Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

 NHỮNG BÀI POST HAYKim  Phan

 Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

Ngô Viết Thụ sinh ngày 17 tháng 9 năm 1926 tại làng Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy (Thừa Thiên – Huế), lập gia đình với cô Võ Thị Cơ, một thiếu nữ ở Đà Lạt, vào năm 1948, khi theo học Trường Cao đẳng Kiến trúc tại Đà Lạt.

Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, con trai kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, kể: “Hơn 50 năm trước, có một tân sinh viên nghèo đi từ Huế vào Đà Lạt. Anh học trò nghèo tay trắng, xách vali vào Đà Lạt để theo học tại Trường Cao đẳng Kiến trúc. Người đầu tiên anh gặp là một nữ sinh trung học đệ nhị cấp: “Cô ơi, cho tui hỏi đường tới nhà trọ này”. Nghe chỉ đường xong, anh còn hỏi thêm một câu: “Gạo một ký bao nhiêu?”, cô gái giơ hai ngón tay: “Hai đồng”.

Sau đó, vì học giỏi, anh được giới thiệu dạy kèm cho con gái ông bà ở trung tâm thành phố. Cậu sinh viên trở thành gia sư cho cô gái và các em của cô, rồi trở nên thân thiết với gia đình. Nhiều năm sau, họ thành vợ chồng.

Đó là câu chuyện của cha mẹ tôi. Mỗi khi giận nhau, hai ông bà giao hẹn giơ hai ngón tay lên để làm hòa, không giận nữa. Hình ảnh mà tôi nhớ nhất là những đêm cha mẹ hàn huyên với nhau đến 2, 3 giờ sáng. Có lẽ tình yêu này quá lớn, nên sau khi mẹ mất, cha tôi bị sốc lớn và ở vậy cho đến khi qua đời.

Cha tôi, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, sau này có lần nói: ông ráng học thật giỏi để xứng đáng với tình cảm của mẹ tôi. Sau khi du học Pháp về, một trong những nơi đầu tiên ông quay lại để giúp xây dựng chính là Đà Lạt…” (Bê tông hóa Đà Lạt, báo Người Đô Thị 18.4.2019)

Năm 1950, Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt được chuyển về Sài gòn. Các sinh viên có thể chọn chuyển về Sài gòn hoặc sang Pháp học tiếp. Nhận thấy ông Ngô Viết Thụ rất có tài, gia đình vợ ông quyết định giúp ông sang Pháp du học. Nhưng sợ ông mang mặc cảm phận nghèo phải nương tựa nhờ vả gia đình vợ nên vợ ông quyết định nghỉ học, giúp cha mẹ buôn bán để ông yên tâm chỉ chịu ơn vợ mà thôi.

Từ năm 1950 đến năm 1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Quốc gia (École des Beaux-Arts) ở Paris. Năm 1955, ông nhận Giải thưởng lớn Roma (Grand Prix de Rome), giải thưởng về kiến trúc dành cho kiến trúc sư tại Pháp, thường được gọi là giải Khôi nguyên La Mã. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis (Villa Medicis) của Viện Hàn lâm Pháp tại Roma (Ý) để nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc. Năm 1962, ông là kiến trúc sư châu Á đầu tiên trở thành Honorary Fellow (viện sĩ danh dự) của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (American Institute of Architects).

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống và làm việc ở Biệt thự Medicis tại Rome, rất nhiều văn phòng kiến trúc sư danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu, nhưng lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm cử GS Bửu Hội sang Pháp mời ông về nước làm việc. Trước khi sang Pháp, GS Bửu Hội đến thăm cha ông là cụ Ngô Viết Quang và mang giúp quà của cụ gửi cho ông là 3 trái xoài cùng một bài thơ mang tên “Cá gáy hóa long”, đại ý chúc mừng ông công thành danh toại, nhưng khuyên ông không nên quên nguồn cội và nên trở về giúp đất nước. Sau khi đọc xong thư nhà, ông quyết định thu xếp cùng gia đình trở về Việt Nam.

Chỉ trong vài năm, ông thiết kế nhiều dự án quan trọng của quốc gia và vào năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mời ông nhận chức Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là một chức vụ có quyền uy, không chỉ điều hành việc xây dựng đất nước mà còn nắm cả Công ty xổ số kiến thiết vốn là con gà đẻ trứng vàng lúc bấy giờ. Ông băn khoăn, hỏi ý kiến vợ, bà khuyên ông không nên nhận vì bản thân ông vốn là một người nghệ sĩ sáng tạo chứ không phải một chính khách. Ra nhận chức vụ lớn, trách nhiệm cao, phải học hỏi cung cách làm chính trị sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp theo thời cuộc có thể lên, cũng có thể xuống, sẽ có va chạm, xung đột quyền lực với người khác ở chốn quan trường…

Thấy vợ nói cũng hợp với ý mình nên ông đã từ chối, chỉ nhận làm cố vấn và giữ chức trưởng Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang lãnh thổ. Từ đó, Việt Nam Cộng hòa không còn Bộ Xây dựng nữa, việc quy hoạch toàn miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 chủ yếu do 2 văn phòng thực hiện là Văn Nghên cứu chiến lược của Ngô Viết Thụ và Tổng nha Kiến thiết.

Ông đã thiết kế nhiều công trình như Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Nguyên tử Đà Lạt (1962-1965), Trường Đại học Y khoa Sài gòn, thiết kế cầu thang nối liền Khu chợ Hòa Bình với Chợ Mới Đà Lạt, Khu công nghiệp An Hòa Nông Sơn, Nhà máy dệt Phong Phú, Khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962), Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam (1963), Thương xá Tam Đa (Crystal Palace), Trường Đại học Nông nghiệp Thủ Đức (1975)…

Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé (1985), Khách sạn Century ở Huế (1990), phác thảo Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt (sau này do một nhóm kiến trúc sư Lâm Đồng tiếp tục thực hiện, triển khai chi tiết và thi công).

