PHỤC SINH TRONG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ”.

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” – Thư Hipri.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” lại ngủ trong một con thuyền giữa bão tố. Chính qua đó, Matthêu kín đáo kể câu chuyện ‘phục sinh trong thuyền’.

Các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu giữa cơn bão. Nhưng Matthêu không viết đơn giản: “Ngài thức dậy”. Ông dùng động từ Hy Lạp egertheis – “trỗi dậy”, một động từ sẽ ngân vang ở cuối Tin Mừng. Matthêu cũng không giữ chi tiết “chiều đến” của Marcô, vì điều ông muốn nhấn mạnh không phải là thời điểm, nhưng là chính con người Chúa Giêsu. Ông còn gọi cơn bão là seismos, “cơn địa chấn”, một từ sẽ trở lại dưới chân thập giá và ngôi mộ trống vào một buổi sớm khi trời còn tờ mờ. Như vậy, ngay giữa cảnh biển động, Matthêu đã gieo một âm vang Phục Sinh.

Con thuyền từ rất sớm đã trở thành hình ảnh Hội Thánh. Sự hiện diện của Chúa Giêsu không làm sóng gió biến mất; nhưng chính giữa bão, đức tin mong manh của các môn đệ mới được phơi bày. Vậy mà Hội Thánh không chìm, không phải vì con thuyền vững chắc, cũng không vì các môn đệ chèo giỏi, nhưng vì Chủ thuyền vẫn ở đó. Hoá ra, nền tảng của Hội Thánh không nằm ở sức mạnh con người, nhưng ở Đấng không bao giờ rời con thuyền của mình. “Hãy biết rằng Đức Kitô luôn ở với bạn, cho đến tận thế. Nếu Đức Kitô ở với tôi, tôi còn sợ gì?” – Gioan Kim Khẩu.

Có những cơn bão không nổi lên ngoài biển, nhưng âm thầm nổi lên trong lòng một dân đã quên công lý. Amos đã nghe tiếng gầm của cơn bão ấy từ lâu: “Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi?” – bài đọc một. Điều Thiên Chúa dẹp yên không chỉ là sóng gió bên ngoài, mà còn là hỗn mang trong lòng người. Con thuyền ấy cũng là con thuyền của giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và mỗi người chúng ta. Điều đáng sợ không phải sóng lớn, nhưng là khi chúng ta để nỗi sợ lèo lái đời mình. Vì thế, chúng ta cần Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” hướng dẫn. Lời cầu của Thánh Vịnh trở nên rất thật: “Xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”.

Anh Chị em,

Con thuyền rồi cũng cập bến, không phải vì biển đời hết bão, nhưng vì Đức Kitô đã đi trọn hành trình ấy trước. Ngài đã đi qua thập giá để mở lối vào vinh quang Phục Sinh. Vì thế, con thuyền của Hội Thánh và của mỗi người vẫn có thể tiếp tục hành trình. Đức Lêô XIV nhắc rằng, cơn bão chưa phải là câu hỏi lớn nhất; câu hỏi lớn nhất vẫn là: “Người này là ai?”. Khi nhận ra Đấng đang ở trong thuyền là ai, nỗi sợ không còn cầm lái. “Khi Đức Kitô bước vào thuyền, gió liền yên!” – Hilary of Poitiers. Chính vì thế, ‘phục sinh trong thuyền’ không chỉ là câu chuyện của biển hồ Galilê, nhưng còn là niềm hy vọng của mọi con thuyền đang hướng về Nước Cha trên trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội Thánh giữa biển đời; nâng đỡ chúng con trong mọi thử thách; và cho chúng con luôn nhận ra Chúa đang ở trong con thuyền của mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 8,23-27

23 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. 24 Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. 25 Các ông lại gần đánh thức Người và nói : “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất !” 26 Đức Giê-su nói : “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin !” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

27 Người ta ngạc nhiên và nói : “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi…Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam.                                    

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

24 Tháng 6, 2026

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

Cô giáo Lan năm ấy đã ngoài ba mươi, vẫn sống một mình trong căn phòng tập thể cũ của trường vùng ven. Lương giáo viên ít ỏi, bữa cơm chỉ đủ đạm bạc, nhưng lòng cô thì chưa bao giờ cạn yêu thương.

Một chiều mưa tầm tã, trên bậc thềm trạm y tế xã, cô Lan nhìn thấy hai bé trai sinh đôi quấn chung một tấm áo mỏng, khóc khàn cả giọng. Bên cạnh chỉ có mảnh giấy nhàu nát: “Nhờ ai đó nuôi giúp, tôi không đủ khả năng…”

Cô Lan bế cả hai lên, tim thắt lại. Từ giây phút ấy, cuộc đời cô rẽ sang một lối khác.

Cô đặt tên cho hai em là Minh và Nam. Sáng cô đi dạy, trưa tranh thủ về nấu nồi cháo lớn, chiều lại dắt hai đứa ra ngã tư bán vé số. Những đêm mất điện, ba mẹ con ngồi học dưới ánh đèn dầu leo lét. Minh học giỏi Toán, Nam mê Vật lý và luôn hỏi cô:

— “Cô ơi, sao máy bay lại bay được?”

Cô Lan mỉm cười, xoa đầu:

— “Vì có ước mơ nâng nó lên.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, máy bay và văn bản

Nhiều năm trôi qua, Minh và Nam lớn lên trong tiếng rao vé số, trong những buổi phụ hồ cuối tuần, và trong những trang sách mượn từ thư viện trường. Cô Lan chưa từng mua cho mình chiếc váy mới, nhưng tiền học của hai con thì chưa bao giờ thiếu.

Ngày Minh và Nam đậu vào trường đào tạo phi công, cô Lan khóc suốt đêm. Đó là lần đầu tiên cô cho phép mình tin rằng: hi sinh rồi sẽ có ngày nở hoa.

Mười lăm năm sau, tại sân bay rộn ràng ánh đèn, hai chàng phi công trẻ trong bộ đồng phục chỉnh tề đứng đón một người phụ nữ tóc đã bạc nhiều. Cô Lan run run nhìn hai con, còn chưa kịp nói gì thì phía sau có một người đàn bà khác bước tới.

Bà ta tự nhận là mẹ ruột của Minh và Nam. Bà kể về những năm tháng túng quẫn, về quyết định bỏ con trong nước mắt. Cuối câu chuyện, bà đặt lên bàn phong bì 10 triệu đồng, nói là “tiền chi phí nuôi nấng ngày xưa”, rồi xin được nhận lại con.

Sân bay bỗng lặng đi.

Minh khẽ đẩy phong bì lại, giọng bình tĩnh nhưng dứt khoát:

— “Chúng tôi không nhận.”

Nam tiếp lời, mắt đỏ hoe nhưng không run:

— “Mẹ sinh ra chúng tôi, nhưng người nuôi chúng tôi thành người là cô Lan.”

Hai anh em quay sang nắm tay cô giáo, rồi đưa ra quyết định cuối cùng:

“Chúng tôi sẽ làm thủ tục pháp lý để cô Lan là mẹ hợp pháp của chúng tôi. Từ hôm nay, mọi phụng dưỡng, yêu thương, và danh phận làm mẹ — chỉ dành cho một người.”

Người phụ nữ kia bật khóc, còn cô Lan thì òa lên trong vòng tay của hai “đứa trẻ” năm nào. Ngoài kia, một chiếc máy bay rẽ mây cất cánh.

Có những người mẹ không sinh ra con — nhưng chính họ đã cho con đôi cánh để bay cả cuộc đời.


 

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

 My Lan Pham  

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

Ở tuổi 96, Clint Eastwood đã phá vỡ mọi ảo tưởng dễ chịu về tuổi già. Ông không cố tô hồng thực tế, cũng không kể những câu chuyện an ủi rằng tuổi xế chiều chỉ toàn bình yên và hạnh phúc.

Trong một bài phát biểu gần đây, ông chia sẻ thẳng thắn về những thay đổi của cơ thể theo năm tháng. Xương khớp mất dần sự linh hoạt. Mọi cử động đều chậm hơn. Ánh sáng chói khiến đôi mắt đau nhức. Ngay cả việc hít thở đôi khi cũng trở thành một nỗ lực.

Và đó mới chỉ là khởi đầu.

Với phong thái cứng cỏi vốn đã trở thành dấu ấn của mình, Eastwood nói về điều mà rất nhiều người né tránh. Ông không hứa hẹn rằng tuổi già là khoảng thời gian thanh thản vô tận.

Thay vào đó, ông vẽ nên một bức tranh chân thực về những gì xảy ra khi một con người tiến gần đến cột mốc một thế kỷ.

“Ánh sáng làm đau mắt bạn, và ngay cả việc thở cũng có thể trở nên nặng nhọc. Cơ thể không còn hợp tác như trước nữa, và mỗi bước đi đều cần phải tính toán.”

Theo ông, sự suy yếu của xương và cơ bắp chỉ là phần nổi của tảng băng.

Điều nặng nề nhất của tuổi già lại nằm ở cảm xúc và tinh thần.

Khi bước sang tuổi chín mươi, thế giới quen thuộc quanh bạn thay đổi một cách sâu sắc.

Bạn nhìn lại và nhận ra rằng phần lớn những người từng biết mình khi còn trẻ, những người cùng chia sẻ ký ức, những câu chuyện cười chỉ riêng hai bên hiểu và những năm tháng khó khăn, giờ đây đều đã rời xa.

Vòng tròn những gương mặt thân quen ngày càng thu hẹp.

Điện thoại hiếm khi còn reo.

Nhịp sống chậm lại đến mức tĩnh lặng.

Viên thuốc đắng nhất không phải là những cơn đau thể xác.

Mà là cảm giác không còn ai thật sự muốn ngồi xuống và lắng nghe bạn.

Khi hiện tại trở nên cô đơn và yên ắng, con người tự nhiên tìm về quá khứ.

