TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Phạm Quốc Hùng

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Hồi trẻ cứ tưởng sống là phải “gom”. Gom tiền, gom chức tước danh phận, gom thật nhiều cho mình và cho con cho cháu.

Tới lúc tóc bạc,chân chùn gối mỏi, tui mới hiểu sống tới cuối đời cần học hai chữ: Buông bỏ và Tha thứ. Không học hai chữ đó thì già rồi mà lòng nặng như đá.

Hồi 30 tuổi, ai nói một câu không vừa ý là tui nhớ. Thằng bạn mượn tiền không trả, tui giạn không nhìn mặt nó luôn. Vợ cằn nhằn một buổi, tui dỗi cả tháng. Tui tưởng giữ cái giận đó là giữ cái “tôi” của mình. Giữ cho mình khỏi … thua.

Tới 60 tuổi, tui bệnh một trận thập tử nhất sinh. Nằm trên giường bệnh, tay chân không nhấc nổi, mắt nhìn lên trần nhà. Tự nhiên mấy chuyện hồi trẻ nó hiện về. Thằng bạn mượn tiền, vợ cằn nhằn,… Tất cả như mấy cuộn phim cũ. Tui muốn chửi, muốn tính sổ, mà miệng khô, họng nghẹn. Lúc đó tui mới thấy: giữ giận 30 năm, người chết trước là mình. Nó chết trước vì tim nó nghẹn, vì đêm nào cũng mất ngủ.

Từ giường bệnh bước xuống, tui tập buông. Buông không phải là thua. Buông là thấy cái gì không vác nổi nữa thì đặt xuống. Con cái lớn rồi, nó có đường nó. Đất đai tính toán chi cho mệt, chết có mang theo được đâu. Người ta nói xấu mình, kệ. Mình sống cho mình với trời đất, không sống để đóng vai “người hoàn hảo” trong mắt thiên hạ.

Buông bỏ của tuổi già nó nhẹ lắm. Nó không ồn ào như trai trẻ “bỏ là bỏ cho mày thấy”. Buông của người già giống như ông già quét lá. Lá rụng thì quét, quét rồi gió lại thổi rụng. Quét cho sân sạch để mình đi, không quét để lá nó đừng rụng nữa. Buông là chấp nhận “được thì ít, mất thì nhiều”. Mà mất rồi thì thôi, ôm vô làm gì cho mỏi tay.

Mà buông không thì chưa đủ. Buông xong, trong lòng còn cái cấn. Cái cấn đó tên là “hận”. Nên tuổi già phải học thêm chữ “tha thứ”.

Tha thứ khó hơn buông gấp chục lần. Buông là bỏ đồ vật. Tha thứ là bỏ người. Mà người đó có khi là vợ mình 40 năm, là anh em máu mủ, là thằng bạn ngồi chung chiến hào. Tha thứ không có nghĩa là nói “mày đúng”. Tha thứ là nói “tao mệt rồi, tao không muốn mang mày trong tim tao thêm ngày nào nữa”.

Tui có ông bạn, vợ ổng mất sớm. Ổng giận bà nhạc 20 năm vì bà ngăn cản ngày xưa. Giận tới mức con cháu lấy vợ lấy chồng ổng cũng không nhìn mặt sui gia. 70 tuổi, ổng tai biến, nằm một chỗ. Con cháu đẩy xe lăn đưa ổng qua nhà bà nhạc. Bà nhạc giờ cũng 85, lưng còng, mắt mờ. Hai người già ngồi nhìn nhau. Không ai nói “xin lỗi”. Bà nhạc chỉ rót ly nước: “Uống đi anh Sáu”. Ông bạn tui cầm ly nước, tay run, nước mắt chảy. Ổng nói với tui sau đó: “Tui tha cho bả, không phải vì bả xứng đáng. Tui tha vì tui muốn trước khi nhắm mắt, trong tim tui chỉ còn ấm, không còn đá”.

Đó, tha thứ của tuổi già là vậy. Không rình rang, không kể công. Tha để mình ngủ ngon. Tha để lúc con cháu hỏi “Ông bà có gì dặn không?”, mình chỉ cười, chứ không trăn trối chuyện thù hận.

Đàn ông tha thứ kiểu đàn ông. Giận thì mặt đỏ, tha thì một câu “bỏ đi”. Nói bỏ là bỏ, không nhắc lại. Đàn bà tha thứ kiểu đàn bà. Khóc ba đêm, nấu ba nồi cháo, rồi nói “tui tha”. Tha rồi nhưng vẫn nhớ, vẫn sợ. Khác nhau, nhưng cái đích thì một: cho lòng nhẹ.

Người trẻ sợ buông vì sợ mất. Người già buông vì biết giữ cũng không được bao lâu. Người trẻ khó tha vì còn sung, còn “cái tôi” to bằng cái đình. Người già dễ tha vì “cái tôi” đó theo năm tháng nó mòn, nó nhỏ lại bằng hạt đậu.

Tui nghiệm ra một điều: Quãng đời còn lại của mình ngắn lắm. Ngắn tới mức không đủ để giận ai thêm một lần, không đủ để ôm một cục than trong lòng thêm một đêm.

Buông bỏ để tay mình trống, còn nắm tay con cháu. 

Tha thứ để tim mình ấm, còn thương được người.

Tới tuổi này, tui không mong giàu, không mong thọ. Tui chỉ mong mỗi đêm nhắm mắt, trong lòng không còn ai để ghét, không còn chuyện gì để tiếc. Ngủ một giấc, sáng mai thức dậy, thấy nắng, thấy lá rụng, thấy lòng mình… không.

“Không” ở đây là không còn nặng. Vậy là đủ.


 

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .- Tác gỉa : Phạm Thành Châu

Nguyen Thi Chau

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .

Truyện hay cuối tuần

LỜI TỎ TÌNH CŨNG LÀ LỜI TRĂN TRỐI .

Tác gỉa : Phạm Thành Châu .

***

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thuyên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất.

Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào.

Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng.

Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả!

Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự.

Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh.

Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường.

Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào.

Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”.

Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô.

Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta.

Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”.

Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình.

Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta.

Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử.

Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng

“Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao.

Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…”

Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi?

Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi.

Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường.

Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận.

Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi”

Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp

“Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi.

Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu.

Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…

Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà.

Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…”

Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..”

Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế.

Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp

“Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn.

Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”.

Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác.

Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế”

Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau.

Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu.

Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô.

Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi da~ có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay”

Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh.

Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra.

Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằngmuốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù.

Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi.

Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi.

Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần.

Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm.

Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi.

Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi.

Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên.

Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ.

Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi.

Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò.

Tù chỉ có 15 phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết.

Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ.

Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ.

Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.

Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên 10 năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt.

Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó,chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe.

Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi.

Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau.

Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải 5 giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết là em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm…

Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.

Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Nhưng than ôi ! thật ra là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu 


 

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Một vị linh mục 27 tuổi biết rõ mình sắp chết.

Ba tháng trước khi nhắm mắt, ngài đã bình thản kể về điều đó với một người anh em linh mục. Một cách rõ ràng, điềm tĩnh. Không phải là một lời đoán mò — mà là một sự thật ngài đã hoàn toàn chấp nhận.

Ngài tên là Miroslav.

TIẾNG GỌI

Ngài sinh năm 1920 tại một ngôi làng nhỏ ở Istria, Croatia. Một người trẻ mang trong mình tiếng gọi thiêng liêng. Ngài sang Rome học thần học để trở thành linh mục. Khi Thế chiến II bùng nổ, ngài được gọi về quê hương và được thụ phong vào năm 1943, ngay giữa khói lửa chiến tranh.

Ngài trở thành một hình mẫu hiếm hoi: một vị mục tử được giáo dân yêu mến sâu sắc. Ngài làm sống dậy các giáo xứ mình đi qua. Ngài thắp sáng nơi đó bằng các bí tích, bằng đức tin và niềm hy vọng. Ngài không sợ hãi, đầy tài năng và chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.

Thế rồi chiến tranh kết thúc.

Một thế lực mới lên nắm quyền.

ÁP LỰC

Chính quyền Cộng sản Nam Tư tiếp quản đất nước vào năm 1945. Sứ mệnh của họ rất rõ ràng: đàn áp Giáo hội. Xóa sổ, kiểm soát và khiến Giáo hội biến mất.

Các Giám mục bị bắt giữ. Linh mục bị quấy rối, bị đánh đập, bị bỏ tù. Đức Tổng Giám mục vĩ đại của Zagreb bị tống giam. Thông điệp đưa ra là không thể nhầm lẫn: cúi đầu trước chính quyền, hoặc bị hủy diệt.

Hầu hết các linh mục chọn cách im lặng. Đó là cách duy nhất để sinh tồn.

Nhưng Miroslav thì không.

SỰ KIÊN CƯỜNG

Ngài lên tiếng. Ngài công khai bảo vệ đức tin. Ngài che chở cho các linh mục trẻ khỏi sự bách hại. Ngài đứng ra làm lá chắn giữa chính quyền và những người giáo dân đang bị áp bức.

Điều đó khiến ngài lọt vào tầm ngắm. Điều đó khiến ngài trở nên nguy hiểm.

Đến mùa hè năm 1947, khi chứng kiến chế độ siết chặt gọng kìm và hiểm nguy ngày càng cận kề, có điều gì đó trong ngài đã dịch chuyển. Ngài không sợ hãi. Ngài đã sẵn sàng.

Ngài nói với các chủng sinh của mình: “Làm linh mục nghĩa là sẵn sàng đổ máu vì đức tin.”

Vào tháng Sáu, ngài viết trong nhật ký dâng lên Chúa: “Nếu đó là ý Ngài, con ước được về bên Ngài càng sớm càng tốt.”

Ngài biết trước mọi chuyện. Và ngài bình an.

KHOẢNH KHẮC

Ngày 24 tháng 8 năm 1947, ngài đến một ngôi làng nhỏ tên là Lanišće.

Sứ mệnh của ngài rất đơn giản nhưng tuyệt đẹp, điều mà các linh mục đã làm suốt hàng thế kỷ qua: ban bí tích Thêm Sức cho các em nhỏ. Đặt tay lên các tín hữu trẻ và củng cố đức tin Công giáo cho các em. Trao ban những bí tích mà chính quyền muốn dập tắt.

Ngài vẫn làm điều đó. Công khai. Không chút sợ hãi.

Sau thánh lễ, ngài cùng một linh mục khác đến nhà xứ để ban bí tích cho những em đến muộn. Lúc đó vào khoảng 11 giờ trưa.

Bất ngờ, cánh cửa bị đạp tung.

Một nhóm người ủng hộ chính quyền xông vào. Họ bắt giữ ngài. Họ vật ngài xuống đất và ghìm chặt ngài lại.

Và họ đâm ngài. Hết nhát này đến nhát khác. Ngay vào cổ.

Máu ngài chảy dài trên sàn nhà và bắn lên cả những bức tường.

Và khi sự sống dần rời bỏ thân xác, Miroslav đã hét lên hai lần:

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Rồi ngài ra đi.

SỰ IM LẶNG

Chính quyền cố gắng xóa sạch sự hiện diện của ngài. Gia đình muốn chôn cất ngài tại quê nhà, nhưng họ từ chối. Họ biến ngôi mộ của ngài thành một thứ để kiểm soát, một biểu tượng cho quyền lực của họ.

Trong nhiều thập kỷ, câu chuyện của ngài chỉ tồn tại qua những lời thì thầm. Ở một góc nhỏ của Croatia. Giữa những con người yêu kính ngài và quyết không lãng quên.

Phần còn lại của thế giới chưa từng biết đến tên ngài.

SỰ PHỤC SINH

Thế rồi chế độ cộng sản sụp đổ.

Và vào năm 2013, 66 năm sau ngày ngài hy sinh, sự thật cuối cùng đã được đưa ra ánh sáng.

Giáo hội Công giáo tuyên phong Miroslav Bulešić là vị Tử đạo. Bậc Chân phước. Cuối cùng ngài đã được tôn vinh.

Buổi lễ diễn ra tại Pula, trong một đấu trường La Mã cổ đại được xây dựng từ hai ngàn năm trước. Hai mươi ngàn người đã tụ họp tại giảng đường ấy để tuyên bố rằng: tên của người đàn ông này sẽ không bị lãng quên. Máu của ngài không đổ xuống vô ích.

Những kẻ giết ngài muốn xóa sổ ngài mãi mãi.

Nhưng giờ đây, tên ngài được xướng lên trong các nhà thờ trên khắp thế giới.

Ngài đã có thể chọn im lặng. Chọn giải pháp an toàn. Chọn sống sót.

Nhưng ngài đã chọn trung kiên. Chọn bảo vệ người khác. Chọn đứng về phía một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình. Ngay cả khi biết trước lưỡi dao đang đợi sẵn.

“Tội danh” của ngài là gì? Ban bí tích Thêm Sức cho trẻ em.

Di sản ngài để lại là gì? Một người trẻ nhìn thấy cái chết cận kề mà không hề chớp mắt. Người vẫn cầu nguyện ngay cả khi đang trút hơi thở cuối cùng. Hơi thở cuối cùng là một lời kinh, chứ không phải một tiếng thét gào đau đớn.

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Họ đã cố chôn vùi ngài hai lần. Một lần dưới lòng đất. Một lần trong sự im lặng.

Nhưng ngài đã phục sinh trên cả hai.

#MiroslavBulesic #TuDao #DucTin #CauChuyenCamHung See less


 

TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo 

 TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ

Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng (TC) khác nhau tùy theo nguồn ước lượng và gia tăng hàng năm. Năm 2023, trên giấy tờ ngân sách gia tăng 7.7 phần trăm, tính theo dollar lên đến 227.9 tỷ. Năm nay, 2026, theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (The International Institute for Strategic Studies (IISS)), ngân sách quốc phòng TC lên đến 277 tỉ dollar. Lần nữa đó cũng chỉ là thông tin “chính thức” từ nhà nước, con số thật sự sẽ cao hơn.

TC có quân đội hiện dịch khoảng 2.3 triệu quân với 500 ngàn quân trừ bị. TC có kho vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân và hiện đại hơn tất cả các quốc gia khác ở Á Châu. Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) có hơn hai triệu nam và nữ được đào tạo đang tại ngũ, khiến lực lượng này trở thành lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới.

Nhưng cho dù tối tân bao nhiêu và đông đảo bao nhiêu cũng không thể so với 27 ngàn đầu đạn nguyên tử, các hạm đội hùng mạnh và 250 sư đoàn bộ binh được trang bị tận răng của Liên Xô trước ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Liên Xô đã sụp đổ.

Lý do? LX sụp đổ do ung thối từ bên trong.

Mùa đông 1985, Eduard Shevardnadze, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại Giao Liên Xô chia sẻ với Gorbachev, tân Chủ tịch Liên Xô, “mọi thứ đã bị ung thối và phải cần thay đổi”. Gorbachev cũng đã nhận ra điều đó và họ đã hợp tác để thúc đẩy những thay đổi cấp bách qua các cải tổ kinh tế chính trị (Perestroika) và công khai hóa các hoạt động thông tin ngôn luận (Glasnost).

Perestroika có lý do vì vào thời điểm đó Liên Xô đang chịu đựng sự suy thoái kinh tế như giá dầu thô giảm xuống mức thấp kỷ lục, chi phí chiến tranh Afghanistan, chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém với Mỹ, nuôi một đạo quân hiện dịch trên bốn triệu người v.v…

Nhưng tại sao kinh tế Perestroika phải tiến hành đồng thời với công khai hóa Glasnost?

Liên Xô thập niên 1980 mặt ngoài khá “ổn định”. Ngoại trừ nhà trí thức lớn Andrei Sakharov đang bị lưu đày ở Gorky, tại Liên Xô không có một phong trào dân chủ nào nổi bật có khả năng thách thức sự cai trị của đảng CS. 

Nhưng Gorbachev biết sự băng hoại của văn hóa xã hội Liên Xô không biểu hiện qua các phong trào, qua vài nhân vật bất đồng chính kiến mà trong mọi mặt, mọi ngõ ngách của đời sống.

Perestroika và Glasnost ra đời quá trễ nên chẳng những không cứu được LX mà lại đẩy LX sụp nhanh hơn.

Nhiều năm sau, Gorbachev trả lời câu hỏi này: “Cái khuôn mẫu Soviet thất bại không chỉ ở mức độ kinh tế xã hội mà thất bại ở mức độ văn hóa. Trong xã hội Liên Xô, các tầng lớp người dân, các thành phần có học, thành phần trí thức đã từ chối một chế độ không tôn trọng quyền làm người, trấn áp người dân cả về vật chất lẫn tinh thần.”

Các đế quốc La Mã, Ottomans, Áo-Hung chết trước, LX chết sau và Trung Cộng đang bước trên ngõ cụt.  Ngày cuối của TC cũng sẽ ảm đạm không khác.

Năm 1989, Trung Cộng đã bước một bước khá dài trên con đường “tự diễn biến” về cả kinh tế lẫn xã hội. Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa do Chu Ân Lai đề ra từ 1963, lợi tức tính theo đầu người Trung Quốc chưa đến 100 dollars và nhiều khu vực còn chìm trong đói khát. Mười năm sau lợi tức đầu người đã tăng gấp ba lần và Trung Cộng tạm gọi đang bước qua khỏi thời kỳ nghèo đói. Về mặt quốc tế, họ Đặng mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều nước trong đó có những nước cựu thù như Mỹ, Nhật và hòa hoãn với Liên Xô.

Trung Quốc trong giai đoạn 1989 cũng trong thời kỳ “ổn định” nhưng biến cố Thiên An Môn bùng nổ giữa sự ngạc nhiên của giới cai trị Bắc Kinh.

Sau biến cố Thiên An Môn, Trung Cộng áp dụng chính sách “bế môn tỏa cảng” về mặt tự do nhân quyền và văn hóa xã hội. Hệ thống tuyên truyền đã từng bước chuyển hướng nhận thức của các thế hệ trẻ Trung Quốc từ yêu tự do dân chủ thời 1989 sang chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Giáo sư Zheng Wang, người đã dạy tại một số đại học Trung Cộng viết trên tạp chí Time rằng ông rất ngạc nhiên ngay cả những sinh viên ưu tú nhất cũng biết rất ít về sự kiện Thiên An Môn mới xảy ra vài năm trước trong khi biết rất chi tiết cuộc kháng chiến chống Nhật cách đây trên 70 năm.

Trung Cộng hiện đang trong thời kỳ “ổn định” nhưng qua chính sách bưng bít thông tin tuyệt đối hiện nay tại Trung Cộng cho thấy Tập Cận Bình cũng biết một Thiên An Môn khác có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Bằng chứng tại Bắc Hàn, mục tiêu thuần hóa dân tộc do ba đời độc tài họ Kim chủ trương, diễn ra suốt hơn 70 năm nhưng vẫn không và sẽ không bao giờ thắng được sự đối kháng trong lòng người. Nếu có cơ hội dù nguy hiểm bao nhiêu, người dân Bắc Hàn vẫn sẽ vượt thoát. Điều đó chứng minh, không bao giờ có “ổn định” trong một xã hội độc tài toàn trị.

Sức phản kháng trong từng con người là một sức mạnh thiêng liêng và luôn âm ỉ cháy. Cách thể hiện ở mỗi người mỗi khác nhưng giống như những cành hướng dương, khát vọng của con người dù là ai đều hướng tới tự do.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.

Cuộc chiến xoi mòn từng mảng của chế độ độc tài đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân. Mỗi người Việt yêu tự do và yêu quê hương, thay vì ngồi chờ mặt trời rồi sẽ mọc hãy thắp lên một ngọn nến bằng khả năng và điều kiện của mình.

Nếu đúng vậy thì bao giờ TC sụp đổ?

Gordon Chang, nhà phân tích kinh tế chính trị đã làm việc 20 năm tại lục địa Trung Quốc, trong tác phẩm The Coming Collapse of China, xuất bản 2001, tiên đoán TC sẽ đổ vào năm 2011.

Lý do, theo Chang trong phần hỏi đáp về tác phẩm của ông, đã viết: “Mao Trạch Đông, người sáng lập ra TC, xây dựng một xã hội bất bình thường và cô lập chính nó từ các quốc gia khác. Hệ thống đó có thể tồn tại mãi cho đến khi TC biệt lập từ thế giới, nhưng những người kế tục Mao đã tìm cách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Khi một quốc gia trở nên hội nhập nhiều hơn với các quốc gia khác, một lực đẩy áp dụng cho toàn thế giới – chính trị, kinh tế và xã hội – cũng ảnh hưởng TC. Tại một điểm trong tiến trình này, hệ thống bất bình thường của Mao sẽ bị bỏ rơi vì về căn bản không thích hợp với vai trò mà TC tìm kiếm trong hệ thống quốc tế. Một thời gian ngắn, chính phủ TC sẽ không còn khả năng để đáp ứng với các thách thức của một xã hội mở rộng và năng động.”

TC không đổ như Gordon Chang đoán.

Thận trọng hơn Gordon Chang, công ty Stratfor, một công ty thông tin tình báo chiến lược toàn cầu trong Dự đoán Thập niên công bố ngày 21 tháng Giêng, 2010 cho rằng nền kinh tế TC sẽ đổ trong vòng 10 năm tới. Trả lời thay mặt cho Stratfor, Peter Zeihan, phó chủ tịch công ty, giải thích lý do: “Chúng tôi đã phân tích vấn đề này trước đây về một hệ thống kinh tế Trung Quốc bất ổn và chúng tôi nghĩ sự bất ổn đó đạt điểm vỡ khi các mâu thuẫn nội tại của Trung Quốc bùng ra và tan nát.”

TC vẫn chưa đổ theo ước tính của Stratfor.

Tuy nhiên, dù không xảy ra như Gordon Chang dự đoán hay chưa xảy ra như Stratfor ước tính, cả hai và nhiều các nhà phân tích kinh tế chính trị đều có một nhận xét căn bản rất giống nhau rằng TC sớm muộn cũng sẽ đổ vì phải đương đầu với những khó khăn không thể vượt qua.

Một chế độ khi sinh ra đã mang mầm mống của những mâu thuẫn tiệt tiêu có tính bản chất, chế độ đó sẽ phải sụp đổ.

Những vấn đề của TC:

Dân Số Già Nua

Dân số tại các quốc gia tiên tiến có khuynh hướng tăng chậm và điều này có nghĩa tỉ lệ người cao tuổi ngày tăng cao so với thế hệ vừa sanh. Theo ước tính của đề án Pew Research Global Attitudes Project, năm 2050 TC sẽ chỉ tăng 25 triệu so với 400 triệu của Ấn Độ. Các phân tích dân số ước tính TC đang trở nên quốc gia không chỉ già nhất thế giới mà còn già nhanh nhất thế giới. Trong thời gian vài năm nữa, TC sẽ là viện dưỡng lão khổng lồ. Một quốc gia già nua có nghĩa các chi phí an sinh xã hội, dịch vụ y tế cũng gia tăng một cách tương ứng và là một gánh nặng không chịu nổi cho đất nước 1.4 tỉ dân. Lực lượng lao động phần lớn được dùng trong giai đoạn sản xuất dây chuyền, thiếu sáng tạo kỹ nghệ mang tính tiên tiến và khai phá. Phần lớn hàng hóa, dù tiêu dùng hay kỹ thuật cao cấp cũng được phát minh, sáng chế từ nhiều nước khác.

Theo WHO (World Health Organization): “Trung Quốc là một trong những quốc gia có dân số già đi nhanh nhất thế giới. Dân số trên 60 tuổi ở Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 28% vào năm 2040 do tuổi thọ cao hơn và tỷ lệ sinh giảm. Sự thay đổi nhân khẩu học to lớn này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội mới cho phát triển y tế công cộng và kinh tế xã hội – đặc biệt là phát triển một hệ thống tích hợp phục vụ nhu cầu sức khỏe và xã hội của người cao tuổi, với khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bình đẳng bất kể khu vực địa lý.” (WHO, Ageing and health in China, 1 October 2022)

Tham Nhũng

Tham nhũng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới nhưng tại các nước do đảng CS cai trị tham nhũng không chỉ trầm trọng mà còn có tính đảng. Gọi là tính đảng bởi vì tình trạng tham nhũng phát sinh ngay trong lòng cơ chế chính trị, do cơ chế nuôi dưỡng, tràn lan sang các bộ phận của hệ thống và dần dần làm hư thối toàn xã hội.

Đầu năm 2015, trước áp lực quốc tế và sức phản kháng của người dân như mạch nước ngầm đang chuyển động, Tập Cận Bình lo lắng và tuyên bố sẽ đẩy mạnh chính sách chống tham nhũng. Tuy nhiên, hành động của họ Tập chỉ nhằm mục đích thanh trừng các phần tử chống đối và củng cố quyền lực cá nhân hơn là gia tăng minh bạch trong chính phủ.

Sự phân cách giàu nghèo xảy ra tại hầu hết các nước phát triển, trong đó, một vài phần trăm người dân sở hữu một nguồn lớn của cải xã hội. Tại TC, chỉ một phần trăm trong tổng số trên một tỉ người sở hữu 40 phần trăm của cải. Điều khác giữa TC và các quốc gia tư bản là số tài sản mà một phần trăm nắm giữ tại TC phần đông là do tham ô, hủ hóa, là do bóc lột máu xương, mồ hôi nước mắt của người dân làm ra.

Thiếu Tính Chính Danh Lãnh Đạo Đất Nước

Theo tác giả Ross Terrill trong tác phẩm The New Chinese Empire tại TC chủ quyền của con người không tồn tại ngay cả trong lý thuyết chứ đừng nói chi là thực tế. Mọi quyền hạn đều tập trung trong tay đảng nhưng không ai bầu đảng CS, không ai trao cho đảng quyền lãnh đạo. Trong thời kỳ mới mở cửa, người dân tập trung xây dựng cuộc sống sau khi vừa bước ra khỏi thời tem phiếu nên có khuynh hướng chấp nhận hay không quá quan tâm đến việc ai lãnh đạo mình nhưng thái độ đó đang thay đổi nhanh chóng.

Tại TC không có một cơ quan, đoàn thể xã hội nào mà không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS. Mặc dù quốc gia có nhiều ngàn tờ báo nhưng không có tờ báo nào đưa vấn đề chính sách ra bàn cãi. Khi mức độ hội nhập vào thế giới gia tăng, sự bất mãn trong quần chúng đối với đảng và nhà nước CS cũng gia tăng.

Bất Ổn Xã Hội

Theo Gini Index, tiêu chuẩn đo lường mức độ mất cân xứng trong việc phân phối lợi tức gia đình, TC là một trong số mười phần trăm mất cân xứng nhất trên thế giới. Hiện nay các sinh viên tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm tốt như các thế hệ sinh viên trước đây. Nhà báo Peter Aitken trích dữ liệu từ Trung Quốc cho biết “ tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 16 đến 24 tuổi đã tăng từ 15,3% vào năm 2022 lên mức đáng kinh ngạc là 21,3% vào tháng 6, đánh dấu con số này tăng vọt 25%, theo dữ liệu từ Trung Quốc – mức cao kỷ lục khiến Bắc Kinh ngừng công bố thêm số liệu.”

Theo South China Morning Post đăng ngày 21 tháng 4,, 2026: “Tỷ lệ thất nghiệp chính thức của thanh niên Trung Quốc đã tăng lên 16,9% trong tháng 3, với thêm 12,7 triệu sinh viên tốt nghiệp dự kiến sẽ gia nhập thị trường lao động vào mùa hè này.”

Các thành phần giàu có đang tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài để mua tài sản cố định và tìm cách định cư. TC có nhiều tỉ phú nhất thế giới nhưng đa số dân TC vẫn phải sống với lợi tức trung bình khoảng 10 dollar một ngày.

Xã hội bưng bít TC không thể thích nghi với thế giới luôn đổi thay và sinh động. Các chính sách tự diễn biến của các lãnh đạo TC đều có tính cách chiến thuật, phòng thủ, vá víu từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu của toàn cầu hóa TC gặp ít nhiều may mắn về cung ứng hàng hóa rẻ cho thị trường thế giới nhưng về lâu dài khi mức cung cầu được bão hòa, mức độ phát triển kinh tế sẽ chậm lại.

Ô Nhiễm

Đây là lãnh vực mà TC giữ kỷ lục hàng đầu thế giới trong nhiều năm chưa có đối thủ tranh giành được. Điều kiện an toàn hầm mỏ, TC cũng được liệt vào mức tệ hại nhất thế giới. Nước, không khí, kỹ nghệ bị ô nhiễm là nguồn của các bệnh ung thư và các bệnh liên quan đến bộ phận hô hấp.

Hai tác giả Joseph Kahn và Jim Yardley của The New York Times trong bài điều tra năm 2007 cho rằng tình trạng ô nhiễm đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cũng theo bài điều tra này, 500 triệu người dân Trung Quốc không có nước uống an toàn vệ sinh. Chỉ vỏn vẹn 1 phần trăm dân chúng thở không khí với mức độ trong lành tương tự như một người dân Âu Châu thở. Đảng và nhà nước CSTQ công bố hàng loạt các chương trình bảo vệ môi trường nhưng không đạt kết quả bởi vì người dân không có quyền góp ý và báo chí không được phép phê bình.

Vì có nhiều ẩn số chưa giải đáp được nên không ai có thể có một câu trả lời dứt khoát TC sẽ chuyển hóa qua tự do dân chủ trong hòa bình hay sẽ trở thành một hay nhiều nước tự do sau một cuộc chiến tranh đẫm máu. Về mặt đối nội, để tồn tại, các cải cách kinh tế chính trị sẽ diễn ra tại TC trước mắt cũng như lâu dài nhưng kinh nghiệm “đổi mới” tại Liên Xô trước năm 1991 cho lãnh đạo CSTQ biết “đổi mới” quá đà sẽ dẫn đến những phản ứng xã hội ngoài tầm kiểm soát của đảng.

Lịch sử Trung Quốc cho thấy rất ít khi một biến cố chính trị diễn ra trong êm đẹp. Xác suất rất thấp cho một cuộc cách mạng nhung, cách mạng da cam, hoa lài diễn ra tại TC. Cách mạng tại TC sẽ là cách mạng máu. Vũ khí của giới cầm quyền dù có hiện đại bao nhiêu cũng không thể ngăn chặn được sức mạnh của toàn dân khi họ đã quyết tâm đứng dậy.

Một yếu tố mà lãnh đạo TC không dự đoán được là sự phẫn uất bùng nổ của 1.4 tỉ dân. “Năm nọc độc” như bộ máy tuyên truyền TC gọi gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Pháp Luân Công, các nhà tranh đấu dân chủ. Trong số đó bốn “nọc độc” nằm ngay trong lục địa và sẽ trở thành lực lượng quyết định số phận của đảng CSTQ.

TC theo lý thuyết buộc sẽ giảm cường độ các xung đột và tranh chấp với các nước láng giềng để tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, theo Andy Morimoto phân tích trong “Can China Fall Peacefully?” đăng trong The National Interest lúc đó TC sẽ phát động chiến tranh để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng CS. “Sự xúi giục của nước ngoài” thường là bình phong để thanh trừng nội bộ đảng.

Theo Andy Morimoto, làm việc tại Hội Đồng Chicago Về Các Vấn Đề Thế Giới, “viễn ảnh hòa bình tại Á Châu không nhiều hứa hẹn” và ông đề nghị chính phủ Hoa Kỳ nên tập trung vào việc tăng cường quân sự tại Á Châu bởi vì tiên đoán hợp lý nhất vẫn là chiến tranh sẽ bùng nổ trong tương lai.

Lối thoát của Việt Nam?

Để giới hạn hay giảm nhẹ mức ảnh hưởng của chiến tranh, chọn lựa duy nhất của Việt Nam là phải thoát ra khỏi quỹ đạo TC trước khi TC đổ.  Lich sử nhân loai đã chứng minh mọi chế độ chà đạp lên quyền con người sớm hay muộn đều phải đổ. Một người yêu nước, khôn ngoan, thức thời là người biết chọn một chỗ đứng, một hướng đi về phía dân tộc vì tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng cho con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

(Viết thêm từ Chính Luận Trần Trung Đạo) 


 

Tuổi già … bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Anh Thu Nguyen

 Ở quốc gia phát triển như Singapore, tuổi thọ trung bình gần 85 tuổi.

Nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh chỉ dừng lại ở khoảng 74.

Ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình khoảng 74 tuổi…

nhưng tuổi khoẻ mạnh cũng chỉ khoảng 64.

Điều đó có nghĩa là rất nhiều người phải sống cùng bệnh tật suốt… 10 năm cuối đời……

10 năm…

…là khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra rồi lớn lên đi học.

Quảng đường dài

Có những người chỉ là đau lưng, nhức gối, mất ngủ, đi chậm hơn, mệt hơn.

Nhưng cũng có rất rất nhiều người… đặc biệt là phụ nữ… sau cả một đời hy sinh cho chồng con, lại nằm trên giường bệnh những năm cuối đời.

Tay yếu chân run … mắt mờ…

Một cú ngã thôi.

….. cần người chăm sóc hỗ trợ…

Rủi ro nằm 1 chỗ

Rồi bắt đầu chuỗi ngày: loét tì đè, tiểu không tự chủ, phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu… thậm chí có người dần mất trí nhớ, mất nhận thức, không còn biết mình là ai nữa.

Thực lòng mà nói… tôi không muốn dùng những từ quá nặng nề hay thương cảm.

Nhưng đó thật sự là……một bi kịch mà chẳng ai muốn bước vào.

====

Điều đau lòng nhất là: rất nhiều người nghĩ tuổi già bệnh tật là “đương nhiên”.

KHÔNG!!!!!

Rất nhiều thứ chúng ta hoàn toàn có thể làm sớm hơn… để cơ thể già đi chậm hơn.

– Ăn đủ đạm để giữ cơ.

– Đi bộ, tập kháng lực để giữ xương.

– Ngủ đủ để não được nghỉ ngơi.

– Bỏ bớt đường ngọt, rượu bia, thuốc lá.

– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

– Bổ sung vitamin D, omega 3, canxi, glu.tathione, nội tiết… đúng cách khi cơ thể bắt đầu thiếu hụt.

Đừng đợi đến lúc đau mới chăm mình.

Vì tuổi già không đến vào năm 60 tuổi.

Nó bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Tôi gặp rất nhiều phụ nữ:

Cả đời lo cho chồng con ăn ngon, ngủ ngon… nhưng bản thân thì ăn qua loa, thiếu chất, không vận động, không khám bệnh.

Đến khi cơ thể “đòi nợ” thì đã quá muộn!

Nên nếu hôm nay bạn còn đi lại được, còn tự chăm sóc được bản thân, còn khỏe để ôm con cháu…

Thì xin hãy bắt đầu yêu lấy cơ thể mình từ bây giờ.

Không phải để sống thật lâu.

Mà để những năm cuối đời… vẫn còn được sống như một con người khỏe mạnh, minh mẫn và có kí ức!


 

Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Joseph Phạm Nguyên

Phép lạ chấn động: Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Vào tháng 7 năm 2022, Valeria Valverde (21 tuổi) – một sinh viên đại học người Costa Rica đang du học tại Florence – đã bị ngã xe đạp và đập đầu xuống đất. Cú ngã khiến cô bị chấn thương sọ não nghiêm trọng và xuất huyết não diện rộng, rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Các bác sĩ nói với bà Liliana, mẹ của Valeria, rằng cơ hội sống sót của cô gần như bằng không.

Trong niềm tuyệt vọng, bà Liliana đã thực hiện một cuộc hành hương đến mộ Chân phước Carlo Acutis tại Assisi. Bà đã dành nhiều giờ đồng hồ để cầu nguyện, tha thiết xin vị “tông đồ mạng” trẻ tuổi – người nổi tiếng với lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể – chuyển cầu cho con gái mình.

Và điều xảy ra tiếp theo là một phép lạ đã được Giáo hội chứng thực!

Chỉ vài giờ sau lời cầu nguyện của người mẹ, Valeria bắt đầu tự thở được. Trong vòng 10 ngày, cô tỉnh lại sau cơn hôn mê, phục hồi hoàn toàn khả năng vận động thần kinh. Kết quả chụp phim cho thấy khối xuất huyết đại não đã hoàn toàn tan biến mà không để lại bất kỳ di chứng nào. Cô bình phục một cách thần kỳ và sau đó đã cùng mẹ trở lại Assisi để tạ ơn Thánh Carlo.

Phép lạ này đã được Vatican chính thức công nhận và là điều kiện quyết định dẫn đến việc phong Thánh cho Carlo Acutis. Trong Thánh lễ tuyên thánh, chính Valeria là người đã lên đọc lời nguyện tín hữu.

Bài học cho chúng ta:

Các Thánh vẫn luôn đồng hành: Các vị Thánh, ngay cả những vị trẻ tuổi như Carlo (qua đời khi mới 15 tuổi), vẫn luôn chuyển cầu một cách mạnh mẽ cho chúng ta từ Thiên đàng.

Sức mạnh của lời cầu nguyện: Lời cầu nguyện kiên trì của một người mẹ hòa quyện với niềm tín thác sâu xa thực sự có thể “lay chuyển cả núi non”.

Chúa vẫn đang hành động: Trên hết, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện những phép lạ thời hiện đại để củng cố đức tin của chúng ta và nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài.

Lời Nguyện:

Lạy Thánh Carlo Acutis, vị tông đồ của Bí tích Thánh Thể, xin chuyển cầu cho tất cả những ai đang đau yếu hoặc tuyệt vọng. Lạy Chúa Giêsu, xin chữa lành chúng con qua lời cầu bầu của ngài. Amen.

Bạn hoặc người thân đã từng trải qua ơn chữa lành nào nhờ sự chuyển cầu của các Thánh chưa? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn ở bên dưới nhé — lời chứng của bạn có thể truyền cảm hứng cho rất nhiều người đấy!

Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#PhepLa #CacThanh #ThanhCarloAcutis #DucTin #TinThacVaoChua #CongGia


 

Làm sao “vui để đợi chết” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Hắn cứ hay suy nghĩ vẫn vơ. Tới tuổi “bát thập” rồi, hắn luôn tạ ơn Chúa vì hắn còn sống, còn đi đứng được, còn ăn uống được, lại được sống ở nước Mỹ đầy đủ tiện nghi và tự do nhất thế giới. Dầu vậy, hắn cũng hiểu rằng, tới tuổi 80, 81 rồi hắn sẽ ngã bịnh nặng bất cứ lúc nào?

+ Sẽ bị bịnh gì chưa biết; cao máu, tiểu đường, cao mở, stroke rồi bị liệt, mất trí nhớ (Alzheimer)… Nếu khi bị Stroke hay Alzheimer hắn sẽ không thể nói cho con cháu nghe được nữa, nên hắn muốn viết trước vài suy nghĩ, đ lại cho con cháu.

Hắn viết:Sinh Lão Bịnh Tử đó là con đường ta phải trải qua trong cuộc sống nhân sinh này. Ta được sinh ra không được hỏi ý kiến vì ta chỉ là đứa trẻ nít, chưa biết gì. Khi già lão thì biết, sức khỏe càng ngày càng suy yếu, hay mệt nhọc, không còn làm việc nhiều được nữa. Chạy xe gần thì được. Chạy xe đi xa hơn 30 phút là thắm mệt. Đọc sách cũng không còn tha thiết như xưa nữa. 

Sáng thức dậy, cứ muốn ngủ thêm, dậy không nổi, không thấy khoẻ như trước của tuổi U70”.

1)Có một điều không dự đoán được là:

+Chắc chắn là sẽ bị bịnh gì đó rất nặng, sẽ nằm nhà thương hay nằm tại nhà bao lâu rồi mới ra đi. Rồi cũng phải chịu đựng tình trạng không tự lo cho mình được? Không tự đánh răng được, không mặc áo quần được, không tự ăn uống được, không thể đi lại được chỉ nằm chờ chết là bao lâu?

+Sẽ chết như thế nào? Chết ở nhà hay ở nhà thương?

+Khó khăn là ta phải đương đầu với bịnh tật. Khi bị bịnh nặng, ta sẽ buồn rầu chán nản, than thân, trách móc Chúa, gây gỗ với người chung quanh. Làm sao sống vui vẻ, không than thân, khóc lóc lúc bị bịnh nặng. Làm sao không gây sầu khổ, đau buồn, lo lắng cho con cháu, cho gia đình, cho người thân, bạn bè, bà con? Làm sao không gây lo lắng, khó khăn cho người chung quanh.Vô cùng khó.

Chỉ có thường suy nghĩ về sự bịnh hoạn, về sự đau đớn thể xác, sự đau khổ về tinh thần, sống dựa vào Chúa, nhờ ơn Chúa giúp sức, may ra mới chịu đựng được những đau đớn, khổ sở của bản thân mình?

2)Đối diện với đau khổ chúng ta phải có thái độ như thế nào?

+Để có thể chịu đựng được đau đớn thể xác và đau khổ về tinh thần? Làm sao chấp nhận những khó khăn, đau khổ đó ở đời này. Xem những đau khổ, khó khăn đó là món quà hy sinh, chịu đựng, dâng lên Chúa.

Ở Mỹ không có thiếu thốn về vật chất nhưng cũng không thoát khỏi sự đau khổ về tinh thần.

Ở Việt Nam nhiều người thiếu thốn về vật chất, gặp nhiều khó khăn, đau khổ. Còn những người giàu không thiếu thốn về vật chất, nhưng họ vẫn phải chịu đựng sự đau khổ về tinh thần, như con cái không chịu học hành, bỏ nhà đi bụi đời, chồng hoặc vợ ngoại tình, gia đình ly tán… 

Bịnh tật và sự chết không chừa một ai. Đó là quy luật sinh lão bịnh tử.

+Trước những vấn đề đau khổ đó thái độ của chúng ta như thế nào mới là quan trọng?

Trong bài: “Đối Diện Với Đau Khổ” (trích Bài học Kinh Thánh Hằng ngày)

“Khi đối diện với đau khổ, con người có khuynh hướng than thân trách phận, trách cả Đức Chúa Trời, thậm chí có người còn chối bỏ đức tin. Nhưng ông Gióp trong mọi đau khổ xảy đến vẫn không phạm tội và không hề nói lời nào trách móc hay phạm thượng với Chúa. Khi nhận biết sự tể trị của Chúa trên cuộc đời mình, chúng ta có thể sấp mình thờ phượng, cầu nguyện, và ngợi tôn Chúa ngay cả trong cơn khủng hoảng nhất xảy đến cho mình. Bạn từng đối diện với những đau khổ nào? Bạn đã phản ứng ra sao? Gương của ông Gióp nhắc nhở bạn điều gì?

Lạy Chúa, khi cuộc đời con chan đầy nước mắt, con vẫn tin rằng Chúa ngự trên cao, tình yêu Ngài vẫn phủ trùm mặt đất, và quyền năng Ngài vẫn tỏa vượt trăng sao”

https://www.facebook.com/BaiHocKinhThanhHangNgay/posts/1087260497958032/

 3)Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn, đau khổ.

Sống lạc quan, vui vẻ, tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (Tx 5, 18). Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn về thể xác, tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau khổ về tinh thần. Không biết có làm được không? 

Khi tâm hồn lạc quan, sống vui thì ngay lúc chết, sự vui vẻ lạc quan đó giúp cho linh hồn tràn ngập niềm vui để về với Chúa, hưởng phúc thiên đàng. 

Phùng Văn Phụng

 04 tháng giêng năm 2023

Xem thêm:

+Bài Học Tịnh Tâm

https://keditim.net/?p=124786

+Vui Để Đợi Chết

Vui để đợi chết.     

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DIỄN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.

“Đừng cố tỏ ra là một vị thánh; hãy thành thật là một tội nhân!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những người sống cả đời để tỏ ra là một vị thánh; goá phụ trong Tin Mừng hôm nay thì khác. Dưới ánh mắt Chúa Giêsu, cô ‘không còn gì để diễn’.

Tin Mừng hôm nay mở ra như một sân khấu tôn giáo. Các kinh sư tìm danh dự; những người giàu tìm khoe khoang. Họ gây chú ý bằng những khoản dâng cúng lớn. Chúa Giêsu không quan sát số tiền hay vẻ bề ngoài; Ngài đọc điều ẩn phía sau. Trước Ngài, mọi vai diễn thánh thiện đều mờ nhạt, và sự thật tâm hồn được phơi bày. “Khiêm nhường là sống trong sự thật!” – Têrêxa Avila.

Một goá phụ xuất hiện. Cô không trình diễn lòng đạo đức. Chúa Giêsu nói cô đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Bản Vulgata chỉ dùng một động từ rất đơn sơ: misit – “đã bỏ vào”. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, điều quyết định không phải là cái được bỏ vào, mà là cái không được bỏ vào: phần dư hay chính sự sống. Những người khác vẫn còn để giữ lại; cô thì không. Không còn khoảng cách nào giữa điều cô trao và chính con người cô. Trước mặt Thiên Chúa, cô ‘không còn gì để diễn’.

Điều đáng suy nghĩ là những vai diễn tôn giáo thường không khởi đi từ sự xấu xa, nhưng từ nỗi sợ. Sợ bị xem thường, sợ phải đối diện với sự nghèo nàn thật của bản thân. Vì thế, người ta dễ khoe mẽ, loè bằng cấp hay những biểu hiện đạo đức để che phủ những khoảng trống bên trong. Goá phụ này thì khác. Cô không còn gì để giữ ngoài niềm tín thác vào Chúa. Chính sự nghèo khó ấy làm nên tự do của cô, giải phóng cô khỏi nhu cầu phải chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai.

Một trong những ngẫu tượng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là mê chính mình; người ta dễ nói về mình hơn là nói về Chúa, tìm kiếm sự chú ý hơn là tìm vinh quang Ngài. Vì thế, Phaolô nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh!”. Chỉ khi thoát khỏi sức hút của cái tôi, người môn đệ mới có thể “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” – Thánh Vịnh đáp ca. Đó là những môn đệ trưởng thành không còn bận trình bày bản thân, nhưng bận rộn với sứ vụ “lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Goá phụ hôm nay không chỉ là một tấm gương đạo đức; cô còn báo trước điều Đức Kitô sẽ thực hiện cách trọn vẹn. Cô dâng toàn bộ sự sống, Ngài trao chính sự sống; cô không còn gì để dâng, Ngài không còn gì để giữ. Trên đồi Sọ, mọi vinh quang bị tước bỏ, chỉ còn lại một tình yêu trao hiến đến cùng. Điều làm chúng ta sợ không phải là nghèo, nhưng là bị nhìn thấy đúng như mình là. Vậy mà chỉ khi không còn cố tỏ ra là một vị thánh, chúng ta mới dám nhìn nhận mình là một tội nhân ‘không còn gì để diễn’ trước Thiên Chúa. Và chính ở đó, ân sủng bắt đầu. “Ân sủng mặc lấy con người thật của chúng ta, chứ không phải con người chúng ta giả vờ là!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con thôi diễn, thôi chứng minh, thôi che giấu; để ân sủng Ngài tìm thấy con trong sự thật – một tội nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,38-44

38 Khi ấy, trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng rằng : “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. 39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. 40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”

41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. 42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. 43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : “Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44 Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.”


 

Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt…được tặng lại một căn nhà

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)Hai Phan

 Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt (đang sống vô gia cư, phải ngủ trong tiệm), tặng bữa ăn miễn phí, vài tuần sau được tặng lại một căn nhà

Theo bản tin GMA và ABC News hôm 4/6/2026, bản tin của phóng viên Shafiq Najib, tựa đề “Vietnamese restaurant owner gave a free meal. Weeks later, her life changed” (Chủ nhà hàng người Việt tặng bữa ăn miễn phí; vài tuần sau, cuộc đời bà đã thay đổi).

Một cụ bà, chủ tiệm ăn người Việt 86 tuổi – người có lòng hào phóng từng lay động hàng triệu trái tim trên mạng – vừa nhận được món quà thay đổi cuộc đời mình, nhờ vào một chiến dịch gây quỹ lan truyền rộng rãi giúp bà có được một ngôi nhà mới.

Cụ bà Lieng Le, chủ quán Café Bích Nga ở Pinellas Park, tiểu bang Florida, đã trở thành hiện tượng mạng vào tháng 4/2026 vừa qua. Sự việc bắt đầu khi Julian Becerra, một nhà sáng tạo nội dung 24 tuổi, đăng tải video quay cảnh bà từ chối nhận tiền cho bữa ăn tại quán, dù anh là vị khách đầu tiên ghé đến sau nhiều giờ vắng vẻ.

Trong video, bà Lieng từ chối nhận tiền boa từ Becerra – người đã dành lời khen ngợi cho món ăn của bà.

“Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu quay lại đây sau một tuần nữa và thấy quán đông nghịt khách. Hãy cùng biến điều đó thành hiện thực nhé,” Becerra viết trong phần chú thích bài đăng.

Vài ngày sau, trong phần bình luận của một video tiếp theo về nhà hàng, Becerra chia sẻ rằng anh “vừa biết tin bà Lieng đã rơi vào cảnh vô gia cư suốt thời gian qua” và phải ngủ trên chiếc ghế xếp tại sảnh nhà hàng mỗi đêm sau khi làm việc vất vả cả ngày.

Becerra cho biết anh đã khởi xướng một chiến dịch gây quỹ “để giúp đỡ bà,” đồng thời kêu gọi mọi người cùng chia sẻ và quyên góp.

Theo Becerra, chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đã đạt gần 127.000 USD. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc 200.000 USD.

Vào ngày 1 tháng 6/2026, với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, Becerra đã trao tận tay bà Lieng tấm séc chứa số tiền quyên góp, cùng một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi chỉ cách Café Bích Nga vài phút di chuyển.

Cũng trong ngày hôm đó, Becerra đã thông báo cột mốc đáng nhớ này qua một bài đăng đầy xúc động trên mạng xã hội.

“Cộng đồng mạng ơi, chúng ta đã làm được rồi,” anh viết trên Instagram. “4 tuần trước, tôi đăng bài về một người phụ nữ sống ngay trong quán cà phê của mình mà không có bất cứ tài sản nào. Còn hôm nay, bà đã có một mái nhà.”

“Cả thế giới đã chung tay quyên góp đủ số tiền để bà Lieng không bao giờ phải lo lắng về các hóa đơn chi phí trong suốt phần đời còn lại của mình,” anh chia sẻ thêm. Chia sẻ với ABC News về sự bất ngờ này, bà Lieng gửi lời cảm ơn đến những người đã ủng hộ và quyên góp cho mình; bà bày tỏ niềm hạnh phúc, nói rằng mình “vui, thực sự rất vui”.

Cụ bà Lieng kể với ABC News rằng bà đã không có nơi ở ổn định trong nhiều năm sau khi gặp khó khăn tài chính do đại dịch COVID-19, khiến bà chật vật xoay xở tiền thuê nhà và các nhu yếu phẩm khác.

“Không có tiền trả hóa đơn, không có tiền trả tiền thuê nhà… không có tiền,” bà nói. “Cũng không có tiền mua thức ăn nữa.”

Ông Becerra chia sẻ với ABC News rằng sau khi dành thời gian trò chuyện với bà Lieng, ông biết được bà làm việc hơn 90 giờ mỗi tuần và hiếm khi nghỉ ngơi, ngay cả khi gặp vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh viêm phổi.

Bất chấp mọi khó khăn đó, ông cho biết bà Lieng vẫn luôn chú tâm vào việc giúp đỡ người khác.

“Bà Lieng là kiểu người sẵn sàng nhường cả chiếc áo đang mặc trên người cho người khác nếu cần thiết,” ông nói. “Lý do câu chuyện của bà chạm đến trái tim mọi người là vì xét về mặt vật chất, bà Lieng chẳng có gì nhiều cả. Tuy nhiên, điều duy nhất bà sở hữu chính là nụ cười. Mỗi ngày trôi qua, bà đều cảm thấy biết ơn vì mình vẫn đang sống.”

Chủ quán ăn này cho biết bà đã di cư đến Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam và điều hành quán Café Bích Nga từ năm 2009.

Khi được hỏi tại sao lại mời ông Becerra một bữa ăn miễn phí trong lần đầu gặp gỡ, bà Lieng đáp: “Tại sao lại không mang lại niềm vui chứ? Miễn là mọi người cảm thấy vui vẻ là được.”

Giờ đây khi đã ổn định cuộc sống tại ngôi nhà mới, bà Lieng cho biết bà vẫn vô cùng xúc động trước sự ủng hộ mà mình nhận được.

“Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người,” bà nói. “Tôi xin cảm ơn.”

Đối với ông Becerra, câu chuyện này suy cho cùng là về lòng biết ơn.

“Mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn không có gì sai cả, nhưng điều đó không nên đánh đổi bằng sự hài lòng với những gì mình đang có ở hiện tại,” ông nói. “Tôi nghĩ đó mới chính là chìa khóa thực sự dẫn đến hạnh phúc.”

PHOTO: Cụ bà Liêng Lê và Becerra, người YouTuber phỏng vấn cụ bà. (Hình YouTube).

XEM TIẾP: https://vietbao.com/a325460/fl


 

Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo – Cha Vương

Mến chúc bạn và gia đình ngày thứ 6 đầu tháng zui zẻ, khoẻ mạnh, thật can đảm và mạnh mẽ trong đức tin-cậy-mến. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 5/6/2026.       (t5-25)

Thánh Boniface, vị tông đồ của người Ðức, là một đan sĩ người Anh thuộc Dòng Biển Ðức, đã hy sinh vinh dự khi được chọn làm đan viện trưởng để tận hiến cuộc đời trong việc hoán cải các sắc tộc ở Ðức. Ngài có hai đặc tính nổi bật: Kitô Giáo chính truyền và trung thành với đức giáo hoàng ở Rôma.

   Thánh Boniface, tên thật là Wilfrith, sinh ở Anh Quốc. Ngay khi còn nhỏ, hình ảnh cao quý của các đan sĩ truyền giáo đã in sâu trong tâm khảm của ngài, do đó, khi bảy tuổi ngài đã nài nỉ xin theo học trường dòng, dù rằng cha ngài mong muốn cho con một sự nghiệp ở ngoài đời.

   Lớn lên, ngài làm giám đốc một trường học ở Nursling, Winchester, tại đây ngài là người đầu tiên viết về văn phạm Latinh bằng tiếng Anh, cũng như sáng tác nhiều bài diễn giảng được nhiều người sao chép và phổ biến.

Năm ba mươi tuổi, ngài được thụ phong linh mục và đi rao giảng ở Friesland (thuộc Hòa Lan bây giờ), nhưng không bao lâu ngài phải trở về Nursling vì cuộc chiến giữa vua ngoại giáo của Friesland và Charles Martel của Pháp.

Sau cái chết của đan viện trưởng, các đan sĩ ở Nursling tìm cách giữ chân ngài bằng cách bầu ngài làm đan viện trưởng, nhưng ngài đã từ chối để tận hiến cho công cuộc truyền giáo.

   Năm 718, ngài đến Rôma để gặp Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô II, là người sai ngài đi truyền giáo cho người Ðức ở Hesse và Bavaria. Ở Hesse, trước sự hiện diện của đám đông người ngoại giáo rất tin dị đoan, ngài đã chặt cây Sồi Thần Linh ở Geismar to lớn và già nua, được dân ngoại dâng cúng cho thần Thor. Người ta kể chỉ sau vài nhát rìu, cây sồi đã lung lay và sụp đổ, tách ra làm bốn cho thấy sự mục nát bên trong. Ðó là khởi đầu của một công cuộc truyền giáo rất thành công của Thánh Boniface và cũng là hạt giống đức tin cho một giáo hội đầy sinh lực ở Ðức, mà sau này Thánh Boniface được tấn phong làm giám mục ở đây. Ngài xin các Kitô Hữu ở Anh hỗ trợ công cuộc truyền giáo của ngài và họ đã đáp ứng với tài chánh, sách vở, vật liệu, và nhất là thường xuyên cung cấp các đan sĩ để giúp đỡ ngài trong việc giảng dạy.

   Thánh Boniface không chỉ hạn chế hoạt động ở nước Ðức. Ngài còn giúp hình thành sự tương giao giữa Ðức Giáo Hoàng và các vua ở Ý cũng như ở Pháp. Ngài thúc giục các thái tử kế vị vua Charles của Pháp triệu tập công đồng để cải tổ giáo hội trong các phần đất của họ, là nơi chức giám mục được bán cho những người trả giá cao nhất.

       Ngài không bao giờ quên sự thất bại ở Friesland, do đó khi về già, ngài từ chức giám mục và trở về hoạt động ở đây với sự thành công đáng kể.

Vào một ngày trong tháng Sáu năm 754, khi ngài đang chuẩn bị cho người Friesland chịu phép Thêm Sức thì tất cả bị tấn công và bị giết chết bởi các chiến sĩ ngoại giáo.

LỜI BÀN: Thánh Boniface xác nhận một quy tắc của Kitô Giáo: Theo Ðức Kitô là theo con đường thập giá. Ðối với Thánh Boniface, con đường đó không chỉ là sự đau khổ phần xác hay cái chết, mà cả sự đau khổ vì bị sỉ nhục, vô ơn trong việc cải tổ Giáo Hội. Vinh dự của truyền giáo là đem người ngoại giáo trở về với Giáo Hội. Nhưng dường như, việc chấn chỉnh đức tin ngay trong lòng Giáo Hội, là một việc rất cần thiết, thì ít người lại cho đó là một vinh dự.

LỜI TRÍCH: Chúng ta phải bền vững trong những gì là chân lý và chuẩn bị linh hồn cho những thử thách… Ðừng là những con chó không dám sủa hay im lặng nhìn xem, và cũng đừng là người tôi tớ trốn chạy trước đàn sói. —Thánh Boniface.  

(Nguồn: dòng tên VN-hạnh các thánh)

From: Do Dzung

*****************************

Theo Dấu Chân Ngài – Sáng tác: Sr Trinh Nguyên – Trình bày: Sr Hạ Phương


 

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

Thái Bá Tân Vt

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

MacArthur đến Nhật vơi đôi bàn tay đẫm máu người Nhật, đã giết chết cả triệu quân Nhật, nhưng khi MacArthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn.

Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật: Đại nguyên soái! MacArthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.

Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi.

Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.

Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”.

Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định.

Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình.

Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

Ảnh: Tướng MacArthur

Phạm Hải ( sưu tầm và biên tập )