JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Hoai Linh Ngoc Duong

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Có những lúc chính trị nên im tiếng để nhường chỗ cho tình người.

Trong cuộc phỏng vấn được phát sóng những ngày qua, Hunter Biden đã nghẹn ngào khi nói về người cha 83 tuổi của mình. Căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt của cựu Tổng thống Joe Biden đã di căn vào xương và xa hơn.

Hunter nói rằng nó “rất đau đớn” và khiến cha ông suy kiệt về nhiều mặt. Đó là một thông tin buồn, dù chúng ta cần thận trọng rằng gia đình Biden chưa nói ông đang ở những ngày cuối đời. (Reuters⁠)

Nhưng có lẽ chính vào những thời khắc như thế này, con người mới cảm nhận sâu sắc nhất bốn chữ tưởng như đã quá quen thuộc: sinh, lão, bệnh, tử.

Một đời người có thể đi qua những hành lang quyền lực lớn nhất thế giới, có thể ngồi trong Thượng viện Hoa Kỳ, bước vào Nhà Trắng với tư cách phó tổng thống rồi tổng thống, có thể ký những đạo luật ảnh hưởng đến hàng trăm triệu con người.

Nhưng cuối con đường, trước bệnh tật, một tổng thống cũng chỉ là một con người. Quyền lực không thể ra sắc lệnh cho những tế bào ung thư ngừng phát triển. Danh vọng không thể thương lượng với tuổi già. Tiền bạc có thể đem lại những phương pháp điều trị tốt nhất, nhưng không thể mua được sự bất tử.

Có lẽ đó chính là bài học nhân sinh lớn nhất mà bệnh tật nhắc lại cho tất cả chúng ta: quyền lực rồi sẽ hết, chức vụ rồi sẽ trao lại, những cuộc tranh cãi chính trị rồi sẽ trở thành vài trang trong sách sử. Cuối cùng điều còn lại là một con người đã sống như thế nào và để lại điều gì cho những người đến sau.

Cuộc đời Joe Biden, bất kể người ta đánh giá những quyết định chính trị của ông ra sao, là một cuộc đời rất dài trong nền dân chủ Mỹ.

Ông bước vào Thượng viện năm 1973 khi mới 30 tuổi và ở đó suốt 36 năm, chứ không chỉ 30 năm. Sau đó là tám năm làm phó tổng thống dưới thời Barack Obama và bốn năm làm Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. (U.S. Senate⁠)

Nhưng phía sau con đường chính trị ấy là một cuộc đời nhiều mất mát.

Chỉ vài tuần sau khi Biden lần đầu đắc cử thượng nghị sĩ năm 1972, người vợ Neilia và cô con gái nhỏ Naomi chết trong một tai nạn xe hơi; hai người con trai Beau và Hunter bị thương.

Biden đã tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ ngay trong bệnh viện nơi các con đang điều trị. Sau đó, ông lựa chọn mỗi ngày đi lại giữa Delaware và Washington để có thể trở về với các con vào buổi tối. (Joe Biden⁠)

Vì thế mới có một “Amtrak Joe” rất khác với hình ảnh của một chính trị gia Washington: một người cha trên chuyến tàu trở về nhà sau giờ làm việc.

Hàng chục năm sau, bi kịch lại tìm đến gia đình ấy. Beau Biden mắc ung thư não. Trong những ngày con trai bệnh nặng, Joe Biden từng tính đến chuyện bán căn nhà của mình để bảo đảm gia đình Beau không gặp khó khăn tài chính nếu Beau phải nghỉ việc. Barack Obama khi biết chuyện đã đề nghị giúp đỡ để Biden không phải bán nhà.

Chi tiết ấy có ý nghĩa không phải bởi một phó tổng thống nghèo hay giàu. Nó đáng nhớ bởi trong khoảnh khắc ấy, chức danh “Phó Tổng thống Hoa Kỳ” bỗng trở nên nhỏ bé trước hai chữ người cha.

Một người cha có thể ngồi cách Tổng thống Hoa Kỳ vài bước trong Phòng Bầu dục, nhưng khi con mình mắc bệnh hiểm nghèo, ông cũng suy nghĩ như hàng triệu người cha bình thường khác: nếu cần, tôi sẽ bán những gì mình có để con và gia đình của con được bình an.

Beau qua đời năm 2015, mới 46 tuổi.

Và hôm nay, vòng quay nghiệt ngã của đời người lại đảo chiều: người cha từng đứng bên giường bệnh của con giờ trở thành người bệnh; Hunter Biden, người con từng được cha chăm sóc sau tai nạn khi còn nhỏ, giờ phải nhìn người cha già chống chọi với căn bệnh ung thư.

Có lẽ không có triết lý nào về vô thường mạnh mẽ hơn chính cuộc đời.

Joe Biden không phải một vị thánh. Không một chính trị gia dân chủ nào nên được biến thành thánh. Ông đã có những quyết định đúng, những quyết định sai, những thành tựu và những thất bại. Chính bản chất của dân chủ đòi hỏi người dân được quyền phê phán tất cả những điều đó.

Nhưng có một điểm đáng được ghi nhận: Biden dành hơn nửa thế kỷ hoạt động trong những định chế của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông thắng bầu cử, ông từng thất bại trong những cuộc tranh cử tổng thống, ông tranh luận với đối thủ, thương lượng với Quốc hội và cuối cùng rời quyền lực khi nhiệm kỳ kết thúc.

Trong Thượng viện, ông từng giữ những vị trí hàng đầu tại Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Đối ngoại và là tác giả quan trọng của Violence Against Women Act. (Joe Biden⁠) Trong tám năm làm phó tổng thống, ông tham gia chính quyền Obama trong quá trình phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính và thông qua Affordable Care Act. (Joe Biden⁠)

Khi làm tổng thống, chính quyền Biden thông qua những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, trong đó có khoảng 66 tỷ USD dành cho đường sắt – một sự trùng hợp đẹp đối với người đàn ông đã dành phần lớn đời nghị sĩ trên những chuyến tàu Amtrak. (AP News⁠)

Và một trong những chủ đề lớn nhất những năm cuối sự nghiệp chính trị của Biden chính là bảo vệ nền dân chủ.

Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cách ông thực hiện điều đó. Nhưng trong bài phát biểu chia tay tại Phòng Bầu dục tháng 1/2025, Biden vẫn cảnh báo nước Mỹ về nguy cơ hình thành một tầng lớp tài phiệt khi tiền bạc và quyền lực tập trung quá mức trong tay một số ít người. (Reuters⁠)

Đó cũng là điều đẹp đẽ của một nền dân chủ: không cần yêu một tổng thống mới có thể ghi nhận những gì ông đã cống hiến; không cần phủ nhận những sai lầm của ông mới có thể cảm thông với nỗi đau của ông.

Bởi đến trước bệnh tật, những nhãn hiệu Democrat hay Republican cuối cùng đều trở nên thứ yếu.

Năm 2025, khi thông báo mình mắc ung thư tuyến tiền liệt thể ác tính cao, Gleason 9, đã di căn xương, Biden từng viết một câu rất giản dị: “Cancer touches us all” – ung thư chạm đến tất cả chúng ta. (CBS News⁠)

Có lẽ không cần một diễn văn nào dài hơn thế.

Ung thư không hỏi chúng ta bỏ phiếu cho ai. Tuổi già không phân biệt tổng thống với người công nhân. Cái chết không biết đến quyền lực, tài khoản ngân hàng hay số người theo dõi trên mạng xã hội.

Rồi một ngày, tất cả chúng ta đều phải rời khỏi chiếc ghế mình đang ngồi.

Và vì vậy, giá trị cuối cùng của một đời người có lẽ không nằm ở việc người ấy đã nắm bao nhiêu quyền lực, mà ở câu hỏi giản dị hơn: khi còn có quyền lực trong tay, người ấy đã sử dụng nó để làm gì?

Khi còn thời gian, người ấy đã dành nó cho ai? Và khi ra đi, người ấy để lại cho những thế hệ sau một xã hội tốt hơn hay tồi tệ hơn xã hội mà mình từng nhận được?

