“TÔI ĐÃ GIẾT CHẾT CHA MÌNH… KHÔNG PHẢI VÌ UNG THƯ…

Nguyễn Minh Anh

“TÔI ĐÃ GIẾT CHẾT CHA MÌNH… KHÔNG PHẢI VÌ UNG THƯ, MÀ VÌ NIỀM TIN NGU MUỘI VÀO CÁI GỌI LÀ ‘THUẬN TỰ NHIÊN’.”

Nhìn cha trút hơi thở cuối cùng, cơ thể chỉ còn da bọc xương, tôi không khóc nổi, trái tim tôi đã chết lặng.

Nỗi ân hận tột cùng chặn đứng mọi cảm xúc.

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn ám ảnh bởi câu nói cuối cùng của ông, thều thào không thành tiếng:

“Cha đói quá…”

Bản án ung thư đại trực tràng của bố tôi không phải là dấu chấm hết, nhưng chính sự bảo thủ của tôi đã cướp đi cơ hội sống của ông.

Tôi sợ hóa chất phá hủy cơ thể cha.

Thế là tôi bắt đầu lên mạng, tham gia vào các hội nhóm “chữa bệnh không dùng thuốc”.

Tôi bị mê hoặc bởi những lời đồn thổi về việc “bỏ đói tế bào ung thư”, về những loại nước ép chữa lành thần kỳ.

Tôi đã biến căn bếp thành một pháp trường, và tôi chính là kẻ hành quyết.

Tôi bắt cha nhịn hoàn toàn thịt, cá, trứng, sữa.

Hàng ngày ép ông uống hàng lít nước rau củ đắng ngắt.

Cha tôi vốn lam lũ, chỉ biết nghe lời con.

Ông ăn không nổi, nhưng vẫn cố nuốt vì tin vào lời tôi: “Cha cố lên, ăn thế này tế bào ung thư mới chết được.”

Tôi còn nhớ như in buổi chiều hai tháng trước, người bạn thân làm ở bệnh viện K đến thăm.

Cậu ấy đưa cho tôi cuốn sách “Liệu pháp sức khỏe ung thư” của ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn.

Giọng như khẩn khoản:

“Cậu đừng nghe những lời truyền miệng vô căn cứ đó nữa. Đọc cuốn sách này đi, bác sĩ Tuấn đã hướng dẫn rất rõ về dinh dưỡng khoa học cho bệnh nhân K.”

“Cậu mà cứ ép bác nhịn ăn thế này, bác sẽ kiệt sức trước khi bệnh kịp khỏi đấy!”

Lúc đó, tôi đã gạt phắt đi.

Tôi tự tin mình đã tìm ra “chân lý” và cho rằng cậu ấy cũng chỉ là một người làm ngành y máy móc. Tôi ném cuốn sách vào góc tủ, không thèm mở lấy một trang.

Và cái giá phải trả là mạng sống của cha tôi.

Cha sụt 20kg chỉ trong thời gian ngắn.

Khi đưa vào viện vì ông ngất xỉu, bác sĩ đã mắng thẳng vào mặt tôi: “Anh đang giết cha mình đấy! Cơ thể ông ấy suy kiệt hoàn toàn,

không còn đủ sức để chịu đựng bất kỳ phác đồ điều trị nào nữa.”

Ngày đám tang cha, người bạn ấy lại đến.

Cậu ấy không trách móc nửa lời, chỉ nhìn di ảnh cha rồi thở dài. Cái sự im lặng đó còn đau đớn hơn vạn lời chửi rủa.

Tang lễ xong xuôi, tôi trở về căn nhà vắng.

Bước vào bếp, tôi thấy chiếc máy ép trái cây vẫn còn dính những bã rau củ cũ – thứ mà tôi từng ép cha uống mỗi ngày.

Cạnh đó là một túi gạo lứt còn dang dở tôi vừa mua tuần trước.

Tôi mở tủ lạnh, thấy một hũ yến nhỏ mà ai đó đã biếu, cha từng hỏi: “Cha ăn cái này được không con?”.

Tôi đã dứt khoát: “Không được, đường và đạm trong này sẽ nuôi tế bào ung thư”.

Giây phút đó, tôi nhìn xuống đôi bàn tay mình và run lên bần bật.

Chính đôi bàn tay này đã gạt đi chén yến của cha, chính đôi bàn tay này đã ép ông nhịn ăn cho đến khi không còn sức để mở mắt.

Bác sĩ nói đúng, cha tôi không chết vì ung thư hung hãn, ông chết vì suy kiệt – một cái chết đói được nhân danh tình yêu thương.

Trong cơn dằn vặt, tôi tìm lại cuốn sách cũ bị vứt trong góc tủ. Tôi mở ra đọc như kẻ tâm thần tìm một lời giải cho tội lỗi của mình.

Càng đọc, tôi càng bàng hoàng. Những gì ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn viết như từng nhát dao đâm vào sự bảo thủ của tôi, tự cho là đúng của mình.

Cuốn sách chỉ rõ:

– Tế bào ung thư không chết vì nhịn ăn: Nó là “kẻ ăn cắp” chuyên nghiệp, nó sẽ rút cạn đạm từ cơ bắp của bệnh nhân để tồn tại. Nhịn ăn là tự sát.

– Dinh dưỡng là vũ khí: Tại sao phải ăn đủ đạm, đủ chất để xây dựng “hàng rào” miễn dịch và chịu đựng được phác đồ điều trị.

– Sự thật về các loại “thuốc tiên” truyền miệng: Những thứ không có căn cứ y khoa chỉ làm mất đi thời gian vàng của người bệnh.

Tôi gấp cuốn sách lại, nhìn lên di ảnh cha mà nước mắt giàn dụa.

Nếu tôi chịu mở cuốn sách này ra sớm hơn, dù chỉ là lướt qua mục lục thôi, có lẽ giờ này tôi đang nấu cho cha một bát súp đủ chất, thấy ông ăn ngon lành và mỉm cười với tôi.

Tôi kể câu chuyện này không phải kể khổ hay thanh minh cho chính bản thân mình. Tôi chỉ những người đang chăm sóc những người thân yêu của mình không phải mắc những sai lầm không đáng có như tô.

Đừng để sự thiếu hiểu biết phải trả giá bằng những nỗi đau.

Đừng để để mất đi rồi mới ân hận.

GỬI NHỮNG AI ĐANG CÙNG NGƯỜI THÂN CHIẾN ĐẤU VỚI UNG THƯ: Sự yêu thương nếu thiếu kiến thức sẽ trở thành vũ khí gây hại.

Hãy trang bị kiến thức chuẩn y khoa ngay từ hôm nay để bảo vệ người thân của mình.

Tôi chia sẻ cách đăng ký mua sách tại đây cho những ai thật sự cần: https://www.nowlife.vn/lieu-phap-suc-khoe-ung-thu/?utm_source=TVA.13/04/2026a1

(Cuốn sách “Liệu pháp sức khỏe ung thư” – ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn. Tài liệu khoa học giúp bạn chọn đúng con đường sống cho người thân).


 

 Đứa Trẻ Đã Thay Đổi Lịch Sử Y Học

 Đứa Trẻ Đã Thay Đổi Lịch Sử Y Học

 Đọc cuối ngày…

Một người mẹ đã khẩn khoản cầu xin nhà khoa học tiêm cho đứa con đang hấp hối của mình một hoạt chất chưa từng được thử nghiệm trên cơ thể người.

Đó là tháng 7 năm 1885, tại Paris.

Joseph Meister, chín tuổi, đứng run rẩy trong phòng thí nghiệm của Louis Pasteur. Tay và chân cậu bé chằng chịt những vết cắn sâu. Hai ngày trước đó, một con chó dại đã tấn công cậu ở vùng Alsace.

Mẹ cậu biết chính xác điều gì đang chờ đợi phía trước. Vào năm 1885, bệnh dại đồng nghĩa với một bản án tử hình chắc chắn. Một khi các triệu chứng xuất hiện — sợ nước, co giật, ảo giác — kết cục sẽ là một sự hành hạ đau đớn tột cùng.

