Hết muốn sống trên đất nước này

Hết muốn sống trên đất nước này

 

Chu Mộng Long

21-9-2022

GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tuyên bố: “Giá trị đất đai tăng thêm đang nằm trong túi người dân, nhà nước phải kiên quyết thu hồi lại“. Tôi nghe mà hết muốn sống trên đất Việt!

Câu nói của GSTS Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế xã hội Việt Nam 2022 sáng ngày 18/9. Nguồn: VnEconomy

Ba mẹ tôi từng khóc hết nước mắt khi có cái chính sách gọi là “thu hồi” này.

Năm 1975, sau nhiều năm tản cư, cả nhà tôi từ phố thị về lại quê hương. Quê tôi chiến tranh khốc liệt, đằng đẵng suốt 20 năm, không thể sống được. Hòa bình, ba mẹ tôi trút hết vốn dành dụm mua một đôi bò, sắm lại nông cụ để về quê cày ruộng. Việc trước tiên là đắp lại mồ mả ông bà. Sau đó là khai hoang. Những đất đai ông bà để lại đã hoang hóa, cỏ gai mọc ngập đầu. Có những thân cây đã to bằng người ôm. Khai hoang đâu trồng cây lương thực đó để sống. Làm suốt hai ba năm, đánh đổi bao mồ hôi nước mắt để có đất trồng. Khi đất vừa thục thì đùng một cái nhà nước thu hồi để đưa vào hợp tác xã. Hai con bò ba mẹ tôi mua hơn một cây vàng cũng bị nhà nước thu hồi và trả lại cho mười mấy đồng. Và cũng chỉ vì nhà có đất đai, thêm hai con bò nữa mà bị xếp hạng trung nông. Phải đóng tiền cổ phần cho cửa hàng mậu dịch 100 ngàn đồng, lại còn bị ấn định công trái đến 500 ngàn đồng. Viết đơn trình bày hoàn cảnh cùng đinh (bần nông) thì bị xã cho là khai man. Ba bị xã bắt nhốt trong cái container ngoài nắng. Mẹ khóc hết nước mắt, phải chạy vạy, vay mượn đủ số tiền đó để cứu ba về. Thế là nhà nợ nần chồng chất.

Suốt mấy năm hợp tác xã ấy, nhà tôi chỉ ăn toàn mì lát mốc meo. Bởi ngày công 5 lạng thóc chỉ đủ gom góp trả nợ. Quần áo rách tả tơi, toàn mặc quần bao cát (loại bao lính Mỹ làm lô cốt). Mỗi năm cửa hàng mậu dịch bán cho mét vải tám thì để dành cho mẹ và các em gái.

Khi hợp tác xã giải tán, nhà nước trả lại đôi bò cho gia đình tôi, nhưng ba mẹ tôi phải mua lại giá cao gấp hơn trăm lần trước đó nhà nước trả lại cho ba mẹ tôi. Đất đai nhà tôi khai hoang thì không trả lại mà chia cho người khác. Tiền gọi là “cổ phần” cửa hàng mậu dịch thì trả lại một phần, đủ mua rau. Đáo hạn trả công trái, tôi đến kho bạc nhận tiền thì số tiền có giá không đủ mua mấy cân gạo. Mẹ nhớ lại số tiền trước đó tính hàng chục tạ thóc và tính bằng vàng, mẹ lại khóc tức tưởi.

Thời điểm đó, cùng tình cảnh với nhà tôi là hàng chục gia đình khác. Trong vòng mấy năm hợp tác xã mà một cái xóm hơn 30 nóc nhà thì đã bỏ đi gần hết. Họ yêu quê cha đất tổ, hòa bình họ đã trở về quê cha đất tổ của mình, thế mà lại phải ra đi. Những năm ấy, người quê tôi cứ nửa đêm lặng lẽ bỏ xứ mà đi, đi để trốn nợ (nợ thuế hợp tác xã), còn hơn cả chạy giặc trong chiến tranh.

Nhà tôi vẫn bám trụ cho đến bây giờ, chỉ vì cái lý của ba tôi: ở lại để giữ mồ mả ông bà. Vậy mà chục năm trở lại đây, khi làm hồ thủy lợi, cán bộ xã đã cho xe ủi đất lấp đi. Ba tôi phải ngày đêm trải chiếu nằm giữ từng nấm mồ. Lần này ông kiên quyết giữ, không giữ đất được thì giữ mồ mả và đòi khởi kiện. Thế là họ hứa sẽ đổ tạm đất xung quanh mồ mả rồi trả lại mặt bằng sau khi hoàn thành công trình. Bất ngờ sau khi hoàn thành công trình thì mảnh đất mồ mả tổ tiên nhà tôi lại thành rừng cây bạch đàn của phó chủ tịch xã. Nó lừa dân với chiêu gọi là thu hồi đất, nhưng âm thầm hợp thức hóa thành đất của nó.

Đọc cả bài phát biểu, tôi không hiểu GS. Đặng Hùng Võ nói gì, ngoài cái từ khóa: “thu hồi” từ “túi dân”. Bây giờ mà tư duy “thu hồi” như thời ấy nữa thì tôi biết đi đâu? Thưa ông Đặng Hùng Võ, nếu có chuyện “thu hồi” như ông muốn, tôi hết muốn sống trên đất nước này rồi!