Eastwood cho rằng việc sống lại những ký ức cũ không phải là dấu hiệu của sự suy giảm trí nhớ.

Đó là cách con người tìm kiếm sự kết nối với chính cuộc đời mình.

Có lẽ vì vậy mà người già thường kể đi kể lại cùng một câu chuyện, thêm vào vài chi tiết nhỏ rồi lại quay về những ký ức quen thuộc.

Không phải vì họ muốn khoe khoang hay chiếm lấy cuộc trò chuyện.

Mà vì ở đó, họ từng mạnh mẽ, từng được yêu thương và từng có ý nghĩa.

“Bạn thấy mình cứ lặp lại những câu chuyện cũ, thêm vài chi tiết, không phải để thuyết phục ai, mà chỉ để cảm thấy mình vẫn còn gắn kết với điều gì đó. Bạn cố truyền lại những điều mình biết cho thế hệ trẻ, ngay cả khi nhìn thấy sự chán nản trong ánh mắt của họ.”

Chúng ta đang sống trong một xã hội coi tuổi thọ như một chiếc cúp chiến thắng.

Mọi người chúc mừng ai đó chỉ vì họ sống đủ lâu.

Nhưng lại quên mất sự cô đơn khủng khiếp đi kèm với tuổi thọ ấy.

Chúng ta ca ngợi cái mới, cái nhanh và sự kết nối không ngừng.

Trong khi gần như không còn chỗ cho nhịp sống chậm rãi, lặp lại và bình lặng của những người rất già.

Clint Eastwood là một huyền thoại điện ảnh.

Nhưng những lời ông nói không chỉ dành cho riêng mình.

Đó cũng là tiếng lòng của biết bao cụ ông, cụ bà vô danh đang sống ở khu phố của chúng ta hay lặng lẽ ngồi trong những bữa cơm gia đình.

Họ là những thư viện sống của lịch sử.

Trong họ chứa đựng những câu chuyện đã góp phần tạo nên thế giới mà chúng ta đang sống hôm nay.

Khi chúng ta chậm lại một chút, cất điện thoại sang một bên và thật lòng lắng nghe, điều kỳ diệu sẽ xảy ra.

Khoảng cách giữa các thế hệ được thu hẹp.

Cuối cùng, những nếp nhăn trên gương mặt người già không chỉ là dấu vết của thời gian.

Đó là tấm bản đồ của một cuộc đời đã được sống trọn vẹn.

Và được ngồi bên họ, lắng nghe hành trình ấy, chính là một đặc ân.

#MyLanPham #ClintEastwood #TuoiGia #GiaTriCuocSong #LangNghe #NguoiGia #SongCham #CamHung #CuocSong 


 

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung – Truyen ngan HAY

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung

April 2, 2019 

*** Tác giả Từ Dung là con gái út Nhà Văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long (1907-1948) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Về mặt dung nhan, vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm của mẹ tôi đã hơn một lần làm rung động những người phái nam có địa vị quan trọng trong nhiều lãnh vực xã hội. Bà cao dong dỏng, thân hình đều đặn thanh tú, nước da mịn màng trắng trẻo, dáng đi yểu điệu và uyển chuyển, khuôn mặt trái soan, cặp mắt hơi hiếng (lé kim), mơ màng nhưng sâu sắc, miệng cười duyên dáng với chiếc răng khểnh và cặp môi đầy đặn. Tôi có đọc vài cuốn sách viết về mẹ tôi với những lời mô tả thiên lệch bắt nguồn từ những ghen ghét nhỏ mọn. Những người viết này cố tình hạ thấp dung nhan, phẩm hạnh của bà vì đố kị nên những người từng được tiếp xúc với bà vô cùng bất mãn vì những dối trá trắng trợn đó. Theo ý một số những người có dịp tiếp xúc với bà, bà là một trong những người đẹp và hợp thời trang nhất tại Hà Nội vào những thập niên 1930-40. Ngay cả về sau, khi đã trên bốn mươi tuổi và có bốn người con lớn, bà vẫn là một phụ nữ có vẻ đẹp sang trọng và thanh lịch có tiếng ở Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, trong lúc ở giá để nuôi các con ăn học thành tài, mẹ tôi đã từ chối khéo léo và khiêm nhượng những người đàn ông theo đuổi bà và về sau họ vẫn quý mến và nể phục tư cách của mẹ tôi. Một trong những người này đã qua đời đã giữ lòng thương quý mẹ tôi ngay cả khi bà đã tạ thế. Khi ra đi nước ngoài, ông gửi thơ về nhờ tôi đặt lên mộ mẹ tôi một bó hồng đỏ thắm mỗi tuần lễ, như ông vẫn thường làm trước khi ra đi!

Mẹ tôi đã từ chối tất cả những người đàn ông đến sau, vì trong trái tim của bà chỉ có hình bóng của một người yêu duy nhất, đó là ba tôi, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long.

Về công, tức là tài năng khéo léo, ít có người phụ nữ nào có tài nấu nướng những món ăn Việt cũng như Pháp tuyệt xảo như mẹ tôi. Nào canh bóng, vây, bào ngư, nấm nhồi giò, chả nem rán, bánh chưng gói, món Tây thì súp legume, bò hầm đậu, cua phá xi…

Các ngày giỗ chạp, tiệc rượu linh đình, một mặt mẹ tôi nấu ăn và chỉ dẫn cho người giúp việc, một mặt tiếp đãi khách với nụ cười hiền thục trên môi. Ai cũng phải mến yêu bà. Chị Thu tôi đã lớn thì giúp một tay, còn tôi bé út nhất nhà (cách anh Lân đến 9 tuổi) chỉ chạy chơi và chực ăn trứng luộc trên bàn thờ!

Sau này mẹ tôi mở tiệm Chả Cá Thăng Long (1959) ở đầu đường Phan Thanh Giản. Tiệm rất đắt khách và là một trong những tiệm ăn sang trọng thanh lịch và ngon lành tinh khiết nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Về ngôn, khoa ăn nói, mẹ tôi ăn nói nhã nhặn, điềm đạm và nhu thuận, lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh. Bà cũng dạy các con phải ăn nói đàng hoàng. Ngoài phái nam ra, phái nữ cũng thương mến bà, bạn bè và các bà cô, dì hai bên họ đều tìm đến bà khi hoạn nạn, nhưng cũng có một số nhỏ đem lòng ganh tị và tìm cách bôi nhọ thanh danh bà.

Về phẩm hạnh, không ai có thể chối cãi rằng mẹ tôi là một phụ nữ đảm đang, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con mà không hề phàn nàn, than vãn.

THỜI THƠ ẤU CỦA MẸ TÔI BA MẸ TÔI GẶP GỠ NHAU

Sinh ra trong một gia đình quý phái, trưởng giả, mẹ tôi lại có những đức tính đơn giản, tốt bụng hay thương người. Ông ngoại tôi làm tham tá công chánh dưới thời Pháp thuộc, bà ngoại tôi là một mệnh phụ đài các nhưng khôn ngoan, biết quản lý tài sản của ông tôi, biết tiết kiệm. Mẹ tôi lại là con một nên được lo toan rất chu đáo, quá chu đáo đến nỗi mẹ tôi cảm thấy ngộp thở. Bà ngoại tôi tính tình độc đoán, muốn chồng con phải phục tùng theo cách sinh hoạt của bà. Thậm chí mẹ tôi chỉ được quyền chơi những đồ chơi bà ngoại cho phép. Mẹ tôi kể lại rằng một lần ông ngoại lén cho mẹ một con búp bê mà mẹ tôi thích, khi bà ngoại biết được, bà lập tức vứt đi. Mẹ tôi khóc và nhớ mãi chuyện ấy. Bà ngoại rất yêu mẹ tôi, nhưng cụ vẫn giữ tính khắc nghiệt đó nên có những đụng chạm cãi vã không thể tránh được giữa hai mẹ con.

Khi ba mẹ tôi gặp gỡ nhau, họ bị tiếng sét ái tình đánh choáng váng. Một bên cảm vì sắc, một bên mến vì tài. Ba tôi tuy ít nói, nhưng có lối châm biếm khôi hài thật duyên dáng và sâu sắc đã chinh phục được trái tim trong trắng của mẹ tôi. Tính cách khôi hài này được thể hiện trong tập “Trước vành móng ngựa”. Mối tình của ba mẹ tôi là nguồn hứng khởi của mối tình của Duy và Thơ trong “Con đường sáng”. Là một phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm và chịu ảnh hưởng phong trào văn hóa mới vì mẹ tôi theo học trường Pháp và tốt nghiệp trường Pháp, bà thông cảm và hỗ trợ chí hướng phi thường của ba tôi, người đã từ chối chức tri huyện khi tốt nghiệp cử nhân luật, sau lại bỏ chức biện lý vì chống lại tòa án Pháp thuộc ngày đó. Điều này thể hiện trong tác phẩm “Trước vành móng ngựa”.

Phải là một phụ nữ phi thường mới thấu hiểu và tôn trọng một tâm hồn phi thường như ba tôi, và mới hy sinh tuổi xuân sắc để giúp đỡ chồng một cách đắc lực trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và đất nước.

Lần đầu khi đi xem mắt mẹ tôi tại tòa biệt thự của bà ngoại tôi ở bãi biển Sầm Sơn, ba tôi đã bị tiếng sét ái tình. Mối tình đẹp như thơ đó đã bị cả hai bên gia đình phản đối, bên nội vì lý do bà nội tôi không chuộng gia đình trưởng giả, bên ngoại vì không cho là đủ môn đăng hộ đối. Nhưng ba mẹ tôi đã vượt thắng tất cả để tìm đến nhau và lập gia đình!

MỘT CUỘC HÔN NHÂN ĐẦY HY SINH VÀ CHIA LY

Chị cả tôi, chị Minh Thu, ra đời năm 1934, là tác phẩm đầu tiên của sự kết hợp tuyệt vời đó. Năm kế là anh Nguyễn Tường Ánh và cách một năm nữa là anh Nguyễn Lân. Ba mẹ tôi những tưởng anh Lân là con út rồi vì lúc đó ba tôi rất ít khi ở nhà, ông đã bị quay vào guồng máy thời cuộc lúc ấy. Khi ba tôi bị bắt, bị tra tấn tại sở mật thám và sau bị đi đày ở Vụ Bản, Chân Lạp Sơn, mẹ tôi rất lo buồn và đi lại tiếp tế nhiều lần. Tháng Tám, 1946, ba tôi cầm đầu phái đoàn hòa giải, trong đó có cả người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, của bên Việt Minh, và có nhân viên bộ Công Chính là kỹ sư Đỗ Xuân Dung để xem tình hình nước lụt ở Việt Trì (ngã ba sông Hồng Đào) và ba tôi bị bắt. Khi được thả ra, ba tôi sang Trung Hoa gặp gỡ bác Nguyễn Tường Tam và các anh em khác. Thời gian đó mẹ tôi thường xuyên mang vật phẩm và tiền bạc sang tiếp tế cho ba tôi và các anh em khác. Ngoài ra, một tay bà lo dạy dỗ các con, chăm sóc mẹ già và cũng một tay bà lo toan hỗ trợ người chồng cách mạng lưu vong nơi xứ người. Phụ nữ như thế không phải ở thời đại nào cũng có!

Ba mẹ tôi lúc ấy như Chức Nữ Ngưu Lang, chẳng được thường xuyên gặp gỡ nên mỗi lần trùng phùng thật quý giá vô cùng! Tôi là kết qủa của một trong những lần gặp gỡ đó. Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi.

Tôi ra đời ngày 30 tháng Mười năm 1946 tại Hà Nội trong tình thương yêu của cả nhà. Ba tôi vẫn ở biền biệt bên Trung Hoa nên chẳng thấy mặt tôi, chỉ nhận được tin tức qua thư tín gia đình.

Lần gặp gỡ cuối cùng của ba mẹ tôi năm 1948 tại Hongkong rồi sau đó ba tôi bị một cơn đau tim tạ thế trên đường đi xe lửa về Quảng Châu, lúc đó tôi được 19 tháng. Được tin sét đánh, mẹ tôi phải lo tiền bạc quay trở lại chôn cất ba tôi tại Quảng Châu. Hiện nay không còn biết mộ phần nằm đâu nữa vì các nấm mồ đều bị khai quật dưới chế độ Cộng Sản!

Kể từ đó, mẹ tôi ở vậy nuôi con cho đến khi các con khôn lớn. Bố con tôi chỉ biết nhau qua hình ảnh thư từ. Tôi được nghe kể lại về ba tôi qua lời nói của mẹ, của anh chị và của cậu tôi, Như Phong Lê Văn Tiến.

Tôi nghĩ rằng tôi được thừa hưởng óc khôi hài châm biếm của ba tôi, cũng như dòng máu văn chương chảy cuồn cuộn trong tim óc!

Tại Hà Nội, gia đình tôi sống tại đường Lý Thái Tổ, Hàng Vôi. Trường Hàng Vôi là ngôi trường đầu tiên trên con đường học vấn của tôi. Năm 1990, trước khi rời Việt Nam, tôi ghé thăm ngôi nhà gia đình và ngôi trường thơ ấu. Ngôi nhà xinh đẹp hai tầng có cây bàng trước sân giờ đây ngăn ra cho tám hộ ở, phòng ngăn bằng vải rideau. Bàn thờ tổ tiên vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ còn một ông lão còn nhớ về nguồn gốc căn nhà.

Trở lại năm 1954, chúng tôi rời căn nhà thân yêu lên đường vào Nam trên một chiếc phi cơ quân đội. Tôi mới có 8 tuổi nên chỉ nhớ là mẹ tôi vội trở lại miền Bắc để thanh toán mấy căn nhà ở Hà Nội của bà tôi và gom tiền bạc để sinh sống trong Nam. Lúc đó sắp sửa đóng cửa ra vào hai miền nên các anh chị, tôi lo lắng sợ mẹ tôi bị kẹt lại Hà Nội.

Khi mẹ về, chúng tôi hết sức mừng rỡ. Chúng tôi tạm ở chia với họ hàng bên ngoại một căn nhà đường Đặng Dung, Tân Định. Đó là thời gian đẹp nhất của đời tôi! Mẹ con, anh chị em đoàn tụ yêu mến nhau. Tôi ở tuổi bắt đầu ý thức được tình cảm quý báu của gia đình. Ý nguyện của tôi là anh chị em tôi sẽ trở lại quây quần như thời đó!

Khi đến học lớp Tư trường Huỳnh Thị Ngà thì tôi gặp khó khăn với cô giáo Nam Kỳ với giọng đọc chính tả mới lạ. Tôi có đến mười lỗi trong bài “Lạc vào rừng” vì tôi không hiểu gì cả. Các bạn chế nhạo accent Bắc kỳ và gọi tôi “Bắc kỳ ăn rau muống”. Đó là bài học đầu tiên của tôi về kỳ thị địa phương dạy tôi sau này chống lại mọi thứ kỳ thị trên cõi đời này!

ĐỜI SỐNG TẠI SAIGON

Cùng lúc ấy, mẹ tôi mở tiệm phở và chả cá Thăng Long trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, sau chuyển về tiệm chả cá Thăng Long trên đường Phan Thanh Giản. Sau này ngẫu nhiên quán cà phê nhạc Từ Dung của tôi mở năm 1978 cũng lại tọa lạc trên con đường Trần Quang Khải và người hầu bàn trưởng tại chả cá Thăng Long tên là anh Tư lại trở thành người pha cà phê chính của quán Từ Dung.

Tiệm chả cá Thăng Long do họa sĩ Nguyễn Gia Trí trang hoàng có một vẻ Á Đông trang nhã với những chiếc cột đỏ, những tấm bình phong và hình vẽ đặc biệt Việt Nam rất mỹ thuật. Một tấm tranh dân gian của Phạm Tăng treo dọc cả bức tường trong căn phòng riêng của quán. Bức tranh này sau tôi bị một tay văn sĩ hạng b, c gì đó lừa lấy mất!

Căn nhà mẹ tôi mua rộng lớn, một bên mở tiệm, còn một bên gồm năm phòng để gia đình tôi ở. Tiệm luôn đông khách tấp nập và các danh nhân, nghệ sĩ như Mặc Thu, Nguyễn Hoạt, bác Nhất Linh, Chu Tử thường xuyên đến ăn chả cá. Thế nhưng vấn đề tài chính không mấy khả quan vì mẹ tôi quá tốt bụng, luôn nuôi ăn ở và trả lương cho 6,7 người giúp việc nên tiền vào tuy khá nhưng ra cũng lắm. Mẹ tôi không bao giờ từ chối mở hầu bao giúp cho những người đến cầu cứu gia đình tôi!

Lúc đó chị Minh Thu, anh Tường Ánh lập gia đình nhưng lúc đầu anh Ánh vẫn ở chung với mẹ tôi. Các anh chị có gia đình riêng nên không còn gần gũi nhau như xưa. Tôi cảm thấy mẹ buồn nhưng không biết an ủi mẹ ra sao, chỉ biết rúc vào lòng mẹ. Khi anh Ánh và vợ dọn đi ở riêng trong một căn nhà mẹ mua cho anh, tôi được thừa hưởng căn phòng trống cạnh phòng anh Lân. Trước mặt hai căn phòng là một sân cement nhỏ trồng vài cây cảnh như cây trúc đào, cây mận sai trái vì tôi chôn xác con mèo dưới gốc cây.

Đằng sau phòng tôi là một cây trứng cá trái mọng nước và rất ngọt. Căn phòng này đã ghi một ấn tượng sâu đậm về thời thơ ấu của tôi sống êm đềm trong tay mẹ hiền. Có phòng riêng rồi nhưng tôi vẫn đòi ngủ với mẹ để được hít mùi da thịt của bà, thơm mùi nước hoa Guerlain và mùi phấn. Tôi cũng đòi mẹ ngâm thơ Kiều hoặc hát quan họ cho nghe như lúc còn bé tí. Cũng vì vậy mà tôi rất thuộc Kiều và những bài thơ ru em. Mẹ tôi yêu nhạc Đông phương nhưng cũng mê nhạc cổ điển Tây phương, nên khi mẹ mất, gia đình tôi mở nhạc Bach và Beethoven bên quan tài để hương hồn mẹ tôi về thưởng thức, thay vì giọng ê a của các vị sư hay kinh của các cha cố!

Sau này mẹ tôi bắt đầu gặp khó khăn về tài chính nên phải bán đi một số nữ trang. Lúc đó là đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đổ sang Việt Nam nên mẹ tôi theo trào lưu cũng dẹp tiệm chả cá và cho Mỹ thuê một bên nhà để mở nhà hàng có âm nhạc tên là Kontiki. Đêm nào tôi cũng được nghe tiếng đàn hát vọng sang từ bên nhà hàng của ban nhạc Đăng Tiến, thỉnh thoảng tôi cũng sang hát chơi những bản như Autumn leaves, A very precious love, Mona Lisa….

(Ảnh: Bà Hoàng Đạo)

Tôi khoảng 16 tuổi, tuổi đầy mộng đẹp và bắt đầu mơ đến tình yêu!

