Bữa Cơm Chiều 29

Bữa Cơm Chiều 29

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

26/01/2022

https://vietbao.com/a310949/s-t-t-d-tuong-nang-tien-bua-com-chieu-29

Tưởng Năng Tiến

Dường như tôi không hợp lắm với không khí gia đình, nhất là cảnh gia đình xum họp hay đầm ấm. Ngay lúc thiếu thời, vào những chiều giáp Tết, thay vì quanh quẩn ở nhà – phụ cha lau chùi lư hương; giúp mẹ bầy biện mâm cơm cúng cuối năm – tôi hay lặng lẽ tìm lên một ngọn đồi cao nào đó (lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang) với tâm cảm của một … kẻ giang hồ, đang trên bước đường phiêu bạt.

Ôi! Tưởng gì chứ chuyện “phiêu bạt” thì nào có khó chi, khi sinh trưởng trong một đất nước chiến tranh và ly loạn. Muốn là được liền thôi. Trời – đôi khi – cũng chiều lòng người, và chiều tới nơi tới chốn!

Những tháng ngày niên thiếu vụt qua như một cánh chim. Tôi bước vào tuổi đôi mươi, đúng vào Mùa Hè Đỏ Lửa, cùng với lệnh Tổng Động Viên. Thế là tôi “xếp bút nghiên để theo việc đao cung.” Hay nói một cách ít kiểu cọ hơn là tôi đi lính.

Sau lính đến tù, với tội danh (nghe) hơi nặng là “cầm súng chống lại nhân dân.” Ra tù, vừa lếch thếch về đến nhà chiều hôm trước, ngay sáng sớm hôm sau ông công an khu vực đã vội vã ghé “thăm” và “nhắc nhở” đôi điều cần thiết:

— Vì không có hộ khẩu ở thành phố nên tôi sẽ phải đi kinh tế mới.

— Trong khi chờ đợi, bắt đầu từ ngày mai, tôi phải sắm “một cuốn sổ đi lại.” Khi đi đâu phải ghi ngày giờ khởi hành với chữ ký xác nhận của tổ trưởng dân phố, và đến đâu gặp ai cũng phải có sự xác minh của viên chức chính quyền ở nơi đó.

— Mỗi tuần phải mang sổ lên phường để công an kiểm tra.

— Mỗi tháng phải đọc kiểm điểm trước tổ dân phố để nhân dân nhận xét và phê bình ưu/khuyết điểm.

Nghe xong, mẹ tôi lặng lẽ móc túi đưa cho thằng con mấy tờ giấy bạc cùng lời căn dặn:

— Thế thì mua luôn cái bút nữa con ạ. Đi đâu, đến đâu cũng phải nhờ người ký thì dắt viết theo luôn cho nó đỡ phiền.

— Dạ.

Tôi cầm tiền bước ra khỏi nhà, ghé vào cái quán nhỏ bên đường mua một ly rượu trắng và mấy điếu thuốc lẻ. Ực xong ly rượu, tôi châm thuốc hút rồi lủi thủi bước đi, vừa đi vừa lầm bầm mấy câu thơ của Thâm Tâm (Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi như là hạt bụi/ Em thà coi như hơi rượu say) và đi luôn cho tới bây giờ.

Mấy chục năm qua, không ít lúc, tôi cũng nhớ nhà mà chả rõ nhớ ai. Bố mẹ đã từ trần từ lâu. Anh chị em thì kẻ mất người còn nhưng đều tứ tán cả rồi. Tôi nhớ quê chứ không phải nhớ nhà, chắc vậy.

Tôi nhớ Đà Lạt cùng tiếng mưa đêm rầm rì, thầm thì qua mái ngói. Nhớ những bữa cơm chiều và món con cá nục hấp (chiên vàng rồi mới kho chung với tóp mỡ) cùng những lát ớt đỏ tươi. Nhớ những buổi sáng sớm tuy vẫn còn nằm trong chăn ấm (lắng nghe tiếng chim sẻ ríu rít trên mái ngói) nhưng biết được rằng cơn bão rớt đã qua, hôm nay trời sẽ nắng tươi vàng.

Đôi khi, tôi cũng nhớ Rạch Giá vào những ngày biển động. Trời sụt sùi mưa, mây mù thấp xám, sóng dạt bờ kè tung tóe. Tôi lần dò đến thành phố này với hy vọng tìm được đường chui, dù chả quen biết một ai và cũng không một đồng xu dính túi.

Ban đêm, tôi thường nằm quấn mình trong một tấm vải nhựa ở chân cầu Đúc. Ngày thì hay đi loanh quanh trong chợ Nhà Lồng. Lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang nhưng mắt vẫn không rời những chiếc bàn ăn với ước mong có thể kiếm được chút gì còn sót lại trong tô hay trên dĩa. Niềm mong ước rất mỏng manh vì vào thời gian này (những năm cuối của thập niên 1970 – khi phong trào vượt biên đang lên tới đỉnh) thì gần như mọi người đều đói cả, chứ chả mấy kẻ no.

Rạch Giá có một tiệm ăn nổi tiếng (Tây Hồ) ở số 6 đường Nguyễn Du. Tôi thường   thập thò trước cửa nhưng không mấy khi chạy vội vào bên trong, ngay khi thực khách vừa buông đũa. Tôi ngượng, đã đành; điều khó đành hơn là ánh mắt thèm thuồng của mấy đứa bé bẩn thỉu, gầy gò đứng cạnh bên. Chúng cũng đang chầu chực “khẩn trương” chả khác chi mình.

Cả đám – chắn chắn – đã không đến nỗi này, nếu tôi không phải là một kẻ bại trận trong cuộc chiến vừa qua. Tôi vẫn nghĩ thế nên cái mặc cảm của kẻ có lỗi đã luôn giữ chân tôi lại, với không ít buồn rầu!

Có lẽ nhờ chút sĩ diện (còn sót) này mà tôi đã được những người chạy bàn “đối đãi cách riêng.” Họ cho tôi cái đặc ân quí giá là được sớt vô lon guigoz ít thức ăn thừa, vào giờ đóng cửa.

Nhờ thế mà tôi biết canh chua cá chẻm của quán Tây Hồ ngon lắm, canh chua cá lóc còn ngon hơn nữa, còn cá rô kho tộ (có lần tôi được hưởng gần cả nguyên con) thì ngon hết biết luôn. Nó ngon đến độ khiến tôi suýt hóc xương chỉ vì nhai vội quá!

Nhiều người nói là ở Mỹ muốn ăn thứ gì cũng có – bất kể là món của Tây, Tầu, Cận Đông, Trung Đông, Viễn Đông hoặc Phi Châu lục địa. Tôi đã lê la qua hàng ngàn quán ăn ở đất nước này nhưng không tìm đâu ra được canh chua cá lóc và cá rô kho cả.

Từ California, muốn tìm lại được hai thức ăn này, phải mất đến hơn 20 giờ bay lận! Xin ghi địa chỉ đây cho người đồng điệu, khi cần: Nhà Hàng Ngon (Preah Sihanouk Blvd 274, Tonle Bassac) Phnom Penh – Cambodia.

Tôi mới ghé đây chiều qua, chiều 29 Tết. Không thể đến vào ngày mai vì 30 quán đóng. Tôi đã bỏ cái thói quen thập thò trước tiệm ăn tự lâu rồi. Bây giờ tôi đàng hoàng thong thả bước vào bên trong, cười đùa thân thiện với những nhân viên (đứng chào khách ngay  tận cửa) và không quên đút nhẹ vào túi trên của họ mấy tờ giấy bạc lì xì.

Dù chỉ có mặt xuân thu nhị kỳ, tôi không phải là khách lạ vì khó ai quên được một ông già Á Châu nhưng không nói được tiếng Tầu (tiếng Thái hay tiếng Miên cũng nỏ) luôn vui vẻ đùa cợt, và lúc nào cũng chỉ gọi một thứ thức ăn duy nhất: cá rô kho.

Tôi luôn được tiếp đón hơi quá nồng hậu vì có thói quen over tiping, không bỏ sót một cô hay cậu chạy bàn nào đang có mặt, và cũng không quên người đứng bếp. Chắc các em nghĩ là tôi giầu có và hào phóng, chứ đâu có biết rằng tôi buộc phải trả thêm tiền cho những gô cơm (ngon tuyệt vời) mà mình vẫn còn thiếu nợ ở quán Tây Hồ, từ mấy mươi năm trước.

Phải mất gần nửa tiếng món ăn ruột của tôi mới được dọn ra. Mấy chú cá rô bé bỏng chỉ bằng ba ngón tay thôi, tiêu đen rắc lấm tấm trông giống như mè, thơm phức. Cơm trắng cũng ngạt ngào hương gạo mới nhưng tôi không cảm thấy đói, dù đã uống “khai vị” hơi nhiều.

Ơ cá chiều nay – không dưng – khiến tôi hơi nghèn nghẹn, dù tuổi già hạt lệ như sương. Lại nhớ nhà chăng? Tôi không nhớ nồi cá nục kho vào những chiều mưa Đà Lạt khi mình còn thơ ấu (và còn được sống trong yên ấm) nhưng nhớ những ngày biển động ở Rạch Giá, và lũ trẻ thơ bất hạnh năm nào.

Đứa bé nhất thì nay cũng đã đến tuổi ngũ tuần rồi. Cũng sắp xong một kiếp người đen đủi. Đúng như ước mơ của thời niên thiếu, nửa thế kỷ rồi, tôi “được giang hồ phiêu bạt” qua rất nhiều nơi (những vùng đất văn minh phú túc, cùng những xứ sở lạc hậu nghèo nàn) nhưng chưa thấy đâu mà kiếp nhân sinh lại nhọc nhằn, cay đắng, cơ cực và tủi nhục như ở cái phần quê hương khốn khổ khốn nạn của mình.

— Tưởng Năng Tiến  

Tình Cuối Đời – Nguyễn Thị Thanh Dương

Tình Cuối Đời

Nguyễn Thị Thanh Dương

Con dâu xách giỏ bước ra khỏi nhà còn nhắc lại:

–  Má kho cá nhớ mang ra sân sau nha. Con cả ngày ở tiệm nail ngửi mùi hóa chất về nhà mùi cá kho nữa chịu sao thấu !

Nó đi khuất tôi lẩm bẩm:

–  Con dâu mà bày đặt chỉ huy làm như má tao. Mai mốt tao đi khỏi cho biết mặt.