Vợ Chồng: Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Vợ Chồng : Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Sau nhiều năm kết hôn, bạn và vợ/chồng của mình có bị cuốn vào một vòng luẩn quẩn của những cuộc cãi vã hay không? Chẳng hạn như làm thế nào để cân bằng giữa công việc và gia đình, hay ai là người phải thực hiện nghĩa vụ gia đình và giáo dục con cái…

Có thể mối quan hệ của bạn và nửa kia đang rơi vào cảnh khó khăn và phiền não về điều đó. Các cuộc tranh cãi đôi khi căng thẳng đến mức biến thành những lời chỉ trích vô ích, nhưng không ai muốn mạo hiểm xé bỏ mối quan hệ, và cũng không biết cách nào thoát ra. Bài viết này sẽ giới thiệu một phương pháp tuyệt diệu do các chuyên gia hôn nhân Mỹ phát hiện, để đưa mối quan hệ trở lại đúng quỹ đạo sau một cuộc tranh cãi nảy lửa thì chỉ cần nói một câu này thôi: “Chúng ta ở cùng một đội” (We are on the same team).

“Chúng ta ở cùng một đội”! Trong các cuộc tư vấn hôn nhân, người ta phát hiện rằng câu này có thể ngay lập tức đóng vai trò như một lời nhắc nhở và nhanh chóng kết thúc cuộc cãi vã. Rất nhiều cặp vợ chồng ngay lập tức nhận ra rằng người trước mặt không phải là kẻ thù của họ, sau đó có thể bắt đầu lắng nghe, giao tiếp và nhượng bộ để đi đến giải pháp.

Cô Marie Land, một nhà tâm lý học và trị liệu hôn nhân ở Washington, D.C. cho biết, khi từ “cùng một đội” xuất hiện, cường độ tranh cãi của các cặp vợ chồng có thể nhanh chóng giảm xuống. Sử dụng câu này một cách khôn ngoan và đúng lúc có thể nhắc nhở cả hai quay lại quá trình giải quyết vấn đề. Bởi vì hôn nhân giống như một trò chơi đồng đội, tinh thần hợp tác là đặc biệt quan trọng, dùng những lời lẽ sắc bén để đánh vào điểm yếu của đồng đội sẽ chỉ khiến bạn thua trận với tốc độ nhanh nhất.

“Khi nói ‘chúng ta ở cùng một đội’, có nghĩa là bạn không muốn cả hai rơi vào tình huống chia rẽ một lần nữa, trong khi vẫn đánh giá cao mối quan hệ giữa hai bên”. Cô Marie Land chỉ ra, “Làm như thế cho phép cả hai hạ tâm phòng bị xuống và bình tĩnh lại, cùng đi vào trạng thái tìm giải pháp.”

Khi thực hiện thành công một lần, từ đó về sau sẽ càng có cơ hội hình thành được một mối quan hệ hữu hảo giữa hai vợ chồng. Khi một sự việc tương tự xảy ra, từ “cùng đội” sẽ là một lời nhắc nhở tử tế và sự hiểu ngầm, cả hai bên đều sẽ nhớ lại trước đây họ đã đạt được những nhượng bộ và hiểu biết lẫn nhau như thế nào, từ đó có thể tập trung vào giải quyết vấn đề nhanh hơn và tốt hơn.

Hoặc là cả hai cùng có lợi, hoặc là cả hai đều thua

 

Cô Jennifer Chappell Marsh, một nhà trị liệu hôn nhân và gia đình ở San Diego chỉ ra rằng, điều khiến câu nói này trở nên hiệu quả là bởi vì nhu cầu tình cảm trong khi trò chuyện đã được công nhận, điều này rất quan trọng trong việc đạt được một kết quả tích cực. Nói chung, nguyên nhân biến một cuộc trò chuyện đơn giản thành chỉ trích lẫn nhau là vấn đề về giao tiếp. Nếu các cặp đôi xem cuộc trò chuyện như một cuộc chiến thắng thua, thì là đã đi sai hướng ngay từ đầu. Có thể một bên sẽ sử dụng thủ đoạn cưỡng chế để cuối cùng khiến bên kia phải phục tùng, nhưng điều này không có lợi cho sự phát triển lành mạnh giữa hai người trong tương lai, hơn nữa là rất thiếu khôn ngoan khi làm như vậy, nó không hề thực sự giải quyết được vấn đề.

Vì vậy, câu nói “chúng ta ở cùng một đội” có thể khơi dậy sự thông cảm và ý thức hợp tác của cả hai trên cơ sở nhìn nhận lẫn nhau, phá bỏ vòng luẩn quẩn của sự oán hận, loại bỏ sự cạnh tranh thắng thua. Bạn cũng có thể nghĩ như thế này trong đầu: Tại sao tôi lại bị ám ảnh về việc thắng trong cuộc cãi nhau như thế? Tại sao ngay từ đầu trong tiềm thức đã đặt đối phương vào phía đối lập?

 

Các nhà tâm lý học đã phân tích rằng điều này có thể liên quan đến nhu cầu cần được lắng nghe và chấp nhận trong tiềm thức của con người, và “người chiến thắng” có thể có được cảm giác an toàn, còn “thua trận cãi vã” trước mặt vợ/chồng có thể khiến người ta cảm thấy tồi tệ, sợ hãi, thất vọng, chán nản và mất đi cảm giác an toàn, đó là lý do tại sao mọi người muốn “chiến thắng” bằng mọi giá. Lâu dần, nhiều người hình thành thói quen tranh chấp, đặc biệt là trước mặt người thân yêu nhất của họ, nhưng lại bỏ qua thực tế rằng vợ chồng là một thể cùng chung lợi ích.

