VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

Có thể nói nhạc xuân là một phần quan trọng của việc đón xuân. Nhất là đối với những kẻ tha hương. Ngày xưa, Tết đi đôi với mai vàng, pháo nổ, bánh chưng, hạt dưa, đánh bài, xông đất, hái lộc. Từ khi có cassette, rồi băng nhạc, rồi video, rồi CD, rồi DVD, thì nhạc – và nhạc xuân – đã đi vào từng ngõ ngách của đời sống.

Nghe nhạc xuân không giống như nghe nhạc tình hay nhạc êm dịu. Nhạc xuân không để nghe một mình. Nhạc xuân không để ru dỗ giấc ngủ. Nhạc xuân là cái gì chung, phải mở lớn ra cho mọi người cùng nghe. Đã thế, không phải là ngồi yên lặng mà phải vừa nghe vừa làm một cái gì đó. Chẳng hạn như nhậu, đánh bài, nấu nướng, cúng quẫy, trò chuyện râm ran về xuân hoặc dọn dẹp nhà cửa. Nhạc xuân có tính chất “hâm nóng” thêm không khí Tết. Nó lan tỏa mọi nơi, chan hòa.

Tuy nhiên, nhạc xuân từ sau năm 1975 rất nhiều ca khúc của các nhạc sĩ viết về xuân. Nhưng lại rất ít bài khi nghe mà lòng mình thấy nôn nao xuân về, mặc dù trong ca từ nhắc đến từ xuân rất nhiều, nhưng vẫn không thấy xuân… Đó là điều đáng buồn…

Và ngược lại hầu hết những ca khúc xuân đi vào lòng người yêu nhạc lại nằm ở thời điểm sáng tác trước năm 1975 rất bất hủ, mỗi khi nghe, lòng người thấy rộn ràng, tươi trẻ…mọi điều phiền muộn đều được cởi bỏ ra khỏi tâm hồn mình và có cảm giác như mùa xuân đang đến bên lưng….

Về ca khúc Gái Xuân

“Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”.

“Gái xuân” nay đã 69 tuổi. Nhưng sức hút của ca khúc này như cô gái tuổi “teen”, vẫn trẻ mãi không già, cho dù người thi sĩ sinh ra “cô” đã hóa thành người thiên cổ từ lâu, và người nhạc sĩ nuôi nấng/tô điểm cho “nàng” giờ đây đã bước sang tuổi 90. Có thể nói, trong danh mục bài hát Việt, nói về mùa xuân, ngày càng dài thêm, thì “Gái Xuân” vẫn là một trong những nhạc phẩm đặc sắc nhất.

Hát thì cứ hát, nghe thì cứ nghe, nhưng có mấy người biết “Gái Xuân” đã ra đời như thế nào? Phần lớn, người ta chỉ biết “Gái xuân” là một trong những bài thơ hay của thi sĩ Nguyễn Bính, được phổ nhạc một cách xuất thần. Nhưng ít ai biết, người đã thổi âm điệu cho hồn thơ đó bay cao chính là Từ Vũ.

Tên khai sinh của Từ Vũ là Trần Đỗ Lộc. Ông sinh năm 1932 tại Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Tây, Hà Nội). Năm 1950, ông theo gia đình vào Nam sinh sống.

Mùa xuân năm 1953, chàng trai Từ Vũ tròn 21 tuổi, sống kiếp tha phương giữa đất Sài Gòn hoa lệ, không có gia đình, người thân, bạn bè bên cạnh. Ông nằm trên gác trọ tìm quên nỗi buồn bằng sách báo cho vơi nỗi nhớ nhà. Bất chợt ông tìm thấy trong đống sách báo lộn xộn đó tập thơ “Mây Tần” của thi sĩ Nguyễn Bính. Khi đọc đến bài “Gái xuân”, một bài thơ rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 2 khổ, 8 câu, ông đã rung động tận đáy lòng. Nhạc sĩ Từ Vũ nói: “Tôi không thể nén được cảm xúc khi đọc câu “Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”.

Đích thị đây phải là một cô gái Hà Đông, quê tôi. Bởi lẽ, không chỉ lụa Hà Đông đã nổi tiếng từ ngàn xưa trên đất Bắc, mà gái Hà Đông cũng nổi tiếng đẹp đẽ, ngoan hiền, dịu dàng như lụa. Chẳng kém cạnh gì những cô gái quan họ Bắc Ninh. Rồi thì “…Đôi tám xuân đi trên mái tóc/ Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”. Thi sĩ Nguyễn Bính đã diễn tả tâm trạng cô gái quá tài tình. Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ dăm ba lần là “ngấm” ngay vào máu, vào tim. Trong giây phút xuất thần, tôi viết ngay một mạch, không chỉnh sửa gì cả. Thế là thành nhạc phẩm “Gái xuân”. Ông quả quyết: “Mọi lãnh vực sáng tác, kể cả âm nhạc đều tùy vào “thần hứng”. Không phải lúc nào cái giây phút thăng hoa, khiến tâm hồn mình bay bổng cũng đến. Một đời, đôi khi “thần hứng” chỉ đến một đôi lần, nếu không kịp ghi lại cảm xúc tuyệt vời đó là coi như chẳng có được gì”.

Nhạc sĩ tiết lộ: “Có một điều, nguyên tác ‘Gái xuân’ của Nguyễn Bính ngắn quá”:

Khi phổ nhạc, chẳng lẽ cứ lặp đi, lặp lại bấy nhiêu lời. Thành thử Ông mạn phép tác giả, thêm 2 câu trong khổ thơ này:

Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân,

Cô gái trông xuân đến bao lần.

Sau khi hoàn thành “Gái xuân” cho đến khi bài hát được thịnh hành rồi đi vào lòng công chúng, mãi mãi tôi không một lần được gặp Nguyễn Bính để nói với ông một vài lời. Lòng tôi áy náy lắm! Không biết thi sĩ có gì trách móc hay không?

Không ai có thể nói thay Nguyễn Bính, 2 câu mà ông thêm vào nghe cũng rất … Nguyễn Bính, và cũng chẳng kém phần tài hoa, đã nhập với toàn bộ bài thơ một cách hài hòa. Do đó, chắc Nguyễn Bính cũng vui lòng, bởi sự thêm thắt không làm mất đi giá trị của nguyên bản.

Từ Vũ có đến 20 ca khúc, và một số bài hát ngoại quốc do ông đặt lời Việt. Tuy nhiên, nhắc đến ông, người ta chỉ nghĩ đến “Gái xuân”. Ca khúc này đã đưa ông lên hàng “chiếu trên” của làng âm nhạc VN.

“Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Chúng ta chắc đều thắc mắc không biết Sông Vân ở đâu? – Trả lời khi được phỏng vấn Nhạc sĩ cho đó là một dòng sông rộng lớn và rất đẹp chảy qua làng Vân Tử, phủ Thường Tín, Hà Đông, nơi các cô gái thường đến giũ lụa (Hà Đông). Nhưng theo thời gian vật đổi sao dời, hiện nay chỉ còn là một làn nước chảy.

Vân cũng là tên người con gái ông yêu (Thanh Vân), mặc dù chỉ trong một niên học, mà ông muốn viết bài hát này để tặng cô ấy, nhưng sau đó cô ta đã xuất ngoại.

Một ca khúc được nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp hát, mỗi người một chất giọng, một phong cách khác nhau, nhưng hầu hết họ đều thể hiện thành công. Đó chính là điểm đặc sắc của Từ Vũ. Nói như giọng hát vượt thời gian Thái Thanh: “Bởi vì tự thân “Gái Xuân” quá hay, khó mà hát dở cho được”. Khởi thủy, Từ Vũ viết “Gái Xuân” bằng điệu Tango dồn dập, lôi cuốn một cách sang trọng. Nhưng về sau, nhiều ca sĩ lại chuyển sang điệu Rumba, rồi Chachacha, với tiết tấu trẻ trung, phần phối âm, phối khí hiện đại, đã khoác cho ca khúc này một chiếc áo mới. Từ Vũ nhận xét: “Sự chuyển thể này tôi nghe cũng thấy hay, rộn ràng và tươi trẻ hơn. Vấn đề là vẫn giữ được cái hồn và tình cảm của ca khúc”.

Điều đặc biệt “Gái xuân” là nhạc phẩm mang âm hưởng miền Bắc đã trở thành món ăn tinh thần được yêu quý ở miền Nam. Từ ca sĩ đến người dân miền Nam chưa một lần đặt chân đến đất Bắc nhưng vẫn hào hứng hát: “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/ Gái xuân rũ lụa bên sông Vân”. Chính ca khúc này đưa nhạc sĩ Từ Vũ ngang hàng với các nhạc sĩ nổi tiếng ở thế hệ trước. gần 70 năm sau, ca khúc “Gái Xuân” vẫn sống khỏe qua các thế hệ ca sĩ và trở thành một nhạc phẩm thân thuộc không thể thiếu trong dịp tết đến xuân về từ Nam ra Bắc.

Theo lời kể của nhạc sĩ Từ Vũ khi ra mắt “Gái Xuân”, ông đã nhờ nữ ca sĩ Linh Sơn hát đầu tiên, nhưng ông không lấy làm hài lòng cho lắm. Một hôm, tình cờ gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn, bà trách ông sao không tặng bà bài “Gái Xuân”? Ông đã viết vội ca khúc này lên một mảnh giấy và trao cho Tâm Vấn. Sau đó, Từ Vũ theo gia đình ra Phan Thiết và chưa được nghe Tâm Vấn hát một lần nào cả. Nhưng theo lời bạn bè kể cho ông thì Đài Phát thanh Sài Gòn đã thường xuyên phát đi, phát lại ca khúc “Gái xuân” với tiếng hát Tâm Vấn, rất được công chúng ưa thích.