Bà Võ Thị Cơ, vợ ông, từ trần năm 1977, 1 năm sau khi ông đi học tập cải tạo về. Ông từ trần ở tuổi 72 vào ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại TP.HCM do tai biến mạch máu não.

Ảnh: Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, với vợ, với Tổng thống Ngô Đình Diệm và với con trai, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn


 

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

Công Giáo Rôma – Patrick Hayashi

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

  1. Bước qua tuổi già, đừng ảo tưởng mình còn khỏe như xưa

Thanh xuân là thời mạnh mẽ.

Tuổi già là thời biết điều.

Địa vị chỉ là quá khứ, danh tiếng chỉ còn trong ký ức.

Chỉ có sức khỏe là thứ duy nhất còn lại bên mình.

Giữ được nó ngày nào, là phúc ngày đó.

  1. Đến tuổi già, sống cho mình – vui đâu ở đó, thích gì làm nấy

Đã đi gần hết đời người rồi,

đừng sống theo ý người khác nữa.

Thích ăn thì ăn.

Thích ngủ thì ngủ.

Thích đi đâu thì cứ đi.

Đời còn bao lâu mà giữ khư khư lòng mình trong sự gượng ép.

  1. Chỉ nên sống gần con, không sống chung với con – đây không ích kỷ mà là khôn ngoan

Ở chung dễ sinh va chạm.

Ở gần để thương nhau dài lâu.

Con thiếu tiền thì giúp ( Nếu mình có )

Nhưng đừng dọn vào sống để rồi một ngày mình trở thành người ở trọ trong chính ngôi nhà của con.

Gặp nhau cuối tuần là đủ ấm áp rồi.

  1. Khi già hơn nữa, nếu còn người bạn đời chăm sóc cho nhau là tốt, còn không hãy chọn một nơi mình được chăm sóc tử tế

Không cần sang trọng.

Chỉ cần sạch sẽ, yên tĩnh, có người chăm, có người trò chuyện.

Có tiền thì chọn chỗ tốt.

Ít tiền thì ở chỗ vừa sức.

Quan trọng là sống nhẹ lòng – không làm ai mệt vì mình.

  1. Chuyện “ngày xưa” – hãy kể với người cùng tuổi.

Chuyện “ngày mai” – hãy nói với bọn trẻ.

Tụi nhỏ không hiểu chuyện năm 1989 về trước đâu.

Chúng sống bằng hiện tại.

Hãy giữ chuyện cũ để kể với bạn đồng niên – những người hiểu từng nỗi niềm mình.

Đó là cách giữ ký ức, giữ tình thân, giữ chính mình.

  1. Đừng chờ đủ điều kiện – tuổi già hãy đi thăm những nơi chưa từng đi

Một chuyến xe bus.

Một chuyến tàu ngắn.

Một con đường xưa.

Một miền đất mới.

Càng gần cuối đời càng phải sống cho trọn ước mơ tuổi trẻ.

  1. Rũ bỏ quan niệm cũ: tuổi già không phải tu hành khổ hạnh

Đừng tiếc với bản thân.

Đừng nghĩ già rồi là hết.

Cần ăn ngon thì ăn.

Cần mặc đẹp thì mặc.

Cần nghỉ thì nghỉ.

Cần chơi thì chơi.

Hưởng thụ không phải xa xỉ – nó là phần thưởng cho cả đời vất vả.

  1. Đã về hưu – đừng đến nơi làm việc cũ nếu không được mời

Họ đang sống cuộc sống của họ.

Đừng khiến mình trở thành “người lạ trong kỷ niệm của chính mình”.

Giữ ký ức đẹp – đừng níu lại quá khứ.

  1. Muốn tuổi già vui – phải hiểu ba điều này:
  • Hạnh phúc do mình tạo ra, không ai mang đến.
  • Tiền không phải tất cả – nhưng không có tiền thì cực khổ.
  • Con cái thương mình có giới hạn – đừng chờ đợi quá mức.

Khi mình không trông mong ai, mình sống thanh thản nhất.

  1. Và hãy nhớ 3 QUÊN – 4 CẦN – 5 TRÁNH – 6 BÁC SĨ ĐỜI NGƯỜI

3 QUÊN

  • Quên tuổi tác.
  • Quên bệnh tật.
  • Quên thù hận, quên những điều gì, những người làm mình không vui

4 CẦN

  • Một mái nhà riêng.
  • Một khoản tiết kiệm.
  • Một gia đình kết nối.
  • Một vài người bạn tri kỷ.

5 TRÁNH

  • Tránh ở chung với con cái.
  • Tránh nhận trông cháu dài hạn.
  • Tránh can thiệp vào đời sống của con.
  • Tránh bán nhà khi chưa thật cần.
  • Tránh tiêu tiền phụ thuộc.

6 BÁC SĨ TỐT NHẤT

Ánh nắng – Giấc ngủ – Thể dục – Ăn uống điều độ – Tự tin – Bạn bè.

Tuổi già không chờ mình sẵn sàng.

Nó đến như một buổi chiều.

Chậm, nhưng chắc.

Và chỉ những ai biết chuẩn bị từ bây giờ mới có thể sống nửa đời còn lại thanh thản – tự do – không ân hận.

Nếu bạn đọc đến đây, hãy chia sẻ bài viết này.

Để nhắc ai đó đang đi vào tuổi trung niên rằng:

Tuổi già không tự nhiên bình yên — nó được chuẩn bị từ hôm nay

(Sưu tầm)


 

 ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Anmai CSsR

ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Trả lời phỏng vấn dành riêng cho Vatican News về tình hình căng thẳng tại Trung Đông, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã lên tiếng mạnh mẽ cảnh báo về sự trỗi dậy nguy hiểm của một xu hướng mới trong địa chính trị: việc sử dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Với nỗi đau sâu sắc, Đức Hồng y bày tỏ sự xót xa khi chứng kiến các dân tộc Trung Đông – trong đó có những cộng đồng Kitô giáo vốn đã chịu nhiều thử thách – một lần nữa bị đẩy vào vòng xoáy chiến tranh. Về các cuộc tấn công gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng hòa bình và an ninh chỉ có thể được xây dựng và duy trì bền vững thông qua các nỗ lực ngoại giao chân chính, đặc biệt là ngoại giao đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Chỉ trong môi trường ấy, các quốc gia mới có thể giải quyết tranh chấp một cách phi bạo lực, công bằng và nhân văn.

