SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

Xuyên Sơn

 SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

  Buổi sáng đi làm, Chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, Chị nghĩ: “May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao”.

 Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút.

Bà phó phòng nói rằng Giám đốc cho gọi Chị.

Chị nghĩ:

 “Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.

 Nhưng không có một lời khiển trách nào cả.

Sếp gặp Chị để mong Chị thông cảm rằng, lẽ ra hôm nay Chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty.

Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên Chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.

 Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ:

“Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công hàng chục nghìn tỷ đồng,

nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực.

Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may.

Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông Giám đốc tài ba và rất tử tế”.

 Buổi chiều, Chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của Chị.

  Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, Chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay.

Khi nghe chồng kể chuyện này,

Chị nghĩ:

“Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”.

Và chị lại làm một bữa để ăn mừng cái may của gia đình mình.

 Chị xin nghỉ việc ở công ty, ra lập doanh nghiệp riêng.

Thương trường như chiến trường.

Ban đầu vất vả lắm.

Ngược xuôi chèo lái con thuyền công ty. Nhưng chị luôn giữ một tâm thái lạc quan tích cực như vậy.

Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông.

Dần dà, công ty làm ăn khấm khá.

Chị có dư của ăn của để.

  Bữa chị mua căn biệt thự, nhờ người bạn làm nghề điện nước đến lắp đặt toàn bộ hệ thống chiếu sáng trong và ngoài nhà.

Chẳng ngờ, người bạn sinh lòng tham, lắp cho chị toàn bóng đèn hàng chợ nhưng tính với chị giá trên trời.

Được dăm bữa, bóng đèn dở chứng, cái sáng cái tối.

Ánh sáng chuyển màu, cái màu trắng cái màu vàng.

Chị gọi ông bạn vàng kia thì mất hút.

Chị chẳng lấy làm buồn.

Chị bảo:

Cũng may không mua đèn của hắn để lắp cho showroom mà chị sắp khai trương. May mà có cậu em Thần Đèn tình cờ xuất hiện và thiết kế lại toàn bộ ánh sáng cho nhà chị.

Nhà chị đẹp hơn, lung linh hơn rồi”.

  Đến một ngày, Chị phát hiện chồng có bồ.

Anh chị chia tay.

Chị nói với anh lúc đứng ở cổng tòa: “Thôi vậy cũng may. May mà biết sớm để rồi kết thúc sớm. May mà con mình cũng đã đủ lớn để hiểu chuyện của bố mẹ nó và không oán trách ai cả”.

  Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may.

Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà những người sống quanh chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài.

 Giờ đây tuy đã gần 50 tuổi rồi nhưng trông chị vẫn trẻ trung như tuổi 30.

  Một lối sống lạc quan và tích cực là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được.

Và đó còn là sự biểu hiện của một con người có trí tuệ và đạo đức.

  Và chỉ những ai làm được điều đó thì mới xứng đáng để được hưởng bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

  NGƯỜI HẠNH PHÚC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG HOÀN CẢNH THUẬN LỢI MÀ LÀ NGƯỜI CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO.

(sưu tầm)


 

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG- Chìa khóa cho mọi hạnh phúc

Nguyen Thi Chau

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG

Lý giải vì sao người Bắc Âu không màng “nhà lầu, xe hơi'” nhưng vẫn hạnh phúc!

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6giờ/ngày.

Hoặc

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì?

Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking.Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

*Tăng trưởng kinh tế cao,

*Chỉ số phát triển con người cao,

*Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc.

Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

Không hề có nhà cao tầng, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ

Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực của con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là:

“Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn:

“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn:

Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng.

So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai.

Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm Chất”,

chứ không phải là “Vật Chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút”,

“nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống:

“Chậm Một Chút!”,

nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người

“Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự:

“Đơn Giản”

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới.

Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút.

Ví dụ

Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70-80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu.

Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng.

Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

  • Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng

Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triển khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

  • Không cần phải khoe của

Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây!

Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’ .

Về thời gian làm việc.

Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy.

Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách.

Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do chính thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu.

Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”.

Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc.

Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’

mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đây là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho gia đình.

Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ:

“Gia Đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa,

cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình.

Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng với gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Fb Viet Vo


 

 “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)-Cha Vương

Một ngày tươi vui rạng ngời trong Chúa nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau  và toàn thế giới nhe 

Cha Vương

Thứ 6: 8/5/2026.      (n9-25)

TIN MỪNG: Vậy đang khi ông [Phaolô, Sao-lô] đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)

SUY NIỆM: Vài ngày trước khi các Hồng y bước vào mật nghị, có người hỏi mình rằng liệu Giáo Hội kỳ này có một vị giáo hoàng người Mỹ không? Mình trả lời là “hơi nghi ngờ đó!” Rõ ràng là mình đã sai tuốt tuồn tuột! Trong Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô có câu: “Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan.” Bây giờ mới tin vào việc Chúa làm thì không ai có thể đoán trước được. 

   Cuộc sống thường không thể đoán trước. Sáng thức dậy bạn lập ra một chương trình cho ngày mới nhưng đến giữa trưa thì mọi sự đều thay đổi hết. Như Phao-lô, phải nói  là đã thay đổi 180 độ. Từ một kẻ bắt bớ các tín hữu tin theo Chúa Giê-su, Phao-lô chẳng những đã trở thành kẻ tin theo Chúa Giê-su mà còn trở thành một người chết cho Chúa nữa. 

   Bạn cũng vậy, mỗi ngày bạn được mời gọi đến để gặp Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể. Nếu bạn muốn thay đổi đời mình 180 độ thì hãy đến cùng Giê-su đi. Nếu Ngài sống lại từ cõi chết được thì Ngài cũng có thể biến mảnh đời khô quạnh của bạn thành cuộc đời vui tươi và bình an. Hãy đến để Ngài bổ sức cho…

LẮNG NGHE: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. (Mc 16:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin hãy biến đổi con và hãy sử dụng con như một khí cụ trong bàn tay quyền năng của Chúa, để con nên một “Phao-lô nhỏ”, nên một chứng nhân sống động của Tin Mừng trong các môi trường sống của con.

THỰC HÀNH: Cố gắng là một “Phao—lô nhỏ” hôm nay nhé.

From: Do Dzung

******************************************

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON – HIỆP LỄ CHÚA HIỂN DUNG – Lm Thái Nguyên

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

1) CHỦNG VIỆN:

Chủng viện (tiếng Latinh: seminarium, có nghĩa là vườn ươm): là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Các chủng sinh, sau khi hoàn tất chương trình Triết học và Thần học, sẽ được lãnh tác vụ/thiên chức linh mục, họ mang sứ mệnh trông coi các xứ đạo và thuộc quyền một Giám mục của giáo phận sở tại. Các linh mục này được gọi là linh mục triều (secular priest).

2) TU VIỆN :

Trong Giáo hội Công giáo, có hai loại hình tu trì sống theo cộng đoàn: tu hoạt động và tu chiêm niệm. Theo cách gọi thông thường, tu viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối hoạt động (active), họ được gọi là tu sĩ và thường làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện.

3) ĐAN VIỆN

Đan viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối chiêm niệm (contemplative). Họ được gọi là đan sĩ (dù là linh mục hay không linh mục). Họ sinh hoạt chủ yếu trong đan viện của mình với tinh thần “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động). Mỗi ngày các đan sĩ dành phần lớn thời gian đọc kinh chung và cầu nguyện theo phương pháp đặc thù.

4) LINH MỤC TRIỀU VÀ LINH MỤC DÒNG

Phân biệt linh mục triều và linh mục dòng

“Triều” và “Dòng” là những từ ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hai lối sống khác nhau trong cộng đồng Giáo Hội.

– Linh mục triều (secular priests), phục vụ trong các giáo xứ, ở giữa dân chúng hay “giữa thế gian” (theo tiếng Latin, thế giới là “saeculum”), còn được gọi là các linh mục giáo phận (diocesan priests), “nhập tịch” vào Giáo phận, trực thuộc Giáo phận, trực tiếp dưới quyền Giám mục Giáo phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Giám mục chỉ định. Thông thường, các linh mục triều hoạt động trong địa hạt Giáo phận của mình.

– Linh mục dòng hội nhập vào các dòng tu, là tu sĩ, phần tử của các dòng tu, tuyên giữ lời khấn dòng (khiết tịnh, khó nghèo, và vâng lời bề trên), trực tiếp vâng lời bề trên dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định. Các công việc của các linh mục dòng tùy thuộc đoàn sủng mỗi dòng. Họ có thể thi hành những việc về phụng vụ, quản trị, mục vụ, truyền giáo, giáo dục, xã hội, y tế, nghệ thuật, truyền thông, lao động… Các linh mục dòng có thể được gửi đi hoạt động bất cứ nơi nào nhà dòng được phép hoạt động, cũng được bề trên gửi đến các Giáo phận để phục vụ như các linh mục triều và trong khi phục vụ khó phân biệt họ với linh mục triều.

– Ngoài ra, trong thực tế, ta còn thấy sau chữ ký hay danh xưng của các linh mục dòng còn có thói quen viết thêm chữ tắt tên của dòng mình như:

S.J. (Societas Jesus – Dòng Tên),

O.P. (Ordo Predicatorum – Dòng Đa Minh),

O.F.M. (Ordo Fratrum Minorum – Dòng Thánh Phanxicô),

CSsR (Congregatio Sanctissimi Redemptoris – Dòng Chúa Cứu Thế),

Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregatio Redemptoris Matris – CRM).

M.S. (Missionarus Salettensis – Dòng LaSalette),

C.F.C.(Congregatio Fratrum Christianorum – Dòng Sư Huynh Lasan),

O.H. (Ordo Hospitalis – Dòng Bệnh Viện – Gioan Thiên Chúa),

S.D.B. (Società Salesiana di San Giovanni Bosco – Dòng Salesian Don Bosco),

O.S.B (Ordo Sancti Benedicti – Dòng Biển Đức),

S.V.D. (Societas Verbi Divini – Dòng Ngôi Lời), v.v 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

“Một khi bị dồn vào đường cùng, rắn đuôi chuông có thể tự cắn mình. Người nuôi hận thù cũng thế: tưởng làm đau người khác, nhưng lại huỷ hoại chính mình. Tốt nhất, bạn hãy đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương và phó thác cho Chúa. Phần còn lại, Ngài lo!” – E. Stanley Jones.

Kính thưa Anh Chị em,

Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Cha. Tin Mừng hôm nay hé mở một nghịch lý: yêu thương không phải là yếu đuối, nhưng là một sức mạnh – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Trong thần học Gioan, “thế gian” – kosmos – không chỉ là thế giới con người đang sống, nhưng còn là một thế giới khước từ ánh sáng. Vì thế, càng mặc khải sự thật và tình yêu của Cha, Chúa Giêsu càng bị chống đối. Ngài vẫn yêu giới biệt phái, yêu Giuđa và yêu đến cùng cả những kẻ sẽ đóng đinh Ngài. Ở đây, yêu thương chính là phản kháng! “Sự thật không vũ trang và tình yêu vô điều kiện sẽ là tiếng nói cuối cùng!” – Martin Luther King Jr..

Thế nhưng, với Gioan, ánh sáng không biến mất trước bóng tối; trái lại, càng bị khước từ, ánh sáng càng bừng lên mạnh mẽ hơn. Chính vì thế, tình yêu Kitô giáo không phải là trốn chạy xung đột, nhưng là từ chối để sự dữ quyết định cách mình sống và cách mình yêu. Người Kitô hữu không nuôi dưỡng cay đắng, cũng không tự huỷ mình trong hận thù; trái lại, vẫn nhu mì và tiếp tục yêu thương. Và đó cũng là thách đố lớn nhất của người môn đệ hôm nay: giữa một thế giới dễ đáp trả bằng giận dữ, chúng ta được mời gọi phản kháng bằng yêu thương; ‘phần còn lại, Ngài lo!’. “Tình yêu là căn tính đích thực của tôi; quên mình là con người thật của tôi!” – Thomas Merton.

Tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Các tông đồ đã sống điều đó. Được đón tiếp, các ngài lưu lại; bị khước từ, các ngài lên đường. Không dừng lại, nhưng luôn mở ra những con đường mới. Từ Đerbê, Lystra đến Phygia, Galat rồi Makêđônia – bài đọc một – đã xuất hiện những cộng đoàn mới, những con tim mới và những niềm vui mới. Chính khi không để mình bị nhốt lại trong chống đối, Hội Thánh sơ khai tiếp tục lớn lên; tín hữu vui, dân ngoại mừng, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi đến tận cùng con đường ấy trong một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Trên thập giá, bị kết án, Ngài vẫn thứ tha; bị trao nộp, Ngài vẫn một mực phó mình cho Cha. Thập giá vì thế không còn là thất bại, nhưng trở thành mặc khải tối hậu của một tình yêu mạnh hơn sự dữ và mạnh hơn cả sự chết. “Tôi không muốn trở thành kẻ chống lại ai; tôi chỉ muốn xây dựng một lời khẳng định lớn lao!” – Oscar Romero. Bởi thế, người môn đệ Đức Kitô không phản kháng bằng cay đắng, nhưng bằng một tình yêu như Thầy mình; tiếp tục yêu thương, tiếp tục phó thác – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Cho con vẫn cứ thương, dù bị ghét. Được thế, con mới giống Chúa phần nào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần V Phục Sinh

Anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. 20 Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21 Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”


 

THỜI CỦA THÁNH THẦN – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha.  Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi.  Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”  “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con.  Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ.  Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi.  Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần. 

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện.  Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a.  Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi.  Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm.  Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy. 

Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.   Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa.  Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.  Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội.  Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay?  Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những giai đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội.  Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến.  Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện.  Chúa sẽ có cách giải quyết của Người. 

Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế,” Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại.  Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy.”  Điều răn của Thầy là điều nào?  Là yêu thương nhau.  Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na.  Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy.  Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu.  Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu. 

Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (Bài đọc I).  Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin.  Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa.  Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới.  Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người.  Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình.  Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.  Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (Bài đọc II).  Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực.  Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc.  Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu.  Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách. 

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!”  Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa.  Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường.  Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng.  Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

From: Langthangchieutim

Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa

Những Câu Chuyện Thú Vị  – Chi Nguyen

 Đôi đũa không múc được canh, cái thìa cũng chẳng gắp được mì. Là của bạn thì không cần tranh giành, không phải của bạn cũng chẳng cần gắng sức.

Có những việc bạn làm không thành, rất có thể là trời cao đang âm thầm bảo vệ bạn. Ví như xe hỏng bạn đến muộn, bạn lỡ hẹn, mất điện… đừng than vãn, cũng đừng nóng giận, mọi thứ đều có thể là sự an bài tốt nhất.

Vạn sự vạn vật trên đời này đến và đi đều có định số. Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa. Đời người chúng ta, mỗi người đều có bến đò, cũng đều có con thuyền trở về của riêng mình. Vậy nên hãy luôn tin rằng, mọi sự an bài của thế gian đều có đạo lý riêng. Mất ở đông ắt nhận lại ở tây, chúng ta chỉ cần làm theo tiếng gọi của bản thân, làm một người lương thiện và ấm áp.

