Các vị lãnh đạo nghĩ gì? Một hệ thống do dân, vì dân hay sẵn sàng ăn thịt dân?

Các vị lãnh đạo nghĩ gì? Một hệ thống do dân, vì dân hay sẵn sàng ăn thịt dân?

Bởi  AdminTD

 Đoàn Bảo Châu

25-1-2022

Tiếp nối việc các tỉnh thành đua nhau mua kit xét nghiệm của Việt Á với giá cao để hưởng lợi là việc các chuyến bay “giải cứu” bà con đang bị kẹt ở nước ngoài về Việt Nam với giá cao. Có người phải về nước bằng cách qua Campuchia, dù vất vả nhưng rẻ hơn, tầm 44 triệu đồng thay vì 170 tới 240 triệu đồng cho một vé máy bay từ Mỹ về Việt Nam. Theo tiến sỹ Lương Hoài Nam, so với những chuyến bay giải cứu thời kì đầu thì giá tăng lên 3 tới 6 lần.

Cái văn hoá chặt chém này từ đâu ra? Ai phải chịu trách nhiệm về cái văn hoá “ăn thịt” đồng loại này và ai nên thấy xấu hổ?

Xin thưa, tất cả là do hệ thống này sinh ra và những người đứng đầu hệ thống nên thấy đấy là trách nhiệm của mình và nên thấy xấu hổ. Văn hoá Việt Nam luôn đề cao tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “một con ngựa đau cả tầu bỏ máng” hay “chị ngã em nâng”. Mùa dịch, có biết bao tấm lòng người dân giúp đỡ nhau, các doanh nhân bỏ tiền tỉ ra mua quà, nấu những bữa ăn tri ân các cán bộ y tế đang chống dịch hay an ủi những bà con khốn khó thì những người trong hệ thống tận dụng cơ hội này để “ăn thịt” đồng loại.

Chính cái hệ thống hô hào đốt lò này lại là một cỗ máy hoàn hảo sản xuất ra củi. Đã nói tới tham nhũng thì chỉ có cán bộ trong hệ thống chứ dân thì làm gì có cơ hội nào mà tham với nhũng?

Một hệ thống luôn đề cao “do dân vì dân” nhưng hở ra là “ăn thịt” dân. Tôi nghĩ các cuộc điều tra nên làm sâu vấn đề ai là người đưa ra chủ trương chọc mũi dân lao động với giá cao liên tục như vậy. Đành rằng là chống dịch nhưng liệu đằng sau việc hô hào ngoáy một cách thần tốc ấy còn có động cơ gì nữa không?

Văn hoá là một quá trình xây dựng lâu dài và ảnh hưởng của bộ máy cầm quyền tới văn hoá là rất lớn bởi nhà dột từ nóc. Thử nghĩ xem, sự việc mua kit xét nghiệm giá cao hay bóp chẹt giá vé hồi hương của đồng bào xa xứ liệu có xảy ra ở một nước như Nhật Bản hay không?

Mặc dù nước nào cũng có tham nhũng nhưng ở họ không trở thành quốc nạn như ở Việt Nam. Đây là một hệ thống tham nhũng có hệ thống, đây là một căn bệnh ung thư di căn toàn hệ thống. Đấy chỉ là những ngành liên quan tới dịch bệnh nhưng khi có cơ hội thì tôi tin rằng những ngành khác cũng sẽ bộc lộ sự bẩn thỉu ra một cách tràn lan không kém.

Một bộ máy bị ung thư tham nhũng di căn khắp nơi thì đấy là một thảm hoạ cho đất nước, cho dân tộc. Nó sẽ làm yếu đi mọi mặt. Quân sự, kinh tế, lòng tin của dân vào bộ máy lãnh đạo và vào tương lai.

Trẻ em khi biết những điều này, chúng sẽ cảm thấy xã hội mà chúng chuẩn bị bước chân vào là một xã hội bẩn thỉu, chúng sẽ tìm cách làm việc, sinh sống ở nước ngoài khi có cơ hội. Niềm tự hào của chúng về đất nước sẽ không còn.

Tôi cứ tự hỏi liệu những vị lãnh đạo cao cấp có cảm thấy vấn đề này rất nghiêm trọng, rất đáng xấu hổ, đáng báo động và cần thay đổi không?

Một xã hội có nhiều vấn đề như vậy nhưng liên tục bỏ tù những người đấu tranh cho dân oan, cho dân chủ, nhân quyền. Vậy toàn dân nên biến thành một lũ cừu, không được ho he gì về những sai trái của bộ máy cầm quyền hay sao?

Tin tôi đi, rồi đây sẽ còn rất nhiều những be bét được bung ra trong những ngành khác. Không có một loại thuốc nào chữa được ung thư đã di căn, trừ khi những người đứng đầu có một tầm nhìn nhìn thấu đáo vấn đề và đưa ra những cải cách cần thiết. Điều trước tiên cần làm là hãy cho phép dân mở miệng, lắng nghe và động viên những ý kiến phản biện. Làm thế không những hạn chế được tham nhũng mà còn có tác dụng thúc đẩy tư tưởng tiến bộ từ thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước.

Tư tưởng tiến bộ, cởi mở, cách nhìn thẳng thắn vào những vấn đề của xã hội giống như luồng ánh sáng hồng ngoại soi rọi vào những ổ bệnh tối tăm bẩn thỉu, sẽ giúp xã hội tốt dần lên.

Nghĩ vụn nhân nghe tin thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch

Nghĩ vụn nhân nghe tin thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch

Thứ nhất: “Chỉ ở trong một thể chế tự do…”, thì mới có cơ may để phát triển tài năng như Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhân vật có tầm cỡ thế giới, nhưng trong nước người ta đã và đang tranh cãi về việc ông có đóng góp được gì cho đất nước hay chăng.

Sự tranh cãi này hoàn toàn hiểu được, vì những tiêu chuẩn để đo lường sự đóng góp này ở hai bên vĩ tuyến 17 (thực tế và trong lòng mỗi người) thì khác nhau.

Nhưng có một điều có lẽ không ai có thể tranh cãi, đó là chỉ ở trong một thể chế tự do, thì người ta mới có thể phát triển tài năng ngang tầm thế giới như Thích Nhất Hạnh.

Những gì ông đã làm được thời còn ở Việt Nam như nhà xuất bản Lá Bối, trường đại học Vạn Hạnh, hoặc phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội… cũng chỉ có thể được thực hiện dưới thời VNCH, một thể chế dân chủ còn rất non trẻ và bị cho là có nhiều khiếm khuyết. Trong cùng thời gian ấy ở miền Bắc, người ta còn đang say sưa với chủ nghĩa Mác, với quan điểm tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân…

Hãy suy nghĩ về điều ấy.

Thứ hai: “Tôi hiểu rất rõ và có phần nào đồng tình với những ai yêu mến thiền sư”, nhưng…

Tôi hiểu rất rõ và có phần nào đồng tình với những ai yêu mến thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ông tài hoa, viết hay thuyết pháp giỏi, và đã góp phần phát triển Phật giáo và truyền bá pháp môn Làng Mai cho thế giới Phương Tây – nơi con người sống quá gấp gáp và căng thẳng đến độ đánh mất chính mình. Đáng để tự hào và ngưỡng mộ.

Nhưng tôi cũng rất hiểu và đồng cảm sâu sắc với những ai lên án thiền sư về thái độ đối với quê hương đất nước. Đặc biệt, chính tôi cũng thắc mắc về thái độ chính trị của ông trước và sau năm 75.

Trước đó, ông đau đáu với việc phát triển Phật giáo ở Việt Nam, đồng thời chọn đấu tranh cho hòa bình vì đau đớn trước cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn. Nhưng sau này, khi đã nổi tiếng khắp thế giới với một vị thế quan trọng như một nhà tư tưởng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, tôi có cảm tưởng dường như ông chưa từng bao giờ có một quê hương khốn khổ mang tên Việt Nam.