Theo Đức Hồng y, việc xác định nguyên nhân của chiến tranh và phân định đúng sai giữa các bên là điều vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là bom đạn luôn mang theo những hậu quả khôn lường: vô số nạn nhân vô tội, sự hủy diệt không thể phục hồi và nỗi đau tàn phá nặng nề đối với dân thường. “Vì lẽ đó, Tòa Thánh một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mọi công cụ ngoại giao để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia”, Đức Hồng y Parolin khẳng định.

Khi được hỏi về lý do “chiến tranh phòng ngừa” mà Mỹ và Israel đưa ra – nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân – Đức Hồng y nhắc nhở rằng, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, việc sử dụng vũ lực chỉ được xem là biện pháp cuối cùng và cực kỳ nguy hiểm, sau khi mọi kênh chính trị và đối thoại ngoại giao đã thực sự thất bại. Ngài cảnh báo: nếu các quốc gia tự cho mình quyền phát động “chiến tranh phòng ngừa” chỉ dựa trên tiêu chí chủ quan riêng, thì toàn thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị chìm trong biển lửa.

Sự xói mòn nghiêm trọng của luật pháp quốc tế đang diễn ra ở mức độ báo động: công lý bị sức mạnh thay thế, sức mạnh của luật pháp nhường chỗ cho “luật của kẻ mạnh”, và quan niệm sai lầm rằng hòa bình chỉ có thể đạt được sau khi kẻ thù bị tiêu diệt hoàn toàn. “Tòa Thánh một lần nữa mạnh mẽ lên án mọi hình thức lôi kéo dân thường và các cơ sở dân sự – như nhà ở, trường học, bệnh viện và nơi thờ tự – vào các hoạt động quân sự, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống”, Đức Hồng y Parolin nhấn mạnh.

Thông qua bài phỏng vấn, Đức Hồng y Quốc vụ khanh đã gửi đi một thông điệp rõ ràng và cấp thiết: chỉ có ngoại giao, đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế mới có thể cứu vãn hòa bình. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự suy giảm đáng lo ngại của trật tự đa phương, lời nhắc nhở từ Tòa Thánh không chỉ là tiếng nói đạo đức mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho các nhà lãnh đạo quốc tế.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

CÓ MỘT THỨ MÙ RẤT ĐÁNG SỢ- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gio-an (Ga 9,1-37) Chúa nhật IV mùa Chay)

Sứ điệp: Đừng để cho lòng trí lâm vào cảnh mù quáng do dục vọng gây nên, xô đẩy chúng ta vào con đường tội lỗi và phải hư mất đời đời.

***

Những người lâm cảnh mù lòa, suốt đời phải sống trong tăm tối là nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời.

Vì thế, Chúa Giê-su dành cho họ một tình thương đặc biệt và đã cứu chữa nhiều người bị khiếm thị từ lúc mới sinh. Trích đoạn Tin mừng hôm nay mô tả lại một trong những lần Chúa xót thương cứu chữa những người mù lòa đáng thương như thế.

Điều đáng mừng là những người khiếm thị đều là người tốt lành trong xã hội; họ không xúc phạm đến ai và dường như không bao giờ gây ra tội ác.

Trong khi đó, nhiều người có đôi mắt tinh tường sáng tỏ, nhưng lại bị mù quáng nặng nề nên đã gây ra nhiều lỗi lầm, nhiều tội ác trong xã hội. Hầu hết những người gây ra các cuộc chiến tranh đau thương tang tóc trên thế giới là những người mù quáng.

Nguyên nhân gây bệnh mù quáng

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho con người trở nên mù quáng; chúng ta thử điểm qua một vài điểm chính như sau:

Mù quáng vì tham lam

Sách Các Vua chương 21 thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dựng lên một vụ án, quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta.

Mù quáng vì ghen tị

Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chém đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay về trong vinh quang, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít tận thâm sơn cùng cốc, quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy (Samuen I, chương 18).

Mù quáng vì dục tình

Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ (Samuen II, chương 11).

Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng lầy tội ác lúc nào không hay.

Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.

Điều đáng tiếc là ai trong chúng ta cũng có thể lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào lúc nào đó trong đời. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và thường xuyên soi xét nội tâm, không để cho dục vọng và những xu hướng xấu xa làm mờ ám lương tri, xô đẩy chúng ta lao vào tội lỗi và thói hư.

Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, Xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****************************

Tin mừng Gioan (Ga 9, 1-37)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người

From: NguyenNThu


 

DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!

Xuyên Sơn

 DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!!

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”.

Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời.

Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo.

Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình.

Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là “Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh, tiến bộ nhất thế giới”.

Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.

Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?”

Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi 

“Em hỏi vậy là có mục đích gì?”.

Tôi đáp

“Vì Thầy nói

“Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này.

Ông chần chừ một lúc rồi nói

“ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”. 

“Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa,

còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966)

Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang.

Max Planck (1858-1947)

Đoạt giải Nobel về vật lý

và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics.

Blaise Pascal (1623–1662)

Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết.

René Descartes (1596–1650)

Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến.

Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng

Khoa học của phương Tây.

Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp

thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến.

Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học.

Johannes Kepler (1571–1630)

Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà.

-Isaac Newton (1643–1727)

Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành.

Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy?

Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói

“ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”.

Tôi đáp lại

“ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy. Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”.

Ông nhìn tôi và hỏi

“ Em còn muốn hỏi điều gì”. 

“Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại.

Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”. 

“Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải.

Sự thật ma vật không đổ thầy nhỉ.

Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy. Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”.

Người thầy gật đầu và nói với tôi

“ Thầy cảm phục tinh thần của em.

Em là người có chứng kiến và dám sống cho chứng kiến của mình.

Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội. Chỉ tiếc những người có chứng kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy.

Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật .

Ước mong sao nơi giảng trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

“IN GOD WE TRUST”

– ”Chúng tôi tin vào Chúa”

– Dòng chữ này hiện diện trên bất kỳ !tờ tiền nào của Mỹ!

Nguồn Facebook Giáo xứ Mỹ Khánh.


 

ĐẾN MỨC TRÀN ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”.

“Kitô hữu xét cho cùng là một con người kỳ cục nhưng không kém độc đáo: yêu Đấng chưa gặp, trò chuyện với Đấng chưa thấy; mất mình để được sống; mạnh khi yếu; giàu khi nghèo; và chết đi để được sống đến mức tràn đầy hôm nay và mãi mãi!” – A.W. Tozer.

Kính thưa Anh Chị em,

Những ai theo Chúa có thể xem ra kỳ cục nhưng không kém độc đáo. Lời Chúa hôm nay chỉ ra điều khiến họ trở nên độc đáo: sống với Ngài bằng một tình yêu ‘đến mức tràn đầy’.

Vì Thiên Chúa là Đấng chưa gặp, chưa thấy, nên Israel cứ sống nửa vời: lúc gần Ngài, lúc xa Ngài; lúc hăng hái, lúc nguội lạnh. Và đời sống họ khô cằn như một cánh đồng bị bỏ quên. Qua Hôsê, Thiên Chúa không trách nhiều, chỉ gọi một câu rất đơn giản, “Hãy trở về!” – bài đọc một. Bởi lẽ, Israel không tự làm mình sinh hoa trái; chỉ khi quay lại với Ngài, gắn đời mình vào Ngài, thì điều kỳ diệu mới xảy ra: “Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái” – đời người bắt đầu sống ‘đến mức tràn đầy’. “Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể; nhưng không có chúng ta, Thiên Chúa cũng không thể!” – Augustinô.

Với bài Tin Mừng, khi được hỏi giới răn nào lớn nhất, Chúa Giêsu không đưa ra một danh sách dài, nhưng chỉ nói một điều: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực!”. Nghĩa là đừng yêu Chúa bằng một phần con người, nhưng bằng cả con người. Vì chỉ khi Thiên Chúa chiếm trọn trái tim, tình yêu của chúng ta mới không còn nhỏ hẹp, không còn tính toán; nó bắt đầu lan ra, chạm đến người khác và làm cho mọi tương quan của đời sống lớn lên ‘đến mức tràn đầy’.

Trái lại, khi chia cắt tình yêu, yêu nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết để chỉ dâng Chúa một phần trái tim, một phần linh hồn, một phần trí khôn, một phần sức lực, thì tình yêu của con người luôn què quặt, nghèo nàn. Đóng cửa và lấy đi chìa khoá tình yêu đối với Chúa, con người không bao giờ đạt đến sự cứu rỗi; và như thế, tình yêu với Chúa và với người sẽ luôn nông cạn, hời hợt. “Ai không yêu Thiên Chúa thì cũng không thực sự yêu điều gì!” – Henry Newman.

Anh Chị em,

“Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”. Thập giá Chúa Kitô cũng là một cái gì “kỳ cục nhưng không kém độc đáo!”. Thập giá là biểu tượng của tình yêu, hoa trái của nó là tình yêu, yêu cho đến cùng. Chúa Giêsu đã yêu Chúa Cha đến nỗi chỉ sống để làm vui lòng Cha; Ngài cũng yêu con người đến mức chấp nhận hiến dâng mạng sống vì nó. Chính nhờ tình yêu của Ngài mà “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác”. Đúng thế, chỉ trong Chúa Kitô, bạn và tôi mới trở nên những Kitô hữu độc đáo, trổ sinh hoa trái trong các mối tương quan – với Chúa, với tha nhân – ‘đến mức tràn đầy!’. “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm sống với Thiên Chúa, nếu không, người ấy sẽ không còn tồn tại!” – Karl Rahner.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con yêu Chúa ‘cầm chừng’, nhưng yêu ‘tuyệt đối’. Nhờ đó, tình yêu của con đối với tha nhân không nửa vời, chẳng đứt đoạn và luôn cam kết!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay

Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất ; ngươi phải yêu mến Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

“Con trẻ sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35) – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ! Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Thứ 5 Tuần Thánh—bắt đầu Tam Nhật Vượt Qua. Trong lúc này có lẽ Mẹ Maria là người đang mang lấy những đau đớn mà Con của Mẹ đã chịu nơi thân xác và tâm hồn. Tuy vậy Mẹ vẫn đặt hết niềm tin  tưởng vào thánh ý Thiên Chúa, lòng Mẹ không bao giờ đổi thay. Vậy 7 ngày sắp tới đây, mời bạn cùng mình suy niệm 7 Sự Đau Đớn của Mẹ. Hãy đi lại lộ trình đau thương của Mẹ, để cùng Mẹ bạn đi trọn lộ trình cuộc đời mình. Hãy xin Mẹ dạy bạn biết  đón nhận những đau khổ, để đời bạn được thánh hóa và được thông phần vào công cuộc cứu thế của Chúa Giêsu như Mẹ.

Cha Vương

Thứ 5: 12/03/2026. (n21-24)

NỖI ĐAU THỨ 1: Lời tiên báo của cụ già Simeeon—Theo tập tục Do Thái, 40 ngày sau khi sinh, con trẻ phải được đem lên đền thờ để được thầy cả thanh tẩy. Đây không chỉ là một nghi lễ bắt buộc mà nó còn thể hiện niềm vui của cha mẹ và gia đình cháu bé. Thế nhưng, đối với Đức Maria niềm vui ấy không kéo dài bao lâu đã trở thành nỗi sầu muộn giăng mắc trong tâm trí Mẹ khi Mẹ nghe lời tiên báo của tiên tri Simêon: “Con trẻ sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35).

