TỰ HUỶ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!”.

“Thiên đàng quan tâm đến thập giá; địa ngục khiếp hãi nó! Đang khi loài người – những sinh vật duy nhất – ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của nó! Ơn cứu độ chỉ đến khi Chúa Kitô được giương cao!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: ơn cứu độ chỉ đến từ thập giá Chúa Kitô! Nó không đến từ ước muốn hay sự sẵn lòng của một ai đó; nó phát xuất từ lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa, đến nỗi Ngài như phải ‘tự huỷ’. Đó là điều khó tin nhất!

Khi Israel kêu trách Chúa, rắn lửa – tượng trưng cho tội lỗi – bò ra cắn chết nhiều người – bài đọc một. Môsê van xin, Ngài bảo, “Hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống!”. Rắn đồng được treo lên đã cứu một dân; Chúa Kitô được treo lên sẽ cứu muôn dân. Con người chết không chỉ vì nọc độc, mà vì không chịu nhìn lên!

Chúa Kitô đã ‘tự huỷ’ chính mình. Đó là một tình yêu của một Đấng chấp nhận hạ mình đến cùng để kéo con người ra khỏi bóng tối và sự chết – không bị ràng buộc bởi điều kiện, không bị khuất phục bởi nỗi sợ hay tính toán. Nhưng điều lạ lùng là: nỗi đau vẫn còn đó, vết cắn vẫn còn đó; Ngài không xoá hiểm nguy, nhưng đặt ngay giữa nó một dấu chỉ cứu sống. Cứu độ không đến từ việc tránh né, nhưng từ việc dám đối diện và nhìn lên. Chính ở đó, sự sống bắt đầu. Nhìn lên, không phải để hết đau đớn, nhưng để thấy một tình yêu ‘tự huỷ’ đang mở ra – cho bạn, cho tôi – đến tận cùng. “Thập giá là cách Thiên Chúa nối kết đau khổ với tình yêu!” – Georgia Harkness.

Đó là điều khiến thập giá trở nên khó chấp nhận – nhưng đó lại là nơi duy nhất có thể chữa lành. “Thập giá Chúa Kitô chịu đóng đinh không phải là một vật trang trí hay một tác phẩm nghệ thuật; nhưng là mầu nhiệm về sự huỷ diệt của Thiên Chúa vì tình yêu. Sự cứu rỗi thế giới không được thực hiện bằng cây đũa thần của một vị thần tạo ra mọi thứ; thay vào đó, nó được thực hiện bằng sự đau khổ của Con Thiên Chúa và bằng chính cái chết của Ngài!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Như vậy, Chúa Kitô – Đấng được giương cao – đã không giữ lại điều gì cho mình. Ngài không cứu bằng quyền lực, nhưng bằng việc ‘tự huỷ’ đến tận cùng, trao ban chính mình trong đau đớn và vâng phục. Ngài không xuống khỏi thập giá – vì tình yêu không rút lui. Và chính lúc bị treo lên trong yếu đuối, Ngài lại tỏ lộ trọn vẹn căn tính của mình: Con của Cha, sống hoàn toàn cho Cha, và hiến mình vì chúng ta. Nhìn lên Ngài, chúng ta hiểu: ‘tự huỷ’ không phải là mất đi, nhưng là con đường để tình yêu đạt tới viên mãn. “Tin vào Chúa Kitô là vác lấy thập giá, bước theo Ngài trên con đường tình yêu tự hiến!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con xác tín, không nhìn lên, con sẽ ở lại với vết cắn; nhìn lên, con bắt đầu sống. Đừng để con là ‘sinh vật duy nhất’ ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 ***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần V Mùa Chay

Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 8,21-30

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được.” 22 Người Do-thái mới nói : “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói : ‘Nơi tôi đi, các ông không thể đến được’ ?” 23 Người bảo họ : “Các ông bởi hạ giới ; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này ; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. 24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” 25 Họ liền hỏi Người : “Ông là ai ?” Đức Giê-su đáp : “Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó. 26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật ; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.” 27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha. 28 Người bảo họ : “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy. 29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.” 30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.


 

Chăm một người bệnh nằm liệt giường 30 ngày …

 Chỉ cần chăm một người bệnh nằm liệt giường 30 ngày thôi, bạn sẽ hiểu một sự thật rất ít người dám nói ra.

Không phải ai chăm người bệnh cũng luôn dịu dàng.

Không phải ai chăm cha mẹ già lúc nào cũng đủ kiên nhẫn.

 Vì có những ngày

Bạn mệt đến mức chỉ muốn trốn đi một lúc. 

Ban ngày:

 đút từng thìa cháo

lau người

thay tã

đỡ dậy

xoa lưng

cho uống thuốc.

dọn dẹp nôn ói

Và suy nghĩ lo toan về cơm áo gạo tiền và chăm sóc người bệnh cùng đàn con thơ??

 Ban đêm: 

Mới chợp mắt được một chút lại nghe tiếng gọi:

“Con ơi…” “Em ơi”, “Bà nó ơi”, “Anh ơi”, “Bố mẹ ơi”, “Chị ơi”…

 Có khi chỉ là:

“Cho mẹ uống nước”..

“Bố đau quá”…

 “Tôi đái ra giường rồi, thay bỉm khác bà nó ơi”…

 Những việc đó không hề lớn lao.

Nhưng khi lặp lại 30 ngày… 60 ngày… 1 năm… thậm chí cả đời..

Nó trở thành một thứ áp lực vô hình.

Không ai nhìn thấy.

Nhưng người chăm thì kiệt sức từng chút một. 

Có những đêm người chăm ngồi bên giường bệnh.

Không khóc.

Chỉ thở dài, tiếng thở đầy chất chứa của tiếng lòng.

Vì họ biết:

Ngày mai vẫn sẽ lặp lại y hệt ngày hôm nay.

 Lúc đó bạn mới hiểu:

Tình yêu thương không phải lúc nào cũng là cảm xúc đẹp.

Đôi khi nó là sự chịu đựng âm thầm.

Người bệnh đau một.

Người chăm mòn mười.

Không phải vì họ không thương.

 Mà vì:

cơ thể họ mệt

tinh thần họ kiệt

tiền bạc cạn dần.

 Rồi sẽ có một ngày…

 Bạn chợt nghĩ một câu mà chính mình cũng thấy tội lỗi:

“Giá như người thân mình… đỡ khổ hơn một chút thì mình cũng đâu khổ thế này”. Hoặc tệ hơn là:

“Mong cho người nằm đó, đi sớm, đi nhanh về thế giới bên kia cho đỡ khổ thân họ và cũng đỡ khổ cho người chăm sóc”.

 Không phải vì bạn vô tình, không phải vì bạn vô cảm, không phải vì bạn không có lòng yêu thương.

Mà vì bạn đã thấy rõ cảnh:

“Sống lay lắt đôi khi còn đau hơn cả cái chết”.

