TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI TRẦN GIAN – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

  Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu (Mt 5, 1-12) Chúa nhật IV thường niên)

Sứ điệp: Có tinh thần nghèo là trút bỏ mọi thứ quyến luyến của cải trần gian để mở rộng tâm hồn đón nhận Thiên Chúa.                                                  

                                                         ***

Bài Tin mừng Mat-thêu 5,1-12 thường được gọi là Tám Mối Phúc Thật (hay Bát phúc), là phần mở đầu nổi bật nhất của bài giảng trên núi (Mt 5-7). Đây là một trong những đoạn Kinh thánh quan trọng nhất trong Tân ước, được xem là Hiến chương Nước Trời. Qua đoạn nầy, Chúa Giê-su công bố TÁM CON ĐƯỜNG dẫn đến hạnh phúc đích thực.

Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy niệm về mối phúc thứ nhất: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”

Qua câu nầy, Chúa Giê-su không có ý chúc mừng những người nghèo nàn thiếu thốn, nhưng Ngài chúc phúc cho những ai có tinh thần nghèo, đó là những người:

  •      Không cậy dựa vào của cải;
  •      Không bám víu vào công danh sự nghiệp đời nầy;
  •      Dứt bỏ mọi đam mê trần tục…

Tóm lại, người nghèo khó trong tinh thần là người biết TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI TRẦN GIAN ĐỂ HƯỚNG TÂM HỒN VỀ VỚI CHÚA LÀ CÙNG ĐÍCH CỦA ĐỜI MÌNH.

Chúng ta hãy nhìn xem: Một người ăn xin đứng bên vệ đường. Ông không có gì trong tay: không tiền, không bị, không đồ đạc… mà chỉ có một bàn tay mở ra, hướng về người đi đường.

Thử hỏi: Nếu bàn tay ấy nắm chặt tiền bạc, mang nhiều vật dụng bên mình… thì người qua lại có cho thêm gì nữa không? Chắc hẳn là không.

Chỉ khi bàn tay trống không, cũng chẳng có vật dụng gì trên người, người ấy mới có thể đón nhận sự trợ giúp của người khác.

Hoặc khi người ăn xin chìa một chiếc tô lớn ra trước những người qua lại để xin ăn, nhưng tô ấy đã chứa đầy cát sạn, thì không ai có thể trao tặng gì thêm. Phải làm rỗng tô đi, thì sẽ được người khác tặng cho đầy tràn.

Tương tự như thế, người không có tinh thần nghèo, bị lôi cuốn bởi vàng bạc, giàu sang phú quý đời nầy, tâm hồn họ đầy những đam mê thế tục… thì còn chỗ đâu mà  đón nhận hồng phúc từ Trời.

Trái lại, người có tinh thần nghèo khó BIẾT TRÚT BỎ MỌI QUYẾN LUYẾN CỦA CẢI THẾ GIAN và MỞ TÂM HỒN RA VỚI CHÚA, đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa, Ngài sẽ ban cho họ được dư đầy ơn phúc và được hưởng Nước Trời. Chính vì thế, Chúa Giê-su dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa Giê-su đã sống tinh thần nghèo đến tận cùng. Chúa đã trút bỏ vinh quang của một Đấng đồng hàng với Chúa Cha để xuống thế làm người hèn mọn, sống nghèo đến nỗi phải chết trần, chết trụi trên Thập giá chẳng còn tấm áo che thân.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để sống tinh thần nghèo khó, chấp nhận trút bỏ hết mọi sự và chỉ bám chặt vào Chúa mà thôi. Nhờ đó, chúng con sẽ vô cùng giàu có vì sở hữu được Nước Trời. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 **********************

Tin mừng Mat-thêu 5, 1-12

1 Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.2 Người mở miệng dạy họ rằng:

3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

4 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

5 Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

12 Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 13:13)-Cha Vương

Chúc bạn một ngày thật tốt lành an bình trong tay Ba Đứng. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 30/01/2026  (cn-22)

TIN MỪNG: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 13:13)

SUY NIỆM: Thánh Gioan Phaolô II có nói: “Con người không thể sống mà thiếu vắng tình yêu. Họ sẽ không hiểu họ là gì, sẽ cảm thấy cuộc đời họ là vô nghĩa, nếu họ không đón nhận mạc khải tình yêu, không gặp gỡ tình yêu, không cảm nghiệm tình yêu, không đồng hoá tình yêu, không mạnh dạn tham dự vào tình yêu”. Nếu tình yêu là nhu cầu thiết yếu và là động lực chính yếu cho mọi hoạt động và mọi liên hệ của con người thì tại sao lại có những cuộc chia tay để lại những vết thương bi đát và đau đớn hỉ? Có lẽ bởi vì họ yêu không đúng cách, không đúng với điều mà Chúa mong muốn. Họ yêu theo kiểu thường tình, trần tục, có yêu nhưng không có thương. Họ yêu không như Chúa yêu. 

Vậy Đức Mến là gì? Đức Mến là ơn yêu thương. Yêu và thương! Không thể nào có cái này mà lại không có cái kia được. Đức Mến không phải là thứ tình yêu thường tình được diễn cảm theo bản năng, nhưng là tình yêu sâu đậm và bền vững bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương nhân loại bằng một tình yêu thuần khiết, vô giới hạn, cụ thể qua việc sáng tạo và cứu chuộc. Thiên Chúa đã ghi khắc tình yêu của Người vào lòng mỗi người chúng ta, nhưng nó còn phải được tinh luyện hằng ngày để đạt tới tầm vóc của Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì yêu.

Mình xin nhắc lại loại tình yêu này phải được TINH LUYỆN HẰNG NGÀY! Để bảo đảm cho sự trưởng thành và sử bền bỉ trong mọi liên hệ: vợ chồng, gia đình, thân nhân, bạn bè…  mời bạn hãy lấy “Bài Ca Đức Mến” (1Cr 13,1-13) thật tuyệt vời của thánh Phaolô làm kim chỉ nam để tự xét mình mỗi ngày coi cách mình yêu như thế nào nhé: Giả như bạn có làm được mọi sự trên thế gian này, “mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được.” (1 Cr 13:3-8) 

Bạn có cảm thấy lương tâm mình bị áy náy khi suy gẫm Bài Ca Đức Mến này không? Ước mong bạn hãy vạch ra cho mình một hướng cụ thể để thay đổi cái nhìn về tình yêu và để làm cho những mối liên hệ hằng ngày của mình được trở nên tốt đẹp và bền bỉ hơn. 

