TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Việt Luận – Viet’s Herald

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng Chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng nước Mỹ, đã lưu ý đến sắc đẹp của cô tiếp viên này.

Vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàn ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình.

Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ.

Thật là quái gở không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám mục già kia.

Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…

Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình?

Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.

Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi:

– Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?

Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời:

– Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II.

Cô gái nói tiếp:

– Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?

Đức Cha trả lời:

– Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?

Cô gái sung sướng nói tiếp:

– Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?

Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi:

– Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?

Cô gái ngước đôi mắt xanh như dò hỏi:

– Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.

Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt:

– Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Jean Cassaigne đã từ chức Giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?

Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…

Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt.

Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.

Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.

Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: Tạ ơn Thiên Chúa.

Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.

Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.

Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng.

Anthony Trung Thành 


CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

 “Tiền không phải của tôi, tôi chỉ tạm thời giữ nó mà thôi.”

 Trong thế giới giải trí nơi nhiều ngôi sao gắn liền với sự xa hoa, Châu Nhuận Phát lại nổi bật theo một cách rất khác: sống giản dị, khiêm nhường và xem tiền bạc chỉ là thứ tạm giữ trước khi trao lại cho đời.

 Nam diễn viên huyền thoại của điện ảnh Hồng Kông từng tuyên bố ông sẽ tặng khoảng 99–100% tài sản của mình cho từ thiện sau khi qua đời. Khối tài sản của ông được ước tính khoảng 700–715 triệu USD (tương đương khoảng 17.000–18.000 tỉ đồng Việt Nam).

 Ông giải thích rất thẳng thắn:

 “This money isn’t something you possess forever. When you’re gone one day, you have to leave it to others to use it. You can’t bring the money in your bank account with you after you die.”

 Tạm dịch:

Tiền không phải thứ ta có thể sở hữu mãi. Khi rời khỏi thế gian, hãy để người khác sử dụng nó. Không ai mang tiền theo sau khi chết.

 

 Sống giản dị dù là siêu sao

 Dù là một trong những ngôi sao lớn nhất châu Á, Chow Yun-fat lại sống rất bình dân.

 Ông thường đi tàu điện, xe buýt, ăn ở quán bình thường và hiếm khi tiêu xài xa xỉ. Nhiều người dân Hong Kong từng bắt gặp ông tự đi dạo phố, leo núi hay chụp ảnh vui vẻ với người hâm mộ. 

Triết lý sống của ông được tóm gọn trong một câu nói nổi tiếng:

 “The money is not mine; I just keep it temporarily.”

 Tiền không phải của tôi – tôi chỉ giữ nó tạm thời.

 

 Chuẩn bị tài sản cho hoạt động từ thiện

 Trong những năm gần đây, Chow Yun-fat bắt đầu bán bớt bất động sản để chuyển tài sản thành tiền mặt phục vụ cho kế hoạch từ thiện lâu dài.

 Một căn hộ cao cấp tại khu Tây Bán Sơn (Hong Kong) vừa được bán khoảng 8 triệu HKD. Căn hộ này được vợ chồng ông mua từ năm 1995 với giá hơn 3 triệu HKD, và sau gần 30 năm giá trị đã tăng đáng kể.

 Ông và vợ dự định thành lập quỹ từ thiện, dùng tài sản của mình hỗ trợ các lĩnh vực như:

 * giáo dục

* y tế

* xóa đói giảm nghèo

 Đối với họ, di sản thật sự không phải là tài sản để lại cho gia đình, mà là những đóng góp cho xã hội.

 

 Bi kịch khiến ông không có con

 Chow Yun-fat kết hôn với Jasmine Tan. Hai người từng mong chờ một đứa con, nhưng năm 1991, bi kịch xảy ra khi em bé không sống được sau khi sinh dù thai kỳ đã gần đủ tháng.

 Sự mất mát này ảnh hưởng rất sâu sắc đến cả hai vợ chồng. Sau đó họ quyết định không cố gắng sinh thêm con, chọn sống bình an bên nhau thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ tổn thương tương tự.

 Một triết lý sống rất giản dị

 Chow Yun-fat từng nói:

 “When we came into this world, we had nothing, and we will leave with nothing.”

 Chúng ta đến thế gian tay trắng, và cũng sẽ rời đi tay trắng.

 Có lẽ chính vì vậy mà ông chọn cách sống khác với nhiều ngôi sao:

Không bám vào tiền bạc, không chạy theo xa hoa, và xem tài sản chỉ là phương tiện để giúp đỡ người khác.

 Sau hàng chục năm nổi tiếng, nhiều người nhận ra rằng:

 Châu Nhuận Phát không chỉ là một minh tinh điện ảnh.

Ông là một người đang “tu đạo bằng chính cuộc đời mình.” ✨

 Theo: Vietgiaitri.com

From: taberd & NguyenNThu

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Xuyên Sơn

 

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Tôi dám cá với các bạn là hiện nay có rất nhiều người Việt mình

( con số có thể hàng triệu , trẻ có mà già cũng có )

nghĩ rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của chính phủ VNCH trước 1975 . Thậm chí cũng có trường hợp như thằng bạn chơi chung trong hội xe đạp của tôi, hơn 40 tuổi nhưng nó còn hỏi tôi cờ vàng ba sọc là cờ gì ?

    Chính gì hiểu sai và mù tịt về nguồn gốc cho nên hễ thấy ở đâu xuất hiện lá cờ vàng là trong đầu họ lởn vởn 2 chữ “ phản động” hoặc “Cờ của ngụy”

Rồi co rúm người lại , sợ hãi , ngó dáo dác xung  quanh coi có Công an không

     Thực trạng dốt nát , hiểu sai về nguồn gốc lá cờ vàng dân tộc

(và nhiều chuyện ghê gớm khác nữa ) của số đông người Việt chúng ta bởi vì liên tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác chúng ta bị nhà trường XHCN dạy những điều sai sự thật liên quan lịch sử

   Thú thật với các bạn là tôi cũng nằm trong số đông người Việt bị tiêm nhiễm kiến thức lịch sử đầy dối trá như thế .

Tôi cũng một thời u mê mụ mị, bởi cái tuổi tôi cũng học cùng 1 chương trình giáo dục đó thôi.

Tuy nhiên, ở đời khôn hay dại là do mình.

Chấp nhận làm cừu cho người ta dắt  hay muốn tự khai sáng là do mình . ….

Ngày nay phương tiện để khai sáng học hỏi nó ở ngay trong nhà mình . Thậm chí không cần đến trường vẫn có thể trở thành một người thông thái….

Trở lại câu chuyện lá cờ vàng, đó không phải là lá cờ do chế độ

“ mỹ ngụy “ sáng tác ra  như đám bò đỏ, dlv vẫn nghĩ .

Đó cũng không phải là lá cờ thù địch đáng ghét để xé để dẫm đạp lên để rồi phạm tội như 1 cậu du học sinh tại Úc đang ồn ào.

Mà đây chính là lá cờ của dân tộc Việt đã truyền qua nhiều chính thể mà chính phủ VNCH chỉ là sự tiếp nối theo dòng chảy lịch sử ( google)

Nếu được giáo dục đúng sự thật sẽ không có thái độ cực đoan và sẽ không phạm tội như chuyện đang xảy ra.

    Nền giáo dục XHCN phải chịu trách nhiệm về chuyện này.

Nhưng trước hết chúng ta phải tự cứu mình bằng cách mỗi người phải tự khai sáng cho bản thân

Ai đó đã nói rất đúng

“ Ngày xưa không có internet bị cộng sản lừa thì không phải lỗi của mình. Ngày nay có internet mà vẫn bị cộng sản lừa là tại mình …. quá ngu mà thôi”

Nguồn fb Hai Tran 


 

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

 Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc… Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm… Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học… Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm. Đừng hứa khi đang… vui! Đừng trả lời khi đang nóng giận! Đừng quyết đinh khi đang… buồn! Đừng cười khi người khác… không vui! Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta. Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!) Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu.

Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám. Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu. Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng. Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.  

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa.

Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng. Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn… Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày. Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết.

Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ. Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe. Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình…

Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Sưu Tầm

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH,

 8 SÀI GÒN 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH, CUỐI ĐỜI RỐI LOẠN TÂM THẦN, KHÔNG CON CÁI, ĐI BÁN BÁNH DẠO…

Câu chuyện về Ân Phi Hồ Thị Chỉ (1902 – 1982) là một bi kịch. Bà yêu hoàng đế Duy Tân nhưng cuối cùng lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái. Sau khi vua qua đời, bà phải dọn ra khỏi hoàng cung, mắc bệnh t^mthần, sống cô đơn cho đến cuối đời.

Hồ Thị Chỉ là con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương. Bà lớn lên trong gia tộc danh giá bậc nhất xứ Huế. Những người anh em của bà đều là bậc trí thức nổi tiếng như Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm… Nhưng giữa gia đình hào môn ấy, cuộc đời Hồ Thị Chỉ lại sớm bị định đoạt bởi những mối dây vô hình của hoàng tộc và chính trị.

Người ta kể rằng, mùa hè năm 1913, khi vua Duy Tân còn là một thiếu niên, những buổi nghỉ mát ở Cửa Tùng đã vô tình mở ra một đoạn duyên kỳ lạ. Những đứa trẻ của gia đình Hồ Đắc Trung được đưa theo để bầu bạn với hoàng đế. Trong tiếng sóng biển rì rào và nắng hè chói chang, cô bé 11 tuổi Hồ Thị Chỉ mang vẻ đẹp e ấp, thẹn thùng đã khiến vị vua 14 tuổi chú ý.

Không phải một cuộc gặp gỡ của những lời thề non hẹn biển, không phải một khởi đầu được báo trước bằng nghi lễ, chỉ là một rung động âm thầm giữa hai đứa trẻ bị đặt vào vòng cung cấm của lễ nghi và thân phận. Về sau, chính sư bà Diệu Không, em ruột của Hồ Thị Chỉ, đã viết lại những ký ức ấy như một mảnh vỡ dịu dàng: Vua gọi các anh là “anh”, gọi Chỉ là “em”, ánh mắt dừng lại nơi bà nhiều hơn tất cả.

Mùa hè kết thúc, cuộc chia ly đến như một lưỡidao cắt ngang tuổi thơ. Hồ Thị Chỉ khóc. Vị vua trẻ lặng im. Và rồi lời hẹn “sang năm gặp lại” được thốt ra như một chiếc lá mong manh treo giữa trời, không ai biết sẽ rơi lúc nào.

Năm sau, khi Hồ Thị Chỉ đã lớn hơn, mẹ không cho phép bà trở lại Cửa Tùng gặp vua. Khi vua Duy Tân được hai bà Hoàng Thái Hậu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ. Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Không một sự an ủi nào đủ sức làm dịu đi nỗi sững sờ của gia đình họ Hồ. Và rồi chỉ ít lâu sau, vua kết hôn, ngồi trong kiệu hoa bước vào hoàng cung không phải Hồ Thị Chỉ, mà là một cô gái khác.

Sau này, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp, rồi bị bắt lưu đày. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ nghe vậy càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sốngchết vì vua.

Thế nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy.

Vua Khải Định bước lên ngai vàng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ngài nhìn thấy Hồ Thị Chỉ trong một cuộc gặp mang tính nghi thức. Lời cầu hôn được đưa ra không phải như một lời hỏi han, mà như một mệnh lệnh. Trong căn nhà họ Hồ, không khí nặng trĩu. Cha bà hiểu rằng đây không còn là chuyện tình cảm đơn thuần. Đây là lựa chọn giữa danh dự và tai họa. Giữa sự sống còn của cả gia tộc và ý chí của một người con gái.

Hồ Thị Chỉ khóc, nói muốn ở lại bên cha mẹ suốt đời, không muốn bước vào bất kỳ cuộc hôn nhân nào, vì trong lòng chỉ yêu vua Duy Tân. Nhưng tiếng khóc ấy, dù xé lòng, vẫn không thể chống lại sức nặng của “khẩu dụ”. Trong triều đình, một lời của vua không chỉ là lời nói, nó là số phận.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài như không có bình minh. Cả gia đình thay nhau thuyết phục. Cuối cùng, Hồ Thị Chỉ chấp nhận kết hôn với vua Khải Định.

Ngày 3 tháng 12 năm 1917, lễ nạp phi diễn ra long trọng. Hồ Thị Chỉ, 15 tuổi, trở thành Ân phi, Nhất giai Phi, bậc cao nhất trong hàng hậu cung, chỉ dưới Hoàng quý phi. Một danh vị mà người ngoài nhìn vào tưởng là vinh quang, nhưng với bà, đó là cánh cửa khép lại mọi con đường trở về.

Trong cung, bà được xem trọng do thông thạo chữ nghĩa, giỏi tiếng Pháp. Bà từng xuất hiện trong các buổi tiếp tân như gương mặt đại diện cho sự giao thoa Đông Tây. Nhưng phía sau những nghi lễ ấy là một đời tư trống rỗng. Không con cái. Không điểm tựa tình cảm. Không một tiếng gọi thân thuộc giữa bốn bức tường vàng son.

Một số giai thoại gây tranh cãi về vua Khải Định vẫn luôn khiến hậu thế xôn xao. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng ghi nhận những lời đồn rằng vị hoàng đế này có sở thích đặc biệt với nam giới, thậm chí trong suốt 10 năm trị vì (1916-1925) còn nuôi thị vệ Nguyễn Đắc Vọng bên cạnh. Ban đêm nhà vua thường gọi Vọng vào ngủ chung và ban thưởng hậu hĩnh. Các quan đại thần muốn đưa con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân), ai muốn tu thì cứ vào.”

Không dừng lại ở đó, nhiều tài liệu truyền miệng còn nói Khải Định đặc biệt mê hát bội nhưng chỉ chuộng gánh tuồng toàn nam, kể cả vai nữ cũng do nam giả trang. Bên cạnh đó, nhà vua còn bị mô tả là người ưa trang điểm, đeo trang sức cầu kỳ, ăn mặc sặc sỡ và thậm chí tự thiết kế y phục khác lạ, tạo nên hình ảnh một vị hoàng đế dị biệt.

Khải Định qua đời năm 1925. Triều đại đổi chủ. Bảo Đại lên ngôi, cải tổ nội cung. Những danh phận cũ bị sắp xếp lại như những quân cờ bị xáo trộn. Hồ Thị Chỉ phải rời khỏi hoàng cung. Không con cái, nỗi cô đơn ngày một lớn, bà mắc bệnh tr/cảm và rối loạn t^mthần.

Từ một Ân phi sống trong lầu son gác tía, bà trở thành một bóng dáng lặng lẽ, phiền muộn, sống lay lắt giữa đời. Mỗi ngày, bà mang một rổ bánh nậm ra chợ An Cựu, khi thì bán, khi thì cho, không màng lời lãi, áo quần và nơi ở xuề xòa, tạm bợ. Bệnhtinh thần theo năm tháng ngày càng nặng.

Năm 1975, cuộc đời bà như được kéo lại từ bờ vực khi hai người anh ruột là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di từ Hà Nội vào Huế, tìm gặp lại em gái sau bao năm xa cách. Từ đó, bà dần được chăm sóc, bệnh ổn định hơn, không còn đi lang thang ngoài đường như trước.

80 tuổi, Ân phi suy kiệt vì tiêu chảy và qua đời tại Bệnh viện Trung ương Huế. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khu lăngmộ họ Hồ trên đồi thông gần chùa Hồng Ân, nơi do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, em gái bà, sáng lập và trụ trì.

Cuộc đời bà, nếu nhìn bằng mắt thường, là một chuỗi vinh hiển: Từ con gái quan lớn, đến Ân phi quyền quý, rồi sống trong những dinh thự sang trọng. Nhưng nếu nhìn bằng trái tim, đó là một bi kịch kéo dài, bi kịch của một người phụ nữ bị đặt giữa những vòng xoáy của lịch sử, nơi tình yêu đầu đời bị cắt đứt, hạnh phúc bị định đoạt và cô đơn trở thành bạn đồng hành cuối cùng.

Trong những bức tường thành cung điện Huế hôm nay, đâu đó như còn vang lên tiếng thở dài rất khẽ của một người con gái từng sống một đời rực rỡ bên ngoài, nhưng cô quạnh, đau khổ sâu trong tâm khảm.

Thu Hằng (Tổng hợp)

SÀI GÒN KỶ – NIỆM


 

Chính Ta là bánh ban sự sống-Cha Vương

Hôm nay  Houston trời mưa dầm, ước chi tình yêu Chúa như hạt mưa rơi thấm vào con tim khát khao của bạn. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và thế giới 

Cha Vương

Thứ 4, 6/5/2026.      (t7-25)

TIN MỪNG: Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. (Ga 6:35) 

SUY NIỆM: Nhìn vào đời sống hôn nhân của những người xung quanh, đằng sau vẻ hào nhoáng vui tươi có thể là những nỗi đau không ai biết. Có thể họ đang sống bên nhau nhưng tim họ lại xa hàng ngàn cây số. Họ nói yêu nhau nhưng không đến với nhau, cảnh “chăn ấm lạnh lòng”, không ít thì nhiều, cũng đang xảy ra đó. Có bao giờ bạn nói yêu thương ai mà chỉ một tuần mới hỏi thăm một lần, và đôi khi hai tuần mới trò chuyện? Yêu nhau nhưng không đến với nhau cũng là một vấn đề trong mọi mối quan hệ, nhất là mối quan hệ với Chúa. Hôm nay Chúa mời gọi bạn hãy đến với Chúa. Khi tâm hồn bạn cảm thấy đói khát và trống vắng, bạn đã “đến với” ai, với cái gì? Bạn có “đến với” Chúa không? Nếu bạn thực sự yêu mến Chúa thì phải thể hiện vào việc đến với Ngài. Một ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để “đến với” Chúa. Bạn có thể “đến với” Chúa bằng nhiều cách: tưởng nhớ, cầu nguyện, suy gẫm, viếng Thánh Thể và nhất là tham dự Thánh Lễ. “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.”

LẮNG NGHE: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin giúp con luôn tìm đến Chúa để được sống trong vòng tay yêu thương của Ngài.

THỰC HÀNH: Hãy xét mình xem lòng bạn có thực sự “đến với” Chúa không?

From: Do Dzung

******************************************

HIỆP LỄ – ĐẾN VỚI CHÚA -THỨ TƯ LỄ TRO – Lm Thái Nguyên

KHÔNG CHỈ LÀ CHÚA KITÔ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy!”.

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” – William Barclay.

Kính thưa Anh Chị em,

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội”. Vì thế, không thể tách rời Giáo Hội khỏi Chúa Kitô; ở lại trong Ngài cũng là ở lại trong Giáo Hội của Ngài – ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Động từ “ở lại” không chỉ mang nghĩa luân lý; nó diễn tả một tương quan. Tình yêu không khởi đi từ nỗ lực, nhưng từ một thực tại có trước: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em”. Vì thế, “ở lại” là để mình được ở trong chuyển động tình yêu giữa Cha và Con; đức tin không còn là làm cho đúng điều phải, nhưng là để mình được ở trong đó. Ở đây, câu hỏi trở nên rất cụ thể: tôi có thật sự ở lại không, hay chỉ đang làm cho đúng?

Bên cạnh đó, “giữ các điều răn” không phải là một đòi buộc, nhưng là cách tình yêu trở thành cụ thể; nó là hình hài của tình yêu. “Ở lại” mà không “gìn giữ”, tình yêu dễ tan thành cảm xúc; còn “gìn giữ” mà không “ở lại” thì trở nên khô cứng. Có khi nào chúng ta chỉ còn “giữ” mà không còn ở lại? Vì một khi tình yêu đối với Chúa Kitô đã mang lấy hình hài cụ thể như thế, nó không còn dừng lại nơi cá vị, nhưng tự nó mở ra thành hiệp thông, thành một thân thể sống động – Giáo Hội; vì thế, ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Tình yêu nơi Gioan không dừng ở cảm xúc hay bổn phận, nhưng là caritas – tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa và tự thông ban. Tình yêu ấy không chỉ là mẫu mực, nhưng là một chuyển động sống. Vì thế, ở lại trong tình yêu không phải là giữ lấy, nhưng là để mình được ở trong tình yêu ấy. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý niệm cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Joseph Ratzinger.

Cụ thể của tình yêu ấy không nằm ở cảm xúc, nhưng ở một quyết định mở ra: Công đồng Giêrusalem không đặt thêm gánh nặng, nhưng nhận ra Thiên Chúa đang hành động nơi mọi dân – bài đọc một. Vì thế, tình yêu trở thành sứ vụ: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm”. Khi tình yêu là caritas, nó luôn mang chiều kích loan báo; lan ra thành lời chứng sống động giữa muôn dân – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Khuôn mẫu của tình yêu đó, quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô, đạt tới tột đỉnh trên thập giá: không giữ lại, nhưng trao ban đến cùng – cho Cha và cho nhân loại. Ở lại trong Ngài là bước vào chính nhịp tự hiến ấy; và từ đó, người môn đệ không còn sống cho riêng mình, nhưng được cuốn vào một đời sống trao ban của một thân thể mầu nhiệm – Giáo Hội – ‘không chỉ là chúa Kitô’. “Ngài là đầu, chúng ta là chi thể; Ngài và chúng ta hợp lại thành một con người toàn thể!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong tình thương của Ngài, để con dám trao như Chúa đã trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần V Phục Sinh

Hãy ở lại trong tình thương của Thầy, để niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,9-11

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”


 

Mexico City lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung

Ba’o Nguoi-Viet

May 6, 2026

MEXICO CITY, Mexico (NV) – Mexico City, thủ đô Mexico, đang lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung, theo CNN hôm Thứ Ba, 5 Tháng Năm.

Hình chụp bằng hệ thống radar rất mạnh của Cơ Quan Hàng Không và Vũ Trụ Quốc Gia của Mỹ (NASA) cho thấy Mexico City đang lún hơn nửa inch một tháng – trở thành một trong những thủ đô lún nhanh nhất thế giới.

Đường sá bị nứt tại quảng trường Zocalo ở Mexico City, Mexico. (Hình: Hector Vivas/Getty Images)

Mexico City, cũng là một trong những thành phố lớn nhất thế giới, trải dài khắp một hồ nước ở trên cao và nằm bên trên tầng nước ngầm cổ, cung cấp khoảng 60% lượng nước uống cho 22 triệu cư dân siêu đô thị này.

Qua nhiều năm, tầng nước ngầm bị bơm quá mức, làm đất bên trên bị lún. Tình trạng bơm nước quá mức còn góp phần gây ra khủng hoảng nước triền miên, khiến Mexico City có nguy cơ không lâu nữa sẽ hết nước uống.

Tình trạng sụt lún nhanh của Mexico City càng thêm trầm trọng do việc đô thị hóa không ngừng vì cơ sở hạ tầng mới làm tăng sức nặng đè lên lớp đất đầy đất sét của thành phố này.

Tình trạng sụt lún của Mexico City được lưu vào hồ sơ lần đầu tiên vào những năm 1920. Kể từ đó, cư dân bắt đầu chứng kiến hậu quả: Đường sá bị nứt, nhà cửa bị nghiêng và hệ thống đường rầy bị hư hại.

Hình ảnh mới từ vệ tinh NISAR, dự án của NASA với Tổ Chức Nghiên Cứu Vũ Trụ Ấn Độ, cho thấy thành phố này lún nhanh tới mức đáng giật mình.

Từ Tháng Mười, 2025 tới Tháng Giêng, 2026, giữa mùa khô ở Mexico City, hình ảnh do NISAR chụp cho thấy nhiều nơi ở thành phố này lún khoảng 0.8 inch một tháng, tương đương hơn 9.5 inch một năm.

Trong những nơi bị lún nặng nhất, có Phi Trường Quốc Tế Benito Juarez, phi trường chính của Mexico City.

Tượng đài Thiên Thần Độc Lập, công trình biểu tượng của Mexico City, cho thấy rõ hậu quả. Được xây dựng năm 1910 để kỷ niệm 100 năm ngày Mexico độc lập khỏi Tây Ban Nha, công trình cao 114 foot này phải xây thêm 14 bậc thềm dưới chân do mặt đất bị lún. (Th.Long)


 

BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – KHI TÂM HỒN ĐƯỢC Ở LẠI TRONG TRÁI TIM THIÊN CHÚA

(Ga 14, 27-31a)

Bình an – hai tiếng nghe rất quen, rất gần, nhưng cũng rất xa. Quen bởi vì ai cũng nói đến, cũng chúc cho nhau: chúc bình an, cầu bình an, tìm bình an. Nhưng lại xa, bởi vì càng tìm, con người dường như càng cảm thấy nó vuột khỏi tầm tay. Bình an trở thành một điều vừa thiết yếu nhất, vừa mong manh nhất trong cuộc đời con người.

Từ thuở xa xưa cho đến hôm nay, từ những đế quốc hùng mạnh cho đến những gia đình nhỏ bé, từ những người quyền lực đến những con người bình thường, ai cũng khao khát bình an. Người ta xây dựng hệ thống luật pháp, phát triển khoa học, tích lũy của cải, thiết lập các tổ chức xã hội… tất cả cũng chỉ nhằm một điều: tìm kiếm sự ổn định, sự bảo đảm, và cuối cùng là một trạng thái gọi là “bình an”.

Nhưng điều đáng nói là: càng cố gắng xây dựng bình an theo cách của con người, thì con người lại càng cảm thấy bất an. Chiến tranh này qua chiến tranh khác. Bạo lực này nối tiếp bạo lực kia. Bệnh tật cũ chưa qua, bệnh mới đã tới. Những nỗi lo không còn chỉ ở bên ngoài, mà len lỏi sâu vào bên trong: lo âu, trầm cảm, sợ hãi, cô đơn… như những căn bệnh vô hình nhưng lại tàn phá con người cách âm thầm và dai dẳng.

Điều đó cho thấy một sự thật: bình an mà con người tự tạo dựng chỉ là một lớp vỏ mỏng manh. Nó có thể làm dịu đi phần nào những xáo trộn bên ngoài, nhưng không thể chạm đến tận đáy sâu của tâm hồn. Nó giống như một mặt hồ phẳng lặng trong chốc lát, nhưng bên dưới vẫn là những dòng xoáy ngầm đang cuộn chảy.

Chính trong bối cảnh đó, lời của Đức Giêsu vang lên trong bữa Tiệc Ly trở nên vừa tha thiết, vừa đầy sức nặng:

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng.”

Đây không phải là một lời chúc xã giao trước khi chia tay. Đây là một lời trăn trối, một gia sản thiêng liêng mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ – và cho mỗi chúng ta. Nhưng để hiểu được giá trị của món quà này, chúng ta phải đi vào chiều sâu của nó.

Bình an mà Đức Giêsu nói đến không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Ngài nói những lời này không phải trong lúc mọi sự êm đềm, nhưng trong bầu khí của sự chia ly, của phản bội, của cái chết đang đến gần. Ngài biết rõ Giuđa sắp nộp Ngài. Ngài biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Ngài biết con đường trước mặt là Thập Giá. Và chính trong hoàn cảnh đó, Ngài lại nói về bình an.

Điều này đảo lộn hoàn toàn cách hiểu thông thường của con người. Bởi vì con người thường nghĩ: có bình an là khi không có đau khổ. Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy: có một thứ bình an vẫn tồn tại ngay giữa đau khổ. Một thứ bình an không bị phá hủy bởi nghịch cảnh, không bị lay chuyển bởi thử thách, không bị tiêu tan bởi cái chết.

Đó chính là bình an của đức tin.

Đức tin không làm cho cuộc đời bớt khó khăn. Đức tin không xóa bỏ đau khổ. Đức tin không bảo đảm rằng người tin Chúa sẽ không gặp thử thách. Nhưng đức tin mở ra một cái nhìn mới: nhìn mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Khi có đức tin, con người không còn nhìn đau khổ như một sự vô nghĩa, nhưng như một phần của hành trình cứu độ. Không còn nhìn thất bại như dấu chấm hết, nhưng như một cánh cửa dẫn đến một điều tốt đẹp hơn mà Thiên Chúa đang chuẩn bị. Không còn nhìn sự dữ như là chiến thắng cuối cùng, nhưng tin rằng Thiên Chúa có thể biến đổi tất cả.

Chính vì thế, người có đức tin có thể sống bình an ngay trong những hoàn cảnh mà người khác chỉ thấy bất an.

Có những người bên ngoài rất ổn định: công việc vững vàng, gia đình đầy đủ, sức khỏe tốt… nhưng bên trong lại đầy lo lắng, sợ hãi. Ngược lại, có những người sống trong thiếu thốn, bệnh tật, hiểu lầm, thậm chí bị bách hại… nhưng tâm hồn lại bình an một cách lạ lùng.

Sự khác biệt không nằm ở hoàn cảnh, mà nằm ở đức tin.

Bình an của Đức Giêsu không phải là món quà “gói lại” để chúng ta cất giữ, nhưng là một sức sống được đặt vào trong tâm hồn. Đó là sự hiện diện của chính Ngài. Khi Ngài nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, điều đó có nghĩa là: Ngài ban chính con người của Ngài, ban chính sự hiệp thông của Ngài với Chúa Cha.

Vì thế, bình an đích thực không phải là “có mọi sự theo ý mình”, mà là “ở lại trong Thiên Chúa”. Khi tâm hồn ở lại trong Chúa, thì dù bên ngoài có sóng gió, bên trong vẫn có một điểm tựa vững chắc.

Đó là lý do tại sao Đức Giêsu tiếp tục nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi.” Đây không phải là một lời trấn an tâm lý đơn thuần, nhưng là một lời mời gọi bước vào một tương quan: tương quan tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Sợ hãi thường đến từ cảm giác mất kiểm soát. Khi con người nghĩ rằng mình phải nắm giữ mọi sự, phải kiểm soát mọi biến cố, thì chỉ cần một điều vượt khỏi tầm tay là lập tức bất an. Nhưng đức tin giúp con người buông mình vào tay Thiên Chúa, tin rằng Ngài đang dẫn dắt mọi sự, ngay cả khi mình không hiểu.

Đức Giêsu nói: “Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại với anh em.” Đây là một mầu nhiệm: sự ra đi không phải là mất mát, nhưng là điều kiện để một sự hiện diện sâu xa hơn được thiết lập. Qua cái chết và phục sinh, Đức Giêsu không còn hiện diện theo cách giới hạn của thân xác, nhưng hiện diện trong tâm hồn những ai tin.

Vì thế, bình an của Ngài không lệ thuộc vào việc Ngài “ở gần” hay “ở xa” theo nghĩa vật lý, nhưng lệ thuộc vào đức tin của người môn đệ.

Nếu có đức tin, thì ngay cả trong những lúc tưởng chừng Chúa vắng mặt nhất, con người vẫn cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Và chính sự hiện diện đó làm nên bình an.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay không chỉ dừng lại ở việc giải thích về bình an, nhưng còn là một lời mời gọi sống bình an.

Sống bình an không phải là trốn tránh thực tại, nhưng là dám đối diện với thực tại bằng ánh sáng đức tin. Không phải là phủ nhận đau khổ, nhưng là mang đau khổ vào trong tương quan với Thiên Chúa. Không phải là tìm cách loại bỏ mọi khó khăn, nhưng là học cách ở lại vững vàng giữa khó khăn.

Điều này rất cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi bị hiểu lầm, thay vì phản ứng tức giận, ta chọn bình an. Khi gặp thất bại, thay vì tuyệt vọng, ta chọn tin tưởng. Khi đối diện với bất công, thay vì nuôi hận thù, ta chọn tha thứ. Khi đứng trước tương lai bất định, thay vì lo âu, ta chọn phó thác.

Đó không phải là những lựa chọn dễ dàng. Nhưng chính trong những lựa chọn đó, bình an của Đức Giêsu được thể hiện.

Và khi một người sống bình an như thế, họ không chỉ giữ bình an cho riêng mình, nhưng còn trở thành người mang bình an đến cho người khác. Bình an của đức tin không bao giờ là một kinh nghiệm khép kín, nhưng luôn lan tỏa.

Trong một thế giới đầy chia rẽ, người Kitô hữu được mời gọi trở thành người kiến tạo hòa bình. Nhưng hòa bình bên ngoài chỉ có thể bắt đầu từ bình an bên trong. Nếu tâm hồn còn đầy bất an, thì lời nói và hành động cũng dễ trở thành nguồn gây xáo trộn.

Ngược lại, một tâm hồn bình an có sức mạnh làm dịu đi những căng thẳng, hàn gắn những rạn nứt, và mang lại hy vọng cho người khác.

Cuối cùng, bình an mà Đức Giêsu ban không chỉ dừng lại ở cuộc đời này, nhưng hướng đến sự sống vĩnh cửu. Đó là bình an của người biết mình thuộc về Thiên Chúa, đang đi về với Thiên Chúa, và sẽ được ở lại trong Thiên Chúa mãi mãi.

Vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, dù con đường phía trước có nhiều thử thách, người có đức tin vẫn có thể bước đi với một tâm hồn bình an. Không phải vì họ mạnh mẽ, nhưng vì họ tin vào Đấng mạnh mẽ hơn họ.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những xáo trộn của thời đại, biết quay về với nguồn mạch của bình an là chính Đức Kitô. Xin cho chúng ta không chỉ tìm kiếm bình an theo kiểu thế gian, nhưng biết đón nhận bình an như một ân ban của đức tin. Và xin cho bình an đó không chỉ ở lại trong tâm hồn chúng ta, nhưng còn lan tỏa đến những người chung quanh, để thế giới này, dù còn nhiều bóng tối, vẫn có thể bừng sáng lên nhờ những tâm hồn biết tin và biết yêu.

Lm. Anmai, CSsR


 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Việt Tân 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Giết người – Một tội ác ghê rợn khi chính con người cướp đi mạng sống của đồng loại mình. Người ta có thể giết nhau bằng rất nhiều cách:

  1. Tự sát: giết hại chính bản thân mình.
  2. Dùng các loại vũ khí, sức lực hoặc kỹ năng để trực tiếp giết người.
  3. Dùng trí thông minh để gián tiếp giết người.

Nhưng có 1 loại sát nhân tàn bạo với số lượng nạn nhân vô cùng lớn. Đó là cách người ta dùng 1 thứ vũ khí vô hình nhưng có sức hủy diệt lớn gấp nhiều lần bom nguyên tử. Đó là thể loại gì?

ĐÓ LÀ DÙNG TƯ TƯỞNG ĐỂ GIẾT NGƯỜI

Lịch sử ghi nhận 2 tên sát nhân tầm cỡ nhất của thế kỷ 20. Thật tình cờ cả 2 đều đến từ nước Đức. Đó là ai?

  1. Người đầu tiên không thể không nhắc đến đó là Adolf Hitler – Chủ tịch đảng công nhân Đức quốc gia xã hội chủ nghĩa – Quốc trưởng của Phát xít Đức

Vũ khí mạnh nhất ông ta dùng không phải là vũ khí hay khoa học kỹ thuật mà nước Đức sở hữu thời bấy giờ. Vũ khí lớn nhất của ông ta là 1 quyển sách tên là “Mein Kampf”. Nó chứa đựng tư tưởng của ông ta tư tưởng CHỦNG TỘC. Ông ta cho rằng dân tộc ông ta là dân tộc thượng đẳng và có kiếm đi xâm chiếm và đô hộ người khác. Nghe có vẻ lố bịch nhưng hàng triệu người Đức thời điểm ấy sau khi đọc cuốn sách đó lại tiếp thu một cách cuồng tín.

Kết hợp cùng với tư tưởng bài Do Thái của mình (một trong những bí mật vẫn chưa được giải đáp tại sao Hitler lại căm thù người Do Thái?), ông ta tiến hành giết chóc trên diện rộng. Hậu quả có khoảng 26 triệu người Do Thái bị sát hại và khoảng 50 triệu người chết trong thế chiến thứ 2 – cuộc chiến do chính Hitler và tư tưởng của ông ta phát động.

  1. Người thứ 2, người gây rất nhiều tranh cãi mặc dù chết vào năm 1883 nhưng những hậu quả của ông gây ra chủ yếu trong thế kỷ 20. Đó là Karl Marx

Vũ khí ông ta sử dụng đó là học thuyết về “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, một tư tưởng mà thậm chí còn được nhiều triệu người tin tưởng đi theo. Đó là chủ nghĩa xây dựng 1 xã hội dựa trên tiêu chí chủ yếu “Làm theo năng lực. hưởng theo nhu cầu”, xóa bỏ giai cấp tư sản.

Ông ta có một số lượng học trò đông đảo trên nhiều quốc gia, học thuyết được thấm đẫm trong đầu óc của nhiều người. Và chắc bạn thắc mắc tại sao ông ta lại có thể giết được người. Cái ông ta đặt nền móng là chủ nghĩa cộng sản. Ông ta hoàn toàn phải chịu trách nhiệm do những tội ác mà cộng sản gây ra. Hãy cùng điểm qua những vụ thảm sát của cộng sản.

– Liên Xô: Dưới sự lãnh đạo của Stalin – Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, ông ta ra sức đàn áp các thế lực chống đối trong nước. Những người không theo ông ta chỉ có 1 con đường chết. Qua những cuộc thanh trừng “Khủng bố đỏ”, “Đại thanh trừng” diễn ra trên diện rộng khắp đất nước mà theo ước tính có khoảng 20 triệu người đã bị giết hại.

– Trung Quốc: Trung Quốc vốn nổi tiếng bởi sự tàn bạo của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản những vụ thảm sát diễn ra còn tinh vi và kín kẽ hơn nhiều.

o Đầu tiên là “Cách mạng văn hóa”: Do Mao Trạch Đông – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc khởi xướng, mục tiêu là loại bỏ những thành phần tư sản tự do nhưng thực chất là để củng cố địa vị của tên đồ tể này. Hậu quả có 40 triệu người chết vì chết đói! Vâng, chết đói.

o Thảm sát Thiên An Môn: Vụ đàn áp những thành phần sinh viên, trí thức đòi dân chủ. Có khoảng 10.000 chết tại chỗ và khoảng 2 triệu người bị bắt bớ và tra tấn sau vụ việc này.

o Đàn áp Pháp Luân Công: Đây vẫn là một trong những vụ thảm sát khó hiểu nhất lịch sử nhân loại được khởi xướng bởi Giang Trạch Dân – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc – khi một tổ chức chính trị đàn áp 1 môn khí công phi chính trị. Hậu quả rất nhiều học viên môn khí công này bị bỏ tù, tra tấn đến chết, mổ lấy nội tạng bán.

– Bắc Việt: Cải Cách Ruộng Đất được khởi xướng bởi Hồ Chí Minh, là phong trào xóa bỏ phong kiến. Có khoảng 50.000 người bị giết.

– Campuchia: Được khởi xướng bởi Pol Pot (người Campuchia gốc Trung Quốc) – Chủ tịch đảng cộng sản Campuchia – gây ra cái chết của khoảng 1,5 triệu người.

Nhìn những con số nạn nhân có thể thấy sự tàn bạo và hậu quả không lường của một tư tưởng. Nó có sức tàn phá lớn gấp nhiều lần bất cứ loại vũ khí nào con người có thể chế tạo ra.

Bạn thì sao? Quan điểm của bạn là gì?

Bài của LUBI, độc giả gửi đến FB/VT


 

TRUYỆN NGẮN – Kỳ tích

Nguyen Thi Chau 

TRUYỆN NGẮN

Kỳ tích

Ông Thành năm nay mới 50 tuổi. Người ta gọi ông là “ông vua tôn thép miền Đông”. Ba nhà máy, sáu trăm công nhân, tài khoản ngân hàng dài mười hai con số. Mười năm trước, ông từng nói với phóng viên: “Tôi không tin số phận. Tôi chỉ tin vào việc tôi làm mười sáu tiếng một ngày.”

Giờ thì ông nằm đây.

Phòng ICU tầng bảy, rèm trắng, dây nhợ chằng chịt. Chiếc máy thở bên cạnh đều đặn giúp ông thở phập phồng, phì… phù… phì… phù… Mỗi nhịp thở không còn là của ông nữa. Nó là của máy!

Sáng, bác sĩ trưởng khoa nói với vợ con ông: “Chúng tôi đã làm hết phác đồ. Phần còn lại tùy thuộc vào nghị lực của bệnh nhân. Chúng tôi không tiên lượng chắc được.” 

Câu đó, y hệt bản hợp đồng làm ăn rủi ro mà ngày xưa ông hay ký. Chỉ khác là lần này, tài sản đặt cược lại là chính ông.

Ngày thứ ba nằm ICU.

Thuốc an thần giảm liều. Ông tỉnh nhiều hơn. Lần đầu sau ba mươi năm, ông có thời gian nằm im và không nghĩ đến đơn hàng, không nghĩ đến giá thép, không nghĩ  đến lãi suất ngân hàng.

Ông nhìn lên trần nhà. Màu trắng. Nhìn sang trái, máy monitor nhấp nháy 78, 79, 80. Nhìn sang phải, cô y tá đang thay chai nước biển, tay thoăn thoắt nhưng ánh mắt mệt mỏi. 

Tự nhiên ông nhớ đến bà Sáu bán xôi đầu ngõ nhà máy. Mỗi sáng bà đều dậy lúc ba giờ, lọ mọ nhóm bếp nấu xôi. Lợi nhuận một gói xôi chắc được hai nghìn. Bà lúc nào cũng vui vẻ: “Bán cho vui chú ơi, chứ lời lãi gì.”  Hồi đó ông thấy buồn cười. Giờ ông thèm được cái “vui” đó.

Đêm thứ năm nằm ICU.

Ông sốt. Máy báo động inh ỏi. Điều dưỡng chạy vào, thêm thuốc, lật người, vỗ lưng. Cơn đau rút đi, để lại một khoảng trống lạ lẫm trong ngực. 

Trong khoảng trống đó, lần đầu ông nghe rõ tiếng máy thở. Phì… phù… Mỗi lần nó đẩy khí vào phổi, ông sống! Nó dừng một phút, ông chết! Đơn giản vậy thôi. 

Cả đời ông gom góp. Nhà, xe, đất, cổ phần, mấy cái chức danh chủ tịch… Ông tưởng mình đang xây một pháo đài kiên cố để nhốt cái chết ở ngoài. Hóa ra pháo đài nào cũng có cổng, mà cái chết nó không cần chìa khóa. Nó đi bằng đường ống khí quản!

Sáng ngày thứ bảy nằm ICU.

Con trai lớn vào thăm. Nó mặc vest, vừa từ cuộc họp cổ đông về. Nó nắm tay ông, nói: “Ba ráng khỏe. Công ty đang rối. Thiếu ba không ai quyết được.” 

Ông cười trong bụng. Hóa ra mình quan trọng đến thế cơ đấy. Rồi lại thấy thương nó. Mười năm nữa, hy vọng nó sẽ không bao giờ phải nằm đây, để thằng cháu nội vào thăm sẽ nói y chang.

Chiều, vợ ông vào. Bà không nói gì, chỉ ngồi lau mặt cho ông bằng khăn ấm. Bàn tay bà chai sần, gân xanh nổi lên. Ông chợt nhớ, ba mươi năm nay mình chưa một lần hỏi bà thích gì. Cưới xong là lao vào làm ăn. Sinh nhật bà, ông tặng dây chuyền vàng. Lễ kỷ niệm, ông tặng nhẫn kim cương. Chưa bao giờ tặng một buổi chiều rảnh rỗi để hai vợ chồng đi ăn tàu hũ nóng.

Máy vẫn thở. Phì… phù… phì… phù…

Tự nhiên ông hiểu ra bấy lâu nay không phải ông thở. Ông chỉ đang nín thở mà chạy. Chạy vội qua tuổi trẻ, chạy vội qua bữa cơm gia đình, chạy vội qua tiếng cười của con, chỉ để đến đích. Mà đích là gì? Là cái giường này sao?

Đêm thứ mười  nằm ICU

Ông yếu đi. Bác sĩ tăng oxy. Trong cơn mê man, ông thấy mình đứng trước kho hàng của nhà máy. Những cuộn tôn xếp cao như núi. Ông leo lên, leo mãi, muốn leo tới đỉnh. Leo tới nơi, ông nhìn xuống. Dưới chân không có gì cả. Chỉ có gió. 

Ông choàng tỉnh dậy, nước mắt ướt khóe mi. Cô y tá trẻ tưởng ông đau, định thêm chút morphine. Ông khẽ lắc đầu. Lần đầu sau mười ngày, ông tự thở được một hơi ngắn, không cần máy đẩy.

Sáng hôm sau, chỉ số ông tốt hẳn lên. Bác sĩ gọi đó là “kỳ tích”. Ông gọi đó là “buông tay”. 

Ông nói với vợ, sau khi được rút ống thở, giọng khàn đặc: “Bà bán bớt một nhà máy, lập cái quỹ học nghề cho công nhân. Tôi nợ họ. Còn lại, chia cho tụi nhỏ. Dặn nó làm ít thôi. Sống nhiều lên.” 

Bà khóc.

Ông không khóc. Ông chỉ nhìn cái máy thở, thầm cảm ơn. Nó đã dạy ông bài học đáng giá nhất cuộc đời, mà học phí là mười ngày nằm giữa sống và chết.

Một tháng sau, ông xuất viện. Người gầy rộc, nhưng mắt sáng. Ông không đến công ty nữa. Sáng, ông ra ngõ mua xôi của bà Sáu, ngồi ăn, nói chuyện mưa nắng. Chiều, ông đón cháu đi học về, hai ông cháu ăn tàu hũ. 

Có người hỏi: “Đại gia sao sống khổ vậy, chú Thành?” 

Ông cười: “Khổ đâu? Trước kia tôi chưa biết sống mới khổ. Giờ tôi mới bắt đầu sống.” 

Đêm đến, thỉnh thoảng ông vẫn giật mình vì nhớ lại tiếng máy thở phì phù… Nhưng thay vì sợ, ông mỉm cười. Tiếng đó nhắc ông rằng, mỗi hơi thở mình tự thở được, là một món quà vô giá.

Con người ta cả đời chỉ muốn gom góp mọi thứ, cứ ngỡ càng nhiều càng an toàn. Đến khi nằm xuống, mới biết thứ duy nhất mình thực sự sở hữu là hơi thở này. Và hơi thở thì không dành cho ngày mai. Nó chỉ có giá trị ngay lúc này. Phì… vào. Phù… ra. Mất một nhịp, là nguy cơ mất tất cả.  50 tuổi, ông Thành mới hiểu bài học đó để sống cho trọn vẹn từng hơi thở.

Nguyen ThyAnh