Con dâu là người cuối cùng ra khỏi nhà, con trai và hai cháu nội đã đi làm đi học từ sáng sớm. Chồng tôi qua đời 3 năm nay, hai vợ chồng ăn tiền già, ở nhà housing mỗi tháng chính phủ phụ trả tiền nhà, nay chỉ còn mình tôi trả chi phí tiền nhà hao tốn quá, thằng con trai duy nhất kêu về ở với vợ chồng nó, mang tiếng ở nhờ nhà con nhưng mỗi tháng tôi tự động đóng góp nửa tiền già, phụ giúp cơm nước và hầu hạ hai đứa cháu vậy mà con dâu có lúc còn làm tôi bực mình khó chịu.

Tôi sắp có một tình cuối đời, chiều nay gặp mặt nhau tôi sẽ làm một quyết định lớn lao nếu đồng ý về chung sống với người ấy, ông có nhà cửa sẵn sàng đợi tôi. Con dâu sẽ trắng mắt ra về cái tội không biết nâng niu tôn trọng mẹ chồng.

Tôi tìm bạn bốn phương trên báo quen ông Sung, hai tâm hồn cô đơn đồng điệu gặp nhau. Ông Sung bất mãn con cái, tôi chẳng ưa gì con dâu, hai chúng tôi trao đổi hình ảnh thấy hạp nhãn, gọi phone chuyện trò qua lại thân tình thắm thiết nên hẹn gặp mặt để tính tới chuyện cùng dìu nhau đi nốt quãng đường đời còn lại như lời ông đã âu yếm rao tìm bạn. Ông Sung sẽ từ tiểu bang Texas bay tới đây gặp tôi.

Tôi đến nhà hàng Tri Kỷ gặp ông Sung, ông 75 tuổi không khác trong hình là bao vừa gặp mặt là tôi chấm liền. Sau phút giây hội ngộ bối rối tôi và ông Sung mau chóng thân thiện nhau hơn, vừa ăn vừa nói chuyện. Ông Sung cũng thích tôi, khen tôi trẻ hơn tuổi 70. Tôi mỉm cười nhún nhường:

–  Em trẻ là nhờ mái tóc mới nhuộm hôm qua đó.

Nụ cười chưa kịp tắt bỗng chuyển sang nhăn nhó vì cơn đau lưng bỗng ập đến, đau từ lưng trên bên phải xuống đến lưng dưới, bác sĩ bảo tôi bị viêm dây thần kinh gì đó, cơn đau đến rồi đi trong 5-10 phút và tôi phải sống với bệnh suốt đời.

Ông Sung lo lắng hỏi:

– Em sao thế?

– Chứng đau lưng mãn tính, thường thì đi đâu em cũng mang theo thuốc giảm đau mua over counter hôm nay em quên mất. Trời..ơi..đau quá… phải chi có một viên thuốc…

Thấy tôi cúi gập người xuống cho bớt đau ông Sung vội đứng dậy đến bên tôi đỡ vai tôi nhưng ông bỗng lạng quạng suýt ngã nếu không nhanh tay vịn vào một cạnh bàn. Đến phiên tôi lo lắng hỏi:

– Anh sao thế?

Ông Sung đành…. khai:

– Anh bị đau hai khớp gối đi phải chống gậy, nhưng chẳng lẽ đi gặp em mà anh chống gậy thì quê quá nên anh không mang theo. Trời ơi…ước gì bây giờ có cây gậy thì đỡ khổ biết mấy.

Dù đang đau lưng tôi cũng ráng dìu ông Sung ngồi trở lại ghế cho an toàn. Trong đầu óc tôi làm ngay một bài toán nếu tôi về sống chung với ông sẽ phải thường xuyên hầu hạ như thế này, đường dài chưa biết tính nết ông ra sao, không lẽ tôi lại vác mặt trở về với con cháu? Ngay lúc này tôi biết mình phải quyết định thế nào rồi….

Tuổi già thật vô duyên, hai người đang hẹn hò lãng mạn thì bệnh hoạn lù lù xuất hiện không ai giấu ai được. Ông Sung kể lể:

– Anh đã cẩn thận mang theo đủ thứ thuốc, nào cao mỡ, cao máu, đau bao tử, trào thực quản, tiền tiểu đường nhưng quyết không mang theo cây gậy giờ mới ra nông nỗi.

Tôi cũng trút nỗi niềm:

– Em cũng cao mỡ cao máu này, loãng xương này, rối loạn tiền đình này, ngoài ra còn phải nhỏ mắt cườm ướt Glaucoma nữa cơ.  Anh nhớ đi bác sĩ mắt hàng năm xem có bị Glaucoma hay Cataract không nhé…

– Em nhớ theo dõi đo huyết áp hàng ngày nhé.

– Anh cũng nhớ đi bộ mỗi ngày một tiếng cho khỏe nhé.

Tôi và ông Sung bỗng trở thành hai bạn già tâm sự kể lể chuyện thời tiết trở trời, chuyện ốm đau và dặn dò nhau kinh nghiệm thuốc men cho đến khi không còn gì để than thở thêm tôi mới giật mình kêu lên:

– Ôi trời… sắp đến giờ em phải về nấu cơm chiều cho con cháu rồi. Mấy con cá đang chờ em về kho tiêu.

Tôi vẫn nhớ đến bổn phận, nghĩ đến con cháu, vậy mà có lúc sôi máu vì ghét con dâu tôi đã muốn dứt áo ra đi.

– Ủa…mình chưa đi đến quyết định cuối cùng mà.

– Em vội quá quên mất, em đã quyết định rồi…

Ông Sung chặn lời tôi:

– Để anh nói trước. Anh là người định đoạt trước…

– Chưa gì mà anh đã lộ mặt gia trưởng rồi, thêm một lý do để em không tiếc khi quyết định. Chúng ta dừng lại ở đây.

Ông Sung thẳng thừng:

– Anh cũng muốn thế. Vì anh vừa nhận ra em đau lưng kinh niên, nay đau mai đau, rước em về anh lại phải hầu hạ, chưa kể bệnh mắt Glaucoma của em mai mốt lỡ… có bề nào càng khổ thân anh.

Tôi tự ái đùng đùng:

– Anh trù ẻo tôi đấy hả? Chưa biết ai phải hầu hạ ai, chân anh đi không vững đó. Nãy dìu anh trở về ghế ngồi tôi mệt hụt hơi, chưa kể tiền tiểu đường của anh nay mai thành bệnh tiểu đường mấy hồi, rồi… biến chứng lọc thận ai mà hầu nổi.

Ông Sung cười nhạt:

– Anh chỉ lỡ lời lo xa thế thôi, em đanh đá ghê gớm nhỉ, hèn gì tối ngày chê trách con dâu.

Thấy tình hình căng thẳng tôi vội hạ giọng cho xong để còn kịp về nhà nấu cơm:

– Thật may cơn đau lưng của em xuất hiện và chân anh đau đúng lúc, là tín hiệu nhắc nhở chúng ta đừng vội vàng quyết định, chúng ta đang mỗi ngày mỗi già đi, sức khỏe mỗi ngày mỗi kém đi nếu lấy nhau biết vui hưởng hạnh phúc được bao lâu hay chỉ là gánh nặng cho nhau. Anh có căn nhà riêng thì cứ ở tới khi nào không tự chăm sóc bản thân mình được nữa thì sang tên nhà cho con cái, chúng sẽ lo cho anh, còn em tiếp tục về hầu hạ con cháu mai sau có ốm đau nằm một chỗ ít nhiều gì chúng cũng phải hầu hạ lo cho em. Em đã tìm ra tình cuối đời rồi, là tình với con với cháu chứ tìm đâu xa.

Ông Sung cũng “hạ nhiệt”:

– Ừ, em nói vậy còn nghe được.

Lát nữa về nhà tôi sẽ nghe lời con dâu mang nồi cá ra sân sau kho thật ngon lành. Hơn lúc nào hết tôi thấy mái nhà của con cháu vẫn đẹp vẫn ấm cúng hơn bất cứ nhà ai, dù con dâu có những lúc cãi mẹ chồng, dù con trai có lúc gắt gỏng mẹ ruột, dù hai cháu nội có những lúc làm tôi bận rộn.

Khi chia tay ông Sung ở cửa nhà hàng tôi dặn dò có chút mỉa mai:

– Anh nhớ ra tiệm Family Dollar ở góc đường kia mua cây gậy để chống chân đi cho vững vàng khỏi té và bay về Texas an toàn nha.

Ông Sung cũng chẳng vừa:

– Từ giờ trở đi em đừng nhí nhảnh lên báo lên mạng tìm tình yêu, tìm chồng bốn phương nữa nhé. Lo mà hầu con cháu đi.

Nguyễn Thị Thanh Dương

(August, 16, 2022)

From: TU-PHUNG

SALUSHNYI, VỊ TƯỚNG ANH HÙNG ĐÁNH BẠI NƯỚC NGA

 SALUSHNYI, VỊ TƯỚNG ANH HÙNG ĐÁNH BẠI NƯỚC NGA

Tác giả: Wolfram Weimer; Việt Hùng phỏng dịch

Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang Ukraine, Walerij Salushnyi là một vị tướng khôn ngoan, nhiều mưu mẹo. Ông dạy cho những kẻ xâm lược Nga hết nỗi ô nhục này đến nỗi ô nhục khác. Bây giờ ông ấy dẫn đầu một cuộc phản công đáng kinh ngạc và trở thành một anh hùng dân tộc trong tương lai.

Cuộc phản công của quân đội Ukraine đã thành công đáng kinh ngạc. Việc tái chiếm các vùng đất rộng lớn ở miền đông Ukraine thậm chí có thể đem lại bước ngoặt của cuộc chiến. Hy vọng đang bùng lên ở khắp mọi nơi, ở Ukraine, ở phương Tây, ở phe đối lập của Nga, trên các sàn giao dịch chứng khoán thế giới. Đứng sau những cú đánh của quân đội Ukraine là một vị tướng thông minh, là người đã khiến Nga tuyệt vọng trong nhiều tháng nay. Waleriy Saluschnyj, 49 tuổi, là chỉ huy tối cao của quân đội Ukraine và đang nhanh chóng trở thành anh hùng dân tộc ở Ukraine.

Vào tháng 1, Salushnyi được hỏi tại Brussels liệu ông có lo ngại về ưu thế của Nga hay không. Salushnyi trả lời rằng, ông ta thực sự lo ngại, “nhưng chỉ một lần, vào năm 2014, khi tôi lần đầu tiên được trao một khẩu súng máy và áo chống đạn và ra trận sau khi Nga sáp nhập Crimea“. Sau đó “nó chỉ là công việc“.

Không lâu trước khi chiến tranh bùng nổ, ông đã khiến mọi người phải lắng nghe và chú ý. Ông nói, người Nga sẽ được chào đón, “không phải bằng hoa, mà bằng tên lửa chống tăng và phòng không“. Và ông nói thêm một cách cộc lốc: “Chào mừng đến với địa ngục“. Sự tự tin mà ông ấy thể hiện ban đầu nghe giống như tuyên truyền, nhưng không ai đánh giá thấp ông ấy nữa.

Salushnyi dân chủ hóa Quân đội

Công việc của Salushnyi cho thấy quân đội Ukraine không chỉ thể hiện tinh thần anh dũng trong trận chiến, mà – không giống như quân đội Nga chậm chạp – còn phản ứng chiến thuật một cách nhanh chóng, linh hoạt và sử dụng thành thạo các loại vũ khí phương Tây. Vị tướng này là tư lệnh tối cao đầu tiên của Ukraine không còn được đào tạo ở Liên Xô. Ông là hiện thân của cuộc cải cách sâu rộng đối với quân đội Ukraine kể từ năm 2014. Một trong những công việc đầu tiên của ông là trao cho các sĩ quan trên mặt trận quyền tự chủ nhiều hơn, ra sắc lệnh về một kiểu dân chủ hóa và cho phép binh lính ở mặt trận bắn trả mà không cần tham khảo ý kiến của chỉ huy cao cấp.

Đồng thời, Salushnyi đã phát triển một cơ cấu du kích, tổ chức kháng cự linh hoạt ngay cả sau chiến tuyến của kẻ thù, bao gồm cả người dân thường trong cuộc kháng chiến, và sử dụng máy bay không người lái hiện đại một cách có hệ thống. Các chuyên gia quân sự nhận định: “Vị tướng này đã hình thành từ một lực lượng theo quân đội Liên Xô cũ thành một lực lượng linh động, được phân quyền và được trang bị kỹ thuật số. Nó như thể một bốt điện thoại đang cạnh tranh với điện thoại di động hiện đại“, các chuyên gia quân sự nói.

Trong một cuộc phỏng vấn, Salushnyi từng nói: “Chúng tôi muốn thoát khỏi bản đồ và viết lệnh chiến đấu như năm 1943“. Điều trớ trêu của câu chuyện là giờ đây ông ta đang chiến đấu với một kẻ thù trông giống như năm 1943 hơn là năm 2022.

Chính Salushnyi cũng không muốn ngăn chặn quân xâm lược Nga trực tiếp ở biên giới, mà – giống như tướng Kutuzov trong cuộc xâm lược Nga của Napoléon – trước tiên để họ tiến vào đất nước, tấn công các tuyến tiếp tế, cô lập họ và sau đó phát động du kích hàng loạt các cuộc tấn công vào đội hình xe tăng và phi đội máy bay không người lái.

Một trò đánh lừa cũng xảy ra trước cuộc phản công hiện tại gần Kharkiv, vì Salushnyi đã khiến người Nga tin rằng cuộc tấn công chủ yếu sẽ ở phía nam gần Cherson, do đó lôi kéo Nga tập hợp lại. Trên thực tế, ông ta sau đó đã chọn tấn công vào sườn, lúc này đã lộ ra và phía sau là con sông rộng lớn Oskil khiến Nga không thể tiếp tế.

Tự hào về sự huấn luyện tốt của các binh đội

Salushnyi đã thúc đẩy việc đào tạo binh lính của mình về các hệ thống vũ khí của phương Tây trong nhiều năm. Đặc biệt, ông ta sử dụng dữ liệu do thám vệ tinh của NATO như thể đó là do thám của chính mình. Ông đã tích hợp các hệ thống vũ khí hiện đại của phương Tây vào cuộc chiến của mình từ rất sớm. Trên hết, ông dựa vào các tên lửa chống tăng hàng loạt và coi việc huấn luyện chúng là một phần trọng tâm trong quá trình chuẩn bị chiến tranh của mình. Ông rất tự tin cảnh báo người Nga vào đầu năm “Kẻ thù cũng phải hiểu rõ: Chúng tôi có đủ vũ khí chống tăng“.

Trước khi chiến tranh nổ ra, Salushnyi đã nhiều lần cử quân đội Ukraine tiến hành các cuộc diễn tập với các đối tác NATO, và ông duy trì liên lạc cá nhân chặt chẽ với các tướng lĩnh Anh và Mỹ. Trong một cuộc phỏng vấn với hãng thông tấn “ukrinform”, ông tự hào nói rằng các binh sĩ của ông hiện đã nắm vững hơn 300 tiêu chuẩn của NATO. “Tôi không muốn chỉ trích bất cứ ai, nhưng theo tôi biết, không phải tất cả các lực lượng vũ trang của các nước châu Âu đã là thành viên của liên minh đều nắm vững bộ tiêu chuẩn như vậy”.

Khi Salushnyi học xong ở thị trấn nhỏ Novohrad-Wolinski phía tây Kyiv vào năm 1989, Ukraine vẫn còn là một phần của Liên Xô. Trong giai đoạn biến động này, ông đã tiếp bước cha mình, cũng là một sĩ quan chuyên nghiệp. Ông theo học tại học viện quân sự danh tiếng ở Odessa và tốt nghiệp hạng ưu từ khóa đào tạo sĩ quan cho lực lượng bộ binh vào năm 1997. Kể từ năm 2014, Salushnyi đã phục vụ gần như không ngừng nghỉ tại khu vực Donetsk đầy biến động. Ông chỉ huy một lữ đoàn chịu một số trận giao tranh đẫm máu nhất trong cuộc chiến gần Debaltseve, với nhiều thương vong cho người Ukraine. Khi được phong hàm thiếu tướng vào năm 2017, ông đã cố tình ở lại mặt trận phía đông Ukraine. Ông ta biết mọi con hào ở đó, chính xác là vì ông ta không sợ hãi và bản thân ông anh dũng chiến đấu, nên có danh tiếng cao nhất trong quân đội. “Tôi tự hào và biết ơn mọi người lính Ukraine. Thật vinh dự cho tôi khi được chiến đấu bên cạnh các bạn“, Salushnyi viết trên mạng xã hội.

Tướng có cơ hội làm tổng thống

Trong khi đó, Salushnyi không chỉ là hình mẫu theo quan điểm của những người lính, mà còn là một anh hùng dân tộc đối với đa số người dân Ukraine. Nhiều người thậm chí còn tin rằng vị tướng nổi tiếng có khả năng kế nhiệm thủ tướng hiện tại, Volodymyr Zelensky, vào một thời điểm nào đó sau khi chiến tranh kết thúc – đặc biệt nếu cuộc phản công kết thúc với chiến thắng trước Nga.

Một cuộc thăm dò của tạp chí tin tức Ukrainska Pravda cho thấy, nếu có bầu cử vào lúc này, Tổng tư lệnh sẽ được bầu làm tổng thống. Và ông ấy đã giống như một tổng thống sắp tới khi tuyên thệ thống nhất đất nước Ukraine: “Tôi muốn kêu gọi tất cả những chính trị gia đưa ra ‘đánh giá’ về tình hình hoạt động từ các thành phố trong nội địa. Với những tuyên bố vô trách nhiệm của họ, chẳng hạn như kẻ thù đã lấy một thứ gì đó mà không có vấn đề gì hoặc rằng sự đầu hàng của đất nước đang được chuẩn bị, bạn đã xúc phạm binh lính của chúng tôi“.

“Chúng tôi đã ngăn chặn kẻ thù từ mọi phía. Chúng tôi đã gây cho họ những tổn thất mà họ chưa từng thấy hoặc chưa từng tưởng tượng. Tất cả người dân Ukraine đều biết điều này. Thế giới đều biết điều đó. Tôi kêu gọi các bạn: đừng làm tổn thương binh lính của chúng tôi bằng những ‘Đánh giá chuyên môn’ của các bạn. Bây giờ bạn không ở tiền tuyến. Và đó không phải là con cái của bạn. Chúng tôi đang bảo vệ Ukraine“.

Việc Saluschnyj (người cha của hai đứa trẻ) nghĩ ngoài khuôn khổ của quân đội còn được thể hiện bằng một câu nói cảm thông về những nạn nhân của cuộc chiến. Tại một diễn đàn vinh danh những người lính và cựu chiến binh đã ngã xuống ở Kyiv, ông hiếm khi công khai rằng gần 9.000 quân nhân đã chết cho Ukraine cho đến nay. Saluschnyi kêu gọi giúp đỡ các gia đình và đặc biệt là con em của những người đã chết. Salushnyi nói: “Chúng không thực sự hiểu về những gì đang xảy ra và chúng hoàn toàn cần được bảo vệ khi cha của chúng ra mặt trận và là một trong gần 9.000 anh hùng bị giết”.

Bản thân ông từ chối mọi tham vọng chính trị, hầu như không phỏng vấn mà chỉ tập trung vào công việc của mình. Ông ấy là một người lính và có một nhiệm vụ – đánh bại Nga.

From: TU-PHUNG

Sài Gòn, một thời của một đời… – Nguyễn Mạnh Trinh

Sài Gòn, một thời của một đời…
 Nguyễn Mạnh Trinh

Có nhiều bài thơ về Sài Gòn. Thành phố ấy, với nhiều người, là thánh địa của kỷ niệm…
Với Nguyên Sa, là Tám Phố Sài Gòn, là “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều”, là “Sài Gòn phóng solex rất nhanh”, là “Sài Gòn ngồi thư viện rất ngoan” là “Sài Gòn tối đi học một mình”, là “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”, là “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”…

Với Quách Thoại buổi sáng, là “sáng nay tôi bước ra giữa thị thành/ để nghe phố nói nỗi niềm mới lạ/ tiếng xe tiếng còi tôi nghe đường xá/ cả âm thanh của cuộc sống mọi người/ một nụ cười chạy ẩn giữa môi tươi/ trên tim nóng trong linh hồn tất cả /..

Với Trần Dạ Từ là buổi trưa, về Thị Nghè: “vẫn một mặt trời trên mỗi chúng ta/ và mỗi chúng ta trên một bóng hình/ tôi vô giác như mặt đường nhựa ẩm/ trũng nỗi sầu đau náo nức lưu thông/ mùa hạ đi qua tựa hồ giấc mộng/ tôi chạy điên trong một bánh xe tròn/ và đứa trẻ hít còi người đàn bà bước xuống/ ôi chiếc cầu, ôi sở thú, ôi giòng sông/..”

Với Cung Trầm Tưởng, là mưa, là “mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn/ mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi/ mưa hay trời cũng thế thôi/ đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang/..”

Với Luân Hoán, là ngồi quán, là “ngồi La Pagode ngắm người/ thấy em nhức nhối nói cười lượn qua/ mini-jupe trắng nõn nà/ vàng thu gió lộng chiều sa gót giày/ ngẩn theo tóc, tuyệt vời bay/ hồn thơ thức mộng trọn ngày bình yên/”…

Với Bùi Chí Vinh, là ngày bãi trường mùa hạ “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/ em chở mùa hè của tôi đi đâu/ chùm phượng vĩ là tuổi tôi mười tám/ tuổi thơ ngây khờ dại mối tình đầu..” 

Và với nhiều thi sĩ khác, Sài Gòn là phố cây xanh, là đêm cúp điện, là chiều mưa giọt, là trưa nắng đỏ. Ôi Sài Gòn, của cõi thơ không cùng, của những chân trời thi ca bao la, của những trái tim lúc nào cũng dồn dập nhịp thở của tháng ngày tuy náo động nhưng chẳng thể nào quên.

Với riêng tôi, Sài Gòn là muôn vàn kỷ niệm; là những con đường quen thân, nhắc lại một thuở ấu thời; là ngôi trường Chu Văn An, nơi tôi miệt mài suốt bảy năm trung học; là trường Khoa Học, là trường Luật trước khi vào lính; là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơn Nhứt khi vừa nhập ngũ; là những mơ mộng tuổi trẻ, lúc vừa bước vào đời sống quân đội trong một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.

Buổi trưa, nằm dài trên sân cỏ mượt nhìn lên nóc nhà thờ Ngã Sáu, dưới bóng cây dầu cao vút, nghĩ về tương lai nhìn theo những sợi mây bay qua. Nghe xôn xao trong lòng những sợi nắng lung linh. Ôi, thuở còn đi học, mấy ai tiên đoán được số mệnh mình.

Mây bay đi, như đời trôi qua.
“Nằm trên cỏ nhìn trời cao
Lung linh sợi nắng thuở nào phai phai
Nhìn tượng Chúa dưới tàng cây
Giơ vai trĩu nặng tháng ngày chiến tranh
Mùa hạ mấy bước đi quanh
Cổng trường đóng những đoạn đành thế thôi
Ngày mai đi bốn phương trời
Mây phiêu lãng chợt thương đời phù du..”

Sài Gòn những mùa thu. Có những con đường xôn xao áo lụa. Có những buổi tan học nhìn tà áo trắng mà mơ ước vu vơ. Để đêm về, trên trang vở học trò, vẽ bâng quơ đôi mắt ai, mái tóc ai:

“Thành phố ấy , xôn xao tà áo trắng
Nắng hanh vàng trải lụa những mùa thu
Guốc chân sáo để hồn ai ngơ ngẩn
Bước mênh mang nghe quẩn sợi sương mù
Mây vào áo lồng lộng bay chiều gió
Lụa trắng trong e ấp buổi hẹn hò
Sợi mi cong tưởng chập chờn ngực thở
Tóc ai buông dài xõa những câu thơ
Thành phố ấy, mấy ngã tư đèn đỏ
Ai chờ ai khi kẻng đánh tan trường
Bài thơ trao còn nguyên trong cuốn vở
Thuở ngại ngùng lần bước đến yêu thương..”
 
Sài Gòn của một thời mặc áo lính. Khi ở xứ biên trấn xa xôi, nhớ về thành phố với người thương, với phố quen, trên máy bay lượn vòng thành phố, nghe như mình đã trở về quê hương mình. Khi đổi về đơn vị ở phi trường Biên Hòa, mỗi buổi sáng tinh sương ghé phở Tàu Bay, ăn tô phở đầu ngày trong cái không khí trong veo buổi sớm, nay nhớ lại còn trong dư vị miếng ăn ngon của một thời tuổi trẻ.

Năm 1968, lệnh tổng động viên nên vào lính nhập khóa với những người cùng trang lứa. Lúc ấy, với hăng hái của người nhập cuộc, hiểu được bổn phận của một công dân thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Lúc ấy, mắt trong veo và tâm hồn như tờ giấy trắng:

“Bọn ta ba trăm thằng tuổi trẻ
Chọn không gian tổ quốc mênh mông
Mắt sáng môi tươi như tranh vẽ
Vào lửa binh không chút nao lòng
Chia sẻ với nhau thời bão gió
Đời muôn nhánh rẽ ngược xuôi nguồn
Cánh chim phiêu bạc ngàn cổ độ
Tử sinh ai luận chuyện mất còn?
Ngồi uống cùng nhau các hảo hán
Tưởng ngày xưa rượu tiễn lên đường
Sách vở giảng đường thành dĩ vãng
Những chàng trai dệt mộng muôn phương..”
 
Rồi, vận nước đến thời, gia đình ly tán, đi vào trại tù, nếm đủ những cay đắng của đời tù cải tạo lao động khổ sai. Khi trở về, Sài Gòn, cảnh vẫn cũ nhưng người xưa đã khác. Như Từ Thức về trần, cả một thế thời thay đổi.

Người về, từ trại tù nhỏ sang qua nhà giam lớn, vẫn những con mắt công an cú vọ rập rình, vẫn những lý lịch trích dọc, trích ngang đeo đuổi. Tạm trú, tạm ngụ, ở chính ngôi nhà của mình. Nơi sẽ định cư của những người tù cải tạo, là những vùng kinh tế mới xa xăm, những nơi chốn đầy ải của ngày tuyệt lộ. Trở về xóm cũ, làm người lạ mặt:

“Đỏ bầm mặt nhựt cơn mê
Lạnh tanh khuôn mắt người về dửng dưng
Vào ra lối rẽ ngập ngừng
Mấy năm sao lạ, nỗi mừng chợt xa
Cầu thang quẩn dấu chân qua
Đời như hạt nước mưa sa bóng chiều
Từ rừng máu giọt gót xiêu
Thảm thương phố cũ nắng thiêu mộng người
Đỏ bầm ánh điện đường soi
Cây nhân sinh chợt nẩy chồi cuồng điên
Nhìn soi mói nụ cười đen
Mắt hằn dấu đóng chao nghiêng một ngày.”

Về trình diện công an khu vực, nhìn nụ cười gằn vừa mỉa mai vừa soi mói, nhìn đôi mắt cú đóng dấu vào một ngày thất thế của người bại binh, ôi đau xót cho một đời ngã ngựa.

Ở Sài Gòn những ngày giặc chiếm, vẫn còn âm hưởng của một cuộc chiến chưa tàn. Trên chuyến xe bus nội ô, một người lính què dẫn dắt người lính mù hát những bài hát ngày xưa ngày còn chiến đấu dưới cờ. Quân Lực VNCH là tập thể của những người lính tin tưởng vào công việc làm của mình. Dù thua trận nhưng họ không muốn làm hèn binh nhục tướng…

“Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Dắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời thơ nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa thuở xa xưa
Khói mịt mù thời chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thuở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giày buồn còn vết giữa sình lầy
Nghe lời hát tưởng đến người gục ngã
Cả chuyến xe chia sẻ một nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn dù gỗ đá
Thức hồn người vào nhịp thở chưa quên
Ơi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói từ mắt thầm cầu nguyện
Cho lỡ làng không trĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây thịt xương còn sót lại một đời
Còn ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Dù rã rời nhưng vẫn thắm nụ cười
Ta nghe rực trong hồn trăm bó đuốc
Mặt trời lên xua tăm tối cho đời…”

Ở Sài Gòn năm 1980, là những ngày tôi cựa quậy trong nan lồng. Nghèo đói, bất công, đe dọa, bắt bớ, đủ thứ khổ nạn đổ lên đầu người dân nhất là những người được thả về từ trại tù. Mỗi ngày trình diện công an, rồi mỗi tuần, mỗi tháng nhưng áp lực thì càng ngày càng tăng. Tạm trú, từng tháng, từng ngày. Không có một chỗ nào ở thành phố cho các anh, người thua trận. Tôi, không có hộ khẩu, ở tạm trong nhà của mình.
Rồi tham gia tổ chức vượt biên ở Bến Tre bị công an tỉnh này lên Sài Gòn tìm bắt . May là thoát được nên sau đó là phải sống lang thang đêm ngủ chỗ này tối ở chỗ khác. Những buổi tối trời mưa, đạp xe đi tìm chỗ tạm trú, mới thấy ngậm ngùi cho câu than thở trời đất bao la rộng lớn mà sao ta chẳng có chốn dung thân.

Những buổi chiều nắng quái, đi trong thành phố, mới thấy cảm giác của một kẻ cô đơn như con chuột đang cuống cuồng trong lồng giữa cơn mạt lộ.

Thấy đi tới đâu cũng gặp những cặp mắt ngại ngùng của những người thân, từ chối thì không nỡ mà chứa chấp thì bị liên lụy nên tôi phải tìm một phương cách để cho qua đêm dài. Thuê phòng trọ hay khách sạn cực kỳ nguy hiểm, nên chỉ có một cách là trà trộn vào những người ngủ ngoài đường.

Lúc ấy, ở Sài gòn đầy những người ngủ ở hè phố. Họ là những người từ kinh tế mới về chịu không kham sự khổ cực hay những người vượt biên hụt trở về nhà bị chiếm. Mà chỗ an toàn nhất là bến xe Ngã Bảy.

Ở đây là đường ranh của nhiều phường nên chỉ có một quãng ngắn, ở chỗ này bố ráp thì chỗ kia vẫn bình thường như không có gì xảy ra. Tôi có xem một video của trung tâm Asia có ghi lại hình ảnh của nhạc sĩ Trúc Phương cũng hoàn cảnh phải ra xa cảng để ngủ qua đêm mà chạnh lòng.

Thì ra, ở lúc ấy, có nhiều người chung cảnh ngộ, phải lang thang ngủ đầu đường xó chợ một cách bất đắc dĩ. Bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, công an lộng hành, bắt người không cần lý do, kinh tế thì lụn bại, ngăn sông cấm chợ, cả nước nghèo đói không đủ gạo ăn, kỹ nghệ trì trệ không sản xuất được gì đáng kể.

Rồi chính sách phân biệt đối xử, giáo dục thì nhồi sọ, hồng nhiều hơn chuyên, thi cử tuyển chọn theo lý lịch hơn là thực tài, y tế thì thiếu thuốc men phương tiện và y sĩ trình độ kém lại làm việc tắc trách. Thật là một thời tệ mạt nhất trong lịch sử dân tọc ta.
Ngủ ở bến xe Ngã Bảy, mướn cái chiếu 1 đồng, kiếm một chỗ qua đêm, tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Có những bà mẹ góp nhóp tiền bạc đi thăm con ở một trại tù nào đó, chờ xe ba bốn ngày, sống lang thang lếch thếch chờ đợi.

Cũng có những người không nhà, nằm la liệt dưới mái hiên, sinh sống ăn ngủ và làm tình một cách thản nhiên như đang sống trong nhà mình. Cũng có những trai tứ chiếng, những gái giang hồ quanh quẩn kiếm ăn. Những anh lơ xe, những chị buôn hàng chuyến, những mối tình, hừng hực xác thịt cứ diễn ra hàng đêm.

Rồi những đêm mưa gió, ướt át, những tiếng chửi than trời trách đất cứ dòn dã. Hình như, ở gần nỗi khổ, tâm hồn họ bị chai sạn đi.

Công an từ phường này qua phường kia luôn luôn bố ráp nhưng như một trò chơi cút bắt. Áo vàng mũ cối đi qua, chỉ ít lâu sau là đâu vẫn đấy.
“ … Hè phố rác lạc loài hoa dại
Nở buồn tênh phiến gạch ngậm ngùi
Cỏ đớn hèn hạt sầu kết trái
Ươm bao năm dầu dãi nụ cười
Ngủ chợp mắt đèn khuya vụn vỡ
Ho khan ai quằn quại phổi khô
Tiếng còi hú nhát đinh vỡ sọ
Nghiến xe lăn tim nhịp chày vồ
Rưng não tủy bầu trời tháng chạp
Cành cỏ khô héo mãi phận mình
Ở vu vơ ngỡ ngàng tiếng khóc
Đêm bến xe tưởng chốn u minh
Đường bảy nhánh chỗ nào phải lối
Ngủ nơi đâu còi rúc giới nghiêm
Như tiếng cú rúc trong huyệt tối
Người lao xao cõi tạm cuồng điên
Gió nhọn hoắt ngon lành da thịt
Mưa giọt soi mộng dữ chân người
Ánh đèn pin mắt ai tội nghiệp
Bờ đá xanh lạnh buốt chăn đời..”

Ở một đất nước vào thời kỳ mà cây cột đèn nếu đi được cũng muốn vượt biển, thì còn con đường nào khác hơn là thách đố với định mệnh.

Những lần sửa soạn ra đi, tự nhủ hãy đi một vòng thành phố thân yêu để rồi vĩnh biệt không còn gặp lại. Những khúc sông, những cây cầu, những dãy phố, mỗi nơi đều nhắc đến kỷ niệm và khi sắp sửa ra đi như mất mát một phần đời sống mình. Có buổi tối, đi trong mưa, để tưởng nhớ lại lúc xa xưa, khi bềnh bồng trong cảm giác lãng mạn của một người đi tìm vần thơ.

“Mai ta đi xa. Thôi giã từ thành phố. Lòng đau như cắt trong lúc giã từ
Ta thắp nến đọc hoài trang sách kể
Chuyện người tù vượt ngục suốt một đời
Ta hừng hực cánh buồm chờ gió đẩy
Sống một ngày thêm thúc giục khôn nguôi
Đã đắp xóa bao lần cơn mộng biếc
Đường phải đi cho đến lúc xuôi tay
Sóng loạn cuồng con thuyền trôi biền biệt
Giăng buồm lên phương viễn xứ một ngày
Ta cũng biết còn xa vùng đất hứa
Phải đi qua địa ngục chín mươi tầng
Đời hiện tại xích xiềng thêm bão lửa
Nỗi niềm riêng còn khóe mắt thương than
Đã thấm thía ngày qua ngày tù tội
Chim trong lồng mơ vùng vẫy trời cao
Cười khinh mạn những chão thừng buộc trói
Về phương đông nơi bến đỗ tay chào
Mộng ước mãi chiều nao vời cố quận
Chim sẻ ngoan còn ríu rít phố phường
Loài ác điểu vẫn gây căm tạo hận
Bẫy gai chông ngầm phục ở quê hương
Ta tin tưởng có quỉ thần dẫn lối
Dù giặc thù vây bủa cả không trung
Còn một chén nốc ngụm men vời vợi
Gió chuyển rồi thôi đến lúc lên đường
Chuyện sinh tử giỡn chơi thêm ván cuối
Cạn láng rồi thử thách với phong ba
Ngôi tinh đẩu dẫn ta về bến đợi
Đường biển vẽ rồi tay lái thẳng lối qua.”

Bây giờ, nhiều người trở lại nói thành phố đã đổi khác. Hết rồi, những con đường cũ, những ngõ hẻm xưa. Hết rồi, những tâm tình thuở nào của một thời trong một đời người. Tôi, có lúc đọc những bài viết cũ, ngắm lại những hình ảnh xưa, lại nhói đau như vừa đánh mất một điều gì trân quí. Thôi vĩnh biệt Sài Gòn, tiếng kêu thảng thốt của người vừa đánh mất một phần đời sống mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Hội Thánh Công giáo có thực sự tha tội được không?-Cha Vương

Hội Thánh Công giáo có thực sự tha tội được không?

Ngày thứ 6 đầy can đảm để dám nói nên lời xin lỗi khi bạn làm tổn thương đến một ai đó. Nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 16/09/2022

GIÁO LÝ: Hội Thánh Công giáo có thực sự tha tội được không? Có. Bởi vì không chỉ một mình Chúa Giêsu có quyền tha tội, mà Người còn trao cho Hội thánh nhiệm vụ và quyền giải thoát con người khỏi tội lỗi của họ. Chúa Giêsu đã cho linh mục tham gia vào quyền tha tội của Người, nên linh mục có thể tha tội. (YouCat, số 150)

SUY NIỆM: Qua tác vụ của linh mục, Thiên Chúa ban cho loài người ơn tha thứ và xóa bỏ mọi tội dường như tội lỗi không có bao giờ. Một linh mục chỉ có thể thực hiện được việc đó vì Chúa Giêsu đã cho tham dự vào quyền thần linh riêng tư của Chúa để tha tội. (YouCat, số 150 t.t.)

❦ Linh mục đã nhận được nơi Thiên Chúa một quyền năng đầy đủ mà Thiên Chúa đã không ban cho các thiên thần hay các tổng lãnh thiên thần. Thiên Chúa ở trên trời cao xác nhận điều linh mục làm ở dưới thế. (Thánh Gioan Chrysostom)

LẮNG NGHE: Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ. (Ga 20:23)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ… đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài, xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ” (Tv 51:12,13,14).

THỰC HÀNH: Tự xét mình và đọc Kinh Ăn Năn Tội, nếu thuận lợi thì chạy đến Bí Tích Hoà Giải để lãnh ơn tha thứ.

From: Đỗ Dzũng

httpv://www.youtube.com/watch?v=zauLeRyTAuM

[Karaoke Demo] Hãy Tha Thứ (Hiền Thục)

KHÓ NGHÈO ĐÍCH THỰC-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

KHÓ NGHÈO ĐÍCH THỰC

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Những lời lên án gay gắt của ngôn sứ Amốt rất hợp với xã hội hôm nay, bởi trong bối cảnh “nền kinh tế thị trường,” người ta có khuynh hướng biến mọi sự thành hàng hóa trao đổi.  Hậu quả là ngày càng có nhiều những nhà đầu tư chỉ lo kiếm sao cho có nhiều lợi nhuận; những cha mẹ chỉ lo làm giàu mà quên trách nhiệm với gia đình; những tín hữu vì lợi lộc vật chất không ngần ngại vi phạm luật Chúa; những người bạn bè hay họ hàng thân thuộc vì tiền mà coi nhau như kẻ thù.  Vì lợi lộc vật chất, người ta không trừ một thủ đoạn nào.  Ngôn sứ A-mốt nêu ra những thủ đoạn gian lận như làm cho chiếc đấu nhỏ lại, quả cân nặng thêm, pha trộn thóc tốt với thóc mục để bán cho người nghèo…  Những thủ đoạn ấy vẫn đang tồn tại trong xã hội hôm nay, thậm chí còn nghiêm trọng hơn.

Lợi lộc vật chất khiến cho lương tâm ra tối tăm.  Đó cũng là lý do khiến con người coi thường đạo lý và tiếng nói của lương tâm.  Người tín hữu được mời gọi biết dùng của cải cho hợp lý.  Lời Chúa giúp cho chúng ta “nghèo mà không hèn,” “giàu mà không sang.”

Một hiện tượng xã hội khá phổ biến hiện nay là sự lãng phí.  Người giàu lãng phí, mà người nghèo cũng lãng phí.  Người ta lãng phí thời gian, lãng phí vật chất và lãng phí cả sức khỏe và mạng sống.  Tại các quốc gia phát triển, mỗi ngày đều có một khối lượng lớn thực phẩm bị đem đi hủy vì hết hạn sử dụng, trong khi ở các nước nghèo, biết bao người lớn và trẻ em không đủ chất dinh dưỡng để có một cuộc sống bình thường.  Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Giáo Hoàng của người nghèo, đã khẳng định: “Lương thực để lãng phí là lương thực ăn cắp của người nghèo” (Huấn từ nhân Ngày Quốc tế về môi trường, 5-6-2013).  Có thể chúng ta lập luận: “Của cải tôi làm ra, hoặc tôi mất tiền để mua sắm, tôi có quyền lãng phí!”  Nói như thế, là chúng ta quên rằng, người sở hữu đích thực mọi của cải là Thiên Chúa, chúng ta chỉ là người được Chúa trao cho quản lý.  Người quản lý trong lãnh vực nào cũng phải trung thành và tận tâm lo cho việc sử dụng của cải đúng mục đích, tiết kiệm, có ý nghĩa và sinh ích lợi cho mọi người.

Chúa Giêsu kêu gọi những ai muốn theo Người hãy sống khó nghèo.  Khái niệm “khó nghèo” thường hay bị hiểu sai.  Vị Đáng kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận giải thích với chúng ta: “Khó nghèo không phải là không có của: đó là khốn khổ, thiếu thốn.  Khó nghèo trước tiên là tập trung của cho đúng.  Một cốc cà phê, một cốc bia!  Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó.  Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh” (Đường Hy Vọng 412).  Như thế, khó nghèo là sự trân trọng với tất cả những gì chúng ta đang có, đang sử dụng và cố gắng để đừng lãng phí chúng.  Đức Hồng Y kết luận: “Không có của mà tham lam vẫn chưa phải là thanh bần; có của mà không dính bén vẫn có thể ‘có lòng khó khăn’ thực sự” (ĐHV 411).

Khó nghèo đích thực còn là khả năng và thiện chí dùng của cải của mình để xây tình liên đới và nối tình đệ huynh, góp phần xây dựng một xã hội an bình.  Nhân vật người quản lý trong Tin Mừng hôm nay được chính Chúa Giêsu gán cho một tính từ là “bất lương.”  Như thế, anh không thể làm mẫu mực cho chúng ta trong việc quản trị tài sản được.  Chúng ta không thể hiểu đúng giáo huấn của Chúa, khi chỉ trích dẫn một câu hay một đoạn Tin Mừng, nhưng cần liên kết với toàn thể để tìm ra ý nghĩa sứ điệp mà câu chuyện muốn diễn tả.  Chắc chắn Chúa không không muốn chúng ta mưu mẹo gian lận như người quản lý bất lương này.  Điều Chúa dạy ta là hãy dùng những của cải mình có mà giúp đỡ anh em, bởi lẽ sự giàu nghèo chỉ nhất thời, tình huynh đệ mới tồn tại mãi mãi.  Giúp người khác khi mình thịnh vượng chính là của để dành phòng khi mình sa cơ lỡ vận thì có người giúp đỡ lại mình.   Khi nhắm mắt xuôi tay, để lại của cải chẳng giá trị bằng để lại tình thân nghĩa.  Bởi lẽ của cải chỉ một ít người được hưởng, còn tình thân nghĩa thì lưu danh rộng khắp và lâu dài.

Thiên Chúa là Đấng Cứu độ chúng ta.  Ngài cũng là Chủ tể của lịch sử và là Đấng sáng tạo muôn loài.  Những quyền hành nơi trần gian từ bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải phục quyền Ngài, vì Ngài là Đấng tối cao.  Vì vậy, từ bậc vua chúa đến những người bình dân, ai nấy đều phải sống thánh thiện ngay thẳng.  Như thế, họ sẽ đẹp lòng Chúa và được Ngài ban ơn (Bài đọc II).

“Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ.”  Thiên Chúa là đấng độc tôn, có nghĩa là ta chỉ được thờ một mình Ngài.  Không được phép đặt Thiên Chúa ngang hàng với của cải vật chất hay bất cứ thần linh nào.  Sự trung tín trong việc phụng thờ Chúa là nét riêng của Do Thái giáo và cũng là của Kitô giáo chúng ta.  Sự khó nghèo đích thực còn là tâm tình cậy trông và phó thác nơi Chúa, luôn luôn cảm thấy cần có sự che chở của Ngài.  Nếu một giây phút ta bị Thiên Chúa lãng quên, thì ta sẽ không còn hiện hữu trên cõi đời.  Nhờ sự hiện diện của Chúa, ta thấy cuộc đời có ý nghĩa và ta được đong đầy niềm vui.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Việt Nam không có chủ nghĩa “thương dân”?

Việt Nam không có chủ nghĩa “thương dân”?

15-9-2022

Hình như người VN không có chủ nghĩa “thương dân” mà chỉ có chủ nghĩa yêu nước. Chính trị gia, học giả, trí thức… đa số qua các bài viết, các ý kiến của họ cho tôi thấy như vậy. Ngay cả những người chủ trương “dân tộc chủ nghĩa”, tôi cũng không thấy “tình yêu thương dân tộc” ở đâu trong “ý thức hệ” của họ.

Còn người cộng sản, xưa nay đều như vậy. Họ cũng sử dụng “lòng yêu nước” nhằm hô hào, kích động người dân để phục vụ cho ý đồ của họ. Vấn đề là ý đồ của họ chưa bao giờ phục vụ cho lợi ích của người dân hết cả. Họ chỉ phục vụ cho “giai cấp”, tức cho những người “cùng phe” với họ mà thôi.

Không có dân thì làm sao có nước? Không yêu dân thì làm sao yêu nước? Dân không giàu thì làm sao nước giàu? Dân không mạnh thì làm sao nước mạnh?

Người cộng sản cai trị VN luôn miệng nhắc câu, nói là của ông Hồ: Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Thực tế cho thấy ai là đầy tớ ai là ông chủ.

Theo tôi, cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tình cảm “mị dân”, một thứ “thuốc phiện” mà đời này qua đời kia các lãnh tụ đã “chích” vào cơ thể cỏa mọi người. Tội “phản quốc” là tội nặng nhứt. Ít ai đặt vấn đề “thế nào là phản quốc ?”

Đơn giản, theo tôi, phản quốc là cá nhân, tập thể, đảng phái đó đã có các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của “đất nước”.

Nhưng có một trọng tội, nặng trên cả tội “phản quốc”, là tội “phản dân” mà không thấy ai nói tới.

Đọc báo nước ngoài lâu lâu thấy tên VN “nổi bật”. Toàn là các tin tức mà người có sĩ diện, có cái ý thức gọi là “quốc thể”, phải tức đến hộc máu.

Nào là người Việt bị lừa qua Campuchia “làm việc nhẹ lương cao”. Nào là dân Hàn Quốc khuyến khích nữ du học sinh VN lấy chồng các “lão nông”, tức những nông dân già, ế vợ của thôn quê Hàn quốc. Nào là “thùng nhân”, nào là trồng cần sa, nào là buôn lậu… Dân VN một số vùng “nổi tiếng” đến đỗi sổ thông hành VN không dám đề xuất xứ quê hương.

Xuất khẩu lao động, một hình thức “buôn dân”, trở thành “chính sách” của đảng.

Tôi nói thẳng, yêu nước mà để đất nước đến đỗi như vầy là “phản quốc”.

Giữa hai chế độ thực dân ngày xưa và cộng sản bây giờ, tôi chọn chế độ thực dân.

Thực dân khai thác đất nước, nói là cạn kiệt, làm gì bằng cộng sản phá hoại đất nước như bây giờ? Thực dân trồng rừng, làm đường xá, làm đường xe lửa, xây cầu cống, đào kênh, khai khẩn đất hoang, chỉnh trang độ thị, xây trường học, làm nhà thương, khuyến khích người dân làm giàu lương thiện, bằng việc buôn bán và sản xuất…

Thực dân ngày xưa cho phép người dân ra báo tư nhân, cho phép tôn giáo và các tổ chức, đoàn thể hoạt động tự do.

Còn chế độ cộng sản, họ làm được gì?

Tôi nói thẳng, tôi không yêu nước dưới chế độ cộng sản bây giờ. Tôi yêu quê hương, nơi “chôn nhau cắt rún” của mình. Tôi yêu gia đình, hàng xóm, yêu đồng bào… Đây là “tình cảm” tự nhiên.

Dân không có thì nước không có. Không có vụ “yêu nước” khơi khơi. Yêu nước trước hết là yêu dân cái đã.

Những dự án ‘zombie’ ở Việt Nam

Những dự án ‘zombie’ ở Việt Nam

 

Blog VOA

Trân Văn

16-9-2022

Cách nay khoảng 20 năm, chuyên gia nhiều giới từng cảnh báo, khi khoảng cách giữa nhiều phi cảng quá nhỏ và khi hệ thống giao thông đường bộ đang rút ngắn cả khoảng cách lẫn thời gian di chuyển, đầu tư xây dựng, nâng cấp các phi cảng chính là vứt tiền qua cửa sổ.

______________________

Có không ít zombie (những xác chết đội mồ đứng dậy, tiến – lui, hành động theo sự điều khiển của các pháp sư, khuấy động thế giới người sống) trong hệ thống chính trị và hệ thống công quyền tại Việt Nam. Việc tìm đủ cách khôi phục những chủ trương, dự án đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông như đường sắt cao tốc, phi cảng,… sau khi tạm lắng bởi các trận bão dư luận chính là ví dụ.

***

Giữa năm 2010, sau khi nghe nhiều người, nhiều giới phân tích thiệt – hơn, hay – dở về “Dự án Đường sắt cao tốc” (1) , các Đại biểu Quốc hội khóa 12 (2007 – 2011) đã nhất trí gạt bỏ dự án này (2). Tuy nhiên năm năm sau, chính phủ Việt Nam đã “hà hơi, tiếp sức” để dựng dự án vừa kể đứng dậy bằng cách đổi tên dự án từ “Đường sắt cao tốc” thành “Đường sắt… tốc độ cao” (3).

Từ đó đến nay, thỉnh thoảng “Dự án Đường sắt… tốc độ cao” lại khuấy động dư luận vì cứ xẹp xuống một thời gian do có nhiều người, nhiều giới khuyên can lại được dựng dậy, chẳng hạn, hệ thống công quyền đã từng có ý định mang dự án ra trình các ĐBQH khóa 14 hồi 2020 nhưng ngừng lại dường như vì khó được thông qua và tin mới nhất: Chính phủ đang chờ Bộ Chính trị cho… chủ trương trong tháng này (4).

Cứ dùng Google để tìm – đối chiếu khuyến cáo của các giới về “Dự án Đường sắt cao tốc”, sau này đổi lại thành “Dự án Đường sắt tốc độ cao” suốt từ 2008 đến nay ắt sẽ thấy, tuy dự án không thuyết phục được công chúng về tính khả thi, không có giải pháp giải quyết hậu quả như nợ nần (sẽ phải vay vài chục… tỉ Mỹ kim), bảo đảm hiệu quả hoạt động (5)… nhưng trong 14 năm qua, hệ thống công quyền Việt Nam dứt khoát không bỏ cuộc (6).

Không chỉ có “Dự án Đường sắt tốc độ cao” giống như… “Zombie”. Có rất nhiều chủ trương, kế hoạch, dự án khác, cả của chính phủ lẫn chính quyền các địa phương chẳng khác gì… “Zombie”. Chẳng hạn, tính riêng trong lĩnh vực giao thông, song hành với… “Zombie… đường sắt tốc độ cao” là… “Zombie… Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc”.

***

Cách nay khoảng 20 năm, chuyên gia nhiều giới (kinh tế, hàng không,…) từng cảnh báo, khi khoảng cách giữa nhiều phi cảng quá nhỏ (chỉ từ vài chục đến chừng hơn một trăm cây số) và khi hệ thống giao thông đường bộ đang rút ngắn cả khoảng cách lẫn thời gian di chuyển, đầu tư xây dựng, nâng cấp các phi cảng chính là vứt tiền qua cửa sổ. Thậm chí tháng 3 năm 2016, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam từng chính thức thú nhận, trong 22 phi cảng, chỉ Nội Bài (Hà Nội) và Tân Sơn Nhất (TP.HCM) sinh lợi, 20 phi cảng còn lại đều lỗ nặng. Lượng khách hàng năm của 20 phi cảng đó chỉ dao động trong khoảng từ 8% đến 37% so với qui mô đầu tư.

Tuy nhiên với sự ủng hộ… “không mệt mỏi” của chính phủ, Bộ GTVT vẫn hết sức… “kiên nhẫn”, không ngừng chỉnh sửa cho cái gọi là… “Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc cho giai đoạn từ 2021 – 2031 và định hướng đến năm 2050”. Kể cả sau khi Trà Nóc được biến thành… phi cảng quốc tế và sau đó, chính quyền thành phố Cần Thơ suýt thực hiện… sáng kiến… dùng công quỹ để… bù lỗ cho các hãng hàng không mở… đường bay đến Trà Nóc (7).

Bất kể thực tế là vốn (thuế, tiền vay cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam, tiền lãi) rót vào hệ thống phi cảng không những không sinh lợi còn khiến nợ nần càng ngày càng lớn,… hệ thống công quyền Việt Nam từ trung ương (chính phủ với đại diện là Bộ GTVT) đến địa phương (chính quyền các tỉnh) vẫn… không tỉnh! Tuy “thi đua mở sân bay rồi thi đua bù lỗ” đã được đúc kết cách nay năm năm nhưng “Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc cho giai đoạn từ 2021 – 2031 và định hướng đến năm 2050 cứ lắng xuống mỗi khi công chúng sốt ruột rồi lại… trồi lên, trở thành cơ hội để chính quyền các tỉnh thi nhau… xin, còn chính phủ thì nhờ vậy mà có cơ hội… xem xét – phê duyệt!

Mới đây, ông Lê Văn Thành – một trong các Phó Thủ tướng – vừa họp với đại diện của “15 tỉnh, thành phố có nhu cầu nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới cảng hàng không” để “tìm các nhà đầu tư sân bay theo hình thức PPP” (hình thức đối tác công tư: chính quyền giao đất để nhà đầu tư thực hiện – quản lý – vận hành dự án) (8). Cũng vì vậy “Zombie… Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc” lại khuấy động dư luận. Ngay cả những cơ quan truyền thông vốn hết lòng ủng hộ mọi chủ trương, chính sách của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền như Công An Nhân Dân cũng thấy cần phải mở miệng trước những sự kiện như Sơn La xin đầu tư hai phi cảng (9).

***

Tại sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền vẫn bất động, không đặt định được giải pháp khả thi nào để đưa giáo dục, y tế (vốn là phúc lợi công cộng, bảo đảm an sinh) ra khỏi khủng hoảng vì thiếu đủ thứ từ chủ trương đúng, chính sách hợp lý và khả thi đến nhân lực, hạ tầng, hay tìm cho ra cách thức giải quyết những bế tắc cố hữu trong lĩnh vực việc làm (vốn liên quan để cả kinh tế lẫn dân sinh),… ngoài những chỉ đạo quái gở bởi đã vô duyên còn vô trách nhiệm kiểu như: “Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm” (9)? Vì lẽ gì mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền lại trung thành với một số chủ trương, kế hoạch, dự án tới mức biến chúng thành… “Zombie” như đã biết và đang thấy? Ai, cái gì đang để nhiều thành viên từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác có thể vận hành các hệ thống như chỗ bảo trợ và dành hết tâm huyết cho… “Zombie”?

Trump dọa Mỹ sẽ gặp ‘rắc rối’ chưa từng thấy nếu ông bị truy tố

Trump dọa Mỹ sẽ gặp ‘rắc rối’ chưa từng thấy nếu ông bị truy tố

September 15, 2022

LOS ANGELES, California (NV) – Cựu Tổng Thống Donald Trump cảnh cáo Mỹ sẽ gặp “rắc rối theo kiểu có lẽ chúng ta chưa từng thấy” nếu ông bị truy tố liên quan vụ quản lý tài liệu mật sau khi hết nhiệm kỳ, theo Politico hôm Thứ Năm, 15 Tháng Chín.

Lời cảnh cáo của ông Trump dường như ngụ ý rằng nếu Bộ Tư Pháp (DOJ) truy tố, ủng hộ viên của ông có thể sẽ làm loạn.

Cựu Tổng Thống Donald Trump phát biểu trước ủng hộ viên tại buổi mít tinh ở Wilkes-Barre, Pennsylvania, hôm 3 Tháng Chín. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

“Nếu chuyện như vậy xảy ra, tôi sẽ không bị cấm ra tranh cử,” cựu Tổng Thống Trump nói trong cuộc phỏng vấn hôm Thứ Năm với ông Hugh Hewitt, người dẫn chương trình phát thanh bảo thủ. “Tôi nghĩ nếu chuyện đó xảy ra, đất nước này sẽ gặp rắc rối theo kiểu có lẽ chúng ta chưa từng thấy. Tôi nghĩ người Mỹ sẽ không chấp nhận chuyện đó.”

Ông Hewitt hỏi ông Trump ý ông nói “rắc rối” là gì.

“Tôi nghĩ họ sẽ gặp rắc rối lớn. Rắc rối lớn. Tôi nghĩ họ sẽ không chịu đâu. Họ sẽ không chịu ngồi yên chấp nhận trò chơi xỏ vô cùng này.”

Đây không phải lần đầu tiên người Cộng Hòa ngụ ý sẽ xảy ra bạo loạn nếu DOJ truy tố ông Trump. Tháng trước, Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham (Cộng Hòa-South Carolina) gây rùm beng trên báo chí khi ông cho rằng sẽ có “bạo loạn ngoài đường” nếu “ông Donald Trump bị truy tố vì quản lý kém thông tin mật.” Lời nói đó khiến ông Graham bị chỉ trích là “vô trách nhiệm” và “đáng xấu hổ.” Dù không nêu tên ông Graham cụ thể, bà Karine Jean-Pierre, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, cho hay những lời nói như vậy của “người Cộng Hòa cực đoan” là “nguy hiểm.”

Dường như ông Hewitt xem lời nói nêu trên của cựu Tổng Thống Trump là ủng hộ bạo loạn chính trị. Ông Hewitt hỏi ông Trump sẽ phản ứng ra sao nếu báo chí cáo buộc ông kích động bạo loạn.

“Như vậy đâu phải kích động. Tôi chỉ nghĩ sao nói vậy thôi,” ông Trump nói. “Tôi nghĩ người dân nước này sẽ không chấp nhận chuyện đó.”

Cũng hôm Thứ Năm, giới chức cao cấp FBI và Bộ Nội An (DHS) trình bày với hai ủy ban Tư Pháp Thượng Viện và Nội An Thượng Viện về việc mối đe dọa nhắm vào cơ quan công lực liên bang đang tăng lên sau vụ FBI khám xét dinh thự Mar-a-Lago của ông Trump ở Florida. Các thượng nghị sĩ cho hay những giới chức FBI và DHS này không nêu cụ thể chính khách nào hoặc đảng nào liên hệ những mối đe dọa đó, nhưng họ xác nhận xu hướng này hiện đang rõ ràng.

Khi khám xét Mar-a-Lago hôm 8 Tháng Tám, FBI tịch thu hơn 100 tài liệu mật, theo hồ sơ tòa án.

DOJ và phía luật sư ông Trump đang kiện nhau về vấn đề cử giám sát viên độc lập xem xét số tài liệu đó. (Th.Long)

Ba bài học từ quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan

Ba bài học từ quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan

Y Chan

Có rất nhiều yếu tố biến Đài Loan trở thành một thỏi nam châm thu hút vô số học giả, và là đề tài cho các nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới.

Đó là một nước hiếm hoi có quá trình chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ một cách hoàn toàn hòa bình, dù không hề thiếu gian truân và kịch liệt.

Là một nền dân chủ non trẻ, chỉ mới hơn 30 năm, nhưng Đài Loan nhanh chóng xác lập vị thế là một trong những thể chế dân chủ ổn định và vững mạnh nhất thế giới [1].

Sự tồn tại của Đài Loan càng đáng chú ý hơn trước mối đe dọa thường trực suốt hàng chục năm qua từ Trung Quốc, một hình mẫu theo đuổi các giá trị hoàn toàn ngược lại.

Tìm hiểu về nền dân chủ của Đài Loan, đặc biệt là quá trình chuyển đổi của họ, luôn đem lại những bài học đáng giá, nhất là cho những nước như Việt Nam.

Quyển sách “Democratizing Taiwan” (Dân chủ hóa Đài Loan) của tác giả J. Bruce Jacobs là một trong những nguồn tham khảo có giá trị, cho cả những người mới bắt đầu lẫn những ai đã sành sỏi về đảo quốc này [2].

J. Bruce Jacobs, học giả người Úc sinh ra tại Mỹ, được xem là một người khổng lồ trong lĩnh vực nghiên cứu về Đài Loan [3]. Ông từng nhận được các huân chương cấp cao nhất của nhà nước Đài Loan và Úc dành cho công dân có cống hiến xuất sắc. Ông qua đời vào năm 2019.

Không chỉ là một nhà nghiên cứu và quan sát về Đài Loan, bản thân Jacobs cũng trở thành một phần lịch sử nước này. Ông là người trong cuộc của một số sự kiện bước ngoặt trong quá trình dân chủ hóa Đài Loan.

“Democratizing Taiwan” được xuất bản cách đây đã 10 năm, nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị tham khảo. Cuốn sách thậm chí còn có quá nhiều thông tin chi tiết mà chỉ những ai đặc biệt lưu tâm và theo dõi lịch sử chính trường Đài Loan mới thẩm thấu hết.

Các đối tượng độc giả khác nhau sẽ rút ra được một số điều riêng biệt từ công trình nghiên cứu và tổng hợp công phu này.

Với phần lớn độc giả Việt Nam, có ba bài học gần gũi đáng được nhắc đến.

Cùng dòng máu vẫn có thể là thực dân ngoại xâm

Bài học thứ nhất là việc tác giả dùng từ “chế độ thực dân” (colonial regime) để nói về hệ thống cai trị của Quốc Dân Đảng tại Đài Loan trước khi tình trạng thiết quân luật được bãi bỏ năm 1987.

Nhiều nhà nghiên cứu về Đài Loan nhận định lịch sử của Đài Loan là lịch sử của một vùng đất thuộc địa bị những kẻ ngoại xâm cai trị.

Từ thế kỷ 17, người bản địa Đài Loan lần lượt trải qua các chế độ thực dân của Hà Lan, Tây Ban Nha, gia tộc Trịnh Thành Công, triều đình Mãn Thanh, và sau đó là đế quốc Nhật Bản.

Năm 1945, sau khi kết thúc Thế Chiến II, Đài Loan quay về dưới sự kiểm soát của Trung Quốc – lúc này có tên gọi là Trung Hoa Dân Quốc, do Quốc Dân Đảng nắm quyền. Và năm 1949, sau khi thất trận ở đại lục, toàn bộ chính quyền Quốc Dân Đảng rút lui về Đài Loan để bảo toàn lực lượng.

Vào lúc này, phần lớn người Đài Loan đều có gốc Hoa do các đợt di cư từ ba thế kỷ trước. Cùng dòng máu, nên với người ngoài, ít ai nghĩ chế độ của Quốc Dân Đảng là thực dân hay sự tiếp nối lịch sử ngoại xâm của Đài.

Tuy nhiên, với nhiều dẫn chứng cụ thể, Jacobs chỉ ra chế độ của Quốc Dân Đảng tại Đài Loan có đầy đủ tính chất của một chế độ thực dân ngoại xâm.

Nó được xây dựng để phục vụ và bảo toàn quyền lực cho một nhóm thiểu số người đại lục (mainlander), những người Trung Quốc qua Đài Loan sau năm 1945, vốn chỉ chiếm chưa tới 15% dân số Đài Loan vào thời điểm trên.

Chính quyền Quốc Dân Đảng áp đặt một căn tính chung, dựa trên nhóm thiểu số đó, lên toàn bộ người dân Đài Loan, gốc Hoa lẫn bản địa. Nó phục vụ cho tham vọng quyền lực riêng của Quốc Dân Đảng, và tạo ra một cơn khủng hoảng căn tính dân tộc cho Đài Loan tới tận ngày nay.

Ngoài ra, giống như nhiều chế độ thực dân ngoại xâm khác, chính quyền Quốc Dân Đảng không e ngại dùng vũ lực để đàn áp đẫm máu những ai dám thách thức quyền lực độc tôn của họ.

Tác giả dẫn lại một câu nói được cho là cảm nhận của nhiều người Đài Loan vào thời điểm Quốc Dân Đảng vừa sang nắm quyền thay cho Nhật Bản: bọn chó (Nhật) đã tệ, bọn heo (Trung Quốc) còn tệ hơn.

Cởi trói không đồng nghĩa với dân chủ

Ngay chương đầu của sách, J. Bruce Jacobs đã đặt vấn đề về sự khác biệt giữa hai khái niệm “tự do hóa” (liberalization) và “dân chủ hóa” (democratization).

Theo Jacobs, các chính quyền độc tài trong một số trường hợp thực thi những chính sách cơi nới các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Họ thậm chí có thể cho phép các chính trị gia độc lập lẫn đối lập tham gia tranh cử. Nhưng mấu chốt là họ không bao giờ từ bỏ quyền lực tối thượng (ultimate control).

Những chính sách này được xem là “tự do hóa”, không phải “dân chủ hóa”.

Từ đầu thập niên 1970, Đài Loan đã trải qua ít nhất hai làn sóng tự do hóa. Tuy nhiên, dưới sự cầm quyền của Tưởng Giới Thạch và sau đó là con trai Tưởng Kinh Quốc, không có lực lượng nào được phép thách thức vai trò độc tôn của Quốc Dân Đảng.

Tác giả đề xuất một cách dịch khác của “liberalization”, phù hợp hơn với trường hợp của Đài Loan, đó là “cởi trói dần” (鬆綁化 – loosening restrictions).

Dưới góc độ này, Jacobs nhận định rằng Tưởng Kinh Quốc, dù được khen ngợi khi thực thi các chính sách cởi trói cho xã hội Đài Loan vào những năm cuối đời, vẫn không phải là nhân tố quyết định cho nền dân chủ của Đài Loan (vai trò đó thuộc về Lý Đăng Huy, người kế nhiệm sau khi Tưởng Kinh Quốc qua đời năm 1988).

Những thông tin về bối cảnh của Đài Loan trong sách sẽ giải thích vì sao tự do hóa/ cởi trói dần là không đủ và không thể giải quyết các vấn đề nhức nhối của xã hội nước này.

Dân chủ đầy khiếm khuyết, nhưng ai cũng có cơ hội công bằng

Những chính sách cởi trói vào cuối thập niên 1980 là tiền đề để Đài Loan có thể tiến hành dân chủ hóa một cách trọn vẹn và hòa bình, không đổ máu.

Nhưng dân chủ không phải là phần thưởng cuối cùng. Nó không phải viên thuốc thần kỳ giải quyết mọi vấn đề của xã hội. Nó cũng không tự động biến mỗi công dân thành những con người tốt đẹp hơn.

Thông qua những ghi chép tỉ mỉ chi tiết trong sách về từng cuộc bầu cử lớn nhỏ tại Đài Loan, người đọc không khỏi có ấn tượng về một sự lộn xộn và những tật xấu nhan nhản của chính trường nước này thời dân chủ.

Điểm khác biệt so với chế độ độc tài là các vấn đề này được công khai, và, trong rất nhiều trường hợp, dưới áp lực của cử tri, được sửa đổi và hoàn thiện liên tục.

Điều quan trọng nhất là dưới chế độ mới, mọi người đều có cơ hội công bằng để bảo vệ quyền lợi của mình.

Người đọc có thể thấy điều đó qua cách các đại biểu dân cử của những tộc người bản địa thiểu số, dù chỉ chiếm một tỷ lệ cực kỳ ít ỏi, vẫn có thể thương lượng điều đình với những đảng phái lớn để đạt được các thỏa thuận có lợi cho nhóm cử tri của mình.

Người đọc cũng có thể cảm nhận được điều đó qua cách người dân Đài Loan ngày càng chủ động tham gia sâu vào các hoạt động chính trị, từ việc bỏ phiếu ủng hộ các chính trị gia đến vận động gây áp lực buộc chính quyền phải thay đổi.

Và cơ hội công bằng không chỉ dành cho “người tốt”, ngay cả “kẻ xấu” một thời như Quốc Dân Đảng – thực dân/ ngoại xâm/ độc tài – vẫn có cơ hội như mọi đảng phái khác trong một thể chế dân chủ.

Năm 2000, Quốc Dân Đảng lần đầu tiên mất quyền lực vào tay Dân Tiến Đảng. Nhưng đến năm 2008, cử tri quyết định trao quyền lại cho họ.

Quốc Dân Đảng dù mất đi vị thế độc tôn của thời độc tài nhưng đổi lại, họ vẫn là một thế lực cạnh tranh bình đẳng với mọi nhóm chính đảng khác, và luôn có cơ hội giành được chính quyền nếu thuyết phục được các cử tri.

Được lợi lớn nhất là toàn bộ người dân Đài Loan.

Y.C.

Nguồn: Luật Khoa Tạp chí

Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

 Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

TGPSG / Aleteia — Tử nạn tại Paris cách đây 25 năm, ngày 31.8.1997, công nương Diana, còn được gọi là Lady Di, từng cất giữ một cách thành tín một tràng hạt Mân Côi mà Thánh Têrêsa Calcutta đã tặng cho Lady, và đã được người thân đặt vào quan tài của công nương.

CỖ TRÀNG HẠT QUÝ


Nhìn qua thì chẳng có gì có thể báo trước một tình bạn khắng khít giữa Công nương xứ Wales và Nữ Thánh thành Calcutta, nhưng thực ra thì hai người phụ nữ đó đã gắn kết với nhau bằng mối dây lo toan chung cho những người cùng khổ. Nghe tin Lady Di tử nạn, Mẹ Têrêsa đã gởi lời chia buồn, và nói về Diana rằng: “Cô ấy đúng là đã từng rất lo cho người nghèo. Cô rất mong được làm cái gì đó cho họ và điều đó thật là đẹp. Vì vậy, cô thật gần gũi với tôi.”

Vị nữ tu đã từ trần sau đó vài ngày, ngày 5.9.997. Hai tháng trước, tháng 6/1997, hai người đã gặp nhau ở New York.

Theo báo The Independent, Diana và Mẹ Têrêsa “đã bước đi, tay trong tay, trên đường phố khu Bronx, TP New York… Họ đã choàng tay nhau, ôm nhau và cùng nhau cầu nguyện khoảng 40 phút. Nhân dịp này, Mẹ Têrêsa đã chúc phúc cho công nương”. 
Mẹ Têrêsa có biết rằng cỗ tràng hạt mà Mẹ tặng cho Lady Di đã đồng hành cùng công nương đến nơi an nghỉ cuối cùng không?

Những giờ phút sau cái chết của vị công nương đã được tường thuật chi tiết trên tờ Daily Mail:

Đêm ngày 30 rạng sáng 31.8.1997, khi vị quản gia Paul Burrell của Diana từ cung điện Kensington, Luân Đôn, nhận được tin về cái chết  bi thảm của công nương, ông được lệnh phải đem mọi vật dụng mà Diana yêu thích nhất sang bệnh viện La Pitié-Salpêtrière ở Paris, nơi công nương được đưa tới. Lòng tan nát, ông đi vào căn hộ của Lady Di, “nhìn cái bàn làm việc của công nương trên đó có cây viết và một lọ mực, bên cạnh là tờ giấy ghi danh sách những từ ngữ vốn dùng để cải thiện vốn từ vựng của Lady. Ông cầm vội lấy một chuỗi hạt Mân Côi – mà Mẹ Têrêsa tặng cho công nương, treo trên một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh – và bỏ vào túi.”

Vừa đến bệnh viện, chính Colin Tebbutt, tài xế riêng của Diana, đã đưa cỗ tràng hạt cho một nữ điều dưỡng mà dặn rằng phải đặt nó vào tay công nương. Cũng được đặt trong quan tài của bà là một tấm ảnh 2 đứa con trai mà công nương vẫn giữ trong ví của mình.

LINH MỤC TUYÊN ÚY BỆNH VIỆN

Được gọi khẩn cấp đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, cha Yves-Marie Clochard Bossuet, với tư cách linh mục tuyên úy trực đêm 31.8.1997, đã canh thức 8 giờ liền cạnh thi thể của Lady Di.

Năm nay 73 tuổi, cha Bossuet chánh xứ Notre-Dame des Foyers ở Paris, Pháp, đã tâm tình cùng Aleteia về những ơn thiêng được ban xuống trong đêm đó.

Nhận cuộc gọi vào lúc 2 giờ sáng 31.8.1997, cha Yves-Marie Clochard Bossuet lúc đầu nghĩ đây là trò đùa. Nhưng viên trực ban của bệnh viện cứ gọi lại, nài nỉ và cuối cùng đã cho ngài biết danh tính của người mà ngài được mời đến bên: Lady Diana, Công nương xứ Wales, được đưa đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière trong tình trạng rất nặng, sau một tai nạn xe hơi trong đường hầm dưới cầu Alma, TP Paris. 

From: tao ngo & Kim Bang Nguyen