Nhưng bà đã nghe phong phanh về một nhà hóa học ở Paris đang thử nghiệm một phương thuốc. Dù không có gì chắc chắn, nhưng bằng niềm hy vọng trong tuyệt vọng, bà đã đưa con trai băng qua nước Pháp.

Thế lưỡng nan của Pasteur

Louis Pasteur khi đó 62 tuổi. Ông lừng danh thiên hạ, nhưng đang phải đối mặt với một quyết định bất khả thi. Ông sở hữu một loại vaccine đã thử nghiệm thành công trên động vật, nhưng chưa bao giờ dùng cho con người.

Hơn nữa, Pasteur không phải là bác sĩ, ông là một nhà hóa học. Nếu việc điều trị thất bại và đứa trẻ qua đời, sự nghiệp và di sản của ông sẽ tan thành mây khói. Nhưng nếu ông không làm gì cả, Joseph chắc chắn sẽ chết.

Sau khi tham vấn hai bác sĩ, phán quyết cuối cùng được đưa ra: nếu không điều trị, sẽ không có hy vọng. Pasteur quyết định mạo hiểm.

Phép màu đầu tiên

Trong nhiều ngày, Joseph được tiêm một loạt các mũi tiêm với nồng độ tăng dần để “dạy” hệ miễn dịch cách chiến đấu với virus trước khi nó xâm nhập vào não bộ. Pasteur theo dõi sát sao từng dấu hiệu sốt, từng cái rùng mình của cậu bé.

Ngày tháng trôi qua, Joseph vẫn khỏe mạnh. Cậu bé đã trở thành con người đầu tiên được cứu sống khỏi bệnh dại nhờ tiêm chủng.

Di sản cho nhân loại

Tin tức này đã chấn động toàn thế giới. Nhưng món quà lớn nhất của Pasteur không chỉ là loại vaccine này. Đó là việc ông đã chứng minh được Thuyết mầm bệnh: ý tưởng rằng các vi sinh vật vô hình chính là nguyên nhân gây ra bệnh tật.

Nhờ có ông:

Các phẫu thuật viên bắt đầu khử trùng dụng cụ.

Các bác sĩ bắt đầu thói quen rửa tay.

Chúng ta đun nóng sữa để loại bỏ vi khuẩn: một quy trình mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là “tiệt trùng Pasteur” (pasteurisation).

Joseph Meister chưa bao giờ quên người đàn ông đã cứu mạng mình. Khi trưởng thành, ông đã làm việc tại Viện Pasteur ở Paris trong nhiều thập kỷ. Ông sống đến tận năm 1940, như một minh chứng sống cho lòng dũng cảm của một nhà khoa học.

Ngày tháng 7 năm 1885 đó, một người đàn ông vốn không phải bác sĩ đã nhìn một đứa trẻ bị kết án tử và quyết định đánh cược tất cả vì hy vọng. Ông đã đúng. Joseph đã sống sót, và vì Pasteur đã chứng minh được điều không thể thành có thể, hàng triệu người khác sau đó cũng đã được cứu sống.

Đôi khi, cứu một mạng người chính là học cách để cứu cả thế giới.

TG Văn Chương

From: Kim Bang Nguyen


 

Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót chủ đề ‘Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương’

Ba’o Nguoi-Viet

April 15, 2026

Văn Lan/Người Việt

LONG BEACH, California (NV) – Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26 với chủ đề “Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương” do Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại và Cơ Sở Truyền Thông Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach, California, hôm Chủ Nhật, 12 Tháng Tư.

Quang cảnh Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Linh Mục Nguyễn Tất Hải, trưởng ban tổ chức, cho hay: “Chủ đề của đại hội nhằm vinh danh những sứ giả xót thương mà Giáo Hội Hoàn Vũ, Giáo Hội Việt Nam, và Dòng Chúa Cứu Thế Toàn Cầu đặc biệt nhớ đến trong năm 2026 này. Đó là Thánh Francis Assisi, nhân kỷ niệm 800 năm ngày thánh nhân qua đời (1226-2026), Thánh Gerard Majella, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, nhân kỷ niệm 300 năm sinh nhật của thánh nhân (1726-2026), và Đấng Đáng Kính Francis Trương Bửu Diệp, sẽ được tuyên chân phước tử đạo vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam.”

Giám Mục Albert Matta Bahhuth (thứ hai từ trái) dâng Thánh Lễ tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Phần giảng thuyết trong đại hội do Linh Mục Nguyễn Phi Long (giám phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại), với đề tài “Đức Maria: Mẹ Lòng Xót Thương.” Linh Mục Nguyễn Bá Quốc Linh (Dòng Chúa Cứu Thế Tỉnh Baltimore) với đề tài “Trở Nên Sứ Giả Lòng Thương Xót: Học Từ Trái Tim Thánh Phanxicô” và “Thương Xót Khi Bị Tổn Thương: Thánh Gerard và Sức Mạnh của Tha Thứ.” Linh Mục Ngô Thái Phong (Giáo Phận Thái Bình, Việt Nam) với hai chủ đề “Sứ Giả Lòng Thương Xót: Cha Francis Trương Bửu Diệp” và “Hội Thánh & Sứ Vụ Chứng Nhân Lòng Thương Xót.”

Tiếp đến là giải đáp thắc mắc, dưới sự điều hợp của các linh mục Nguyễn Tất Hải, Nguyễn Bá Quốc Linh, và Ngô Thái Phong.

Sau đó là đọc Kinh Năm Thánh Francis Assisi, Năm Thánh Gerard Majella, và Kinh Cầu với Linh Mục Francis Trương Bửu Diệp.

Thánh Lễ Đại Trào do Giám Mục Albert Matta Bahhuth, giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Los Angeles, chủ tế.

Giáo dân xếp hàng hôn Thánh Tích. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong bài giảng, giám mục nói: “‘Bình an cho các con’ là lời đầu tiên mà Đức Kitô Phục Sinh nói với các môn đệ của ngài. Anh chị em có nghĩ rằng họ đã mong đợi điều đó không? Anh chị em có nghĩ rằng đây sẽ là lời đầu tiên mà Chúa Giêsu nói với những người đã phản bội, chối bỏ và bỏ rơi ngài không? Đây chính là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay.”

“Tất cả đều xoay quanh tình yêu của Thiên Chúa Cha, đấng mà Chúa Giêsu, đấng vô tội, đã mặc khải cho chúng ta bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá, để anh chị em và tôi, những kẻ có tội, có thể được sự sống đời đời,” vị giám mục nói tiếp.

Giám mục thêm: “Càng chống cự hay nghi ngờ việc đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta càng khó tha thứ cho người khác. Chúng ta cần là một thành phần của cộng đoàn để có thể thực hành tha thứ lẫn nhau. Thiên Chúa là tình yêu, và khi anh chị em thấy người ta hành động trong tình yêu, anh chị em đã nhìn thấy dung nhan của Thiên Chúa.”

Linh Mục Nguyễn Phi Long (bìa phải) cùng các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế khai mạc Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Vị giám mục phụ tá của tổng giáo phận lớn nhất California cũng nói thế giới ngày nay cần nhiều lòng thương xót hơn, nhiều tha thứ và tình yêu hơn,

“Chúng ta vẫn chưa học được từ những kinh nghiệm của con người qua nhiều năm tháng rằng, bạo lực chỉ đưa đến bạo lực nhiều hơn. Tiền bạc và quyền lực có thể giải quyết một vấn đề nhưng lại tạo ra một vấn đề khác,” Giám Mục Albert Matta Bahhuth nói.

Linh Mục Hoàng Thành Đức (Dòng Chúa Cứu Thế) cho hay: “Với niềm tin Công Giáo, đây là lời mời gọi cho tất cả mọi người, cho những ai mang trong mình danh xưng là Kitô hữu, đều được mời gọi là sứ giả để rao truyền Lòng Chúa Thương Xót.”

“Khi Chúa chịu chết, cứu chúng ta để chứng minh bằng hành động của mình, ngài cũng muốn chúng ta tỏ lòng thương xót đó trong đời sống hàng ngày, tỏ lòng yêu thương với mọi người chung quanh, với gia đình của mình, đó là cách cụ thể nhất. Hãy cùng ngài đi vào cuộc sống để Lòng Thương Xót Chúa được lan tỏa những điều tốt lành cho tha nhân trong đời sống hàng ngày,” linh mục nói.

Ca Đoàn Tổng Hợp hát tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông tiếp: “Với các bạn trẻ được mời gọi cách thực tế bằng cách mỗi ngày tập sống quảng đại với tha nhân, kiên nhẫn với mọi người, những gì có thể làm được cho gia đình, cha mẹ anh chị em, yêu thương nhường nhịn, đem lại niềm vui cho mọi người, chính đó là lan tỏa Lòng Chúa Thương Xót.”

Cuối lễ là cầu nguyện chữa lành và hôn kính các Thánh Tích Gerard, Thánh Nữ Faustina, và Thánh Giáo Hoàng John Paul II.

Cô Thủy Phạm, giáo dân giáo xứ Đức Mẹ La Vang Las Vegas, Nevada, đi cùng phái đoàn rất đông về tham dự đại hội, cho biết đa số thành viên trong đoàn là các vị cao niên.

“Em muốn tiếp tục việc này để các cô bác có niềm vui một năm chỉ có một lần về dự Đại Hội Lòng Chúa Thương Xót. Đó là niềm vui tuổi già, không có con cháu và xe đi lay,” cô nói.

Ông Mark Nguyễn, phó thị trưởng Westminster, cho hay ông đến với đại hội để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho mọi người được bình an, nhất là khi thế giới đang chiến tranh, cũng như cầu cho mọi người thương yêu nhau, giúp cho Little Saigon được phát triển, ngày càng thịnh vượng.”

Phái đoàn từ Las Vegas đến từ sớm để tham dự đại hội. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Bà Nguyễn Thị Là, thuộc Cộng Đoàn Thánh Phêrô Torrance, có cùng ý tưởng với ông Mark Nguyễn.

Bà cho biết năm nào bà cũng tham gia ban trật tự phục vụ người hành hương về đại hội, “cầu xin Chúa ban cho hòa bình thế giới, nhất là năm nay nhiều cuộc chiến đang xảy ra, và cầu cho tất cả bà con được bình an.”

Điều khiển chương trình đại hội là hai MC Diệu Quyên và Vũ Trọng Khảo.

Phần văn nghệ có các ca sĩ Đình Bảo, Minh Khoa, Kim Thúy, Thúy An, Huy Tuấn, Billy Thông, và ca trưởng Quốc Vinh cùng các ca đoàn Saint Michael, Mereyband (Nhạc Đoàn Thương Xót), ca đoàn Cecilia-Burbank, và Vũ Đoàn Faustina. [đ.d.]


 

NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỨC TIN –   Lm. Mark Link S.J.

Lm. Mark Link S.J.

Cách đây một thời gian, tờ The Wall Street Journal có một bài viết về một số các chuyên gia trẻ thành công và họ đang quay trở lại nhà thờ sau một thời gian xa cách.

Bài báo mở đầu bằng việc ghi nhận rằng trong quá khứ, những người đã ngừng đi nhà thờ thì họ thường không cảm thấy cần quay lại cho đến khi lập gia đình, sinh con, hoặc gặp một biến cố lớn trong đời.

Ngày nay, những người đang ở đỉnh cao sự nghiệp và thành công lại có cái nhìn khác về tôn giáo.  Họ từng nghĩ rằng thành công sẽ mang lại hạnh phúc.  Nhưng thay vào đó, họ lại cảm thấy trống rỗng. 

Một số đề cập đến sự thành công của họ như thế này: “Người ta đã đặt chân lên mặt trăng, rồi tự hỏi: ‘Chỉ có thế thôi sao?  Phải còn điều gì hơn thế này chứ!’”

Một ví dụ cụ thể là Mary Kay, giám đốc một công ty sản xuất phim ở Hollywood.  Cô từ bỏ Giáo Hội khi rời xa gia đình.  Cô tự thuyết phục mình rằng tôn giáo không còn phù hợp nữa.  Nhưng khi sự thành công đến, nó không mang lại cảm giác như cô mong đợi.  Nó để lại một khoảng trống; một điều gì đó thiếu vắng.

Lúc đầu, cô cố lấp đầy khoảng trống ấy bằng cách tham dự các buổi thuyết giảng của những “đạo sĩ” thời đại mới và lấy các lớp ở trường đại học về nhiều chủ đề tâm linh.  Nhưng sự trống rỗng ấy vẫn còn.

 

Rồi một ngày kia, cuối cùng cô cũng phải thành thật nhìn nhận rằng mình đã xa rời đức tin.  Cô không còn bước đi với Chúa Giêsu nữa.

Nhưng việc quay trở lại Giáo Hội thì không dễ dàng.  Cô nói rằng chỉ sau khi xin Chúa tha thứ vì đã rời xa Người, cô mới cảm thấy bình an để trở lại nhà thờ.

Bài báo của tờ The Wall Street Journal còn đưa ra nhiều ví dụ khác về những người thành công mà họ đã quay trở lại đức tin vì những lý do tương tự.  (“Can You Go Back?” của Lisa Miller, đăng trên The Wall Street Journal, ngày 10 tháng 4 năm 1998) 

Câu chuyện của các chuyên gia trẻ thành công này thì tương tự với câu chuyện của hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

 Họ cũng đã từng bước đi với Chúa Giêsu.  Họ cũng đã từng trò chuyện với Người.  Họ cũng đã từng tin rằng Người được Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước Trời. 

Rồi biến cố Thứ Sáu Tuần Thánh xảy đến!  Tất cả niềm hy vọng và niềm vui của họ tan vỡ thành muôn mảnh.  Thất vọng, họ rời bỏ Chúa Giêsu và đi theo con đường riêng của mình.

 Chính trong bối cảnh ấy, họ gặp một “người lạ” trên đường đi Em-mau.

 Họ lắng nghe người ấy, như trước đây họ từng lắng nghe Chúa Giêsu.  Họ cùng đi với người ấy, như trước đây họ từng đi với Người.  Họ nhìn người ấy bẻ bánh, như trước đây họ từng thấy Chúa làm điều đó.

 “Người lạ” ấy thì không xa lạ chút nào.  Thật kỳ diệu, đó chính là Chúa Giêsu.  Người không chết; Người đã sống lại và đang sống.

 Điều gì đó tương tự cũng đã xảy ra với các chuyên gia thành công được diễn tả trong bài báo.

 Đã có lúc họ lắng nghe những lời của Chúa Giêsu trong Phụng Vụ Lời Chúa, như chúng ta đang làm bây giờ.

 Và đã có lúc họ nhìn thấy Chúa Giêsu bẻ bánh trong Phụng Vụ Thánh Thể – như chúng ta sẽ làm trong ít phút nữa.

 Nói cách khác, đã có lúc họ cũng bước đi với Chúa và tràn đầy hy vọng và niềm vui.

 Rồi đến một ngày bi thảm, vì một lý do nào đó, mọi hy vọng và ước mơ của họ bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

 Chán nản, họ cũng rời bỏ Chúa và đi theo con đường riêng.

 Và điều này khiến mỗi người chúng ta hôm nay, đang hiện diện trong nhà thờ này, phải suy nghĩ lại.

 Câu chuyện của các chuyên gia thành công, và của các môn đệ Em-mau, không khác mấy so với câu chuyện của chính chúng ta.

 Đã có lúc trong cuộc đời chúng ta – có thể là nhiều lần – mối tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

 Có thể chúng ta cũng đã ngừng bước đi với Người trong một thời gian.

 Nhưng đến một ngày đầy ân sủng, chúng ta gặp một người – một người bạn, một người phối ngẫu, hoặc ngay cả một người xa lạ.

 Và qua gương sáng của người đó, Chúa Giêsu lại nói với chúng ta – như Người đã nói với hai môn đệ Em-mau.

 Và chính nhờ gương sáng ấy, chúng ta trở lại nhà thờ, mắt chúng ta được mở ra, và chúng ta nhận ra Chúa một lần nữa, trong việc bẻ bánh.

 Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng có rất nhiều người – giống như hai môn đệ Em-mau và các chuyên gia trẻ thành công ngày nay – họ đang cảm nghiệm sự trống rỗng dù họ thành công.

 Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên cho họ như “người lạ” trong Tin Mừng đã trở nên cho hai môn đệ.

 Và ở đây, chúng ta cần nhớ một điều rất quan trọng: 

Nếu hôm nay, qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn nói với những ai không còn bước đi với Người nữa, điều đó không nhất thiết qua lời nói, nhưng qua tình yêu, lòng nhân hậu và sự tha thứ của chúng ta.

 Vì trong thế giới đầy hoài nghi này, người ta không chủ yếu tìm kiếm lời nói, nhưng lòng trắc ẩn, sự lưu tâm, lòng tốt và sự tha thứ.  Lời nói có thể đến sau.

 Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con theo một phương cách
để qua chúng con Chúa có thể nói với người thời đại hôm nay,
nhất là với những ai đang thất vọng.

Xin làm chúng con ngạc nhiên,
như Chúa đã làm cho hai môn đệ Em-mau.
Xin lại đồng hành với chúng con, như Chúa đã đồng hành với họ.
Xin giải thích Kinh Thánh cho chúng con, như Chúa đã làm cho họ.

Xin đến nhà chúng con và dùng bữa với chúng con, như Chúa đã làm với họ.
Xin cầm lấy tấm bánh của chúng con trong đôi tay Ngài.
Xin Ngài chúc lành, bẻ ra và chia sẻ tấm bánh ấy.

Xin chữa lành chúng con khỏi sự mù lòa
mà nó khiến chúng con không nhận ra Chúa,
trong việc bẻ bánh. M.L.

 Lm. Mark Link S.J.

From: Langthangchieutim


 

KHÔNG BAN TỪNG PHẦN, BAN CHÍNH NGÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn”.

“Điều Thiên Chúa ban chính là Thánh Thần, và trong Thánh Thần, Ngài ban chính Ngài!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến một Thiên Chúa ban phát theo mức độ; Ngài ban Thánh Thần vô ngần vô hạn, ‘không ban từng phần’ nhưng ‘ban chính Ngài’.

Tiếp tục cuộc đối thoại với Nicôđêmô, Chúa Giêsu nói đến Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa ban không đo lường cho chính Ngài và những ai thuộc về Ngài. Nếu Thiên Chúa không ban từng phần, thì chúng ta cũng không thể sống từng phần. “Đức Kitô không muốn những môn đệ nửa vời!” – Phanxicô. Như vậy, chúng ta đang đứng trước một đòi hỏi hiện sinh: hoặc để mình được sinh ra bởi Thần Khí, hoặc ở lại trong những giới hạn cũ. Vì thế, vấn đề không còn là “nhận được bao nhiêu”, nhưng là “dám để Ngài chiếm lấy đến mức nào”; ở đây, đời sống Kitô hữu không còn là tích luỹ ân huệ, nhưng là một tiến trình bị lôi kéo ra khỏi mọi tính toán, để bước vào tương quan với Đấng ‘không ban từng phần’ nhưng ‘ban chính Ngài’.

Bởi lẽ, điều được ban không chỉ là một ân huệ, nhưng là chính Thiên Chúa; như truyền thống gọi, Thánh Thần là Donum Dei, quà tặng không tách khỏi Đấng ban. Vì thế, chứng từ của các tông đồ không phát sinh từ một xác tín tự thân, nhưng từ Đấng đang hiện diện và hành động trong họ: “Chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người” – bài đọc một. Khi Thần Khí không được ban từng phần, thì chứng tá cũng không thể nửa vời; đó không còn là lời con người nói về Thiên Chúa, nhưng là chính Thiên Chúa nói trong con người, Đấng họ hằng kêu cầu: “Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Từ đây, vấn đề không còn ở phía Thiên Chúa, nhưng ở phía con người. Nếu quà tặng là chính Ngài, thì đón nhận không còn là sở hữu, nhưng là để được biến đổi; không phải “có”, nhưng là “thuộc về”. Chính ở đây, con người chúng ta được lộ ra: muốn nhận mà không muốn đổi, muốn giữ mà không muốn trao; nhưng khi điều được ban là chính Chúa, thì không còn chỗ cho một đời sống dật dờ với Đấng ban ơn. “Sự tinh tuyền của trái tim là muốn một điều duy nhất!” – Kierkegaard.

Anh Chị em,

Chính cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Con là định nghĩa trọn vẹn nhất về Thiên Chúa: Thiên Chúa là tình yêu! Ngài tặng trao đến cùng; từ đó trở thành nguồn sống không cạn. Vì thế, bước vào tương quan với Chúa Kitô không phải là đón nhận một giáo huấn, nhưng là được sinh lại bởi ơn trên và đi vào một chuyển động tự hiến, nơi con người không còn là trung tâm, nhưng được lôi kéo vào chính nhịp sống của Đấng không giữ lại, nhưng trao đến cùng. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một Con Người!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống nửa vời trước tình yêu Chúa; chỉ tìm ơn Chúa, mà quên chính Chúa! Hãy chiếm lấy con, và làm cho đời con trở thành một quà tặng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần II Phục Sinh

Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 3,31-36

31 “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người ; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người ; 32 Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. 33 Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật. 34 Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. 35 Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. 36 Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời ; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.”


 

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. – Cha Vương

Một ngày tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa nhé. 

Cha Vương

TIN MỪNG: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3:16)

Thứ 4: 15/04/2026.  (n19-23)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng trong Tân Ước hôm nay được rất nhiều người biết đến, Chúa Giê-su giải thích cho ông Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái trong nhóm Pha-ri-sêu về việc Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Nhờ tin vào Chúa Giêsu qua Bí Tích Rửa Tội, bạn trở thành tạo vật mới và là con cưng của Chúa.  Mỗi ngày bạn được mời gọi hãy cố gắng sống và thực hành lời Chúa dạy, gần gũi với Chúa hơn để mang ánh sáng và tình yêu của Ngài đến cho những người chung quanh. Vậy hành động và lời nói của bạn có phản ảnh tình yêu của Chúa để cho mọi người nhận biết rằng bạn là người Ki-tô hữu không? Sống đúng với ơn gọi làm con Chúa đòi hỏi một sự hy sinh và đặt người khác lên trên tư lợi riêng của chính mình, dấn thân chia sẻ tình yêu của Chúa cho người khác. Mỗi ngày là một cơ hội để sống trong ánh sáng của Chúa. Chúa không ép buộc ai cả nhưng để bạn tự do lựa chọn. Bạn đừng bỏ lỡ cơ hội đốt lên ngọn lửa yêu thương trong đêm tối hôm nay. Đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối nhé. 

LẮNG NGHE: Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời. (Mt 5:14a,16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là mẫu mực tình yêu cho người Ki-tô hữu, xin biến con trở thành một nhân chứng sống động cho “tình yêu tự hiến” trong môi trường sống và làm việc của con hôm nay.

THỰC HÀNH: Tìm gặp Chúa nơi tha nhân.

From: Do Dzung

****************************

CHÚA LÀ ÁNH SÁNG ĐỜI CON | st. & trình bày: Tina Ngọc Nữ

Bức họa AI lộng ngôn của Trump gợi nhớ chuyện vua Babylon ‘ăn cỏ như bò’ trong Kinh Thánh

Ba’o Nguoi-Viet

April 14, 202

Mai Phi Long/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, bóng ma của sự kiêu ngạo của bất kỳ bậc quân vương nào luôn là khởi đầu cho những sự sụp đổ kinh hoàng nhất. Sách Daniel trong Kinh Thánh ghi lại một trong những bài học đắt giá nhất về vương quyền và sự cao ngạo của con người qua câu chuyện về Vua Nebuchadnezzar của Đế Chế Babylon cổ đại.

Nebuchadnezzar, vị vua hùng mạnh bậc nhất thời cổ đại ở Trung Cận Đông, nhận được một điềm báo trong giấc mơ về một cái cây “cao đến tận trời” bị đốn hạ. Nhà tiên tri Daniel giải mã và cảnh báo vị vua này rằng, nếu không biết hối cải và thực hành sự khiêm nhường, ông sẽ bị tước mất vương quyền. 

Tổng Thống Donald Trump và bức ảnh khắc họa ông trong hình ảnh Chúa Giêsu do trí khôn nhân tạo (AI) chế ra. (Hình: Mandel Ngan/AFP via Getty Images)

Một năm sau, khi đang đứng trên nóc cung điện nhà vua dõng dạc tuyên bố: “Chẳng phải đây là Babylon vĩ đại mà chính ta đã xây dựng bằng sức mạnh quyền năng của ta để làm nơi cư ngụ cho vương triều và để hiển thị vinh quang rực rỡ của ta sao?” Đúng lúc đó, một tiếng phán từ trời vang xuống nhắc lại lời tiên tri. 

Và ngay lập tức, quyền năng của vị vua này bị tước bỏ, tâm trí ông trở nên điên loạn, và ông bị xua đuổi khỏi xã hội loài người để sống cảnh “ăn cỏ như bò,” sương đêm thấm ướt thân thể suốt bảy mùa, cho đến khi ông học được cách cúi đầu trước Đấng Tối Cao.

Hàng ngàn năm sau, tại trung tâm quyền lực của thế giới hiện đại vào thập niên 2020, một kịch bản về sự cao ngạo tương tự đang được viết tiếp bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và những dòng trạng thái trên mạng xã hội. 

Việc Tổng Thống Donald Trump tự khắc họa mình trong hình ảnh giống Chúa Giêsu chữa lành người bệnh, ngay sau khi công kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, không chỉ là một hành động lộng ngôn chính trị mà còn là một sự báng bổ đức tin sâu sắc, phơi bày sự hoang tưởng của một cá nhân đang lầm tưởng mình là “đấng cứu thế” thời kỹ thuật số (digital).

Xin được xác định rằng đây không phải là một bài viết biện minh cho quan điểm “thần quyền” nhưng là cái nhìn khách quan vào thế giới của những “con chiên” luôn tự nhận là duy tâm nhưng sẵn sàng tôn vinh một “tạo vật” dám báng bổ Đấng mà mình tôn thờ.

Phỉ báng Vatican: Áp dụng tình thương bị coi là nhu nhược

Sự việc bùng nổ khi Tổng Thống Donald Trump công khai đả kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị chủ chăn người Mỹ đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo, dẫn dắt 1.4 tỷ tín đồ trên thế giới. Ông Trump gọi người đứng đầu giáo hội là “nhu nhược trước tội ác” và “tồi tệ cho chính sách đối ngoại.” Nguyên nhân của sự giận dữ này đến từ việc vị giáo hoàng kiên quyết phản đối cuộc chiến mà Mỹ và Israel khởi xướng nhằm vào Iran và lên án sự bạo lực “phi lý và vô nhân đạo.”

Đây là một sự tấn công không chỉ quá đáng mà còn mang đầy tính ngụy biện. Tổng Thống Trump dùng lăng kính của sức mạnh thế quyền với binh lực và địa chính trị để phán xét một sứ mạng tâm linh. Ông cáo buộc nhà lãnh đạo Công Giáo ủng hộ tội ác và để Iran có vũ khí nguyên tử, trong khi thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chỉ đang thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của ngài là rao giảng hòa bình theo đúng tinh thần Phúc Âm.

Không cần phải tỉnh táo mới nhận ra được rằng Vatican không hề sở hữu bất kỳ sư đoàn quân đội thiện chiến hay phi đoàn chiến đấu cơ siêu thanh, cũng như hạm đội hàng không mẫu hạm nào cả. Vũ khí duy nhất mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV có là tình thương, sự cầu nguyện, và lời Chúa trong Phúc Âm. 

Khi Tổng Thống Trump ngạo nghễ tuyên bố rằng nếu ông không ở trong Tòa Bạch Ốc thì Đức Giáo Hoàng Leo XIV không được ngự trị ở Vatican, ông đang bộc lộ một tư duy tự mãn với quyền lực cực đoan, coi cả thể chế tôn giáo lâu đời nhất thế giới như một thứ “vật tế thần” cho chính trị. Cần phải ghi nhớ rằng đối với Giáo Hội Công Giáo, việc bầu chọn được một vị giáo hoàng đều nhờ những bí tích và ân sủng của Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đáp trả một cách đầy điềm tĩnh nhưng kiên quyết rằng ông “không sợ hãi chính quyền Trump” và sẽ không ngừng loan báo thông điệp hòa bình. Phản đối chiến tranh là nghĩa vụ của con người, huống hồ là một giáo hoàng, người được gọi là “Tôi tớ của các tôi tớ Chúa.”

Trò hề biện minh “bác sĩ” và sự xói mòn chân lý

Đỉnh điểm của sự phạm thượng diễn ra vào tối Chủ Nhật, 12 Tháng Tư, đúng vào ngày lễ Phục Sinh của Chính Thống Giáo. Tổng Thống Trump tung lên mạng Truth Social của ông một bức ảnh AI khắc họa cảnh ông mặc áo choàng trắng và khăn quàng đỏ, một tay phát ra hào quang rực rỡ, tay kia đặt lên trán một người đàn ông nằm trên giường bệnh trong bệnh viện. Bối cảnh xung quanh là Tượng Nữ Thần Tự Do, các chiến đấu cơ, và những hình thù kỳ dị trong mây nhìn xuống.

Khi vấp phải làn sóng chỉ trích gay gắt, tổng thống Mỹ đưa ra một lời giải thích mang tính quanh co hèn nhát rằng đó chỉ là hình ảnh ông trong vai một “bác sĩ” giúp mọi người khỏe lại. Một sự ngụy biện dối trá trắng trợn. 

Bất kỳ ai có kiến thức cơ bản về hội họa tôn giáo đều thấy rõ bức ảnh này sao chép y hệt các điển tích về Chúa Giêsu chữa lành người mù và người đau yếu. Việc lồng ghép hình ảnh cá nhân vào một biểu tượng thánh thiêng nhất của Công Giáo rồi sau đó chối quanh co là một hành vi thiếu trung thực, phơi bày bản chất của một chính trị gia đang cố gắng thao túng đức tin của cử tri để đánh bóng cái tôi cá nhân.

Tiếng nói của sự tỉnh thức

Hành động này của ông Trump không chỉ khiến đối thủ chính trị phẫn nộ mà còn tạo ra một cơn địa chấn trong lòng giới bảo thủ tôn giáo, những người vốn là điểm tựa vững chắc nhất cho chiến thắng tranh cử của ông vào năm 2024. Lần này, sự im lặng không còn là vàng. Những nhân vật bảo thủ nổi tiếng đã phải lên tiếng bằng những ngôn từ nặng nề nhất như:

-Bà Megan Basham (Daily Wire): Cây viết Tin Lành bảo thủ nổi tiếng gọi đây là “sự báng bổ đầy phạm thượng ” (OUTRAGEOUS blasphemy). Bà yêu cầu ông phải cầu xin sự tha thứ từ Thiên Chúa ngay lập tức.

-Tác giả bảo thủ Rod Dreher khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, hành động của tổng thống Mỹ phơi bày tinh thần của kẻ phản Chúa” (radiating the spirit of Antichrist).

-Nhà hoạt động bảo thủ Riley Gaines, người thường xuyên được ông Trump khen ngợi, phải đặt câu hỏi: “Nghiêm túc mà nói, tôi không thể hiểu tại sao ông ấy lại đăng cái này… Thiên Chúa không để bị nhạo báng như thế.” Cô nhấn mạnh rằng một chút khiêm nhường sẽ giúp ích cho ông Trump vào lúc này.

-Mục sư Douglas Wilson, người đồng sáng lập giáo phái Calvin mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth là tín đồ, gọi bức ảnh là “báng bổ” và bày tỏ sự khó chịu trước việc ông Trump được tôn sùng như một “vị thánh của công chúng” (civic holy man) thông qua các nghi thức đặt tay cầu nguyện.

-Ông John Yep, nhà lãnh đạo tổ chức Catholics for Catholics, bày tỏ sự bàng hoàng và buồn bã khi chứng kiến vị tổng thống mà người Công Giáo bỏ phiếu bầu vang dội lại đối xử với đức tin thiêng liêng bằng sự thiếu tôn trọng đến vậy.

Sự thật là, mặc dù ông Trump nhận được 69% sự ủng hộ từ giới Tin Lành da trắng và 53% từ người Công Giáo, nhưng dữ liệu từ Pew Research cho thấy niềm tin vào đạo đức của ông đang ở mức thấp báo động khi chỉ có 40% người Tin Lành và 34% người Công Giáo tin rằng ông hành động có đạo đức khi tại chức. 

Việc nhắm mắt làm ngơ trước sự phạm thượng của một lãnh đạo chính trị chỉ vì những lợi ích trần thế là một sự ấu trĩ và mù quáng tâm linh đáng sợ. Những ai nhân danh tôn giáo nhưng lại chấp nhận kẻ tự phong mình là Chúa thực chất đang phản bội lại chính những lời dạy căn bản nhất của Kinh Thánh.

Thân phận bụi tro trước cuồng nộ thiên nhiên

Để hiểu rõ sự điên rồ của lòng kiêu ngạo, hãy nhìn vào thân phận con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Dù nhân loại có tự hào về sức mạnh nguyên tử với hàng ngàn giàn hỏa tiễn trị giá hàng tỷ đô la, chúng ta vẫn vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên. Trước một cơn siêu bão san phẳng các thành phố, một trận động đất làm rung chuyển địa cầu, hay một loại virus vô hình làm cả thế giới tê liệt, mọi quyền lực của Tòa Bạch Ốc hay Ngũ Giác Đài đều trở nên bất lực.

Trước thiên tai, ngay cả những người vô thần cũng phải cúi đầu nhận ra giới hạn của con người. Trong những giây phút sinh tử giữa bão tố hay dịch bệnh, phản xạ tự nhiên của con người là tìm một sự cứu rỗi vượt ra ngoài khả năng của bản thân. 

Đó là khoảnh khắc của sự thật, nơi mọi mặt nạ của quyền lực đều rơi xuống. Vậy thì, chỉ có những kẻ hoang tưởng hoặc mắc bệnh tâm thần chính trị mới dám ngạo nghễ tự họa mình trong hình hài của Đấng Tạo Hóa. 

Sự bất đối xứng giữa một thực thể bằng xương bằng thịt, sinh ra từ bụi đất và sẽ trở về với bụi đất, với Đấng Vĩnh Hằng là một sự xúc phạm đến trí tuệ của toàn nhân loại. Việc ông Trump để các cố vấn như bà Paula White so sánh ông với Chúa Giêsu bị phản bội là một trò hề lố lăng, phơi bày sự thiếu thốn nghiêm trọng về lòng khiêm nhường.

Bài học Babylon và sự phán xét

Bài viết này không phải để đánh tiếng kêu gọi quy phục tôn giáo mà là lời vạch trần sự nguỵ biện nhân danh tôn giáo nhưng không thực hành lời dạy về sự khiêm tốn. Sự mù quáng ủng hộ một cá nhân lộng ngôn, coi thường giáo tông và tự phong mình là Chúa là dấu hiệu của một sự suy đồi văn hóa và tâm linh sâu sắc.

Lịch sử Babylon trong Kinh Thánh dạy rằng, khi một vị vua bắt đầu tin vào hào quang tự tạo của chính mình, đó cũng là lúc ông bắt đầu con đường dẫn đến đồng cỏ của sự hạ nhục. 

Tổng Thống Donald Trump, với những bức ảnh AI đầy hào quang giả tạo, đang bước đi trên chính con đường đó. Sự phán xét của lịch sử thường không nằm ở những chiến thắng bầu cử nhất thời nhưng nằm ở thái độ khiêm nhu của một nhà lãnh đạo giữ lại được trước những giá trị vĩnh cửu.

Nếu ông Trump và những người ủng hộ ông không sớm tỉnh thức khỏi cơn mê hoảng tưởng này, thì “bài học Nebuchadnezzar” không chỉ là một câu chuyện trong Kinh Thánh cổ xưa. Đó sẽ là bản án thực tại cho bất kỳ kẻ nào dám dùng quyền lực trần thế để thách thức sự thiêng liêng trong đức tin của nhân loại. Hãy nhớ rằng, dù có là tổng thống của một siêu cường, con người vẫn chỉ là những lữ khách tạm bợ trên thế gian này. 

Kẻ nào tự nâng mình lên quá cao sẽ bị hạ xuống thấp nhất, đó là quy luật bất biến của cả thần đạo lẫn nhân đạo. [đ.d.]


 

Công nghệ: kẻ đào mồ hay vị cứu tinh của độc tài?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

14/04/2026

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin vào một quy luật gần như hiển nhiên: các chế độ độc tài sớm muộn sẽ thất bại. Lý do rất đơn giản để tồn tại, họ phải cấm đoán. Và khi cấm đoán quá nhiều, xã hội sẽ nghẹt thở, sáng tạo bị giới hạn, kinh tế trì trệ, thông tin bị bóp méo. Cuối cùng, chính sự kiểm soát thô bạo đó sẽ giết chết họ. Sự sụp đổ của Liên Xô và hàng loạt nước Đông Âu dường như đã xác nhận quy luật ấy. Tuy nhiên, thế giới vẫn còn nhiều nước độc tài.

Rồi Internet xuất hiện. Nhiều người tin rằng đây sẽ là “đòn kết liễu” cuối cùng cho độc tài. Thông tin sẽ lan truyền tự do, sự thật sẽ được phơi bày, và người dân, một khi biết sự thật, sẽ không còn chấp nhận bị cai trị bằng dối trá.

Nhưng thực tế đã rẽ theo một hướng hoàn toàn khác.

Không những không sụp đổ, một số chế độ độc tài, tiêu biểu là China, lại trở nên mạnh hơn, ổn định hơn và, ở một mức độ nào đó, hiệu quả hơn. Điều đã xảy ra không phải là cái chết của độc tài, mà là sự tiến hóa của nó.

Từ “cấm tất cả” đến “kiểm soát từng người”.

Độc tài kiểu cũ vận hành theo một logic đơn giản: cấm càng nhiều càng tốt. Cấm báo chí, cấm tự do ngôn luận, cấm đi lại, cấm suy nghĩ khác biệt… Đó là một hình thức kiểm soát “đại trà”, thô và tốn kém.

Nhưng chính sự thô đó là điểm yếu. Nhà nước không thực sự biết xã hội đang nghĩ gì, đang biến động ra sao. Khi khủng hoảng xảy ra, họ thường biết quá muộn.

Internet ban đầu là một mối đe dọa nghiêm trọng. Nó phá vỡ độc quyền thông tin, làm lộ ra những điều mà chế độ muốn che giấu. Nhưng thay vì chống lại một cách tuyệt vọng, Trung Quốc đã làm điều khác: họ thích nghi.

Hệ thống kiểm duyệt,  thường được gọi là “Vạn Lý Tường Lửa”, không nhằm mục tiêu chặn toàn bộ thông tin, mà là định hướng dòng chảy của thông tin. Những gì nguy hiểm thì bị chặn, những gì có lợi thì được khuếch đại. Một thực tế “được quản lý” dần hình thành, đồng thời tạo dựng cả những hệ thống sản xuất thông tin sai lệch(fake news).

Công nghệ: từ công cụ giải phóng thành công cụ kiểm soát.

Bước ngoặt thực sự không phải là Internet, mà là sự kết hợp giữa Internet với các công nghệ mới: dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo, nhận diện khuôn mặt, theo dõi hành vi.

Ngày nay, chính quyền có thể:

–    xác định một cá nhân đang ở đâu

–    theo dõi họ di chuyển như thế nào

–    biết họ giao tiếp với ai

–    phân tích hành vi và xu hướng của họ

Các hệ thống giám sát bằng camera ở Trung Quốc được cho là thuộc loại dày đặc nhất thế giới, với hàng trăm triệu thiết bị. Công nghệ nhận diện khuôn mặt cho phép nhận diện một người chỉ trong vài giây giữa đám đông.

Khái niệm “chấm điểm công dân”, dù còn nhiều tranh cãi về mức độ triển khai, phản ánh một xu hướng rõ ràng: hành vi của cá nhân có thể được lượng hóa và thưởng – phạt một cách hệ thống.

Nếu độc tài kiểu cũ giống như việc “đóng cửa cả căn phòng”, thì độc tài kiểu mới giống như gắn một cảm biến lên từng con người.

Xã hội cũng đã thay đổi.

Không chỉ công nghệ thay đổi, con người cũng thay đổi.

Trong thế kỷ XIX và XX, nhiều cuộc cách mạng được thúc đẩy bởi những tầng lớp nghèo nhất,  những người “không còn gì để mất”. Đói nghèo, bất công và bóc lột tạo ra áp lực bùng nổ.

Ngày nay, ở nhiều nơi(đặc biệt là tại Trung Quốc), đời sống vật chất đã cải thiện đáng kể. Một tầng lớp trung lưu lớn xuất hiện. Người trẻ quan tâm đến:

–    công việc

–    thu nhập

–    tiêu dùng

–    lối sống

Họ có nhiều thứ để mất hơn là để giành. Và khi phải lựa chọn, con người thường chọn ổn định hơn là đối đầu. Họ muốn tiêu dùng, hưởng thụ, và ngày càng ít quan tâm đến cái chung.

Con người hiện đại, ở một mức độ nào đó, cũng trở nên thực dụng và khép kín hơn.

Như vậy, kiểm soát không chỉ đến từ trên xuống, mà còn được “hỗ trợ” từ chính sự thay đổi trong tâm lý xã hội.

Một thách thức đối với dân chủ phương Tây.

Mô hình Trung Quốc đặt ra một câu hỏi khó chịu cho phương Tây: Liệu phát triển kinh tế có nhất thiết dẫn đến dân chủ?

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin rằng câu trả lời là “có”. Nhưng Trung Quốc dường như đang chứng minh điều ngược lại: một quốc gia có thể vừa tăng trưởng mạnh, vừa duy trì kiểm soát chính trị chặt chẽ hơn bao giờ hết.

Trong khi đó, các nền dân chủ phương Tây lại đang đối mặt với những khó khăn của chính mình:

–    Phân cực chính trị gia tăng

–    thông tin sai lệch lan rộng

–    mạng xã hội làm suy yếu niềm tin công cộng

Những hiện tượng như sự trỗi dậy của Viktor Orbán tại Hungary hay những biến động chính trị xoay quanh Donald Trump tại Mỹ cho thấy: dân chủ không phải là một hệ thống miễn nhiễm với khủng hoảng. Vẫn có dân chủ, nhưng cũng có khủng hoảng dân chủ.

Tệ hơn, chính tự do, nền tảng của dân chủ, đôi khi lại bị khai thác để làm suy yếu dân chủ.

Một nguy cơ lan rộng: độc tài không còn “xấu hổ”

Điều đáng lo ngại nhất không phải chỉ là việc Trung Quốc duy trì được chế độ độc tài, mà là họ đang biến nó thành một mô hình có thể xuất khẩu.

Nếu trước đây, độc tài gắn với nghèo đói và thất bại, thì ngày nay, mô hình Trung Quốc lại gắn với tăng trưởng, ổn định và hiệu quả. Điều đó tạo ra một sức hấp dẫn mới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển: tại sao phải chấp nhận những bất ổn của dân chủ, khi có một con đường khác “hiệu quả” hơn?

Nguy hiểm hơn, nếu mô hình này được coi là “thành công”, nó sẽ dần làm suy yếu một niềm tin nền tảng của thế giới hiện đại: rằng tự do và dân chủ là con đường tất yếu của phát triển. Khi niềm tin đó bị lung lay, dân chủ không chỉ bị thách thức từ bên ngoài, mà còn bị xói mòn từ chính bên trong.

Công nghệ đang đứng về phía ai?

Lịch sử từng cho thấy: kiểm soát quá mức sẽ giết chết một chế độ. Nhưng hiện tại cho thấy: với công nghệ, kiểm soát có thể trở nên tinh vi, hiệu quả và ít bị phản kháng hơn.

Nỗi lo lớn là: trong kỷ nguyên công nghệ, cán cân đang nghiêng về phía nào, tự do hay kiểm soát?

Và nếu cán cân đang nghiêng về phía kiểm soát, liệu các nền dân chủ có kịp thích nghi trước khi quá muộn?

Karl Marx từng tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại: chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh, tiến hóa để tồn tại và phát triển.

Chủ nghĩa cộng sản, với tư cách một lý tưởng, vẫn còn tồn tại. Nhưng những quốc gia mang danh cộng sản ngày nay, trên thực tế, đã không còn vận hành theo những nguyên lý đó, mà chủ yếu là các chế độ độc tài.

Phải chăng, độc tài cũng đang tiến hóa, không còn thô bạo như trước, mà tinh vi, hiệu quả hơn nhờ chính những tiến bộ của khoa học kỹ thuật? Tương lai của nó sẽ ra sao?

Ở bài này, tôi nói về Trung Quốc. Nhưng Việt Nam của chúng ta, ở nhiều khía cạnh, lại là một bản sao gần như nguyên vẹn của mô hình đó. Điều này, có lẽ, các bạn hiểu rõ hơn tôi.

Mời các bạn cùng suy nghĩ và bình luận.


 

MẢNG ĐÊM SỢ SÁNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng!”.

“Chúng ta có thể dễ dàng tha thứ cho một đứa trẻ sợ bóng tối, nhưng bi kịch thực sự của một cuộc đời là khi con người sợ ánh sáng!” – Platon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiếp tục cuộc đàm đạo giữa Nicôđêmô và Chúa Giêsu. Chủ đề ánh sáng chạm đến một điều nhức nhối: được tạo dựng cho ánh sáng – nhưng con người lại sợ ánh sáng; hay ít nữa, trong mình còn một ‘mảng đêm sợ sáng’.

Trong thần học Gioan, “đêm” không chỉ là thời điểm, nhưng là một tình trạng hiện sinh. Nicôđêmô không đơn thuần “đến ban đêm”; ông đến từ một không gian chưa được ánh sáng chạm tới. Với Éloi Leclerc, con người chỉ thực sự tồn tại trong chuyển động đưa nó lại gần ánh sáng; ngoài chuyển động ấy, nó chỉ còn là một “mảng đêm”. Ánh sáng vì thế không chỉ để nhận biết, nhưng là chuyển động để bước vào; từ chối chuyển động ấy, con người không mất đi sự sống, nhưng sống trong một tình trạng bất toàn.

“Người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng!”. Đó không chỉ là một nhận định, nhưng là lựa chọn của mỗi người. Ánh sáng không bị từ chối vì xa lạ, nhưng vì nó phơi bày; và khi bị phơi bày, con người khựng lại. Nó không chọn bóng tối cách dứt khoát, nhưng cũng không đi trọn về phía ánh sáng; nó dừng ở lưng chừng, giữ mình trong một khoảng an toàn mong manh; chính ở đó, sự cao cả không bị đánh mất, nhưng bị giữ lại; một đời sống không tối hẳn, cũng không sáng trọn – trong mình còn một khoảng tối sợ sáng. “Chúng ta không chỉ là tốt hay xấu; chúng ta vừa bị tổn thương vừa được chúc phúc!” – Henri Nouwen.

Vậy mà con người không tự mình thoát ra khỏi khoảng tối ấy. Ánh sáng không chỉ là điều để hướng tới, nhưng là một sức lôi kéo. “Không ai có thể đến với Ta nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy”; nemo venit nisi tractus. Vì thế, đi về phía ánh sáng không khởi đi từ nỗ lực của con người, nhưng từ sức hút âm thầm của ân sủng. “Đừng nghĩ mình bị lôi kéo cách miễn cưỡng; linh hồn được lôi kéo bằng tình yêu!” – Augustinô. Không được cuốn hút về Chúa Kitô, con người có thể biết ánh sáng, nói về ánh sáng, nhưng vẫn không bước vào; và khi đó, sự cao cả nơi nó không mất đi, nhưng bị giữ lại trong một hiện hữu bất toàn.

Anh Chị em,

Chính ở đây, Ánh Sáng có một khuôn mặt: Chúa Kitô! “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”; Ánh Sáng không còn là một nguyên lý, nhưng là một Đấng được trao ban. Nơi Ngài, Ánh Sáng không chỉ soi tỏ, nhưng hiến mình; không chỉ phơi trần, nhưng cứu độ. “Chúa Giêsu đến để cứu rỗi, chứ không phải để kết án; với hy sinh trên thập giá, Ngài bày tỏ dung mạo yêu thương của Thiên Chúa!” – Bênêđictô XVI. Tuy nhiên, quà tặng ấy không cưỡng bách. Con người có thể bước vào, cũng có thể khước từ. Nhưng khi bước đi trong Ngài, nó không còn là một ‘mảng đêm sợ sáng’; vì ánh sáng không chỉ ở trước mặt, nhưng ở trong nó.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bồng bềnh ở lưng chừng giữa tối và sáng; xin lôi con ra khỏi ‘mảng đêm’ của mình, để con bước đi trong Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần II Phục Sinh

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 3,16-21

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. 19 Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. 20 Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. 21 Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” 


 

Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì?- Cha Vương

Xin Chúa ban muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình để bạn luôn ao ước những gì thuộc về Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé?

Cha Vương

Thứ 3: 14/04/2026.  (n26-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nghĩa là Chúa Giêsu, một người trong chúng ta đã về lại nhà với Thiên Chúa Cha và ở lại đó muôn đời. Nhờ Chúa Giêsu mà Thiên Chúa ở gần loài người chúng ta trong cách thức loài người. Và trong Phúc Âm Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). (YouCat, số 109)

SUY NIỆM: Trong Tân ước, việc Chúa về trời chấm dứt giai đoạn bốn mươi ngày được đánh dấu bằng việc Đấng đã sống lại ở gần gũi với các môn đệ. Cuối giai đoạn này Chúa Giêsu đi vào trong oai nghi của Thiên Chúa với toàn bộ nhân tính của mình. Kinh Thánh thuật lại bằng những hình ảnh tượng trưng có “mây”, có “trời”. Như Đức Bênêđictô XVI nói: “Con người có được chỗ trong Thiên Chúa”. Chúa Giêsu Kitô bây giờ ở với Chúa Cha, từ đó một ngày kia Người đến “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúa Giêsu về trời có nghĩa là Chúa Giêsu không còn là hữu hình ở dưới đất, nhưng lại vẫn luôn có mặt dưới đất. (YouCat, số  109 t.t.)

LẮNG NGHE: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. (Cv 1,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa dạy con: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3) Xin đừng để những bận tâm thế tục làm con xao xuyến và lo âu nhưng giúp con biết can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương và chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con có được chỗ ở trong Thiên Chúa. 

THỰC HÀNH: Môi trường gia đình là trường học dạy về đức tin và yêu thương, đó cũng là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Hôm nay mời bạn hãy trở thành một chứng tá cho đức tin, cho tình yêu xả kỷ của mình ngay trong gia đình bằng những hy sinh nho nhỏ, rộng lượng chia sẻ, và xây dựng một mái ấm hạnh phúc trong Chúa Ki-tô phục sinh nhé.

From: Do Dzung

*****************************

Hy Lễ Cuối Cùng – Nguyễn Hồng Ân

Tại sao Hungary và Ba Lan?- Nguyễn Thọ

Ba’o Tieng Dan

14/04/2026

Nguyễn Thọ

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành việc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

_____

[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.


 

CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT

Kim Ha

CN 8703: CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT (1)

Sáng hôm nay, có hai người bạn báo tin cho tôi về cái chết của chị Maria Thoa. Tôi giật mình vì không ngờ chị Thoa đã qua đời. Tôi bèn lên mạng email báo tin cho mọi người trong Huynh Đoàn.

Thật sự không ai có thể ngờ được là chị Thoa ra đi nhanh chóng như thế. Tôi xin tổng hợp nguồn tin do 3 người kể lại:

Tối Thứ Năm 9/4 vừa qua, chị Thoa đi đến nhà thờ nghe cha Hy giảng phòng. Vì bãi đậu xe có quá nhiều xe nên cô bạn phải lái xe đi đậu xe xa hơn ngày thường. Sau đó, chị Thoa kể với một người bạn trong Huynh Đoàn vào ngày Thứ Sáu là vì chị phải đi bộ xa nên rất mệt. Thế rồi chị bịnh cả 3 ngày sau đó.

Tin cuối cùng là chị chết khoảng 11:30 g tối ngày Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót, ngày 12/4/2026. Văn phòng Pháp Y khám nghiệm tử thi của chị và theo dõi điện thoại cầm tay của chị. Họ khám phá ra rằng lúc 11:30 giờ khuya 12/4/2026 thì chị còn nghe một đài radio Công Giáo online.

Có thể chị đã chết vào lúc 11:30g đêm 12 tháng 4 năm 2026 vì bị máu nhồi cơ tim. Dù sao cũng chưa có tin tức chính xác.

Chị Thoa là người quảng đại trong việc tông đồ và bác ái. Chị cũng ở trong hội đoàn Legio Maria nên ai ai cũng thương mến chị. Chị luôn xướng kinh trong Zoom của Huynh Đoàn Đa Minh. Tính tình chị hiền hoà. Chị ngoan đạo và sốt sắng cầu nguyện.

Điều đặc biệt và hạnh phúc nhất là chị chết vào đúng ngày Đại Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót, sau khi chị được nhận lãnh Ơn Toàn Xá của Chúa Lòng Thương Xót ban cho.

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Giờ đây chắc chị đã gặp Chúa và Thánh Gia trên Thiên Đàng. Chị đã gặp lại chồng, cha mẹ và anh chị em trong gia đình.

Tôi nghĩ chị được ơn chết lành và chết nhanh chóng mà không phải nằm trên giường trong nhiều năm tháng.

Chị hạnh phúc vì được chết trong mùa Phục Sinh, trong ngày Đại Lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Chị Thoa ơi, xin chị nghỉ yên bên Chúa! Xin chị cầu bầu cho gia đình của chúng em nhé! RIP.

Xin cả nhà đọc cảm nghiệm của chị mà tôi đã viết vào ngày 30/11/2021, cách đây 4 năm rưỡi. Đó là cảm nghiệm 5050 dưới đây:

Kim Hà,

13/4/2026

Hình: Kim Hà thăm chị Thoa Nguyễn trong bịnh viện