Rupert Murdoch và Donald Trump, khi “cuộc tình” tan vỡ

Rupert Murdoch và Donald Trump, khi “cuộc tình” tan vỡ

Mỹ Anh

25 tháng 7, 2022

Thái độ gần đây của Rupert Murdoch, ông trùm truyền thông có sức ảnh hưởng lớn trong xã hội lẫn chính trường Mỹ, cho thấy nhiều điều…

Giới truyền thông Mỹ đã “rung chuyển” sau khi tờ New York Post số ra ngày 22 Tháng Bảy 2022 đưa ra một “cáo trạng” gay gắt về việc ông Trump thất bại trong việc ngăn chặn cuộc tấn công vào Điện Capitol ngày 6 Tháng Một 2021. Bài xã luận, ký tên “Ban biên tập (“Post Editorial Board”) trên tờ lá cải New York Post do Murdoch sở hữu từ năm 1976, viết:

“Khi những người theo dõi ông ta xông vào Điện Capitol, kêu gọi treo cổ Phó Tổng thống, thì Tổng thống Donald Trump ngồi trong phòng ăn riêng, xem TV, không làm gì cả. Trong ba giờ, bảy phút”. Bài báo viết thêm rằng, trọng tâm duy nhất của Trump là ngăn chặn việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. “Về nguyên tắc, về tính cách, Trump đã chứng tỏ ông không xứng đáng trở lại vị trí nguyên thủ của đất nước này một lần nữa”.

Ông Rupert Murdoch (ảnh: Axelle/Bauer-Griffin/FilmMagic)

Wall Street Journal, một tờ báo khác của Murdoch, cũng đưa ra bài bình luận gay gắt tương tự, khi nói những bằng chứng trước Ủy ban Hạ viện ngày 6 Tháng Một là lời nhắc nhở rằng “Trump đã phản bội những người ủng hộ mình”. Bài báo, cũng ký tên Ban biên tập (The Editorial Board), viết rằng Trump đã tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, có nghĩa phải có nghĩa vụ bảo vệ Điện Capitol khỏi đám đông mà chính ông ta lôi kéo đến; tuy nhiên, dù biết họ được trang bị vũ khí nhưng…

“Ông ấy đã từ chối. Ông ấy đã không gọi quân đội đến giúp. Ông ấy đã không gọi [Mike] Pence để xem ông Phó tổng thống có an toàn không. Thay vào đó, ông ấy nhồi thêm sự tức giận cho đám đông và để bạo loạn bùng phát.” Và Wall Street Journal viết tiếp, Trump đã “không hề tỏ ra hối tiếc”, rằng “cá tính con người ông cuối cùng đã lộ rõ trong cuộc khủng hoảng này”, và cuối cùng khi Pence hoàn thành nhiệm vụ thì “Trump thất bại một cách tuyệt đối”.

Rupert Murdoch và vợ trong một lần dự tiệc tại Tòa Bạch Ốc, 2018 (ảnh: Aaron P. Bernstein/Getty Images)

Trước đó, trong bài viết khác, Wall Street Journal đã “bắn phá” Donald Trump bằng những chỉ trích gay gắt và nặng nề, đồng thời nhấn mạnh với độc giả rằng mùa bầu cử 2024 không cần có Trump.

“Hãy nhìn về phía trước, sân chơi 2024 đầy nghẹt người. Các bạn có Thống đốc Florida Ron DeSantis, cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo, cựu đại sứ LHQ Nikki Haley… danh sách vẫn còn tiếp tục. Tất cả ứng viên này đều thuộc thành phần bảo thủ với đường lối chính trị bảo thủ… Thế thì hãy hủy đăng ký nhận email hàng ngày của Trump mà nội dung chỉ để xin tiền. Sau đó, hãy chọn ra một nhân vật mà các bạn yêu thích từ thành phần mới gồm những chính trị gia bảo thủ. Hãy hướng đến năm 2022, 2024 và một kỷ nguyên mới. Hãy làm cho nước Mỹ lành mạnh trở lại”.

Ngoài những bài viết của “ban biên tập”, những bỉnh bút, như Michael Goodwin của New York Post hoặc Peggy Noonan của Wall Street Journal, cũng bắt đầu tỏ “thái độ” với Trump… Tín hiệu thay đổi quan điểm của Rupert Murdoch cũng thể hiện trên hãng truyền thông quyền lực nhất của ông, Fox News. Hôm thứ Sáu 22 Tháng Bảy, Fox News đã không phát sóng buổi vận động của Trump ở Arizona mà phát chương trình phỏng vấn Ron DeSantis, Thống đốc Florida, người được xem là ứng cử viên tiềm tàng cho đường đua tổng thống 2024.

Các nhà quan sát tin rằng Rupert Murdoch, 91 tuổi, dường như đã quá chán ngán những lời nói dối của Trump, đặc biệt khi Trump vẫn lặp đi lặp lại rằng cuộc bầu cử năm 2020 bị đánh cắp. Các cơ quan truyền thông của Murdoch đã đối mặt những hậu quả pháp lý khi lặp lại lời nói dối của Trump. Một thẩm phán ở Delaware gần đây cho biết Fox Corp có thể bị Dominion Voting Systems kiện vì phát tán các thuyết âm mưu liên quan cuộc bầu cử năm 2020. Cả Rupert Murdoch lẫn con trai ông (Lachlan) đều có tên trong vụ kiện $1.6 tỷ, với những cáo buộc hành động “ác ý thực sự” (“actual malice”) trong việc cho phép Fox News phát đi lời nói dối vô căn cứ rằng cuộc bầu cử bị gian lận.

Mối quan hệ giữa Murdoch và Trump từ lâu được xây dựng trên nền tảng lợi dụng nhau. Ba mươi năm trước, Trump sử dụng tờ New York Post làm vũ khí trong cuộc chiến ly hôn của ông với Ivana Trump (người vợ đầu tiên của ông vừa qua đời). Theo Roger Stone, đồng minh thân cận của Trump, ông Trump từng đánh giá trang Page Six của New York Post là “rất quan trọng đối với tầm vóc đang lên của ông ở New York City cũng như đối với những nỗ lực xây dựng thương hiệu của ông”.

Một năm trước khi Trump đắc cử, năm 2015, tờ The New York Times cho biết Murdoch đã xem thường Trump đến mức gọi ông là “một tên rởm”. Sau khi Trump chế nhạo thượng nghị sĩ và cựu ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa John McCain, Murdoch viết trên Twitter: “Khi nào thì Donald Trump ngưng làm xấu mặt bạn bè mình, huống hồ cả nước Mỹ?” Wall Street Journal cũng từng gọi Trump là một “thảm họa”… Tuy nhiên, khi Trump đắc cử vào năm 2016, Rupert Murdoch đổi giọng và dùng hệ thống truyền thông của mình ủng hộ Trump hết cỡ.

Cựu Tổng thống Donald Trump trong một buổi vận động tại Tampa, Florida; ngày 23 Tháng Bảy 2022 (ảnh: Joe Raedle/Getty Images)

Với Rupert Murdoch lúc đó, việc xây dựng và thắt chặt quan hệ với Donald Trump là lợi nhiều hơn hại. Murdoch không cần thông qua trợ lý Tổng thống vẫn có thể gặp được Trump. Có lần Trump còn gọi Murdoch để trấn an rằng Fox News sẽ không bị ảnh hưởng bởi thỏa thuận bán hãng phim 20th Century Fox cho Disney. Jared Kushner và Ivanka Trump từng đi nghỉ trên du thuyền của Murdoch…

Bây giờ tại sao Rupert Murdoch “tráo trở” thay lòng đổi dạ? Như Joe Pompeo viết trên Vanity Fair số ngày 22 Tháng Sáu, ông trùm truyền thông Rupert Murdoch là “một gã thực dụng”. Rupert Murdoch hơn ai hết biết cách “coi bói chính trị”. Lăn lộn nhiều năm, quen biết đủ tai to mặt lớn, Rupert Murdoch thuộc lòng sân khấu chính trị Mỹ như lòng bàn tay. Ông biết điểm mạnh và điểm yếu của từng người.

Ông hẳn đã có thể nhìn thấy lá bài Trump không còn giá trị như những người ủng hộ ông Trump hằng tưởng và mong chờ. Nước Mỹ không còn cần ông Trump vẫn có thể “sống”. “Hãy hướng đến năm 2022, 2024 và một kỷ nguyên mới. Hãy làm cho nước Mỹ lành mạnh trở lại” – như bài viết dẫn ở trên của Wall Street Journal.

M.A.

Nguồn: saigonnhonews.com

Kính tiễn Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh – Tác giả: Quyên Di

Kính tiễn Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh – Tác giả: Quyên Di

Thế là qua một đời người
Không còn tiếng khóc giọng cười phù sinh.
(QD)

Tôi đứng bên cạnh giường
Giáo sư Vinh bây giờ khép mắt
Hành trình cuối cùng đã xong, Giáo sư tròn giấc
Bên ngoài vườn một tiếng chim hót lẻ loi.

Nhưng tôi không tin phút cuối cùng Giáo sư thấy đơn côi
Khi bên cạnh có những người thân yêu nhất
Tiếng thánh ca vang lên lẫn trong tiếng nấc
Xin gửi An-phong-sô Nguyễn Xuân Vinh vào vòng tay Đấng Chí Ái Chí Nhân.

Tôi không còn nhớ biết bao lần trong ngôi nhà chan chứa tình thân
Chúng ta đã ngồi bên nhau hàn huyên tâm sự
Giữa chúng ta có điều gì nặng nợ
Khi đã một lần suýt hiểu lầm nhau
Rồi cởi mở lòng ra trong một phút, rất mau
Gạn đục khơi trong, chỉ nhìn thấy trong nhau những gì cao quý nhất
Tôi thích đọc những gì Giáo sư viết trong đêm khuya thức giấc
Giáo sư thích nghe những lời tôi bàn chuyện văn chương.

Căn phòng di vật quả là một chút vấn vương
Những thành tích lẫy lừng Giáo sư thực hiện
Dẫn tôi vào xem, Giáo sư trầm tư mặc tưởng
Buông bàn tay khỏi những hiển hách huy hoàng
Cuộc đời bây giờ là những buổi chiều vàng
Giáo sư nguyện cầu Chúa đoái thương phù giúp.

Sống như Giáo sư, với người ta là tròn mộng ước
Khi đã từng là Tư lệnh Không Quân
Là Giáo sư những đại học lừng danh
Là tác giả phương trình vượt không gian vào vũ trụ
Là nhà văn với những tác phẩm vô cùng quyến rũ
Đời Phi Công làm đắm say bao hồn trẻ phiêu bồng
Nhà toán học đại tài làm rạng rỡ giống Tiên Rồng
Nhưng với Giáo sư, hình như chưa phải là đích điểm.

