VỮNG TIN VÀO CHÚA

VỮNG TIN VÀO CHÚA

Sau lễ Hiển Linh và lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, hôm nay, Phụng vụ lại giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” thứ ba: đó là dấu lạ tại tiệc cưới Cana.  Quả vậy, khi thực hiện phép lạ này, Chúa Giêsu diễn tả quyền năng thiên linh của Người, và vinh quang Thiên Chúa cũng được thể hiện qua biến cố đó.  Chính tác giả Gioan đã nhận định về phép lạ đầu tiên này như sự tỏ bày vinh quang của Thiên Chúa, và nhờ đó mà các môn đệ tin vào Người.  “Các môn đệ”, trong đó tất nhiên có Gioan, người kể lại sự việc, đồng thời cũng là chứng nhân về sự việc ấy.

Thánh Gioan là tác giả duy nhất kể lại dấu lạ Cana.  Khởi đi từ lời tuyên bố: Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta.  Qua việc Đức Giêsu đến dự tiệc cưới, ông muốn diễn tả hình ảnh một Đức Giêsu đến trần gian để sống giữa mọi người.  Người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời nhân thế.  Người hiện diện giữa họ để đem cho họ niềm vui.  Chúa hiện diện trong những đám cưới, đám tang là những sự kiện rất đỗi thường tình của cuộc sống.  Người đến tiệc cưới để chúc lành, và làm cho niềm vui của cô dâu chú rể nên trọn vẹn.  Giáo Hội dựa trên sự kiện này để dạy chúng ta về việc Chúa thiết lập Bí tích hôn phối.  Khi đôi bạn nam nữ tiến đến bàn thờ để thề hứa chung thuỷ với nhau trọn đời, Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho tình yêu hôn nhân của họ.  Bí tích hôn nhân là mối dây yêu thương ràng buộc hai người suốt đời, đồng thời ban ơn nâng đỡ để đôi bạn vượt lên những khó khăn của đời sống gia đình.

Trở lại với Bài đọc thứ nhất, trích ngôn sứ Isaia, tác giả chiêm ngưỡng một tương lai huy hoàng, hân hoan vui mừng như một tiệc cưới.  Dân Israel sẽ hết thời khổ nhục và tang chế.  Không ai còn khinh bỉ dân tộc này, vì Chúa ra tay cứu giúp.  Ngài sẽ can thiệp và biến đổi đau thương của dân tộc thành niềm vui bất tận.  “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về.  Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.”  Đức tin Kitô giáo nhận ra trong lời ngôn sứ trên đây lời tiên báo về thời Thiên sai.  Đức Giêsu Kitô đã đến khai mở thời thiên sai muôn dân mong đợi.  Người được sánh như chú rể trong tiệc cưới.  Tiệc cưới cũng là hình ảnh diễn tả mối liên hệ thân thiết giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Thời đại cũ đã qua, thời Thiên sai đã khai mở.  Thời đại cũ vô vị như nước lã, thời đại mới nồng nàn như rượu thơm.  Dấu lạ Canna vừa đem niềm vui cho cô dâu chú rể, vừa làm vui lòng thực khách là chính thế giới này.

Ý niệm về Chúa Giêsu như một “chàng rể” cũng được nhắc tới trong các Tin Mừng, nhất là trong Tin Mừng Thánh Gioan.  Chúa Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi.  Người đến trần gian để nối kết con người với Thiên Chúa.  Thánh Gioan Tẩy giả, khi nói về Chúa Giêsu, cũng dùng hình ảnh chàng rể, và ông khiêm tốn nhận mình là người phù rể (x. Ga 3, 25-30).  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhân loại được mời gọi đón chờ Người như chờ đón chàng rể của hôn lễ (x Dụ ngôn mười trinh nữ, Mt 25, 1-13).  Đây cũng là viễn cảnh tương lai, khi lịch sử nhân loại đến hồi kết thúc, nhường chỗ cho trời mới đất mới, được diễn tả như tiệc cưới của Chiên Con, lúc đó, vinh quang Chúa sẽ bao trùm tất cả, niềm hân hoan sẽ tràn ngập vũ trụ (x Kh 19, 1-7).

Trình thuật của thánh Gioan làm nổi bật vai trò và sự tinh tế của Đức Trinh nữ Maria.  Phép lạ xảy đến do quyền năng của Thiên Chúa và với sự cộng tác của những gia nhân.  Những người này đã nghe lời khuyên của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”  Ngày hôm nay, Đức Trinh nữ vẫn hiện diện giữa chúng ta, để can thiệp và cứu giúp chúng ta với tâm tình hiền mẫu.  Đức Mẹ luôn hướng dẫn và giúp chúng ta thực thi Lời Chúa, như xưa Đức Mẹ luôn ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa trong lòng.  Vâng lời Chúa và làm theo huấn lệnh của Người, đó chính là bí quyết để làm nên những điều lạ lùng trong cuộc sống.

Nếu Đức Giêsu đã đến thiết lập kỷ nguyên mới, thì Chúa Thánh Thần lại là mối giây nối kết tình hiệp nhất trong Giáo Hội.  Thánh Phaolô diễn tả Chúa Thánh Thần như nguyên lý của mọi đặc sủng.  Dù có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần.  Ơn của Ngài được ban cho các tín hữu rất dồi dào phong phú, hầu xây dựng Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu.  Hôm nay Chúa Thánh Thần vẫn đang tiếp tục thổi hơi thần thiêng của Ngài nơi các cộng đoàn tín hữu.  Nhờ Ngài mà Giáo Hội luôn vững vàng trước phong ba bão tố của thời gian.

Khi đọc Kinh Mân côi, thứ hai mùa Sáng, chúng ta suy niệm dấu lạ Chúa Giêsu đã thực hiện tại Cana, đồng thời chúng ta cầu xin cho được “noi gương Đức Mẹ và vững tin vào Chúa.”  Đức Mẹ là người có phúc vì Mẹ đã tin rằng những gì Chúa phán sẽ thành hiện thực.  Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta.  Amen!

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thánh Hi-la-ri-ô, giám mục, (315-368), tiến sĩ Hội Thánh

Thánh Hi-la-ri-ô, giám mục, (315-368), tiến sĩ Hội Thánh.

Dù bạn đang ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, nơi nào, lúc nào, chúc bạn có được một cảm thức sống động về sự hiện diện của Thiên Chúa đang nói với bạn: Ta biết con… It’s OK! Con đừng sợ, đã có Thầy đây…”

Cha Vương

Hôm nay 13/1 Giáo Hội mừng kính Thánh Hi-la-ri-ô, giám mục, (315-368), tiến sĩ Hội Thánh. Thánh Hilariô được đánh động bằng một lời Cựu Ước: “Ta là Ðấng tự hữu”. Từ khi được Chúa Thánh Thần soi sáng và tác động mạnh mẽ, thánh nhân đã quyết tâm tìm gặp Chúa và quyết đi theo Chúa.