LẮNG NGHE: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu… nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. (1 Ga 4:7,8,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con luôn luôn ao ước những gì tốt nhất cho anh em con hôm nay.

THỰC HÀNH: Suy niệm Bài Ca Đức Mến và đọc kinh Ăn Năn Tội hoặc Kinh Cáo Mình.

 From: Do Dzung

******************

Xin định nghĩa tình yêu – Hoàng Chương (Lm.Cao Huy Hoàng)

BỜ BÊN KIA-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng ta sang bờ bên kia đi!”.

“Cuộc sống bắt đầu nơi vùng an toàn của bạn kết thúc!” – Neale Walsch.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, rời vùng an toàn, bạn mới thực sự sống! Lời Chúa hôm nay cho thấy, thật cần thiết để rời vùng an toàn; tin giữa sóng gió; và lớn lên trong ân sủng, để tới ‘bờ bên kia!’.

Nhưng ‘bờ bên kia’ không là một chuyến du ngoạn; vì vừa rời bến, bão nổi. Thuyền chao đảo, nước tràn vào, kinh nghiệm bao năm trở nên bất lực. Có những cơn bão xảy đến không vì chúng ta đi sai đường, nhưng vì đi đúng đường; không vì bất tuân, nhưng vì vâng phục. Để rồi, điều làm hoảng sợ không chỉ là sóng lớn, mà là sự im lặng của Thiên Chúa, Đấng hiện diện mà dường như không can thiệp theo cách được mong đợi. “Chúng ta chết mất!” – bật ra khi nỗi sợ lớn hơn niềm tin. Nhưng Ngài đã nói “qua”, thì không thể “chìm!”. Đức tin không bảo đảm hành trình êm ả; nhưng bảo đảm đích đến! “Từ những gì đã thấy, tôi học cách an tâm về những gì chưa thấy trong tay Đấng Tạo Hoá!” – Ralph Emerson.

Vậy mà có những bờ bên kia không ở phía trước, mà ở bên trong. Đavít sau khi phạm tội không đối diện với bão biển, nhưng với bão lòng. Khi ngôn sứ Nathan vạch trần sự thật, con người quyền lực bỗng trơ trọi – bài đọc một – vinh quang không trấn an nổi một tâm hồn đã lệch hướng. Thuyền đời đầy nước! Giữa đổ nát, Đavít không chạy trốn, nhưng cầu xin, “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Từ đau khổ đã xuất hiện những tâm hồn mạnh mẽ nhất!” – Kahlil Gibran. Đó là cố qua ‘bờ bên kia’ – từ che đậy sang thú nhận, từ tự mãn sang sám hối, từ cứng cỏi sang mềm mại. Một hải trình không đổi chỗ, nhưng đổi lòng; không vượt sóng gió, nhưng vượt qua chính mình.

Cũng thế, chúng ta thường xin Chúa dẹp yên hoàn cảnh, nhưng Ngài muốn tái tạo trái tim. Chúng ta xin sóng lặng; Ngài xin chúng ta mở lòng. Bão tố ngoài biển hay bão tố trong tim, cả hai đều có thể trở thành nơi con người gặp Chúa sâu hơn. Khi trái tim đổi mới, chúng ta nhận ra ‘bờ bên kia’ không còn xa. “Thế giới làm mọi người tan vỡ; và rồi, có những người trở nên mạnh mẽ ngay nơi đã từng tan vỡ!” – Ernest Hemingway.

Anh Chị em,

“Sang bờ bên kia đi!”. Đức Kitô không chỉ dạy; chính Ngài đã sang trước. Ngài rời “bờ” vinh quang, bước vào biển động phận người. Và ‘bờ bên kia’ cuối cùng của Ngài là Calvariô. Ở đó, con thuyền nhân tính tưởng như chìm; Chúa Cha lặng thinh; bóng tối phủ kín. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, một cuộc vượt qua âm thầm diễn ra. Thập giá không là đắm tàu, nhưng là cập bến, mở ra sự sống mới. Vậy mỗi khi sợ hãi trước sóng gió hay tội lỗi mình, hãy nhớ, Ngài đã đi qua biển sâu nhất của khổ đau và tội lỗi để mở lối. Đi về phía Ngài, bạn và tôi không chỉ qua một bờ khác, mà được đưa vào chính sự sống của Đấng Phục Sinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi biển đời nổi sóng, xin giữ con bình an; khi lương tâm dậy bão, xin giúp con sám hối; khi con la đà vì tội lỗi, xin rửa con để nên sạch trong!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần III Thường Niên

Người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 4,35-41

35 Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !” 36 Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người. 37 Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. 38 Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói : “Thầy ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao ?” 39 Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển : “Im đi ! Câm đi !” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. 40 Rồi Người bảo các ông : “Sao nhát thế ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao ?” 41 Các ông sợ hãi kinh hoàng và nói với nhau : “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”


 

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Một báo cáo của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế) cho biết Campuchia đang đối diện với một “cuộc khủng hoảng nhân đạo” sau khi hàng ngàn người bị buôn người ép làm việc trong các khu lừa đảo trực tuyến đã trốn thoát khỏi cảnh giam cầm. Nhiều nạn nhân ra đi trong tình trạng sang chấn tâm lý nặng nề và hầu như không nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ các nước quê hương của họ tại châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ.

Theo báo cáo, một người trốn thoát bị rạch cổ, nhiều thi thể bị chất đống, phụ nữ bị hãm hiếp, có người bị chặt ngón tay. Cảnh sát Campuchia bị cáo buộc thường xuyên lui tới các khu phức hợp nơi nạn nhân bị ép thực hiện các trò lừa đảo trực tuyến, thường gọi là “pig butchering” (vỗ béo con mồi), nhưng không can thiệp.

