biết cảm giác muốn bỏ cuộc là như thế nào.

“Nhưng con không thể bỏ cuộc, Max,” tôi thì thầm. “Ai đó ngoài kia có thể cần con. Ai đó có thể đang tìm kiếm con ngay lúc này.”

Lần đầu tiên sau sáu ngày, Max ngẩng đầu lên. Chỉ một chút thôi. Mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là đôi mắt buồn nhất mà tôi từng thấy. Màu nâu. Sâu thẳm. Tràn đầy nỗi đau không thể chịu đựng nổi.

Rồi nó lại úp mặt vào góc chuồng.

Tôi quyết định thử một cách khác. Tôi bước vào chuồng của nó. Chậm rãi. Cẩn thận. Tôi chưa bao giờ làm điều này với một con chó mà tôi không quen biết, nhưng có điều gì đó mách bảo tôi rằng Max sẽ không làm hại tôi.

Nó không di chuyển khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Không giật mình khi tôi nhẹ nhàng chạm vào lưng nó.

“Không sao đâu, con. Dù chuyện gì đã xảy ra, buồn cũng không sao cả.”

Đó là lúc tôi cảm nhận được điều đó. Chiếc vòng cổ của nó dày. Quá dày. Tôi nhìn kỹ hơn. Có thứ gì đó được may bên trong lớp vải. Thứ gì đó làm cho chiếc vòng cổ trở nên cồng kềnh.

Với đôi tay run rẩy, tôi cẩn thận kiểm tra chiếc vòng cổ. Có một vết rách nhỏ ở lớp lót bên trong. Tôi nhẹ nhàng kéo nó ra.

Một mảnh giấy rơi ra.

Tôi mở nó ra bằng những ngón tay run rẩy. Đó là chữ viết tay. Mực bị nhòe như thể ai đó đã khóc khi viết nó.

“Gửi người nào tìm thấy Max –

Tôi tên là Daniel Peterson. Tôi 73 tuổi và mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho tôi biết tôi chỉ còn sống được hai tháng nữa. Tôi không có gia đình. Không có ai ngoài Max.

Max là người bạn thân nhất của tôi suốt ba năm qua. Nó là lý do tôi thức dậy mỗi sáng. Lý do tôi tiếp tục chiến đấu. Lý do tôi mỉm cười vượt qua nỗi đau.

Nhưng tôi không thể chăm sóc nó nữa. Ngày mai tôi sẽ vào viện dưỡng lão. Ở đó không cho phép nuôi chó. Tôi không đủ tiền để gửi nó ở trại nuôi chó. Tôi không có ai để gửi gắm nó.

Vì vậy, tôi đang làm điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Tôi đang để nó đi.

Tôi lái xe đưa Max đến một khu phố đẹp và thả nó ra. Tôi bảo nó ở lại. Hãy ngoan ngoãn. Hãy tìm một gia đình mới yêu thương nó như tôi.

Nó không hiểu. Nó cố gắng chạy theo xe của tôi. Tôi phải lái xe đi trong khi nó vẫn chạy theo phía sau. Tiếng khóc của nó là điều tôi sẽ nghe thấy cho đến khi chết.

Tôi là một kẻ hèn nhát. Lẽ ra tôi nên đưa nó đến trại cứu hộ chó. Nhưng tôi không thể làm được. Không thể bỏ đi khi nó đang nhìn tôi. Không thể là người nhốt nó vào lồng.

Làm ơn, bất cứ ai tìm thấy Max, hãy yêu thương nó. Nó là con chó tốt nhất trên thế giới. Nó trung thành. Nó hiền lành. Nó thông minh. Nó thích chơi bóng tennis, thích ngủ dưới ánh nắng mặt trời và thích đi xe ô tô với cửa sổ mở.

Nó đang đau khổ vì tôi. Tôi biết điều đó. Nó không hiểu tại sao tôi lại bỏ rơi nó. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi xin lỗi. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi yêu nó hơn bất cứ điều gì. Làm ơn hãy nói với nó rằng không sao cả nếu nó yêu thương một người khác.

Tôi đã khâu lá thư này vào vòng cổ của nó vì tôi biết nếu ai đó tìm thấy nó, họ sẽ thắc mắc tại sao một con chó tốt như vậy lại hành động đau khổ đến vậy. Bây giờ thì bạn đã biết rồi.

Thức ăn yêu thích của nó là thịt gà. Nó có một con gấu bông nhồi bông để ngủ cùng – tôi không thể mang nó theo vì tôi không muốn nó làm mất. Nó biết các lệnh: ngồi, đứng yên, bắt tay, nằm xuống. Nó đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ. Nó chưa bao giờ cắn ai. Nó rất hoàn hảo.

Làm ơn hãy cho nó một cơ hội. Xin đừng giết nó chỉ vì nó buồn. Nó chỉ cần thời gian. Và tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu thương.

Cảm ơn vì đã tìm thấy nó. Cảm ơn vì đã đọc bức thư này. Cảm ơn vì đã cho nó cuộc sống mà tôi không thể cho nó nữa.

Hãy nói với Max rằng Danny yêu nó. Luôn luôn.

Daniel Peterson”

Tôi khóc nức nở. Không thể thở được. Không thể nhìn thấy gì qua những giọt nước mắt. Max đã bị bỏ rơi bởi người mà nó yêu thương nhất trên thế giới. Nó không hiểu tại sao. Nó đang chờ Danny quay lại. Khóc vì Danny. Đau buồn vì Danny.

“Ôi Max,” tôi thì thầm. “Ôi con ơi. Ông ấy không muốn bỏ rơi con. Ông ấy buộc phải làm vậy. Ông ấy yêu con rất nhiều.”

Max quay lại. Nhìn tôi. Thấy tôi đang khóc. Và lần đầu tiên sau sáu ngày, nó tiến lại gần một người thay vì tránh xa.

Nó đặt đầu vào lòng tôi. Và nó khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc.

Tôi ôm Max suốt đêm. Đọc bức thư cho nó nghe hết lần này đến lần khác. “Danny yêu con. Ông ấy rất xin lỗi. Ông ấy muốn con được hạnh phúc. Ông ấy muốn con tìm được một gia đình mới.”

Sáng hôm sau, tôi mang thịt gà đến. Món ăn yêu thích của Max. Tôi ngồi trong chuồng của nó và đưa cho nó ăn.

Nó ăn. Không nhiều. Nhưng nó đã ăn.

Tiến triển tốt.

Trong tuần tiếp theo, Max dần dần hồi phục. Nó bắt đầu ăn uống đều đặn. Bắt đầu uống nước. Bắt đầu nhận biết mọi người. Nhưng  nó vẫn có đôi mắt buồn bã ấy.

Tôi gọi điện đến tất cả các viện dưỡng lão trong khu vực. Cuối cùng cũng tìm thấy nơi mà Daniel Peterson đang ở.

“Tôi rất tiếc,” y tá nói với tôi. “Ông Peterson đã qua đời bốn ngày trước. Một cách thanh thản. Ông ấy cứ hỏi về con chó của mình. Muốn biết liệu có ai tìm thấy nó không. Chúng tôi nói với ông ấy rằng có, có người đã tìm thấy nó. Ông ấy mỉm cười và nói ‘tốt’.” Đó là những lời cuối cùng của ông ấy.”

Tôi cúp máy và khóc suốt một tiếng đồng hồ. Sau đó tôi đến chuồng của Max. Ngồi xuống bên cạnh nó.

“Danny đã ra đi rồi, con ạ. Ông ấy không bỏ rơi con vì không yêu con. Ông ấy bỏ rơi con vì yêu con quá nhiều. Ông ấy muốn con có một cuộc sống tốt hơn. Hạnh phúc hơn. Được yêu thương nhiều hơn.”

Max nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã ấy. Và tôi đã đưa ra một quyết định.

“Con sẽ về nhà với ta.”

Tôi nhận nuôi Max ngày hôm đó. Đưa nó về nhà. Cho nó xem sân vườn. Chiếc ghế sofa. Chiếc giường. Mua cho nó một con gấu bông giống hệt con gấu mà Danny đã mô tả.

Max mang con gấu đó đi khắp mọi nơi trong nhiều tháng. Ngủ cùng nó. Khóc vào nó. Dần dần vết thương lòng cũng lành lại.

Đã hai năm rồi. Max vẫn có những khoảnh khắc buồn bã. Thỉnh thoảng nó vẫn ngồi ở góc nhà và khóc. Nhưng giờ nó cũng chơi đùa. Chạy nhảy. Âu yếm. Yêu thương.

Tuần trước, tôi đưa Max đến thăm mộ của Danny. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mộ ông ấy sau nhiều tháng tìm kiếm. Max ngửi bia mộ. Nằm xuống bên cạnh. Đặt đầu lên hai chân trước.

“Danny, nếu ông đang nghe thấy, Max vẫn ổn,” tôi nói to. “Nó được yêu thương. Nó an toàn. Hầu hết các ngày nó đều hạnh phúc. Nó nhớ ông. Cả hai chúng tôi đều biết nó sẽ không bao giờ ngừng nhớ ông.” “Nhưng nó đang sống cuộc sống mà ông muốn dành cho nó.”

Max ngước nhìn bầu trời. Cái đuôi của nó vẫy một lần. Rồi hai lần. Như thể nó nghe thấy điều gì đó mà tôi không nghe thấy.

Chúng tôi ở đó khoảng một tiếng. Sau đó Max đứng dậy, rũ người và đi về phía xe. Nó ngoảnh lại nhìn một lần. Rồi nó nhảy vào xe và chờ đợi cuộc phiêu lưu tiếp theo của chúng tôi.

Lá thư của Danny giờ được đóng khung trong phòng khách của tôi. Thỉnh thoạt tôi đọc nó cho Max nghe. Nhắc nhở nó về nguồn gốc của nó. Về việc nó được yêu thương nhiều như thế nào. Về việc người chủ đầu tiên của nó đã từ bỏ tất cả để Max có được mọi thứ.

Max giờ là người bạn thân nhất của tôi. Người bạn đồng hành không thể thiếu của tôi. Là lời nhắc nhở tôi rằng tình yêu không kết thúc chỉ vì cuộc sống kết thúc.

Nếu bạn đang đọc bài này và bạn đang ở trong hoàn cảnh giống như Danny, làm ơn đừng bỏ rơi con chó của bạn. Hãy tự mình đưa chúng đến trại cứu hộ. Hãy nói lời tạm biệt một cách đàng hoàng. Hãy cho chúng thấy rằng bạn yêu chúng ngay cả khi bạn phải rời xa chúng. Hãy viết một lá thư giải thích câu chuyện của chúng.

Bởi vì Max đã trải qua sáu ngày nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó sai. Nghĩ rằng Danny không còn muốn nó nữa. Không con chó nào phải chịu đựng nỗi đau đó.

Và nếu bạn đang đọc bài này và bạn làm việc tại một trại cứu hộ, hãy kiểm tra vòng cổ. Kiểm tra kỹ lưỡng. Đôi khi có một câu chuyện được giấu bên trong giải thích tất cả mọi thứ.

Max chưa bao giờ là một con chó bị tổn thương. Nó là một con chó đang đau buồn. Có sự khác biệt.

Nó chỉ cần ai đó hiểu nỗi đau của nó. Cho nó thời gian. Để cho nó thấy rằng việc yêu thương trở lại là điều bình thường.

Danny đã tặng tôi món quà tuyệt vời nhất khi giấu lá thư đó trong vòng cổ của Max. Ông ấy đã tặng Max cho tôi. Và Max, ngược lại, đã cứu tôi khỏi nỗi đau của chính mình.

Chúng tôi đã cứu nhau. Giống như Danny đã hy vọng.

ST