 Những người từng chăm người bệnh liệt lâu ngày đều hiểu một điều:

Điều đáng sợ nhất của tuổi già hay lúc bệnh tật không phải là chết.

Mà là nằm đó… và trở thành gánh nặng.

 Vì vậy khi còn khỏe:

Hãy chăm sóc cơ thể mình, yêu thương bản thân không phải là ích kỷ. Ích kỷ là khi cướp giật chiếm đoạt của người khác làm của mình. Còn chăm sóc bản thân cho thân khỏe mạnh là việc tốt và nên làm, đáng để làm.

 Đừng đợi đến khi:

đi lại khó khăn

ăn uống phụ thuộc

vệ sinh phải nhờ người khác.

 Không ai muốn con cái hay vợ chồng mình phải thức trắng đêm thậm chí nhiều đêm vì mình.

 Không ai muốn người mình thương phải kiệt sức vì mình, vay mượn nợ nần đầm đìa vì mình.

 ❤ Người từng chăm người bệnh liệt sẽ hiểu:

 Đôi khi thứ quý giá nhất không phải tiền bạc.

Mà là một cơ thể còn tự lo được cho mình.

 (Nguồn: Share trên mạng)

From: ctkd-k & NguyenNThu


 

NHUẬN BÚT Ở TÂY PHƯƠNG – Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, có khá nhiều người ngộ nhận về vấn đề nhuận bút ở Tây phương. Thỉnh thoảng, đọc báo, nghe nói nhà văn nào đó, ra sách, in một triệu cuốn và trở thành triệu phú đô Mỹ, người ta dễ ngỡ đó là hiện tượng phổ biến ở Tây phương.

Thật ra, không phải.

Số những người may mắn như thế rất ít. Cả thế giới, may ra, được vài ngàn người. Riêng ở Úc, với dân số khoảng 27 triệu, tôi nghĩ nhiều nhất là vài trăm người. Còn những người còn lại? Cách đây khoảng 10 năm, theo một cuộc điều tra của trường Đại học Macquarie, căn cứ trên 1000 tác giả, người ta thấy thu nhập trung bình của họ với tư cách là tác giả (chủ yếu là từ nhuận bút và các khoản trợ cấp khác) chỉ có 12.900 đô một năm. Nói cách khác, thu nhập từ nhuận bút chưa bằng tiền trợ cấp… thất nghiệp.

Vậy làm sao họ sống được?

Nói chung, ở Úc cũng như nhiều quốc gia Tây phương, trừ một thiểu số ít ỏi sống được nhờ nhuận bút, đa số sống bằng một nghề gì khác. Nhiều nhất là dạy học. Thường là đại học. Viết sách hoặc viết báo, được ít tiền: Càng vui. Không thì cũng chả sao. Bởi vậy, cũng theo cuộc điều tra kể trên, thu nhập chung, từ nhiều nguồn, của giới cầm bút Úc lên đến 62.000 đô một năm!

Trong hơn 20 cuốn sách tôi đã xuất bản, có một cuốn bằng tiếng Anh, Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship Between Literature and Politics, gần 400 trang, giá ghi trên Amazon.com là gần 100 đô (Mỹ) một cuốn. Trong một buổi học, tôi đố các sinh viên của tôi: Tôi nhận được bao nhiêu tiền? Hầu hết đều đồng thanh: Nhuận bút thường là 10%. Nếu sách in được 1000 cuốn, nhuận bút cho tác giả sẽ là khoảng 10.000 đô! Tôi cười, đáp: Không có đồng nào cả!

Trước khi in sách, trong hợp đồng có ghi rõ: Nhuận bút cho tác giả là 10%, nhưng chỉ tính từ cuốn thứ 1001 trở lên! Nói cách khác, tiền lời thu từ 1000 cuốn đầu tiên nhà xuất bản sẽ hưởng hết. Để trừ vào các khoản chi phí hành chính, quảng cáo và in ấn. Với loại sách nghiên cứu như sách của tôi hay những gì tương tự, số sách bán được khó hy vọng vượt quá 1000 cuốn. Do đó, rốt cuộc, tác giả không được đồng nào cả.

Dù sao, tôi cũng may mắn hơn một người bạn của tôi. Anh ấy, người Úc, là chuyên gia khá nổi tiếng về Thái Lan. Năm 2000, một nhà xuất bản ở Anh nhận in sách của anh. Gần in, nhà xuất bản yêu cầu anh làm bảng tra cứu cuối sách (index). Lúc ấy, anh phát hiện bị bệnh ung thư gan. Đang mệt mỏi và tuyệt vọng, anh bảo nhà xuất bản nhờ ai làm giùm anh chuyện đó. Nhà xuất bản nhận lời, một cách đầy nhiệt tình. Mấy tháng sau, anh nhận được một bản biếu (chỉ một bản thôi!), kèm theo một hoá đơn làm index là 400 bảng Anh! Nhà xuất bản nói là, vì anh từ chối, họ phải nhờ một chuyên viên làm giúp. Anh chửi thề ỏm tỏi. Nhưng cũng phải chuyển tiền trả cho nhà xuất bản! Tiền bản quyền cho anh, trong cuốn sách đó, cũng giống như tôi: Con số không!

Các bạn có thể tự hỏi: Vậy tại sao phải viết sách làm gì cho mệt vậy? Câu trả lời: Vì đam mê. Để có tiếng. Và để có… tiền.

Như tôi viết ở trên, phần lớn giới cầm bút ở Tây phương, nhất là ở khu vực biên khảo, đều dạy đại học. Ở đại học, ngoài chuyện lên lớp và hướng dẫn sinh viên làm luận án (thạc sĩ, tiến sĩ), mọi người phải tham gia vào hoạt động nghiên cứu. Họ tính điểm rất cụ thể: In bài báo là 2 điểm; in cuốn sách là 4 điểm, v.v… Việc xét tăng cấp và lên lương tuỳ thuộc vào số điểm nghiên cứu và xuất bản. Ai không xuất bản sẽ có nguy cơ bị sa thải. Nếu không thì cũng xấu hổ với đồng nghiệp. Cho nên ai cũng cố.


 

Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu..” (Ga 8:11)-Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày thứ 2 đầu tuần luôn bình an, vui vẻ, trong sáng,

không một biến cố nào làm xáo trộn tâm hồn bạn được. 

Nhớ cầu nguyện cho nhau và trên thế giới trong thời loạn này nhé. 

Cha Vương

Thứ 2: 23/03/2026. (n22-21)

TIN MỪNG: Người đàn bà đáp : “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” (Ga 8:11)

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong một thế giới đang bị mất đi ý thức về tội ngược lại họ lại nhẫn tâm với tội nhân bởi vì con người thường hay thích “vạch lá tìm sâu tìm cái lỗi của người khác, mà không tự xét đến cái lỗi của mình” (Cổ ngạn). Đây là điều mà Chúa đang nói với bạn và mình hôm nay nếu có lên án thì hãy lên án tội của chính mình trước đã. Tự thú nhận tội mình là điều rất cần thiết. “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…!” Là một người Ki-tô hữu bạn không thể thăng tiến đời sống đạo được nếu bạn không biết tự lên án mình: “tha kẻ dể (khinh thường hạ nhục) ta, nhịn kẻ mất lòng ta”.  Hành động tự thú đòi hỏi một con tim biết khiêm nhường. Khiêm nhường là cội nguồn của mọi ân sủng! Nó  không những phá vỡ SỰ AN NINH GIẢ TẠO của bạn (do tưởng mình không có tội hay chỉ có lỗi qua quít, để rồi vẫn sống khơi khơi và dửng dưng), mà còn khiến bạn phải khiếp sợ trước nguy cơ do tội lỗi gây ra, hoặc do khả năng phạm tội mang lại. Thái độ khiếp sợ này sẽ làm cho bạn trở lên tốt hơn và giúp bạn chống lại tội lỗi. Ước mong bạn hãy noi gương Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8) 

LẮNG NGHE: Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. (Gl 5:19-21

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thương xót con vì con đã xúc phạm đến Chúa Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho con và ban ơn cứu độ cho con!

THỰC HÀNH: Bạn nghĩ gì về câu ca dao sau đây: Chân mình thì lấm lê mê / Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.

From: Do Dzung

*******************

GIỌT LỆ ĂN NĂN..Những bài thánh ca MÙA CHAY ĐẶC BIỆT…Làm gì để có cuộc đời thanh thản??

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi

Trầm Mặc Huơng Lai

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi.

Trong khi chị đang quằn quại trên giường bệnh, cơ thể chị trở thành nền tảng của một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô — còn con cái của chị thì không đủ tiền để mua bảo hiểm y tế.

Henrietta Lacks mới 31 tuổi vào năm 1951 khi cơn đau ập đến. Nhói, dai dẳng, sâu tận bụng dưới. Chị đã sinh năm người con và từng làm việc trên các cánh đồng thuốc lá ở miền nam Maryland, nên chị biết phân biệt giữa một khó chịu thoáng qua — và một hiểm họa.

Sự việc nghiêm trọng. Rất nghiêm trọng.

Chị đến bệnh viện Johns Hopkins ở Baltimore — một trong số ít nơi khi đó chịu chữa cho bệnh nhân da đen. Các bác sĩ phát hiện một khối u lớn ở cổ tử cung, bóng loáng, tím sẫm, to bằng một đồng tiền. Ung thư cổ tử cung. Giai đoạn muộn. Hung hãn.

Họ lập tức bắt đầu xạ trị.

Và khi Henrietta nằm trên bàn, vừa sợ hãi vừa đau đớn, một bác sĩ tên George Gey đã lấy một mẫu từ khối u của chị — mà không có sự đồng ý của chị.

Năm ấy là 1951. “Đồng ý sau khi được giải thích” chưa phải là điều bắt buộc — nhất là với bệnh nhân da đen và nghèo. Bác sĩ thường xuyên lấy mô từ những người như Henrietta, làm thí nghiệm và “tiến bộ khoa học” trên lưng những con người không có lựa chọn cũng chẳng có tiếng nói.

Nhưng tế bào của Henrietta thì khác.

Trong phòng thí nghiệm, trợ lý của Gey đặt mẫu mô vào đĩa nuôi cấy, nghĩ rằng nó sẽ chết sau vài ngày, như mọi mẫu tế bào người trước đó. Tế bào người chưa từng sống được bên ngoài cơ thể. Chưa từng.

Các nhà khoa học đã cố gắng suốt hàng thập kỷ. Luôn thất bại.

Còn tế bào của Henrietta thì không chết.

Chúng nhân đôi trong 24 giờ. Rồi lại nhân đôi. Chúng sinh sôi với một sức sống dữ dội. Chúng phát triển nhanh đến mức phòng thí nghiệm không theo kịp.

Chúng dường như có thể sống mãi.

Các nhà khoa học đặt tên cho chúng là tế bào HeLa — lấy từ tên chị, dù suốt nhiều thập kỷ sau đó họ không chịu nói đó là ai.

Henrietta Lacks qua đời ngày 4 tháng 10 năm 1951, tám tháng sau chẩn đoán. Chị 31 tuổi. Cơ thể chị bị tàn phá, ung thư lan tràn khắp các cơ quan như một đám cháy.

Chị để lại một người chồng và năm đứa con, trong đó có một bé sơ sinh.

Chị ra đi với niềm tin rằng thân xác mình cuối cùng sẽ được yên nghỉ.

Nhưng thay vào đó, nó bắt đầu “làm việc”.

Tế bào HeLa được gửi đi khắp các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng trở thành dòng tế bào người bất tử đầu tiên — nền tảng của nghiên cứu y sinh hiện đại.

Chúng góp phần phát triển vắc-xin bại liệt. Nghiên cứu ung thư, AIDS, tác động của phóng xạ. Tìm hiểu cách mô người phản ứng ngoài không gian. Thử nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm, lập bản đồ gen, nhân bản.

Các công ty dược nuôi cấy chúng hàng tấn. Các trường đại học xây cả chương trình xoay quanh chúng. Một ngành công nghiệp nhiều tỷ đô ra đời nhờ tế bào lấy từ một phụ nữ da đen nghèo — người chẳng hề hay biết, chẳng bao giờ đồng ý, và cũng không nhận được một xu nào.

Gia đình chị cũng vậy.

Suốt 20 năm, họ không hề biết.

Năm 1973, một nhà khoa học gọi cho chồng của Henrietta để xin mẫu máu của các con nhà Lacks — và lúc đó gia đình mới biết sự thật: tế bào của Henrietta vẫn đang sống. Vẫn được sử dụng. Trong các phòng thí nghiệm khắp thế giới, bị mua bán, được trích dẫn trong hàng ngàn nghiên cứu.

Những đứa con của chị bàng hoàng. Lạc lõng. Rồi phẫn nộ.

Bởi khi tế bào của Henrietta mang lại hàng tỷ đô, gia đình chị không đủ tiền chữa bệnh. Khi các nhà nghiên cứu xây dựng sự nghiệp, con cháu chị vẫn sống trong cảnh nghèo khó và bệnh tật. Khi tế bào của chị cứu sống biết bao người, chính người thân của chị lại không tiếp cận nổi những dịch vụ y tế cơ bản nhất.

Đó không phải chuyện trừu tượng. Đó là một di sản của bất công.

Suốt nhiều thập kỷ, người ta nói về tế bào HeLa mà chẳng bao giờ gọi tên chị. Trong các bài báo khoa học, chị bị biến thành “Helen Lane”, “Helen Larson”. Vô danh. Bị xóa mờ. Bị rút gọn thành một dòng tế bào thay vì một con người.

Phải nhờ đến một nhà báo, Rebecca Skloot, và lòng can đảm của Deborah — con gái Henrietta — sự thật mới được phơi bày. Năm 2010, cuốn sách The Immortal Life of Henrietta Lacks buộc giới khoa học phải đối mặt với những gì họ đã làm — không chỉ với Henrietta, mà với biết bao bệnh nhân nghèo, da đen khác bị sử dụng mà không có đồng ý hay bồi thường.

Sự thức tỉnh đến chậm chạp.

Năm 2013, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) cuối cùng ký thỏa thuận cho gia đình Lacks quyền tham gia quyết định việc sử dụng dữ liệu từ tế bào HeLa. Năm 2021, gia đình khởi kiện một công ty dược vì đã trục lợi từ tế bào của chị mà không được phép. Vụ việc vẫn đang được giải quyết.

Ngày nay, người ta tôn vinh chị. Những tòa nhà mang tên chị. Giải thưởng được trao để tưởng nhớ chị. Năm 2023, Smithsonian khánh thành tượng đồng của chị.

Nhưng không gì xóa được điều này: Henrietta Lacks chưa từng có quyền được chọn.

Chị đến để tìm chữa trị. Chị ra về như “nguyên liệu” cho khoa học.

Tế bào của chị đã được dùng trong hơn 75.000 nghiên cứu. Chúng góp phần vào những công trình đoạt giải Nobel. Chúng tạo ra hàng tỷ đô.

Còn con cháu chị, đến giờ vẫn chật vật trả tiền bảo hiểm y tế — thứ mà chính tế bào của chị đã góp phần làm nên.

Đây không chỉ là chuyện quá khứ. Đó là lời nhắc: tiến bộ y học đã nhiều lần được xây trên những thân thể không thể nói “không”. Ranh giới giữa khoa học và bóc lột lâu nay vẫn do quyền lực vạch ra, chứ không phải đạo đức.

Henrietta Lacks chỉ mong một điều: bớt đau. Sống đủ lâu để nuôi con.

Thay vào đó, chị trở nên “bất tử” — trong phòng thí nghiệm, trong giáo trình, trong cả một nền công nghiệp sinh ra từ cơ thể chị.

Nhưng không phải theo cách chị sẽ chọn.

Họ đã lấy tế bào của chị mà không hỏi. Họ đã xây cả một đế chế trên thân xác chị.

Và suốt nhiều thập kỷ, họ thậm chí không thèm gọi tên chị.

Henrietta Lacks. Hãy nói tên chị. Hãy ghi nhớ.

Tế bào của chị vẫn còn sống. Vẫn hoạt động. Vẫn đang cứu người.

Chị xứng đáng được nhớ đến nhiều hơn là “nguyên liệu” của một phát hiện vĩ đại.

Chị là một người phụ nữ. Một người mẹ. Một con người có giá trị.

Không chỉ là một dòng tế bào. Không chỉ là HeLa.

Henrietta.

St


 

HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Lm. Anmai, CSsR

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR


 

“Tôi không muốn tự do chỉ cho riêng mình.”(Phạm Đoan Trang)

Teerapong Chalchalerm 

Phạm Đoan Trang không chỉ là một cái tên – chị là một câu hỏi lớn treo lơ lửng giữa thời đại: con người có thể đi xa đến đâu khi lựa chọn nói thật? Và cái giá của sự thật ấy là gì?

Nếu nhìn từ bên ngoài, cuộc đời chị có thể đã rẽ sang một hướng rất “an toàn”: một công việc ổn định, một vị trí trong hệ thống, một cuộc sống không thiếu thốn. Nhưng chính trong những hành lang tưởng như yên ổn ấy, chị đã nhìn thấy những khoảng lặng đáng sợ – nơi mà sự thật bị bóp méo, nơi mà tiếng nói bị kìm nén. Và rồi, thay vì bước tiếp trên con đường được vạch sẵn, chị quay lưng lại với nó. Không ồn ào, không tuyên bố lớn lao – chỉ là một quyết định lặng lẽ nhưng dứt khoát: viết.

Nhưng viết, với chị, không phải là hành động vô hại. Mỗi dòng chữ là một vết cắt vào sự im lặng. Mỗi cuốn sách là một lời thách thức. “Chính trị bình dân” không chỉ giải thích, nó phá vỡ những bức tường vô hình. “Phản kháng phi b*ạo l*ực” không chỉ là lý thuyết, mà là lời kêu gọi hành động trong im lặng. “Cẩm nang nuôi tù” – nghe tưởng chừng lạnh lùng – lại là một tiếng khóc nghẹn dành cho những gia đình bị bỏ lại phía sau.

Và rồi, thực tại phản hồi lại chị không phải bằng tranh luận – mà bằng b*ạo l*ực.

Năm 2015, khi cơ thể chị bị đánh gãy, đó không chỉ là một sự trừng phạt thể xác. Đó là một thông điệp: “Dừng lại.” Nhưng điều đáng sợ – hoặc đáng khâm phục – là chị đã không dừng. Một con người bình thường có thể chọn im lặng sau nỗi đau ấy. Nhưng chị thì không. Chị viết tiếp, dù mỗi bước đi đều đau. Chị lên tiếng, dù biết mỗi lời nói có thể kéo theo một cái giá mới.

Có một nghịch lý trong con người chị: càng bị bóp nghẹt, tiếng nói lại càng lan xa.

Khi bị bắt vào ngày 6 tháng 10 năm 2020, đó không phải là một sự kiện bất ngờ đối với những ai theo dõi chị. Nó gần như là một điều “đã được dự báo”. Nhưng điều khiến người ta day dứt không phải là việc chị bị bắt – mà là sự bình thản trước đó của chị. Như thể chị đã chuẩn bị từ lâu. Như thể chị hiểu rõ kết cục, nhưng vẫn bước tới.

Bản án 9 năm tù không chỉ là con số. Nó là nỗ lực đóng lại một tiếng nói. Nhưng nghịch lý lại tiếp tục: cánh cửa nhà tù khép lại, thì cánh cửa thế giới mở ra. Tên của chị xuất hiện trong các giải thưởng quốc tế, trong các bài báo, trong những cuộc thảo luận vượt khỏi biên giới. Những người chưa từng gặp chị bắt đầu biết đến chị. Những người chưa từng đọc chị bắt đầu tìm đọc.

Trong khi đó, bên trong song sắt, một cơ thể yếu dần đi. Những căn bệnh chồng chất. Những ngày tháng cô lập. Không ánh đèn sân khấu, không tiếng vỗ tay – chỉ có sự im lặng kéo dài. Và chính ở đó, câu hỏi trở nên sắc lạnh hơn bao giờ hết: điều gì giữ một con người không gục ngã?

Có lẽ không phải là sức mạnh thể chất. Cũng không phải là niềm tin mơ hồ. Mà là một ý niệm rất cụ thể, rất đau đáu: rằng nếu mình im lặng, sẽ có thêm nhiều người phải im lặng. Và nếu mình tiếp tục, dù chỉ một chút, thì đâu đó sẽ có người khác dám bước thêm một bước.

Chị từng nói: “Tôi không muốn tự do chỉ cho riêng mình.” Câu nói ấy, đặt trong hoàn cảnh bình thường, có thể chỉ là một lý tưởng đẹp. Nhưng đặt trong hoàn cảnh của chị, nó trở thành một lời cam kết – và cũng là một gánh nặng.

Vì tự do cho “tất cả” là một khái niệm rộng lớn đến mức gần như không thể nắm bắt. Nhưng chị vẫn chọn mang nó.

Có những con người làm thay đổi lịch sử bằng những hành động lớn. Và có những con người, như chị, làm thay đổi nhận thức – từng chút một, từng người một. Không cần phải đứng trên bục cao, không cần phải có quyền lực. Chỉ cần kiên trì không im lặng.

Hình ảnh về chị không phải là một biểu tượng hoàn hảo. Đó là một con người với cơ thể yếu ớt, với nỗi đau rất thật, với những giới hạn rất người. Và chính vì thế, sự dũng cảm của chị trở nên gần gũi hơn – và cũng khó đạt tới hơn. Vì nó không phải là thứ bẩm sinh, mà là một lựa chọn lặp đi lặp lại, mỗi ngày.

Có thể sẽ còn rất lâu trước khi cánh cửa kia mở ra. Có thể những năm tháng phía trước vẫn đầy thử thách. Nhưng có một điều gần như chắc chắn: câu chuyện của Phạm Đoan Trang sẽ không dừng lại ở những bức tường.

Nó đã thoát ra rồi – qua những trang sách, qua những người đọc, qua những cuộc trò chuyện âm thầm nhưng bền bỉ.

Và điều khiến người ta xúc động không phải là sự bi thương của câu chuyện ấy, mà là một sự thật rất đơn giản: giữa rất nhiều lựa chọn dễ dàng hơn, chị đã chọn con đường khó nhất – và vẫn đi đến cùng.


 

TAI TIẾNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.

Thật thú vị, câu chuyện người phụ nữ ngoại tình không có trong một số bản thảo cổ nhất của Phúc Âm Gioan. Thánh Augustinô cho rằng các bản sao đã loại bỏ nó vì “tai tiếng của lòng thương xót” khiến những kẻ theo chủ nghĩa đạo đức nghiêm ngặt khó chịu.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các nhà lãnh đạo tôn giáo dẫn đến Chúa Giêsu một người nữ ngoại tình – một kịch bản có lẽ chính họ dàn dựng – để gài bẫy Ngài. Mục tiêu không phải là người phụ nữ, mà là Ngài. Nhưng thật bất ngờ, Chúa Giêsu không kết án, Ngài xót thương. Và điều đó trở thành một “tai tiếng” – ‘tai tiếng của lòng thương xót’.

Hãy đặt cảnh này cạnh một kịch bản khác – một người nữ “không ngoại tình” thời Đaniel – bài đọc một. Cô ấy đúng, sạch; không ai tố; không có đá; không va chạm – nên cũng không ai cần xét mình. Còn người nữ của Gioan – bị kéo ra ánh sáng, bị gọi tên bằng tội – lại làm mọi sự đảo chiều. Người ta xử cô, nhưng họ lại bị chất vấn. Vì khi Chúa Giêsu cúi xuống viết, Ngài đẩy luật vào lương tâm – để từng người thấy mình cần được thương. Nhận ra điều đó, đá rơi. “Ai trong các ông sạch tội!”. Một lời không kết án – nhưng mở đường cho lòng thương xót. “Chỉ một mình Đấng vô tội có quyền ném đá – và Ngài đã không làm!” – Phanxicô.

Đó không phải là một sự dễ dãi; nhưng là một sự thật khó nuốt: con người thích luật khi nó cho phép mình đứng trên; một khi luật quay lại soi mình, ai ai cũng lùi lại. Chính khoảnh khắc đó, điều người ta sợ nhất xảy ra – ‘tai tiếng của lòng thương xót’. Tai tiếng vì người có quyền kết án lại không kết án; tai tiếng vì Thiên Chúa không đứng về phía những viên đá, mà đứng về phía một con người đang bị nghiền nát – “Dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng” – Thánh Vịnh đáp ca.

Nếu thế giới chỉ có những người nữ “không ngoại tình”, thế giới sẽ rất gọn gàng: không có nước mắt, không có trở lại; nhưng cũng không có cứu độ. Chính người nữ ngoại tình mở ra điều mà lề luật không thể mở – một lối về. Không phải vì cô ấy tốt, nhưng vì có một Đấng nhìn cô khác – không gọi cô bằng tội, cũng không bỏ qua tội; nhưng chỉ nói, “Tôi không kết án chị… đừng phạm tội nữa!”. Một bên là vực thẳm, một bên là con đường. “Lòng thương xót là tên gọi thứ hai của tình yêu!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Chúng ta dễ đứng về phía người nữ “không ngoại tình” để thấy mình ổn. Nhưng nếu thành thật, chúng ta luôn có đá trong tay, dẫu có tội trong lòng; muốn kết án để nhẹ mình và sợ bị đưa ra ánh sáng. Ở đó, Chúa Kitô không đứng về phía cái đúng; Ngài đứng phía chúng ta sắp gãy và giữ chúng ta lại trong một khoảng rất hẹp: không còn gì để biện minh, nhưng vẫn chưa bị loại trừ. Đó là ‘tai tiếng của lòng thương xót’ – không êm, nhưng cứu. “Chị cứ về đi!” – mở lại một đời; “Đừng phạm tội nữa!” – không cho phép sống như cũ.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; đừng để con sạch mà xa; cho con thở bằng lòng xót thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần V Mùa Chay

Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 8,1-11

1 Khi ấy, Đức Giê-su đến núi Ô-liu.

2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. 3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người : “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?” 6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ : “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” 8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. 9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói : “Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?” 11 Người đàn bà đáp : “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói : “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !”

CHUYỆN 13 THANH NIÊN MÔNG CỔ THUỘC “THÀNH PHẦN PHẢN ĐỘNG”

Trần Trung Đạo

 (Bài này còn có tựa “Cách Mạng Dân Chủ Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ”)

Cách mạng dân chủ từ Âu sang Á đều phát xuất từ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân lựa chọn sự dứt khoát với quá khứ, đồng hành về phía tương lai tự do dân chủ của dân tộc và thời đại.

Trong lịch sử hiện đại chưa có sự thay đổi căn bản của một xã hội từ độc tài CS sang dân chủ tự do bằng thư thỉnh nguyện.

Người viết đã trình bày khá nhiều về các cuộc cách mạng Liên Xô, Đông Âu, các nước Bắc Phi và gần đây là Miến Điện, nơi đó các lãnh tụ cách mạng là những nhân vật được thế giới quan tâm theo dõi và độc tài lo ngại khi phải nặng tay với họ. Lần này, xin giới thiệu với bạn đọc những lãnh tụ dân chủ còn khá xa lạ với chúng ta.

Trước hết một anh tên là Tsakhiagiin Elbegdorj, sinh năm 1963, một trong những lãnh tụ của phong trào dân chủ Mông Cổ.

Năm 1989, Elbegdorj, người được ca ngợi như là Thomas Jefferson của Mông Cổ, chi là một thanh niên 26 tuổi mới từ Liên Xô trở lại quê hương sau khi hoàn tất chương trình đại học báo chí và triết học Mác Lê.

Trên đường từ Moscow về lại Ulaanbaatar, hành trang của Elbegdorj không phải là sách vở về chủ nghĩa CS mà anh học ở trường đảng nhưng là những đổi thay từ chính sách Glasnost (Cởi mở) của Mikhail Gorbachev.

Anh đã suy nghĩ rất nhiều khi nhìn những hạt mưa dân chủ đang bắt đầu nhỏ giọt xuống vùng đất bảy mươi bốn năm hạn hán trong độc tài CS và mơ ước những đổi thay sẽ đến cho dân tộc anh.

Mông Cổ có một vị trí địa chính trị rất khó khăn. Quốc gia vùng trái độn này nằm giữa hai siêu cường CS Liên Xô và Trung Cộng, phía tây là một nhóm các quốc gia Trung Á độc tài và xa hơn phía Đông là một Bắc Hàn cô lập.

Một khi có tình huống bất lợi, Trung Cộng có thể sẽ áp lực chính trị và ngay cả có thể can thiệp bằng quân sự để ngăn chặn phong trào dân chủ như vết dầu loang.

Những ai học kinh tế chính trị của các trường đảng CS trung ương, Mông Cổ thường được dùng làm ví dụ để chứng minh cho quan điểm “đột biến cách mạng” của Lenin khi ông ta cho rằng một nước lạc hậu, phong kiến có thể nhảy vọt lên xã hội chủ nghĩa không phải “kinh qua” giai đoạn tư bản. Điều đó cho thấy, ngay cả các nước CS cũng thừa nhận Mông Cổ còn trong vòng lạc hậu.

Tuy nhiên, nỗi lo lắng lớn nhất của Elbegdorj là hơn suốt 71 năm, quê hương của Đại Đế Thành Cát Tư Hãn chưa hề nghe đến hai chữ “tự do,” “dân chủ”.

Ngoại trừ nền độc lập ngắn ngủi năm 1911, chiều dài lịch sử của Mông Cổ hiện đại bị che phủ trong bóng đen của tư tưởng độc tài CS. Nhưng Elbegdorj cũng tin rằng nếu nhân dân Mông Cổ đoàn kết vì tương lai dân chủ, Mông Cổ sẽ vượt qua được những khiếm khuyết bên trong cũng như đe dọa từ bên ngoài. 

Elbegdorj biết những “đổi mới” tại Liên Xô hay một số nước CS Đông Âu chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời. Theo anh chỉ có dân chủ mới cứu được Mông Cổ. Dân chủ là đôi cánh đưa Mông Cổ ra khỏi vòng nghèo đói, độc tài, bế tắc của một quốc gia vùng độn (buffer state).

Trong diễn văn ngày 28 tháng 11, 1989, Elbegdorj phát biểu “Mông Cổ cần dân chủ và minh bạch” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ mục đích này.

Từ quan điểm đó, thay vì viết thư thỉnh nguyện lãnh đạo CS Mông Cổ thực hiện các chính sách tương tự như Glasnost của Mikhail Gorbachev, Elbegdorj và các bạn chủ trương Mông Cổ phải dứt khoát thay đổi từ CS sang dân chủ bằng một cuộc cách mạng bất bạo động.

Sau khi về nước 1989, Elbegdorj sáng lập một tờ báo đối lập và anh đặt tên  báo là Dân Chủ.

Nhóm bạn của Elbegdorj tổ chức các cuộc biểu tình, các buổi tuyệt thực đòi dân chủ và minh bạch.

Cuộc biểu tình tuyệt thực đầu tiên ngày 10 tháng 12 năm 1989 do 13 người trẻ phát động.

Ngày nay lịch sử Mông Cổ gọi họ một cách kính trọng là “13 nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên” nhưng dĩ nhiên trong năm 1989, bộ máy tuyên truyền CS Mông Cổ gọi họ là “mười ba tên phản động”.

Danh sách 13 người đầu tiên của phong trào dân chủ Mông Cổ 1990:

  1. Tsakhiagiin Elbegdorj (27 tuổi, lãnh tụ phong trào dân chủ, Thủ tướng Cộng hòa Mông Cổ)
  2. Erdeniin Bat-Üül (Lãnh tụ Đảng Dân Chủ Mông Cổ)
  3. Davaadorjiin Ganbold (Lãnh tụ Đảng Tiến Bộ Dân Tộc Mông Cổ )
  4. Khoovzoin Maam (Lãnh tụ Đảng Lao Động Tự Do Mông Cổ)
  5. Punsalmaagiin Ochirbat (Tổng thống đầu tiên của Mông Cổ được bầu 1990)
  6. Dumaagiin Sodnom (Thủ tướng Mông Cổ, 1990)
  7. Sharavyn Gungaadorj (Thủ tướng Mông Cổ từ tháng 3 đến tháng 9, 1990)
  8. Dashiin Byambasüren (Thủ tướng Mông Cổ sau tháng 9, 1990)
  9. Dari-Sukhbaatar
  10. Chimediin Enkhee
  11. Bat-Erdeniin Batbayar
  12. Jambyn Batmönkh
  13. Gombojavyn Ochirbat

Nhưng những nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên đó không phải là những người làm nên lịch sử.

Cuộc cách mạng dân chủ không làm rơi một giọt máu nào ở Mông Cổ là do đại đa số trong số 2.8 triệu dân Mông Cổ chọn đứng về phía tương lai, chọn dứt khoát với quá khứ, chọn đi trên con đường thời đại, trong số đó có cả Tổng Bí Thư CS thức thời Jambyn Batmönkh.

Sau cách mạng dân chủ thành công, năm 1998, Elbegdorj được bầu vào chức vụ Thủ Tướng Cộng Hòa Mông Cổ và lần nữa nhiệm kỳ 2004-2006, và năm 2009, ông được bầu làm Tổng thống Cộng Hòa Mông Cổ.

Học bài học đấu tranh dân chủ của Elbegdorj và nhân dân Mông Cổ để củng cố niềm tin và hy vọng cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Anh Elbegdorj không cô đơn khi ngồi tuyệt thực đòi minh bạch giữa mùa đông Mông Cổ và rồi người Việt cũng sẽ không cô đơn khi xuống đường đòi minh bạch trên khắp nẻo đường Việt Nam.

Elbegdorj không phải là con của khai quốc công thần như Aung San Suu Kyi, không phải là luật sư nổi tiếng như Nelson Mandela, không phải là lãnh tụ của phong trào Solidarity Ba Lan được cả Đức Giáo Hoàng và TT Reagan ủng hộ như Lech Wałęsa, không phải là người được trao giải Nobel Hòa Bình như cả ba người được nhắc trên đây.

Trước 1989 không ai biết gì về Elbegdorj vì anh ta chỉ là một người thợ mỏ, con trai của một người dân du mục chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ.

Nhưng Elbegdorj có tình yêu sâu đậm dành cho đất nước và khát vọng tự do cho quê hương. Tình yêu nước và lương tri thời đại đã là ngọn đuốc thắp sáng quê hương anh và sáng cả tâm hồn người Việt cùng khát vọng như anh. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo The New York Times năm 2004, Thủ tướng Elbegdorj nhắc lại kỷ niệm buổi tuyệt thực đầu tiên “Chúng tôi muốn cho thế giới thấy rằng các giá trị thường được gọi là giá trị Tây phương không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản thôi nhưng còn thuộc về Mông Cổ.”

Các thế hệ trẻ Việt Nam chỉ cần thay hai chữ Mông Cổ bằng Việt Nam trong câu nói của Elbegdorj, “Giá trị tự do dân chủ không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản hay Mông Cổ mà còn là của Việt Nam nữa”.

Trần Trung Đạo


 

Chúng ta đến cuộc đời này…

Trầm Mặc Huơng Lai

 Chúng ta đến cuộc đời này.. thật ra chỉ ghé qua một đoạn rồi cũng rời đi.

Vậy mà nhiều khi, mình sống như thể sẽ ở đây mãi.

Hơn thua một câu nói, thắng thua một chuyện nhỏ, giữ trong lòng một nỗi giận thật lâu.. để rồi người đau khổ lại là chính mình.   

Chúng ta đến cuộc đời này, thật ra chỉ là người lữ khách.

Ở lại một quãng, học vài bài học, gặp vài con người, mang vài niềm vui nỗi buồn… rồi cũng đến ngày phải rời đi với hai bàn tay trắng. Không ai có thể giữ mãi cho mình một điều gì, kể cả tuổi trẻ, sức khỏe, hay những người mình thương nhất.

Vậy mà nhiều khi, ta lại sống như thể mình sẽ ở đây mãi mãi.

Ta chấp nhặt một lời nói vô tình.

Ta nặng lòng vì một ánh nhìn, một sự hiểu lầm, một lần không được như ý.

Ta cố chứng minh mình đúng, cố giành phần hơn, cố giữ lấy tự ái của mình, mà quên mất rằng lòng bình an còn quý hơn rất nhiều một chiến thắng nhỏ nhoi.

Có những điều lúc xảy ra ta thấy lớn lắm, đau lắm, không thể bỏ qua.

Nhưng vài tháng sau nhìn lại, nó nhỏ như hạt bụi.

Vài năm sau nhớ lại, ta thậm chí không còn nhớ rõ mình đã từng giận đến mức nào.

Chỉ tiếc là trong quãng thời gian chấp giữ ấy, ta đã tự làm mỏi lòng mình, tự làm trái tim mình nặng xuống, tự đánh mất biết bao dịu dàng đáng lẽ mình có thể dành cho nhau.

Đời người ngắn lắm.

Ngắn đến mức một cái ngoảnh mặt có thể thành lần cuối.

Một câu chưa kịp nói có thể mãi mãi không còn cơ hội để nói.

Một người hôm nay còn bên cạnh, ngày mai có thể chỉ còn là kỷ niệm.

Nên có những điều, nếu bỏ qua được thì hãy bỏ qua.

Có những chuyện, nếu nhẹ đi được thì hãy học cách nhẹ đi.

Không phải vì mình yếu đuối, mà vì mình hiểu điều gì thật sự đáng để giữ trong tim.

Người khôn ngoan không phải là người luôn thắng trong mọi cuộc tranh luận,

mà là người biết điều gì cần giữ, điều gì cần buông.

Biết khi nào nên im lặng để giữ lấy bình an.

Biết khi nào nên mỉm cười cho qua để lòng mình được nhẹ.

Biết khi nào nên tha thứ, không phải vì người kia xứng đáng, mà vì chính mình xứng đáng được bình yên.

Giận dữ giống như cầm than nóng ném người khác, trước khi làm bỏng ai, bàn tay mình đã bỏng trước.

Oán trách giống như tự nhốt mình trong một căn phòng tối,người kia chưa chắc bận tâm, nhưng mình thì cứ mãi ngột ngạt không lối ra.

Có những nỗi buồn không cần nuôi lớn.

Có những vết thương không cần chạm lại mỗi ngày.

Buông bớt một chút, lòng sẽ nhẹ hơn một chút.

Sống ở đời, điều đáng quý không phải là hơn được bao nhiêu người,mà là giữ được bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu tử tế, bao nhiêu bình an trong tâm hồn.

Đến cuối cùng, người hạnh phúc không phải là người có lý trong mọi chuyện,

mà là người biết sống hiền hòa, biết yêu thương, biết trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể.

Nếu một mai phải rời cuộc đời này,điều khiến ta thanh thản chắc không phải là mình đã từng thắng ai, hơn ai, hay làm ai phải im lặng.

Điều khiến ta nhẹ lòng hơn, có lẽ là:mình đã sống đủ chân thành,đã yêu thương đủ nhiều,đã học cách bao dung,và đã không để những chuyện nhỏ nhặt làm hao mòn một đời vốn rất ngắn.

Nên thôi, nếu hôm nay còn đang giận, hãy tập buông bớt.

Nếu còn đang chấp, hãy tập nhẹ lòng.

Nếu còn đang giữ trong tim một điều làm mình mệt mỏi, hãy thử thở sâu và tự nhắc mình:

“Mình đến cuộc đời này không phải để ôm mãi những điều làm lòng mình nặng trĩu, mà để học yêu thương, học bình an, rồi thanh thản mà đi qua.”

Lm. ANmai, CSsR

 


 

“Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!” (Ga 5:14)- Cha Vương

Một ngày ấm áp nhé! Xin Chúa chúc lành và gìn giữ bạn và gia đình luôn mãi mãi.

Cha Vương

Thứ 7: 21/03/2026. (t3-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su gặp người ấy [người đau ốm đã ba mươi tám năm được Chúa chữa khỏi bệnh] trong Đền Thờ và nói: “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!” (Ga 5:14)

SUY NIỆM: Nhịp sống của bạn được đánh dấu bởi những điều như cũ cứ lặp đi lặp lại: công việc cũ, địa điểm, thói quen tốt, thói quen xấu, việc tốt, việc xấu… chỉ có một tội cũ thôi mà cứ lập đi lập lại. Trong Kinh Thánh việc chữa lành thường đi đôi với việc tha tội. Vì vào thời điểm đó tội được coi là nguyên nhân của mọi bệnh tật. Trong khi bệnh nhân chỉ cầu mong được lành bệnh thì Chúa lại ban cho anh một ân huệ lớn lao hơn: Đó là ơn tha tội! Còn những người Kitô hữu ngày nay thì sao? Bạn thật hạnh phúc hơn những người ngày xưa vì bạn có bí tích hoà giải, không cần phải chờ Chúa đi qua. Trong toà giải tội bạn đọc Kinh Ăn Năn Tội: “…thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự, con dốc lòng chừa cải…” Có lẽ Chúa cũng muốn nói với bạn hôm nay: tội của con đã được tha. Đừng phạm tội nữa kẻo lại phải khốn hơn trước! Chắc bạn cũng không còn gì xa lạ gì với điệp khúc “đi xưng tội rồi lại phạm tội”. Nó cho bạn thấy giới hạn nơi thân phận con người yếu đuối của người mình. Càng thấy mình yếu đuối, tội lỗi, bạn càng thấy cần Thiên Chúa nhiều hơn. Vì vậy, chiều sâu của việc xưng tội, đó là thái độ khiêm tốn, sám hối nhận ra mình là kẻ có tội, là thái độ mở rộng cánh cửa tâm hồn để đón nhận Chúa Giêsu Kitô. Bao lâu bạn còn nhạy cảm đối với việc đi xưng tội, siêng năng xưng tội là bấy lâu bạn còn sống mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa. Ngược lại, bao bạn còn ngại đi xưng tội, không muốn đi xưng tội thì mối tương quan của bạn với Thiên Chúa đang bị đổ vỡ. Một khi mối tương quan giữa bạn với Thiên Chúa đổ vỡ thì mối tương quan giữa bạn với bản thân và tha nhân cũng đổ vỡ. Càng sống trong tình trạng tội lỗi, bạn càng kéo lê cuộc đời của mình trong những đổ vỡ, trục trặc, sai lầm và bất an. Có phải là khốn hơn trước không?

LẮNG NGHE: CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, / tôi chẳng thiếu thốn gì. / Trong đồng cỏ xanh tươi, / Người cho tôi nằm nghỉ. / Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. (Tv 23:1-2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, 

xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ. (Tv 51,12a và 14a)

THỰC HÀNH: Tội nào mà bạn cứ lập đi lập lại hả? Hãy xin ơn Chúa giúp và cố gắng sửa đổi nhé.

From: Do Dzung

*****************

Chị Hãy Đi & Đừng Phạm Tội Nữa – Thánh Ca Mùa Chay

NGƯỜI CHẾT KHÔNG TỰ NÓI – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Lazarô, hãy ra khỏi mồ!”.

“Chúa Kitô không cam chịu những nấm mồ mà chúng ta tự đào cho mình bằng sự lựa chọn hướng đến điều ác và cái chết, bằng những sai lầm và tội lỗi. Ngài mời gọi chúng ta bước ra khỏi mồ: ‘Hãy ra khỏi mồ!’” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cái chết không cần những nấm mồ. Người ta vẫn sống, vẫn nói, nhưng bên trong đã bị vùi lấp bởi sợ hãi và những lựa chọn sai lầm; có những lời nói ra chỉ để che đi một sự im lặng đang lớn dần. Và rồi, không còn gì vang lên – vì ‘người chết không tự nói!’.

Trình thuật Tin Mừng ghi lại một câu rất lạ của Chúa Giêsu, “Lazarô bạn của chúng ta đang yên giấc”. Thánh Kinh gọi cái chết là giấc ngủ – không phải để làm nhẹ nỗi đau, nhưng để tước khỏi nó tiếng nói cuối cùng. Nhưng chính ở đây, một sự thật lạnh lẽo lộ ra: người ngủ không tự đánh thức mình. Người chết không thể gọi tên mình – ‘người chết không tự nói’. Không còn lời để xin, không còn tiếng để kêu, ngay cả một tiếng thở dài cũng không còn.

Vì thế, điều quyết định không nằm ở Lazarô, mà ở tiếng gọi từ bên ngoài. Một tiếng gọi xuyên qua bốn ngày trong mồ, xuyên qua mùi của sự phân huỷ, xuyên qua nỗi tuyệt vọng của Matta và Maria. “Hãy ra khỏi mồ!” không phải là một lời ủi an, nhưng là một mệnh lệnh của sự sống; một lời gọi đủ mạnh để phá vỡ mọi im lặng. Chúa Giêsu không giải thích cái chết; Ngài chỉ gọi con người ra khỏi nó. “Cái chết không còn là bức tường… nhưng là một cây cầu!” – Raniero Cantalamessa.

Chúa Giêsu đã đến khi mọi sự xem ra đã kết thúc. Chính nơi tận cùng ấy, Lời Chúa qua miệng Ezêkiel xưa vọng về: “Chính Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt!” – bài đọc một. Không phải con người tự thoát, nhưng được kéo ra nhờ Thần Khí của Đức Kitô – bài đọc hai. Bởi lẽ, “Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, khi mọi sự đã tắt, lòng từ ái chứa chan của Thiên Chúa mới lộ ra – không ai tự kéo mình ra khỏi mồ – ‘người chết không tự nói’. Chính Thiên Chúa mới kéo chúng ta ra. “Chúng ta không sở hữu ơn cứu độ; nhưng chỉ có thể đón nhận nó!” – Von Balthasar.

Anh Chị em,

Chúa Kitô không chỉ gọi người chết sống lại; Ngài còn chạm đến những vùng chết được chôn kín: nơi tội lỗi, sợ hãi và tuyệt vọng khiến chúng ta câm lặng. Ngài không chờ chúng ta đủ mạnh để tự bước ra, cũng không đòi ai giải thích hay tự cứu mình. Ngài gọi và chỉ gọi vì Ngài biết chúng ta không còn khả năng nói. Nhưng để lời gọi ấy trở thành sự sống, phải “Đem phiến đá này đi!”. Đức tin không phải là cảm xúc, nhưng là một quyết định: dám để Chúa bước vào, để Ngài gọi, để Ngài chạm đến điều chúng ta chôn kín. Chính ở đó, sự sống bắt đầu. Hôm nay, Chúa Kitô vẫn đứng đó, không mệt mỏi, không ép buộc, nhưng gọi bạn và tôi: “Đem phiến đá này đi!” – để sự sống có lối đi vào – bằng không, chúng ta sẽ tiếp tục sống như những người chết biết đi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con như người chết biết đi, như kẻ bị thương biết đi; xin gọi con ra khỏi huyệt, để con được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

***********************************

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 11,1-45

1 Khi ấy, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.

6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !” 8 Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” 9 Đức Giê-su trả lời : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”

11 Nói những lời này xong, Người bảo họ : “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” 12 Các môn đệ nói với Người : “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” 13 Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ : “La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” 16 Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”

17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

28 Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !” 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.

32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” 33 Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.