Bà Montse Ferrer, Giám đốc Nghiên cứu Khu vực của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế), nhận định:

“Làn sóng người tháo chạy khỏi các khu lừa đảo này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo trên đường phố, nhưng đang bị chính phủ Campuchia phớt lờ.

Giữa những cảnh hỗn loạn và đau khổ, hàng ngàn người sống sót mang sang chấn đang tự xoay xở mà không có hỗ trợ của nhà nước.

Đây là khủng hoảng quốc tế trên đất Campuchia. Các nạn nhân đến từ nhiều châu lục và rất cần sự hỗ trợ lãnh sự khẩn cấp để có thể hồi hương và thoát khỏi nguy hiểm.”

Làn sóng tháo chạy gia tăng sau khi ông trùm người Trung Quốc Trần Chí (Chen Zhi) bị trục xuất ngày 6-1. Ông là người sáng lập Prince Bank tại Campuchia và đã bị một tòa án Hoa Kỳ trừng phạt, truy tố; Bộ Tư pháp Mỹ tịch thu 15 tỷ USD tài sản liên quan.

Việc chính quyền Campuchia trấn áp các băng nhóm tội phạm cũng là điều khoản quan trọng trong lệnh ngừng bắn ngày 27-12 chấm dứt cuộc xung đột biên giới kéo dài sáu tháng giữa Thái Lan và Campuchia, nổ ra sau khi Bangkok ra lệnh truy quét xuyên biên giới các trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Mehi kể với Ân xá Quốc tế:

“Tôi bị giam trong khu phức hợp 12 tháng, luôn sợ mất mạng. Rồi một ngày, chúng tôi thức dậy và thấy quản lý đã bỏ đi, bảo vệ cũng biến mất. Cửa cổng mở toang và chúng tôi đi bộ ra ngoài.”

Một người khác cho biết đã chứng kiến một vụ giết người khi một quản lý cắt cổ nạn nhân vì cố trốn thoát. Mười người sống sót khác nói rằng cảnh sát thường xuyên ghé thăm các khu phức hợp, kể cả để đưa thi thể đi, nhưng không có hành động bảo vệ.

Amnesty cho biết đã phỏng vấn 35 người sống sót đến từ nhiều quốc gia như Brazil, Indonesia, Myanmar, Nigeria, Sierra Leone, Liberia, Uganda, Kenya, Bangladesh, Ấn Độ, Philippines và Madagascar; ước tính họ đã thoát khỏi 17 trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Delilah, trốn thoát khỏi khu phức hợp ở Prey Veng (cách Phnom Penh khoảng 90 km về phía đông), kể:

“Nhiều người đã chết. Chúng tôi còn phải góp tiền để đưa thi thể về nước. Người bệnh thì không được giúp đỡ. Tôi nói rằng tôi không thở được…

Khi chúng tôi phá cổng thoát ra, một bảo vệ bắn chỉ thiên. Chúng tôi buộc phải trốn vì có người bệnh nặng, không muốn chết trong đó.”

Các tổ chức chống buôn người tại địa phương nói với Amnesty rằng chính phủ Campuchia không bảo vệ cũng không nhận diện đúng nạn nhân buôn người, khiến họ thiếu hỗ trợ và dễ bị các băng nhóm tội phạm có tổ chức tiếp tục khai thác.

Bà Ferrer cho biết thêm:

“Những người chúng tôi gặp rất sợ hãi. Họ muốn về nhà nhưng không có hộ chiếu, không có tiền, thậm chí không đủ mua vé máy bay.

Chính quyền Campuchia dường như không làm gì, trong khi hỗ trợ của các NGO không đủ, nhất là sau các đợt cắt giảm tài trợ trong năm qua. Chính phủ các nước của họ cần khẩn cấp vào cuộc.”

Các đại sứ quán châu Á tại Phnom Penh đang quá tải vì số nạn nhân mắc kẹt cần trợ giúp. Nhiều người nói với UCA News rằng hộ chiếu bị tịch thu, không thể rời đi vì phạt quá hạn visa, và tay trắng.

Làn sóng tháo chạy tăng tốc sau khi Bộ Công an Trung Quốc ban hành “cảnh báo cứng rắn” ngày 15-1, đề nghị khoan hồng cho những người liên quan đến Chen Zhi nếu tự nguyện đầu thú. Trước các cổng sứ quán, trong đó có lãnh sự quán Trung Quốc, hàng dài người xếp hàng, nhiều người dựng lều chờ đợi. Indonesia xác nhận hơn 2.270 công dân của họ đã trốn thoát, có thời điểm 200 người mỗi ngày.

Những phát hiện của Amnesty phù hợp với nhiều báo cáo khác, trong đó có các bài điều tra và phỏng vấn do các NGO và lực lượng cứu hộ công bố trên UCA News. Một báo cáo của Liên Hiệp Quốc từng cho biết hơn 100.000 người đã bị buôn vào 50 trung tâm lừa đảo tại Campuchia.

Khoảng 130 công dân Hàn Quốc đã được giải cứu kể từ tháng 10, trong khi chính phủ Campuchia tuyên bố hơn 3.000 người đã được giải phóng khỏi các khu phức hợp trong năm 2025.

Nguồn: UCA News; Báo cáo của Tổ chức Ân xá Quốc tếl.


 

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) – Nhà văn Giao Chỉ

Hoang Le Thanh

Nhà văn Giao Chỉ

(tức cựu đại tá Vũ Văn Lộc)

(Tháng Giêng 2008)

Ai khanh ai tướng ai thầy thợ,

Cũng đều chung một số kiếp lưu vong! (NPN).

Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.

Mon General: (Tháng 10-2003)

Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.

Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.

Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan.

Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.

Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn Kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.

Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.

Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.

Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai.

Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.

Đ/Tướng Cao văn Viên đi giữa hai thân hữu

Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào, … Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối.

Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút … khi nào … đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.

Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54.

Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên”.

Giao Chỉ – San Jose.


 

Giáo Sư Đoàn Khoách, nguyên phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, qua đời

Ba’o Nguoi-Viet

January 29, 2026

SAN DIEGO, California (NV) – Giáo Sư Đoàn Khoách, tốt nghiệp thủ khoa Viện Hán Học Huế, từng làm giảng viên, trưởng ban Việt Hán, và là cựu phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, vừa qua đời ở San Diego hôm 25 Tháng Giêng, hưởng thọ 96 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Giáo Sư Đoàn Khoách sinh năm 1930 tại Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên.