Joe Biden đã đi một hành trình rất dài: từ chàng trai 29 tuổi đắc cử Thượng viện; người cha tuyên thệ bên giường bệnh của những đứa con vừa mất mẹ và em gái; người nghị sĩ hàng chục năm sáng đi Washington, tối trở về Delaware; người cha từng nghĩ đến chuyện bán nhà vì tương lai gia đình của đứa con mắc ung thư; rồi phó tổng thống, tổng thống và cuối cùng lại trở về làm một ông già ở tuổi 83 đang chống chọi với bệnh tật.

Một vòng đời gần như đã đi qua tất cả những gì con người có thể trải nghiệm: thành công và thất bại, quyền lực và mất mát, vinh quang và nước mắt, được và mất, gặp gỡ và chia lìa.

Hôm nay có lẽ không phải lúc để hỏi Joe Biden thuộc đảng nào.

Chỉ nên cầu mong những phương pháp điều trị có thể giúp ông giảm bớt đau đớn, và mong Jill, Hunter, Ashley cùng những người thân có đủ sức mạnh để ở bên ông trong giai đoạn khó khăn này.

Bởi phía sau danh xưng “Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ”, cuối cùng vẫn chỉ là Joe – một người chồng, một người cha, một người ông và một con người đang đi qua quy luật khắc nghiệt mà không ai trong chúng ta có thể trốn tránh:

Sinh – lão – bệnh – tử.

Và có lẽ khi đứng trước giới hạn cuối cùng ấy, điều đáng quý nhất mà con người có thể để lại không phải là quyền lực.

Mà là dấu chân của mình trong cuộc đời những người còn ở lại. 


 

HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.” 

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

 Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình. 

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ. 

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó. 

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng. 

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa. 

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CHÚA THƯỜNG MUỘN?- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.

“Thiên Chúa bắt chúng ta chờ đợi để làm lớn lên lòng khát khao; và khi khát khao đủ lớn, Ngài mở rộng tâm hồn để đón nhận điều sắp ban!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những đêm đợi chờ không vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang làm lớn lên nỗi khát. Tin Mừng hôm nay kể về một đêm như thế. Phải chăng ‘Chúa thường muộn?’.

Ngay từ đầu trình thuật, Matthêu đã kín đáo gieo một chi tiết mà chúng ta dễ bỏ qua. Sau phép lạ hoá bánh, Chúa Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước. Bản Hy Lạp viết proagein – đi “trước”. Nhưng “trước” ở đây không chỉ là trước về không gian hay thời gian; đó là một hành trình dẫn vào một điều lớn hơn. Các môn đệ chưa biết đêm ấy sẽ gặp điều gì; họ vâng lời. Chỉ khi bão nổi, họ mới hiểu: Chúa Giêsu không đưa họ sang một bờ bên kia nào khác, nhưng vào mầu nhiệm của chính Ngài; điều chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”.

Nhưng tại sao Chúa Giêsu để các môn đệ đi trước, rồi mãi đến canh tư mới xuất hiện? Phải chăng Ngài ‘thường muộn?’. Không! Ngài không muộn, cũng không hề bỏ họ một mình giữa biển đêm. Ngài vẫn ở bên; chỉ có điều họ không nhận ra. Chỉ khi sức người chạm tới giới hạn, họ mới khám phá Đấng tưởng như vắng mặt chưa bao giờ rời xa. Điều con người gọi là ‘muộn’, nhiều khi lại chính là giờ của Thiên Chúa – giờ họ nhận ra Ngài. Bởi lẽ, Ngài không đến sau sức người, nhưng luôn đến trước tuyệt vọng. “Ai tin thì không bao giờ cô độc!” – Bênêđictô XVI.

Thiên Chúa không chỉ có “giờ”, mà còn có “cách” của Ngài. Êlia đã không gặp Chúa như mình chờ – bài đọc một; Phaolô không thấy lời hứa được thực hiện như mình mong – bài đọc hai. Con người tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhiều khi không phải vì Ngài muộn, nhưng vì Ngài hiện diện không theo cách họ ước. Bởi vậy, Thánh Vịnh đáp ca trở thành lời cầu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”.

Phần chúng ta, điều cần đổi không phải là “giờ” của Thiên Chúa, nhưng là cách đọc cuộc đời. Chúng ta vội xem im lặng là vắng mặt, chậm trễ là bỏ quên, bão tố là vắng Chúa; đang khi Ngài vẫn ở bên. Chỉ khi ngoảnh lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa chưa bao giờ muộn; chỉ có đức tin của chúng ta đến muộn. ‘Canh tư’ muộn màng hoá ra lại là khoảnh khắc chính xác nhất để ơn thánh ngỏ lời.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, trên thập giá, mọi sự đều như quá muộn: lời hứa, phép lạ, ngay cả sự sống. Nhưng chính nơi tưởng như Chúa Cha vắng mặt nhất, bình minh phục sinh đã dần hé rạng. Từ đó, giữa những ‘canh tư’ của cuộc đời, người Kitô hữu không còn hỏi: ‘Chúa thường muộn?’; cũng không còn đòi Chúa sớm cất dông bão, nhưng xác tín rằng giữa mọi phong ba, Ngài vẫn ở bên – Emmanuel. “Chờ đợi không phải là thụ động; đó là tin rằng điều đang xảy ra còn lớn hơn điều ta thấy!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bỏ cuộc giữa những ‘canh tư’; chỉ biết trung thành với lối Chúa dẫn. Vì cuối mọi bờ bên kia là chính Đức Kitô – bến hẹn đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIX TN, NĂM A: 

https://sl1nk.com/o3p7jen

Ai nấy đều ăn và được no nê.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


 

LỜI VẪN CHÁY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa!”.

“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô!” – Giêrônimô.

Kính thưa Anh Chị em,

Biết Đức Kitô, không ai có thể đứng yên. Một khi đã gặp Ngài, không ai được phép trì hoãn; đón nhận Lời Ngài là phải lên đường. Giữa muôn nẻo – ‘Lời vẫn cháy’.

Thánh Đaminh đã sống đúng chuyển động Tin Mừng ấy. Nơi ngài, Lời trở thành lửa, thôi thúc để lửa ấy cháy lan. Điều thánh nhân tìm kiếm không phải là giữ chân lý cho mình, nhưng để chân lý đến với mọi người. Vì thế, ngài khai mở một lối sống và một Dòng Giảng Thuyết, nơi Lời trở thành gia sản chung của Hội Thánh.

Nguồn mạch của lối sống ấy phát xuất từ chính lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài đặt con người trước một sự cắt đứt: dứt khoát, không ngoái lại. Bản Hy Lạp viết Apelthōn diángelle – “Hãy lên đường loan báo!”. Apelthōn không chỉ là bước đi, nhưng là dứt mình khỏi điều đang giữ chân; diángelle không chỉ là cất tiếng, nhưng là để Lời tiếp tục đi tới. Người môn đệ lên đường không để mang lời mình, nhưng để Lời Thiên Chúa tiếp tục vang lên.

Lời ấy là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa – ánh sáng không bao giờ tàn lụi – không được ban để cất giữ, nhưng để tiếp tục soi đường; không dừng lại nơi người đã đón nhận, nhưng luôn tìm đến những người còn chưa được nghe – bài đọc một. Đức Khôn Ngoan không vơi đi khi được trao ban; trái lại, càng trao ban càng làm giàu cả người trao lẫn người nhận. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới mời gọi: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!”.

Nhưng việc loan báo không dừng lại ở đó. Ở đây, Lời không chỉ là điều được biết, nhưng là sự sống. Truyền thống Đaminh cô đọng điều ấy trong một châm ngôn: “Chiêm niệm và trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Vì thế, giảng thuyết không phải là lặp lại một chân lý, nhưng để Chân Lý tiếp tục lên tiếng trong đời người rao giảng. Chẳng có ngọn lửa truyền giáo nào không thiêu đốt trước tiên người cầm đuốc. Chỉ khi người loan báo để Lời biến đổi chính mình, Lời mới có thể biến đổi người khác. “Lời Thiên Chúa không chỉ là thông tin, nhưng là một thực tại biến đổi chúng ta!” – Bênêđictô XVI.