Có một điều gì Giáo sư khát khao tìm kiếm
Bên ngoài những phương trình, quỹ tích, đạo hàm
Bên ngoài phẩm hàm, bên ngoài chức tước cao sang
Điều tìm kiếm: đâu thật là CHÂN LÝ?
Chân Lý ấy không ở trong những lời hoa mỹ
Không ở trong một khối óc phi thường
Và bỗng một ngày Giáo sư biết: đó là chính TÌNH THƯƠNG
Của Đấng Trên Cao thương kiếp người YẾU ĐUỐI
“An-phong-sô, thôi hãy ngừng theo đuổi
những phù hoa, hãy đến cùng TA!”
Những năm tháng cuối đời, Giáo sư đã nhận ra
CHÂN LÝ ấy là ĐẤNG TOÀN NĂNG (Đại Ngã).

Đời sống chúng ta đều như thế cả
Trong vòng quay của một kiếp trầm luân
Hạnh phúc, buồn đau, đoàn tụ, rẽ phân
Vinh quang, nhục nhằn, thành công, thất bại
Phút cuối đời tất cả đều bỏ lại
Nhưng với khổ đau tiếc nuối hay thanh thản hân hoan?
Giáo sư đã tìm ra một định luật vàng:
Dâng tất cả lên đôi tay Rất Thánh
Lòng sẽ hân hoan vì yếu mềm chính là sức mạnh
Đưa Giáo sư về gặp Đấng Sáng Tạo Toàn Năng.

Kính tiễn Giáo sư như một cánh sao băng
Vượt vũ trụ bay vào lòng ĐẠI NGÃ.

【Quyên Di (23/07/2022, một buổi chiều vàng)

Ngày về

https://www.youtube.com/watch?v=uWsH1mRim5Y&ab_channel=V%C5%A9L%C3%AAHu%C3%A2n

Vĩnh biệt mọi người ” tôi ra đi lần cuối,,,!!!

https://www.youtube.com/watch?v=E4BzBffffhg&ab_channel=Nguy%E1%BB%85nTh%C3%A0nhvlog

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara – Trần Trung Đạo  

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara

Trần Trung Đạo  

Buổi chiều mùa hè sáu năm trước ở Nara, cố đô Nhật Bản, tôi có ý viết bài dưới đây khi nhìn các em học sinh Nhật trên đường về nhà. Thời gian trôi qua. Thành phố cổ kính mà tôi đã có dịp ghé thăm lại là nơi cố Thủ tướng Nhật Shinzo Abe vĩnh viễn ra đi. Đăng lại để nhắc nhở mình về một kỷ niệm với cố đô Nara của Nhật và vai trò thiết yếu của hiến pháp trong việc xây dựng những thế hệ con người mới sau chiến tranh dù ở Nhật hay ở Miền Nam Việt Nam.

Mời đọc bài viết:

SUY NGHĨ BÊN ĐÈN ĐỎ Ở NARA

Tháng 6, 2016, trên đường từ cố đô Nara về lại Kyoto, chiếc xe bus du lịch dừng trước đèn đỏ của một ngã tư. Một toán học sinh Nhật khoảng lớp sáu hay lớp bảy băng qua đường. Nhật Bản đang vào mùa hè và học sinh còn nghỉ học nhưng các em hình như đang trở về từ một sinh hoạt tập thể nên đều mặc đồng phục áo trắng quần xanh.

Đèn bắt đầu chớp. Ba em cuối cùng trong toán cố vượt theo bạn dù tiếng chuông trên trụ đèn đã báo sắp hết giờ dành cho người đi bộ. Dĩ nhiên xe bus tiếp tục dừng để các em đi qua hết. Ba em cuối cùng băng nhanh qua đường nhưng thay vì chạy theo cùng các bạn, các em dừng lại, sắp hàng ngang nghiêm chỉnh hướng về phía xe bus và cúi gập người xuống để xin lỗi và cám ơn anh tài xế. 

Nhìn học sinh Nhật, người viết chợt nhớ thế hệ mình ngày xưa.

Học trò miền Nam được dạy không chỉ cúi đầu thôi mà còn vòng tay để chào, cám ơn hay xin lỗi các bậc trưởng thượng. Trên đường, khi gặp một đám tang đi qua, chúng tôi được dạy phải đứng nghiêm trang và dở mũ xuống nếu đội mũ, cúi đầu kính tiễn biệt người quá cố cho đến khi xe tang qua hẳn mới tiếp tục đi. Khi thầy hay cô vào lớp, chúng tôi được dạy cả lớp phải đứng dậy chào và chờ cho đến khi thầy hay cô ngồi xuống, chúng tôi mới được ngồi. 


Khi có người lớn tuổi đến nhà, chúng tôi được dạy phải vòng tay cúi chào thưa theo đúng thứ bậc so với cha hay so với mẹ. Dù đang đi đâu, khi nghe tiếng Quốc Ca cất lên, từ một trại lính hay một công sở nào đó, chúng tôi được dạy phải đứng lại nghiêm chỉnh để chào cho đến khi bài Quốc Ca chấm dứt. Mỗi sáng thứ Hai trên bảng đen trong lớp học bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu châm ngôn đầu tuần thắm đậm tình dân tộc như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay tương tự và chúng tôi được dạy phải dành vài phút đầu tuần để học về ý nghĩa của câu châm ngôn đó. 

Trong giờ Công Dân Giáo Dục, chúng tôi được dạy trung thành với tổ quốc Việt Nam chứ không phải với riêng một đảng phái nào. Trên tường của trường Trần Quý Cáp ở Hội An nơi người viết học và hầu hết trường trung học, tiểu học ở miền Nam đều có hàng chữ chạy dài “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời.” Và rất nhiều lễ nghi, phép tắc đạo lý đáng quý, đáng giữ gìn khác. 

Nguyễn Hồng Quốc, một bạn học lớp đệ Tam (lớp 10) ở Trung Học Trần Quý Cáp kể lại trên Facebook “Qua Trần trung Đạo mình có được thông tin về thầy Phan đình Trừng sau 44 năm không gặp, thầy dạy sử và công dân mình thời trung học đệ nhị cấp, thầy có giọng nói hùng hồn đầy tự tin nghe thầy giảng bài thật thú vị… năm đệ Tam vào giờ công dân thầy kêu mình lên dò bài, thầy đặt trên bàn lá Quốc kỳ thầy bắt mình tay phải đặt lên lá cờ, tay trái đặt lên ngực đọc lời tuyên thệ “Tôi là công dân VNCH nguyện tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc. Xin thề. Xin thề” Mình đọc thật to và dõng dạc được thầy cho 20 điểm trên 20… Thấm thoát đã 44 năm rồi từ một đứa học trò hồn nhiên vô tư ngày nào giờ đây tóc đã hoa râm.” 

Câu chuyện rất bình thường của 44 năm trước nhưng kể lại cho các thế hệ hôm nay nghe giống như chuyện cổ tích. 

 Miền Nam phải chịu đựng chiến tranh và tàn phá nhưng vẫn cố gắng hết sức để duy trì và phát huy các giá trị nhân bản trong chừng mực còn phát huy được. Từ những hố hầm bom đạn, bông hoa tự do dân chủ vẫn cố nở ra, vẫn cố vươn lên. Nhựa nguyên nuôi dưỡng thân cây non đó là Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hiến pháp VNCH do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967 ghi rõ: “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hoà của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.” 

Những yếu tố nào làm cho người Nhật ngày nay đươc nhân loại khắp năm châu kính nể? 

Câu trả lời dễ dàng và nhanh chóng mà ai cũng có thể đáp là nhờ nền tảng văn hóa Nhật. Thật ra câu trả lời đó chỉ đúng một phần. Nền văn hóa của một đất nước chỉ xứng đáng được kính trọng khi nền văn hóa đó không chỉ là kết tụ giá trị văn hóa riêng của dân tộc mà còn phải phù hợp với giá trị văn minh của thời đại. 

Không ai phủ nhận Đức là quốc gia có nền văn hóa cao nhất tại Châu Âu. Trước năm 1945, Đức là một trong ba quốc gia được nhiều giải Nobel nhất. Bao nhiêu triết gia, khoa học gia, văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng thế giới đã sinh ra ở Đức. Nhưng chế độ Quốc Xã Hitler do chính nhân dân Đức bầu lên lại là một trong vài kẻ giết người tàn bạo nhất trong lịch sử loài người và chà đạp lên mọi giá trị văn minh của nhân loại. 

Nhật Bản trước năm 1945 cũng vậy. Nhật Bản có giá trị văn hóa cao, một dân tộc có kỷ luật nghiêm khắc nhưng không phải là một nước văn minh nhân bản. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc từ Mãn Châu, sang Triều Tiên, xuống Mã Lai, Singapore, Việt Nam không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Cơ quan mật vụ Nhật tại Singapore tàn sát khoảng 50 ngàn người dân Singapore một cách không phân biệt. Chính sách đồng hóa thay tên đổi họ đối với Triều Tiên là một bằng chứng tội ác khó quên. 

Do đó, câu trả lời chính xác, chính hiến pháp dân chủ 1946 đã làm cho nước Nhật hoàn toàn thay đổi, giúp cho người Nhật biết kính trọng con người, không chỉ riêng con người Nhật như trước đây, và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra. 

Phần nhập đề của Hiến Pháp 1946 khẳng định chính phủ do dân và vì dân của Nhật Bản sẽ hợp tác hòa bình với tất cả các quốc gia trên thế giới trong ánh sáng tự do dân chủ, đặt chủ quyền của nhân dân làm căn bản cho hiến pháp và kính trọng sâu sắc của Nhật về quyền của con người được sống trong tự do và không sợ hãi. Tóm lại, cơ chế chính trị thời đại được chuyên chở trong Hiến Pháp Nhật 1946 hội nhập hài hòa với văn hóa Nhật và làm cho dân tộc Nhật khác đi trong nhãn quan thế giới. 

Việt Nam cần thay đổi gì? 

Con thuyền Việt Nam đang phải chở một cơ chế chính trị độc tài, lạc hậu về mọi mặt so với đà tiến của văn minh nhân loại, một nền giáo dục hủy diệt mọi khả năng sáng tạo, một xã hội tham nhũng thối nát trong đó giới lãnh đạo thờ ơ trước đòi hỏi bức thiết của nhân dân và nhân dân không có niềm tin nơi giới lãnh đạo.

Việt Nam cần thay đổi. Ai cũng có thể đồng ý như vậy, nhưng thay đổi gì trước? 

Đổi mới kinh tế?

Cải cách giáo dục? 

Chống tham nhũng? 

Nới lỏng chính trị? 

 Không. Một mảnh ván, một lớp sơn không làm chiếc thuyền chạy nhanh hơn. 

Như người viết trình bày trong bài trước, những hiện tượng bất nhân, độc ác giữa người và người đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra. 

Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại. 

Và nguyên nhân chính của mọi thảm trạng trên đất nước ngày nay là cơ chế độc tài CS. Do đó, thay đổi mà Việt Nam cần là thay đổi cơ chế CS đang thống trị Việt Nam bằng một chế độ tự do dân chủ làm tiền đề cho công cuộc phục hưng và phát triển Việt Nam.

