Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Catholic News

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Giữa tiếng ve râm ran của mùa hè, trưa thứ Bảy, ngày 11/7, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng bữa trưa với khoảng 200 người đang gặp hoàn cảnh khó khăn tại khu vườn của Dinh Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, nơi ngài đang nghỉ hè trong vài ngày.

Những người được mời tham dự bữa ăn đều đang đối diện với nhiều hoàn cảnh thử thách như vô gia cư, di cư hoặc phải rời bỏ quê hương. Họ chờ đón Đức Thánh Cha thành từng nhóm nhỏ dưới bóng những cây ôliu trong khuôn viên dinh thự.

Khi chào đón mọi người, Đức Thánh Cha mở đầu bằng một lời nói hóm hỉnh:

“Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói.”

Lời chia sẻ khiến các đầu bếp đang chuẩn bị món mì ngoài trời cùng mọi người bật cười. Tuy nhiên, ngài tiếp tục giải thích rằng đó là:

“Cơn đói về công lý, cơn đói về tình bác ái đích thực, cơn đói về một Giáo hội biết thực sự mở rộng cửa, biết đón tiếp và chào đón tất cả mọi người; một Giáo hội nơi tình yêu dành cho mọi người được thể hiện và không ai bị xem là kẻ thù.”

Gợi lại ý nghĩa của danh xưng “Giáo hoàng” (Pontiff), vốn có nghĩa là “người xây cầu”, Đấng kế vị Thánh Phêrô mời gọi mọi người cùng nhau xây dựng:

“một thế giới khác, một thế giới của hy vọng, một thế giới trở thành ánh sáng”, giữa một thực tại đang quá nhiều lần bị chia rẽ bởi bạo lực, hận thù và phân biệt đối xử.

Đức Thánh Cha nói:

“Hôm nay, chúng ta muốn xây dựng một nhịp cầu với tất cả anh chị em, với gia đình của anh chị em và với xã hội mà chúng ta mong muốn được sống – một xã hội công bằng. Một nơi mà những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói được loại bỏ, nơi những nguyên nhân của bất công vẫn còn tồn tại trong thế giới hôm nay được xóa bỏ. Đó chính là Giáo hội mà chúng ta mong muốn trở thành.”

Ngài cũng bày tỏ sự gần gũi với tất cả những ai đang sống trong đau khổ hoặc gặp nhiều khó khăn.

Trong bữa ăn, Đức Thánh Cha ngồi cùng bàn với một số đại diện của các khách mời, gồm: một người mẹ tị nạn đến từ Tanzania cùng hai con nhỏ (7 và 5 tuổi), một người Ukraine, một người tị nạn đến từ Peru và một người đến từ Sudan.

Thực đơn của bữa trưa gồm có:

  • Mì sốt Amatriciana
  • Thịt bê quay
  • Rau diếp xoăn
  • Dâu tây dùng với kem tươi.

Trước đó, vào ngày 17/8/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng đã dùng bữa trưa với khoảng 80 người có hoàn cảnh khó khăn. Hoạt động này hiện được dự định trở thành một cuộc gặp gỡ thường niên, do Borgo Laudato Si’ – trung tâm sinh thái của Vatican đặt trong khuôn viên Dinh Giáo hoàng mùa hè – tổ chức.

Một bữa ăn đơn sơ, nhưng là dấu chỉ cụ thể của sự gần gũi, lắng nghe và chia sẻ, đồng thời nhắc nhớ lời mời gọi không ngừng xây dựng một xã hội công bằng hơn, nơi phẩm giá của mỗi con người luôn được tôn trọng.

Jos Nguyen chuyển ngữ – Aleteia 


 

Dám làm dám chịu

Kim LeCâu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam

Dám làm dám chịu

Những gì đang xẩy ra quanh vụ đấu tố, bắt bớ các nhà văn, biên tập viên, nhà xuất bản ở Việt Nam khiến tôi nghĩ đến bài “Nỗi đau khổ không chỉ của riêng ai” viết cách đây một năm.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/31129502989974377

Những người thấp cổ bé họng, bị mất đất, bị bọn cường hào mới chèn ép luôn quằn quại đau khổ vì án oan. Nhiều khi hàng chục năm, có khi cả đời. Nhiều người bán hết cả nhà cửa, gia tài để lên Hà Nội, ăn chực nằm chờ, khiếu kiện, kêu oan cho người thân. Họ ngủ, nghỉ ở đâu cũng bị xua đuổi. Thế rồi cuối cùng con cái mình vẫn bị giết chết như tù nhân Lê Văn Mạnh. Gia đình tử tù Hồ Duy Hải sống khắc khoải suốt 12 năm qua. Vụ án lên đến Chủ tịch nước, Quốc hội mà vẫn không ai dám quyết. Chàng trai Nguyễn Văn Chưởng chờ chết trong tù suốt gần 20 năm qua. Nếu có lúc nào đó được ra khỏi tù, chắc cậu sẽ khó trở lại cuộc đời bình thường.

Nhiều lắm, những chuyện bất công đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Nhưng kể cả những kẻ tưởng như nằm chiếu trên của sự bất công  cũng chẳng sướng gì. Từ các vị tứ trụ, bộ chính trị, đại biểu quốc hội, đến chủ các tập đoàn nghìn tỷ, ai cũng có thể bị trảm bất cứ lúc nào. Thậm chí kể cả những người tin yêu chế độ, sùng tín lãnh tụ, muốn đưa một luồng sinh khí mới vào sử thi ca ngợi cũng có thể bị đập chết như ngóe. Tội danh thì không bao giờ thiếu. Bí thì bổ sung thêm vào luật hình sự những con số 88, 117, 331…. Luật pháp “cây nhà lá vườn” hay ở chỗ: Muốn thông qua quốc hội lúc nào cũng xong.

Đó chính là cái bi kịch trong một hệ thống kiên quyết không chịu xây dựng và phát triển xã hội dựa trên một nền tư pháp độc lập và khai phóng con người. Những kẻ cổ vũ hoặc góp phần xây dựng nền tư pháp bỏ túi đến lúc nào đó sẽ bị chính nó quật lại.

Thiên hạ đang nói về nạn đấu tố như những năm 1990 về trước. Họ mang “Cách mạng Văn hóa”, “Nhân văn Giai phẩm” ra so sánh. Về hiện tượng thì các vụ lùm xùm về sách vở gần đây giống như những gì diễn ra trong quá khứ. Nhưng về bản chất thì đã khác.

Trước kia nhà nước yếu kém, cả về kinh tế cũng như chính trị. “Thù trong giặc ngoài” là điều được nhắc đến thời đó. Đất nước bị cô lập nặng nề, chỉ vỏn vẹn có 12-13 nước bạn XHCN giúp đỡ và cổ vũ. Từ cây kim sợi chỉ đến hạt lúa mỳ phải xin từ nước ngoài. Sinh hoạt văn hóa thì nghèo nàn như phim “Bạch Mao Nữ” và buồn như “Chung một dòng sông”. Công cụ hiếm hoi để đảm bảo sự tồn tại của chế độ chỉ là sức mạnh quân sự và chuyên chính công an. Do đó mọi tư tưởng làm ảnh hưởng đến tính chính danh của chế độ, của đảng, của lãnh tụ đều bị đập chết ngay từ trong trứng.

Ngày nay Việt Nam đã ở vào một vị thế khác. Cho dù vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển, chưa công nghiệp hóa xong, nhưng là một quốc gia không chỉ đang tự nuôi sống được mình, mà bắt đầu tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sinh hoạt văn hóa và tự do báo chí tuy vẫn bị xếp vào danh sách 10 quốc gia mất tự do nhất hành tinh [1], nhưng người Việt khi vào Internet vẫn có nhiều lựa chọn hơn ở Trung Quốc, hoặc thậm chí ở Nga.

Điều quan trọng hơn cả là nhà nước này đã tự tin hơn.

Người ta biết rằng chế độ độc đảng không còn là trở ngại trong quan hệ quốc tế. Đã có hai vị Tổng Bí Thư đi thăm nước ngoài với cương vị đúng đầu nhà nước. Có được ba tổng thống Mỹ cùng vài nguyên thủ Tây Âu, Bắc Âu gọi họ một cách lễ phép: “Thưa ông Tổng bí thư”. Các nguyên thủ phương tây nay biết rõ rằng, để làm việc với Việt Nam một cách hiệu quả, phải nói chuyện với Tổng Bí thư. Hiến pháp chỉ là hình thức.

