Mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914) – Cha Vương

Một tuần mới, một ngày mới, một giây phút mới… một cơ hội để sống yêu thương hơn… Hôm nay Giáo Hội mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé

Cha Vương

Thứ 6: 21/08/2026.     (t2-23)

Thánh nhân sinh năm 1835 tại Ri-ê-sê, nước Ý. Sau khi làm linh mục, người dấn thân thi hành việc mục vụ. Người làm giám mục Man-tô-va, rồi làm thượng phụ giáo chủ Vê-nê-xi-a và cuối cùng, năm 1903, được chọn làm giáo hoàng. Người chu toàn bổn phận của mình theo khẩu hiệu người đã chọn: “Canh tân mọi sự trong Chúa Ki-tô” với lòng đơn sơ, đời sống thanh bần và can đảm. Cùng với những đức tính ấy, người đã giúp các tín hữu sống đạo nhiệt thành và đối phó với những sai lầm đang lan tràn trong Hội Thánh. Khi Đại Thế Chiến thứ nhất bùng nổ, thánh giáo hoàng Piô X đã phải đau khổ nhiều. Ngài biết nhiều người sẽ bị giết chết. Thánh Piô X nói: “Cha sẽ vui mừng dâng hiến mạng sống cha để cứu những em nhỏ đáng thương khỏi nỗi đau kinh khủng này!” Về cuối đời, thánh nhân cũng nói: “Cha đã sống nghèo, và cha ao ước cũng được chết nghèo!” Piô X chẳng bao giờ giữ lại cho mình bất cứ của gì cho tới ngày về gặp Thiên Chúa. Người qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1914.

Ngài là vị giáo hoàng của bí tích Thánh Thể, đã khuyến khích mọi người hãy rước Chúa Giêsu Thánh Thể cách thường xuyên. Ngài cũng hạ thấp mức tuổi cho trẻ em để chúng được phép rước Chúa Giêsu vào lòng sớm hơn.

Truyền thuyết ghi rằng ngài có một cuộc sống tình nghĩa rất nặng với gia đình nhất là với mẹ của ngài. Đức Giáo Hoàng Piô X khi còn là cậu bé ở làng Riese mỗi ngày phải đi bộ 7 cây số để đến trường, sáng đi 7 chiều về 7. Bà mẹ, bà Magarita dù nghèo song cũng ráng mua cho con một đôi giày cho con đỡ đau chân. Đứa con tốt lành này cũng rất thương cha mẹ cho nên sáng ra khỏi nhà thì mang giày vào chân kẻo mẹ rày, sau khi xa nhà thì cởi giấy quảy trên vai cho tới khi tới trường mới mang vào để chúng bạn khỏi cười chê. Ra khỏi trường lại cởi ra, về gần tới mới xỏ vào sợ mẹ buồn. Cậu bé Sartô làm như thế vì sợ mòn đôi giày và tốn kém cho cha mẹ.

Khi được được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Mantua, một hôm, ngài về thăm mẹ. Mẹ con ngồi nói chuyện khá lâu, ngài tếu táo khoe với mẹ chiếc nhẫn Giám mục của mình: “Mẹ xem này, chiếc nhẫn Giám mục mới của con đây”. Mẹ ngài mỉm cười chìa bàn tay thô cộc cho thấy chiếc nhẫn cưới bình dị của mình và nói: “Không có chiếc nhẫn cưới nghèo nàn này của mẹ đây thì chẳng có chiếc nhẫn ấy đâu.”

Noi gương thánh nhân mời bạn hôm nay hãy làm mọi công việc của mình một cách vui vẻ trong Chúa Ki-tô nhé.

Thánh Pi-ô X, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Sống Trong Niềm Vui | Hà Thanh Xuân | OFFICIAL

NỮ VƯƠNG VÌ LÀ NỮ TỲ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Triều đại Người sẽ vô cùng vô tận!”.

Trong Kinh Cầu Đức Bà, Hội Thánh gọi Mẹ là “Toà Đấng Khôn Ngoan”. Toà ấy không làm bằng vàng, nhưng bằng thân xác và tiếng “xin vâng” của một nữ tỳ. Đức Vua của triều đại vô tận đã chọn ngai đầu tiên của Ngài ngay dưới trái tim của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không kể chuyện Cô bé Lọ Lem được đổi phận. Maria không thôi là nữ tỳ để trở thành Nữ Vương, nhưng là ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Tin Mừng đặt cạnh nhau hai ngôn ngữ tưởng như trái ngược. Sứ thần nói về “ngai vàng vua Đavít”, “trị vì”, “triều đại của Người vô cùng vô tận”; Maria lại chỉ nói về sự thuộc về: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē – “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì. Vương quyền của Mẹ không khởi đầu trong ngày đội triều thiên, nhưng trong ngày Mẹ để Chúa toàn quyền trên đời mình. Ở Maria, chính thân phận nữ tỳ mang hình dáng vương quyền.

Hội Thánh chiêm ngắm Maria như Nữ Hoàng bên hữu Đức Vua. Nhưng bên hữu ấy không khiến Mẹ thôi phục vụ; đó là nơi sự phục vụ mang tầm vóc vương giả. Mọi vinh quang của Mẹ đều nhận từ Con, mọi quyền thế của Mẹ đều trở thành chuyển cầu. Nữ tỳ nay ngự bên Đức Vua, vẫn chỉ muốn đưa con người đến gần Ngài. Tại Cana, một hành vi “vương giả” của Mẹ chỉ là nhận ra một thiếu thốn không ai nói thành lời: “Họ hết rượu rồi!”. Càng ở gần Chúa, chúng ta càng khó bình thản trước niềm vui đang cạn dần của người bên cạnh. Ngai của Nữ Hoàng không tách Mẹ khỏi chúng ta; đó là nơi Mẹ ở gần Đức Vua để không ai phải ở xa lòng thương xót.

Isaia hé mở nguồn mạch vương quyền của Mẹ: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta”; “Người gánh vác quyền bính trên vai” – bài đọc một. Mẹ bồng Con Trẻ, Đấng gánh vác quyền bính. Mẹ chỉ trao Đức Vua cho thế giới và trao thế giới cho Ngài. Triều thiên của Mẹ không giữ lại ánh sáng cho mình, nhưng làm cho vinh quang của Con rạng rỡ. Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất chuyển động ấy: “Chúc tụng danh thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”. Nữ Hoàng không giữ lời ca tụng nơi mình; Mẹ hướng tất cả về danh thánh Đấng Toàn Năng.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngai là thập giá, triều thiên là vòng gai; vương quyền của Ngài là cúi xuống. Càng được nâng cao bên Đức Vua, Maria càng cúi xuống bên những con người bé nhỏ. “Đừng tưởng tượng Đức Maria như một bức tượng sáp bất động; nơi Mẹ, chúng ta thấy một người chị với đôi dép mòn!” – Phanxicô. Triều thiên không làm Mẹ cởi đôi dép của nữ tỳ. Câu nói hóm hỉnh của Fulton Sheen lại chạm đến một sự thật rất ấm: “Khi đến trước mặt Chúa, bạn sẽ nghe Ngài nói: ‘Ta đã nghe Mẹ Ta nói về con!’”. Đó là nét gần gũi nhất của một ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, cho con càng được nâng lên, càng biết cúi xuống; càng gần Chúa, càng gần người bé nhỏ; càng được yêu, càng biết chuyển cầu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa 22/8 MARIA NỮ VƯƠNG Thứ Bảy, Tuần XX Thường Niên, 

https://bom.so/TZcKoT

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


 

Rousseau – Nhà triết học Khai sáng vĩ đại… hay một “kẻ phản động”?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

04/08/2026

Ngày còn học đại học, tôi từng nghĩ triết học là môn học khô khan và khó hiểu nhất. Đó là vì chúng tôi chỉ được học triết học Mác – Lênin. Mãi nhiều năm sau, khi đọc Jean-Jacques Rousseau, tôi mới nhận ra rằng triết học cũng có thể rất giản dị. Có những nhà triết học chỉ cần một câu đã khiến người đọc phải suy nghĩ cả đời: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích.”