Giáo Sư Đoàn Khoách. (Hình: Lấy từ cáo phó của gia đình)

Ngoài những thông tin nêu trên, theo tác giả Ngô Văn Ban trong bài viết “Tưởng nhớ Thầy Đoàn Khoách” đăng trên trang web namkyluctinh.org, Giáo Sư Đoàn Khoách từng là trợ lý nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên Cứu Sở thuộc Đại Học Trung Văn (Hồng Kông), là giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons (Anh), và là giảng viên Việt Việt Học (Westminster).

Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, và cư ngụ tại San Diego.

Ông từng có bài viết đăng trong các tạp chí Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt, …

Các tác phẩm của ông đã phát hành là Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965), Văn Tịch Chí (Huế, 1970), Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979), Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981), Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An và Bến Tre 1982, hợp soạn), Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002), Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007, hợp soạn), Tiên Hoa Lục Khảo Chú (SEACAEF, 2008), và Mạnh Nghị Tuyển Tập (Viện Việt Học, Westminster, 2011).

Tang lễ vị giáo sư quá cố sẽ được tổ chức trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai, tại nhà quàn Peek Family, Westminster, theo cáo phó. (Đ.D.)


 

CA ĐÊM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”.

“Thiên Chúa làm việc trong những tầng sâu, nơi ta không thấy, cũng không thể kiểm soát!” – Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ, Thiên Chúa làm việc không ngưng nghỉ để Nước Trời lớn lên theo nhịp của Ngài. Con người không thấy, cũng không thể kiểm soát những gì Ngài làm. Có thể nói, Ngài làm ca ngày lẫn ‘ca đêm!’.

Tin Mừng khẳng định một chuyển động đầy sức sống, “Hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”. Dù chậm, dù âm thầm, nhưng sự sống đang lớn lên theo “nhịp Thiên Chúa” chứ không theo nhịp sốt ruột của con người. Nước Trời không nhảy cóc, dù Thiên Chúa đau đáu xót thương con người và muốn làm những gì có thể ca ngày lẫn ‘ca đêm’ để cứu rỗi họ. Và vì Ngài tôn trọng nhịp trưởng thành của từng linh hồn, nên những khởi đầu của Ngài thường rất nhỏ, nhỏ đến mức chúng ta không thấy nên dễ coi thường. “Cuộc đời là một tiến trình trở thành, một hợp thể của những trạng thái ta phải trải qua!” – Anaïs Nin.

Vậy mà tiến trình ấy không phải lúc nào cũng yên ả. Có những giai đoạn tưởng như tan hoang tựa cánh rừng sau lửa cháy. Không ai mong hoả hoạn, nhưng các nhà chuyên môn vẫn nhận ra rằng, chính dưới lớp tro tàn ấy, đất được làm mới, để những hạt mầm bị vùi sâu có cơ hội bật lên. Cũng thế, trong đời sống thiêng liêng, đôi khi Thiên Chúa cho phép những đổ vỡ xảy ra, không để huỷ diệt, mà để mở đường cho sự hoán cải và đổi mới. Trong những khoảng tối đó, khi con người không hiểu hết, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm ‘ca đêm’, chuẩn bị cho một mùa gặt mà con người không bao giờ ngờ tới.

Đó cũng là câu chuyện đáng tiếc của Đavít hôm nay – bài đọc một. Đavít đã phạm một lúc hai tội tày đình. Thế nhưng, như cánh rừng rụi tàn sau biển lửa, một lời thoi thóp tận đáy linh hồn được bật lên, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca – Cũng chính trong lời van ấy, Thiên Chúa – Đấng đang làm ‘ca đêm’ – tỏ lòng xót thương, và Ngài không cho tội lỗi có tiếng nói sau cùng.

Anh Chị em,

Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ dành cho Đavít, cho nhân loại, cho bạn và tôi, mà còn dành cho chính Con Một Ngài. Suốt sứ vụ công khai, và cả những giờ phút đen tối nhất của Chúa Giêsu, khi mọi sự xem ra đã khép lại, thì chính lúc ấy, Chúa Cha vẫn thường xuyên ban sức mạnh để Người Con đi hết hành trình cứu chuộc. Để chính từ sự kính trọng và tín trung lặng lẽ của Chúa Con, ơn cứu độ trổ sinh cho muôn người. Theo Chúa Kitô, vì thế, không phải là tránh né đêm tối, mà là tin rằng: ngay trong đêm tối, chúng ta vẫn đang được dẫn về phía ánh sáng và sự sống; vì lẽ Thiên Chúa không chỉ làm ca ngày, Ngài túc trực cả ‘ca đêm’. “Nếu Đức Giêsu Kitô không bỏ anh em trong bóng tối của Ngài, bóng tối tột cùng, thì làm sao Ngài lại bỏ anh em bây giờ!” – Tim Keller.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con nôn nóng, cho con biết đợi chờ; khi con sợ tương lai, cho con biết tín thác; khi con ở trong đêm tối, cho con nhớ, Ngài đang dẫn con về phía ánh sáng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần III Thường Niên

Một người vãi hạt giống rồi ngủ, và hạt giống mọc lên trong khi người ấy không biết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,26-34

26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng dụ ngôn này : “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. 27 Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. 28 Đất tự động sinh hoa kết quả : trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. 29 Lúa vừa chín, người ấy đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa.”

30 Rồi Người lại nói : “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? 31 Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống trên mặt đất. 32 Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.”

33 Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. 34 Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết.


 

Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng. (Tv 95:7b-8a)-Cha Vương

Chuẩn bị đón xuân Chúc bạn và gia đình một ngày thật an vui và xua tan tất cả những chuyện buồn trong năm cũ, vững niềm tin đầy ơn lành trong tay Chúa Xuân

Cha Vương

Thu 5: 29/01/2026. (cn-23)

TIN MỪNG: Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng. (Tv 95:7b-8a)

SUY NIỆM: Hàng ngày lời nói và tiếng động ập vào tai bạn bằng nhiều cách, nào là TV, radio, internet, quảng cáo, báo chí, v.v… liệu những thông tin này có giúp bạn đến gần với Chúa và xích lại gần với nhau không, hay nó để lại cho bạn một cảm giác trống trải và thiếu vắng? Không phải tất cả những thông tin đó đều sai lạc nhưng mà là con người thiếu khả năng để lắng nghe để tìm ra sự thật. Vậy đâu là cách thức để bạn lắng nghe? Thiết tưởng bạn vẫn còn nhớ cách đây mấy tuần mình có chia sẻ về 3 cách thức để lắng nghe tiếng Chúa: Bạn lắng nghe bằng lỗ tai của TÂM TRÍ, bằng lỗ tai của TRÁI TIM, và bằng lỗ tai của LINH HỒN.

(1) TÂM TRÍ: Đó là cố gắng tìm hiểu Lời Chúa, và hơn nữa, làm cho lời ấy sống động y như bạn đang nghe chính Chúa nói vậy. 

(2) TRÁI TIM: Đó là ghi tạc Lời Chúa vào trái tim và cố gắng tìm cách áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống bạn. 

(3) LINH HỒN: Đó là tâm sự với Ngài để xem Ngài muốn bạn làm gì khi nghe/đọc lời Chúa. Hôm nay mình muốn đề cập thêm về các chuyển động trong việc lắng nghe Lời Chúa, mình gọi tắt là “4T” (Tai, Trí, Tâm, Thực-thi) để cho dễ nhớ.  Nghe Lời Chúa không chỉ là đến nhà thờ, tắt điện thoại, lật sách phụng vụ đến đúng trang bài đọc trong ngày, và nhẩm đọc theo khi Lời Chúa được công bố. Dĩ nhiên đây là những bước hữu ích, nhưng để thực sự “nghe,” bạn cần nhiều việc khác hơn nữa. Để đón nhận và thực thi Lời Chúa là “Lời Sự Sống” (1 Ga 1:1) bạn cần để ý đến bốn chuyển động sau đây, mình gọi là “4T”: Tai—>Trí—>Tâm—>Thực-thi. Tai bạn nghe gì? Trí bạn hiểu gì? Tâm bạn đang nói vời bạn điều gì, làm lành hay tránh dữ? Chúa muốn bạn Thực-thi điều gì sau khi bạn đọc đi đọc lại cầu Kinh Thánh này? Bạn dừng lại ở Tai không thì chưa đủ, nó phải đưa vào Trí, rồi đến Tâm, và được thực thi bằng việc làm nữa. Đây là bốn chuyển động rất then chốt trong việc lắng nghe Lời Chúa. Chúc bạn thành công nhé.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mt 7:21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Lời Chúa chính là sự sống con cho, xin cho con tấm lòng đơn sơ, rộng mở, khao khát, như muốn để Lời Chúa ùa vào tâm hồn con.

THỰC HÀNH: Hãy đọc đi đọc lại câu Thánh Vịnh này (hoặc câu Kinh Thánh yêu thích của bạn): “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng.” (Tv 95:7b-8a) và áp dụng cách lắng nghe “4T” vào để thực thi ý Chúa nhé.

From: Do Dzung

************************

Lắng Nghe Lời Chúa – Nguyễn Hồng Ân & Hiền Thục

CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG…

CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG…

– Chúng tôi không tham nhũng ngân sách quốc gia, chúng tôi không ăn chặn tiền thuế của các bạn một đồng nào. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không cướp đất của dân, đẩy người dân ra đường, để cụ già phải ăn xin, em bé phải bán vé số, phụ nữ phải bán dâm. Nếu chúng tôi làm những điều đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không cấp phép cho những gian thương, cho những doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh nhưng phá hoại môi trường để rừng trơ trọi, để biển ô nhiễm gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không ra đường chặn xe bạn vô cớ, không vu khống bạn vi phạm luật, không bắt bạn những lỗi vớ vẩn… rồi tìm cách vòi tiền bạn. Nếu chúng tôi làm việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không có quyền kiểm soát việc nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Chúng tôi không nhập hàng giả, thức ăn độc hại vào thị trường Việt Nam để bạn dùng, vì lợi nhuận mà làm hại giống nòi người Việt. Nếu chúng tôi làm điều đó, chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không đến công ty, cửa tiệm, ki ốt của bạn để hạch sách, nhũng nhiễu để bắt bạn đóng tiền lậu mãi. Khi nào chúng tôi làm vậy chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không tạo ra bất công trong xã hội. Chúng tôi không bao che những người làm sai, không nâng đỡ con cháu thiếu năng lực vào những vị trí cao. Nếu chúng tôi làm điều đó hãy gọi chúng tôi là phản động.

– Chúng tôi không mượn nợ nước ngoài cho con cháu du học, xây biệt thự, sắm xe, tiêu xài hàng hiệu, uống rượu ngoại, nuôi bồ nhí… để mỗi người dân gánh $1200 tiền nợ. Nếu chúng tôi làm thế bạn cứ gọi chúng tôi là phản động. – Chúng tôi không ăn chặn tiền cứu trợ đồng bào lũ lụt, không bòn rút tiền từ thiện dành cho bệnh nhân tâm thần, người già neo đơn. Nếu có làm việc đó, gọi chúng tôi là phản động còn nhẹ… hãy xử bắn chúng tôi ngay.

Bạn nói khi tôi và những người giống như tôi chưa có quyền thì kêu gào hay lắm… nhưng đến lúc nắm quyền thì cũng hành xử như những gì chúng tôi lên án thôi. Bạn nói đúng nếu như guồng quay xã hội hiện tại cứ mãi mãi tiếp tục còn kéo dài, thì ai lên nắm quyền cũng sẽ bị biến chất. Và những gì chúng tôi làm chính là muốn thay đổi guồng quay xã hội đó.

Chúng tôi muốn tạo ra 1 guồng quay xã hội khác để người nào lên nắm quyền cũng phải tuân thủ luật pháp, làm đúng trách nhiệm cần có… nếu tắc trách, sai phạm, biến chất phải bị đẩy đi cho người xứng đáng tốt hơn thay thế. Chúng tôi muốn xã hội tốt hơn bằng việc thay đổi cái gốc, thay đổi hệ thống vận hành… và bạn gọi chúng tôi là phản động có đúng không?

NGUYỄN THUỶ TIÊN


 

Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80

Nguyễn Tuấn

 Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80.

Không ai biết chính xác ngày anh mất. Vì vậy, Ba Má tôi lấy ngày anh lên ghe rời Việt Nam làm ngày giỗ. Hôm nay là ngày giỗ thứ 45.

Anh Hai tôi từng là ngôi sao sáng chói trong đại gia đình về học hành. Anh là người đầu tiên trong làng đậu tú tài toàn phần, rồi tốt nghiệp kỹ sư hóa học. Trong họ hàng, còn có một người nữa cũng thi đậu tú tài toàn phần – em họ tôi (gái) – nhưng theo quan niệm truyền thống thời ấy, con gái không được khuyến khích lên đại học.

Thập niên 1960-1970, chỉ khoảng 10-15% học sinh trung học thi đậu tú tài toàn phần, và chỉ 5-10% thí sinh dự thi đại học được tuyển. Hệ thống giáo dục lúc đó mang tính “elite”, chỉ dành cho những người thật sự xuất sắc. Vì vậy, ai đậu đại học là niềm tự hào lớn lao cho cả gia đình và làng xóm.

Sau ngày 30/4/1975, anh Hai làm việc kiểm nghiệm ở một công ty quốc doanh một thời gian ngắn rồi nghỉ. Không ai hỏi lý do, nhưng tôi đoán anh không chịu nổi môi trường mới.

Anh về quê sống với ngoại. Khác với tôi và anh Ba, những người có thể làm ruộng, cày cuốc, anh Hai chỉ quen cuộc sống thành thị, chưa bao giờ đụng tay vào việc đồng áng.

Người ta gọi anh là “công tử bột”. Vẫn còn xe Honda, ăn mặc bảnh bao (thời đó dễ bị gắn mác “tiểu tư sản”). Ngoại tôi rất thương anh, nên anh được đặc quyền trong ngôi nhà cũ kỹ đó. Anh thường lái Honda ra Rạch Giá cà phê, cà pháo với bạn bè cùng cảnh ngộ. Tôi cũng hay gặp anh ở đó.

Những buổi cà phê ấy thực ra là để anh tìm đường vượt biên. Một hôm, anh chủ động gặp tôi, nói sắp đi, rồi hỏi thẳng: “Mày đi hông?”

Tôi hơi sốc. Lúc đó tôi còn đầy lý tưởng lắm, tin rằng đất nước rồi sẽ ổn, nên chưa nghĩ đến chuyện ra đi. Có lần anh Hai tôi giới thiệu với bạn bè bằng giọng nói sốc: ‘thằng này nó là em tao, nhưng nó tả khuynh lắm’.

Tôi đã chứng kiến nhiều bạn bè từ Sài Gòn về Rạch Giá tìm đường vượt biên. Ở chỗ làm, hễ ai mất tích vài ngày là biết ngay họ đã “đi”. Có người thoát được, đến Đông Nam Á rồi Mỹ, gởi thư về báo tin vui. Nhưng cũng không ít bị bắt, giam ở các trại vùng U Minh Thượng. Một số được thả sau vài tháng, rồi lại tìm cách đi tiếp. Tôi có bạn bị bắt tới bảy lần!

Thấy tôi im lặng, anh Hai nói: “Vậy là mày không đi?” Rồi anh giao cho tôi chiếc xe Honda và đồng hồ Seiko, dặn về báo Ba Má rằng anh đã quyết định đi. Chính vì những món đồ ấy mà sau này tôi bị đồng nghiệp “kiểm điểm” đủ kiểu, “lên bờ xuống ruộng” đến mức không chịu nổi, cuối cùng cũng ra đi.

Không ngờ đó là lần cuối chúng tôi gặp nhau.

Anh Hai đi trên một chiếc tàu đánh cá nhỏ, do ông già vợ tương lai của anh làm chủ. Ông là người có hơn 30 năm kinh nghiệm đi biển, tự hào là “nhắm mắt cũng lái từ ngoài khơi về bến Rạch Giá”. Chuyến đi chỉ vỏn vẹn 20 người, toàn thân nhân bên vợ tương lai của anh. Tôi không biết chính xác ngày khởi hành, nhưng thằng em họ tôi nói là ngày 12/2/1981.

Cả 20 người đều mất tích.

Mất tích trên biển đồng nghĩa với việc họ đã ra đi mãi mãi. Nhưng nguyên nhân thì không ai hay: tai nạn chìm tàu? Bão tố? Hay cướp biển? Má tôi từng mời “thầy” về xem ngày giờ, nhưng tất cả đều vô vọng. Mỗi lần nhắc đến anh Hai, Má lại khóc.

Anh Hai tôi có lẽ đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng Biển Đông, cùng với hàng trăm ngàn người Việt khác trong thập niên 1970-1980. Theo thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), từ 1975 đến 1995, khoảng 800.000 người Việt vượt biên bằng đường biển và đến được nơi an toàn. Ước tính số người bỏ mạng trên biển dao động từ 200.000 đến 400.000, một con số đau lòng, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số người ra đi.

Những con số đó cũng là một chương sử buồn của dân tộc, dù chưa từng được đề cập chánh thức trong sách vở.

Họ ra đi vì khát khao tự do mới, vì không chịu nổi hoàn cảnh mới. Rất rất nhiều người đã không bao giờ chạm được đến “miền đất hứa”. Trong số ấy có anh Hai tôi, một người tài hoa, một người anh mà tôi mãi mãi nhớ.

Ngày giỗ năm nay, gia đình lại quây quần bên bàn thờ. Mấy đứa em thắp nhang, kể chuyện xưa, và lặng lẽ tưởng nhớ một cuộc đời dang dở giữa biển khơi mênh mông. Anh Hai ơi, nếu có kiếp sau, mong anh được bình yên.