Trừ những lần về Việt Nam rất hoành tráng với ý định đưa pháp môn Làng Mai của ông cho Phật tử trong nước – cùng với một kiểu như ông đã làm ở bất cứ nước nào trên thế giới – ông chưa từng bao giờ lên tiếng công khai về những vấn đề của đất nước, cả việc đạo lẫn việc đời. Trong khi hoàn cảnh của người dân Việt và của chính Phật giáo Việt Nam suốt mấy chục năm từ 1975 đến nay cũng có quá nhiều điều có thể làm cho ông trăn trở, đau đớn, dằn vặt…

Vì sao thế? Ông đã quên Việt Nam, hay vì một lý do nào khác?

Câu trả lời chỉ có mình ông biết. Và ông đã ra đi, đi về phía đường xưa mây trắng…

Nên câu hỏi kia vẫn tiếp tục chia rẽ người Việt Nam, chẳng biết đến bao giờ.

(Mà thật ra thì cũng chẳng sao, vì chia rẽ vốn là đặc tính của dân tộc Việt. Nếu không có Thích Nhất Hạnh thì người Việt ta cũng thừa lý do để tranh cãi và khích bác nhau rồi. Ôi đất nước tôi…)

【Vũ Thị Phương Anh】

– Ảnh chụp năm 1960 của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Trí Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ. Ảnh: PVCEB, AP và Phật tử Việt Nam.

https://www.maikhoi.net/…/nghi-vun-nhan-nghe-tin-thien…

Lòng nhân ái, từ thiện của bác sĩ Nhật

Lòng nhân ái, từ thiện của bác sĩ Nhật

Từ bỏ công việc lương cao, bác sĩ Nhật đi khắp Việt Nam chữa mắt miễn phí cho người nghèo.

Bất kể nắng nóng hay giá lạnh, dù thiên nhiên có biến động bất thường thế nào cũng không thể ngăn được nỗ lực của vị bác sĩ người Nhật đến phẫu thuật cho các bệnh nhân có vấn đề về mắt tại VN.

Bác sĩ Tadashi Hattori sinh năm 1964 tại Osaka (Nhật Bản). Ông tốt nghiệp Y khoa tại Đại học Kyoto, một trong 8 trường đại học danh tiếng nhất ở Nhật.

Sau đó, ông được mời làm việc tại nhiều bệnh viện nổi tiếng ở Nhật. Được biết đến là một tài năng hiếm có trong lĩnh vực phẫu thuật cắt dịch kính (điều trị bong võng mạc, võng mạc tiểu đường và các bệnh về hoàng điểm), đặc biệt là kỹ thuật thuộc top 10 thế giới về sử dụng kính nội soi trong phẫu thuật cắt dịch kính, bác sĩ Tadashi Hattori là một trong số ít người có khả năng rút ngắn thời gian phẫu thuật xuống còn ⅓ bằng phương pháp nội soi. Các ca phẫu thuật của ông đều có tính chính xác cao và bệnh nhân hầu như rất ít biến chứng sau quá trình điều trị.

Cơ duyên với Việt Nam

Cuộc đời Bác sĩ Tadashi Hattori bắt đầu thay đổi kể từ buổi hội thảo khoa học vào năm 2001. 

Tại đây, ông gặp một bác sĩ người Việt và người này đã kể lại cho ông

những câu chuyện đau lòng của những bệnh nhân nghèo ở đây. 

“Người bác sĩ ấy nói rằng ở Việt Nam có rất nhiều người nghèo không có tiền chữa bệnh.  Họ phải chịu cảnh mù lòa, có khi mới chỉ ở độ tuổi trung niên”, 

Bác sĩ Hattori kể lại.

Nghe câu chuyện đó, ông đã về nhà suy nghĩ đến nửa năm, cuối cùng quyết định sang Việt Nam đi mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân nghèo.

“Sau khi tính toán những việc cần làm cho 4-6 tháng, tôi quyết định sẽ đi. 

Nhưng giám đốc bệnh viện của tôi nói, nếu muốn đến Việt Nam, tôi sẽ phải xin nghỉ việc. Và đó chính xác là điều tôi đã làm. Tiền bạc không  phải là thứ quan trọng duy nhất trong cuộc đời. Với nhiều người, địa vị và tiền bạc là tất cả, nhưng với tôi, được làm điều gì đó giá trị còn quan trọng hơn rất nhiều”, bác sĩ Tadashi nói, theo Japan Times.

Sau đó, bác sĩ Tadashi đã có chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam kéo dài một tháng, ông ghi chép lại những gì liên quan đến thực trạng bệnh nhân có hoàn cảnh quá khó khăn không có tiền chữa trị mắt tại nhiều tỉnh thành của Việt Nam. 

Sau đó, ông quay lại Nhật và kêu gọi các công ty y tế tài trợ.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ông đang không làm tại một bệnh viện nào và chẳng ai tài trợ cho ông. 

Ông tiếp tục nộp đơn xin hỗ trợ lên chính phủ Nhật Bản nhưng cũng bị từ chối. Đại diện văn phòng chính phủ cho biết, họ chỉ tài trợ các tổ chức NGO. 

Cuối cùng, bác sĩ Tadashi quyết định dùng tiền tiết kiệm của hai vợ chồng để mua thiết bị mang sang Việt Nam mổ miễn phí.

 Ở Nhật Bản, nghề bác sỹ được xem là nghề “hái ra tiền”, một bác sĩ không cần quá nổi tiếng cũng đủ để sống sung túc, giàu có. 

Tuy nhiên, vợ bác sĩ Tadashi lại không có cái “may mắn” đó, bởi chồng bà luôn có những mục tiêu thiện nguyện. Vậy nên, khi chồng nói về việc muốn dùng tiền tiết kiệm dưỡng già của họ để mua thiết bị phẫu thuật cho bệnh nhân nghèo ở Việt Nam, bà đã tức giận đến nỗi không nói chuyện với ông 3 ngày. Cuối cùng, bà đã đồng ý và bắt đầu ủng hộ ông trong những chương trình thiện nguyện ở Việt Nam sau này. 

Cha ông dạy: “Hãy luôn sống vì mọi người”

Thầy ông dạy: “Hãy coi bệnh nhân như bố mẹ mình”

Kể từ cuộc gặp gỡ định mệnh vào năm 2001, cuộc sống của bác sỹ Hattori đã chia ra làm 2 phần: phần ở Nhật Bản và phần ở Việt Nam.

Cứ nửa tháng ông lại về Nhật làm việc với tư cách là bác sĩ tự do, tham gia vào những ca bệnh khó tại Nhật Bản để kiếm thêm thu nhập.

Nửa tháng còn lại ông đi khắp Việt Nam để chữa trị miễn phí cho người nghèo. Nhìn chung, số ngày ông ở Việt Nam mỗi năm dao động từ 140 đến 180 ngày.

Nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của bác sĩ Tadashi, dần dà, những hoạt động thiện nguyện của ông tại Việt Nam càng được cộng đồng biết đến. Hiện tại, ông đã kêu gọi được rất nhiều hỗ trợ tài chính từ các bệnh viện công, phòng khám tư mà ông hợp tác chữa bệnh bán thời gian.

Bác sĩ Tadashi cho biết ông rất thương người bệnh ở Việt Nam, bởi vì họ quá nghèo mà phải đến khi tình trạng bệnh quá nặng, không còn cứu chữa được nữa, họ mới tìm đến bác sĩ.

“Chữa bệnh cho bệnh nhân Nhật dễ hơn nhiều vì họ thường tìm đến bác sỹ ngay khi họ thấy có vấn đề, vì vậy bệnh thường chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Nhưng ở Việt Nam, bệnh nhân thường để đến khi gần mù rồi mới tìm đến bác sỹ.Thậm chí nhiều người không làm gì cho đến khi mù một con mắt. Chính vì thế, số người bị mù một mắt ở Việt Nam cao đột biến, cao hơn rất nhiều so với những nơi tôi từng chữa trị”, bác sĩ Tadashi chia sẻ.

Mang ánh sáng đến cho người Việt nghèo

Bác sĩ Hattori trải lòng, cha của ông đã ra đi đau đớn vì sự tắc trách của bác sĩ điều trị bệnh, điều này đã khiến ông quyết định theo đuổi ngành y.

 “Cha đã truyền cảm hứng để tôi sống nhiều hơn cho các mục đích thiện nguyện. Trước khi ông chết, ông bảo tôi “hãy luôn sống vì mọi người”. Sau này, một người thầy đã dạy tôi rằng: “Hãy luôn đối xử với bệnh nhân như cha mẹ của mình”.

Bác sỹ Hattori vẫn miệt mài cho những mục đích thiện nguyện tại Việt Nam.

Mặc dù đã ngoài 50 nhưng bác sĩ Hattori vẫn ngày đêm miệt mài với công việc thiện nguyện của mình tại Việt Nam. Ban ngày, người ta thấy ông thoăn thoắt phẫu thuật cho bệnh nhân, vận chuyển đồ đạc, đêm về lại cặm cụi viết báo cáo đăng lên website tổ chức từ thiện Asia Prevention of Blindness Association do chính ông sáng lập vào năm 2005.

Người Việt Nam thường gọi ông Hattori là “bác sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng ông còn có một tên gọi khác nữa là “aka hige sensei” . Trong tiếng Nhật, cụm từ để chỉ người lương y giàu lòng nhân ái, luôn giúp đỡ những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, và được ví như ông Bụt trong truyện cổ tích.

Nguồn: Lòng từ thiện của một bác sĩ Nhật ở VN

Gia Nguyễn chép lại từ mail của Bác sĩ Lê Ngọc Dũng 

Thanks Dr Dung.

From: HUNG TRAN

 Thánh Timôtêo và Thánh Titô, tông đồ

 Thánh Timôtêo và Thánh Titô, tông đồ

Chúc bình an! Hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 vị thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ, mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Mời bạn nghe bài nhạc tân cổ, hay quá! Tình Chúa tình người nối nhịp con tim…, Gai càng nhọn lời ca càng thánh thót…

Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôtê thì giống như của một giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng Thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng phúc âm và chịu đau khổ.

***

❦ Thánh Timôtê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân “hỗn hợp”, nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô Giáo. Sau đó, Timôtê được Thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và Thánh Phalô cùng sáng lập Giáo Hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với Thánh Phaolô, Timôtê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được Thánh Phaolô gửi đi truyền giáo — thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà Thánh Phaolô thành lập.

     Khi Timôtê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôtê cũng bị tù (Do Thái 13:23). Và Thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôtê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô. Timôtê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. (“Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung” Thánh Phaolô viết trong thư I gửi Timôtê 4:12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôtê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của Thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôtê: “Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn” (1 Tim 5:23).

❦ Thánh Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của Thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là dân ngoại, Thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: “Khi tôi đến Troas, tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không được gặp Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia. Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách — xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến” (2 Côrintô 2:12a, 13; 7:5-6).

     Trong thư  gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô Giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.

     Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong “sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn”. Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ. (Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Đỗ Dzũng

TNLT Lê Quý Lộc tố bị tra tấn trong trại An Phước bởi 11 cán bộ

Đài Á Châu Tự Do 

Trong cuộc gặp, ông Lê Quý Lộc nói rằng hồi tháng 5 năm 2021, ông đã bị đánh đập cùng lúc bởi 11 cán bộ tại trại giam An Phước. Lý do là vì ông đã lên tiếng đòi hỏi quyền được ra ngoài chơi thể thao vào thứ Bảy cho những người tù chính trị.

Thay vì đáp ứng đòi hỏi của ông này, thì phía cán bộ trại giam trừng phạt bằng việc chuyển ông sang giam giữ ở khu vực dành cho tù hình sự. Và cũng ở đây ông đã bị cán bộ trại giam đánh đập.

Theo bà Thủy mô tả thì trận đòn đã khiến mặt của ông Lê Quý Lộc bị bầm tím và sưng phù, ông này sau đó đã tuyệt thực trong tám ngày để phản đối việc mình bị hành hung.

Phóng viên Đài Á Châu Tự Do nhiều lần gọi vào số điện thoại của trại giam An Phước được công bố trên báo chí nhà nước, tuy nhiên một giọng nữ tự động thông báo “đường dây đang sửa chữa” nên không thể liên lạc được.

Một luật sư nhân quyền giấu tên vì lý do an ninh nhận xét về vụ việc:

“Theo quan điểm của tôi thì theo Luật Thi hành án Hình sự thì người phạm nhân có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, và họ được quyền tham gia vui chơi, hoạt động thể thao, và sinh hoạt văn hoá văn nghệ.

Trong trường hợp trại giam không đáp ứng những yêu cầu của phạm nhân là trái quy định của pháp luật. Và những yêu cầu của phạm nhân, cụ thể ở đây là phạm nhân chính trị, là những yêu cầu hết sức chính đáng.”

#RFAVietnamese #lequyloc #Vietnam #Vietnamhumanrights

SÀI GÒN TRONG TÔI!

SÀI GÒN TRONG TÔI!

Sài Gòn Đậm Đắng

Năm tháng qua, thời gian trôi như chó chạy ngoài đồng…chợt nhìn lại…Sài gòn sao quá đẹp, quá đỗi thân thương.

Sài gòn như mang trong nó cái bản mệnh vốn có Hòn ngọc Viễn Đông… tuy có lắng có trầm nhưng lúc nào cũng vậy, Sài gòn luôn là nơi tấp nập, đông đúc, nơi mà cơ hội kinh doanh làm giàu luôn luôn có…hiện hữu…chỉ là bạn có dám làm và dấn thân cho lý tưởng mình đã chọn hay không???

Sài gòn không ngủ…vốn dĩ nó luôn thế… nhộn nhịp; náo nhiệt; đầy sức sống…

Người Sài Gòn thân thiện phóng khoáng, luôn đón chào người từ thập phương đến làm ăn sinh sống…và trở thành nơi chôn rau cắt rốn…quê hương thứ hai.

Từ tính cách ấy, Sài gòn có văn hóa vỉa hè… 2 cái ghế đẩu, 1 bình trà, hay 2 ly cafe pha phin nóng đá là đủ… có thể ngồi từ sáng tới trưa, từ trưa tới tối.

Văn hóa vỉa hè không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính…ông chủ lớn cũng có thể ngồi… anh thợ đi làm tạt ngang cũng làm ly cafe rồi đi… cô gái trẻ bên ly chanh muối mật ong… đường phèn. Họ cùng chung 1 thứ văn hóa đó là Phóng khoáng… và sống đời… Nó Thật… họ chỉ quan tâm 1 điều đó là cafe phải ngon…nước phải chất…thì ngồi đâu cũng được…ghế đẩu cũng được.

Như vô tình mà hữu ý… ngày ấy… đường Sài gòn trồng đầy cây me… mộc mạc… khẳng khiu… lá nhỏ nhưng đầy sức sống… quả thì từ chua tới ngọt… lại phải chấm 1 chút muối cay…Nó mới là vị của cuộc sống…chua cay ngọt bùi… như Hỷ nộ ái ố.

Cái văn hóa vỉa hè… nhìn dòng người tấp nập qua lại… trong cái động có cái tĩnh…trong cái tĩnh có cái động… mỗi thời mỗi khắc… ta lại như như hiểu mình, hiểu người nhiều hơn…như một chữ Ngộ…!!!

Như ai đó đã từng nói…Sài Gòn đẹp lắm vào mỗi sớm, cà phê vỉa hè nhộn nhịp người ngồi. Giọt cà phê đen rơi chậm như những thước phim chậm hồi ức của một người.

Sài gòn đa màu đa sắc, ở Sài Gòn tôi thấm…hiểu…cuộc đời là những chuyến đi…là dấn thân…Chỉ có thế, ta mới hiểu sắc màu cuộc sống là thế nào. Luôn nở nụ cười và học cách tìm niềm vui trong nỗi buồn, tìm hy vọng trong tuyệt vọng, tìm thành công trong thất bại.

Sài gòn đẹp lắm! Đậm đắng…rồi sẽ Ngọt Bùi… Không Quên!

Sài Gòn Đậm Đắng

Thánh Phaolô trở lại…

 Thánh Phaolô trở lại…,

Chúc một ngày an lành mọi sự tốt đẹp trong bàn tay quan phòng của Chúa. Hôm nay 25/1 Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Phaolô trở lại, ta hãy xin cho được sự hoán cải trong tâm hồn. Xin một hy sinh nhỏ để cầu nguyện cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại.

Cha Vương

Toàn thể cuộc đời của Thánh Phaolô có thể nói hệ tại ở một biến cố — ngài được gặp Ðức Giêsu trên đường đi Damascus. Ngay khoảng khắc đó, mọi sự hăng say của một người nhiệt huyết như ngài đều trở nên vô ích, như quả đấm ngàn cân của một tay quyền anh bị hụt hẫng. Có lẽ ngài chưa bao giờ được gặp Ðức Giêsu, mặc dù chỉ lớn hơn Ðức Giêsu vài tuổi. 

Nhưng ngài ghét cay ghét đắng những gì Ðức Giêsu chủ trương khi ngài bắt đầu bắt bớ Giáo Hội: “đi vào từng nhà và bắt bỏ tù những người đàn ông cũng như đàn bà” (CVTÐ 8:3b). Bây giờ, chính ngài được “đi vào”, được chiếm ngự, mọi năng lực của ngài được khai thác cho một mục đích — trở nên một người nô lệ cho Ðức Kitô trong sứ vụ hòa giải, thành một khí cụ giúp người khác cảm nhận được Ðấng Cứu Thế.

Câu nói sau đã xác định lập trường đức tin của ngài: “Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại” (CVTÐ 9:5b). Một cách huyền nhiệm Ðức Giêsu đã đồng hóa với dân của Ngài – là những người mà Thánh Phaolô trước đây đã từng săn đuổi như các tội nhân. Ngài nhìn thấy nơi Ðức Giêsu, sự hoàn tất một cách huyền nhiệm những gì ngài đang theo đuổi cách mù quáng.

Từ đó trở đi, công việc của ngài là “giúp mỗi người trở nên hoàn thiện trong Ðức Ki-tô. Vì đó mà tôi phải vất vả chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi” (Colossê 1:28b-29). “Vì tin mừng được loan báo cho anh chị em không chỉ bằng lời nói, mà còn trong quyền năng và trong Thánh Thần và với niềm xác tín sâu xa (1 Thess. 1-5a).

Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên sự rao truyền không mệt mỏi và ngài sống sứ điệp thập giá: qua sự rửa tội, người Kitô chết cho tội lỗi và được mai táng với Ðức Kitô; họ là người chết đối với những gì sai trái và không giúp đưa đến sự cứu chuộc của thế gian. Họ được tạo thành một tạo vật mới, được chia sẻ vinh quang của Ðức Kitô và một ngày nào đó họ sẽ được sống lại từ cõi chết như Người. Qua Ðức Kitô phục sinh, Thiên Chúa Cha tuôn đổ Thánh Thần trên họ, biến họ trở nên hoàn toàn mới.

Do đó thông điệp vĩ đại của Thánh Phalô cho thế giới là: Bạn đã được Thiên Chúa cứu chuộc, không do bởi bất cứ gì bạn thi hành. Ðức tin cứu độ là món quà tặng cho những ai tận hiến cho Ðức Kitô một cách tuyệt đối, tự nguyện và cá biệt, mà sự tận hiến ấy mang lại kết quả trong “công việc” nhiều hơn là những gì luật lệ mơ tưởng. (Nguồn: Người Tín Hữu)

❦  “Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Côrintô 13:4-7).

Lạy Chúa, xin hãy dẫn dắt con đi từ cõi chết đến sự sống, từ lầm lạc đến chân lý. Xin hãy dẫn dắt con đi từ thất vọng đến hy vọng, từ sợ hãi đến tín thác. Xin hãy dẫn dắt con đi từ ghen ghét đến yêu thương, từ chiến tranh đến hòa bình. Xin hãy đổ đầy bình an trong trái tim chúng con, trong thế giới chúng con, trong vũ trụ chúng con. (Nguồn:TGP Saigon)

From: Đỗ Dzũng

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Van Pham

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Trần Thị Nguyệt Mai

Tôi rất hân hạnh được là một trong những độc giả đầu tiên khi cuốn sách “Tháng Ngày Qua” – Hồi ức của Nhà văn Nguyễn Tường Nhung, chỉ mới là những trang bản thảo rời. Tác giả là trưởng nữ của Nhà văn Thạch Lam và cũng là phu nhân của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những vị tướng lãnh xuất sắc và trong sạch của Quân Lực VNCH.

Cuốn sách hé mở cho chúng ta rõ hơn không chỉ về thân thế của hai gia đình rất nổi tiếng – Thạch Lam và Ngô Quang Trưởng – mà còn như một cuốn phim quay lại hình ảnh xã hội thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam cận đại, hiển hiện nỗi khổ đau tận cùng khi mất mát cả tài sản lẫn những người thân yêu nhất trong đời, nỗi lo âu của người vợ lính khi chồng ra chiến trận và phút giây lãng mạn hạnh phúc khi chinh nhân trở về…

Những ngày Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng thảm thương ở Huế cũng được ghi lại một cách sống động.

Khi viết về văn chương Thạch Lam, nhà văn Mai Thảo đã dùng những lời ngợi khen đẹp nhất: “bút pháp chuốt lọc, trong sáng và chính xác nhất của văn xuôi tiền chiến” (1). “Bút pháp chính xác ông mãi mãi là một vinh dự cho tiếng Việt, theo ý tôi” (2). “Những trang tiểu thuyết đôn hậu và chứa chan tình cảm của Thạch Lam” (3) đã đi vào và ở mãi trong tâm hồn người đọc với Gió Lạnh Đầu Mùa, Nhà Mẹ Lê, Hai đứa trẻ, v.v… Đọc “Tháng Ngày Qua” càng thấy rõ hơn “văn chính là người”, để càng yêu mến Ông hơn.

Trong đậm sâu trí nhớ của tác giả ngày ấy, khi còn là một cô bé 6 tuổi, vẫn còn hiện rõ hình ảnh Bố Thạch Lam:

Bố tôi rất cao, da trắng hồng trông như lai Tây vậy. Ông hay mặc bộ vét màu kem nhạt may bằng hàng vải đũi, đầu luôn đội cái mũ phớt, chân đi giày tây, lúc nào cũng bóng loáng. Quần áo của bố tôi lúc nào cũng phải là thẳng tắp. Bố tôi rất ngăn nắp, thứ tự và rất quý sách. Ông có một tủ sách bìa mạ chữ vàng được xếp rất ngăn nắp. (sđd, tr. 20)

Và Mẹ, bà Thạch Lam, người vợ mà Ông rất yêu thương:

Mẹ tôi hơn bố tôi vài tuổi. Bà tuy hơi thấp so với bố tôi, nhưng bà rất đẹp và rất khéo chiều bố tôi. Bà hiểu rõ rất tỉ mỉ từng chi tiết, những sở thích của bố tôi và tôn trọng tất cả những gì mà bố tôi quyết định. Cà phê mà bố tôi uống mỗi buổi sáng phải chính tay mẹ tôi pha. (sđd, tr. 22)

Cô vẫn nhớ như in sở thích ăn uống rất giản dị của Bố:

Thức ăn bố tôi không đòi hỏi phải nhiều thịt, cá hay thịnh soạn, nhưng món gì cũng phải thật tinh khiết, sạch sẽ, bày cho gọn và đẹp mắt. Bố tôi thích những món ăn thanh như canh giò sống nấu rau ngót, cải xanh nấu cá rô, rau muống luộc, đậu hũ chiên tẩm hành lá hay cá chép rán vàng, và tuyệt đối không bao giờ được dọn món ăn mà đã ăn ngày hôm trước. (sđd, tr. 23)

Cộng thêm thói quen đơn sơ nhưng rất hạnh phúc của Ông sau bữa cơm chiều:

Ăn cơm xong bố tôi có thói quen ra ngồi ngoài hiên trước nhà để ngắm cảnh. Tuy đã về chiều nhưng cũng còn một vài chiếc thuyền, trên chở những cặp tình nhân. Họ chèo thật chậm nhìn ngắm mặt trời lặn và thủ thỉ những lời âu yếm. Bố tôi lúc nào cũng rủ mẹ tôi ra cùng ngồi và trò chuyện tâm tình cùng mẹ. Bố tôi ít nói, nhưng khi nói thì đã diễn tả hết ý mình. (sđd, tr. 22)

Đặc biệt là tính thương người vô cùng tận của Ông, để thấy tại sao văn chương Thạch Lam cũng giống như người:

Bố tôi rất khó tính và ít khi cười nhưng lại rất thương người. Có thời gian nhà có một anh phu xe để kéo xe cho bố tôi đi làm hàng ngày. Nhưng khi trời mưa thì bố tôi bảo mưa ướt tội nghiệp, khi nắng thì bố tôi cũng bảo nóng quá kéo xe mệt, và thấy anh kéo xe đổ mồ hôi thì cũng không đành. Rút cuộc bố tôi lại đi xe ngoài để đi làm. (sđd, tr. 23)

Nhà văn Thạch Lam mất rất sớm lúc mới ngoài 30 tuổi, khi văn tài đang vào độ sung mãn. Ngày ấy tác giả chỉ mới 6 tuổi, có hai em trai, một lên 3 và một mới sinh được 3 ngày. Đang từ một cô bé được bố rất yêu chiều:

Tối nào sau khi ăn cơm xong bố tôi cũng gọi tôi vào phòng sách chỗ bố tôi ngồi hàng đêm để viết văn. Trên bàn viết của bố tôi ngoài những giấy, bút, đặc biệt có một lọ kẹo tây. Những viên kẹo đủ màu sắc hồng lạt, đỏ, xanh, trắng, đựng trong chiếc lọ bằng thủy tinh trông thật đẹp mắt và thật là muốn ăn. Bố tôi mở nắp lọ, mùi kẹo bay thật thơm. Bố tôi lấy ra cho tôi một cái… (sđd, tr. 23 & 24)

Cô trở thành đứa trẻ mồ côi cha. Sau đám tang vài tháng, “bà nội tôi cho người lên Hà Nội đón mẹ và ba chị em chúng tôi về trại Cẩm Giàng. Trại rộng hai mẫu tây, khang trang, nằm cách ga tàu hỏa khoảng hơn cây số. Hai cánh cổng chính của trại khá to, sơn màu xanh, giàn hoa tỉ muội màu hồng nhạt leo chung quanh” (sđd, tr. 27). Từ đây, gia đình cô rời bỏ “căn nhà nhỏ nhưng rất thơ mộng ở tại đầu làng Yên Phụ, ngay cạnh hồ Tây có cây liễu rủ, tàn liễu sà xuống gần mặt nước hồ… Đường từ ngoài vào làng toàn lót bằng gạch đỏ. Trên đường đi chỗ nào cũng nhìn thấy nước hồ… Đi sâu vào trong làng rất đẹp, hai bên là những hàng rào trồng bằng cây duối, được cắt thật bằng phẳng. Khi tới mùa quả duối chín vàng trông xa như những sợi tơ tằm óng ánh… Từ đó tôi chưa có dịp trở về lại làng Yên Phụ nữa” (sđd, tr. 25)

Hình ảnh Bà Nội, người Mẹ hiền sinh ra những người con thuộc nhóm khai sáng Tự Lực Văn Đoàn đã góp công rất lớn trong việc hiện đại hóa xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua báo chí và tiểu thuyết, với “tôn chỉ” được công bố trên báo Phong Hóa số 101 ngày 8 tháng 6 năm 1934 gồm 10 điểm, đúc kết lại trong nội dung: “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam” (4):

Bà Nội dáng người cao to, nước da trắng hồng, gò má hơi cao, đôi mắt sáng, sâu, trông như lai, toát ra một vẻ oai nghiêm cương nghị. Bà rất nghiêm khắc và ít khi cười. Nhưng khi bà cười thì nụ cười thật tươi, lộ hàm răng đen. Bà nói giọng Huế nghe hay hay và lạ. … Bà ăn uống cầu kỳ, kiểu cách. Bát ăn bằng men xanh trắng viền chỉ vàng, đũa ngà, mâm bằng đồng thau sáng loáng. Khi ăn phải từ tốn, thức ăn cũng phải sắp thứ tự, rau muống luộc để ra đĩa, cọng và lá không lẫn lộn, cắt ra làm hai, khi chấm chỉ vừa đụng vào nước chấm, cơm chỉ được xới một nửa bát… (sđd, tr. 30 & 31)

Bà rất kiên cường, thật giỏi, can đảm. Khi ông mất bà còn rất trẻ, chưa tới 40. Một tay bà phải chăm sóc mẹ chồng và bảy người con còn niên thiếu mà vốn liếng chỉ là một tiệm tạp hóa nhỏ, bán những thứ lặt vặt như kim chỉ, muối, đường, diêm, nến, vài lọ kẹo bột, kẹo gừng, v.v… lời lỗ chẳng được bao nhiêu. Nhưng nhờ vào việc cân gạo, cứ mỗi sáng sớm tinh mơ, những dân ở các làng lân cận đem gạo lên bán, từng gánh hoặc thúng có khi chỉ mươi đấu đựng trong cái bị đan bằng cói. Bà gom mua lại để bán lẻ, khách hàng là những gia đình nghèo sống rải rác quanh phố chợ. Nhờ tài quán xuyến bà đã cho các con ăn học… (sđd, tr. 32 & 33) Một tay bà đã gây dựng được một gia đình làm rạng danh cho dòng họ, những văn tài đã để lại cho những thế hệ nối tiếp (sđd, tr. 46). Sau này, khi các con trai đã thành danh, bà xuống tóc xuất gia cửa Phật và ít khi về lại trại. (sđd, tr. 33)

Cuộc sống êm đềm yên ả chẳng bao lâu thì loạn lạc xảy ra, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Năm 1946, một đêm phố chợ Cẩm Giàng bùng lên bốc cháy, khói bay mù mịt cả một góc trời (sđd, tr. 82). Giữa đêm đang ngủ, U (là vú em, người nuôi cậu em kế) lay cô dậy để cùng Mẹ, hai em và U gánh gồng đi lánh nạn, đến tạm cư ở Xóm Đìa, cách Nhã Nam khoảng 5, 7 cây số, “một xóm rất nghèo, chỉ có khoảng mươi căn, phần đông đều lợp bằng lá, và sống bằng ruộng nương nhưng là ruộng thuê lại gọi là cấy rẽ” (sđd, tr. 35). Đến đây, U từ biệt về quê. Và cuộc đời của cô bắt đầu lật sang một trang mới với rất nhiều vất vả, khó khăn.

“Khi đến Xóm Đìa, vài nhà quanh xóm cũng đã có mấy người tản cư tá túc. Chúng tôi được chủ nhà tên Nhâm cho ở nhờ. Ông cho dọn dẹp cho chúng tôi ở nhờ trong cái kho nhỏ, thường để chứa những dụng cụ nhà nông như cuốc, xẻng, cày, bừa, dao liềm, v.v… và chỗ nằm của con vện đen. Cái kho lợp bằng rạ, vách trát bùn trộn rơm đã cũ, vách có nhiều lỗ thủng, cửa là cái phên đan bằng nứa có gắn một thanh tre để chống lên chống xuống. Bên trong, vẻn vẹn chỉ có một cái giường bằng gỗ vừa đủ cho bốn mẹ con nằm, bên cạnh giường kê ba hòn gạch chụm lại gọi là ông đồ bếp (theo ngôn ngữ lúc đó) để thổi nấu. Tắm rửa hàng ngày thì ra ngoài ao. Nước uống và nước thổi cơm thì phải vào tận cuối xóm gánh về; cả xóm đều dùng nước giếng ấy (sđd, tr. 35).

Những ngày đầu thật bỡ ngỡ. Một khung cảnh quá cách biệt. Chúng tôi như rơi vào một cơn ác mộng. Căn nhà kho chứa đồ vật dụng bẩn thỉu, chật hẹp, một chỗ thua cả chuồng chó ở trại Cẩm Giàng của gia đình chúng tôi (sđd, tr. 64). Mùa đông đến đem theo hơi lạnh, gió rét của miền rừng núi. Bốn mẹ con co ro trên một cái phản gỗ, đắp một cái chiếu cũng đã cũ. Mẹ đầu bên này, tôi đầu bên kia, kéo qua kéo lại. Con ấm thì mẹ lạnh và ngược lại. Hai cậu em thì còn nhỏ ngủ vô tư. (sđd, tr. 69).

“Những năm đầu Mẹ còn có chút tiền đem theo, chúng tôi có cơm gạo trắng, có chút ít thịt, cá” (sđd, tr. 64). Đến khi hết tiền và bán đi tất cả những thứ đã mang theo, thì “Mẹ sắp xếp cho tôi theo mấy cô trong xóm đi buôn cà chua và su hào, mỗi tuần hai phiên chợ ngoài thị trấn Nhã Nam. Phải dậy từ sáng tinh mơ vào vườn cà chua hoặc su hào họ đã hái sẵn rồi tùy sức của mỗi người gánh được nhiều hay ít… tiền lãi cũng tạm để mua gạo có cơm trộn khoai hay sắn. Các em thì vào rừng nhặt củi khô và nấm hạt dẻ (sđd, tr. 36).

Thấy con quá vất vả mà chẳng kiếm được bao nhiêu, nên khi được chủ nhà cho mượn toàn bộ đồ nghề và có người cho mua thóc chịu, hai mẹ con chuyển qua nghề làm hàng xáo, tức là “xay thóc, sàng bỏ trấu đi. Sau đó bỏ vào cối giã rồi vần, sảy cho cám và tấm rớt ra” (sđd, tr. 67) cũng cực nhọc nhưng “lãi được tấm để ăn, cám bán lấy tiền mua rau, muối, tương, cà. Nếu được thóc tốt thì thừa ra một ít gạo. Những lần như vậy mấy mẹ con mừng lắm, nhưng cũng phải độn thêm khoai hoặc sắn. Khi mùa gặt đến chúng tôi đi mót lúa… Thỉnh thoảng tôi đi theo mấy đứa bạn đi hôi cá… Từ khi mẹ hết tiền chưa hôm nào được ăn no và được ăn không độn. Thịt lợn, thịt bò thì xa lánh hẳn, gặp mùa gà bị toi là lúc mới thấy mùi gà.

*********

Ngày tháng vẫn trôi qua. Mẹ tôi không dám tự mình hồi cư vì mịt mù tin tức, sợ bị Tây bắt. Thấm thoắt đã gần ba năm, chị em chúng tôi mỗi người chỉ có hai bộ áo quần đã rách tả tơi” (sđd, tr. 37).

Trong lúc ấy, Bà Nội “rất lo lắng vì từ khi chạy tản cư đã gần ba năm mấy mẹ con chúng tôi biệt vô âm tín”, nên “thuê người đi tìm mẹ con chúng tôi” (sđd, tr. 38). Bà Nội đã giữ gìn cho các cháu: “Nếu không có Bà Nội có thể tôi đã là một nữ cán bộ và các em có thể là bộ đội hay bệnh hoạn vùi thây nơi rừng thiêng nước độc này!” (sđd, tr. 39).

Về lại Phố Chợ Cẩm Giàng, gặp lại bạn cũ, cũng là lúc cô “thật ngỡ ngàng không thể tin được. Một trang trại rộng lớn đẹp như thế … bây giờ chỉ là bãi đất hoang.” Bạn cô cho biết, “Khi Việt Minh rút đi họ đã đốt, đập phá hủy tất cả những dinh thự họ gọi là tiêu thổ kháng chiến. Nghe nói vậy tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao Việt Minh lại làm như vậy. Phá mất đi một trang trại nổi tiếng là đẹp, nên khi những chuyến tàu chạy ngang đây có nhiều người giơ máy chụp ảnh, và tôi không còn được ở đây nữa.” (sđd, tr. 41).

“Bắt đầu từ khi rời khỏi trại Cẩm Giàng, líu ríu dắt ba đứa con chạy tản cư, hồi cư về thành, cơ nghiệp không còn gì. Mẹ rất nghèo, nhờ Bà Nội giúp một phần, mẹ tần tảo, bươn chải nuôi con ăn học” (sđd, tr. 92). Và năm 1953 Bà Nội đã “đích thân đến nhà ông Thám (Tổng Giám đốc Bưu điện Việt Nam) để xin cho mẹ tôi một việc làm… Lương tuy thấp nhưng cũng đủ sống cả mấy mẹ con và lại có nhà ở hai buồng nhỏ, có bếp, bể chứa nước, trong cư xá Bưu điện đằng sau Nhà Hát Lớn, trước cửa Nhà Bác Cổ Hà Nội.” (sđd, tr. 46 & 47)

Sau này, người thiếu nữ ấy gặp Trung úy Ngô Quang Trưởng và khi kết hôn với nhau thì ông đã lên cấp Đại úy, Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 Nhảy Dù. Cuốn sách đã chia sẻ cuộc đời binh nghiệp của ông Ngô Quang Trưởng bắt đầu từ lúc này. “Anh tham gia trận chiến nhiều hơn làm việc ở văn phòng. Mỗi lần đi hai tới ba tuần mới trở lại đơn vị. Khi trở về anh đã gầy lại gầy hơn, mặt sạm đen, đôi khi bị nổi ngứa khắp cả người. (sđd, tr. 130). Sau đó, được “đổi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng ở Sài Gòn (sđd, tr. 139). “Khoảng thời gian này anh không phải ra trận liên miên như khi còn ở Tiểu Đoàn. Chỉ đi thị sát, và đôi lần anh phải bay ra miền Trung để cùng chỉ huy tham dự những trận đánh do quân Bắc Việt tấn công.” (sđd, tr. 140)

Hơn một năm sau, “khoảng đầu năm 1966, ngay tại thành phố Huế, tình hình khá gay cấn. Dân chúng biểu tình chống đối chính quyền bằng cách đem bàn thờ Phật để ngoài đường phố… Anh được Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTU) bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/BB, Bộ Tư Lệnh đóng tại Thành Nội Huế. (sđd, tr. 150)

Ở Huế 5 năm, Ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ và “rất bận rộn, thời gian ở trên trực thăng nhiều hơn dưới đất. Chỉnh đốn lại Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, thăm các tỉnh, các quận, đồn bót, v.v…” (sđd, tr. 196)

Sau hơn hai năm trấn nhậm ở miền Nam hiền hòa, “Anh nhận được lệnh thuyên chuyển không dự tính, không báo trước Tổng Thống bổ nhiệm làm Tư Lệnh Vùng 1 đóng ở Đà Nẵng… Đây là lần thứ tư đổi chỗ ở trong khoảng năm năm.” (sđd, tr. 201 & 202)

Tác giả đã ghi lại những diễn biến trong hai tháng cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa mà bà là một chứng nhân. Qua người tùy viên, chúng ta thấy được hình ảnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trong ngày cuối trước khi mất Đà Nẵng:

Giờ phút cuối ở Đà Nẵng, chỉ có anh và chú đi bộ ra bên bờ biển Sơn Trà lặng vắng, mỗi người trên mình độc nhất chỉ một khẩu súng (sđd, tr. 263). Theo lời người tùy viên kể lại ngày cuối tại Đà Nẵng, anh và chú đã đứng tại chỗ này định kết thúc bằng viên đạn.” (sđd, 252)

Đọc những trang sách nói về cuộc đời binh nghiệp của Tướng Ngô Quang Trưởng, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy tuy là tướng lãnh của một vùng, nhưng Ông thể hiện tác phong quân kỷ rất nghiêm chỉnh:

“Anh thức dậy sớm rất đúng giờ. Những cư dân trên con đường anh đến Bộ Tư Lệnh mỗi ngày có tiếng đồn không cần xem đồng hồ, mỗi lần thấy xe Tư Lệnh chạy ngang là biết đúng giờ đó anh di chuyển, không bao giờ có xe còi hụ, không người hộ vệ, chỉ có một tùy viên. (sđd, tr. 263)

“Thời gian ở Huế và Đà Nẵng, những ngày cuối tuần hay ngày lễ anh không bao giờ nghỉ. Tôi và các con không có bữa ăn trưa cùng anh. Những bữa cơm tối anh thường về muộn, các con ăn trước, ôn bài vở để đi ngủ sớm. Tuy sống cùng một nhà nhưng chúng chỉ gặp chào anh trước khi đi ngủ.” (sđd, tr. 264)

Những hành xử của Ông trong việc thi hành lệnh quân đội không vị tình riêng, không kết bè, vây cánh để tạo ảnh hưởng riêng:

“… Từ Sài Gòn đổi ra Huế đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh chỉ có một người tùy viên đi theo, ngoài ra không một người thân, … Chuyện chỗ ở, phương tiện, người giúp việc cho gia đình anh cũng để tùy văn phòng họ sắp xếp, tôi cũng không đòi hỏi, không lựa chọn.” (sđd, tr. 266)

Ông luôn luôn sát cánh, chia sẻ với thuộc cấp trong từng nhiệm vụ:

Mỗi khi ra lệnh cấm trại anh luôn luôn cùng ở trong trại với các anh em. (sđd, tr. 151)

Ông cũng không bao giờ lạm dụng chức vụ hay quyền thế để làm ảnh hưởng đến công quỹ nhà nước:

Mùa hạ khi ở Huế, tôi hay đưa các con ra bãi biển Thuận An. Trên đường xe chạy ngang những khu vườn xanh tươi cây trái hoa quả ẩn hiện thấp thoáng những căn nhà lợp ngói đỏ đã phai màu, không gian có vẻ thanh bình, các con thường mong anh đi cùng. Chúng hay hỏi sao Ba không đi, anh chỉ trả lời một câu, “Ba bận làm việc”. Tuổi thơ vô tư chúng không thắc mắc. Tôi biết nếu anh đi, phải có hộ tống, phải lo sắp đặt an ninh. Chỉ một lần vui chốc lát mà bao người phải lo như vậy, lạm dụng công sức của quân đội, một chuyện không thể có ở anh. (sđd, tr. 268)

Và sống rất khiêm nhường, giản dị:

Anh với chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 ở Huế, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 ở Đà Nẵng, phương tiện di chuyển của tôi cũng chỉ là chiếc xe Jeep cũ mang bảng số dân sự. Thời gian làm Tư Lệnh vùng Một ở Đà Nẵng, người Mỹ có cho một xe du lịch Huê Kỳ màu đen khá rộng để gia đình sử dụng nhưng anh bảo tôi nhường xe ấy cho gia đình Tư Lệnh phó… (sđd, tr. 267 & 268)

Điều quan trọng nhất là Ông giữ gìn rất nghiêm mật đức tính thanh liêm, trong sạch của mình. Còn nhớ “trong thập niên 1960 tại Miền Nam, trong dân gian đã truyền tụng câu: ‘Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng’ nói lên lòng ngưỡng mộ của người dân đối với bốn vị tướng lãnh này của QLVNCH” (5).

“… một điều quan trọng là không nhận quà biếu của bất cứ ai.” (sđd, tr. 157)

“… quan niệm sống của anh, anh dứt khoát không giúp một ai dù là người thân thích. Anh nói người nào cũng có gia đình, cũng có bố mẹ, cũng có con cái, trong thời chiến trận mình lo cho người thân về chỗ yên lành như vậy còn gì là kỷ luật và còn ai bảo vệ quê hương. Anh đã bị họ hàng thân thích trách hờn.” (sđd, tr. 297)

“Khi còn ở VN, sau bữa cơm tối ra ngồi ngoài sân, anh phân tách những sự việc, những thâm hiểm, những đòn phép của con người khó thể biết được mà vì vô tình hay vì sự tham lam, mình sẽ bị cạm bẫy. Nếu mình phạm vào một lần sẽ có cớ để họ gây khó dễ, họ ăn mười mình ăn một nhưng tiếng tăm mình lãnh hết và gây khó dễ cho công việc anh làm.” (sđd, tr. 271)

Sau đây là một ví dụ:

“Anh ăn giản dị không đòi hỏi nhưng tôi biết ý anh thích những món mặn theo cách chế biến của miền Nam. Hai đứa nhỏ nhất thì thích nấu theo kiểu Huế, còn tôi vẫn thích những món thanh nhẹ của miền Bắc… Tôi thường phụ với chú đầu bếp luôn tiện dạy cho chú cách nấu những món của miền Nam và miền Bắc. Món thịt gà là món mọi người ưa thích nhất, nhưng giá một con gà khoảng hơn một nghìn cho cả nhà không đủ, mà mua hai con thì nhiều tiền quá. Tiền chợ mỗi ngày đã chỉ định chỉ có một ngàn, vì vậy món thịt gà thường vắng bóng trong những bữa ăn.

Tướng Tư Lệnh một vùng mà thức ăn hàng ngày cũng phải tính toán vì còn phải để dành một ít. Thời gian ở miền Tây thực phẩm rẻ và có nhiều lựa chọn, đặc biệt là hải sản và rau củ trái cây, nhờ vậy thức ăn đầy đủ hơn. Tuy vậy, chú bếp cũng không vui, than phiền. Chú nói người tư lệnh trước đưa tiền chợ nhiều gấp hai mà lại ít người hơn, gạo ngon có người cung cấp, nước tương nước mắm họ biếu cả thùng, v.v… và v.v… Với tiền chợ tôi đưa gồm cả gạo mắm muối, chú phải tính mua những món ít tiền mới đủ mặc dù tôi nói chúng tôi không cần những thức ăn cầu kỳ đắt tiền.” (sđd, tr. 265, 266)

Thêm một ví dụ khác:

“Qua nhiều lần nói chuyện với Hòa, có những việc rất nhỏ làm tôi áy náy tự cảm thấy như thiếu bổn phận làm vợ. Chú nói hai thầy trò thường nhịn đói không có bữa ăn trưa. Bữa ăn sáng của anh là một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm. Tôi có nói để mua một tô bún bò hay phở mì, anh hỏi giá bao nhiêu rồi nói mắc quá và mất công đi mua… Hàng ngày anh đến văn phòng rồi lên trực thăng thăm các tiền đồn, chỗ đóng quân, có khi đáp xuống một vài nơi đúng giờ ăn trưa họ mời nhưng không bao giờ anh ở lại ăn. Chú cho biết hôm nào Trung Tướng ăn một hộp trái cây thì Hòa ăn một hộp thịt. Những món đồ hộp thường có để một ít trên máy bay nhưng ít khi ăn vì vậy tùy viên cũng nhịn theo.” (sđd, tr. 264)

Tướng lãnh của một vùng mà bữa điểm tâm chỉ là “một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm” thì đủ hiểu được con người chân chính, thanh liêm của Ông đến bậc nào.

Bằng một văn phong nhẹ nhàng, trong sáng và chân thật thừa hưởng từ Bố Thạch Lam, tác giả Nguyễn Tường Nhung đã chia sẻ về gia đình mình sau khi Nhà văn Thạch Lam mất cũng như về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “một người chồng đầy tình cảm lãng mạn, một người cha nhiều trách nhiệm, đã sống một cuộc đời khiêm nhường, khép kín nhưng có lẽ thật bình yên, hạnh phúc khi trở thành một di dân tị nạn tại Hoa Kỳ…” như lời giới thiệu của Nhà xuất bản Thạch Ngữ ở bìa sau sách. Hy vọng Tháng Ngày Qua sẽ góp thêm tài liệu cho những bạn trẻ hoặc những nhà viết sử tương lai khi muốn tìm hiểu về hai gia đình này hay thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách cũng có thể dựng thành phim ảnh vì nói đến xã hội và con người Việt Nam ở một thời kỳ vô cùng nhiễu nhương. Có đầy đủ tình tiết của chết chóc, đau khổ lẫn vui tươi, sum họp… Có những phân đoạn thương cảm khiến lệ tràn mi mà cũng có những phân đoạn vui tươi với nụ cười hạnh phúc.

– Hình bìa hồi ức Tháng Ngày Qua.

5 điều ” tuyệt vời” mình nhận ra trong đám tang của Người Công Giáo.

Make Christianity Great As Always

5 điều ” tuyệt vời” mình nhận ra trong đám tang của Người Công Giáo.

– Có thể anh chị em Ngoại Đạo cũng giống mình, mình cũng chỉ là 1 Tân Tòng nên còn rất nhiều điều chưa biết về Đạo, có nhiều điều khi đi vào thực tế, được chứng kiến tận mắt thì làm mình rất ngạc nhiên, nó khác hẳn với những gì người ta đồn thổi, hoặc ngăn trở để không được kết hôn với người Công Giáo. Vì thế mình sẽ bắt đầu chia sẻ với bạn những trải nghiệm cá nhân của mình khi bước chân vào Đạo Công Giáo.

– Biết người Công Giáo đã nhiều năm. Nhưng mình mới dự Đám Tang người Công giáo được 3 lần, lần đầu là 1 bác họ hàng xa bên chồng, 1 lần là của 1 Cha trong Dòng Tu, và lần gần nhất là sáng nay, của 1 chị trong Giáo Xứ.

– Có 5 điều khiến mình cực kỳ ngạc nhiên về đám tang của Người Công Giáo, dưới đây là chia sẻ cảm nghiệm cá nhân, mong mọi người chỉ dạy mình thêm.

Thứ 1: Mình ngạc nhiên, vui mừng và thấy vinh hạnh cho Người Công Giáo làm sao, khi mất đi, Người Công Giáo được đưa tới hẳn nhà thờ, đặt Quan Tài trong Nhà Thờ trước khi đi chôn cất hoặc hỏa táng, không những được Cha thăm viếng, cầu nguyện ở nhà riêng, mà còn có cả 1 buổi lễ thật long trọng để tiễn biệt trong Nhà Thờ.

Thứ 2: Người Công Giáo mất đi, được cả cộng đoàn tới nhà đọc kinh nhiều ngày trước đó. Bởi vì tất cả người Công Giáo đều thuộc Kinh và biết đọc Kinh, nên tất cả mọi người đều có thể cầu nguyện cho người đã mất, liên lỉ và liên tục. Lời Kinh vang lên đồng thanh, êm ái như an ủi người đã mất, cầu nguyện cho người đã mất được lên Thiên Đàng.

Thứ 3: Đám tang không phân biệt giàu có, hay nghèo khó. Người Công Giáo được đối xử bình đẳng và đều được đưa đến Nhà Thờ, làm lễ bên trong Nhà Thờ. Lúc đó mình ngạc nhiên lắm, vì dù nếu là 1 người nhỏ bé, nghèo khó, không nhà cửa, thì khi mất đi, vẫn được làm Lễ trong Nhà Thờ, vẫn có nhà để về. Chúa bao dung và yêu thương ôm ấp tất cả đàn con, từ lúc sinh ra, rửa tội, làm phép cưới, chịu Chức Thánh cho tới khi lìa cõi trần nơi Đền Thờ của mình.

Thứ 4: Đám tang nhưng luôn vang lên những bài ca mang đến sự hi vọng về ngày được sống lại, về ngày sum vầy, về ngày mọi người được yên nghỉ thảnh thơi, về ngày được gặp mặt Chúa.

Thứ 5: Đám tang xong không phải là hết, không phải chỉ nhớ tới Người Quá Cố trong ngày giỗ, mà Người Quá Cố luôn được nhớ tới trong tất cả các lời cầu nguyện hàng ngày. Chúng ta cũng có thể Xin Lễ cho người quá cố bất kỳ khi nào. Vì thế Người Quá Cố luôn sống mãi trong tim của chúng ta và không bị quên lãng dần theo thời gian. Vì thế quan niệm khi vào Đạo Công Giáo quên đi ông bà tổ tiên là 1 quan niệm cực kỳ sai lầm, khiến nhiều bố mẹ ” sợ mất con” ” mất người thờ cúng” nếu theo Đạo Công Giáo. Người Công Giáo không thờ cúng, vì ” thờ” chỉ dành riêng cho 1 mình Chúa, nhưng người Công Giáo luôn kính nhớ ông bà tổ tiên 1 cách liên lỉ và hàng ngày trong tâm và trong hành động thực tế là cầu nguyện, đọc Kinh Mân Côi.

Trên đây là 1 số cảm nghiệm của bản thân mình, Teresa Calcutta My Bùi. Những điều khiến mình càng ngày càng yêu Đạo Công Giáo hơn.

Bạn có ấn tượng tuyệt vời nào nữa. Có thể chia sẻ thêm với mình không?

Tác giả: My Bùi

Nhóm Thắc Mắc Công Giáo

Thằng Khùng -Phùng Quán

Thằng Khùng -Phùng Quán

(Cha chính Nguyễn văn Vinh – Giáo-phận  Hà nội ]

Thằng Khùng (viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân)

“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh
ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười.
Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên: – Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy? 

Anh ta chấp tay khúm núm thưa:

– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc

tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được. 

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc…

Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả.
Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…

Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:

– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.

– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi. 

– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.

Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:

– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?

Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.

Mình trả lời anh ta:

– Tôi thích nhất là Candide.

– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:

– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm
chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình
trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…

Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống:

“Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.

– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.

Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:

– Anh là ai vậy?

Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:

– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa .

Rồi anh ta tiếp:

– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…

Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày.

Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.

Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn
được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn…

– những người tù nói, giọng buồn.

Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.

Giám thị hỏi:

– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?

Mình nói:

– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.

Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…

Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt,

chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười.  Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:

– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…

Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN .

Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.

Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa
ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.

Giám thị hỏi:

– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo,
tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.

Mình nói:

– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.

Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Phùng Quán

________

Ghi Chú:

(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan
NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội.  Bài viết của Phùng
Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.

Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết
thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa
của Ngài…. Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH, Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).

Tấm gương can trường.

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*

Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc
Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh
về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý
yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis
giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng
viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại
Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở
Limoges .

Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.

Ngài học Văn Khoa – Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc
viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài
đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour
Madame!”

Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng
là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển
Đức tại Đan Viện Sainte Marie.

Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize –
Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài
xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ
Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai
tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế
của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam
xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh
cương quyết không chịu.

Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe

dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ
Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha
Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh
văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy
Văn Triết ở trường Chu Văn An.

Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh
đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn
cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm
Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh,
đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân
Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám
Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau,
và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt

thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh
lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng
không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê
cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu
Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng
thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng:

“Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường
Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một
nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.

Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên

đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “ Ở Dưới Vực Sâu ” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều
nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,”
“Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh
23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh
Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài

ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà
Huyện Thanh Quan.

Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan.

Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ
huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh
Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt
Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long
trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết
đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số
tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.

Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người
của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng
dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha
xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ
sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo
chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ
cha xứ, hai bên to tiếng.

Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết

quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi
chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai
cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:

“Tự do thế này à!”

Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét
xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu
trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.

Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập
hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ,
gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác,
nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:

“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”

Ngài đáp:

“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải
làm bổn phận mình!”

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”

Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ
muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế
Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội
ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông
Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.

Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”

Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài
đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như
khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền,
luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo

Hội.

Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh
mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

TGP Hà Nội – 2013

BBT (Theo HĐGMVN)

From: Đỗ Tân Hưng