Sự tự tin này lên đến mức mọi phân định trách nhiệm giữa chính quyền và đảng cầm quyền đã bị xóa bỏ. Các cơ quan báo chí nhà nước như đài phát thanh VOV, truyền hình VTV, TTXVN rồi kể cả các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng trực thuộc đảng cầm quyền.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều từ công an, quân đội mà ra nên họ rõ hơn ai hết về mối đe dọa của chế độ. Số bản án, các vụ bắt bớ, kỷ luật dành cho quan chức, doanh nhân trong những năm qua đã vượt xa số các vụ án dành cho người bất đồng chính kiến. Đó đang và sẽ là thực tế ở Việt Nam. Thực tế này cũng gây ra những nhiễu loạn cho công chúng khi nhìn vào các sự việc. Cả “Nỗi buồn Chiến tranh” hay “Nói chuyện với Thanh” lúc đầu đều được báo chí chính thống vinh danh để rồi tác giả bị đánh hội đồng. Rồi chính các cơ quan ca ngợi họ đều rút lui, xóa bài. Thậm chí có lúc đại diện phe chính thống còn lên tiếng phê phán đám đông đánh hội đồng (Như ông cục trưởng gì đó vừa làm).

Đại loại là đều ê chề như nhau, người ca ngợi rồi rút lui, người bị đánh và đám đông đánh hội đồng.

Trong lúc người ta hỏi học sinh làm sao để nước ta có được những người như Steve Job, thì lại diễn ra đấu tố văn hóa, trong khi kêu gọi tinh giảm bộ máy hành chính thì lại bắt người dân đến thăm họ hàng qua đêm phải khai báo… Tất cả những dích dắc đó chứng tỏ nỗi sợ vấn còn quá lớn. Tôi không tin là các NXB sơ sót điều gì. Nền kiểm duyệt mà tôi cọ xát suốt bao năm qua chưa bao giờ lơ đãng.

Phong trào tạo phản chủ yếu xuất phát từ những cựu quan chức văn hóa bảo thủ. Tuy họ không nắm quyền lực nữa, nhưng vẫn đại diện cho một lực lượng đáng kể trong xã hội. Đám đông này thổi bùng ngọn lửa “Cách mạng” để được sống lại với quá khứ của họ. Ngọn lửa này cháy to rát mặt đến mức những người chủ trương làm ngơ cho dòng chảy cuối cùng cũng phải gật đầu “cho trảm”. Lúc đầu muốn chơi trò đột phá, nhưng khi bị tạo phản thì không ai dám chịu.

Nguyên nhân của bi kịch nằm ở lực lượng “Âm binh” được nuôi dưỡng từ trước kia, nay dù muốn hay không, cũng vẫn không kiểm soát nổi.

Mất kiểm soát và thiếu bản lĩnh bản lĩnh thì thối lui.

Tất nhiên cái thực tế này sẽ còn kéo dài, bất chấp tất cả mọi mong muốn “Hóa rồng” trong “Kỷ nguyên vươn mình”. Người ta vẫn dám chấp vì luôn tin vào tăng trưởng 8-10% /năm kéo dài sẽ đưa vị thế Việt Nam tiếp tục lên cao. Điều này duy trì được chừng nào đất nước tiếp tục phát triển bằng cơ bắp, bằng gia công, bằng xuất khẩu nông sản, tài nguyên, bằng những cái giá của môi trường.

Nhưng rồi thế hệ vàng sẽ chấm dứt, lao động chân tay sẽ cạn. Đến lúc đó đất nước cần những con người có có phẩm chất để tạo ra những sản phẩm cao cấp như Chips, AI, Nano. Những con người đó không thể sinh ra trong một xã hội không có tự do học thuât, không có tự do tư tưởng, mà chỉ quen a dua đánh hội đồng.

Giả sử ngày mai có phép thần để chấm dứt các trò ngu muội đó đi, thì cũng phải mất cả chục năm để nền giáo dục khai phóng và văn hóa nhân bản mới cho ra những con người đủ phẩm chất cạnh tranh với thế giới.

Phẩm chất con người không chỉ là kiến thức, mà quan trong hơn là lý trí, đạo đức và ý chí.

Đó là điều duy nhất tôi muốn nói.

Các nhân vật từng được ưu ái, chuyên nằm chiếu trên khi ra tòa thường ăn năn, khóc lóc, xin được tha để chuộc tội lỗi. Họ càng khóc lóc thì những người xưa nay tung hô nâng đỡ họ càng tìm cách xa lánh, phủi tay. Họ có nhiều tiền để sống dễ chịu hơn trong tù, được pháp luật nương tay cho ra sớm. Nhưng họ ra tù một các lặng lẽ, giấu giếm. Vì thể tôi không mất công để viết họ.

Ngược lại những người không hề được nương tay như Hùng Gàn Lê,  hoặc Pham Doan Trang khiến tôi kính trọng. Trước tòa họ luôn tỏ ra có khí phách “Dám làm, dám chịu”. Trong suốt 5 năm Hùng Gàn ngồi tù, mẹ con Tử Đinh Hương luôn nhận được sự đùm bọc của bạn bè. Ngày Hùng ra tù, hàng ngàn người chờ trên mạng mong được nhìn vợ chồng em hội ngộ. Năm năm tù đã làm Hùng suy kiệt về sức khỏe, tài sản, sự nghiệp. Nhưng em không rời bỏ nguyên tắc của cuộc đời.

Tôi không bao giờ quên hình ảnh Đoan Trang bị giải ra khỏi phiên tòa hôm 14.12.2021. Trang không khóc, chỉ ngoái cổ lại tìm mẹ để nói: „Mẹ ơi con yêu mẹ! Con không sợ gì đâu. Mẹ giữ sức khỏe nhé!“.

THO NGUYEN 


 

Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh.- Cha Vương 

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 15/7, Giáo hội mừng kính Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

https://youtu.be/QabvEw53W2k

Thứ 4: 15/7/2026.      (t3-25)

Thánh Bonaventura sinh tại Bagnorea miền Toscane năm 1221. Ngài trải qua thời niên thiếu tại dòng thánh Phanxicô Khó Khăn thành Assise (1243). Dưới sự hướng dẫn của Alexandre de Hales, ngài theo học văn chương và cũng thâu lượm nhiều kiến thức khoa học. Bảy năm sau, ngài cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Commentaire sur les 4 livres des sentences” và nhiều sách có giá trị khác.

Ngài có lòng dịu hiền tột bậc, lòng khiêm nhường sâu xa và lòng mộ mến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Năm 35 tuổi, ngài được bầu làm Bề Trên của dòng Phanxicô (1257). Với trọng trách nặng nề này, ngài được mọi người biết đến, không những vì học thuyết và sự thánh thiện nhưng còn vì sự thông minh và khôn khéo của ngài nữa. Chính vì vậy, năm 1273, Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô X đặt ngài làm Hồng Y coi địa phận Albanô. Ngài đã viết nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị và sau cùng ngài chết tại Lyon (1274), hưởng thọ 53 tuổi.

Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV nâng ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1482 và Ðức Giáo Hoàng Sixtô V đặt ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1588, vì ngài là cột trụ chống đỡ Giáo Hội, lưu tâm đến vấn đề hiệp nhất Hy Lạp và La Mã, đồng thời duy trì và củng cố dòng Phanxicô được lớn mạnh, vững vàng.

 (Nguồn: Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt, Vietnamese Missionaries in Asia)

Sau đây là những câu nói của Thánh Bonaventura:

(1) Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa.

(2) Tất cả của Mẹ là của con và tất cả của con là của Mẹ.

(3) Hỡi linh hồn các tín hữu, anh chị em muốn chứng tỏ tình yêu thật đối với người đã qua đời không? Anh chị em muốn gửi cho họ món quà trợ giúp quý nhất và chìa khoá mở cửa Thiên đàng không? Hãy năng rước lễ cho các linh hồn được an nghỉ.

(4) Nếu ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính Mừng thì Mẹ sẽ đáp lại ta bằng muôn ơn phúc.

(5) Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.

(6) Hạnh phúc cho những ai hiến dâng tâm hồn mình cho Mẹ! Hạnh phúc cho những ai hết tình phụng sự Mẹ!

(7) Ôi tình thương lạ lùng của Chúa! Muốn một ngày kia khỏi phải tuyên án tống giam chúng con vào ngục tuyệt vọng đời đời, Chúa đã ban Mẹ là Mẹ Chúa, là Chủ tối cao kho tàng ân sủng, làm Trạng sư bầu chữa chúng con.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 3 và 4.

From: Do Dzung

************

Chúa Yêu Con Nhiều

Nam Kỳ Hào Sảng

“Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu”.

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng.

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền. Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân.

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần em ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?”

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?”

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.”

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Kim Duncan chuyển

From: T. Nguyen 


 

Tỷ phú Buffett cắt khoản quyên góp cho quỹ Bill Gates sau vụ Epstein

Tỷ phú Buffett cắt khoản quyên góp cho quỹ Bill Gates sau vụ Epstein

Ba’o Nguoi-Viet

July 14, 2026

OMAHA, Nebraska (NV) – Tỷ phú Warren Buffett đã cắt khoản quyên góp cho Quỹ Gates, chấm dứt mối quan hệ hợp tác từ thiện kéo dài hai thập niên, sau khi những thông tin về các cuộc gặp gỡ giữa nhà từ thiện, người đồng sáng lập Microsoft (MSFT.O) Bill Gates và tội phạm tình dục Jeffrey Epstein bị phơi bày.

Thay vào đó, ông Buffett sẽ quyên góp khoảng $6 tỷ cho bốn quỹ liên quan đến gia đình mình, không hề nhắc đến Gates trong thông báo hôm Thứ Ba, 14 Tháng Bảy, theo Reuters.

Tỷ phú Bill Gates (trái) và tỷ phú Warren Buffett (phải) (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Tỷ phú Buffett cho biết trong tuyên bố rằng ông muốn toàn bộ cổ phiếu Berkshire Hathaway còn lại của mình, trị giá hơn $140 tỷ, được quyên góp cho từ thiện trước cuối năm 2034. “Tất nhiên, sự sống là không thể đoán trước, nhưng số cổ phiếu còn lại của tôi sẽ được quyên góp cho bốn quỹ này bằng cách này hay cách khác trước ngày 31 Tháng Mười Hai, năm 2034,” ông Buffett nói.

Tổng số tiền quyên góp khoảng $6 tỷ năm nay tương đương với mức quyên góp của mùa Hè năm ngoái, với các quỹ gia đình của Buffett: Quỹ Susan Thompson Buffett, Quỹ Sherwood, Quỹ Howard G. Buffett và Quỹ Novo, nhận được nhiều hơn đáng kể so với những năm trước. Cơ bản là khoản tiền lẽ ra sẽ dành cho Quỹ Gates, theo Reuters.

Hãng thông tấn AP nhận định, sự “phớt lờ” này đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý so với mối quan hệ hợp tác kéo dài của hai nhà tỷ phú. Ông Buffett và ông Gates từng là những người bạn rất thân thiết, thường xuyên trò chuyện, chơi bài trực tuyến và cùng tổ chức những kỳ nghỉ với nhau. Ông Gates từng ngồi trong hội đồng quản trị của Berkshire nhiều năm trong khi ông Buffett từng phục vụ trong hội đồng quản trị Quỹ Gates.

Phần lớn hoạt động từ thiện của ông Buffett, hơn $61 tỷ, đã đổ vào Quỹ Gates kể từ khi ông công bố cam kết quyên góp vào năm 2006. Nhưng ông Buffett nói với CNBC hồi Tháng Ba rằng ông đã không nói chuyện với ông Bill Gates trong nhiều tháng, kể từ trước khi các tài liệu liên quan đến hồ sơ Epstein được công bố vào năm 2025.

Khi nhắc đến vụ bê bối, ông Buffett nói với CNBC rằng “thật đáng kinh ngạc khi một người có thể thành công đến vậy với tư cách là kẻ lừa đảo,” ám chỉ khả năng của tội phạm Epstein trong việc lợi dụng điểm yếu của người khác.

Liên quan đến tỷ phú Bill Gates, gần đây ông đã trao đổi về mối quan hệ với Epstein cùng đội ngũ nhân viên của mình và xuất hiện nhiều lần trong các tài liệu của Bộ Tư Pháp liên quan đến cuộc điều tra Epstein, bao gồm các email trao đổi về các dự án từ thiện, các mục lịch trình và ảnh chụp tại các sự kiện.

Ông Gates đã điều trần trước Ủy Ban Giám Sát Hạ Viện về mối quan hệ này vào ngày 10 Tháng Sáu. Ông phủ nhận biết bất kỳ điều gì về tội ác của Epstein và chưa bị cáo buộc có hành vi sai trái. Ông Gates khẳng định ông chỉ gặp Epstein với hy vọng giúp gây quỹ cho các mục đích từ thiện.

Tội phạm tình dục Jeffrey Epstein được cho là đã tự tử tại nhà tù liên bang ở Manhattan vào Tháng Tám, năm 2019, theo giám định pháp y thành phố New York, trong lúc đang đối mặt với các cáo buộc lạm dụng tình dục hàng chục bé gái vị thành niên. (KL) [kn]


 

MÙ TỊT MÀ BIẾT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn!”.

“Nếu bạn là nhà thần học, bạn sẽ cầu nguyện thật sự; và nếu bạn cầu nguyện thật sự, bạn là nhà thần học!” – Evagriô Ponticô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nếu bạn cầu nguyện thật sự, bạn là nhà thần học!”. Một đứa trẻ năm tuổi hiểu được điều mà người bảy mươi tuổi thường không hiểu: Thiên Chúa là Cha. Lời Chúa hôm nay cho thấy, kẻ bé mọn xem ra ‘mù tịt’ lại biết Chúa theo cách sâu nhất: sống thân tình với Ngài – ‘mù tịt mà biết’.

Chúa Giêsu không đối lập trí tuệ với đức tin. Bản Hy Lạp gọi những người bé mọn là nēpioi – theo nghĩa sát, “những trẻ chưa biết nói”. Người khôn ngoan muốn biết để nắm; người “chưa biết nói” lại biết mình được nắm lấy. Một bên đứng ngoài mầu nhiệm; một bên để mình được dẫn vào trong. Vì thế, điều bị “giấu” không do Thiên Chúa cố tình che, nhưng vì con người tưởng mình đã thấy đủ, biết đủ và không còn chỗ cho điều gì mới mẻ. Lạ thay, điều trí óc muốn chiếm hữu lại chỉ tỏ mình cho một tâm hồn biết mở lòng.

Điều được mặc khải không phải một bí mật về Thiên Chúa, nhưng là chính Chúa Cha. “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con”; bởi chỉ Người Con mới biết Cha từ bên trong. Và khi muốn mặc khải Cha, Chúa Con không trao thêm một điều để hiểu, nhưng đưa con người vào chính sự sống Ngài nhận từ Cha. Người bé mọn xem ra biết ít, nhưng biết Thiên Chúa cách sâu nhất: một người con biết Cha mình. “Chính trái tim cảm nghiệm Thiên Chúa, chứ không phải lý trí!” – Blaise Pascal.

Đó là một mặc khải đầy niềm vui. Gioan Phaolô II lưu ý, Luca ghi nhận Chúa Giêsu “hớn hở vui mừng” trong Thánh Thần khi những người bé mọn được biết Chúa Cha. Ngài vui không phải vì mầu nhiệm được giấu khỏi người khôn ngoan, nhưng vì tình thân với Cha mở ra cho ai biết đón nhận. Có người không giải thích được Thiên Chúa, nhưng biết gọi Ngài bằng một tiếng rất gần: Cha!

Nhưng không phải mọi cái biết đều đưa con người đến gần Thiên Chúa. Vua Átsua tưởng mình làm nên lịch sử: “Nhờ sức mạnh tay ta, ta đã hành động, và nhờ sự khôn ngoan của ta nữa, vì ta thông minh”. Ông biết sức mình mà không biết bàn tay sử dụng mình; tưởng nắm mọi sự mà không hay mình chỉ là “ngọn roi” trong tay Thiên Chúa. Trái lại, người bé mọn không cần nắm lịch sử; chỉ cần biết: “Chúa không ruồng rẫy dân Người!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Cũng thế, chúng ta khắc khoải không vì biết quá ít, nhưng vì muốn nắm chắc mọi sự. Đức tin không cho thêm ánh sáng để thấy hết con đường; đôi khi, chỉ trao một bàn tay để bước tiếp. Người bé mọn bình an không vì hiểu mọi điều, nhưng vì giữa những điều chưa hiểu, họ biết mình đang được dẫn đi.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Người Con không cần nắm giữ gì, vì luôn ở trong tay Chúa Cha. Trên thập giá, đôi tay Ngài bị đóng đinh, nhưng tình con vẫn tự do phó thác; giữa bóng tối, Ngài vẫn trao mình cho Cha. Theo Ngài, chúng ta có thể chưa hiểu đường Cha dẫn, nhưng vẫn biết mình thuộc về Ai – ‘mù tịt mà biết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhỏ lại để đón nhận, tín thác khi chưa hiểu; và giữa bao điều còn mịt mờ, luôn biết mình đang được ôm lấy và được yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn

Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 11,25-27

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”


 

LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN- PHẠM SƠN LIÊM

 PHẠM SƠN LIÊM

 “Anh tên gì?”

“…”

“Số quân?”

“…”

“Đơn vị?”

Người sĩ quan già dụi tàn thuốc Bastos xuống gạt tàn. Ông ngước lên. Đôi mắt lạnh như đá.

“Hỏi ít thôi… sống lâu hơn.”

Cả căn phòng im bặt.

   Người ta nói… Một người lính phải có số quân. 

Để lãnh lương.

Để lĩnh quân trang.

Để báo tử nếu hy sinh.

Để khắc lên bia mộ.

Nhưng…

Có những người sinh ra trong cuộc chiến… Lại được huấn luyện để biến mất khỏi mọi hồ sơ công khai.

Không bảng tên.

Không cấp hiệu để khoe.

Không đơn vị để kể.

Chỉ có một mật danh……và một lệnh hành quân.

 “Các anh đi đâu?”

“Không được hỏi.”

“Bao giờ về?”

“Nếu còn.”

“Có ai đón không?”

“Có…”

“Ai?”

Người toán trưởng cười nhạt.

“Thượng Đế.”

   Họ là những quân nhân được tuyển chọn vào các công tác đặc biệt, phối hợp với MACV–SOG và Nha Kỹ Thuật trong những nhiệm vụ bí mật.

Có những chuyến đi… Không có trên bản đồ.

Có những mục tiêu… Không có trong bản tin.

Có những chiến công…Không được công bố

Và cũng có những cái chết…

Không kèn.

Không trống.

Không vòng hoa.

   Trực thăng chỉ xuất hiện vài phút.

Thả người.

Cất cánh.

Mọi thứ lại chìm vào tiếng của rừng.

Người đi…

Tự sống.

Tự chiến đấu.

Tự tìm đường về.

Nếu còn đường.

   “Mất liên lạc!”

“Bao lâu?”

“Ba ngày.”

“Cứu không?”

Viên sĩ quan nhìn tấm bản đồ rất lâu. Rồi gấp lại.

Giọng ông lạnh đến gai người.

“Không ai biết họ ở đó.”

Chỉ một câu.

Đủ khiến cả căn hầm nặng như chì.

   Nhiều năm sau… Một nhà báo hỏi một cựu quân nhân:

“Ông có thể kể về những ngày ấy không?”

Ông lắc đầu.

“Đã giải mật rồi mà.”

Ông mỉm cười.

Một nụ cười buồn.

“Giấy tờ có thể giải mật…”

“…nhưng lời hứa với đồng đội thì không.”

  Có người hỏi:

“Điều đáng sợ nhất của chiến tranh là gì?”

Không phải đạn.

Không phải mìn.

Không phải những cánh rừng tối.

Mà là… Ngày anh ngã xuống…

Không ai dám gọi tên anh.

Không phải vì anh không xứng đáng.

Mà vì nhiệm vụ của anh được sinh ra trong bóng tối.

Và có những người lính…

Đã chấp nhận sống cả tuổi thanh xuân trong bóng tối ấy.

Để khi đất nước cần… Họ xuất hiện. Khi nhiệm vụ xong… Họ biến mất.

Không đòi một lời tung hô.

Không cần huân chương.

Chỉ để lại một câu nói mà những người từng khoác áo trận đều hiểu:

“Có những người lính chiến đấu cho Tổ quốc… nhưng ngay cả lịch sử cũng không biết hết tên họ.”

Phạm Sơn Liêm.

 From: Tu-Phung


 

TẬP TRUNG VÀO CHÚA – Trầm Thiên Thu 

 Trầm Thiên Thu 

 Giáo Hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Bonaventura (1221-1274) ngày 15 tháng 7.  Thánh nhân sinh trưởng tại Ý, và ngài được mệnh danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” (Seraphic Doctor), là một trong các thần học gia nổi tiếng của Dòng Phanxicô, và là người đã viết tiểu sử Thánh Phanxicô bằng thơ, bài “Cuộc đời Thánh Phanxicô” (The Life of St. Francis) và bài “Hành trình Tâm trí tới Thiên Chúa” (The Journey of the Mind to God).

 

Ngài nổi danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” bởi vì ngài thực sự sở hữu tinh thần của Thánh Phanxicô, Ngài được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô để giúp cộng đoàn hồi phục lòng yêu mến tinh thần của Thánh Phanxicô.  Có nhiều điều được biết về Thánh Bonaventura, nhưng người ta có thể ít biết rằng tầm ảnh hưởng của vị thánh này đối với nền tảng thần học của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger – tức là nguyên Giáo Hoàng Benedict XVI. 

Thánh Bonaventura sống trong thế kỷ 13, thời gian tốt cho đức tin Kitô giáo, khi xã hội thấm nhuần và chịu ảnh hưởng nhiều từ các tác phẩm văn chương, thần học và triết học.  Hồi nhỏ, Bonaventura bị bệnh nặng đến nỗi người cha là bác sĩ cũng đành “bó tay.”  Tuy nhiên, người mẹ tin tưởng cầu nguyện với Thánh Phanxicô Assisi để xin chữa cho con trai, và rồi Bonaventura đã bình phục.  Chính sự kiện này về sau đã ảnh hưởng đến quyết định đi tu của Bonaventura. 

Sau khi gia nhập Dòng Phanxicô, Bonaventura được gởi đi học thần học tại Đại học Paris.  Tại đây, Bonaventura học Kinh Thánh và Châm ngôn của Peter Lombard, rồi bảo vệ luận án với tựa đề “Bàn về việc nhận biết Đức Kitô” (Questions on the knowledge of Christ).  Đây là điều chủ yếu để hiểu về thần học của Thánh Bonaventura. 

Khi tu sĩ Bonaventura được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô, mục đích chính của ngài là kết hợp phong trào Phanxicô và tái nhen nhóm lòng yêu mến tinh thần nghèo khó và vị sáng lập là Thánh Phanxicô.  Thánh Bonaventura muốn các tu sĩ hiểu rằng họ cũng được mời gọi trở nên “một Kitô khác” và tuân theo Đức Kitô.  Thánh Bonaventure muốn các tu sĩ mời Đức Kitô đến sống trong lòng họ, để họ có thể sống trọn lời khấn nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời vui vẻ rao giảng Tin Mừng cho mọi người.  Ước muốn này của Thánh Bonaventura là điều mà tất cả chúng ta có thể đạt được trọn vẹn, bất kể chúng ta sống ở bậc nào. 

Trong thời Thánh Bonaventura, có một sai lầm nổi lên trong Dòng Phanxicô.  Một nhóm gọi là “Tinh Thần Phanxicô” (Spiritual Franciscans) đã theo cái bài viết của Joachim Fiore, hiểu toàn bộ lịch sử là “lịch sử của sự tiến bộ: từ sự nghiêm ngặt của Cựu Ước tới sự tự do tương đối của thời Chúa Giêsu, trong Giáo Hội, tới sự tự do hoàn toàn của con cái Thiên Chúa trong thời của Chúa Thánh Thần.”  Thánh Bonaventura thấy đó là sai lầm nghiêm trọng về sứ vụ của Thánh Phanxicô, do đó ngài đã nghiên cứu các tác phẩm của Joachim Fiore để có thể chấn chỉnh sai lầm trong dòng.  Từ đó, Thánh Bonaventura phát triển cách hiểu về lịch sử của Giáo Hội, bác bỏ lịch sử về Tam vị Nhất thể của Joachim, và tuyên bố rằng “Thiên Chúa là một đối với toàn bộ lịch sử.”  Thánh Bonaventura xác định: “Đức Giêsu Kitô là lời cuối cùng của Thiên Chúa; nơi Ngài, Thiên Chúa đã nói mọi điều, trao ban và giải thích chính Ngài.”  Điều này có nghĩa là Thiên Chúa mặc khải Giáo Hội, và không có gì “mới” được mặc khải mà lại không có trong sự mặc khải. 

Tư tưởng tiến bộ về lịch sử của Thánh Bonaventura là sáng kiến khi so sánh với các giáo phụ.  Thánh Bonaventura không bác bỏ các giáo phụ, nhưng ngài thấy rằng Đức Kitô đã đem sự mới mẻ đến trong Giáo Hội và sự phong phú của Đức Kitô là vô tận.  Với Đức Kitô là trung tâm, chúng ta có thể phát hiện nhiều kho tàng mà Ngài trao ban cho chúng ta qua Ngôi Lời.  Đức Kitô là Đấng mà chúng ta có thể khám phá sự mới mẻ trong các giáo huấn và truyền thống của Giáo Hội. 

Một số người cho rằng như thế thì Giáo Hội xuống dốc.  Dựa vào thần học của Thánh Bonaventura, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích: “Công việc của Đức Kitô không thụt lùi mà tiến tới.”  Hơn nữa, chúng ta không thể nói rằng Giáo Hội “hoàn toàn mới” và mọi truyền thống trong quá khứ đã lỗi thời.  Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích về tính mới mẻ của Giáo Hội: “Giáo Hội sẽ là gì nếu không có tinh thần mới của Dòng Xitô, Dòng Phanxicô, Dòng Đaminh, tinh thần của Thánh Teresa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá?  Theo thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta có cách hiểu mới về tinh thần trong lịch sử Giáo Hội: hoạt động của Giáo Hội luôn tiến tới, với Đức Kitô ở giữa và ở cuối tầm nhìn theo Bát Phúc.”  Thánh Bonaventura hiểu sự thật này nhờ tận hiến cho Đức Kitô qua lời cầu nguyện.  Thánh Bonaventura làm gương cho chúng ta về cách “học hỏi ở trường học của Thầy Chí Thánh,” và chúng ta nên noi gương thánh nhân.  Ước muốn canh tân dòng khó nghèo hồi thế kỷ 13 có thể gợi hứng cho chúng ta khi chúng ta muốn canh tân hoặc tái truyền giáo cho những người đã lạc xa Thiên Chúa.

 Sự nhấn mạnh của Thánh Bonaventura về việc canh tân truyền thống đan tu làm cho ngài trở thành một vị thánh thích nghi với mọi thời đại, đặc biệt đối với việc Tân Phúc Âm Hóa, bởi vì thời đại chúng ta rất cần giúp đỡ nhau và giúp người khác tái tập trung vào Đức Kitô là trung tâm của đời sống và vũ trụ.  Đức Kitô là “cùng đích” của mọi thụ tạo theo một ý nghĩa nào đó, Ngài cũng ở giữa lịch sử cứu độ – Ngài muốn nối kết với chúng ta trong tâm hồn chúng ta và là “tâm điểm” của chúng ta.  Thông qua thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta gặp được Đức Kitô – Đấng là trung tâm của Phụng Vụ. Chính Phụng Vụ là nơi trời gặp đất, cử hành Thập Giá, khi chúng ta có thể lãnh nhận Thánh Thể Đức Kitô.  Cùng với Thánh Bonaventura, chúng ta có thể cầu nguyện: “Suy niệm về Thập Giá của Đức Kitô thật tốt lành biết bao!” 

Trầm Thiên Thu

(chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)


 

Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh

  Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão: Con trai, con dâu mừng lắm, nghỉ hưu như thế, là điều tôi chẳng ngờ !

Mọi người trong khu phố của chúng tôi đều biết bà Sử sẽ vào viện dưỡng lão. Ngày này, con cái đều lo lắng sự nghiệp, lo cho gia đình, không có nhiều thời gian, người già trong khu phố của chúng tôi cũng có mấy người vào viện dưỡng lão.

Hôm qua tôi gặp bà Sử ở trong xóm ôm chú chó và trò chuyện với hàng xóm, bà nói sắp vào viện dưỡng lão, trong viện dưỡng lão không được phép nuôi chó nên hàng xóm xem có ai nhận nuôi không.

Nhiều người hỏi bà: “Bà có nhà to, có con trai, sao lại muốn vào viện dưỡng lão?”. Nghe vậy, bà Su không khỏi thở dài, khiến ai nấy đều cảm động, bà nói: “Ở tuổi già, những vấn đề có thể giải quyết bằng tiền, hãy cố gắng không làm phiền con cái”.

Dưới đây là câu chuyện được bà Sử kể lại:

“Năm nay tôi đã 73 tuổi, chồng tôi đã mất đã mấy năm. Tôi chỉ có một con trai và nó không sống cùng thành phố với tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những năm cuối đời mình sẽ vào viện dưỡng lão, nhưng bây giờ tôi phải đi.

Vợ chồng tôi đều từng làm việc trong cơ quan nhà nước. Khi còn trẻ, nhiều gia đình ghen tị như gia đình chúng tôi, có công việc tử tế, điều kiện kinh tế tốt và lương hưu cao khi về già. Tôi cũng từng nghĩ như vậy, so với nhiều người già thì điều kiện của tôi đã tốt hơn hầu hết mọi người rồi. Tôi chưa bao giờ lo lắng về tuổi già của mình.

Vợ chồng tôi đã thống nhất từ lâu rằng khi về hưu, tôi sẽ học vẽ, sau đó sẽ cùng nhau đi du lịch, thăm thú sông núi bao la của quê hương.

Con trai tôi sau khi tốt nghiệp đại học đã đi tỉnh khác, để lập nghiệp riêng nên bận rộn nên hiếm khi về nhà. Sau đó, con trai lấy vợ và có con ở đó, gia đình chúng tôi chỉ gặp nhau vào những ngày nghỉ lễ.

Tôi và chồng đều ủng hộ con trai và ủng hộ nó làm những gì nó thích. Vì vậy, mấy năm nay vợ chồng tôi luôn nương tựa vào nhau, nếu có thể tự mình giải quyết việc gì thì cố gắng không làm phiền con trai tôi.

Tôi tưởng vợ chồng tôi có thể ở bên nhau đến già nhưng cuộc sống có nhiều bất ngờ khiến người ta phải bất ngờ. Cách đây một năm, chồng tôi đổ bệnh, tôi gọi xe cấp cứu đưa ông đi bệnh viện ngay, tuy nhiên ông nằm trong phòng ICU hơn nửa tháng vẫn không cứu được.

Nửa tháng sau, bác sĩ nói chúng tôi đưa ông ấy về nhà để hồi phục. Khi chồng tôi ốm, con trai tôi chỉ về ở hơn một tuần, nó phải vội vã quay lại làm việc, con dâu tôi cũng không về vì các cháu nhỏ phải đi học và con dâu tôi phải ở nhà chăm sóc.

Tôi nói với con trai tôi, con bận công việc, mẹ sẽ chăm sóc bố con. Sau khi chồng tôi về nhà, ông ấy gần như rơi vào tình trạng sống thực vật. Ông ấy không thể tự ăn hay nói, ông ấy chỉ nằm đó hàng ngày.

Đôi khi tôi không hiểu tại sao chồng tôi, vốn luôn có sức khỏe tốt, lại đột nhiên rơi vào tình trạng sống thực vật. Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện xảy ra bất ngờ, chỉ trong vài giây, số phận của một người, thậm chí của một gia đình có thể bị thay đổi.

Dù chồng đã bất tỉnh nhưng tôi vẫn mong một ngày nào đó ông ấy sẽ bất ngờ nói chuyện với tôi, tôi cũng mong ông ấy sẽ khỏe lại và cùng tôi đi du lịch. Tuy nhiên, cuối cùng, ông ấy đã “tàn nhẫn bỏ đi” sau hai tháng.

Sau khi ông ấy đi, tôi đặc biệt sợ hãi. Đặc biệt là về đêm, khi tôi sống một mình trong ngôi nhà lớn như vậy, trống trải và tĩnh lặng quá. Im lặng đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng một chiếc kim rơi xuống đất

Tôi không thể chịu đựng được nữa nên gọi điện cho con trai và nói với nó: “Ở nhà một mình, mẹ rất sợ”. Con trai tôi nói sẽ đón tôi về ở đó một thời gian, tôi không còn cách nào khác là phải làm phiền con trai mình.

Tôi thu dọn hành lý và bắt tàu cao tốc đến nhà con trai vào ngày hôm sau. Trước đây, tôi đã đến nhà con trai tôi nhiều lần nhưng chỉ ở trong thời gian ngắn và hầu hết không kéo dài quá một tuần. Lúc đó tôi luôn đi cùng chồng tôi, chúng tôi thường đi dạo, con dâu tôi khá nhiệt tình.

Nhưng lần này đến nhà con trai, tôi luôn cảm thấy có gì đó không ổn, thái độ của con dâu đối với tôi rất lãnh đạm. Con dâu tôi là người rất sạch sẽ, nhà cửa luôn ngăn nắp. Những năm gần đây, con trai bận rộn với sự nghiệp, từ khi có con, con dâu đều ở nhà chăm sóc con cái và quản lý tài chính của công ty.

Ban ngày con trai tôi không có ở nhà nên chỉ có tôi và con dâu. Dù con dâu rất lễ phép và tôn trọng tôi nhưng tôi vẫn cảm thấy không thoải mái. Để giảm bớt sự gượng gạo này, tôi muốn cố gắng hết sức để tìm việc gì đó có thể làm cho bản thân, đồng thời tôi cũng muốn giúp đỡ con dâu và khiến con cảm thấy thoải mái hơn.

Tôi chủ động đi chợ mua những loại rau mà các con trai tôi yêu thích khi còn nhỏ và muốn nấu món gì đó thật ngon cho chúng. Nhưng con dâu tôi nói không cần tôi nấu vì sợ làm tôi mệt.

Ăn tối xong, tôi vội vàng dọn bát đĩa và rửa bát trong bếp. Sau này tôi phát hiện ra rằng mỗi lần tôi rửa bát, con dâu tôi lại rửa lại.

Có lần con dâu nói với tôi: “Mẹ ơi, con thấy nhiều người già ở tuổi mẹ không thích sống cùng con cái, mẹ có thấy thoải mái khi sống ở đây không?”

Tôi vội nói: “Làm quen được mà, ở với các con là tốt rồi”.

Con dâu nói tiếp: “Nghe nói cơ sở vật chất hỗ trợ ở viện dưỡng lão bây giờ rất đầy đủ, người già ở đó thường tổ chức một số hoạt động, có nhiều người cùng tuổi có thể nói chuyện, nhảy múa cùng nhau, rất là tốt. Dì Lữ hàng xóm nhà con, con trai và con gái của bà đã mời bà đến chơi, nhưng dù thế nào đi nữa bà cũng không muốn sống với họ và phải sống trong viện dưỡng lão”.

Tôi chỉ biết “ồ”. Lòng chợt hiểu ra, con dâu đây là đang ám chỉ mình.

Con dâu liền nói tiếp: “Mẹ ơi, căn nhà rộng 130m2 của mẹ bây giờ trị giá hơn 2 triệu (khoảng 6,8 tỷ đồng) phải không?

Chiều hôm đó, con dâu nói chuyện với tôi có vẻ thản nhiên, có lẽ đó là điều mà con dâu tôi đã suy nghĩ từ lâu.

Tôi nhớ rằng khoảng nửa tháng qua tôi đã đến nhà con trai tôi, mặc dù bề ngoài con dâu tôi rất lễ phép với tôi nhưng thực ra trong lòng không chào đón tôi đến sống ở đây lâu dài.

Trên thực tế, điều này có thể hiểu được. Có bao nhiêu người dám khẳng định sẽ sẵn sàng sống với người già? Con dâu tôi khá hiếu thảo, ít nhất vẫn không thẳng tay đuổi tôi ra ngoài, tôi rất biết ơn.

Mấy hôm sau, khi con trai đang ở nhà, tôi nói với con: “Mẹ đột nhiên muốn vào viện dưỡng lão, ở đó có nhiều người già bầu bạn, lại có chương trình dành cho người già. Con đưa mẹ đi xem nhé”.

Con trai và con dâu đưa tôi đi thăm một số viện dưỡng lão từ trung cấp đến cao cấp ở địa phương, cơ sở vật chất hỗ trợ rất tốt, nhân viên rất nhiệt tình. Có rất nhiều người lớn tuổi bằng tuổi tôi ở trong đó và họ đều rất vui vẻ.

Tôi đã chọn một viện dưỡng lão mà tôi hài lòng nhất và ổn định ở đó. Khi chúng tôi trở về, con trai và con dâu rất vui mừng”.

Mấy ngày nay, bà Sử bận rộn sắp xếp việc bán nhà, khi từ nhà con trai về, bà đã đăng ký căn nhà với một công ty bất động sản. Bà ấy nói với chúng tôi có thể bà sẽ không quay lại đây trong tương lai, thậm chí còn tặng chú chó mà bà ấy rất mực thương yêu cho người xứng đáng, sẽ chăm sóc và yêu thương nó.

Bà còn bảo hàng xóm sang nhà chọn đồ, thích gì thì lấy nấy và cho miễn phí. Có người chọn lấy sofa của bà, có người lấy đi vài chậu hoa lan mà bà yêu thích, và còn có những người lấy đi vài thiết bị điện nhỏ. Tôi đã lựa chọn vài cuốn sách hay từ trong chiếc tủ sách lớn của bà.

Khi tôi rời đi, nhìn vào ngôi nhà sang trọng hơn 130m2 của bà, lòng tôi dâng trào cảm xúc: Khi về già, tôi sẽ về hưu ở đâu?


 

GẦN QUÁ HOÁ XA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hỡi Capharnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư?”.

“Thế giới sẽ không chết vì thiếu những điều kỳ diệu, nhưng vì thiếu sự kinh ngạc!” – G. K. Chesterton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi điều kỳ diệu không còn làm con người kinh ngạc, ân sủng có thể ở ngay trước mắt mà lòng vẫn ở rất xa – ‘gần quá hoá xa’.

Corozain, Bethsaiđa và Capharnaum đã chứng kiến bao việc kỳ diệu Chúa Giêsu làm, nhưng lòng họ vẫn không đổi. Điều xảy ra quanh họ đã không xảy ra trong họ: phép lạ chỉ gây kinh ngạc, nhưng không đưa đến hoán cải. Tyrô và Siđôn từng bị các ngôn sứ lên án như biểu tượng của kiêu căng và xa cách Thiên Chúa; thế mà Chúa Giêsu lại nói, nếu những phép lạ ấy được thực hiện ở đó, “họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi”. Một nghịch lý đau đớn: những kẻ bị coi là ở xa đã có thể đến gần; những người tưởng mình ở gần lại ngày một xa. “Chúng ta đã có trải nghiệm, nhưng bỏ lỡ ý nghĩa!” – T. S. Eliot.

Capharnaum còn gần Chúa Giêsu hơn; thành này được gọi là “thành của Ngài”. Vì thế, lời cảnh báo cũng nghiêm khắc hơn: “Ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!”. Bi kịch của Capharnaum là dấu vết của Chúa Giêsu có khắp thành, lại không in sâu trong lòng người. Họ đã biến sự hiện diện thành quen thuộc, ân huệ thành điều đương nhiên – ở rất gần Chúa mà lòng ngày một xa.

Isaia cũng nói về một thành – một Giêrusalem run sợ trước quân thù, nhưng Thiên Chúa bảo: “Nếu các ngươi không vững tin, các ngươi sẽ không đứng vững!” – bài đọc một. Trong nguyên ngữ Hípri, “vững tin” và “đứng vững” cùng thuộc một gốc từ với tiếng Amen: chỉ ai tựa vào sự vững chắc của Thiên Chúa mới thật sự đứng vững. Chính niềm tin ấy làm sáng lên lời Thánh Vịnh đáp ca: “Thiên Chúa củng cố thành đô đến muôn đời muôn thuở!”. Lạ thay, một thành bị đe doạ vẫn có thể đứng vững nhờ tín thác vào Chúa; còn “thành của Ngài” lại có thể “nhào xuống” vì ở gần Chúa mà không để Ngài biến đổi.

Cũng thế, với chúng ta. Có khi khoảng cách với Chúa không bắt đầu bằng một lần quay lưng, nhưng bằng những lần trì hoãn rất nhỏ: một điều biết phải đổi mà cứ lần lữa đến ngày mai; một tiếng gọi đã nghe nhưng không đáp; một ân huệ đã nhận mà không còn biết tạ ơn. Lòng người xa dần không vì Chúa rời đi, nhưng vì con người không còn bước về phía Ngài. “Đó là cát lún: cát lún của một cuộc sống tầm thường. Hãy bắt đầu bước đi, bởi chính Chúa thúc đẩy bạn bước đi!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ đến gần; Ngài còn mang lấy mọi khoảng cách con người đã tạo ra trước Thiên Chúa. Trên thập giá, Đấng ở gần Chúa Cha nhất đã đi vào tận miền xa nhất của phận người, để không ai còn quá xa mà không thể trở về. Vì thế, hoán cải không phải là cố vượt một khoảng cách để tìm Chúa, nhưng là mở lòng cho Đấng đã đến gần, và để sự hiện diện của Ngài biến đổi mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết đáp lại điều đã nghe, đổi thay điều được mời gọi; và mỗi ngày tìm về Chúa chứ không xa rời Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn: 

Đến ngày phán xét, thành Tia, thành Xi-đôn và đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.      Mt 11,20-24

20 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối. Người nói :

21 “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din ! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi. 22 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xi-đôn còn được xử khoan hồng hơn các ngươi. 23 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư ? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi ngươi mà được làm tại Xơ-đôm, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay. 24 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.”


 

Đất khổ rồi!!!- Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

13/07/2026

Sau những trận bão, trận lụt triền miên cuốn trôi cả nhà cửa, ruộng vườn có khi chỉ trong chớp mắt. Nó như một trận  hồng thủy của ngày tận thế!!

Không ai ngờ và tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra cho con người.

Nhất là trái đất đã cướp đi hàng trăm sinh mạng con người, cuốn họ trôi đi hàng trăm cây số mà đôi khi không còn tìm thấy xác nữa.

Thiên nhiên đã thật sự làm khó con người và trái đất đã gửi đi lời cầu cứu mà tương lai đôi khi chỉ còn là giấc mơ.

Nhất là các vùng Tây nguyên mất rừng, mất đất, mất làng như đụng vào chính trái tim của trái đất.

Ngoài cái thiên tai, còn cái nhân tai mà nếu con người biết tôn trọng những điều đang có thì còn có hy vọng những điều tốt đẹp hơn.

Quả đúng, nay là mảnh đất khổ, mảnh đất bị nguyền rủa.

Mảnh đất ấy nay nó sẽ kéo theo cái nghèo không chóng thì chày cũng xảy đến cho con người không chỉ bằng những thống kê, những con số. Nhưng là cái nghèo trên thục địa mà con người có thể sờ thấy, hoặc cảm nghiệm được qua những bữa ăn mà chính thức có khi cả năm không hề được đụng tới miếng thịt, họa huần được it cá khô, phần còn lại chỉ là hoặc là lá đu đủ hoặc hoa đu đủ đắng ngắt trên các miền đất khô cằn của cao nguyên đá.

Chưa kể khi ốm đau bệnh tật hoặc khi mang thai sinh đẻ, đẻ xong không có sữa cho con bú..Đôi khi phải dùng nước vo gạo thay cho sữa mẹ.

Vì thế tuổi thọ các người vùng cao  như  Mèo Vạc, Đèo Mã Pì Lèng thường chỉ  sống đến 50, 60 là cùng. Tôi đã thấy những ông bố  dượng mới 29 tuổi. Đứa con gái đã mất bố ruột nó hồi nó mới được 8 tuổi. Mẹ nó đi bước nữa lấy tên bố dượng nhỏ hơn bà 5 tuổi. Nay con gái ruột của bà đã 15-16 chỉ ít tuổi hơn tên bố dượng mười mấy tuổi.

Nói dại, thằng bố dượng nếu tham lam, nó có thể lấy cả mẹ lẫn con cũng được

Vì thế, con gái vùng cao như gái M’ong sớm rõ thân phận mình thường lấy chồng sớm, tuổi từ 14,15,16 mà ngực mới nhú chúm chím như quả cau..

Chúng có tên tuổi hăn hoi như em Lầu Thị Xí, 19 tuổi. Em Hà Thị Mai 18 tuổi. Rồi những em tên Láy, tên Mừng.

Đến tuổi 17, 18 được coi như tuổi dạy thì, đủ lông, đủ cánh thì tiếc thay các cô gái lo sợ, được coi như gái già, gái ế.

Lo cho tương lai mình vốn đen tối, không có tương lai. Các em đều ấp ủ mong muốn được lấy chồng người Kinh như thoát cảnh nghèo và những tù túng của của miền đất khổ.

Nhưng từ mảnh đất khổ ấy tưởng chừng mọi hy vọng chỉ là nỗi tuyệt vọng đến cho con người..

Không, trong đêm tối của trái đất, nó le lói cái mà hiếm hoi và mong đợi, người ta gọi là: Tình người. Nó xuất hiện như thể trong một đêm muộn trong sự chờ đợi như thể trái đất biết nghe những câu chuyện huyền thoại.

Trong đó, có rất nhiều người có một tấm lòng đã dấn thân, đã lặn suối, leo đèo, đã đơn độc đi tới các vùng xa xôi, hẻo lánh để  thồ những kiện hàng như một hai bao xi măng, bao cát mà đôi khi phải có một người chạy theo sau để đẩy xe. Tiền bạc do những” You Tube”kêu gọi giúp đỡ bằng nhiều cách như kêu gọi những con người từ những vùng đất xa xôi nửa vòng trái đất, những người Việt ở Mỹ, Úc Đại Lợi, Canada, Pháp vv. mà số tiền từ vài trăm, có khi vài ngàn mỹ kim chung tay gửi tiền cho những bà con nghèo.

Nhất là các vùng xa, vùng sâu trên Tây nguyên, nơi có nhiều sắc dân, nhất là những người Gia-Rai, người M’môn, người Tày.. vv.

Đó là những sự giúp đỡ do những tấm lòng vô lượng, vì người mà không vì mình.

Xin ghi lại ở đây những câu truyện được kể của họ một cách nào đó không phê phán, cũng không biện hộ.

Đến có thể nói, xã hội này tồn tại được do những người bình thường, vô danh biết làm những điều phi thường của những người mà hành trang mang theo họ chỉ có một tấm lòng.

Sau đây, xin giới thiệu những sứ giả của tình thương đến để sưởi ấm những con người bất hạnh từ nhiều góc độ:

-Người đặc biệt. Viết Thành. Anh đi thăm những trường hợp những gia đình có những hoàn cảnh khó khăn, éo le , bất hạnh cần được giúp đỡ.

-A Tu, Gái Bản giúp đỡ những trường hợp neo đơn mà tiền viện phí như mổ xẻ lên đến 100-200 triệu.

Chưa kể  tiền xây dựng cầu đường qua các dòng suối mà tốn phí có thể lên đến 500 triệu tiền vật liệu. Còn công bốc vác, chuyên chở bằng tay, xe thồ do dân bản địa chia nhau luân phiên làm.

Theo tôi, những công trình xây cất cầu đường phải do trách nhiệm của các cơ quan công quyền của nhà nước đảm nhiệm hà cớ gì bắt dân đen gánh vác..

-Nguyễn Tất Thắng. Anh lo xây những căn nhà mà chi phí ở mức tối thiểu  khoảng 70 triệu, lo tổ chức những bữa ăn cho dân chúng vùng cao, dạy nếp sống văn minh như cách dùng bát, đũa thay vì ăn bốc, như phân phối cho mỗi nhà bát đĩa, đũa ăn..

-Gà lang thang là một thanh nhiên nhiệt tình và năng động, đáng trân trọng. Anh sửa lại đường lên núi cho bằng phẳng hơn, đem nước từ thượng nguồn về cho dân làng.- có nước là có đời sống, có chăn nuôi, trồng trọt, có thêm rau tươi, củ quả, có chăn nuôi như gà, vịt, lợn dê để dân tự làm ăn sinh sống.

Đã thế, anh còn cung cấp đày đủ các  vật dụng cần thiết như chăn màn, võng, vật dụng hằng ngày như dao, kéo, xẻng, cuốc, nồi niêu, chảo, bát đĩa, nước mắm, gạo thóc, mì gói.

Ngạc nhiên hơn nữa, anh còn cung cấp băng vệ sinh, quần đùi cho phụ nữ, thuốc cảm sốt, dầu gió xanh vv

Gà lang thang làm việc có nguyên tắc, thu nhận được bao nhiêu tiền, chi bao nhiêu đều công khai tuyên bố nên được lòng tin của những nhà hảo tâm.

Tôi cầu mong cho anh đủ sức khỏe để tiếp tục các công trình cải tiến đời sống các dân tộc vùng cao.

-Thày Giáo Đồng ở miệt Bình Dương, xây các căn nhà tình thương cho đồng bào miền tây, thoát cảnh những túp lều để che mưa, che nắng.

-L.M Nguyễn Sang. Đây là cả một tập đoàn hàng trăm nhân viên xây dựng những quán ăn 2000/đồng/một bữa (2000 đồng chỉ đủ mua một cây kem) cho những đồng bào nghèo như già yếu, khuyết tật, dân bán vé số những bữa cơm có thịt, cá, rau đủ chất bổ dưỡng. Chưa kể, những xuất học bổng cho học sinh nghèo đủ trang trải học phí cho rất nhiều khu vực..

Và tôi nghĩ rằng, càng có nhiều cá nhân, tổ chức làm từ thiện là một hình thức gián tiếp tố cáo chế độ bất nhân, tham nhũng cả ngàn tỷ bạc, làm hại dân, hại nước. Khi ra tòa chúng vẫn khóc lóc xin giảm tội.Nngười nghèo thì mãi nghèo, người giàu thì giàu thêm.

Có lẽ, cần mang ra pháp trường bắn một vài tên tham nhũng gộc để làm gương nhù thời ông Nguyễn Cao Kỳ bắn Tạ Vinh.

Mặt trái của xã hội của mảnh đất đáng nguyền rủa là sự cực kỳ xa hoa, khoe khoang, phung phí của những kẻ giàu có sống trên xác chết người nghèo.

Tôi đã từng chứng kiến đám cưới con gái một doanh nhân giàu có. Khách mời là những người mẫu, hoa hậu, tài tử, nghệ sĩ, những người ăn mặc thanh lịch, đi trên những chiếc xe bóng lộn đủ nhãn hiệu mà chính tôi không rành, có tài xế riêng lái, tiệc cưới đặt trên lên lầu hai của nhà hàng, có cầu thang máy bằng kính nhìn ra bên ngoài..

Tôi cảm nhận sự nhờm tởm và khinh bỉ. Họ có tiền t, nhưng tiền ấy ở đâu ra? nhưng đóng góp cho xã hội là bao nhiêu?

Tôi hỏi là hỏi vậy mà không chờ đợi một câu trả lời.

Chưa kể chúng khoe của những biệt thự mà các đồ dùng trong nhà đều lát vàng như các cung điện, phủ chúa thời xa xưa.

Nay, tôi xin trở về một vài câu truyện điển hình, đọc mà thương cảm và mong được chia xẻ.

Câu truyện thứ nhất: Cánh cửa mở ra tương lai: Chị Vy và anh thiếu niên tên Chiến

Thế giới này sở dĩ tồn tại được đôi khi chỉ vì có những người làm được những điều phi thường mà tự bản chất, họ là những người tử tế, có một tấm lòng.

Câu truyện kể rằng chị Vy có chồng và sinh hạ được một đứa con. Chẳng may đứa con chị ra đời bẩm sinh bị bệnh bại não. Cháu sống như thể một loài thực vật. Chúng ta thử đặt mình vào trường hợp chị Vy để cảm thông được đứa bé sống mà như thể chết. Phần chị Vy, thương con mà sống như thể héo hon, sống mà như thể đã chết trong tâm hồn. May mắn thay, đứa thứ hai chào đời trong một thân thể lành mạnh như một bù trừ cho số mệnh.

Rồi do sự giới thiệu, chị Vy được biết có một đứa trẻ tên Chhiến. Chiến hai chân bị tê liệt nên phải di chuyển bằng cả hai tay như thể phải bò rất là khó khăn. Chị Vy nhận chăm sóc và chữa trị cho Chiến mặc dầu chồng chị phản đối.

Chị Vy đã gửi Chiến sang Úc do một bác sĩ người Việt làm phẫu thật chỉnh hình.. Sau một thời gian kéo dài trong suốt 6 năm với 4 lần phẫu thuật,trong đó  hai lần phẫu thuật tại Úc, hai lần tại Việt Nam. Biết bao công sức, biết bao tiền bạc bỏ ra trong chờ đợi, lo âu!!

May mắn thay và mừng thay, nay Chiến đã tự đi bằng chính đôi chân của mình như một thanh niên bình thường.

Điều đặc biệt hơn cả là Chiến đã tự nguyện xin được nhận chị Vy làm mẹ và hứa sau này sẽ học ngành y để trả ơn mẹ.

Còn gì hạnh phúc hơn cho Chiến nếu không có mẹ đỡ đầu thì cuộc đời Chiến sẽ ra sao?

Phần Vy, mất một đứa con nay bù lại một đứa khác. Hạnh phúc và an ủi biết bao!!!!

Phần hai. Mái ấm gia đình với soeur Kim Chi với 200 trẻ côi ở Gia Lai.

Soeur Kim Chi chọn con đường tu trì, giữ khiết tịnh thay vì một mái ấm gia đình với một vài người con. Nay thì một lúc đến 200 cháu mà cuộc đời chúng là những mảnh vụn mà mỗi cháu là một một câu chuyện kể không cháu nào giống cháu nào. Đứa thì bố say rượu, đánh đập mẹ rồi bỏ đi. Mẹ không cưu mang nổi con lén lút vửt vào cổng nhà dòng. Đứa khác, bố mẹ đều qua đời đành nương nhờ nhà dòng nuôi dùm..

Lịch sử 200 cháu là lịch sử một bi kịch cuộc đời, một số phận bất hạnh dành cho các cháu..

Nay nhìn các bé quấn quít lấy Dì Kim Chi  như một người mẹ và có một tổ ấm gia đình. Các cháu được thuê thày về dạy dỗ, được ăn học. Các cháu phải tập làm một số công việc để sau này nên người mà tương lai tùy thuộc vào chính các cháu mới đẹp làm sao!!

Phần Ba. Thày Nguyễn Văn Diện với căn nhà mơ ước, tràn đầy ánh sáng.

Thầy Nguyễn Văn Diện với tiền trợ cấp chính phủ là 400 triệu khi về hưu, các con đều trưởng thành, có nghề riêng, không vướng bận. Thầy bán đi một  phần mảnh đất hưong hỏa là một tỉ hai.

Cộng chung là một tỷ sáu.

Thay vì cất một tỉ sáu để hưởng thụ một mình cũng là lẽ thường tình.

Thày nghĩ đến số phận những đứa trẻ nghèo mà theo thầy, nghèo không phải là cái tội. Mà nhìn những đứa trẻ ấy như thể cũng là một con người. Không phân tích, không phán đoán đúng sai.

Chính vì thế, thày Nguyễn Văn Diện đã dùng số tiền ấy xây cất hai dãy nhà, một bên dùng cho phái nữ, một bên kia cho phái nam cộng chung tất cả gồm 40 phòng, có giường tủ, bàn học, nhà vệ sinh ngăn nắp  sạch sẽ và tiện nghi.

Các cháu được ở trong những phòng ốc, đầy đủ tiện nghi, có phòng tắm riêng, mỗi ngày có xe chở đi học.

Đến bữa ăn, các cháu chia nhau dọn những bữa ăn có đầy đủ rau cỏ, thịt cá, đầy chất bổ dưỡng.

Hình ảnh một cháu gái đã ở lâu trong nhà bế ẵm một bé gái khác mới vào mới đẹp làm sao!!

Nhìn các cháu, người ta nhận ra chúng có một tương lai cho đến tuổi 18 đã có một căn bản học vấn để vào đời.

Phần thày Diện, không mong chờ một đáp trả nào trong tương lai.

Có một em vừa điếc, vừa câm, thày quyết định  gửi em đi học nghề may để sau nay, em cũng có thể tự kiếm sống.

Có một em khác tật nguyền, cũng phải dùng đôi tay, bò lê dưới đất..như cháu Chiến..

Thày tự hứa với lòng mình là sẽ đưa em đi chữa trị để em cũng có thể đi bằng đôi chân như các đứa trẻ khác.

Tôi giới thiệu ba cảnh đời, ba nhân vật, ba hoàn cảnh khác nhau như một bức tranh tiêu biểu của một thế giới còn nhiều điều bất cập.

Mặc dầu thế giới còn khổ đau, hố phân chia giàu nghèo càng ngày càng cách biệt xa vời. Xã hội còn rất nhiều bất công, tôi mong dợi thực hiện một xã hội công bằng hơn là một xã hội có lòng từ bi, bác ái.

Và hơn bao giờ hết, tôi mong đợi có một ngày nào và đến bao giờ, tôi có thể hãnh diện bỏ cái tiêu đề: Mảnh đất khổ!! Vì đất nước này vẫn cần một trái tim.