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che trở của tà áo Mẹ hôm nay.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Mẹ Maria, trinh nữ thương đau, xin cầu cho chúng con có một đức tin mạnh mẽ, để khi những niềm vui qua đi và những thử thách ập đến trong cuộc đời, chúng con vẫn luôn tin rằng có Chúa và Mẹ luôn đồng hành và nâng đỡ.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

***********************

MẸ SẦU BI – Lm. Tiến Dũng & Lm. Nguyễn Văn Tuyên- Huy Nguyễn

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Xuyên Sơn

Bài hay, mời đọc và SUY NGẪM

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Một ước vọng của nhiều người là được sống lâu, sống thọ.

Tôi cũng từng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi tận mắt chứng kiến những năm tháng cuối đời của người bạn thân của cha tôi, một nghệ sĩ nhiếp ảnh khá nổi tiếng.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, có người vợ xinh đẹp, hết lòng yêu thương chồng, năm con đều thành đạt, giỏi giang. Nhiều người xem ông như hiện thân của sự sung sướng, hạnh phúc đủ đầy.

Tôi được ông coi như con.

Một lần hai bác cháu ngồi thưởng trà, tôi bảo:

“Trong mắt con, bác là người hạnh phúc nhất trần gian”.

Bác nhìn tôi hiền từ, bảo:

“Khi nào nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ con ạ”.

75 tuổi, bác bị tai biến mạch máu não. Gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên qua khỏi nhưng bị di chứng liệt nửa người, nói ngọng.

Con cái thành đạt, bận rộn nên việc chăm sóc trông cậy cả vào bác gái.

Tuổi cao, mắt kém, tối nọ, vợ bác bị vấp ngã cầu thang, gẫy xương hông.

Thế là hai bác cùng nằm liệt một chỗ.

Con bác phải thuê người giúp việc. Nhưng chăm sóc hai người già bị liệt quá cực nhọc nên chẳng ai làm được lâu.

Cứ tuyển người được vài hôm họ lại nghỉ.

Bí quá, các con gửi hai bác vào một trung tâm dưỡng lão tư nhân.

Thương bác, gần như tuần nào tôi cũng vào thăm.

Bác cháu chuyện trò rất vui.

Tuần nào tôi bận quá không vào là bác điện thoại kêu nhớ.

Thời gian đầu, các anh chị con bác còn luân phiên hàng tuần vào thăm bố mẹ. Nhưng rồi những cuộc thăm viếng thưa dần, sau này tính bằng mỗi tháng – ngày nộp tiền cho trung tâm.

Tôi vẫn dành thời gian vào thăm bác. Vẫn gắng kể những câu chuyện vui cho bác nghe.

Nhưng bác thì ít nói, ít cười dần.

Đôi mắt ngày càng u uẩn.

Nhiều lần bác nhìn tôi, ánh mắt vô hồn. Tôi biết bác bị trầm cảm nặng.

Mà ở trung tâm dưỡng lão này, chẳng riêng gì bác bị.

Nhiều người vào đây thời gian đầu hoạt bát, vui vẻ, nói cười rổn rảng.

Về sau, tiếng nói, tiếng cười tắt dần rồi im bặt.

Có những lần, nhìn mắt ai cũng đờ dại khiến tôi có cảm giác họ là bệnh nhân tâm thần.

Người già rất cần tình thương, nhất là sự quan tâm của con cháu. Nhưng con cháu còn mải mê trong vòng quay cơm áo, gạo tiền,

đâu có nhiều thời gian cho cha mẹ già.

Hơn bốn năm trong trung tâm dưỡng lão, bác mất vào một đêm giông gió. Chẳng ai biết bác mất giờ nào.

Bảy giờ sáng hôm sau, cô nhân viên vào phòng thấy người bác đã cứng.

Mắt vẫn mở.

Con cháu đưa thi hài bác về quê mai táng.

Khách từ khắp các tỉnh thành về viếng nườm nượp, đủ các thành phần, đủ các tầng lớp. 

Con đường vào làng tắc nghẽn ô tô. Vòng hoa rợp ngõ.

Cả làng, cả xã trầm trồ trước đám tang hoành tráng nhất trong lịch sử làng rồi báo chí đăng tin ngưởng mộ.

Ai cũng khen bác sướng nhất làng, nhất huyện.

Họ bảo:

“Sống sướng, chết cũng sướng.

Bõ một kiếp người”, nào có mấy ai biết được bốn năm qua bác “sống hay là bác tồn tại” ra sao…!!!

Riêng tôi, lúc đứng trước linh cữu, nhìn di ảnh bác cười hiền hậu, tai tôi vẳng tiếng của bác “lúc nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ”.

Trong tôi chợt vọng lên câu hỏi:

Sống thọ hay sống sướng có thực sự là giá trị lớn nhất của đời người?

Cho đến một ngày kia, chứng kiến cái chết của người em thân thiết, tôi mới tìm được câu trả lời.

Em tên Vinh, kỹ sư tin học cho một tập đoàn viễn thông quốc tế tại Việt Nam. Lớp bảy, em bị bệnh thấp khớp chạy vào tim.

Tìm hiểu về bệnh, em biết, sự sống của mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.

Mặc dầu vậy, Vinh không hề sợ hãi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng tích cực, yêu đời.

Hàng tuần, từ thứ hai đến thứ sáu, em làm việc cho tập đoàn.

Thứ bảy, chúa nhật, em dành toàn bộ thời gian cho hoạt động thiện nguyện. Khi thì phóng xe máy về quê hướng dẫn nông dân cách trồng trọt, chăm sóc rau củ sạch, lúc phóng lên miền núi dạy cho trẻ em dân tộc con chữ, vận động mọi người quyên góp xây trường cho các em.

Tôi có cảm giác, bao nhiêu năng lượng em dành tặng hết cho mọi người.

Một lần, tôi hỏi:

“Vinh có sợ chết không?”.

Em cười bảo:

“Không”. Em thấy cái chết không hề đáng sợ. Nếu “nghiệp” mình phải chết thì xin thêm một phút cũng không được. Vì thế, buồn lo làm gì cho sầu khổ.

Đời cho em bao nhiêu ngày thì em vui tươi và yêu thương hết thảy.

Khi chết, thân thể sẽ về với cát bụi, chỉ những gì ta đã làm sẽ còn với bạn bè, mọi người, gia đình, thiên nhiên và vũ trụ.

Vinh mất trong chuyến đi thiện nguyện xây trường cho trẻ em Sơn La ở tuổi 32, vì bệnh tim.

Hơn 2.000 người đã đến viếng em.

Tôi vẫn “thấy” Vinh ở khắp nơi, trong những thanh niên đến với những bản làng xa xôi để thực hiện những chương trình từ thiện với mong muốn giảm bớt sự thiếu thốn, nghèo khổ của bà con.

Tôi “thấy” Vinh trong hình dáng các y bác sĩ ngày đêm căng mình trên tuyến đầu chống dịch để đem lại sự sống cho bao người.

Những người tận hiến cho đời như Vinh giúp tôi thấm thía lời nói của cố Hòa thượng Thích Phổ Tuệ:

“Sống được bao nhiêu năm không phải thước đo giá trị của đời người.

Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo”.

Thước đo của đời người không phải thời gian sống mà là sự cống hiến.

Dâng tặng cho mọi người trí tuệ và tình yêu thương, đưa ra sáng kiến, phát minh, phát triển khoa học, giáo dục, tạo ra năng suất và sản phẩm, nếu bạn có năng lực.

Và nếu không có gì để cho đi thì bạn vẫn còn có sự chân thành, trung thực, ân cần, thiện chí, nụ cười hay lời nói tử tế để làm ai đó cảm thấy tốt hơn.

Bởi, thế giới này luôn không đủ.

(sưu tầm)


 

BÂY GIỜ TÔI ÐÃ THẤY – Lm. Mark link S.J.

 Lm. Mark link S.J.

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng quanh miền Nam.  Ông muốn trực tiếp cảm nghiệm được sự kiện phải làm người da đen trong những năm ầm ĩ về vấn đề chủng tộc này.  Griffin mô tả lại cảm nghiệm của mình trong một cuốn sách nhan đề “Black Like Me” (da đen như tôi).  Cuốn sách này về sau được dựng thành phim.

Tuy nhiên còn một khía cạnh khác trong cuộc đời của John Howard Griffin mà rất ít người biết đến: trong thế chiến thứ hai, John đã bị mù trong một vụ nổ máy bay suốt 12 năm sau đó, ông không trông thấy gì cả.  Một hôm, trong khi bước xuống con phố cạnh nhà bố mẹ ông ở Texas, thình lình John bỗng thấy được “cát đỏ” (red sand) trước mắt ông.  Thị giác của ông đã phục hồi trở lại mà chẳng hề báo trước.  Về sau, một bác sĩ chuyên khoa mắt cắt nghĩa cho ông là vết máu tụ thần kinh thị giác do vụ nổ gây ra được khai thông, vì thế thị giác ông phục hồi trở lại.  Khi bình luận về kinh nghiệm này, Griffin đã kể lại cho một phóng viên báo chí như sau:

“Quí bạn không cảm nghiệm được những gì mà một ông bố cảm nghiệm khi nhìn thấy con cái mình lần đầu tiên đâu.  Cả bố với con đều tuyệt vời hơn tôi nghĩ rất nhiều.”

Giai đoạn bi đát trong đời Griffin giúp anh ta đánh giá sâu sắc hơn câu chuyện của bài Phúc âm hôm nay, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảm giác người mù từ lúc mới sinh khi anh ta được Chúa Giêsu chữa lành thật kỳ kiệu như thế nào.

Tuy nhiên, trong câu chuyện người mù trên còn có một phép lạ thứ hai.  Phép lạ này còn tuyệt diệu hơn: đó là đức tin hay còn gọi là ánh sáng thiêng liêng mà Ðức Giêsu ban cho người mù ấy, chính phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin đã khiến cho anh quì gối xuống nói với Ðức Giêsu với tư cách là “Chúa.”  Thánh Gioan đã nhấn mạnh phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin một cách thâm thuý trong bài Phúc âm hôm nay.

Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về điểm này.

Ðiều đầu tiên chúng ta để ý đến trong phép lạ này là phép lạ ấy diễn ra từ từ không xảy ra ngay tức khắc.  Chẳng hạn, phản ứng đầu tiên của anh mù đối với Ðức Giêsu là anh ta xem Ðức Giêsu cũng giống như người bình thường khác.  Vì thế, khi vài người hỏi anh ta về sự lành bệnh của mình, anh liền trả lời: “Cái ông có tên là Giêsu ấy lấy một ít bùn bôi lên mắt tôi và bảo tôi tới hồ Silôê rửa mặt.  Thế là tôi đi và ngay khi rửa xong tôi được trông thấy.”

Ðầu tiên gã mù chỉ coi Ðức Giêsu như một người tuy khá đặc biệt nhưng dầu sao cũng chỉ là một con người.  Thế rồi anh ta bước qua nhận thức thứ hai về Ðức Giêsu khi đám Pharisêu điều tra anh: “Mày bảo ông Giêsu chữa cho mày khỏi mù à!  Vậy mày cho rằng ông ấy là ai?” anh ta liền đáp: “Ông ấy là một ngôn sứ.”  Câu trả lời trên đây chứng tỏ rõ ràng nhận thức của anh mù về Ðức Giêsu đã nhảy vọt một bước vọt khổng lồ về phía trước.  Càng suy nghĩ đến sự kiện xảy ra, gã ta càng xác tín Ðức Giêsu không chỉ là một người như những người khác mà Người còn là một vị ngôn sứ.  Ðiều này dẫn chúng ta đến nhận thức sau cùng của anh mù về Ðức Giêsu.

Cuối ngày anh mù mới được gặp mặt đối mặt với Ðức Giêsu, vì khi anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôê về, thì Ðức Giêsu, không còn quanh quẩn đó nữa.  Lúc này, khi gặp lại anh mù, Ðức Giêsu nhìn thẳng vào mắt và nói: “Anh có tin vào CON NGƯỜI không?”  Anh ta trả lời: “Thưa Ngài, xin nói cho tôi biết vị ấy là ai để tôi tin.”  Ðức Giêsu trả lời: “Anh đã thấy vị ấy rồi, vị ấy chính là kẻ hiện đang nói chuyện với anh.”  Anh đáp ngay: “Lạy Chúa, con tin!” vừa nói anh vừa quì gối xuống trước mặt Ðức Giêsu.

Như thế, nhận thức của anh về Chúa Giêsu đã nhảy bước cuối cùng về phía trước.  Anh nhận ra Ðức Giêsu không phải chỉ là một người bình thường hoặc một vị ngôn sứ, mà Người còn là Thiên Chúa, vị Chúa mà “muôn loài trên trời dưới đất, cả trong địa ngục phải quì gối” (Pl 2: 10).  Ân sủng đức tin, hay “ánh sáng tâm linh” mà Ðức Giêsu ban cho anh mù còn kỳ diệu hơn sự phục hồi thị giác cho anh nữa.

Không cần bàn bạc quá nhiều về ân sủng đức tin nơi anh mù nọ, chúng ta nên nhớ lại chúng ta cũng đã nhận được ân sủng đức tin này do Ðức Giêsu ban cho trong bí tích rửa tội.

Trước khi thanh tẩy trong nước rửa tội, chúng ta cũng bị “đui mù tâm linh” như anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Nhưng sau khi được rửa tội, Ðức Giêsu trở nên quí báu hơn nhiều đối với chúng ta.  Người trở thành một kẻ hết sức thân mật đối với chúng ta.

Ðiều này dẫn đến điểm tương tự thứ hai giữa chúng ta và anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Ngoài việc nhận lãnh ân sủng đức tin, nhận thức của chúng ta về Chúa Giêsu cũng dần dần lớn lên giống như nơi anh mù ấy.  Chẳng hạn khi còn rất bé chúng ta thường mường tượng Ðức Giêsu là một con người phi thường.  Ðến lúc lớn lên.  Nhận thức của chúng ta về Người cũng trưởng thành hơn.  Cuối cùng nhận thức ấy đạt được hình thức viên mãn nhất: chúng ta nhận ra Người đúng như bản chất thực sự về Người, là Con Thiên Chúa.  Ðiều thú vị là khi chúng ta càng học hỏi về Ðức Giêsu thì Người càng trở nên cao cả hơn đối với chúng ta.  Thông thường, có sự kiện đáng buồn trong các mối tương giao khác là càng tìm hiểu về kẻ khác chúng ta càng nhận khiếm khuyết của kẻ ấy.  Nhưng trong trường hợp Ðức Giêsu thì không như thế.  Càng hiểu biết về Người, chúng ta càng thấy Người tuyệt diệu và vinh hiển hơn.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy trích lại lời Albert Schweitzer ở cuối cuốn sách của ông nhan đề “The Quest for The Historical Jesus” (Tìm kiếm Chúa Giêsu Lịch sử) Schweitzer từng là nhạc sĩ dương cầm thính phòng ở Âu Châu.  Ông đã từ bỏ nghề nghiệp âm nhạc của mình để trở thành một bác sĩ, và ông đã đến sống ở Phi châu với tư cách một thừa sai.  Schweizer viết: “Chúa Giêsu đến với chúng ta như một người vô danh, chẳng khác nào thưở xưa Người đến với các tông đồ trên bờ biển.  Người nói với chúng ta cũng chính những lời Người đã từng nói với họ: ‘Hãy theo Ta!’  Và bất cứ ai chấp nhận lời mời gọi của Người thì dù họ thông thái hay tầm thường, trẻ trung hoặc già nua, Chúa Giêsu đều mạc khải chính Người cho họ ngay trong những truân chuyên và đau khổ của họ.  Và qua kinh nghiệm riêng của mình, họ sẽ biết được “NGƯỜI là ai?”

Lm. Mark link S.J.

From: Langthangchieutim


 

Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,”

Tony Nguyễn

Khi Mel Gibson lần đầu tiên đề nghị Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,” ông đã hoàn toàn thẳng thắn với anh.

“Anh cần hiểu điều này,” Gibson nói với anh. “Bộ phim này sẽ vô cùng khó khăn. Nó thậm chí có thể khiến anh mất đi sự nghiệp ở Hollywood.”

Vai diễn này rất quyền lực, nhưng cũng gây tranh cãi và đầy rủi ro. Caviezel xin một ngày để suy nghĩ.

Khi trở lại, câu trả lời của anh rất đơn giản.

“Tôi tin rằng chúng ta phải làm điều đó – ngay cả khi nó sẽ khó khăn.”

Rồi anh ấy nói thêm điều mà anh vừa nhận ra.

“Tên viết tắt của tôi là J.C… và tôi 33 tuổi.”

Mel Gibson nhìn anh và đáp lại, nửa đùa nửa thật nhưng rõ ràng là bị ấn tượng bởi sự trùng hợp:

“Anh bắt đầu làm tôi sợ đấy.”

Việc quay phim hóa ra lại căng thẳng đúng như Gibson đã cảnh báo.

Để vào vai Chúa Giê-su, Jim Caviezel đã giảm khoảng 20 kg. Trong một cảnh quay, anh vô tình bị roi quất hai lần, để lại một vết sẹo dài hơn 9 cm trên lưng. Trong lúc vác thập tự giá khi quay phim, anh ấy bị trật khớp vai. Việc phải đứng gần như khỏa thân trên thập tự giá trong nhiều giờ liền giữa thời tiết giá rét đã dẫn đến viêm phổi và hạ thân nhiệt.

Có lúc trong quá trình sản xuất, anh ấy thậm chí còn bị sét đánh.

Chỉ riêng cảnh đóng đinh trên thập tự giá đã cần đến năm tuần để quay trong tổng thời gian sản xuất hai tháng của bộ phim.

Mặc dù phải chịu đựng nhiều về thể chất, Caviezel sau đó đã giải thích điều gì đã thúc đẩy anh ấy nhất.

“Tôi không muốn mọi người nhìn thấy tôi. Tôi muốn họ nhìn thấy Chúa Giê-su. Và thông qua đó, nhiều người sẽ tìm thấy đức tin.”

Đối với nhiều thành viên trong đoàn làm phim, trải nghiệm này đã để lại ấn tượng sâu sắc.

Pedro Sarubbi, diễn viên đóng vai Barabbas, nhớ lại một khoảnh khắc khi Caviezel nhìn thẳng vào mắt anh trong một cảnh quay. Anh nói rằng cảm giác không giống như đang nhìn một diễn viên khác, mà là nhìn thấy một điều gì đó vĩ đại hơn nhiều. Trong ánh mắt của Caviezel, anh nói, không có sự giận dữ hay oán hận — chỉ có lòng thương xót và tình yêu thương.

Luca Lionello, người đóng vai Judas, bắt đầu quay phim với tư cách là một người vô thần. Sau trải nghiệm này, cuộc đời anh đã thay đổi đáng kể. Theo thời gian, ông đã đón nhận Kitô giáo, công khai nói về sự cải đạo của mình và cho con cái được rửa tội.

Một số thành viên đoàn làm phim sau đó chia sẻ rằng việc làm phim đã ảnh hưởng sâu sắc đến họ, thậm chí cả về mặt tâm linh.

Bản thân bộ phim đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong điện ảnh.

Mel Gibson quyết định tự mình tài trợ cho bộ phim, đầu tư khoảng 30 triệu đô la sau khi một số hãng phim từ chối hỗ trợ dự án. Đó là một rủi ro lớn.

Nhưng bộ phim đã vượt quá mọi kỳ vọng.

Nó thu về khoảng 370 triệu đô la ở Hoa Kỳ và hơn 600 triệu đô la trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người tin rằng tác động thực sự của bộ phim không phải là về mặt tài chính.

Mà là về mặt tâm linh.

Đối với hàng triệu khán giả trên khắp thế giới, “Sự khổ nạn của Chúa Kitô” đã thu hút sự chú ý trở lại đối với câu chuyện về sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trong những năm qua, Jim Caviezel vẫn tiếp tục nói chuyện cởi mở về đức tin của mình và về ý nghĩa của vai diễn đó trong cuộc đời anh – ngay cả trong một môi trường như Hollywood, nơi điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Đối với anh, bộ phim chưa bao giờ chỉ là một công việc khác.

Nó là một lời chứng.


 

Tôi đến thăm cha, người đang mắc bệnh Alzheimer, để nhờ cha dắt mình vào lễ đường trong ngày cưới.

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

 Tôi đến thăm cha, người đang mắc bệnh Alzheimer, để nhờ cha dắt mình vào lễ đường trong ngày cưới.

Khi bước qua cánh cửa của viện dưỡng lão trong chiếc váy cưới trắng, tôi cảm nhận ánh mắt của mọi người hướng về phía mình. Có vài cô y tá mỉm cười rất dịu dàng, vài người khác nhìn tôi với vẻ thương cảm. Nhưng lúc đó tôi không để ý gì cả. Tôi chỉ muốn biết cha sẽ phản ứng thế nào.

— Cô chắc muốn làm vậy chứ? — Clara, cô y tá, nhẹ nhàng hỏi.

Tôi gật đầu, cố nuốt nước mắt.

— Hôm nay là ngày cưới của tôi. Dù ngày mai cha có quên hết, hôm nay tôi vẫn muốn cha ở bên cạnh.

Khi bước vào phòng, cha đang ngồi cạnh cửa sổ, ánh mắt xa xăm như đang trôi trong một ký ức nào đó chỉ mình ông còn thấy.

— Cha ơi… — tôi khẽ gọi.

Ban đầu cha không phản ứng. Một lúc sau, như có điều gì chạm đến ông, cha quay đầu nhìn tôi.

Ánh mắt ông bỗng sáng lên, giống hệt ánh mắt tôi từng thấy nhiều năm trước.

— Con gái của cha… con đẹp như thiên thần.

Tôi không kìm được nước mắt.

— Hôm nay con chồng, cha à — tôi nói, giọng nghẹn lại — con muốn cha dắt con vào lễ đường, giống như con vẫn luôn mơ.

Cha chớp mắt vài lần, như đang cố sắp xếp lại những mảnh ký ức rối rắm trong đầu. Rồi bất ngờ, ông đứng dậy. Sự mạnh mẽ ấy khiến ai nhìn cũng ngạc nhiên.

Cha mỉm cười.

— Tất nhiên rồi. Con gái của cha thì phải do chính cha dắt vào lễ đường.

Cha đưa cánh tay ra cho tôi khoác vào, giống hệt ngày xưa. Trong khoảnh khắc ấy, căn bệnh Alzheimer như lùi lại phía sau.

Chúng tôi cùng đi qua hành lang của viện dưỡng lão. Các cụ già và những người y tá đứng nhìn theo, nhiều người xúc động.

Cha khẽ nói bên tai tôi:

— Con đẹp lắm, con gái của cha… Còn cậu ấy… là người tốt chứ?

— Người tốt nhất, cha à — tôi trả lời, nước mắt làm nhòe cả tầm nhìn.

Khi đến gần cửa, chồng sắp cưới của tôi đang đứng chờ. Mắt anh đỏ hoe vì xúc động.

Cha cầm tay tôi, đặt vào tay anh.

Ông nói với giọng chắc chắn, giống hệt người cha mạnh mẽ ngày nào:

— Hãy chăm sóc con bé. Con bé là kho báu của tôi.

Khoảnh khắc ấy khắc sâu trong tim tôi.

Ngày mai có thể cha sẽ quên tất cả.

Nhưng tôi thì không bao giờ quên.

Bệnh Alzheimer đã lấy đi rất nhiều điều trong cuộc đời của cha. Nhưng nó không thể lấy đi món quà cuối cùng mà cha dành cho tôi.

Cha đã dắt tôi vào lễ đường, như tôi vẫn hằng mơ ước.

TG Văn Chương

ST.