Đường Con Theo Chúa – Trường Sinh (MV)
Một trái tim bình thường… ngưng đập – Truyen ngan HAY QUA’
Những cái Vĩ Đại trong cuộc đời nầy.
Các bạn,
Tôi đọc bài viết nầy ba lần, lần nào cũng có cảm xúc như nhau.Khi đọc lần thứ hai xong, tôi có ý định nên phổ biến cho nhiều người đọc.
Nhân loại có nhiều trái tim vĩ đại, không phải vì show up, mà thường âm thầm. Chính vì những trái tim âm thầm đó, nên tôi giặt khăn lau cho thật sạch, cẩn thận lau những tấm gương sáng đó.
Trước những trái tim vĩ đại đó, tôi xin mời các bạn đọc bài tôi poste sau đây, để các bạn “đọc chơi”. Riêng tôi, tôi không thể có lời tán dương hay phê bình gì cả. Chúng ta “nhỏ bé” quá phải không các bạn.
Tôi không quên cám ơn người đã cho tôi được đọc bài viết nầy./
Trân trọng
******
Một trái tim bình thường… ngưng đập – Truyen ngan HAY QUA’
Lúc 2 giờ 14 phút sáng, rạng sáng thứ ba tuần trước, trái tim một con người vĩ đại nhất bang Ohio đã ngừng đập.
Và suốt sáu tiếng đồng hồ, chẳng một ai hay biết cho đến sáng hôm sau khi trường mở cửa. Người ta tìm thấy ông nằm úp mặt trên sàn nhựa lạnh của trường trung học Jefferson, ngay trước căn-tin. Chiếc máy lau sàn công nghiệp vẫn còn chạy, quay vòng vòng một cách vô định trước dãy tủ khóa.
Ông tên là Elias Vance, 72 tuổi.
Với ban giám hiệu, ông chỉ là một khoản chi trong ngân sách.Với giáo viên, ông là một ông già vô hình trong bộ đồ xám, chuyên thông cống và lau nhà vệ sinh.
Với học sinh, ông chỉ là người đàn ông bước đi cứng nhắc, luôn đội chiếc mũ của cựu binh chiến tranh Việt Nam kéo sụp xuống trán.Báo cáo của cảnh sát ghi: “Tử vong do nguyên nhân tự nhiên.”
Bác sĩ pháp y kết luận: “Ngừng tim cấp tính.”
Nhưng nếu hôm đó bạn đứng dưới cơn mưa lạnh buốt, trước một nhà nguyện nhỏ, giữa hơn bốn trăm học sinh đang khóc, bạn sẽ được nghe một câu chuyện hoàn toàn khác.
Người ta sẽ nói với bạn rằng: Ông Elias chết vì ông quá đơn độc.
Sáng thứ Tư, hiệu trưởng triệu tập một buổi họp khẩn. Không khí rất “hành chính”: thông báo cái chết, dành một “phút mặc niệm” cho có lệ, rồi cho học sinh về lớp.
“Các em học sinh,” thầy hiệu trưởng nói, nhìn vào tờ giấy, “chúng tôi rất tiếc phải thông báo rằng nhân viên vệ sinh ca đêm của trường, ông Vance, đã qua đời tối qua. Nhà trường cảm ơn những đóng góp của ông. Xin các em cúi đầu trong mười giây.”
Nhà thi đấu im lặng. Cái im lặng rỗng không, chỉ nghe tiếng máy sưởi ù ù.
Rồi từ hàng ghế cuối – nơi thường dành cho mấy đứa cá biệt – một chiếc ghế bị đẩy mạnh ra sau.
Một học sinh lớp 12 đứng dậy. Tên là Jason. Cầu thủ bóng bầu dục chính thức, cao gần mét chín, to như hộ pháp.Nó đang khóc. Khóc nức nở. Không giấu giếm.
Hiệu trưởng cau mày:“Jason, em ngồi xuống đi.”
“Ông ấy không chỉ là lao công,” Jason bật lên, giọng vỡ vụn.“Ông Elias đã dạy em toán giải tích.”
Giáo viên xì xào. Lao công thì biết gì giải tích?
