CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

‘Medicare for All’ có thành hiện thực?- Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

August 11, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Các chính trị gia cấp tiến nổi lên trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ năm nay – tiêu biểu là ông Abdul El-Sayed ứng cử vào Thượng Viện liên bang đại diện Michigan –  đều đề nghị cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế, thực hiện Medicare for All (chăm sóc y tế cho mọi người), tức là hệ thống chăm sóc y tế toàn dân do nhà nước trả tiền. Từ những đề nghị này, họ bị phe Cộng Hòa gọi là “cộng sản,” nhưng thực tế như thế nào?

Chi phí y tế và sức khỏe chiếm một phần lớn thu nhập của người làm công ăn lương tại Mỹ. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Medicare for All – tại sao?

Medicare for All, còn gọi là universal healthcare (chăm sóc y tế phổ quát), single-payer health insurance (bảo hiểm y tế một người trả tiền)… là một hệ thống trong đó chính phủ dùng nguồn tài chính công để trang trải chi phí khám chữa bệnh cho mọi người, người dân không phải tự trả tiền.

Nước Mỹ hiện có một hệ thống bảo hiểm y tế hết sức phức tạp và đắt đỏ, trong đó người dân, hoặc mua hợp đồng bảo hiểm y tế từ một công ty tư nhân hoặc tham gia các chương trình y tế công cộng (Medicare, Medicaid) do chính phủ tài trợ nếu đủ điều kiện.

Theo tài liệu của Centers for Medicare and Medicaid Services (CMS), bảo hiểm y tế tư nhân hiện cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho 65% người Mỹ; khoảng 183 triệu người, chỉ 117 triệu người có bảo hiểm Medicare và Medicaid. Tổng chi phí mà chính phủ, công ty và người dân phải trả cho dịch vụ chăm sóc y tế năm 2024 lên tới $3.6 ngàn tỷ, bình quân mỗi người tốn $12,000/năm, nhiều nhất thế giới!

Thế nhưng khi đổ bệnh, dù đã đóng phí bảo hiểm (premium), người bệnh vẫn phải trả một phần chi phí (co-pay, deductible); người không có bảo hiểm y tế phải trả toàn bộ chi phí điều trị hết sức đắt đỏ. Nhiều bệnh nhân và gia đình lâm vào cảnh nợ nần, thậm chí phá sản vì không đủ tiền trả cho dịch vụ y tế – điều được coi là hết sức bất hợp lý trong một quốc gia giàu mạnh nhất thế giới.

Phí bảo hiểm cao, nhiều quy định rối rắm, khi cần chạy chữa lại bị từ chối chi trả các dịch vụ chăm sóc thiết yếu làm cho hệ thống bảo hiểm y tế Mỹ bị người dân chán ghét và đòi phải thay đổi mà ý tưởng Medicare for All nổi lên như một sự thay thế hợp lý hơn, hữu hiệu hơn.

Với Medicare for All, người bệnh chỉ tập trung lo chữa bệnh, mọi chi phí được chính phủ tài trợ, không phải cân nhắc nên dùng số tiền ít ỏi của mình để mua thức ăn cho gia đình hay mua thuốc uống, không phải mang nợ chỉ vì mang bệnh hiểm nghèo!

Ưu điểm của Medicare for All là chi phí y tế sẽ thấp hơn do loại bỏ được động cơ lợi nhuận của bảo hiểm tư nhân, bảo đảm mọi người đều được chăm sóc y tế bất kể tình trạng việc làm hay thu nhập. Nhưng những người phản đối cho rằng, để thực hiện Medicare for All, chính phủ phải tăng thuế đáng kể, người bệnh phải chờ đợi lâu mới tiếp cận được dịch vụ…

Về chính trị, phần lớn những người ủng hộ Medicare for All là người Dân Chủ, còn những người phản đối phần lớn theo Cộng Hòa!

Medicare for All và cấp tiến

Ứng cử viên Abdul El-Sayed của đảng Dân Chủ ở Michigan là một bác sĩ dịch tễ học, một chuyên gia y tế công cộng, từng viết sách cổ xúy Medicare for All và tranh cử với cam kết bảo đảm dịch vụ chăm sóc y tế cho mọi người dân Mỹ.

Ông cho rằng, “không ai bị buộc phải lựa chọn giữa việc nhận sự chăm sóc y tế cần thiết và gánh chịu nợ nần.” Ông cho biết hiện người Mỹ đang gánh khoản nợ y tế hơn $225 tỷ và khoe rằng trong thời gian làm giám đốc sở y tế quận hạt, ông đã xóa nợ y tế cho hơn 300,000 cư dân quận hạt Wayne, tiểu bang Michigan. Đáp lại những lời cáo buộc “cộng sản” từ Tổng Thống Donald Trump và các chính trị gia Cộng Hòa, ông El-Sayed nói mình không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, ông thẳng thắn bác bỏ nhãn dán này và nói: “Tôi là người ủng hộ chủ nghĩa tư bản, nhưng là người thực sự hiểu rõ về chủ nghĩa tư bản.”

Ý tưởng Medicare for All không mới, và cũng không phải là “sáng tạo” riêng của những người Dân Chủ cấp tiến như ông El-Sayed.

Trên toàn cầu, mấy chục năm trước, Medicare for All đã được Tổ Chức Y Tế Thế Giới đánh giá là“ý tưởng mạnh mẽ nhất mà ngành y tế công cộng đề ra nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện và đầy đủ.” Một trong những “mục tiêu phát triển bền vững” của Liên Hiệp Quốc là xây dựng hệ thống y tế toàn dân ở tất cả các nước thành viên vào năm 2030.

Trong bảy quốc gia công nghiệp phát triển tạo thành nhóm G7 chỉ Hoa Kỳ là nước duy nhất chưa thực hiện Medicare for All, sáu nước còn lại (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản và Anh) đều cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế miễn phí cho toàn dân được nhà nước chi trả.

Quốc Hội Hoa Kỳ khóa 119 hiện đang xem xét ít nhất hai dự luật liên quan tới bảo hiểm y tế: Dự luật Medicare for All Act do Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders (Độc Lập-Vermont) giới thiệu trước Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện ngày 29 Tháng Tư, 2025, mã hiệu S.1506, và dự luật cùng tên do Dân Biểu Liên Bang Jayapal Pramila (Dân Chủ-Washington) giới thiệu trước một số ủy ban Hạ Viện, mã hiệu H.R.3069.

Hai dự luật này đề nghị thiết lập một chương trình bảo hiểm y tế quốc gia do Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh (HHS) quản lý. Chương trình đó phải: (1) bao phủ toàn bộ cư dân Hoa Kỳ; (2) tự động cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho các cá nhân ngay khi họ chào đời hoặc trở thành cư dân Hoa Kỳ; và (3) chi trả cho các dịch vụ cần thiết hoặc phù hợp về mặt y tế nhằm duy trì sức khỏe hoặc chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cho các tình trạng sức khỏe, bao gồm dịch vụ bệnh viện, thuốc kê đơn, điều trị sức khỏe tâm thần và lạm dụng chất gây nghiện, dịch vụ nha khoa và nhãn khoa, chăm sóc dài hạn, chăm sóc khẳng định giới tính, và chăm sóc sức khỏe sinh sản (bao gồm các biện pháp tránh thai và phá thai).

Dự luật cũng cấm áp dụng cơ chế chia sẻ chi phí (ví dụ: mức khấu trừ và đồng chi trả) cũng như các khoản phí khác. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm y tế tư nhân và người sử dụng lao động chỉ được phép cung cấp các gói bảo hiểm bổ sung, không được trùng lặp với các quyền lợi do chương trình này cung cấp.

Hai dự luật H.R.3069 và S.1506 chỉ mới qua bước giới thiệu ở tiểu ban, chưa được hai viện Quốc Hội đem ra thảo luận, bỏ phiếu, do đó còn lâu mới trở thành luật.

Nhưng những dữ kiện như vậy cho thấy, việc cáo buộc Medicare for All là một “chủ trương” của cộng sản thực chất chỉ là thủ đoạn chụp mũ chính trị, không có căn cứ và cũng khó thuyết phục được cử tri trong cuộc bầu cử sắp tới.

California và tham vọng CalCare

Ở cấp tiểu bang, California cùng với New York đã nhiều lần cố gắng và thất bại trong việc thay thế thị trường bảo hiểm y tế tư nhân bằng chương trình Medicare for All vào các năm 1994 và 2017 mà lý do chính là cử tri không đồng ý tăng thuế để chính quyền có tiền thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Năm 2022, Ủy ban Y Tế Hạ Viện California thông qua dự luật AB-1400 do Dân Biểu Ash Kalra (Dân Chủ-San Jose) đệ trình, nhắm xây dựng một chương trình bảo hiểm y tế riêng gọi là CalCare, dùng ngân quỹ tiểu bang chi trả các dịch vụ y tế cho toàn thể cư dân California theo phương thức “một người trả tiền,” thay cho các chương trình bảo hiểm y tế tư nhân hiện hành. Nhưng để có ngân quỹ, California phải tăng thuế lên các cá nhân giàu có và công ty; và đây là “điểm nghẽn” chính làm cho ý tưởng CalCare gặp phải sự phản đối mạnh.

Theo phân tích của Hiệp Hội Người Đóng Thuế (California Taxpayers Association), để thực hiện CalCare tiểu bang cần thu thuế hằng năm thêm $163 tỷ; còn theo tính toán của Trung Tâm Lao Động thuộc Đại học California, hệ thống y tế “một người trả tiền” sẽ tiêu tốn khoảng $222 tỷ mỗi năm.

Theo Tax Foundation, nếu tiểu bang được tăng thuế để chi trả cho chương trình y tế toàn dân thì bình quân mỗi gia đình California phải đóng thêm $12,250 tiền thuế mỗi năm; gia đình nghèo, thu nhập dưới mức $149,000 thì không phải chịu khoản thuế tăng thêm.

Muốn tăng thuế, California phải sửa đổi Hiến Pháp, thế là Hạ Viện tiểu bang đưa ra một dự luật có tên Assembly Constitutional Amendment 11, tức Tu Chính Hiến Pháp thứ 11, gọi tắt là ACA-11. Tu Chính Hiến Pháp phải được hai phần ba số nghị sĩ, dân biểu tiểu bang bỏ phiếu thuận, sau đó phải được trưng cầu dân ý để cử tri California có quyết định cuối cùng.

Không đồng thuận được dự luật ACA-11, không được tăng thuế nên chương trình CalCare đầy tham vọng phải bị gác lại trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2022. Năm nay, dự luật lại được Dân Biểu Ash Kalra tái đệ trình, dưới cái tên mới là dự luật AB-1900, hay “CalCare – The California Guaranteed Health Care for All Act,” số phận của nó sẽ như thế nào thì hạ hồi phân giải!

Tuy vẫn là một ước vọng, một đề nghị nhưng Medicare for All, chăm sóc y tế cho mọi người, đang dần dần được người Mỹ quan tâm. Nếu các ứng cử viên Dân Chủ cấp tiến giành được chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa kỳ Tháng Mười Một, Quốc Hội điều chỉnh lại các mục tiêu ưu tiên của quốc gia, đầu tư vào cuộc sống của người dân thay vì theo đuổi những cuộc chiến tranh vô nghĩa ở nước ngoài thì Medicare for All có triển vọng trở thành hiện thực trong tương lai không xa. [kn]


 

Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền? – Cha Vương

Chúc bạn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong những bận rộn của ngày hôm nay nhé. Một ngày an lành vui tươi trong Chúa nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cho sự hiệp nhất giữa các tôn giáo và thể giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 4: 12/8/2026.     (t6-22)

GIÁO LÝ: Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền? Trong Hội Thánh có sự phân biệt giữa các giáo dân và giáo sĩ. Nhưng tất cả đều là con cái Thiên Chúa như nhau và có cùng một phẩm giá. Tuy giáo sĩ và giáo dân có khác nhau, nhưng nhiệm vụ của họ có giá trị như nhau. Nhiệm vụ của giáo dân là hướng dẫn cả thế giới tiến về Nước Thiên Chúa. Cộng tác với họ là các thừa tác viên lãnh chức thánh, họ có nhiệm vụ cai quản, giáo huấn và thánh hóa Hội Thánh. Trong hai bậc sống kể trên, còn có những Kitô hữu được thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm: độc thân, nghèo khó, vâng phục, như trong các dòng tu. (YouCat, số 138)

SUY NIỆM: Mọi Kitô hữu có bổn phận làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống riêng của mình. Nhưng mỗi người bước đi với Chúa theo cách của mình. Có người Chúa trao sứ vụ làm giáo dân để xây dựng Nước Thiên Chúa giữa thế giới bằng đời sống gia đình và nghề nghiệp của mình: Người ban cho họ qua bí tích rửa tội và thêm sức tất cả các ơn huệ của Chúa Thánh Thần mà họ cần đến. Có những người đã được thêm sức, Người trao cho nhiệm vụ làm chủ chăn: họ phải điều khiển dân Chúa, giảng dạy và thánh hóa dân Chúa. Không ai được mạnh dạn tự gán cho mình nhiệm vụ đó: Chính Chúa sẽ ban cho họ nhờ bí tích truyền chức thánh, để thông truyền cho họ sức mạnh thần linh giúp họ hành động nhân danh Chúa Kitô và cử hành các Bí tích.

❦ Giáo dân là tình trạng chung của Kitô hữu trong Hội thánh là thành phần của Dân Chúa do bí tích rửa tội, nhưng không chịu chức thánh.

❦ Giáo sĩ là tình trạng trong Hội thánh của những người đã được chịu chức thánh. (YouCat, số 138 t.t.)

LẮNG NGHE: Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. (1 Cr 12:4-6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi người được Chúa dựng nên và được trao cho ơn gọi khác nhau để cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và cứu chuộc, xin giúp con hôm nay biết chu toàn ơn gọi riêng của mình để đưa mọi người đến gần với Chúa hơn.

THỰC HÀNH: Ơn gọi của bạn là gì? Lối sống của bạn có phản ảnh đúng với ơn gọi là con Thiên Chúa Không? Quyết tâm làm một thay đổi hôm nay để sống xứng đáng là một Ki-tô hữu Công Giáo nhé.

From: Do Dzung

*****

Bận Lòng Cùng Chúa – Sáng tác: Sr Quỳnh Thoại – Minh Nguyệt MV

QUÊN MỚI NHỚ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”.

“Không gì giúp chúng ta dễ tha thứ hơn bằng việc luôn nhớ rằng mình đã được thứ tha!” – Lewis B. Smedes.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi ký ức về lòng thương xót còn sống, lòng tha thứ sẽ không chết. Muốn nhớ điều đáng nhớ, đôi khi phải biết quên điều cần quên. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Phêrô hỏi: “Phải tha đến mấy lần?”. Thay vì trả lời bằng một con số, Chúa Giêsu kể dụ ngôn một người đầy tớ vừa được chủ xoá món nợ khổng lồ; nhưng vừa bước ra, anh bóp cổ bạn mình vì một món nợ nhỏ. Khoảng cách giữa được tha và không tha gần như bằng không. Món nợ đã được xoá, trái tim vẫn chưa đổi. Đó cũng là bi kịch của đời sống thiêng liêng: ân sủng có thể đổi đời người, nhưng chỉ tình yêu được cảm nhận mới đổi được trái tim. Điều đã được ban chưa kịp trở thành điều được sống. Bản Hy Lạp viết epnigen – “bóp cổ”, không chỉ là hành vi bạo hành thể xác, nhưng còn là bóp nghẹt sự sống. Khi lòng thương xót không đi vào trái tim, con người bắt đầu làm tắc nghẽn sự sống của nhau.

Êzêkiel gọi đó là căn bệnh của một dân “có mắt để nhìn mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe” – bài đọc một. Người đầy tớ thấy rất rõ món nợ của bạn mình, nhưng đã quên lòng thương xót chủ vừa dành cho anh. Thánh Vịnh đáp ca nhắc nhở: “Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”. “Hỡi linh hồn, hãy nhớ mọi ân huệ của Thiên Chúa khi nhớ đến mọi tội lỗi của mình!” – Augustinô. Thiên Chúa không xin chúng ta quên quá khứ; Ngài chỉ xin chúng ta nhớ quá khứ dưới ánh sáng của lòng thương xót. Tha thứ không thay đổi quá khứ, nhưng thay đổi quyền lực của quá khứ. Chúa không xoá ký ức; Ngài cứu chuộc ký ức. Chỉ khi còn nhớ mình đã được xót thương, chúng ta mới thôi đếm món nợ của người khác. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Chúng ta hiếm khi đối xử với nhau như người đầy tớ trong dụ ngôn, nhưng không ít lần vẫn cầm tù người khác trong những món nợ vô hình. Khi ký ức chỉ còn là những món nợ, nó sẽ làm nghẹt thở không chỉ người khác, mà cả chính mình. Mỗi lần từ chối tha thứ, điều đầu tiên mất đi không phải là tự do của người khác, nhưng là tự do của mình. Không ai có thể sống bằng lòng thương xót khi trái tim vẫn chất đầy những món nợ. Quá khứ không giam ai; chính món nợ chúng ta vẫn đòi nơi quá khứ mới giam cầm chúng ta.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô mang lấy mọi món nợ của nhân loại mà không đòi lại một món nào. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Ngài không chỉ tuôn đổ ơn tha thứ, nhưng còn khai sinh một trái tim mới – một trái tim biết tri ân hơn là oán hận. Đứng dưới chân thập giá, chúng ta mới học được điều tưởng như không thể: quên món nợ của anh em để nhớ mãi tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa. “Chỉ khi đặt nền trên sự tha thứ đi trước và khôn dò của Thiên Chúa, con người mới có thể vượt qua những giới hạn của thiện chí mình!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con chỉ nhớ điều Chúa muốn con nhớ, quên điều Chúa muốn con quên, và giữ lại trong tim điều làm Chúa vui lòng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://ourl.in/@scai

Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 18,21–19,1

18 21 Khi ấy, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng : “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần ? Có phải đến bảy lần không ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

23 “Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống lạy lục : ‘Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.’ 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo : ‘Trả nợ cho tao !’ 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống van xin : ‘Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.’ 30 Nhưng y không chịu, cứ đi tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo : ‘Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?’ 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”

NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG

Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm.

Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”.

Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.

Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng:

– “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?”.

Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.

Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn…

Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang.

Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.

Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo.

Chuyện bắt đầu từ đây.

Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.

Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi.

Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?

Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình.

Tôi hỏi nhỏ:

– “Anh đã tới chào ba má chị chưa?”. Anh Hai lắc đầu.

Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.

Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết.

Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường.

Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ.

Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm.

Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.

Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.

Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa.

Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta.

Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”.

Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.

Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó.

Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước.

Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.

Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao?

Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ?

Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao?

Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?

Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.

Vậy là anh chị chia tay.

Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa,

người thay thế chị là anh Hai.

Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc:

– “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thày?”,anh Hai trả lời:

-“Tại các em làm cô buồn”.

Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe…

Cô giáo buồn là đúng rồi.

Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc

thời gian chữa lành mà thôi.

Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.

Bỗng một ngày, tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai.

Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết.

Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh.

Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả.

Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở.

Quá muộn màng!

Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan,

lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước.

Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho.

Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh.

Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.

Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hằng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ.

Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào:

-“Con dâu của dì là cô giáo hả?”.

Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau.

Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.

Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh.

Má tôi vừa khóc vừa nói:

-“Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.

Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác.

Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình.

Tới tận ngày giỗ lần thứ bảy của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ,

tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…

Truyện: Tương Giang

Nguồn fb Tuấn Mai SG 


 

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen…

Phan Thế Nghĩa

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen mà không ai muốn nhận: 46 năm sau, cuộc đời của họ sẽ khiến bạn không khỏi xúc động…

 Năm 1979, thế giới của Richard Miller như lặng đi khi người vợ Anne qua đời. Ngôi nhà vốn tràn đầy những ước mơ về một gia đình có con cái, giờ đây trở nên trống vắng. Bạn bè khuyên ông nên tái hôn, nhưng ông vẫn ghi nhớ những lời cuối cùng của Anne:

“Đừng để tình yêu chết cùng em. Hãy trao tình yêu ấy cho một nơi

nào đó để nó tiếp tục sống.”

Vào một đêm mưa bão, số phận đưa ông đến một cô nhi viện mang tên St. Mary’s. Tại đó, ông nhìn thấy chín bé gái nhỏ, tất cả đều bị bỏ rơi cùng một lúc. Tiếng khóc yếu ớt của các em vang vọng dọc những hành lang.

Không ai muốn nhận cả chín đứa trẻ. Việc các em bị chia lìa dường như là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng Richard cúi xuống trước các em, giọng nghẹn ngào, rồi nói:

“Tôi sẽ nhận nuôi tất cả các cháu.”

Lúc đó nhưng người xung quanh cho rằng ông đã điên. Nhân viên xã hội nghi ngờ khả năng của ông. Người thân chế giễu. Hàng xóm xì xào:

“Một người đàn ông da trắng thì làm gì với việc nuôi chín bé gái da đen?”

Nhưng Richard bán đi những tài sản mình có, làm thêm hai ca, và tự tay đóng chín chiếc nôi cho các con.

Những đêm dài của ông giờ đây là những bình sữa, những lời ru và việc chải tóc, tết tóc cho các con dưới ánh đèn trong căn bếp.

  Cuộc sống vô cùng vất vả, nhưng tiếng cười của các cô bé, những câu chuyện mà Anne từng kể và cá tính ngày càng lớn của từng đứa trẻ đã gắn kết cả gia đình lại với nhau.

Sarah với tiếng cười lan tỏa đến mọi người.

Naomi tinh nghịch và đầy sức sống.

Leah với một trái tim nhân hậu.

Từng đứa một, họ lớn lên thành những thiếu nữ – có người trở thành giáo viên, có người làm y tá, có người trở thành những người mẹ.

Nhưng họ chưa bao giờ quên người đàn ông đã lựa chọn họ vào thời điểm mà không ai muốn nhận họ.

  Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Trong khoảnh khắc ấy, ông nhìn thấy điều kỳ diệu mà Anne từng mong ước:

Tình yêu không chết đi cùng Anne. Nó đã được trao cho chín cô bé, và từ đó lớn lên thành cả một đại gia đình.

46 năm sau…

Căn nhà nhỏ ngày nào đã thay đổi hoàn toàn.

Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Chín cô bé năm nào giờ đã trở thành những người phụ nữ trưởng thành.

Họ không chỉ xây dựng cuộc sống riêng mà còn luôn giữ một điều đặc biệt trong lòng: họ chưa bao giờ quên rằng Richard đã chọn họ khi cả thế giới dường như muốn chia lìa họ.

Có lần một người hỏi Sarah:

“Điều gì khiến cô nhớ nhất về cha mình?”

Sarah mỉm cười và trả lời:

“Tôi không nhớ ông đã mua cho chúng tôi những gì. Tôi nhớ ông chưa bao giờ để chúng tôi cảm thấy mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi.”

Naomi cũng kể rằng ngày nhỏ, mỗi khi một trong các chị em hỏi:

“Ba có phải ba ruột của chúng con không?”

Richard luôn trả lời:

“Ba không sinh ra các con. Nhưng ba đã chọn các con. Và ba sẽ chọn các con mỗi ngày.”

Câu nói ấy đã theo họ suốt cuộc đời.

Nhiều năm trôi qua, chín người con lần lượt lập gia đình, có công việc và có những đứa con của riêng mình. Ngôi nhà của Richard ngày càng vui vẻ hơn.

Ngày trước, ông phải thức dậy giữa đêm để pha chín bình sữa.

Giờ đây, ông lại thức dậy vì tiếng chân của những đứa cháu chạy khắp nhà.

Vào một buổi tối năm 2025, tất cả các con và các cháu cùng trở về nhà.

Richard ngồi ở đầu bàn, nhìn quanh.

Một bên là những cô con gái mà ông từng bế trên tay.

Bên kia là những đứa cháu mà ông chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ có.

Ông im lặng rất lâu.

Rồi ông nhìn lên bức ảnh của Anne treo trên tường.

Ông khẽ nói:

“Em thấy không, Anne? Anh đã làm theo lời em.”

Ông từng nghĩ sau khi Anne qua đời, tình yêu của mình cũng sẽ chấm dứt.

Nhưng ông không ngờ rằng tình yêu ấy sẽ được trao cho chín đứa trẻ, rồi từ chín đứa trẻ ấy lại tiếp tục lan sang những người chồng, người vợ, những đứa cháu và cả những thế hệ sau…

Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của câu chuyện:

  Gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc cùng chung dòng máu. Đôi khi, gia đình bắt đầu bằng một người quyết định nói: “Tôi sẽ không bỏ các con.”

Và 46 năm sau, chín cô bé từng bị bỏ rơi đã trở thành minh chứng sống cho quyết định ấy.

  • (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ 

  David Attenborough Fans). 


 

MỘT NỬA SỰ THẬT

Xuyên Sơn

MỘT NỬA SỰ THẬT

Ở trường học chúng ta được dạy rằng:

“Tháng 8 năm 1945 Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hirosima và Nagasaki – Nhật Bản, buộc Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân Mỹ”, chấm hết.

Sách giáo khoa đã nói đúng sự thật, nhưng không đề cập đến một sự thật trước và sau khi Mỹ ném bom xuống Nhật.

Một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Đây là phần sự thật mà chúng ta không được dạy.

Một thời gian ngắn trước khi ném hai quả bom nguyên tử kia, Mỹ đã rãi hơn 5 triệu truyền đơn xuống 33 thành phố của Nhật, trong đó có Nagasaki và Hiroshima.

Nội dung như sau:

“Hãy đọc thật kỹ vì nó có thể cứu lấy mạng sống của chính bạn, người thân hay bạn bè của bạn.

Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này đang sở hữu các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.

Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này.

Nhưng, không may, những quả bom không có mắt.

Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.

Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản.

Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn.

Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.

Chúng tôi không thể hứa rằng những thành phố này sẽ được an toàn, một số hoặc tất cả sẽ bị phá hủy.

Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”

*

Sau quả bom đầu tiên, Mỹ tiếp tục gửi truyền đơn và đồng thời phát radio từ Saipan (Mỹ đang nắm giữ) cứ mỗi 15 phút với nội dung tương tự như sau:

“Nước Mỹ yêu cầu các bạn ngay lập tức tuân thủ những gì chúng tôi nói trong truyền đơn này.

Chúng tôi đang sở hữu những quả bom kinh khủng nhất lịch sử loài người.

Một trong số những quả bom mà chúng tôi đang nghiên cứu có sức công phá đến hơn 2.000 lần những gì mà một cái máy bay khổng lồ B-29 có thể mang lại.

Thực tế khủng khiếp này là một lý do để bạn suy nghĩ và chúng tôi bảo đảm rằng điều đó là tuyệt đối chính xác.

Chúng tôi chỉ mới bắt đầu sử dụng loại vũ khí này để chống lại quê hương các bạn. Nếu các bạn vẫn nghi ngờ, hãy xem lại những gì đã xảy ra ở Hiroshima khi chỉ có một quả bom nguyên tử rơi xuống thành phố đó.

Trước khi sử dụng bom này để tiêu diệt mọi nguồn lực của quân đội mà họ có được để kéo dài cuộc chiến tranh vô ích này, chúng tôi kêu gọi các bạn hãy yêu cầu Nhật Hoàng kết thúc chiến tranh.

Tổng thống của chúng tôi đã soạn ra cho các bạn 13 quyền lợi bảo đảm cho một lần đầu hàng danh dự.

Chúng tôi khuyến khích bạn chấp nhận những quyền lợi này và bắt đầu công việc xây dựng một nước Nhật mới, một Nhật Bản tốt hơn và yêu hòa bình.

Các bạn nên bắt đầu thực hiện những bước cần thiết để đình chiến.

Nếu không, chúng tôi sẽ kiên quyết sử dụng bom này và tất cả các loại vũ khí vượt trội khác để phản ứng kịp thời và kết thúc chiến tranh.”

*

Sau khi Nhật Hoàng đầu hàng, thống tướng MacArthur và Quân đội Mỹ đặt chân đến Nhật Bản, chuẩn bị cho công cuộc chiếm đóng nước Nhật của mình.

Với tư cách là bên thắng cuộc, chính phủ  và nhân dân Nhật phải nằm dưới sự quản lý và những chính sách do Mỹ đưa ra.

Một trong những việc đầu tiên mà tướng MacArthur làm là, khẩn cấp xin chính phủ Mỹ viện trợ lương thực và tiền để kiến thiết nước Nhật trước thực trạng đổ nát của chiến tranh.

Với nỗ lực của MacArthur, chính phủ Mỹ tức tốc gửi đến nước Nhật 3,5 triệu tấn lương thực cùng hơn 2 tỷ USD.

Tại trường học, trẻ em Nhật được ăn một bữa trưa miễn phí; lần đầu tiên trong lịch sử nước mình, phụ nữ được trao thêm nhiều quyền lợi hơn, trong đó có quyền bầu cử và ứng cử; tại các địa phương người dân được tạo điều kiện để tham gia sinh hoạt chính trị.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh soạn thảo

Hiến pháp Nhật Bản theo hướng dân chủ, chủ quyền đất nước thuộc về quốc dân chứ không phải Thiên hoàng.

Thiên hoàng là biểu tượng cho sự đoàn kết và văn hóa Nhật, giống như Nữ hoàng Anh, nhưng không mang quyền lực chính trị thực tế.

Thiên hoàng chỉ được tiến hành các hành vi liên quan đến việc nước theo quy định của bản Hiến pháp này và Thiên hoàng không có quyền lực liên quan tới chính phủ.

Quốc hội Nhật là cơ quan chính trị có quyền lực cao nhất, thành viên quốc hội là những người được dân chúng chọn ra trong một cuộc  bầu cử tự do,…

Trước thực trạng nông dân không có đất canh tác, tháng 10/1946 Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”, tiến hành thu mua đất của của giới địa chủ và bán nợ lại cho nông dân không có đất.

Ngày 31/3/1947 Quốc hội ban hành “Luật Giáo dục”.

Theo đó, mục tiêu hàng đầu của giáo dục là

“Tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.

Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ bị mất quyền quản lý giáo dục và kiểm duyệt sách giáo khoa.

Thay vào đó một “Ủy Ban Giáo Dục” do dân bầu ra đảm trách những việc ấy. Giáo viên dạy học sinh về tinh thần dân chủ chứ không phải tôn thờ Nhật Hoàng.

Năm 1951 Quân đội Mỹ tự khắc rút khỏi nước Nhật, trao trả lại nền độc lập cho Nhật Bản sau khi “sứ mệnh” kiến thiết nước Nhật của mình hoàn thành.

Người Nhật gọi tướng MacArthur là vị Shogun Mỹ.

Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.”

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1809248755995220&id=100007303381806

Từ fb Jeny Nguyen.

Nguồn fb Chinh Le 


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN – Nt. Anna Ngọc Diệp, OP 

SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN

Đã bao nhiêu lần bạn nghe nói rằng cầu nguyện chẳng có tác dụng gì?  Người ta thường chế nhạo vì khi điều bất hạnh xảy ra, cách duy nhất chúng ta thường làm đó là cầu nguyện.  Thực tế cho thấy rằng, nhiều khi chúng ta chẳng thể thay đổi tình hình, chẳng hạn như: chúng ta chẳng thể chữa khỏi ung thư, chẳng thể cho kẻ chết sống lại, và cũng chẳng thể ngăn ngừa tác hại của một trận hỏa hoạn, lũ lụt, … 

Nhưng rõ ràng là, dù chạm đến sự giới hạn cuối cùng đó, chúng ta vẫn có thể thưa chuyện với Chúa, nài xin lòng thương xót, sự phù trợ, giúp giảm bớt phần nào đau khổ mà con cái Ngài đang phải chịu đựng. Trích dẫn lời của Thánh Gioan Damascene, Sách Giáo lý Công giáo dạy rằng: Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp” (GLCG 2590).

Cầu nguyện là một điều tuyệt vời và cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Không cầu nguyện, chúng ta không có mối tương quan với Thiên Chúa.  Không cầu nguyện, chúng ta sẽ lạc lối.  Cầu nguyện là cách thế tốt nhất để chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa, nhờ đó, chúng ta có thể và sẽ tạo ra sự khác biệt trong thế giới.

  1. Cầu nguyện củng cố quyết tâm của chúng ta.

Chúng ta có thể nhận được sức mạnh lớn lao từ cầu nguyện.  Chỉ cần dành thời giờ thân thưa với Chúa về điều khiến chúng ta vui, buồn và tạ ơn Ngài vì những ơn lành chúng ta đã lãnh nhận sẽ mang lại cho chúng ta tầm nhìn quan trọng về cuộc sống và về những gì chúng ta được mời gọi để làm cho người khác.  Trong thực tế, chúng ta dễ cảm thấy chán nản khi mọi việc không như ý mình, nhưng với một chút thời gian yên tĩnh ở một mình với Chúa có thể giúp chúng ta cảm nhận được sự thanh thản, nhìn mọi việc theo một nhãn quan khác và tăng thêm sức mạnh để làm điều tốt cho người khác.

2. Cầu nguyện mang lại cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc.

Thời gian cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể biến đổi tâm hồn khi chúng ta biết suy tư về cuộc sống, hành vi của mình, và quyết tâm thay đổi theo chiều hướng tích cực.  Chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa về những gì Ngài muốn dành cho chúng ta và Ngài muốn chúng ta tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của mình và người khác như thế nào.  Việc ngồi tĩnh lặng thưa chuyện với Chúa hoặc đọc Kinh thánh giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về cách thế Thiên Chúa muốn chúng ta hành động khi chúng ta có thể noi theo gương của các Thánh và của những người nam nữ tốt lành trong Kinh Thánh.

3. Cầu nguyện thúc đẩy chúng ta hành động.

Hành động bắt đầu bằng việc cầu nguyện.  Chúng ta thưa chuyện với Chúa và Ngài lắng nghe.  Chúng ta có thể hỏi Thiên Chúa rằng Ngài muốn chúng ta ở đâu, Ngài muốn chúng ta làm gì và làm sao để chúng ta có thể làm theo ý muốn của Ngài.  Chắc chắn Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta, mặc dù nhiều khi chúng ta không nghe được tiếng nói trực tiếp của Ngài.  Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận ý muốn của Thiên Chúa được đặt vào lòng chúng ta và khi Ngài giúp chúng ta đưa ra những quyết định vì lợi ích của chúng ta hoặc của người khác.

4. Cầu nguyện đưa người khác đến gần Chúa hơn.

Khi người khác thấy chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang làm gương về cách hành động.  Và khi cầu nguyện cho người khác, chúng ta có thể tin chắc rằng Thiên Chúa lắng nghe chúng ta.  Chúng ta có mẫu gương của Thánh Monica, người đã cầu nguyện ròng rã nhiều năm cho người con trai là Augustino được ơn hoán cải, và bà đã được toại nguyện.  Noi gương thánh nữ Monica, chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chúng ta yêu thương và khi cảm thấy mệt mỏi, buồn bã vì lời cầu nguyện của mình không được nhậm lời, sự kiên trì của thánh nữ là nguồn khích lệ lớn lao.

Cầu nguyện không chỉ củng cố mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa mà còn biến đổi con người chúng ta.  Cầu nguyện uốn nắn chúng ta thành người trung thành hơn, quảng đại hơn để giúp đỡ người khác, và dấn thân hơn để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Thiên Chúa là Cha và Ngài yêu thương chúng ta sâu xa hơn những gì chúng ta có thể hình dung.  Hãy dành thêm thời gian để thân thưa với Ngài, và xây dựng mối tương quan mà cả Thiên Chúa và chúng ta đều khao khát.

Susan Ciancio

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP 

Chuyển ngữ từ: catholicworldreport.com (15. 04. 2024)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Mừng kính Lễ Thánh Clara, đồng trinh.(11/08)- Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay 11/8, Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Clara, đồng trinh. Ngài là bổn mạng của Giáo Xứ mình đó. Xin  bạn một lời cầu nguyện cho giáo dân của mình và cho công việc mục vụ trong giáo xứ. Mừng Bổn Mạng đến tất cả mọi người nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 11/08/2026.    (t5-22)

Thánh Clara (St. Clare of Assisi, 1194-1253) là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giầu có ở Assisi. Khi mười tám tuổi, ngài được khích động bởi một bài giảng của Thánh Phanxicô Assisi, và cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, thề sống khó nghèo, tận hiến cho Thiên Chúa. Gia đình ngài hoảng sợ, dùng sức lực ép buộc ngài phải trở về nhà; nhưng một đêm kia, trong một hành động vừa có tính cách khôn khéo và ý nghĩa, ngài lẻn ra khỏi nhà qua “cánh cửa người chết” (cánh cửa nhỏ để khiêng người chết ra ngoài), và đến với các tu sĩ Phanxicô.

   Trong một nhà nguyện nhỏ bé ở ngoại ô, Thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của Clara và trao cho thánh nữ chiếc áo nâu thô kệch làm chiếc áo dòng. Sau đó, thánh nữ sống với các nữ tu dòng Bênêđíctô cho đến khi có thêm sự gia nhập của các phụ nữ khác, trong đó có cả người mẹ goá bụa của ngài và các phụ nữ thuộc gia đình quý tộc ở Florence.

   Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dà được biết đến dưới tên Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn) hoặc dòng Clara Khó Nghèo. Khi tu hội được thành lập, Thánh Phanxicô đề nghị Clara làm bề trên, nhưng ngài từ chối cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.

   Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ tu hội phụ nữ nào khác trong thời ấy, và tuyệt đối khó nghèo, cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được đan lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Gió mưa tha hồ lọt qua các vết nứt ở mái nhà cũng như vách gỗ. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được. Bất kể sự khắc khổ của đời sống, những người theo Thánh Clara lại là những thiếu nữ xinh đẹp nhất Assisi và lúc nào họ cũng có niềm vui vì được sống gần Thiên Chúa.

    Thật vậy, Thiên Chúa đã gìn giữ họ khỏi sự nguy hiểm khi bọn lính hung dữ đến tấn công Assisi và dự định bố ráp tu viện này trước hết. Lúc ấy, dù đang đau nặng, Thánh Clara đã gắng gượng quỳ xuống trước cổng, tay nâng Mình Thánh trong mặt nhật và ngài cầu xin, “Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các nữ tu mà con không thể nào bảo vệ nổi.” Sau đó, dường như có tiếng trả lời: “Ta sẽ luôn gìn giữ họ” và đồng thời ngay lúc ấy, quân lính cảm thấy vô cùng sợ hãi và họ chạy tán loạn.

   Thánh Clara làm bề trên tu viện trong bốn mươi năm mà hai mươi chín năm ấy ngài trong tình trạng đau yếu. Nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo không?”

   Thánh Clara từ trần ngày 11 tháng Tám 1253. Chỉ hai năm sau, ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Alexander IV tôn phong lên bậc hiển thánh.

   Sau đây là những câu nói của Thánh Clara, mời Bạn đọc và suy niệm để noi gương yêu mến Chúa của ngài:

❦ Các Chị Em Hèn Mọn sống tuyệt đối khó nghèo… Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cử thì có thực sự nghèo hay không?”

❦  Yêu mến Chúa, phụng sự Chúa; mọi thứ đều ở trong đó.

❦  Yêu mến Người thì sẽ say mê, chiêm ngưỡng thì được thêm sức mạnh. Lòng nhân hậu của Người làm ta no thoả, sự dịu dàng của Người làm ta ngây ngất.

❦  Nỗi ưu phiền là thuốc độc đối với lòng sùng kính. Khi gặp thử thách, chúng ta cũng nên hân hoan hơn vì chúng ta đang được GẦN CHÚA hơn. 

Thánh nữ Clara, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Con Yêu Chúa. Ca sĩ: Khắc Thiệu

GIỮ TRỜI Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em”.

Ít tuần sau khi làm giáo hoàng, Gioan XXIII đến thăm nhà tù Regina Coeli. Khi ngài sắp ra về, một tù nhân hỏi liệu những lời hy vọng của ngài có dành cho anh không. Vị giáo hoàng ôm người ấy và nói với các tù nhân: “Tôi đã đặt trái tim tôi gần trái tim anh em!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cái ôm của Gioan XXIII không xoá tội người tù, nhưng trả lại cho anh phẩm giá làm người. Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta bước tới đủ gần người lầm lỗi để nói lời thật trong yêu thương; đó là cách chúng ta ‘giữ trời ở lại’.

Thoạt đầu, trình thuật Phúc Âm có vẻ như một tiến trình sửa lỗi; nhưng đích đến không phải là phân xử đúng sai. Bản Hy Lạp viết ekérdēsas – “đã chinh phục được”; một phiên bản khác dịch rất gợi: “đã được món lợi là người anh em mình”. Trước đó, Matthêu đã dùng chính động từ này khi hỏi: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”. Bàn cân đã đảo: điều đáng “được” không phải cả thế giới, nhưng là một người anh em. Vì thế, mục đích cuối cùng không phải thắng lý, nhưng thắng tình: được lại người. Bằng không, chúng ta có thể đúng mọi điều mà vẫn sai Tin Mừng.

Lộ trình Chúa Giêsu vạch ra đi từ gặp riêng, thêm một hai người, rồi mới đến cộng đoàn. Vòng tròn rộng dần không để tăng người buộc tội, nhưng tăng người cùng cứu lấy một người. Đáng chú ý, “hai hoặc ba người” làm chứng ở đầu lộ trình lại trở thành “hai ba người” họp nhau nhân danh Chúa ở cuối trình thuật. Một cuộc gặp tưởng là toà án bỗng thành nơi Chúa ngự; bởi Ngài không đến như một chủ toạ, nhưng “ở giữa họ”. “Chúng ta nên thực hành bản giao hưởng này!” – Origen. Bao lâu còn chịu ngồi lại để khỏi mất nhau, bấy lâu chúng ta đang ‘giữ trời ở lại’.

Với Êzêkiel, trời đang rời đi dù Đền Thờ vẫn còn đó. Điều đáng sợ không chỉ vì sự dữ đã vào nơi thánh, nhưng vì nó đã trở nên bình thường đến mức hầu như không ai còn đau – bài đọc một. Vì thế, sửa lỗi anh em không phải là xoi bói hay kiểm soát, nhưng là từ chối dửng dưng khi tội lỗi đang huỷ hoại một người. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Vinh quang Chúa vượt xa trời cao thẳm!”. Đấng vượt trời cao không được giữ lại bằng những bức tường, nhưng bằng những trái tim còn biết đau vì nhau.

Anh Chị em,

Thứ Sáu Tuần Thánh, một phiên bản ngược của lộ trình này được thực hiện: đưa một người anh em ra trước hội đồng, tìm chứng nhân, rồi loại người ấy ra ngoài thành như một tội nhân – kẻ không còn thuộc về cộng đoàn. “Thiên Chúa để mình bị đẩy khỏi thế gian lên thập giá!” – Dietrich Bonhoeffer. Vậy mà Người Anh Em ấy chấp nhận mất tất cả để thu chúng ta về như “món lợi” của tình yêu; và khi phục sinh, Ngài lại “ở giữa” chính nhân loại đã loại trừ Ngài. Từ đó, vinh quang trở về và đất lại mở một chỗ cho trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ở giữa chúng con; cho con đủ yêu thương để bước tới; đủ khiêm tốn để nói lời thật; đủ kiên trì để cùng nhau ‘giữ trời ở lại’ trong gia đình, trong cộng đoàn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn: https://sl1nk.com/0ov93yv

Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 18,15-20

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

18 “Thầy bảo thật anh em : dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

19 “Thầy còn bảo thật anh em : nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”