Một số cặp vợ chồng già đã kết hôn hàng chục năm, từng trải qua nhiều lần va vấp trong quan hệ tình cảm thuở còn trẻ, thậm chí có những tranh chấp gay gắt, nhưng những ai đã từng đi trên con đường này cuối cùng đều phát hiện rằng: vợ chồng thực sự là “cùng chung một đội”. Bạn vĩnh viễn không thể “chiến thắng” được người bạn đời của mình, nếu không phải cả hai cùng thắng, thì cả hai sẽ cùng thua.

Huấn luyện viên hôn nhân Trey Morgan ở Texas cho biết, nỗi sợ hãi và bất an sau khi “thua một cuộc tranh cãi” có thể khiến bạn khó chấp nhận sự thật rằng “vợ chồng cùng chung một đội”. “Ban đầu cả hai đều muốn giành chiến thắng, nhưng sau nhiều năm, chắc chắn họ sẽ thỏa hiệp với nhau.”

Xét từ rất nhiều trường hợp hôn nhân thực tế, một khi cặp vợ chồng nhận ra sự thật rằng họ “cùng đội”, thì tranh chấp sẽ biến mất, và phần còn lại chỉ là giải quyết vấn đề sao cho có hiệu quả. Lúc này, cả hai đều sẵn sàng suy nghĩ theo chiều hướng của đối phương, thấu hiểu nhau và đi đến thống nhất cuối cùng.

Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình Winfred Reilly ở Berkeley, California, đưa ra lời khuyên rằng: khi cả hai bên đã bình tĩnh lại, hãy hỏi nửa kia một cách cởi mở và trung thực rằng trong vấn đề này, đối với họ, khía cạnh nào là quan trọng nhất? Cái gì làm họ phiền nhất? Họ muốn bạn hiểu điều gì? Lúc này đừng nhấn mạnh vào lập trường của bản thân mà hãy bắt đầu lắng nghe và chấp nhận đối phương.

Các chuyên gia về hôn nhân khuyên mọi người khắc cốt ghi tâm câu nói “chúng ta ở cùng một đội”. Nếu có thể nắm vững được bí quyết sử dụng thì cuộc sống vợ chồng sẽ trở nên suôn sẻ hơn. Ngay cả khi mọi thứ không diễn ra theo cách bạn mong muốn, thì tâm thái cao của bạn sẽ khiến đối phương cảm thấy được tôn trọng chứ không phải bị tổn thương, mối quan hệ giữa cả hai vẫn có thể duy trì khăng khít như mọi khi, và sẽ tiếp tục phát triển lành mạnh lâu dài.

Chu Uyển Tình – Xuân Hoàng

Bài Thơ Lỡ Vận – Tác giả Trần Quốc Bảo  

Bài Thơ Lỡ Vận     

 Tác giả: Trần Quốc Bảo           

Ai người lỡ bước sang ngang,

Còn tôi, lỡ với giang san lời thề

Bây giờ, một dạ hai quê,

Bài thơ lỡ vận, trăm bề đắng cay!

Nghe sông núi gọi từng ngày,

Tuổi già khí lực, tiếc thay chẳng còn.

Cây tùng kia giữa sườn non,

Hiu hiu ngọn gió, tùng còn reo vui.

Nhìn tùng, lòng những bùi ngùi

Ôm lưng bầu rượu, giữa đời lang thang.

Chiều rơi, ngẫu hứng dăm hàng,

Giải buồn thơ thẩn, ngâm tràn cung mây

Quê hương đã chẳng bến này,

Dù trong dù đục, men say xóa nhòa.

Tạm dung nơi đất người ta,

Cuối đường đành lẽ, nhận là quê hương!

Muốn quên cho dứt đoạn trường,

Nhưng hồn, sao vẫn nhất phương sơn hà!

Trải dài mấy chục Xuân qua,

Cái buồn một thoáng  sát na vẫn còn!

Tiếng tùng reo ở đầu non,

Tiếng hờn sông núi, héo hon tâm hồn!

Chưa bình minh đã hoàng hôn,

Bài thơ lỡ vận, viết còn dở dang!

  Trần Quốc Bảo

  Richmond, Virginia

Địa chỉ điện thư của tác giả:

quocbao_30@yahoo.com

From: Truong Le 

Những Món Nợ phải Trả-Đinh lâm Thanh

Những Món Nợ phải Trả

Đinh lâm Thanh

 Đời người, ai cũng phải một lần mang nợ. Không nợ tình, nợ tiền, nợ vợ chồng, nợ cha mẹ, nợ con cái… thì cũng phải nợ với Bạn Bè, Quê Hương và Tổ Quốc. Riêng đối với những Vị một thời mặc áo lính, chắc chắn còn thêm một món nợ nữa : đó là nợ Đồng Đội.

