Pakistan không kích vào thủ đô của Afghanistan, hơn 400 người chết

Ba’o Nguoi-Viet

March 17, 2026

KABUL, Afghanistan (NV) – Giới chức Taliban ở Afghanistan cho biết Pakistan đã không kích vào một bệnh viện cai nghiện ma túy ở Kabul khiến hơn 400 người thiệt mạng và 250 người khác bị thương, theo CBS hôm Thứ Ba, 18 Tháng Ba.

Vụ không kích xảy ra vào khoảng 9 giờ tối Thứ Hai, theo giới chức Taliban.

Nhân viên an ninh Taliban khiêng thi thể tại bệnh viện cai nghiện ở Kabul sau cuộc không kích của Pakistan hôm 16 Tháng Ba. (Hình: Wakil Kohsar / AFP via Getty Images)

“Chính quyền quân sự Pakistan đã ném bom một cơ sở cai nghiện ma túy 2,000 giường có tên là ‘Omid’. Phần lớn cơ sở đã bị phá hủy,” ông  Hamdullah Firtat, phát ngôn viên của Taliban, cho biết trên X.

“Thật không may, số người tử vong cho đến nay đã lên tới 400 người, và có tới 250 người khác bị thương.”

Ông Sharafat Zaman, phát ngôn viên của Bộ Y Tế Công Cộng Taliban, nói với CBS News rằng số người chết có thể tăng lên khi lực lượng cứu hộ vẫn đang tiếp tục kéo các thi thể ra khỏi đống đổ nát.

Các video được Taliban chia sẻ với CBS cho thấy bệnh viện cai nghiện bốc cháy khi lính cứu hỏa và các đội cứu hộ cố gắng dập lửa và khiêng những người chết và bị thương trên cáng ra ngoài.

Pakistan phủ nhận cáo buộc của Taliban, cho rằng họ đó là “tuyên bố sai sự thật.” Họ nói rằng “các vụ nổ tiếp theo có thể được nhìn thấy cho thấy rõ ràng ở nơi đó có các kho đạn dược lớn”.

Phía Pakistan cho biết họ thực hiện “không kích chính xác” nhắm vào các cơ sở quân sự của Taliban ở các tỉnh Kabul và Nangarhar.

“Cơ sở hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật và các cơ sở lưu trữ đạn dược tại hai địa điểm ở Kabul đã bị phá hủy trên thực tế,” ông Attaullah Tarar, bộ trưởng Thông Tin Và Phát Thanh Truyền Hình Pakistan, cho biết trên mạng xã hội.

Các cuộc không kích này diễn ra sau nhiều xung đột biên giới dữ dội giữa Afghanistan và Pakistan vốn bùng phát hồi cuối Tháng Hai.

Pakistan nói rằng họ đang trong “tình trạng chiến tranh công khai” với Afghanistan và nhắm vào “các nhóm khủng bố”. (NNL) [kn]


 

Tòa ra lệnh 1,000 nhân viên VOA quay lại làm việc

Ba’o Nguoi-Viet

March 18, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh án liên bang vào chiều Thứ Ba 17 Tháng Ba đã ra lệnh cơ quan chủ quản của đài Voice of America (VOA) phải cho 1.042 nhân viên toàn thời gian của đài, những người trước đó bị buộc nghỉ phép, quay trở lại làm việc trước ngày 23 Tháng Ba và đồng thời tái tục hoạt động phát sóng của đài, theo New York Times loan tin.

Bảng hiệu đài VOA trước trụ sở đài này ở Washington, DC. (Hình: Alex Wong/Getty Images)

Trong phán quyết đưa ra, ông Royce C. Lamberth, chánh án liên bang ở Washington, DC, tuyên bố những nỗ lực giải thể VOA của bà Kari Lake, lãnh đạo Cơ Quan Truyền Thông Toàn Cầu Hoa Kỳ (USAGM) là “độc đoán và tùy tiện.” Ông Lamberth nói rằng bà đã không thông qua ý của Quốc Hội khi phân bổ ngân sách cho cơ quan này cũng như mạng lưới truyền thông USAGM, không cân nhắc những hệ quả có thể xảy ra từ việc đóng cửa tổ chức này.

NPR trích lời giám đốc VOA, ông Michael Abramowitz, phát biểu sau khi phán quyết được công bố:

“Chúng tôi vô cùng vui mừng trước phán quyết của Chánh Án Lamberth và mong sớm được trở lại làm việc. VOA chưa bao giờ trở nên cần thiết hơn lúc này.”

Bà Kari Lake và cả người phát ngôn của cơ quan đều chưa phản hồi ngay lập tức trước yêu cầu bình luận từ NPR. Trước đây, bà Lake từng tuyên bố sẽ kháng cáo các phán quyết của Chánh Án Lamberth, đồng thời cáo buộc vị chánh án này là một nhà hoạt động đang thực hiện việc lập pháp ngay trên ghế xét xử.

VOA, còn được biết là Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, được thành lập vào thời điểm khởi đầu Đệ Nhị Thế Chiến nhằm đối trọng với các hoạt động tuyên truyền của Đức Quốc Xã tại những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Nhằm tạo dựng mạnh mẽ uy tín trung thực, đài VOA đã đưa tin về cả những thất bại lẫn các chiến thắng của phe đồng minh.

Khi Chiến Tranh Lạnh trỗi dậy từ đống tro tàn của cuộc chiến, Hoa Kỳ đã mở rộng quy mô VOA như một công cụ “quyền lực mềm,” cung cấp thông tin cho những quốc gia nơi báo chí tự do bị ngăn chặn, bị đe dọa hoặc không đủ điều kiện tài chính để tồn tại. Đài cũng đóng vai trò như một hình mẫu minh họa cho diện mạo của báo chí trong một nền dân chủ đa nguyên – một nền báo chí sẵn sàng phản ánh cả những tin tức bất lợi cũng như các quan điểm bất đồng.

Theo các hồ sơ tòa án do NPR tường trình, trước đợt cải tổ dưới thời bà Lake, đài VOA tiếp cận 361 triệu thính giả mỗi tuần thông qua 49 dịch vụ ngôn ngữ khác nhau tại hơn 100 quốc gia. Cơ quan này cho biết, tính đến đầu năm nay, con số đó đã sụt giảm xuống chỉ còn sáu dịch vụ ngôn ngữ.

Bà Kari Lake bước vào Tòa Bạch Ốc với bản lý lịch bao gồm kinh nghiệm làm người dẫn chương trình tin tức truyền hình địa phương, hai lần thất bại khi tranh cử vào các chức vụ cấp tiểu bang tại Arizona và với tư cách là một người ủng hộ Tổng Thống Trump một cách nhiệt thành.

Theo NPR, khi được ông Trump chọn là người đứng đầu USAGM, bà Lake đã bộc lộ ý định duy trì sự tồn tại của đài VOA, nhưng lại định hình đài này theo một hình ảnh mang đậm phong cách của Tổng Thống Trump hơn. Năm ngoái, bà đã hủy bỏ các hợp đồng với hai hãng tin Reuters và Associated Press, đồng thời ký thỏa thuận với mạng lưới tin tức cực hữu One America News Network để phát sóng miễn phí các bản tin của họ.

Tháng trước, ông Royce C. Lamberth đã phán quyết rằng bà Kari Lake không có quyền làm những việc bà đã làm để dẹp bỏ hầu như toàn bộ đài VOA. Dù được Tổng Thống Trump giao phụ trách USAGM, nhưng từ đó tới nay, bà Lake vẫn chưa được Thượng Viện chuẩn thuận nên Chánh Án Lamberth xác định bà không có thẩm quyền lãnh đạo USAGM.Do đó, tất cả hành động của bà kể từ khi gia nhập cơ quan này với tư cách là cố vấn cấp cao đều bị coi là vô hiệu.

Chánh Án Lamberth đưa ra phán quyết này trong vụ kiện của ba nhân viên đài VOA, gồm bà Patsy Widakuswara, bà Kate Neeper và bà Jessica Jerreat. Ba người này nằm trong số nhân viên VOA bị bà Lake sa thải.

CNN trích lời ba nhân viên này trong một tuyên bố chung rằng họ “rất mong muốn bắt tay vào khắc phục những tổn hại mà Kari Lake đã gây ra cho cơ quan cũng như các đồng nghiệp của chúng tôi; trở lại thực hiện sứ mệnh theo ủy nhiệm của Quốc Hội; và gây dựng lại niềm tin nơi độc giả toàn cầu – những người mà chúng tôi đã không thể phục vụ trong suốt một năm qua.”

“Chúng tôi hiểu rằng chặng đường khôi phục hoạt động và uy tín của VOA sẽ còn dài và đầy gian nan,” các nhân viên chia sẻ, vẫn theo CNN. “Chúng tôi hy vọng rằng người dân Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ sứ ​​mệnh của chúng tôi: làm báo chí chân chính, chứ không phải tuyên truyền.” (K.L)


 

SỐNG MÙA CHAY VỚI THÁNH GIUSE – Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Hàng năm, khi Hội Thánh cử hành mùa Chay, thì cũng là dịp Hội Thánh kính nhớ thánh Giuse, một sự trùng khớp mang nhiều ý nghĩa.  Bởi đối với tôi, trong khi sống mùa Chay, tôi thường suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse, từ đó rút ra những bài học nhân đức cần thiết, giúp mình sống mùa Chay tích cực hơn.

 Bởi thánh Giuse là đối tượng suy niệm trong mùa Chay, vì thế, tôi thấy việc sống mùa Chay của tôi cụ thể hơn, nhờ nhìn ngắm gương sống động nơi một con người hoàn toàn là người như tôi, nhưng lại vô cùng hoàn hảo.  Với một tấm gương cụ thể và sống động hoàn hảo như thế, sẽ mang lại trong tôi nhiều biến đổi, tạo cho tôi nhiều hiệu quả tích cực là bình an, hăng say dấn thân, chu toàn nhiệm vụ rao giảng trong vui tươi.  Nhất là tôi tự thấy mình giống thánh Giuse hơn.

 Hội Thánh thường xuyên đề nghị chúng ta tinh thần ăn chay và sống mùa Chay bằng cầu nguyện, sống bác ái.  Để sống những hành động mà Hội Thánh dạy, mùa Chay năm nay, tôi tiếp tục suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse.  Tôi thấy thánh Giuse rất vui lòng đồng hành với tôi.  Người thương tôi, cầu ngyện cho tôi, nâng đỡ tôi và sẵn sàng lôi cuốn tôi đi cùng Người hướng về Chúa.  Những nhân đức của thánh Giuse mà tôi suy niệm trong mùa Chay năm nay cũng chỉ là những điều mà Hội Thánh tuyên dương nơi thánh Giuse từ ngàn xưa.

 Cùng Hội Thánh, tôi nhìn ngắm thánh Giuse nơi đoạn Tin Mừng kể lại việc thánh Giuse nhận lời truyền tin của thiên thần Chúa: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse.  Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: ‘Này ông Giuse, là con cháu Đavid, đừng ngại đón Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.  Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà…” (Mt 1, 18-25).

 1.Thánh Giuse dạy tôi biết cầu nguyện

 Kinh nghiệm của Hội Thánh từ xưa tới nay cho thấy, những vị thánh có đời sống thần bí, thường được Chúa mạc khải qua thị kiến, đều là những vị thánh sống đời chiêm niệm, gặp gỡ Chúa hết sức thân mật trong sự cầu nguyện. 

Chỉ nguyên việc thánh Giuse được truyền tin và nhiều lần khác được báo mộng, cho phép chúng ta khẳng định rằng, thánh nhân có một đời sống cầu nguyện lớn không thể tả.  Thánh nhân có thể đối thoại với Chúa, lãnh hội ý Chúa trong sự chiêm ngắm nội tâm sâu lắng của mình. 

 Đặc biệt, nhiều lần Tin Mừng còn chứng minh thánh Giuse yêu chuộng sự thinh lặng.  Trong lúc thiên thần truyền tin, được giải thích cho biết Đức Maria mang thai là do ý muốn của Thiên Chúa và ơn Chúa Thánh Thần, thánh Giuse đã thinh lặng, đón nhận thánh ý của Thiên Chúa.  Thánh Giuse tin tưởng, phó thác và xin vâng để Chúa dẫn dắt mình đi vào quỹ đạo tình yêu và chương trình cứu độ của Chúa, Từ nay, Người đón nhận Mẹ Thiên Chúa làm bạn, Chúa Giêsu làm con của mình.  Để có được một nội tâm thinh lặng, hoàn toàn không gợn, thậm chí không một chút ảnh hưởng bởi những làn sóng xuôi ngược của cuộc đời, thánh Giuse phải là con người của sự gặp gỡ Thiên Chúa hết sức thường xuyên, thân mật và trưởng thành.  Đó chính là đời sống cầu nguyện của thánh Giuse.  Bởi chỉ có những ai ham thích cầu nguyện, và không ngừng cầu nguyện, người đó mới có thể thấy, nhận ra thánh ý Chúa toàn vẹn trong sâu kín của tâm hồn mình. 

Sống mùa chay, học lấy tinh thần cầu nguyện của thánh Giuse, chúng ta hãy đi vào thinh lặng để khám phá nội tâm của mình.  Có như thế, chúng ta mới có thể gặp Chúa, lắng nghe tiếng Chúa nói.  Có như thế, chúng ta mới thực sự nhận chân con người của mình: mình đã sống thế nào?  Đã làm hay không làm sự lành hoặc sự xấu nào?  Mình đã yêu Chúa, yêu anh em đến mức độ nào?  Chỉ có thinh lặng nội tâm, cầu nguyện, gặp gỡ Chúa và khám phá chính mình, chúng ta mới mong thực sự sống mùa Chay bằng sự biến đổi chính mình cách hiệu quả nhất, để được trở nên giống Chúa Kitô, nhờ noi gương thánh Giuse. 

2.Thánh Giuse dạy tôi sống bác ái 

Ngày nhận lãnh Đức Maria về nhà mình, phát hiện Đức Maria đã mang thai “ngoài ý muốn,” theo luật Do Thái, thánh Giuse có quyền tố giác, buộc Đức Maria phải chịu tội vì đã mang thai – một bào thai, cứ nhìn theo phương diện loài người, rõ ràng, vô thừa nhận.  Nhưng “người công chính” Giuse đã không làm điều đó, lại chỉ muốn kín đáo ra đi. 

Tôi nhận ra, hành động, cách xử sự của thánh Giuse hoàn toàn là hành động của một người đầy lòng yêu thương.  Chính tình yêu đã nung đốt nơi tâm hồn thánh Giuse nghĩa cử bác ái cao thượng: bỏ qua “tội” quá rõ ràng của Đức Maria.  Chính thánh Giuse đã sống bác ái, vì thế, tâm hồn bác ái ấy làm cho thánh Giuse vượt qua và vượt trên lề luật, điều mà không phải bất cứ ai trong thời thánh nhân có thể có được.  Bởi người ta giữ luật nghiêm nhặt.  Và luật tôn giáo trở thành đời sống tinh thần của con người như máu, như huyết chảy trong lồng ngực.  Nó thấm vào tim óc.  Nó điều khiển mọi hành vi.  Nó chi phối cả đời sống xã hội lẫn cá nhân.  Bởi đó, phải có một trái tim chan chứa yêu thương và bác ái đến vô cùng, mới có thể có hành động, cách cư xử thoát luật cách hết sức tuyệt vời như thánh Giuse. 

Sống mùa Chay, Hội Thánh đề cao tinh thần tương trợ, chia sẻ cho nhau.  Bác ái mà Hội Thánh đề nghị không chỉ là lãnh vực vật chất, của cải, mà còn là tương trợ trong tình hiệp nhất, cảm thông, lắng nghe, quan tâm, tìm nâng cao giá trị nhân bản, nhân phẩm và đời sống toàn diện của con người… 

Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong sứ điệp mùa Chay 2006 đã đòi hỏi như thế: “Nếu chúng ta cổ võ sự phát triển cho đầy đủ, “cái nhìn” của chúng ta trên nhân loại phải được đo lường theo cái nhìn của Chúa Kitô.  Trên thực tế, điều hoàn toàn không được làm, là phân tách sự đáp ứng cho những nhu cầu vật chất và xã hội của dân chúng khỏi sự hoàn thành những ước muốn sâu sắc của lòng họ… Vì lẽ này, sự đóng góp hàng đầu mà Hội Thánh cống hiến cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không chỉ chú trọng tới những phương tiện vật chất hay là những giải pháp kỹ thuật.  Nói đúng hơn, sự đóng góp đó bao hàm sự công bố chân lý về Chúa Kitô, Đấng giáo dục các lương tâm và dạy dỗ phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là cổ võ một nền văn hóa thật sự đáp ứng với tất cả những vấn đề của nhân loại…”.    

Như vậy, hiểu được căn tính đích thực của hành vi bác ái là đề cao giá trị con người, thì việc làm bác ái của mỗi người được đòi phải chia sẻ thật lòng bằng cả tâm tư, bằng những nội lực lắng sâu, xuất phát tận trái tim của tâm hồn.  Bác ái ấy đòi ta chấp nhận hao mòn, chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hy sinh bằng tất cả thời gian, sức lực, suy tư, cả đến những mất mát, những gian nan…  Như cây nến, một khi chấp nhận thắp sáng, tỏa sức nóng, sẽ tan dần.  Lòng bác ái đích thực, sẽ làm cho chúng ta bị đánh mất, bị tan chảy thực sự.  Để trang bị cho mình một tâm hồn yêu thương và bác ái, giúp mình sống mùa Chay, ở mức độ cao như thế, ta hãy đến cùng thánh Giuse.  Nơi thánh Giuse, ta học bài học của tình yêu, bác ái và hy sinh lớn lao. 

Thú thực, dù luôn tự nhủ rằng, mình cần phải học và chiêm ngắm gương của thánh Giuse để sống mùa Chay, nhưng thực tế, bản thân tôi còn phải cố gắng nhiều.  Tôi rất mong ước trở nên như thánh Giuse. Nhưng giữa sự mong ước và nỗ lực của tôi vẫn còn một khoảng cách mà chính tôi phải cố gắng hơn nữa.  Mùa Chay đã đi gần một phần ba đoạn đường.  Hôm nay, chuẩn bị mừng lễ thánh Giuse, có dịp định tâm lại, đồng thời có dịp học tập gương thánh Giuse, tôi mới hoảng hốt giật mình vì mình còn xa cách ý Chúa muốn quá.  Tôi thành tâm xin Chúa tha thứ cho tôi.  Đồng thời xin Người dạy tôi, ban ơn cho tôi để tôi hoàn thành tốt hơn việc sống mùa chay ở giai đoạn còn lại.  Tôi cũng tha thiết nài xin thánh Giuse, Đấng bảo trợ Con Thiên Chúa làm người, hãy cầu bàu cho tôi, phù giúp tôi sống mùa Chay, nhất là giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ làm Con Thiên Chúa của chính tôi.

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

From: Langthangchieutim


 

Tuổi già đến một cách âm thầm

Bang Uong

Tuổi già đến một cách âm thầm

Posted on 7 Tháng Ba 2026 by banmaihong

Ba tôi có một nguyên tắc, giữ hơn năm mươi năm nay rồi:

“Ai đang làm việc thì đừng làm phiền họ.”

Ít nhất… là cho đến hai tuần trước.

Tôi tên Julien, 46 tuổi, làm nghề đo đạc công trình. Ngày nào cũng chạy như con thoi: công trường, cuộc hẹn, kẹt xe, hết chỗ này tới chỗ kia.

Sáng hôm đó, điện thoại tôi rung.

Màn hình hiện: Papa.

Ba tôi là kiểu người của thời xưa. Ông từng làm thợ hồ. Bàn tay to, chai cứng, đầy vết nứt của xi măng, vôi vữa và những năm tháng làm việc cực nhọc. Với ông, nhờ ai giúp đỡ luôn là một điều gì đó… giống như thua cuộc.

Tôi bắt máy ngay.

— “Ba hả? Ba có sao không?”

Im lặng. Một khoảng im lặng nặng nề. Rồi ông nói, giọng nhỏ hơn bình thường:

— “Julien… ba xin lỗi vì làm phiền. Cái lò sưởi… nó hết nhiên liệu rồi. Ba không nhấc nổi cái bao để đổ vào.”

Một bao nhiên liệu nặng khoảng 15 ký.

Với người đàn ông từng vác hai bao xi măng trên vai cùng lúc, thì 15 ký… lẽ ra chẳng là gì.

Tôi nói:

— “Ba đợi đó, con tới liền.”

— “Không cần đâu. Con làm việc đi.”

— “Con tới liền.”

Tôi đi ngay lập tức. Khi bước vào nhà, tôi thấy lạnh. Cái lò sưởi tắt ngấm.

Bên cạnh là cái bao mở dở, hạt nhiên liệu rơi vãi trên sàn.

Ba tôi nói nhỏ:

— “Ba thử ba lần rồi.”

Ông nhìn đôi tay mình.

— “Ba nhấc lên… nhưng tay ba run.”

Ông đưa tay lau mặt.

— “Thật vô lý… Cả đời ba xây nhà cho người ta. Mà giờ thua một cái bao nhựa.”

Trong mắt ông không phải là buồn.

Mà là giận. Cái giận của một người nhận ra thời gian đang lấy dần sức lực của mình… từng chút một.

Phản xạ đầu tiên của tôi là nói:

— “Để con làm cho.”

Nhưng rồi tôi chợt hiểu… nếu tôi làm hết, thì chẳng khác nào xác nhận nỗi sợ của ông.

Tôi cởi áo khoác.

— “Ba còn nhớ hồi hai cha con mình sửa mái garage không? Lúc đó con không giữ nổi cái xà. Ba nói với con: ‘Không phải lúc nào cũng cần mạnh. Chỉ cần có người cùng làm.’”

Tôi cúi xuống cái bao.

— “Hai cha con mình làm chung.”

Ông đứng im vài giây. Rồi ông bước lại. Ông đặt tay lên cái bao.

Tôi đỡ phía dưới.

— “Một… hai… ba.”

Hai cha con cùng nhấc.

Cái bao trượt vào lò Ngọn lửa cháy lại. Hơi ấm từ từ lan ra khắp phòng.

Ông không ôm tôi.Ông không phải kiểu người như vậy.

Nhưng ông vỗ nhẹ vào lưng tôi.

— “Ba mừng vì con tới.”

— “Con cũng vậy, ba.”

Hai cha con ngồi uống cà phê trong bếp.

Nói chuyện bóng đá. Nói chuyện thời tiết. Nói những chuyện bình thường.

Những chuyện thật ra… rất quan trọng.

Trước khi tôi về, ông đưa tôi một hũ nước sốt ông tự làm.

— “Đem về cho tụi nhỏ.”

Đó là cách ông nói: Ba thương con.

Trên đường về, tôi chợt hiểu một điều.

Cha mẹ mình không già đi trong một ngày.

Họ già đi… âm thầm.

Từng chút một.

Một túi đồ trở nên quá nặng. Một cái nắp không mở nổi.

Một cái bao không nhấc lên được nữa.

Họ không muốn nhờ mình. Không phải vì họ không cần.

Mà vì họ sợ trở thành gánh nặng.

Nên nếu một ngày nào đó, họ gọi bạn chỉ vì một chuyện nhỏ xíu…

Một cái bóng đèn. Một cái remote. Một cái lò sưởi.

Hãy đi.

Không phải vì cái bóng đèn.

Không phải vì cái lò sưởi.

Mà vì họ cần bạn. Khi căn bếp vẫn còn sáng đèn.

Khi tiếng cà phê vẫn còn sôi trên bếp.

Khi vẫn còn người nói với bạn:

“Lái xe cẩn thận nha con.”

Vì sẽ có một ngày…

Điện thoại sẽ chẳng reo nữa.

Và ngày đó, Bạn sẽ đánh đổi mọi thứ

Chỉ để được nghe lại cuộc gọi ấy  Thêm một lần.


 

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Trong truyền thống Công giáo, Cotignac bên nước Pháp thường được nhắc đến như trường hợp hiện ra công khai duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách đặc biệt. Biến cố này gắn với đền thánh Thánh Giuse tại Bessillon, gần làng Cotignac, thuộc miền Provence ở Pháp. Trang chính thức của đền thánh xác nhận nơi đây kính nhớ cuộc hiện ra của Thánh Giuse vào ngày 7 tháng 6 năm 1660.

Cũng cần nói thêm một chi tiết quan trọng để tránh nhầm lẫn: nếu nhắc đến 150 năm ngày chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Giáo hội hoàn vũ, thì mốc ấy là năm 2020, chứ không phải năm 2021, vì sắc lệnh Quemadmodum Deus được ban hành ngày 8 tháng 12 năm 1870. Chính Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse từ 8.12.2020 đến 8.12.2021 để kỷ niệm biến cố ấy.

Biến cố tại Cotignac xảy ra cách đây hơn ba thế kỷ rưỡi. Hôm ấy, vào ngày 7 tháng 6 năm 1660, một người chăn chiên trẻ tên là Gaspard Ricard đang chăn đàn vật trên sườn núi Bessillon, cách làng Cotignac không xa. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, anh khát khô cổ và kiệt sức. Theo truyền thuật được lưu giữ tại nơi hành hương, một người đàn ông cao lớn bất ngờ hiện ra, chỉ vào một tảng đá và nói với anh: “Ta là Giuse; hãy nhấc tảng đá ấy lên, rồi con sẽ uống nước.” Sự kiện này được các nguồn về Cotignac lặp lại với cùng các yếu tố chính: tên thị nhân là Gaspard Ricard, ngày xảy ra là 7.6.1660, và dấu lạ gắn với mạch nước phát sinh từ dưới tảng đá.

Điều làm người ta kinh ngạc là tảng đá ấy rất nặng, bình thường không thể một mình di chuyển được. Thế nhưng, sau lời của Thánh Giuse, người chăn chiên đã nhấc được tảng đá và uống nước từ một dòng suối trong lành bỗng xuất hiện. Từ đó, mạch nước này trở thành dấu chỉ gắn liền với đền thánh Thánh Giuse ở Bessillon, và nơi đây dần trở thành điểm hành hương của rất nhiều tín hữu. Chính trang chính thức của khu đền thánh tại Cotignac vẫn giới thiệu nơi này như địa điểm tưởng niệm cuộc hiện ra của Thánh Giuse ngày 7.6.1660.

Điểm đặc biệt của biến cố Cotignac là: trong các sách Tin Mừng, Thánh Giuse không để lại một lời nói nào. Ngài hiện diện âm thầm, vâng phục, công chính, bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu bằng hành động hơn là bằng ngôn từ. Bởi thế, trong lòng đạo bình dân, lời nói gắn với cuộc hiện ra ở Cotignac thường được nhắc đến với lòng xúc động sâu xa, vì đó là lời duy nhất được truyền thống gán cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse tại một nơi hành hương được Giáo hội tôn kính. Tuy nhiên, cần diễn đạt cẩn trọng: đây là lời của Thánh Giuse trong biến cố hiện ra tại Cotignac, chứ không phải “lời duy nhất của Thánh Giuse” theo nghĩa tuyệt đối của toàn bộ truyền thống Kitô giáo.

Sau biến cố năm 1660, tại nơi xuất hiện mạch nước, người ta đã dựng một nhà nguyện để kính Thánh Giuse, rồi sau đó hình thành một trung tâm hành hương. Theo các nguồn lịch sử của khu vực này, việc xây dựng nhà nguyện đầu tiên bắt đầu ngay trong năm 1660, công trình lớn hơn được khởi sự năm 1661 và được cung hiến năm 1663. Đến thời Cách mạng Pháp, nơi đây bị bỏ hoang và rơi vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài.

Về sau, đời sống cầu nguyện được phục hồi tại nơi đây. Lịch sử của tu viện Thánh Giuse ở Bessillon cho biết một cộng đoàn nữ đan sĩ Biển Đức từ Médéa, Algeria, đã đến tiếp quản nơi này vào năm 1975. Từ năm 2019, cộng đoàn Mater Dei tiếp tục hiện diện và phục vụ khách hành hương. Nhờ vậy, đền thánh lại trở thành nơi cầu nguyện sống động, đón tiếp nhiều tín hữu tìm đến bên “suối Thánh Giuse” để khẩn cầu, tạ ơn và kín múc bình an.

Ngày nay, Cotignac vẫn là một địa điểm hành hương rất được yêu mến tại Pháp. Không chỉ vì nơi đây gắn với cuộc hiện ra của Đức Mẹ năm 1519, mà còn vì cuộc hiện ra của Thánh Giuse năm 1660, làm cho Cotignac được nhìn như một miền đất đặc biệt của Thánh Gia. Trang chính thức của đền thánh Đức Mẹ ở Cotignac cũng giới thiệu nơi này như vùng đất được Thánh Gia tuyển chọn để ban nhiều ơn lành cho dân Chúa.

Nếu Cotignac là nơi tiêu biểu cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse, thì ở một châu lục khác, có một nơi đặc biệt tôn vinh quyền năng chuyển cầu của ngài, đó là Đền thánh Thánh Giuse trên núi Mont-Royal ở Montréal, Canada, thường được gọi là Saint Joseph’s Oratory. Nơi đây gắn liền với Thánh André Bessette, vị tu huynh khiêm nhường của Dòng Thánh Giá, người đã hết lòng cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse và trở nên nổi tiếng vì đời sống cầu nguyện đơn sơ mà đầy quyền năng. Chính trang chính thức của Đền thánh xác nhận ngài là vị sáng lập công trình này.

Thánh André Bessette luôn quy hướng mọi vinh quang về cho Thánh Giuse. Tinh thần của ngài là không nhận công cho riêng mình, nhưng chỉ xem mình như người đầy tớ nhỏ bé phục vụ công trình của Thiên Chúa. Nhờ chứng tá đó, lòng sùng kính Thánh Giuse lan rộng mạnh mẽ, và từ một nhà nguyện nhỏ, nơi đây dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng khắp thế giới. Công trình đầu tiên được làm phép vào ngày 19 tháng 10 năm 1904. Sau đó, một nhà thờ hầm có sức chứa khoảng 1.000 chỗ được hoàn tất năm 1917.

Phần Vương cung thánh đường lớn của Đền thánh được khánh thành vào ngày 19 tháng 3 năm 1955; còn toàn bộ công trình đồ sộ hoàn thành vào năm 1967. Theo dữ liệu chính thức của Đền thánh, lòng nhà thờ dài 105 mét, rộng 37 mét ở gian chính và 65 mét nơi hai cánh ngang, cao 60 mét ở nội thất và khoảng 97 mét ở phần ngoài của mái vòm. Sức chứa chỗ ngồi là hơn 2.000 người, trong khi tổng sức chứa tối đa lên tới khoảng 10.000 người.

Đây là một trong những đền thánh nổi tiếng nhất tại Canada, thu hút hơn 2 triệu khách hành hương và du khách mỗi năm. Nhiều người tìm đến không chỉ để chiêm ngắm một công trình kiến trúc lớn lao, nhưng còn để cảm nhận bầu khí thinh lặng, cầu nguyện và đức tin mà Thánh André Bessette đã gieo vào nơi ấy bằng chính cuộc sống nghèo hèn và phó thác của mình.

Khi Thánh André Bessette qua đời năm 1937, lòng kính mến của dân Chúa dành cho ngài bộc lộ cách mạnh mẽ. Danh tiếng thánh thiện của ngài không phát xuất từ quyền lực hay học vấn, nhưng từ đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và lòng gắn bó đặc biệt với Thánh Giuse. Qua con người nhỏ bé ấy, thế giới nhận ra rằng Thánh Giuse không hề xa cách, nhưng vẫn luôn là người cha âm thầm bảo vệ, gìn giữ và chuyển cầu cho Hội Thánh.

Vì thế, khi nói về trường hợp hiện ra duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách nổi bật, người tín hữu thường nhớ đến Cotignac. Còn khi nói về nơi tôn vinh quyền năng chuyển cầu của Thánh Giuse cách hùng hồn nhất trong thời hiện đại, người ta nghĩ đến Đền thánh Thánh Giuse ở Montréal. Một nơi nhắc đến sự hiện ra, một nơi làm chứng cho sự chuyển cầu; cả hai đều dẫn chúng ta đến cùng một xác tín: Thánh Giuse vẫn luôn âm thầm hiện diện trong lịch sử cứu độ và trong đời sống của Giáo hội.

Lm. Anmai, CSsR


 

TRAO SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”.

“Cuộc sống con người là một tiến trình liên lỉ làm quen với những điều không ngờ! Điều không ngờ cuối đời… là đau đớn, thở gấp và đợi chết! Nhưng ở bất cứ giai đoạn nào, một cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi biết ‘trao sự sống’ và cứu sống!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với con người, Thiên Chúa không đi qua bất cứ giai đoạn nào: Ngài hằng hữu, hằng sống và đời đời. Lời Chúa hôm nay mặc khải một Thiên Chúa dịu dàng như mẹ, vững vàng như cha – Đấng ‘trao sự sống’ và cứu sống.

Isaia gợi lên hình ảnh một người mẹ không thể quên đứa con mình cưu mang: “Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”. Thế nhưng, giữa đời thường, không ít lần chúng ta chỉ muốn buông xuôi khi những nỗ lực không được ghi nhận, những hy sinh không ai hay biết, những cô đơn không gọi được tên. Vâng, con người có thể quên nhau, Thiên Chúa thì không. Ngài như một người mẹ đau đáu con mình – cụ thể, bền bỉ và không nguôi. Chính ký ức yêu thương ấy gìn giữ và nâng đỡ chúng ta từng ngày. “Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn mọi sự lãng quên của con người!” – Henri Nouwen.

Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định quyền năng ban sự sống của Ngài: “Người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”; “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây!”. Giờ của Ngài chính là ‘giờ sinh nở’ tử nạn và phục sinh; qua đó, Ngài ‘trao sự sống’ mới cho những ai tin. Vì thế, mọi môn đệ, trong mọi bậc sống, đều được mời gọi tiếp nối công việc của Ngài – ‘trao sự sống’ và cứu sống. Thánh Augustinô gọi đó là “cuộc trao đổi tuyệt vời”: chúng ta làm cho Ngài có thể chết; và Ngài làm cho chúng ta có thể sống!

Cuộc “trao đổi” ấy không dừng ở mầu nhiệm, nhưng chảy vào đời sống – nhận sự sống từ Ngài – chúng ta được mời gọi trao lại sự sống ấy cho anh chị em mình. “Giờ đây, Chúa Kitô không còn thân xác nào khác ngoài thân xác của bạn!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Mọi sự sống phát xuất từ Chúa Cha được trao ban nơi Chúa Con – Đấng hiến mình đến cùng. Trên thập giá, thân xác Ngài bị bẻ ra, máu Ngài đổ ra, để con người được sống. Và hôm nay, nơi Thánh Thể, Ngài vẫn tiếp tục trao ban – lặng lẽ, khiêm hạ, nhưng trọn vẹn. Cảm nghiệm tình yêu của Đấng hiến dâng mạng sống, chúng ta không được phép sống tầm thường. Hãy thôi sống lây lất, tiếc nuối ‘thuở lang thang’, thôi ‘sống qua ngày đợi qua đời’; nhưng tuỳ sức mình, chúng ta nỗ lực tái tạo tình yêu, niềm vui và bình an cho mình, cho người khác! Được như thế, bạn và tôi đang cùng Chúa ‘trao sự sống’ và cứu sống thế giới vậy! “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống trọn vẹn!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu là ai, sống đến mấy mươi, rồi con cũng chỉ thở gấp và đợi chết – cho con luôn là một ‘khí cụ’ trong tay Chúa để tiếp tục trao, tiếp tục cứu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần IV Mùa Chay

Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 5,17-30

17 Khi ấy, sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bát, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. 22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”


 

NƯỚC CỨU SỐNG- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”.

“Một phụ nữ cùng đứa con đi dạo dọc bờ sông. Đột nhiên đứa trẻ trượt xuống dòng nước. Cô hét lên. Cô không biết bơi. Sau cùng, có người lao xuống. Bi kịch là, khi lao xuống dòng nước đục, họ phát hiện đứa bé đã chết và nước chỉ ngang thắt lưng! Người mẹ lẽ ra có thể cứu con mình nhưng cô đã không làm được vì thiếu hiểu biết!” – Ray Comfort.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến một dòng nước cạn giết chết một đứa bé; nhưng nói đến một dòng nước sâu, ‘nước cứu sống’ muôn người!

Nước từ đền thờ thời Êzêkiel báo trước ‘nước ân sủng’ thời Giêsu. “Nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống” – bài đọc một. Tin Mừng Gioan kể rằng, bên hồ nước, một người bại liệt lay lắt 38 năm, tương đương 40 năm của Israel trong sa mạc. Và xem ra anh này cũng ‘lang thang’ trong sa mạc đời anh ngần ấy năm.

‘Lang thang!’ – một hành động mang tính biểu tượng cho sự ‘tê liệt’. Đó là hậu quả của tội lỗi. Khi phạm tội, chúng ta ‘tê liệt’ và ‘lang thang’ trong sa mạc đời mình. Tội lỗi có những hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta không thể đứng dậy và bước đi đúng hướng. Đặc biệt, tội trọng khiến tôi bất lực: biết điều đúng mà vẫn chần chừ, thấy điều phải mà vẫn không làm.

Chúa Giêsu tự nguyện đi đến với người bại liệt; và dù không được mời, Ngài bước vào sự cô lập của anh. Ngài thấy anh, biết hoàn cảnh và trực tiếp hỏi, “Anh có muốn được khỏi không?”. Anh không trả lời nhưng chỉ phàn nàn, “Khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ!”. Anh mắc bệnh bi quan, lười, phát ốm vì buồn! “Đúng, tôi muốn, nhưng!” – và anh đợi ở đó. Thế mà mấu chốt lại là cuộc gặp gỡ của anh với Chúa Giêsu; dẫu xem ra – rất “thiếu hiểu biết” – anh không cần Ngài, dường như anh vẫn tiếc nuối ‘thuở lang thang’. Và nhiều khi, người tiếc nuối thuở lang thang ấy lại chính là tôi.

Thật tuyệt vời! Chúa Giêsu đã chữa anh mà không cần dìm anh xuống hồ. Bêthesda có nghĩa là “Ngôi nhà của lòng thương xót”, “Ngôi nhà của ân sủng”. Người này cần lòng thương xót và ân sủng cả khi không ý thức. Và Chúa Giêsu không phải là dòng nước giết chết, nhưng là dòng ‘nước cứu sống’. “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi, nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”. Chúa Giêsu là dòng nước sâu, là đền thờ mới. Đỉnh cao của đền thờ là Canvê, nơi nước và máu của các Bí tích chảy ra từ cạnh sườn Ngài. Và cho đến ngày nay, dòng nước cứu độ ấy vẫn tiếp tục chảy, tiếp tục nuôi sống, tiếp tục rửa sạch mọi thương tích trong tâm hồn chúng ta. ‘Nước cứu sống’ ấy – chính Chúa Giêsu – tiếp tục đem lại hạnh phúc viên mãn cho con người ngay trong sa mạc khô khốc trần gian; Ngài đang nói với bạn và tôi, “Thôi! Đừng thiếu hiểu biết!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tiếc nuối thuở lang thang. Xin giải thoát con; dìm con vào lòng thương xót Chúa mà đừng thèm hỏi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay

Người ấy liền được khỏi bệnh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 5,1-3a.5-16

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. 3a Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : “Anh có muốn khỏi bệnh không ?” 7 Bệnh nhân đáp : “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !” 8 Đức Giê-su bảo : “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !” 9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh : “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng !” 11 Nhưng anh đáp : “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : ‘Anh hãy vác chõng mà đi !’” 12 Họ hỏi anh : “Ai là người đã bảo anh: ‘Vác chõng mà đi’ ?” 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói : “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước !” 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.


 

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá-Cha Vương

Buổi sáng tốt lành nhé. Mến chúc bạn và gia đình Tuần Thánh tràn đầy ân sủng với những khoảnh khắc gặp được Chúa và Mẹ trên đường tiến tới đồi Canvê. Bạn thân mến, vì tội lỗi của nhân loại mà Chúa có thể làm tất cả! Vì Con mà Mẹ cũng có thể làm tất cả! Luật tự nhiên, không có cha mẹ nào chuẩn bị cho cái chết của con mình. Riêng đối với người mẹ thì chẳng nỗi mất mát nào lớn cho bằng mất đi đứa con yêu quý của mình, thế mà Mẹ Maria vẫn một lòng một dạ “xin vâng” nhìn con mình bị đối xử như kẻ gian ác và bị đưa đến nơi hành hình. Thật là một nỗi đau xé lòng! Thiết tưởng rằng bạn cũng có một lần trải qua nỗi đau tương tự, chứng kiến người thân yêu của mình chút hơi thở hoặc thấy họ dằn vặt trong nỗi đau tinh thần… Dù đang trong hoàn cảnh nào đi nữa, bạn hãy nhớ lời Mẹ dạy 2 chữ “xin vâng” để hiệp thông với Mẹ, cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 16/3/2026  (n25-24)

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá—Quân lính đóng đinh tay chân Chúa Giêsu vào thập giá, chúng đâu ngờ chúng đang cùng một lúc đóng đinh vào trái tim Mẹ Người. Nơi đồi Canvê, Mẹ Maria đã cùng với Chúa Giêsu sát tế chính mình, làm của lễ dâng lên Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, xin mở mắt tâm hồn con, để con nhận ra tình yêu của Mẹ đã cùng hiệp thông với Chúa Giêsu cứu chuộc con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

*********************

Mẹ dưới chân thập giá | St: Lm Văn Chi | Tb: Anh Dũng

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News


 

Iran bắn 700 hỏa tiễn và 3,600 ‘drone’ vào mục tiêu Mỹ, Israel

Ba’o Nguoi-Viet

March 15, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Iran bắn khoảng 700 hỏa tiễn và 3,600 chiếc “drone” (máy bay điều khiển từ xa) vào mục tiêu Mỹ và Israel từ khi chiến tranh bùng nổ, phát ngôn viên Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC), lực lượng bán quân sự tinh nhuệ của Iran, tuyên bố hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, theo thông báo của IRGC trên Telegram, CNN đưa tin.

Thông báo của IRGC không nói rõ họ bắn số vũ khí đó lúc nào, mục tiêu ở đâu hay thiệt hại ra sao.

Một phụ nữ ngồi giữa căn nhà bị đổ nát của bà ở Tehran, Iran, hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, sau hai ngày căn nhà này bị không kích. (Hình: Majid Saeedi/Getty Images)

Cũng hôm Chủ Nhật, thông tấn xã bán chính thức Tasnim của Iran loan báo chiến dịch không kích của Mỹ và Israel từ khi cuộc chiến bắt đầu hôm 28 Tháng Hai tới nay làm hư hại hơn 54,000 căn nhà, cơ sở thương mại và cơ sở y tế.

Theo Tasnim, 29,146 căn nhà ở hàng loạt tỉnh bị hư hại, cùng với 6,851 cơ sở thương mại khắp Iran. Ở tỉnh Tehran, nơi có thủ đô Tehran, 18,180 căn nhà và cơ sở thương mại bị hư hại.

Tổng cộng 236 cơ sở y tế, như bệnh viện và tiệm thuốc tây, bị hư hại, theo Tasnim.

Cùng ngày, phát ngôn viên chính phủ Iran xác nhận chiến dịch không kích của Mỹ và Israel làm hư hại hơn 42,000 cơ sở dân sự khắp đất nước, gồm nhà cửa, trường học, bệnh viện, và làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, theo đài Al Jazeera.

Bộ Y Tế Iran công bố hơn 1,200 dân thường thiệt mạng và trên 10,000 người bị thương trong chiến dịch của Mỹ và Israel, theo đài NPR hôm Thứ Bảy. (Th.Long) [kn]


 

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”.

“Đức tin là không gian chúng ta tạo ra cho Thiên Chúa!” – Jonathan Sacks.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một người cha đã ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi đức tin mở ra, quyền năng Chúa Giêsu bước vào.

Người cha trong trình thuật thưa Chúa Giêsu, “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”; Chúa Giêsu đáp, “Ông cứ về đi, con ông sống!”. Ông xin Ngài xuống; Chúa Giêsu không xuống. Ngài chỉ nói một lời. Và chính lời đó làm nên phép lạ. Niềm tin của ông mở lối cho Ngài, và Ngài đã tạo nên một sự khác biệt – con ông sống! Con người sợ khoảng trống. Chúng ta thường vội vàng lấp đầy đời mình bằng kế hoạch, lo toan, tham vọng, và cả những bận rộn đạo đức. Khi mọi thứ đã chật kín như thế, Thiên Chúa khó tìm được một chỗ để bước vào. Vấn đề không phải Thiên Chúa vắng mặt; vấn đề là đời chúng ta quá đầy để Ngài hiện diện.

Đức tin không chỉ mở cửa cho quyền năng Thiên Chúa, mà còn đan dệt một mối tương quan yêu thương cá nhân giữa con người với Ngài. Khi “con ông sống”, người cha ấy hẳn đã xác tín: có một Đấng quyền năng tột bậc đang hành động, và Đấng ấy là Đấng yêu thương mình. “Quyền năng của Thiên Chúa không bao giờ tách rời khỏi tình yêu của Ngài!” – Jürgen Moltmann.

Thật thú vị, ‘kiến tạo không gian’ không chỉ là việc của con người, mà còn là việc của Thiên Chúa. “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới!”; “Ta sẽ tạo Giêrusalem nên nguồn hoan hỷ, nơi đây sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la!” – bài đọc một. Giêrusalem được biến đổi; và không chỉ Giêrusalem, bạn và tôi được biến đổi. Hội Thánh – Giêrusalem mới – được biến đổi; và Thiên Chúa vui thoả khi những ai Ngài yêu được biến đổi, “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Lời cầu của người cha thúc bách sự có mặt cấp thiết của Chúa Giêsu. Nhưng ông nào biết rằng thuộc tính của Ngài là hiện diện mọi lúc mọi nơi; không cần xuất hiện thể lý, Ngài hiện diện bằng Lời. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cần đến lòng tin của ông! Cần, vì lòng tin ấy mở đường cho quyền năng Ngài làm nên điều kỳ diệu. Chính lòng tin ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi khoảng trống ấy mở ra, quyền năng Ngài bước vào. “Đức tin không phải là một sức ép, mà là sự mở lòng để Thiên Chúa được là Thiên Chúa!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

‘Kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa là can đảm rút mình khỏi trung tâm để Thiên Chúa trở thành trung tâm. Nơi Chúa Kitô, Chúa Cha là trung tâm. Ngài mở một không gian cho Cha – không gian của thập giá – nơi lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Khi đức tin đồng nhịp với lòng thương xót – không chỉ của Thiên Chúa, mà còn của con người với nhau – sự hiện diện vô hình của Ngài trở thành quyền năng cứu độ giữa những đổ vỡ rất thật của đời người. Quả thế, “Lòng thương xót làm cho công trình vô hình của Thiên Chúa trở nên hữu hình giữa thế gian!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ khoảng trống, nên lấp đầy đời mình bằng những thứ chóng qua, và Chúa phải vô gia cư. Cho con can đảm dọn trống cõi lòng, để Chúa có một chỗ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay

Ông cứ về đi, con ông sống.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 4,43-54

43 Khi ấy, sau hai ngày lưu lại Sa-ma-ri, Đức Giê-su đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !” 49 Viên sĩ quan nói : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” 50 Đức Giê-su bảo : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.