Jason run tay:
“Em sắp mất học bổng. Ba em làm hai ca ở kho hàng, không giúp được gì. Em rớt ba bài kiểm tra. Tối đó, 7 giờ, em ngồi khóc trong phòng thay đồ, nghĩ đời mình xong rồi. Ông Elias bước vào để đổ rác.”
Jason lau mũi bằng tay áo.
“Ông thấy sách của em. Không cười. Ông ngồi xuống… và ngồi với em tới 10 giờ tối. Mỗi tối. Suốt ba tháng. Ông giải thích giới hạn, tích phân còn dễ hiểu hơn trong sách rất nhiều. Nhờ ông mà em mới được vào đại học.”
Chưa kịp phản ứng, một cô gái hàng ghế đầu đứng dậy. Là Maya. Cô bé ít nói, luôn mặc áo rộng, cúi đầu.
“Ông ấy trả tiền ăn trưa cho em,” cô nói nhỏ.
Rồi cô quay về phía mọi người:
“Mẹ em bị sa thải. Giá cả tăng quá nhanh. Nhà em không đủ tiền. Em nhịn ăn. Ông Elias bắt gặp em uống nước trong nhà vệ sinh cho đỡ khát.”
“Hôm sau, ông đưa cho em một thẻ ăn trưa trả trước. Ông nói ‘nhặt được’. Mỗi thứ Hai ông tự nạp tiền vào đó. Ông nói: ‘Đói thì không học được đâu con gái à.”
Rồi một học sinh khác đứng lên.
Rồi nữa.Rồi nữa…
“Ông hàn lại kính cho em trong phòng lò sưởi vì em sợ nói với gia đình nuôi là lại làm gãy kính.”
“Ông đưa em ra xe mỗi tối tập bóng chuyền vì bãi đậu xe tối làm em sợ.”
“Em tâm sự với ông chuyện mình là đồng tính trước khi dám nói với ba mẹ. Ông chỉ gật đầu, đập tay và nói: ‘Can đảm là điều tốt. Cứ can đảm đi con.’
Rồi một cô gái tóc nhuộm đen đứng lên ở cuối phòng: “Ông ấy đã ngăn em uống cả lọ thuốc.”
Không gian đông cứng.
“Em ở trong toilet. Thuốc đã ở trong tay. Ông thấy đôi giày em dưới cửa. Ông không gọi văn phòng, không gọi cảnh sát. Ông chỉ ngồi xuống sàn bẩn và kể cho em nghe chuyện chiến tranh Việt Nam.”
“Ông kể năm 1968 trong rừng, ông từng muốn bỏ cuộc. Ông nói chuyện tới khi chuông reo. Ông đợi em mở cửa và đưa thuốc cho ông. Ông đã cứu mạng em.”
Buổi họp kết thúc khi mười giây mặc niệm đã biến thành một tiếng đồng hồ kể chuyện.
Sau đó, ban giám hiệu xuống tầng hầm mở tủ đồ của ông. Một căn phòng nhỏ, không cửa sổ, cạnh nồi hơi. Họ nghĩ sẽ thấy hóa chất, đồ lau dọn.
Nhưng không. Họ thấy một nơi cất giữ yêu thương:
Thực phẩm dự trữ. Bánh ngũ cốc. Bơ đậu phộng. Đồ vệ sinh cho các em gái nghèo. Áo khoác mùa đông mua ở tiệm đồ cũ, gấp gọn, thơm mùi lavender. Sách luyện thi đại học, gạch chân chi chít.
Và một cuốn sổ tay cũ. Là danh sách những đứa trẻ.
“4/11: Tyler cần ủng size 43.”
“12/11: Sarah khóc trong thư viện.”
“3/12: Jason tiến bộ toán, cần tự tin hơn.”
Trong khi cả thế giới nhìn chằm chằm vào điện thoại, Elias chỉ quan sát con người.
Ba ngày sau, tang lễ diễn ra.
Con gái ông, Brenda, từ Chicago về. Ăn mặc sang trọng, lạc lõng. Cô nghĩ sẽ chỉ có vài người dự.
“Ông ấy xa cách lắm. Suốt ngày chỉ biết làm việc. Em chưa bao giờ hiểu vì sao ông chọn công việc lau sàn nhà.”
Rồi cửa nhà thờ mở ra.Người đứng kín cả con phố.