Trần Trung Đạo

KHÔNG NGẠI NÓI “CÓ!”

KHÔNG NGẠI NÓI “CÓ!”

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)  

“Con có tin điều đó không?”; “Thưa Thầy, vâng, con tin!”.

Một nhà tu đức nói, “Niềm tin, về nhiều mặt, giống như một chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự thúc đẩy nó để làm cho nó hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nếu không sống nó; bạn không tin nó!”. Lời Chúa lễ các thánh Matta, Maria và Lazarô đưa chúng ta về một câu hỏi căn bản trong đời sống đức tin của mình: “Con có tin điều đó không?”, đó là câu hỏi Chúa Giêsu dành cho Matta; cách đơn sơ, cô nhanh nhẩu thưa, “Thưa Thầy, vâng, con tin!”. Cách tương tự, Chúa Giêsu đang hỏi chúng ta, “Con có tin tất cả điều đó không?”; và thách thức lớn nhất của chúng ta trong thời hậu hiện đại này, là ‘không ngại nói “Có!”’ với Ngài!

Vậy tất cả những điều đó là điều gì? Trước hết, chúng ta có thực sự tin rằng, loài người đã phải gánh chịu hậu quả thảm khốc cách bí ẩn khi nguyên tổ của mình bất tuân Thiên Chúa? Chúng ta có thực sự tin những gì tuyên xưng trong Kinh Tin Kính mỗi Chúa Nhật? Và quan trọng nhất, chúng ta có tin Đức Giêsu Kitô Nazareth, Đấng Chúa Cha sai đến, đã chết và sống lại, chiến thắng tội lỗi, sự chết và hiện đang sống để thu hút mọi người về với Ngài như Vị Cứu Tinh của mình? Phải, thách thức lớn nhất của Kitô hữu là không chần chừ và ‘không ngại nói “Có!”’.

Một trong những thách đố lớn của chúng ta là giữ cho đức tin của mình thật đơn sơ! Đơn sơ nhìn nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa như lời tuyên xưng rất mực chơn chất của Matta! Khuynh hướng của chúng ta là hướng tới sự tinh vi và phức tạp. Mặc dù khả năng suy nghĩ và lập luận tốt là một quà tặng, nhưng cần ý thức rằng, khuynh hướng chủ nghĩa duy lý bẩm sinh có thể không phải là khởi đầu cho một đức tin chân chính. Một đức tin đơn giản rất đẹp lòng Chúa, bởi Ngài sẽ có nhiều hơn một chút thời gian cho những hành động siêu nhiên; từ đó, Ngài làm thêm một điều gì đó bên trong chúng ta và qua chúng ta. Nghĩa là Ngài không cần quá mất thời g
iờ để thuyết phục chúng ta. Trong Tin Mừng hôm nay, sau khi tiết lộ cho Matta, Ngài là sự sống lại và là sự sống, Chúa Giêsu hỏi cô, “Con có tin điều đó không?”; “Thưa Thầy, vâng, con tin! Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Matta đã ‘không ngại nói “Có!”’.

Đức tin đơn sơ này được gặp lại trong thư thánh Gioan hôm nay, “Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa”. Thế thôi! Đó là những con người ‘không ngại nói “Có!”’ với Thiên Chúa và đơn sơ sống giới răn yêu thương của Ngài! “Chúng ta tin vào tình yêu của Ngài, vì Thiên Chúa là tình yêu”. Thánh Vịnh đáp ca cũng phảng phất nét giản dị đó, “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!”.

Anh Chị em,

“Thưa Thầy, vâng, con tin!”. Đức tin đơn sơ của Matta có thể giục giã và thúc đẩy chúng ta hướng về phía trước và hướng ra các chân trời trong sứ vụ mang Chúa Kitô đến với mọi tâm hồn; nó cũng khơi dậy và biến chúng ta thành những tông đồ của Vương Quốc, những con người ‘không ngại nói “Có!”’ trước nhu cầu cấp bách cứu các linh hồn. “Niềm tin đó như chiếc xe cút kít, và bạn phải thực sự thúc đẩy nó để làm cho nó hoạt động!”. Như vậy, đức tin của con người, và quyền năng yêu thương của Thiên Chúa đã tìm kiếm nhau; để cuối cùng, đã gặp nhau! Chính đức tin đơn sơ của Matta đã đưa Lazarô ra khỏi mồ khi Con Thiên Chúa, Đấng đầy quyền năng và yêu thương, trao lại cho Lazarô sự sống. Qua sự kiện kỳ vĩ này, đức tin của Matta đã lôi kéo không ít người tin vào Chúa Giêsu, Đấng sẽ ban cho họ không chỉ sự sống tạm thời như đã ban cho Lazarô, nhưng còn ban cho họ sự sống đời đời, sự sống của con cái Chúa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin vun trồng nơi con một đức tin đơn sơ, một trái tim nôn nả đem sự sống Chúa cho anh chị em con, nhất là với những ai đang cố nán lại trong ‘nấm mồ’ riêng của họ!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)  

From: Kim Bang Nguyen

Thánh Mácta – Cha Vương

Thánh Mácta  

Reng reng! Thức dậy đi chứ, chúc bạn một ngày đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 29/7/2022

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc Âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

    Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc Âm Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

    Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

    Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

    Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

     Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc Âm đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

    Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm không chèo không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này. Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon. 

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp.

(Nguồn: Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

From: Đỗ Dzũng

Tháng 7 tưởng niệm Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy – NGƯỜI ĐI, NON NƯỚC Ở LẠI

Tưởng niệm một giáo sư đáng kính. “… Vì sanh trong một nước Việt Nam không độc lập, thiếu tự do và chìm đắm trong sự loạn lạc, nên tôi phải dấn thân vào cuộc tranh đấu chính trị, và do đó mà phải học về chính trị, dạy về chính trị, và đứng ra lãnh đạo một đoàn thể chính trị.

Dầu cho có được làm lại cuộc đời từ đầu mà hoàn cảnh Việt Nam không khác hoàn cảnh tôi đã trải qua, thì tôi cũng sẽ làm như tôi đã làm…” (Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy)

  • Tháng 7 tưởng niệm Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy-

NGƯỜI ĐI, NON NƯỚC Ở LẠI

Chu Lynh

Nén hương lòng của kẻ hậu sinh

Kính dâng anh linh nhà ái quốc Nguyễn Ngọc Huy (1926-1990)

“Những dữ kiện trong bài này được thu thập từ những tài liệu, bài viết, tiếp xúc, phỏng vấn các nhân chứng đã từng kề cận nhà ái quốc Nguyễn Ngọc Huy: ông Nguyễn Ngọc Diệp, nhà văn Đỗ Tiến Đức, ông Trần Sĩ Hải, ông Vương Từ Mỹ, ông Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa, Giáo sư Tạ Văn Tài, cô Nguyễn Ngọc Thúy Tần, Giáo sư Nguyễn Toản, ông Nguyễn Phước Trang, ông Trần Cẩn Trọng, và ông Nguyễn Cao Tuấn”.

Chuyến bay định mệnh

Phi trường Zaventem, Brussels,Vương Quốc Bỉ

Khởi hành từ New York, chiếc Boeing đáp xuống phi trường Zaventem trễ ba mươi phút. Trong lúc chuẩn bị rời máy bay, hành khách bỗng phát giác một người bất tỉnh trên ghế ngồi. Người đàn ông lớn tuổi, ốm yếu, da mặt xanh xao. Một lát sau, ông tỉnh lại. Một tiếp viên thấy ông không thể di chuyển được, liền gọi xe cấp cứu.

Hôm ấy là ngày 20 tháng 7 năm 1990. Người hành khách bất tỉnh đi trên chuyến bay mang số 34 của hãng hàng không Pan Am mang tên: Nguyễn Ngọc Huy. Người Việt hải ngoại thường gọi ông là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, người ngoại quốc thích gọi ông là Tiến sĩ Nguyễn. Ông ghé Brussels theo lộ trình tham dự Đại Hội Thế Giới tại Hòa Lan của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, một tổ chức chính trị do ông thành lập từ mười năm qua.

Khi nhân viên xe cứu thương hỏi ông cần đi bệnh viện không, ông từ chối và yêu cầu chở vào phòng đợi, viện lẽ đã hẹn người nhà ra đón.

Ba người đến đón ông: Nguyễn Kim Luân, Trần Qúy Phong, Nguyễn Ngọc Vinh. Họ đã không tìm ra ông trong đám hành khách đang đứng quanh quẩn bên thang máy bay chờ nhận hành lý. Họ chia nhau tìm kiếm.

Khi được nhân viên phi trường cho hay tin, họ trở lại phòng đợi, thấy ông Nguyễn Ngọc Huy đang đứng với một người Việt Nam. Nhưng xem ra ông quá mệt mỏi chẳng nghe người bên cạnh nói gì.

Trên đường về nhà ông Nguyễn Ngọc Diệp, một đoàn viên Liên Minh Dân Chủ, với giọng rất yếu, ông hỏi có ai biết cạo gió không. Một người lễ phép thưa sẽ cạo gió cho ông khi về đến nhà.

Khoảng 12 giờ 30, chiếc xe về đến nhà. Ông Diệp thực sự xúc động khi nhìn thấy cơ thể của ông quá tiều tụy. Ông bắt đầu cạo gió. Không có gió ở phía sóng lưng bên trái, nhưng bên phải và cổ, da thịt đỏ ửng lên. Nhờ xoa bóp toàn thân, người ông ấm lên, ông cho biết đã đỡ hơn.

Giọng nói của ông thều thào, phát âm không rõ, hậu quả của chứng ung thư lưỡi từ tám năm nay. Ông cho hay: “Trước khi đi bị cảm lạnh, rồi mất ngủ suốt đêm, trên phi cơ cũng không ngủ được. Qua đây lại bị trúng gió …”

Trong căn phòng gia đình đã chuẩn bị cho ông, để sẵn hai tờ báo Le Monde và Le Soir, có lẽ chủ nhà biết thói quen của ông. Qua cửa kính mờ, hình ảnh một ông già ốm yếu lom khom đọc báo, tay phải cầm cây viết ghi chép, khiến mọi người muốn rơi lệ. Bên ngoài phòng, các đoàn viên của ông đã hội ý nhau và quyết định mời bác sĩ Hoàng Thị Ngọc Quỳnh đến chăm sóc cho vị lãnh đạo của mình.

Tuy mệt, ông vẫn ra phòng khách nói chuyện, vẫn trả lời thông suốt các câu hỏi, nhưng luôn luôn hỏi lại “Tôi nói các anh nghe có rõ không?”

Bác sĩ Ngọc Quỳnh khám rất kỹ. Bà cho biết, áp huyết bệnh nhân rất thấp, mạch tim đập yếu, các bộ phận khác cũng yếu. Muốn hồi sức, phải tiếp nước biển. Nhưng nếu tiếp nước biển ở nhà, luật lệ y tế ở Bỉ đòi hỏi phải thử nghiệm máu, và một số thủ tục khắt khe khác, nên cấp thời chỉ còn cách chích thuốc khoẻ. Bà cũng không có sẵn loại thuốc này.

Cuối tuần, chỉ có nhà thuốc trực, nên nửa giờ sau, mới tìm mua được thuốc. Việc chích thuốc cho ông cũng không mấy dễ dàng. Mười phút sau, bác sĩ khám lại. Bệnh nhân có phần tươi tỉnh.

Gia đình bưng đến một chén súp. Mỗi lần đưa được một muỗng súp vào miệng là ông ho sặc sụa, phải uống thêm nước cho thông cổ.

Trước đây, ông xin mọi người đừng hỏi khi ông đang ăn. Lần này, không ai lên tiếng, nhưng ông vẫn cứ ho liên tiếp, có khi không nuốt được phải nhả ra. Mồ hôi từng giọt hai bên cổ. Ông cúi đầu xuống, nhắm mắt lại chịu đựng cơn đau. Mọi người nhìn ông ứa nước mắt. Khoảng nửa giờ sau, ông đưa vào miệng được gần một chén súp nhỏ. Sau đó, ông dùng một ly crème flanc, nuốt vào ít khó khăn hơn.

Ăn xong, ông tiếp tục hỏi thăm mọi người, kể cả những người vắng mặt. Ông Diệp còn nhớ, những lần đến Brussels, ông Nguyễn Tấn Liêm thường tiếp ông Nguyễn Ngọc Huy tại nhà, tâm đắc nhắc những kỷ niệm xa xưa, vì hai người cùng tuổi, cùng học trường Petrus Ký Sài Gòn. Có lần ông Nguyễn Tấn Liêm tâm sự:

“Bây giờ chỉ còn có anh là thỉnh thoảng tôi gặp, còn mấy người khác chẳng bao giờ tôi thấy..” Ông chậm rãi đáp lại: “Còn chút sức khỏe, tôi còn cố gắng đi. Vài ba năm nữa thôi, cũng sẽ hết đi nổi. Mỗi năm tôi ở nhà bốn tháng, còn tám tháng ở nhà anh em..”

Đêm hôm đó, dù đã khuyên thầy mình đi ngủ sớm, ông Diệp vẫn thấy bóng ông lờ mờ sau cửa kiếng. Ông đang viết, khom người trên nệm. Đồng hồ chỉ 1 giờ 30 sáng.

Mọi người sắp xếp đưa ông về Paris, vì điều kiện chăm sóc y tế ở đó khả quan hơn ở Bỉ. Hơn nữa, ngày Thứ Bảy 21-7-1990, ông có cuộc họp quan trọng ở Paris.

Khoảng 1 giờ trưa ngày 21-7, các ông Trần Cẩn Trọng, Thái Quan, và Lê Chí Thiện đến dùng cơm chung với ông và gia đình. Ông cũng chỉ nuốt được một muỗng cơm.

5 giờ 40, ông chuẩn bị rời Brussels. Hành trang của ông gồm mấy cái xách tay, cặp da đầy sách vở, áo quần, thuốc men, và một máy xay thức ăn nhỏ. Ông để lại một số vật dụng, dự tính sẽ trở lại Brussels để đi Hòa Lan sau đó.

Ông đưa tay chào gia đình. Không ngờ đó là lần cuối cùng gia đình ông Nguyễn Ngọc Diệp tiếp người thầy của mình.

Paris ngậm ngùi

Thứ Bảy 21-7-1990. Ông Trần Cẩn Trọng đưa ông về nhà mình, và gọi điện thoại ngay cho một bác sĩ quen đến vào nước biển cho bệnh nhân. Nhưng khi vào được khoảng 300cc thì bệnh nhân than mệt phải ngưng lại. Buổi chiều, ông ăn được cơm và cho biết đã khỏe lại một chút.

Thứ Ba 24-7-1990, ông họp toàn thể Liên Khu Bộ Âu Châu đến 11 giờ khuya.

Thứ Tư, ngày 25-7-1990. Thức dậy, ông cảm thấy bình thường. Nhưng đến trưa thì ông than mệt. Bác sĩ Nguyễn Minh Tân đến chích nước biển cho ông, nhưng chỉ được 250cc rồi ngưng lại.

Tối đó trưởng nam của ông, Nguyễn Ngọc Quốc Thụy đến thăm. Bác sĩ Tân đề nghị gia đình nên đưa bệnh nhân về Hoa Kỳ chữa trị. Cô Nguyễn Ngọc Thúy Tần, ái nữ của ông, từ New York gọi điện thoại qua, ông nói không ngủ được, vì thời tiết Paris quá nóng.

Thứ Năm, 26-7-1990. Ông cố gắng nuốt được hai muỗng súp, nhưng vẫn chưa mất hết vị giác, vẫn còn muốn dùng thức ăn như bí, cá mòi. Bác sĩ Tân chích một liều thuốc an thần.

Thứ Sáu, 27-7-1990. Ông có cảm giác buồn ngủ. Bác sĩ chích một mũi thuốc Kenacort. Ông ngủ được đêm hôm đó.

Thứ Bảy, 28-7-1990. Sáng thức dậy, ông nói với ông Trọng đã ngủ ngon đêm qua. Ông Trọng làm cho ông một ly sữa hột gà. Ông căn dặn ông Trọng xem lại bài thuyết trình ông đã soạn sẵn để tiến hành Đại Hội Hòa Lan.

Quốc Thụy đi mua vé máy bay cho ông trở về Hoa Kỳ. Chiều trở về dùng cơm với ông. Bác sĩ Tân chích thêm nước biển, nhưng ông từ chối vì mệt.

Đến chiều, bác sĩ tiếp tục chích nước biển. Nhưng khi chích vào gân nào, thì bể mạch máu đến đó, nơi chích bị sưng phù lên. Bác sĩ đành phải chích vào thịt loại Cortine Naturale.

Khoảng 8 giờ tối, ông ra phòng khách nói chuyện với bác sĩ Tân, ông Trọng và một số đoàn viên. Bác sĩ Tân hỏi ông cần dùng gì thêm không, ông nói muốn uống hết lọ Renutryle để thay cho thức ăn. Bác sĩ kiếu từ ra về.

Khi người nhà bưng ly trà sâm lên, ông không thể uống được vì còn quá nóng. Nghe xong, ông Trọng đi xuống bếp.

9 giờ 15, Quốc Thụy gọi ông Trọng cho hay ông mệt và hơi thở có dấu hiệu khác thường. Ông Trọng thấy ông hắt hơi, khó thở. Cả ba người, ông bà Trọng, và Quốc Thụy cùng đở ông lên giường. Ông Trọng gọi điện thoại cho bác sĩ Tân.

Bác sĩ Tân đến ngay. Người thầy thuốc tận tụy những ngày cuối cùng với bệnh nhân, cũng là nhân chứng cho giờ phút lâm chung của người bạn chí thiết Nguyễn Ngọc Huy. Ông thở hắt hơi ra vài lần. Rồi lịm dần, lịm dần…

Ông trút hơi thở cuối cùng trên tay người con trai, kết thúc một định mệnh sáu mươi sáu năm trên cõi nhân gian này, vĩnh biệt các môn sinh và bằng hữu, để bước qua một thế giới khác lúc 9 giờ 30 tối ngày 28-7-1990.

Trên bầu trời hải ngoại, ngọn hải đăng Nguyễn Ngọc Huy đã vụt tắt.

Nỗi đau sâu thẳm

Cuối thập niên 1970, và đầu thập niên 1980, trong lúc người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi náo nức với phong trào trở về chiến đấu giải phóng quê hương, thì ông Nguyễn Ngọc Huy là người đi tiên phong mở mặt trận nhân quyền làm vũ khí đấu tranh, vì ông nhận thấy giải pháp quân sự rất khó thực hiện.

Ông thành lập Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, quy tụ nhiều thành phần trí thức và tâm huyết. Rồi ông vận động các chính khách ngoại quốc, tướng lãnh, dân biểu, nghị sĩ của nhiều quốc gia để thành lập Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do. Hai thành quả vượt bực của nhà vận động Nguyễn Ngọc Huy.

Có thể ví ông như “Thiên tài là cái đồng hồ đi trước” khi ông đi trước quần chúng một khoảng cách xa. Không phải dễ dàng hướng dẫn dư luận. Nhưng các thành viên của hai tổ chức này lạc quan về triển vọng cuộc tranh đấu sẽ thành công. Trong cuộc nói chuyện tại Calgary, Canada ngày 21-12-1986, ông tin rằng cộng sản sẽ sụp đổ, nếu người Việt biết vận dụng các yếu tố: tổ chức lực lượng trong nước, người Việt hải ngoại yểm trợ, và vận động quốc tế yểm trợ cuộc đấu tranh chính nghĩa của người Việt.

Nhưng mệnh trời đã không cho ông đi nốt cuộc đấu tranh mà ông đã khổ công đeo đuổi hơn bốn mươi năm qua. Căn bệnh ung thư lưỡi kéo dài nhiều năm, nay đã đến giai đoạn cuối. Bác sĩ kinh ngạc khi thấy ông đã coi thường căn bệnh hiễm nghèo, vẫn sống, vẫn bôn ba khắp nơi, vẫn lạc quan về tương lai Việt Nam.

Hình ảnh của ông những ngày cuối cùng trên giường bệnh, không phải trong bệnh viện đủ tiện nghi, mà tại nhà một người bạn, mới biết ông đã chiến đấu với tử thần, dũng cảm như một chiến sĩ ngoài trận địa. Vẫn đọc, vẫn viết, vẫn hội họp. Như thể ông có thể thắng trong cuộc chạy đua với thời gian. Nhưng hơn ai hết, ông linh cảm tử thần đã lảng vảng bên mình khi nhận ra cuộc chiến đấu với căn bệnh đã đến hồi kết thúc.

Đức độ và tài năng của ông Nguyễn Ngọc Huy đã khiến dân biểu Canada, ông David Kilgour đã ví ông như một Gandhi Việt Nam. Nhưng ông lại đảm trách quá nhiều vai trò, từ trên chính trường đến hậu trường. Là con người nhìn xa trông rộng, hẳn ông đoán được đoàn thể của ông sẽ đối diện với nhiều khó khăn nội bộ lẫn với bên ngoài khi ông nằm xuống.

Nhiều người hối thúc ông dự liệu một truyền nhân thay thế ông tiếp tục lèo lái hai tổ chức quan trọng này. Nhưng, theo nhà văn Đỗ Tiến Đức cho biết, nhiều lần được hỏi, ông Nguyễn Ngọc Huy vẫn chưa có câu trả lời. Có lẽ đây là nỗi ưu tư lớn nhất những ngày cuối đời của ông.

Ngày 16-4-1974, bà Dương Thị Thu, người vợ của ông do bạn bè mai mối, đã chết trong một tai nạn tại bãi biển Vũng Tàu. Người đàn bà đảm đang, không bao giờ xen vào công việc của chồng, chăm sóc và dạy dỗ con cái để ông có thì giờ hoạt động. Trong mọi hoàn cảnh, bà đã chu toàn bổn phận người vợ trong âm thầm, như một anh hùng vô danh trong bài thơ “Anh Hùng Vô Danh” của ông.

Ông mang nỗi đau khổ này trong lòng, suốt phần đời mười sáu năm còn lại. Nghĩ đến tình yêu, lòng chung thủy và hy sinh của bà đã dành cho ông trong nghĩa vợ chồng hai mươi hai năm, từ đó ông không còn tha thiết người đàn bà nào nữa.

Thật lạ lùng, cùng ngày tháng ấy, đúng tám năm sau, 1982, tai nạn thứ hai lại đến với ông. Đứa con út 17 tuổi, Nguyễn Ngọc Khánh Thụy, chết ngộp trong xe hơi trong nhà để xe của một người bạn Mỹ, ông William Littauer, tại Iang Larchmont, New York. Lúc đó, ông đang ở Cambridge, Massachusetts, và ái nữ Nguyễn Ngọc Thúy Tần đang học ở Albany, New York.

Đây là đứa con ông yêu thương nhất, vì cậu bé mồ côi mẹ từ nhỏ, thường xuyên vắng cha, và người chị lại đi học ở xa. Cậu đã tự vận bằng hơi thán khí xe tỏa ra. Nỗi đau của người cha biến thành nỗi ân hận suốt đời.

Trong một lần nói chuyện với ông Tạ Văn Tài, người cộng tác với ông những năm khảo cứu tại Đại Học Harvard, khi nói về cái chết của đứa con, ông đã tâm sự: “Tôi luôn luôn lo việc đoàn thể và đất nước, nhưng đời riêng của tôi gặp nhiều bất hạnh”

Phải chăng, những câu thơ của ông trong tập thơ nổi tiếng Hồn Việt ngầm báo trước một định mệnh khắc nghiệt:

Éo le thay muốn phụng sự quê hương

Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến

Trong cuộc phỏng vấn tại California, ông Vương Từ Mỹ đã nói về một phiên họp đặc biệt của đảng Tân Đại Việt và Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, được tổ chức tại đường Bà Triệu ở Chợ Lớn, vài ngày trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản. Lần đầu tiên, thủ lãnh Nguyễn Ngọc Huy đã khóc trước những người đã từng sát cánh hoạt động với ông trong một giai đoạn lịch sử đầy giông bảo. Ông cương quyết ở lại cùng sống chết với anh em. Ông nghĩ rằng thuyền trưởng phải chết theo con tàu. Nhưng tổ chức đã phân tích lợi hại, và quyết định vị thủ lãnh phải ra đi.

Nhìn bức hình của ông, được chụp lại từ một đoạn phim tài liệu. Đôi mắt nhân chứng, đôi mắt hồi tưởng về một quá khứ đầy những hoài bảo xây dựng đất nước.

Hồi tưởng những năm giảng dạy ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo các cán bộ cho nhu cầu hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 1974, cùng với Giáo sư Nguyễn Văn Ngôn, Bác sĩ Mã Xái, Tiến sĩ Phan Văn Song, Tiến sĩ Đỗ Thành Chi, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Trinh, và Giáo sư Trần Minh Xuân, ông đã thành lập Trường Cao Đẳng Thương Mại Minh Trí nhằm đào tạo một đội ngũ cán bộ có kiến thức và chuyên môn để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn hậu chiến tranh.

Đôi mắt ấy chắc cũng hồi tưởng về một quê hương thân yêu trên đường xây dựng tương lai, với một chính nghĩa sáng rực, bỗng chốc bị cướp sạch, bị đào xới tận gốc rễ bởi bàn tay người cộng sản. Làm sao thấu được nỗi đau đoạn trường bên trong con người ấy? Hẳn đây là nỗi đau lớn nhất của ông và cũng là nỗi đau của bao người Việt tỵ nạn cộng sản nơi xứ người.

Để lại cho đời

Ông Nguyễn Ngọc Huy ra đi, để lại cho đất nước và các thế hệ đi sau một tấm gương phục vụ đất nước, những công trình nghiên cứu về chính trị và văn hóa, chủ trương xây dựng tương lai Việt Nam, và các tổ chức chính trị do ông thành lập vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Nhưng có thể tóm gọn lại hai di sản quan trọng nhất ông để lại cho hậu thế: Sự hy sinh cho đất nước và nỗ lực quảng bá nền văn minh pháp trị các bậc tiền bối để lại.

Di sản thứ nhất rất cần cho những người lãnh đạo chính trị, những nhà tranh đấu cho tương lai Việt Nam. Ông đi xe buýt, ngủ nhà anh em. Nơi ông, không có chỗ cho danh vọng bạc tiền, chỉ có đất nước, chỉ có Quốc Dân. Ông là người “Làm việc nước chỉ thấy nước” như câu nói của ký giả Phạm Thái. Với ông, “Tổ Quốc Trên Hết”, không mơ hồ, mà thể hiện cụ thể bằng chính đời sống hiện tiền của ông.

Ông coi đảng phái chỉ là phương tiện. Ông chưa bao giờ xưng danh chức vụ lãnh đạo của mình khi đi diễn thuyết. Ông thuyết phục người khác không phải bằng tài năng hay kiến thức lỗi lạc của mình, mà bằng lý lẽ và tấm chân tình của ông.

Có những tài năng người ta chỉ đứng xa xa mà thán phục. Còn tài năng Nguyễn Ngọc Huy, người ta lại muốn gần gũi. Giáo sư Jerome Cohewn, Giám đốc đầu tiên của Chương Trình Luật Á Châu đã nói về ông:

“Ông là người uyên bác, phong nhã, và dí dỏm, ai gần gũi ông đều vui thích”

“He was a learned, gentle, humorous person who was always a joy to be near”

Đọc những tác phẩm ông để lại về khảo luận, nghiên cứu cả hai lãnh vực chính trị và văn hóa, mới thấy sự uyên bác của học giả Nguyễn Ngọc Huy. Không thể không nói đến thi ca của ông, với những vần thơ đầy ắp tình yêu nước, sáng tác để ca tụng các anh hùng lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Giữa những tác phẩm đa dạng ấy, chỉ cần dẫn chứng một bộ sách hiện trưng bày tại thư viện trường Luật Đại Học Harvard, thành phố Cambridge của Hoa Kỳ: The Le Code: Law in Traditional Vietnam. Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu gồm 3 tập, trên 1000 trang, viết bằng Anh ngữ cùng với ông Tạ Văn Tài, vừa dịch thuật, vừa chú giải bằng các dữ kiện lịch sử và luật pháp đối chiếu.

The Le Code chính là di sản về nền pháp trị cổ truyền, là nền tảng của nhân quyền và dân chủ có giá trị trường cửu. Công trình của ông đã đóng góp vào việc vinh danh nền pháp trị cổ truyền của Việt Nam, không những là di sản cho các học giả người Việt, mà còn cho thế giới Tây phương. Giáo sư Alexander Barton Woodside, một học giả nổi danh tại Đại Học Harvard cho rằng bộ sách này là:

“Một trong vài cuốn sách rất hiếm về Việt Nam có giá trị hoàn hảo. Chắc chắn đó là thành tích học thuật quan trọng nhất xuất phát từ hàng ngũ trí thức Việt Nam lưu vong ở hải ngoại sau năm 1975. Đó cũng là tiêu mốc đánh dấu kỷ nguyên mới trong tương quan văn hóa Việt Nam và Tây Phương, “One of those very rare works about Vietnam that may claim to be definitive. This is undoubtedly the most important single achievement in scholarship to come thus far from the ranks of Vietnamese intellectuals exiled from Vietnam since 1975. It also represents a significant landmark in Vietnamese-Western Cultural relations”

Bổ túc cho giá trị của tác phẩm, Giáo sư Douglas Pike của Đại Học University of California-Berkeley đã phê bình:

“Đây là tác phẩm học thuật gây ấn tượng mạnh mẽ nhất trong thập niên vừa qua”

“The most impressive piece of Vietnamese scholarship in the past decade”

Trong một xã hội cộng sản đầy ảo tưởng muốn nhào nặn mọi lãnh vực theo quan điểm Mác Lê, hôm nay bộ sách The Le Code đang được trưng bày tại Viện Sử Học ở Hà Nội, đã nói lên vừa là giá trị bền vững về công trình nghiên cứu của học giả lỗi lạc Nguyễn Ngọc Huy, vừa là một nghịch lý cho người cộng sản hiểu rằng họ không thể nào tiêu diệt được văn hóa dân tộc. Chỉ có trở về nguồn dân tộc mới mong bảo vệ được non sông Việt Nam.

Nguyện vọng của ông Nguyễn Ngọc Huy là muốn được hỏa táng và đem tro cốt về quê nhà. Dù nguyện vọng chưa thực hiện được, nhưng sự hiện diện tác phẩm The Le Code đã nói lên sự kính trọng công trình trí tuệ của ông ngay tại trung tâm quyền lực của một nước cộng sản, đồng thời như một điềm báo trước, sớm muộn cộng sản Việt Nam sẽ cáo chung và dân tộc sẽ sinh tồn như đã sinh tồn mạnh mẽ bốn ngàn năm nay.

Non nước ở lại

Nhìn chiều dài cuộc tranh đấu, sự nghiệp của nhà lãnh đạo chính trị Nguyễn Ngọc Huy đã nửa đường đứt gánh. Nhưng nếu nhìn toàn phía cuộc đời ông, thì đây là một bức tranh hoàn hảo với một nội dung sống động, những đường nét và màu sắc ý nghĩa, làm nên một tác phẩm giá trị gần như khó tìm được tác phẩm thứ hai.

Nỗi đau về những mất mát trong gia đình, nỗi buồn về công lao bao nhiêu năm tranh đấu tan tành sau ngày cộng sản cướp đoạt miền Nam, nỗi đau thể xác ròng rã tám năm chiến đấu với trọng bệnh, và những chướng ngại trên đường hoạt động, ông đã vượt qua, đã chiến thắng nghịch cảnh.

Ông đã sống, đã tranh đấu, đã cống hiến cho đất nước Việt Nam trong mọi thời điểm của lịch sử, từ tham gia kháng chiến đến lãnh đạo các tổ chức chính trị, từ giảng huấn đến biên khảo, từ hợp tác bước qua vận động quốc tế. Ông đã làm nên tấm gương một nhà lãnh đạo đức độ và tài năng, đầy viễn kiến và thuyết phục, đem lại cho những người theo ông niềm tin về triển vọng thành công cuộc tranh đấu dân chủ hóa Việt Nam. Ông đã tạo được ảnh hưởng sâu rộng, không những trong cộng đồng người Việt, mà cả trên thế giới.

Hình ảnh một nhà lãnh đạo chính trị sức cùng lực kiệt, lại mang trọng bệnh ung thư, lầm lũi trên đường thiên lý bất kể nắng mưa sương tuyết, để tìm phương cứu vớt đồng bào khỏi xiềng xích cộng sản, là hình ảnh của tình nhân ái vô cùng lớn lao trong thời đại ngày nay.

Ông Trần Sĩ Hải cho rằng sự ra đi của ông là tổn thất lớn nhất của Cộng Đồng Người Việt hải ngoại, vì sự nghiệp chính trị của ông quá lớn lao, con người ông quá vĩ đại, con đường ông vạch ra quá rõ ràng.

Ông đã dành trọn cuộc đời phụng sự đất nước, từ tuổi thanh xuân đến hơi thở cuối cùng. Không có gì dang dở nơi ông. Những kẻ ở lại, những người từng theo ông, cần tiếp tục đi nốt phần còn lại của cuộc tranh đấu ông đã vạch ra. Như một lời tự vấn mà Giáo sư Nguyễn Toản muốn trong lòng mỗi người Việt: “Hãy làm gì để khỏi hổ thẹn với người quá cố”

Người đi, đã ra đi vĩnh viễn, để lại cho các thế hệ Việt Nam những thông điệp mạnh mẽ, tiềm tàng trong hai di sản vàng ròng: Sự hy sinh cho Đất Nước và nền Dân Chủ Pháp trị cho tương lai Việt Nam.

Chu Lynh

“TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ?”-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

“TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ?”

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Từ vài tháng nay, trong ngôn ngữ thường ngày hoặc các bài viết trên báo mạng, người ta trích dẫn một câu nói đã trở thành “nổi tiếng”: “Tiền nhiều để làm gì?”  Đây là phát ngôn của một vị đại gia có tiếng tăm trong thương trường, được người ta tôn làm “vua” và sở hữu một tài sản khổng lồ.  Điều đáng nói là vị đại gia ấy, tuy nhiều tiền, mà hạnh phúc lại long đong.  Thế nên, sau nhiều năm chung sống, đôi vợ chồng ấy có nhiều bất đồng và phải ra tòa ly dị.  Báo chí tốn khá nhiều giấy mực về việc ly hôn của cặp vợ chồng này.  Vụ án xem ra chưa có hồi kết thúc, vì còn nhiều bất đồng về việc chia tài sản.

Cùng với vụ ly hôn đình đám vừa nêu, xung quanh chúng ta có biết bao tranh chấp thường xuyên xảy ra và đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện.”  Đó là những xung đột, kiện cáo nhau ra tòa.  Nhiều vụ việc mà đương đơn và bị đơn là những người có mối liên hệ rất gần gũi thiêng liêng, thậm chí là cha mẹ với con cái.  Những điều này cho thấy không phải lúc nào tiền bạc cũng đem lại cho con người hạnh phúc.

“Tiền nhiều để làm gì,” khi mái ấm không còn, tình yêu biến thành thù hận, vợ chồng thành kẻ thù?  Đây là một trải nghiệm cay đắng.  Bởi lẽ tiền bạc rất quý, nhưng không phải lúc nào nó cũng đem cho chúng ta hạnh phúc.

Dù không trực tiếp đặt câu hỏi chính xác như trên, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng ngầm hỏi anh phú hộ: “Tiền để làm gì?” qua lời kết án: “Nội đêm nay, người ta sẽ đòi mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”  Anh phú hộ đáng trách không phải vì anh giàu, mà vì anh sống ích kỷ, khép kín và không quan tâm đến người khác.  Anh nghĩ rằng tiền bạc sẽ đem lại cho anh tất cả, và nhất là cho anh được hạnh phúc.  Nhưng thực tế không phải như vậy.  Trong khi anh tự cho mình là giàu có và những người khác trầm trồ khen ngợi anh là khôn ngoan, thì Thiên Chúa lại bảo anh ta là “đồ ngốc.”  Anh mải mê tính toán và quá tự tin vào kho tàng của mình, nhưng điều quan trọng là sự sống con người thì anh lại chẳng giữ được.

 húa Giêsu đã kết luận câu chuyện: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”  Thông điệp mà Chúa muốn gửi cho chúng ta qua hình ảnh người phú hộ quá rõ ràng: có nhiều người giàu có về của cải mà nghèo nàn về tình người.  Họ cũng sẽ phải chịu số phận như anh phú hộ trên đây.  Nếu chỉ lo tích cóp nhiều của cải, khi chết nào có mang được gì đâu.

Cuộc đời là phù du.  Tác giả sách Giảng Viên có lối hành văn của một lãng tử.  Ông coi mọi sự như rơm rác và cho rằng mọi sự dưới gầm trời này chỉ là “sắc sắc không không.”  Tất cả chi là hư vô.  Trăm năm trước chẳng có ta; trăm năm sau cũng thế.  Cuộc đời sẽ rất nhàm chán và đơn điệu nếu như không có Chúa.  Ngài là lý tưởng của đời sống chúng ta.  Tin vào Ngài làm cho cuộc sống này đậm đà hương vị và ý nghĩa ngọt ngào.  Tin vào Chúa giúp ta mở rộng tâm hồn để chia sẻ và cảm thông với tha nhân, và như thế cuộc đời bớt đi vẻ đơn điệu.  Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta thấy một cuộc sống ích kỷ, khép kín dù có phú túc mà thiếu niềm vui, dù có dồi dào mà không hạnh phúc.  Khi kết luận mọi sự để hư vô, tác giả sách Giảng Viên khuyên chúng ta hãy tìm đến những giá trị bền vững, kiếm tìm những của cải không ai lấy mất được.

Thực ra, ai trong chúng ta cũng cần tiền và ai trong chúng ta cũng phải có tiền mới sống được.  Tiền bạc giúp chúng ta có cuộc sống ổn định và xứng với phẩm giá con người.  Tuy vậy, những ai tham lam và kiếm tiền bằng những phương pháp trái với lương tâm và luật Chúa, sớm hay muộn cũng sẽ thất bại.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, cùng với việc kiếm kế sinh nhai để bảo đảm cuộc sống cách lương thiện, chúng ta cũng phải lo lắng cho tâm hồn, để đến lúc Chúa đến gọi, chúng ta sẵn sàng và thanh thản về với Ngài.

“Hãy hướng lòng trí về thượng giới!”  Thánh Phaolô khuyên chúng ta như vậy (Bài đọc II).  Bởi lẽ cuộc sống này chẳng phải là quê hương vĩnh cửu.  Chúa Giêsu đã sống lại, như một bảo chứng của quyền năng Thiên Chúa.  Tìm kiếm những gì thuộc thượng giới là mặc lấy Đức Kitô.  Ngược lại với thượng giới là hạ giới, tức là những nết xấu đang tồn tại trong con người chúng ta: gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam dối trá.  Khi loại bỏ được con người hạ giới, chúng ta sẽ nhẹ nhàng thanh thản để theo Đức Kitô và thuộc trọn về Người.

“Tiền bạc chưa bao giờ và không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc.  Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu” (Benjamin Franklin)

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

10 quốc gia có dân số học thức nhất thế giới.

Nhớ đọc “Phần bổ xung” bên dưới.

10 quốc gia có dân số học thức nhất thế giới.

(Theo 24/7 Wall Street) Tổ chức Phát Triển và Hỗ Tương Kinh Tế (OECD) vừa công bố một bản khảo cứu cho biết là trong vòng 50 năm qua, số sinh viên đại học ở các quốc gia phát triển gia tăng gần 200 phần trăm.

Bản công bố này cũng liệt kê danh sách 10 quốc gia trên thế giới có cư dân học thức nhất trên thế giới.

Đứng hàng thứ 10 là Phần Lan với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 37 %.

Sản lượng quốc gia (GDP) tính theo đầu người là 36,585 Mỹ kim

Úc Đại Lợi là quốc gia có cư dân học thức đứng hàng thứ 9 trên thế giới,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học cũng 37 %.

Sản lượng GDP tính theo đầu người là 40, 719 Mỹ kim

Anh là quốc gia đứng hàng thứ về số dân học thức,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp cũng ở mức 37 %,

và sản lượng GDP tính theo đầu người là 35, 504 Mỹ kim

Na Uy là quốc gia đứng hàng thứ 7 trong bảng sắp hạng,

với sản lượng GDP ở mức 56,617 Mỹ kim một đầu người

Nam Hàn là quốc gia đứng hàng thứ 6,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 39 %,

trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 29,101 Mỹ kim

Quốc gia đứng hàng thứ 5 là Tân Tây Lan,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 40 %.

Sản lượng GDP mỗi đầu người chỉ ở mức 29,871 Mỹ kim

Hoa Kỳ là quốc gia đứng hàng thứ 4,

với số dân có bằng cấp đại học ở mức 41 %.

Trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người là 46,588 Mỹ kim

Quốc gia đứng hàng thứ 3 trong bảng danh sách là Nhật,

với 44 % dần số có bằng cấp đại học.

Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 33,751 Mỹ kim

Do Thái là quốc gia đứng hàng thứ 2 trong bảng danh sách

với 45 % dân số có bằng cấp đại học,

trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người chỉ ở mức 28,596 Mỹ kim

Canada là quốc gia đứng hàng đầu về trình độ trí thức,

với 50 % dân số có bằng cấp đại học.

Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 39, 070 dollars

Phần bổ sung :

Ngoài 10 thứ hạng kể trên, quốc gia được xếp hạng THƯỢNG THỪA

có nhiều bằng cấp Tiến Sĩ nhất thế giới,

vinh dự đó thuộc về:

ĐĨNH CAO TRÍ TUỆ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      From: Hung Do & TU-PHUNG

 

Gửi nhiều sách góp ý xây dựng Đảng, cựu Viện trưởng SENA bị khởi tố theo Điều 331

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Khắc Mai từ Hà Nội cho biết, ông là bạn thân với ông Nguyễn Sơn Lộ từ mấy chục năm nay.

Theo lời Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh Triết thì ông Lộ từng tham gia cuộc chiến với Mỹ và lập nhiều công trạng, tuy nhiên khi trở về thì ông nghiên cứu và tiếp nhận kiến thức đồng thời có những tình cảm đáng quý về tình hình của đất nước, về sự phát triển đời sống của nhân dân. Ông Nguyễn Khắc Mai nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Gần đây thì anh ấy thành lập cái viện think tank về nghiên cứu và phát triển văn hóa.

Anh ấy khẳng định với chúng tôi là ‘bây giờ vấn đề văn hóa trở thành một vấn đề rất là lớn của thời đại và của dân tộc’ cho nên anh ấy muốn đóng góp vào lĩnh vực này, vào những hoạt động về văn hóa.

Anh ấy cũng là một số đầu sách nghiên cứu để kiến nghị một cách chân thành với những người lãnh đạo của đất nước, anh ấy thường cho in những tác phẩm ấy, những kiến nghị ấy về lĩnh vực kinh tế đặc biệt là về văn hóa cho những người lãnh đạo của đất nước.

Ban Kiểm tra Trung ương thì họ đã xuống làm việc với anh ấy và họ khẳng định rằng họ không cấm các anh ấy phát biểu ý kiến, kiến nghị nhưng mà họ chỉ đề nghị anh ấy đừng có phát tán rộng rãi.”

Theo đó, ông Nguyễn Sơn Lộ được khuyên không gửi các cuốn sách góp ý cho địa phương, các tỉnh thành, các Bí thư tỉnh ủy hay các Đại biểu Quốc hội mà chỉ nên gửi trong nội bộ, ví dụ như Ban Tổ chức, Ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo, Ban Bí thư, Bộ Chính Trị…

Cũng theo ông Nguyễn Khắc Mai thuật lại thì ông Lộ đồng ý chỉ gửi góp ý của mình tới những nơi có trách nhiệm, tuy nhiên không hiểu lý do gì dẫn đến chuyện bị khởi tố.

#RFAVietnamese #NguyenSonlo #SENA #Vietnam #VietnamHumanrights #MinhDuong

https://www.rfa.org/…/former-sena-chief-nguyen-son-lo…

Gửi nhiều sách góp ý xây dựng Đảng, cựu Viện trưởng SENA bị khởi tố theo Điều 331

RFA.ORG

Gửi nhiều sách góp ý xây dựng Đảng, cựu Viện trưởng SENA bị khởi tố theo Điều 331

“Nói là chống phá thì không đúng đâu, bởi vì anh ấy chỉ có cái tâm là xây dựng muốn đóng góp, muốn sửa lỗi, muốn cải tiến, muốn cho cái Đảng này, cái chính quyền này nó văn minh, văn hóa hơn”- ông Nguyễn Khắc Mai nói về người bạ…

Cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mới

Cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mới

Trương Nhân Tuấn

28-7-2022

Mục đích của loa phường là “tuyên truyền”. Trong một thời gian rất dài, ít ra từ năm 1954 đến những năm gần đây, hệ thống “loa phường” đóng vai trò cốt lõi truyền tải “tiếng nói của đảng”. Không người dân nào tránh được tiếng vọng của “chân lý”, lanh lảnh mỗi ngày, bắt đầu từ 5 giờ sáng.

Lặp đi lặp lại một lời nói sai, lâu ngày sai cũng thành đúng. Loa phường có công đổi trắng thành đen, đổi đúng thành sai, đổi hay thành dở…

Con người trở thành con người bầy đàn. Người dân đánh mất khả năng thẩm định sự việc của “cây sậy biết suy nghĩ”.

“Mỹ đã cút và Ngụy đã nhào”. Công cuộc “xây dựng xã hội chủ nghĩa” của đảng cũng “gài số de” vì không biết “đường lên XHCN mất 100 năm nữa có tới hay không”. Loa phường đã hoàn tất sứ mạng lịch sử của nó.

Tái dựng lại hệ thống loa phường vào lúc này chắc không nhằm đưa Hà nội trở lại thời “bao cấp”.

Chỉ có ba mục đích:

Một là, khoa trương thành quả của công cuộc đốt lò. Đúng sai, thành bại, cần thiết hay không… bất cần. Đảng muốn mục tiêu đốt lò là đúng, là cần thiết. Mục đích đốt lò là nhằm bảo vệ lợi ích của dân tộc và đất nước chớ không nhằm củng cố thế lực cá nhân trong đảng (như tin đồn).

Thứ hai, đề cao “đức trị”, phủ nhận nhà nước pháp quyền” đồng thời đả phá tinh thần “kỹ trị” của cán bộ lãnh đạo. Vụ bổ nhiệm bí thư HN và quyền Bộ trưởng Bộ Y tế cho ta thấy chủ trương “hồng hơn chuyên” đã trở lại. Không phải chủ trương tái lập lại loa phường là của bí thư HN hay sao? Ta cũng thấy luật lệ quốc gia đặt ra cho có, lấy lệ. Các vụ án vừa xử đại đa số đã được đảng ra “phán quyết” từ trước.

Thứ ba, hệ quả của vụ “chọn phe”.

Ý chí của đảng trong vụ chọn phe có thể đi ngược lại nguyện vọng đại đa số quần chúng. Đảng cần loa phường để chuyển tải thông điệp.

Vụ bộ trưởng ngoại giao Mỹ hủy bỏ cuộc thăm viếng VN đầu tháng 7, vì VN ngày trước đã tiếp bộ trưởng Nga. Mỹ cũng hủy bỏ vụ hàng không mẫu hạm Donald Reagan sẽ cặp bến Đà Nẵng, vì VN đã chọn phe Nga để tập trận “liên lục địa” vào tháng 8 sắp tới.

Vụ “chọn phe” cần nói thêm một chút. Sử gia VN đề cao “chín năm kháng chiến” mà không nhìn thấy chiến thắng Điện Biên phủ không phải chỉ có bộ đội ông Hồ mà còn có công của TQ. TQ muốn lấy lại VN và phục thù Pháp qua vụ Hiệp ước Thiên Tân 1885. Hiệp ước này TQ “nhượng” VN lại cho Pháp. Năm 1949 nếu CSTQ không thắng Tưởng giới Thạch thì làm gì quân ông Hồ có vũ khí đánh Pháp? Chiến thắng 1975 cũng vậy. Đây cũng có phần của TQ. TQ muốn mở ảnh hưởng thiên triều bao trùm lên toàn cõi VN, trở lại như thời trước 1885.

VN theo phe nào?

Theo tôi, đảng CSVN theo phe TQ. VN bề mặt theo Nga mà Nga thì đang thi hành cuộc chiến ủy nhiệm do TQ giao phó.

Loa phường sẽ giúp đảng CSVN đưa VN vào cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mới. Cuộc chiến “ủy nhiệm” mới. TQ không muốn Mỹ có mặt ở khu vực ASEAN, khu vực vốn thuộc ảnh hưởng cũ của thiên triều.

Đảng CSVN được TQ ủy nhiệm để thắng cuộc chiến này.

Chuyện con bò trong tòa – Tuấn Khanh

Chuyện con bò trong tòa

Tuấn Khanh

Trong phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai ngày 20/7, luật sư Âu Quang Phục, người được gọi là bảo vệ cho bị hại Trần Ngọc Thảo tức ông Thích Nhật Từ, đã đặt một vấn đề với những người ở Tịnh Thất Bồng Lai, trước mặt phiên tòa, điều mà ai nấy đều phải ngỡ ngàng:

“Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?”

Luật sư Phục đưa ra câu hỏi này, bởi đơn tố cáo vì cho là bị xúc phạm của ông Trần Ngọc Thảo, nói rằng thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai đã phát biểu nói “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Tức giận do bị so sánh với con bò nên ông Thích Nhật Từ đã làm đơn khởi kiện, nói bị xúc phạm danh dự cá nhân, nhất định hoàn toàn không thể là bò.

Thế nhưng câu hỏi được đặt ra mang tính đối chiếu của luật sư Phục khiến ai nấy ngỡ ngàng, thậm chí phải bật cười vì sự ấu trĩ – và phải nói rõ là ngu xuẩn về trình độ nhận thức – vì Chúa Giêsu dù được đặt ra ở bất kỳ vị trí nào cũng không hề liên quan gì với những người trong Tịnh Thất Bồng Lai.

Nhưng cần nhớ, câu hỏi kém cỏi của luật sư Phục cũng có thể đáng bị đặt vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm C “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội”.

Chuyện cố ý đưa Đức Chúa Giêsu vào trong nội dung này chính là mang tính xúc phạm vô cớ, vì nhân vật Chúa Giêsu không liên quan đến vụ án, và không thể hiện bất kỳ sự suy luận kiến giải nào về việc so sánh ông Thích Nhật Từ ngu như bò, ngoại trừ khi ông Thích Nhật Từ tự coi mình ngang hàng với Chúa, và đặc biệt là hoàn toàn khác con bò.

Cần nói rõ là nội dung quyết định ở đây, đang được cân phân giữa ông Thích Nhật Từ và con bò, là hai thực thể rất rõ ràng.

Vấn đề là phía bị hại cần phải xác định rằng con bò có những điểm xấu như thế nào mà người ta so sánh với mình khiến mình cảm thấy bị xúc phạm, kể cả chuyện “ngu” ở mức nào là được so sánh với con bò.

Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, việc so sánh một con người với một con vật đó là chuyện thường tình mang đầy tính văn hóa dân gian vẫn diễn ra trong xã hội, ví dụ người ta vẫn so sánh “Anh A làm việc chăm chỉ như một con ong” hoặc “Anh B suốt cuộc đời cặm cụi như một con kiến”, hoặc “Hắn làm việc như con trâu”. Sự kiện ông Thích Nhật Từ tức giận đâm đơn kiện, có thể coi là vụ kiện đầu tiên trong lịch sử tòa án Việt Nam về việc bất đồng so sánh với thú vật.

Trở lại câu hỏi rất “bò” của luật sư Âu Quang Phục, chắc chắn sẽ không ai ở phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai buồn nghĩ gì cả, vì câu chuyện này không liên quan với vụ án. Hơn nữa, câu hỏi này đầy tính khiêu khích, thể hiện chủ trương thù hằn tôn giáo.

Ông Trần Ngọc Thảo / Thích Nhật Từ trong các bài giảng của mình cũng đã có rất nhiều lần vô cớ công kích Chúa Giêsu và nội dung của tín ngưỡng Công giáo. Thế nhưng phía Công giáo Việt Nam đã đối xử với ông không khác gì người lớn thấu hiểu, nhìn thấy đứa con nít cứ chòi chọc tìm cách gây khó. Vì vậy không loại trừ là luật sư của ông Thảo cũng đã được hướng dẫn cách trình bày quan điểm so sánh tín ngưỡng như vậy ở phiên tòa này – dĩ nhiên trình bày kiểu như vậy thì rất “bò”.

T.K.

Nguồn: Tuấn Khanh’s Blog

Câu chuyện về cuộc điện thoại “chấn động” thủ đô Đan Mạch

Câu chuyện về cuộc điện thoại “chấn động” thủ đô Đan Mạch

Vào đêm 13 thάng 11 nᾰm 1953, tᾳi một trᾳm cứu hὀa ở Copenhaghen, thὐ đô Đan Mᾳch, Eric, một lίnh cứu hὀa trẻ tuổi nhận được một cuộc điện thoᾳi cầu cứu trong ca trực. Tuy nhiên, anh không hề biết rằng nό sẽ đάnh thức cἀ thὐ đô đêm đό.
“Xin chào, chύng tôi là đội cứu hὀa, xin hᾶy nόi”.
Thoᾳt đầu, không cό câu trἀ lời nào ở đầu dây bên kia. Tuy nhiên, Eric cό thể nghe thấy một tiếng thở nặng nề. Đột nhiên, một giọng phụ nữ cất lên:
“Xin hᾶy giύp tôi”! Tôi không thể đứng lên, tôi đang chἀy mάu, làm σn”.
“Đừng lo thưa bà” Eric trἀ lời và nhanh chόng hὀi thêm thông tin: “Bà đang ở đâu? Chύng tôi sẽ đến ngay”.
“Tôi không biết nữa”.
“… Vậy cό phἀi bà đang ở nhà không?”
“Hὶnh như là vậy, tôi nghῖ rằng mὶnh đang ở nhà”
“Bà cό biết nhà mὶnh ở phố nào không?”
“Tôi không biết, tôi cἀm thấy choάng và đang chἀy mάu”.
“Vậy ίt nhất xin hᾶy cho tôi biết tên cὐa bà.”
“Tôi không nhớ, tôi bị đάnh vào đầu”.

Eric nhanh chόng dὺng một chiếc điện thoᾳi khάc để gọi cho công ty điện thoᾳi. Người bắt mάy là một người đàn ông lớn tuổi.
“Xin lỗi, phiền ông giύp tôi tra thông tin cὐa số điện thoᾳi hiện đang gọi đến sở cứu hὀa ngay lύc này được không?”
“Tôi rất tiếc, tôi không thể, tôi chỉ là một người bἀo vệ đêm. Tôi không hiểu chύt nào công việc ở đây. Hσn thế nữa, hôm nay là thứ 7 nên không cό ai trực ở vᾰn phὸng cἀ”.
Eric gάc mάy, anh đᾶ tὶm ra một phưσng άn khάc. Anh tiếp tục hὀi người phụ nữ:
“Làm sao bà tὶm được số điện thoᾳi này, thưa bà?”
“Số điện thoᾳi được lưu trong điện thoᾳi này, tôi đᾶ vô tὶnh tὶm thấy khi cἀm giάc mὶnh bị đάnh và tôi đᾶ gọi cho anh”.

“Vậy, xin hᾶy nhὶn vào điện thoᾳi, bà cό nhὶn thấy số điện thoᾳi nhà mὶnh trên đό?”
“Không, không cό dᾶy số nào cἀ, xin hᾶy đến nhanh lên được không”. Giọng nόi cὐa người phụ nữ đang yếu dần, gần như sẽ nhanh chόng ngất đi.
“Xin hᾶy cho tôi biết bà nhὶn thấy gὶ ở xung quanh?”
“Tôi nhὶn thấy một chiếc cửa sổ, bên ngoài là đường phố và cό đѐn đường”.
“Tốt, vậy chiếc cửa sổ trông như thế nào? Nό hὶnh vuông đύng không?” Eric tiếp tục hὀi.
“Không, nό hὶnh chữ nhật”.
Vậy là nhà cὐa người phụ nữ nằm trong khu nhà cổ.
“Trong phὸng cὐa bà cό đѐn không?”
“Cό…”

Và đây là câu trἀ lời cuối cὺng mà Eric nhận được từ người phụ nữ.
Eric biết mὶnh không cὸn nhiều thời gian để ứng cứu người phụ nữ này. Anh gọi ngay cho đội trưởng tόm tắt lᾳi toàn bộ tὶnh hὶnh. “Bất khἀ thi, chύng ta không thể tὶm thấy người phụ nữ ấy”, đội trưởng quἀ quyết.

Tuy nhiên, chàng trai trẻ không muốn từ bὀ, cứu người vẫn là ưu tiên hàng đầu cὐa lίnh cứu hὀa. Bỗng nhiên, anh nἀy ra một у́ kiến khiến đội trưởng lo sợ đến tάi mặt: “Cậu sẽ làm cho tất cἀ mọi người tưởng rằng trong thành phố cό một trάi bom hᾳt nhân mất”.
“Tôi khẩn cầu Ngài đấy”, Eric nhấn mᾳnh “Xin hᾶy hành động nhanh, nếu khống chắc chắn sau này chύng ta sẽ hối hận”.
Sau một vài giây yên lặng, đội trưởng quyết định: “Thôi được, hᾶy làm theo kế hoᾳch đό đi, tôi sẽ đến ngay”.
15 phύt sau, 20 chiếc xe cứu hὀa tὀa đi khắp cάc ngἀ đường, tiến đến mọi ngόc ngάch cὐa thὐ đô Copenhaghen.

Eric vẫn giữ kết nối với người phụ nữ từ câu hὀi cuối đến giờ. Lύc ấy, người phụ nữ đᾶ không cὸn nόi được, nhưng Eric vẫn cό thể nghe thấy tiếng thở yếu ớt.
Cὺng đội trưởng ngồi trên một trong 20 chiếc xe cứu hὀa, Erci chᾰm chύ lắng nghe những tiếng động ở đầu giây bên kia.
“Anh đᾶ nghe thấy gὶ chưa?”, đội trưởng hὀi.
“Thưa chưa”.
10 phύt sau khi xuất phάt, Erci reo lên: “Tôi đᾶ nghe thấy tiếng cὸi cứu hὀa trong điện thoᾳi”.

Hόa ra, đêm đό 20 chiếc xe cứu hὀa được cử đi cάc nẻo cὐa Copenhaghen chίnh là cάch mà Eric đᾶ tὶm ra để xάc định được vị trί cὐa người phụ nữ bất hᾳnh, đang nằm một mὶnh với vết thưσng trên đầu đang chἀy mάu.
Đội trưởng nhanh chόng thông bάo qua bộ đàm: “Xe số 1 tắt cὸi”.
“Tôi vẫn nghe thấy tiếng xe”, chàng lίnh cứu hὀa trẻ tuổi nhanh chόng thông bάo.

Đội trưởng tiếp tục ra lệnh cho cάc xe cứu hὀa tiếp theo tắt cὸi. Đến xe thứ 12 thὶ tiếng cὸi cứu hὀa trong điện thoᾳi cῦng tắt. Eric thông bάo tὶnh hὶnh. Vậy là xe 12 đang đi qua khu nhà cὐa người phụ nữ.  Ngay lập tức đội trưởng yêu cầu xe số 12 bật cὸi trở lᾳi.
“Tôi đᾶ nghe thấy tiếng cὸi một lần nữa. Nhưng nό càng ngày càng nhὀ đi”
“Xe 12 lập tức quay lᾳi”, đội trưởng hᾳ lệnh.
“Chύng ta đang tiến đến ngần hσn nhà cὐa người phụ nữ ấy, tiếng cὸi ngày một to hσn, tôi nghῖ chύng ta đᾶ đi dύng hướng”. Eric thông bάo, trong tay vẫn giữ nguyên chiếc điện thoᾳi.
“Xe số 12 xin hᾶy tὶm ngay cửa sổ cὸn đѐn đang bật”, chàng lίnh cứu hὀa tiếp tục chỉ dẫn.

Những cό hàng trᾰm cửa sổ sάng đѐn ở khu nhà cὐa người phụ nữ này. Eric nhanh chόng nόi qua điện thoᾳi. Chiếc điện thoᾳi được đặt sάt canh loa phόng thanh để mọi người trong tὸa nhà đều cό thể nghe thấy:
“Người dân cὐa thὐ đô Copenhaghen, xin hᾶy giύp đỡ chύng tôi tὶm một người phụ nữ đang gặp nguy hiểm đến tίnh mᾳng. Chύng tôi chỉ biết bà ấy đang ở trong một cᾰn hộ sάng đѐn. Xin mọi người hᾶy tắt hết đѐn trong nhà mὶnh để chύng tôi cό thể xάc định được vị trί cὐa bà ấy”.
Ngay lập tức, giữa bόng tối cὐa một đêm thάng 11, xe số 12 đᾶ tὶm thấy chiếc cửa sổ duy nhất cὸn sάng đѐn. Họ đᾶ tὶm ra bà ấy.

Qua chiếc điện thoᾳi, Eric cό thể nghe thấy tiếng cὐa đội cứu hὀa đang tiến vào ngôi nhà. Một đồng nghiệp cὐa anh ở xe 12 thông bάo:“Người phụ nữ đᾶ mất у́ thức; tuy nhiên bà ấy vẫn cὸn thở, dὺ khά yếu. Chύng tôi sẽ lập tức đưa bà ấy đến bệnh viện, tôi nghῖ bà ấy sẽ được cứu”.
Helen là tên người phụ nữ không may mắn bị đάnh ngất đi trong câu chuyện và bà đᾶ thực sự được cứu sống. Sau khi được điều trị và chᾰm sόc trong bệnh viện, một vài tuần sau bà đᾶ hoàn toàn lấy lᾳi được trί nhớ cὐa mὶnh.
Đêm ấy, với quyết định tάo bᾳo cὐa Eric, sự đồng lὸng cὐa đội cứu hὀa và tấm lὸng cὐa những người dân thὐ đô Copenhaghen, một sinh mệnh quу́ giά đᾶ được giữ lᾳi với cuộc đời.

Suy ngẫm:
Eric hoàn toàn cό thể bὀ cuộc ngay sau khi nhận được những thông tin quά mὺ mờ mà nᾳn nhân cung cấp. Nhưng anh đᾶ không làm vậy. Đội trưởng cὐa anh, một người cό kinh nghiệm hσn cῦng nghῖ rằng trong trường hợp hiểm nghѐo này, bὀ cuộc là lựa chọn đύng và không ai cό thể trάch họ. Nhưng sự sống và lời cầu cứu cὐa nᾳn nhân không cho phе́p Eric làm như vậy. Thay vὶ buông xuôi, anh chọn tin rằng “nhất định anh sẽ tὶm thấy người phụ nữ ấy”.

Niềm tin mᾳnh mẽ này đᾶ thύc đẩy anh tὶm mọi cάch, trân trọng những thông tin dὺ là nhὀ nhất mà họ cό được. Niềm tin chắc chắn ấy đᾶ giύp anh và đồng nghiệp biến nhiệm vụ bất khἀ thi thành khἀ thi.
Vậy, khi bᾳn thực sự muốn làm một điều gὶ đό, dὺ nό ở bất kὶ lῖnh vực nào, chắc chắn sẽ cό con đường để đi. Việc cὐa bᾳn là tự hὀi bἀn thân: Mὶnh cό thực sự nguyện у́ làm điều đό hay không. Nếu câu trἀ lời là cό, hᾶy ghi nhớ câu chuyện cὐa chàng lίnh cứu hὀa Đan Mᾳch này. Nό giύp bᾳn kiên cường hσn khi biết rằng “nhất định ở phίa trước cό con đường”. Vậy nên lựa chọn từ bὀ hay tiếp tục nỗ lực cố gắng, là bᾳn quyết định điều đό!

Thêm vào đό, đừng bao giờ quên rằng, khi bᾳn nỗ lực điều gὶ đό vὶ cuộc sống cὐa một người khάc, bᾳn sẽ không bao giờ một mὶnh. Bởi Thượng Đế sẽ luôn ở bên bᾳn, Ngài sẽ chỉ cho bᾳn thấy bằng trάi tim những điều mὶnh phἀi làm. Trάi tim thuần thiện và trong sάng cὐa Eric phἀi chᾰng đᾶ lắng nghe được gợi у́ nhὀ nhưng kὶ diệu ấy, khi anh quyết định làm tất cἀ để đάp lᾳi lời cầu cứu trong đêm.

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen