Bốn “không” ở Singapore

 Bốn “không” ở Singapore

 Singapore là thành viên của Hiệp hội các nước ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Singapore có bốn kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.

Xin giới thiệu đến độc giả bốn kinh nghiệm của Singapore trong chống tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không dám tham nhũng

Ở Singapore khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức Chính phủ thì hằng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ càng cao, thì phần trăm trích ra gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.

      Quan chức càng to thì số tiền bị trưng thu càng lớn. Vì vậy, mỗi quan chức khi nảy ý định tham nhũng đều phải tính toán: Nếu tham nhũng, nhận hối lộ mấy trăm, thậm chí cả ngàn đô mà bị tịch thu hàng chục ngàn đô, bị sống trong hoàn cảnh không lương bổng cho đến lúc chết thì mất lại nhiều hơn được. Vì thế, đại đa số chọn giải pháp không tham nhũng; quan chức cấp càng cao, lương càng nhiều càng sợ không dám tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không thể tham nhũng.

Chính phủ Singapore quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai  báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức Chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương.

    Singapore có thị trường mua bán cổ phiếu, nhưng quan chức Chính phủ muốn mua cổ phiếu phải được lãnh đạo cơ quan chủ quản đồng ý và chỉ được phép mua cổ phiếu của công ty trong nước. Với cổ phiếu của các công ty nước ngoài đang kinh doanh ở Singapore cũng được phép mua, nhưng với điều kiện các công ty đó không có quan hệ lợi ích với Chính phủ. Công chức và quan chức Chính phủ không được phép đến các sòng bạc, nhà chứa.

Luật Báo chí Singapore quy định những điều khoản nhằm chống tham nhũng trong lĩnh vực này. Theo đó, các nhà báo, ký giả muốn gửi bài viết của mình ra nước ngoài phải qua tổng biên tập xem xét. Khi được trả tiền nhuận bút, nhà báo đó phải báo cáo với cơ quan chức năng của Chính phủ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được tiền, v.v…

  1. Làm cho quan chức không cần tham nhũng.

Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Thu nhập thấp nhất là người bảo mẫu mỗi tháng 400 đô la (Singapore). Nữ công nhân lắp ráp điện tử mỗi tháng từ 600 đến 900 đô la. Công chức cơ quan chính phủ tất cả đều tốt nghiệp đại học, lương khởi điểm khoảng 1.300 đô la. Cấp thứ trưởng lương tháng từ 10.000 đô la đến 20.000 đô la. Thủ tướng lương tháng hơn 40.000 đô la (thời điểm năm 2000). Với mức lương như vậy, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức Chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm, sỉ. Sự so sánh và tự vấn đó đã làm cho quan chức tự tiêu hủy những tham vọng không trong sáng của mình.

  1. Làm cho quan chức không muốn tham nhũng

ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ, khi khách nước ngoài đến Singapore, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Món quà nào có giá trị 100 đô la Singapore trở lên là họ từ chối hoặc phải xin phép lãnh đạo cơ quan, nếu đồng ý mới được nhận. Nhưng khi nhận rồi lại phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Nếu món quà đó có giá trị tiền quá mức quy định và quan chức đó vẫn muốn nhận thì phải nộp tiền. Số tiền nộp thêm đưa vào tài khoản quỹ “nộp phạt” của Chính phủ.

Chuyện kể rằng, một phái đoàn quan chức của Chính phủ Singapore được cử sang một nước nọ để ký một hiệp định liên doanh sản xuất. Nhận thấy hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho mình, giới chức nước chủ nhà đã tặng những món quà lưu niệm có giá trị cao cho quan chức đoàn Singapore. Bởi sự quá nhiệt thành của chủ nhà, họ không sao từ chối được. Nhưng cứ nghĩ đến việc khi về nước lại mang quà biếu này đến cơ quan khai báo, phải mua lại và chuyển tiền vào tài khoản quỹ “nộp phạt” thì quả là phiền toái. Cả đoàn đều phải “đành lòng” viết thư cảm ơn và gửi lại quà ở sân bay trước khi trở về Singapore

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

“Virus Tâm Thần” Ở Thượng Tầng: Khi Bệnh Lý Là Tấm Lá Chắn 803 Tỷ

Xuan Ly 

“Virus Tâm Thần” Ở Thượng Tầng: Khi Bệnh Lý Là Tấm Lá Chắn 803 Tỷ

Việc cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đột ngột nhận kết luận “tâm thần nhẹ” ngay sau khi bị đề nghị truy tố vì làm thất thoát 803 tỷ đồng không đơn thuần là một sự trùng hợp y khoa. đây là sự kích hoạt của một “quy trình thoát hiểm đặc biệt” dành riêng cho giới tinh hoa chính trị khi đứng trước vành móng ngựa.