Jean-Jacques Rousseau được xem là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của thời đại Khai sáng và là một trong những người đặt nền móng cho tư tưởng chính trị hiện đại. Ảnh hưởng của ông vượt xa phạm vi triết học, lan sang giáo dục, đạo đức, chính trị và cả cuộc Cách mạng Pháp. Cho đến hôm nay, những khái niệm như chủ quyền nhân dân, quyền công dân, tự do và bình đẳng vẫn mang đậm dấu ấn tư tưởng của Rousseau.

Cái khác biệt của Rousseau là ông không bắt đầu từ nhà nước hay quyền lực, mà bắt đầu từ con người.

Theo Rousseau, con người trong trạng thái tự nhiên vốn lương thiện. Họ sống giản dị, tự do, biết thương người và chưa bị lòng tham hay sự ganh đua chi phối. Chính xã hội, cùng với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân, bất bình đẳng và cuộc chạy đua vì quyền lực, mới làm cho con người dần trở nên ích kỷ, giả tạo và tha hóa.

Câu nói nổi tiếng của Rousseau vừa có sức gợi hình rất mạnh, vừa có chiều sâu triết học. Ông mượn hình ảnh chiếc xiềng sắt để nói về những chiếc xiềng vô hình còn phổ biến hơn nhiều. Đó là lý do câu nói này trở thành một trong những câu mở đầu nổi tiếng nhất trong lịch sử triết học: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích”. Câu nói này không chỉ là lời than thở về số phận con người, mà còn là câu hỏi lớn của triết học chính trị: làm thế nào con người có thể sống trong xã hội mà vẫn giữ được tự do?

Đó chính là mục đích của tác phẩm Khế ước xã hội (Du Contrat social).

Rousseau cho rằng con người cần từ bỏ một phần tự do tự nhiên để xây dựng một cộng đồng chính trị. Nhưng sự từ bỏ ấy không phải để phục tùng một ông vua hay một tầng lớp thống trị. Mỗi cá nhân trao quyền của mình cho toàn thể cộng đồng, và đổi lại, họ trở thành một phần của chủ quyền chung.

Từ đó, Rousseau đưa ra một tư tưởng mang tính cách mạng: chủ quyền hoàn toàn thuộc về nhân dân,không phải của nhà vua, không phải của quý tộc, lại càng không phải của bất kỳ đảng phái hay tầng lớp nào tự cho mình quyền cai trị nhân dân.

Theo Rousseau, luật pháp chỉ có giá trị khi phản ánh ý chí chung (volonté générale, tôi đã nói ở bài trước), tức là lợi ích chung của toàn xã hội chứ không phải lợi ích của một nhóm người. Chính phủ chỉ là cơ quan thi hành ý chí của nhân dân, chứ không phải chủ nhân của quyền lực.

Đối với Rousseau, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Tự do đích thực là được sống dưới những đạo luật mà chính mình, với tư cách một công dân, đã tham gia xây dựng và tự nguyện chấp nhận. Đó là nền tảng của khái niệm tự do công dân trong các nền dân chủ hiện đại.

Chính những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến Cách mạng Pháp, đến Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, và sau đó là hầu hết các nền dân chủ trên thế giới.

Đọc Rousseau ngày nay, hầu như ai cũng thừa nhận ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại.

Nhưng hãy thử làm một phép so sánh nhỏ và quay trở về đời sống của chúng ta hiện nay.

Nếu chủ quyền thực sự thuộc về nhân dân, thì nhân dân có quyền tự do lựa chọn người cầm quyền hay không? Nếu luật pháp phải phản ánh ý chí của nhân dân, thì nhân dân có quyền tranh luận, phản biện và chỉ trích chính quyền hay không?

Nếu không một cá nhân hay tổ chức nào được đứng trên chủ quyền của nhân dân, thì liệu có ai có quyền tự nhận mình là lực lượng duy nhất đại diện cho nhân dân hay không?

Đó đều là những câu hỏi mà Rousseau đã đặt ra từ hơn hai thế kỷ trước.

Và cũng chính vì những câu hỏi ấy, nếu đem tư tưởng của Rousseau đối chiếu với cách sử dụng khái niệm “phản động” ở một số nơi ngày nay, thì nghịch lý xuất hiện.

Ông phủ nhận quyền lực tuyệt đối, trao chủ quyền cho nhân dân, đòi hỏi quyền lực phải chịu sự kiểm soát của nhân dân, không chấp nhận bất kỳ quyền lực nào tự đặt mình cao hơn nhân dân.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa Rousseau là kẻ phản động nguy hiểm nhất mọi thời đại hay nói theo ngôn ngữ bây giờ ông là « Tổ sư phản động », sinh 1712 – tử 1778

Rousseau không chống lại nhân dân. Trái lại, ông là một trong những người đầu tiên trong lịch sử đặt nhân dân vào vị trí tối cao của quyền lực chính trị.

Và có lẽ chính đó mới là điều hài hước nhất của lịch sử:

Một trong những nhà triết học Khai sáng vĩ đại nhất của nhân loại, người đặt nền móng cho dân chủ hiện đại, nếu bị chính quyền ngày nay mang ra xét xử, chắc chắn sẽ bị quy kết là… một “kẻ phản động”


 

ICE từng âm thầm hợp tác với Iran trục xuất người Iran về nước

Ba’o Nguoi-Viet

August 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Giới chức di trú Mỹ âm thầm hợp tác với Iran để trục xuất người Iran về nước vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, theo hàng trăm email mới được công bố, CBS đưa tin hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tám.

Những email này được giới chức di trú Mỹ gửi cho nhau. Hội Đồng Quốc Gia Người Mỹ Gốc Iran (NIAC) lấy được những email này và công bố hôm Thứ Ba.

Đặc vụ di trú liên bang thi hành lệnh bắt giữ thành viên băng đảng ở Boston, Massachusetts hôm 9 Tháng Sáu. (Hình: ICE)

Theo những email này, hai bên hợp tác với nhau trục xuất hơn 100 người Iran bằng ba chuyến bay khác nhau vào Tháng Chín và Tháng Mười Hai, 2025 và Tháng Giêng, 2026.

Những email này cho thấy giới chức Iran cũng có tiếng nói trong việc trục xuất người Iran nào về nước, và có vẻ Cảnh Sát Di Trú Mỹ (ICE) làm theo một số điểm thay đổi vào phút chót trong danh sách trục xuất mà Iran yêu cầu.

“Theo Tòa Đại Sứ Iran yêu cầu, tôi đưa thêm vài trường hợp vào,” một giới chức ICE, không được nêu tên, viết trong email cuối Tháng Tám năm ngoái, một tháng trước chuyến bay trục xuất đầu tiên. Hơn một tuần sau, người nào đó cùng chức vụ lại điều chỉnh danh sách trục xuất sau khi cho hay họ vừa gặp “Giám đốc tại Tòa Đại Sứ Iran.”

“Iran vừa yêu cầu tôi sửa lại danh sách trước và đẩy nhanh thủ tục trục xuất,” giới chức này viết.

Hợp tác thực hiện những chuyến bay này vẫn là điều ưu tiên hàng đầu bất chấp giới chức ICE thừa nhận trong nội bộ rằng người Iran đang bỏ chạy khỏi đất nước giữa cuộc chiến 12 ngày của Mỹ và Israel với Iran hồi Tháng Sáu, 2025, theo những email này. Chuyến bay đầu tiên cất cánh chỉ vài tháng sau khi Mỹ và Israel đạt thỏa thuận ngưng bắn với Iran.

Sự hợp tác này đi ngược lại thông lệ hàng chục năm của Mỹ là sẵn sàng đón người bất đồng chính kiến, người lưu vong và nhiều người khác từ Iran kể từ khi Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Năm 1979 buộc rất nhiều người Iran bỏ nước ra đi.

Các tổ chức nhân quyền từng kịch liệt lên án trục xuất người Iran về quốc gia mà chính phủ có xu hướng bạo hành phụ nữ, nhóm tôn giáo thiểu số và người bất đồng chính kiến.

Tháng Chín, 2025, giới chức Iran thừa nhận có thể có tới 400 người Iran sẽ bị trục xuất theo thỏa thuận với chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Giới chức Iran cho hay hầu hết những người đó vượt biên bất hợp pháp từ Mexico vào Mỹ và một số người đang gặp vấn đề di trú.

Bộ Nội An (DHS), cơ quan giám sát ICE, chưa trả lời thư của CBS News yêu cầu nhận xét về thông tin này. (Th.Long) [kn]


 

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU – Truyen ngan HAY

Nguyen Quốc

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU

Khi giấc mơ đổi đời biến hôn nhân thành một canh bạc

Trong dân gian từng có câu:

“Bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.”

Một cách ví von cay nghiệt, thô ráp nhưng thường được dùng để nói về một người con gái xinh đẹp, hiền lành lại trao đời mình cho một người đàn ông không xứng đáng.

Ngày nay, câu nói ấy đôi khi xuất hiện trong những cuộc hôn nhân vượt biên giới: một cô gái trẻ chấp nhận lấy một người đàn ông từ Mỹ trở về, dù chưa hiểu rõ tính tình, quá khứ và hoàn cảnh của người ấy. Chỉ cần nghe hai chữ “Việt kiều”, thấy tấm hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc viễn cảnh được bảo lãnh sang Mỹ, nhiều người đã vội tưởng cánh cửa hạnh phúc đang mở ra.

Nhưng không phải con đường nào dẫn đến nước Mỹ cũng dẫn đến thiên đường. Và không phải người nào sống ở Mỹ cũng là người tử tế.

Tấm hộ chiếu không phải giấy chứng nhận nhân cách

Một trong những ngộ nhận nguy hiểm nhất là lấy nơi cư trú để đo phẩm giá con người.

Người sống tại Mỹ có thể thành đạt, lương thiện và có trách nhiệm. Nhưng cũng có thể là người thất nghiệp, nghiện ngập, cờ bạc, bạo hành, mang nợ hoặc đã trải qua nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ. Quốc tịch chỉ xác định quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia; nó không chứng minh người ấy biết yêu thương, chung thủy hay tôn trọng phụ nữ.

Tấm hộ chiếu có thể giúp người ta bước qua cửa khẩu, nhưng không thể bảo đảm người cầm nó có một trái tim tử tế.

Thẻ xanh có thể cho một người quyền cư trú, nhưng không thể trao cho họ phẩm hạnh.

Ngôi nhà ở Mỹ có thể rộng hơn căn nhà ở quê, nhưng nếu bên trong là sự kiểm soát, nhục mạ và bạo hành thì đó vẫn chỉ là một nhà tù được trang trí đẹp đẽ.

Bởi vậy, lấy chồng chỉ vì người ấy “có quốc tịch Mỹ” là đặt cả cuộc đời vào một canh bạc mà phần thua thường thuộc về người phụ nữ.

Khi hôn nhân bị biến thành con đường xuất cảnh

Không thể phủ nhận rằng có những phụ nữ mong muốn kết hôn với Việt kiều để tìm một tương lai ổn định hơn. Đằng sau lựa chọn ấy có thể là hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trách nhiệm với cha mẹ, mong muốn giúp đỡ gia đình hoặc khát vọng thoát khỏi một môi trường sống bế tắc.

Chúng ta có thể hiểu ước mơ ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là phải tô hồng nó.

Khi mục tiêu “đi Mỹ” trở nên lớn hơn mục tiêu tìm một người chồng tốt, hôn nhân rất dễ biến thành một cuộc trao đổi: một bên trao tuổi trẻ và tình cảm; bên kia trao lời hứa bảo lãnh cùng viễn cảnh định cư.

Trong cuộc đổi chác ấy, cả hai có thể bắt đầu bằng sự tính toán. Nhưng người phụ nữ thường là người chịu nhiều rủi ro hơn. Cô phải rời gia đình, bỏ lại bạn bè, bước vào một xã hội xa lạ và phụ thuộc vào người chồng về ngôn ngữ, tiền bạc, phương tiện đi lại cũng như thủ tục pháp lý.

Nếu gặp người tử tế, đó có thể là khởi đầu của một gia đình hạnh phúc. Nếu gặp kẻ lợi dụng, cô gần như bị đặt vào thế cô lập giữa một đất nước rộng lớn mà không biết phải cầu cứu ai.

Cái giá của một quyết định vội vàng khi ấy không chỉ là một cuộc ly hôn. Nó có thể là những năm tháng bị kiểm soát, đánh đập, xúc phạm, cưỡng ép, cô lập hoặc đe dọa bằng hồ sơ di trú.

Hào quang Việt kiều và những chiếc mặt nạ

Có người ở nước ngoài trở về quê với quần áo sang trọng, thuê xe đẹp, tổ chức những bữa tiệc lớn và kể về một cuộc sống giàu có. Nhưng vài tuần xuất hiện ở Việt Nam không đủ để chứng minh cuộc sống thật của họ ở Mỹ.

Chiếc xe có thể là xe thuê. Tiền tiêu trong chuyến về quê có thể là tiền vay. Ngôi nhà trong ảnh có thể không thuộc về họ. Công việc được giới thiệu là “kỹ sư”, “doanh nhân” hoặc “chủ hãng” đôi khi chỉ là câu chuyện được dựng lên để gây ấn tượng.

Đáng sợ hơn, có người cố tình tìm một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm và yếu tiếng Anh vì họ biết cô sẽ dễ phụ thuộc, khó phản kháng và ít hiểu quyền lợi của mình.

Đó không còn là tình yêu. Đó là việc sử dụng ưu thế quốc tịch và kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát.

Tình yêu chân thành không sợ sự kiểm chứng. Một người đàn ông nghiêm túc sẽ không ngăn người phụ nữ tìm hiểu về công việc, tình trạng hôn nhân, tài chính và quá khứ của mình. Anh ta cũng không thúc ép cưới gấp, không dùng lời hứa bảo lãnh để buộc cô phải phục tùng và không xem số tiền gửi về cho gia đình cô như giá mua quyền sở hữu cuộc đời cô.

Nhưng đừng biến người phụ nữ thành bị cáo

Khi một cuộc hôn nhân như thế đổ vỡ, xã hội thường rất nhanh miệng:

“Ham đi Mỹ thì chịu.”

“Tham giàu nên mới khổ.”

“Biết người ta lớn tuổi vẫn lấy.”

Những lời ấy dễ nói, nhưng đôi khi tàn nhẫn hơn chính hoàn cảnh mà người phụ nữ đang phải chịu đựng.

Đúng là mỗi người phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nhưng không phải mọi lựa chọn đều được thực hiện trong điều kiện bình đẳng. Có người thiếu thông tin. Có người bị lừa dối. Có người chịu áp lực từ gia đình. Có người lớn lên trong nghèo khó nên nhìn thấy một lối thoát mà không nhận ra chiếc bẫy nằm phía sau.

Một quyết định thiếu sáng suốt không trao cho bất kỳ người chồng nào quyền đánh đập, sỉ nhục, cưỡng ép hoặc giam cầm vợ mình.

Không ai đáng bị bạo hành chỉ vì từng mơ ước đổi đời.

Không ai mất quyền được bảo vệ chỉ vì đã lựa chọn sai một người.

Và một người phụ nữ từng đặt niềm tin nhầm chỗ không vì thế mà mất đi phẩm giá.

“Bông hoa lài” vẫn là bông hoa lài. Nơi nó từng bị đặt xuống không quyết định giá trị và hương thơm của nó.

Nỗi đau của những người mẹ

Trong nhiều gia đình, chính cha mẹ cũng góp phần thúc đẩy con gái lấy chồng Việt kiều. Họ nghĩ rằng con sang Mỹ sẽ có cuộc sống sung túc rồi gửi tiền về giúp gia đình. Đám cưới đôi khi được xem như ngày cả nhà đổi vận.

Nhưng cha mẹ cần tự hỏi: mình đang gả con cho một con người hay gửi con theo một tấm vé xuất cảnh?

Một người đàn ông có nhà, có xe và có quốc tịch chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho con gái mình. Điều cần tìm hiểu không chỉ là anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là anh ta đối xử với cha mẹ, người vợ cũ, con riêng, đồng nghiệp và những người yếu thế như thế nào.

Đừng vì mong con đổi đời mà đẩy con vào một cuộc đời không lối thoát.

Tiền con gửi về không thể bù được những đêm con khóc một mình nơi đất khách. Căn nhà mới xây ở quê không thể che lấp những vết thương trên thân thể và tâm hồn của con. Niềm tự hào “có con lấy chồng Mỹ” cũng không đáng giá bằng sự bình an của chính người con gái ấy.

Muốn lấy chồng xa, càng phải tỉnh táo

Tình yêu xuyên biên giới không có gì đáng lên án. Rất nhiều gia đình Việt–Mỹ được xây dựng bằng tình yêu chân thành, sự hy sinh và lòng tôn trọng. Điều cần phê phán không phải là việc lấy chồng Việt kiều, mà là tâm lý lấy chồng bằng mọi giá chỉ để được đi Mỹ.

Trước hôn nhân, người phụ nữ cần có quyền và trách nhiệm tìm hiểu:

* Tình trạng hôn nhân thực tế của người ấy.

* Công việc, thu nhập, nơi ở và trách nhiệm tài chính.

* Tiền án, tiền sự hoặc lịch sử bạo hành nếu có.

* Quan hệ với vợ cũ và con riêng.

* Thái độ đối với phụ nữ, tiền bạc và quyền tự do cá nhân.

* Kế hoạch học tập, làm việc và hội nhập của người vợ sau khi sang Mỹ.

* Khả năng tự lập nếu cuộc hôn nhân không diễn ra như mong đợi.

Quan trọng nhất, đừng giao toàn bộ giấy tờ, tiền bạc và tương lai cho người phối ngẫu. Hãy học tiếng Anh, tìm hiểu pháp luật, duy trì liên lạc với gia đình và xây dựng khả năng tự đứng trên đôi chân của mình.

Một tình yêu bắt buộc người phụ nữ phải mù quáng không phải là tình yêu lành mạnh.

Một người đàn ông phản đối việc người vợ tìm hiểu quyền lợi của mình thường không tìm kiếm một người bạn đời; anh ta đang tìm kiếm một người lệ thuộc.

Hạnh phúc không mang quốc tịch

Người phụ nữ Việt Nam không cần một người chồng giàu nhất, sang trọng nhất hay sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực nhất. Điều cô cần là một người biết tôn trọng, biết giữ lời, biết chia sẻ trách nhiệm và không dùng tiền bạc để định giá vợ mình.

Thà sống giản dị bên một người tử tế còn hơn sống trong căn nhà lớn với một kẻ xem vợ như tài sản.

Thà tự mình bước đi chậm rãi còn hơn ngồi trên chiếc xe hào nhoáng chạy thẳng vào bất hạnh.

Thà ở lại quê nhà trong phẩm giá còn hơn sang Mỹ bằng một cuộc hôn nhân khiến mình đánh mất tự do và lòng tự trọng.

Nước Mỹ không có lỗi. Ước mơ đi Mỹ cũng không có lỗi. Nhưng biến hôn nhân thành phương tiện xuất cảnh là một lựa chọn chứa đầy nguy hiểm. Bởi khi người ta bước vào hôn nhân vì một đất nước thay vì một con người, đến lúc giấc mơ địa lý phai màu, họ có thể phải đối diện với sự thật rằng mình chưa từng biết người nằm bên cạnh là ai.

Lời kết: Đừng lấy một tấm hộ chiếu

Xin đừng hỏi người đàn ông ấy có thể đưa con gái mình đến quốc gia nào. Hãy hỏi anh ta có thể đưa cô ấy đến một cuộc đời như thế nào.

Xin đừng nhìn chiếc xe anh ta lái khi về Việt Nam. Hãy nhìn cách anh ta đối xử với người phục vụ, với cha mẹ, với vợ cũ và với những người không thể đem lại lợi ích cho anh ta.

Xin đừng nghe anh ta hứa sẽ cho cô gái những gì. Hãy quan sát những điều anh ta sẵn sàng hy sinh và chịu trách nhiệm.

Và xin nhắn với những cô gái đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân:

Đừng lấy nước Mỹ.

Đừng lấy thẻ xanh.

Đừng lấy những bức ảnh hào nhoáng.

Đừng lấy lời hứa đổi đời.

Hãy lấy một con người có nhân cách.

Bởi hôn nhân không phải chuyến bay một chiều đi tìm miền đất hứa. Đó là hành trình dài giữa hai con người bình đẳng. Nếu không có tình yêu, sự hiểu biết và lòng tôn trọng, dù điểm đến là Hoa Kỳ, cuối con đường vẫn có thể chỉ là cô đơn.

Đừng để một bông hoa lài phải sống cả đời trong nơi không xứng đáng với hương thơm của nó.

Nhưng nếu chẳng may đã đặt nhầm niềm tin, xin cũng đừng cúi đầu chịu đựng. Một bông hoa bị vùi xuống bùn vẫn có quyền vươn lên tìm ánh sáng.

Phẩm giá của người phụ nữ không nằm trong tay người đàn ông đã cưới cô. Phẩm giá ấy thuộc về chính cô và không một cuộc hôn nhân, một tấm hộ chiếu hay một giấc mơ dang dở nào có quyền tước đoạt.

Nói cho cùng, thường thì những thanh niên thành công và ngon lành ở Mỹ thì không rãnh để về Việt Nam cưới vợ đâu… hầu hết là dạng cà lơ phất phơ ở Mỹ.

Còn những đàn ông lớn tuổi thì đa số là bị vợ bỏ nên mới về Việt Nam lấy vợ đưa qua Mỹ rồi bị vợ bỏ tiếp…

Quốc Nguyên

(Người về từ lòng đại dương) 


 

ĐẠI HỒNG PHÚC CHO NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 16,13-20) Chúa nhật 21 TN năm A)

 “Khi Chúa Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.”  

 Như vậy, vào thời điểm đó, chẳng có ai biết Chúa Giê-su là ai.

 Thế rồi, Chúa Giê-su quay sang hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”  

 Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 

Khi nghe thánh Phê-rô đáp như vậy, Chúa Giê-su tỏ ra vui mừng hân hoan vì Phê-rô đã nhận biết căn tính của Ngài. Ngài nói: 

 “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 13-17). 

Diễm phúc được nhận biết Chúa  

Nếu hôm nay, Chúa Giê-su đặt lại câu hỏi đó với mỗi người chúng ta: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” thì chúng ta có thể trả lời trúng phóc: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

 Bấy giờ, chắc chắn Chúa Giê-su cũng xác nhận chúng ta là người có phúc, vì không phải do khà năng tự nhiên, nhưng là nhờ Thiên Chúa Cha mặc khải cho, chúng ta mới biết mầu nhiệm cao trọng nầy.

 Thế thì chúng ta cũng là người được diễm phúc như thánh Phê-rô năm xưa.

Tại sao vậy?

 Trong số 100 triệu người Việt Nam, chỉ có gần tám triệu người Công giáo.  Chúng ta may mắn được liệt vào cộng đồng tuy ít ỏi nhưng đầy diễm phúc nầy. 

Điều mà các vị ngôn sứ tầm cỡ như Ê-li-a, I-sai-a, Mô-sê… ngày xưa và ngay cả các nhà hiền triết, các bậc khôn ngoan thông thái… chưa từng được nghe, chưa được thấy, chưa từng biết… thì Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta là những người bé mọn. Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận đây là đại phúc. Ngài nói: 

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13, 16-17).

 Tiếc thay, mặc dù đa số chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa từ tấm bé, nhưng dường như chúng ta chưa hề cảm nhận được niềm vui được làm con Chúa.

Đây là hạnh phúc vô cùng cao quý, đến mức Chúa Giê-su cảm thấy hoan lạc dâng cao trong tâm hồn, nên Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha thay cho chúng ta: “Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11, 25).

Đúng thế, chúng ta diễm phúc vì trong khi nhiều nhà khoa học, nhiều người thông thái, các bậc khôn ngoan ở đời… còn chưa nhận biết gì về Thiên Chúa; thì chúng ta được mặc khải cho biết:

 Thiên Chúa là Đấng tạo dựng Trời Đất muôn vật muôn loài, Ngài là Vua Hoàn Vũ;

– Ngài cũng là Người Cha yêu quý đã tác tạo nên mọi người trên Trái Đất; 

– Ngài nâng chúng ta lên làm con chí ái của Ngài, thế là chúng ta trở thành những hoàng tử, những công chúa yêu dấu của Vua Trời. 

Và Chúa Giê-su cũng dạy chúng ta thay vì thưa với Chúa Cha là: Muôn tâu Thánh thượng hoặc: Tâu Phụ vương như thói đời, thì hãy thân thưa với Ngài cách thân mật là: Abba!, Bố yêu ơi!

Đây là hồng ân đặc biệt, là diễm phúc tuyệt vời mang lại hạnh phúc cho chúng ta đời nầy và cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

 Lạy Thiên Chúa toàn năng,

Chúng con hết lòng chúc tụng tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con diễm phúc nhận biết, yêu mến và tôn thờ Chúa từ lúc mới có trí khôn. Xin cho chúng con cố gắng giới thiệu Chúa cho nhiều người chưa nhận biết Chúa, để họ cũng được phúc làm con Cha như chúng con. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

 *****

Tin mừng Mát-thêu, 16, 13-20

13 Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.      


 

Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa nhé. Nếu bạn bước theo chân các Thánh, thế nào bạn cũng sẽ gặp Chúa Kitô và Đức Maria Mẹ Ngài. Hôm nay ngày 20/08, Giáo Hội mừng kính thánh Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy, và mời bạn hãy noi gương ngài để đến gần với Chúa và Mẹ hơn. Cầu  nguyện cho nhau và thể giới nhé

Cha Vương

Thứ 5: 20/08/2026   (t4-25)

Bê-na-đô sinh năm 1090 tại Fontaines-les-Dijon, Burgundy, nước Pháp trong một gia đình quý tộc. Khi 20 tuổi, Bê-na-đô từ giã quê nhà ở Burgundy để gia nhập cộng đồng đan sĩ ở Citeaux. Năm người anh em, hai người chú của ngài và khoảng 30 người bạn theo ngài vào đan viện. Trong vòng bốn năm, một cộng đoàn đang tàn lụi đã phục hồi sinh lực đủ để khai sinh một đan viện mới trong thung lũng Wormwoods gần đó, với Bê-na-đô làm đan viện trưởng. Nhiệt huyết của người thanh niên trẻ tuổi này là một đòi hỏi thật khắt khe, nhưng đối với chính ngài hơn là người khác. Một cơn bệnh nặng đã khiến ngài kiên nhẫn hơn và thông cảm hơn. Không bao lâu, thung lũng này được gọi là Clairvaux, thung lũng ánh sáng. Ngài có tài phân xử và cố vấn. Do đó, càng ngày ngài càng phải xa đan viện để giải quyết các tranh chấp đã có từ lâu trong Giáo Hội. Thánh Bê-na-đô là người đã can thiệp vào một vụ li giáo đang bùng nổ mạnh và đã đứng về phía đức giáo hoàng ở Rôma để chống với phe ngụy giáo hoàng.

    Theo truyền tụng, những lời than thở “Ôi khoan thay, nhân thay, diệu thay, Trinh Nữ Maria!” đã được thánh Bê-na-đô ứng khẩu thêm vào cuối câu kinh Chào Kính Nữ Vương. Thánh nhân đã có công phổ biến thánh thi ấy trong các cộng đoàn tu trì và các đền thánh. Năm 1220, dòng Citeaux đã quyết định buộc mọi phần tử trong dòng phải đọc thánh thi ấy hàng ngày. Kinh Hãy Nhớ, một bản kinh Thánh Mẫu rất được yêu chuộng cũng được cho là của thánh Bê-na-đô ở Claiveaux, mặc dù xác quyết này thỉnh thoảng cũng bị phản đối.

  Thánh Nhân qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại đan viện Clairvaux. Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux được Đức Giáo Hoàng Alexander III tôn phong hiển thánh năm 1170. Đức Giáo Hoàng Pius VIII đã tuyên xưng Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux là Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830. 

(Tóm tắt từ Nguồn: Người Tín Hữu)

Sau đây là những lời nói của Thánh Bê-na-đô:

(1) Khi Thiên Chúa yêu, thì Người không muốn điều gì khác hơn là được yêu: Thật vậy, Thiên Chúa yêu, thì Người không nhằm điều gì khác ngoài được yêu lại, vì Người biết ai yêu mến Người thì sẽ được hạnh phúc nhờ chính tình yêu đó.

(2) “Đấng chiếm đoạt những con tim” là tước hiệu mà thánh Bê-na-đô đã yêu tặng Mẹ.

(3) Ơn chiêm niệm chỉ được ban cho khát vọng thao thức và nài nẵng. 

(4) Cầu nguyện là thứ rượu làm vui thỏa tâm hồn con người.

(5) Tôi biết các binh lính phải khổ sở rất nhiều và phải chịu đựng trong âm thầm. Giả như mỗi sáng khi thức giấc, họ chịu khó thân thưa với Thiên Chúa lời than thở đơn sơ này: “Lạy Thiên Chúa của con, con ước ao làm và chịu đựng mọi sự trong ngày hôm nay vì yêu mến Chúa.” Họ sẽ tích lũy được nhiều vinh quang muôn đời.

(6) Khi hiểm nguy, khi do dự, khi khó khăn, hãy nghĩ đến Ðức Maria, hãy kêu cầu Ðức Maria. Liên lỉ kêu cầu danh ngài, hễ có đau khổ thì hãy chấp nhận trong lòng vì danh ngài. Có như thế, bạn mới chắc chắn được sự trợ giúp của lời ngài cầu bầu, đừng sao nhãng theo bước chân ngài. Với sự dẫn dắt của ngài, bạn sẽ không bao giờ lạc lối; khi cầu khẩn ngài, bạn sẽ không bao giờ nhát đảm; một khi có ngài trong tâm trí, bạn sẽ không bị lừa dối; khi được ngài nắm tay, bạn sẽ không thể vấp ngã; với sự phù trì của ngài, bạn không còn gì để sợ hãi; nếu theo ngài, bạn sẽ không mệt mỏi; nếu được ngài ưu đãi, bạn sẽ đạt được mục đích.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 5 đánh động mình nhất.

Thánh Bê-na-đô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trên Con Đường Về Quê (Nguyễn Khắc Xuyên) – Hoàng Oanh

GIÊ-SU – THẦN TƯỢNG ĐỜI TÔI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Tại Việt Nam, thời gian gần đây, trong ngôn ngữ của giới trẻ, chúng ta thường thấy cụm từ nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh.  Đó là “đu Idol.”  “Đu” là tiếng Việt, “Idol” là tiếng Anh.  “Đu” theo nghĩa này có nghĩa là chạy theo, hâm mộ đến mức cuồng tín mê man.  “Idol” là thần tượng.  Chủ thể của “Đu Idol” hầu hết là thanh niên nam nữ.  “Idol” của họ là những người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá, diễn viên điện ảnh.  Trong một số trường hợp, “Idol” lại là những “giang hồ mạng,” là những kẻ vô học và những người có phát ngôn ngông cuồng, thiếu chuẩn mực đạo đức.  Vậy mà vẫn có những người coi là “Idol – thần tượng” của mình.  Việc chạy theo thần tượng là điều không có gì lạ.  Việc hâm mộ và tôn vinh những tài năng là điều chẳng có gì đáng trách.  Tuy vậy, về phương diện ngữ học cũng như về khía cạnh đức tin, chúng ta cũng cần tìm hiểu để sử dụng ngôn từ cho chính xác.

 Trong truyền thống Cựu ước, “Idol” được dịch là thần tượng, ngẫu tượng, ngẫu thần, tà thần.  Từ điển Công giáo Việt – Anh giải thích: “Theo nghĩa rộng, ngẫu thần là bất cứ điều gì được gán cho địa vị tối cao vốn chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Theo nghĩa hẹp, ngẫu thần là một đồ vật, thường mang dáng con thú hoặc hình ảnh biểu tượng chỉ thần, và được thờ thay cho Thiên Chúa đích thật.”  Như thế, thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng.  Các ngôn sứ của Cựu ước kịch liệt lên án các loại hình thờ ngẫu tượng, và các ông gọi đó là phản bội, là bất trung, giống như người vợ hay chồng ngoại tình.  Chúa phán trong sách Lêvi: “Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ.  Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,4).  Thánh Phao-lô cũng lên án thờ ngẫu tượng, khi ngài viết: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa” (1 Cr 10,7-8).  Tác giả Thánh vịnh còn chế giễu: “Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành.  Có mắt có miệng, không nhìn không nói, có mũi có tai, không ngửi không nghe.  Có hai tay, không sờ không mó, có hai chân, không bước không đi, từ cổ họng, không thốt ra một tiếng.  Tác giả còn chúc dữ: “Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-8).

 Yêu mến người tài, yêu mến cái đẹp và tôn vinh những tài năng, đó là điều hoàn toàn chính đáng.  Tuy vậy, suy tôn đến mức để cho những nhân vật và sự vật ấy thay thế vị trí của Thiên Chúa, thì đó là chọn nhầm lý tưởng, gọi là tội thờ ngẫu tượng.

 Một ngày nọ, Chúa Giê-su đặt câu hỏi với các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?”  Sau khi nghe các ông trả lời theo dư luận quần chúng, Chúa Giê-su muốn các ông phải xác định rõ ràng hơn: “Còn các anh, các anh bảo Thầy là ai?”  Câu hỏi này cũng tương tự như câu hỏi: các anh chọn ai là “Idol” của mình?  Tông đồ Phê-rô đã trả lời: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Câu trả lời của Phê-rô là lời tuyên xưng Đức tin.  Lời tuyên xưng này có ơn soi sáng của Chúa, như Chúa Giê-su đã nói khi Người khen ngợi ông Phê-rô: “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thày, Đấng ngự trên trời.”  Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần (1 Cr 12,3).  Chúa Giê-su còn khẳng định điều này trong lời cầu nguyện với Chúa Cha: “Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25).  Không có ơn soi sáng của Chúa, chúng ta không thể nhận biết và tin vào Người.

 Nếu chúng ta có dịp đến hành hương tại Đền thờ Thánh Phê-rô ở Rôma, khi viếng mộ Thánh Phê-rô, ở khu bàn thờ chính của Đền thờ, chúng ta sẽ nhìn thấy một tấm biển bằng đồng, khắc chữ La-tinh hai câu nói của Thánh Phê-rô.  Câu thứ nhất: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16); câu thứ hai: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai?” (Ga, 6,68).  Câu thứ nhất là lời tuyên xưng Đức tin; câu thứ hai là lời hứa trung thành.  Hai câu nói này đã làm nên dung mạo của vị Tông đồ trưởng.  Ông đã được Đức Giê-su đặt làm nền tảng Giáo Hội, đồng thời trao quyền cai quản và điều hành cộng đoàn tín hữu tin vào Chúa Giê-su trên toàn thế giới.  Những ai đến viếng mộ Thánh Phê-rô, được mời gọi tuyên xưng Đức tin và tuyên hứa trung thành với Chúa.  Xưa cũng như nay, ơn gọi luôn là một huyền nhiệm.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ I-sai-a ghi lại: Thiên Chúa đã chọn ông En-gia-kim làm vua và ban cho vương quốc hùng mạnh an bình.  Chính Ngài củng cố quyền lực của vị vua này.  Ngài trao chìa khoá nhà Đavít cho ông, và làm cho vương quyền của ông vững bền.

 Thần tượng và lý tưởng của người Ki-tô hữu là chính Đức Giê-su.  Ơn gọi Ki-tô hữu là nên giống Đức Giê-su trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Các tông đồ đã chọn Đức Giê-su làm lý tưởng.  Họ đã chết để làm chứng rằng sự lựa chọn của họ là chính đáng và cao cả.  Để được nên giống Chúa Giê-su là “Idol” của mình, chúng ta phải năng gặp Người.  Cuộc gặp gỡ thân tình nhất, là gặp gỡ qua lời cầu nguyện, vì khi cầu nguyện là ta tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với ta, thân thiết gần gũi như một người Bạn.  Cầu nguyện để càng ngày càng nhận biết Đức Giê-su là Ai đối với bản thân mình.

 “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”  Chúa Giê-su đã đổi tên cho ông Si-mon và cho ông một tên mới là Phê-rô.  Việc đổi tên đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời.  Phê-rô là Tảng Đá.  Giáo Hội của Đức Giê-su đặt nền trên chính Tảng Đá ấy.  Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội luôn đứng vững đã hai ngàn năm, và sẽ còn vững vàng cho tới khi Chúa Giê-su đến trong vinh quang.

 Khi lĩnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa Giê-su là IDOL, là LÝ TƯỞNG cho đời mình.  Xin cho chúng ta luôn trung thành với lựa chọn ấy.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên


 

ĐÚNG HẾT, VẪN CHẾT- Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

“Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.

“Ca mổ thành công, nhưng bệnh nhân đã chết!”. Câu nói phi lý ấy phơi bày một sự thật lạnh người: mọi thao tác có thể đúng mà mục đích vẫn thất bại.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy đời sống đức tin của chúng ta cũng thế: có thể giữ đúng từng điều luật, chu toàn mọi thực hành, nhưng nếu trái tim không còn yêu, chúng ta ‘đúng hết – vẫn chết’.

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu về một giới răn; Ngài trả lời bằng hai: yêu Chúa và yêu người. Ngài đặt chúng ở nơi toàn bộ Lề Luật phải bám vào. Bản Hy Lạp viết krématai – “tuỳ thuộc”; không chỉ tuỳ thuộc mà còn có nghĩa “treo vào, móc vào”. Toàn bộ Luật Môsê và các sách ngôn sứ chỉ sống khi được treo vào tình yêu. Tách khỏi tình yêu, điều đúng vẫn còn đó, nhưng sự sống đã rời đi.

Chúa Giêsu biết người ta dễ nói yêu Thiên Chúa vô hình hơn yêu người đang làm mình khó chịu. Vì thế, khi nói “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy”, Ngài không thêm một phần phụ, nhưng chỉ ra nơi tình yêu dành cho Thiên Chúa được kiểm chứng. Người ta có thể đúng khi nói về Chúa mà vẫn sai trong cách cư xử với người; có thể bảo vệ chân lý mà làm tổn thương phẩm giá của họ; thậm chí, dùng Lề Luật để khỏi phải yêu. Khi ấy, giữ luật trở thành một lối trốn khỏi tình yêu. “Ngay cả chữ viết của Tin Mừng cũng sẽ giết chết, nếu bên trong không có ân sủng chữa lành của đức tin!” – Tôma Aquinô.

Thị kiến Êzêkiel gọi đúng tên bi kịch ấy. Xương đã nối với xương, gân thịt đã mọc, da đã phủ bên ngoài; không gì sai chỗ, “nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng”. Sự chết mang dáng vẻ một trật tự hoàn chỉnh, chỉ thiếu một điều: thở! Đời sống đạo cũng thế: mọi sự có thể đâu vào đó, mà bên trong vẫn lạnh. Chỉ khi được thần khí làm cho sống, chúng ta mới có thể cất lên từ chính kinh nghiệm của mình: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có những ngày chúng ta không sai nguyên tắc nào, nhưng người bên cạnh lại ngạt thở. Tin Mừng không dừng ở câu hỏi “Tôi có đúng không?”; nó còn hỏi: “Người trước mặt tôi có được sống hơn không?”. Nếu sau khi gặp chúng ta, họ nhỏ lại, tuyệt vọng hơn hoặc xa Chúa hơn, cái đúng ấy có lẽ cần được treo lại vào tình yêu.

Anh Chị em,

“Đức Kitô dạy và trao phó cho các môn đệ một tình yêu lấy chính tình yêu của Ngài làm khuôn mẫu!” – Gioan Phaolô II. Ngài không chỉ treo toàn bộ Lề Luật vào hai giới răn ấy; Ngài treo chính đời mình vào đó. Trên thập giá, hai giới răn không còn đứng cạnh nhau, nhưng nên một trong thân xác hiến tế của Ngài. Được Chúa Cha làm cho sống lại, Ngài trao Thần Khí cho những trái tim khô cứng đập lại nhịp yêu thương. Trong Ngài, chúng ta không được mời gọi bớt đúng, nhưng phải đúng theo cách của Thiên Chúa: đúng để cứu sống; bằng không, vẫn có thể ‘đúng hết – vẫn chết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; thật mà thiếu thương; sốt sắng với Chúa mà làm anh chị em con ngạt thở!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://bom.so/HqSuyO

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 22,34-40

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.” 


 

75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

Xuyên Sơn

  75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

– Vũ Thế Khôi

75 năm trước, vào 14h ngày 23 – 08 – 1945, một nhóm người có vũ trang đi xe ô-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, “mời” cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế.

Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa.

Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại.

May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 – 12 – 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 – 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…

“Vậy tại sao Hồ Chủ tịch gọi cụ Phạm Quỳnh là “học giả” và viết thư mời ra cộng tác với Cách mạng?

Nguyễn Cảnh Thuỵ: Lúc chuẩn bị được “mời đi”, cụ còn có vẻ phấn khởi, dặn các con lấy hết vải đỏ ra may cờ cho Việt Minh. Khi bị gọi đi, các con nhắc cụ chưa uống thuốc, cụ bảo chốc về uống.

Cụ có ngờ đâu họ tóm cụ đi… thủ tiêu(!)

________________

Tôi đi cải táng thầy tôi

– Phạm Tuân*

…Năm 1948, anh Bích tôi – (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm.

Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh.

Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…

Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956… bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi!

Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi.

Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện ( tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền,Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối.

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên,

địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số.

Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng.

Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người.

Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua.

Cụ hỏi toán dò tìm:

“Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”.

Thì ra có hai mương…

Cụ già nói tiếp:

“Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng.

Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần.

Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương,

thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng.

Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…

Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé.

Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối.

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…

Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm.

Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ.

Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu.

Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu.

Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…

Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy…

Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước.

Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn.

Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt.

Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và

Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn…

Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…

Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay

(tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).

* Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, định cư tại Mỹ.

Nguồn fb Nguyễn Xuân Diện.

https://www.facebook.com/photo?fbid=2369914379978186… 


 

Nữ thực tập sinh gốc Việt, cư dân Texas, tố cáo bị hiếp dâm ở Phú Thọ

Ba’o Nguoi-Viet

August 19, 2026

PHÚ THỌ, Việt Nam (NV) – Hôm 17 Tháng Tám, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ đã khởi tố bị can Nguyễn Minh Hiếu, 23 tuổi, ở phường Từ Liêm, Hà Nội, về tội “hiếp dâm” theo đơn tố giác của cô NTQT., 24 tuổi, quốc tịch Mỹ, xảy ra tại một khu nghỉ dưỡng ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Cơ quan điều tra cấm bị can Hiếu đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh để phục vụ quá trình tố tụng.

Dãy phòng nhà nghỉ SK, trong đó có phòng SK125, nơi cô QT tố giác bị hiếp dâm. (Hình: Phụ Nữ Việt Nam)

Theo báo Phụ Nữ Việt Nam, cô QT tốt nghiệp Đại Học Texas A&M vào Tháng Năm, 2025, và dự trù sẽ tốt nghiệp thạc sĩ vào Tháng Mười Hai tới tại Đại Học St. Thomas, thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Theo lời kể của cô T., cô nhập cảnh Việt Nam hôm 8 Tháng Năm vừa qua để tới Hà Nội tham gia một chương trình thực tập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại LPBank.

Thông qua bạn bè, cô T. quen một nhóm bạn trẻ tại Hà Nội và được họ mời tham gia chuyến nghỉ dưỡng tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Trước chuyến đi, cô được thông báo nhóm có sáu người và không nghe nói có bị can Hiếu tham gia. Chỉ đến khi tập trung xuất phát, cô T. mới biết anh ta cũng có tham gia với đoàn.

Tối 4 Tháng Bảy, tại khu nghỉ dưỡng, cô T. cùng nhóm bạn ăn tối, hát karaoke và được mời uống rượu khá nhiều. Sau đó, cô trở về căn hộ SK125 tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times nghỉ ngơi.

Cũng theo cô T., rạng sáng 5 Tháng Bảy, tại phòng ngủ trên tầng một căn hộ SK125, bị can Nguyễn Minh Hiếu đã dùng sức khống chế cưỡng dâm cô, mặc dù nhiều lần bị cô phản kháng, yêu cầu dừng lại nhưng anh ta không buông tha.

Khi trở về Hà Nội, sức khỏe và tâm lý cô T. bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường như đau rát vùng kín, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn, không thể ăn uống bình thường. Thậm chí, có những lúc cô T. không kiểm soát được cảm xúc và cảm thấy vô cùng cô độc. Tình trạng tâm lý, theo nạn nhân là “nghiêm trọng đến mức phải vào bệnh viện điều trị nội trú.”

Những tổn thương tâm lý khiến cô T. chưa thể trình báo với nhà chức trách ngay sau sự việc.

Sau khi được tư vấn pháp lý và hiểu rõ quyền của mình theo luật pháp Việt Nam, nạn nhân gọi cho cha mình bay từ Mỹ về Việt Nam để làm rõ trắng đen, mặc dù gia đình bị can Hiếu lên tiếng sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để hòa giải.

Hôm 20 Tháng Bảy, cô T. đã đến Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Hà Nội để thông báo sự việc và để được sự hỗ trợ lãnh sự dành cho công dân Mỹ.

Thông báo khởi tố vụ án của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ. (Hình: FB Lê Quốc Vinh)

Sang ngày 21 Tháng Bảy, cô T. đến trình báo với cơ quan Công An Tỉnh Phú Thọ, cùng luật sư cung cấp lời khai, tài liệu và thông tin có liên quan đến sự việc.

“Điều khiến tôi và gia đình càng bất an là trong thời gian tôi nằm viện, người bị tôi tố giác và gia đình họ đã biết chính xác nơi tôi điều trị và tìm đến bệnh viện. Việc họ xuất hiện tại nơi điều trị khiến tôi vô cùng hoảng sợ, khiến tình trạng tâm lý trở nên nghiêm trọng hơn. Sau đó, tôi phải rời khỏi nơi đang điều trị để tìm một chỗ ở mà mình cảm thấy an toàn hơn,” cô T. trình bày trong đơn.

Bộ Công An Việt Nam hiện đang thu thập tài liệu, chứng cứ và phối hợp với Viện Kiểm Sát Tỉnh Phú Thọ để củng cố hồ sơ xử lý theo quy định. Sự việc này mang yếu tố “ngoại giao đặc biệt” vì nạn nhân là công dân Hoa Kỳ.

Được biết, gia đình nạn nhân cũng đã thông báo tới các văn phòng Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ như John Cornyn và Ted Cruz của tiểu bang Texas.

“Giờ đây, tôi không còn đấu tranh chỉ vì bản thân mình nữa. Tôi đấu tranh vì mọi nạn nhân từng bị buộc phải im lặng, bị làm nhục hoặc rơi vào thế yếu thế, bởi lẽ hệ thống [pháp luật Việt Nam] thường xuyên bỏ mặc những người thiếu tiền bạc, quyền lực hay các mối quan hệ.

Những gì tôi đã trải qua thật kinh khủng, nhưng tôi tin rằng Chúa đặt tôi vào hoàn cảnh này đều có lý do. Kinh Thánh dạy chúng ta phải lên tiếng bênh vực những người không thể tự lên tiếng và bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế. Tôi tin Chúa đã ban cho tôi sức mạnh và tiếng nói để tiếp tục hành trình này, không chỉ vì bản thân, mà còn vì những người không có tiếng nói, quyền lực hay tiền bạc để đấu tranh cho công lý tại Việt Nam…,” cô QT bày tỏ với truyền thông. (Tr.N) [kn]


 

Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?- Cha Vương

 Chúc bình an đến bạn và gia đình. Chúa đang tìm bạn đó, bạn có bật điện thoại lên không vậy?😀 Nhớ cầu nguyện cho nhau và những người đang đau khổ và thế giới được Hòa Bình nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/08/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?

– Vì Thiên Chúa đã đặt trong lòng ta ước mong tìm Người và gặp được Người. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Thiên Chúa, và lòng chúng con không nghỉ yên cho tới khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa.” Sự ước mong tìm Thiên Chúa đó ta gọi là tôn giáo. (Youcat, số 3)

SUY NIỆM: Con người đi tìm Thiên Chúa là chuyện tự nhiên. Mọi khát vọng sự thật và hạnh phúc rốt cuộc chỉ là đi tìm đến Đấng chứa đựng nó một cách tuyệt đối, đến thỏa mãn nó một cách tuyệt đối, và Đấng có trách nhiệm về nó một cách tuyệt đối. Một người chỉ hoàn toàn là chính mình khi họ đã tìm được Thiên Chúa. “Ai tìm sự thật là tìm Thiên Chúa, dù họ có ý thức hay không” Thánh Edith Stein. 

❦ Nói đến “tôn giáo” ta thường hiểu rằng đó là chuyện quan hệ với thần linh. Một người có tôn giáo nhận biết rằng trong sức mạnh đã tạo dựng họ và tạo dựng thế giới có một cái gì là thần linh, một sức mạnh mà họ phải lệ thuộc vào và họ phải hướng tới. Trong lối sống của họ, họ sẽ tìm cách làm đẹp lòng thần linh và tỏ lòng tôn kính thần linh.

❦ Nguồn vui của Kitô hữu là biết chắc rằng họ được Thiên  Chúa yêu thương, yêu thương thân mật bởi Đấng Tạo hóa… yêu thương bằng một tình yêu đam mê và trung tín, một tình yêu lớn hơn là những bất trung và tội lỗi của ta, một tình yêu luôn tha thứ. (Đức Bênêđictô XVI) (Youcat, số 3 t.t.)

   Trong cuộc đời theo lẽ tự nhiên, bạn tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, người tri kỷ, tình bạn, tình cảm, viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sáng tạo, vui chơi, hài hước và hoan lạc. Tất cả những sự tìm kiếm tự nhiên đều hướng về Chúa trừ khi bạn biến nó thành những gì không tự nhiên. Vấn đề cần phải đưa ra phân định là khi nào bạn biến những gì tự nhiên thành những gì không tự nhiên. Trong thế giới “vàng thau lẫn lộn” này, bạn dễ bị nhầm lắm. Khi bạn tìm kiếm Chúa trong mọi lãnh vực thì bạn sẽ tìm được Sự Thật thôi!

LẮNG NGHE: Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. (Mt 6:33)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. (Tv 63:2)

THỰC HÀNH: Bỏ ra ít phút để tìm Chúa trong hơi thở, trong sự nghỉ ngơi vui chơi với người thân yêu.

From: Do Dzung

*****

Tìm Về Bên Chúa (Sáng tác: Jerome) – Đình Quynh