CHIẾC HUY CHƯƠNG PHÉP LẠ VÀ SỰ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI CỦA MỘT KẺ HOÀI NGHI

Vào tháng 1 năm 1842, Alphonse Ratisbonne đến Rome. Khi đó, anh là một ngân hàng trẻ người Pháp 27 tuổi—giàu có, tự tin và công khai thù nghịch với Giáo hội Công giáo. Anh chẳng mấy bận tâm đến đức tin, đặc biệt là sau khi người anh trai ruột khiến cả gia đình sốc nặng bằng việc cải đạo và đi tu làm linh mục.

Nhưng trong chuyến dừng chân tại Rome, anh đã đồng ý—gần như chỉ để làm trò đùa—trước một lời thách đố đơn giản từ Nam tước de Bussières: Đeo chiếc Huy chương Phép Lạ và đọc kinh Hãy Nhớ (Memorare) mỗi ngày.

Và rồi, ngày 20 tháng 1 năm ấy, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn.

Trong lúc một mình chờ đợi tại Nhà thờ Sant’Andrea delle Fratte, một luồng ánh sáng rực rỡ đột ngột tràn ngập khắp nguyện đường. Giữa vầng hào quang ấy, anh đã nhìn thấy Mẹ: Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra chính xác như hình ảnh trên chiếc Huy chương Phép Lạ. Không một lời nào được thốt ra, nhưng sự hiện diện của Mẹ là quá đủ.

Trong tích tắc, mọi sự hoài nghi trong anh hoàn toàn sụp đổ. Anh quỳ sụp xuống, run rẩy và khóc nức nở, thốt lên rằng mình đã được nhìn thấy Mẹ.

Chỉ vài ngày sau, anh chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Marie-Alphonse. Anh từ bỏ sự giàu sang, hủy bỏ giao ước hôn hôn phối, và cuối cùng trở thành một linh mục Công giáo. Cuộc đời anh bước sang một trang hoàn toàn mới, sau này anh đã đồng sáng lập Dòng Đức Bà Sion và cống hiến hết mình cho công cuộc truyền giáo.

Một người bước vào nhà thờ như một kẻ hoài nghi, nhưng khi bước ra lại là một nhân chứng.

Một lời nhắc nhở rằng: Ân sủng của Chúa có thể xuyên qua cả những lòng chai đá nhất chỉ trong một khoảnh khắc.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.

Nhìn lại dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

21/05/2026

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ, dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời…với giới nhạc sĩ và những ca sĩ quyện vào nhau tuyệt vời

  • Sau này, may mắn là tất cả các nhạc sĩ lẫn các ca sĩ đã lần lượt được các chương trình Paris By Night của trung tâm Thúy Nga giới thiệu. Nhờ thế, các dòng nhạc VN còn được ghi lại một cách sống động đến ngày nay.
  • Những bước khởi đầu của một thời kỳ hồng hoang.

Trong giai đoạn hòa trộn dòng nhạc cổ điển Tây Phương với những với Tino Rossy bên cạnh dòng nhạc ca trù, hát chèo, hát quan họ với cây đàn bầu, đàn nhị..Một số nhạc sĩ trẻ đã chọn cho bản thân một lối đi riêng mở đường  cho một dòng nhạc Việt Nam: Dzõan Mẫn, Đặng Thế Phong và Hùng Lân.

  • Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn (15-10-1919). Với một bài hát nhẹ nhàng, nhìn thấy các buổi chia tay của các đôi lứa chia tay trên ga xe lửa Hàng Cỏ. Ông đã viết bài Biệt Ly..Biệt ly nhớ nhung từ đây.. chiếc lá rơi theo mong manh người về có hay…( Bài Biệt ly đã bị cấm trình bày một thời gian dài ở ngoài Bắc. Nhưng tại miền Nam, nó đã được Thái Thanh hát tự do.)
  • Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (16-4- 1918. Ông lìa đời ở tuổi 24, năm 2-8-1942, ông mất vì bệnh lao phối.

Ông xuất thân ở Nam Định, học trường St. Thomas d’Aquin, ông chỉ để lại cho đời có ba bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu.

Những bài này sau này đã được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Thúy, Ngọc Hạ.

Con thuyền không bến:

Đêm nay thu sang cùng heo mây… Đêm nay sương lam mờ trên mây.Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng..

 Lướt theo chiều gió.. Trôi trên sông Tương, nước chảy đôi dòng. Nào ai biết nông sâu.

Bài giọt mưa thu:  Ngoài kia giọt mưa thu thánh thót rơi.. Trời nắng u buồn mây hắt hiu buồn trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ..

Bài nào cũng nhẹ nhàng, ngọt ngào đi vào não trạng con người

Ông có người yêu là cô Tuyết. Cô Tuyết yêu ông nên cô đã túc trực ngày đêm trên giường bệnh để chăm sóc ông trong những ngày cuối đời.

Khi ông tắt thở, cô xin phép gia đình đôi bên, cầm bó hoa trắng, chít khăn tang đi đầu như một người vợ, mặc dầu chính thức họ chưa hề kết hôn.

Cảnh ấy xót thương làm sao và cũng đẹp làm sao!!

Đó một mối tình như thể thiên thu bất tận! Đẹp làm sao mà cũng não lòng làm sao..

Vài nhận xét: Mặc dầu ông không được học âm nhạc một cách bài bản.. Nhưng những dòng nhạc của Đặng Thế Phong đượm u buồn man mát, lắng sâu và đi vào lòng người. Và những nét buồn ấy ảnh hưởng tới hoặc gợi cảm hứng có thể cho các nhạc sĩ như Văn Cao, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn sau này.

  • Nhạc sĩ Hùng Lân(Tên Phê rô Hoàng Văn Hường- 1986-2022)

Ông thuộc một gia đình công giáo với nhiều sáng tác cho thiếu niên, thanh niên với giọng điệu hùng mạnh, lý tưởng cứu quốc, sôi sục ý chí thanh niên và tinh thần quốc gia khác hẳn với những ca từ của Đặng Thế Phong. Như:Khỏe vì nước, Hè về, Việt Nam Minh chầu trời đông và bản dịch bài Silent night- Đêm thánh vô cùng.

Xin giới thiệu bài Khỏe vì nước:

Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia

Đoàn thanh niên ta góp tài ba

Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong nam giới.

Hợp lực xây dựng hưng thịnh chung quốc gia

Khỏe vì nước, ý chí cương kiên

Giống lạc hồng uy hùng vô biên

Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường

Việt nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Ông cũng là người thành lập ra Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh 1945. Cũng như mở nhiều lớp nhạc cho thanh niên thiếu nữ.

Giữa Hùng Lân và Đặng Thế Phong là những người mở đường cho âm nhạc Việt. Khác nhau, nhưng không có vấn đề hơn kém, chỉ có vấn đề bổ túc và bù trừ cho buổi bình minh của dòng nhạc Việt mở đường sau này cho những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng.

  • Dòng nhạc Phạm Duy

Phạm Duy là một thiên tài đa dạng, nhiều cung bậc… Ông để lại gần 1000 bài ca phổ nhạc đủ loại. Hùng mạnh có, ý nghĩa thâm trầm có, da diết có, buồn vui có nhớ thương khôn cùng. Thiền ca, đạo ca cũng không thiếu. Ông là cả một bầu trời ca nhạc bao la. Trước ông và sau ông không có ai- trừ Trịnh Công Sơn.

Bài tiêu biểu:

Tôi xin chọn bài: Việt Nam, Việt Nam ngay từ vào đời. Việt Nam hai câu nói trên vành môi. Việt Nam nước tôi, Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam tên gọi là Người.. ( Hùng ca sử Việt.)

Nhạc sĩ Trúc Hồ, trên SBTN coi bài này của Phạm Duy như bài quốc ca của VN.. Và sau này, đi đâu, trong các buổi lễ, các chương trình thường dùng bài ca này như một kết thúc cho chương trình.

Cá nhân tôi khi nghe bài này, như nổi da gà vì rúng động như đụng chạm tới tâm hồn tuổi trẻ VN.

Thật không diễn tả nổi và không có ngôn từ nào có thể sánh bì.

Ông cũng là người đưa Phạm Thiên Thu và Nguyễn Tất Nhiên chấp cho họ đôi cánh, đưa thi  ca và âm nhạc của họ cùng cất cánh bay lên!!!

Phạm Thiên Thu với người yêu Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ: Ngày xưa Hoàng thị:

Em tan trường về

Đường xưa nho nhỏ

Mà thương mà nhớ

Dáng em nho nhỏ trong cõi xa vời…

Đó là lời tỏ tình dệt bằng hoa gấm, dễ thương và say nắng của một thời tuổi trẻ không gì hay hơn được…

Tiếp đến là nhà thơ Nguyễn  Tất  Nhiên,- học trò trường  Ngô quyền mà nay nhiều người đã từng sống như những nhân chứng một thời với nhà thơ.

Tôi từng được nghe nữ ca sĩ Thanh Lan, người ca sĩ không có tuổi với nốt ruồi trên khóe môi trái, duyên dáng và mời gọi đã hát chung với Vũ Khanh như thể một đôi tình nhân:

Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa.. Đôi ta vào quán trưa.. Em hiền như ma sơ

Thật hồn nhiên và cảm động mà không ngôn từ nào nói cho đủ.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc một tài năng thiên bẩm đã vội vã ra đi khỏi cõi trần thế ô trọc này..

Tôi cũng đã đôi lần gặp lại nhà thơ tại Cali, nơi báo Saigòn Nhỏ nơi mà mà tôi cộng tác.

Tôi cũng tiếc nguồi nguội là chỉ có 6 bài của nhà thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng: không có Phạm Duy phổ nhạc, không  thể có một Ngày xưa Hoàng Thị cũng không có Em hiền như ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên…

Tôi viết vài dòng cảm tưởng này để gửi đến các học sinh Ngô Quyền đã học tôi trong 5 niên khóa vắn vỏi… mà không thể nói lên lời ( 1970-1975)

Sau này, tôi cũng lại có dịp  nghe Thanh Lan và Vũ Khanh đã cùng hát bài Trả lại em yêu của nhạc sĩ Phạm Duy. (Trung tâm Asia. )

Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.. tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa..Anh sẽ ra đi về miền mông muối..

Chủ nhật hẹn hò đây đó, uống ly chanh đường.Uống môi em ngọt ngào..

Tình yêu như thể không có tuổi. Tôi uống những lời ca ngọt ngào như thể hóa thân là chính mình là người trong cuộc. Ký ức của cả một thời mômg muội.. ngậm ngùi nhớ lại cho riêng mình, cho tuổi trẻ miền Nam, cho đất nước chia đôi, cho một một thời đã không còn nữa..

Bài phổ nhạc: Kiếp nào có yêu nhau.  (thơ Minh đức Hoài Trinh. Phạm Duy phổ nhạc)

Bài này đã được nhiều ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thu trình diễn. Một lần nữa cho thấy thiên tài phổ nhạc của Pham Duy.

Đừng nhìn em nữa anh ơi. Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên…

Giọng hát của một nữ ca  sĩ Lệ Thu như xé nát con tim, như van nài, thổn thức.

Tôi nghe mà lòng thổn thức.

Điều này cho thấy, người nghe thường có thói quen gắn cặp Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, Phạm Duy-Thái Thanh. Điều này thoạt đầu như thể là thật.

Tôi nhớ lại, Trịnh Công Sơn cầm cây đàn Guitare, Khánh ly đi chân trần, say sưa hát trên sân cỏ trường đại học văn khoa.

Nó vừa thật một cách hoang dại tuổi trẻ, nó vừa hòa đồng vào tuổi trẻ sinh viên miền Nam đã một thời như vậy..

Phải nhìn nhận, nó thật đẹp, lãng mạn và quyến rũ.

Nó là cả một thời, nhưng thời gian qua đi xem ra đã không còn như thế nữa.

Nhiều ca sĩ thế hệ sau đã thể hiện một cách bài bản và trọn vẹn trong giọng ca, trong cách thể hiện, cách ăn mặc kín đáo mà vẫn thể hiện được phong cách người phụ nữ..

Tôi vẫn không chia xẻ được những sô trình diễn trên Paris By Night của một số diễn viên, ca sĩ một cách phản cảm. Hình như thể, họ dùng thân xác phô bày như một cách lôi cuốn người xem vốn được nhiều khán giả ưa chuộng.

Xin minh chứng bằng trường hợp nữ ca sĩ Mộc San-Đà Lạt.

Cô ăn mặc rất đẹp mà kín đáo. Trình diễn có nghệ thuật, hấp dẫn, lôi cuốn với chỉ một tiếng đàn guitare làm nền.

Để minh chứng rõ hơn về cách thể hiện, xin đưa ra trường hợp một ban nhạc đường phố tại Pháp, giọng một ca sĩ giọng nam, người Pháp với giọng ca mạnh và lôi cuốn đã hát bài Huế, Sài Gòn, Hà Nội của Trịnh Công sơn, anh vừa hát theo một bản dịch tiếng Pháp, vừa theo bản tiếng Việt cùng với 5,6 nhạc công phụ họa đã lôi kéo đám đông trên đường phố.

Tiếp đến là phần đầu của bản Gia Tài của mẹ cũng do nhóm nhạc đường phố trên trình diễn.

Nó cho tôi thấy rằng, bài hát hay không chỉ tùy thuộc vào tác giả sáng tác mà còn tùy thuộc vào cách thể hiện, cách trình bày.

Bằng chứng là nữ ca sĩ Mộc San cũng có dịp trình bày bài hát này.

Nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy đã có nhiều dịp tỏa sáng tại Pháp nhờ vào lối trình diễn sống động và lôi cuốn hòa nhịp vào đám đông..
Bản nhạc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn cũng được một nữ ca sĩ người Nhật hát rất đạt.

Tôi cũng đã được nghe bài hát: Ta đã thấy gì trong đêm nay Qu,avons-nous vu dans cette nuit của Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ tài tử và người nghe hát đồng loạt nhún nhảy theo điệu nhạc. Thật vui và ấn tượng.

Dòng nhạc như thể vượt mọi rào cản biên giới quốc tịch để dễ dàng chia xẻ và thấm nhập vào lòng người.

Tôi cũng rất thích thú nghe Trịnh Công Sơn, tự đánh đàn và hát bài: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.. với nhiều ý nghĩa..sâu đặm, với niềm vui chia xẻ đến mợi người.

Nhưng tôi cũng nhận thấy nhạc tình Việt đã không được trình bày tỏa sáng do các ca sĩ Mỹ hát.

Cuối cùng, phải nhìn nhận với nhau rằng hai nhạc sĩ Phạm Duy- Trịnh Công Sơn, mỗi người một cách thể hiện là những thiên tài trong âm nhạc miền Nam mà sau này cho đến bây giờ, khó có nhạc sĩ nào có thể thay thế được họ..

  • Dòng nhạc tình Việt Nam muôn thuở.

Có thể nói, nhạc VN là thứ nhạc tình thường đượm buồn nhẹ nhàng lay lắt, chia ly xa cách với mùa thu lá bay..

-Nhạc sĩ Hoàng Quý- Lê Thương.

– Cô láng giềng- một mối tình sôi động khi được tin người yêu đi lấy chồng.

Hôm này trời xuân bao tươi thắm.. Cô láng giềng ơi, không biết cô còn nhớ tới tôi.

  • Nhạc sĩ Lê Thương.

Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc.. đạp trên lá vàng khô..

-Nhạc sĩ Văn Cao

Văn Cao là một con người đa tài, tài hoa, Văn, thi sĩ, họa sĩ, nhất là nhạc sĩ.(Sau này, những bức tranh ông vẽ sau này được triển lãm tại Hà Nội)

Đặng Thái Mai gọi ông là một viên ngọc trong giới nghệ sĩ.

Ông đã để lại cho đời những bản tình ca, nhẹ nhàng, buồn hiu hắt bất hủ như:  Suối mơ,Thu Cô Liêu, Buồn Tàn thu Làng tôi.

 Bên cạnh đó, còn những bản hùng ca, lẻ loi ca tụng Hồ Chí Minh..Bài tiếng Quân ca ông sáng tác năm 1944 sau này trở thành bài quốc ca.

Nhưng số phận ông không được may mắn như Phạm Duy ở miền Nam.

Năm 1958, tên ông bị rút ra khỏi danh sách giới nghệ sĩ mặc dù ông không bị đi tù hay tra khảo.

Cuộc sống bị hắt hủi, bỏ rơi trong nỗi cô tịch và túng thiếu.

Cây đàn piano ông xử dụng thật ra chỉ là thuê với giá 7 đồng rưỡi, cộng với tiền thuê nhà hàng tháng  là 15 đồng.

Thật tiếc cho một tài hoa đất Bắc không được trọng dụng.

Và đã có nhiều văn nghệ sĩ cũng chung số phận như Văn Cao.

Trong suốt 38 năm còn lại của cuộc đời, ông đã làm thinh, không còn sáng tác một bài nào nữa..

Phải chăng sự làm thinh ấy là một hình thức chống đối lại chế độ?

  • Ban Hợp ca Thăng Long

Đây là một ban Hợp ca xuất phát từ đất Bắc từ những năm 1946, đến năm 1951, sau đó như nhiều giới văn nghệ sĩ khác, họ dinh tê về Hà Nội, rồi khi vào Sài gòn, nơi có tự do, họ trở thành  ban nhạc danh tiếng như một huyền thoại.

Đặc biệt Ban Hợp ca này đều mang dòng họ Phạm. (hoặc dâu rể) như Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (mất 1999), vợ Phạm Duy.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm (2002). Con trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương ( mất 1991)- vợ là ca sĩ Khánh Ngọc ( mất 2021), Khánh Ngọc là ca sĩ, bà còn là một tài tử điện ảnh. Con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh (2020).

Trong số ấy nổi bật ba người: Hoài Bắc Phạm Đình Chương- Thái Thanh-và Hoài Trung Phạm Đình Viêm.

Biến cố năm 1960, trong vụ được gọi là ăn chè nhà Bè giữa Pham Duy và Khánh Ngọc làm tan rã ban Hợp ca Thăng Long.

Sau đó Khánh Ngọc bỏ sang Mỹ. Cõi lòng Phạm Đình Chương tan nát đã để lại một số bài ca như: Người đi qua đời tôi, Khi cuộc tình đã chết, Nửa hồn thương đau.

  • Nhạc sĩ Từ Công Phụng (27-07-1942)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng, tác gỉả những dòng nhạc trữ tình lãng mạn bất hủ như:  Bây giờ tháng mấy.. Tuổi xa người.. Giữ đời cho nhau.

Xin trích dẫn vài dòng nhạc:

Nếu có điều gì vĩnh cửu, thì em ơi. Đó là tình yêu chúng ta.. bờ vai ngoan.. Nếu có điều gì vĩnh cửu.. rồi mai đây, anh sẽ đón em về…

Tạ ơn em.. tạ ơn em

Bài giọt lệ cho ngàn sau. :

Mưa soi dấu em qua cầu..

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau..

Đời em đã khép đi vội vàng..

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng..

Lời nhạc của Từ Công Phụng hòa quyện với tiếng hát sang trọng của Lệ Thu tạo nên một tuyệt phẩm ít ai sánh bì..

Ông cũng là một nhạc sĩ sau 1975 vẫn còn sáng tác và điều đặc biệt hơn mọi nhạc sĩ khác, ông có một giọng ca đầy nam tính, trầm buồn, đầy ma mị.

Tôi yêu giọng ca ấy, thái độ ấy khi ông cất tiếng hát. Nó hòa quyện vào từng lời ca như hơi thở như từ xa vọng về..

  • Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Ông vốn  là một sĩ quan quân đội VNCH, sau này lên đến cấp bậc đại tá năm 30 tháng tư, 1975..

Những bản nhạc của ông mang bóng dáng người lính VNCH như, tôi ghi lại như một kỷ ức khó quên. Nó rất đẹp và nhẹ nhàng :

  • Chiều mưa biên giới.
  • Đêm gác

-Xác hoa mầu tím.

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.. Kìa rừng chiều âm u rét mướt..

Bây giờ,  tôi ngồi một mình nghĩ lại, gậm nhấm với nỗi buồn xa xứ, nghe mà lòng đau thắt.

  • Nhạc sĩ Vũ Thành An

Ông để lại nhiều ca khúc là  Những bài ca không tên. Tôi gần như không nghe cũng như cuộc đời ông trong trại cải tạo mà tôi bỏ qua không xét đến.

Tôi chỉ giới thiệu một bài hát duy nhất : Rồi cũng già

Ngày mai rồi mình cũng già….Ngày xưa như mới hôm qua.. Thời gian như cánh chim bay. Tiếng cầu kinh đời đời vẫn vậy.. Được thua thì cũng thế thôi. Một tin yêu xin trao cho nhau…. Tạ ơn trên cho ta sống chốn này..

Nhận Xét

Bài ca như lời trăn trối, như gửi gắm lúc cuối đời. Được thua cũng thế thôi. Chỉ còn lại chút tin yêu cho nhau. Và cuối cùng tạ ơn trên đã cho ta cuộc sống ở chốn này..

Bài Rồi cũng già đã được nhiều ca sĩ hát và phổ biến.

Nhưng gây cho tôi nhiều xúc động là giọng ca nam như một lời nhắn gửi và chia xẻ lúc cuối đời.

  • Ban AVT

Có điều gì khác lạ, có điều gì gây ngạc nhiên..gây thich thú với việc xử dụng các cây đàn cổ truyền, thấm nhuần văn hóa dân gian với cuộc sống êm đềm,  tự do và thường được trình diễn trong các dịp lễ tết cuối năm. Đó là trường hợp ban AVT với sự kết hợp ba tài hoa là Trần Đăng, Lữ Liên và Vân Sơn.

Lời trình bày của tôi chắc không đủ để diễn tả.

Quý vị cần phải nghe chính họ trình diễn một cách nhịp nhàng, vui nhộn qua các bài như: Du xuân, Lời chúc xuân, một ông hai bà, Trấn thủ lưu đồn…
Xin mọi người hãy tự tìm đến mà nghe, mà thưởng thức cho đời thêm vui.

  • Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang(1944-2011)

Ông thuộc thế hệ đàn em của tôi học trường Trần Hưng Đạo Đà lạt. Gia đình có người anh cả và ba chị gái ở lại midền Bắc. Chỉ có Nguyễn Đức Quang và đứa em trai út vào miền Nam Sau này ban nhạc của ông có dịp trình diễn tại giảng đường Spellman của đại học Đà lạt, nơi tôi từng học.

Ông là người sáng lập và là linh hồn của Phong Trào Du Ca. Mục đích của phong trào là viết cho quê hương, cho giới thanh niên với tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh xã hội chính trị thời ấy.. Có một số thanh niên quá khích biểu tình, hô hào đả đảo chính quyền miền Nam, tôi gọi bọn họ là Bọn  xuống đường. Còn nhóm Nguyễn Đức Quang, tôi trân trọng gọi họ là nhóm Lên Đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tiêu biểu cho giới trẻ miền Nam thời ấy.

Những bản nhạc sáng tác của ông như : Về với mẹ cha- Bên kia sông-Xin chọn nơi này làm quê hương. Nhất là bài :Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Rất tiếc cho một thanh niên tài hoa, đầy nhiệt huyết, ông bị tai biến mạch máu não và qua đời ngày 27-5 -2011, tại California..
Còn một nhạc sĩ cuối cùng mà tôi không thể không nói đến: nhạc sĩ Cung Tiến. (1938-2022)

Cung Tiến- tức Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội, có dịp học nhạc với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi đã sáng tác các bài Thu Vàng..và Hương xưa.

“ Chiều hôm qua lang thang trên đường. hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương..Chiều hôm qua, mình tôi bâng khuâng…rồi:

Mùa thu vàng tới, nhặt lá vàng rơi.. có mùa thu vàng bao nhêu là thương..

Hương xưa: Ôi những đêm dài, một kiếp xa xôi..

Tôi lại yếu hèn, thổn thức theo dòng nhạc của tác giả..

Như tự bên trong tôi, tôi nhủ thầm được may mắn sinh sống tại một miền đất miền Nam tự do,đã nuôi dưỡng tôi thành một người trí thức miền Nam mà tôi tự hào không ngượng nghịu…với ký ức vàng son của một thời kỳ âm nhạc VN..

Để chấm dứt hơn nửa thế kỷ dòng âm nhạc miền Nam..

Xin được dùng bài hát của nghê sĩ Nam Lộc như khép lại bài viết này: Bài nhạc: Sài Gòn ơi!! Vĩnh biệt.


 

THẾ GIỚI MỞ, TÂM HỒN KHÓA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín!”.

Chưa bao giờ thế giới “mở” như hôm nay: “AI”, công nghệ và kết nối khiến mọi khoảng cách gần như biến mất. Nhưng nghịch lý thay, càng mở ra với thế giới bên ngoài, con người càng khép kín bên trong.

Kính thưa Anh Chị em,

Một chi tiết rất Gioan trong Tin Mừng lễ Hiện Xuống đáng để chúng ta suy nghĩ: “các cửa đều đóng kín”. Đó không chỉ là cánh cửa của căn phòng, nhưng còn là cánh cửa của sợ hãi, thất vọng và cô độc. Không chỉ ngày trước, nhưng cả hôm nay nữa. Vậy mà Chúa Phục Sinh vẫn bước vào chính nơi đóng kín ấy – ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’.

Lý do Gioan tiết lộ khi cửa phải khoá: “các ông sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ đến từ người Do Thái, nhưng còn từ sự vỡ vụn của những trái tim: họ từng bỏ chạy, từng chối Thầy, từng chứng kiến mọi hy vọng của mình bị đóng đinh. Vì thế, “cửa đóng kín” không đơn thuần là một chi tiết lịch sử, nhưng là hình ảnh của một con tim bị thương đang tự nhốt mình lại. Có lẽ đó cũng là điều đang xảy ra nơi chúng ta hôm nay. “Nỗi cô độc của con người bắt nguồn từ nỗi sợ rằng, nếu người khác biết hết con người thật của mình, chúng ta sẽ không còn được yêu nữa!” – Henri Nouwen.

Điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh không phá cửa để đi vào. Gioan cố ý giữ lại chi tiết ấy để cho thấy: quyền năng phục sinh không huỷ bỏ con người, nhưng đi xuyên qua những gì đang đóng kín nơi họ. Sau đó, Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ – động từ “enephysēsen” gợi lại hơi thở của Thiên Chúa trong trình thuật tạo dựng Ađam. Hiện Xuống không chỉ là một an ủi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Thánh Thần không đơn giản giúp con người “cảm thấy khá hơn”, nhưng làm họ sống lại từ bên trong.

Sống lại từ bên trong là không còn để mình bị nhốt trong nỗi sợ. Thánh Thần không cất các môn đệ khỏi thế giới, nhưng biến những kẻ từng im lặng và co cụm thành những con người có thể bước ra để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” – bài đọc một. Điều đã chết nơi họ không phải thân xác, nhưng là lòng can đảm và khả năng yêu thương. Chính nơi những tâm hồn khoá kín ấy, Thánh Thần bắt đầu tái tạo. Thiên Chúa không phá cửa lòng, Ngài chờ một vết rách của hoán cải để bước vào. “Nhờ Thánh Thần, con người được phục hồi về địa đàng!” – Basiliô Cả.

Anh Chị em,

Chưa bao giờ thế giới năng động như hôm nay, cũng chưa bao giờ con người vong thân như hôm nay. Nhiều người vẫn sống, làm việc, kết nối và cười nói mỗi ngày, nhưng đang chết dần trong sợ hãi, cô đơn và chai lì. Vì thế, phép lạ lớn nhất của Hiện Xuống không phải là nói được nhiều thứ tiếng, nhưng là một con tim tưởng đã chết lại có thể yêu, tin và có thể bước ra khỏi chính mình. Có lẽ, giữa một thời đại ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’, nhân loại vẫn đang thiếu một hơi thở của Thánh Thần cho linh hồn mình.

Sống mà không có Thánh Thần chỉ là sự tồn tại của những xác chết biết cười!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở những cánh cửa khoá phía trong của lòng con; bẻ gãy các chấn song và đưa con ra khỏi mọi chốn tù đày mà không còn luyến tiếc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 20,19-23

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”


 

Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)- Cha Vương

Cuối tuần Memorial Day tràn đầy hồng ân của Thiên Chúa nhé. Chúa thương bạn rất nhiều đó, xin đừng lãng quên… mà ngoảnh mặt đi…

Cha Vương

Thứ 7: 23/05/2026.     (n27-23)

TIN MỪNG: Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)

HOA QUẢ THỨ 5: Nhân Hậu—là một nhân đức hiền từ, dễ tính, hấp dẫn người khác nhờ lời nói nhỏ nhẹ, cung cách bao dung, nó bắt nguồn từ tâm hồn đạo đức, từ nếp sống chính trực và được thể hiện qua hành động yêu thương, quan tâm, âu yếm đối với tha nhân.

SUY NIỆM: Trong đời sống xã hội, lòng nhân hậu được bộc lộ qua lời nói: nó diễn tả mối quan tâm và kính trọng đối với tha nhân. Qua lời nói, con người bộc lộ chính bản thân của mình. Lời nói không chỉ chuyển tải một sứ điệp mà nhất là chuyển tải bản thân của sứ giả. Điều này có thể thấy rõ trong “Lời của Thiên Chúa”, tức là Đức Kitô. Theo thánh Gioan, Ngôi Lời chuyển đạt cho chúng ta những chuyện thân mật của Chúa, tình yêu giữa Ba ngôi. Lời ấy là chân lý và tình yêu: Đức Kitô không chỉ nói đến tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà cả tình yêu của Người đối với Thiên Chúa.

Ngoài ra, sách Tin mừng còn mô tả lời nhân hậu của Đức Giêsu, khi đón tiếp người tội lỗi (Lc 15:1-2), những người bệnh tật (Lc 18:35-43), các trẻ nhỏ (Mc 10:13-36). Những đối thủ của Người, tuy bất đồng ý kiến trong cách giải thích đạo lý, nhưng nhìn nhận rằng lời lẽ của Người có sức thu  hút đám đông. Đức nhân hậu biết sử dụng lời lẽ hòa nhã để tiếp xúc với tha nhân. Hẳn nhiên, kẻ nhân hậu sẽ không dùng lưỡi để nói xấu người khác hay để gây ra tranh cãi (Tt 3:2). Họ cũng biết sử dụng lời lẽ cách khôn khéo để phục vụ Chúa. Họ biết lắng nghe người khác, tuy không ngại phát biểu những điều xác tín của bản thân. Đôi khi vì trung thành với Sự Thật, mà họ sẵn sàng để cho người khác sửa sai mình và cũng không thiếu lần cảm thấy mình cô đơn, vì không được người khác hiểu biết.  Ước mong nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần lòng nhân hậu của bạn được bộc lộ ra bên ngoài, qua nét mặt hồn nhiên, cởi mở với mọi người, tế nhị trong cách giao tiếp hàng ngày.

LẮNG NGHE: Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:31-32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng trí con để con đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm, xin cho lời nói và việc làm của con được cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa để mọi người nhận ra con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Trong mọi tương quan của ngày hôm nay, mời bạn hãy tự hỏi chính mình: “Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này?” Rồi tự thay đổi lời ăn tiếng nói của mình để tình huống trở nên tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

*****************************************

Bài ca lòng nhân hậu -tinmung.net

NÀO AI CHỨA NỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”.

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ. Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình. Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” – Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”. Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng”: nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách. Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô – Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ. Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” – một kiểu cường điệu thần học Gioan – nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô. Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa. Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài. Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra. “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” – thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình. Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài. Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình. Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng – bài đọc một. Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếm, thuộc về và loan báo. Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” – Thánh Vịnh đáp ca. Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn. “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” – Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi. Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa. Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến. Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VII Phục Sinh

Chính môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 21,20-25

20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy ?” 21 Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?”

24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng, không phải là những ngày không có chuyện buồn, không có mất mát, không có va chạm, không có hiểu lầm, không có nước mắt. Nếu bình yên chỉ là khi mọi sự đều theo ý mình, thì có lẽ cả đời này chẳng mấy ai thật sự bình yên. Vì cuộc đời vốn không phải mặt hồ không gợn sóng. Cuộc đời có khi là một dòng sông đầy đá ngầm, có khi là biển lớn nổi gió, có khi là bầu trời đang nắng bỗng kéo mây đen, có khi là một buổi chiều rất bình thường nhưng lòng người lại bất chợt giông bão.

Có những ngày ta mệt không phải vì làm quá nhiều, mà vì đã chịu đựng quá lâu. Có những nụ cười trên môi nhưng bên trong là cả một vùng thương tích. Có những người vẫn đi làm, vẫn trả lời tin nhắn, vẫn hỏi thăm người khác, vẫn chu toàn bổn phận, nhưng thật ra trong lòng đã có biết bao lần muốn buông xuống tất cả. Người ngoài nhìn vào tưởng ta ổn, nhưng chỉ mình ta biết, để đứng vững đến hôm nay, mình đã phải đi qua bao nhiêu đêm dài không ngủ, bao nhiêu lần tự lau nước mắt, bao nhiêu lần tự nhủ: “Cố thêm một chút nữa thôi.”

Bình yên thật sự không phải là không có bão. Bình yên thật sự là sau khi bão đi qua, lòng ta không còn tan tác như trước nữa. Là khi ta vẫn nhớ những điều đã làm mình đau, nhưng không còn để chúng điều khiển mình. Là khi ta vẫn gặp những người từng khiến mình tổn thương, nhưng trái tim không còn run lên vì oán hận. Là khi ta nhìn lại một đoạn đời đầy nước mắt mà không còn trách trời, trách người, trách mình, nhưng lặng lẽ hiểu rằng: nhờ những ngày ấy, ta đã lớn hơn, sâu hơn, trầm hơn và biết thương mình hơn.

Ai cũng thích bình yên, nhưng không phải ai cũng hiểu cái giá của bình yên. Có những bình yên phải đổi bằng rất nhiều lần im lặng. Có những bình yên phải đổi bằng quyết định bước ra khỏi một mối quan hệ làm mình kiệt sức. Có những bình yên phải đổi bằng việc thôi giải thích với những người không muốn hiểu mình. Có những bình yên phải đổi bằng nước mắt của đêm nay, để sáng mai đủ can đảm mỉm cười. Và có những bình yên chỉ đến sau khi ta học được bài học khó nhất: không phải chuyện gì mình cũng kiểm soát được, không phải ai mình thương cũng sẽ thương mình đúng cách, không phải điều mình cố giữ cũng sẽ ở lại, và không phải mất mát nào cũng là dấu chấm hết.

Có khi Chúa để giông bão đi ngang đời ta không phải để nhận chìm ta, mà để dạy ta nhận ra đâu là nền đá, đâu là cát lún. Khi trời yên biển lặng, ai cũng có thể nói mình mạnh mẽ. Nhưng khi mất mát ập đến, khi bị hiểu lầm, khi bị quay lưng, khi lời cầu nguyện tưởng như không được đáp lại, khi những gì mình xây rất lâu bỗng sụp đổ, lúc đó ta mới biết lòng mình đang tựa vào đâu. Tựa vào tiền bạc thì khi tiền bạc lung lay, ta hoảng sợ. Tựa vào danh tiếng thì khi người đời đổi ý, ta chao đảo. Tựa vào người khác thì khi họ rời đi, ta trống rỗng. Nhưng nếu tựa vào Chúa, dù vẫn đau, ta không tuyệt vọng; dù vẫn khóc, ta không mất hướng; dù vẫn ngã, ta vẫn có thể đứng lên.

Bình yên của người có đức tin không phải là thứ bình yên rẻ tiền, kiểu “không sao đâu” trong khi mọi thứ rõ ràng đang rất đau. Bình yên của người có đức tin là dám nhìn thẳng vào sự thật mà không bị sự thật ấy nuốt chửng. Là biết mình yếu nhưng không buông xuôi. Là biết đời có những điều không như ý nhưng vẫn tin rằng Thiên Chúa không bỏ rơi mình. Là biết có những cánh cửa đóng lại không phải vì Chúa ghét mình, mà vì phía sau cánh cửa ấy có thể là điều không còn dành cho mình nữa. Là biết có những người rời khỏi đời mình không phải để mình cô đơn, mà để mình học cách trở về với chính mình và với Chúa sâu hơn.

Cứ mỉm cười rồi mọi chuyện sẽ qua. Nhưng nụ cười ấy không phải là giả vờ vui. Không phải là che giấu vết thương để người khác khỏi hỏi. Không phải là ép mình mạnh mẽ trong khi lòng đang vỡ. Nụ cười ấy là một lời tuyên xưng âm thầm rằng: “Tôi vẫn còn ở đây. Tôi đã đau, nhưng tôi chưa thua. Tôi đã khóc, nhưng tôi chưa mất hy vọng. Tôi đã đi qua những ngày tối, nhưng tôi vẫn tin bình minh sẽ đến.” Có những nụ cười đẹp nhất không phải vì đời dễ dàng, mà vì người mỉm cười đã từng đi qua rất nhiều điều không dễ dàng.

Thật ra, mọi chuyện rồi sẽ qua. Nỗi buồn nào rồi cũng nhạt màu. Vết thương nào rồi cũng lên da non. Người từng làm mình đau rồi cũng trở thành một phần ký ức. Những ngày tưởng như không thể vượt qua rồi cũng sẽ nằm lại phía sau. Điều quan trọng không phải là giông bão đã đến dữ dội thế nào, mà là sau giông bão, ta còn giữ được gì trong lòng. Còn giữ được niềm tin không? Còn giữ được lòng nhân hậu không? Còn giữ được sự tử tế không? Còn giữ được khả năng yêu thương không? Nếu sau tất cả, ta vẫn không trở thành người cay nghiệt, thì đó đã là một chiến thắng rất lớn.

Đừng xấu hổ vì mình từng yếu đuối. Đừng trách mình vì từng khóc. Nước mắt không làm ta nhỏ bé. Nước mắt chỉ chứng minh rằng ta đã từng sống thật, thương thật, hy vọng thật và đau thật. Một người chưa từng tổn thương có thể dễ dàng nói lời mạnh mẽ. Nhưng một người đã từng vỡ vụn mà vẫn chọn sống tử tế, chọn tha thứ, chọn bước tiếp, chọn không trả thù đời bằng sự lạnh lùng, người ấy mới thật sự là người mạnh mẽ.

Bình yên đôi khi bắt đầu từ một quyết định rất nhỏ: hôm nay mình không tự hành hạ mình nữa. Hôm nay mình không đọc lại những tin nhắn cũ làm mình đau nữa. Hôm nay mình không cố giải thích với người đã quyết hiểu sai mình nữa. Hôm nay mình không so sánh đời mình với đời người khác nữa. Hôm nay mình không ép trái tim phải lành ngay lập tức nữa. Hôm nay mình cho phép mình thở, cho phép mình nghỉ, cho phép mình chậm lại, cho phép mình được Chúa ôm lấy trong thinh lặng.

Có những chuyện càng giằng co càng đau, càng giữ càng mệt, càng nghĩ càng rối. Thôi thì đặt xuống. Không phải vì mình thua, mà vì lòng mình cần được sống. Không phải vì người kia đúng, mà vì mình không muốn tiếp tục uống độc dược của oán hận. Không phải vì quá khứ không quan trọng, mà vì tương lai của mình còn quan trọng hơn. Đặt xuống không phải là quên hết, mà là không để điều đã qua tiếp tục lấy mất hiện tại.

Sau giông bão, cây nào còn đứng được thường là cây đã cắm rễ sâu. Con người cũng vậy. Những ai đã từng đi qua khổ đau mà không đánh mất linh hồn mình, thường có một vẻ đẹp rất lặng. Họ không cần nói nhiều để chứng minh mình mạnh. Họ không cần khoe mình đã vượt qua những gì. Họ chỉ sống chậm hơn, thương sâu hơn, nhìn đời hiền hơn, và biết quý những điều rất nhỏ: một buổi sáng còn được thức dậy, một bữa cơm đơn sơ, một người còn ở bên, một lời cầu nguyện trong thinh lặng, một ngày bình thường không có biến cố. Sau nhiều giông bão, người ta mới hiểu: bình thường cũng là một phép lành.

Vì thế, đừng cầu xin một đời không có bão. Hãy xin một trái tim đủ vững khi bão đến. Đừng cầu xin mọi người đều hiểu mình. Hãy xin một tâm hồn đủ sáng để không đánh mất mình vì những lời hiểu lầm. Đừng cầu xin không bao giờ đau. Hãy xin ơn biết đau mà không tuyệt vọng, biết mất mà không hóa cay đắng, biết bị thương mà vẫn còn khả năng yêu thương.

Rồi một ngày, ta sẽ cảm ơn cả những đoạn đường gồ ghề. Cảm ơn những lần bị từ chối đã dạy ta tự trọng. Cảm ơn những lần mất mát đã dạy ta biết trân quý. Cảm ơn những lần cô đơn đã dạy ta trở về với Chúa. Cảm ơn những lần thất bại đã dạy ta khiêm nhường. Cảm ơn những người rời đi đã dạy ta rằng không phải ai xuất hiện trong đời mình cũng có bổn phận ở lại đến cuối cùng. Cảm ơn cả những cơn bão, vì nhờ chúng, ta mới biết trong mình vẫn còn một sức sống âm thầm mà chính ta cũng không ngờ tới.

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng. Bình yên là khi lòng ta đã đi qua những xô lệch mà vẫn tìm lại được trục đứng bên trong. Là khi ta không còn cần đời phải hoàn hảo mới có thể mỉm cười. Là khi ta hiểu rằng hôm nay có thể chưa tốt, nhưng không có nghĩa là mãi mãi sẽ tối. Là khi ta tin rằng sau đêm dài, mặt trời vẫn mọc; sau mùa đông, cây vẫn đâm chồi; sau nước mắt, lòng người vẫn có thể dịu lại.

Vậy nên, cứ mỉm cười. Không phải vì mọi chuyện đã dễ dàng, mà vì Chúa vẫn còn đó. Cứ mỉm cười. Không phải vì lòng không đau, mà vì đau rồi cũng sẽ qua. Cứ mỉm cười. Không phải vì mình mạnh hơn tất cả, mà vì mình không đi qua tất cả một mình. Cứ mỉm cười, vì sau những giông bão dữ dội nhất, điều còn lại không chỉ là những vết sẹo, mà còn là một tâm hồn trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, bao dung hơn và bình yên hơn.

Và khi một ngày nào đó nhìn lại, ta sẽ nhận ra: mình đã không chết trong cơn bão ấy. Mình đã được thanh luyện. Mình đã được lớn lên. Mình đã học được cách buông điều cần buông, giữ điều cần giữ, tha thứ điều cần tha thứ, và yêu thương chính mình trong ánh mắt nhân từ của Thiên Chúa.

Bình yên là vậy: không phải không còn giông bão, mà là sau giông bão, ta vẫn còn biết ngước nhìn trời, hít một hơi thật sâu, mỉm cười thật nhẹ và nói với lòng mình: “Ơn Chúa đủ cho con. Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

BA LẦN CHỐI, BẢY LẦN YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh có yêu mến Thầy không?”.

Năm 1795, Joséphine phải lòng Napoléon; một năm sau, họ thành hôn. Napoléon đắm đuối, còn Joséphine lại công khai phản bội ông với nhiều tình nhân. Lên ngôi hoàng đế, Napoléon vẫn triệu bà vào cung và phong làm hoàng hậu. Tại sao một người phản bội vẫn được yêu? Một học giả trả lời, “Tội lỗi có thể trở thành động lực cho tình yêu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý đầy hy vọng: chính nơi gãy đổ và tội lỗi sâu nhất của con người, tình yêu vẫn có thể được tái sinh – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Con người gãy đổ đó là Phêrô. Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu gặp lại ông bên một bếp than hồng. Gioan rất tinh tế khi dùng lại chi tiết này: bên bếp than của dinh thượng tế, Phêrô đã chối Thầy; và giờ đây, cũng bên một bếp than, Đấng Phục Sinh đưa ông về với vết thương lòng. Ngài không hỏi, “Tại sao con phản bội?”; nhưng, “Con có yêu Thầy không?”. Đó là điều kỳ diệu của lòng thương xót: Thiên Chúa không xoá ký ức tội lỗi, Ngài biến chính nơi gãy đổ thành nơi tình yêu tái sinh. “Đừng sợ. Đức Kitô biết điều gì trong lòng người; chỉ mình Ngài biết!” – Gioan Phaolô II.

Gioan còn cho thấy một điều đau đớn hơn. Chúa Giêsu hỏi Phêrô có yêu Ngài không bằng động từ agapaō – tình yêu hiến trao; nhưng Phêrô chỉ dám đáp lại bằng phileō – tình yêu như tình bạn. Sau lần chối Thầy, ông không còn đủ can đảm để hứa hẹn lớn lao. Nhưng Chúa Giêsu đã bước xuống dùng lại thứ tình yêu mong manh ấy khi hỏi lần thứ ba. Đó là một kỳ diệu khác của lòng thương xót: Thiên Chúa gặp con người không nơi họ tưởng mình phải là, nhưng nơi họ đang là.

Không còn là một cuộc tra hỏi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Ba lần chối đã không khép lại ơn gọi của Phêrô; trái lại, nó cho ông hiểu rằng, ông không thể theo Chúa Giêsu bằng nhiệt thành của ý chí, nhưng bằng lòng thương xót được đón nhận. Có lẽ từ giây phút ấy, Phêrô mới thật sự trở thành đá tảng của Hội Thánh – không vì mạnh mẽ, nhưng vì biết mình yếu đuối mà vẫn được yêu. Đó cũng là kinh nghiệm của mọi Kitô hữu: đôi khi, chỉ sau những đổ vỡ sâu nhất, chúng ta mới bắt đầu yêu mến Thiên Chúa thật sự. Kẻ chưa từng nếm mùi đổ vỡ sẽ không bao giờ hiểu được vị mặn của lòng thương xót! Với Hans Urs von Balthasar, chỉ ai đi qua thương tích của tình yêu mới thật sự học biết yêu.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh đã tìm lại một Phêrô biết yêu sau gãy đổ. Đó cũng là cách Chúa Phục Sinh bước vào đời sống chúng ta. Có những vết thương khiến con người xấu hổ, những ký ức muốn chôn vùi, những lần cặp bồ với đủ loại hình ngẫu tượng mà chúng ta không muốn quay lại; thế nhưng, Ngài vẫn âm thầm chờ chúng ta bên “bếp than hồng” của đời mỗi người và hỏi, “Con có yêu Thầy không?”. Chỉ khi biết mình từng chối Chúa sâu đến đâu, con người mới có thể yêu Ngài thật đến đó. Chỉ khi biết mình đã từng là một Giuđa, ta mới có thể yêu Chúa bằng trái tim của một Phêrô – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sau mỗi lần phản bội, xin dạy con biết yêu Chúa sâu hơn thay vì bỏ chạy xa hơn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VII Phục Sinh

Hãy chăn dắt chiên của Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 21,15-19

15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”