Học sinh. Bác sĩ. Thợ máy. Luật sư. Cựu binh…
Một người đàn ông nói:
“Bố cô bắt gặp tôi trộm đồ. Ông mua cho tôi thức ăn và hỏi vì sao tôi phải làm vậy. Giờ tôi sắp tốt nghiệp luật sư.”
Một cô gái bế em bé:
“16 tuổi em mang thai. Ai cũng nói đời em xong rồi. Ông Elias nói: ‘Con nít là phước đó con, không phải gánh nặng đâu.’ Ông mua xe nôi cho em bằng tiền tăng ca.”
Brenda sụp xuống.“Em không biết… Em cứ nghĩ ông chỉ là lao công.”
Jason đỡ cô:
“Không. Ông là ông nội của tất cả những đứa trẻ thiếu ông nội.”
Giờ đây, thư viện trường mang tên Elias Vance.
Học sinh thay nhau đến mộ ông, để lại học bạ, giấy báo đậu đại học, bánh ngũ cốc.
Một mảnh giấy dán trên bia mộ ghi:
“Ông đã thấy chúng con khi chúng con vô hình. Giờ chúng con biết ông rồi. Nghỉ ngơi nhé, ông.”
Ở đâu đó quanh bạn, cũng có một Elias.
Đừng chờ đến đám tang mới nhận ra họ.
Vì đôi khi, những tâm hồn lớn nhất là những trái tim đập lặng lẽ trong bóng tối .
From: Helen Huong Nguyen
KHÁT VỌNG CỦA CON NGƯỜI – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(Suy niệm Tin mừng Gioan (4, 5-42) Chúa nhật III Mùa Chay)
Không gì trên đời lấp đầy khát vọng của con người .
Con người có nhiều khao khát: khát tiền, khát quyền lực, khát danh vọng, khát hạnh phúc, khát lạc thú…
Nhưng không gì trên đời có thể lấp đầy những khát vọng đó.
Chưa có tiền thì khao khát có được ít tiền. Có tiền rồi thì muốn có nhiều hơn và cứ thế mãi không dừng.
Chưa có quyền thì khao khát cho có, có rồi thì khát được nhiều quyền hơn… không bao giờ no thoả.
Vì thế, ông Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia người Đức cho rằng: “Những lạc thú (như ma túy, thuốc lá, rượu bia… chẳng hạn) mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm nhỏ bé bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói lúc này, rồi lát sau lại đói.”
Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng (như ham muốn xác thịt chẳng hạn) không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao – thoả mãn, thoả mãn – khát khao… cứ tiếp diễn mãi không cùng”, càng về sau lại càng tăng “đô” hơn. Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình.
Người phụ nữ xứ Sa-ma-ri trong Tin mừng hôm nay (Ga 4, 5-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải lần lượt chia tay với cả năm, để mưu tìm hạnh phúc với người thứ sáu. Rốt cuộc chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời. Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi lấy nước. Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp…
Chính vì thế nên Chúa Giê-su khẳng định với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại.” Với những lời này, Chúa Giê-su muốn cho ta biết không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.
Chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy khát vọng con người
Xưa kia, tâm hồn của Augustinô cũng bị giày vò bởi nhiều khao khát, nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy con tim khao khát của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mô-ni-ca, Augustinô mới khám phá Thiên Chúa là Nguồn Suối hạnh phúc vô tận, đáp ứng khát vọng của ngài và làm cho tâm hồn ngài dạt dào niềm vui. Bấy giờ lòng đầy hoan lạc, Augustinô thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”
Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy. Quả đúng như Lời Chúa Giê-su nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Gioan 4, 13-14)
Lạy Chúa Giê-su,
Không có gì trên đời có thể lấp đầy khát vọng của con người. Vì thế, xin cho chúng con đừng mải mê, đua tranh tìm kiếm lạc thú và hạnh phúc chóng qua đời này, nhưng biết không ngừng tìm kiếm và khám phá Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực mang lại hoan lạc và sự sống vĩnh cửu cho chúng con.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
From: ngocnga_12 & NguyenNThu
*************************************
Tin mừng Gioan 4, 5-14
Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống! “8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? ” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.10 Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.”11 Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”13 Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
Tĩnh Tâm Mùa Chay Ngày 1: “HÃY TRỞ VỀ” – Phần 2 | Cha Phạm Quang Hồng thuyết giảng (2/23/2026)
Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…
Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.
Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?
Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.
Cũng là rời quê hương.
Cũng là sống xa gia đình.
Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.
Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?
Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?
Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.
Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.
Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.
Khoảng cách với gia đình.
Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.
Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.
Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.
Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?
Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.
Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.
Không gửi cũng không phải sai.
Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.
Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.
Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.
Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất
ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.
“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” – Phanxicô.
Kính thưa Anh Chị em,
Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.
Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” – Bênêđictô XVI.
Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” – Phanxicô.
Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.
Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ – bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.
Anh Chị em,
Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” – Henri Nouwen.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
****************************
Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay
Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43.45-46
33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?
43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”
45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ.
CHẶNG THỨ 14: Đức Giêsu được chôn táng trong mộ- Cha Vương
Suy Niệm Mùa Chay: Tiền Bạc & Quyền Lực – Nguyễn Trung Tây
Tôi gặp em ở Cali.
Em con gái, lớn lên bên Mỹ, học sinh năm cuối trường đại học lừng danh Berkeley của Mỹ. Em mắt nhìn thẳng về phía trước, tự tin, nói tiếng Anh ròn tan. Gặp tôi, em cười vui tươi, nói tiếng Việt liến thoắng. Người anh ruột cũng là bạn tôi đang lái xe, bữa đó uống mật gấu dám mở miệng tố cô em,
— Ông biết chi không, hắn con gái mà liều lắm. Tháng tới, ra trường, hắn tham gia Peace Corps “bỏ” đi tuốt luốt sang Phi Châu làm việc ở Congo tới hai năm lận…
Nghe lọt lỗ tai về tương lai em đang hành trang chuẩn bị lên đường, tôi vớ vẩn mở lời “dụ” em…đi tu. Em không nói chi, nhưng lắc lắc đầu, môi hồng ngậm chặc, mái tóc đen lay láy bay bay trong gió. Tôi nói lơ lửng, điều tra kiểu gậy mọt,
— Vậy chắc sẽ lấy chồng…
Thật bất ngờ, nghe tôi ăn nói lơ lửng, em thôi ngậm đôi môi hồng đào, mở miệng cự nự tôi ngay tại chỗ,
— Tại sao phải lấy chồng… Bộ cứ con gái thì phải lấy chồng hay sao?
Tôi o tròn miệng…!!! Không biết nói chi. Thi cũng đúng, bộ cứ con gái thì phải lấy chồng hay sao?
Gặp em tự tin và thông minh quá, tôi tự nhiên khớp. Thấy tôi yên lặng, em đổi đề tài mời tôi giúp cấm phòng cuối tuần cho tuổi trẻ. Tới phiên tôi ăn miếng trả miếng, làm bộ le lưỡi, lắc đầu (mà chắc cũng là sự thật một nửa),
— Thôi đi! Tuổi trẻ tụi mi ngày hôm nay nhiều điều khó hiểu thấy mồ. Ai mà biết tụi mi thích cái chi để mà nói!
Em nhìn tôi, nói ngay trong tiếng Anh, rõ từng âm,
— Cha ơi! Dễ òm, quyền lực (power) và tiền bạc (money). Có thế thôi mà cha cũng không biết.
Tôi trợn mắt! Tưởng cái gì, quyền lực và tiền bạc ai mà chẳng thích, chứ cứ gì phải là tuổi trẻ…
Thì đấy, người Việt Nam ai chẳng biết câu vè không biết xuất hiện khi nào:
Tiền là tiên…,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khoẻ của tuổi già.
Câu truyện Phúc Âm (9:30-37) viết bởi thánh Mark của Chúa Nhật 25B cũng đã từng khẳng định về sức mạnh của quyền lực đấy thôi.
Lần đó trên con đường xa xôi từ núi Tabor biến hình về lại Galilee, một lần nữa Đức Giêsu lại tiên đoán về tương lai, “Con Người sẽ phải chết, sau ba ngày mới sống lại…” (Mk 9:31). Thầy “lạc đề” như vậy, hỏi sao mà các tông đồ không lạc đường mùa chay dài dài… Đời đang tươi vui như những chú sư tử no mồi trong sa mạc Trung Đông kia mà, bởi đi theo Thầy, cuộc đời hứa hẹn lầu son gác tiá. Nếu Thầy có khả năng hóa bánh ra nhiều, chữa lành người bị quỷ ám, hồi sinh người đã chết, tại sao lại không đi theo. Đấng Thiên Sai mang tầm vóc vĩ đại tương tự hoàng đế David được tiên báo từ lâu, người có khả năng khôi phục lại đất nước Do Thái ra khỏi ách đô hộ của đế quốc La Mã giờ đây còn ai khác, ngoài Thầy… Làm chi khi sở hữu vương quyền, uy lực trong tay, Thầy lại không phân chia đồng đều cho các môn đệ, những người đã từng bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy. Khi quyền lực nắm được trong tay, thì làm gì mà không có tiền bạc, mà không chỉ là tiền xu hay là vớ vẩn hai đồng tiền kẽm của bà góa nghèo đâu nhé, mà tiền trăm tiền bọc, toàn là tiền vàng, những đồng tiền sáng lấp lánh như truyện cổ tích ngàn lẻ một đêm.
Nhưng khổ! Không phải chỉ một lần, mà tới ba lần lận, ba lần là đúng cả ba, Thầy cứ mở miệng tiên đoán “vớ vẩn”: Con Người sẽ bị các thầy thượng tế giết đi… Giời ạ! Không, đó không phải là câu chuyện mà các môn đệ muốn nghe muốn bàn. Bởi thế, lời Thầy lọt vô tai này, lại chạy qua lỗ tai kia, rồi đi thông thốc thẳng luôn ra ngoài, bởi Thầy ơi, chúng con đang bàn chuyện riêng tư. Mà tưởng là chuyện gì đại sự! Hóa ra, theo như thánh sử Mark, đề tài mấy người môn đệ hăng say thảo luận cũng vẫn chỉ liên quan đến hai chữ quyền lực (Mk 9:33-34).
Chưa đủ, ngay vừa sau khi Thầy tiên đoán lần thứ ba về cuộc thương khó, hai anh em James và John vẫn cứ tiếp tục lạc đường, lần này họ nhanh chân chạy đến tỉ tê với Đức Giêsu,
— Mai này khi Thầy vinh quang, xin cho anh em chúng con người bên tay trái người bên tay hữu nhé (Mark 10:37).
Vậy là ăn chắc. Đức Giêsu mà gật đầu thì thật đúng là đời nở ngàn vạn viên đá lót đường toàn bằng vàng ròng.
Mà thiết nghĩ hai ngàn năm trước và hai ngàn năm sau, cuộc đời nhân thế có lẽ cũng vẫn chưa có gì khác, cũng vẫn chỉ xoay quanh đề tài, quyền lực và tiền bạc.
Quyền Lực
Chẳng lạ chi, trong sa mạc Satan đã từng đem Đức Giêsu lên ngọn núi cao, chỉ cho Người thấy tất cả các thế gian, vinh hoa lợi lộc của trần gian, rồi nói: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi” (Matt 4:8-9).
Khéo quá! Thật đúng là Satan.
Có một số người vẫn cứ hỏi tại sao tôi đi tu. Một câu hỏi thật thà, mà nếu trả lời thành thực tôi lại hóa ra mắc kẹt. Nói dối thì không dám, nói thật thì ngượng đến chín người. Chẳng lẽ bây giờ lại kể rằng, cái hồi mới lớn, mười ba mười bốn, tôi thấy cha xứ của tôi quyền uy quá. Ngài cao lớn uy nghi, bởi ngài là chánh xứ và còn là hạt trưởng của hạt Chí Hòa rộng lớn mênh mông. Chiều chiều ngài mặc áo chùng đen, chắp tay sau lưng đi trên đường thăm hỏi dân tình. Giáo dân thấy ngài đều lễ phép một niềm. Mấy ông thanh niên bướng bỉnh, trộm xoài bẻ chuối, phá phách nhất nhì trong xứ thấy bóng ngài cũng im re. Hỏi sao thằng bé đang lớn không mê áo chùng đen. Cho nên tôi tuổi mười bẩy mới năn nỉ nhờ Sơ Mến Thánh Giá mang lên gặp Cha Giám Đốc Tiểu Chủng Viện Sài Gòn.
Mà cuộc đời ai chẳng ham quyền lực, bởi thiên hạ, ai chẳng phù thịnh, có ai lại phù suy. Người có danh có phận trong thiên hạ, đi cửa nào mà lại không lọt. Còn là khố rách cùng đinh, cầm mõ đi rao thì cầm chắc là hỏng. Ai mà trọng vọng? Ai mà nể vì? Có miếng xôi nguội ở dưới góc bếp đình làng người ta cũng chẳng buồn cho. Học trò ê a ba chữ nhất tự vi sư, ai liếc nhìn. Con gái trong làng bĩu môi chê, “Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. Nhưng cứ thử đậu Quan Trạng mà coi, thôn làng mấy tổng chẳng vác võng ra đón tận từ đầu đường. Lúc đó khối cô con gái thắt đáy lưng ong tóc quấn đuôi gà thập thò trước cửa. Trong hãng điện tử vùng thung lũng, chỉ là Assembler hàn chì tháo ráp vớ vẩn mấy cái board điện tử, ai thèm nhớ tên. Nhưng cứ thử lên làm cai làm xếp dưới tay mười mấy người thợ mà coi, thiên hạ nhìn mình khác liền. Làm gì mà không một điều “Yes, sir”, hai điều cũng “Yes, sir”. Mà nếu Bụt thương tình cho nhảy lên làm Kỹ Sư thắt càvạt, ngồi một mình một cái văn phòng cubicle thì lại càng oai ra phết. Đời tự nhiên hóa ra mùa xuân rực rỡ sắc mầu.
Tiền Bạc
Còn tiền bạc, thì thôi, khỏi nói. Tiền mà, ai lại chẳng thích, chắc chỉ trừ người mắc bệnh tâm thần. Phố tôi thuả xưa, có người thanh niên tâm thần, đã từng đứng ngay ngã ba lấy tiền bố mẹ phát tặng không cho thiên hạ. Tôi, con nít, nhanh tay vớ được tờ năm đồng màu xanh con chim phượng hoàng. Tôi cất tờ giấy năm đồng dưới gối, sáng hôm sau mua được gói xôi đậu phộng, có rắc mè. Tiền còn dư, tôi mua truyện tranh Xì Trum, Lữ Hân Phi Lục! Đời tự nhiên rộn ràng bởi tờ giấy năm đồng thuả đó.
Bạn tôi, Kỹ sư điện, hồi xưa bị hãng Intel sa thải, nằm ế dài trong nhà không có đồng xu. Bây giờ Trời thương, mở tiệm móng tay, làm ăn phát đạt, khách khứa tấp nập ở cửa tiệm, chỗ này manicure, chỗ kia pedicure, bàn bên này cô thợ đang làm full set cho một bà, bàn bên kia anh thợ đang thay móng cho một cô… Tiền đếm mỏi cả tay… Tự nhiên thiên hạ nhìn anh với ánh mắt khác liền. Thì cũng chỉ vì anh có tiền.
Mà lạ lắm, những người lớn tuổi, dù có là mắt kém, thông manh lông quặm, tai điếc đặc ra, nhưng tiền vẫn không đếm lộn. Ai mượn bao nhiêu, thiếu nợ ngày nào, các cụ vẫn nhớ rõ ràng và nhớ chính xác. Chẳng trách chi, người ta cứ nói, “Đồng tiền nó liền khúc ruột”. Đụng tới khúc ruột, ai mà chẳng đau chẳng xót.
Cho nên khi người thanh niên đến gặp Đức Giêsu xin Ngài chỉ dẫn phương cách để được sống đời đời. Đức Giêsu nhắc nhở người thanh niên bộ luật Mười Điều Răn. Người thanh niên xác định với Đức Giêsu tất cả những điều đó, thưa Thầy con đã tuân giữ từ thuả nhỏ. Nghe nói thế, Đức Giêsu yêu mến nhìn người thanh niên đề nghị anh về nhà bán hết gia sản, tặng cho người nghèo khó, rồi quay lại làm môn đệ Ngài. Nghe tới đây, người thanh niên sa sầm nét mặt. Lời đề nghị của Đức Giêsu đã trở nên muối mặn xót xa khúc ruột người đối diện. Cho nên anh ta bỏ đi, bởi anh chính là người giàu có (Mark 10:17-22).
Ơi tiền!
Tình Yêu Độ Lượng
Ông bà mình dạy, “Miệng kẻ sang có gang có thép.”
Hóa ra đồng tiền là thước đo quyền lực của một người.
Có thời đàn ông Đài Loan không có khả năng lập gia đình với người bản xứ, mang tiền đô la sang bên Việt Nam chọn những cô gái đẹp nhất trong mấy làng mang về nhà làm vợ. Mấy ngàn tờ giấy đô la xanh tự nhiên hóa ra gang ra thép. Miệng kẻ có đô có quyền có vợ.
Nhưng có quyền lực, có tiền bạc, có vợ đẹp, như vậy đã đủ để có hạnh phúc hay chưa?
Người thanh niên trong câu truyện Tin Mừng chẳng phải có tiền, nhiều tiền là khác, nhưng anh vẫn phải lên đường tìm kiếm chân lý sống đời đời. Nói một cách khác, anh chàng vẫn còn cảm thấy chưa đủ, vẫn trống vắng với hạnh phúc. Lắng nghe lời yêu cầu, Đức Giêsu chỉ anh ta một chén thuốc đắng, uống ba lần: lần thứ nhất, sống từ bỏ, lần thứ hai, sống bác ái, và lần thứ ba, sống dấn thân.
Chuyện người thanh niên giầu có khẳng định một điều nếu không song hành đi đôi với tình yêu, cả hai, quyền lực và tiền bạc sẽ như kiềng hai chân rất là chênh vênh, do đó vẫn không trọn vẹn để có thể mang lại hạnh phúc cho bất cứ người nào đang sở hữu nó.
Nếu nói như vậy, thì thôi, bây giờ tôi sẽ xin thôi quyền lực và tiền bạc để có hạnh phúc hay sao?
Cũng không phải là như vậy.
Quyền lực và tiền bạc như tia nắng mặt trời. Để tự nhiên một mình, không thấy chi ngoài ánh sáng. Nhưng chiếu qua lăng kiếng, tia nắng mặt trời không mầu hóa ra cầu vồng bẩy mầu đẹp rực rỡ xôn xao. Cũng thế, quyền lực và tiền bạc được sử dụng bởi tình yêu nhân loại, diễn tả qua tấm lòng bác ái, hành xử qua tinh thần phục vụ, thực thi với đời sống dấn thân, quyền lực và tình yêu đó vươn mình trở nên hoàn hảo; khi đó quyền lực và tiền bạc trở nên cầu vồng bẩy mầu mang lại hạnh phúc cho người sở hữu và ngay cả những người anh chị em sống chung quanh.
Chẳng lạ chi trong thư gửi tới công đồng Corinth, thánh Phaolô đã từng nói những lời bất hủ về tình yêu tha nhân,
Nếu như tôi có nói được các thứ tiếng
của loài người và của các thiên thần đi nữa,
mà không có đức mến,
thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,
chũm chọe xoang xoảng (1 Cor 13:2—3).
Cô thiếu nữ Việt Nam của đại học Berkeley tôi gặp, cũng bình thường như bao nhiêu người khác, cũng thích quyền lực và tiền bạc. Nhưng cô lại khác nhiều người lắm. Mà cái nét đặc biệt khiến cô khác người chính bởi cô sở hữu được tình yêu độ lượng. Chẳng lạ chi, cô đã dám từ bỏ tất cả, gia đình thân yêu, đời sống sung túc lên đường sang tận Phi Châu sống đời phục vụ. Những mẫu gương Kitô hữu như thế, mỗi lần nghĩ tới em, cô gái Việt Nam của đại học Berkeley, tôi vẫn nghiêng mình kính phục.
https://vietcatholic.net/News/Html/300333.htm
NGUỒN SUỐI TRƯỜNG SINH – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Nước là sự sống. Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai. Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước. Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh. Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này. Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời. Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.” Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.
Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước. Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu. Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.
Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a. Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a. Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ. Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo. Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su. Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.
Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người. Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn. Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.
Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng. Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục. Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng. Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc. Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng. Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta. Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh. Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.” Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa. Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.
Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào. Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.
Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thanh tẩy. Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống. Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô. Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”
Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn. Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân. Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
Sr. Maria Hồng Quế | TĨNH TÂM MÙA CHAY | NT. Chúa Kitô Cứu Thế
MỘT PHẦN ĐỊNH MỆNH-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”.
“Không có sứ giả nào, cũng không có thông điệp nào có thể thay thế được người nghèo mà chúng ta gặp trên hành trình cuộc đời, bởi trong họ – những “Nhà Tạm di động” của Ngài – chính Chúa Giêsu đến gặp chúng ta!” – Phanxicô.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay cho thấy tha nhân là những “Nhà Tạm di động” của Chúa Kitô. Họ không phải là ‘một phần cảnh quan’ của cuộc sống chúng ta, nhưng là ‘một phần định mệnh’ của bạn và tôi!
Giêrêmia nhắc một sự thật không dễ nghe: “Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”. Đời sống không trôi qua vô nghĩa; từng chọn lựa, từng cái quay lưng, từng sự dửng dưng đều có trọng lượng vĩnh cửu. Như vậy, ai sống bác ái yêu thương, người ấy làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng họ nương thân, “Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca. Nhưng tin tưởng nơi Chúa không chỉ là hướng mắt lên trời; đó còn là cúi xuống trước những người đang đói, đang khát, đang nằm bên hè nhà; không chỉ đói cơm, nhưng còn đói cả “bánh Giêsu” và Tin Mừng của Ngài. “Không ai lên thiên đàng mà không có một lá thư giới thiệu từ những người nghèo!” – John Wooden.
Trái với những ai nương thân nơi Chúa, Tin Mừng thuật chuyện một phú hộ ẩn nương nơi của cải. Ông không bóc lột, không hành hạ ai; ông chỉ sống đời mình, mặc đẹp, ăn ngon, hưởng thụ. Trước cổng nhà ông, Lazarô nằm đó – không phải xa lạ, nhưng rất cụ thể. Thế mà với ông, Lazarô chỉ như một chậu cảnh, một bóng dáng quen thuộc không cần bận tâm. Ông không ghét Lazarô; ông chỉ không coi anh là điều gì liên quan đến mình. Và chính ở đó, ông đã chạm đến bi kịch: loại khỏi đời mình ‘một phần định mệnh!’.
Tội của người phú hộ là không coi Lazarô như một con người; với ông, Lazarô chỉ là một phần cảnh quan trang trí sân vườn. Một người mù đã từng nói, “Tôi thấy người ta đi đi lại lại như cây cối!”. Đúng thế, nhà phú hộ xem ra chỉ thấy Lazarô ‘ngang mức cây cối!’. “Sự dửng dưng hạ thấp con người thành sự vật!” – Phanxicô.
Anh Chị em,
Chúa Kitô không đứng trên cao nhìn nhân loại như một “cảnh quan” tội lỗi. Ngài không cứu chúng ta từ khoảng cách an toàn, nhưng đi xuống tận cùng phận người, chạm đến những Lazarô của lịch sử và cuối cùng trở thành một Lazarô bị loại trừ bên ngoài thành. Trên thập giá, Ngài lật ngược mọi tính toán: ai cúi xuống với người nghèo là đang cúi xuống với Ngài; ai khép lòng trước họ là khép lòng trước chính Con Thiên Chúa. Vì thế, người nghèo không phải là một chi tiết phụ của cuộc đời chúng ta; họ là ‘một phần định mệnh’, nơi vận mệnh của chúng ta được quyết định. Bởi nơi họ, Chúa Kitô chờ được nhận ra – và nơi họ, định mệnh đời bạn và tôi được viết nên. “Người nghèo không phải là một vấn đề cần giải quyết, nhưng là một mầu nhiệm cần bước vào!” – Henri Nouwen.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con biết, con luôn nợ người nghèo, họ là ‘một phần định mệnh’ của con. Cho con biết chia sẻ khi còn kịp, vì con sẽ chỉ mang theo những gì con đã cho đi!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
********************************************
Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Mùa Chay
Con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 16,19-31
19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây : “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. 20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, 21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. 22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.
23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ. 24 Bấy giờ ông ta kêu lên : ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát ; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !’ 25 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Con ơi, hãy nhớ lại : suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. 26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.’
27 “Ông nhà giàu nói : ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, 28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này !’ 29 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.’ 30 Ông nhà giàu nói : ‘Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.’ 31 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”