Thực ra, chúng ta đến thế giới này chỉ có một lần duy nhất. Trăm năm sau, không còn tôi, cũng chẳng còn bạn. Chúng ta nỗ lực cả đời cũng không mang theo được một viên gạch ngói nào; chúng ta chấp niệm một kiếp cũng không mang đi được một tơ một hào yêu hận tình thù. Đời người ngắn ngủi lắm, vậy nên hãy ăn món cơm bạn muốn ăn, gặp người bạn muốn gặp, ngắm phong cảnh bạn yêu thích và làm những việc bạn đam mê. Hãy tránh xa những người, những việc làm hao mòn năng lượng của bạn.

Một người khó chiều lòng trăm người, một bức tường khó ngăn gió tám phương. Trên đời này, dù bạn sống thế nào cũng sẽ có người bình phẩm dài ngắn; dù bạn làm thế nào cũng có người khoa tay múa chân; dù bạn làm tốt đến đâu cũng có người nói bạn không ra gì. Vậy nên không cầu vạn sự như ý, chỉ cầu không thẹn với lòng, làm tốt chính mình là đủ.

Thế giới này vốn dĩ không hoàn hảo, vậy nên hãy học cách chấp nhận và thấu hiểu. Hạ thấp kỳ vọng của bản thân, đòi hỏi nhiều ở mình hơn, bớt mong cầu ở người khác. Người ta không đặt bạn vào trong mắt, hà tất phải đặt họ vào trong tâm. Người ta chẳng để ý đến bạn, bạn việc gì phải khổ sở một lòng một dạ với họ.

Tình cảm cũng vậy, tình bạn cũng thế. Xưa nay chưa từng có chuyện một người cứ mãi nhẫn nhịn, cam chịu mà duy trì được, đó phải là sự trân trọng đến từ cả hai phía. Đối với người, bạn có thể bao dung nhưng không thể dung túng; đối với tình cảm, bạn có thể chuyên nhất nhưng không thể si mê. Nếu không được coi trọng, bạn phải học cách quay lưng; nếu không được trân quý, bạn phải biết cách buông tay.

Vậy nên, mặc kệ là ai sau lưng bình phẩm về bạn thế nào, bạn đều hãy cứ xem như không. Bạn chỉ cần quan tâm đến hiện tại và tương lai của chính mình là đủ. Phàm là những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy quá mệt mỏi, hãy cứ trực tiếp kết thúc nó đi, đừng tự làm khó bản thân.

Vậy nên, nhất định phải ghi nhớ: phàm những gì ta mất đi, đều không phải là những thứ thực sự thuộc về ta; phàm những gì ta mong cầu, đều là những thứ đang trói buộc ta. Vạn vật đều là để ta dùng, chứ không thuộc sở hữu của ta. Người quân tử sai khiến vật, chứ không để vật sai khiến mình. Đạo lớn rất đơn giản: không ham muốn ắt sẽ kiên cường, thuận theo tự nhiên thì không gì là không làm được..!!!

Bài sưu tầm

– Ảnh minh hoạ 


 

Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn

Duyên Kỳ Ngộ

(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)

Bài viết của Đặng Thái Sơn

Lời phi lộ:

Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.

Chuyện được kể như dưới đây.

 Phùng Văn Phụng

Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.

Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”

Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”

Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.

Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.

Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.

Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.

*****

Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!

–          Nhớ rồi, nhớ rồi!…

–          Thầy nói, chụp hình, chụp hình…

–          Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.

      

Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…

Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!

Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.

– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?

      Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặng Thái Sơn

Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN. – Cang Huynh -Truyen ngan HAY

Cang Huynh

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN.

*Normandy, Pháp. 1944 bị quân Nazi Đức chiếm đóng. Phong trào Kháng chiến Pháp hiện diện khắp nơi. Những kẻ cộng tác bị xử bắn, những kẻ phản bội bị treo cổ. Tình yêu là thứ xa xỉ. Tình yêu với kẻ thù là án tử.

Một phụ nữ Pháp 19 tuổi tên là Colette L. làm việc trong một tiệm bánh mì. Mỗi sáng, cô ấy đi bộ qua một trạm kiểm soát Đức. Mỗi sáng, một người lính Đức 22 tuổi tên Hans W. nhìn cô ấy vượt qua. Mỗi sáng, đôi mắt của họ chạm nhau. Trong một giây. Sau đó họ nhìn đi chỗ khác.

Trong 6 tháng, họ đã không nói chuyện. Nó quá nguy hiểm. Anh ta là kẻ thù. Cô ấy là người bị chiếm đóng. Một cuộc trò chuyện duy nhất có thể khiến cả hai bị giết.

Rồi một ngày nào đó, Colette làm rơi cái giỏ của cô ấy. Hans đã nhặt nó lên. Ngón tay của họ chạm vào nhau. Colette thì thầm: “Merci”. “Hans thì thầm: “không có gì”. Đó là tất cả. Thế là đủ rồi. Vì gia đình anh ta sống gần biên giới Pháp – Đức nên anh nói được một ít tiếng Pháp.

Họ bắt đầu để lại những lá thư. Trong giỏ. Dưới một tảng đá. Trong một vết nứt trên tường tiệm bánh. Những dòng chữ đơn giản. “Anh đã thấy em hôm nay. Em trông thật đẹp”. “Tôi đã đếm từng giờ cho đến ngày mai.” “Bạn có tin vào Chúa không? Bây giờ tôi biết rồi. Bởi vì Ngài đã tạo ra bạn.”

Trong 4 tháng, các lá thư tiếp tục. Họ không bao giờ nói chuyện nữa. Họ không bao giờ chạm vào nhau lần nữa. Họ chỉ viết thôi.

Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 — D-Day — quân đồng minh đã đổ bộ thành công. Người Đức bắt đầu rút lui. Hans được lệnh rời khỏi ngôi làng. Anh ấy đã viết một lời nhắn cuối cùng. Anh ta để nó dưới tảng đá. Thư viết: “Tôi sẽ đi. Anh sẽ không bao giờ quên em. Anh sẽ tìm em sau chiến tranh. Chờ tôi nhé.”

Colette đã tìm thấy lá thư. Cô ấy bỏ nó vào túi. Cô ấy đi nhà thờ. Cô ấy đã cầu nguyện.

Quân Kháng chiến đã tìm thấy lá thư. Họ đã tìm thấy những lá thư khác. Họ đã tìm thấy Colette. Họ buộc tội cô ấy hợp tác. Họ nói: “Cô đã ngủ với kẻ thù. Cô đã cho anh ta thông tin. Cô là kẻ phản bội.”

Colette nói: “Tôi chưa bao giờ ngủ với anh ấy. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ấy. Chúng tôi chỉ viết thư thôi. Chúng tôi chỉ yêu.”

Quân kháng chiến đã không tin cô ấy. Họ đã tổ chức một phiên tòa. Phiên tòa kéo dài 10 phút. Bản phán quyết: có tội. Bản án: cái chết.

Colette đã bị bắn vào ngày 17 tháng 8 năm 1944. Cô ấy mới 20 tuổi. Lời cuối cùng của cô ấy: “Tôi không phải là kẻ phản bội. Tôi là một người phụ nữ yêu một người đàn ông. Chỉ có vậy thôi.”

Hans không biết. Anh ta đang rút lui về phía Đức. Ba tuần sau, anh ta đã bị bắt bởi lực lượng Mỹ. Anh ta đã ở trong trại tù chiến tranh khi nghe tin tức. Anh ấy đã ngừng ăn. Anh ta đã ngừng nói. Anh ta chết vì “suy dinh dưỡng” – nhưng những tù nhân khác nói rằng anh ta chết vì một trái tim tan vỡ. Anh ấy 23 tuổi.

Năm 2019, một đội xây dựng ở Normandy đã phá hủy một bức tường cũ. Họ tìm thấy một cái lỗ trên tường. Bên trong cái lỗ là một cái hộp thiếc. Bên trong hộp có 47 lá thư. Thư của Colette gửi cho Hans. Thư của Hans gửi Colette. Chúng đã được mẹ của Colette giấu trong bức tường, người đã tìm thấy những lá thư sau khi Colette chết và không thể chịu đựng được việc đốt cháy chúng.

Các lá thư hiện đang ở trong một viện bảo tàng ở Caen. Chúng được trưng bày trong hộp thủy tinh. Du khách đọc chúng và khóc.

Câu hỏi mà giám đốc bảo tàng – một người phụ nữ tên là Tiến sĩ Marie-Claire B. — hỏi mỗi vị khách: “Nếu sinh ra ở các quốc gia khác nhau, họ đã kết hôn và sống hạnh phúc. Nhưng họ sinh năm 1944. Vì vậy họ đã chết. Có bao nhiêu người yêu khác đã bị sát hại trong lịch sử, và bao nhiêu lá thư vẫn còn giấu trong tường, đang chờ được tìm thấy?” .

Cang Huỳnh

lược dịch từ Échos du temps. 


 

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Trần Trân

 Đêm chồn dầu vượt biển

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.

Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.

Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.

Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.

Mặt trái của Phương Án II

Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.

Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.

Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…

Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.

Tang thương Cát Lái

Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.

Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!

Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?

Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.

Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.

Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.

Trích Bên Thắng Cuộc

-Huy Đức


 

NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA…

Bang Uong

Luong Vu

 NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA..

Vua Charles công khai “chỉnh đốn” các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa bằng cách nhắc nhở họ về bổn phận thực thi cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với ông Trump – ngay trước mặt họ – trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội!

Trong bài phát biểu trước phiên họp chung của Quốc hội, Vua Charles III đã nhấn mạnh những cội rễ lịch sử sâu sắc gắn kết nền dân chủ Anh và Mỹ; ông lưu ý rằng Magna Carta – văn kiện cổ xưa có chức năng giới hạn quyền lực hoàng gia – đã được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án tại Tòa án Tối cao kể từ năm 1789.

Ông chỉ ra rằng Magna Carta, ra đời từ năm 1215, chính là nền tảng cho nguyên tắc khẳng định: quyền hành pháp phải có giới hạn, người dân được hưởng các quyền lợi, và nguyên thủ quốc gia cũng phải tuân thủ pháp luật.

Câu nói này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ các nhà lập pháp, khiến tất cả phải đứng dậy vỗ tay tán thưởng.

Thông điệp được gửi gắm là vô cùng rõ ràng: không một ai – ngay cả một vị vua, và chắc chắn là cả một vị tổng thống – được phép đứng trên pháp luật hay Hiến pháp.

Trong bối cảnh ông Donald Trump liên tục thách thức các giới hạn của quyền hành pháp và công kích những thể chế vốn được thiết lập để kiểm soát quyền lực của ông, lời nhắc nhở từ Vua Charles càng trở nên đầy trọng lượng và ý nghĩa.

Đó là một sự tương phản đầy mạnh mẽ: trong khi ông Trump liên tục công kích các thẩm phán, giới truyền thông và bất kỳ ai dám tìm cách kiềm chế ông, thì vị quân vương nước Anh lại đứng trước Quốc hội để tôn vinh chính những giá trị cốt lõi của trách nhiệm giải trình và một chính quyền có giới hạn quyền lực. Dân chủ – một giá trị mà ngay cả một vị vua thực thụ cũng biết trân trọng.

Nếu bạn tán đồng lời nhắc nhở đầy tinh tế nhưng cũng vô cùng dứt khoát của Vua Charles về việc không ai được đứng trên pháp luật, xin hãy nhấn “Thích” và chia sẻ bài viết này.