AI THẤY – THẤY AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian!”.

“Đức tin là tin điều ta chưa thấy; phần thưởng của đức tin là được thấy điều ta tin!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ điều Gioan Tẩy Giả đã thấy, đã tin – Đức Giêsu Kitô là Chiên Thiên Chúa! Lời Chúa đặt cho chúng ta hai câu hỏi – ‘Ai thấy?’; bạn và tôi thấy và chỉ cho người khác thấy. ‘Thấy ai?’ – Thấy Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ.

Trước hết, ‘ai thấy?’. Gioan thấy khi người khác không thấy. Cùng một Giêsu, nhưng người thấy kẻ không – hoặc nhận ra, hoặc bỏ lỡ! “Điều thiết yếu thì mắt thường không thấy, chỉ trái tim mới có thể thấy đúng!” – Saint-Exupéry. Bạn và tôi có thấy Giêsu bằng tim? Thấy Ngài đang đi qua những bổn phận phải làm, những con người phải cứu, những chọn lựa phải trả giá. Thấy như thế, thực tại không còn là gánh nặng, mà trở thành nơi gặp gỡ; và chính cái thấy ấy bắt đầu làm chúng ta khác đi.

Tiếp đến, ‘thấy ai?’. Thấy Giêsu! Nhưng Giêsu đó không chỉ là một người tốt, khôn ngoan, hay một vị thầy đáng kính; mà với Gioan, “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian!” – một Đấng không đứng ngoài nỗi khốn cùng của con người, nhưng đi vào trong đó, mang lấy nó. Thấy như Gioan, chúng ta không còn tìm Chúa Giêsu chỉ để được nhẹ hơn, mà để học cách yêu và tự hiến như Ngài; nhờ đó, qua chúng ta, người khác có thể thấy một Thiên Chúa đang hành động giữa đời. “Điều vĩ đại nhất bạn từng học được là yêu và được đáp lại bằng yêu!” – Eden Ahbez.

Được vậy, như Isaia, chúng ta đã là “ánh sáng muôn dân, đem ơn cứu độ của Chúa đến tận cùng cõi đất” – bài đọc một – không bằng những việc làm rực rỡ, nhưng bằng một đời sống để ánh sáng đi xuyên qua những giới hạn rất người của mình. Trong sứ mạng đó, chúng ta thật sự là “dân thánh của Chúa”, không vì hoàn hảo hơn, mà vì đã thuộc về Đấng đã thánh hiến chúng ta – bài đọc hai. Vậy mà để “ánh sáng” ấy không chỉ là một danh xưng, nhưng là một thực tại, bạn và tôi cần những chọn lựa rất lặng lẽ mỗi ngày, “Con xin đến để thực thi ý Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca; không với những quyết định lớn lao, mà với những bước đi trung tín rất nhỏ, nơi ý Chúa định hình cách chúng ta sống, cách chúng ta yêu, và cách chúng ta hiện diện.

Anh Chị em,

Gioan trở thành chứng nhân không phải vì Gioan “nói đúng”, mà vì Gioan đã “thấy đúng” – và cái thấy ấy đã quyết định đời Gioan! Khi thật sự thấy Chúa, chúng ta không còn chỉ kể về Ngài, mà trở thành nơi Ngài tiếp tục “được thấy”; không bằng những lời lẽ hùng hồn, nhưng bằng những chọn lựa rất nhỏ mà rất thật. Nhờ đó, qua chúng ta với những hành vi yêu thương chắt chiu từng ngày, những người khác có thể chạm vào Đấng vô hình. Và như thế, Đấng ấy tiếp tục đi vào thế giới, qua cách chúng ta sống, cách chúng ta yêu, cách chúng ta chịu đựng. “Đối với thế giới bạn có thể chỉ là một người bình thường, nhưng với một người nào đó bạn chính là cả thế giới!” – Dr. Seuss.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đừng chỉ nói, đây Chiên Thiên Chúa; nhưng sống như người đã gặp Chúa Chiên; dám hiến đời mình như Chiên Chúa hiến!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN II THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 1,29-34

29 Khi ấy, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. 30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.

31 Tôi đã không biết Người, nhưng tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” 32 Ông Gio-an còn làm chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. 33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” 34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”


 

Luật Cựu Ước quan trọng thế nào ?- Cha Vương

Một ngày ấm áp trong yêu thương và zui zẻ nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 17/1/2026.   (t6-25)

GIÁO LÝ: Luật Cựu Ước quan trọng thế nào ? Trong Luật Cựu Ước và nhất là 10 điều răn, Thiên Chúa tỏ ý Người cho dân Israel là nếu tuân giữ, họ sẽ được cứu rỗi. Kitô hữu biết rằng họ phải giữ Luật, nhưng cũng biết rằng không phải Luật cứu độ họ. (YouCat, số 335)

SUY NIỆM: Theo kinh nghiệm, mỗi người cảm thấy như mình được “khuyên bảo” làm điều tốt. Nhưng ta thường thiếu sức mạnh để hoàn thành, vì khó quá, vì ta thấy mình yếu đuối (xem Rm 8,3 và Rm 7,14-25). Ta thấy cái phải làm, nghĩa là Luật Cựu Ước, nhưng lại cảm thấy muốn phạm tội. Chính nhờ sự hiểu biết này về Luật cũ chứng tỏ cho ta, ta cần có một sức mạnh bên trong để hoàn thành. Vì thế, Luật Cựu Ước dù tốt và quan trọng cũng chỉ có để sửa soạn cho ta sống bằng đức tin với Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ ta, như Người được mặc khải trong Tin Mừng. (YouCat, số 335 t.t.)

❦  Luật cũ là tiên báo và thầy dạy về các thực tại tương lai. (Thánh Irênê ở Lyon)

LẮNG NGHE: Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. (Xh 20:2-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thêm sức mạnh cho con để con biết giữ luật Chúa cho chọn trong ơn gọi.

THỰC HÀNH: Xin “Ơn Kính Sợ Chúa” để được tràn đầy lòng tôn kính Chúa và ghê sợ bất cứ điều gì làm buồn lòng Ngài. 

From: Do Dzung

*********************

Lắng Nghe Lời Chúa – Nguyễn Hồng Ân & Hiền Thục

Nửa Ổ Bánh Mì Không Thịt – Song Tử (Nguyễn Vân An)- Truyen ngan HAY

Song Tử (Nguyễn Vân An)

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc – sủng ướt át ngập cảnh nóng.

Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.

Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.

Mẹ của ba – tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai – người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng TÝ, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” – Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” – Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” – Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh – điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” – Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” – Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” – Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” – Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” – Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” – Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” – Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mép, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” – Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” – Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày con binh nó, tao đánh cả mày luôn.” – Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” – Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” – Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” – Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” – Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” – Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” – Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ – Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” – Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” – Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” – Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” – Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” – Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” – Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” – Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi – chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hao mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” – Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” – Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” – Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” – Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” – Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” – Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” – Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” – Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” – Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” – Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” – Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” – Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” – Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tổi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tồi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” – Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” – Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” – Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… lÝ do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt… 

Song Tử (Nguyễn Vân An)


 

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

 My Lan Pham

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

Gestapo đã bẻ gãy đôi chân bà. Chúng nghiền nát bàn chân bà.

Chúng hứa hẹn cái chết.

Và vậy mà bà không nói ra một cái tên nào.

Nhờ sự im lặng ấy, 2.500 đứa trẻ đã sống sót.

Warsaw, năm 1942.

Thành phố không còn là một thành phố nữa. Nó là một chiếc lồng.

Sau những bức tường gạch quấn đầy dây thép gai, khu Do Thái Warsaw ngạt thở dưới ách thống trị của phát xít Đức. Hơn 400.000 người Do Thái bị nhét vào một không gian vốn dĩ không bao giờ có thể chứa nổi dù chỉ một phần nhỏ con số đó. Cái đói hằn sâu trên từng khuôn mặt. Bệnh tật lan nhanh hơn cả hy vọng. Gia đình biến mất chỉ sau một đêm.

Và mỗi ngày, những chuyến tàu lại rời ga.

Điểm đến được thì thầm như những lời nguyền —

Treblinka. Auschwitz.

Phần lớn người dân Warsaw quay mặt đi.

Quay mặt đi là an toàn hơn.

Quay mặt đi là để sống sót.

Nhưng có một người phụ nữ thì không thể.

Tên bà là Irena Sendler.

Bà mới 32 tuổi. Không phải lính. Không phải thủ lĩnh.

Chỉ là một nhân viên xã hội với căn hộ nhỏ, những ước mơ giản dị, và niềm tin cứng đầu rằng sinh mạng con người là điều thiêng liêng.

Trước chiến tranh, bà giúp những gia đình nghèo tìm thức ăn và thuốc men. Một công việc bình thường. Âm thầm. Vô danh.

Rồi phát xít Đức đến ,và dựng tường bao quanh hàng xóm của bà.

Công việc tại Sở Phúc lợi Xã hội Warsaw cho bà một đặc quyền hiếm hoi: giấy phép vào khu Do Thái. Trên danh nghĩa, bà kiểm tra dịch thương hàn.

Trên thực tế, bà bước thẳng vào địa ngục.

Lần đầu tiên đi qua cánh cổng, mùi hôi thối khiến bà nghẹt thở ,mục rữa, bệnh tật, tuyệt vọng. Trẻ em ngồi bất động trên vỉa hè, quá yếu để khóc. Cha mẹ nhìn vào khoảng không, như đã chết một nửa.

Đêm đó, Irena đưa ra quyết định sẽ định hình cả cuộc đời bà.

Bà sẽ đưa bọn trẻ ra ngoài.

Bà gia nhập Żegota, mạng lưới kháng chiến Ba Lan chuyên cứu người Do Thái. Nhưng lòng can đảm thôi thì chưa đủ. Cần phương pháp. Hậu cần. Và sự sáng tạo đến tàn nhẫn.

Irena trở thành chính kế hoạch.

Bà quay lại khu Do Thái hết lần này đến lần khác — đôi khi đeo băng tay ngôi sao David, đôi khi cải trang thành y tá, lúc nào cũng mang theo túi dụng cụ y tế. Bà tìm đến các bậc cha mẹ và hỏi một câu hỏi mà không một con người nào đáng phải nghe:

“Ông bà có dám giao con mình cho tôi không?”

Hãy tưởng tượng khoảnh khắc ấy.

Con bạn đang chết đói.

Bị kết án bởi một bức tường.

Một người xa lạ đưa ra một cơ hội ,mong manh, đáng sợ, không chắc chắn.

Nếu nói có, bạn có thể sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Nếu nói không, bạn biết chính xác điều gì sẽ xảy ra.

Nhiều người đã nói có.

Không phải vì điều đó dễ dàng.

Mà vì hy vọng dù mong manh ,vẫn tốt hơn sự chắc chắn của cái chết.

Irena đưa trẻ em ra ngoài bằng những cách vượt quá trí tưởng tượng:

– trong hộp đồ nghề

– trong quan tài ghi “nạn nhân thương hàn”

– trong bao khoai tây

– trong xe cứu thương, giấu dưới cáng bệnh

Bà còn huấn luyện một con chó sủa theo lệnh. Khi lính Đức đến gần, tiếng sủa át đi mọi âm thanh mà một đứa trẻ có thể phát ra.

Mỗi cuộc giải cứu chỉ cách cái chết một hơi thở.

Một tiếng khóc.

Một cơn ho.

Một tên lính tò mò.

Bị phát hiện đồng nghĩa với xử bắn.

Nhưng bà vẫn làm.

Rồi Irena nhận ra một điều còn sâu sắc hơn nữa: cứu thân xác của một đứa trẻ là chưa đủ. Nếu chúng sống sót mà không có tên, không có lịch sử, thì phát xít Đức vẫn thắng.

Vì vậy, bà ghi chép tất cả.

Trên những mảnh giấy mỏng manh, bà viết tên thật, tên cha mẹ, địa chỉ, những mảnh đời rời rạc. Bà cho chúng vào những chiếc lọ thủy tinh và chôn dưới một cây táo trong vườn nhà hàng xóm.

Một nghĩa trang của ký ức.

Một lời hứa với tương lai.

Năm 1943, hàng trăm đứa trẻ đã biến mất khỏi khu Do Thái. Và phát xít Đức nhận ra.

Ngày 20 tháng 10 năm 1943, chúng đến bắt bà.

Chúng đưa bà đến nhà tù Pawiak, nơi tiếng la hét ngấm vào từng viên đá. Chúng đòi tên.

Bà từ chối.

Chúng đánh bà.

Rồi bẻ gãy chân bà — từng khúc xương một.

Rồi nghiền nát bàn chân.

Cơn đau được thiết kế để phá vỡ sự im lặng.

Nhưng nó thất bại.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Không tên.

Không địa chỉ.

Không một đứa trẻ nào.

Bà bị kết án tử hình.

Nhưng Żegota đã hối lộ một lính gác. Ngày hành quyết, hắn thả bà đi. Trong hồ sơ Đức quốc xã, Irena Sendler đã “chết”.

Irena Sendler biến mất.

Với đôi chân gãy không bao giờ lành hẳn, bà sống chui lủi ,và tiếp tục giúp đỡ cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1945.

Sau giải phóng, bà quay lại khu vườn.

Bà đào lên.

Từng chiếc lọ được lấy khỏi lòng đất. Giấy đã mục, nhưng những cái tên vẫn còn.

Rồi đến nhiệm vụ đau đớn nhất: đoàn tụ gia đình.

Một số trẻ tìm lại được cha mẹ.

Một số tìm được họ hàng.

Quá nhiều em không tìm thấy ai.

Nhưng tất cả đều tìm lại được tên mình. Bằng chứng rằng chúng đã từng tồn tại, trước khi thế giới cố xóa bỏ chúng.

Suốt nhiều thập kỷ, Irena sống trong bóng tối.

Không huân chương.

Không diễn văn.

Không danh tiếng.

Những năm 1960, Israel công nhận bà là Người Công chính giữa các Dân tộc. Thế giới hầu như không để ý.

Rồi năm 1999, một nhóm học sinh trung học Mỹ phát hiện câu chuyện của bà trong một chú thích nhỏ. Họ viết một vở kịch.

Cuối cùng, thế giới lắng nghe.

Ở tuổi 90, Irena trở nên nổi tiếng ,và bà ghét điều đó.

“Tôi đã có thể làm nhiều hơn,” bà nói. “Nỗi day dứt này sẽ theo tôi đến chết.”

Khi được hỏi thế nào là dũng cảm, bà chỉ đáp:

“Khi thấy ai đó đang chết đuối, ta nhảy xuống cứu. Đó không phải là dũng cảm. Đó là bổn phận.”

Bà qua đời ngày 12 tháng 5 năm 2008, thọ 98 tuổi.

Trong tang lễ của bà có mặt những người sống sót — từng là những đứa trẻ trong hộp ,nay đã là ông bà.

Một người nói:

“Tất cả con người tôi hôm nay tồn tại vì bà đã chọn im lặng.”

Vì bà đã im lặng, 2.500 đứa trẻ đã sống.

Những đứa trẻ ấy có con.

Và con của họ lại có con.

Ngày nay, người ta ước tính khoảng 10.000 sinh mạng tồn tại nhờ một người phụ nữ đã chọn không quay mặt đi.

Không vũ khí.

Không quân phục.

Không quyền lực.

Chỉ một túi dụng cụ y tế.

Một cây táo.

Và một tâm hồn không thể bị phá hủy.

Chúng bẻ gãy chân bà.

Chúng tra tấn bà.

Chúng kết án tử hình bà.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Và 2.500 đứa trẻ đã sống.

THÁNH ANTÔN VIỆN PHỤ-Nt. Maria Phạm Hường, OP

Nt. Maria Phạm Hường, OP

 Antôn sinh năm 241 tại Cosma, nước Ai Cập trong một gia đình giàu có và đạo đức.  Ngay từ nhỏ Antôn đã được cha mẹ kiên tâm rèn luyện và giáo dục về tri thức, cũng như đời sống đạo.  Lúc Antôn 18 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời để lại cho Antôn và em gái một gia tài lớn.  Hai anh em luôn sống yêu thương, đùm bọc nâng đỡ nhau.

Năm 270, vào một buổi sáng Antôn tới nhà thờ tham dự Thánh lễ và nghe lời Chúa Giêsu nói với người thanh niên giàu có: “Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó.” (Mt 19, 21).  Antôn nhận ra đây là lời Chúa đang nói với chính mình, nên đã về bán hết của cải đem phân phát cho người nghèo khó.  Sau khi gửi em gái vào cộng đoàn các trinh nữ, ngài đã vào sa mạc sống kết hợp mật thiết Chúa trong cầu nguyện, hãm mình và sống rất khắc khổ khi chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.

 Trong 20 năm sống cô tịch giữa sa mạc hoang vu, thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài.  Dù thế, ma quỷ luôn rình rập, cám dỗ và thậm chí hành hạ ngài để lôi kéo thánh nhân nghiêng về những ham mê xác thịt, tiền của, danh vọng và nhất là từ bỏ lối sống ẩn tu, trở về với thế gian.  Nhưng ngài đã chống trả các cơn cám dỗ ấy bằng việc ăn chay, cầu nguyện và hãm mình nhiều hơn nữa.  Nhờ ơn Chúa, ngài không bao giờ chịu khuất phục nhưng luôn chiến thắng những cơn cám dỗ khốc liệt ấy. 

Đời sống thánh thiện, và hương thơm nhân đức của thánh nhân đã lan tỏa khắp nơi và thu hút nhiều người tìm đến xin làm môn đệ; ngài kiên quyết từ chối nhưng sau đó, nhận ra ý Chúa, thánh nhân thành lập nhiều cộng đoàn.  Sa mạc cằn cỗi giờ đây mọc lên những mái chòi, ngày đêm vang lên những lời kinh ngợi khen Chúa, nhiều người đã nên thánh nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ của ngài.  Từ đây phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ, cha Antôn huấn đức và viết luật, trở nên vị tổ phụ của nếp sống ẩn tu.

 Tuy thế, thánh nhân đã hai lần từ giã sa mạc để đáp ứng nhu cầu của Giáo hội:

 Lần thứ nhất, vào năm 311, do cuộc bắt đạo của hoàng đế Maximinô Đaia, tại Alexandria sắp có cuộc xử tử một số tín hữu trung kiên nên cha Antôn quyết định rời sa mạc đi gặp các tù nhân để khuyên nhủ họ trung thành làm chứng cho Chúa, can đảm chết vì đạo.  Cuộc bách hại chấm dứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc, tiến sâu vào chân núi Kolzim và dựng một căn lều nhỏ vừa đủ để nằm và sống ở đó.

 Lần thứ hai, vào năm 355, cha Antôn trở lại Alexandria theo lời mời của Giám mục Athanasiô, để giảng thuyết chống lại lạc giáo Ariô.  Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc kêu gọi mọi người trung thành với giáo huấn của Hội Thánh.  Dân chúng tuôn đến, lắng nghe những bài giảng và chứng kiến các phép lạ thánh nhân thực hiện.  Nhiều người tội lỗi ăn năn sám hối trở về, các lương dân bảo nhau: “Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa,” còn những nhà trí thức thì rất ngạc nhiên khi thấy cha Antôn, dù sống tách biệt với thế giới con người, không tiếp xúc với với sách vở, với các nền văn hóa mà sao ngài lại thấu suốt mọi vấn đề.  Thực ra, họ đã không biết được rằng thánh nhân đã học biết về Chúa qua cảnh vật thiên nhiên.  Sau khi giúp Đức Giám Mục giải quyết xong vấn đề về lạc giáo, thánh nhân trở lại sa mạc tiếp tục lối sống ẩn dật, khắc khổ như trước.

 Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi.  Vào năm 561, xác ngài được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria.  Giáo Hội đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 Thánh Antôn đã sống trọn một đời vâng phục thánh ý Chúa, yêu thương người nghèo khổ, sẵn sàng từ bỏ sự giàu sang, phú quý để sống cuộc đời ẩn tu, âm thầm, kết hợp mật thiết với Chúa.  Xin giúp chúng con biết noi gương thánh nhân luôn sống thánh thiện, can đảm thực thi ý Chúa, đón nhận hoàn cảnh sống hiện tại, dù là những trái ý, những đau khổ, khó khăn và quảng đại giúp đỡ những người nghèo khó xung quanh mình.  Amen! 

Nt. Maria Phạm Hường, OP tóm lược

From: Langthangchieutim


 

RẼ HƯỚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Ông liền đứng dậy đi theo Người”.

 Một thương gia rất đỗi hài lòng với chiếc phong vũ biểu tốt nhất vừa sưu tầm. Nhưng về đến nhà, ông bực bội khi thấy chiếc kim cứ chỉ về phía “bão”. Lắc thế nào, kim vẫn không nhúc nhích. Ông ngồi xuống viết thư phàn nàn. Tối hôm sau trở về, phong vũ biểu không còn, cả ngôi nhà cũng không. Thì ra, chiếc kim không kẹt; nó chỉ đúng – “bão!”.

 Kính thưa Anh Chị em,

 Tin Mừng hôm nay không nói đến một chiếc phong vũ biểu ‘chỉ hướng’, nhưng nói đến một con người ‘rẽ hướng’ – Matthêu! Anh không phàn nàn với người gọi; nhưng “liền đứng dậy đi theo Người”. 

‘Rẽ hướng’ không chỉ là đổi hướng nhìn, mà là rời khỏi đường cũ, khỏi những bảo đảm cũ, khỏi sự an toàn quen thuộc. Đứng dậy, là chấp nhận mất cái tôi trước đó để bước vào một ‘cái tôi’ chưa hề biết. Chúa Giêsu không trao cho Matthêu một tấm bản đồ; Ngài trao cho anh một chiếc la bàn, kim chỉ nam của nó là “Giêsu” – Ngài. Anh không thấy gì khác ngoài một hướng đi. Và như mọi cuộc ‘rẽ hướng’ định mệnh, anh không thể mang theo tất cả. Nhiều thứ phải bỏ lại, không vì chúng xấu, mà vì chúng giữ một ai đó ở lại! Matthêu không biết đời mình sẽ đi về đâu, nhưng biết mình không thể ở nguyên chỗ cũ. Cái “liền” của Matthêu không phải là sự nông nổi, mà là khoảnh khắc của một người “đã chín” trong sự giằng co: ở lại thì an toàn, nhưng “không còn sống”. Có những lúc, “không rẽ” là chết dần; nỗi sợ chỉ là khách mời, đừng để nó dọn vào! “Hãy sống một đời tự do. Không tồn tại thứ gọi là một cuộc sống an toàn!” – Anand Mehrotra. 

Cuộc ‘rẽ hướng’ ấy mở ra một bữa tiệc. Không phải tiệc của những người đã hoàn hảo, mà của một người được gọi, “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ!”. Nếu Matthêu nói, “để mai”, có lẽ đã không có bữa tiệc, không có những gương mặt được chạm tới, không có những câu chuyện được đổi đời. Tiếng “vâng” của một người có thể mở cửa cho ân sủng đi vào nhiều phận người khác. Thế nhưng, đừng lãng mạn hoá cuộc ‘rẽ hướng’ này! Bởi cũng từ ngày ấy, Matthêu không bước vào con đường dễ hơn, nhưng gập ghềnh hơn mà cũng sâu hơn; không được bảo vệ khỏi giông tố, mà được đặt vào giữa giông tố với một “Đấng ở cùng”. ‘Rẽ hướng’ không hứa hẹn ít đau hơn; chỉ hứa hẹn ‘đúng hướng’ hơn. Và đúng hướng, đôi khi, là hướng đi qua con đường thập giá!

 Anh Chị em,

 “Ông liền đứng dậy đi theo Người”. Lời gọi theo Chúa luôn bắt đầu bằng một cuộc ‘rẽ hướng’ rất cụ thể: rẽ khỏi một thói quen không lành mạnh, một chọn lựa, một lối sống đã thành nếp. Không ai theo Chúa mà không mất gì; nhưng cũng không ai mất gì vì theo Chúa! Từ một người thu thuế, Matthêu dần trở thành nơi mà Lời có thể đi qua, nơi mà ân sủng có thể chạm tới người khác. Đó không phải là thành tựu cá nhân, mà là hoa trái của một hướng đã được đổi. “Ý nghĩa của cuộc đời là tìm ra món quà của bạn. Mục đích của cuộc đời là trao tặng nó!” – Pablo Picasso.

 Chúng ta có thể cầu nguyện,

 “Lạy Chúa, giữa bao ngả rẽ cuộc sống, giúp con can đảm luôn rẽ về hướng “Giêsu”. Đừng để con chỉ đứng “nhìn kim”, mà không bao giờ dám bước đúng hướng!”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 2,13-17

13 Khi ấy, Đức Giê-su lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người, và Người dạy dỗ họ. 14 Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lê-vi là con ông An-phê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông : “Anh hãy theo tôi !” Ông đứng dậy đi theo Người.

15 Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Đức Giê-su và các môn đệ, vì họ đông và đi theo Người. 16 Những kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người : “Sao ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?” 17 Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”


 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh…

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh, đám tang của họ không hề bị bỏ mặc. Một cán bộ địa phương sẽ có mặt để đại diện cho cộng đồng, và đứng cạnh họ là một… nhà thơ.

​Ý tưởng này ra đời vì người ta không muốn lời chào vĩnh biệt lại trở thành một thủ tục giấy tờ khô khan. Nhà thơ sẽ nhận được vài mẩu tin ít ỏi còn sót lại: một cái tên, một ngày sinh, một công việc cũ hay một địa chỉ—có khi chỉ là một chi tiết nhỏ nhoi duy nhất. Từ những mảnh ghép vụn vặn đó, một bài thơ được viết riêng để dành cho cuộc đời ấy.

​Giữa buổi lễ, bài thơ được đọc lên cho người đã khuất. Không bóng bẩy ca ngợi chiến tích, cũng chẳng tô vẽ nên những tình cảm xa lạ. Nhà thơ chỉ lặng lẽ gom nhặt những gì còn lại, biến một lời chào tạm biệt của một người vô danh thành một cử chỉ ấm áp tình người.

​Nghi lễ diễn ra không to tát,  ồn ào. Nó giản dị, gần như chẳng mấy ai hay biết. Nhưng chính vào lúc đó, người đi xa không còn đơn độc nữa. Có người đã gọi tên họ. Có người đã nhìn nhận sự hiện diện của họ trên đời.

​Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc làm này: nhắc nhở chúng ta rằng mỗi cuộc đời, dù có kết thúc trong lặng lẽ đến đâu, vẫn xứng đáng được tiễn đưa bằng một tiếng nói chân thành giữa người với người.

(The Lonely Funeral)

St


 

TÌNH NGƯỜI VÔ GIÁ – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả.

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông:

“Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!! ”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt … Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật.

Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh …

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu … Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không? ?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ … Con nghĩ đến Đấng Tối Cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài … Nếu được đến với Ngài trong giây phút này, con chắc chắn sẽ không hối hận …”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “ …và thế là, một phép lạ đã xảy ra … Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên … Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy …!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào Đấng Tối Cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất.

Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về … Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông …

Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh:

“Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi !! ”.

Anh mỉm cười từ chối:

“Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa …”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại:

“Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai … Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây …

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay … Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng …

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng … Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá …

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá:

“Tôi muốn cho cô biết một sự thật …”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt:

“Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy … Tôi chưa gặp ông bao giờ cả …”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ:

“Cô biết đấy … ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình … Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình …Và … tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế …”

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này …

Cô y tá nhìn anh run run:

“Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey …”

Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.

Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.

Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người.

Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ …

Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Sưu tầm


 

DÁM KHOÉT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ mới dỡ mái nhà…, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống!”.

“Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, thương tích và lấm lem vì đã đi ra ngoài hơn là một Hội Thánh bệnh hoạn vì khép kín và bám víu vào sự an toàn của mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Dám khoét’ – là định hướng mục vụ Tin Mừng hôm nay mở ra, không chỉ cho mái nhà ở Capharnaum, mà cho chính đời sống Hội Thánh.

Marcô kể, “Họ mới dỡ mái nhà”. Một lỗ hổng giữa đám đông. Bụi rơi, trật tự xáo trộn, bài giảng gián đoạn. Nhưng chính từ lỗ hổng ấy, một con người được đưa tới gần Chúa Giêsu; và từ đó, ơn chữa lành bắt đầu. Điều lạ là Chúa Giêsu không hề can ngăn; Ngài không đòi giữ cho căn nhà nguyên vẹn, Ngài chấp nhận “phiền phức”; vì với Ngài, con người quan trọng hơn nghi thức, và cứu độ quan trọng hơn sự chỉn chu. Nhà rách, nhưng lòng thương xót được mở ra. “Tình yêu không biết khóc với nỗi buồn của người khác thì không xứng đáng với chính tên gọi của nó!” – Henri de Lubac.

Đời sống Hội Thánh không thiếu những lễ nghi đẹp; nhưng lại nghèo về định hướng mục vụ. Lễ lạt rộn ràng, rước sách trang nghiêm, quần là áo lượt, mọi thứ đúng chỗ, đúng giờ, đúng kịch bản; nhưng không ít lần, bị đánh đồng với việc “thả bong bóng”. Chúng ta mất ăn vì hình ảnh đẹp, mất ngủ vì trật tự ngay, sao cho “xem được”; đang khi những việc rất cụ thể cần làm ngay – cho từng thành phần Dân Chúa – lại không có một hướng đi rõ rệt. Chúng ta giữ cho mái nhà quá nguyên vẹn, đang khi biết bao con người cần mình ở ngoài kia!

Đức Phanxicô gọi Hội Thánh là “một bệnh viện dã chiến”. Bệnh viện không đo bằng vẻ đẹp, mà bằng số người được cứu. Dã chiến không có chỗ cho hình thức, chỉ ưu tiên cho vết thương. Một Hội Thánh chỉ chăm chút lễ nghi mà quên sứ vụ sẽ là một Hội Thánh không ‘dám khoét’ – khoét vào sự an toàn, vào sĩ diện, vào hình thức để “đến với muôn dân” đang đói Tin Mừng. Hơn chín mươi triệu người trên đất nước này chưa biết Chúa vẫn đang chờ “những lối mở” thật sự.

Nhưng đó không chỉ là chuyện của cơ cấu, mà còn là chuyện của từng trái tim. Tôi có dám để đời sống mình bị xáo trộn vì người khác? Tôi có dám để thời gian, kế hoạch và sự yên ổn của mình bị “đục thủng” để đưa ai đó đến gần Chúa hơn? Hay tôi chỉ muốn một đời sống đạo gọn gàng, không phiền phức, không rắc rối – không ‘dám khoét?’. “Nỗi đau định hướng con cái Thiên Chúa trở nên người phục vụ mọi người!” – Thomas Merton.

Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở chỗ người bại liệt đứng dậy, mà ở chỗ “một cộng đoàn” chấp nhận để mình bị thương tích vì yêu. Phép lạ lớn nhất không chỉ là đôi chân được mạnh, mà là một căn nhà dám chịu thiệt – ‘dám khoét’ – để giữ lại một con người. Và có lẽ, chính nơi chúng ta dám đau, ân sủng mới tìm được lối để rơi xuống nhiều nhất. “Một điều kỳ diệu của cộng đoàn là giúp ta đón nhận và nâng đỡ người khác theo cách mà một mình ta không thể làm được!” – Jean Vanier.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để Hội Thánh chúng con chỉ đẹp trong nghi thức, để giữ lại mái nhà mà đánh mất con người!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. 2,1-12

1 Bấy giờ, Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà, 2 dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng. Người nói lời Thiên Chúa cho họ. 3 Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng. 4 Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống. 5 Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Này con, tội con được tha rồi.” 6 Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng : 7 “Sao ông này lại dám nói như vậy ? Ông ta nói phạm thượng ! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa ?” 8 Tâm trí Đức Giê-su thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ : “Sao các ông lại nghĩ thầm trong bụng những điều ấy ? 9 Trong hai điều : một là bảo người bại liệt : ‘Tội con được tha rồi’, hai là bảo : ‘Đứng dậy, vác chõng mà đi’, điều nào dễ hơn ? 10 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, -Đức Giê-su bảo người bại liệt-, 11 Ta truyền cho con : Đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà !” 12 Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau : “Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ !”

 CÓ ĐẠO & VÔ THẦN

Linh Mục Mi Trầm

Trong căn phòng của một bệnh viện, hai người đàn ông, một người Công giáo và một người vô thần đều bị bệnh như nhau. Thậm chí người có Đạo còn bị đau đớn và trầm trọng hơn cả người vô thần.

Ngày ngày nằm trên giường bệnh, người vô thần thường hay than thân trách phận, quằn quại đau đớn, cáu gắt tiêu cực và nguyền rủa cuộc đời.

Trái lại, người có Đạo thường nén cơn đau và không hề kêu ca gì cả. Thậm chí trên môi nhiều lúc còn nở nụ cười mãn nguyện trìu mến. Nhiều khi đau quá, thì ông lại tập trung tư tưởng cao cầu nguyện và xin Chúa giúp sức.

Người vô thần lấy làm lạ hỏi: “Tại sao ông có thể chịu được những cơn đau dữ dội như vậy? Bí quyết nào giúp ông có tinh thần lạc quan như vậy”?

Người có Đạo trả lời: “Ông bạn à! Tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chịu đựng được cơn đau cách vui vẻ vì tôi luôn ý thức rằng, Chúa luôn chăm sóc tôi từng giây từng phút. Một sợi tóc trên đầu của tôi, Chúa cũng đếm cả rồi. Tôi vinh dự được Chúa gửi Thánh giá Chúa cho tôi qua cơn bệnh này, để tôi được thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Nên tôi luôn lạc quan tín thác vào Chúa. Mỗi lần nghĩ đến Chúa chịu treo đau đớn trên Thánh giá, là tôi lại có sức mạnh nội tâm chịu đựng cơn đau”.

“Hơn nữa, ai cũng phải trải qua quá trình Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Khi ta chấp nhận quy luật như vậy, ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản dễ chịu hơn”.

Dù sống hay chết thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Sống tôi cũng ở bên Chúa, và có bị chết tôi cũng ở bên Chúa. Chết tôi sẽ được ở bên Chúa đời đời.

Rồi ông bạn vô thần đã rất ngạc nhiên khi nghe nói như vậy.

Và ông muốn tìm hiểu về Chúa. Và hai ông đã đàm đạo tâm sự với nhau cách thân mật từ ngày đó.

Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng đã tạo nên hai tâm hồn lạc quan và bi quan hoàn toàn khác nhau. Vì một người tâm hồn có Chúa và một người thì không.

ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI CÓ ĐẠO VÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO.

Theo Internet


 

TỪ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VENEZUELA NHÌN LẠI LÝ DO THẤT BẠI CỦA NỀN DÂN CHỦ IRAQ VÀ BÀI HỌC NÀO CHO NGƯỜI VIỆT QUAN TÂM- Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Trong bài “Số Phận Nicolas Maduro và Viễn Ảnh Venezuela” đăng trên Facebook hôm 4 tháng 1, người viết có lưu ý ở phần cuối bài: “Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước [Grenada, Panama, Venezuela] cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy): “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025).

Hugo Chavez cho tới Maduro  gầy dựng và nuôi dưỡng một tầng lớp tướng lãnh và viên chức chính phủ trung thành vì quyền lợi như tướng Vladimir Padrino López, Bộ trưởng Quốc Phòng. Đó là chưa kể một số ít người nhưng có ảnh hưởng về đường lối “xã hội chủ nghĩa” (Bolivarian Socialism) của Hugo Chavez. 

Hai “ngư ông” Trung Cộng và Nga đang chờ những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và quyền lợi cá nhân tại Venezuela dẫn tới bạo động và khi đó quốc gia này sẽ trở thành một dạng “xung đột Ủy Nhiệm” (Proxy War) như đã từng diễn ra tại Syria.

Nhưng những người quyết định vận mệnh của Venezuela không phải là Mỹ, Trung Cộng hay Nga mà chính là người dân Venezuela. Nếu biết nắm bắt cơ hội, Venezuela có thể sẽ trở thành một cường quốc Châu Mỹ Latin, và nếu thất bại Venezuela có thể trở thành gần như  một Iraq khác.

Bài viết dưới đây phân tích sự thất bại của nền dân chủ Iraq sau hiến pháp 2005 và là bài học cho người Việt quan tâm đến vận nước.

——–

Không tính khoảng 4,500 quân đội các cấp và viên chức Mỹ hy sinh trong chiến tranh Iraq,  theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị và đồng sáng lập dự án “Chi phí chiến tranh” Neta Crawford, thuộc Đại học Oxford, tính toán tổng chi phí của cuộc chiến ở Iraq và Syria, dự kiến sẽ vượt 2,89 nghìn tỷ đô la. Con số ngân sách này bao gồm chi phí tính đến thời điểm hiện tại, ước tính khoảng 1,79 nghìn tỷ đô la, và chi phí chăm sóc cựu chiến binh đến năm 2050. (Neta Crawford, The Watson School of International Studies, March 15, 2023)

Mặc dù với sự hy sinh nhân sự to lớn và kinh phí khổng lồ, nền dân chủ tại Iraq vẫn còn phải đối diện với nhiều thách thức. Trong các nước láng giềng, vì địa lý chính trị, Iran tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng các phe phái quân phiệt và đảng phái chính trị tại Iraq, cánh Hồi Giáo khủng bố ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) vẫn tiếp tục gây tai họa, các thế lực chính trị nặng đầu óc địa phương trên khắp nước vẫn còn tranh chấp, các tông phái Hồi Giáo vẫn tranh giành quyền lực và tình trạng tham nhũng trầm trọng. Nói chung, so với 21 năm trước, Iraq có một vài tiến bộ nhưng nền dân chủ vẫn chưa trưởng thành.

Mustafa Al-Kadhimi, cựu Thủ tướng Iraq  2020–2022, trong bài viết “Nền Dân Chủ Ở Iraq: Một Vỏ Bọc Cho Tham Nhũng Và Vi Phạm Nhân Quyền” đăng trên diễn đàn của Trung tâm Quan hệ Quốc tế và Phát triển Bền (CIRSD) ngày 29.04.2025: “Để bảo vệ quyền và tự do của người dân, chính phủ Iraq phải thực sự là một nền dân chủ. Việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ giúp chính phủ xây dựng lòng tin và giành được sự tín nhiệm của người dân Iraq cũng như thể hiện ý chí dân chủ của họ. Đáng buồn thay, trong nhiều thập kỷ qua, người dân Iraq đã phải chịu đựng sự thất vọng do việc không tuân thủ những nguyên tắc này.”

Sự thất bại của nền dân chủ Iraq là một nghiên cứu tình huống (case study) rất quan trọng cho người Việt quan tâm đến tương lai dân chủ Việt Nam.

Trở lại một chút với cuộc Chiến tranh Iraq (Iraq War) 2003.

Ngày 19 tháng 3, 2003, cuộc chiến Iraq do TT George W. Bush phát động bằng cuộc hành quân mang tên Operation Iraqi Freedom với mục đích lật đổ chế độ Saddam Hussein chính thức bắt đầu. Saddam Hussein  bị bắt ngày 13 tháng 12 cùng năm và ngày 5 tháng 11, 2006 bị xử treo cổ. 

Chế độ cộng hòa được thiết lập với hiến pháp 2005.

Theo John McGarry, giáo sư Chính trị học tại Queen’s University, Canada, hiến pháp cộng hòa Iraq “phản ảnh hình thức tự do qua hợp tác của các cộng đồng Iraq”. Giáo sư John McGarry và người cộng tác Brendan O’Leary trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Luật Hiến Pháp Quốc Tế ( International Journal of Constitutional Law) tháng 7, 2007 đồng ý với phương thức xây dựng nền dân chủ dựa trên hiến pháp Iraq 2005.

Nhưng hiến pháp dù hoàn hảo bao nhiêu cũng chỉ là một khung sườn, một mô thức, một văn bản chứ không phải là một nền dân chủ. Nền dân chủ của một quốc gia bao gồm nhiều lãnh vực không chỉ chính trị, kinh tế mà còn văn hóa, xã hội phải được thực thi từ chính con người trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn từ chiến tranh sang hòa bình, từ độc tài sang dân chủ.

Như giáo sư John McGarry cảnh báo, thất bại của “hợp tác” sẽ dẫn đến nội chiến và tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp. Thực tế chứng minh lời cảnh báo của ông là đúng khi bạo động vẫn tiếp tục diễn ra và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Iraq.

Sự ra đời của tổ chức khủng bố  Nhà Nước Hồi Giáo Iraq (The Islamic State of Iraq, ISI) năm 2006 đã biến xung đột nội bộ Iraq thành một loại chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) giữa các bên có quyền lợi trong vùng.

Năm 2005, khi hiến pháp Iraq còn trong vòng thảo luận, người viết, trong một tiểu luận đăng trên talawas cho rằng yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp tại Iraq tùy thuộc vào người dân Iraq, trong đó bao gồm cấp lãnh đạo, có đủ khôn ngoan, nhìn ra khỏi những hàng rào đang làm cách ngăn họ hay không.

Đoạn sau đây trích từ bài viết trên talawas 21 năm trước và trích đăng lại nhiều lần với nhiều tựa bài khác nhau trên Facebook:

“Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ.

Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali, nạn nhân của cuộc chiến, chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi cũng không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra.

Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này.  Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch.

Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay.

Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.”

Lý luận trên được người viết đưa ra từ 21 năm trước. Hôm nay nếu cần phải viết lại chắc cũng không thêm bớt điểm nào bởi vì không ai trách nhiệm cho sự thịnh suy của một dân tộc ngoài chính dân tộc đó.

Như chúng ta đều thấy, cơ hội đã đến nhưng nền Cộng Hòa Iraq thất bại.  Lý do trước hết vẫn là do con người của chính quốc gia vừa thoát nạn độc tài.

Thành phần lãnh đạo Iraq từ cấp trung ương không biết nắm bắt cơ hội quốc tế vàng son vừa được đem lại phối hợp với nguồn tài nguyên phong phú vốn có để xây dựng một quốc gia mới cường thịnh cho mình và cho các thế hệ Iraq mai sau. Dự trữ dầu hỏa của Iraq lớn vào hàng thứ năm trên thế giới nhưng bài học làm giàu của Nhật Bản, Tây Đức không phải là sách gối đầu giường của những lãnh đạo Iraq sau chiến tranh.

Dù là nơi phát xuất của nền văn minh Mesopotamia với tám ngàn năm lịch sử, nhưng đúng như Loren Thompson viết trên Tạp Chí Forbes, một trong những lý do Cộng Hòa Iraq thất bại vì Iraq không có bản sắc dân tộc (national identity) riêng cho mình mà chỉ là những tập thể ô hợp do các cường quốc Châu Âu tạo ra như kết quả sự tan rã của Đế Quốc Ottoman. Người theo giáo phái Shiite  không muốn để bị cai trị bởi người theo giáo phái Sunni. Người gốc Kurds không muốn bị cai trị bởi người Á Rập.

Một quốc gia không thể vươn lên nếu không có đặc tính chung làm nên quốc gia đó.

Nền dân chủ tại Cộng Hòa Iraq sau hiến pháp 2005 đã và đang chịu đựng sự phân hóa trầm trọng. Những vụ đặt bom giết người hàng loạt không phân biệt phụ nữ hay trẻ em của tổ chức cuồng tín ISI, mâu thuẫn giữa các phần tử cơ hội, tranh giành quyền lực trong chính quyền, phân hóa sâu sắc giữa các sắc dân đã và đang làm phân liệt Iraq.

Thời gian tới, với sự can thiệp của Iran vào nội bộ chính trị Iraq qua ngã tông phái Hồi Giáo Shia chiếm đa số tại Iraq sẽ làm sự phân hóa đang có trầm trọng và đẫm máu hơn.

Ngoài ra,  hai “ngư ông” Nga và Trung Cộng đồng minh của Iran đang ngồi chờ trục lợi sẽ có cơ hội bán vũ khí, khai thác các mâu thuẫn Trung Đông tương tự như chính sách của Liên Sô sau Chiến Tranh Sáu Ngày (Six-Day War) giữa Do Thái và ba nước Ai Cập, Jordan và Syria 1967.

Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ theo đuổi chủ nghĩa  can thiệp và sẽ dẫn tới “những hậu quả trầm trọng cho hòa bình và ổn định của khu vực”.

Thất bại của Iraq có gợi lên những điều gì cho viễn ảnh Việt Nam không?

Có và có rất nhiều.

Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ có dân chủ và sự sống còn của nền dân chủ Việt Nam sẽ đặt trên vai những người Việt có ý thức và quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Iraq không thiếu tài nguyên hay tiền bạc mà thiếu con người.

Chỉ riêng trong hơn mười năm từ cuối năm 2003 đến 2014, không tính chi phí quân sự, Hoa Kỳ đã viện trợ phi quân sự tổng cộng lên tới 90 tỉ Mỹ kim để tái thiết Iraq. Kết quả thu lại được quá khiêm nhượng so với khoản viện trợ nước Mỹ đã đổ ra. Nguyên nhân để đổ thừa thì vô số. Chỉ riêng tệ nạn tham nhũng, năm 2018, theo Transparency International, Iraq thuộc vào nhóm cuối bảng, hạng 168 trong 180 nước được điều tra.

Sự tan rã của phong trào CS thế giới cho thấy cách mạng dân chủ diễn ra trong bốn dạng:

(1) Không đổ máu như Baltics, Hungary, Ba Lan.

(2) Đổ máu như Romania.

(3) Có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Ethiopia.

(4) Không có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Mông Cổ.

Cách mạng dân chủ tại Việt Nam sẽ đến bằng một trong bốn hình thức vừa nêu. Nhưng dù đến cách nào đi nữa, thực tế Iraq gợi ý cho những người Việt trong vai trò lãnh đạo một nước dân chủ còn non trẻ và những người Việt quan tâm trong cũng như ngoài nước những điểm cần phải học:

(1) Đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái và tôn giáo.

(2) Lấy trong sạch và đạo đức làm tiêu chí lãnh đạo.

(3) Vận dụng, nhưng không lệ thuộc,  ngoại lực có lợi cho kế hoạch phục hưng, hiện đại hóa và chiến lược hóa đất nước.

(4) Đừng bao giờ tin nhưng khéo léo bang giao với Trung Cộng khi nội lực dân tộc chưa hoàn toàn hồi phục và đất nước chưa được hiện đại hóa.

Trần Trung Đạo