NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

 NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

Ít ai ngờ rằng một trong những nhà khoa học có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới lại từng bắt đầu từ con số gần như bằng 0.

     Câu chuyện của GS TS Nguyễn Thục Quyên không chỉ là hành trình học thuật xuất sắc, mà còn là minh chứng mạnh mẽ cho ý chí vượt nghịch cảnh và khả năng tự vươn lên phi thường của con người.

     Bà sinh ra tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, trong một gia đình nghèo có 5 anh chị em. Sau năm 1975, cha đi cải tạo, mẹ là giáo viên toán phải đưa các con đi khắp các vùng kinh tế mới như Phước Lâm, Long Điền, Đất Đỏ, Phước Tỉnh rồi Vũng Tàu để mưu sinh. Tuổi thơ của bà gắn liền với những công việc lao động nặng nhọc như gánh nước, kiếm củi, đào khoai, câu cá.

     Mãi đến năm 1986, khi gia đình mở tiệm phở tại Bến Đá, Vũng Tàu, bà mới có điều kiện đi học tại trường Trung học Trần Nguyên Hãn.

     Một bước ngoặt lớn xảy ra vào tháng 7 năm 1991 khi cả gia đình sang Mỹ theo diện tái định cư nhân đạo. Trước khi đi, bà chỉ được học một khóa tiếng Anh cấp tốc vài tháng và gần như không thể sử dụng ngôn ngữ này.

     Những ngày đầu nơi đất khách vô cùng khó khăn, từ việc không hiểu bài giảng, không hòa nhập được với văn hóa, đến việc bị chế giễu và kỳ thị. Có giáo viên từng chê bai khả năng tiếng Anh của bà trước lớp, thậm chí có người còn thẳng thừng bảo bà “hãy cút về nước của mày”.

     Nhưng chính những điều đó lại trở thành động lực để bà quyết tâm thay đổi số phận. Bà lựa chọn một phương pháp học tập cực kỳ khắc nghiệt: cùng lúc theo học tại ba trường trung học ở ba thành phố khác nhau, sáng học một nơi, chiều một nơi, tối một nơi. Mỗi ngày bà đều xem tin tức Mỹ để luyện nghe, đồng thời đăng ký nhiều lớp tiếng Anh dành cho người nước ngoài và tận dụng mọi chương trình dạy miễn phí.

     Sau một năm học ngày học đêm, bà đủ khả năng theo học chính thức tại Santa Monica College. Không chỉ học, bà còn phải làm việc không ngừng để trang trải cuộc sống.

     Từ việc phụ giúp người thân, làm việc vặt trong gia đình, đến làm thêm tại thư viện từ 17 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, đồng thời vay tiền từ chính phủ để tiếp tục việc học. Chính hoàn cảnh khó khăn của gia đình càng khiến bà tự đặt áp lực phải nỗ lực gấp nhiều lần người khác.

     Năm 1995, bà chuyển lên học tại Đại học California, Los Angeles. Tại đây, bà xin làm việc trong phòng thí nghiệm nhưng chỉ được giao rửa dụng cụ. Khi xin tham gia nghiên cứu, bà bị từ chối với lý do “nghiên cứu không dành cho tất cả mọi người”. Một lần nữa, sự coi thường không khiến bà chùn bước, mà trở thành động lực để bà chứng minh năng lực của mình.

     Tháng 12 năm 1997, bà tốt nghiệp đại học. Chỉ một năm sau, bà hoàn thành chương trình thạc sĩ ngành lý hóa và nhận được học bổng tiến sĩ. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh, bà làm việc gần như kiệt sức với cường độ 16 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần, thường xuyên ở lại phòng thí nghiệm đến 2 giờ sáng. Kết quả là vào tháng 6 năm 2001, bà nhận bằng tiến sĩ chỉ sau 3 năm, nhanh hơn nhiều so với mức trung bình 7 đến 8 năm của nhiều nghiên cứu sinh khác.

     Không chỉ hoàn thành chương trình sớm, bà còn công bố 12 bài báo khoa học và tham gia thuyết trình 19 hội thảo quốc tế trong thời gian này. Thành tích đó khiến nhiều người từng coi thường bà phải nhìn lại.

     Sau khi trở thành nhà khoa học, GS TS Nguyễn Thục Quyên tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử hữu cơ và vật liệu nano. Các công trình của bà xoay quanh việc làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc phân tử và hiệu suất của các thiết bị như pin mặt trời hữu cơ, transistor hữu cơ, cảm biến quang điện và đèn LED hữu cơ. Bà cũng nghiên cứu các vật liệu polymer liên hợp và vật liệu sinh học, mở ra ứng dụng trong năng lượng sạch, môi trường và y học như pin nhiên liệu sinh học và thiết bị y sinh tiên tiến.

     Các nghiên cứu của bà được công bố trên nhiều tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như “Nature Materials, Science, Advanced Materials” và nhiều ấn phẩm uy tín khác. Nhờ những đóng góp nổi bật, bà nhiều năm liên tiếp được “Clarivate Analytics” xếp vào danh sách top 1% nhà khoa học có số lượng trích dẫn cao nhất toàn cầu, một thước đo quan trọng về mức độ ảnh hưởng trong giới học thuật quốc tế.

     Khi được hỏi về bí quyết thành công, bà chia sẻ rằng chính những năm tháng nghèo khó, bị coi thường ở Việt Nam và cả khi sang Mỹ đã khiến bà quyết tâm thay đổi cuộc đời. Bà không né tránh khó khăn mà biến những điều tiêu cực thành động lực để vươn lên. Triết lý sống của bà rất rõ ràng: hãy làm điều mình yêu thích, làm việc chăm chỉ, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không để bất kỳ ai cản bước mình.

Bên cạnh giải thưởng là một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới ngành khoa học vật liệu, chị còn nhận nhiều giải thưởng khác như: Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Alexander von Humboldt-Foundation của Đức năm 2015; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ 2010, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Alfred P. Sloan Foundation 2009; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Camille Dreyfus Foundation 2008; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Harold J. Plous Memorial Award and Lectureship 2007.

     Câu chuyện của Nguyễn Thục Quyên là minh chứng rằng xuất phát điểm không quyết định đích đến. Từ một cô gái không biết tiếng Anh, từng bị chế giễu nơi xứ người, bà đã vươn lên trở thành một trong những nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, góp phần tạo ra những công nghệ phục vụ cho tương lai của nhân loại.

(Ánh Dương) 

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

GIÁO HOÀNG LEO NÓI RẰNG PHẢI ‘KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ’ AI TRONG THÔNG ĐIỆP GIÁO LÝ ĐẦU TIÊN

BBC News Tiếng Việt 

GIÁO HOÀNG LEO NÓI RẰNG PHẢI ‘KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ’ AI TRONG THÔNG ĐIỆP GIÁO LÝ ĐẦU TIÊN

Giáo hoàng Leo 14 đã công bố văn kiện giáo huấn quan trọng đầu tiên kể từ khi nhậm chức, trong đó cảnh báo rằng trí tuệ nhân tạo (AI) cần phải được “giải trừ”.

“Tôi biết đây là một từ mạnh, nhưng tôi cố ý lựa chọn nó vì thời điểm này cần những ngôn từ đủ sức thu hút sự chú ý,” Giáo hoàng nói.

Thông điệp của Giáo hoàng – vốn cũng thừa nhận nhiều nguy cơ tiềm tàng của AI – đồng thời là một lời cảnh báo mạnh mẽ và trực diện gửi tới những người nắm quyền lực về trách nhiệm của họ trong việc kiềm chế các “mối đe dọa” mà công nghệ này gây ra.

Chẳng hạn, Giáo hoàng lên án việc sử dụng AI trong chiến tranh, cho rằng việc giảm sự kiểm soát của con người đối với vũ khí sẽ khiến việc coi một cuộc chiến là “chính nghĩa” càng trở nên khó khăn hơn, đồng thời cảnh báo về nguy cơ khởi động một cuộc chạy đua vũ trang AI.

Giáo hoàng viết: “Không thuật toán nào có thể khiến chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức.”

Ông nói thêm rằng AI không chỉ không loại bỏ được “tính chất vô nhân đạo vốn có” của chiến tranh, mà còn có nguy cơ gây ra xung đột nhanh hơn khiến chiến tranh trở nên vô cảm hơn bằng cách “hạ thấp ngưỡng sử dụng bạo lực, biến phòng thủ thành dự đoán mối đe dọa, từ đó biến các nạn nhân thành dữ liệu”.

Giáo hoàng Leo 14 cũng lên án cách AI tác động tới chính trị – chẳng hạn việc công nghệ này được sử dụng để thao túng hình ảnh và video, điều mà theo ông khiến con người bị dẫn dắt bởi những góc nhìn thiên lệch hoặc sai lệch.

Ông thậm chí còn nhắc tới nguy cơ của “chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số”, so sánh những hành vi lạm dụng trong thời kỳ thuộc địa với các thực tiễn công nghệ hiện đại.

Ở một đoạn trong văn kiện nói trên, Giáo hoàng đã trực tiếp đưa ra “lời kêu gọi đặc biệt” đối với những người phát triển AI.

#BBCNewsTiengViet

#GiaohoangLeo

#AI 


 

Uỷ viên Bộ Chính tri : Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

 Luật sư Nguyễn Văn Đài Channel 5

Hồ sơ điều tra: Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

Trong khi “chiếc lò” của Đảng đang mải mê thiêu đốt những củi khô, củi tươi trên danh nghĩa trong sạch bộ máy, thì ngay dưới chân ngọn đèn quyền lực nhất, một kịch bản hưởng lạc trơ tráo đang được dàn dựng bởi kẻ nắm giữ “ấn tín” tổ chức: Nguyễn Duy Ngọc.

Cung điện trên không và những món hàng xa xỉ “đẫm mùi thuế”

Người ta vẫn thường nói về Vĩnh Quỳnh (Hà Nội) như một làng quê thuần hậu. Nhưng sự xuất hiện của một kiều nữ sinh năm 2004, biệt danh “Điêu Thuyền”, đã phá vỡ cái vẻ bình lặng đó bằng một lối sống xa hoa đến mức điên rồ. Ở cái tuổi 20, khi phần lớn thanh niên Việt Nam còn đang chật vật với từng ổ bánh mì sinh viên, thì “Điêu Thuyền” đã tự thiết lập cho mình một đế chế phù hoa.

Trên Threads và Facebook, 23.000 người theo dõi hằng ngày phải chứng kiến một sự sỉ nhục vào sự nghèo khó của quốc gia:

  Chuyên cơ riêng: Những chuyến bay xuyên đại lục sang Mỹ, sang Âu được thực hiện dễ dàng như đi chợ chiều.

  Bộ sưu tập Hermes: Những chiếc túi có giá bằng cả đời người lao động được thay đổi theo trang phục mỗi ngày.

  Trang sức triệu đô: Những cỗ máy thời gian Patek Philippe, Richard Mille lấp lánh trên cổ tay cô gái trẻ, thách thức mọi quy luật về tích lũy tài sản hợp pháp.

Phép thử liêm chính cho “Ông trùm” Ban Tổ chức

Câu hỏi không còn là “Điêu Thuyền” là ai, mà là: Kẻ nào đứng sau lưng để cô ta đốt tiền như giấy vụn?

Mọi mũi dùi dư luận đang chĩa thẳng vào Nguyễn Duy Ngọc – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Đây chính là nghịch lý trớ trêu nhất của hệ thống: Người giữ trọng trách “cầm cân nẩy mực”, tuyển chọn cán bộ cho cả một quốc gia, lại bị nghi ngờ là kẻ bao nuôi một “phòng nhì” với kinh phí vượt xa mọi mức lương chính ngạch.

Hãy làm một phép tính đơn giản: Lương công chức của một Ủy viên Bộ Chính trị, dù có nhịn ăn nhịn mặc cả ngàn năm, cũng không đủ để mua một góc chiếc túi Birkin mà cô gái kia đang xách. Vậy, nếu không phải là tiền từ túi thuế của Nhân dân bị rút ruột thông qua các dự án, qua những cú áp phe quyền lực, thì nguồn tiền khổng lồ đó từ đâu chui ra?

Sự tráo trở của một hệ thống mục ruỗng

Tin đồn về mối quan hệ giữa “Bác Ngọc” và “Điêu Thuyền” không chỉ là một vụ scandal tình ái thông thường. Nó là bằng chứng đanh thép cho sự mục nổng của một hệ thống nơi quyền lực được dùng để đổi lấy tình dục và sự xa hoa.

Khi một cô gái 20 tuổi trở thành khách VIP của các nhãn hàng thời trang thế giới nhờ vào sự che chở của một quan chức đầu triều, đó là sự sỉ nhục vào công lý, vào nhân quyền và vào sự tôn nghiêm của pháp luật. Tiền thuế của người dân thay vì xây trường học, bệnh viện, lại được dùng để nhuộm phấn son và dát vàng lên cuộc sống của một kiều nữ làng Vĩnh Quỳnh.

Dư luận đang chờ đợi một lời giải thích, nhưng có lẽ, sự im lặng đáng sợ của bộ máy cầm quyền chính là câu trả lời rõ ràng nhất cho sự thật cay đắng này.

#NguyenVanDai #ToLam #truyenthong #xuhuong #dieuthuyen #gaidep


 

ĐI TRƯỚC NỖI SỢ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đang trên đường lên Giêrusalem, Người dẫn đầu các ông”.

“Thế gian trao cho con người sự an ổn; nhưng con người không được dựng nên cho sự an ổn, mà cho một điều cao cả hơn!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một khung cảnh khác thường: trên đường lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đi trước; các môn đệ theo sau, đầy kinh ngạc và sợ hãi. Không chỉ đi trước họ, Ngài còn ‘đi trước nỗi sợ’ của họ.

Với Marcô, “lên Giêrusalem” không chỉ là một chuyển động địa lý, nhưng là một nghịch lý thần học. Tin Mừng hôm qua vừa nhắc: ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Với Chúa Giêsu, đi lên lại là đi xuống: xuống tận khổ đau, bị trao nộp và chết trên thập giá. Khi các ông mơ những chỗ cao, Ngài tự nguyện bước xuống chỗ thấp, đáy của phận người. “Ảo tưởng lớn nhất của người lãnh đạo là nghĩ rằng mình có thể dẫn người khác ra khỏi sa mạc mà chưa từng đi qua nó!” – Henri Nouwen.

Trớ trêu thay, khi Thầy nói đến khổ nạn và chết chóc, trò lại nghĩ đến chức trọng quyền cao – Giacôbê và Gioan xin một chỗ bên hữu bên tả. Các môn đệ nghĩ vinh quang là ascendere – đi lên trên kẻ khác; Chúa Giêsu lại mặc khải một vinh quang descendere – đi xuống vì kẻ khác. Ngài không hứa cho họ một vị trí; nhưng mời họ cùng uống một chén. Theo Đức Kitô không phải là tìm một chỗ an toàn bên Ngài, nhưng trở nên cao cả khi dám đi xuống phục vụ tha nhân. Muốn bước vào Nước Trời mà vẫn cố giữ một chân trong logic của thế gian, con người sẽ không bao giờ hiểu được con đường của Đức Kitô. Chính nơi đó, Chúa Giêsu ‘đi trước nỗi sợ’ của các môn đệ.

Thánh Phêrô nhắc các tín hữu, họ đã được cứu chuộc “không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc”, nhưng “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn” – bài đọc một. Nghĩa là, đời sống mới của người môn đệ không được đo bằng giá trị của những gì sở hữu hay leo tới, nhưng bằng tình yêu tự hiến. Vì thế, giữa một thế giới luôn muốn thống trị, Đức Kitô lại cứu độ bằng con đường tự hạ. Và chỉ những ai dám tự hạ để làm đầy tớ phục vụ mới biết thế nào là vinh quang của Hội Thánh, Giêrusalem mới: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không chỉ dạy con người con đường đi xuống; chính Đức Kitô đã đi trọn con đường ấy. Ngài đi trước các môn đệ lên Giêrusalem cũng như đi trước nhân loại vào bóng tối của đau khổ, cô đơn và cái chết. Vì thế, thập giá không còn là nơi của thất bại, nhưng trở thành nơi vinh quang Thiên Chúa tỏ lộ. Có những nỗi sợ con người không thể tự mình bước qua; nhưng Đức Kitô đã đi vào đó trước chúng ta. Và nhiều khi, điều làm con người nên cao cả không phải là leo lên cao, nhưng là dám cúi xuống vì yêu thương. Vinh quang không nằm ở vương miện thống trị, nhưng khắc trên những vết sẹo phục vụ. “Ai cũng có thể trở nên cao cả, vì ai cũng có thể phục vụ!” – Martin Luther King Jr..

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn được nâng lên hơn là cúi xuống, được cung phụng hơn là phục vụ, được biết đến hơn là quên mình; xin dạy con biết rằng: vinh quang thật luôn mang dáng dấp thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,32-45

32 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình : 33 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.”

35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)- Cha Vương

 Sau ngày lễ nghỉ, uể oải quá đi thôi. Chúc bạn ngày mới tràn đầy nghị lực và hiền lành như con chim bồ câu vậy nhé. Nhớ nhau trong câ`u nguyện không quên cho một lời nguyện thế giới được Hoà Bình, xin đa tạ

Cha Vương

Thứ 3: 26/05/2026.  (n28-24)

TIN MỪNG: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)

HOA QUẢ THỨ 8: Hiền Hoà— Hiền hoà (hiền lành) là một nhân đức, không để cho mình bị lôi cuốn bởi cơn giận dữ quá đáng so với nguyên nhân gây ra nó, nghĩa là không để cho mình bị lôi cuốn theo một cảm xúc phi lý. Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan đến nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.

SUY NIỆM: Trong cuộc sống tại thế này bạn phải đối diện với đủ loại thử thách: những thất bại, bất trắc, đau khổ,…. có khi phải đối diện với những nghịch cảnh bi đát và nghiệt ngã bất công. Vấn đề là cách bạn ứng xử thế nào trước mỗi khó khăn thử thách như vậy. Lời khuyên của  Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận sau đây có thể giúp bạn hiểu được tầm quan trọng của nhân đức hiền hoà khi ngài viết: “Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn như vậy. Xem gương Đức Giêsu trên thánh giá”; “ Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời” (ĐHV, số 41. 43). Người hiền lành có thể bị người đời ăn hiếp hoặc luôn chịu phần thiệt thòi nhưng ngược lại họ lại là người mạnh mẽ và dễ mến vì chẳng có ai chống lại người hiền lành cả. Tiền nhân có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”. Đúng quá! Một giây phút không kiềm hãm được những cảm xúc phi lý của mình không những bạn sẽ làm tổn thương đến những người chung quanh mà còn tự hại mình nữa. Nguy quá!

LẮNG NGHE: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. (Pl 4,4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần là Chủ nhân hiền hòa của tâm hồn con, là nguồn dịu dàng tươi mát dường bao, xin cất khỏi tim con những yếu đuối, những cảm xúc nóng nảy, thô lỗ, cộc cằn, và ban cho con đức đơn sơ, điềm tĩnh, khôn ngoan, hiền dịu và quả cảm để con sống hiền lành thánh thiệt như Chúa hằng mong ước.

THỰC HÀNH: Tập không phản ứng mạnh khi gặp chuyện trái ý, không làm dữ khi ý kiến của bạn bị bác bỏ.

From: Do Dzung

**********************************************

Chúa chiên lành -tinmung.net

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

DẪN NHẬP

  1. Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự cao cả của mình, hôm nay đang đối diện với một chọn lựa mang tính quyết định: hoặc kiến tạo một Tháp Babel mới, hoặc xây dựng thành đô nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng cư ngụ. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận trách nhiệm định hình thời đại của chính mình, hướng dẫn lịch sử trở thành nơi mà phẩm giá của mỗi con người được bảo vệ, công lý được cổ võ, và tình huynh đệ được trở nên khả thi. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng luôn mang trong mình nguy cơ tạo ra một thế giới càng ngày càng phi nhân và bất công hơn. Mỗi khi nhân loại đứng trước nguy cơ làm hoen ố căn tính đích thực của mình, chúng ta là những Kitô hữu hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, bởi chúng ta biết rằng: “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ.” Nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, nhân tính ấy trong tất cả sự cao cả của mình trở thành Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra con đường để mỗi người chúng ta tiến tới sự viên mãn.
  2. Được xây dựng trên Đức Kitô, tảng đá sống động, chúng ta cảm nghiệm hoạt động quyền năng và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần; đồng thời chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân chính của con người nhằm cộng tác với Ngài để thực hiện điều thiện đều sẽ được Cha trên trời chúc lành, trong Ngài chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Vì lý do ấy, chúng ta có thể chuyên cần góp phần vào mọi sáng kiến nhằm xây dựng một thế giới công chính hơn, đồng thời mời gọi những người khác cộng tác trong việc cổ võ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn bước vào cuộc đối thoại với tất cả những người nam và nữ của thời đại hôm nay, là những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, những thao thức và những khát vọng của nhân loại. Cùng với họ, chúng ta tìm kiếm những con đường mới nhằm phục vụ công ích và thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối với đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh, được thiết lập trong Đức Kitô như “bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại”, nhận biết lịch sử là nơi mà Tin Mừng chất vấn và định hướng kinh nghiệm nhân sinh.
  3. Trong tinh thần ấy, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã công bố Thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum) vào năm 1891; năm nay, chúng ta cử hành kỷ niệm 135 năm văn kiện ấy với lòng tri ân sâu xa.
  4. Qua văn kiện này, vị tiền nhiệm khả kính của tôi đã khơi lên một dòng suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, điều mà ngày nay được biết đến như “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh”. Khi có những người phản đối rằng Hội Thánh không nên phung phí năng lực vào những vấn đề trần thế, nhưng chỉ nên tập trung vào việc loan báo sứ điệp sự sống đời đời, Đức Lêô XIII đã đáp lại bằng sự thực tế và khôn ngoan rằng việc loan báo Tin Mừng không thể làm ngơ trước đời sống cụ thể của con người. Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Huấn quyền, các mục tử, các nhà thần học cùng các tín hữu vẫn tiếp tục suy tư về những vấn đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh là một gia sản khôn ngoan, trong đó chúng ta tìm thấy những nguyên lý để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và phán đoán, những định hướng cụ thể cho hành động. Được đặt nền trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời đối thoại với các ngành khoa học, học thuyết này giúp chúng ta giải thích cách sáng tỏ những thách đố của hiện tại và nhận ra những con đường thích hợp để sống chứng tá Kitô giáo một cách minh bạch, trong niềm vui và tinh thần phục vụ thế giới. Đây không phải là một tập hợp bất động của các khái niệm, nhưng là một kho tàng chân lý sống động, gìn giữ và diễn giải ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng mong muốn góp tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, khi khẩn cầu sự trợ giúp của Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng đã hiện diện trong thế gian ngay từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22–31).

Những sự mới mẻ (res novae) của thời đại chúng ta

  1. Trong khi Đức Lêô XIII, vào thời của ngài, đã nói đến “những sự mới mẻ hay tân sự” (rerum novarum), thì ngày nay, chúng ta không thể chỉ đơn thuần lặp lại những giáo huấn đầy minh triết ấy. Trái lại, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban cho sự khôn ngoan để có thể diễn giải những xu hướng lớn của thời đại chúng ta, đặc biệt là các tiến bộ về công nghệ. Trong những năm gần đây, càng ngày càng trở nên hiển nhiên rằng tiến trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới của chúng ta một cách nhanh chóng và sâu rộng như thế nào. Tự bản chất, công nghệ không nên bị xem như một sức mạnh đối nghịch với con người. Trái lại, ngay từ khởi nguyên của lịch sử, công nghệ đã là một phần trong hành trình phát triển của nhân loại, như “một thực tại mang tính nhân bản sâu sắc, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.” Qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện điều kiện sống của nhân loại. Tuy nhiên, đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng cho thấy tính mơ hồ của các công cụ ấy, bởi khi không được hướng về điều thiện, chúng có thể trở thành căn cớ gây tổn hại. Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang phải đối diện với một hoàn cảnh mới. Sức mạnh và mức độ hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới phát triển đã đan xen vào chính kết cấu của đời sống thường nhật, định hình các tiến trình ra quyết định và tác động sâu xa đến trí tưởng tượng tập thể của nhân loại: Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền năng lớn lao đến thế trên chính mình.” [6] Những công nghệ mới mở ra một chân trời trải rộng theo những hướng mà chúng ta có thể hình dung, nhưng vẫn chưa thể tiên liệu cách trọn vẹn. Điều này khiến cho việc lượng định những tác động tiềm tàng của chúng, cũng như những hệ quả lâu dài mà chúng có thể gây ra đối với phẩm giá con người và công ích, trở nên phức tạp hơn nhiều.
  1. Giờ đây, trách nhiệm của chúng ta là phải đối diện với những thách đố của thời đại mình bằng sự rõ ràng trong tư tưởng và tinh thần trách nhiệm. Điều cần thiết là phải thiết lập những công cụ pháp lý thích hợp, có khả năng bảo vệ công lý và kiềm chế những tác động bóp méo do quyền lực của công nghệ gây ra. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở bình diện pháp lý. Như Đức Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thành thật tự hỏi: ai đang nắm giữ quyền lực ấy hôm nay, và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải nhìn nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, hiểu biết về chính DNA của chúng ta, cùng nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được… đã trao cho những người sở hữu tri thức, và đặc biệt là các nguồn lực kinh tế để vận dụng chúng, một quyền thống trị đáng kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và trên cả thế giới.” Trong quá khứ, vai trò định hướng và điều phối đổi mới phần lớn thuộc về Quốc gia. Thế nhưng ngày nay, những tác nhân chính thúc đẩy phát triển lại là các chủ thể tư nhân, thường có tính xuyên quốc gia, được trang bị nguồn lực và khả năng can thiệp vượt xa nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ ngày nay có một chiều kích chưa từng có tiền lệ, chủ yếu có tính “tư nhân”, và chính điều này làm cho việc nhận định, quản trị và hướng quyền lực ấy về công ích trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
  2. Vì lý do ấy, điều cần thiết là phải khởi sự một tiến trình phân định chung nhằm nhận diện những cội rễ thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chỉ chú tâm đến những tình huống trước mắt, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi những khủng hoảng liên tiếp quyết định hướng đi của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển tiếp nhanh chóng, một “sự thay đổi của cả một thời đại”, trong đó, khi một số người đang tranh giành quyền định hình tương lai của các công nghệ mới, và những người khác chuyên tâm suy tư về vấn đề này, thì phần lớn nhân loại chỉ đứng nhìn và chờ đợi, quan sát từ xa và đơn thuần hy vọng rằng mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp. Chính vì thế, những câu hỏi hệ trọng đang chất vấn lương tâm chúng ta và không thể tiếp tục bị né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta mong muốn hướng mình đến mục tiêu nào? Là một dân tộc và như một cộng đồng nhân loại, chúng ta phải chọn hướng đi nào?

Hai hình ảnh trong Kinh Thánh

  1. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định phương thức định hướng một cách có trách nhiệm trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi muốn gợi lại hai khung cảnh trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Babel (x. St 11,1–9) và việc tái thiết các bức tường của Giêrusalem (x. Nkm 2–6). Trình thuật về Babel xuất hiện trong sách Sáng Thế, ngay từ buổi đầu lịch sử nhân loại, liền sau các gia phả của con cháu ông Nôê. Sau khi định cư tại một đồng bằng thuộc miền Sinar, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một ngọn tháp “có đỉnh chạm tới trời” (St 11,4). Vì sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, và trên hết, để “làm cho mình nổi danh.” Đó quả là một công trình đầy ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một định hướng duy nhất. Tuy nhiên, dự án ấy che giấu một hiểm họa sâu xa. Đó là một công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một sự đồng nhất hóa loại trừ tính đa dạng, và lựa chọn sự đồng nhất thay vì hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và ảo tưởng tự mãn, sự truyền thông sẽ đổ vỡ, ngôn ngữ trở nên hỗn loạn, và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất, nhưng là phân tán. Tháp Babel, vì thế, cho thấy giới hạn của mọi nỗ lực, dù có vẻ huy hoàng đến đâu đi nữa, nếu phát xuất từ tham vọng đề cao chính mình, hy sinh phẩm giá con người vì hiệu quả, và mong chạm tới trời cao mà không có phúc lành của Thiên Chúa.
  • 8. Ngược lại, sách Nêhêmia mở ra trong một thời khắc đầy mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau cuộc lưu đày Babylon, một phần dân Chúa đã trở về Giêrusalem, nhưng thành vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và các cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Nêhêmia, một người Do Thái đang phục vụ triều đình vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và cầu thay cho dân. Sau đó, ông xin nhà vua cho phép trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Trái lại, ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường thành để tái thiết, lắng nghe những mối quan tâm của họ, phối hợp các nỗ lực chung và đối diện với mọi chống đối phát sinh. Trình thuật cho thấy thành phố được hồi sinh không phải nhờ sáng kiến của riêng một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của tất cả mọi người: nam giới và nữ giới, tư tế, thợ thủ công, các trưởng gia đình, người trẻ. Đó là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm, tái thiết các mối tương quan trước khi tái thiết bằng gạch đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa khám phá lại một ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của sự hiệp thông; nghĩa là sự hòa hợp nảy sinh khi mỗi người đảm nhận vai trò riêng của mình và nhận biết rằng sức mạnh của họ đến từ Chúa.
  • 9. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần hôm nay đang chất vấn chúng ta về mối tương quan của mình với công nghệ và với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Các khám phá khoa học là những nén bạc được trao phó cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14–30). Công nghệ có khả năng: chữa lành, kết nối, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể: chia rẽ, loại trừ, tạo ra những hình thức bất công mới. Xét trên bình diện trừu tượng, công nghệ tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng như tự nó không phải là điều xấu xa. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ hoàn toàn trung lập, bởi nó luôn mang dấu ấn của những người: sáng tạo ra nó, tài trợ cho nó, kiểm soát nó và sử dụng nó. Vì thế, chọn lựa nền tảng không phải là nói “có” hay “không” với công nghệ. Nhưng là chọn giữa: xây dựng Tháp Babel, hay tái thiết Thành Giêrusalem; giữa: một quyền lực muốn thống trị cả trời cao, hay một dân tộc cùng nhau làm việc trước nhan Thiên Chúa để tái thiết những bức tường của sự chung sống huynh đệ.
  • 10. Do đó, chúng ta phải tránh “hội chứng Babel”, tức là: sự tôn thờ lợi nhuận đến mức hy sinh những người yếu thế; một sự đồng nhất hóa làm triệt tiêu khác biệt; và ảo tưởng rằng chỉ cần một ngôn ngữ duy nhất, kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số, là có thể chuyển dịch mọi sự, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Nguy cơ phi nhân hóa, tức xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện, là một cám dỗ vừa cổ xưa vừa luôn mới mẻ, nhưng hôm nay khoác lên mình diện mạo công nghệ. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nêhêmia”, con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cộng tác để làm cho Thành của Thiên Chúa trở thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Tái thiết hôm nay có nghĩa là nhìn nhận rằng chính từ sự đa dạng của những tiếng nói và viễn tượng, dù đôi khi gợi lại sự hỗn loạn của nhiều ngôn ngữ, vẫn có thể xuất hiện một sự khả thi rạng ngời. Thực ra, đó là việc có thể cùng nhau xây dựng, biến khác biệt thành nguồn lực, và lấy lắng nghe cùng đối thoại làm nền tảng chung để vun trồng công lý và tình huynh đệ. Trong sứ mạng chung ấy, các Kitô hữu khám phá vai trò đặc thù của mình là hướng mọi hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Ngài, tính đa nguyên không tan biến thành hỗn loạn, nhưng nhờ thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian trong đó nhân loại tái khám phá ra nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan chiêm ngắm Thành Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một hồng ân dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy là lời mời gọi chúng ta, những Kitô hữu, cùng cộng tác để kiến tạo một đời sống cộng đồng bình an, công chính và xứng hợp với phẩm giá con người trong những “thành phố” của thế giới hôm nay.

Xây dựng vì công ích

  1. Xây dựng một thành đô được đặt nền trên công ích, trước hết và trên hết, đòi hỏi phải xây dựng trên một mối tương quan vững chắc với Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là nhìn nhận rằng chân lý về tình yêu của Ngài mời gọi chúng ta bước vào sự sống “dồi dào” (Ga 10,10) và sự hiệp thông với chính Ngài. Cùng với Thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể thưa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Quả thật, Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của đời sống. Trong cuộc đối thoại với những người nam nữ của thời đại hôm nay, Hội Thánh nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng ấy tới chân lý sâu xa nhất của nó.
  2. Thứ đến, xây dựng vì công ích có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và sự mong manh của con người, mà không xem đó như một lỗi lầm cần phải sửa chữa. Ngày nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của đời sống con người đang đứng trước nguy cơ bị dẫn dắt lệch hướng bởi những mục tiêu đầy mê hoặc nhưng sai lạc, chẳng hạn như viễn tượng về một công nghệ hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi mọi yếu đuối, hay những mô hình an sinh chỉ dành chỗ cho một số ít, trong khi bỏ lại phía sau cả những cộng đồng dân cư rộng lớn. Quá thường xuyên, chúng ta đặt hy vọng vào những hình thức “nâng cấp” không giới hạn, vào những kiểu tiến bộ làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, và vào những giải pháp tức thì vốn không đủ sức chữa lành những thương tích sâu xa của con người. Kết quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định chính mình vô hạn, thì nhiều người khác lại bị tước mất cả những nhu cầu căn bản nhất. Hội Thánh, với một tiếng nói vừa khiêm tốn vừa kiên định, nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn đích thực không đạt được bằng cách loại bỏ sự yếu đuối, nhưng bằng sự tăng trưởng hài hòa của con người. Sự viên mãn ấy được tìm thấy ở nơi mà tự do gắn liền với trách nhiệm; sự chăm sóc lẫn nhau; tình liên đới chân chính. Ở đó, tiến bộ được đo lường không phải bằng hiệu suất hay quyền lực, nhưng bằng phẩm giá của từng con người và thiện ích của mọi dân tộc.
  1. Thứ ba, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể phát triển viên mãn đòi hỏi trách nhiệm chung và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác toàn thể sức nặng của những thách đố mà thế giới đang phải đối diện, cũng như không ai quá yếu đến mức không thể góp phần của mình, bởi vì: “Quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12,9) Mỗi người đều được trao một phần việc riêng trên bức tường chung ấy: các nhà khoa học và giới nghiên cứu, các doanh nhân và người lao động, các nhà giáo dục và các nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng, các cộng đồng đức tin. Đó chính là logic của nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa: các thế hệ, các dân tộc, các ngành tri thức, các nền văn hóa, như con đường tốt nhất để xây dựng sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên sợ hãi trước những căng thẳng hay khác biệt, bởi khi được dẫn dắt bởi tinh thần trách nhiệm chung, chúng có thể trở thành những nguồn lực sáng tạo.
  2. Sau cùng, xây dựng vì công ích đòi hỏi một ngôn ngữ mang tinh thần Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời nói mang tính hạ nhục hay đối kháng, nhưng thay vào đó chọn sự minh bạch có khả năng soi sáng, và sự thẳng thắn có thể mở ra những khả thi mới. Chúng ta không thể: dung túng cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Trái lại, chúng ta phải thiết lập những tiêu chuẩn để phân định, bao gồm: phẩm giá con người; đích đến phổ quát của của cải; sự ưu tiên dành cho người nghèo; việc chăm sóc ngôi nhà chung; hòa bình. Đồng thời, chúng ta phải chuyển hóa những tiêu chuẩn ấy thành các thực hành cụ thể, như: hoạch định có trách nhiệm, lượng giá các tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, cổ võ khả năng hiểu biết kỹ thuật số và định hướng nghiên cứu và công nghiệp về phía công lý và hòa bình.

Vẫn luôn là con người

  1. Trong Năm Thánh Thông thường 2025 vừa qua, chúng ta đã cùng nhau bước đi như những người hành hương của hy vọng, và đã lãnh nhận biết bao ân sủng. Được củng cố bởi những hồng ân ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác để đối diện với những công việc nặng nề và những thách đố đòi hỏi nhiều hy sinh đang ở phía trước. Trong thời đại của trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người đang bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, thì bổn phận cấp thiết của chúng ta là vẫn luôn giữ mình cách sâu xa như là con người. Chúng ta phải yêu mến gìn giữ sự cao cả của nhân tính đã được trao ban cho chúng ta, một sự cao cả được mặc khải cách viên mãn trong Đức Kitô, vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế. Sự tiến bộ đích thực luôn phát xuất từ một tâm hồn rộng mở với tha nhân, một trí tuệ biết lắng nghe và một ý chí tìm kiếm điều giúp chúng ta hợp nhất thay vì điều chia rẽ chúng ta.

16. Tôi ngỏ lời kêu gọi chân thành này đến toàn thể các tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu và tất cả những người nam nữ thiện chí. Chúng ta đừng sợ làm cho đôi tay mình vấy bẩn tại “công trường xây dựng” của thời đại mình. Như ông Nêhêmia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định cách khôn ngoan, kiên trì làm việc, đặt Thiên Chúa ở vị trí hàng đầu trong mọi hành động của mình, và đặt con người ở trung tâm của mọi chọn lựa. Như thế, những “viên đá bị loại bỏ”, là những người nghèo, người đau yếu, người di cư, những người bé mọn nhất giữa chúng ta, sẽ trở nên viên đá góc tường, và một ngôi nhà chung vững chắc, rộng mở và đầy đón tiếp sẽ được hình thành trên mặt đất, ở đó “tình thương và lòng thành tín giao hòa, công lý và bình an hôn nhau.” (x. Tv 85,10) Đó là phúc lành mà chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa ban xuống. Và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở nên những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải những Thiên Chúa đang đến, thay vì làm chủ những ngọn tháp vốn chỉ được định sẵn để sụp đổ. Với tâm tình của một mục tử và người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc xây dựng thêm một Tháp Babel khác nữa, và cùng nhau hợp sức để kiến tạo công ích, ngõ hầu nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và để thế giới một lần nữa nhận ra rằng trái tim con người chính là nơi Thiên Chúa mong muốn ngự trị.

  • Còn tiếp

From: NguyenNThu

VẬT LỘN VỚI CHÍNH SỰ PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc.  Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm.  Tại sao?  Vì giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý.”  Làm người – bà nói – không hề đơn giản. 

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý): 

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người.  Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước.’  ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế.  Đó là con người đạo đức trong tôi.  Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo.  ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế.  Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

 Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine.’  ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc.  Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh.  ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh.  Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước.’  Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

 Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine,’ cũng không phải ‘Nữ Bá tước.’   Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng.  Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine,’ nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

 Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh.  Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng,” một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo. 

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào? 

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp.  Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

 Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.”  Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng.  Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc. 

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó.  Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

 Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

 Vậy con người thật là ai?  Tất cả đều là ta.  Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn.  Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

 Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột.  Nó là một phẩm chất tích cực.  Điều gì tạo nên bình an?  Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

 Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm.  Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

 Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ.  Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

 Điều này cũng đúng với bản tính con người.  Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn.  Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ.”  Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

 Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu.  Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn.  Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

 Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này: 

Bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Chuyện tuổi Xế Chiều – Truyen ngan HAY

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST 


 

BỎ MỘT THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.

“Nếu tôi khám phá nơi mình những khát vọng mà không gì trong thế giới này có thể làm thoả mãn, thì lời giải thích hợp lý nhất là: tôi đã được dựng nên cho một quê hương khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, đi theo Chúa Kitô, người môn đệ không chỉ từ bỏ những thứ này thứ kia; họ từ bỏ cả một cách thuộc về thế giới. Tắt một lời: ‘bỏ một thế giới’.

Trong Tin Mừng Marcô, điều Phêrô nhấn mạnh không phải “chúng con theo Thầy”, nhưng là “chúng con đã bỏ mọi sự”. Ông vẫn nghĩ theo logic mất để được, từ bỏ để được đền bù. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi xa hơn. Đong đếm hơn thiệt với Trời cao là chưa bước hẳn vào Tin Mừng. Theo Ngài, người môn đệ không chỉ từ bỏ những gì thuộc về thế gian; họ từ bỏ một cấu trúc sở hữu để bước vào một cấu trúc thuộc về. “Đừng sợ Đức Kitô! Ngài không lấy đi điều gì, nhưng trao ban cho bạn tất cả!” – Bênêđictô XVI.

Vì thế, điều Chúa Giêsu hứa không phải một sự bù đắp vật chất cho những gì đã hy sinh, nhưng là một tương quan mới. Người môn đệ bỏ lại một mái nhà, nhưng nhận được nhiều mái nhà; rời một gia đình, nhưng bước vào một đại gia đình. Nước Trời không lấy con người ra khỏi mọi tương quan; Nước Trời chữa lành cách con người sống với nhau. Như vậy, “được gấp trăm” trước hết không phải là có nhiều hơn, nhưng là sống trong một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Nói cách khác, theo Chúa Kitô là bước ra khỏi một trật tự cũ của đời sống – ‘bỏ một thế giới’ – để đi vào một thế giới mới của sự thuộc về.

Thánh Phêrô kêu gọi: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở!” – bài đọc một. Một khi đã bước vào “đời sống mới của hiệp thông”, người môn đệ không thể tiếp tục sống theo những đam mê và lề thói cũ. Cứ bám mãi vào vùng đất cũ, con người sẽ đánh mất khả năng lớn lên của linh hồn. Sự thánh thiện Kitô giáo không hệ tại ở việc rút khỏi thế gian, nhưng ở khả năng sống khác giữa chính thế gian ấy. Và chính đời sống ấy làm cho “ơn cứu độ Chúa đã biểu dương” – Thánh Vịnh đáp ca – không còn là một ý niệm trừu tượng, nhưng trở thành một thực tại.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Đấng đã từ bỏ mọi sự trọn vẹn nhất. Ngài từ bỏ vinh quang của Con Một Thiên Chúa để bước vào thân phận giới hạn của con người; từ bỏ quyền lực để sống kiếp tôi tớ; cuối cùng, từ bỏ cả mạng sống mình trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô chưa bao giờ là một chọn lựa nửa vời. Có những lúc con người phải bước ra khỏi những gì từng định nghĩa đời mình, để khám phá rằng: điều làm cho con người sống không phải những gì họ nắm giữ, nhưng là Đấng họ thuộc về. Và nhiều khi, muốn bước vào sự sống mới ấy, người môn đệ phải dám ‘bỏ một thế giới’. “Sống là thay đổi; và nên hoàn thiện là đã nhiều lần đổi thay!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới luôn chèo kéo để giữ con lại với những sở hữu, cho con biết can đảm từ bỏ những gì không dẫn con đến với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,28-31

28 Khi ấy, ông Phê-rô lên tiếng thưa với Đức Giê-su rằng : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy !” 29 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. 31 Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”