 

ĐỂ HẠNH PHÚC THỰC SỰ-Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Hạnh phúc là từ được người ta nói nhiều đến trong xã hội.  Trên mạng xã hội, người ta khoe hạnh phúc.  Trong quảng cáo, người ta bán hạnh phúc.  Ngoài xã hội, người ta chạy đua để tìm hạnh phúc.  Thế nhưng, nghịch lý thay, cũng chưa bao giờ con người lo âu, trầm cảm, bất an, bất hạnh như thời đại chúng ta đang sống. 

Giữa một thế giới đầy biến động: kinh tế khó khăn, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng gia đình, người trẻ mất phương hướng, người lớn tuổi cô đơn…  Câu hỏi được đặt ra: Hạnh phúc thật sự nằm ở đâu?

 Hạnh phúc là điều mà ai trong chúng ta cũng khao khát.  Có người tìm hạnh phúc trong tiền bạc, thành công, quyền lực, hưởng thụ, danh tiếng…  Thế nhưng, càng tìm, nhiều khi lại càng thấy trống rỗng.  Trong Chúa Nhật IV Thường Niên hôm nay, Chúa Giê-su trao cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc đích thực, không theo kiểu thế gian, nhưng theo cái nhìn của Thiên Chúa. 

Hạnh phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa 

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, mời gọi: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước… hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường” (Xp 2,3). 

Lời trên chạm đến hoàn cảnh của rất nhiều người: những gia đình chật vật vì cơm áo gạo tiền, những người lao động bấp bênh,  những người cảm thấy mình nhỏ bé, thua thiệt, không tiếng nói trong xã hội.  Thiên Chúa không chọn kẻ quyền thế, nhưng chọn những người khiêm nhường, người đặt trọn niềm tin cậy nơi Chúa.  Hạnh phúc không hệ tại ở việc “có nhiều,” mà ở chỗ có Chúa, thuộc trọn về Chúa.

 Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca khẳng định: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ, và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Tv 146). 

Thánh Phao-lô trong bài đọc II nhắc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình: “Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1,26–28).  Để rồi kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1,31). 

Hiến chương hạnh phúc của người Ki-tô hữu 

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại việc Chúa Giê-su lên núi và công bố Tám Mối Phúc (Mt 5,1–12).  Các giáo phụ gọi đây là “Hiến chương Nước Trời,” hay “con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

 Điều gây sốc là: những người được Chúa Giê-su tuyên bố “phúc” lại chính là những người mà thế gian thường cho là bất hạnh: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại. 

Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.”  Chúa Giê-su không phủ nhận nỗi đau của họ, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới, nơi đau khổ không phải là dấu chấm hết, mà là con đường dẫn tới sự sống. 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì… 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì trước hết phải biết nghèo khó trong tâm hồn. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).  Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là không bám víu, không đặt an ninh đời mình nơi tiền bạc, quyền lực, hay cái tôi.  Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời từng nói: “Nghèo trong tinh thần là để cho Thiên Chúa chiếm chỗ trung tâm, chứ không phải cái tôi của mình.” 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải sống hiền lành và xót thương. “Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,5).  Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của tình yêu, biết kiềm chế bạo lực, biết tha thứ.  Trong một thế giới đầy đối đầu và hận thù, người hiền lành chính là chứng nhân của Nước Trời.

 Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải chấp nhận khát khao sự công chính và sẵn sàng chịu thiệt. “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5,10).  Theo Chúa không hứa hẹn cuộc sống dễ dàng, nhưng hứa ban ý nghĩa, niềm hy vọng và sự sống đời đời. 

Tóm lại: Tám Mối Phúc không phải là những khẩu hiệu đẹp treo trên tường, mà là con đường sống, là chìa khóa hạnh phúc mà Chúa Giê-su trao vào tay mỗi người chúng ta.  Hạnh phúc Ki-tô giáo không phải là tránh né đau khổ, mà là sống đau khổ trong tình yêu và niềm tin.

 Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những lo toan của cuộc sống, biết quay về với lời Chúa hôm nay, để can đảm chọn con đường hẹp của Tin Mừng.  Vì như thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc mà lòng mình khao khát.”  Amen. 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

Quyết định từ chối của bà (Tiến sĩ Frances Kelsey) đã cứu sống hàng nghìn người.

My Lan Pham

 Bà vừa nhận việc thì một hãng dược lớn đòi phê duyệt “thuốc bom tấn”.

Quyết định từ chối của bà đã cứu sống hàng nghìn người.

Tháng 9 năm 1960. Washington, D.C.

Tiến sĩ Frances Kelsey bước vào Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong ngày làm việc đầu tiên. Khi đó bà 46 tuổi, là một nhà dược lý học có bằng bác sĩ y khoa, và là một trong số rất ít phụ nữ làm việc trong lĩnh vực quản lý dược phẩm liên bang.

Cấp trên giao cho bà một hồ sơ tưởng chừng rất bình thường.

Một công ty dược mang tên Richardson-Merrell đang xin phép lưu hành một loại thuốc an thần mới có tên Kevadon. Hoạt chất của nó là thalidomide ,loại thuốc khi đó đã gây “cơn sốt” tại châu Âu và Canada. Các bác sĩ kê đơn rộng rãi để điều trị lo âu, mất ngủ, đặc biệt là ốm nghén ở phụ nữ mang thai. Thuốc được cho là an toàn đến mức ở một số quốc gia, người dân có thể mua không cần toa bác sĩ.

Công ty dự báo doanh thu khổng lồ tại Mỹ. Họ muốn thuốc có mặt trên kệ hiệu thuốc trước Giáng sinh. Họ tin rằng quá trình phê duyệt chỉ mất vài tuần, thậm chí vài ngày.

Họ không hề biết mình đang đối mặt với ai.

Tiến sĩ Kelsey bắt đầu xem xét hồ sơ. Bà cảm thấy có điều gì đó không ổn. Các nghiên cứu an toàn quá sơ sài. Dữ liệu về cách thuốc được chuyển hóa trong cơ thể rất mơ hồ. Đáng lo ngại nhất, gần như không có thông tin nào về tác động của thuốc đối với phụ nữ mang thai ,dù đây lại là nhóm đối tượng sử dụng chính.

Bà gửi trả hồ sơ với một dòng ngắn gọn:

“Dữ liệu không đầy đủ. Từ chối phê duyệt.”

Richardson-Merrell choáng váng. Đây không phải cách mọi thứ vẫn diễn ra. Thuốc đã được phê duyệt ở hàng chục quốc gia. Doanh thu đã lên đến hàng triệu USD. Vậy mà một viên chức FDA ,lại còn là phụ nữ ,dám chặn đường họ chỉ vì những “chi tiết giấy tờ”.

Công ty lập tức mở một chiến dịch gây áp lực dữ dội ,đủ sức khiến hầu hết mọi người phải khuất phục.

Lãnh đạo công ty gọi điện cho cấp trên của bà, yêu cầu đảo ngược quyết định. Họ đích thân đến văn phòng, dùng dáng vẻ và quyền lực để đe dọa. Họ gọi bà là “quan chức tiểu tiết”, “bới lông tìm vết” vì những điều vô nghĩa. Họ nói bà thiếu kinh nghiệm, cứng nhắc, và đang gây hại cho bệnh nhân khi giữ lại một loại thuốc có lợi.

Các tạp chí chuyên ngành cũng nhập cuộc. Báo chí ngành dược công khai nghi ngờ năng lực chuyên môn của bà. Công ty ám chỉ rằng bà đang “say quyền lực”, lạm dụng thẩm quyền mới có.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của bà: mới đi làm, giữa một môi trường gần như toàn đàn ông trong thời kỳ phụ nữ làm khoa học thường xuyên bị xem nhẹ. Không mạng lưới hỗ trợ. Không tiền lệ. Cả ngành công nghiệp dược nói rằng bà sai. Chỉ cần ký giấy là xong. Chỉ cần tự nhủ: “Thuốc đã được phê duyệt khắp nơi rồi, chắc chắn là an toàn.”

Nhưng Frances Kelsey có một thứ không thể bị bắt nạt hay thương lượng: liêm chính khoa học.

Bà yêu cầu bổ sung nghiên cứu. Khi công ty gửi dữ liệu không đạt yêu cầu, bà lại từ chối. Hết lần này đến lần khác. Bà đặt thêm câu hỏi về các báo cáo tổn thương thần kinh ở bệnh nhân Anh sử dụng thuốc lâu dài. Bà chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong nghiên cứu. Bà kéo dài quy trình suốt 11 tháng căng thẳng, bất chấp những lời đe dọa và công kích.

Rồi tháng 11 năm 1961.

Những báo cáo đầu tiên xuất hiện từ Đức. Các bác sĩ nhận ra một mô hình kinh hoàng: trẻ sơ sinh chào đời với phocomelia ,một dị tật bẩm sinh hiếm và cực kỳ nghiêm trọng. Tay chân của các em bị teo ngắn hoặc không hình thành. Có trẻ tay chỉ dừng lại ở vai với bàn tay nhỏ như vây cá. Chân còi cọc hoặc biến mất hoàn toàn. Nhiều em còn bị tổn thương nội tạng nặng.

Con số nạn nhân tăng vọt. Và rồi mối liên hệ được xác nhận: mẹ của các em đã dùng thalidomide khi mang thai.

Sự thật lan khắp châu Âu và Australia như một cơn ác mộng. Hơn 10.000 trẻ em bị ảnh hưởng. Một nửa không sống sót qua những năm đầu đời. Những em còn sống phải đối mặt với tàn tật suốt đời. Hình ảnh những cơ thể non nớt khiếm khuyết khiến cả thế giới bàng hoàng.

Ngành dược chấn động. Các chính phủ vội vàng thu hồi thuốc. Kiện tụng bùng nổ. Sự nghiệp của nhiều người chấm dứt. Nhưng thiệt hại thì không thể đảo ngược. Cả một thế hệ gia đình bị hủy hoại.

Tại Mỹ, thảm kịch này hầu như không xảy ra.

Chỉ có một vài trường hợp do các mẫu thuốc mà công ty phát cho bác sĩ trong thời gian chờ phê duyệt. Nhưng thảm họa trên diện rộng từng tàn phá châu Âu? Nó đã không bao giờ diễn ra tại Hoa Kỳ.

Chỉ vì một người phụ nữ ngồi sau bàn làm việc đã từ chối bị khuất phục.

Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy mời Tiến sĩ Kelsey đến Nhà Trắng và trao cho bà Huân chương Dịch vụ Dân sự Liên bang Xuất sắc ,một trong những phần thưởng cao quý nhất dành cho công chức Mỹ. Bà là người phụ nữ thứ hai từng nhận được vinh dự này.

Nhưng với Frances Kelsey, phần thưởng lớn nhất không phải là huy chương hay sự tôn vinh. Đó là việc bà biết rằng, ở đâu đó trên nước Mỹ, hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, vui chơi, sống trọn vẹn, mà không hề hay biết họ đã từng ở rất gần một số phận hoàn toàn khác.

Câu chuyện của bà cho thấy một điều sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng. Nó không phải lúc nào cũng kịch tính. Đôi khi, nó rất lặng lẽ. Đôi khi, đó chỉ là ngồi trước một tập hồ sơ, nhìn vào dữ liệu chưa đầy đủ, và có đủ dũng khí đạo đức để nói “không” khi mọi người đều đang hét “có”.

Đôi khi, anh hùng là người bị cho là khó tính, cố chấp, quá thận trọng.

Đôi khi, anh hùng là người tin vào chuyên môn, trực giác và trách nhiệm với những con người mình sẽ không bao giờ gặp, hơn là tin vào những tiếng nói quyền lực đang đòi hỏi sự tuân phục.

Tiến sĩ Frances Kelsey làm việc tại FDA cho đến năm 90 tuổi. Bà dành cả sự nghiệp để bảo vệ những con người không hề biết tên bà. Và mọi đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh tại Mỹ sau năm 1960 đều mang ơn bà ,một món nợ mà họ sẽ không bao giờ có thể hiểu hết.

Bà không chặn một viên đạn.

Bà chặn một cây bút khỏi ký vào một tờ giấy.

Và điều đó đã thay đổi tất cả.

Theo curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm