VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN- Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper

 “Cầu nguyện là thiết lập tình bạn với Chúa, bằng cách thường xuyên trò chuyện riêng tư với Ngài, Đấng mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta.”  Đây là một trong những câu nói của thánh nữ Têrêsa thành Avila mà tôi yêu thích nhất, một người phụ nữ vô cùng thông thái.

Khi còn nhỏ, quan điểm của tôi về cầu nguyện rất cứng nhắc và khuôn mẫu.  Nhờ sự gương mẫu của cha mẹ và các thầy cô giáo Công giáo, tôi thuộc kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, kinh Hãy Nhớ, kinh Sáng Danh…  Bạn nói đến kinh nào là tôi biết kinh đó.  Tôi thuộc làu các hình thức cầu nguyện theo cấu trúc như kinh Mân Côi, đàng Thánh Giá và tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi trải qua lại quá an toàn hoặc ít đụng chạm tới những bộn bề của cuộc sống.  Tôi lấp đầy giờ Chầu Thánh Thể bằng lời kinh Mân Côi, Lectio Divina[1]  hoặc các lời nguyện và suy tôn Thánh Thể, rồi sau đó nhanh chóng kết thúc giờ cầu nguyện bằng những lời nguyện cá nhân.  Mặc dù tất cả các phương pháp cầu nguyện này đều tốt lành và hữu ích, nhưng chúng ta nên ưu tiên dành cho Chúa không gian để đáp lại. 

Không có lời cầu nguyện nào là hoàn hảo cả.  Thực tế thì đôi khi cầu nguyện có thể và trở nên lộn xộn. Giống như trong các mối quan hệ với con người, những cuộc trò chuyện có thể trở nên rối tung khi chúng ta tức giận, sợ hãi hoặc thất vọng về một tình huống hay một người nào đó.  Tôi nghĩ rằng nhiều lần chúng ta cố gắng lảng tránh những cảm xúc này trong cầu nguyện.  Chúng ta nghĩ rằng mình phải thể hiện bản thân tốt nhất, hoàn hảo nhất trước mặt Chúa, nhưng đó không phải điều Ngài mong muốn.  Chúa biết bản chất con người của chúng ta – Ngài dựng nên ra chúng ta – vì vậy chúng ta đừng sợ Ngài quay lưng lại khi chúng ta nói ra những thử thách và đau khổ của mình cho Ngài biết.  Chúa muốn chúng ta thành thật và bày tỏ hết những mỏng giòn, yếu đuối với Ngài, giống như với người bạn thân nhất.  Điều này có nghĩa là, đôi khi chúng ta có thể bước vào cầu nguyện trong cơn giận dữ với Chúa vì một điều gì đó đang diễn ra trong cuộc sống của mình, hãy cứ thế mà cầu nguyện.  Hãy kêu lên với Chúa, khóc với Chúa, và sẵn sàng để Ngài đón nhận trọn vẹn con người bạn.  Chỉ khi chúng ta thực sự chân thành với Chúa trong cầu nguyện thì mối quan hệ giữa ta với Ngài mới có thể phát triển.  Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện, đó là để củng cố mối quan hệ với Cha trên trời.

 Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc, điều này thực sự diễn ra như thế nào?  Tôi có thể nói với bạn một điều chắc chắn rằng: việc cầu nguyện của mỗi người mỗi khác, nhưng mục tiêu cuối cùng là đi vào sự hiện diện thánh thiêng của Chúa.  Tôi khuyên bạn mỗi ngày hãy dành riêng một khoảng thời gian để trò chuyện với Chúa.  Đó có thể là 30 phút trong khi đi đến nơi làm việc, 10 phút đầu tiên của buổi sáng hoặc thậm chí 20 phút trước khi đi ngủ; nhưng hãy cố gắng dành riêng khoảng thời gian cụ thể này để cầu nguyện mỗi ngày.  Bạn có thể nghĩ rằng lịch trình của mình quá bận rộn để cầu nguyện hàng ngày, nhưng thưa bạn, ngay cả Chúa Giêsu cũng dành thời gian nghỉ ngơi khỏi việc chữa bệnh, giảng dạy, rao giảng và thực hiện phép lạ để cầu nguyện.  Cách cầu nguyện tốt nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất là ở một mình với Chúa và nói chuyện với Ngài từ trái tim.  Và tôi có thể hứa rằng khi bạn dành thời gian cho những cuộc trò chuyện này với Chúa, mọi thứ khác sẽ đi đúng hướng.

 Lời khuyên khác của tôi khi bạn đi sâu hơn vào mối quan hệ với Chúa là hãy phó thác mọi sự trong cuộc sống của bạn cho Ngài.  Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2611 nói rằng: “Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa,’ nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha.  Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.”  Khi cầu nguyện, chúng ta nên trình bày mọi niềm vui, tạ ơn, thử thách, đau khổ, lo lắng và mối quan tâm, nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng và mong muốn phó thác những điều đó cho Chúa, và tin rằng Ngài có một kế hoạch cho cuộc sống của chúng ta.  Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta bơ vơ hay mãi mãi trong đau khổ vì Ngài là một Thiên Chúa nhân từ; chúng ta phải có lòng tin!  Nếu bạn đang vật lộn với tư tưởng buông bỏ hoàn toàn, tôi khuyên bạn nên đọc Kinh Cầu Tín Thác, làm tuần Cửu nhật Dâng mình cho Chúa Giêsu, hoặc thậm chí chỉ cần chiêm ngắm linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. 

 Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để củng cố sự tốt lành và cần thiết của việc cầu nguyện theo cấu trúc trong cuộc sống của chúng ta.  Tôi không đề nghị bạn từ bỏ Kinh Mân Côi hay Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì đây là những công cụ cầu nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện của chúng ta nơi Nước Trời.  Tôi muốn lưu ý rằng những công cụ thánh thiện này không phải là mục đích cuối cùng.  Tôi khuyến khích bạn mở lòng cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn lời cầu nguyện của bạn, và đừng để lời cầu nguyện theo cấu trúc trở thành phương tiện duy nhất để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.

 Lời khuyên cuối cùng của tôi là hãy cầu xin những điều lớn lao.  Không có ước muốn nào là quá lớn đối với Chúa, vì vậy hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào đặt tình yêu lên đầu, Chúa là Đấng yêu thương chúng ta luôn mong muốn tuôn đổ hồng ân dồi dào cho mỗi người chúng ta.  Khi cầu nguyện, hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Xin Chúa ban Thánh Thần của Ngài xuống trên bạn!  Xin Ngài hướng dẫn bạn khi chọn trường đại học, xin việc hoặc tìm kiếm bạn đời.  Hãy cho Chúa biết những ước muốn của bạn và lặng lẽ chờ đợi Ngài trả lời, bởi vì cầu nguyện luôn được cho là cuộc trò chuyện giữa chúng ta và Chúa, giúp tình bạn thiêng liêng triển nở.

 Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper – Chuyển ngữ: Lê Minh
Từ: Catholic Exchange

From: Langthangchieutim


 

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar

My Lan Pham

Năm 1874, chính quyền bảo một người phụ nữ hãy đứng sang một bên và để thiên nhiên quyết định ai sống, ai chết. Bà từ chối.

Mùa đông năm ấy ở British Columbia vô cùng khắc nghiệt. Trên cao trong dãy núi Cassiar, bảy mươi lăm thợ mỏ bị tuyết rơi không ngừng vùi lấp. Các lối mòn biến mất. Sông ngòi đóng băng cứng. Đường tiếp tế hoàn toàn sụp đổ.

Thức ăn cạn kiệt trước tiên. Rồi đến sức lực. Sau đó là hy vọng.

Bệnh scorbut (thiếu vitamin C) lặng lẽ xuất hiện: lợi sưng lên, răng lung lay, hút cạn sinh lực của những người vốn đã đói lả. Họ bị mắc kẹt trong bóng tối và cái lạnh, đếm từng ngày trôi qua mà không biết liệu có ai còn nhớ đến sự tồn tại của họ hay không.

Không một đội cứu hộ nào sắp đến.

Nellie Cashman nghe tin về họ ở thung lũng phía dưới. Bà là một người nhập cư gốc Ireland, vóc người nhỏ bé, điều hành một nhà trọ và cửa hàng phục vụ thợ mỏ và lữ khách. Bà đã sống một cuộc đời gian khó. Bà hiểu thế nào là đói. Thế nào là lạnh. Và thế nào là bị bỏ rơi.

Khi biết bảy mươi lăm người đàn ông đang chết dần trên núi, bà không chờ đợi giới chức hành động. Bà đi đến với họ.

Chính quyền tìm cách ngăn cản bà. Họ nói các đèo đã đóng. Họ nói tuyết quá dày. Họ nói cố gắng đi lúc này chẳng khác nào tự sát.

Họ nghĩ bà sẽ nghe lời.

Nellie không tranh cãi. Không cầu xin. Bà chỉ lặng lẽ bắt đầu tổ chức.

Bà tập hợp sáu người đàn ông sẵn sàng theo bà. Bà thu gom 1.500 pound lương thực, thuốc men và vật dụng. Không động cơ. Không máy móc nặng nề. Chỉ có xe trượt tuyết, giày đi tuyết, dây thừng và ý chí sắt đá.

Họ lên đường, lao vào một biển trắng xóa.

Suốt bảy mươi bảy ngày, núi non chống lại họ. Tuyết nuốt chửng đôi chân. Gió cắt xuyên qua cả len lẫn da thịt. Tiến lên được bao nhiêu được tính bằng từng mét ngắn ngủi. Ban đêm họ run rẩy, không biết liệu bình minh có đến hay không.

Không ít lần, những người đàn ông muốn quay lại. Không ít lần, con đường hoàn toàn biến mất.

Mỗi lần như vậy, Nellie lại nhắc họ vì sao họ ở đó. Bà nói về những gương mặt đang chờ đợi trong bóng tối. Về những người sẽ không thể sống sót thêm một tuần nếu không có cứu trợ. Bà không lớn tiếng. Không đe dọa. Bà chỉ không chấp nhận rút lui.

Cuối cùng, họ cũng đến được sườn núi cuối cùng.

Khi Nellie bước ra khỏi cơn bão và vào trại thợ mỏ, những người đàn ông tưởng rằng mình đang ảo giác. Một người phụ nữ đứng đó với thức ăn. Với thuốc men. Với chính sự sống trong tay.

Bà không dừng lại để nhận lời cảm ơn. Không đòi hỏi thù lao. Bà bắt tay vào việc ngay.

Bà cho họ ăn từ từ để cơ thể có thể hồi phục. Bà chữa trị cho người bệnh. Bà ở lại cho đến khi từng người một đủ khỏe để tự rời khỏi núi.

Bảy mươi lăm mạng người đã bước ra khỏi dãy núi ấy chỉ vì một người phụ nữ không chấp nhận từ “không thể”.

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà là Thiên thần của Cassiar. Cái tên theo bà suốt quãng đời dài và không yên nghỉ, khi bà di chuyển từ trại này sang trại khác, giúp đỡ ở bất cứ nơi nào cần.

Nellie Cashman chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý. Bà không chờ đợi sự cho phép. Bà nhìn thấy khổ đau và bước về phía nó, ngay cả khi cả thế giới bảo bà hãy quay lưng lại.

Chúng ta sống trong một thời đại thường chờ sự chấp thuận rồi mới hành động. Nellie nhắc chúng ta rằng có những khoảnh khắc không đòi hỏi sự thận trọng. Chúng đòi hỏi lòng can đảm.

Bà không được bổ nhiệm.

Bà không được cử đi.

Bà vẫn đi.

Một người hàng xóm không chịu quay mặt làm ngơ.

Một người lãnh đạo chưa từng xin được làm lãnh đạo.

Một anh hùng hiểu rằng đôi khi làm điều đúng đắn nghĩa là thách thức tất cả những ai nói rằng bạn không thể.

Chia sẻ từ Story 1

My Lan Phạm


 

HƠN CẢ CHỐNG ĐỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ nói Người mất trí”.

“Phỉ báng và vu khống nào quan trọng gì – nếu người ta sỉ nhục mình – khi lương tâm bênh vực chúng ta?” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến kẻ thù, mà nói đến người nhà; không nói đến chống đối từ bên ngoài, mà nói đến hiểu lầm từ bên trong – một nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”.

Có thể nói, sứ mệnh Chúa Cha giao đã cuốn phăng Chúa Giêsu! Với con mắt “hợp lý” của thế gian, đó là thiếu cân bằng; với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là trung tín. Thân nhân không phủ nhận điều Ngài làm, nhưng không hiểu con đường Ngài đi; vì thế, họ dễ kéo Ngài về phía an toàn. Tin Mừng cho thấy: sứ mệnh không đo bằng sự tiện lợi, và ơn gọi không đóng khung trong sự yên ổn. Chúa Giêsu không mất giờ sửa lại hình ảnh; Ngài tiếp tục làm điều phải làm. Không phải chống đối đẩy chúng ta lạc hướng, mà là khi chúng ta đổi lương tâm lấy sự yên thân. Và từ khoảnh khắc ấy, dư luận bắt đầu lèo lái cuộc đời chúng ta. “Hãy chú trọng lương tâm hơn danh tiếng. Vì lương tâm là con người thật của bạn, danh tiếng là điều người khác nghĩ về bạn!” – Mesa Selimovic.

Cái đáng sợ không là bị nói xấu, mà là đánh mất bình an. Vì thế, thử thách lớn nhất không luôn là những xung đột công khai, mà là áp lực âm thầm của việc “làm yên lòng mọi người” những muốn chúng ta “chậm lại” hoặc “bỏ cuộc”. Áp lực ấy nhiều khi khiến chúng ta rẽ khỏi đường hẹp – một thử thách ‘hơn cả chống đối!’. Trong khoảnh khắc ấy, chúng ta được hỏi: điều gì đang quyết định hướng đi của tôi – tiếng gọi của Chúa hay mong đợi của người? “Đừng làm gì trái lương tâm ngay cả khi nhà nước yêu cầu!” – Albert Einstein.

Ở đây, Mẹ Maria trở thành một điểm tựa lặng lẽ. Mẹ không tìm cách làm cho con đường của Con mình trở nên dễ chấp nhận; Mẹ chọn tin, chọn theo, và giữ ánh nhìn gắn chặt vào mầu nhiệm Chúa đang thực hiện. Mẹ dạy chúng ta yêu thương không phải là giữ người yêu trong vùng an toàn, mà là tôn trọng con đường Chúa dành cho họ, dù nó dẫn qua bóng tối.

Anh Chị em,

Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy xác phàm, mà còn mang lấy thân phận bị hiểu lầm. Bị tiếng “mất trí”, Ngài đi vào trải nghiệm cô độc sâu nhất của kiếp người, để ở đó, mặc khải căn tính thật của mình – Con Một chỉ sống bởi ý Cha! Vì thế, bị loại trừ không phá huỷ sứ mạng; trái lại, thanh luyện và đưa sứ mạng đến chỗ viên mãn trên thập giá – nơi vâng phục trở thành hy lễ cứu độ. Mỗi lần chọn lương tâm được soi sáng bởi ân sủng hơn là sự an toàn, chúng ta được thông phần vào chính sự vâng phục cứu độ ấy; đồng thời, cho phép đời mình tháp nhập vào cuộc Vượt Qua của Đấng từng trải qua nỗi đau ‘hơn cả chống đối!”. “Đức tin nâng đỡ linh hồn; hy vọng tiếp sức. Kinh nghiệm bảo phải vậy; và tình yêu bảo cứ để nó diễn ra!” – Elizabeth Seton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bị hiểu lầm, cho con đừng quay lưng; khi con bị bỏ lại, cho con đừng bỏ cuộc; khi con bị xâu xé, cho con vẫn ở lại trong thánh ý Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Thân nhân của Người nói rằng Người đã mất trí.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,20-21

20 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ trở về nhà, và đám đông lại kéo đến, nên Người và các môn đệ không sao ăn uống được. 21 Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.


 

 

ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

Linh Mục Mi Trầm

 ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa..
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè.. Nguời khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo Internet


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh.

Nguyễn Lai is with Thái Lai Anna.

#GNsP – Đó là cha Vicent Capodanno, Hoa Kỳ. Cậu bé Capodanno sinh năm 1929 gần thành phố New York, trong một gia đình đạo hạnh. Là con út trong một gia đình mười anh chị em có gốc Ý di cư đến Hoa Kỳ. Cha mẹ cậu là dân lạo động. Hằng ngày phải thức khuya dậy sớm để nuôi bầy con đông đúc. Cha là thợ đóng tàu, mẹ buôn bán tạp hóa. Tuy nhiên sau một ngày lao động vất vả, cả gia đình quây quần đọc kinh tạ ơn Chúa.

Cha từng nói rằng, “gia đình chúng tôi  rất thân thiện, gần gũi, và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi luôn làm việc chung với nhau. Bữa ăn tối là trọng tâm của gia đình tôi. Chúng tôi không bao giờ ăn cho đến khi mọi người ngồi vào bàn, ngay cả chú chó cũng quẩn quanh gần bàn!”

Ông James, người anh trai của cha vẫn còn sống và kể lại rằng, cha Vincent thưở bé “rất bình dị và bình thường, nhưng em có một niềm tin vững mạnh và lòng đạo đức tốt lành. Em luôn hăng say trong những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, nhiệt tâm trong các công tác đoàn thể.”

Năm 1949, vào học kỳ I tại Đại học Fordham, chàng sinh viên trẻ Vicent Capodanno tâm sự với một người bạn thân rằng, chàng muốn trở thành một linh mục chứ không muốn làm bác sĩ, như chàng nghĩ trước đây.

Cùng năm đó, Capodanno xin vào dòng Truyền giáo Maryknoll, vì bị thu hút bởi sứ mệnh truyền bá Tin mừng cho những người đặc biệt nơi các vùng đất xa xôi. Khi trở thành tu sĩ Dòng Maryknoll, thầy Capodanno rất ngưỡng mộ Đức Giám mục Phanxicô Xavier Ford, vị Giám mục chết rũ tù Cộng sản tại Hoa Lục năm 1950, với khẩu hiệu Giám mục của ngài là “cùng chịu đau khổ với Chúa”. Người thứ hai mà thầy Capodanno ngưỡng mộ nữa là Đức Giám Mục Patrick Byrne, vị Giám mục bị Cộng sản Bắc Hàn bắt bỏ tù. Đức cha Patrick Byrne đã từng nói rằng “nếu tôi bị xử bắn, tôi sẽ vui chịu để thông hiệp với những thương đau của anh em tôi.”

Những lời ấy của vị Giám mục luôn ghi khắc trong tim thầy. Khi chịu chức linh mục, vào năm 1958 cha Capodanno đã tình nguyện xin đến phục vụ cho những người Hakka ở Đài Loan. Sau 7 năm làm việc ở Đài Loan, cha Capodanno được thuyên chuyển về trường trung học ở Hồng Kông. Cha không vui lắm trước sự hoán chuyển này! Vì là một nhà truyền giáo Maryknoll, cha thích đi ra truyền giáo hơn là ở một chỗ dạy học.

Sau đó cha Capodanno xin được làm cha Tuyên úy cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Cha đã được Bề trên chấp thuận lời xin này vào năm 1965. Gần 1 năm sau, tức vào Tuần Thánh năm 1966 cha được gửi về Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 7, đóng ở phía Nam Đà Nẵng, một thành phố ở miền Đông Nam Việt Nam. Ngài là một Tuyên úy Công giáo duy nhất trong vùng, nên trách vụ của Ngài thật nặng nề.

Những người lính Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng đặt cho cha Capodanno biệt danh “kẻ phục dịch”, vì ngài chia sẻ mọi sự cho họ. Bất cứ khi nào họ cần tới cha, cha dường như đang ở đó – cầu nguyện với người bị thương, an ủi người đang hấp hối, và khuyến khích những người đi chiến đấu. Điều đáng trân quí nhất mà tất cả mọi người lính đều nhìn nhận cha Capodanno là một người trong số họ, cha không phải là kẻ xa lạ hay giai cấp, mặc dầu cha không bao giờ mang vũ khí, ngoại trừ khi có nghĩa vụ phải làm như vậy! Vũ khí của cha là tình yêu và tinh thần.

Cha Capodanno là người đồng hành với trung đoàn trên mọi chiến trường, liều mạng vì quân binh của mình. Trong một trận đánh bị Việt cộng tấn công bằng lựu đạn, khiến nhiều binh sĩ thương vong,  cha đã trực tiếp băng bó cho các binh sĩ. Lần khác cha đã cõng một người lính bị thương băng qua đám cháy để cứu sống anh. Trong các trận địa, cha làm người tải thương, cha cầu nguyện chúc lành, xức dầu bệnh nhân cho các binh sĩ trong cơn nguy tử… Cha chẳng màng tới sự an toàn cho sinh mạng mình, mặc dù cha đã từng thừa nhận mình cũng là người “rất sợ chết.” Cha Capodanno làm việc không ngưng nghỉ, mỗi ngày cha dâng lễ, ngồi tòa giải tội và luôn sẵn sàng để hướng dẫn tâm linh cho binh lính. Lúc rảnh rỗi cha thường đi bộ và lắng nghe những người lính tâm sự.

Thiếu tá Ray Harton nhớ lại một trong những cuộc gặp mặt đầu tiên của ông với cha Capadanno khi ông đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công địch. “Cha ấy chỉ đi lướt qua và dừng lại một thoáng, nhưng ánh mắt của ngài như có một thần lực thu hút tôi… làm cho tâm hồn tôi dâng trào thổn thức!”

Vào sáng ngày 4 tháng 9 năm 1967, cha Capodanno tình nguyện đi tác chiến với đơn vị Thủy Quân Lục Chiến để giải cứu một đơn vị khác đang bị Việt Cộng tấn công ở Quế Sơn. Biết rằng đây là cuộc chiến đầy khốc nghiệt, ngài đã dành nhiều giờ trong đêm để cầu nguyện cho những người lính đã hy sinh và đang nguy tử. Không bao lâu sau máy bay chở cha Capadanno hạ cánh, đơn vị của cha bị một lực lượng gần hai ngàn quân Cộng Bắc Việt bao vây. Khi đội quân Thủy Lục Chiến của cha vượt qua đỉnh đồi, thì bị trọng pháo và đại liên bắn liên hồi… Người lính truyền tin vừa điện cho hay “Quân binh của chúng ta đang bị càn quét!”. Và rồi một tin nhắn khác “Có nhiều người bị thương và hấp hối…”

Nghe tin ấy cha Vincent quyết tâm đến với anh em binh lính của cha. Cha đã chạy như con thoi đến với các binh sĩ bị thương và ban bí tích cuối cùng cho những người hấp hối. Mặc dù bị bắn hai lần – một lần vào mặt và một lần vào tay phải – cha vẫn tiếp tục tìm kiếm người bị thương, nói với họ, “Chúa Giêsu nói: con hãy vững tin. Chúa là sự thật và là sự sống”.

Nhìn thấy một quân nhân khác bị thương, rên lên đau đớn, cha Capodanno đã quên thân mình chạy ùa đến với anh. Khi cha vừa quỳ xuống bên anh, một loạt liên thanh nổ rền giết chết cả hai người ngay lập tức. Vài giờ sau, một trong những người lính lấy xác cha Capodanno cho hay, khắp thân thể cha bị nát nhừ với 27 viên đạn, nhưng gương mặt “Cha như đang mỉm cười, và mắt cha khép lại như đang ngủ hay đang cầu nguyện.”

Cha Vincent Capodanno đã được Hoa Kỳ trao tặng Huân chương danh dự cao quí nhất của Quốc hội vì lòng dũng cảm của cha.

Tin tức về cái chết của cha Capodanno làm rung động toàn thể Thủy Quân Lục Chiến trên khắp miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cha đã gây nhiều âm hưởng cho cuộc sống của anh em binh lính một cách sâu xa. Một năm sau, nhiều anh em Thủy quân Lục Chiến đã thốt lên “Cha Capadanno đã dâng hiến mạng sống của cha, không ai trên trần thế này có thể làm được gì nữa ngoại trừ Đức Kitô… Nhiều anh em Thủy quân lục chiến và binh lính đã trở lại đạo Công giáo nhờ tấm gương hy sinh của cha. Họ nói “đối với tôi, cha ấy là một vị thánh.”

Cha Capodanno đã sống và chết như một vị tử đạo phục vụ cho những binh sĩ trong một cuộc chiến chính nghĩa. Qua cái chết, Cha Capodanno đã truyền cảm hứng về lòng quả cảm và hy vọng cho tha nhân. Nhiều người đã đến khấn xin ngài và đã nhận được những ơn chữa lành qua lời bầu cử của ngài. Trong số đó có một nữ tu Việt Nam được chữa lành khỏi bệnh ung thư. Một trường hợp khác là ông Ernest, một bác sĩ thú y Việt Nam đang thất vọng và muốn tự vẫn, tình cờ ông ta mở chiếc ví ra thấy một tờ giấy của mẹ ông viết lại lời cầu nguyện với cha Capadanno. Ông đã đọc những lời nguyện ấy và nhờ lời cầu nguyện của cha Capodanno, Ernest đã vượt qua được giờ phút khủng khoảng. Ông Ernest vẫn còn sống cho tới ngày nay. Một cậu bé khác bị ung thư máu đã được cha mình đưa đến mộ của cha Capodanno trên đảo State cầu nguyện xin ơn chữa lành và cậu bé đã được khỏi bệnh cách kỳ diệu đến các bác sĩ phải hết sức kinh ngạc.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Đức Thánh Cha Benêdictô XVI đã tôn vinh cha Capodanno lên hàng “Tôi Tớ Chúa”. Và với ba trường hợp lành bệnh cách mầu nhiệm trên cùng những hy sinh trên chiến trường Việt Nam, cha đang được điều tra để tiến đến việc tuyên phong Hiển Thánh.

(NguồnTin Mừng cho Người Nghèo do LM Vũ Hoàng Trương biên soạn dựa trên bài viết của Thanh Quảng 2017)


 

Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

My Lan Pham

Trong suốt bốn năm dài, một người phụ nữ ngồi lặng lẽ trong một bảo tàng ở Paris, trong khi phát xít Đức cướp bóc hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật ngay xung quanh bà.

Chúng không bao giờ ngờ rằng bà hiểu từng lời chúng nói.

Tháng 10 năm 1940. Bảo tàng Jeu de Paume vừa bị chiếm đóng và biến thành trung tâm đầu não của mạng lưới buôn bán nghệ thuật bị cướp bóc: tại đây, những kiệt tác bị tước đoạt từ các gia đình Do Thái được phân loại trước khi chuyển về Đức.

Và người phụ nữ tưởng chừng tầm thường vẫn tiếp tục làm việc giữa những bức tường ấy là ai?

Đối với chúng, bà vô hình. Chỉ là một nhân viên quèn. Im lặng. Vô hại.

Nhưng chúng đã nhầm.

Bà tên là Rose Valland. Khi đó bà 42 tuổi, được đào tạo tinh hoa tại Sorbonne và École du Louvre, nhưng lúc ấy chỉ mang danh một tình nguyện viên không lương — ít nhất là bề ngoài.

Thực chất, bà đã chấp nhận một sứ mệnh có thể khiến mình mất mạng: ở lại, quan sát và ghi chép mọi tội ác.

Trong khi phát xít đóng gói tranh của Cézanne, Monet, Renoir như những món hàng vô tri, bà âm thầm ghi chép.

Ngày qua ngày, Hermann Göring — cánh tay phải của Hitler — đã đến bảo tàng 21 lần để chọn những tác phẩm treo trong lâu đài của hắn. Rose luôn ở đó. Trông có vẻ phục tùng, nhưng thực chất là tỉnh táo và quan sát từng chi tiết.

Bà nói tiếng Đức hoàn hảo. Nhưng không ai biết điều đó.

Bà ghi lại số toa tàu, tuyến đường sắt, tên người, từng chi tiết nhỏ. Ban đêm, bà viết tất cả vào những cuốn sổ bí mật. Nếu bị phát hiện, bà sẽ bị xử bắn như một gián điệp.

Thế nhưng, bà chưa từng dừng lại. Bà chuyển thông tin cho lực lượng Kháng chiến, cứu được nhiều đoàn tàu và những kho báu vô giá khỏi bị hủy hoại.

Tháng 7 năm 1943, bà chứng kiến điều không tưởng: 500 bức tranh của Picasso, Miró, Klee bị phát xít thiêu rụi trên mái bảo tàng, bị gán nhãn là “nghệ thuật suy đồi”.

Rose không thể làm gì. Nhưng bà không quay mặt đi. Bà ghi nhận mất mát ấy và tiếp tục bước tiếp.

Năm 1944, khi phát xít tìm cách tháo chạy cùng chiến lợi phẩm, Rose biết mọi thứ: số thùng, điểm đến, giờ tàu chạy. Bà cung cấp toàn bộ cho Kháng chiến. Đoàn tàu bị chặn lại. Nghệ thuật được cứu.

Thế nhưng sau khi Paris được giải phóng, bà lại bị bắt: có nghi ngờ đối với những ai từng làm việc dưới thời chiếm đóng.

Rồi sự thật được phơi bày — và gây chấn động.

Rose sở hữu một hồ sơ tỉ mỉ: hơn 20.000 tác phẩm được ghi lại với ngày tháng, địa điểm và lộ trình. Một bản đồ kho báu để thu hồi những gì đã bị cướp đoạt.

Năm 1945, bà được phong hàm trung úy quân đội Pháp.

Bà từ chối mọi đặc quyền. Bà trực tiếp tham gia các nhiệm vụ thu hồi cùng nhóm Monuments Men. Nhờ bà, các kho cất giấu bí mật trong lâu đài, mỏ đá và boongke đã được phát hiện.

Năm 1946, tại các phiên tòa Nürnberg, Rose đứng lên đối diện Hermann Göring.

Chính người đàn ông đã phớt lờ bà suốt nhiều năm. Và bà đánh gục hắn bằng những bằng chứng chi tiết.

Cuối cùng, bà đóng vai trò then chốt trong việc thu hồi 60.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó 45.000 được trả lại cho chủ nhân hợp pháp.

Rose Valland chưa từng cầm súng.

Không đặt bom.

Không có hành động phô trương.

Sự kháng cự của bà là sự im lặng.

Nhưng mỗi dòng ghi chép là một hành động phản kháng.

Mỗi ánh nhìn là một nhát dao vào trái tim của chế độ.

Và chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

Chia sẻ từ Magazine Fanpage

My Lan Phạm


 

CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53

Trầm Mặc Huơng Lai

Tôi đã đọc câu chuyện này và không thể cầm được nước mắt…

Tôi tên là Eduardo, 53 tuổi. Cách đây 6 tháng, tôi được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Vâng, nó thực sự tồn tại. Dù mọi người thường nghĩ đây là bệnh của người già, nhưng nó có thể xuất hiện ngay từ tuổi 40. Với tôi, nó ập đến ở tuổi 52.

Bác sĩ nói đây là do di truyền. Mẹ tôi mất vì Alzheimer năm 60 tuổi, ông nội tôi cũng vậy. Tôi biết mình có nguy cơ, nhưng chưa bao giờ nghĩ nó lại đến sớm thế này.

Mọi chuyện bắt đầu từ một năm trước: tôi quên sạch những cuộc trò chuyện, bị lạc đường khi lái xe ở những nơi vốn rất quen thuộc, hay đột nhiên không tìm được từ ngữ để nói… Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ là do áp lực công việc. Nhưng cái ngày mà tôi quên mất tên con gái mình trong vài giây, tôi biết mọi chuyện đã thực sự tồi tệ.

Con gái tôi là Carolina, 25 tuổi. Con bé sống với tôi từ khi mẹ nó bỏ đi nhiều năm trước. Con bé là cả thế giới của tôi. Khi nghe tin, Carolina đã tự nhốt mình trong phòng khóc hàng giờ liền. Tôi cũng khóc ở phía bên kia cánh cửa.

Nhưng sáng hôm sau, con bé bước vào phòng tôi với một cuốn sổ lớn và nói: — “Cha à, chúng ta sẽ cùng viết lại cuộc đời cha. Tất cả những gì cha không muốn quên, chúng ta sẽ làm cùng nhau.”

Kể từ đó, mỗi tối chúng tôi lại ngồi ở phòng khách. Con bé hỏi, còn tôi kể: Chuyện tôi gặp mẹ nó như thế nào. Ngày Carolina chào đời và tôi chính thức trở thành cha. Ngôi nhà đầu tiên. Những từ đầu đời của con. Ngày con tập đi xe đạp. Lễ tốt nghiệp của con… Tất cả mọi thứ.

Chúng tôi cũng viết cả những điều giản đơn nhất: món ăn tôi thích (chilaquiles xanh), những bài hát tôi yêu, những câu đùa tôi hay kể, tên bạn bè, công việc giáo viên tiểu học tôi đã gắn bó suốt 30 năm, và điều gì khiến tôi hạnh phúc (như một ly cà phê với bánh mì ngọt vào buổi sáng).

Có một tối, Carolina nói một câu khiến tôi bật khóc: — “Cha ơi, ngày mà cha không còn nhớ con là ai nữa, con sẽ đọc cuốn sổ này cho cha nghe mỗi ngày. Con sẽ nhắc cho cha nhớ cha đã từng là ai, cha là người thế nào. Và con vẫn sẽ yêu cha như thế.”

Sáu tháng trôi qua, bắt đầu có những ngày tồi tệ. Có những ngày tôi quên chỗ để chìa khóa, hỏi đi hỏi lại một câu năm lần, hay không nhớ mình đã ăn sáng chưa. Carolina chưa bao giờ nổi nóng. Con bé chỉ mỉm cười và trả lời tôi với một sự kiên nhẫn vô hạn.

Hôm qua, tôi bị một cơn kích động mạnh. Tôi tỉnh dậy mà không biết mình đang ở đâu. Tôi hoảng loạn, không nhận ra chính ngôi nhà của mình và bắt đầu gào thét vì sợ hãi. Carolina chạy vào phòng, ôm chặt lấy tôi và đọc một đoạn trong cuốn sổ: — “Tên cha là Eduardo. Cha 53 tuổi. Cha là cha của con và là người đàn ông dũng cảm nhất con từng biết. Cha đã làm thầy giáo 30 năm. Cha thích cà phê và bánh mì ngọt. Bài hát yêu thích của cha là ‘Bésame Mucho’. Còn con là Carolina, con gái của cha, và con sẽ không bao giờ để cha cô đơn.”

Từng chút một, tôi tỉnh táo lại. Con bé đã kéo tôi về thực tại bằng chính lời nói và câu chuyện của cuộc đời tôi. Tôi khóc nức nở trong vòng tay con như một đứa trẻ: — “Thứ lỗi cho cha, con gái ơi, xin lỗi con vì tất cả chuyện này.” — “Không cha ơi, cha không có lỗi gì cả. Đây không phải lỗi của cha.”

Hôm nay, Carolina cho tôi xem một thứ khiến tôi nghẹn lòng. Con bé đã bí mật quay phim những cuộc trò chuyện buổi tối. Con bé có hàng giờ video cảnh tôi đang kể chuyện, cười đùa, hát hò… là chính mình. — “Sao con lại quay lại tất cả những thứ này?” — “Để đến ngày cha không thể nói được nữa, con sẽ mở những đoạn phim này lên. Để cha được nghe lại giọng nói của chính mình. Để cha biết cha đã từng là ai. Để cha thấy mình tuyệt vời thế nào khi cha vẫn còn là cha.”

Tôi hoàn toàn gục ngã. Tôi nắm lấy tay con: — “Con không cần phải làm thế. Con còn trẻ, tương lai còn ở phía trước. Con phải ra ngoài, yêu đương, sống cuộc đời của mình… Con không cần phải ở đây để chôn vùi tuổi xuân chăm sóc cha.”

Con bé nổi giận. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó giận dữ như vậy kể từ khi tôi đổ bệnh: — “Cha à, khi mẹ bỏ đi, cha hoàn toàn có thể gửi con cho mẹ. Cha có thể làm lại cuộc đời mà không có một đứa trẻ vướng chân. Nhưng cha đã không làm thế.” Giọng con bé nghẹn lại: — “Cha đã ở lại với con. Cha làm việc gấp đôi để con không thiếu thốn thứ gì. Cha vừa là mẹ, vừa là cha. Cha có mặt trong mọi buổi lễ tốt nghiệp, mọi buổi hòa nhạc, mọi sự kiện của đời con. Chưa bao giờ, CHƯA BAO GIỜ cha để con cảm thấy mình là gánh nặng.”

Nước mắt giàn dụa trên mặt con: — “Bây giờ đến lượt con, cha ạ. Cha đã bảo vệ con khi con yếu ớt. Con sẽ bảo vệ cha khi cha không còn tự chủ được nữa. Vì đó mới là gia đình. Đó là những gì cha đã dạy con.”

Chúng tôi ôm nhau khóc. — “Con sẽ không hối hận chứ con gái? Kể cả khi cha không biết con là ai?” — “Không bao giờ cha ạ. Bởi vì ngay cả khi cha không nhớ con là ai, thì CON vẫn luôn biết cha là ai. Cha là người hùng của con. Và người ta không bao giờ bỏ rơi người hùng của mình.”

Tôi không biết mình còn bao nhiêu thời gian trước khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Nhưng tôi biết rằng, khi ngày đó đến, tôi sẽ không cô đơn. Tôi có Carolina. Con bé sẽ nhắc cho tôi nhớ tôi là ai. Con bé sẽ đọc cho tôi nghe câu chuyện đời mình. Con bé sẽ yêu tôi ngay cả khi tôi không còn nhớ nổi tên con.

Điều đó cho tôi sự bình yên.

Sáng nay thức dậy, trong giây lát tôi không nhớ nổi hôm nay là thứ mấy. Nhưng tôi nhìn thấy cuốn sổ trên bàn cạnh giường. Tôi mở trang đầu tiên ra, Carolina đã viết những dòng chữ lớn: “CHA LÀ EDUARDO. CHA CÓ MỘT ĐỨA CON GÁI YÊU CHA BẰNG CẢ TRÁI TIM. MỌI CHUYỆN SẼ ỔN THÔI.”

Alzheimer có thể đánh cắp ký ức của tôi. Nó sẽ tắt dần tâm trí tôi. Nó sẽ lấy đi tất cả. Nhưng có một thứ nó không bao giờ lấy đi được: đó là tình yêu. Tình yêu vẫn ở đó. Nó mạnh mẽ hơn bất kỳ căn bệnh nào.

TG Văn Chương


 

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay.

Make Christianity Great As Always

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay. Một số trường Đại học Mỹ đang chứng kiến nhiều sinh viên trẻ quyết định trở thành con Chúa sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng về Đức Tin Công giáo. Mong sao các bạn luôn trung tín với con đường mình đã chọn (Theo St. Isidore’s Catholic Student Center – Trung tâm Mục vụ Sinh viên của trường)

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.


 

ĐỂ THẤT BẠI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”.

“Điều Thiên Chúa chữa lành – khi chúng ta thất vọng – là bảo đảm rằng mục đích của Ngài không thể thất bại!” – A. W. Pink.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu khá lặng, “Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”. Không điều kiện, chỉ một lời gọi và các ông bước tới. Ngài biết những con người này – rồi đây – sẽ tan tác, và Ngài sẽ bị họ bỏ rơi. Có thể nói, Ngài gọi họ… ‘để thất bại!’.

Trong đời sống đức tin, chúng ta mong một ơn gọi luôn ổn định, được ghi nhận, được bảo đảm. Muốn trung thành, nhưng chúng ta cũng muốn an toàn; sẵn sàng theo Chúa, miễn là con đường ấy đừng quá chông chênh, đừng đòi trả giá quá nhiều. Nhưng sự thật lại khác! Nhiều lúc, Chúa không gọi chúng ta để thành công, mà gọi bạn và tôi ‘để thất bại’, hầu mọi chỗ dựa quen thuộc lần lượt rơi khỏi tay, và mỗi người đứng trơ trọi trước một chọn lựa: tôi yêu Chúa vì Chúa, hay chỉ vì những gì Ngài từng ban? “Thất bại là một phần môi trường của Thiên Chúa để hình thành nhân cách chúng ta!” – Erwin McManus.

Chính trong những thất bại ấy, Thiên Chúa gỡ từng chiếc mặt nạ, để mỗi người gặp lại sự thật đáng thương của mình – yếu hơn, ít trung tín hơn, và ít quảng đại hơn chúng ta vẫn tưởng. Vậy mà đó cũng là thời điểm ơn gọi được tinh luyện! Không còn dựa vào hình ảnh tốt đẹp bản thân, chúng ta bám vào lòng thương xót Chúa; không còn tự tin vào sức riêng, chúng ta hiểu thế nào là cần đến ân sủng; và không còn đủ kiêu hãnh để đứng một mình, chúng ta học quỳ xuống. Có những lúc, Chúa để chúng ta thất bại trong cả những điều thánh nhất, để hiểu rằng, ơn cứu độ không đi qua sức riêng, mà đi qua sự tự hiến của Đức Kitô trong mỗi người.

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Với con mắt thế gian, cuộc đời Ngài kết thúc trong thất bại; nhưng chính ở đó, Chúa Cha hoàn tất công trình cứu độ. Con đường cứu thế không hề dễ, nhưng đi qua lối tự hiến đến cùng. Có thể nói, Chúa Cha đã để Con Một Ngài học bài học đầu tiên – đến ‘để thất bại’ – nhưng từ trong thất bại ấy, sự sống mới được sinh ra. “Nhìn ra ngoài, con xao động; nhìn vào trong, con đau buồn; nhìn lên Chúa Giêsu, con an nghỉ!” – Corrie Ten Boom.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô, chúng ta hiểu, những đổ vỡ của mình không nằm ngoài nhịp sóng của Ngài. Khi thấy mình thua cuộc, bất thành, bất lực trước những yếu đuối lặp đi lặp lại, rất có thể, bạn và tôi đang được mời gọi đi vào cùng một mầu nhiệm mà Chúa Kitô đã đi – mầu nhiệm của một tình yêu không bỏ cuộc, cả khi mọi sự xem ra đã mất. Vì thế, điều đáng sợ không phải là thất bại, mà là khép lòng trong thất bại; không phải là ngã, mà là không còn tin mình vẫn được gọi, được yêu, và vẫn được dắt đi cả trên những đoạn đường tối nhất. “Chúa Giêsu không đến để biến người xấu thành tốt; nhưng để biến kẻ chết thành người sống!” – Ravi Zacharias.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những tan tác, cho con tin: chương trình Chúa vẫn lớn lên; giữa bao đổ vỡ, mầm sống Ngài gieo vẫn trổ sinh. Giữ con ở lại trên con đường chưa xong ấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su gọi những kẻ Người muốn, để các ông ở với Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su lên núi và gọi những kẻ Người muốn. Các ông đến với Người. 14 Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng, 15 với quyền trừ quỷ. 16 Người lập Nhóm Mười Hai gồm có : ông Si-môn -Người đặt tên là Phê-rô-, 17 ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi-, 18 rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, 19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.