Điều thiếu không phải là nhiều lời hơn, nhưng là nhiều con người không để Lời đọng lại trên cuộc đời mình. Có những bài giảng chỉ kéo dài mười phút; cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Khác biệt không nằm ở tài hùng biện, nhưng ở việc Lời đã thật sự trở thành máu thịt của người loan báo. “Người giảng phải uống lấy điều mình sẽ rót ra!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không còn chỉ được nói, nhưng đã làm người. Không chỉ công bố chân lý, Ngài là Chân Lý; không chỉ chỉ đường, Ngài là Đường; không chỉ loan báo sự sống, Ngài là Sự Sống. Vì thế, mỗi lần chúng ta để cho Lời biến đổi đời mình, chính Đức Kitô lại tiếp tục lên tiếng giữa thế giới. Trong Ngài, Lời không bao giờ tắt. Dẫu thuận tiện hay không thuận tiện, ai thuộc về Ngài, ‘Lời vẫn cháy’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con sống điều con loan báo và loan báo điều con sống, để ‘Lời Bừng Lửa’ luôn là ‘Lời vẫn cháy’ trong con và qua con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Thứ Bảy Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

https://sl1nk.com/l4alucx

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

14 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến với đám đông, thì có một người tới quỳ xuống trước mặt Đức Giê-su 15 và nói: “Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm: nhiều lần ngã vào lửa, và cũng nhiều lần ngã xuống nước. 16 Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài, nhưng các ông không chữa được.” 17 Đức Giê-su đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa? Đem cháu lại đây cho tôi.” 18 Đức Giê-su quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó.

19 Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giê-su rằng: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” 20 Người nói với các ông: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘Rời khỏi đây, qua bên ki!’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.”


 

Giáo Hội mừng kính Thánh Đa Minh (8/8) – Cha Vương

Ngày Thứ 2 bình an và hạnh phúc nhé. Hôm nay 8/8 Giáo Hội mừng kính Thánh Đa Minh, chúc mừng Bổn Mạng đến các nam nữ tu sĩ, linh mục Dòng Đa Minh và những ai nhận thánh Đa Minh làm quan thầy. Chúc mừng! Chúc mừng!

Mến chào “BÌNH AN!” Chân phước George Matulaitis nói: “Mỗi Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng (trong Kinh Mân Côi) giống như lương thực từ trời, củng cổ sức mạnh của chúng ta.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 8/8/2026.        (t2-22)

Thánh Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ “tuyệt vời và dịu dàng.” Bà cố là Joanna d’Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng. Dù được cưng chiều, thánh Đa Minh sớm sống đời khổ hạnh. Đến tuổi đi học, Đa Minh được gởi tới thụ giáo với ông cậu là linh mục ở Gumiel. Năm 14 tuổi, Ngài theo học tại đại chủng viện ở Palencia và đã tiến triển rất nhanh về hiểu biết lẫn nhân đức. Nạn đói lan tràn nước Tây Ban Nha, một người bạn đến thăm Đa Minh không thấy đồ dùng lẫn những pho sách quí đâu nữa. Ngài đã bán để giúp người nghèo khó rồi. Gương sáng này đã lôi kéo được nhiều sinh viên lẫn các giáo sư bắt chước. Ngài là đấng sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết (Ordo Praedicatorum”, viết tắt: O.P.) về sau người ta thường gọi là Dòng Đa Minh. Vào năm 1206 thánh nhân lập hội dòng nữ Đa Minh đầu tiên tại Prouille, nước Pháp. Ngài chọn đường lối rao giảng Tin Mừng bằng cách lấy khó nghèo và cầu nguyện làm gương sáng thu hút mọi người. Cuộc đời của thánh Đa Minh được giáo hội ca tụng là ngài chỉ “nói với Chúa, về Chúa và trong Chúa.” Đem Chúa đến cho tha nhân, và nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện, người dẫn đưa tha nhân về với Chúa. Chân phước Jordano ghi rằng: Cha thường cầu nguyện suốt đêm, Chúa đã ban cho cha ơn đặc biệt cầu nguyện cho các tội nhân, cho người nghèo và người sầu khổ. Cha cảm thông với những đau cổ của họ tận đáy lòng, và biểu hiện ra bên ngoài bằng những dòng nước mắt. Có khi giữa đêm thanh vắng. Ngài lớn tiếng kêu nài: Chúa ơi! Rồi đây các tội nhân sẽ ra sao? Một hôm Thánh Nhân rảo qua khắp nẻo trên đường giảng dạy, một thanh niên ngây ngất hỏi Ngài đã học cách nào, Ngài nói: Hỡi con trong sách đức ái đó, sách này hơn mọi sách dạy bảo tất cả.

(Nguồn: Hạnh Các Thánh)

Hôm nay mời Bạn hãy bắt chước Thánh Đa Minh, bằng chính đời sống cầu nguyện của mình, “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Máccô 16:15), và qua việc cầu nguyện dẫn đưa tha nhân về với Chúa.

From: Do Dzung

*****

Đa Minh ngọn đuốc Tin Mừng – sáng tác Sr Clara OP- Tứ ca Áo trắng

TƯỞNG VÀO VIỆN DƯỠNG LÃO LÀ AN NHÀN, 6 THÁNG SAU TÔI MỚI HIỂU

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm

TƯỞNG VÀO VIỆN DƯỠNG LÃO LÀ AN NHÀN, 6 THÁNG SAU TÔI MỚI HIỂU

Có người từng nói: Tuổi già đáng sợ nhất không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình không còn được ai xem trọng.

Ngày bước chân vào viện dưỡng lão, tôi đã tin rằng mình vừa đưa ra một quyết định đúng đắn.

Ở đó có người nấu ăn, có người chăm sóc, có bác sĩ theo dõi sức khỏe, lại có những người cùng tuổi để trò chuyện mỗi ngày.

Tôi nghĩ, cuối cùng mình cũng có thể sống những năm tháng cuối đời trong sự an nhàn.

Nhưng chỉ sau sáu tháng, tôi mới hiểu một điều rất khác.

Tuổi già không chỉ cần được chăm sóc, mà còn cần được đối xử như một con người.

Tôi vẫn nhớ như in những ngày đầu ở viện.

Mọi thứ đều sạch sẽ, ngăn nắp và có quy củ.

Giờ ăn, giờ ngủ, giờ tập thể dục, giờ thăm nuôi… tất cả đều được sắp xếp sẵn.

Ban đầu, tôi thấy điều đó rất chuyên nghiệp.

Cho đến một buổi sáng, tôi nhờ người chăm sóc giúp lấy cho mình một món đồ ở trên cao.

Cô ấy nhìn tôi rồi nói: “Bà còn đi lại được mà, sao phải nhờ?”

Đó chỉ là một câu nói rất bình thường, không hề quát mắng hay nặng lời.

Nhưng không hiểu sao, tôi thấy lòng mình chùng xuống.

Từ hôm ấy, tôi dần nhận ra rằng ở viện dưỡng lão, mọi thứ đều vận hành theo quy trình.

Ai cũng bận, ai cũng có phần việc của mình.

Không ai cố ý vô tâm, nhưng cũng rất ít người còn đủ thời gian để quan tâm đến cảm xúc của từng cụ già.

Bữa cơm vẫn đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chẳng có hương vị của bữa cơm gia đình. Người cùng phòng gặp nhau mỗi ngày, nhưng mỗi người đều mang trong lòng những nỗi cô đơn riêng.

Không ai thực sự làm phiền ai, cũng chẳng ai thật sự bước vào cuộc sống của ai.

Điều khiến tôi mệt mỏi nhất không phải là thiếu thốn vật chất.

Mà là cảm giác mình đang được quản lý, hơn là được sống.

Sáu tháng sau, tôi quyết định trở về nhà.

Tôi thuê một người chăm sóc.

Chị ấy không học cao, cũng chẳng biết nói những lời hoa mỹ.

Nhưng chị nhớ tôi thích ăn nhạt, nhớ những hôm trái gió trở trời lưng tôi hay đau, nhớ buổi tối tôi thường khó ngủ nên luôn pha sẵn một ly nước ấm đặt cạnh đầu giường.

Có hôm tôi không muốn ăn đúng bữa, chị chỉ cười rồi bảo: “Khi nào bác thấy đói thì con hâm lại.”

Một câu nói rất đơn giản, nhưng đủ để tôi cảm thấy mình vẫn còn được tôn trọng.

Mỗi tối, chị xoa bóp lưng cho tôi bằng rượu thuốc.

Những bữa cơm được nấu theo đúng khẩu vị của tôi.

Cuộc sống không còn quá nhiều quy định cứng nhắc, cũng không còn cảm giác mình phải cố gắng thích nghi với một guồng quay đã được lập trình sẵn.

Dần dần, tôi ngủ ngon hơn.

Sức khỏe cũng khá hơn.

Điều thay đổi lớn nhất lại không nằm ở cơ thể, mà ở tinh thần.

Tôi cảm thấy mình vẫn là chính mình.

Dĩ nhiên, tôi cũng hiểu rằng không phải ai cũng may mắn gặp được một người chăm sóc tận tâm.

Có người thuê nhầm người, có người liên tục thay đổi người giúp việc, thậm chí còn mệt mỏi hơn cả khi ở viện dưỡng lão.

Vì thế, sẽ không có lựa chọn nào hoàn hảo cho tất cả mọi người.

Viện dưỡng lão có sự chuyên nghiệp, an toàn và thuận tiện.

Ở nhà có sự gần gũi, tự do và ấm áp.

Mỗi hoàn cảnh sẽ có một đáp án khác nhau.

Nhưng sau tất cả, tôi nhận ra một điều rất đáng suy ngẫm:

Điều quan trọng không phải là mình sống ở đâu, mà là mình được đối xử như thế nào.

Con người, dù ở tuổi nào, cũng luôn cần được lắng nghe, được tôn trọng và được quan tâm bằng cả sự chân thành.

Tuổi già không nhất thiết phải có căn phòng đẹp nhất, bữa ăn sang nhất hay lịch sinh hoạt hoàn hảo nhất.

Điều người già cần, đôi khi chỉ là có một người nhớ mình thích gì, hỏi hôm nay mình có khỏe không, và khiến mình cảm thấy bản thân vẫn có giá trị.

Bởi cuối cùng, ai rồi cũng sẽ già đi.

Và điều mỗi chúng ta mong mỏi nhất, không phải chỉ là được nuôi dưỡng.

Mà là được sống những năm tháng cuối đời với sự bình yên, lòng tự trọng và tình người.

Xin cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe.

Kính chúc quý vị luôn mạnh khỏe, bình an và có thật nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Hẹn gặp lại quý vị trong những câu chuyện tiếp theo của Tĩnh Lặng Mỗi Đêm.

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm 


 

TỪ LIVESTREAM NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG ĐẾN DIỄN ĐÀN DONALD TRUMP: KHI CHỦ NGHĨA DÂN TÚY ĐÁNH THẲNG VÀO CẢM XÚC ĐÁM ĐÔNG

Hoai Linh Ngoc DuongSự Thật Lề Đường (STLĐ)

 TỪ LIVESTREAM NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG ĐẾN DIỄN ĐÀN DONALD TRUMP: KHI CHỦ NGHĨA DÂN TÚY ĐÁNH THẲNG VÀO CẢM XÚC ĐÁM ĐÔNG

Thoạt nhìn, Nguyễn Phương Hằng và Donald Trump là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau. Một người nổi tiếng qua những buổi livestream đầy thị phi tại Việt Nam; người kia là một doanh nhân trở thành Tổng thống Hoa Kỳ.

Một người không nắm quyền lực nhà nước; người kia đứng ở trung tâm quyền lực của một siêu cường.

Nhưng nếu tạm gác nội dung đúng sai của từng phát biểu để chỉ quan sát kỹ thuật ngôn ngữ, chúng ta sẽ thấy một số nét tương đồng đáng chú ý: nói trực tiếp, bình dân, lặp đi lặp lại, cá nhân hóa xung đột, chế giễu đối thủ, chia thế giới thành những phe đối nghịch và đặc biệt là tạo cho người nghe cảm giác: “Tôi đang nói hộ những điều các anh chị muốn nói mà không ai dám nói.”

Trong chính trị học, một phần của hiện tượng ấy nằm trong khái niệm chủ nghĩa dân túy – populism. Nhiều nghiên cứu định nghĩa dân túy bằng ba yếu tố thường gặp: lấy “nhân dân” làm trung tâm, chống giới tinh hoa và có xu hướng phủ nhận tính chính đáng của những lực lượng không thuộc về “nhân dân chân chính”.

Chính trị vì vậy bị giản lược thành cuộc chiến giữa “những người dân lương thiện” và “giới tinh hoa tham nhũng”. (Cambridge University Press⁠)

Ngôn ngữ dân túy hấp dẫn trước hết bởi nó biến những vấn đề phức tạp thành những câu chuyện cực kỳ đơn giản. Một bài phân tích về tam quyền phân lập phải giải thích Quốc hội, hành pháp, tư pháp, judicial review, federalism, due process, checks and balances… Người đọc phải tập trung và có một số kiến thức nền.

Trong khi diễn ngôn dân túy chỉ cần nói: Bọn chúng đang lừa các bạn. Tôi sẽ phơi bày chúng. Chỉ có tôi dám nói sự thật. Một bên yêu cầu tư duy; bên kia cung cấp ngay một cảm xúc.

Đó là lý do livestream có thể hấp dẫn hơn một bài khảo luận về hiến pháp. Con người không phải lúc nào cũng tiếp nhận chính trị bằng lý trí thuần túy.

Chúng ta còn tiếp nhận nó bằng giận dữ, sợ hãi, tự ái, hy vọng, cảm giác bị xúc phạm và nhu cầu thuộc về một cộng đồng.

Chủ nghĩa dân túy đặc biệt giỏi biến những cảm xúc riêng lẻ thành một câu chuyện tập thể: “Anh khổ không phải chỉ mình anh khổ. Có một thế lực đã làm anh khổ. Tôi biết chúng là ai. Và tôi đứng về phía anh.”

Ở đây cần tránh một ngộ nhận: dân túy không đơn giản là chính trị dành cho người ít học. Người có học vẫn có thể bị hấp dẫn bởi nó.

Những nghiên cứu thực nghiệm thậm chí cho thấy chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản không tự động giúp một ứng viên giành phiếu; điều quan trọng hơn là việc quy trách nhiệm cho giới chính trị và tạo cảm giác đứng về phía “nhân dân”.

Những bất an về kinh tế, văn hóa và địa vị xã hội cũng có thể kích hoạt nhu cầu tìm kiếm một lãnh tụ mạnh. (Cambridge University Press⁠)

Điểm đáng chú ý trong cách nói của Nguyễn Phương Hằng là biến người nghe thành người trong cuộc. Những câu chuyện về người giàu, quan chức, nghệ sĩ, hoa hậu, tiền bạc, tình dục, phản bội… vốn gần với những tò mò và ấm ức đời thường hơn rất nhiều so với những khái niệm như trách nhiệm giải trình hay kiểm soát quyền lực.

Khi người livestream dùng tiếng lóng, thành ngữ, châm chọc hoặc ngôn từ ngoài đường phố, khoảng cách giữa người phát ngôn và khán giả gần như biến mất. Người nghe không cảm thấy mình đang nghe một “chuyên gia giảng bài”; họ có cảm giác một người giống mình đang đứng lên nói hộ mình.

Trump cũng đã khai thác rất thành công một cơ chế tương tự trong chính trị Mỹ.

Ngôn ngữ vận động của Trump thường không mang cấu trúc của một bài diễn văn chính sách truyền thống mà gần với một chương trình biểu diễn chính trị: biệt danh, chế giễu, cường điệu, những câu ngắn dễ nhớ, xác định kẻ thù và liên tục tạo đối lập giữa những người ủng hộ mình với giới tinh hoa, truyền thông, bộ máy quan liêu hay những nhóm bị mô tả là gây nguy hiểm cho nước Mỹ.

Nghiên cứu chính trị học gọi những khung diễn ngôn lấy “nhân dân”, chống “elite” và mô tả chính trị theo kiểu thiện–ác là những đặc trưng quan trọng của rhetoric dân túy. (Cambridge University Press⁠)

Nhưng từ đây xuất hiện một sự khác biệt cực kỳ quan trọng giữa dân túy trong dân chủ và dân túy trong độc tài.

Trong một nền dân chủ, sự giận dữ của đám đông có một công cụ chuyển hóa thành quyền lực thật: lá phiếu. Một triệu người phẫn nộ không chỉ tạo ra một triệu lượt xem.

Họ có thể tạo thành một triệu lá phiếu. Lá phiếu đưa ứng viên vào Quốc hội, đưa tổng thống vào Nhà Trắng, ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm thẩm phán và thay đổi chính sách của cả quốc gia.

Vì vậy, chủ nghĩa dân túy trong dân chủ chứa một nghịch lý: nó có thể sử dụng chính những phương tiện dân chủ để làm suy yếu nền dân chủ tự do.

Dân chủ không chỉ có bầu cử. Dân chủ tự do còn có hiến pháp, pháp quyền, quyền của thiểu số, báo chí độc lập, tư pháp độc lập, phân quyền và những thiết chế buộc người chiến thắng phải chấp nhận giới hạn quyền lực.

Nhà dân túy lại có thể nói với người ủng hộ: Tôi đại diện cho nhân dân. Tôi đã thắng cử. Vì vậy những ai ngăn cản tôi chính là đang chống lại ý chí nhân dân.

Đây chính là điểm nguy hiểm.

Khi “ý chí nhân dân” bị đồng nhất với ý chí của một cá nhân, tòa án có thể bị mô tả như kẻ phá hoại; báo chí trở thành “kẻ thù”; phe đối lập không còn là những công dân có quan điểm khác mà trở thành kẻ phản bội; công chức độc lập trở thành “deep state”; mọi cơ chế kiểm soát quyền lực đều có thể bị diễn giải thành âm mưu chống lại lãnh tụ.

Khi ấy lá phiếu không còn đơn thuần lựa chọn người quản lý nhà nước. Nó có nguy cơ trở thành tấm giấy ủy quyền để một cá nhân nhân danh đa số tấn công những thiết chế vốn được dựng lên để giới hạn chính người chiến thắng.

Đây không chỉ là giả thuyết. Nghiên cứu so sánh công bố năm 2025 tổng kết rằng khi những nhà lãnh đạo dân túy nắm chính quyền, nhiều nghiên cứu quy mô lớn ghi nhận những tác động tiêu cực đối với tự do dân sự, tự do truyền thông, cơ chế kiểm soát quyền lực và tính toàn vẹn của bầu cử.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lưu ý dân túy đôi khi có thể buộc hệ thống chính trị phải chú ý tới những nhóm cử tri thực sự cảm thấy bị bỏ quên. Vì vậy vấn đề không phải mọi phản kháng chống giới tinh hoa đều xấu; vấn đề là phản kháng ấy có chấp nhận đa nguyên và giới hạn quyền lực hay không. (Cambridge University Press⁠)

Trường hợp Hoa Kỳ càng đặc biệt bởi Tổng thống Mỹ không chỉ ảnh hưởng đến nước Mỹ. Người ngồi trong Nhà Trắng điều hành một siêu cường quân sự, kinh tế và ngoại giao.

Vì vậy khi làn sóng dân túy đưa một lãnh tụ lên nắm quyền, những quyết định về thuế quan, nhập cư, chiến tranh, liên minh, viện trợ, tổ chức quốc tế hay quan hệ với các cường quốc có thể tạo chấn động vượt khỏi biên giới Hoa Kỳ.

Đến năm 2026, ngay cả trong nội bộ Mỹ, tranh luận về giới hạn quyền hành pháp đã trở thành một vấn đề lớn; khảo sát được Brookings phân tích cho thấy đa số người Mỹ được hỏi cho rằng Trump đã hành động vượt khỏi thẩm quyền pháp lý và hiến định trong một số lĩnh vực. (Brookings⁠)

Nhưng đặt cùng hiện tượng ấy vào một chế độ không có bầu cử cạnh tranh thực chất, kết quả lại hoàn toàn khác.

Một buổi livestream tại Việt Nam có thể thu hút hàng triệu lượt xem. Người ta có thể cười, chửi, hả hê, chia sẻ và cảm thấy những điều mình không dám nói cuối cùng đã có người nói thay.

Nhưng sau khi màn hình điện thoại tắt đi, câu hỏi quan trọng nhất vẫn còn nguyên: quyền lực nhà nước đã thay đổi gì chưa?

Nếu người dân không có khả năng dùng lá phiếu để thay thế chính quyền; nếu Quốc hội không phải nơi cạnh tranh quyền lực thực chất; nếu báo chí không thể tự do điều tra quyền lực; nếu tư pháp không đủ độc lập để buộc người có quyền chịu trách nhiệm, thì sự phẫn nộ của hàng triệu người rất khó chuyển hóa thành quyền lực chính trị có tổ chức.

Và đây chính là nghịch lý lớn nhất.

Ở Mỹ, một đám đông bị kích động có thể trở thành đội quân lá phiếu.

Ở Việt Nam, một đám đông bị kích động rất dễ chỉ trở thành đội quân lượt xem.

Một bên có khả năng đưa người mình yêu thích vào Nhà Trắng. Bên kia có thể đưa một livestream lên hàng triệu view nhưng ngày hôm sau cơ cấu quyền lực vẫn gần như nguyên vẹn.

Bởi vậy dân túy trong một nền độc tài đôi khi còn vô tình đóng vai trò như van xả áp suất xã hội.

Người dân được nghe những chuyện mà báo chí chính thống không nói, được cười vào giới quyền thế, được chứng kiến thần tượng hay người nổi tiếng bị “bóc trần”, được thỏa mãn cảm giác rằng cuối cùng cũng có người “quất thẳng”.

Sự phẫn nộ được giải phóng nhưng chưa chắc được chuyển hóa thành yêu cầu cải cách thể chế.

Đó chính là nơi “phép thắng lợi tinh thần” xuất hiện.

Người ta tưởng rằng nói được sự thật đồng nghĩa với thay đổi được hiện thực.

Không phải.

Phơi bày quyền lực và kiểm soát quyền lực là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Một livestream có thể làm một quan chức xấu hổ. Một nền báo chí tự do có thể điều tra ông ta.

Nhưng chỉ một hệ thống pháp quyền với công tố độc lập, tòa án độc lập, Quốc hội có quyền giám sát và cử tri có quyền loại bỏ chính quyền mới có khả năng biến thông tin thành trách nhiệm giải trình.

Đây cũng là lý do câu chuyện Nguyễn Phương Hằng đáng suy nghĩ hơn rất nhiều so với những chuyện ai ngủ với ai, ai cho ai tiền hay ai chống lưng cho ai.

Hiện tượng hàng triệu người say mê nghe những câu chuyện hậu trường quyền lực nhưng ít quan tâm tới cơ chế sản sinh và kiểm soát chính quyền cho thấy một nghịch lý: người ta căm ghét hậu quả của quyền lực tha hóa nhưng lại ít quan tâm đến cấu trúc đã cho phép quyền lực tha hóa.

Họ thích nghe kể về một quan chức xấu hơn là tìm hiểu tại sao một quan chức xấu có thể tồn tại.

Họ thích nghe một người quyền thế bị chửi hơn là đặt câu hỏi ai có quyền điều tra người ấy.

Họ thích chứng kiến một nhân vật bị “quất” trên mạng hơn là hỏi liệu người dân có cơ chế pháp lý nào để buộc người có quyền phải chịu trách nhiệm hay không.

Và đó là chiến thắng lớn nhất của mọi hệ thống quyền lực không bị kiểm soát: biến sự phẫn nộ chính trị thành giải trí.

Từ Nguyễn Phương Hằng đến Donald Trump vì vậy có một bài học đáng suy ngẫm. Chủ nghĩa dân túy không nhất thiết sinh ra từ sự ngu dốt.

Nó sinh trưởng rất tốt trên sự bất mãn, đặc biệt khi con người cảm thấy giới tinh hoa không còn nói ngôn ngữ của họ và hệ thống không còn lắng nghe họ. Nhà dân túy xuất hiện và nói: Tôi hiểu sự tức giận của các bạn. Tôi biết kẻ nào gây ra nó. Hãy đứng về phía tôi.

Nhưng từ câu nói ấy, hai con đường có thể mở ra.

Trong một nền dân chủ, đám đông có lá phiếu. Nếu cảm xúc chiến thắng lý trí và sự trung thành với lãnh tụ chiến thắng lòng trung thành với hiến pháp, dân túy có thể bước từ quảng trường vào chính quyền và bắt đầu phá bỏ từng chiếc khóa vốn được thiết kế để kiểm soát quyền lực.

Trong một chế độ độc tài, đám đông không có sức mạnh tương đương của lá phiếu. Sự phẫn nộ vì thế có thể quanh quẩn từ livestream sang Facebook, từ scandal này sang scandal khác, từ một trận cười sang một cơn giận dữ khác. Quyền lực vẫn ở đó.

Một nơi, dân túy có thể biến sự giận dữ thành quyền lực.

Một nơi, dân túy có nguy cơ biến sự giận dữ thành giải trí.

Nhưng cuối cùng bài học cho cả hai xã hội lại giống nhau: vấn đề quan trọng nhất không phải ai nói hay hơn, ai chửi mạnh hơn, ai thu hút được nhiều người hơn, mà là xã hội có những thiết chế nào để biến bất mãn chính đáng của người dân thành cải cách hòa bình, đồng thời ngăn bất kỳ cá nhân nào lợi dụng chính sự bất mãn ấy để tập trung quyền lực vào tay mình.

Bởi một nền dân chủ trưởng thành không hỏi: “Ai sẽ cứu chúng ta?”

Nó hỏi một câu khó hơn nhưng quan trọng hơn rất nhiều:

“Chúng ta phải xây dựng thể chế như thế nào để không bao giờ cần một vị cứu tinh?”


 

VÌ ĐỒNG ĐỘI HY SINH MÀ NHẬN RA ƠN GỌI

  Con Tin Chúa Ơi 

VÌ ĐỒNG ĐỘI HY SINH MÀ NHẬN RA ƠN GỌI

Trong chương trình “Muối Men Giữa Đời” do Lm. An Bình thực hiện tại TGM GP Hà Tĩnh, Đức cha Louis Nguyễn Anh Tuấn đã có những chia sẻ khá chân thành về hành trình ơn gọi của mình: từ một kỹ sư tin học, những năm tháng thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Campuchia, chứng kiến đồng đội hy sinh, cho đến khi nhận ra tiếng Chúa gọi và quyết định bước vào chủng viện ở tuổi 33.

Đức cha kể rằng có những buổi chiều anh em còn ngồi cạnh nhau, cùng chia sẻ một điếu thuốc, nhưng ngày hôm sau đã có 8 người nằm xuống. Có người hy sinh nơi đất khách, có người trở về nhưng không còn lành lặn, còn ngài lại được trở về bình an.

“Sau khi mình giải ngũ trở về từ chiến trường Campuchia, tại đó thấy nhiều anh em đồng đội bỏ xác bên đó, có người bị thương không còn lành lặn trở về. Mình thì bình thường về an toàn, an bình.

Nó làm cho mình có một nỗi niềm mắc nợ những người anh em cách nào đó.

Rồi thấy cuộc sống ở thế gian sao nó mỏng manh, nay còn mai mất.”

Khi ấy, Đức cha khoảng 27 tuổi. Ngài bắt đầu cảm nhận trong lòng có một tiếng gọi nào đó và dành những năm tiếp theo để tìm hiểu.

Sau khi giải ngũ, ngài tiếp tục làm kỹ sư tin học, trong đó có thời gian làm việc tại Khách sạn Majestic Sài Gòn. Công việc ổn định, thu nhập khá, nhưng đời sống của ngài bắt đầu thay đổi. Trên đường đi làm về, ngài thường ghé vào nhà thờ cầu nguyện, trong khi trước đó hầu như không đi lễ ngày thường.

Ơn gọi không đến như một biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phaolô. Đức cha nói mọi thứ diễn ra rất chậm, để nhiều năm sau nhìn lại ngài mới nhận ra đó chính là tiếng Chúa gọi.

Phải chờ khoảng 6 năm, đến năm 1993, khi đã 33 tuổi, ngài mới được vào Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

Quyết định ấy cũng là một thử thách lớn với gia đình có 9 người con.

Khi nghe con trai muốn đi tu, cha ngài rất vui, đến mức Đức cha nhớ lại rằng “mắt ba tôi sáng lên”. Nhưng mẹ ngài thì buồn, bởi thời điểm ấy gần như chỉ có mình ngài có việc làm ổn định và là nguồn thu nhập quan trọng của cả gia đình.

Dẫu vậy, ngài vẫn bước vào chủng viện.

Sau 6 năm đào tạo, năm 1999, ở tuổi 39, ngài được truyền chức linh mục.

Năm 2001, ngài sang Rôma du học và sau đó trở về với học vị Tiến sĩ Thần học chuyên về Hôn nhân và Gia đình.

Năm 2017, ngài được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Và đến năm 2023, Đức cha Louis Nguyễn Anh Tuấn chính thức trở thành Giám mục Chính tòa Giáo phận Hà Tĩnh.

Từ một chàng kỹ sư, một người lính từng chứng kiến đồng đội nằm xuống, 27 tuổi bắt đầu nghe tiếng gọi, 33 tuổi mới vào chủng viện, 39 tuổi mới trở thành linh mục.

Một ơn gọi đến muộn, nhưng có lẽ đã được chuẩn bị từ chính những ngày Đức cha nhận ra rằng:

“Cuộc sống ở thế gian sao nó mỏng manh, nay còn mai mất.” 


 

ÔNG BA BÁN VÉ SỐ

Phương-Trang Đặng – Miền Nam – Mái Trường Xưa

Hồi đó, mình học lớp ba ở trường Phước Nguyên ngoài Chợ Mới – Bà Rịa. Có một ông già đi bán vé số dạo, ông già bao nhiêu thì mình không đoán được tuổi, chỉ thấy ông đen thui, ốm nhách. Ông ốm lắm, ốm tới nỗi cặp giò khẳng khiu của ông hình như chỉ còn da bọc xương. Ông mà không có cái áo sơ mi rộng thùng thình thì chắc rất giống 1 bộ xương cách trí biết đi. Nội mình hay nói:

– Chắc ống chân của ổng bằng cái ống tay của bà.

Trưa đi học về, mỗi đứa múc 1 tô cơm rồi tự tìm chỗ ngồi ăn. Nội mình lo buôn bán, lại 1 mình lo cho 4 đứa cháu nên chỉ có buổi tối, đóng cửa tiệm, nội nấu ăn rồi ngồi cùng bàn ăn chung, chứ buổi trưa thì Nội nấu sẵn rồi mạnh ai nấy ăn thôi. Mình thì hay ra bậc thềm trước nhà, dựa lưng vô tường, vừa ăn vừa nhìn ngó ông đi qua, bà đi lại. Thoáng thấy dáng ông Ba từ xa, là mình báo trước:

– Ông Ba bán vé số Nội ơi.

Thì dù có đang nằm nghỉ bà cũng dậy, ra sau bếp làm cho ông một dĩa cơm.

Bữa nào có anh On, ở tiệm may ( hình như tiệm may Ngọc Thanh) kế bên thì anh hay nói:

– Ổng đi còn 15 phút nữa mới tới, em hô chi sớm vậy?

Mà nói thiệt, chắc tại ông ốm quá, đi suốt từ Chợ Cũ ra Chợ Mới cũng đã mệt rồi nên ông đi rất chậm, chậm thiệt là chậm. Hai chân ông dù không kéo lê lết, nhưng mỗi cái nhấc chân như đã cố hết sức lực cuối cùng. Đi qua mỗi tiệm, ông dừng lại để mời người ta mua vé số.

Đợi lâu thiệt là lâu thì ông mới tới tiệm của Nội mình. Mỗi lần bà đều chỉ nói

– Hổng mua đâu, mà ông Ba vô đây, có dĩa cơm của ông nè.

Ông Ba đi chậm mà ăn cũng chậm, chậm lắm lắm, không biết tại ông có tánh ăn chậm hay tại ông còn có mấy cái răng làm cảnh nên hổng dám xài hao.

Cứ để trên bàn dĩa cơm với ly nước là Nội mình đi ngủ. Bà hay nói:

– Bà ngủ 1 giấc dậy cũng còn thấy chưa hết dĩa cơm, hổng biết rồi chút nữa, ổng có bán hết vé số hông nữa.

Xong xuôi, ông đứng dậy, chắp tay, cám ơn Nội mình rồi thủng thẳng đi tiếp.

Mình hỏi Nội:

– Nội biết ông Ba lâu rồi ha Nội?

– Từ cái hồi bà còn ở Chợ Cũ lận

– Ông Ba tên gì vậy Nội,

– Kêu ông Ba, chứ hỏi tên đâu mà biết.

– Ổng hổng có con cái ha Nội

– Hình như có, mà giờ thì hông biết, bà cũng hông có hỏi.

Lúc đó nhìn ông Ba chậm rãi, đi nãy giờ còn chưa tới tiệm sắt của bà Ba Nguyễn Thị Phấn. Mình cứ thắc mắc ” Biết chừng nào ổng mới về tới nhà, chời!”

Lâu lâu nhớ lại chuyện xưa, người cũ…

Ờ…chuyện xưa thì vẫn ở đây trong tâm trí vài người, nhưng người xưa thì chắc hổng còn. Hông biết có bạn nào ở Bà Rịa biết ông Ba bán vé số khoảng năm 1973 hông ?

ĐTPT

06/08/2026

Hình xin trên mạng lâu rồi


 

Những Cánh Hạc Bay Về Trời – Đỗ Bình

Đỗ Bình

Đời người như gió thoáng mây trôi, mong manh như sợi khói, mới đó mà đã mất! Vẫn biết luật tự nhiên trong trời đất mọi sự vật đều biến hóa. Con người «Có sinh là có tử», nhưng sự ra đi nào cũng để cho những người thân ở lại những nỗi buồn thương tiếc!

Vừa qua trong giới văn hóa và truyền thông Paris mất đi những khuôn mặt lớn như: Nhà biên khảo Trần Văn Trung, bút hiệu Thiên Ân, ông là cựu Trung tướng, Tổng cục Trưởng, Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị VNCH. Ở Paris ông làm chủ nhiệm một tạp chí Việt ngữ chuyên về văn hóa thời luận, tôi làm chủ bút, sau đó vì sức khỏe ông lui về sống ẩn dật, nhà văn Nguyễn Vân Xuyên lên thay ông. Tờ báo lưu hành thêm vài năm rồi tự đình bản. Nhà biên khảo Trần Văn Trung là người có kiến thức rất uyên bác, thông thạo nhiều ngoại ngữ, ông rất khiêm nhường, thích sống lối sống đạm bạc nhưng thanh cao. Là một nhân sĩ có nhân cách nên được nhiều người qúy trọng và đã được bầu làm Hội trưởng Hội Người Việt Cao Niên, một hội quy tụ toàn là những người trí thức, khoa bảng.

Nguyện cầu linh hồn người quá cố sớm về hưởng Long nhan Thiên Chúa.

*  

GS Phạm Kế Viêm, vị giáo sư dạy toán nổi tiếng năm xưa ở Đà Lạt và Sài gòn trước năm 1975. Ông là trưởng khoa toán của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, các trường Chu Văn An, Trường Sơn, Gia Long. Vì ông nổi tiếng môn toán nên mặt văn nghệ của ông về hội họa và thi ca bị mờ nhạt! Ông viết Thư Họa rất đẹp. Năm 1970 ở Sài gòn ông tham gia trong nhóm hội họa Alpha do họa sĩ Phạm Ngọc Khuê làm trưởng xưởng vẽ. Ngoài ra ông còn làm thơ rất hay, tôi may mắn được ông làm tặng một bài và hiện còn giữ.

Ông đã giã từ tất cả để trở về Nước Chúa.

*

BS Nguyễn Quốc Nam ở Paris vừa ra đi hôm nay, 25 tháng 7 năm 2026.

BS Nguyễn Quốc Nam là khuôn mặt cộng đồng của Người Việt Tự Do ở Pháp. Ông qua Pháp du học từ đầu thập niêm 60 của thế kỷ trước. Ông theo học Y khoa và đã tốt nghiệp nhưng không hành nghề bác sĩ. Ông học thêm ngành dược và đã tốt nghiệp. Ông cùng vợ cũng là dươc sĩ mở pharmacie, ông nói với tôi: «Hành nghề dược sĩ có thì giờ hơn nghề bác sĩ, tôi dành số thì giờ đó để sinh hoạt với các anh em.»

Ông là người yêu tự do, và đã dấn thân tranh đấu cho tự do, nhân quyền cho quê hương. Ông đã từng vào Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ở Genève Thụy Sĩ, để tranh đấu cho thuyền nhân còn bị kẹt lại ở các đảo Indonésie, Philippines, và Hồng Kông. Ông từng nhiều lần cùng cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Thượng Tọa Thích Quảng Đạo và các nhân sĩ Paris vào quốc hội Pháp, quốc hôi Âu Châu để tranh đấu xin trả tự do cho những tù nhân lương tâm bị chính quyền CS giam giữ ở quê nhà. Dù rất thiết tha với quê hương, nhưng ông chưa bao giờ trở về quê hương. Trong bệnh viện, trên bàn đầu giường bệnh của ông được đặt lá cờ vàng ba sọc đỏ rất lớn tượng trưng cho Tự Do và tấm lòng của ông.

BS Nguyễn Quốc Nam là người yêu văn học nghệ thuật. Ông là người mở lòng tha thiết đón tiếp những văn nghệ sĩ ở hải ngoại đến Paris sinh hoạt văn học. Những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ đã được ông đón tiếp như : Nguyễn Thùy, Vũ Hối, Hải Triều, Lê Đình Cai, Nguyễn Chí Thiện, Hoàng Phong Linh, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Thiện Hiệp,  Phan Khâm, Lê Quang Sinh, Bão Tố, Vi Khuê, Ngọc An, Trúc Giang, Linh Linh Ngọc…Ông còn là mạnh thường quân cho nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở Paris.

BS Nam biết mình bị mắc bệnh nan y không qua khỏi, ông an nhiên chờ ngày được trở về với Nước Chúa. Ông  cùng gia đình con cháu quây quần cười nói vui vẻ, dùng cơm chung mỗi ngày trong bệnh viện. Bằng hữu ở khắp nơi đến thăm ông rất đông. Điều đặc biệt, dù quen biết nhiều văn nghệ sĩ, ký giả nhưng BS Nam chưa bao giờ nhờ viết về ông hay những sinh hoạt của ông. Những năm cuối đời, dù bị bệnh nặng nhưng ông và phu nhân thường đến tham dự những buổi văn nghệ tổ chức thân mật tại tư gia ông bà BS Phạm Đăng Thiện& Minh Châu. Ở những buổi ấy BS Nam tìm lại được cái thuở còn đi học ở quê nhà. Hoặc tham dự những buổi Ca Nhạc Kịch do nhóm văn nghệ sĩ trẻ Paris trình diễn.

Nguyện cầu linh hồn Người quá cố được thanh thản an nghỉ trong cõi thiên đàng.

*

GS Nguyễn Thùy vừa giã từ cõi trầm luân bể khổ hôm nay ngày 25 tháng 7 năm 2026, hồn bay về cõi vĩnh hằng an nghỉ.

Nguyễn Thùy là Nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học, ông có một thời vang bóng trên văn đàn hải ngoại. Ông vào sống trong viện dưỡng lão hơn một năm nay, trong viện và quanh vùng không có người đồng hương, con gái thì ở xa. Viện dưỡng lão nơi ông ở nằm trong một thành phố nhỏ thuộc miền Nam nước Pháp nhưng rất xa cộng đồng người Việt ở vùng đó. Khi ông vào viện dưỡng lão một thời gian tôi không liên lạc được. Khi có số phôn của viện tôi gọi phôn thăm, ông cầm điện thoại, mãi mấy phút sau ông mới nói được! Tôi súc động vì  ông là một nhà phê bình văn học,  một nhà tư tưởng, một diễn giả được mọi người sủng ái khắp nơi, và đã từng được mời đến Paris, Cali, Houston và Úc diễn thuyết, nay ông mở miệng nói không ra lời! Sau khi lấy lại được tinh thần tôi hỏi ông : «Anh bị đau cuống họng sao nói không được ?».

Ông trả lời: «Có đau gì đâu, lâu quá không nói chuyện nên quên nói !»  

Tôi hỏi : Anh nói tiếng Pháp rất giỏi, sao không nói chuyện với các người bạn Pháp ?»

Ông trả lời:« Họ già rồi, nói chuyện chán lắm, không hợp!”

Tôi im lặng, vì biết người bạn cao niên của tôi năm nay đã 95 tuổi không tìm được người đồng điệu. Cả đời ông đi tìm cho mình một triết thuyết, đó là Lẽ Đạo, nhưng, có lẽ con đường đó còn xa lắm, nó chỉ hiện hữu trong tâm tư của ông.

Ông hỏi đến vài người bạn văn ở Paris làm tôi bùi ngùi vì có nhiều người đã ra đi!

Nói về Nguyễn Thùy là câu chuyện dài. Tôi đã cùng ông sang Cali để giới thiệu tập biên khảo của ông là : Khung Trời Hướng Vọng, dày 564 trang được các Trung tâm Văn Bút ở Bắc Cali San Jose, Nam Cali, và các tạp chí Nguồn San Jose, Đất Đứng, Tiếng Vang ở Sramento tổ chức.

Chiều nay 25 tháng 7 năm 2026, con gái của ông là cô Trúc Việt phôn cho tôi báo là viện dưỡng lão báo tin ông ra đi sáng nay! Tôi bàng hoàng vì hai ngày trước tôi còn phôn nói chuyện về văn học, ông còn khỏe mạnh.

Ông ngẫu hứng đọc cho tôi nghe hai câu thơ, và tôi đã chép lại. Đây là bài thơ cuối cùng của ông:

« Tiếng xưa còn vẳng lời tâm sự,

Thắp sáng trên đầu sông núi đen»

GS Nguyễn Thùy xa quê hương đã lâu, chưa một lần trở về vì trong lòng vẫn còn u uẩn nỗi buồn xưa. Ông rất say mê truyện Kiều và đã viết cuốn nhận định văn học về tư tưởng của thi hào Nguyễn Du trong cuốn  Đoạn Trường Tân Thanh, sách dày hơn 500 trang mang tựa: « Nguyễn Du Tiếng Vui Trong Lời Buồn».

Thi nhân suốt đời nặng nợ với thơ, dù cuộc sống có thăng trầm, hay trong những giây phút cuối đời vẫn không rời thơ. Cố Nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật tác giả thi phẩm Hoa Sen, và cố nhà thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn, tác giả bài thơ « Cố Nhân », nổi tiếng năm xưa. Hai nhà thơ làm hai bài thơ cuối cùng trong bệnh viện và đã gởi cho tôi lúc hai ông sắp mất! Tôi vẫn giữ hai bài thơ này:

 – KÍNH GỬI

NẰM TRÊN GIƯỜNG BỆNH VIỆN, LÀM THƠ TẶNG MÌNH CHO VUI VUI…NẰM BỆNH VIỆN HƠN 2 TUẤN, CHO VỀ NHÀ, CHỜ VÀO LẠI

TÁI KHÁM NỘI TẠNG NGỘP THỞ VÀ ĐAU NHỨC CƠ THỂ, KHÔNG ĐI ĐỨNG ĐƯỢC.

 « – LÚC XƯA NGANG DỌC MỘT THỜI

GIỜ ĐÂY THÙNG RÁC LÀ NƠI TIỄN CHÀO.

CHÂN ĐI, CHỐNG GẬY, TÉ NHÀO

MẮT MỜ, MIỆNG MÉO, TÊN “ĐÀO” CŨNG QUÊN.

NHÀ QUÀN GHI SẴN HỌ TÊN

CHỜ NGÀY HỎA TÁNG, BỤI LÊN KHÓI MỜ.

VÔ THƯỜNG TRƯỚC CỬA ĐỨNG CHỜ

“ANH HÙNG”  CHUNG VỚI “KHÙNG KHỜ ”  GIỐNG NHAU.

TUY HAI MÀ MỘT TRƯỚC SAU

LEO LÊN CHUNG CHUYẾN GHE TÀU VỀ ĐÂU ?

VỀ ĐÂU, TRONG CÕI BỂ DÂU

CÔNG HẦU KHANH TƯỚNG XUỐNG CẦU ÂM TY.

CHỈ MONG CÒN CHÚT TÌNH GHI

THỦY CHUNG TÂM NGUYỆN “THIỆN HUY” MỘT ĐỜI !

(THIỆN HUY = PHÁT HUY THIỆN TÂM).

TUÂN THEO ĐỊNH MỆNH, CÚI TẠ  ƠN TRỜI

KHÔNG CHẾT NHỤC TRONG LAO TÙ CỘNG SẢN.

VẪN HIÊN NGANG, VỚI CHÍ BỀN DẠ SÁNG

CÙNG TOÀN DÂN CHUNG SỨC TẠO THÀNH CÔNG.

TỰ DO, NHÂN BẢN, CHÓI RẠNG TRỜI ĐÔNG

HỒN THANH THẢN QUAY VỀ CÙNG CỐ QUỐC. »

VĐT (Hoàng Phong Linh). 16.03.25

Văn thi họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật & Nguyễn Thị Vinh ( Nữ sĩ cuối cùng của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn) những năm cuối đời, mỗi tháng vài lần phôn qua tâm sự với tôi, anh chị cho biết mặc dù bệnh tật già yếu nhưng hai người sống rất hạnh phúc nhưng mỗi khi nghĩ đến bạn bè thì cảm thấy cô đơn! Ông thật sự buông thả vì chán ngán sự ganh đua nên muốn sống ẩn dật như một chiếc bóng và tìm nguồn vui qua văn xuôi, biên khảo. Bài thơ Cô Đơn là bài thơ làm ngày cuối cùng trong nhà thương của Nguyễn Hữu Nhật:

 CÔ ĐƠN

“Tôi mằm nhà thương một mình

Chẳng ai thăm viếng nghĩ tình đã xa

Cuối cùng mới nghĩ được ra

Mua cho mình một bó hoa đỡ sầu-

Giường bên một lão Bắc Âu

Cô đơn nằm khóc, hồi lâu lại cười

Ngập ngừng nước mắt khó rơi

Hình như tiếc lắm cái thời thanh xuân“

Nguyễn Hữu Nhật

Oslo, cuối đông 2014

Tuổi già như chiếc lá cuối mùa, rồi cũng bay đi!  Nguyễn Thùy 95 tuổi, ông làm hàng trăm bià thơ, chẳng biết ai còn nhớ ? Ông viết mấy chục bộ sách dù có gởi thư viện, nhưng sách thuộc dạng nghiên cứu, tư tưởng nên kén ngươi đọc, chắc rồi cũng bị lãng quên!

Xin gởi thêm bài Lẽ Đạo mong các anh chị đọc để hiểu hêm về Con Người Nguyễn Thùy mà các anh chị đã từng gặp, quen biết.

Thân mến

Đỗ Bình


 

Nước trời là gi`? Lời Chúa ngày 26-07-2026

Nước trời là gi`?-Lời Chúa ngày 26-07-2026

Nước trời giống như kho tàng chôn dấu trong ruộng, Người kia tìm được, vội chôn vùi xuống, vui mừng trở về bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng ấy”. (Mt 13,44)

Nước trời là một kho tàng chôn dấu anh bán tất cả cái gì anh có để mua thửa ruộng có kho  tàng chôn dấu đó.

Từ bỏ tất cả lòng tham muốn giàu có địa vị danh vọng những sự khen tặng ở đời này để chuyên tâm vào việc lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành Lời Chúa vì anh biết rằng chỉ Lời Chúa là nước trời, là ánh sáng, là hạnh phúc của anh ở đời này.

Nước trời cũng chính là Chúa Giêsu.

Khi có nước trời, sống theo gương Chúa Giêsu, con người sẽ hạnh phúc có được bình an,  không còn lo lắng, có niềm hy vọng ở đời này và đời sau.