Tại sao một người từng điều hành cả hệ thống y tế quốc gia, tỉnh táo ký duyệt các siêu dự án trăm tỷ, lại “đổ bệnh” đúng lúc hồ sơ sai phạm tại Bệnh viện Bạch Mai 2 và Việt Đức 2 bị phanh phui? Câu trả lời nằm ở chiến thuật “vô hiệu hóa trách nhiệm hình sự”. Bản kết luận từ Viện Pháp y không chỉ là tờ giấy khám bệnh, mà là một “giấy thông hành” để chuyển hướng từ đại án tham nhũng sang câu chuyện nhân đạo. Đây là kịch bản “ve sầu thoát xác” quen thuộc: Khi quyền lực không còn bảo vệ được thân thể, họ dùng bệnh lý để bảo vệ tự do.

“tâm thần nhẹ” là một mật mã trong hệ thống quản trị nội bộ. Nó cho phép các cơ quan tố tụng giảm nhẹ hình phạt mà vẫn giữ được “thanh danh” cho bộ máy, tránh một cuộc sụp đổ dây chuyền. 803 tỷ đồng thuế dân có thể tan biến vào hư không, nhưng tấm lá chắn “bệnh lý” này đảm bảo rằng các nhóm lợi ích đứng sau sẽ không bị lộ diện.

Khi “luật của các đồng chí” được vận hành bằng những hồ sơ bệnh án “đúng quy trình”, công lý chỉ còn là một khái niệm xa xỉ dành cho những người không có khả năng… tự nhiên bị bệnh.

Le Anh


 

Nó phát ra một âm thanh “gần như tiếng người”, đầy xúc động và nghẹn ngào.

My Lan Pham

 Năm 2009, thợ lặn huyền thoại người Ý Enzo Maiorca đang lặn cùng con gái mình, Rossana, ngoài khơi bờ biển Syracuse.

Bất chợt, ông cảm thấy một cái chạm nhẹ sau lưng. Khi quay người lại, ông thấy một con cá heo. Nhưng nó không đến để chơi đùa ,ánh mắt nó như đang cầu xin một điều gì đó.

Con cá heo lao mình xuống sâu dưới lòng biển, và Enzo lập tức bơi theo. Ở độ sâu khoảng 15 mét, ông phát hiện ra một con cá heo khác đang bị mắc kẹt trong một tấm lưới đánh cá bỏ hoang. Không chút do dự, ông ra hiệu cho con gái đưa mình một con dao. Và vào đúng khoảnh khắc cuối cùng, ông đã giải thoát được chú cá heo tội nghiệp.

Con vật kiệt sức đến mức không thể tự bơi nổi. Enzo kể lại rằng, vào giây phút được giải cứu, nó phát ra một âm thanh “gần như tiếng người”, đầy xúc động và nghẹn ngào.

Khi họ cùng nhau nổi lên mặt nước, một điều kỳ diệu đã xảy ra: chú cá heo vừa được cứu chính là một con cá heo cái đang mang thai và chỉ vài phút sau, nó đã sinh một chú cá heo con ngay giữa lòng đại dương.

Con cá heo ban đầu ,người bạn đồng hành, người đã đi tìm người giúp đỡ bắt đầu bơi vòng quanh họ, rồi nhẹ nhàng tiến lại gần Enzo, chạm nhẹ vào cằm ông bằng chiếc mỏ mềm của mình như một lời cảm ơn sâu sắc, không lời. Sau đó, cả gia đình cá heo lặng lẽ bơi xa, tan vào màu xanh thẳm của biển cả.

Sự kiện ấy để lại trong Enzo một chấn động tâm hồn sâu sắc. Sau này, ông chia sẻ:

“Chừng nào con người còn chưa học được cách tôn trọng thiên nhiên và biết lắng nghe các loài sinh vật khác, thì chừng đó, con người vẫn chưa thật sự hiểu được vai trò của mình trên Trái Đất này.”

Chia sẻ từ trang Curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm


 

“Chúa Giêsu không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến”

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Đức Thánh Cha Lêô XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá: “Chúa Giêsu không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến”

Trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá – cuộc Thương Khó của Chúa, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô, với sự tham dự của đông đảo tín hữu.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha suy niệm về Chúa Giêsu như Vua Hòa Bình, Đấng mạc khải chính mình ngay giữa bối cảnh bạo lực đang bao trùm.

Khi Chúa Giêsu bước đi trên con đường Thập Giá, chúng ta cũng bước theo Ngài và chiêm ngắm cuộc khổ nạn mà Ngài đã mang lấy vì nhân loại như một món quà của tình yêu.

“Ngài vẫn kiên vững trong sự hiền lành, trong khi người khác đang khuấy động bạo lực,” Đức Thánh Cha nói. “Ngài trao hiến chính mình để ôm lấy nhân loại, ngay cả khi người ta giương gươm và gậy chống lại Ngài.”

Ngài nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu đến để mang lại sự sống và ánh sáng cho thế gian, ngay cả khi bóng tối và cái chết đang vây phủ lấy Ngài.

Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng Chúa Giêsu mong muốn dẫn đưa thế giới vào vòng tay của Chúa Cha và phá bỏ mọi rào cản ngăn cách con người với Thiên Chúa và với nhau.

Lặp lại nhiều lần danh xưng “Vua Hòa Bình”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh các hành động của Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó như chứng tá cho khát vọng đem lại hòa bình của Ngài.

Khi một môn đệ chém đứt tai người đầy tớ của thượng tế, Chúa Giêsu đã truyền hãy xỏ gươm vào bao, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”.

Khi bị đóng đinh và chịu chết, Chúa Giêsu không chống trả hay tự vệ, nhưng để mình bị dẫn đi như con chiên bị đem đi giết.

“Ngài tỏ lộ khuôn mặt hiền lành của Thiên Chúa, Đấng luôn khước từ bạo lực,” Đức Thánh Cha nói. “Thay vì cứu mình, Ngài chấp nhận bị đóng đinh, ôm lấy mọi thập giá của con người trong mọi thời đại và mọi nơi.”

Đức Thánh Cha cũng nhắc lại lời ngôn sứ Isaia:

“Dù các ngươi có dâng nhiều lời cầu nguyện, Ta cũng không nghe, vì tay các ngươi đầy máu” (Is 1,15).

“Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, Đấng khước từ chiến tranh, và không ai có thể lợi dụng Ngài để biện minh cho chiến tranh,” ngài khẳng định.

“Ngài không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng loại bỏ chúng.”

Đức Thánh Cha bày tỏ đau buồn trước những vết thương của gia đình nhân loại hôm nay, khi con người kêu lên với Thiên Chúa bằng “những tiếng rên xiết đau đớn của tất cả những ai bị áp bức bởi bạo lực và là nạn nhân của chiến tranh”.

“Đức Kitô – Vua Hòa Bình – lại kêu lên từ thập giá: Thiên Chúa là tình yêu! Xin thương xót! Hãy hạ vũ khí xuống! Hãy nhớ rằng anh em là anh chị em của nhau!”

Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha nhắc lại lời của Đức cha Tonino Bello, suy niệm về Đức Trinh Nữ Maria đứng dưới chân thập giá của Con mình:

“Lạy Mẹ Maria chí thánh, người phụ nữ của ngày thứ ba, xin ban cho chúng con niềm xác tín rằng, bất chấp tất cả, cái chết sẽ không còn thống trị chúng con; rằng những bất công của các dân tộc sẽ đến hồi kết; rằng những tia lửa chiến tranh đang tàn lụi trong hoàng hôn; rằng những đau khổ của người nghèo đang dần chấm dứt.

Và sau hết, xin cho nước mắt của mọi nạn nhân của bạo lực và đau khổ sớm được lau khô, như sương giá tan biến dưới ánh mặt trời mùa xuân.”

(Nguồn: Vatican News)


 

CHO PHÉP LINH HỒN QUỲ GỐI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy để cô ấy yên!”

“Bất kể trạng thái tâm thần của bạn ra sao, hãy luôn cho phép linh hồn quỳ gối! Bởi lẽ, thờ phượng và yêu mến luôn cần cho sự thánh thiện và hạnh phúc của bạn!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đáng để đánh đổi mọi sự, kể cả ‘phẩm giá’. Ngài là Đấng cần thiết cho sự thánh thiện và hạnh phúc. Maria là kiểu mẫu của một người luôn ‘cho phép linh hồn quỳ gối!’.

Vậy mà Chúa Giêsu đã để cô ấy quỳ gối như một cách ‘tỏ tình’ – giữa phòng tiệc – thậm chí để cô lấy một cân dầu thơm hảo hạng đổ lên chân mình và lau bằng tóc. Điều lý thú là, Giuđa bất bình; nhưng lý thú hơn, Ngài trách ông và nói, “Hãy để cô ấy yên!”. Nhiều lúc, chúng ta chỉ muốn đứng để giữ chút tự trọng; nhưng chỉ khi quỳ, bạn và tôi mới ở đúng chỗ. Maria “phung phí” điều người khác cho là quá đáng, Chúa Giêsu gọi là đúng lúc. Nhỏ bé, cô ‘cho phép linh hồn quỳ gối’ và đã chạm tới điều lớn lao nhất. “Trừ khi đó là tình yêu điên cuồng, say đắm và phi thường, nếu không thì bạn đang lãng phí!” – Tiffanie DeBartolo.

Thật lạ! Việc quỳ trước Chúa Giêsu không hạ thấp, mà nâng con người lên. Hương dầu không chỉ toả lan trong căn phòng, nhưng còn lan toả vào lịch sử cứu độ: một cử chỉ thờ phượng đi trước mai táng. Maria không chỉ yêu, cô “hiểu” bằng con tim. Khi linh hồn được phép quỳ gối, nó nhìn bằng đôi mắt Thiên Chúa – nơi mất mát thành hiến dâng, nơi chết chóc hé mở sự sống – phục sinh!

Chúng ta có thể làm nhiều điều “đúng”, nhưng hiếm khi “quỳ”. Giữ đạo, nhưng không cúi mình trong thờ phượng; làm nhiều việc, nhưng thiếu một cử chỉ ‘vô ích’ – đó là điều chúng ta còn thiếu trước Chúa. Vì thế, nội tâm khô cứng, đức tin thành bổn phận, tình yêu mất hương. Một linh hồn không quỳ, sớm muộn cũng cúi mình trước những điều thấp hơn. “Nếu bạn không thờ phượng Thiên Chúa, bạn sẽ thờ một điều gì đó, và chín lần trong mười, đó sẽ là chính bạn!” – Fulton Sheen.

Kể lại câu chuyện này, Gioan mời chúng ta như Maria, dám “đổ” hết cho Chúa Giêsu. Không gì quá đắt! Thờ phượng là điều đáng giá nhất, vì nó làm bạn và tôi trở nên con người Chúa muốn chúng ta trở thành. “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Ngài là Ánh Sáng, là Sự Sống; “Đấng sáng tạo và căng vòm trời, ban hơi thở cho dân trên mặt đất” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô! Ngài không chỉ dạy chúng ta quỳ, chính Ngài đã sống điều đó. Linh hồn Ngài luôn hướng về Cha trong sự vâng phục trọn vẹn; và đỉnh cao của sự “quỳ gối” ấy là thập giá. Trên thập giá, Con Thiên Chúa như cúi mình đến tận cùng, trao phó tất cả trong tay Cha; để từ đó, cùng Cha, nâng con người lên. Vì thế, mỗi lần quỳ xuống trong thờ phượng, chúng ta được cuốn vào chuyển động của Chúa Kitô: từ hiến dâng đến phục sinh, từ hạ mình đến sống niềm hạnh phúc trong chính mình – cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đầy tội, Chúa đầy tình; giữa những ồn ào và tính toán, xin cho con dám “phung phí” tình yêu trước Ngài; giúp con tìm lại hương thơm của trái tim biết quỳ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần Thánh

Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,1-11

1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su ; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. 3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. 4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói : 5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?” 6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. 7 Đức Giê-su nói : “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. 8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có ; còn Thầy, anh em không có mãi đâu.” 9 Một đám đông người Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa, 11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.

NGAI ÂN SỦNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi thấy thập giá là điều Chúa làm cho ta, phải thấy đó là điều ta làm cho Chúa!” – John Stott.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một nghịch lý: thập giá – điều con người làm cho Chúa, trong đó có chúng ta – lại trở thành điều Chúa làm cho con người: cứu độ! Nơi sự dữ tưởng như thắng thế, ân sủng lại lên ngôi. Thập giá quả là ‘ngai ân sủng’.

“Đóng đinh nó vào thập giá!” – tiếng gào của đám đông không chỉ ở ngoài kia, nhưng vang trong chính cõi lòng mỗi người chúng ta – những tấm lòng đổi thay chóng vánh, nhiệt thành hôm nay, phản bội ngày mai. Nhưng chính giữa sự lật mặt ấy, ân sủng không đổi thay: Con Thiên Chúa vẫn ở lại, vẫn hiến mình. ‘Ngai ân sủng’ không được dựng bởi lòng trung thành của con người, nhưng đứng vững ngay trong sự phản bội của lòng người. “Chúa Giêsu quyết tâm cứu tội nhân đến mức… chính Ngài tạo nên cây thập giá và cả những kẻ đóng đinh Ngài!” – Octavius Winslow.

“Hãy xuống khỏi thập giá đi!” – một đề nghị hợp lý kiểu con người, nhưng Chúa Giêsu không xuống; Ngài chọn ở lại trong thất bại để thực hiện chiến thắng mạnh mẽ nhất: cứu độ! Và ở đó, thập giá do tội lỗi dựng nên lại trở thành nơi ân sủng tuôn trào. Không phải bằng cách né tránh sự dữ, nhưng bằng cách đi xuyên qua nó, ôm lấy nó, Thiên Chúa biến chính nơi tối tăm nhất thành nguồn sáng – ‘ngai ân sủng’. “Thập giá là cột thu lôi của ân sủng!” – A.W. Tozer.

Như vậy, Chúa Giêsu đã chọn ở lại trên thập giá để hoàn tất số phận của Người Tôi Trung: không kêu than, không phản kháng, nhưng hiến mình – bài đọc một – đến nỗi Ngài cảm thấy như bị Chúa Cha bỏ rơi, “Muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” – Thánh Vịnh đáp ca. Từ sự vâng phục ấy, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá – bài đọc hai – Con Thiên Chúa biến nơi bị huỷ diệt thành nguồn sống.

Ai đã nhận ra điều này? Không phải các môn đệ, không phải đám đông, nhưng là một anh trộm: “Xin nhớ đến tôi!”. Giữa nơi xử án, Chúa Giêsu tha thứ; không hỏi công trạng, chỉ mở ra ân sủng. Người tội lỗi chạm tới điều mà kẻ tự cho mình công chính lại bỏ lỡ. Để ngay trong giờ phút tưởng như mất tất cả, một lời xin khiêm hạ đã mở ra thiên đàng – thập giá trở thành nguồn cội thứ tha đầu tiên.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu không xoá bỏ bóng tối, nhưng đi vào tận đáy của nó; không né tránh cái chết, nhưng biến nó thành lối mở của sự sống. Nơi con người dựng nên kết án, Ngài dựng nên tha thứ; nơi chỉ có chết chóc, Ngài khơi lên nguồn sống. Vì thế, thập giá không còn là điểm kết, nhưng là khởi đầu – một nghịch lý chỉ có tình yêu mới thực hiện được. Và Hội Thánh đã cất tiếng hát đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi tội hồng phúc… đã đem lại cho chúng con một Đấng Cứu Độ cao cả!” – để từ nơi thập giá, chúng ta nhận ra: ‘ngai ân sủng’ đã được dựng lên để ban muôn phúc cho muôn người qua muôn ngàn đời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra thập giá không chỉ là điều Chúa làm cho con; nhưng còn là điều con đã góp phần; để con biết cúi đầu than khóc tội và đón nhận ơn tha thứ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM A

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

✠ Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.  Mt 27,11-54 

11nk Khi ấy, Đức Giê-su bị điệu ra trước mặt tổng trấn ; tổng trấn hỏi Người : m “Ông là vua dân Do-thái sao ?” nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Chính ngài nói đó.” 12nk Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng. 13 Bấy giờ ông Phi-la-tô hỏi Người : m “Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao ?” 14nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.

15nk Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý họ muốn. 16 Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Ba-ra-ba. 17 Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Phi-la-tô nói với họ : m “Các người muốn ta phóng thích ai cho các người đây ? Ba-ra-ba hay Giê-su, cũng gọi là Ki-tô ?” 18nk Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.

19nk Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông : m “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy.”

20nk Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Ba-ra-ba mà giết Đức Giê-su. 21 Tổng trấn hỏi họ : m “Trong hai người này, các người muốn ta tha ai cho các người ?” nk Họ thưa : dc “Ba-ra-ba !” 22nk Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp : m “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây ?” nk Mọi người đồng thanh : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 23nk Tổng trấn lại nói : m “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?” nk Họ càng la to : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 24nk Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : m “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy !” 25nk Toàn dân đáp lại : dc “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !” 26nk Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

27nk Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. 28 Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29 rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : dc “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” 30nk Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. 31 Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

32nk Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn ; chúng bắt ông vác thập giá của Người. 33 Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, 34 chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. 35 Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. 36 Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

37nk Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng : “Người này là Giê-su, vua dân Do-thái.” 38 Cùng bị đóng đinh với Người có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

39nk Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu 40 vừa nói : m “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” 41nk Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : 42m “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! 43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn ! Vì hắn đã nói : “Ta là Con Thiên Chúa !” 44nk Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

45nk Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 46 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng : ✠ “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nk nghĩa là ✠ “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” 47nk Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói : m “Hắn ta gọi ông Ê-li-a !” 48nk Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. 49 Còn những người khác lại bảo : m “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không !” 50nk Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

51nk Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung, đá vỡ. 52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. 53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người. 54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói : m “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”


 

Ông gốc Việt đâm anh họ, chủ tiệm nail, 50 nhát nhận tội giết người

Ba’o Nguoi-Viet

March 28, 2026

GRATIOT COUNTY, Michigan (NV) – Một người đàn ông gốc Việt tại thành phố Alma, Michigan, nhận tội giết người sau khi đâm tử vong chính người anh họ của mình trong một vụ tấn công xảy ra năm 2025, theo hồ sơ tòa án và giới chức địa phương công bố ngày 25 Tháng Ba, 2026, đài truyền hình địa phương WILX 10 đưa tin.

Người nhận tội là Jack Nguyễn, 31 tuổi, bị truy tố trong cái chết của ông Travis Nguyễn, 48 tuổi, chủ một tiệm nail tại Pine River Township. 

Nghi can Jack Nguyễn. (Hình: Sở Cảnh Sát Gratiot County)

Theo cảnh sát, sự việc xảy ra ngày 19 Tháng Ba, 2025, khi họ được gọi đến tiệm LA Nails trên đường North Alger sau khi nhận tin báo về một vụ tấn công nghiêm trọng. Khi đến nơi, họ phát hiện nạn nhân đã tử vong với nhiều vết đâm. 

Ban đầu, nghi can Jack Nguyen bị bắt và đối diện cáo buộc giết người cấp độ cao nhất. Tuy nhiên, trong tiến trình tố tụng, nghi can nhận tội giết người cấp độ hai. 

Hồ sơ tòa cho thấy vụ tấn công xảy ra vào khoảng 1 giờ chiều, và nạn nhân bị đâm ít nhất 50 lần trước khi nghi can rời khỏi hiện trường và ngồi chờ cảnh sát bên ngoài. 

Phiên tuyên án dự kiến sẽ diễn ra vào cuối Tháng Năm hoặc Tháng Sáu, với mức án có thể từ 20 đến 40 năm tù nếu thỏa thuận nhận tội được tòa chấp thuận. 

Một bi kịch gia đình

Điều khiến sự việc này trở nên nặng nề hơn không chỉ là tính chất bạo lực, mà là mối quan hệ anh em họ giữa hai bên, đồng thời có liên hệ trong công việc.

Nạn nhân, ông Travis Nguyen, còn được biết đến với tên Steve, là một người nhập cư sang Mỹ từ năm 1993, là cha của năm người con gái và được mô tả là người chăm chỉ, gắn bó với gia đình và cộng đồng. 

Đó là hình ảnh quen thuộc tiêu biểu của nhiều gia đình Việt tại Mỹ như làm việc trong ngành nail, gây dựng cửa tiệm nhỏ, nuôi con, sống bình lặng.

Và rồi, tất cả chấm dứt trong một buổi chiều bạo lực.

Đối với nhiều người Việt, đây không chỉ là một bản tin tội phạm. Đây là một câu chuyện đau lòng vì xảy ra trong chính cộng đồng mình, giữa những người cùng dòng máu.

Không có nhiều thông tin về nguyên nhân dẫn đến tình cảnh oan khiên trên. Nhưng điều rõ ràng là một khoảnh khắc mất kiểm soát, hoặc một mâu thuẫn bị đẩy đến cực điểm, đưa đến phá hủy tất cả gia đình, sự nghiệp, và cả tương lai của nhiều người liên quan.

Có thể nhìn nghi can Jack Nguyễn không chỉ như một bị cáo, mà như một người đã đánh mất chính mình trong một giây phút mà lẽ ra có thể dừng lại. Nhưng sự thông cảm, nếu có, không thể thay thế trách nhiệm. Hành động bạo lực, đặc biệt trong phạm vi gia đình, là điều không thể chấp nhận.

Cộng đồng người Việt tại Mỹ đã trải qua chiến tranh, di cư, và xây dựng lại từ con số không. Nhưng đôi khi, điều nguy hiểm nhất không đến từ bên ngoài mà đến từ chính những cơn giận bên trong mỗi con người. (MPL)


 

Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24) – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay thứ 7, xin Mẹ Maria đoái thương đến nhân loại đang bị chiến tranh, đại dịch đe doạ. Nhớ nhau trong lời kinh nguyện nhé.

Bạn có được 1 quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương vào nơi oán thù.

Cha Vương

Thứ 7: 28/03/2026. (t3-23)

TIN MỪNG: Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24)

SUY NIỆM:  Chúa nói: muốn hiểu và tin lời Chúa thì phải ngước tầm nhìn lên cao: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông mới biết là Tôi Hằng Hữu.” Và chỉ khi nào tin Chúa Giêsu Hằng Hữu, lúc đó mới khỏi “mang tội lỗi mình mà chết.” Nhiều lúc cuộc đời bạn giống như chiếc xe bị lún xuống vũng lầy: càng gầm rú lại càng bị lún sâu. Mải mê làm ăn, mong có một cuộc sống thoải mái. Nhưng khổ nỗi, đã có rồi lại muốn hưởng thụ thêm; và vì thế có khi lại vướng mắc vào những đam mê tội lỗi, muốn tháo gỡ ra thì lại bị đắm sâu hơn. Bạn ơi, nếu cứ để mình bị sa đà trong việc hưởng thụ, thì không bao giờ bạn thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những sự hạ giới. Đừng để mình phải chết trong tội như thế, nhưng hãy ngước nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá để Chúa nâng bạn lên với Ngài.

LẮNG NGHE: Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? / Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA là Đấng dựng nên cả đất trời. / Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. / Chính CHÚA là Đấng canh giữ bạn, chính CHÚA là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. (Tv 121:1b,2,3,5)

CẦU NGUYỆN: Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn, / tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. / Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt, / trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe / và mau mau đáp lời. (Tv 102:1-3) Đừng để con chết trong vũng lầy tội lỗi.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội và cố gắng tránh xa dịp tội nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hãy Đưa Con Trở Về – Trung Quân 

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Được chụp bởi Larry Pannell, bức ảnh mạnh mẽ này ghi lại hơi thở cuối cùng của một con sư tử—vua của thảo nguyên.

“Chúng tôi tìm thấy nó nằm trên cỏ, kiệt sức và không thể cử động. Chúng tôi chỉ cách nó không quá một mét khi nó chết dưới bóng cây. Tôi đánh rơi máy ảnh. Chúng tôi nhìn nhau, nhắm mắt lại… và chỉ đứng im lặng.

Nó đang vật lộn để thở, ngực nó chỉ thỉnh thoảng nhô lên. Một cơn co giật cuối cùng—và sau đó, im lặng. Vị vua đã ra đi.”

Cuộc sống ngắn ngủi. Quyền lực thì phù du. Vẻ đẹp thì phai tàn. Dù hùng mạnh đến đâu, tất cả các sinh vật sống một ngày nào đó cũng sẽ trở nên yếu đuối.

Vì vậy, hãy khiêm tốn, tử tế và hiện diện. Giúp đỡ người bệnh, chăm sóc người yếu đuối và đừng bao giờ quên: một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều rời khỏi sân khấu cuộc đời.

Larry Pannell


 

 Đức Hồng y Văn Thuận: Niềm hy vọng tồn tại trong mọi hoàn cảnh

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Nhân kỷ niệm 50 năm xuất bản cuốn sách Đường Hy Vọng, một hội nghị đã suy tư về cuộc đời và di sản của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – vị mục tử đã trải qua 13 năm tù đày tại Việt Nam.

Sau 13 năm bị giam giữ như một tù nhân chính trị – trong đó có 9 năm biệt giam – cuốn sách Đường Hy Vọng của Đấng Đáng Kính Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vẫn tiếp tục mang lại niềm hy vọng và nguồn cảm hứng cho nhiều người trên khắp thế giới, sau 50 năm kể từ ngày xuất bản.

Được thụ phong và sống đức tin Công giáo giữa bối cảnh chế độ Cộng sản chống Công giáo tại Việt Nam trong những năm 1970–1980, khi còn là Giám mục Nha Trang, ngài đã bị bắt và giam giữ mà không qua xét xử. Năm 2002, ngài qua đời tại Roma, và 15 năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên phong ngài là Đấng Đáng Kính.

Ngày nay, tại chính nơi – Hội trường Hiệp ước Lateran thuộc Điện Lateran – nơi đã ký kết kết thúc giai đoạn cấp giáo phận trong tiến trình phong chân phước cho ngài vào năm 2013, một hội nghị kỷ niệm 50 năm cuốn sách đã làm nổi bật tầm quan trọng của tác phẩm này cũng như di sản lâu dài của vị Hồng y.

Những điểm nổi bật của hội nghị

Ngay khi khai mạc, người điều phối chương trình – nhà báo Vatican Media Alessandro De Carolis – cho biết ĐGH Lêô XIV đã gửi sứ điệp chúc mừng. Trong sứ điệp do Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin ký, Đức Thánh Cha bày tỏ lời chúc tốt đẹp và nhấn mạnh rằng sự kiện này giúp khám phá lại “chứng tá Kitô hữu nhiệt thành” của một “mục tử quảng đại”, mà tấm gương của ngài “vẫn còn rất актуal hôm nay”.

Đức Thánh Cha khẳng định: “Niềm hy vọng Kitô giáo phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và được thể hiện qua một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân.”

Dâng hiến cho một dân tộc bị chia cắt

Suy tư về cuộc đời của vị Hồng y Việt Nam, Đức Hồng Y Michael Czerny nhận định rằng ngài không chỉ cổ võ công lý và hòa bình, mà còn là hiện thân sống động của những giá trị ấy trong lời nói và hành động.

Cuộc đời ngài phản ánh chính sứ mạng của mình: phục vụ như một tuyên úy tại bệnh viện, nhà tù và các trại phong; khởi xướng nhiều sáng kiến giáo dục và xã hội; đồng thời dấn thân cổ võ hòa giải trong một đất nước bị chia rẽ.

Ngay cả trong thời gian bị giam cầm, thái độ ấy vẫn không thay đổi. Ngài đối xử với mọi người – từ các tù nhân, dù là Kitô hữu hay không, cho đến các cai ngục – bằng tình yêu thương và sự tôn trọng.

Sau khi được trả tự do năm 1988, và từ năm 1991 sống tại Roma mà không thể trở về quê hương, ngài vẫn tiếp tục thực hiện những công việc đáng kinh ngạc: nâng đỡ người tị nạn Việt Nam trên toàn thế giới cả về nhân bản lẫn thiêng liêng, xây dựng mạng lưới trợ giúp quốc tế và nhiều sáng kiến mục vụ khác.

Di sản của ngài còn được thể hiện qua sự đóng góp vào việc hình thành Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo hội, nhằm đáp lại tiếng kêu đòi công lý xã hội dưới ánh sáng đức tin Công giáo.

Ký ức của người em gái

Bà Élisabeth Nguyễn Thị Thu Hồng – em gái của Đức Hồng y – chia sẻ rằng ngày nay “tất cả chúng ta đều chứng kiến quyền năng của sự hiện diện của Thiên Chúa qua câu chuyện của vị mục tử bị tách rời khỏi đoàn chiên, nhưng vẫn hiệp nhất sâu xa nhờ Lời Chúa”.

Bà nhắc lại truyền thống gia đình: ngay cả trước thời của anh mình, gia đình đã bị bách hại, thậm chí có người bị giết vì đức tin. Từ năm 1845 đến 1862, các cuộc bách hại nhằm làm cho người Công giáo từ bỏ đức tin đã khiến nhiều Kitô hữu hy sinh mạng sống.

Thế nhưng, người Kitô hữu Việt Nam không chối bỏ đức tin. Họ vẫn trung thành, gắn bó với Lời Chúa và những lời kinh được viết trên những mảnh giấy nhỏ giấu kín trong tư trang. Nhiều thế kỷ sau, vào năm 1975, điều đó vẫn tiếp diễn khi các tín hữu kiên vững trong đức tin giữa bách hại.

Chính trong hoàn cảnh ấy, “1001 suy niệm” của Đức Hồng y Văn Thuận được chuyền tay trong các gia đình, trong phòng giam và các trại học tập. Đến thập niên 1980, những suy niệm này được tập hợp thành cuốn Đường Hy Vọng.

Những lời suy niệm ấy đã mang “sự hiện diện của Chúa Giêsu đến với những người đang đau khổ” và trở thành di sản thiêng liêng cho nhiều người trên thế giới, đặc biệt tại châu Á.

Một mẫu gương đích thực của đời sống Kitô hữu và linh mục

Dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, Đức Hồng y Văn Thuận vẫn luôn kiên vững trong đức tin. Đức Hồng y Lazzaro You Heung-sik, Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, nhấn mạnh rằng sau khi mất tất cả, vị Hồng y Việt Nam đã “đưa ra một chọn lựa mới mẻ và rất sâu xa cho Chúa: chọn chính Thiên Chúa, chứ không phải những công việc của Thiên Chúa.”

Ngài được mô tả là một con người hiền hòa, bình an và tự do nội tâm, luôn thao thức cho đời sống linh mục, và có khả năng loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh – kể cả những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Ngay trong tù, ngài đã cảm hóa nhiều người. Một cai ngục sau này đã xin lãnh bí tích Rửa tội, và chia sẻ: “Gặp Đức cha Thuận là cuộc gặp gỡ quan trọng nhất đời tôi. Ngài đã dẫn tôi đến con đường trở thành công dân Nước Trời, công dân của công lý và hòa bình.”

Từ Việt Nam đến Hoa Kỳ: sứ điệp cho hôm nay

Trong bối cảnh thế giới đầy xung đột và bạo lực, Đức Giám mục phụ tá Nguyễn Thái Hành (Orange, California) nhấn mạnh rằng cuốn Đường Hy Vọng nhắc nhở rằng niềm hy vọng không đến từ bên ngoài.

Cuốn sách mời gọi con người suy tư về nguồn gốc của hy vọng. Cuộc đời của Đức Hồng y Văn Thuận chứng minh rằng hy vọng phát sinh từ niềm tin rằng không có gì trên thế gian có thể tách chúng ta khỏi đức tin.

Ngài từng nói với một tù nhân Phật giáo: “Người Cộng sản có thể lấy đi mọi thứ, nhưng không thể lấy đi đức tin của anh.”

Và để trả lời cho câu hỏi: sau 50 năm, thế giới có thể rút ra điều gì từ cuốn sách này, Đức Cha Nguyễn Thái Thành khẳng định:

“Không có gì có thể đánh bại niềm hy vọng ấy, nếu chúng ta thực sự tin vào Đức Giêsu Kitô và bước theo Người cách trung thành và chân thành.”

Kielce Gussie

Nguồn: Vatican News


 

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU – Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Nụ hôn diễn tả tình yêu.
Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu.  Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người.  Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn.  Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn.  Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước.  Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn. 

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản.  Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7, 37. 

Trong mái nhà Nagiaret, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này.  Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

 Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48).  Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26, 48//Mc Mc 14, 44//Lc 22, 47); chữ “hôn” ở đây là phileô.  “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26, 49//Mc 14, 45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn.”  Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn,” “cái hôn thắm thiết,” để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể!  Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn… 

Cái hôn của người phụ nữ vô danh.  Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7, 36-50).  Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.  Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 38).  Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết.”  Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org). 

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu.  Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn. 

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn.  Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung.  Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ.  Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn.  Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động. 

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48).  Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu.  Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.  Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi!  Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22, 48).  Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài.  Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn.  Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu.  Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất. 

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26, 15; Mt 27, 3.9).  “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14, 5; Ga 12, 5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26, 6-13; Mc 14, 3-9; Ga 12, 1-8).  Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền,” nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26, 8; Mc 14, 4).  Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì?  Sao không bán để giúp cho người nghèo?”  Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em.”  Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực.

 Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau.  Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản.  Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút. 

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người.  Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy.  Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời.  Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất.  Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình. 

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán.  Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa.  Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp. 

 Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án.  Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai.  Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa.  Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác.  Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác….  Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.  

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn.  Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn.  Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu.  Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

 Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao?  Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không?  Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?

 Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn.  Yêu đòi phải hy sinh cho nhau.  Hy sinh là bảo chứng của tình yêu.  Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu. 

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức.  Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ.  Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một. 

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng.  Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm phản bội.  Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp… có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta.  Thực tế cuộc sống xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái dối gạt cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mà đánh mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những thảm họa đau thương.  Chúa Giêsu biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18).  Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).  Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8). 

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3).  Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách!  Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung. 

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với anh chị em, luôn biết sống yêu thương với hết mọi người.  Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim