TRÁI TIM CŨNG CÓ KÝ ỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó không đâm rễ!”.

“Quá khứ không bao giờ chết; nó thậm chí còn chưa qua!” – William Faulkner.

Kính thưa Anh Chị em,

Quá khứ không bao giờ thực sự qua đi; nhiều khi nó vẫn âm thầm sống trong chúng ta. Mảnh đất từng bị giẫm nát sẽ khác với đất được chăm sóc. Trái tim con người cũng vậy: ‘trái tim cũng có ký ức’.

Không phải đất nào cũng giống nhau. Có mảnh mềm, có mảnh cứng; có nơi đầy sỏi đá, có nơi um tùm gai góc. Đó không chỉ là địa chất của cánh đồng, mà còn là địa chất của tâm hồn. Theo năm tháng, mọi chọn lựa, mọi tổn thương, những lần khép lòng hay mở lòng đều âm thầm để lại dấu vết. Bởi thế, trước khi hạt giống kịp bén rễ, mảnh đất đã mang sẵn cả một lịch sử. Trái tim giữ lại những vết thương của quá khứ, và biến chúng thành lớp đất chai sần ngăn Lời Chúa bén rễ.

Dụ ngôn Chúa Giêsu kể không ca ngợi một mảnh đất tốt, nhưng mặc khải một người gieo quảng đại. Hạt giống được gieo khắp nơi, không vì đất nào cũng xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa không bao giờ thôi hy vọng con người được biến đổi. Đó không phải là lãng phí, mà là cách Ngài yêu thương. Ngài không chờ đất tốt rồi mới gieo; Ngài gieo để đất có cơ hội trở nên tốt. Ngài không nhìn mảnh đất như nó đang là, nhưng như nó có thể trở thành. Logic của ân sủng là thế: luôn đi trước mọi công trạng và mở ra khả năng đổi thay.

Nhưng mọi sự phải bắt đầu từ nơi sâu kín nhất. Giêrêmia cho thấy điều Thiên Chúa muốn chữa lành không phải là hoàn cảnh, mà là lòng người, để “chúng sẽ không còn sống buông thả theo lòng dạ xấu xa” – bài đọc một. Bản Hy Lạp của bài đọc viết kardía – “trái tim”, trung tâm của ký ức và những chọn lựa. Vì thế, điều Chúa muốn biến đổi không phải là hạt giống – Lời vốn luôn tốt lành – nhưng là lòng người, mảnh đất bên trong. Chỉ khi đất lòng được Ngài canh giữ mới có thể trở thành mảnh đất sinh lợi. Thảo nào Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!”.

Phần chúng ta, điều cản trở Lời nhiều khi không phải chúng ta không nghe, nhưng chúng ta nghe bằng một trái tim còn rỉ máu vì quá nhiều thương tổn. Ký ức còn hằn thương tích dễ biến hy vọng thành nghi ngờ, lời mời gọi thành nỗi sợ, và hạt Lời thành điều không thể bén rễ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không né tránh thập giá; chính nơi đó, Ngài chữa lành trái tim con người từ tận căn, để những gì đã qua không còn trói buộc hiện tại và Lời có thể đâm rễ. Vì thế, đừng sợ mang đến cho Ngài những ký ức làm chúng ta nặng lòng, những vết thương chưa khép, những tội lỗi đang giấu kín. Đấng đã yêu chúng ta đến cùng sẽ kiên nhẫn biến đất chai cứng thành nơi có thể trổ sinh hoa trái. Nơi Đức Kitô, ‘trái tim cũng có ký ức’, nhưng ký ức không còn là số phận. “Mọi sự sẽ ổn, mọi sự sẽ ổn, và mọi sự rồi sẽ ổn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để quá khứ con cầm tù hiện tại; đừng để vết thương cũ quyết định cách con sống; xin chạm đến và chữa lành những điều con chưa bao giờ thôi đau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Hành trinh đi tìm tự do của một” Boat-people” – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/07/2026

Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.

Mùa hè 2026


 

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG

Cang Huynh

 

*Một người đàn ông từng đi nhà thờ mỗi cuối tuần dần dần bỏ đạo.

Tuần này qua tuần khác, rồi đến tháng. Một ngày nọ, vị linh mục quyết định đến thăm ông.

Khi đến nơi, cửa trước mở sẵn nên ông bước vào. Người đàn ông đang ngồi một mình trước lò sưởi. Ông chào vị linh mục bằng một cái gật đầu nhẹ và ra hiệu cho ông ngồi xuống.

Cả hai đều im lặng.

Họ chỉ đơn giản là nhìn ngọn lửa nhảy múa trên những khúc củi.

Sau vài phút, vị linh mục đứng dậy, cầm lấy cái kẹp than, và cẩn thận lấy một cục than hồng ra khỏi lửa. Ông đặt nó sang một bên, cách xa những cục than đang cháy khác, rồi ngồi xuống lại.

Sự im lặng tiếp tục.

Lúc đầu, cục than vẫn còn đỏ rực. Nhưng từ từ, không còn hơi ấm của những cục than xung quanh, ánh sáng bắt đầu mờ dần. Chẳng bao lâu sau, nó trở nên lạnh lẽo, tối tăm và vô hồn.

Vị linh mục lại đứng lên, dùng kẹp than nhấc cục than đen lên, và đặt nó trở lại vào giữa ngọn lửa.

Chỉ trong chốc lát, nó lại bắt đầu sáng rực. Chẳng mấy chốc, nó cháy sáng rực rỡ như những cục than bên cạnh.

Vị linh mục đặt chiếc kẹp xuống và lặng lẽ bước về phía cửa.

Ngay trước khi rời đi, người đàn ông lên tiếng.

“Cảm ơn vì đã đến,” ông nói. “Và cảm ơn vì bài giảng bên lò sưởi. Tôi sẽ đến nhà thờ vào Chủ nhật này.”

Đôi khi không cần lời giải thích dài dòng.

Một cục than được lấy ra khỏi lửa sẽ nhanh chóng mất đi hơi ấm. Nhưng khi được đặt trở lại ngọn lửa, nó lại bắt đầu cháy.

Đức tin có thể là điều cá nhân, nhưng nó không bao giờ được sống hoàn toàn một mình. Cộng đồng mang lại cho chúng ta sự khích lệ, trách nhiệm, sự an ủi và sức mạnh trong những lúc ngọn lửa của riêng chúng ta bắt đầu lụi tàn.

Đôi khi chúng ta không quay trở lại vì ai đó đã tranh cãi với chúng ta.

Chúng ta quay trở lại vì ai đó đã lặng lẽ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta vẫn thuộc về một cộng đồng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373) – Cha Vương

Chúc bình an đến Bạn và gia đình, hôm nay 23/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn thánh nữ làm quan thầy nhé.  Không quyên cầu Nguyện cho nhau và thế giới được an bình nhé 

Cha Vương

Thứ 5: 23/07/2026.     (t4-25)

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển—từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các thị kiến ấy làm nền tảng cho đời sống của thánh nữ — luôn luôn chú trọng đến đức ái hơn là trông đợi các ơn huệ thiêng liêng.

     Thánh Bridget là một người trong hoàng gia Thụy Ðiển, được thừa hưởng sự đạo đức của cha mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã yêu quý sự thống khổ của Ðức Kitô. Khi mười bốn tuổi, vâng lời cha, ngài kết hôn với vua Thụy Ðiển là Magnus II và có tám người con (người con thứ là Thánh Catarina ở Thụy Ðiển). Sau khi nhà vua từ trần ngài sống một cuộc đời rất khổ hạnh.

     Trong thời gian hôn nhân, Thánh Bridget cố gắng ảnh hưởng tốt đến vua Magnus. Dù chưa hoàn toàn thay đổi, nhà vua cũng đã ban cho ngài đất đai và cơ sở để thiết lập một đan viện cho nam giới và nữ giới. Tổ chức này sau đó phát triển thành một tu hội, được gọi là Tu Hội Thánh Bridget the Order of the Most Holy Savior (Bridgettines) và được Đức Giáo Hoàng Urban V chuẩn nhận năm 1370 hiện vẫn còn.

     Vào Năm Thánh 1350, Thánh Bridget bất chấp bệnh dịch đang lan tràn khắp  u Châu, ngài thực hiện cuộc hành hương đến Rôma. Ngài không bao giờ trở về Thụy Ðiển và những năm ở Rôma thật không sung sướng chút nào vì bị chủ nợ săn đuổi và bị chống đối bởi sự thối nát trong Giáo Hội thời bấy giờ.

     Chuyến hành hương sau cùng của ngài đến Ðất Thánh thì bị hỏng vì đắm tầu và cái chết của người con trai. Ngài qua đời ngày 23 tháng 7 năm 1373 tại Rome, nước Ý. Ngài được chôn cất tại tu viện Vadstena, Thụy Điển. Thánh nữ Bridget được Đức Giáo Hoàng Bonifacius IX tôn phong hiển thánh ngày 07 tháng 10 năm 1391 và đặt là quan thầy của Thụy Điển.

Lời Bàn: Các thị kiến của Thánh Bridget, thay vì cô lập ngài khỏi các sinh hoạt của thế gian, đã đưa ngài can dự vào nhiều vấn đề đương thời, dù đó là chính sách của hoàng gia hay của giáo triều Avignon. Ngài không thấy sự mâu thuẫn giữa các cảm nghiệm thần bí và các sinh hoạt trần tục, và cuộc đời ngài chứng minh rằng SỰ THÁNH THIỆN CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC GIỮA NƠI THƯƠNG TRƯỜNG.

Sau đây mời bạn suy niệm những câu nói của Thánh Bridget:

❦  Nếu Thiên Chúa chịu đựng những trận đòn và sự hành hạ, thì ta nhiều khi phải chịu đựng những lời nói và những sự nghịch lý. 

❦  “Tội lỗi của một người cho dù có nặng nề đến đâu đi nữa, nhưng nếu họ trở về với Mẹ với trọn con tim và quyết tâm sửa cải thực sự thì Mẹ lập tức sẵn lòng tiếp nhận họ, Mẹ sẽ không kể bao nhiêu tội lỗi họ  đã phạm trước, nhưng chỉ nhìn đến thiện chí và việc họ trở về mà thôi. Người ta xưng tụng Mẹ là Hiền Mẫu nhân lành, và thực sự lòng từ nhân của Con Mẹ đã làm cho Mẹ hết sức nhân lành; và chỉ có những ai có thể mà lại không chịu đến với lòng nhân lành mới thực sự là kẻ khốn nạn.” (Lời Mẹ phán với thánh nữ Bridget nước Thụy Điển)

From: Do Dzung

***********

NHÓM THIÊN CA | CHÚA YÊU CON NHIỀU | TINA NGỌC NỮ | SÁNG TÁC: TIẾN NGUYỄN | THIÊN CA GROUP

MẮT ĐỔI – THẾ GIỚI ĐỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy!”.

“Cuộc khám phá đích thực không phải là tìm những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới!” – Marcel Proust.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chuyến đi không mở ra một vùng đất mới, nhưng mở ra một cách nhìn mới. Mọi sự vẫn y nguyên, chỉ cách nhìn đổi khác. Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta rằng, ‘mắt đổi – thế giới đổi’.

Chúa Giêsu nói, “Họ nhìn mà không nhìn; nghe mà không nghe, không hiểu!”. Bản Hy Lạp viết syníēmi – “hiểu”, theo nghĩa “ghép các mảnh”. Người Do Thái đã có mọi mảnh ghép: Lề Luật, các ngôn sứ, tiếng Gioan Tẩy Giả, các phép lạ… nhưng họ không nhận ra tất cả những mảnh ấy đang quy về Đức Giêsu Kitô. Không phải họ thiếu dữ kiện, họ chỉ đọc sai ý nghĩa các dữ kiện: phép lạ phát xuất từ quỷ vương; Gioan quỷ ám; Chúa Giêsu bợm nhậu, phạm luật… Mỗi biến cố đứng riêng chỉ là một sự kiện; được ghép lại, toàn bộ lịch sử cứu độ mới có một khuôn mặt – khuôn mặt Đức Kitô! “Đức Kitô là chuẩn mực để toàn bộ lịch sử được giải thích!” – Hans Urs von Balthasar.

Đó cũng là bi kịch xưa của Israel. Thiên Chúa đã đưa dân vào đất chảy sữa và mật; nhưng họ không nối kết mọi ân huệ với Đấng ban ân huệ – “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh”. Israel không bỏ Thiên Chúa vì hết ân huệ; nhưng bỏ Ngài ngay giữa lúc đầy ân huệ: tôn thờ những gì đôi tay mình tạo nên, “làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” – bài đọc một. Không chỉ đánh mất nguồn sống, họ đánh mất khả năng nhận ra Đấng là nguồn sống. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca là lời tuyên xưng của một người đã nhận ra: “Lạy Chúa, Ngài quả là nguồn sống!”.

Với chúng ta, đời sống cũng đầy những điều rời rạc. Có điều là niềm vui, có điều là nước mắt, có điều không bao giờ hiểu nổi. Nhiều khi chúng ta xin Chúa đổi hoàn cảnh; Chúa lại muốn đổi con người đang nhìn hoàn cảnh. Chỉ khi đặt tất cả vào bàn tay Thiên Chúa, chúng ta mới nhận ra không có mảnh ghép nào vô nghĩa. Khi đôi mắt đổi, cả thế giới cũng đổi. Thế giới đổi không phải vì thế giới khác đi, nhưng vì người nhìn đã khác đi.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đổi thế giới, nhưng đổi chính đôi mắt nhìn thế giới. Với ánh mắt của Ngài, thập giá không còn là đau khổ, nhưng là tình yêu hiến dâng; mất mát không còn là kết thúc, nhưng là khởi đầu; cái chết không còn là ngõ cụt, nhưng là cửa ngõ bước vào sự sống. Cuộc khám phá lớn nhất của Kitô hữu không phải là đi đến nơi khác, nhưng là nhìn mọi sự bằng ánh nhìn của Đức Kitô. Đôi mắt ấy mở ra dưới chân thập giá, nơi thất bại trở thành tình yêu; và trong ánh sáng phục sinh, nơi cái chết trở thành sự sống. Bởi lẽ, ‘mắt đổi – thế giới đổi’. Chỉ khi nhìn về Đức Kitô, đôi mắt chúng ta mới thật sự nhìn đúng mọi sự. Bởi lẽ, đôi mắt chỉ nhìn thấy điều trái tim biết khao khát. “Vẻ đẹp sẽ rực sáng trong trái tim người khao khát nó, hơn trong đôi mắt người nhìn thấy nó!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra Chúa giữa những điều bình thường, thấy tình yêu Ngài trong mọi biến cố, và bước đi bình an giữa những điều con chưa hiểu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

“Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?”- by Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

 “Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?” 

( Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

Cả một đời người, Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?. 

Lời giới thiệu

Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.

Cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó.”

TVG

Gần đây tôi đọc được một bài viết của một tác giả người Trung Quốc. Đọc xong, trong lòng cứ suy nghĩ mãi. Không phải vì câu chuyện quá buồn, mà bởi nó khiến mình nhận ra một điều rất giản dị: “Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.”

Có lẽ vì thế mà con người cứ mãi đi tìm hạnh phúc, nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hiểu điều đáng quý nhất thường nằm ở những điều rất bình thường.

Năm 3 tuổi, tôi nắm chặt cây kẹo mút trong tay và tin rằng đó là cả thế giới. Chỉ cần có cây kẹo ấy là tôi có thể vui cả ngày, chẳng cần nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

Năm 5 tuổi, tôi mất cả buổi chiều để đuổi theo một con chuồn chuồn. Khi bắt được nó, tôi vui sướng như vừa có được một kho báu. Đối với một đứa trẻ, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như vậy.

Năm 9 tuổi, tôi nằm dưới bóng cây, ngắm ánh nắng len qua từng k lá và tận hưởng một kỳ nghỉ hè bình yên. Khi ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần ngày nào cũng được rong chơi như thế thì cuộc sống đã quá đủ đầy.

Đến năm 13 tuổi, tôi bắt đầu tin rằng một tờ giấy báo trúng tuyển vào trường trung học tốt với hạng cao sẽ quyết định cả tương lai của mình. 

Năm 18 tuổi, tôi lại dốc hết sức lực chỉ để nhận được giấy báo được nhập học từ ngôi trường đại học mà tôi hằng mơ ước. Lúc ấy, tôi tưởng rằng chỉ cần bước chân vào cánh cổng đại học này là cuộc đời sẽ mở ra một trang mới rực rỡ. 

Rồi năm 23 tuổi, khi rời khỏi ghế nhà trường để bước vào xã hội, tôi mới hiểu kiếm được một công việc ổn định mới là điều quan trọng nhất. Những ước mơ tuổi trẻ dần nhường chỗ cho cơm áo gạo tiền, cho những hóa đơn phải thanh toán vào cuối tháng và những áp lực mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới. 

Năm 24 tuổi, trong ngày cưới của mình, nhìn người con gái sắp trở thành vợ, tôi chợt nhớ đến cô bạn năm 16 tuổi mà mình từng thầm yêu thương. Có chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng rồi tôi hiểu mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có người cần được trân trọng. Người đứng trước mặt tôi lúc ấy mới là người quan trọng nhất.

 Hai năm sau, khi đứng ngoài phòng bảo sinh và nghe tiếng khóc đầu tiên của con cất lên, tôi bỗng nhận ra trái tim mình từ nay đã có thêm một nơi để hướng về. Kể từ giây phút ấy, mọi cố gắng của tôi đều chỉ mong con có một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Năm 30 tuổi, những khoản vay mua nhà, mua xe khiến tôi cảm thấy tiền bạc là điều quan trọng nhất. Tôi lao vào công việc, miệt mài kiếm sống và luôn tự nhủ rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.

Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra con người dường như “không bao giờ thấy đủ.”  Có được điều này thì lại mong điều khác ngay. Đạt được mục tiêu này lại tiếp tục chạy theo mục tiêu khác. 

Người xưa từng nói: “Tri túc thường lạc,” nghĩa là “biết đủ thì vui.” Đáng tiếc là khi còn trẻ, rất ít người hiểu được ý nghĩa của bốn chữ ấy.

Năm 38 tuổi, người cha vốn nghiêm khắc và mạnh mẽ cả đời bỗng bắt đầu hỏi ý kiến tôi trước mỗi quyết định. Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra, cha mình đã già thật rồi. Người đàn ông từng dắt tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ giờ đây đã không còn khỏe mạnh như trước. 

Đến năm 45 tuổi, ngồi trong văn phòng với mái tóc lấm tấm bạc, tôi chợt nhớ đến những ước mơ của tuổi đôi mươi. Hóa ra, trên đường mưu sinh, tôi đã vô tình bỏ quên rất nhiều điều từng khiến trái tim mình rung động.

Năm 50 tuổi, nhìn con trai nắm tay người con gái nó yêu bước vào thánh đường, tôi mới hiểu hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ là được nhìn thấy con cái bình an và trưởng thành. Điều từng quan trọng nhất với tôi ngày nào, giờ đây đã trở thành hạnh phúc của con.

Năm 60 tuổi, tôi tiễn cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong khoảnh khắc ấy, những lời quở trách của cha, những tiếng cằn nhằn của mẹ mà trước đây tôi từng thấy phiền lòng lại trở thành ký ức quý giá nhất.

 Người xưa có câu: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.” Chỉ khi mất đi, con người mới hiểu có những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại là món quà vô giá.

 Năm 70 tuổi, người bạn đời của tôi cũng rời đi trước. Con cháu đều đã có cuộc sống riêng, căn nhà bỗng trở nên yên ắng hơn bao giờ hết. Mỗi lần nhìn những cặp vợ chồng già cùng nhau tản bộ, tôi lại nhớ đến bà nhà tôi. Hóa ra, thứ đáng quý nhất không phải là những gì mình sở hữu, mà là người vẫn còn có thể cùng mình đi hết quãng đường còn lại.

 Đến năm 75 tuổi, khi nằm trong bệnh viện và biết thời gian của mình không còn nhiều, tôi gọi điện cho cháu nội trai. Ban đầu tôi định nói thật nhiều điều, muốn dặn nó phải sống thế này, phải lựa chọn thế kia để sau này không hối tiếc. Nhưng khi cuộc gọi được kết nối, tất cả những lời chuẩn bị sẵn đều tan biến. Tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông nhớ con nhiều. Khi nào rảnh thì con về thăm ông nhé.

 Một năm sau, cháu trai trở về. Con trai, con dâu quỳ bên giường bệnh, nước mắt không ngừng rơi. Tôi cảm thấy mí mắt mình ngày càng nặng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy cha mẹ đang đứng trước mặt, vẫn trẻ như ngày nào, vẫn nở nụ cười hiền hậu quen thuộc. Họ dang rộng vòng tay đón tôi. Tôi chạy về phía họ và kỳ lạ thay, càng chạy tôi càng trở lại hình hài của một đứa trẻ ba tuổi. Tôi lại được cha mẹ ôm vào lòng như thuở bé.

 Trước khi rời đi, tôi ngoái đầu nhìn lại. Con trai, con dâu và đứa cháu nội trai vẫn ôm lấy thân xác già nua của tôi mà khóc. Tôi biết rồi nỗi đau ấy cũng sẽ dần nguôi ngoai, bởi vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục, giống như ngày xưa tôi đã từng tiếp tục sống sau khi tiễn cha mẹ mình.

 Đến lúc ấy, tôi mới hiểu rằng cả đời con người luôn đi tìm một điều quan trọng nhất. Nhưng thật ra, điều quan trọng nhất chưa bao giờ là một thứ cố định. Tuổi thơ có niềm vui của tuổi thơ, tuổi trẻ có khát vọng của tuổi trẻ, tuổi trung niên có những gánh vác riêng, còn tuổi già lại chỉ mong những người mình yêu thương vẫn còn ở bên cạnh.

 Có lẽ vì vậy mà người xưa luôn nhắc con cháu phải biết trân trọng hiện tại. Bởi điều hôm nay ta đang xem là bình thường, biết đâu ngày mai lại trở thành điều khiến ta nhớ nhất. Tiền bạc rồi cũng tiêu hết, danh vọng rồi cũng phai nhạt, chỉ có “tình thân, những điều tử tế đã trao đi và những ký ức đẹp đã cùng nhau tạo nên” mới thật sự ở lại trong lòng người khác.

Suy cho cùng, cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó. 

Có như vậy, khi ngoảnh đầu nhìn lại, chúng ta sẽ không phải tiếc nuối vì đã sống quá vội vàng mà quên mất những điều đáng quý nhất đang ở ngay bên cạnh mình.

Tú Uyên

From: NguyenNThu


 

TÌM CHO BẰNG ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Xin có được tâm hồn Khôn Ngoan

 Salomon khi đứng trước nhan Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc trong một thị kiến ban đêm cho ông những lựa chọn.  Chúa phán cùng ông rằng “Người muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi” (1V 3, 5).  Salomon không xin được sống lâu, giàu sang phú quý.  Ông cũng chẳng xin mạng quân thù.  Ông xin Chúa ban cho “một tâm hồn khôn ngoan” (1V 3, 9).  Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin, vì đẹp lòng Chúa: “Đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin… đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi” (1V 3, 12).  Ông xin và ông đã được. 

Nỗ lực tìm kiếm Chúa là Đấng Khôn Ngoan

Thiên Chúa muốn thông ban vinh quang đã có từ đời đời cho con người.  Vinh quang và hạnh phúc ấy là chính Chúa.  Chính con người cũng không biết mình được dựng nên để vui hưởng vinh quang với Thiên Chúa.  Theo Thánh Phao-lô thì Thiên Chúa biết chúng ta từ thuở đời đời; khi được tạo thành, Ngài đã gọi tên ta.  Theo nghĩa Thánh Kinh, Thiên Chúa biết và cưu mang chúng ta bằng cả tấm lòng, như người mẹ biết con mình khi cưu mang con trong dạ.  

Kế hoạch của Thiên Chúa là Ngài muốn chúng ta trở nên giống hình ảnh của Chúa Giê-su, Con Ngài.  Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta là một thành viên trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là một đại ân huệ Thiên Chúa dành cho chúng ta!  Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Con Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su, nhất là mang trên mình danh hiệu là Ki-tô hữu “Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). 

 Nếu chúng ta nghe và đáp lời Chúa, Thiên Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, hoan lạc, hạnh phúc và chiếu tỏa rạng ngời vinh quang Chúa, phù hợp với Thiên Chúa.  Vì kế hoạch của Thiên Chúa là “Những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc.  Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho họ được vinh quang” (Rm 8, 29-30).

 Trong khi đó, kế hoạch của con người, là đi tìm hạnh phúc.  Việc tìm kiếm này đòi hỏi phải phân định. Như chiếc lưới kéo lên tất cả các loại cá, nên hạnh phúc cũng có tất cả các loại.  Có những thứ hạnh phúc đích thực, có những thứ hạnh phúc rẻ tiền, hão huyền, trống rỗng và giả dối.  Vua Solomon đã xin Chúa ban cho một “tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ (1V 3, 9).  Để có hạnh phúc thật, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu.  Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt.  Có ơn phân định, để nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa. 

Bằng mọi giá để có được Nước Trời 

Với đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng ba dụ ngôn: Kho báu được chôn giấu, dụ ngôn viên ngọc quý và dụ ngôn lưới thả xuống biển để phác họa về Nước Trời.  Kho báu được chôn giấu và viên ngọc quý là hai thực tại quý giá nên cả hai người này đều bán tất cả để mua cho bằng được điều họ cho là quý nhất.  Điều căn bản của đời sống Ki-tô hữu cũng thế, để có được Nước Trời chúng ta đánh đổi vì Nước Trời.

 Người tìm thấy kho báu và thương gia đều bán mọi thứ họ có.  Như thế, chúng ta hiểu rằng việc xây dựng Nước Trời không chỉ đòi hỏi ân sủng của Thiên Chúa, mà còn cả sự sẵn sàng chủ động của con người.  Cử chỉ của người tìm thấy kho báu và thương gia, đánh đổi hết tài sản để mua điều quý giá hơn, là những cử chỉ quyết đoán.  Cả hai người này đều tràn đầy niềm vui vì họ đã tìm thấy kho báu.  Đây là bài học quý giá cho chúng ta.  Để có được Nước Trời, chúng ta từ bỏ gánh nặng của sự an toàn thế gian vốn làm cản trở chúng ta tìm kiếm và xây dựng Nước Trời.

 Ai cũng biết, trong thời đại hôm nay, cuộc sống của một số người có thể trở nên tầm thường và buồn tẻ, bởi họ có thể đã không tìm kiếm một kho báu thực sự là Chúa Giê-su.  Họ hài lòng với những thứ hấp dẫn nhưng phù du, với những ánh sáng lung linh nhưng hư ảo vì sau đó chúng đi vào bóng tối.  Thay vào đó, ánh sáng của Nước Trời không phải là pháo hoa, mà là ánh sáng: pháo hoa chỉ tồn tại trong chốc lát, còn ánh sáng của Nước Trời thì đồng hành suốt đời.

 Nước Trời thì trái ngược với những điều thừa thãi mà thế gian bày ra, nó trái ngược với cuộc sống tầm thường: đó là một kho báu làm mới lại cuộc sống mỗi ngày và mở ra những chân trời rộng lớn hơn.

Chúa Giê-su, Ðấng là kho báu ẩn giấu và là viên ngọc quý, Người luôn khơi dậy niềm vui khám phá một ý nghĩa cho cuộc sống của con người.  Niềm vui này thôi thúc người ta đánh đổi tất cả, phiêu lưu dấn thân để tìm kiếm.

 Chúng ta hãy xin với Mẹ Ma-ri-a, ngai tòa Đấng Khôn Ngoan giúp chúng ta tìm kiếm kho báu của Nước Trời mỗi ngày, để qua lời nói và cử chỉ của chúng ta, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Giê-su có thể được thể hiện. 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

 Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

 Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé. Câu nguyện cho nhau và cả thế giới chấm dứt chiến tranh và thiên tai nhé

Cha Vương

Thứ 4: 22/7/2026.       (t3-25)

Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:

– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)

– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)

– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới. 

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người. 

    Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.

    Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới.

  (Nguồn: Người Tín Hữu, hạnh các Thánh)

    Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.

Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trở Về Với Cha – Phan Hùng – Thế Thông – Nguyễn Hồng Ân – Ca Đoàn Sao Mai

CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓA!

Tâm Trần

 Sau ngày 30/04/1975 thì ngôn ngữ quái dị của miền Bắc đã lan truyền khắp miền Nam và bây giờ người dân miền Nam đã quên hay cố tình quên 2 chữ “Đá Banh” và thay vào đó là 2 chữ dị hợm – “Bóng Đá”! Bóng làm sao biết Đá ….

– “Thắng Xe” mà lại gọi là “Phanh Xe” ….

– “Vỏ Xe” mà lại gọi là “Lốp Xe” …

– “Chiếc Xe Hơi” mà lại gọi là “Con Xe hoặc Ô Tô” ….

– “Bảng Số” mà lại gọi quái gở là “Biển Số” … ở ngoài Biển làm gì có số? ….

– “Trái” mà đổi lại gọi là “Qủa”.

– “Quẹo Phải hoặc Quẹo Trái” mà lại nói là “Rẽ Phải – Rẽ Trái”.

– “Đậu Xe” mà lại nói là “Đỗ Xe”.

– “Xe Đò” quen thuộc cũng biến mất, thay vào đó là “Xe Khách”.

– “Khoảng 4 giờ”, thay vào đó là nói “Tầm” (Tầm 4 giờ chẳng hạn).

– “Một Đôi hay Một Cặp” mà lại cố tình nói SAI là “Cặp Đôi” tức là 4 … (Cặp là 2, Đôi cũng là 2).

– “Thập Niên” tức là 10 Năm mà bây giờ lại nói SAI là “Thập Kỷ” tức 1000 năm … (Century là 100 năm tức 1 Thế Kỷ … 9 Thế kỷ là 900 năm và 10 Thế kỷ là 1000 năm).

– “Đài Truyền Hình” mà lại nói là “Kênh Truyền Hình – Kênh Youtube”.

– “Phát Thanh hoặc Phát Hình” mà lại nói là “Phát Sóng”. Sóng làm gì có âm thanh và có hình mà phát!

– “Hợp Ca” mà lại nói là “Tốp Ca” và hai chữ “Hòa Âm” cũng bị thay vào đó là “Phối Âm”.

– “Bảo Đảm” mà đổi ngược lại nói là “Đảm Bảo”.

– “Hộp Thư” mà lại nói là “Hòm Thư”.

– Cái “Rương” đựng quần áo đổi lại gọi là cái “Hòm”.

– “Ly Bia” mà lại nói là “Cốc Bia”.

– “nước Dùng” chứ không nói là “nước Lèo” (nấu Hủ Tíếu, nấu Phở).

– “Căn Nhà” mà bây giờ lại nói là “Căn Hộ”.

– “Passport” không còn gọi là “Sổ Thông Hành” mà lại gọi là “Hộ Chiếu”.

– “Biên Giới” tức là giới ranh thì lại nói quái dị là “Cửa Khẩu”.

– “Quan Thuế Phi Cảng, Quan Thuế Hải Cảng”; thay vào đó thì ở Phi Trường hay ở Bến Cảng đều gọi là “Hải Quan”.

– “Phi Đạo” thì cũng gọi theo miền ngoài là “Đường Băng”.

– “Hàng Không Mẫu Hạm” mà chỉ biết “Tàu Sân Bay”

– “Chiến đấu cơ F35B thì lại gọi là “Tiêm Kích”.

– “Diễn Hành” nói là đi “Diễu Hành” tức là đi diễu cợt làm trò hề cho thiên hạ xem.

– “Đánh Nhau hay Đánh Lộn” mà bây giờ lại nói là “Tác Động Vật Lý”!

– “Người Điều Khiển Chương Trình”, thay vào đó là “Người Dẫn Chương Trình”.

– “Bực Mình hay “Bực Bội Khó Chịu” thì lại nói là “Bức Xúc”.

– “Bùng Binh” đổi lại gọi là “Vòng Xuyến”.

– “Chợ Đêm Saigon” gọi là “Phố Đêm Saigon”.

– “Ga Xe Điện” (Platform) gọi là “Ke Ga”, từ ngữ quái đản thô kệch.

– “Bàn Ủi”, thay vào đó gọi là “Bàn Là”.

– “Chích Ngừa” mà đi “Tiêm Chủng”.

– “Điều Tra” gọi là“Vào Cuộc”; vào cuộc là như thế nào? vào tham gia cuộc chơi hay sao?

– “Hồi Âm” như thế nào? thay thế vào đó 2 chữ “Phản Hồi” quái dị!

– “Đáp Số” cũng thay vào đó 2 chữ “Đáp Án”.

– “Số Điểm” đổi ngược là “Điểm Số”.

– “Hành Hung” mà chỉ biết nói “Tương Tác” xuất xứ từ ngoài vĩ tuyến.

Còn rất nhiều những ngôn ngữ quái đản của lũ khỉ rừng dốt nát chế ra … như “trộm vía”, “dư địa”v.v … không thể nói hết ở đây được!

Riêng những người Việt ở hải ngoại cũng đã bị Bắc hóa về ngôn ngữ không thua kém gì dân miền Nam, nhất là những người làm truyền thông và những trường học dạy tiếng Việt toàn dùng từ ngữ SAI bét…

Coi như tiếng Việt, chữ Việt phong phú trong sáng thanh tao càng ngày càng bị biến đổi và biến mất.

Buồn thay cho một nền ngôn ngữ của một vùng miền đang bị lãng quên dần!

DIỆP HẢI DUNG 


 

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại

Học viện Wecap

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại. Trước năm 30 tuổi, ông đã tạo ra một trong những đế chế rộng lớn nhất thế giới cổ đại, trải dài từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ. Ông là biểu tượng của quyền lực tối thượng, sự giàu sang vô biên và vinh quang bất bại.

Thế nhưng, ở tuổi 32, khi đang ở đỉnh cao quyền lực tại Babylon, ông bất ngờ lâm trọng bệnh. Đứng trước cái chết cận kề, nhìn lại vương quốc bao la dưới chân mình, vị hoàng đế trẻ tuổi nhận ra tất cả những cuộc chinh phạt, máu và nước mắt đổ ra bấy lâu nay bỗng trở nên vô nghĩa.

Ông triệu tập các tướng lĩnh trung thành lại và đưa ra 3 nguyện ước cuối cùng để ghi vào di chúc:

“Ta muốn các ngự y giỏi nhất phải đích thân khiêng linh cữu của ta ra nghĩa trang.”

“Ta muốn tất cả vàng bạc, châu báu, kim cương mà ta đã tích lũy suốt cuộc đời phải được rải đầy trên con đường dẫn ra mộ của ta.”

“Ta muốn hai bàn tay của ta phải được để thò ra ngoài linh cữu, mở rộng và ngửa lên trời cho tất cả mọi người nhìn thấy.”

Các tướng lĩnh vô cùng kinh ngạc, không hiểu lý do của những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander Đại đế thoi thóp giải thích:

“Ta muốn ngự y khiêng quan tài để mọi người hiểu rằng: Dù là những bác sĩ giỏi nhất thế giới, họ cũng hoàn toàn bất lực trước cái chết.

Ta muốn rải vàng bạc trên đường để nhắc nhở thế gian: Của cải mà ta dành cả đời cướp bóc, tích lũy, cuối cùng cũng chỉ nằm lại trên mặt đất.

Và ta muốn để hai bàn tay trống rỗng ra ngoài để ai nấy đều thấy: Ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, và ta cũng ra đi với hai bàn tay trắng.”

Giai thoại về cái chết của Alexandros là một tiếng chuông cảnh tỉnh sâu sắc cho cái tôi luôn đói khát bận rộn của con người. Chúng ta hằng ngày lao đi như thiêu thân để tích lũy tiền tài, địa vị, danh vọng, tự tạo ra áp lực và làm tổn thương tâm hồn mình vì sợ mất mát. Sống tỉnh thức là nhận diện rõ bản chất tạm thời của vật chất. Hãy sử dụng của cải như phương tiện phụng sự cuộc sống, nhưng đừng để mình bị dính mắc và trở thành nô lệ của chúng. Khi biết buông xả sự bám chấp, bạn sẽ tìm thấy sự tự do đích thực ngay trong từng phút giây hiện tại. 


 

 Làm sao để được khôn ngoan? – Cha Vương

Xin Chúa đổ đầy tim bạn Thánh Thần Chúa để Người hướng dẫn bạn trong ngày hôm nay và suốt cuộc đời.

Cha Vương

Thứ 3: 21/07/2026 (t4-24-24)

GIÁO LÝ:  Làm sao để được khôn ngoan? Người ta nên khôn ngoan nhờ học biết phân biệt cái gì chính yếu cái gì không chính yếu, đặt cái đích tốt cho đúng và chọn phương tiện tốt nhất để đạt đích. (YouCat, số 301)

SUY NIỆM: Nhân đức khôn ngoan hướng dẫn tất cả các nhân đức khác. Vì khôn ngoan là khả năng phân định cái gì là đúng. Nếu muốn sống một đời có đạo đức tốt, cần phải biết đâu là “cái tốt đích thật” và nó có giá trị gì. Như anh lái buôn trong Tin Mừng: khi gặp được viên ngọc quý, anh bán hết mọi cái anh có để mua cho được (Mt 13,46). Phải khôn ngoan trước hết để sau đó biết vận dụng đức công bằng, đức can đảm và đức tiết độ để hoàn thành “cái tốt”. (YouCat, số 301 t.t.)

❦  Khôn ngoan có 2 mắt: một thấy trước điều phải làm, một xem lại điều đã làm. (Thánh Ignaxiô Loyôla)

❦  Con chớ bao giờ lìa bỏ khôn ngoan, thì khôn ngoan sẽ giữ gìn con mãi. Hãy yêu mến khôn ngoan, khôn ngoan sẽ chở che bảo vệ. (Kn 4:6)

❦  Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không phải ai khác ngoài chính Ngôi Vị Thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đúng như sách Khôn Ngoan mô tả : Người tìm thấy niềm vui giữa loài người ... “Người đã làm người giữa muôn người … Người đã trao ban sự sống và thiết lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người ” (Kinh Tin Kính của Thánh Irênê).

LẮNG NGHE: Kính sợ ĐỨC CHÚA là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật. (Kn 9:10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của chính mình, luôn tìm kiếm Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan để con nên hoàn thiện giống như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. 

THỰC HÀNH: Tập cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần trước khi quyết định làm một điều quan trọng nào đó.

From: Do Dzung

***********************

NGƯỜI KHÔN KẺ DẠI (Lm Huy Hoàng) – Thanh Hoài