MỘT CUỘC ÐỜI: Thánh nhân sinh tại Aquitaine nước Pháp vào năm 315 trong một gia đình thế giá và giầu có, danh tiếng. Thánh nhân đã được hấp thụ một nền giáo dục tốt và đầy đủ. Chính vì thế, Ngài đã có một đức tính cương trực, ngay thẳng và trong sạch. Thánh nhân ham mê và thích văn chương, triết lý ngay từ thuở thiếu thời. Mặc dầu ngoại giáo nhưng sự đắm chìm vào những suy tư sâu sắc, Hilariô đã sớm giác ngộ và tìm về chân lý. Ngài đã xin trở lại đạo và xin rửa tội làm con Chúa và con của Giáo Hội. Trở về với Chúa, thánh nhân đã nêu gương một đời sống thánh thiện và đạo đức. Nhờ tài ăn nói lưu loát, thánh nhân đã mau chóng trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu. Vào năm 350, thánh nhân được chọn làm giám mục poitiers. Ngài nhiệt thành với sứ vụ mới Chúa trao. Ngài hăng say chống lại bọn lạc giáo Ariô. Ngài đã triệu tập công đồng các giám mục để ra vạ tuyệt thông cho Ursace và Valens vì bọn lạc giáo được hoàng đế Constance che chở. Tuy nhiên, bọn lạc giáo đã cấu kết với nhau để đầy Ngài qua đảo Phrygie. Dù tù tội, thánh nhân không nao núng, Ngài đã viết bộ tổng luận 12 cuốn trình bầy về Thiên Chúa Ba Ngôi để chống lại bè rối Ariô. Bốn năm tù đầy, thánh nhân luôn hướng về địa phận của Ngài và viết nhiều thư luân lưu, động viên giáo dân của Ngài giữ vững niềm tin. Hoàng đế Constance đã cho triệu tập công đồng tại Séleucide, tại đây thánh Hilariô cũng được mời tham dự. Thánh nhân với tác động của Chúa Thánh Thần đã hăng say bênh vực Hội Thánh và thuyết phục được toàn bộ các giám mục tin vào Giáo Hội, tin vào giáo lý chân chính của Chúa Giêsu và các tông đồ. Tại công đồng Séleucide, bọn lạc giáo bị thất bại chua cay, nên đã bàn với hoàng đế Constance tha cho Ngài được hồi hương. Ngày trở về địa phận của thánh nhân đã làm cho mọi người hân hoan, vui mừng Chúa đã làm một phép lạ minh chứng quyền năng của Ngài qua bàn tay của thánh nhân: một em bé đã chết chưa kịp rửa tội, được Ngài làm cho sống lại.

CHÚA THƯỞNG CÔNG THÁNH NHÂN: Mặc dầu tuổi già, sức yếu, thánh Hilariô vẫn hăng say chu toàn sứ mạng mục tử và tiếp tục viết nhiều sách rất có giá trị. Thánh nhân được Chúa gọi về ngày 13/01/369. Tại Bordeaux, các giám mục đã thỉnh cầu Ðức Thánh Cha Piô IX ban cho thánh Hilariô tước vị tiến sĩ Hội Thánh ngày 10/01/1852.

Lạy thánh Hilariô, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con trước tòa Chúa để chúng con luôn hăng say nhiệt thành loan báo Chúa Kitô và Tin Mừng cứu độ của Chúa. (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

Mời bạn đọc chậm và suy niệm Kinh Tin Kính, nhất là đến câu: “Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh…” “Như trong Kinh Tin Kính trong ngày lễ Giáng Sinh bạn quỳ gối để tôn thờ mầu nhiệm Nhập Thể này. Thiên Chúa đã trở nên xác phàm. Ngài đã trở thành thịt và máu: Ngài tự hạ mình đến nỗi trở thành như chúng ta, chịu nhục đến nỗi mang lấy những đau khổ và tội lỗi của chúng ta, và vì vậy, Ngài xin chúng ta hãy tìm kiếm Ngài, không phải bên ngoài cuộc sống và lịch sử mà trong mối tương quan với Chúa Kitô và với anh chị em. Hãy tìm kiếm Chúa trong cuộc sống, trong lịch sử, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Và đây là con đường để gặp gỡ Thiên Chúa: là sống mối tương quan với Chúa Kitô và với anh chị em. (Lời huấn dụ của ĐTC Phanxicô)

From: Đỗ Dzũng

Nỗi đau của tuổi già – Huy Phương

Nỗi đau của tuổi già

Huy Phương

Ở đây, chúng Ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường… nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này rồi. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước  cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già…

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường LOS mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có pass- port của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off.

Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng.

Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

-“Bả ấy đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ.

Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm

Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không biết tiếng Anh, bà sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”.

Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

From: NguyenNThu

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Trong đời sống, đã biết bao lần chúng ta phàn nàn. Buổi sáng đi làm kẹt xe. Đến sở gặp đồng nghiệp ăn nói vô duyên, mếch lòng. Ông chủ mặt mày khó chịu, gắt gỏng. Về nhà vợ than phiền chuyện cơm áo. Con cãi lời, hỗn láo. Cánh tay đau nhức khó ngủ.

Nói chung hữu thân thì hữu khổ. Nhưng khi còn có việc làm, thì mới có đồng nghiệp, có ông thủ trưởng. Còn có xe để bị kẹt, còn có vợ để nghe mè nheo, còn có con để chê là nghịch tử. Còn có cánh tay để đau nhức. Trên đời này rất nhiều người không có gì, kể cả hai cánh tay, và sự thật là có người bất hạnh, không có luôn cả hai chân nữa.

Ít người cho mình có một đời sống hạnh phúc hoàn toàn. Không bất mãn chuyện này thì cũng khổ vì chuyện kia. Mỗi cuộc đời có bao nhiêu chuyện bất như ý, mỗi ngày có bao nhiêu giờ phút bực mình, đáng cho ta phàn nàn, than vãn!

Anh họ tôi có con trai sợ vợ, để vợ lấn lướt tìm cách đuổi cha mẹ chồng ra khỏi nhà, mà không có được một phản ứng gì. Tuy không đến nỗi lâm thảm cảnh của người vô gia cư, nhưng vợ chồng anh thất vọng, buồn bã đến nỗi mang chứng trầm uất, nhiều khi tỏ thái độ không thiết tha đến cuộc sống nữa. Ví như, trường hợp của một gia đình khác, đứa con trai ngay từ hồi còn bé bị té từ trên giường cao hai tầng xuống, tổn thương não bộ, phải sống đời thực vật từ nhỏ đến nay đã gần 40 tuổi, khổ đau là chừng nào. Trong khi anh chỉ có một thằng con bất hiếu, sợ vợ, nhưng anh cũng có khả năng thuê được nhà ở, có chiếc xe đi, lại còn có chị bên cạnh trong tuổi già, cuộc đời đâu đến nỗi bi đát.

Ông bạn già tôi, hơn ba mươi năm về trước, gửi đứa con trai vị thành niên, theo một người bạn đi vượt biên. Sang đến đảo, người bạn đổi tên đổi họ con anh, nhận là con mình. Khi gia đình anh sang định cư tại Mỹ, thì con anh đã lớn, tốt nghiệp đại học, nhưng đã trở thành đứa con của một gia đình khác, xem người đưa mình vượt biển là mẹ và cũng không còn biết người bạn tôi là ai. Vợ chồng người bạn tôi coi đây là một biến cố lớn lao trong đời, canh cánh bên lòng mỗi khi nghĩ đến chuyện mất con, đứa con mình đã tốn công sinh dưỡng, bây giờ xem mình như là những người xa lạ. Thật ra thì, bạn tôi không hề mất con, đứa con mình sinh ra, vẫn còn đó, mạnh khỏe, bình an, thành đạt, có một mái gia đình êm ấm. Có khác chăng là quan niệm “con tôi,” “vật sở hữu của tôi” nay vì nó thuộc về người khác, nên nó làm cho tôi đau khổ.

Tôi nhắc lại một chuyện cũ, vợ chồng ông bạn tôi sang Mỹ, nhà có mỗi hai cô con gái thì lớn lên, một cô lấy chồng Mỹ, một cô lấy chồng Trung Đông. Bạn tôi có hai ông rể giỏi giang, những đứa cháu xinh dẹp, dễ thương, nhưng lòng luôn luôn phiền muộn, thường mỗi khi nói đến chuyện con cái, gia đình, thì y như là khơi lại mối thương tâm, khiến bạn tôi không vui, tỏ ra bất mãn với hoàn cảnh. Rất nhiều gia đình sau Tháng Tư, 1975 có con gái mất tích giữa đại dương ngày vượt biển, phải chi được đổi lấy một hoàn cảnh của người bạn kia, thì gia đình họ sẽ vui sướng hạnh phúc bao nhiêu!

Em tôi sang Mỹ chậm, con cái không có cơ hội và cũng thiếu may mắn trong chuyện học hành, lớn lên, đứa thì làm công nhân hãng xưởng, đứa thì bưng phở trong nhà hàng, đứa thì chạy xe hàng xuyên bang. Nhìn quanh bạn bè, con ai cũng thành đạt, ông em sinh ra tự ti mặc cảm, tránh xa thiên hạ, không muốn giao thiệp với ai, không muốn nói đến chuyện gia đình. Những đứa con gia đình này, không có tội lỗi gì, cũng không cần phải mang mặc cảm như bố. Bao nhiêu người chết sông, chết biển, mình mang được cả gia đình trọn vẹn sang đây, ai cũng có công ăn việc làm ổn định, sống lương thiện, không vướng trộm cắp, ma túy. Bao nhiêu người mơ ước có cuộc đời như mình mà không được.

Có ông bạn gặp bà vợ lắm điều, không hợp ý, ông vò đầu bứt tai than khổ, tưởng như đang sống dưới mấy tầng địa ngục. Nghĩ lại, có người vợ mất sớm, thân già vò võ một mình, quạnh hiu biết chừng nào. Có người thì vợ đau yếu, vào ra bệnh viện, thập tử nhất sinh, giờ lại phải vào nhà dưỡng lão, ông phải vất vả vào ra hàng ngày. Còn có vợ bên mình, không còn ngọt bùi như thời xuân sắc, nay dù có điều bất như ý, thì cũng còn có nhau, bao nhiêu người mơ ước cảnh đời này mà không được.

Khi người ta bất như ý, người ta có thói quen oán Trời trách Đất. – “Trời ơi sao tôi khổ thế này?”- “Sao Ông Trời bất công quá vậy!”- “Thật là Ông Trời không có con mắt!”- “Ông Trời ơi, xuống mà coi nè!”

Cam chịu bình thản, thì người theo đạo Phật tin vào Nhân Quả và cái Nghiệp. Đời này thấy mình sao thì biết kiếp trước mình ăn ở làm vậy! Người Công Giáo thì tin đã có Chúa an bài, là do ý Chúa, chết cũng là do Chúa gọi về!

Người bình dân thường đổ cho tại cái số, giàu nghèo, no đói, sướng khổ đều do số Trời định, khi đã được Nam Tào, Bắc Đẩu ghi sổ rồi, thì “có chạy Trời cũng không khỏi,” cứ an phận thủ thường, ung dung tự tại mà sống!

Xin kể một chuyện bên Tàu: Đức Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẫy đàn cầm vừa đi vừa hát.

Đức Khổng Tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”

Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quý hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông.  Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Đó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.

Lại xin kể một chuyện bên Tây: Từ đầu năm đến nay, hàng chục người đã thiệt mạng khi tìm cách vượt qua sông Rio Grande, nơi mực nước dâng lên cao nhất trong 20 năm qua, để tìm cách đến Mỹ.

Đoàn “caravan di cư” bất hợp pháp hơn 7,000 người áp sát biên giới Mỹ. Trạm biên phòng Del Rio ở Texas hôm tuần qua đã báo cáo, chỉ từ Tháng Sáu tới nay họ bắt giữ hơn 1,000 người Haiti.

Mới đây lại thêm một bức ảnh chấn động lương tâm thế giới ghi lại cảnh tượng một người cha và con gái người El Salvador bị chết đuối, nằm úp mặt xuống nước tại bờ sông Rio Grande ở biên giới Mỹ – Mexico khi tìm cách bơi qua sông. Họ là những người đang tìm cách đến Mỹ và hy vọng sống được trên đất Mỹ, như chúng ta.

Liệu chúng ta có nên phàn nàn nữa không?

(Huy Phương)

Người thứ 279 – PIERRE BELLEMARE

Người thứ 279 – PIERRE BELLEMARE – truyện ngắn

Đào Duy Hòa phỏng dịch

Ngày 23 tháng 12 năm 1964. Chỉ còn 2 ngày nữa là Noel, bầu trời San Francisco nắng đẹp rực rỡ. Ðó là 2 lý do khiến cho đông đảo du khách chọn San Francisco làm điểm đến. San Francisco là thành phố biển của Hoa Kỳ và là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới.

Khoảng 15 khách có mặt trên du thuyền của Horace Wilson. Với mái tóc và chòm râu bạc trắng rất nghệ sĩ, Horace Wilson gắn bó với San Francisco gần nửa đời người với vai trò hướng dẫn viên du lịch. Ông không chỉ thuộc mọi ngõ ngách của San Francisco như lòng bàn tay mà còn am hiểu lịch sử hình thành của thành phố này.

Horace Wilson hướng mũi tàu về phía Golden Gate Bridge, cây cầu huyền thoại thu hút sự chú ý của mọi du khách.

Trong cái se lạnh của mùa Ðông, đường nét tao nhã của cây cầu nổi bật trên nền trời tuyệt đẹp. Golden Gate Bridge là tác phẩm kiến trúc hiếm hoi thể hiện được sự hài hòa giữa kỹ thuật và thẩm mỹ. Máy ảnh được đưa lên ngắm và bấm liên tục. Ðợi cho du khách thỏa mãn với những bức ảnh chụp được, Horace thuyết minh: “Cầu Golden Gate bắt đầu xây dựng năm 1933 và hoàn thành năm 1937. Với khoảng cách giữa hai trụ cầu là 1,280 mét, Golden Gate chiếm kỷ lục là cây cầu treo dài nhất thế giới. Nhưng chi tiết lạ lùng nhất về chiếc cầu này chính là biệt danh “cây cầu của những người tự tử” mà người ta đặt cho nó”.

Mọi người ngưng chụp hình và chăm chú lắng nghe. Quay lưng về hướng cây cầu, Horace kể tiếp:

– Nếu một trong số quý vị muốn tự kết liễu cuộc đời, tôi đề nghị quý vị hãy đến cầu Golden Gate vì đó là nơi tự tử chắc ăn nhất. Cho đến giờ phút này, tất cả 278 người mưu toan tìm cái chết đều được toại nguyện. Tại sao ư? Trước hết, như quý vị thấy đấy, cây cầu cao không dưới 67 mét! Ðộ cao này đủ để quý vị ngất xỉu khi chạm mặt nước. Trường hợp quý vị vẫn còn tỉnh táo thì cái lạnh thấu xương cũng không buông tha. Quý vị sẽ ngất xỉu vì lạnh ngay tức khắc hoặc vài phút sau đó, bởi tại vịnh biển này có một dòng nước lạnh cóng chảy từ Bắc cực xuống. Không một ai có thể chịu đựng được hơn vài phút…

Nhìn về hướng cây cầu, nhóm du khách đồng loạt “ồ” lên hoảng hốt. Horace quay phắt lại theo phản xạ tự nhiên. Ông chỉ thoáng thấy một bóng đen xoay tít trong không gian và đâm chúi xuống nước. Horace ra lệnh cho du thuyền trực chỉ về phía người bất hạnh, miệng thốt lên: “Người thứ 279”.

Bác sĩ Stanley Higgins, trưởng ca trực bệnh viện, nhìn người thứ 279 nằm thiếp trên giường. Chị ta khoảng 30 tuổi, sắc vóc cân đối, khá đẹp: mái tóc dài đen tuyền, nước da ngâm đen; hẳn chị ta là một người lai da màu hoặc là người đến từ các đảo thuộc vùng biển Thái Bình Dương. Nhưng đây chỉ là phỏng đoán bởi chị ta không mang theo người bất cứ giấy tờ tùy thân nào.

Người thoát nạn từ từ mở mắt. Bác sĩ Higgins nghiêng về phía chị và nở nụ cười tươi. Tuy đảm nhiệm trọng trách trong bệnh viện, nhưng năm nay Higgins mới có 35 tuổi, gương mặt khá điển trai phảng phất nét trí thức, thân hình rắn rỏi, khỏe mạnh. Hình ảnh đầu tiên mà chị nhìn thấy lúc trở lại với sự sống quả là khá dễ chịu.

Lời nói đầu tiên của chị ta không có gì đặc biệt, dường như đây là câu nói “truyền thống” của hầu hết những người cùng cảnh ngộ:

– Tôi đang ở đâu vậy?

Câu trả lời được thốt lên bằng một giọng nói đầy tự tin:

– Ở bệnh viện. Chị thấy ổn chứ?

Người bất hạnh bỗng nấc lên nghẹn ngào. Chị ta ngồi dậy để lộ thân hình lực lưỡng. Trông chị to lớn như một thanh niên, chiều cao không dưới 1.80 mét, đôi vai rộng, cuồn cuộn cơ bắp như một lực sĩ bơi lội. Chính tầm vóc lực sĩ khoẻ mạnh ấy đã giúp chị thoát chết. Chị ấp úng:

– Sao tôi vẫn còn sống như thế này?

– Sao chị vẫn sống ư? Tôi cũng tự hỏi có phải đây là phép lạ? Người ta không thể cho rằng chị đã giả bộ tự tử, tất cả những người nhảy từ cầu Golden Gate xuống biển đều thật sự muốn tìm cái chết. Trường hợp của chị quả là một phép lạ, và phép lạ đó xuất phát từ chính chị.

– Từ tôi?

– Vâng. Có những trường hợp người bất hạnh muốn về bên kia thế giới, nhưng phản xạ tự nhiên, bản năng sinh tồn… Chị hẳn là một tay bơi cừ khôi?

– Tôi nguyên là cựu vô địch bơi lội của đảo Hawaii.

– Chị cũng là một tay nhào lặn cừ khôi vì các nhân chứng thuật lại rằng cú phóng chúi xuống mặt nước của chị được thực hiện một cách hoàn hảo, y như một vận động viên nhào lặn chuyên nghiệp, không chê vào đâu được! Chính tính chuyên nghiệp đó đã giúp chị không bị tổn thương lúc tiếp xúc mặt nước sau khi rơi tự do ở tốc độ cao. Mặt khác, thể tạng lực sĩ của chị khiến chị không những chịu đựng được cú va chạm mà ngay sau đó chị đã tự động bơi như một rôbốt…

– Thực sự tôi không nhớ rõ những gì đã diễn ra.

– Một điều may mắn nữa là chiếc thuyền chở du khách của Horace có mặt cách nơi chị phóng xuống không xa mấy. Tôi nghĩ là chị nên nói lời cám ơn ông ta.

– Cám ơn về điều gì? Tôi muốn chết kia mà.

– Chị có biết rằng lúc Horace đến nơi thì chị cũng vừa ngất rồi không? Chị có biết rằng Horace đã không ngại hiểm nguy nhảy xuống nước lạnh thấu xương để cứu chị? Vả lại, năm nay ông ta đã 70 tuổi.

Người phụ nữ thở dài hối hận.

– Ông ấy không nên làm thế. Dù sao thì tôi cũng lấy làm tiếc.

– Horace sẽ sớm hồi phục lại thôi. Ông ta đang ở phòng bên cạnh. Tôi vừa mới khám cho ông ta. Ông ta chỉ bị cảm lạnh. Nhưng tôi muốn trở lại câu chuyện của chị. Chị sống ở Hawaii à?

– Vâng, đúng thế.

– Tôi có thể biết tên chị được không?

– Isabelle Kainoa.

– Chị được bao nhiêu tuổi?

– Ba mươi hai.

– Sức khoẻ của chị không có gì trầm trọng.

– Tôi không quan tâm đến điều đó.

– Hẳn là như thế. Nhưng hiện giờ thì chị vẫn còn sống, chắc là chị muốn mình đi đứng bình thường hơn là ngồi trên chiếc xe lăn. Rất may là điều tệ hại đó đã không xảy ra. Chị chỉ bị bong gân và chấn thương cơ bắp. Thực sự không có gì trầm trọng, sẽ không có một di chứng nào. Việc bình phục chỉ còn là yếu tố thời gian.

Lần đầu tiên từ lúc tỉnh lại, nụ cười nở trên môi Isabelle, nhưng chỉ là nụ cười buồn, héo hắt.

– “Không có gì trầm trọng”, bác sĩ nghĩ vậy sao?

– Chị có bị bệnh gì không?

– Vâng có đấy. Tôi bị bệnh phong!

– Bệnh phong? Và đó chính là lý do khiến chị không thiết sống nữa?

Isabelle xác nhận bằng cái gật đầu. Bác sĩ Stanley nhẹ nhàng đặt tay mình lên vai Isabelle. Vào năm 1964, bệnh phong chưa hoàn toàn bị xóa sổ, ngay cả ở các nước phát triển. Lúc bấy giờ Hawaii đã trở thành tiểu bang thứ 50 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

– Isabelle, chị có thể cho tôi biết chị bị bệnh phong trong trường hợp nào?

– Năm 10 tuổi, tôi sống với mẹ tôi ở Hawaii. Mẹ tôi bị bệnh phong và lây sang tôi.

– Chị có được điều trị không?

– Có chứ! Mẹ và tôi được điều trị tại một bệnh viện đặc biệt. Sau một năm, họ bảo rằng tôi đã khỏi bệnh. Tôi ngờ rằng họ chưa điều trị chúng tôi đến nơi đến chốn vì lúc bấy giờ là thời chiến mà.

– Bệnh phong của chị tái phát?

– Không phải ngay sau đó. Tôi đã tìm lại ý nghĩa cuộc sống. Tôi lao vào luyện tập môn bơi lội. Mọi người cho rằng tôi là người phụ nữ khoẻ mạnh ít ai sánh kịp. Năm 20 tuổi, tôi lấy chồng. Chúng tôi sống rất hợp ý nhau và đã có ba đứa con. Mọi việc diễn ra tuyệt vời cho đến khi tôi hạ sinh đứa thứ tư, June…

Bác sĩ Stanley nhớ rõ những ngày ngồi ghế trường đại học, một vị giáo sư nói rằng bệnh phong ở người phụ nữ có thể tái phát khi sinh con dù trước đó nó đã được trị khỏi. Y học vẫn chưa tìm ra nguyên nhân.

– Bệnh tái phát khi chị sinh con thứ tư à?

– Ðúng thế. Các bác sĩ đã điều trị cho tôi khỏi bệnh phong nhưng họ cũng cảnh báo rằng bệnh có thể tái phát khi sinh nở. Họ khuyên tôi không nên có thêm con vì nguy cơ lây bệnh sang con là rất cao. Quá tuyệt vọng, tôi đã xuống tàu đến đây được hai tháng.

– Chị có thể ở lại Hawaii cơ mà.

– Tôi không thể. Còn nỗi khổ nào bằng ở gần con mà không được gặp mặt chúng. Thà rời xa chúng còn hơn.

– Còn chồng chị thì sao?

– Về nguyên tắc, tôi được phép gặp mặt chồng, nhưng tôi đã từ chối. Tôi sợ sẽ lây cho anh ấy. Và tôi cũng sợ… lại mang thai.

Isabelle cúi mặt, thất vọng. Vài phút trôi qua trong im lặng.

– Chồng và hai đứa con lớn vừa gởi cho tôi thiệp chúc mừng Noel. Tốt nhất là họ đừng gởi thiệp Noel bởi điều đó chỉ làm cho tôi thêm đau buồn.

– Tôi hiểu hoàn cảnh của chị.

– Ðèn màu chiếu sáng rực rỡ mừng Noel sắp đến với mọi nhà ở San Francisco. Cửa hàng, vòng hoa, đèn chớp đủ màu… Tại sao mọi người được đoàn tụ, hạnh phúc với gia đình, còn tôi thì không? Tại sao tôi mắc phải chứng bệnh oan nghiệt này? Tại sao có sự bất công như thế?

– Chị Isabelle này, chị quên rằng chị vừa may mắn thoát chết đó sao?

– Ðiều này anh vừa nói với tôi lúc nãy. Tôi muốn chết nhưng buộc phải sống, phải chăng đó là điều may mắn?

– Tôi không đề cập đến chuyện đó.Tôi có quen biết một giáo sư nổi tiếng, chuyên gia về bệnh phong. Ðó là thầy dạy cũ của tôi, thầy Simson. Ông hành nghề ở Oakland, gần đây thôi.

– Tôi làm sao có đủ tiền để điều trị?

– Khoan nói đến chuyện điều trị đã. Trước hết nên làm cuộc xét nghiệm. Biết đâu chị đã hoàn toàn khỏi bệnh phong.

– Ở Hawaii, họ bảo bệnh phong tái phát.

– Các bác sĩ ở Hawaii làm sao sánh kịp Giáo sư Simson. Khi đến đây, chị không bao giờ nghĩ đến chuyện đi khám xem hư thực ra sao?

– Không, vì tôi tin vào kết quả ở Hawaii.

– Tôi thì không nghĩ như thế. Tình trạng sức khoẻ của chị hiện tại không cho phép chị đến chỗ Giáo sư Simson. Tôi sẽ cố thuyết phục ông ta đến đây.

Bác sĩ Stanley Higgins đã đoán đúng. Với những phương tiện hiện đại mà các đồng nghiệp ở Hawaii không có, Giáo sư Simson đã làm cuộc xét nghiệm đầy đủ cho Isabelle Kainoa. Kết quả chính thức được công bố: Isabelle Kainoa hoàn toàn dứt hẳn bệnh phong. Giáo sư Simson ký giấy xác nhận cho phép Isabelle về đoàn tụ với chồng con.

Sau khi hồi phục, Isabelle quay về với gia đình. Người thứ 279 tìm cái chết trên cầu Golden Gate, sống hạnh phúc bên chồng con.

Với chị đây quả là một phép lạ kỳ diệu.  

From: TU-PHUNG

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

 13/01/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Minh họa: Cristiana Couceiro/ The New Yorker.

Nathan là một sinh viên năm hai tại trường Đại học Indiana, Hoa Kỳ.

Một ngày nọ, anh gặp Jodi, người tự nhận mình cũng là học sinh của trường. Họ bàn luận về mọi thứ trên đời: các cuộc chạy đua vũ trang, tình trạng đạo đức của xã hội hay sự bất bình đẳng toàn cầu. Thật ngạc nhiên, mọi quan điểm và góc nhìn của anh đều được Jodi ủng hộ và đồng tình.

Jodi giải thích rằng có một nhóm cộng đồng mà cô đang tham gia cũng chia sẻ những suy nghĩ giống như anh, và họ có một buổi gặp mặt ngay chiều hôm đó.

Nhóm người này đón tiếp anh như thể một thành viên thân thuộc của gia đình; mọi quan ngại về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của anh đều được nhóm bàn luận, đồng tình. Anh say sưa tham gia các trò chơi vận động, hát hò, tham gia vào các buổi trị liệu tâm lý nhóm nhỏ.

Từ khi tham gia nhóm, Nathan chỉ ngủ được tám tiếng trong suốt ba ngày cuối tuần, ăn hai bữa mỗi ngày, nhưng vô cùng hạnh phúc vì đây là lần đầu tiên anh gặp được những người có cùng lối sống, cùng tư duy, cùng niềm tin và dường như cùng đích đến.

Nathan quyết định chuyển vào ở chung với nhóm người đồng đạo, bật băng nghe “giáo chủ” thuyết giảng liên hồi, ngủ ba tiếng một ngày, cùng lúc tích cực tìm kiếm và chiêu mộ thành viên mới.

Trong khi đó, mối quan hệ của anh với ba mẹ mình ngày càng tệ đi. Tất cả những mối liên hệ bạn bè trước kia đã tạo nên Nathan của “ngày xưa” cũng dần biến mất.

Quá trình “truyền đạo” hoàn tất. [1]

“Giáo phái sùng tín” (cult), “tà đạo” (heresy) và vai trò của nhà nước

Các bài viết về tôn giáo xưa nay của Luật Khoa hầu hết đều chia sẻ tư duy bảo vệ quyền tự do tôn giáo.

Với những quy định pháp lý mơ hồ cùng những tiêu chuẩn kép của chính quyền, sẽ là bình thường khi người ta nghi ngờ thực trạng bảo vệ tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta nên phủ nhận khả năng lạm dụng danh nghĩa tôn giáo để xâm phạm tới các giá trị pháp lý hay quy chuẩn xã hội. Trong bối cảnh đời sống tín ngưỡng – tâm linh và các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội chưa thật sự ổn định của Việt Nam, việc những “tà đạo”, “giáo phái” luôn luôn rình rập là một khả năng hiển hiện.

Có thứ gọi là tà đạo, dị giáo hay không? Chính quyền các quốc gia trên thế giới có lo ngại chúng hay không?

Câu trả lời chắc chắn là có.

Sử dụng tôn giáo như một công cụ để đạt được các mục tiêu, từ gây ảnh hưởng kinh tế, chính trị, xã hội cho đến mưu cầu lợi ích riêng, đã không còn là chuyện xa lạ tại hầu hết các quốc gia.

Shoko Asahara, người sáng lập giáo phái Aum Shinrikyo (trái) và cuộc tấn công khí độc do nhữngthành viên của giáo phái này thực hiện trên tàu điện ngầm ở Tokyo vào năm 1995. Ảnh: Daily Mail.

Một ví dụ nghiêm trọng là trường hợp giáo phái tận thế Aum Shinrikyo tại Nhật. Giáo phái này bắt đầu như là một nhóm tôn giáo kết hợp các giáo lý giữa Hindu và Phật giáo, đồng thời sử dụng các câu chuyện tận thế từ Công giáo. Việc không có những kiểm soát tiền đề về tôn giáo tại Nhật đã khiến diễn ngôn sai lệch của Aum Shinrikyo phát triển đủ mạnh, từ đó dẫn đến cuộc tấn công khủng bố chết chóc bằng chất độc thần kinh dạng lỏng trên hệ thống tàu điện ngầm Tokyo vào năm 1995. [2]

Ở dạng nhẹ hơn, chúng ta có những câu chuyện tương tự như của Nathan lúc đầu. Trong những trường hợp như vậy, Richard Delgado, một giáo sư luật thuộc trường Đại học California, Los Angeles, Mỹ (UCLA) lo ngại rằng các nhóm truyền đạo sẽ sử dụng các công cụ kiểm soát để thao túng tâm lý những người trẻ.

Vị giáo sư đưa ra đề xuất bắt buộc các nhóm giáo phái muốn truyền đạo phải có “sự đồng thuận với đầy đủ thông tin” (informed consent) từ phía người được truyền đạo trước khi bắt đầu quá trình hướng đạo (proselytizing). [3] Nói cách khác, người được truyền đạo cần phải biết trước những thông tin cần thiết như tên gọi, mục tiêu, tôn chỉ, hay các yếu tố khác liên quan đến giáo phái.

Dẫu thế nào đi chăng nữa, không nên (và không thể) tiếp cận tự do tôn giáo như một quyền trong trẻo và tốt đẹp hoàn toàn, không có khả năng bị lạm dụng hay biến tướng.

Vấn đề ở chỗ là pháp luật nên can thiệp lúc nào và can thiệp như thế nào.

Những nhóm tôn giáo này “vi phạm pháp luật” ở điểm gì?

Năm 1995, ngay sau khi Aum Shinrikyo (thường được gọi tắt là Aum) thực hiện hành vi khủng bố, ngoài việc khởi tố và bắt giữ các nghi phạm liên quan, chính quyền Nhật Bản tuyên bố rằng các giáo lý, việc giảng dạy và mục tiêu hoạt động của nhóm này là hành động thực hiện chiến tranh chống lại nhà nước. [4]

Áp dụng đạo luật thời kỳ Chiến tranh Lạnh khá tranh cãi có tên gọi Subversive Activities Prevention Law (Luật Phòng chống Hoạt động Lật đổ Chính quyền – 1951), chính quyền Nhật Bản tịch thu toàn bộ tài sản, giáo lý, tư liệu và các nguồn lực khác của Aum. Giáo phái này chính thức không còn được phép hoạt động. [5]

Nhiều nước trên thế giới cũng đặt Aum ngoài vòng pháp luật. Nhiều nhóm nhỏ có dính líu tới Aum bị trục xuất khỏi các quốc gia. Sau gần 30 năm, các cựu thành viên của Aum dường như không còn bất kỳ cơ hội nào để được xã hội và pháp luật chấp nhận lại.

Các quan ngại lớn nhất ở đây là khả năng phát sinh bạo động, khủng bố từ các triết lý tôn giáo cực đoan.

Tại Hoa Kỳ, cả chính quyền lẫn các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự nguy hiểm của các giáo phái, các nhóm dị giáo (như các nhóm thờ phụng quỷ Satan – Satanic cults).

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng niềm tin từ thập niên 1970 đến thập niên 1980, hàng ngàn giáo phái xuất hiện tại Hoa Kỳ với hơn ba triệu giáo dân, có quyền lực kinh tế lẫn chính trị không tưởng. [6]

Ảnh chụp sự kiện tự sát tập thể của giáo phái Peoples Temple tại Mỹ vào năm 1978. Hơn 900 người, trong đó có nhiều trẻ em, theo lệnh của giáo chủ Jim Jones, đã uống thuốc độc tự sát hoặc bị bắn chết. Ảnh: Bettmann/ Bettmann Archive.

Các nhà nghiên cứu liệt kê một số vấn đề pháp lý nghiêm trọng trong các nhóm giáo phái sùng tín Hoa Kỳ điển hình của giai đoạn này:

  1. Các thành viên tuyên thệ trung thành tuyệt đối với giáo chủ, người đổi lại đưa ra mọi quyết định trong đời sống cá nhân của giáo dân;
  2. Các nhóm thường được vận hành dựa trên tâm lý phản – trí thức (anti – intellectual). Họ được giáo huấn không tin tưởng vào bất kỳ thông tin khoa học, chính trị nào khác ngoài lời dạy của giáo chủ;
  3. Các giáo phái này thường chống lại các giá trị gia đình (anti – family) và phân biệt giới tính (sexist). Giáo phái là gia đình duy nhất của giáo dân, phụ nữ chỉ được xem là công cụ sinh đẻ (nhưng vẫn thu hút được một lượng lớn nữ giới phục tùng). Mọi kết nối gia đình đều được khuyến khích (hoặc bị bắt buộc) cắt đứt;
  4. Các giáo phái có thể biến tướng trở thành mô hình lao động nô dịch (slave labour), nơi mà giáo dân bị yêu cầu phải làm việc cật lực để nuôi sống giới chức tôn giáo.

Tất cả những yếu tố này đều có khả năng vi phạm pháp luật ở mọi quốc gia.

*** 

Với những thông tin mở rộng nói trên, có lẽ cần đồng ý việc quản trị các hoạt động tôn giáo là một nhu cầu thượng tầng kiến trúc có cơ sở và chính đáng. Nhu cầu này không chỉ bảo vệ quyền lợi của nhà nước, mà trong nhiều trường hợp, bảo vệ quyền lợi của công dân, các định chế xã hội căn bản như gia đình hay đạo đức.

Vấn đề ở chỗ, chúng ta nên quản lý nó bằng công cụ nào và như thế nào.

Công an Tuyên Quang bắt chủ kênh Tiếng dân Tivi Lê Hà

VOA Tiếng Việt 

Chính quyền thành phố Tuyên Quang vừa bắt giam nhà báo độc lập Lê Mạnh Hà, chủ một kênh YouTube chuyên lên tiếng cho những người dân bức xúc về các tranh chấp đất đai và các vấn đề xã hội, theo tin từ gia đình.

Bà Ma Thị Thơ cho VOA hay chồng bà bị một nhóm các quan chức chính quyền bắt đi từ sáng sớm ngày 12/1 khi ông đến huyện Chiêm Hóa mời đám hỏi cho con gái và ông bị giải về nhà ở thành phố Tuyên Quang để khám xét nơi ở vào buổi trưa cùng ngày.

“Trong nhà có khoảng 30 người vào, còn ngoài kia có người chắn đường, có cả y tế, có khoảng tất cả 50 người, mặc sắc phục và thường phục.”

Sau khi lục soát nơi cư trú của gia đình ông Lê Mạnh Hà ở xã Kim Phú, chính quyền tịch thu một số vật dụng.

Bà Thơ cho biết:

“Cơ quan chức năng khám xét lấy đi hơn 20 quyển sách – toàn sách luật do nhà xuất bản Việt Nam sản xuất. Họ lấy hai cái laptop của nhà – của vợ một cái, của con một cái. Anh ấy làm kênh [YouTube] trên máy này nên người ta thu giữ hết, với lại cả cái điện thoại của tôi vì tôi theo dõi kênh của anh ấy bằng điện thoại của tôi”.

VOA đã liên lạc chính quyền thành phố Tuyên Quang và chính quyền tỉnh Tuyên Quang để tìm hiểu về vụ bắt ông Hà, nhưng chưa được phản hồi.

Thông báo của Công an tỉnh Tuyên Quang đề ngày 13/1 mà gia đình vừa nhận được cho biết ông Lê Mạnh Hà bị bắt theo Điều 117 “Tuyên truyền chống nhà nước”.

Nhà báo độc lập Lê Mạnh Hà, 52 tuổi, lập kênh Tiếng dân Tivi Tiếng nói của người dân Việt từ tháng 5/2018 với nhiều buổi phát trực tiếp. Kênh của ông là tập hợp tiếng nói đa dạng của những người dân không được đền bù thỏa đáng trong các tranh chấp đất đai, bức xúc trong xã hội, và lên án tệ tham nhũng.

“Chồng tôi chuyên giúp dân oan, như đi đòi đất đai. Việc của anh làm là đòi quyền lợi cho dân, chứ tôi không thấy có cái gì là “chống phá nhà nước”.

“Anh không vào hội, nhóm nào,” bà Thơ cho biết thêm.

Vào tháng 1/2022, ông Lê Mạnh Hà viết trên trang Facebook Lê Việt Hà về “cuộc chiến đấu không cân sức” trong việc bài trừ tham nhũng: “Ở Việt Nam, tham nhũng đã chiến thắng người dân. Vì tham nhũng được trang bị vũ khí hiện đại. Người dân không được trang bị vũ khí – ngoài chiếc điện thoại – để chống lại tham nhũng”.

Ông Lê Mạnh Hà là một trong những nhà báo độc lập, những người bình luận trên Facebook và YouTube mới nhất bị bắt hay xét xử tại Việt Nam vì lên tiếng chỉ trích chính quyền.

Ông Nguyễn Thái Hưng và vợ là bà Vũ Thị Kim Hoàng hôm 5/1 bị chính quyền tỉnh Đồng Nai bắt giam với báo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự.

Nhà báo độc lập Lê Trọng Hùng, một người nổi tiếng với các chương trình phát trực tiếp trên YouTube về các vấn đề tranh chấp đất đai và xã hội, vừa bị một toàn án ở Hà Nội tuyên phạt 5 năm tù hôm 31/12/2021 với cáo buộc “Tuyên truyền chống nhà nước”.

Hôm 13/1, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) viết trong một thông cáo rằng Chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm trọng các quyền dân sự và chính trị cơ bản, trong đó có các quyền tự do biểu đạt, ngôn luận, thông tin, lập hội và nhóm họp ôn hòa.

“Những người công khai phê phán chính quyền hay lãnh đạo Đảng Cộng sản trên mạng xã hội thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị sách nhiễu, đe dọa, theo dõi gắt gao, cản trở quyền tự do đi lại, bị hành hung thân thể và bắt giữ,” HRW nhận định.

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Tạ ơn Chúa đã ban cho con thêm một ngày mới để biết yêu thương nhau và những gì Chúa đã tạo dựng nên. Một ngày bình an và khoẻ mạnh nhé.

Cha Vương

Thư 4: 12/01/2022

GIÁO LÝ: Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào? Con người cần tôn vinh Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Người, và cư xử với chúng cách ân cần và có trách nhiệm. Con người, con vật, và cây cỏ, có cùng một Đấng Tạo hóa, Người đã dựng nên mọi loài bởi Tình yêu Người. Vì vậy, yêu thương các loài vật là tình cảm rất thâm sâu của con người. (YouCat, số 57)

SUY NIỆM: Con người được phép dùng cây cỏ và loài vật để nuôi sống mình. Tuy nhiên không được phép hành hạ và ngược đãi chúng. Khai thác trái đất một cách mù quáng là đối nghịch với phẩm giá của thụ tạo. (YouCat, số 57 t.t)

LẮNG NGHE: Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1:26)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Cha hằng có đời, vì yêu thương Cha đã tạo dựng muôn loài muôn vật từ hư không. Cha cũng đã ban cho loài người được hưởng tất cả những gì Cha đã dựng lên. Xin cho con biết tích cực cộng tác vào công trình sáng tạo của Cha để hoàn tất công trình sáng tạo của Cha cách hiệu quả hơn.

THỰC HÀNH: Quyết tâm bảo vệ môi trường sống cho sạch sẽ bằng cách không xả rác bừa bãi nơi chỗ ở và nơi công cộng.

From: Đỗ Dzũng

NHỚ ÔNG LÊ ĐÌNH KÌNH (1936-2020)

Lê Vi

NHỚ ÔNG LÊ ĐÌNH KÌNH (1936-2020)

Tôi và ông Lê Đình Kình khác nhau nhiều quá. Khác về vùng miền, về thế hệ, về nghề nghiệp. Nhưng quan trọng nhất là khác về ý thức hệ: Ông là đảng viên Cộng sản, và nghe nói, trước lúc chết, vẫn còn tin vào lý tưởng của đảng; còn tôi, ngược lại, bị đảng của ông xem như kẻ thù, đến độ cấm không cho về thăm gia đình. Tuy vậy, tôi vẫn bị ám ảnh về cái chết của ông mãi. Cả hai năm nay, thỉnh thoảng, tôi lại nghĩ đến ông. Và thấy xót xa cho ông.

Cứ tưởng tượng một ông già 84 tuổi, giữa khuya, lúc đang ngủ say trong nhà, bỗng dưng bị công an và quân đội ập vào nhà và bắn chết. Chưa hết, họ còn mang xác đi, mổ xẻ tanh bành, cả mấy ngày sau mới trả lại cho vợ con. Cũng chưa hết, con và cháu ông cũng bị bắt, và trong một phiên toà sau đó, người ta kết án tử hình hai người con trai và án chung thân đối với người cháu nội của ông. Giống như một bản án tru di tam tộc!

Nhớ đến những chuyện đó không phải chỉ để thương ông. Mà là để phẫn nộ giùm cho ông. Cái đảng ông vẫn tin tưởng đã coi ông như một kẻ thù và quyết tâm truy diệt ông đến cùng.

Thấy gì qua vụ án ấy? Thấy rõ một điều: Chính quyền độc tài nào cũng xem dân chúng là kẻ thù, khi cần, họ sẵn sàng dùng bạo lực để triệt hạ. Đừng nói chuyện thân dân hay cận nhân tình với họ. Vô ích.

– Nguyễn Hưng Quốc

Hai TNS Cộng Hòa khẳng định ‘Trump thua và Biden thắng bầu cử 2020’

Hai TNS Cộng Hòa khẳng định ‘Trump thua và Biden thắng bầu cử 2020’

January 11, 2022

WASHINGTON, DC (NV) – Trong hai phản ứng, cùng một vấn đề, tại hai thời điểm riêng biệt cùng ngày, hai thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hòa, ông Mike Rounds (South Dakota) và Mitt Romney (Utah) lên tiếng khẳng định: “Trump thua. Biden thắng bầu cử 2020.”

Chuyện khởi sự từ tuyên bố “bầu cử 2020 diễn ra công bằng” của Thượng Nghị Sĩ Rounds trong cuộc phỏng vấn trên chương trình This Week của đài truyền hình ABC News sáng Chủ Nhật, 9 Tháng Giêng.

Thượng Nghị Sĩ Mike Rounds (Cộng Hòa-South Dakota). (Hình: Patrick Semansky-Pool/Getty Images)

“Chúng tôi đã xem xét hơn 60 cáo buộc ‘gian lận bầu cử’ đưa ra ở nhiều tiểu bang khác nhau. Trong khi có một vài trường hợp bất thường, nhưng hoàn toàn không có những bất thường đến mức thay đổi toàn bộ kết quả bầu cử ở một tiểu bang,” ông Rounds tuyên bố. “Cuộc bầu cử diễn ra công bằng, như chúng ta đều chứng kiến. Đơn giản là chúng tôi, phía Cộng Hòa, không thắng chức tổng thống.”

Nổi giận ngay sau đó, cựu Tổng Thống Donald Trump, đưa ra tuyên bố phản bác ý kiến và kể công vị thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang South Dakota đạt chiến thắng là nhờ mình: “Ngay cả năm năm tới chưa tới lúc tay này tái tranh cử, tôi sẽ không bao giờ ủng hộ ‘thằng khốn’ này nữa.”

Ông Rounds thắng chức thượng nghị sĩ ở South Dakota với tỉ lệ 65% phiếu bầu.

Đến sáng Thứ Hai, 10 Tháng Mười Hai, không nao núng, ông Rounds giữ vững quan điểm gửi ra tin nhắn: “Tôi không ngạc nhiên trước phản ứng của cựu tổng thống, chỉ thất vọng. Tuy nhiên, sự thật không thay đổi. Ông Trump thua cuộc bầu cử 2020.”

Thượng Nghị Sĩ Mitt Romney (Cộng Hòa-Utah). (Hình: Greg Nash- Pool/Getty Images)

Thượng Nghị Sĩ Mitt Romney (Cộng Hòa-Utah), cũng trong ngày Thứ Hai, ca ngợi thái độ vững chãi của ông Rounds qua mẫu tin nhắn Twitter: “Mike Rounds đã nói lên sự thật. Nền Cộng Hòa của đất nước chúng ta phụ thuộc vào sự thật đó.” Ông Romney nhấn mạnh: “Joe Biden đã chiến thắng cuộc bầu cử 2020.”

“Chúng ta nên tập trung vào những vấn đề trước mắt, đừng ngoái đầu nhìn về quá khứ,” ông Rounds nhận định chiến thuật đánh phá những người cùng đảng Cộng Hòa, không chấp nhận lời nói dối bầu cử gian lận của cựu tổng thống, là sai lầm: “Tấn công người cùng đảng Cộng Hòa chắc chắn không phải là công thức đem lại chiến thắng cho các cuộc bầu cử.”

“Để tạo niềm tin nơi cử tri, theo tôi, chúng ta phải thành thật với họ. Chúng ta phải trung thực và thẳng thắn,” Thượng Nghị Sĩ Rounds khẳng định. (MPL) [qd]

Lăng mộ Nguyễn Bá Thanh và câu chuyện nhân quả ngay đời này

Lăng mộ Nguyễn Bá Thanh và câu chuyện nhân quả ngay đời này

Đàm Ngọc Tuyên

5-1-2022

Vài ngày trước, trên đường đi về thăm quê vợ của thằng bạn, ở Điện Bàn, Quảng Nam, xe xuất phát từ ngã ba Huế. Đến tỉnh lộ 605 thì quẹo phải, hướng Hòa Tiến, Hòa Vang, Đà Nẵng, đi ngang khu lăng mộ ông Nguyễn Bá Thanh, nên tôi nói dừng lại. Bạn tôi ngạc nhiên hỏi: “Mày vào thắp hương à?!”. Tôi trả lời bạn rằng: “Tao có thể thành kính thắp hương cho một ngôi mộ vô chủ ven đường, nhưng quan chức trong thời đại này thì không”.

Từ đường tỉnh lộ 605, quẹo phải đi vào tầm 300 mét, là đến lăng mộ Bá Thanh, nằm bên phải mặt tiền đường. Đập vào mắt chúng ta là cái cổng khu lăng mộ đồ sộ nguy nga, đá làm cổng là loại đá con ong, có thể được đưa từ Tây Ninh về, còn những cánh cổng bằng gỗ, điêu khắc cầu kỳ. Để dễ hình dung, mức độ rộng lớn, tôi không ghi hình cái cổng, mà chụp từ phía sau ngôi mộ, phần mặt tiền đường, như bức hình, mới thấy dài tít tắp.

Đường vào lăng mộ Nguyễn Bá Thanh. Nguồn: Đàm Ngọc Tuyên

Quả thật chỉ bằng với lăng mộ này, đã phổ quát câu đồng dao của những người dân Đà Nẵng hiểu chuyện: “Con cá dưới nước, con chim trên trời cũng của Bá Thanh”.

Đương nhiên những người hiểu chuyện, đều biết rằng, đến tận khi chết đi, người ta vẫn còn cướp đất của hàng trăm ngôi mộ, buộc phải di dời đi nơi khác, đặng chôn cất, xây lăng tẩm này. Trong khi đó, khu nghĩa địa này vẫn còn nhiều nơi trống, vấn đề là phải xây lăng mộ ở mặt tiền đường chăng? Cho dù lý do nào, thì cũng quá bất nhân.

Những bất nhân của đời cha, đã có quả ngay trong đời này đó thôi. Người ta nói rằng, ngày ấy, Bá Cảnh là người con trai duy nhất Bá Thanh, khi cha chết, vẫn còn lắc lư trong tiếng nhạc quay cuồng. Nhưng chút tỉnh táo còn sót lại, vẫn biết ngửa tay xin tiền xây mộ phần cho cha, đến 9 tỷ đồng, từ một tập đoàn từng phá nát Sơn Trà, mà Bá Thanh có công giúp họ, khi còn đương nhiệm. Sau đó, Bá Cảnh phó mặc cho họ làm, mà không cần quan tâm người vừa nằm xuống là ai? Nhân quả đến ngay đời này.

Thật ra, có quá nhiều kẻ độc ác, bởi quyền lực, tiền bạc khiến họ như con thiêu thân nhảy vào ánh đèn. Thành thử họ không quan tâm đến nhân quả – một việc tất yếu sẽ xảy ra, vấn đề thời gian thôi. Mà nếu liệt kê ra hết, thì bút mực nào cho xuể. Như một Trần Bắc Hà khiến bao quan chức ở Bình Định sợ sệt, khúm núm. Nhưng cuối đời, mạng bỏ trong tù, còn gia đình ly tán, tội tù khắp nơi, không còn một nẻo về.

Hay như cựu chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi, khi vừa về hưu mới đây, thì vợ dẫn trai về ở ngay trong ngôi biệt phủ, mà đất đai và tiền bạc xây thành, hẳn không cần nói ra, chúng ta đều ngầm hiểu, là từ đâu mà có. Lúc này, Trần Ngọc Căng, mới buồn đời, lên sống ở một tỉnh thuộc Cao nguyên Trung phần, như cách xa rời sự ô nhục vậy.

Nhưng, nhân quả thì có chạy trốn khắp bầu trời, vẫn khó thoát. Đến Lâm Đồng, trong một lần đi ăn sáng, vị cựu chủ tịch gặp lại những đồng bào Quảng Ngãi, mà họ đã mất đất bởi Ngọc Căng. Thế là giống như câu chuyện vị cựu quan chức ở Gia Lai, được đồng bào ta ụp hẳn tô phở lên đầu.

Những ngày cuối năm, ngồi nhớ lan man, viết ra như thể dặn chính mình, và mấy đứa quan chức, thôi hãy bơn bớt ác lại một chút, đừng ngấu nghiến xương máu đồng loại nữa. Kiếp nhân sinh ngắn lắm, nhưng tiếng rủa nguyền còn mãi theo tháng năm.