Một buổi tối cuối năm 1953. Từ Vũ rảo bước lang thang trên dường phố Phan Thiết, bỗng dưng từ loa phóng thanh công cộng của Ty Thông tin Phan Thiết, tiếp sóng Đài Phát thanh Huế vang lên điệu nhạc Tango của bài “Gái Xuân” qua tiếng hát của nữ ca sĩ Diệu Hương. Từ Vũ đã xúc động đến trào nước mắt. Đó là lần đầu tiên Từ Vũ gặp lại đứa con tinh thần của mình kể từ khi ông cho nó ra đời. Dù ông không biết Diệu Hương là ai, và đó là lần đầu ông mới nghe tên, thế mà cứ thẫn thờ, tiếc nuối! Biết bao giờ mới được nghe lại thêm lần nữa. Tối hôm đó, Từ Vũ không chợp mắt được. Ông nằm thương nhớ “Gái Xuân” vang vọng mãi trong hồn giọng hát từ xứ Huế xa xôi.

Sau Linh Sơn, Tâm Vấn, Diệu Hương, đến lượt Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan, Hoàng Oanh, Lan Ngọc, Hương Lan, Băng Tâm, Ý Lan, Ánh Tuyết… và nhiều ca sĩ danh tiếng của thế hệ kế tiếp như: Trang Nhung, Quang Linh, Cẩm Ly, Hiền Thục, Hồng Ngọc, ban tam ca Áo Trắng, ban tam ca 3A…cũng hát “Gái Xuân”. Nhất là vào dịp tết, cùng với “Ly Rượu mừng”, “Xuân và Tuổi trẻ”, “Gái Xuân” là 3 ca khúc kinh điển, luôn vang lên trong từng mái ấm gia đình VN ở trong nước cũng như nhiều nơi trên khắp thế giới. Khi nghe ban tam ca Áo Trắng tập bài “Gái Xuân”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Hồi mới lớn, ‘moa’ đã rất thích bài này. Có thể nói, tết mà thiếu ‘Ly Rượu mừng’, ‘Xuân và tuổi trẻ’, ‘Gái xuân’ là đã mất đi một nửa mùa xuân”. 

– Đầu xuân 20022, mời các bạn nghe NGÂM THƠ Gái Xuân:

https://www.youtube.com/watch?v=D1QzJEo4tM4

Và xuân Nhâm Dần – tết con cọp, mời thưởng thức Gái Xuân (Ý Lan):

https://www.youtube.com/watch?v=W_jtxllV7v0

VĂN KÝ tổng hợp

From: TU-PHUNG

Tình cờ gặp thượng đế

Tình cờ gặp thượng đế

  Đối với cuộc đời mỗi người, quan trọng nhất là: biết yêu thương, trân trọng và thứ tha cho những người chung quanh lẫn cả bản thân mình.

Một hôm, Thượng đế ghé xuống thăm trần gian, thì gặp một nhà hiền triết đang nghiên cứu vấn đề đời người. Thượng đế đi đến trước mặt nhà hiền triết dưới hình dạng một ông lão và nói:

– Ông cũng không hiểu nổi sự đời, vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu được không? Chúng ta chỉ bàn luận về sự đời, xong rồi tôi sẽ đi, không cần nói những vấn đề khác.

Nhà hiền triết dù không biết cụ già đang đứng trước mình là ai, nhưng vẫn chấp nhận trò chuyện cùng ông lão lạ mặt. Nhà hiền triết nói:

– Tôi đang suy ngẫm về con người, cụ à. Càng tìm hiểu, tôi càng cảm thấy con người là một động vật đặc biệt. Đôi lúc rất thông minh, nhưng đôi lúc lại vô cùng ngu dốt, lại thường đánh mất lý trí khi gặp vấn đề lớn.

Thượng đế cảm khái:

– Điểm này tôi đồng ý, họ ghét thời gian tốt đẹp lúc nhỏ, vội vàng trưởng thành, nhưng trưởng thành rồi lại muốn cải lão hoàn đồng. Lúc khỏe mạnh thì họ không biết trân trọng sức khỏe, luôn muốn dùng sức khỏe đổi lấy tiền tài, sau đó lại lấy tiền tài mua sức khỏe. Họ luôn lo lắng về tương lai, nhưng lại thờ ơ với hiện tại, kết quả là không thể sống ở cả hiện tại lẫn tương lai. Họ sống theo cách tưởng chừng không bao giờ chết, nhưng lúc chết đi thì giống như chưa từng sống, còn có người nói đời người như một giấc mộng…

Nhà hiền triết nhận thấy lý luận của người đang đối thoại với mình rất sâu sắc, liền nói:

– Nghiên cứu vấn đề cuộc đời con người phải chăng sẽ rất phí thời gian? Cụ nghĩ thế nào?

– Với riêng tôi, thời gian là vĩnh hằng. Tôi nghĩ nếu con người thật sự hiểu được giá trị của thời gian, cũng sẽ hiểu rõ sự đời…

Nhà hiền triết im lặng lắng nghe. Sau đó ông yêu cầu cụ già rút ra kết luận về đời người. Thượng đế móc từ trong túi áo ra một cuốn sách dày, bên trên có viết mấy dòng chữ:

“Làm người hãy nhớ rằng không thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Quan trọng nhất không phải có được gì, mà là sống như thế nào và có được bạn bè thế nào.

Sự giàu có không phải là chiếm hữu nhiều thứ mà là khi có ít lòng tham.

Làm tổn thương một người chỉ cần vài giây, nhưng muốn chữa lành vết thương phải mất rất nhiều thời gian. Có người yêu bạn thật lòng nhưng lại không biết bày tỏ thế nào.

Yêu thích một đóa hồng không nhất thiết phải cắt hết gai của nó. Nếu không muốn bản thân bị tổn thương thì cũng đừng nên làm tổn thương người mình yêu thương.

Thứ quý báu nhất mà tiền không thể mua được chính là hạnh phúc.

Tha thứ cho người khác hay được người khác tha thứ vẫn chưa đủ, ta còn phải biết tha thứ cho bản thân.

Và quan trọng nhất: Đôi khi cần biết bỏ qua, bỏ qua được thì sẽ đổi thay được”.

Nhà hiền triết xem xong, cảm động nói:

– Chỉ có Thượng đế mới có thể…

Ông ngẩng đầu lên thì cụ già đã biến mất rồi.

(Theo hatgiongtamhon)

From: TU-PHUNG

Ba người phụ nữ Đồng Tâm và 730 ngày phải sống

Ba người phụ nữ Đồng Tâm và 730 ngày phải sống

“Bố và chồng tôi chỉ làm điều đúng: đòi đất cho dân làng.

 08/01/2022

 MAY

Đồ họa: Luật Khoa.

Dư Thị Thành

Trần Thị Hương

Hoàng Thị Hoa

Những người phụ nữ ấy đã từng đứng ngoài gần như tất cả các quyết định quan trọng của gia đình. Tên của họ thi thoảng xuất hiện đâu đó như những người bên lề trong cuộc tranh đấu đất đai của dòng họ Lê Đình thôn Hoành, lẫn trong rạng sáng ngày mà công an Hà Nội nổ súng tấn công vào chính ngôi nhà của họ. Hai năm – 730 ngày đã qua sau sự kiện ấy, ba người phụ nữ – có chồng bị giết hoặc bị án tử treo lơ lửng trên đầu, có con trai chung thân tù tội – bằng cách này hay cách khác, vẫn phải sống tiếp.

Người viết đã gặp và lắng nghe câu chuyện của họ. Những dòng dưới đây được ghi lại theo lời kể của từng người.

***

Tháng Chạp, đất ruộng hai bên đường vào làng đã được vỡ sau vụ mùa, trời còn chưa tỏ, rét căm căm, sương phủ mịt mờ, anh Công đã lai tôi ra chợ bán thịt lợn. Chợ xa lắm, cách nhà hơn 35km, nhưng đi hoài cũng quen, giáp Tết, khách đông, phải đi bán thật sớm. Đến chợ, vợ bày hàng. Kẻ bán, người mua, tiếng rao ồn ào, chồng vẫn nằm dài trên cây Wave ngủ ngon lành. Có lần một bé gái theo bà đi chợ thấy nắng lên rồi mà anh vẫn ngủ say bèn giả làm con gà trống gáy ò o gọi anh dậy. Mỗi lần nhớ đến chuyện cũ tôi lại thấy buồn cười. Đó là những ngày tháng vất vả nhưng hạnh phúc nhất của vợ chồng.

Cũng là tháng Chạp, khi hai thằng con trai của tôi –  Uy và Doanh – đã lớn và cưới vợ, chúng nó hay cùng anh họ qua Hưng Yên đánh đào, quất về bán cho người làng chưng Tết. Tụi nó lanh lẹ, đi buôn năm nào cũng mát tay. Năm đó, lẽ ra mấy anh em đã đặt cọc tiền cho chủ vườn nhưng lại không ưng ý đám quất nên quay về… Và rồi súng nổ.

Nhà tôi chẳng còn gì. Sẽ không bao giờ có tháng Chạp bình yên trở lại.

Chồng bị án tử. Một thằng con bị chung thân, đứa nhẹ thì 5 năm. Tôi không dám khóc trước mặt các con dâu. Hồi xưa, tôi chỉ biết đi chợ, lo cơm nước cho chồng, chăm con rồi giữ cháu, nhưng giờ tôi là trụ cột chính của gia đình. Suy sụp rồi cũng tự đứng dậy. Phải nghĩ là mình có suy nghĩ thêm cũng chẳng giải quyết được gì. Án tử đã ra. Người bị tù phải ở tù. Người ở ngoài cần phải làm ăn mới có thể sống tiếp. Sáng tôi bán trái cây, chiều bán thêm cây cảnh rồi phụ con dâu trông cháu. Tôi mà lăn ra ốm thì hai đứa con dâu, mấy đứa cháu nội, ba con người trong tù sẽ ra sao. Mình là mẹ chồng, là bà nội, là chỗ dựa tinh thần của đám đàn bà, trẻ con trong nhà lúc này, nên mình phải vui vẻ để chúng an tâm. Không được phép ngã quỵ, tôi khóc lúc không có ai.

Chỉ sau phiên tòa phúc thẩm, tôi mới được gặp chồng và các con. Lần đầu tiên nhìn thấy mặt vợ, mẹ và các cháu nội sau biến cố, anh không nói được gì. Người anh gầy rộc, hai chân bị xích lại, một tay bị xích vào ghế, một tay cầm ống nghe, khóc và chỉ khóc. Tôi không biết anh có còn đủ sức nghe những điều mà đêm hôm trước, tôi đã sắp xếp, chuẩn bị sẵn những gì cần nói để anh an lòng. Gần 20 phút nhìn nhau qua cửa kính, anh chỉ kịp nhắn lần sau nhớ gửi đồ ăn, quần áo nhiều thêm một chút để chia cho người bạn cũng án tử chung phòng, không có người thân đến thăm. Lần thứ hai, anh dặn đi dặn lại vợ không được làm đơn xin giảm nhẹ tội cho anh. Trong ấy, cán bộ động viên anh viết đơn cầu xin chủ tịch nước ân xá nhưng anh nhất quyết không chịu. Không được ăn học nhưng tôi cũng nghĩ giống anh, viết cái đơn xin đồng nghĩa với việc mình có tội. Chồng tôi vô tội. Mà chắc gì viết đơn, người ta đã tha cho, hay lại lấy đó buộc tội mình.

Hơn 30 năm lấy nhau, có với nhau hai mặt con, mọi chuyện lớn bé trong nhà, anh là người quyết. Hồi anh nghỉ đi chợ với vợ, ở nhà phụ bố lo giấy tờ đòi đất đai, tôi không một lời can ngăn vì nghĩ đó là việc anh phải làm. Thỉnh thoảng, tôi có thầm mong mấy bố con bỏ hết kiện tụng, tập trung làm kinh tế, lo cho gia đình; nhưng rồi lại nghĩ mình là đàn bà, là người ngoài cuộc nên mới dễ dàng nghĩ thế; còn bố chồng và chồng tôi là người trong cuộc, biết rõ ngọn ngành, nên sẽ càng bức xúc, ức chế.

Tôi nhớ, bố chồng hay nói: mình biết có sai phạm mà không làm gì là có tội với dân. Đến giờ, tôi vẫn không ân hận về quyết định của những người đàn ông trong nhà, các con dâu tôi cũng không một lời trách móc. Mà họ đã làm điều gì xấu xa để vợ con ân hận? Bố và chồng tôi chỉ làm điều đúng: đòi đất cho dân làng.

Thấy mẹ rang lạc với muối, hai đứa con gái bảo: bố thích món này lắm.

Mâm cơm chiều có món canh chua, canh cua, hai đứa lại bảo: hồi ở nhà, bố rất thích ăn món này.

Thằng con trai út ra đời 15 ngày sau khi bố bị bắt chắc lớn lên sẽ chẳng có ký ức nào về bố, ngoài con tôm bố ở trong tù lấy bao nilon làm và tết sai tên nó là Huy. Con trai anh tên Duy nhưng hồi trước phiên toà, luật sư vào gặp nói nhầm thành Huy. Anh cũng không nhận ra con vào lần đầu gặp lúc nó đã hơn một tuổi, lớn và khác so với cái ảnh chụp hồi mới sinh bé tí ti mà tôi nhờ luật sư mang vào. 

Anh gầy, đen, yếu đi nhiều. Cái não của anh bị lõm xuống, tôi vẫn thấy chỗ lõm ấy sau lớp tóc. Họ đã bắn, và đánh đập anh. Lần cuối tôi được đến thăm anh là hồi tháng Bảy năm ngoái, anh nói bị đau đầu, cần thuốc hoạt huyết dưỡng não nhưng cán bộ trại giam không cho người nhà gửi thuốc vào. Họ cũng từ chối bức hình ba đứa con của anh.

Cầu thang trong nhà hai năm qua vẫn thiếu cái lan can. Vợ chồng chưa đủ tiền xây thì người ta nổ súng. Bỗng dưng tôi thành trụ cột gia đình, vừa thêu quần áo vừa trông con nhỏ. Nhiều việc cần đàn ông trong nhà. Cái ống nước hỏng, bóng đèn hư cần sửa, ba đứa con đang lớn. Tôi rất sợ thằng Duy lớn lên mà không có bố, một mình tôi không đủ sức dạy. Nó đã chịu nhiều thiệt thòi từ lúc mới sinh, mẹ vì suy sụp mà tắt sữa, phải bú toàn sữa ngoài.

Tôi không được phép khóc vào ban ngày vì sợ các con gái thấy. Tôi đang nói dối chúng vài năm nữa bố sẽ về. Mong ở trong ấy, anh viết đơn xin giảm nhẹ, nhưng rồi cũng sợ, anh viết đơn lúc không minh mẫn thì lại theo hướng người ta muốn. Chồng tôi đã làm gì có tội?

Anh đi làm thuê cả ngày, lúc làm cốp pha, lúc sơn tường; suốt nhiều năm không tham gia vào chuyện đất đai của bố và anh trai. Anh chỉ sang nhà bố vào đêm hôm ấy để bảo vệ ông. Giá như đêm hôm ấy, tôi bắt anh đi cùng mình và các con về ngoại. Nếu anh đi cùng thì giờ này anh vẫn ở đây với bốn mẹ con. Anh nóng tính, ăn nói cộc cằn, không gọi vợ là “em” mà thường là “mẹ mày” nhưng lại rất chiều vợ. Đã hai cái Tết tôi không dám ra đường vì sợ nhìn thấy những cặp vợ chồng đèo nhau.

Miếng keo mấy đứa cháu dán bít lại lỗ đạn trên cửa được vài tuần lại rớt xuống. Đôi lần như vậy, bọn nhỏ bỏ cuộc. Giờ cánh cửa vẫn loang lổ vết đạn, vệt nứt trên kính cứ lan rộng dần, chẳng biết bao giờ sẽ vỡ hẳn ra.

Hồi trước, công an bảo sẽ thay mặt kính trên cửa nhưng tôi không chịu. Họ đã bắn ra thế nào, thì cứ để nguyên như vậy. Những lỗ thủng to, nhỏ vẫn nằm im trên tường, dưới gian bếp, thành lan can, khắp căn nhà trong hai năm qua. Nhọ đen của khói lựu đạn cay cũng vậy, bám chặt từng vệt trên sàn, có cố chà thật kĩ cũng không trôi. Tôi sẽ sống với chúng, trong căn nhà này, đến lúc chết.

Ngày giỗ lần hai của ông Kình, tôi sẽ không làm cỗ to như lệ làng. Làm to làm gì, thằng Công, Chức, Uy, Doanh ở trong kia có ăn được đâu. Phần tôi còn mấy sào ruộng đủ sống qua ngày đến lúc chết. Nhưng phần Công, Chức, tôi không biết nghĩ thế nào. Lần cuối tôi nhìn thấy mặt con là tháng Bảy năm ngoái, rồi vì dịch bệnh họ không cho vào thăm nữa. Ống chân của chúng nó hồi đó bị xích lại, gầy đét, trơ xương. Thằng Chức bị một viên đạn găm vào đầu, đầu nó bị lõm một lỗ, như vết thủng trên tường nhà bố nó vậy. Có người bị giam chung trại với nó được tha về kể, thỉnh thoảng Chức lên cơn điên. Nó bị đau đầu, kêu gào, la ó mãi người ta mới đưa thuốc cho. Họ sẽ tử hình nó và thằng Công. Nếu mình xin nhà nước khoan hồng, khác nào mình nhận tội, rằng chúng nó đã giết người. Mình chỉ nên viết đơn đề nghị thôi đúng không? Không xin xỏ, chỉ đề nghị. Tôi già rồi, không biết nghĩ thế nào mới phải.

Mỗi lần leo cầu thang lên tầng thắp hương cho chồng, chân lại nhói đau. Cái chân của tôi không còn đi đứng thẳng thớm được nữa. Tai lúc nào cũng ù ù do tiếng đạn nổ ngày hôm đó và cả do công an tát vào đầu mấy cái liền lúc trên đồn. Năm ngoái, tôi đi miền Nam chữa bệnh, công an đến hỏi có phải đi miền Nam nhận tiền khủng bố không. Có giải thích nhưng chắc gì họ tin. Tôi biết, làng xóm người ta vẫn thương gia đình mình nhưng chắc là bị chính quyền dọa, sau ngày tòa xử, nhiều người không còn hỏi thăm mình như trước. Nhưng kệ họ thôi. Cái giấy báo tử của ông Kình, tôi cũng kệ luôn rồi, không thiết lên xã đòi nữa.

Này, có khách tới à? Chén tách lâu ngày không ai sờ tới nên lạnh tanh. Uống tạm nước đun nhé. Từ sau buổi sáng hôm ấy, nhà tôi đã không còn dùng trà. Còn ai sống nữa đâu mà mua về. Chỉ tại ông Kình mãi tin vào Đảng, tin ông Nguyễn Phú Trọng. Đến cuối đời, ông ấy vẫn kiên quyết với tôi: Đảng không bao giờ làm việc xấu. Lúc sống ông như vậy, nên mấy tấm bằng khen của Đảng, nhà nước trao cho đảng viên Lê Đình Kình, tôi vẫn giữ gìn, treo cả ở phòng khách. Đối diện với chúng là cánh cửa kính đầy vết đạn mà công an bắn vào.

HRW: Việt Nam bắt giữ, xét xử hàng chục nhà hoạt động trong năm 2021

HRW: Việt Nam bắt giữ, xét xử hàng chục nhà hoạt động trong năm 2021

Đăng ngày: 13/01/2022 

Phiên tòa xét xử các nhà báo, blogger Phạm Chí Dũng (P), Nguyễn Tường Thụy (T) và Lê Hữu Minh Tuấn (thứ ba bên trái) tại tòa án TP Hồ Chí Minh. Ảnh do VNTTX công bố ngày 05/01/2021. AFP – STR

Thanh Phương

Hôm nay, 13/01/2022, tổ chức nhân quyền của Mỹ Human Rights Watch công bố Báo cáo Thế giới 2022. Trong phần nói về Việt Nam, tổ chức này ghi nhận là trong năm 2021, chính quyền Việt Nam đã bắt giữ và xét xử hàng chục nhà hoạt động nhân quyền.

Theo Human Rights Watch, trong năm 2021, năm mà dịch Covid hoành hành dữ dội, đảng Cộng Sản họp Đại Hội lần thứ 13 và bầu cử Quốc Hội được tổ chức, chính quyền Việt Nam đã tống giam ít nhất 63 người vì đã bày tỏ chính kiến hoặc tham gia các nhóm bị coi là chống chính quyền, trong số đó có nhiều người đã bị tuyên án tù rất nặng nề « sau các phiên xử bất công ». 

Ông Phil Robertson, phó Giám đốc Ban Á Châu của HRW nói: « Chính quyền Việt Nam núp bóng đại dịch Covid-19 để tiến hành đàn áp nặng tay đối với các hoạt động ôn hòa, nên đa phần các vụ này không được bên ngoài Việt Nam biết đến ». Cũng theo ông Robertson, dường như chính quyền « muốn xóa sổ phong trào bất đồng chính kiến đang lớn mạnh bằng các án tù tàn khốc », trước khi thế giới chú ý trở lại đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam. 

Cụ thể, theo báo cáo của HRW, vào tháng 1/2021, ba thành viên của Hội Nhà báo Việt Nam Độc lập (Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn) đã bị kết án từ 11 đến 15 năm tù. Đến tháng 5, nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư lãnh án mỗi người 8 năm tù. Vào tháng 7, đến lượt nhà văn Phạm Chí Thành bị xử 5 năm rưỡi tù giam. 

Sau đó vào tháng 10, một tòa án ở Cần Thơ xử phạt năm thành viên nhóm Báo Sạch (Trương Châu Hữu Danh, Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng, Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã) từ 2 đến 4 năm rưỡi tù giam. Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội tuyên truyền chống nhà nước theo điều 117, hoặc tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước theo điều 331 của Bộ Luật hình sự. 

Trong bản báo của HRW, phó giám đốc ban Á Châu Robertson kêu gọi: « Các nhà tài trợ quốc tế của Việt Nam nên ngưng việc ngoảnh mặt làm ngơ trước tình hình nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam và nên gây sức ép với giới lãnh đạo nước này để chấm dứt việc người dân Việt Nam phải chịu đau khổ nhiều hơn nữa ».

Trí thức là ai?

Trí thức là ai?

Nguyễn Văn Tuấn

Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales

Lâu nay, khái niệm trí thức thường bị hiểu thiên lệch vì nhuốm màu bằng cấp.

Tôi thấy nhiều khi công chúng dùng chữ “trí thức” để chỉ người có bằng đại học trở lên. Nhưng cách hiểu đó có lẽ chưa đúng.

Có những nhóm người Việt trong và ngoài nước lấy từ “trí thức” làm tên diễn đàn, hội của họ. Vì họ cho rằng các thành viên là người có bằng cấp, một số giữ các chức vụ khoa bảng, học hàm, học vị cao. Nhưng vài người trong đó chia sẻ với tôi, họ vẫn cảm thấy dè dặt tự nhận mình là trí thức. Theo họ, đó là một đại ngôn.

Tuy nhiên, nếu đã hiểu ý nghĩa của khái niệm trí thức thì những người có bằng cấp cao cũng có lý do để dè dặt hơn khi tự xem mình là trí thức.

Tôi tìm hiểu, chữ “trí thức” xuất hiện lần đầu ở Việt Nam vào đầu thập niên 1930 trong cuốn Từ điển Pháp – Việt do Đào Duy Anh biên soạn. Ông dịch chữ intellectuel là “trí thức”.

Trí thức có thể hiểu là người làm cho xã hội lúc nào cũng thức tỉnh. Để làm cho xã hội thức tỉnh, người trí thức phải hội đủ ba yếu tố: có kiến thức, nhiều ý tưởng mới, giá trị và tự nguyện dấn thân. Tôi thấy cách dịch của cụ Đào Duy Anh rất hay và đúng.

Hiểu theo nghĩa đó, người làm cho xã hội thức tỉnh không nhất thiết phải có bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư hay danh hiệu khoa bảng. Nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, nhà sư, linh mục, doanh nhân… đều có thể là trí thức. Chúng ta có thể nghĩ ngay đến những vị tiền nhân như Phan Châu Trinh, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… Họ là những trí thức tiêu biểu của đất nước.

Đó là những người đã làm cho xã hội thức tỉnh. Đọc lại những bài nghị luận và sách của cụ Phan Châu Trinh, ta dễ dàng nhận ra ông đã dùng ngòi bút của mình để phê phán lối học cũ và lề lối lạc hậu làm kìm hãm dân tộc hàng ngàn năm. Ông phê phán những quan chức quan liêu. Dù ông đã qua đời gần 100 năm, nhưng chúng ta vẫn ngưỡng phục phong trào “Khai dân trí, chấn dân khí và hậu dân sinh” của ông. Có thể còn người đương thời không đồng tình với ông, nhưng vai trò làm thức tỉnh xã hội của một trí thức thời nào cũng rất đáng trân trọng và noi gương.

Bản chất của trí thức là hoài nghi lành mạnh. Họ hay nhìn ra nhiều vấn đề. Họ thường không hài lòng hoàn toàn với cách giải quyết trong hiện tại và lúc nào cũng suy tư, tìm ý tưởng, giải pháp tiến bộ hơn cho tương lai. Do đó, họ muốn xã hội nếu không đồng trăn trở với họ cũng thừa nhận và tôn trọng các ý tưởng tiến bộ.

Có thể ví vai trò của đội ngũ trí thức như người kiến tạo hệ thống miễn dịch tư duy cho xã hội. Họ làm được việc này bằng cách thách thức những ý niệm và lề lối được xem như chân lý. Họ giúp xã hội cảnh giác trước những đe doạ manh nha và thách thức mới, đôi khi tinh vi.

Người trí thức thường là những kẻ “vượt rào” và quan tâm cả đến những vấn đề ngoài chuyên môn của họ. Noam Chomsky là nhà ngôn ngữ học, nhưng ông rất nổi tiếng qua những bài nghị luận chính trị. Ông dùng sở trường ngôn ngữ để phân tích về chính sách ngoại giao và đấu tranh cho tự do tư tưởng, được ghi nhận là nhà tư tưởng lớn giai đoạn hiện đại. Albert Einstein là nhà vật lý học lừng danh, nhưng ông rất nổi tiếng vì những hoạt động liên quan đến chính sách, nhân đạo và xiển dương hòa bình. Họ chính là những nhân tố giúp thế giới thay đổi tốt hơn.

Ngược lại với trí thức, trong thực tế, hàng nghìn người có bằng cấp đại học không phát huy vai trò của trí thức. Họ coi bằng cấp là công cụ để tiến thân hay cơ bản nhất là để có việc làm, thu nhập, lấy cái oai trước người khác. Nhiều người còn liên kết với nhau để tìm danh và lợi chứ không bao giờ muốn “đánh thức xã hội”.

Một số người tìm đến bằng cấp như một phương tiện để có chức vụ. Mục tiêu của họ là chức quyền chứ không hẳn vì tiến bộ xã hội, cũng chẳng vì giáo dục hay khoa học.

Có những người với bằng cấp cao lại hay phụ hoạ quan điểm của người có quyền dù quan điểm đó bị đa số công chúng phản đối hoặc không tốt cho sự phát triển chung của cộng đồng. Tôi nghĩ họ không phải trí thức chân chính – hiểu theo nghĩa những người không ngần ngại nói ra suy nghĩ thật của mình và không chấp nhận vai trò bợ đỡ người có quyền, có tiền.

Không ít người có bằng cấp cao chọn im lặng trước bất công xã hội, nhưng tự an ủi bằng ngữ vựng nằm lòng là “tập trung làm tốt chuyên môn”. Lại có những “diễn đàn” mang danh giới trí thức, tinh hoa của xã hội nhưng thực chất là nơi nhiều người đấu tố nhau, đưa ra những nhận xét thiếu tính chuyên nghiệp. Họ không đáp ứng ba thành tố của người tinh hoa.

Vào thế kỷ 15, học giả nổi tiếng của Việt Nam là Thân Nhân Trung nhận định “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Câu nói vẫn luôn đúng cho thời nay. Phẩm chất của cộng đồng trí thức có thể phản ánh mức độ hưng thịnh của một quốc gia.

Trí thức đúng nghĩa sẽ có đất dụng võ – đánh thức xã hội khi được mọi người thấu hiểu và tôn trọng vai trò của họ. Đồng thời, xã hội sẽ kiến tạo cho họ một thể chế dung nạp và môi trường tự do học thuật, nơi trí tuệ tinh anh trưởng thành.

N.V.T.

THAY ĐỔI BẢN THÂN ĐỂ ĐỔI THAY THẾ GIỚI

THAY ĐỔI BẢN THÂN ĐỂ ĐỔI THAY THẾ GIỚI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua cai quản một vương quốc rộng lớn bao la. Ông muốn đích thân đi thăm những miền xa xôi của đất nước.  Khi về đến nhà, đôi bàn chân ông sưng tấy và đau đớn, vì đường xá gập ghềnh sỏi đá.  Ông liền ra lệnh tất cả các con đường trong vương quốc phải trải bằng da lông thú để nếu ông đi thăm vương quốc thì chân ông không còn bị đau.  Cả triều đình đều thấy đó là một điều vô lý, nhưng chẳng ai dám lên tiếng.  Sau cùng, có một vị quan dũng cảm đã nói với vua: “Tâu bệ hạ, tại sao vương quốc của chúng ta lại phải tiêu tốn ngân khố một cách vô ích như vậy?  Tại sao bệ hạ lại không cho cắt những miếng da bò rồi phủ quanh đôi chân trần của mình?  Như vậy, chân Người sẽ không còn bị đau khi đi qua những con đường gập ghềnh sỏi đá, mà cả vương quốc sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc?”  Nhà vua rất ngạc nhiên trước lời đề nghị của vị quan, và thế là đôi giày da đầu tiên của nhân loại ra đời.

Có nhiều người muốn bắt cả thế giới theo mình, trong khi nếu mình thay đổi cách sống và quan niệm cá nhân, thì sẽ cảm nhận thế giới hoàn toàn khác.  Thay đổi bản thân, trong ngôn ngữ của Tin Mừng, là thành tâm sám hối.  Ngôn sứ Giona được Chúa sai đến thành Ninivê để kêu gọi dân thành sám hối.  Vào thời đó, thành phố này có tiếng là tội lỗi và hung bạo, đến nỗi khi ông Giona nghe thấy Chúa sai mình đến đó thì tìm cách chạy trốn vì sợ hãi.  Nhưng lạ thay, khi nghe lời Giona rao giảng, mọi người, từ vua cho tới dân đã ăn chay sám hối theo lệnh của vua.  Nhờ lòng sám hối, dân thành đã không bị án phạt giáng xuống.

Chúa Giêsu khởi đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng lời kêu gọi sám hối.  Lời kêu gọi này còn được lặp đi lặp lại nhiều lần, ở mọi nơi Người đặt chân tới.  Sám hối là một phần quan trọng của giáo huấn Tin Mừng.  Lời kêu gọi sám hối của Chúa Giêsu đi liền với lời mời gọi tin vào Tin Mừng Người rao giảng.  Tin vào Tin Mừng là nhận biết Chúa Cha, đấng bao dung nhân hậu.  Ngài luôn chờ đợi chúng ta trở về để đón nhận sự tha thứ.  Tin Mừng kể lại có những người rất tội lỗi, nhưng đã mở lòng đón nhận giáo huấn của Chúa và được ơn thứ tha.  Lịch sử Giáo Hội cũng làm chứng cho chúng ta, rất nhiều tội nhân đã sám hối và được nên thánh.

Sám hối là khiêm tốn nhìn nhận những sai sót lỗi lầm của mình, đồng thời hứa với Chúa sẽ thay đổi cuộc sống của mình nên tốt hơn.  Một khi chúng ta thay đổi cuộc sống và thay đổi cách nhìn của mình đối với những người xung quanh, chúng ta sẽ nhận ra những điều tốt đẹp nơi người khác.  Thay đổi cuộc sống sẽ giúp chúng ta thấy cuộc đời lạc quan  đáng yêu hơn, đồng thời thúc đẩy chúng ta đóng góp phần mình để nhân lên những điều thiện hảo trong cuộc sống.  Giống như vị vua trong câu chuyện trên đây, khi ông bọc đôi chân bằng miếng da bò, thì đi đâu cũng thấy êm ái và sạch sẽ.  Khi trong tâm trí chúng ta có những tâm tình tốt đẹp, chúng ta sẽ  khám phá những nét đẹp tiềm ẩn nơi mọi người mọi vật xung quanh.

Sám hối còn là đoạn tuyệt với quá khứ để khởi đầu một hành trình mới theo chân Đức Giêsu.  Thánh Máccô kể với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay về việc Chúa gọi các môn đệ đầu tiên.  Anrê và Simon, Giacôbê và Gioan là những người đã can đảm từ bỏ cuộc sống cũ để khởi đầu một hành trình mới.  Tiếng gọi “Hãy theo tôi” có sức thuyết phục kỳ diệu, khiến các ông sẵn sàng từ bỏ những người thân yêu và nghề nghiệp bao năm gắn bó.  Sau này, nhiều khi phải đối diện với những khó khăn, chống đối và thiếu thốn, nhưng các ông không hề hối tiếc vì sự lựa chọn này: “Thưa Thày, bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai?  Thày mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,67).

Cũng như một cỗ máy cần được bảo dưỡng luôn luôn, cũng như những cây nho cần được thường xuyên cắt tỉa, tâm hồn chúng ta phải được thanh tẩy mỗi ngày, để nhờ đó, chúng ta được biến đổi, nên giống Chúa hơn.  Lời kêu gọi thay đổi cuộc đời luôn âm vang trong cuộc sống của người tín hữu chúng ta.  Đây không phải là một khẩu hiệu, mà là một lời khuyên rất thiết thực, vì “thời gian chẳng còn bao lâu.”  Thánh Phaolô đã dùng cách nói rất cụ thể để nói với chúng ta hãy lựa chọn những điều tốt nhất và lâu bền cho mình, bởi vì bộ mặt thế gian này đang qua đi, nên “những ai có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc hãy làm như không khóc; ai vui mừng như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả…”.

“Mỗi vị thánh đều có một quá khứ; mỗi tội nhân đều có một tương lai.”  Đừng có ai mặc cảm về đời sống của mình mà không mạnh dạn thay đổi cuộc đời.  Nếu mạnh dạn tiến bước, chúng ta chẳng còn là tội nhân, mà sẽ là những vị thánh, nhờ lòng bao dung thứ tha và ơn phù trợ của Thiên Chúa.  “Tâm bình, thế giới bình,” cuộc đời này sẽ thay đổi, khởi đi từ sự thay đổi trong chính con người mỗi chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Mến chào ngày mới trong tinh thần hiệp thông, biến đổi để nên thánh trong Chúa Giê-su Ki-tô và Mẹ Maria. Uớc mong những gì “tốt nhất” đến với bạn và gia đình hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 14/01/2022

GIÁO LÝ: Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì? Nghĩa là, con người không như các loài vô hồn, đất đá, cây cỏ, con vật. Con người có phần linh thiêng. Nhờ đặc tính linh thiêng, con người được gần gũi với Thiên Chúa hơn các thụ tạo hữu hình khác, và chỉ riêng con người có thể nhận biết Đấng Tạo dựng nên họ và có thể yêu mến Người. (YouCat, số 58)

SUY NIỆM: Con người không phải một sự vật, mà là một người. Cũng như ta nói Thiên Chúa là một ngôi vị thì Ta cũng nói con người là ngôi vị. Một người có thể suy tư vượt ra khỏi phạm vi sát kề mình, và đo kích thước bao la của mọi vật hiện hữu. Họ cũng có thể lùi lại để đánh giá nghiêm chỉnh và tác động trên chính họ. Họ có thể coi người khác như những ngôi vị, khám phá phẩm giá của họ và yêu thương họ. Trong các thụ tạo hữu hình, chỉ một mình con người là có thể nhận biết và yêu mến Đấng tạo dựng nên mình (Vatican II, Gaudium et Spes 12,3). Vì thế, con người được dựng nên để sống tình nghĩa với Thiên Chúa (Ga 15,15). (YouCat, số 58 t.t)

❦ Hãy nhìn nhận rằng bạn là hình ảnh của Thiên Chúa và hãy xấu hổ vì đã bao bọc nó bằng một hình ảnh xa lạ. (Thánh Bernard de Clairvaux)

LẮNG NGHE: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và họ biết Thiên Chúa. (1 Ga 4:)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì đã ban cho con khả năng tự biết mình, tự làm chủ lấy mình và tự do tự hiến và thông hiệp với người khác. Xin cho con biết tật dụng hết những khả năng và sự tự do Chúa ban để thật lòng đón nhận ưu khuyết điểm của người khác, sống hoà thuận và yêu thương để cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Ngày hôm mời bạn làm 2 điều đáng ghét sau đây:

(1) Phải tránh xa dịp tội, gương mù gương xấu để chính mình khỏi vấp ngã.

(2) Đừng bao giờ làm dịp tội hay gương mù gương xấu cho người khác.

From: Đỗ Dzũng

Cãi nhau, ông gốc Việt ở Texas bắn bạn nhậu đồng hương chết tại chỗ

Cãi nhau, ông gốc Việt ở Texas bắn bạn nhậu đồng hương chết tại chỗ

January 13, 2022

SAN LEON, Texas (NV) – Một ông gốc Việt ở Texas bị bắt vì nghi bắn chết ông gốc Việt khác sau khi hai người cùng nhậu rồi cãi nhau cuối tuần qua, theo báo Galveston County Daily News hôm Thứ Hai, 10 Tháng Giêng.

Vụ nổ súng xảy ra sáng Chủ Nhật. Cảnh sát xác nhận nạn nhân là ông Sang Nguyễn, 66 tuổi.

Cảnh sát vẫn đang điều tra nguyên nhân dẫn đến vụ nổ súng. (Hình minh họa: Galveston County Sheriff’s Office)

Cùng ngày, cảnh sát cũng bắt giữ và truy tố ông Tuấn Anh Trần, 52 tuổi, tội giết người, ông Henry Trochesset, cảnh sát trưởng Galveston County, cho hay.

Cảnh sát đến khu 600 đường Ninth sau khi nhận được tin báo có người bị bắn, ông Trochesset cho biết.

Khi nhân viên cấp cứu tìm thấy nạn nhân, họ làm hô hấp nhân tạo cho ông ta, theo ông Trochesset. Nạn nhân được công bố chết tại hiện trường lúc 9 giờ 48 phút sáng, ông Trochesset loan báo.

Hai ông này cãi nhau trong lúc đang nhậu tối hôm trước, ông Trochesset cho biết thêm.

Một ông bỏ chạy khỏi hiện trường nhưng bị cảnh sát bắt gần đó, ông Trochesset cho hay. Cảnh sát còn tịch thu khẩu súng của ông này, theo ông Trochesset.

Cảnh sát vẫn đang điều tra nguyên nhân dẫn đến vụ nổ súng, ông Trochesset nói.

Đến chiều Thứ Hai, ông Tuấn vẫn đang bị giam tại nhà tù Galveston County, tiền thế chân tại ngoại được ấn định $125,000, theo hồ sơ nhà tù. (Th.Long) [qd]

Đúng là “Thời loạn”!

Đúng là “Thời loạn”!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Như Phong

14-1-2022

Bốn năm trước, tôi có viết cuốn tiểu thuyết mang tên ‘Thời loạn’.

Cuốn tiểu thuyết nói về những “doanh nhân” mà để làm giàu, họ không từ một thủ đoạn nào. Thủ đoạn từ mưu mô thổi giá chứng khoán, buôn lậu vàng, thâu tóm đất đai đến đòi nợ thuê, rồi cả giết người… Những cuộc tình đầy toan tính và éo le. Các biên tập viên của Nhà xuất bản CAND đọc rất thích nhưng cứ băn khoăn về chữ “Thời loạn”, bởi nó “nhạy cảm”. Xã hội ta đang tươi roi rói, cơ đồ sáng choang thế này, đi đâu cũng thấy cờ hoa biểu ngữ đỏ rực thế này mà lại bảo “Thời loạn”, nghe rất không được. Thôi vậy, thế thì đổi tên.

Bàn đi tính lại mãi với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, cuối cùng đổi thành “Kim Tiền”, và cuốn tiểu thuyết đã đạt giải B cuộc thi Tiểu thuyết, Truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn năm 2020. Cuốn tiểu thuyết cũng chuyển thành kịch bản phim hình sự, nhưng chả ai dám đầu tư vì đây không phải là “hàng chợ”, đầu tư làm phim khá tốn tiền, phải gấp ba, gấp bốn lần phim “Thị trường” hiện nay.

Nói lằng nhằng một tý về cuốn sách. Nhưng giờ mới thấy thời buổi này đúng là “Thời loạn” thật. Đúng là “Thời loạn” khi mà liên tiếp xảy ra những vụ cha mẹ đánh chết con thơ. Con cái đánh chết cha mẹ.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà nhiều ông to bà lớn, mới hôm trước còn lên bục răn dạy thiên hạ, thì ít hôm sau lại thấy “ăn năn, hối lỗi”.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà xảy ra những vụ như Việt Á, lợi dụng dịch bệnh để kiếm chác, mà lại được tặng thưởng Huân chương mới là “loạn” chứ?

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà có không ít doanh nhân vừa mới lên diễn đàn thể hiện “lòng yêu nước vô bờ bến” thì lại có những hành vi lừa đảo, kiếm tiền bất chấp liêm sỉ?

Mà xem ra khá nhiều tình tiết hư cấu trong tiểu thuyết “Kim Tiền” là được các “roanh… nhân” hiện nay áp dụng. Kể cũng thú vị.

Mặc dù tôi biết, họ chả có thời gian đâu, văn hóa đâu mà đọc cuốn sách của tôi đến ngót 800 trang?

Đúng là “Thời loạn” thật!

RUỘT THỊT TÌNH THÂM

RUỘT THỊT TÌNH THÂM

Song Nhi

Tin chị Thơm bị chồng bỏ lan ra nhanh chóng đầu trên xóm dưới.
Có người nói tội nghiệp chị đẹp người đẹp nết, con nhà ăn học mà số long đong.
Nhưng có người lại mừng dùm và họ coi đó như giải pháp mà ông trời giải thoát cho chị khỏi cảnh khổ.
Chị Thơm là con gái duy nhất trong ba người con của thầy giáo Thức ở xứ này.
Thời sinh tiền lúc còn sống thầy và ông chủ tiệm vàng Kim Vinh là bạn tâm giao nối khố có nhau dù một người làm buôn bán một người theo nghiệp chử nghĩa thánh hiền.
Ngay khi chị Thơm chỉ là trẻ thơ lúc nghe ông Vinh muốn kết thông gia cho hai gia đình càng thân hơn, thầy giáo Thức đã đồng ý ngay.
Thơm từ nhỏ đã sáng dạ học đâu nhớ đó, thương con nên lớn lên ba chị cho chị lên ở nhờ nhà người cô ruột trên Sài Gòn để tiếp tục việc học.

Năm đó tự nhiên ông Vinh bị một căn bệnh lạ, chạy chữa nhiều thầy thuốc mà bệnh có vẻ không thuyên giảm.

Khi thầy giáo Thức sang thăm ông bèn nhắc chuyện xưa và muốn tiến tới hôn nhân cho con trai mình. Trước là được yên lòng nhắm mắt vì con nên bề gia thất do ông Vinh biết rất rõ Thơm là cô gái rất tốt. Thêm vào cái hy vọng là biết đâu hôn lễ xua đi được cái vận hạn xui xẻo đang đè ám gia đình ông.

Năm 19 tuổi Thơm được ba mình gọi về quê và lấy chồng trong cái không khí gấp rút của đám cưới đang chuẩn bị. Lúc đầu Thơm phản đối bằng cách bỏ ăn và khóc lóc không ngừng. Nhưng đến khi ba chị dọa thắt cổ tự vận nếu chị dám từ hôn làm trái ngược lại lời hứa mà ông coi trọng như núi. Đến nước đó thì Thơm hết cách đành theo ý ba mình về làm vợ Huân.

Cứ tưởng Huân, chồng chị Thơm lấy được người vợ như chị, anh ta hẳn vui mừng mới đúng. Nhưng vốn tính nhỏ nhen thêm vào chất gia trưởng Huân thấy chướng mắt vì sự học vấn của vợ. Trong khi chị vận dụng cái giỏi giang của mình để gánh vác việc nhà chồng thì Huân sau khi tỏ rõ đường đi lối về với cô vợ trẻ anh ta lại miệt mài với những thú vui tình ái bên ngoài. Từ khi sinh Thu con gái đầu lòng chị Thơm nhiều lần khuyên chồng nên để đức cho con đừng đi gạt gẫm những cô gái khác nhưng Huân gạt bỏ ngoài tai. Thậm chí nhiều lần còn hạ cẳng tay, thượng cẳng chân với chị khi say. Nhất là sau khi ba chồng chị là ông Vinh qua đời thì Huân không còn phải e dè, kiêng kỵ̣ ̣một ai.

Một lần đoàn gánh hát của ông bầu Tám Ít về đây hát, Huân đi xem và đâm ra mê mệt Hai Như, cô đào nhì của gánh.
Khác với những lần trước lần này Huân trong mắt Hai Như là con mồi lớn nên Hai Như quyết không buông, cô xỏ mũi Huân một cách nhanh chóng. Vốn xuất thân lang bạt nên Hai Như không dể dàng gì trở thành trò chơi của Huân, cô buộc Huân phải cho cô danh chính ngôn thuận khi cô có mang.

Thế là sau 9 năm, chị Thơm đành chịu tiếng bị chồng bỏ bởi không chịu nổi sự cay nghiệt cũng như những trận đòn thừa sống thiếu chết của Huân gần đây. Thầy giáo Thức ba của chị cũng qua đời vài năm trước đó nên chị cũng không muốn níu kéo.

Chị đồng ý ra đi với hai bàn tay trắng không làm phiền Huân cưới vợ mới nhưng bù lại Huân phải để chị dẩn bé Thu lúc này được 5 tuổi đi theo mình.
Buồn cho phần số dang dở của mình và cũng không muốn ở lại quê nơi có nhiều kỷ niệm gợi chuyện phiền lòng chị Thơm dẫn con gái lên lại Sài Gòn.
Ban đầu chị tá túc ở nhà cô ruột như trước. Sau đó chị mang số tiền cha mẹ ruột cho phòng thân khi xuất giá lấy chồng làm vốn mua bán.
Chị mở một sạp bán trái cây và thuê căn nhà nhỏ gần đấy cho tiện việc đi về mẹ con chị sống yên ả vui vẻ với nhau.

Dạo gần đây có một anh chàng người Mỹ thường ghé mua trái cây chổ chị. Anh ta gây sự chú ý cho Thơm bởi anh ta nói được tiếng Việt rất rành khác với những anh chàng Mỹ lớ ngớ thỉnh thoảng vẩn ghé chổ chị mua hàng.
Anh chàng người Mỹ John Smith ấy cũng thật bất ngờ khi thấy cô chủ hàng nói rất chuẩn thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình và là một người có ăn học.
Lúc đầu chỉ là trò chuyện xã giao lâu dần họ thành bạn. Dù hai người cách xa nhau về hình thức lẩn nơi sinh trưởng nhưng họ lại khá hợp nhau trong nhiều cách nghĩ. Hơn một năm sau John ngỏ lời với muốn cưới Thơm làm vợ.
Phần Thơm thật sự chị dành rất nhiều cảm tình cho John nhưng chị cũng e ngại sự cách biệt và tiếng đời thường mĩa mai những người phụ nữ lấy Mỹ thời đấy nên chị còn lưỡng lự chần chừ. Nhưng tấm chân tình của John khiến chị cảm động. Hai năm từ ngày họ quen biết chị dẹp cửa hang, về làm bà Smith.

Mười mấy năm trôi qua gia đình chị Thơm có thêm một trai hai gái. Peter được 13 tuổi, Mary 11 tuổi và Ann 9 tuổi.
Ngoài xã hội John là người khá thành công về kinh doanh nhưng khi về nhà John là người chồng có trách nhiệm. Anh ta đối xử với Thu cũng như những đứa con khác của mình hết mực yêu thương không hề có sự phân biệt. Gia đình họ sống đầm ấm hạnh phúc ngoài những lúc đến trường ở nhà chị Thơm vẩn gọi con bằng những cái tên tiếng Việt là Phú, My và Ái.
Khác biệt nhau về mái tóc và cả màu da nhưng bốn chị em Thu lại quấn quít hòa thuận, luôn gắn bó bên nhau không rời.

Năm 1975 lúc này Thu đã 21 tuổi đang theo học một trường Dược ở Sài Gòn.
Một ngày chị Thơm nhận được tin Huân chồng cũ của chị tức là ba ruột của Thu ở quê qua đời đột ngột vì một cơn đột qụy. Đúng ra chị Thơm không muốn về bởi tình hình lúc đó có nhiều thay đổi và Huân từ lâu không hề nhắc nhở hay đá động gì tới đứa con gái của mình là Thu. Nhưng cuối cùng chị cũng dẫn Thu về chịu tang cho đúng phép tắc dù gì họ cũng là cha con. Phần chị thì xem như nghĩa tử nghĩa tận đến thắp một nén hương cho phải đạo làm người, hơn nữa chị không an tâm để Thu về một mình.

***

Sau đám tang ngay lúc chị chuẩn bị trở về Sài Gòn thì thời thế thay đổi trong một đêm phải chờ đến cả tuần sau và bằng nhiều cách mẹ con chị mới lặn lội trở về được Sài Gòn. Nhưng khi chị Thơm và Thu lên tới Sài Gòn thì mọi chuyện đã khác lạ hoàn toàn.
Dâu bể đổi dời chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chị không thể vào được nhà cũ bởi chúng bị tịch thu nên chị không lấy được thông tin hay địa chỉ liên quan gì tới chồng mình ở Mỹ.
Cũng không thể hỏi thăm ai giữa cái lúc hỗn loạn ấy chị dành dẫn Thu nương náu, mưu sinh ở một quận gần đó và cố gắng hết khả năng để nghe ngóng liên lạc với chồng và con của mình trong vô vọng.

Ngày xưa vì người ở quê hay kỳ thị, dè bĩu và lo cho sự an toàn của chồng vào thời còn chiến tranh. Chị Thơm chỉ dẫn duy nhất Peter về quê ngoại chơi hai lần mà thôi. Không cho John cùng hai con gái nhỏ về thăm quê lần nào. Bởi má chị vẫn lên thăm gia đình chị ở Sài Gòn thường xuyên. Do chị cũng ỷ y đâu có dè cuộc đời có những thay đổi như vậy.
Thời gian dần trôi không một tin tức nào về họ dù là sống chết. Phần lo lắng thương nhớ con nên sức khoẻ chị Thơm mỗi ngày một kém. Rồi chị qua đời vào một đêm mưa sau cơn bệnh trong tay vẫn còn nắm chặt tấm ảnh gia đình của mình.
Lúc lâm chung không biết có phải còn tiếc nuối hay ấm ức mắt chị mở trừng trừng khiến Thu khóc than tức tưởi khấn nguyện rằng sẽ cố gắng tìm được những đứa em và mang chúng về.

Phần John Smith vào lúc mọi người nhốn nháo rồng rắn di tản dù không muốn bỏ vợ mình lại nhưng John không còn cách nào khác hơn đành dẫn ba người con của mình lên máy bay về Mỹ trong nổi đau đáu lo lắng. Khi về đến xứ sở anh ta cũng cố gắng liên lạc với vợ mình nhưng ngoài tên họ của vợ và con gái. John chỉ biết thêm địa danh quê vợ là Xào Bân chứ không hề có thông tin gì khác. Đường phố còn thay đổi tên thì nói chi muốn tìm một con người giữa cái đất Sài Gòn mênh mông ấy.
Ba năm sau trên đường đi làm về John qua đời trong một tai nạn giao thông thảm khốc. Những đứa con của anh được chuyển về sống với ông bà nội ở bang Texas.
Gia đình họ lạc nhau từ đó…

***
Ba mươi lăm năm sau.
Thu bây giờ tóc đã bạc hơn phân nửa và lên chức bà Ngoại chị lấy chồng có được ba người con. Chồng chị là người đàn ông tốt và hiền lành.
Các con chị vẫn sống và làm việc ở Sài Gòn. Còn chị và chồng về sống ở quê vào 5 năm trước trên mảnh đất hương hỏa của bà Ngoại chia cho mẹ chị ngày xưa, vui thú cùng vườn cây ao cá, như bao người có tuổi khác.
Cuộc sống chị êm đềm, hạnh phúc như bao gia đình an phận bình thường nhưng dù bao năm trôi qua trong lòng Thu vẫn không quên được nỗi nhớ về những người em của mình.
Thỉnh thoảng nhìn những tấm ảnh cũ đã úa vàng mà chị lưu giữ như một báu vật, chị lại chảy nước mắt.

Chị khóc khi hồi tưởng cái khoảng khắc ngày xưa đút cơm cho những đứa em của mình. Chị nhớ rõ đứa nào thích ăn gì, tính nết ra sao.
Nhớ lúc chạy giỡn trong khoảng sân nhỏ cùng nhau giờ không biết họ lưu lạc phương trời nào và có bình an không ?.
Hiểu nỗi khổ tâm bao năm của chị Thu các con chị cũng giúp mẹ bằng mọi cách họ có thể.
Từ những phương tiện thông tin hiện đại đến nhờ cả đại sứ quán giúp đỡ, nhưng thông tin qúa ít ỏi và trôi qua nhiều năm nên sự tìm kiếm của họ cũng rơi vào im lặng.

Peter, Mary và Ann hiện tại cũng đã có gia đình và con cái họ khác xưa hoàn toàn. Vốn Việt Ngữ của họ gần như là mất hết, ngoại trừ Mary do làm quản lý ở một hãng có nhiều người Việt nên cô còn nói được chút ít.
Nhưng ba người họ vẫn không quên người mẹ và chị của mình. Họ về Việt Nam rất nhiều lần nhờ sự giúp đỡ của nhiều nơi.
Nhắn tin trên báo để tìm kiếm nhưng tất cả vẫn không có tin tức gì, họ cũng không có nhiều manh mối để mở rộng việc tìm kiếm…

Năm 2010 Peter lúc này đã 48 tuổi nhân dịp nghỉ thường năm anh ta dẫn theo cô vợ người Mỹ của mình là Jessica về Sài Gòn du lịch.
Lần đó khi đang ngồi trên chuyến xe tham quan của một đoàn du lịch chuẩn bị đi đến điểm vui chơi theo lịch trình.
Là người vui tính Peter trò chuyện cùng anh hướng dẫn viên là ngày xưa mình được sinh ra ở Sài Gòn.
Nhắc về kỷ niệm vô tình Peter nói rằng quê ngoại ở Xào Bân bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ. Có một vị khách lớn tuổi trong đoàn nghe được. Ông ta nói là ông ta biết một nơi trước kia gọi là Xẻo Bần chứ không phải là Xào Bân.
Đó là một làng nhỏ do dân địa phương tự đặt tên ấy vì có cái rạch nhỏ chảy cắt ngang qua. Mà bây giờ không còn ai gọi là Xẻo Bần nữa họ gọi bằng tên một thị trấn khác.

Không biết có cái gì xui khiến Peter vội lấy giấy bút ra và nhờ ông ta ghi lại chính xác nơi đó bằng cái tên hiện hành ngày nay.
Bỏ dở chuyến đi chơi Peter cùng vợ ngược về Sài Gòn tìm đến trung tâm lữ hành du lịch và ngỏ ý muốn thuê một hướng dẫn viên thông thuộc miền Tây để đi đến địa danh mà vị khách lạ cho.

Khi họ đến nơi thì gần như không còn vết tích nào giống trong ký ức của Peter. Anh ta nhớ ngày xưa phải đi bằng thuyền nhỏ và cây cỏ hoang dại. Còn nơi anh ta đến ngày nay là thị trấn sầm uất đông đúc xe cộ chạy xuôi ngược.
Thấy vẻ thất vọng của Peter, anh hướng dẫn viên cũng không biết làm sao hơn đành cùng người tài xế chở hai vợ chồng ông khách người Mỹ đi loanh quanh cho đúng theo trình tự một chuyến tham quan.
Xe chạy dọc những con lộ nhỏ và anh hướng dẫn viên giảng giải đây là một vùng chuyên về trồng trái cây.

Chợt lúc đó chuông nhà thờ đổ hồi chuông ban trưa thông lệ. Như có một thứ giác quan mách bảo Peter đòi được đến nơi đó.
Cả nhóm họ rời xe đi bộ trên con đường làng khi đứng trước căn nhà thờ có tuổi thọ gần cả trăm năm được xây từ thời Pháp đô hộ.
Peter gần như là không kèm được sự xúc động bởi anh ta nhận ra đây đúng là quê ngoại mình mà ngày xưa anh được mẹ dẫn về.
Qua bao nhiêu năm nhưng cũng may là cái nhà thờ ấy vẫn không thay đổi hình dáng kiến trúc cũ. Nhất là cái vị trí nằm ngay ngã ba sông rất đặc biệt.

Peter nhớ một cách rõ ràng như vậy do có một lần khi về quê chị lớn là Thu dẫn em trai mình đến đây chơi. Đang vui đùa chợt Peter tự nhiên bị chảy máu cam không rõ nguyên nhân khiến Thu hốt hoảng cầu cứu. Chính một vị ma-soeur hiền lành đã kêu Peter nằm ngay xuống trước sảnh nhà thờ và ngước mặt lên ngay cho máu ngừng chảy. Trong khi bà đặt chiếc khăn lạnh trên trán của Peter để hạ nhiệt độ.
Theo trong trí nhớ của Peter nhà bà ngoại đi bộ cách đó một đoạn nhưng hướng nào thì anh ta mơ hồ không nhớ nổi.

Vốn nhạy bén sau một hồi suy tính Peter nhờ anh hướng dẩn viên hỏi thăm những ai nhiều tuổi từng sống nơi đó về người đàn bà có tên Ba Thơm có con gái tên Thu.
Nhưng già trẻ không một ai biết bởi ngày trước chị ba Thơm chỉ thỉnh thoảng về thăm quê rồi đi. Số người còn lại họ đến ở nơi đây mới độ hai, ba chục năm thì làm sau biết chuyện ngày xưa cũ.
Thêm nữa ở quê người ta thường gọi theo thứ ít ai gọi tên nên chẳng ai biết người đàn bà mà Peter muốn kiếm là ai.

Cuối cùng Peter chỉ còn cách ghi lại địa chỉ khách sạn ở Sài Gòn nơi mình trú ngụ cùng số điện thoại cá nhân đang tạm dùng trong thời gian ở Việt Nam. Peter hứa sẽ hậu tạ cho bất cứ ai có tin tức về hai người mình đang cần tìm .
Đúng lúc kẻ ghi người viết thì có một người đàn bà đứng tuổi đi chợ về ngang do tò mò bà ta rẽ đám đông vào xem .
Khi biết rõ câu chuyện bà ta chậm rãi nói:
-Tui biết có chị kia ở cạnh nhà bà sui gái của tui .
Nghe đâu tên của chỉ là Hai Thu mà tui không nghe chỉ có anh chị em chi hết.
Chị mới về đây sống độ mấy năm thôi không biết có phải chị Thu gì mà ông ấy muốn kiếm không ?
Nhà chị ấy tuốt dưới xóm dưới đường hơi khó đi một chút.

Sau khi nghe anh thông dịch nói lại, không bỏ sót một tia hy vọng vào, Peter vội khẩn khoản bà ấy giúp mình.
Họ chọn ra giải pháp cả nhóm sẽ ngồi ở quán cafe đầu chợ. Trước là chờ gặp người tên Thu mà người đàn bà ấy vừa nói.
Sau là uống ít nước và nghĩ ngơi tạm bởi vì nhóm họ điều thấm mệt sau hàng nửa ngày trời đi tới đi lui.
Người đàn bà kia thì lên một chiếc xe honda ôm đã được Peter trả tiền tới nhà chị Thu và nhắn chị ấy có người cần gặp ngồi chờ nơi quán nước trước cổng chợ.

Buổi xế trưa, sau bữa cơm chị Thu đang cho mấy con gà ăn trước sân như thường nhật chợt có tiếng xe honda dừng trước cửa.
Khi nghe nói có ông tóc vàng mắt xanh cần gặp một người tên Thu trước sống ở Sài Gòn và cở bằng độ tuổi của chị vì có chuyện cần, chị hai Thu đã luống cuống tay chân, buông luôn cái thau đựng cơm nguội xuống sân nhà.
Chị không kịp cám ơn người đàn bà tốt bụng mà vội chạy vào lấy cái nón lá và lên tiếng gọi ông chồng mình đang lui cui sau vườn.
Tay chị run rẩy đến nổi không thay nổi cái áo bà ba nên chị mặc nó tròng đôi vào cái áo đang bận.
Chị lập cập không giấu được vẻ hồi hộp của mình khi ngồi lên chiếc xe do chồng mình nổ máy chờ sẳn chạy vội ra chợ.

Ở quán cafe mọi người không dấu được ánh mắt tò mò trước hai vị khách ngoại quốc đang ngồi chờ như ngóng trông ai đó.
Xe ngừng trước quán chị Thu bươn bả đi vào, đám đông khẽ nhích ra nhường lối cho chị.
Nãy giờ đi ngoài trời chói nắng nên chị lột vội cái nón lá quẳng vô góc để nhìn cho rõ, Peter cũng vội vã đứng lên.
Không cần phải nói hay hỏi han điều gì chỉ cần nhìn mặt Peter, chị Thu đã biết đó chính là em trai của mình bởi Peter giống cha anh ta John Simth thuở xưa như tạc.
Chị Thu khóc ngất nói trong tiếng nấc:
-Em ơi ….Phú ơi ….
Cơn xúc động dâng lên cao độ khiến chị Thu loạng choạng như muốn ngất.
Peter vội đỡ lấy chị mình dìu chị ngồi xuống ghế anh ta cũng khóc khi nhìn gương mặt của chị Thu với những đường nét của mẹ mình ngày xưa.
Nhoài người tới ôm lấy người chị của mình Peter lắp bắp bằng một thứ tiếng Việt ngọng nghịu :
-Chị … chị Hai … Phú nè … chị chị Hai …
Tiếng chị Thu miếu máo ngắt quãng từng chập :
-Mẹ mong chờ mấy em biết bao nhiêu… hu..hu …mẹ mất rồi em ơi.
Trong khi Jessica vợ của Peter nhẹ đưa cánh tay vỗ vỗ lên lưng chồng mình như sẻ chia dù cô không hiểu chuyện gì đang xảy ra cũng như người đàn bà kia nói gì .
Thì chồng chị hai Thu biết rõ câu chuyện hơn do vợ mình thường kể nên anh cố giấu đi vẻ xúc động bằng cách nói như phân bua:
-Em của vợ tui, chị em ruột ấy thất lạc mấy chục năm rồi không tin tức chi hết.

Nhìn thấy một ông ngoại quốc cao lớn nắm chặt tay một người đàn bà Việt Nam mãnh mai miệng chỉ lắp bắp được vài chữ ”chị ơi…”.
Một số người trong quán hôm ấy khẽ lén lau đi giọt nước mắt vừa ứa ra.
***

Một buổi tối của hai tháng sau.
Nhà chị Thu đèn đuốt mở sáng choang nhiều người đi tới đi lui. Mấy bà chị thì nhỏ to dưới bếp bên cạnh nồi cháo gà và vài món ăn nhẹ .
Họ lo không biết những ông bà người Mỹ ở nhà trên có ăn được những món ăn Việt Nam không và nêm nếm như vậy có vừa khẩu vị của họ chưa.
Vài người trẻ trong xóm ngồi ngoài mấy cái ghế tre trước hiên của nhà chị Thu.
Đôi ba ông cụ bà cụ lớn tuổi một chút ngồi trong phòng khách cùng chị hai Thu, Peter, Mary và Ann.
Họ tới mừng cho chị khi nghe được tin chị em trùng phùng sau bao năm và tò mò chờ nghe câu truyện có phần hơi ly kỳ của họ.

Bốn chị em của chị Thu ngồi trên bộ đi văng nói chuyện với nhau.
Mary còn nói được chút ít tiếng Việt, Peter và thì nhớ được một vài câu xã giao ngọng nghịu.
Riêng Ann thì không nhớ một câu nào, cả ba người họ phải nói qua người phiên dịch đang ngồi trên cái ghế nhỏ cạnh đó.
Chị Hai Thu đưa khăn lên lau nước mắt khi nghe Peter kể sau khi ba chết họ về sống cùng ông bà ở nơi mới.
Đi học Peter hay bị bọn trẻ chọc ghẹo kỳ thị vì là con lai.
Khiến cậu ta đánh nhau đến nổi chút nữa thì bị đuổi học.
Chị lại cười khi Mary nói lúc về Mỹ muốn ăn trứng ấp thảo với cháo trắng như ngày xưa mẹ nấu ở Việt Nam nhưng đành chịu vì không biết cái trứng đó tên là gì.
Bao nhiêu năm Mary luôn cảm thấy tủi thân và không vui khi ai đó hỏi về nguồn cội bởi Mary không biết trả lời họ ra sau.

Ra vẻ ái ngại Ann nhìn họ rồi khẽ nói, qua người thông dịch rằng :
”Lúc đầu khi nhìn những tấm ảnh cũ ố vàng ngày xưa và nghe anh Peter thông báo tìm được chị và nhắn thu xếp về gặp nhau .
Cô được một vài người khuyên nên cẩn thận để tránh sự nhầm lẩn thậm chí biết đâu chừng đó là sự giả trá, lường gạt.
Vì khi đi cô là người nhỏ tuổi nhất rồi sống ở môi trường không có người Việt nên ký ức về chị trong cô không còn được rõ nét như hai anh chị mình.
Nên cô thật sự có phần dè dặt, không tin lắm nhưng trên đường về đây khi ghé qua quán ăn tạm ở dọc đường, chị hai Thu đã ngăn cô lại khi cô định ăn một bát súp.
Chị ấy nói rằng súp đó được nấu bằng tôm mà chị biết rõ Ann từ nhỏ đã dị ứng với đồ biển. Rồi chị nhờ người thông dịch hỏi giúp chị vết sẹo trên đùi Ann có biến mất theo thời gian không hay là to hơn.
Ann cố ý hỏi vặn lại vết sẹo gì ?
Chị Hai Thu nói ngày trước Ann từng bị té vào chậu hoa sau vườn nhà nên đùi có một vết thẹo khá dài , chính chị đã băng lại giúp cô.
Ann đưa khăn giấy chậm nước mắt bằng vẻ bối rối, xúc động cô ngỏ lời xin lỗi chị mình vì những nghi ngờ trước đó.
Bởi bây giờ cô đã tin chị thật sự là chị Hai của cô ngày xưa.
Ann hứa với chị khi về Mỹ sẽ cố gắng học thêm ít tiếng Việt để có thể trực tiếp nói chuyện với chị mà không cần phiên dịch.”

***
Sáng hôm sau khi tia nắng bình minh vừa hiện ra ở chân trời , gió dìu dịu mùi sương sớm.
Trước ngôi mộ của dì Ba Thơm nơi phần đất hương hỏa giữa đồng.
Bốn mái đầu rấm rức khóc và cuối lặng thật lâu .
Trong mùi hương trầm và những bó hoa thơm lan tỏa lãng bãng, tiếng chị hai Thu nghèn nghẹn khấn :
-Má … con dẫn mấy em đến thăm má. Xin má linh thiêng phù hộ độ trị cho chị em con và xin má an lòng yên nghỉ.

Một ngày cuối chiều ở sân bay, khi tiếng loa thông báo nhắc nhở tên ba vị khách còn lại của chuyến bay về Mỹ nhanh chóng ra cửa khởi hành.
Vòng tay của chị em họ lại vội vã ôm lấy nhau giữa khóc – cười họ hứa sẽ quay lại sớm vào một ngày nào đó cùng gia đình của mình.
Mary vội nói cùng chị bằng cái âm chưa chuẩn và quơ tay như minh họa cho lời nói:
-Em biết Việt Nam gọi ngày chết là đám giỗ rồi.
Đám giỗ má vào mùng 9 sau tết Việt Nam.
Tụi em sẽ về vào ngày đó hằng năm .
Chị Hai yên tâm giữ sức khoẻ .

Mắt chị Hai Thu vẫn còn đỏ và đầy nước nhưng miệng chị cười tươi.
Chị đưa cánh tay lên lưu luyến vẩy theo dáng những đứa em của mình đang khuất dần sau cánh cửa kiếng

Có một dịp tình cờ nào đó sau tết âm lịch trong cái không khí hãy còn Xuân .
Bạn chợt ngang qua một thị trấn nhỏ xinh đẹp thuộc một tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long .
Đi tới cái xóm nhỏ mà địa danh ngày xưa gọi là Xẻo Bần vô tình bạn nhìn thấy một nhóm người trên đường làng hay trong cái quán Phở ở chợ .
Nhóm người đó trung niên có, trẻ có, tây ta lẫn lộn .
Đôi khi cô gái trẻ tóc vàng mắt xanh cao lớn đang cố trọ trẹ học câu tiếng Việt từ một cô Việt Nam cũng còn khá trẻ.
Rồi cũng có lắm lúc cô gái Việt Nam nói những câu Anh Ngữ để giải thích sự việc gì đó cho cô gái kia .
Thỉnh thoảng hai người trung niên lại nói tiếng Việt bằng một âm điệu chưa chuẩn lắm làm bà chị của họ bật cười.
Bạn đừng lấy làm ngạc nhiên bởi đó chính là đại gia đình của chị em họ và con cái thuộc thế hệ kế .

Những người họ khác biệt nhau về ngôn ngữ, chủng tộc, tập quán và ở cách xa nhau nửa quả địa cầu, hàng chục giờ bay.
Nhưng họ có chung một thứ, đó chính là dòng máu chảy trong huyết quản của họ có sự hiện diện của cái gọi là ruột thịt tình thâm.
Cuối cùng thì tất cả các dòng sông đều trở về biển như một quy luật muôn đời ….

Song Nhi

From: Dương Phong