KHÔNG GÌ MỚI – TRỪ NGÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?”.

“Đức Giêsu Kitô luôn luôn trẻ trung và là nguồn mạch bất tận của sự mới mẻ!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Hêrôđê thắc mắc về Chúa Giêsu; ông tìm lời giải nơi những cái tên của quá khứ. Nhưng không tên gọi cũ nào chứa nổi sự mới mẻ của Ngài. Giữa một thế giới “dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ”, Lời Chúa hôm nay mở ra một ngoại lệ: ‘không gì mới – trừ Ngài’.

Trước hết, điều làm Hêrôđê bận tâm không hẳn là Chúa Giêsu, nhưng là nỗi bất an của mình. “Ông Gioan, chính ta đã chém đầu”, lời ấy cho thấy tội ông đã phạm vẫn sống trong ông như một món nợ chưa thanh toán. Vì thế, nghe nói về Ngài, ông lập tức quay về với những bóng hình cũ. Câu hỏi “Ông này là ai?” rất đúng; nhưng lòng ông chỉ muốn thoả sự tò mò, không muốn đổi đời để nhận ra Ngài.

Ông “tìm cách gặp Chúa Giêsu”; nhưng mong gặp chưa hẳn đã muốn tin. Ông muốn thấy một phép lạ, mà không nhận ra điều mới mẻ không phải là việc Ngài làm, nhưng chính là Ngài – ‘không gì mới, trừ Ngài’. Về sau, Chúa Giêsu đứng trước mặt ông; ông hỏi nhiều điều, nhưng Ngài không đáp một lời. Hêrôđê đã gặp mà vẫn không thấy: Chúa ở rất gần, nhưng lòng ông vẫn ở rất xa. “Thiên Chúa vẫn ở nhà; chính chúng ta mới đi vắng!” – Meister Eckhart.

Giảng Viên gọi đúng tên thế giới của Hêrôđê: “Dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ”. Quyền lực vẫn sợ sự thật, người công chính vẫn mất đầu. Mọi sự trở về lối cũ, như mặt trời mọc rồi lặn, như gió đi rồi trở lại. Thiên Chúa không ngừng làm điều mới; Chúa Giêsu đã đến, nhưng lòng Hêrôđê không đổi, nên Ngài cũng chỉ còn là một tin đồn. Nhưng Thánh Vịnh không để tiếng thở dài ấy khép lại: “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!”. Mọi sự chóng qua; chỉ nơi Đấng không qua đi, con người mới có chỗ trở về.

Điều xảy ra nơi Hêrôđê cũng có thể xảy ra trong đời sống đức tin: chúng ta giữ Chúa Giêsu trong những điều giáo lý đã thuộc từ tấm bé. Lời Ngài không còn khiến lòng xao động; sự hiện diện của Ngài không còn đòi một đổi thay. Ngài không còn là Đấng đang đến, nhưng chỉ còn là Đấng chúng ta tưởng mình đã biết. “Thế giới đầy ắp sự hiện diện của Thiên Chúa; Ngài bước đi khắp nơi trong dáng vẻ ẩn danh!” – C. S. Lewis.

Anh Chị em,

Đức Kitô là sự mới mẻ của Thiên Chúa bước vào lịch sử. Trên thập giá, Ngài mang lấy câu chuyện muôn thuở của nhân loại: người công chính chịu sát hại, tình yêu dường như thua cuộc, sự chết tưởng có lời sau hết. Nhưng Phục Sinh không đưa Ngài trở lại đời sống cũ; Phục Sinh khai mở một tạo thành mới. Ngài không phải Gioan trở lại, cũng không phải một ngôn sứ xưa trỗi dậy; Ngài là Người Con đã đi qua sự chết để mở cho nhân loại con đường vào sự sống của Thiên Chúa. Từ đó, giữa lòng lịch sử có một khởi đầu không bao giờ cũ – ‘không gì mới, trừ Ngài’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những vòng quay luẩn quẩn của đời con, xin mở một lối mới; giữa mọi điều chóng qua, cho con tìm về Ngài – nguồn mạch bất tận của sự mới mẻ; để bắt đầu lại mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

 Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/24….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

7 Khi ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe biết tất cả những gì đã xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy, có kẻ nói: “Đó là ông Gio-an từ cõi chết trỗi dậy.” 8 Kẻ khác nói: “Ông Ê-li-a xuất hiện đấy!” Kẻ khác nữa lại nói: “Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại.” 9 Còn vua Hê-rô-đê thì nói: “Ông Gio-an, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Rồi vua tìm cách gặp Đức Giê-su.


 

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An – Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An

Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Infor- mation Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC

*****

Một buổi chiều Chúa Nhật, vợ chồng tôi chở các con đi tham dự buổi đấu bóng rổ chung kết giữa các trường Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn và vùng phụ cận về; vừa bước chân vô cửa đã nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.. Vợ tôi nhấc điện thoại, nói chuyện trong giây lát rồi quay sang bảo tôi:

– Anh Dũng muốn nói chuyện với anh. Bà cụ Thanh đang hấp hối ở bệnh viện George Washington.

Tôi vội vàng đến cầm điện thoại:

– Hello anh Dũng. Cụ bị sao vậy anh?

– Bà cụ nhà tôi bị mệt vài tuần nay, đã nhập viện được mấy hôm rồi. Sợ không qua khỏi. Anh chị sắp xếp lên một tý được không? Bà cụ muốn gặp vợ chồng anh. Các em tôi cũng tề tựu đây cả.

– Vâng. Chúng em lên ngay.

Vừa lái xe từ nhà lên Washington, DC tôi vừa tưởng nhớ lại kỷ niệm quen biết bà cụ Thanh từ mấy tháng nay…

*****

Tôi đến phi trường Chicago – Illinois vào một buổi tối mùa đông. Ngoài trời gió thổi vù vù, và tuyết vẫn tiếp tục rơi… Hôm đó chuyến máy bay của tôi đến trễ hơn một tiếng đồng hồ vì bão tuyết. Tôi biết mình đã lỡ chuyến bay chuyển tiếp để trở về Washington D..C. nên chạy vội vàng tìm văn phòng lo thủ tục đổi vé. Khi biết tôi là người Việt Nam vì mang họ Nguyễn, cô nhân viên của hãng Delta đã nhờ tôi làm thông dịch viên để nói chuyện với một bà cụ khoảng 80 tuổi đang ngồi ủ rũ bên quầy bán vé. Bà cụ Thanh cũng bị lỡ chuyến bay về Maryland, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên cụ không biết phải làm sao, cứ ngồi lim dim, lặng lẽ đọc kinh lần chuỗi…

Lo xong thủ tục giấy tờ cho hai người, tôi quay sang:

– Để con dẫn cụ đi nhận phòng ngủ rồi kiếm gì ăn tối. Sáng mai mới có máy bay cụ ạ.

– Cám ơn cậu. Cậu gì nhỉ?

– Dạ con tên Huy. Cụ để con xách hành lý cho. Con dẫn cụ lên phòng cụ trước, rồi con tìm phòng con sau. Sắp xếp xong con sẽ qua dẫn cụ đi ăn tối.

– Cậu cho tôi ở chung với được không? Tôi không biết tiếng Mỹ, làm sao ở một mình trong nhà trọ được.

Tôi dở khóc dở cười trước đề nghị của bà cụ; nhưng đã nhận lời vì nghĩ tới mẹ tôi. Cụ Thanh làm tôi nhớ mẹ thật nhiều với những lần đưa mẹ đi đây, đi đó thăm anh em bà con lúc mẹ tôi qua Mỹ du lịch… Tôi dẫn bà cụ về phòng trọ. Cũng may trong phòng có sẵn hai chiếc giường đôi. Tôi gọi điện thoại về nhà báo tin cho vợ con biết hôm sau mới về được vì bị bão tuyết. Sau khi nói chuyện với vợ con xong, tôi quay sang hỏi cụ Thanh:

– Cụ có mang theo số điện thoại của các anh chị không? Con giúp cụ gọi điện thoại về báo tin máy bay bị trễ tới mai, kẻo các anh chị ấy lại lo lắng.

Cụ Thanh mở “ruột tượng”, lần mãi mới lấy ra một xấp tiền và mấy tờ giấy cuộn tròn trao cho tôi:

– Cậu Huy coi rồi giúp dùm tôi nhé.. Tôi có biết số nào ra số nào đâu.

Tôi mở xấp giấy ra xem, có cả một tờ giấy ghi sẵn bằng tiếng Anh phòng khi gặp trở ngại thì trao cho nhân viên ở phi trường để xin giúp đỡ… Tìm ra tờ giấy đánh máy số điện thoại của nhiều người, tôi hỏi cụ:

– Con nên gọi cho ai bây giờ?

– Nhờ cậu gọi về Texas cho con Lành dùm tôi. Vợ chồng nó thương tôi nhất, chỉ tội nghèo. Đi đâu tôi cũng nói chuyện với nó, rồi nó nói lại với mấy đứa khác, nhất là với vợ chồng thằng Dũng ở Thủ Đô vì hôm nay tôi về trên đó.

– Nếu thế con gọi thẳng về Maryland cho anh chị Dũng luôn cũng được.

– Tuỳ cậu.

Tôi để lại lời nhắn trong máy cho anh chị Dũng, và hẹn hôm sau sẽ gọi lại cho biết chuyến bay và giờ giấc bà cụ về tới phi trường BWI (Baltimore Washington Internation Airport) để họ ra đón. Phần tôi sẽ bay về phi trường National Airport nên không đi chung chuyến bay với cụ được. Sau khi tắm rửa, tôi mời cụ đi ăn, nhưng cụ từ chối vì trong xắc tay đã có sẵn vài nắm cơm vắt với muối mè và giò lụa. Thay vì ra ngoài kiếm gì ăn, tôi đã nhận lời ngồi lại ăn cơm nắm, muối mè và giò lụa với bà cụ Thanh…

Tối hôm đó, tôi đã thức trắng đêm nghe bà cụ tâm sự.

*****

“Tôi mới qua Mỹ được gần 2 năm nay thôi cậu Huy à… nhưng tôi cứ phải đi lung tung nhiều chỗ vì con cháu mỗi đứa một nơi, và chúng nó cứ đẩy qua đẩy lại làm tôi chóng cả mặt. Tôi buồn lắm, chỉ muốn về Việt Nam, nhưng không biết phải làm sao. Hơn 70 tuổi đầu tôi mới học được điều này là con cháu sang Mỹ khác xưa nhiều lắm. Trước đây ở Việt Nam, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, còn bây giờ qua Mỹ thì… ngược lại: Con đặt đâu cha mẹ ngồi đó! Cậu nghĩ tôi nói có đúng không?”

Tôi đang nằm mơ mơ màng màng nhớ mẹ, chưa kịp lên tiếng trả lời, bà cụ Thanh lại tiếp tục:

“Vợ chồng tôi có 5 người con; cứ đứa trai rồi đứa gái cách nhau 3 tuổi. Nhờ trời thương, gia đình làm ăn cũng khấm khá nên đứa lớn được ông nhà tôi gởi đi du học bên Mỹ từ năm 70, rồi lấy vợ và ở lại luôn bên này. Năm 75, vợ chồng đứa con gái kế đưa thêm được thằng út nhà tôi đi, bây giờ đang ở bên Ca-li. Thằng thứ ba đi lính ngoài Trung, lấy cô vợ người Huế, rồi làm mai cho ông anh vợ lấy con em gái kế nó. Hai thằng đi cải tạo về rồi cũng sang Mỹ theo diện H.O.. và định cư ở Texas. Vợ chồng tôi có giấy tờ bảo lãnh từ lâu, nhưng ông nhà tôi nhất định không đi; và tôi cũng chẳng ham muốn gì chuyện đi Mỹ, chỉ mong thỉnh thoảng chúng nó đưa các cháu về thăm là mãn nguyện lắm rồi.. Nhưng hơn 4 năm trước, Chúa đã gọi ông nhà tôi về với ông bà. Chúng nó cứ thúc ép mãi, nhưng tôi cũng không đi. Ngày giỗ mãn tang ông nhà tôi, vợ chồng thằng lớn về thăm quê hương, và tìm đủ lý lẽ thuyết phục tôi đi Mỹ vì “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nên tôi đành “nhắm mắt đưa chân”.

Ngày đặt chân đến Mỹ phải nói là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi, cậu Huy ạ. Con cháu dâu rể tề tựu đông đủ hết, cả cô bồ của thằng út Đức cũng bay sang mừng ngày đoàn tụ của gia đình tôi. Nếu như chúng nó chỉ khóc chứ đừng nói gì như lúc gặp nhau ở phi trường thì chắc tôi còn vui nhiều nữa. Đằng này, vừa gặp tôi, thằng Đức đã xì lồ xì lào có một câu ‘hi mom’ rồi lo quấn quýt với con bồ người Mỹ của nó. Tôi thấy chướng mắt quá, chỉ muốn chửi cho nó một trận, nhưng con Hoa đã phân trần cho em: ‘Con xin mẹ đừng giận cậu út… Nó sang Mỹ từ nhỏ, chúng con lại bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ dạy cho em nó hiểu phong tục tập quán của mình. Mẹ thấy đó, từ cách đi đứng, nói năng, cử chỉ của em Đức đều đúng y chang là một thanh niên người Mỹ, chỉ khác có màu da. Mẹ đừng buồn.’

Cậu Huy nghĩ coi làm sao mà tôi không buồn cho được. Tôi thương thằng Đức nhất nhà vì nó là út đã đành, nhưng vì nó phải xa tôi từ lúc mới 6 tuổi đầu. Hơn 20 năm trời mới gặp mẹ mà có cứ lo xà nẹo với con bồ Mỹ trước mặt tôi và các anh chị nó… và nhất là các cháu nhỏ. Coi chướng mắt hết sức! Tôi thất vọng quá cậu Huy à. Nhưng đó chỉ là bước đầu… Suốt một tuần liền chúng nó lôi tôi đi chụp hình khắp thủ đô, rồi mạnh đứa nào bay về chỗ đứa đó, giam tôi một mình trong căn nhà rộng thênh thang của thằng Dũng. Vợ chồng nó đi làm suốt ngày. Hai đứa con cũng đi học và ở luôn trong trường, mà nếu bọn nhỏ có ở nhà cũng chẳng nên cơm cháo gì vì chúng nó chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Tôi ngồi một mình suốt ngày nhìn ra đường, lúc nào cũng “vắng như chùa bà đanh” nên tôi cứ nghĩ mình đang bị tù cậu Huy ạ. Riết rồi tôi chịu không thấu nên ngã bệnh. Vợ chồng thằng Dũng đưa tôi đi khám bác sĩ, lấy thuốc uống…. Rồi không biết vợ chồng nó bàn nhau sao đó, tự động mua vé máy bay đẩy tôi sang Ca-li ở với vợ chồng con Hoa.

Lúc ở bên nhà, tôi cũng nghe nói Ca-li có nhiều người Việt, có khu chợ Việt Nam rất sầm uất, không khác chi Sàigòn nên tôi cũng mừng trong bụng. Thêm vào đó, tôi cũng muốn được ở gần thằng út để hướng dẫn nó được tý nào hay tý đó. Gần 30 tuổi đầu rồi mà cứ lang thang, không chịu cưới vợ gì cả… Nhưng vợ chồng con Hoa lại ở đâu miệt phía bắc, nghe nói phải lái xe cả ngày mới tới vùng Quận Cam nên tôi lại buồn hơn vì vợ chồng thằng Dũng đi làm công sở, khoảng 6 giờ chiều đã về nhà. Đàng này vợ chồng con Hoa mở cái tiệm gì đó, tối nào cũng nửa đêm mới về.. Con cái thì mạnh đứa nào đứa đó lo, đi học về là chui ngay vào phòng riêng. Tôi muốn vào nói chuyện với các cháu thì tụi nó không cho, lại còn nói tiếng Mỹ với nhau tỏ vẻ nhạo báng bà ngoại cổ hủ, lỗi thời, không tôn trọng “xi xi” gì đó (privacy).

Tôi tủi thân chỉ biết ngồi khóc một mình. Tôi sang đó cả tuần cũng không gặp được thằng út. Mãi sau này tôi mới biết là nó thuê “pạc-măng” (apartment) ở riêng với con bồ Mỹ chứ chẳng cưới xin gì hết. Chúa Nhật cũng không thấy đi lễ đi lạy gì cả. Tôi khổ tâm lắm, bắt con Hoa gọi nó về, chửi cho một trận. Nhưng tôi nói gì mặc tôi, nó cứ ngồi trợn mắt ngó lên trần nhà chứ có hiểu tôi nói gì đâu!

Quá thật vọng với mấy đứa con và các cháu ở Ca-li, tôi nói với cái Lành mua vé máy bay cho tôi về Texas ở với chúng nó và vợ chồng thằng Hiền. Cậu biết đó, chúng nó mới sang sau này theo diện H.O.. nên còn nghèo lắm; được cái là hai anh em lấy hai chị em nên chúng nó hòa thuận thương yêu nhau. Hai gia đình chung nhau mua một cái nhà khá lớn vì cả hai đều đông con.

Thằng Hiền và thằng Khanh đi làm cho một hãng cuốn chả giò vì không có nghề nghiệp chuyên môn. Hai con vợ nhận hàng về nhà may tối ngày sáng đêm. Nhà đông người, lại chất đầy vải vóc, kim chỉ… Thôi thì bụi bậm, rác rưởi không thua gì mấy khu vực lao động bên Sàigòn. Tôi bảo chúng nó là thằng Dũng và con Hoa đều giàu có, sao không kêu anh chị giúp vốn cho mà làm ăn buôn bán cho đỡ vất vả… Tôi nói mặc tôi, chúng nó không đứa nào trả lời trả vốn gì hết.

Tôi chờ tới hôm thằng Dũng và con Hoa gọi điện thoại hỏi thăm mới la cho một trận là tại sao không giúp đỡ các em. Cả hai đứa đều nại đủ lý do phải chi tiêu khoản này khoản nọ, không có khả năng để cưu mang cho ai. Con Hoa lại còn kể công đã nuôi thằng Đức bao nhiêu năm từ ngày thằng út mới đi học lớp một! Tôi mở hết hầu bao, có vài ngàn bạc để dành từ Việt Nam, tôi giao hết cho con Lành, nói nó dùng làm vốn mở tiệm gì đó buôn bán cho đỡ cực hơn làm nghề may khoán. Lúc đó tôi mới biết là số tiền vài ngàn bạc ở Mỹ này chẳng làm được gì hết!

Ở chung với vợ chồng con Lành và thằng Hiền được mấy tháng thì bệnh suyễn của tôi tái phát. Bác sĩ bắt tôi phải đi ở chỗ thoáng mát, tránh bụi bậm ô nhiễm… Thằng Dũng đã không biết thương em thì chớ, lại chửi chúng nó là không biết lo cho mẹ, tự động mua vé máy bay bắt con Lành đưa tôi trở về.

Tôi ở nhà vợ chồng đứa con trai trưởng mà cứ nghĩ như mình bị đưa đi tù vậy đó, cậu Huy à. Nó giam tôi từ mùa thu cho tới mùa Xuân, cứ ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng rồi lá rụng, tuyết xuống phủ đầy sân rồi tuyết tan… Tôi cứ thui thủi một mình lần chuỗi suốt ngày, ngoại trừ Chúa Nhật nó chở tôi đi lễ ở nhà thờ Mỹ gần nhà. Tới mùa hè, vợ chồng nó bàn nhau đi “cu” đi “cụ” gì đó (cruise) 3 tuần trên biển, nên gọi cho con Hoa nói sẽ gởi tôi về bên đó vài tháng. Tôi quá thất vọng với con cháu bên Mỹ nên cũng chẳng thèm nói năng gì, mặc kệ chúng nó. Tôi lại lạch cạch khăn gói về Ca-li. Mới ở được vài tháng chúng nó lại “tống” cổ tôi về Houston vì “không có thì giờ để hầu mẹ”!

Tôi chỉ muốn chết đi cho xong, nhưng mình là người Công Giáo đâu dám nghĩ chuyện làm bậy. Không biết vợ chồng hai đứa “nghèo” bàn nhau làm sao mà tôi mới về ở được vài tuần, chúng nó nói sẽ đi mướn một một chỗ riêng cho tôi ở để bệnh suyễn của tôi không phát lại vì bụi bậm trong nhà nó. Tôi thương các con, các cháu còn nghèo nên đòi về lại “nhà tù” của thằng Dũng chịu khổ một mình hơn là gây thêm gánh nặng cho mấy đứa nhà nghèo. Cực chẳng đã, chúng nó đã phải mua vé máy bay cho tôi trở về với thằng Dũng giữa mùa đông như thế này. Cũng may mà gặp được cậu…”

Bà cụ Thanh bật khóc nức nở. Tôi không biết phải làm gì nên cứ để cụ khóc một lúc cho nguôi ngoai… Và chợt nhớ tới khu “nhà già” của các cụ cao niên ở gần nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên nhỏ nhẹ nói với cụ:

– Để mai về bên đó con liên lạc với anh Dũng xem có thể sắp xếp gởi cụ tới ở chung với các cụ trong Hội Cao Niên bên giáo xứ chúng con cho vui. Vừa có bạn bè người Việt, vừa có các bạn trẻ tới chở đi lễ nhà thờ Việt Nam…

– Được thế thì còn gì bằng. Mà ở đó có gần nhà cậu Huy không?

– Cũng gần cụ ạ. Và cũng không xa chỗ anh Dũng lắm đâu, tuy là 2 tiểu bang khác nhau nhưng chỉ cách con sông Potomac…

– Thế cậu Huy giúp dùm tôi nhé. Tôi chẳng trông mong gì nơi vợ chồng thằng Dũng cả..

– Vâng. Đàng nào con cũng đã ghi số điện thoại anh Dũng đây rồi, cuối tuần con sẽ nói chuyện và nếu tiện con sẽ chở vợ con sang thăm cụ cho vui; và thỉnh thoảng chúng con xin phép đón cụ sang bên này đi lễ Việt Nam cho biết..

– Giêsu Lạy Chúa tôi. Được thế thì có chết tôi cũng mãn nguyện. Tôi đi nhà thờ Mỹ cứ như vịt nghe sấm chứ có hiểu gì đâu. Tôi nói vợ chồng nó chở đi nhà thờ Việt Nam nhưng chúng nó bảo giờ giấc không thuận tiện nên chưa bao giờ đưa tôi đi cả cậu ơi!

– Cũng gần sáng rồi, cụ nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi còn sửa soạn ra phi trường.

– Cậu nghỉ đi, tôi già cả rồi có cần gì ngủ nghỉ. Tôi làm khổ cậu thức suốt đêm. Xin Chúa Mẹ thay tôi báo đáp công ơn cho cậu.

Sau khi trở về Virginia, tôi đã liên lạc với vợ chồng anh Dũng. Anh chị ấy đã mời chúng tôi qua chơi ngay cuối tuần đó để cám ơn tôi giúp đỡ bà cụ hôm bị lỡ máy bay ở phi trường Chicago. Tôi nói sơ qua về việc gởi cụ vào “nhà già” bên Virginia cho có bạn, có bè… nhưng anh đã kịch liệt phản đối vì sợ các em trách là “vợ chồng anh đẩy mẹ vô viện dưỡng lão”! Tôi giải thích mãi là mình chỉ muốn sắp xếp làm sao cho cụ vui lúc tuổi già, nhưng anh chị ấy cũng không nghe theo. Cuối cùng tôi chỉ xin phép đón cụ sang nhà tôi chơi với mấy đứa nhỏ vài lần vào dịp cuối tuần, và chở cụ đi nhà thờ Việt Nam.. Ôi thôi, cụ mừng như đứa trẻ mới lớn, lần đầu được mẹ cho đi chợ sắm quần áo mới và sách vở đi học lớp vỡ lòng! Lần nào tôi chở về lại nhà anh Dũng cụ cũng rươm rướm nước mắt, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao hơn được. Vợ chồng tôi bàn nhau, nếu mùa hè này mẹ tôi qua Mỹ du lịch lần nữa, chúng tôi sẽ xin phép anh Dũng để cho hai bà đi chơi với nhau một thời gian cho cụ đỡ buồn… Nhưng mùa hè chưa tới!

*****

Vợ chồng tôi vừa bước vào khu vực ICU (Intensive Care Unit, khu chăm sóc đặc biệt) ở nhà thương George Washington đã gặp vợ chồng anh Dũng và mấy người nữa đang ngồi nơi hành lang phòng chờ đợi (waiting room). Anh Dũng chạy tới bắt tay tôi: “Cha tuyên uý đang làm các phép cho bà cụ nhà tôi… Chắc cũng sắp xong rồi. Tôi sẽ dẫn anh vào ngay cho cụ gởi gắm ít lời. Cụ nhắc anh mãi. Họ chỉ cho vào mỗi lần 2 người thôi. Bác sĩ nói chắc bà cụ nhà tôi không qua khỏi đêm nay. Cụ đang nuối anh đó, anh Huy à. Tôi là con mà không lo được cho cụ như vợ chồng anh..”

Nói rồi anh Dũng giới thiệu vợ chồng tôi với gia đình các em của anh. Chúng tôi ngồi chờ mấy phút thì cha tuyên uý đi ra. Ngài nói vài lời an ủi gia đình rồi lại vội vàng đi xức dầu cho một bệnh nhân ở lầu dưới. Anh Dũng kéo tôi đi vào gặp bà cụ… Đôi mắt cụ sáng hẳn lên khi nhìn thấy tôi và anh Dũng bước tới bên giường. Cụ thều thào:

– Dũng con. Mẹ chỉ còn một ước muốn cuối cùng, và mẹ muốn con hứa với mẹ truớc mặt cậu Huy là con sẽ…

– Vâng, con sẽ nghe lời mẹ. Con xin mẹ tha thứ cho chúng con đã làm mẹ buồn lòng.

– Mẹ không buồn giận các con. Hai năm nay mẹ đã đi đông, về tây theo sự sắp xếp của các con… Các con đặt đâu mẹ ngồi đó! Nhưng sau khi Chúa cất mẹ về, mẹ xin con một điều… con cho mẹ được về nằm bên cạnh mộ cha con bên Việt Nam… Cậu Huy, tôi mang ơn vợ chồng cậu nhiều lắm… đã cho tôi được hưởng sự ấm cúng của một gia đình bên Mỹ. Xin Chúa Mẹ trả công cho… gia… đình…

Tôi đang thầm thì kêu Tên Cực Trọng: “Giêsu, Maria, Giuse…. Xin Ba Đấng gìn giữ và đón tiếp linh hồn Anna” thì nghe anh Dũng òa lên khóc nức nở. Tôi nhìn qua thấy bà cụ Thanh miệng vẫn như mỉm cười nhưng hơi thở đã tắt!

Nguyễn Duy-An

*****

Bạn đọc thân mến:

Ai trong chúng ta cũng có mẹ, có cha. Sau khi đọc những tâm tình trên đây, nếu bạn là người may mắn vì cha mẹ còn sống, hãy dành một ít phút tự vấn lương tâm, xét lại thái độ, cử chỉ hay lời nói của mình đối với cha mẹ. Hãy làm một việc gì “nho nhỏ” cho cha mẹ vui lòng. Nếu cha mẹ không còn, hãy đọc một bài kinh cầu nguyện cho các cụ được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời.

Con ra đời có mẹ cha

Là trời cao biển lớn bao la

Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà

Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà

Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ

Con khôn lớn trong muôn lời ca.

Xin ơn trên đổ xuống chan hòa

Giúp mẹ cha ngày tháng an hòa

Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa

Xin cho con ở giữa gia đình

Sống làm sao đền đáp ân tình

Ơn biển trời ghi khắc trong tim.

Nuôi con bằng sữa tình thương

Và dạy con bằng tiếng thương yêu

Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ

Con nhờ mẹ cha mới trở nên người

Bàn tay cha, giòng sữa mẹ

Xin ghi nhớ không bao giờ quên. 


 

Mừng kính Thánh Piô 5 dấu (23/9)- Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 23/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Piô 5 dấu, linh mục dòng Phanxicô. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Bài hôm nay hơi dài đó, cố gắng một tí nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện và cả thế giới được bình an  nhé

Cha Vương

Thứ 4: 23/09/2022.   (t6-22)

Người Italia (1887-1968) Cậu Phanxicô con ông bà Horace làm nghề nông nghèo khó, sinh tại Pietrelcina, tỉnh Benevento, miền nam nước Ý, ngày 25.05.1887. Ông bà có 8 con, chết 3 còn 5 (2 trai 3 gái). Vì không muốn Phanxicô vất vả nơi đồng áng, ông Horace đã sang New York, Hoa kỳ làm việc để kiếm tiền cho con đi học, đi tu. Ngày lễ Ba Vua năm 1903, Cậu vào Nhà Tập  Dòng Phanxicô nhánh Cappucins tại Morcone, nhận tên Dòng là Piô. Trong thời gian Tập, vì hãm mình quá, 3 tuần không ăn uống gì, nhà Dòng tưởng thầy sẽ chết, nên cho về nhà ba má bổ dưỡng, không bao lâu thầy phục sức.  Trở về nhà dòng học thần học, nhiều lần anh em gặp thầy Pio quì gối để học bài. Ngày 10.08.1910, (23 tuổi) thầy Piô được thụ phong linh mục trong nhà nguyện của nhà thờ chính tòa Benevento. Tháng 9 năm 1916, Cha Pio được thuyên chuyển về Tu Viện Ðức Mẹ Ban Ơn (Santa Maria delle grazie), ở San Giovanni Rotondo, trong giáo phận Foggia. 

Năm 31 tuổi (ngày 20.09.1918), sau khi Rước lễ, dấu thánh xuất hiện trên bàn tay của Cha. Cha đã chịu đau đớn mang 5 dấu thánh trong 50 năm. Sau khi cha tắt thở, các dấu thánh này biến mất, không để lại vết tích nào. Ngài qua đời năm 1968, được phong chân phước năm 1999 và hiển thánh năm 2002, lễ kính vào ngày 23/9, trùng vào ngày tạ thế. Ngày 23/5/1987, đức Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm mộ của cha Piô, vị giải tội mà ngài đã từng gặp khi còn là một linh mục sinh viên ở Rôma 40 năm về trước. Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng thứ hai đến viếng thăm mồ của vị thánh linh mục hầu như suốt đời chỉ thi hành hai tác vụ là dâng Thánh lễ (đôi lúc kéo dài 3 giờ đồng hồ) và ban bí tích giải tội. (Nguồn:Vietcatholic).

   Cha Pio được mọi người biết đến qua hai việc: 

(1) Lòng tôn sùng Đức Mẹ triệt để. Ngài lần hạt suốt ngày. Có lần ngài nói với một người con thiêng liêng: “Luôn luôn nắm chặt lấy vũ khí của Đức Mẹ trong tay, nó sẽ giúp con chiến thắng kẻ thù”.

 (2) Giải tội cho người muôn phương—Ngài giải tội tùy theo tình trạng mỗi tâm hồn, chỉ cốt sao cho họ thành thực, được ơn tha thứ và cải thiện đời sống, nên nhiều khi ngài có những cư xử khác thường. Việc giải tội của ngài thường kéo dài 10 tiếng một ngày; người muốn xưng tội phải lấy số chờ đợi. Nhiều người nói rằng Cha Piô biết rõ các chi tiết cuộc đời của họ, mà chưa bao giờ họ tiết lộ.

   Sau đây là những lời nhắn nhủ của thánh Piô. Ước mong Bạn hãy dành thời gian để suy gẫm mà sống gần với Chúa hơn mỗi ngày nhé:

(1) CẦU NGUYỆN: “ Người ta tìm Chúa trong sách vở, nhưng gặp Chúa trong suy gẫm “Cầu nguyện là là chìa khóa để mở Trái Tim Chúa . “Hậu quả của cầu nguyện là bỏ cái “tôi”, sau đó Chúa sẽ nói chuyện với ta. “Chúa là tấm gương phản chiếu, ai biết suy gẫm, tâm trí hướng về Chúa, cũng sẽ nhận ra khuyết điểm của mình. “Trí óc không tập trung, thì lòng cũng không có tình mến Chúa “Tinh thần của Chúa là bình an, của quỉ là bực tức, nổi giận, lo lắng, nhưng ma quỉ như bị buộc giây, ta đứng xa thì không bao giờ bị cắn.

(2) KHIÊM TỐN: ” Biết mình không đáng, không tốt đẹp, có thể phạm nhiều tội ác… đó là ánh sáng Chúa chiếu vào linh hồn ta, cũng như vào linh hồn các thánh xưa để giúp tránh mọi tư tưởng kiêu ngạo, hư danh, và thêm lòng khiêm tốn”. “Biết làm cho linh hồn nên trống rỗng, Chúa sẽ làm cho nó nên giầu sang” “Người làm điều ác mà xấu hổ về việc đã làm, thì gần Chúa hơn là người tốt mà không dám làm việc lành”

(3) VANG PHỤC: “Không vâng phục thì không có nhân đức, không có nhân đức thì không có tốt lành, không có tốt lành thì không có yêu thương, không có yêu thương thì không có Thiên Chúa “

(4) THÁNH Ý CHÚA : “Mong được sống bình an đời đời  là điều chính đáng, thánh thiện, nhưng phải vâng theo ý Chúa . Vâng theo ý Chúa ở đời này còn quí hơn hưởng vinh phúc trên Thiên đàng. “Trong khi tùng phục, cảm thấy có phản loạn trong tâm hồn, thì đó là thử thách Chúa gửi đến, cần lý trí tùng phục, bản tính tự nhiên nổi dậy, mặc nó…

(5) BÁC ÁI: “Ai thương xót người nghèo là cho Thiên Chúa vay mượn.

“Chạm đến đức ái thì cũng như đâm vào con ngươi trong mắt Chúa “.

Yêu thương: ” Chúa không thể từ chối ban ơn, khi ta thật lòng muốn yêu mến Chúa “. “Chỉ có một hành động yêu thương của con người, chỉ có một hành động đức ái lớn lao trước mặt Thiên Chúa, đến nỗi cả thế giới này không đủ để thưởng công”.

(6) QUỶ CÁM DỖ VÀ Ý MUỐN: “Nhớ rằng quỉ chỉ có một cửa để vào linh hồn con, đó là ý muốn, không còn cửa nào khác. Không phải là tội, nếu không cố ý muốn phạm.

(7) ĐAU KHỔ: “Nhiều người xin tôi lấy đi thập giá của họ, nhưng rất ít người xin tôi cầu nguyện cho họ có sức mạnh để vác thập giá ấy. “Trần gian này là bể khổ, ta phải vác thánh giá. Không có hạnh phúc ở trần gian này. Học thức mà không nhắm vào Thiên Chúa Tự hữu thì có ích gì? Hãy gạt đi mọi hầm hố trần gian, hãy khiêm tốn, cầu nguyện, sẽ được bình an dưới đất và hạnh phúc trên trời. “Xác ta như con lừa, chúng cần roi vọt, nhưng không được quá tay, nếu nó ngã quị thì ai chở ta?

(8) SỐNG ĐẠO: “Hãy trở nên người công giáo tốt lành, nếu không, cuộc đời ta sẽ không có mục đích.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Câu thứ 6 đánh động mình nhất.

Thánh Pio, cầu cho chúng con!

From: Do Dzung

*****

Chúa Đau Cùng Con – Sáng tác: Sr. Quỳnh Thoại

NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC – (Nguyễn Gia Kiểng)

Xuyên Sơn

NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC

  BÀI 2: [YÊU NƯỚC]:

  Ta không có tự hào dân tộc, mà đã không có tự hào dân tộc thì không thể yêu nước.

Làm sao có thể yêu một cái gì mà ta coi thường? Cho nên lòng yêu nước của người Việt, mà mọi người quả quyết là mạnh, có thể chỉ là một sự hiểu lầm.

  • Người cộng sản có yêu nước không?

  Có một lập luận mà cả hai phe cộng sản và quốc gia đều đồng ý nhưng rất sai, là những người cộng sản đã chiến đấu dũng cảm vì lòng yêu nước chứ không phải vì chủ nghĩa cộng sản.

Lập luận này tiện cho cả đôi bên.

  Đảng cộng sản dĩ nhiên phải nói rằng họ tranh đấu vì lòng yêu nước, có như thế họ mới tranh thủ được sự hưởng ứng của những người chưa vào đảng cộng sản, mới có thể kết tội những đối thủ của họ là phản quốc, là bán nước, mới tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận các nước không cộng sản.

  Còn bên chống cộng dĩ nhiên cũng phải nói rằng đa số những người theo phe cộng sản đã chỉ theo vì lòng yêu nước mà thôi. Có như thế họ mới có thể buộc tội đảng cộng sản là đã lừa bịp những người yêu nước nhẹ dạ,

là tiếm đoạt hy sinh xương máu của nhân dân vì độc lập dân tộc; có như thế họ mới nói được chủ nghĩa cộng sản phi nhân bất nghĩa, chẳng ai theo nếu biết thực chất.

  Gần đây những người cộng sản ly khai cũng lại sử dụng lập luận này vì nó cũng tiện cho họ.

Họ đã đoạn tuyệt với đảng cộng sản, đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi thì tự nhiên họ phải biện minh cho hoạt động trong quá khứ của mình bằng điều mà họ nghĩ mọi người chấp nhận, nghĩa là lòng yêu nước.

  Kết quả là một sự dối trá khổng lồ từ cả mọi phía.

Và cứ thế cuộc tranh cãi thiếu lương thiện này tiếp tục gây ngộ nhận trong đầu óc mọi người.

  Tôi đã nghiên cứu, quan sát, và tâm tình với rất nhiều người cộng sản ở mọi trình độ và đi tới kết luận quả quyết rằng đại đa số những đảng viên cộng sản đã theo đảng vì chủ nghĩa chứ không phải vì lòng yêu nước. Người cộng sản cũng yêu nước như mọi người Việt Nam khác, không kém nhưng cũng không hơn.

  Lòng yêu nước có thực nhưng chỉ đóng một vai trò rất thứ yếu trong chọn lựa của họ.

Nó đã chỉ được dùng làm một chiêu bài, nó không phải là động cơ.

  Vả lại lòng yêu nước làm sao có thể là động cơ được , nếu nó không mạnh?

Độc giả sẽ tự nhận ra nhưng tôi cần cảnh giác trước hết rằng tôi hoàn toàn không có ý định làm một cáo trạng đối với người cộng sản và đảng cộng sản.

Ở đây tôi chỉ muốn nhận diện đất nước, điều tôi muốn làm sáng tỏ là lòng yêu nước rất mờ nhạt trong lòng người Việt Nam, dù là cộng sản hay không cộng sản.

Đã đến lúc chấm dứt sự ngộ nhận này để đem lại cho cuộc thảo luận về đất nước sự nghiêm túc phải có.

  Chúng ta cần thắng một đặc tính rất kỳ lạ của người Việt là thường đặt nền tảng quan hệ và trao đổi trên một căn bản giả dối, không ai thực sự nghĩ nhưng mọi người đều muốn người khác tin là mình nghĩ.

Thí dụ các tổ chức chống cộng hải ngoại đều kêu gọi ngồi lại với nhau nhưng trong thâm tâm không ai thực sự muốn ngồi lại với nhau cả, mà chỉ muốn ngồi lên đầu nhau.

Kết quả tất nhiên là rất khó đồng ý với nhau. Tôi mong độc giả lưu ý cái dân tộc tính này trước khi đọc những dòng kế tiếp.

  Ai đã có dịp vào thăm Viện Bảo Tàng Cách Mạng đều có thể nhìn thấy lá cờ lịch sử của Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi tình cảm của đảng cộng sản Việt Nam.

Lá cờ màu đỏ này chỉ có tám chữ Vạn Tuế Sô Nga, Sô Nga Vạn Tuế, chỉ có thế.

(Chữ Sô viết bắt đầu bằng chữ S trên lá cờ).

Vả lại cái tên Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đã đủ nói lên bản chất của phong trào.

  Cái gì đã thực sự làm nức lòng người, không phải là lòng yêu nước mà là giấc mơ cộng sản, giấc mơ được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột và chà đạp.

Giấc mơ ấy đã khiến những người nông dân cùng khổ miền Nghệ Tĩnh vùng lên, chấp nhận chết chứ không chấp nhận tiếp tục cuộc sống tôi đòi.

  Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã thẳng tay tàn sát những kẻ thù của giai cấp vô sản, bất luận họ có yêu nước hay không yêu nước.

Nó đã bị đàn áp trong một biển máu, sau khi đã làm đổ ra một biển máu.

Sự dũng cảm của những con người của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh đã rất phi thường, nhưng nó hoàn toàn không do lòng yêu nước mà đã chỉ được thúc đẩy bởi giấc mơ một cuộc sống không còn áp bức.

  Tôi đã nói chuyện với vô số người cộng sản và cố gắng vượt qua cái vỏ bề ngoài của họ, tôi luôn luôn tìm thấy giấc mơ đó đằng sau cái bình phong yêu nước.

Đó mới chính là lý tưởng đã khiến họ chấp nhận mọi gian khổ, nếu cần hy sinh cả tính mạng.

  Tôi cũng đã quan sát và trao đổi với các trí thức cộng sản.

Điều tôi có thể quả quyết là không ai lầm lẫn cả.

Tất cả đều đã tán thành chủ nghĩa cộng sản, hay ít ra đã chấp nhận nó.

Không có một người nào đã theo phong trào cộng sản vì tưởng rằng nó không phải là cộng sản cả.

  Đảng cộng sản cũng không hề giấu mục tiêu của họ.

Họ sử dụng danh nghĩa giải phóng dân tộc song song với lý tưởng cộng sản chứ không phải thay cho lý tưởng cộng sản.

Lúc nào họ cũng đề cao đấu tranh giai cấp, ngay cả khi họ giải tán một cách tượng trưng Đảng cộng sản Đông Dương.

Vả lại, ngay cả cái tên Đảng cộng Sản Đông Dương cũng đủ để nói lên rằng yếu tố Việt Nam không hề có trong ưu tư của họ.

  Không thể nói là họ đã lường gạt. Sự bội ước này có thực, nhưng không phải ở chỗ họ đã đem áp dụng chủ nghĩa cộng sản, mà ở chỗ đảng cộng sản đã không thực hiện được lý tưởng công bằng xã hội mà chủ nghĩa cộng sản đã hứa hẹn,

thay vào đó là một chế độ đầy rẫy bất công và tham nhũng.

  Cũng có những người đã thất vọng vì nhận ra chủ nghĩa cộng sản là không tưởng.

Nhưng không có ai không biết ngay từ đầu rằng mục đích của mặt trận Việt Minh là để thiết lập một chế độ cộng sản cả.

Nói như vậy là không thành thực.

  Vả lại, năm 1976, sau khi chiến thắng, Đảng Lao Động được đổi tên thành đảng cộng sản và chế độ cộng sản được chính thức tuyên bố, tôi hoàn toàn không thấy ai ngạc nhiên hay phẫn nộ cả.

Tất cả nhưng người đã đóng góp cho thắng lợi của đảng cộng sản đều hân hoan, hay ít ra không thất vọng.

Thất vọng chỉ đến sau đó khi chế độ trở thành tham nhũng và đất nước bị suy thoái, đời sống nhân dân trở thành cơ cực.

  Tôi không lên án người cộng sản là không yêu nước, tôi chỉ muốn nói là lòng yêu nước của người Việt mình nói chung là rất yếu.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, có lẽ chỉ có Việt Nam Quốc Dân Đảng và một số hệ phái Đại Việt là thực sự chỉ lấy lòng yêu nước làm nền tảng.

  Nhưng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã không mạnh lên được, một phần vì thiếu tổ chức, một phần bị mọi thế lực đánh phá, nhưng lý do căn bản, theo tôi, vẫn là vì lòng yêu nước, lý tưởng duy nhất của Việt Nam Quốc Dân Đảng, không đủ mạnh trong lòng người Việt Nam để có thể động viên được sự hy sinh của nhiều người, như lý tưởng cộng sản.

  • Những người Quốc gia có yêu nước?

  Để đối đầu với đảng cộng sản, các chính quyền quốc gia đều chủ yếu do những người không yêu nước cầm đầu.

Các chính quyền Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, ngoại trừ một vài nhân vật của Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng xuất hiện ngắn ngủi trong một thỏa hiệp giai đoạn, gồm toàn bộ những người đã hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp.

  Nhưng họ đã thất bại vì tham ô, kém cỏi chứ không phải vì không được coi là những người yêu nước.

  Ông Ngô Đình Diệm xuất hiện đột ngột vào chính trường Việt Nam và cầm quyền.

Ông cũng không phải là một người yêu nước trái lại ông có một quá khứ dài hợp tác với người Pháp và đàn áp các phong trào yêu nước.

Nhưng ông đã suýt nữa thành công. Ông thất nhân tâm vì vụng về, thiển cận chứ không phải vì bị lên án là không yêu nước.

  Yêu nước chưa bao giờ là một yếu tố quyết định để tranh thủ lòng người tại Việt Nam.

  Người Việt Nam hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương đối.

Người cộng sản yêu chủ nghĩa của họ hơn đất nước.

Người Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất nước. Những người cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước.

Nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là cho đất nước.

Quần chúng Việt Nam lo âu quyền lợi và sự yên ổn của mình hơn là cho tương lai đất nước.

  Tại sao và làm thế nào để khắc phục là những câu hỏi mà ta cần đặt ra. Nhưng ít nhất phải nhìn nhận sự thực đó, phải coi nó là một dữ kiện trong đầu đề của bài toán đất nước, để đừng tiếp tục cường điệu với nhau, đeo mặt nạ và nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.

  • Cần lắm một lòng yêu nước!

  Lòng yêu nước của người Việt Nam không phải là không có nhưng rất mờ nhạt.

Nó đã chỉ được thổi phồng lên do sự chia rẽ trầm trọng của dân tộc Việt Nam.

Nó không phải là một tình yêu vì người ta chỉ nhân danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường nhịn nhau đâu.

(Nguyễn Gia Kiểng)


 

NGHỆ AN MƯA GIÓ BÃO BÙNG – NHIỀU NƠI THÀNH SÔNG!

Phi Long Nguyên 

Nhìn những hình ảnh từ Nghệ An lúc này mà xót xa…

Mưa lớn kéo dài, nước dâng nhanh, đường sá ngập sâu, cuộc sống của người dân lại một lần nữa bị đảo lộn.

Miền Trung năm nào cũng phải đối mặt với mưa bão, lũ lụt. Người dân đã quá quen với cảnh chạy lũ, kê đồ, di chuyển tài sản và thấp thỏm chờ nước rút. Nhưng điều đáng suy nghĩ là: chúng ta đã có những giải pháp dài hạn đủ hiệu quả để giảm thiểu cảnh ngập lụt tái diễn hay chưa?

Thiên tai không thể ngăn chặn hoàn toàn, nhưng hoàn toàn có thể chủ động hơn trong cảnh báo, thoát nước, tiêu lũ, quy hoạch và bảo vệ những khu dân cư thường xuyên chịu ảnh hưởng.

Mong rằng sau mỗi mùa mưa bão, những bài học không chỉ dừng lại ở việc khắc phục hậu quả, mà phải trở thành những giải pháp cụ thể để người dân miền Trung bớt khổ hơn trong những mùa lũ tiếp theo. 

Mong bà con Nghệ An bình an, hạn chế di chuyển qua vùng ngập sâu và luôn theo dõi cảnh báo của cơ quan chức năng.

#NghệAn #MưaLũ #MiềnTrung #NgậpLụt #ThiênTai #CầuMongBìnhAn

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: RƠI TỰ DO TỪ MÁY BAY F15 MÀ KHÔNG CHẾT

 
 
Video “Đó là một phép màu” – Phi công F-15 tiết lộ 50 giờ sinh tồn và chiến dịch giải cứu nghẹt thở (do SGP Thuyết Minh đăng tải, chuyển thể từ phóng sự của 60 Minutes của đài CBS) kể lại câu chuyện sinh tồn và được giải cứu của một phi công tiêm kích Không quân Hoa Kỳ sau khi bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương, Iran.
Hình minh họa

Tóm tắt về “Phép màu” rơi tự do mà không tử vong!

  • Cánh Dù  không bung: Sau khi phóng ghế khỏi máy bay bị trúng đạn, Đại tá Bravo phát hiện dù cứu hộ của mình đã bị hư hỏng nặng và không thể bung ra do sức ép vụ nổ  từ tên lửa vác vai của Iran, khiến ông rơi tự do xuống đất.

  • Va chạm cực mạnh: Dựa trên các chấn thương và mô tả hiện trường, các chuyên gia y học hàng không quân sự ước tính ông đã va chạm với mặt đất ở tốc độ 70 đến 100 dặm/giờ (113–161 km/h)—vận tốc va chạm thông thường luôn gây tử vong.

  • Sống sót thần kỳ: Dù mô tả cú va chạm “như bị một đoàn tàu băng băng lao vào và tông cho tan tác”, ông vẫn sống sót mà không bị tổn thương nội tạng gây tử vong hay bị liệt. Ông bị gãy cột sống, gãy tay, gãy xương vai, bong gân cổ chân và rách nhiều vị trí trên mặt.

  • Lẩn tránh & Được giải cứu: Vẫn giữ được ý thức, ông cầu nguyện và phát tin nhắn “God is good” (Chúa thật tốt lành) qua thiết bị định vị. Dù bị gãy nhiều xương, ông đã bò và leo lên dãy núi Zagros ở độ cao hơn 2.100m (7.000 feet) để lẩn tránh khoảng 1.500 quân địch đang truy quét, trước khi được Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ giải cứu sau 50 giờ.

Trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của đài CBS, Đại tá Bravo chia sẻ rằng việc sống sót sau cú va chạm tốc độ cao và 50 giờ sinh tồn giữa vùng địch là một “phép màu thời hiện đại” nhờ  sự che chở đặc biệt của Thượng Đế.

“Lạy Chúa, xin cho ý Ngài được nên trọn, nhưng nếu con phải vượt qua tình cảnh này, xin cứu giúp con”  (Đại tá Bravo)

Truyện hy hữu nhưng có thật

 

    Một bé trai 15 tuổi bị bắt vì trộm từ một cửa hàng ở Mỹ. Khi cố gắng để trốn thoát, cậu bé cũng đã làm hư một cái kệ. Người chủ cửa hàng đã bắt giữ được cậu bé và kiện ra tòa án và phán quyết của tòa án Mỹ đã làm nhiều người rơi lệ

     Sau khi thẩm phán nghe được vụ án, ông ấy hỏi cậu bé:

– “Cháu có thật sự ăn cắp gì không?”

Cậu bé xấu hổ, cúi đầu xuống, trả lời:

– “Có ạ! Cháu đã ăn cắp bánh mì, phô mai và làm hư cái kệ.”.

Thẩm phán lại hỏi:

– “Tại sao cháu lại ăn cắp?”

Đứa bé trả lời:

– “Vì nó cần thiết.”

Thẩm phán lại hỏi:

– “Sao Cháu không mua mà ăn cắp nó.”

Cậu bé nói:

– “Cháu không có tiền.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu có thể xin tiền Cha mẹ.”

Cậu bé nói:

– “Cháu chỉ có Mẹ, nhưng mẹ cháu đang bị bệnh và không đi làm việc được, nên cháu phải ăn cắp bánh mì, phô mai để cho Mẹ ăn.”

Thẩm phán hỏi:

– “Cháu không làm gì à? Cháu không có việc làm sao?”

Cậu bé trả lời:

– “Cháu làm việc ở tiệm rửa xe. Cháu phải nghỉ để chăm sóc cho mẹ nên đã bị đuổi việc.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu không tìm kiếm việc gì khác để tiếp tục làm việc ở nơi khác sao?

– Dạ, mẹ cháu đang ốm nặng mà không có người chăm sóc, nên cháu không thể đi làm được.

     Thẩm phán cho người đi xác minh những gì cậu bé nói thì thấy tất cả đều là sự thật. Sau khi biết rõ ngọn ngành mọi chuyện. Thẩm phán ra tuyên bố phán quyết:

– “Tội ăn cắp, đặc biệt lại là ăn cắp bánh mì là MỘT TỘI ÁC thật đáng xấu hổ…! Và ở đây, tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này…”

Cả phòng xử án đột ngột im lặng…

– “Tất cả mọi người trong phòng xử án hôm nay, trong đó có Tôi, đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này. Do đó, ai đang hiện diện tại đây đều phải bị phạt 10 Dollars, không ai được đi ra khỏi đây mà không bị phạt 10 Dollars.”

     Thẩm phán lấy tờ tiền 10 Dollars từ túi áo ông ấy, rồi lấy một cây bút và bắt đầu viết tên những người phải nộp phạt.

– “Ngoài ra, Tôi còn phạt 1000 Dollars Chủ cửa hàng bánh mỳ, vì giao một đứa trẻ đói bụng cho Cảnh sát. Nếu không đóng phạt trong vòng một giờ, cửa hàng sẽ bị đóng cửa.”

– “Mọi người ở đây đều nên xin lỗi cậu bé và nộp phạt 10 Dollars, để cậu bé có tiền chăm sóc mẹ. Chúng ta đã ích kỷ và thiếu quan tâm đến những cảnh đời kém may mắn hơn mình.”

     Sau những lời phán quyết của thẩm phán, cậu bé oà khóc và ôm lấy ông. Tất cả mọi người trong phòng xử án đều xúc động rơi nước mắt.

     Tôi tự hỏi liệu xã hội, hệ thống Tòa án của nước Pháp chúng ta có thể đưa ra một phán quyết giống như toà án Mỹ như vậy không?

Thẩm phán nói thêm:

– “Nếu một người bị bắt quả tang ăn cắp bánh mì do bị đói, tất cả thành viên của Cộng đồng, Xã hội và Đất nước này đều phải thấy xấu hổ.!”

*****

     Một tòa án  bên VN đã xử 1 người ăn cắp 1 con gà với hình phạt là 7 năm tù ở.  Nếu đem cái luật bây giờ “nộp tiền ăn cắp được, dù tiền muôn bạc tỷ, cũng sẽ được nhẹ tội (vụ án chuyến bay Covid). Nếu anh ăn cắp gà sẽ trả lại con gà. Các cụ đoán xem hình phạt của anh ta là bao nhiêu ??? 

From: KimBằngNguyễn  


 

THỂ HIỆN NGÀI HƠN LÀ NÓI VỀ NGÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người sai các ông đi”.

“Đây là cách người ta nên rao giảng: thể hiện Chúa Giêsu hơn là nói về Chúa Giêsu. Và chúng ta thể hiện Chúa Giêsu như thế nào? Bằng chứng ngôn của chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói rất đúng về Đức Giêsu mà vẫn làm Ngài khuất đi. Lời Chúa hôm nay cho thấy: ơn gọi của người môn đệ không phải để người ta nhớ đến mình, nhưng để họ nhận ra Đấng đã sai mình – ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’.

Trước hết, để rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ phải ở lại với Đấng khai mở Nước ấy. Luca cẩn thận ghi: “Đức Giêsu tập họp Nhóm Mười Hai lại”. Chuyển động đầu tiên của sứ vụ không phải là đi ra, nhưng là đi vào; không phải lên đường, nhưng là đến gần; không phải nói, nhưng là nhận. Ở lại với Đức Giêsu không nhằm có thêm những điều để nói, nhưng để nhận lấy cách nhìn, cách chạm và cách yêu. Chỉ lúc ấy, người môn đệ mới không trình bày một ý tưởng về Ngài, nhưng để dung mạo Ngài hiện ra nơi mình. “Hãy để ánh sáng của Đức Kitô chiếu toả trong đời sống các bạn!” – Gioan Phaolô II.

Tiếp đến, người môn đệ trở nên trong suốt trước Đấng Sai Đi. Họ ra đi không gậy, không bao bị, không bánh, không tiền. Chính sự nghèo khó của sứ giả thể hiện rõ quyền năng Thiên Chúa. Quyền năng ấy càng sáng tỏ vì những gì họ sở hữu không đủ sức giải thích; điều họ không mang bên ngoài trở thành chứng từ cho điều họ đã nhận bên trong. Trước khi cất lời về Nước Thiên Chúa, cách họ hiện diện đã bắt đầu loan báo Nước ấy. Vì thế, người ta có thể nhận ra Đức Giêsu nơi họ trước cả khi nghe họ nói về Ngài.

Và rồi, người môn đệ phải trung thành với Lời đã nhận. “Đừng thêm thắt chi vào lời Người phán dạy!” – bài đọc một. Cám dỗ của người rao giảng không chỉ là nói sai, nhưng còn là thêm mình vào Lời đến mức người ta nhớ người nói mà quên Đấng đã phán. Lời không cần tô điểm; Lời cần một đời sống. Thánh Vịnh đáp ca gọi “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước!”. Ngọn đèn ấy phải soi bước người môn đệ trước khi soi lối cho người khác. Khi đời sống bước theo Lời, chứng ngôn sẽ nói phần còn lại. “Công việc quan trọng hơn việc nói hay viết về công việc; chính qua những việc thương xót mà tình yêu được biểu lộ!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói Chúa Cha yêu con người; Ngài cho tình yêu ấy một gương mặt và một thân thể. Lời đã trở nên xác phàm; đôi tay chạm người hủi, đầu gối quỳ dưới chân môn đệ, thân mình trao trên thập giá. Khi lời nói lặng đi, cách Ngài chết lại nói về Chúa Cha rõ nhất. Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài mang chúng vào vinh quang, thể hiện quyền năng của Chúa Cha: tình yêu có tiếng nói sau cùng. Vì thế, ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’ không phải một kỹ thuật rao giảng, nhưng đi theo chính con đường của mầu nhiệm Nhập Thể: điều người môn đệ loan báo phải mang lấy hình hài Đức Kitô trước hết trong đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở lại với Chúa trước khi ra đi; sống điều con loan báo trước khi nói; và để dung mạo Ngài hiện ra qua đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

********

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/23….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Khi ấy, Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2 Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3 Người nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4 Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5 Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” 6 Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi.


 

KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

 KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

1.Kinh Kính Mừng

Kính mừng Maria đầy ơn phúc

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyền tin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có Thiên Chúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận : ” Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc“. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy được đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời… và trong giờ lâm tử”.

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với “Đức Maria đầy ơn phúc“. Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : “Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi“. Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn.

  1. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô : “Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết“.

Thánh Bênađô nói : “Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ“.

Còn thánh Bônaventura nói : “Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng“.

Theo thánh Montfort “Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị Kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi“.

Thánh Anphongsô “Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng“.

Kinh Mân côi là kinh chính Ðức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục :Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày“. Và nhất là : “Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình“.

  1. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, khiến ngày mùng 07 tháng 9 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô phải mời gọi cả Hội Thánh ăn chay cầu nguyện cho hòa bình tại Syria và những nơi bạo lực đang hoành hành. Lời cầu của Hội Thánh đã được nhận lời, chiến tranh đe dọa Damacus đang qua đi, nhưng tại Trung Đông, Ai Cập, Triều Tiên và cả Thánh Địa xem ra Hòa Binh vẫn vắng bóng. Năm nay, năm 2014, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới nhiều lần cầu nguyện cho Irắc, không những kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình tại Israel và Palestin mà còn tổ chức cầu nguyện với nguyên thủ quốc gia cả hai nước. Trong tình hình hiện nay, chỉ biết chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt  qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng về Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ ra bất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúp phải đến từ Trời. Chính Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, Ðấng đem chúng ta trở lại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng ta thường cảm thấy bất lực. Khi nghĩ đến sức mạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầu nguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. Ðức Maria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tình mẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đường đến với Chúa Cha, Ðấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùng phục thánh ý của Người.

Vậy kinh Mân Côi càng có lý do hơn nữa để xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.

Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

 

 Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại?- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình tràn đầy ơn lành và bình an của Thiên Chúa và Mẹ nhé. Không quên cậ`u nguyện cho nhau và thế giới  luôn nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 22/9/2026.    (t5-22)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại? Chúng ta tin kẻ chết sẽ sống lại vì Chúa Giêsu đã phục sinh từ trong kẻ chết, Người sống luôn mãi, và Người làm cho chúng ta tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Người. (YouCat, số 152)

SUY NIỆM: Khi có ai qua đời, xác họ được chôn hoặc thiêu. Nhưng ta tin rằng họ có một đời sống sau khi chết. Chúa Giêsu phục sinh đã tỏ mình ra như Chúa của sự sống. Lời của Người đáng tin cậy: Tôi là sự sống lại. Ai tin Tôi dù có chết vẫn sẽ sống (Ga 11,25b).(YouCat, số 152 t.t.)

LẮNG NGHE: Sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại thì Đức Kitô đã không chỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. (1 Cr 15,12-14.19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “Nơi Người, niềm hy vọng sống lại vinh phúc đã chiếu toả trên chúng con, để những ai buồn sầu, vì số phận chắc chắn phải chết cũng được an ủi, vì Chúa đã hứa ban phúc trường sinh bất diệt sau này. Vì, lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn trên trời.” (Kinh Tiền Tụng cầu cho tín hữu qua đời)

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng cầu cho các linh hồn trong luyện ngục.

From: Do Dzung

*****

Sự sống thay đổi mà không mất đi

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Linh Mục Mi Trầm

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Thương tiếc và tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Cái chết là điều không ai có thể tránh khỏi. Đối với nhiều người, cái chết gợi lên nỗi sợ hãi, buồn phiền và chia ly. Nhưng đối với người có đức tin, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa dẫn vào sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức, một người đã dâng hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa và Giáo hội. Trong giây phút chia ly này, chúng ta cùng suy niệm về cái chết trong ánh sáng đức tin Kitô giáo, với niềm thương tiếc nhưng cũng tràn đầy hy vọng.

  1. Cái chết không phải là hết

Người Kitô hữu tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên để sống mãi với Ngài. Đức Giêsu đã phán:

“Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)

Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh giúp chúng ta nhìn cái chết bằng một ánh mắt khác. Thân xác trở về với bụi đất, nhưng sự sống của con người không chấm dứt. Chúng ta hy vọng được sống lại và hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa.

Vì thế, cái chết tuy là sự chia ly đau đớn, nhưng không thể dập tắt niềm hy vọng của người có đức tin.

  1. Bình an vì biết mình thuộc về Chúa

Người có đức tin không nhất thiết không sợ chết. Đau đớn, chia ly và những điều chưa hoàn tất vẫn có thể khiến chúng ta lo lắng. Tuy nhiên, giữa những thử thách ấy, người tín hữu có thể tìm được sự bình an khi phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói:

“Dù sống hay chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14,8)

Đó là nền tảng của sự bình an Kitô giáo. Chúng ta không thuộc về chính mình, nhưng thuộc về Chúa, Đấng yêu thương và cứu độ chúng ta.

Điều quan trọng nhất không phải là chúng ta đã sống được bao nhiêu năm, có bao nhiêu của cải hay đã đạt được những thành công nào, mà là chúng ta đã sống trong tình yêu Chúa và yêu thương tha nhân ra sao.

  1. Hy vọng vào lòng thương xót của Chúa

Không ai có thể tự mình trở nên xứng đáng trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta đặt hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ nhân loại.

Khi đứng trước sự chết, chúng ta phó thác người quá cố vào lòng thương xót của Chúa. Chúng ta cầu nguyện, xin Ngài tha thứ những thiếu sót, thanh luyện và đưa người đã qua đời vào hưởng hạnh phúc đời đời.

Đối với mỗi người chúng ta, cuộc sống hôm nay cũng là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Thiên Chúa:

  • Thành tâm sám hối và sống theo Tin Mừng.
  • Tha thứ cho người khác và xin được tha thứ.
  • Yêu thương, phục vụ và làm điều thiện.
  • Phó thác bản thân cùng những người thân yêu trong tay Chúa.

Chúng ta không biết giờ chết của mình, nhưng có thể chuẩn bị tâm hồn bằng một đời sống trung thành với Ngài mỗi ngày.

  1. Cái chết là cuộc trở về Nhà Cha

Đức Giêsu đã nói với các môn đệ:

“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở.” (Ga 14,2)

Đối với người có đức tin, quê hương đích thực không chỉ là nơi mình sinh ra, mà còn là quê hương trên trời, nơi Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài.

Khi một người thân qua đời, chúng ta vẫn đau buồn vì tình yêu và sự chia ly. Nhưng đức tin giúp chúng ta không tuyệt vọng. Chúng ta cầu nguyện cho người đã qua đời và tin tưởng vào ngày được gặp lại nhau trong Chúa, nếu được Ngài thương ban ơn cứu độ.

Giờ đây, chúng ta thương tiếc Cha Nhạc sĩ Ân Đức. Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trao phó cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa.

Những lời ca, tiếng hát và công việc phục vụ Chúa của Cha đã trở thành những hạt giống đức tin gieo vào lòng bao thế hệ. Những gì Cha đã dâng hiến cho Giáo hội và cộng đoàn sẽ còn được ghi nhớ trong tâm tình biết ơn.

  1. Lời tiễn biệt và cầu chúc Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Kính thưa Cha Nhạc sĩ Ân Đức,

Giờ đây, Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trở về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Chúng con xin dâng lên Chúa lòng biết ơn về cuộc đời và sứ vụ của Cha. Cảm tạ Chúa vì đã ban cho Giáo hội một người con biết dùng tài năng âm nhạc để ca tụng Chúa, phục vụ Tin Mừng và nâng đỡ đời sống đức tin của cộng đoàn.

Trong giây phút chia ly, chúng con không chỉ khóc thương, mà còn đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Kitô Phục Sinh. Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng Cha đã yêu mến và phục vụ suốt đời, đón nhận Cha vào hưởng niềm vui và bình an vĩnh cửu trong Nước Trời.

Xin chúc Cha an vui trong Chúa, mãi mãi sống trong tình yêu của Ngài, nơi không còn đau khổ, nước mắt và chia ly.

Xin cho những lời ca Cha đã dâng lên Thiên Chúa trên trần gian nay được tiếp nối bằng lời ca ngợi vĩnh cửu trên Thiên quốc.

Chúng con xin tiễn biệt Cha trong niềm tin, niềm hy vọng và lời cầu nguyện.

Hẹn gặp lại Cha trong Nhà Cha trên trời!

KẾT LUẬN

Người có đức tin không mong chết, nhưng không tuyệt vọng trước cái chết. Vì tin vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta sống bình an, chết trong phó thác và hy vọng được về với Chúa.

Điều quan trọng là mỗi ngày biết yêu thương, tha thứ và trung thành với Ngài, để khi giờ ra đi đến, chúng ta có thể thưa:

“Lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa.”

Lạy Chúa Giêsu, xin thương đón nhận linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức vào hưởng hạnh phúc muôn đời. Xin an ủi những người thân yêu và tất cả những ai đang thương tiếc Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức được nghỉ yên muôn đời.

Amen.

Một người bạn.


 

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Cang Huynh

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Hôm nay, trong lúc chờ đến lượt khám bệnh, tôi nhìn quanh phòng chờ.

Có những người ở độ tuổi 50, 60, 70, thậm chí 80. Một số người chờ gặp bác sĩ, một số chờ xét nghiệm, và những người khác chờ điều trị. Ai cũng dường như mang trong mình những lo lắng, đau nhức và những cuộc chiến thầm lặng.

Một người phụ nữ ngồi gần đó đang nói về việc già đi khó khăn như thế nào. Bà ấy nói về bệnh tật, đau đớn, thuốc men và tất cả những vấn đề dường như đi kèm với tuổi già.

Tôi lặng lẽ lắng nghe.

Rồi tôi nhìn qua cửa sổ.

Bên ngoài có một cụ bà không chờ gặp bác sĩ. Bà ấy không đến đó để xét nghiệm hay điều trị.

Bà ấy chỉ đơn giản hy vọng ai đó sẽ cho bà vài đồng xu để mua thuốc giảm đau.

Thế mà, bà ấy vẫn mỉm cười.

Khoảnh khắc đó vẫn còn đọng lại trong tôi.

Một số người trong chúng ta may mắn có bác sĩ để tham khảo ý kiến, các xét nghiệm mà chúng ta có đủ khả năng chi trả, thuốc men để uống và người thân chăm sóc. Những người khác lại phải vật lộn để có đủ tiền mua ngay cả những thứ đơn giản như giảm đau.

Và người phụ nữ ấy vẫn mỉm cười.

Điều đó khiến tôi nhận ra rằng có lẽ tuổi già không phải lúc nào cũng là điều khiến chúng ta nặng lòng.

Đôi khi, chính cách chúng ta nhìn nhận tuổi già mới là vấn đề.

Đúng vậy, tuổi già mang đến những thách thức. Hôm nay có thể là huyết áp cao, ngày mai là đường huyết, đầu gối đau nhức, xương khớp mỏi mệt, đau lưng, hoặc một vấn đề sức khỏe bất ngờ.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải chăm sóc bản thân.

Đi khám bác sĩ khi cần thiết.

Uống thuốc khi cần.

Giữ cho cơ thể vận động.

Ăn uống lành mạnh hơn.

Nghỉ ngơi khi cần.

Và đừng bao giờ bỏ qua một vấn đề có thể điều trị được.

Nhưng trong khi chăm sóc cơ thể, chúng ta phải nhớ một điều quan trọng không kém:

HÃY CHĂM SÓC TÂM HỒN CỦA BẠN.

Bởi vì cơ thể có thể già đi nhưng trái tim vẫn có thể trẻ trung.

Có thể ta bước đi chậm hơn, nhưng ta vẫn có thể tận hưởng cuộc hành trình.

Tóc ta có thể bạc đi. Khuôn mặt ta có thể xuất hiện nếp nhăn. Cơ thể ta có thể có thêm vài cơn đau nhức.

Nhưng ta vẫn có thể cười.

Ta vẫn có thể thưởng thức một tách cà phê.

Nghe bài hát yêu thích của mình.

Ngồi bên những người ta yêu thương.

Ngắm hoàng hôn.

Tận hưởng một buổi sáng yên tĩnh.

Nắm tay ai đó.

Và biết ơn vì một ngày mới.

Già đi không có nghĩa là cuộc sống kết thúc.

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là cuộc sống đã thay đổi.

Vì vậy, đừng coi tuổi già là một hình phạt.

Hãy coi đó là một chương mới – một chương xứng đáng được kiên nhẫn, chấp nhận, cười và biết ơn.

Hãy chăm sóc cơ thể mình.

Bảo vệ sự bình yên của bạn.

Nuôi dưỡng tâm hồn bạn.

Và hãy nhớ:

Chừng nào bạn còn sống, vẫn còn điều gì đó để biết ơn.

Và chừng nào bạn còn thở, bạn vẫn còn thời gian để sống một cuộc đời tươi đẹp. 

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.