Mấy năm sau mẹ tôi bán căn nhà rộng lớn đường Phan Thanh Giản và mua căn nhà nhỏ hơn có ba phòng ngủ và một căn gác ở Ngã năm bình hòa đường Chu Văn An. Nhiều người ngăn cản bà mua căn nhà này vì nó nằm cuối ngõ cụt và có mộ phần đằng sau nhà nên theo địa lý rất xấu. Không biết có phải là mê tín không mà sau này mẹ tôi bị ung thư nặng và chết tại nhà đó, bà ngoại tôi cũng chết theo ở tuổi 98 vì quá đau đớn, mẹ tôi là con duy nhất của cụ, cậu tôi Như Phong Lê văn Tiến bị bắt giam cũng ở đó, gia đình vợ chồng tôi thì phân tán, chia ly. Năm Mậu Thân 1968 nơi này là tử địa của tàn quân Việt Cộng, sau khi VC thất bại trong trận tổng công kích Saigon đã rút lui về nơi đây. Ngôi nhà chúng tôi bị đạn bắn từ máy bay xuống lỗ chỗ đầy những vết đạn, cũng may là khi cả khu phố bốc cháy như một con rồng lửa thì bỗng dừng lại khi tới nhà chúng tôi. Thật là một phép lạ!

Tôi giúp mẹ, bà ngoại và hai mẹ con bác giúp việc chạy khỏi nhà, chân phải chạy lung tung tránh xác VC nằm đầy ngõ và tránh tầm đạn của hai bên bắn nhau. Một ông hỏi ông khác «ai đánh ai?», ông kia trả lời «quân mình đánh quân ta»!

Từ lúc đó mẹ tôi bị ung thư bên cánh tay trái và căn bệnh kéo dài tới năm 1975 thì mẹ tôi mất. Người y sĩ đã hết lòng chữa chạy cho mẹ là bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một người bạn thân của gia đình. Hai bác sĩ khác của gia đình tôi là bác sĩ Phan Huy Quát và bác sĩ Kỳ Quan Thân.

Cánh tay xinh đẹp, nuột nà, trắng bóc của mẹ tôi chỉ để đeo những nữ trang qúy giá nay đã bị cắt đi đến hai lần, và sau cùng căn bệnh quái ác đã ăn vào tủy sống làm mẹ hôn mê trong 24 tiếng đồng hồ trước khi từ gĩa cõi đời. Trước khi bị hôn mê, căn bệnh ăn vào tủy làm bà thấy mọi vật nhuộm muôn màu muôn sắc.

Không có gì diễn tả nổi nỗi đau đớn của người mắc bệnh ung thư. Lầu 5 của viện ung thư ở Gia Định phải rào lại vì nhiều người trong cơn đau đã nhảy xuống tự vận. Trong khoảng cuối cùng của cuộc đời đầy hy sinh, chịu đựng, đau đớn, bà vẫn tiếp tục làm phước, giúp người. Bà bảo trợ cho một số người bị ung thư trong viện, trong số đó có một anh binh sĩ trẻ, đẹp trai như Alain Delon. Anh bị ung thư xương chân, chỉ trong vài tháng là từ trần. Mẹ tôi, lúc đó đã phải dùng tới codein cho bớt đau và bò lết dưới đất rên la, cũng vẫn lo cho anh trong những ngày chót của cuộc đời anh!

Tại sao một phụ nữ hiền hậu như mẹ tôi và có lòng thương người lại phải chịu một số phận đớn đau như vậy? Khi mẹ tôi chết đi, bà không bám víu vào một niềm tin tôn giáo nào cả vì bà không tìm thấy đức tin nơi cuối đời. Lúc gần chết, bà cảm thấy hoang mang…

Khi nhìn ngắm xác mẹ trong chiếc áo trắng tôi mặc cho bà và cành hoa lan trắng trước ngực bà, tôi mới ý thức được nỗi mất mát lớn lao đến thế nào. Đã quá muộn để chiều chuộng mẹ, để nói rằng mẹ ơi con yêu mẹ, để cám ơn bà cho tôi đời sống hôm nay và niềm tin ngày mai.

Có một con bướm trắng bay quanh quan tài của mẹ nhiều lần trước khi hạ huyệt, có phải chăng linh hồn mẹ muốn từ giã các con lần cuối?

Từ Dung xin thay mặt người quá cố cũng như các anh chị gửi lời cám ơn anh Sơn con của cô Thế đã lo việc rải tro xuống biển cho bà và mẹ chúng tôi tại Việt Nam để linh hồn bà và mẹ chúng tôi được siêu thoát và xin Chuá ban phước lành cho anh và gia đình anh.

Chấm hết

TỪ DUNG


 

TỪ TRỜI RƠI XUỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy!”.

Elon Musk từng dự đoán, rồi đây robot sẽ đông hơn cả dân số thế giới; có thể mỗi người sẽ có vài robots phục vụ. Một viễn cảnh vừa khơi dậy háo hức, vừa gợi lên lo lắng.

Kính thưa Anh Chị em,

Dù AI có thông minh đến đâu, chúng ta vẫn phải tự hỏi: ai đã ban cho con người trí thông minh để tạo ra AI? Lời Chúa hôm nay hé mở một quy luật: những bước ngoặt lớn của lịch sử không bắt đầu từ đất, nhưng ‘từ trời rơi xuống’.

Sau lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu nói: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy!”. Động từ Hy Lạp apekalypsen không có nghĩa là con người khám phá ra Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa tự mở ra cho con người. Khác biệt ấy làm nên điều có một không hai của Kitô giáo. Đức tin không phải là kết quả của một cuộc chinh phục thần linh, nhưng là hoa trái của một Thiên Chúa tự tỏ mình. Hội Thánh không bắt đầu từ tài năng của Phêrô, nhưng từ hồng ân ông đã lãnh nhận.

Và rồi, Chúa Giêsu trao cho Phêrô chìa khoá Nước Trời. Trong Kinh Thánh, chìa khoá không chỉ mở cửa, nhưng còn nói đến quyền đại diện. Người cầm chìa khoá không nhân danh mình, nhưng nhân danh chủ. Vì thế, quyền bính trong Hội Thánh không phải là quyền sở hữu, nhưng là quyền được trao; không phải để thay thế Thiên Chúa, nhưng để làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa con người. “Đối với con người, quyền bính thường có nghĩa là chiếm hữu, quyền lực và thống trị. Nhưng đối với Thiên Chúa, quyền bính có nghĩa là phục vụ, khiêm nhường và yêu thương!” – Bênêđictô XVI.

Sự hiện diện ấy tỏ lộ dưới hai hình thức khác nhau. Phêrô được thiên thần đưa ra khỏi ngục tối – bài đọc một; còn Phaolô, giữa lúc mọi người bỏ rơi, vẫn xác tín: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi” – bài đọc hai. Một người được mở cửa ngục, người kia được nâng đỡ giữa ngục đời; và cả hai cùng có một trải nghiệm: ơn cứu giúp không đến từ dưới đất, nhưng từ trời. Bởi thế, các ngài có thể hát lên: “Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Ai trong chúng ta cũng từng chờ một cánh cửa mở ra. Nhưng nhiều khi, điều Chúa ban lại là sức mạnh để bước tiếp. Thiên Chúa không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Ngài chưa bao giờ ngừng hiện diện. Chính sự hiện diện ấy mới là điều không bao giờ đổi thay. “Hoàn cảnh, cảm xúc có thể đổi thay, nhưng tình yêu Thiên Chúa không bao giờ đổi thay!” – Warren W. Wiersbe.

Anh Chị em,

Nếu có một Đấng làm đổi thay lịch sử nhân loại, thì đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng ‘từ trời rơi xuống’. Nơi Ngài, Thiên Chúa không chỉ tỏ mình, nhưng trao ban chính mình. “AI” có thể phục vụ con người; nhưng chỉ Đức Kitô mới ban cho con người ơn cứu độ đời đời qua Hội Thánh. Vì thế, Hội Thánh không đứng vững nhờ tài năng của Phêrô hay nhiệt huyết của Phaolô, hay bất cứ ai; nhưng vì Đức Kitô vẫn hằng hiện diện và dẫn dắt Hội Thánh. “Đức Kitô và Hội Thánh hợp thành một ‘Đức Kitô toàn thể!’” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho chúng con đừng bao giờ làm lu mờ khuôn mặt Mẹ Hội Thánh; biết phản chiếu dung nhan Đức Kitô giữa đời; và dám sống Tin Mừng mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

LỜI CHÚA KÍNH THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ 29/6

Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 16,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”


 

Động đất ở Venezuela : Gần 1.000 người chết và hơn 50.000 người mất tích (RFI)

RFI

Ít nhất 920 người đã thiệt mạng và hơn 50.000 người vẫn đang mất tích sau trận động đất kép xảy ra hôm 24/06/2026 tại Venezuela. Trong bối cảnh số thương vong không ngừng tăng lên, sự bất bình của người dân cũng ngày càng gia tăng do công tác cứu trợ của chính quyền được cho là còn chậm và hạn chế.

Ngày: 27/06/2026 

Chiến dịch cứu hộ tại Catia La Mar, phía bắc Caracas, Venezuela, ngày 26/06/2026. © Fernando Vergara / AP Photo

Phan Minh

Hai trận động đất mạnh 7,2 và 7,5 độ Richter đã tàn phá nghiêm trọng khu vực phía bắc Venezuela. Thành phố ven biển La Guaira, nằm gần thủ đô Caracas, là một trong những nơi bị tác động nặng nề nhất. Hôm qua 26/06, chủ tịch Quốc Hội Venezuela Jorge Rodriguez cho biết số người thiệt mạng đã tăng lên 920.

Tại Genève, Thụy Sĩ, điều phối viên phụ trách viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc Tom Fletcher cho AFP biết rằng hiện vẫn còn hơn 50.000 người mất tích. Ông cảnh báo đây là một chiến dịch cứu hộ vô cùng phức tạp và số người thương vong có thể còn tiếp tục tăng đáng kể.

Trong bối cảnh hệ thống y tế Venezuela đã xuống cấp trầm trọng, công tác tìm kiếm vẫn diễn ra chậm chạp và nhiều thi thể vẫn còn nằm dưới các đống đổ nát. Tuy nhiên, người dân nước này cho thấy tinh thần đoàn kết sâu sắc để vượt qua thảm kịch.

Trở về từ Catia La Mar, thông tín viên Alice Campaignolle tường trình :

Hôm qua, tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây đã được thể hiện rõ rệt. Trong khi chính quyền vẫn chậm triển khai công tác cứu trợ, người dân Venezuela đã tự quyên góp các nhu yếu phẩm và đưa chúng đến vùng ven biển.

Tôi đã có dịp trò chuyện với những người đến từ khắp nơi trên toàn quốc. Có người mang theo quần áo, có người mang thực phẩm và rất nhiều người mang nước uống, một nhu yếu phẩm vô cùng quan trọng. Ngoài ra còn có các đội cứu hộ tình nguyện, trong đó có những người đã vượt hàng trăm cây số để đến hỗ trợ các nạn nhân.

Một số doanh nghiệp thậm chí còn huy động cả máy móc công trình. Tuy nhiên, nhân lực vẫn đang thiếu hụt, bởi dù đã có máy xúc và máy đào, nhưng thường lại không có đủ người điều khiển các thiết bị đó.

Người dân Venezuela đang cho thế giới thấy một bài học lớn về lòng nhân ái. Đáng tiếc là tất cả những sáng kiến này không được điều phối thống nhất, nên tình hình khá hỗn loạn. Đặc biệt, giao thông đường bộ đã bị tê liệt do quá nhiều xe cá nhân đổ về khu vực, làm cản trở việc di chuyển của các phương tiện cứu hộ, trong đó có xe cứu thương.


 

Những người phương Tây bỏ xứ đi tìm ‘giấc mơ Nga’ (BBC)

(BBC)

Ben, đến từ thành phố Derby (Anh), chuyển tới Nga năm 2023 theo diện thị thực gia đình và cho biết anh cảm thấy an toàn hơn khi sống tại đây

Tác giả, Dan Hardoon

Vai trò, BBC World Service 28 tháng 6 2026

Khi Leo Hare chuyển từ bang Texas, Mỹ sang Nga vào cuối năm 2023 sau khi được cấp quy chế tị nạn, ông tin chắc rằng mình đang xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho gia đình.

Là cha của ba người con, ông Leo nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống mới: thưởng thức bánh bao, vắt sữa dê tại một trang trại và quay video về cuộc sống ở Nga cho những người theo dõi trên mạng của mình.

Ông Leo là một tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo và ngày càng trở nên vỡ mộng với vấn đề ở Mỹ, từ sự chia rẽ chính trị, thực phẩm biến đổi gen cho đến điều ông xem là sự trỗi dậy của phong trào LGBTQ.

Khi đó, ông tin rằng Nga mang đến một lựa chọn thay thế hấp dẫn: một xã hội được xây dựng trên đức tin Cơ Đốc và các giá trị gia đình – quan điểm được nhà nước Nga quảng bá mạnh mẽ.

Nhưng theo thời gian, ông cũng ngày càng lo ngại về những yếu tố như việc hạn chế tiếp cận thông tin.

Ông Leo là một phần của một làn sóng di cư bất ngờ. Trong bối cảnh Nga đối mặt với sự cô lập quốc tế, vài ngàn người từ các quốc gia bao gồm Canada, Anh, Mỹ và một số nước châu Âu đã lựa chọn chuyển tới đây sinh sống.

Cách nhìn của họ về Nga khác biệt rõ rệt so với hình ảnh mà nhiều người ở phương Tây đã quá quen: một quốc gia đã xâm lược Ukraine và chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của Kyiv, bỏ tù các đối thủ chính trị, áp đặt những hạn chế nặng nề đối với các quyền tự do dân sự và phải đối mặt với hàng loạt lệnh trừng phạt quốc tế.

Nhiều người có ý định chuyển đến Nga bị thu hút bởi thị thực “Giá trị chung” của Moscow, đôi khi được gọi là thị thực “chống woke” [woke có nghĩa “thức tỉnh”, nhận thức sâu sắc về các vấn đề bất công và bất bình đẳng như phân biệt chủng tộc, giới tính, hoặc quyền lợi của các nhóm thiểu số].

Thị thực này được chính quyền Nga ban hành một tháng sau khi Leo được cấp tị nạn.

Do Tổng thống Vladimir Putin ban hành vào năm 2024, loại thị thực này cho phép công dân của 47 quốc gia mà Nga coi là “không thân thiện” được cư trú tạm thời trong tối đa ba năm.

Không có giới hạn về số lượng người có thể nộp đơn và người xin visa không cần phải vượt qua các bài kiểm tra thông thường về tiếng Nga, lịch sử hay pháp luật.

Thay vào đó, họ phải tuyên bố rằng họ chia sẻ các giá trị tinh thần và đạo đức truyền thống của Nga và bác bỏ điều mà chính phủ Nga mô tả là “hệ tư tưởng tân tự do mang tính phá hoại” của các quốc gia quê hương họ.

Sau ba năm, những người theo diện thị thực Giá trị chung phải chuyển sang Giấy phép cư trú lâu dài (PRP) hoặc rời khỏi Nga. Để được cấp PRP, họ phải tham gia kỳ thi về ngôn ngữ và lịch sử cũng như cung cấp hồ sơ đầy đủ hơn.

Không giống một số chương trình nhập cư khác, thị thực Giá trị chung không đi kèm nhà ở hay hỗ trợ tài chính từ chính phủ Nga. Người nộp đơn phải đóng phí hành chính 1.600 rúp (khoảng 533.000 đồng) và trải qua các cuộc kiểm tra y tế và lý lịch tư pháp.

Leo Hare (phải) tại buổi lễ trao quy chế tị nạn được truyền hình nhà nước đưa tin

Nga cho biết gần 3.400 người đã nộp đơn theo chương trình này tính đến mùa xuân năm 2026. Tuy nhiên, những con số này rất khó được kiểm chứng độc lập và cũng không cho biết có bao nhiêu đơn đã được chấp thuận.

Thị thực này phản ánh một nỗ lực rộng hơn của Điện Kremlin Điện nhằm xây dựng hình ảnh Nga như một quốc gia bảo vệ các giá trị truyền thống, đối lập với điều mà họ cho là sự suy thoái đạo đức của phương Tây.

Trong một sắc lệnh năm 2022, ông Putin cảnh báo rằng ảnh hưởng ý thức hệ từ phương Tây đe dọa các giá trị của Nga, bao gồm hôn nhân và gia đình truyền thống, đồng thời kêu gọi Nga quảng bá hình ảnh tích cực hơn của mình ra nước ngoài.

Hai năm sau, thị thực Giá trị chung mang lại một biểu hiện thực tiễn cho tầm nhìn đó.

Một hệ sinh thái trực tuyến gồm các công ty môi giới tái định cư và những người có ảnh hưởng đang quảng bá Nga là một nơi mà các giá trị gia đình vẫn được gìn giữ và cuộc sống thường nhật an toàn hơn.

Ilja Belobragin, đối tác điều hành tại Move To Russia – một công ty hỗ trợ người nước ngoài chuyển tới Nga – cho biết điều ông thường xuyên nghe từ khách hàng là họ “không còn nhận ra cộng đồng xung quanh mình nữa”.

Một số người có ý định chuyển sang Nga phàn nàn về tình trạng nhập cư cao ở chính quốc gia của họ hoặc điều mà họ cho là mức sống đang suy giảm.

Cuộc chiến của Nga tại Ukraine – yếu tố đã chi phối nhận thức quốc tế về nước này kể từ năm 2022 – dường như không phải là yếu tố mang tính quyết định đối với nhiều người lựa chọn chuyển đến Nga.

Một số người công khai ủng hộ Nga, trong khi những người khác khẳng định quyết định của họ xuất phát từ các giá trị văn hóa chứ không phải yếu tố địa chính trị

Philip Hutchinson

Ông Philip Hutchinson giúp những người khác chuyển tới Nga sau khi chuyển đến sống ở Moscow

Philip Hutchinson, một cựu ứng viên Đảng Bảo thủ của Anh hiện sống tại Moscow và giúp những người phương Tây khác chuyển tới Nga, cho biết ông tránh thảo luận về cuộc chiến.

“Quan điểm của tôi về cuộc chiến là gì ư? Thực ra tôi không muốn dính dáng đến chuyện đó”, ông nói.

“Tôi không ở đây với tư cách một chính trị gia. Tôi ở đây để sống một cuộc đời yên bình, giản dị cùng gia đình.”

Khi được hỏi liệu việc hỗ trợ người phương Tây chuyển tới Nga theo diện thị thực Giá trị chung có phải là một hành động chính trị hay không, ông Philip không đồng tình.

“Chúng tôi hướng dẫn nhiều người theo diện thị thực Giá trị chung vì đó là con đường dễ nhất để trở thành thường trú nhân tại đây vào thời điểm hiện nay. Giúp mọi người chuyển đến Nga không phải là hành động chính trị.”

Sau khi chuyển tới Nga, gia đình ông Leo trở thành một trong những ví dụ dễ thấy nhất về làn sóng di cư từ phương Tây.

Truyền thông nhà nước Nga đã quay phim buổi lễ trao quy chế tị nạn của họ, và ông Leo công khai cảm ơn Tổng thống Putin vì đã chào đón gia đình mình.

Khi đó, Leo tin rằng ông đang góp phần tiên phong cho điều mà ông gọi là “một mảnh ghép luật pháp nhập cư chưa từng có tiền lệ”.

Nhưng thực tế lại khó khăn hơn nhiều so với những gì ông hình dung.

Chỉ vài tuần sau khi đến Nga, Leo cho biết gia đình ông đã bị một người quen mà họ tin tưởng lừa mất 5 triệu rúp – tương đương hơn 1,7 tỷ đồng – khiến cả gia đình rơi vào cảnh không có nơi ở.

Khi tôi trò chuyện với Leo vào đầu năm nay, ông đang sống tách khỏi vợ tại thành phố Ivanovo, còn các con lớn của ông đã trở về Mỹ.

Khi được hỏi liệu Nga có đáp ứng những kỳ vọng của mình hay không, Leo mô tả hai năm qua vừa là quãng thời gian tuyệt vời nhất, vừa là quãng thời gian tồi tệ nhất trong cuộc đời ông.

Ông cho biết mình đã trải nghiệm nhiều khía cạnh khác nhau của nước Nga: làm việc tại một tu viện Chính thống giáo, sống trong một căn hộ ở tòa nhà cao tầng, rồi sau đó chuyển đến một căn hộ nhỏ từ thời Liên Xô.

Cuối cùng, ông tìm được việc làm gia sư tiếng Anh.

Ông vẫn dành nhiều tình cảm cho người dân Nga, mô tả họ là những người hào phóng và hiếu khách.

Ông ca ngợi các thành viên trong cộng đồng nhà thờ đã giúp gia đình mình vượt qua giai đoạn mất toàn bộ số tiền tiết kiệm, đồng thời nhắc đến một phụ nữ đã đón cậu con trai út của ông về nhà và dạy tiếng Nga miễn phí.

“Trái tim tôi tràn đầy tình yêu dành cho những con người này,” ông nói.

Tuy nhiên, ông cũng ngày càng lo ngại về tình trạng của nền kinh tế Nga cũng như những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin.

Hiện nay, ông Leo đang cân nhắc lại vai trò của mình trong việc khuyến khích người phương Tây nhập cư vào Nga.

“Tôi đã tin vào những lời tuyên truyền,” ông nói với tôi, thừa nhận rằng trước đây mình từng là “người có thể viết kịch bản cho điều đó”.

Dù vẫn quyết tâm ở lại Nga vì cảm giác về một “định mệnh”, giờ đây ông nói rằng mình nhớ những quyền tự do đã góp phần hình thành tính cách của người Mỹ.

“Ở Nga, bạn không có những giá trị về nhân quyền như vậy.”

Ben/ BBC

Ben không tin rằng Nga là một thiên đường bảo thủ

Những người phương Tây khác đã chuyển tới Nga cũng đặt vấn đề với cách thị thực Giá trị chung được quảng bá. Ben – người yêu cầu không nêu họ – chuyển tới Nga năm 2023 từ thành phố Derby (Anh), sau khi yêu một phụ nữ Nga mà anh quen qua một trang web trao đổi ngôn ngữ.

Hai người hiện sống tại khu vực Kursk, gần biên giới Ukraine. Gia đình Ben cho rằng anh “hơi điên rồ” khi chuyển tới một khu vực chiến sự.

Cách nhìn của Ben về Nga có nhiều sắc thái hơn so với hình ảnh mà những người ủng hộ nước này thường mô tả.

Anh ca ngợi sự thân thiện của người Nga và cho biết bản thân cảm thấy an toàn hơn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, anh bác bỏ quan điểm cho rằng Nga là một dạng thiên đường của chủ nghĩa bảo thủ.

Ben dẫn chứng tỷ lệ gia đình đơn thân cao, việc phá thai – mà anh cho là “được chấp nhận rất rộng rãi” – cùng tỷ lệ ly hôn “cực kỳ cao”.

“Nga không phải là một xã hội không tưởng,” anh nói.

Ben chuyển tới Nga theo diện thị thực đoàn tụ gia đình chứ không phải theo chương trình Giá trị chung.

Tuy nhiên, trên kênh YouTube của mình, anh đã phản bác những điều mà anh cho là các tuyên bố cường điệu của một số người phương Tây có ảnh hưởng trên mạng, những người mô tả Nga như một sự thay thế hoàn hảo cho phương Tây.

“Có một số người muốn thúc đẩy chương trình nghị sự của họ,” anh nói.

Gần hai năm sau khi thị thực Giá trị chung được triển khai, thử nghiệm của Nga trong việc thu hút những người nhập cư vì lý tưởng vẫn còn ở quy mô nhỏ.

Dù chưa tạo ra làn sóng nhập cư “chống woke” lớn, chương trình này đã giúp một số người phương Tây xây dựng cuộc sống mới tại đất nước này dễ dàng hơn – dù vì tình yêu, đức tin hay đơn giản là mong muốn thay đổi hướng đi trong cuộc đời.


 

Tiệm nail và nhà hàng trả lương bằng tiền mặt có hợp pháp không?

Tiệm nail và nhà hàng trả lương bằng tiền mặt có hợp pháp không?

Ba’o Nguoi-Viet

June 25, 2026

Tom Huỳnh, J.D. (949) 943-4396

Tại Hoa Kỳ, Luật Lao Động Liên Bang (Fair Labor Standard Act – FLSA), luật thuế vụ, và luật tại các tiểu bang không cấm chủ doanh nghiệp trả lương cho người lao động bằng tiền mặt. Tuy nhiên, mặc dù chủ doanh nghiệp có quyền trả lương bằng tiền mặt, nhưng không chỉ đơn giản cứ đưa tiền mặt cho người lao động là xong việc. Thật ra thì điều này chỉ hợp pháp khi chủ doanh nghiệp biết tuân thủ luật lệ lao động và thuế vụ do liên bang và tiểu bang quy định.

(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)

Theo quy định chung của luật pháp Mỹ, ngoại trừ những người đi làm hội đủ điều kiện để được xem là làm việc độc lập (independent contractor), hầu hết người lao động đều được xem là nhân viên (employee) của chủ và sẽ nhận Mẫu W-2 do chủ cung cấp để khai thuế lợi tức hàng năm.

Trả lương bằng tiền mặt cho nhân viên 

Về luật lao động, chủ trả lương bằng tiền mặt cho nhân viên phải chấp hành các tiêu chuẩn về tiền lương và giờ làm việc, nghĩa là nhân viên phải được trả ít nhất là mức lương tối thiểu cho mỗi giờ làm việc theo FLSA và luật lao động tiểu bang hoặc địa phương. Thêm vào đó, FLSA còn quy định việc trả lương giờ làm phụ trội (overtime) cho nhân viên không thuộc diện miễn trừ (non-exempt employees). Nếu nhân viên làm việc hơn 40 giờ trong khung thời gian một tuần lễ bảy ngày, họ phải được trả lương gấp rưỡi so với mức lương thông thường cho những giờ làm phụ trội. Đặc biệt, tại Alaska, California, Colorado, và Nevada còn có luật cho nhân viên hưởng lương giờ phụ trội khi làm hơn 8 giờ trong một ngày (daily overtime). Luật lao động tại các tiểu bang cũng buộc chủ phải cung cấp bảo hiểm tai nạn lao động (Workers Compensation Insurance) cho nhân viên. Tại hầu hết các tiểu bang, chủ doanh nghiệp không mua bảo hiểm lao động  cho nhân viên là một vi phạm hình sự có thể bị phạt tiền và phạt tù.

Nói chung, chủ doanh nghiệp, dù trả lương bằng tiền mặt cho nhân viên, cũng phải tìm hiểu và tuân thủ FLSA hoặc luật lao động của tiểu bang, hầu tránh phải trả những khoảng tiền phạt vạ và bồi thường rất lớn khi bị kiểm toán, hoặc phải đối đầu với những vụ thưa kiện dân sự vô cùng tốn kém của nhân viên.

Đối với luật thuế vụ, chủ trả lương bằng tiền mặt cho nhân viên cũng có nghĩa vụ khấu trừ thuế lợi tức của nhân viên và nộp thêm phần thuế của mình dựa trên tiền lương của nhân viên. Các loại thuế này bao gồm thuế An Sinh Xã Hội và Medicare (FICA), cũng như thuế thất nghiệp cấp liên bang và tiểu bang (FUTA/UI). Chủ cũng phải kê khai tổng số lương trả bằng tiền mặt vào Mẫu W-2 hàng năm để nhân viên khai và nộp thuế lợi tức.

Dù trả lương bằng chi phiếu (check) hay tiền mặt cho nhân viên, luật lao động và thuế vụ quy định chủ phải lưu giữ hồ sơ chi tiết và chính xác cho mỗi nhân viên, trong đó bao gồm số giờ làm việc mỗi ngày và mỗi tuần, và mức lương đã trả.

Ngoại trừ Alabama, Arkansas, Florida, Georgia, Louisiana, Mississippi, Ohio, South Dakota, và Tennessee, các tiểu bang khác tại Hoa Kỳ đều có những luật riêng biệt bắt buộc chủ phải cung cấp cho nhân viên phiếu lương hoặc bảng kê tiền lương cho mỗi kỳ trả lương (pay stub). Tại các tiểu bang có luật này, chủ trả lương bằng tiền mặt cho nhân viên cũng cần phải kèm theo “pay stub.” Tại Califonia trong thời gian gần đây, việc cung cấp “pay stub” không đúng quy định của tiểu bang là nguyên nhân hàng đầu khiến rất nhiều chủ tiệm nail và nhà hàng bị cơ quan lao động của tiểu bang phạt vạ, hoặc phải chịu nhiều tốn kém vì những vụ thưa kiện của người làm công ngày càng xảy ra nhiều hơn.

Trả lương bằng tiền mặt cho người làm việc độc lập (independent contractor)

Khi người lao động là người làm việc độc lập (independent contractor), chủ doanh nghiệp sẽ không bị luật lao động ràng buộc trong vấn đề mức lương và giờ làm việc áp dụng cho nhân viên, và cũng không cần có bảo hiểm tai nạn lao động. Về mặt thuế vụ, chủ cũng không cần khấu trừ các thứ thuế khi trả tiền công cho người làm việc độc lập, và cũng không buộc phải trả thuế FICA và FUTA/UI, mà chỉ cần cấp Mẫu 1099 cho người đó tự khai thuế.

Tuy nhiên, việc phân định người làm công là người làm việc độc lập phải dựa vào những quy định rất phức tạp và tròng tréo của Sở Thuế IRS, FLSA, và luật lao động của mỗi tiểu bang. Chủ doanh nghiệp tùy tiện phân loại người làm công là người làm việc độc lập không đúng luật sẽ bị phạt vạ rất nặng khi bị các cơ quan thuế vụ và lao động kiểm toán.

Việc trả lương bằng tiền mặt cho người làm việc độc lập không hề vi phạm luật thuế vụ nếu số tiền mặt đã trả được tổng kết đầy đủ trên Mẫu 1099 cấp cho người người làm việc độc lập tự khai thuế lợi tức hàng năm. Nếu Mẫu 1099 không phản ánh tổng số tiền mặt đã trả cho người làm việc độc lập trong năm đó, chủ doanh nghiệp sẽ gặp rắc rối khi bị IRS kiểm toán.

Trong nghề nail từ bấy lâu nay, rất nhiều thợ đòi nhận tiền mặt để tránh thuế lợi tức hoặc vì sợ mất trợ cấp của chính phủ dành cho người có thu nhập thấp. Trong khi đó, vì cần thợ, chủ tiệm nail vô tình tiếp tay cho các hình thức gian lận đó của thợ.  Điều đáng nói là chủ tiệm thường không biết rằng khi bị các cơ quan thuế vụ liên bang hoặc tiểu bang kiểm toán, thì chủ tiệm là người bị tội gian lận chứ thợ nail ít khi bị rắc rối. Và đây cũng là trường hợp của ông bà Vinh Q. Hồ và Thanh Lan Đỗ, là chủ nhân trực tiếp điều hành hơn 60 tiệm nail cao cấp hoạt động tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ dưới các thương hiệu Anthony Vince’ Nail Salons, Prive Nail Spas, và Zen Nail & Spas.

Theo bản cáo trạng của công tố liên bang nộp tại tòa liên bang Ohio ngày 26 Tháng Ba, ông Vinh và bà Thanh là cư dân Woodlands, Texas, và Liberty Township, Ohio, bị truy tố tội gian lận thuế vì đã cấp Mẫu 1099 cho thợ mà không bao gồm phần tiền mặt hơn $116 triệu trả cho thợ trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2025, gây thất thu ít nhất là $32 triệu tiền thuế của liên bang. Ông Vinh còn bị truy tố thêm tội trốn thuế vì man khai trong hồ sơ thuế lợi tức cá nhân trong những năm 2020 và 2021. Hai ông bà đã nhận tội và chờ trở lại tòa án để đối diện án tù có thể lên đến nhiều năm, đồng thời còn có thể phải bồi hoàn số $32 triệu tiền thuế cho IRS.

Cũng theo cáo trạng thì hồi Tháng Năm, 2022, bà Thanh cung cấp sai lệch những thông tin quan trọng khi các điều tra viên liên bang hỏi bà về vấn đề trả tiền mặt cho thợ, và cáo trạng cũng ghi rõ rằng hệ thống tiệm nail của ông Vinh và bà Thanh đã trả khoảng 40% số lương của thợ bằng tiền mặt mà không báo cáo trên Mẫu 1099 cấp cho thợ, với sự hiểu biết rằng điều đó được thực hiện để giúp thợ nail che giấu lợi tức trước các cơ quan thuế vụ liên bang và tiểu bang.

Thật ra thì ngoài trường hợp của ông bà vừa kể trên đây, từ lâu nay cũng có nhiều người gốc Việt chủ tiệm nail hoặc nhà hàng ở Mỹ bị truy tố và lãnh án tù vì vi phạm luật thuế và luật lao động, và sự việc này vẫn còn xảy ra trong thời gian gần đây.

Điển hình là vào Tháng Bảy, 2025, bà Tâm Phan, chủ tiệm Happy Nails tại Middleton, Wisconsin, bị truy tố tội gian lận hồ sơ thuế lợi tức cá nhân năm 2022 vì không khai đúng phần tiền mặt thu từ khách hàng của tiệm nail, khi IRS điều tra cho thấy có rất nhiều khách hàng đã trả tiền mặt cho Happy Nails trong những năm 2021 đến 2023.  Bà Tâm, sau khi nhận tội, đã bồi hoàn cho IRS $481,000 tiền thuế khai gian, nộp $30,000 tiền phạt và bị án tù giam tại nhà tù liên bang trong thời gian một năm và một ngày.

Tháng Hai, 2022, ông Andrew Huy Nguyễn, chủ nhà hàng Call It Pho và tiệm Venus Nails Spa tại Clarksville, Tennessee, nhận tội trốn thuế vì trả lương cho thợ nail và cho người làm trong nhà hàng bằng tiền mặt ít nhất là từ năm 2017 đến năm 2019. Ngay sau khi bị truy tố, ông Andrew Huy Nguyễn đồng ý bồi hoàn ngay $426,620 tiền thuế mà IRS yêu cầu phải trả, và sau đó bị án sáu tháng tù giam và $10,000 tiền phạt.

Tại California vào năm 2018, chủ tiệm Young’s Nail Spa tại Temecula bị cơ quan lao động tiểu bang phạt hơn $1.2 triệu vì các vi phạm liên quan đến lương bổng và giờ làm việc của 36 thợ nail.

Tóm lại, dù sử dụng “employee” hoặc “independent contractor,” việc trả lương bằng tiền mặt là không hề vi phạm luật pháp, miễn sao người chủ thực hiện đầy đủ bổn phận quy định theoluật thuế vụ và luật lao động.  Chủ doanh nghiệp không thể dùng tiền mặt để lách luật. Hiện nay, IRS liệt kê việc trả lương “chui” bằng tiền mặt, thường gọi là “trả lương dưới gầm bàn” (under the table) là một trong những cách phổ biến nhất mà chủ doanh nghiệp dùng để trốn thuế. Hành vi này là bất hợp pháp và có thể khiến chủ doanh nghiệp phải chịu các khoản phạt nặng nề hoặc bị tù giam.

Ngày 7 Tháng Tư vừa qua, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thành lập một bộ phận, tên là “National Fraud Enforcement Division,” có nhiệm vụ chính yếu là điều tra và truy tố các trường hợp gian lận khắp Hoa Kỳ.  Do đó, rồi đây sẽ còn nhiều chủ doanh nghiệp bị truy tố vì cố ý gian lận thuế hoặc vì xem thường hay không hiểu rõ những quy định của luật pháp.

Từ sau khi có tin chủ nhân của Anthony Vince’ Nail Salons bị truy tố và nhận tội trốn thuế, giới chủ tiệm nail gốc Việt tại Hoa Kỳ trở nên rất xôn xao, lo lắng, và càng hoang mang hơn nữa với các thứ gọi là thông tin đang lan truyền vô tội vạ trên Internet. Trong tình hình này, và để yên tâm làm ăn, không gì thực tế cho bằng tìm sự cố vấn và hướng dẫn trực tiếp của những luật sư và chuyên viên có nhiều kinh nghiệm trong các lãnh vực liên quan. Bởi vì, ngoài luật thuế vụ liên bang, chủ tiệm nail cần phải hiểu rõ và tuân hành cả FLSA và luật lao động áp dụng rất khác nhau tại từng tiểu bang. [đ.d.]


 

Thánh Giuse, mẫu gương thinh lặng – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay mình xin bạn một lời kinh đặc biệt cầu nguyện cho những người cha đang gặp khó khăn. Cho nhau và cả thế giới nhé xin cảm ơn 

Cha Vương

CN : 28/06/2026.   (t7-25-22)

Quà tặng thứ 7 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương thinh lặng

TIN MỪNG: Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn. (Cn 10:19)

SUY NIỆM: Dựa vào Kinh Thánh, chúng ta có thể nói thánh Giuse là một người trầm tĩnh và thinh lặng, một sự thinh lặng khiêm tốn, thánh thiện luôn đắm mình trong cầu nguyện để nghe được tiếng nói nhiệm mầu của Thiên Chúa, và cảm nhận sâu xa thân phận nghèo nàn, bất xứng của mình, trước sứ vụ cao cả của Thiên Chúa trao cho ngài. Điều này khiến thánh nhân chấp nhận mọi khổ nhọc xảy đến trong đời với tất cả lòng thành kính, cậy trông và tín thác nơi Giavê Thiên Chúa. Sống thinh lặng như thế, thánh Giuse đã đạt được sự tự do đích thực giải phóng ngài khỏi những ràng buộc của ý riêng, để can đảm chọn Chúa là tất cả. Sự tự do đạt tới đỉnh cao khi thánh nhân sẵn sàng hy sinh trọn vẹn ý riêng, để ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, sự thinh lặng đã giúp ngài có thể phân định ý Chúa, và cho ngài sức mạnh để thực hiện trọn vẹn lệnh truyền của Thiên Chúa trong từng biến cố cuộc đời. Xin giúp chúng con giữa những bôn ba, xô bồ của cuộc sống hôm nay, biết lắng lòng, trầm lặng, để nhìn lại bản thân và lắng nghe tiếng Chúa, sống kết hợp mật thiết với Chúa trong từng khoảnh khắc cuộc sống của chúng con. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con biết yêu thích trầm lặng, lao động chuyên chăm, bác ái cụ thể. Nhất là hướng trọn lòng trí và cuộc sống vào Đức Giêsu Kitô bằng việc Chiêm Niệm trong Cầu nguyện, Huynh Đệ và Sứ vụ. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN:

 Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

*****************************

GIUSE NGƯỜI THẦM LẶNG – Sáng Tác: Lm. Gió Xuân – Ca Sĩ: Hiền Thục.

MẤT KHÔNG PHẢI LÀ MẤT- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được!”.

“Chỉ điều gì được trao đi vì tình yêu mới thật sự thuộc về chúng ta!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một nghịch lý: có những điều càng nắm chặt càng vuột mất; nhưng càng dám hiến trao, chúng ta lại càng nhận lại nhiều hơn. Điều được trao đi vì Đức Kitô không đi vào hư vô. Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất’.

“Ai yêu cha mẹ hơn Thầy… Ai tìm giữ mạng sống mình…”. Thật ngạc nhiên khi Chúa Giêsu không đòi người môn đệ từ bỏ những điều xấu; Ngài đòi những điều tốt đẹp nhất của con người phải đứng sau Thiên Chúa. Nghịch lý của Tin Mừng nằm ở đây: chúng ta không chỉ có thể mất Thiên Chúa vì những điều xấu, nhưng còn vì những điều tốt chiếm lấy chỗ chỉ dành cho Ngài. Và khi một điều tốt chiếm chỗ Thiên Chúa, nó cũng bắt đầu chiếm luôn quyền quyết định mọi sự. Như vậy, điều đáng sợ nhất không phải là mất một điều tốt, nhưng là mất một Thiên Chúa vì những điều tốt. “Hãy đặt điều hàng đầu lên hàng đầu, và những điều thứ yếu sẽ được ban thêm; đặt điều thứ yếu lên hàng đầu, và chúng ta sẽ mất cả điều hàng đầu lẫn điều thứ yếu!” – C. S. Lewis.

Chúa Giêsu không nói: ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ được trả lại nguyên vẹn. Ngài nói: “sẽ tìm thấy được”. Động từ Hy Lạp heurēsei không chỉ là tìm lại điều đã mất, nhưng còn là khám phá một sự sống mà trước đó họ chưa từng biết. Vì thế, người môn đệ không bước vào con đường từ bỏ để nghèo đi, nhưng để trở nên phong nhiêu hơn. Điều được trao đi vì Đức Kitô không khép lại một cuộc đời; nó mở ra một chân trời mới. Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất’.

Hai minh hoạ thật đẹp cho nghịch lý ấy: Người phụ nữ Sunêm – bài đọc một – chỉ dành cho người của Chúa một căn phòng nhỏ, nhưng lại nhận được một người con; Phaolô còn đi xa hơn: ai cùng chết với Đức Kitô sẽ cùng sống “một đời sống mới” với Ngài – bài đọc hai. Đó là một quy luật của đời sống thiêng liêng: điều được trao đi vì Chúa không biến mất; nó được biến đổi và trở về trong một sự sống lớn hơn và cao cả hơn. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đang giữ rất chặt một điều gì đó: một tương quan, một dự tính, một cái tôi; thế nhưng, chỉ khi dám buông, chúng ta mới nhận ra bàn tay Chúa đang mở ra cho mình một sự sống lớn hơn.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã mất tất cả để không mất một ai. Trên thập giá, xem ra Ngài đã mất tất cả; nhưng chính khi trao hiến mạng sống, Ngài lại trở thành nguồn sống cho muôn người. Phục sinh là lời xác nhận rằng: nơi Thiên Chúa, không có tình yêu nào được trao đi mà phải mất mát. Theo Chúa Kitô là dám bước vào nghịch lý ấy. Bởi vậy, những ai dám trao đi như thế sẽ không ngừng hát lên: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!”- Thánh Vịnh đáp ca. “Tình yêu là hình thức duy nhất của sự sở hữu không dẫn đến nghèo đi!” – Gabriel Marcel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nỗi sợ mất mát; dạy con biết quảng đại hiến trao; và cho con xác tín rằng, nơi Ngài, mất không phải là mất!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIII TN, NĂM A

Ai không vác thập giá, thì không xứng với Thầy. Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.( Mt 10,37-42)

  37Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. 38Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. 39Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được. 40Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.

41“Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

42“Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” 


 

SỐNG HÔM NAY NHƯ NGÀY CUỐI CỦA CUỘC ĐỜI- Lm. Anmai, C.Ss.R.

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt!”  Câu nói của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất quen thuộc với chúng ta.

Chẳng có ai đi mà chẳng mỏi mệt cả.  Một lúc nào đó, với một biến cố nào đó ta sẽ dừng lại để nhìn lại chặng đường mình đã đi qua, nhìn lại cuộc đời của mình còn lại ở phía trước.  Dù cho cố quên đi sự thật nhưng sự thật vẫn là sự thật và sự thật đó không bao giờ chối bỏ được.

 “Con chim ở trọ cành cây, con cá ở trọ trong khe suối nguồn, tôi nay ở trọ trần gian…”  Cũng là cảm nghiệm về phận con chim, phận con cá và cả con người ở cái cõi tạm này.  Đã gọi là cõi tạm thì chúng ta biết rằng cái gì nó cũng có ngần, có hạn chứ chẳng có gì là bất hũ cả.

 Sách Giảng viên gợi lên cho ta điều này.  Giảng viên đã nói: Phù vân trên mọi phù vân: phù vân trên mọi phù vân, và mọi sự đều là phù vân.  Ích lợi gì cho con người làm lụng vất vả dưới mặt trời?  Một thế hệ qua đi, một thế hệ khác lại đến: nhưng địa cầu vẫn đứng vững muôn đời.  Mặt trời mọc lên rồi lại lặn xuống, trở về chỗ cũ nơi nó lại mọc lên.  Gió thổi về hướng nam, rồi quay về hướng bắc; nó thổi xoay chiều khắp bốn phương, rồi quay về vòng cũ.  Mọi sông ngòi đều chảy ra biển mà biển không đầy tràn: nước sông trở về chỗ cũ rồi lại chảy đi.  Muôn vật đều phải làm việc vất vả, và không ai có thể cắt nghĩa tại sao.  Mắt xem mãi cũng không chán, tai nghe hoài cũng không thỏa.  Sự đã qua là gì?  Chính nó là sự sẽ có.  Sự đã xảy ra là gì?  Chính nó là sự sẽ xảy ra.  Chẳng có chi mới lạ dưới mặt trời, cũng chẳng ai nói được rằng: “Ðây cái này mới.”  Vì nó đã có từ lâu đời trước chúng ta.  Người ta cũng chẳng còn nhớ đến tổ tiên và những con cháu sau này; cũng chẳng nhớ đến những người sẽ đến sau.

 Tất cả rồi cũng qua đi!  Thế nhưng, chẳng lẽ cuộc đời này nó vô vị và nó nhạt nhẽo như vậy sao?  Như vậy chẳng lẽ cuộc đời là vô nghĩa?

 Tùy quan niệm của mỗi người, mỗi dân tộc về cái chết.  Có những người coi chết như là hết như là chấm hết mọi sự ở cuộc đời này nhưng với niềm tin của người Kitô hữu thì chết không phải là hết nhưng chết chỉ là cái ngưỡng cửa để bước qua cõi tạm này để vào cõi vinh quang của Thiên Chúa.  Sách Khôn Ngoan vừa xác tín đến niềm tin của những ai tin vào Chúa: Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài.  Đối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt.  Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an.  Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết.  Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

 Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau.  Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời.  Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

 Vấn đề lớn là sống công chính để được Thiên Chúa ghé mắt nhìn.  Thiên Chúa ghé mắt nhìn để rồi Thiên Chúa sẽ ngự trị trong những người công chính hay nói khác đi là những người công chính ở trong cung lòng của Thiên Chúa.

 Lời hứa những ai đi theo Chúa đó không phải là lời hứa suông nhưng chính là lời cầu nguyện, lời mà Chúa Giêsu luôn tha thiết nài xin Chúa như tâm tình của Chúa Giêsu được Thánh Gioan ghi lại.  Tâm tình đó hết sức hay: “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian.  Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con.  Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa.”

 Thật tuyệt vời!  Những người mà Thiên Chúa trao cho Chúa Giêsu rồi thì Chúa Giêsu muốn rằng khi mà Chúa Giêsu ở đâu thì những người mà Thiên Chúa Cha trao cũng ở đó với Ngài.

 Những ai được Thiên Chúa tuyển chọn nghĩa là được chịu phép rửa, phép thanh tẩy trong Đức Giêsu nghĩa là chịu phép rửa trong sự chết của Chúa Giêsu thì cùng chịu mai táng với Chúa và rồi như lời Thánh Phao lô nói: “Để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.  Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

 Niềm tin của người Kitô hữu là như vậy.

Chẳng ai lột da để sống đời cả!

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi, *

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,

Ngài phán bảo:

“Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!”

 Ngàn năm Chúa kể là gì,

tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,

khác nào một trống canh thôi!

 Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai, *

nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.  (Tv 89)

 Ngày mỗi ngày qua đi lại là một ngày mà ta gần với Chúa hơn.  Đó là câu nói thường ngày mà người ta vẫn thường nói để diễn tả niềm tin sau cái chết.  Thế nhưng, muốn gần Chúa thì phải sống cuộc đời công chính như lời sách Khôn Ngoan đã nói.  Và, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhớ các môn đệ cũng những người theo Chúa: Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20).

 Công chính là sống một đời trong sạch không có gì vương bẩn trước mặt Chúa.

 Này là dòng dõi những người tìm Chúa, đây là những người mong bệ kiến Ngài, một đời lòng ngay không hề gian dối… (Tv 23)

 Vẫn là con người mang trong mình phận con người yếu đuối và rất cần ơn của Chúa để sống trong cuộc lữ hành trần thế này.

 Hôm nay, nhớ lại những hình ảnh thân thương của ông bà cha mẹ, những người thân thương cũng nhắc nhớ cho phận người ở trọ của chúng ta.  Để được hưởng nhan Thánh Chúa ắt hẳn phải sống công chính, phải sống trong sạch thì mới được hưởng nhan thánh Chúa như Chúa đã nói.

 Cuộc đời này rất vắn và rất vội.  Hãy sống ngày hôm nay như là ngày cuối đời của mình và hãy sống hết sức công chính để đến giờ Chúa gọi ta thưa vâng để ra trước tòa của Chúa và hầu mong được hưởng nhan thánh của Ngài như lòng ta hằng mong ước.

 Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

From: Langthangchieutim