Có thể nói rằng, trong các cấp chỉ huy quân đội cũ, một số nhỏ không còn bận tâm đến những món nợ nầy vì họ đã quên thuộc cấp, là những người lính dưới quyền hy sinh mạng sống, trong mỗi lần giao tranh, để cho họ may mắn sống sót đến ngày hôm nay. Đây là một món nợ phải trả đối với những người biết suy nghĩ, nhất là một số sĩ quan đang định cư nước ngoài. Tôi thấy trong số những người nầy, đôi lúc họ nhẫn tâm quên hẳn quá khứ đau thương của mình với đồng đội trước kia, nhưng lại thích xuất hiện trong nhiều cơ hội để đánh bóng cấp bậc cũng như huy chương.

Trong một lần họp mặt thân mật, có hai Vị không đồng ý với tôi về quan niệm trên. Người thứ nhất là một cựu sĩ quan làm việc ở thủ đô Sàigòn cho rằng, những sĩ quan suốt đời làm việc trong văn phòng Bộ-Nha-Sở hay biệt phái qua các cơ quan dân sự thì sự hy sinh của người lính ngoài chiến trường không liên quan trực tiếp đối với việc thăng quan tiến chức và khen thưởng của họ. Đó là kết quả của công việc, chức vụ đảm nhiệm cũng như thâm niên cộng vụ trong suốt quãng thời gian mặc áo nhà binh. Người thứ hai là một dân sự, chạy trốn cộng sản lúc 20 tuổi, Vị nầy phản đối rằng, ông ta không liên hệ nợ nần gì với những người lính đã chết ! Xin cám ơn việc góp ý nầy, nhưng theo thiển ý của tôi, đây là những quan niệm hẹp hòi và thiếu hiểu biết. Nếu không có những người lính nằm xuống ngoài mặt trận thì lấy ai để bảo vệ cho anh em quân nhân an thân làm việc trong bóng mát hậu phương, cũng như cho gia đình ông dân sự sống sung túc tại thành phố và an toàn thoát ra nước ngoài khi cộng quân vào chiếm Miền Nam ! Như vậy, nếu còn một chút tình và biết suy nghĩ thì Quý Vị nào có cấp bậc càng cao và huy chương đầy ngực thì càng mang nhiều món nợ trực tiếp với những người thương tật suốt đời hoặc đã nằm xuống vĩnh viễn ngoài chiến trận. Ngoài ra, bất cứ gia đình nào, dù là dân sự, chệt hay chợ trời, đem được cả gia tài và bà con dòng họ thoát ra nước ngoài một cách an toàn thì đều mang nợ, trực tiếp hoặc gián tiếp, với những người lính đã bỏ mình để bảo vệ quê hương đồng bào.

Tôi thích đọc hồi ký viết về các trận đánh của những sĩ quan cấp nhỏ, chỉ huy trực tiếp trung đội, đại đội đến tiểu đoàn trong các đơn vị từ nghĩa quân, địa phương quân đến chủ lực quân cũng như các lực lượng tổng trừ bị của QLVNCH. Qua các bài viết đó, tôi đã tìm thấy những hình ảnh đáng ghi nhớ giữa người sĩ quan chỉ huy hành quân và binh sĩ dưới quyền. Họ cùng băng rừng lội suối, vào ra sinh tử và chấp nhận sống chết với nhau. Tôi cũng hình dung được những đắng cay, ngọt bùi, gian khổ mà họ đã chia sẻ cho nhau qua từng viên đạn, vắt cơm, ca nước đến những hành động dũng cảm mà không bao giờ phai nhạt trong tim tôi, là các cấp chỉ huy trực tiếp không ra lệnh một cách vô trách nhiệm, xô quân lính của mình tiến lên để đạt được thắng lợi mà chính những sĩ quan chỉ huy cấp nhỏ nầy đã ôm súng nhảy vào tử địa với các khinh binh, đi hàng đầu nhằm mở đường, phá chốt cũng như tiến chiếm từng mục tiêu một… Ngoài ra tôi cũng nghi nhận tình ‘huynh đệ chi binh’ thắm thiết giữa những người lính chiến : họ đối xử với nhau còn còn nặng hơn cả tình gia đình. Những hình ảnh thân thương nầy, sau gần bốn mươi năm, vẫn còn đậm nét trong tôi qua những lần hành quân gian khổ cũng như những lúc chờ địch dưới giao thông hào, chịu pháo trong hố cá nhân hoặc ôm súng trắng đêm chờ giặc. Chúng ta phải vinh danh các cấp chỉ nhỏ vì họ không ham sống sợ chết, khi ra trận, không bao giờ dùng binh sĩ dưới quyền làm bia đở đạn để giành lấy sự sống và hưởng vinh quang. Cấp chỉ huy nhỏ bé nào cũng hăng hái xung phong lên tuyến đầu, chấp nhận hy sinh bản thân để cùng đồng đội tiến lên một lượt. Hơn nữa, qua những bài viết của những trung đội trưởng, đại đội trưởng cũng như tiểu đoàn trưởng trực tiếp cầm quân, tôi đã tìm thấy tình người một cách trung thực, anh dũng và cảm động. Đây là những sử liệu cần thiết cho hậu thế hơn là những hồi ký dày cộm của các ông tướng thuê mướn người viết nhằm đánh bóng hoặc chạy tội, càng đọc càng bực mình và đôi lúc phải văng tục… Thật vậy, tôi đã thật sự tìm thấy trong các bài hồi ký ngắn của các vị chỉ huy nhỏ những hình ảnh tình người thật lớn chân thật qua những liên hệ đồng đội ‘huynh đệ chi binh’, là một sự ràng buộc vô hình giữa những người cầm súng với nhau mà bất cứ ai chưa phải là lính trận thì không thể nào hiểu và cảm thông được.

Xin mượn bài viết nầy để nhắc những người đã một thời cầm súng về hai món nợ ‘tình nghĩa’ :

Trong nhiều hồi ký của các cấp chỉ huy nhỏ, từ những nhóm Biệt Kích, trung đội nghĩa quân, địa phương quân, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tác chiến (Sư Đoàn Bộ Binh) đến các đơn vị đặc biệt Trinh Sát, Công Binh, Pháo Binh thuộc đơn vị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân cũng như những bài viết về những phi vụ thả dù, tiếp tế, đổ quân, tải thương và cứu đồng đội của các anh em Không Quân…tôi đã thấy những cảnh quan và lính chia nhau từng ca nước bùn, từng vắt cơm nguội, từng miếng khô cháy, từng ngụm đế trắng, từng nửa điếu thuốc đến từng viên đạn một…để chia sẻ đùm bọc và bảo vệ cho nhau. “>Trong các lần hành quân bên cạnh các đơn vị tác chiến tôi đã tận mắt chứng kiến các anh Không Quân quên mình lao xuống đầu giặc để dội bom, đổ quân, tiếp tế, tải thương và cứu bạn, cứu đồng đội tại các mặt trận trong mùa Hè đỏ lửa ở Pleiku-KonTum. Một lời tri ân gởi đến các anh Không Quân, tuy bay bướm ở hậu phương nhưng khi đối điện với súng đạn, họ trở thành những con đại bàng, những anh hùng cứu tinh của những nguời lính bộ binh dưới đất đang cần đến sự yểm trợ của họ.

  1. Nợ ‘huynh đệ chi binh’

Có đi tác chiến rồi mới thấy cái tình sâu đậm và tha thiết giữa những người lính với nhau. Họ bỏ gia đình, vợ con, làng xóm để kết tình kết nghĩa, ăn chung lon (guigot), uống cùng ca (nước), chia nhau điếu thuốc, ngũ chung cùng hố, và nhất là, chấp nhận sống chết cùng một lượt. Đời lính chiến không ai sợ sệt nghĩ đến cái chết cũng như mơ ước được khen thưởng như những Vị chỉ huy cấp cao đang an toàn trong các hầm trú ẩn của Bộ Tư Lệnh ! Cuộc đời người lính trận, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là xương máu chết chóc đang rình rập từng giây từng phút. Đối với họ, cha mẹ anh em vợ con đều trở thành những cái bóng mờ khi họ trực diện với khói súng, tiếng đạn và kẻ thù. Họ cũng không có thời giờ để nhớ người yêu, thương gia đình, mà niềm mơ ước của họ thật tầm thường và bé nhỏ là mỗi năm được vài ngày phép…

Đọc những tâp thơ của Đại Đội Trưởng Trinh Sát Trạch Gầm, Hồi ký Đại Đội 5 Biệt Cách Nhảy Dù của Mũ Đỏ Út Bạch Lan, Hồi Ký Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh của Nguyễn Văn Khôi, hồi ký ngày ba mươi tháng tư của Phân Chi Khu Trưỏng Đỗ Văn Thọ (Dương Thượng Trúc viết lại theo lời kể) cũng như những chuyện thật trong đời binh nghiệp của Đại Đội Trưởng Bộ Binh Phạm Tín An Ninh…tôi sống lại với những kỷ niệm chiến trường và đồng đội. Viết đến đây tôi xin phép ngưng lại một phút để tưởng niệm anh Binh Nhì Xí, rất đẹp trai nhưng phải đặt tên Xí (xấu) cho dễ nuôi, là người đã theo sát tôi trong các cuộc hành quân trên các vùng rừng núi Quảng Đức, Buôn Mê Thuột. Nhưng đau đớn thay Anh đã đền nợ nuớc sau khi tôi chuyển qua đơn vị Tiếp Vận. Một đêm hành quân theo lối ‘mèo chuột vờn nhau’ với một đơn vị cộng sản trong vùng núi tỉnh Quảng Đức. Đến tối, đơn vị tôi âm thầm lên đỉnh đồi và dò dẫm từng bước tìm thế ngủ ngồi qua đêm. Lệnh phải hoàn toàn bất động, cấm hút thuốc, cấm nấu nướng, cấm căn võng và cấm luôn cả việc đào hố cá nhân vì đơn vị tôi đang ở thế cài răng lược với địch. Một trong bốn người lính gác ca đầu của trung đội nghe một tên việt cộng nào đó, cách chỗ anh ta chừng vài thước, lên tiếng hỏi mượn ống thuốc lào với một tên dép râu khác. Anh ta bò đến chỗ tôi để báo động ! Thập phần nguy hiểm vì mưa quá nặng hạt, trời tối đen như mực, ngữa bàn tay không thấy, nếu xảy ra đụng độ cận chiến thì anh em trong trung đội chắc chắn sẽ vật lộn, đâm chém và bắn nhầm nhau…Vậy mà anh Xí vẫn bình tĩnh nói nhỏ vào tai người lính gác, để cho ông thầy uống xong ca soupe. Tôi thật sự mất bình tĩnh, cầm ống liên hợp báo nhỏ qua Đại Đội đang đóng đồi bên kia. Xong tôi hỏi vào tai Xí, ‘gì vậy’ ? Anh ta trả lời như không có chuyện gì xảy ra…’ thì Đ.M. ông thầy ! Nước lạnh pha với gói bột nêm mì gói chứ có gì nữa ! Uống đi cho đở đói, ông thầy ! Đóng quân chung với quân lính cộng sản Bắc Việt trên một ngọn đồi nhỏ thì cái chết đang sẵn sàng trước mặt, nhưng ca nước soupe đối với tôi, tự nhiên nó ấm và ngon ngọt một cách lạ lùng đồng thời giúp tôi can đảm. Bây giờ mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn hình dung rõ ràng cái tình cảm quá sâu đậm giữa thầy với trò, giữa huynh với đệ. Không biết cái ca nước soupe bột ngọt hay hai chữ Đ.M. của người bạn chiến sĩ miền Nam mà, cho đến giờ nầy, mỗi đêm trăn trở tôi vẫn nhớ đến Anh Xí đẹp trai và dễ thương của tôi ngày nào.

  1. Nợ ‘xanh cỏ đỏ ngực’

Sau mỗi trận chiến, những vị sĩ quan chỉ huy hành quân ngồi ở Bộ Tư Lệnh, tùy theo kết quả thu được, không ít thì nhiều cũng được khen thưởng.

Nhưng họ quên ngay những người vừa nằm xuống để tổ chức mừng chiến thắng và chờ hoa nở, chờ sao mọc hay đợi những Anh Dũng Bội Tinh… Có thể xem đây là nhờ xương máu binh sĩ và công trạng của các sĩ quan cấp nhỏ ngoài trận địa để mai nở thêm trên vai và sao mọc thêm ở cổ. Trước kia, các vị nầy thường quên những người vừa nằm xuống sau cơn men chiến thắng, và ngày nay, nơi vùng trời tự do không biết có ai dành vài ba phút tính sổ cuộc đời ra thành những con số để thấy nợ của mình. Cứ một mai nở thêm trên vai, một sao nở thêm trên cổ áo là có bao nhiêu người đã bị thương tật suốt đời, bao nhiêu con côi quả phụ mất cha mất chồng cũng như bao nhiêu người lính nằm xuống cho cuộc đời binh nghiệp của mình ? Trường hợp nầy tôi gọi là ‘nợ xanh cỏ đỏ ngực’. Đây là những món nợ của những quan còn sống sót sau chuộc chiến, theo lẽ công bằng thì họ phải trả món nợ nầy dưới một hình thức nào đó đối với lính của họ !

  1. Nợ đã không trả mà còn gây thêm tủi nhục cho những người đã nằm xuống :

Tổ chức giúp anh em Thương Phế Binh tại Việt Nam, gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay các hình thức khác nhằm giúp đở vật lẫn chất tinh thần cho những người lính bất hạnh còn sống hay vong linh những người nằm xuống là những việc làm phải được vinh danh và yểm trợ. Nhưng buồn thay, một vài người đã lợi dụng sự đau khổ, xương máu và vong linh của những người đã bỏ mình vì tổ quốc để trục lợi vật chất hay mưu đồ chính trị cá nhân, là một điều cần phải lên án. Tổ chức thu lem nhem, gia tăng chi phí ma thì tiền cứu trợ còn lại chẳng bao nhiêu. Có khi cả vợ chồng đều nhập nhằng dùng tiền gây quỹ để mua vé may bay đi Việt Nam. Tiền còn lại nếu chia ra cho một ít thương phế binh, mỗi người cũng được hơn chục dollars, nhưng lại yêu cầu chụp hình để quảng cáo là một việc làm thất đức, ăn trên đầu người sống. Trường hợp gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, số tiền lớn thu được từ trước đến nay đã chạy vào đâu ? Và bây giờ họ lại bán cái Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cho việt cộng để chúng nó xóa hẳn di tích lịch sử VNCH và nơi đây biến thành ‘nghĩa trang nhân dân’. Nghĩa trang nhân dân là cái gì ? Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không thể biến dạng thành ‘nghĩa trang nhân dân’ để các TỬ SĨ ANH HÙNG MIỀN NAM bị nằm chung và đồng hóa với bọn nằm vùng, các bà già trầu nuôi việt cộng cũng như những thành phần du đảng, thành phần theo cộng đánh phá Việt Nam Cộng Hòa trước kia !

  1. Cách nào để trả nợ ?

Thực ra món nợ vật chất mà Quý Vị đã đóng góp chưa xứng đáng với xương máu đối đồng đội và thuộc cấp đã nằm xuống. Chỉ còn món nợ tinh thần mới có thể an ủi những người đã hy sinh xương máu, mà theo tôi, là phải tiếp tục con đường tranh đấu chống cộng sản mà đồng đội thuộc cấp đã chết cho cho Quý Vị, cho chính nghĩa quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như hai chữ tự do…Vậy cứ suy nghĩ và hãy dừng tay ngay những hành động có phương hại đến công cuộc chống cộng sản của toàn dân. Đừng vì tiền bạc và cái danh hão để đòi bắt tay hòa giải hòa hợp với cộng sản, đánh phá cộng đồng và nhất là làm tủi nhục những vong hồn những người đã nằm xuống để cho Quý Vị được sống sót đến ngày hôm nay.

Một điều quan trọng hơn nữa là hạn chế mặc quân phục, mang cấp bậc và huy chương cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến những nơi không xứng đáng như những buổi tiệc có tính cách tư nhân hoặc dân sự mà mục đích là tổ chức ăn uống và nhảy đầm. Điều nầy chắc chắn làm đau lòng những vong linh tử sĩ đã chết, vì chính cấp bậc và huy chương mà Quý Vị đang mang trên người đều do xương máu của họ đem đến cho Quý Vị !

Để chấm dứt bài viết, xin phép lặp lại một lần nữa để hỏi các cấp Chỉ Huy lớn. Có bao giờ Quý Vị thử làm bài tính cộng về những người lính cầm súng đã ‘xanh cỏ’ để Qúy Vị ‘đỏ ngực’ không ? Mỗi lần ‘sao’ mọc thêm trên cổ áo, ‘hoa mai’ nở thêm trên vai hay các Anh Dũng Bội Tinh đồng, bạc, vàng, nhành dương liễu đỏ thêm trên ngực…thì đã có thêm bao nhiêu người lính dưới quyền đã chết vì mình, bao nhiêu gia đình Tử Sĩ mẹ góa con côi mất cha mất chồng ? Nếu tính ra được con số thì xin Quý Vị hãy làm một cái gì để gọi là trả món Nợ Đồng Đội nầy ?

Đinh lâm Thanh

Share Quê Mẹ

From: TU-PHUNG

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần XXIV – Mùa Thường Niên

“Cùng đi với Ngài, có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được Ngài trừ quỷ và chữa lành”.

David Livingstone, nhà truyền giáo tiên phong đến Châu Phi, đã đi bộ hơn 46.000km. Là một bác sĩ, nhà thám hiểm, người chống chế độ nô lệ, người tử đạo; David nêu gương một cuộc sống bần hàn! David chết, nhật ký của ông ghi, “Lạy Chúa, hãy đặt trên con bất cứ gánh nặng nào, chỉ cần Chúa nâng đỡ con! Hãy cắt đứt khỏi con bất cứ ràng buộc nào, chỉ cần ràng buộc con với sứ vụ và trái tim của Chúa! Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”. Đó là câu nói của một người được Chúa Giêsu chạm đến! Một khi để Chúa Giêsu chạm vào cuộc sống, chúng ta sẽ ‘đi bất cứ nơi đâu’ Ngài đi, làm bất cứ điều gì Ngài muốn! Tin Mừng hôm nay cho biết, Chúa Giêsu không lên đường thi hành sứ vụ một mình; đi theo Ngài, còn có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được chữa lành. Câu nói gọn ghẽ này tiết lộ nhiều điều!

Trước hết, ước muốn đi theo Chúa Giêsu không chỉ là một cảm xúc; chắc chắn sẽ có những cảm xúc liên quan. Nhưng đúng hơn, đó là một cảm nhận biết ơn đáng kinh ngạc và kết quả là, một mối dây tình cảm sâu sắc triển nở; bởi lẽ, quan hệ đã trở nên sâu sắc hơn. Đó là một tình yêu mới được tạo ra bởi quà tặng ân sủng và cứu rỗi. Nghĩa là những người theo Chúa Giêsu trải nghiệm sự tự do thoát khỏi tội lỗi ở một mức độ cao hơn so với trải nghiệm trước đó. Ân sủng đã biến đổi cuộc sống của họ; và kết quả là, họ sẵn sàng và sẵn lòng biến Chúa Giêsu thành trung tâm đời mình. Họ sẽ theo Ngài ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Ngài muốn!

Thứ đến, nhờ ân sủng và lòng nhiệt thành này, các môn đệ Giêsu không chỉ loan báo Tin Mừng và thiết lập Nước Trời bằng lời nói và việc làm, bằng rao giảng và gương sáng; nhưng họ còn làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn! Họ hỗ trợ việc loan báo Tin Mừng bằng cách cung cấp vật chất và các phương tiện cho đại cuộc; ở đây là những phụ nữ khá giả mà Tin Mừng cho biết. Hai vai trò này bổ sung cho nhau và cùng làm nên công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.

Sau cùng, nhóm phụ nữ Galilê này sẽ được Luca nhắc đến khi từ đỉnh đồi Canvê, họ theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh cái chết của Thầy mình. Họ thấy ngôi mộ và cách thi hài Ngài được đặt; sau đó, họ đến mồ ngày thứ nhất trong tuần; Maria Mađalêna và Gioanna được nêu đích danh với câu chuyện ly kỳ khi thiên thần hỏi họ, tại sao lại tìm người sống giữa kẻ chết. Họ trở nên mẫu mực về sự cởi mở để đón nhận ân sủng từ Chúa Giêsu, về sự sẵn sàng cho đi một cách hào phóng những gì đã nhận được và về lòng yêu mến Đấng họ đã đi theo!

Anh Chị em,

“Cùng đi với Ngài”. Các môn đệ và các phụ nữ đã đi theo Chúa Giêsu ‘bất cứ nơi đâu’, vì họ đã được Ngài chạm đến; đồng thời, nhận ra Ngài là Đấng sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa Cha muốn. Họ rao giảng Tin Mừng theo cách thức của mình; các tông đồ giảng dạy, các phụ nữ lấy của cải để cung cấp những gì cần cho Thầy và trò. Cũng thế, mỗi người chúng ta được Chúa gọi cộng tác vào chương trình của Ngài theo cách rất riêng, và ai nấy nên thánh theo cách rất riêng ấy. Vấn đề là chúng ta cần cộng tác với ơn Chúa để chu toàn bổn phận và trách nhiệm mình. Chính Thánh Thần đang ở trong chúng ta, Ngài sẽ giúp sức để trước mỗi việc, chúng ta can đảm thưa lên với Chúa, “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa!”; “Con sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chạm vào con, biến đổi con; giúp con nhận ra ân sủng và đầu phục Chúa với lòng biết ơn sâu sắc, hầu con có thể ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thánh Mát-thêu-Cha Vương

Thánh Mát-thêu

Hôm nay 21/09, Giáo hội mừng kính Thánh Mát-thêu. Mừng bổn mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy nhé. Hãy thêm lời cầu nguyện cho những ai đang bị ảnh hưởng bởi tai ương, chiến tranh, bệnh tật khắp nơi.

Cha Vương

Thứ 4: 21/09/2022

“Bỏ nơi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi! Ông đứng dậy đi theo Người.”

Câu văn ngắn ngủi trên cho chúng ta biết về người môn đệ tên là Mát-thêu Thánh sử. Có phải thật Mát-thêu là người thu thuế như Thánh Marcô và Luca đã viết trong Tin Mừng không? Nếu đúng như vậy thì Mát-thêu chắc chắn bị những người Do thái khinh bỉ và ghét bỏ vì là người cộng tác với quân La Mã. Những người thu thuế là kẻ thù của nhân dân và là người tội lỗi mà họ oán trách Chúa Giêsu đã đi lại và dùng bữa với họ.

Dù sao đi nữa thì Mát-thêu đã bỏ dĩ vãng lại trong quá khứ mà đi theo Chúa Giêsu. Nhiều học giả nghi ngờ là sách Tin Mừng Mát-thêu có thể là do một trong những môn đồ của Chúa Giêsu vào cuối thế kỷ đầu tiên vì dường như là sách Tin Mừng Mát-thêu được viết bởi một Kitô hữu Do thái thông thạo tiếng Hy lạp và quả quyết Chúa Giêsu là Đấng Messiah, Đấng đã hoàn tất những tiên báo trong Cựu Ước mang đến một luật lệ và một kỷ nguyên mới.

Dường như thánh Mát-thêu viết sách Tin Mừng dành nhiều cho người Do Thái và người giàu có. Phúc âm thánh Mát-thêu ca ngợi sự nghèo khó và thuyết phục người đọc là ơn cứu độ tùy thuộc nhiều vào lòng thương xót những kẻ nghèo khó. Điều này nói lên lòng ăn năn hối cải của người thu thuế. Mát-thêu kể lại những lời giảng dạy của Chúa Kitô và tóm tắt điều căn bản trong Bài giảng trên Núi về các Mối Phúc Thật.

Mát-thêu ghi lại dụ nguôn về cuộc Phán Xét Cuối Cùng khi “Đức Chúa Con trở lại trong vinh quang” để tách ra “chiên và dê”. Chúa phán với những người được Chúa ân thưởng: “Vì khi Ta đói các người đã cho ăn, Ta Khát các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc, Ta đau ốm các ngươi dã thăm viếng, Ta ngồi tù các ngươi đã hỏi han.” Họ bèn hỏi: “Chúng tôi đã làm những việc ấy lúc nào? Chúa bèn phán: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

Thánh Mát-thêu là đấng phù trợ các sứ vụ của Giáo Hội. Được ơn gọi đi theo Chúa Giêsu, thánh Mát-thêu kết thúc Tin Mừng lời thúc dục người theo Chúa như sau: “Vậy anh em hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, “và lời cuối cùng cho chúng ta và cho mọi thời đại: “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Nguồn: ViệtCatholic)

Xin bạn hãy tự trả lời những câu hỏi gợi ý suy niệm hôm nay, nếu được thì hãy chia sẻ với một người nào đó:

❦ Hôm nay, Thiên Chúa sai tôi đến với ai?

 Tôi đã và đang làm gì để mang Tin Mừng vào trong môi trường sống của tôi?

 Đâu là những lĩnh vực trong đời sống mà tôi có thể tận hiến cho Thiên Chúa?

From: Đỗ Dzũng

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

Khi đến tuổi nào đó, hãy chuẩn bị, dọn sẵn con đường  đi cho mình, ai rồi cũng sẽ tới đích, chỉ có người trước người sau thôi …thong thả mà sống để hưởng trọn vẹn những gì mình đang có

   HÃY THONG THẢ SỐNG
          TRẦN MỘNG TÚ

Suy ngẫm.

“Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.”

Trần Mộng Tú

Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau.

Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ…

Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.

Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật ! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết”, dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình . Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời.

Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết.

Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc.

Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”.

Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống. Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học.

Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời.

Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình.

Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ).

Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: “Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. “

Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt. Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li.

Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.”

Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không?

Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình. Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ.

Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết.

Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v, sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già.

Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống.

Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng. Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa.

Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước. Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

Trần Mộng Tú

From: LUCIE 1937

 Thánh Andrê Kim Taegon & Thánh Paul Chong Hasang và các Bạn tử đạo người Ðại Hàn.

 Thánh Andrê Kim Taegon & Thánh Paul Chong Hasang và các Bạn tử đạo người Ðại Hàn.

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Andrê Kim Taegon & Thánh Paul Chong Hasang và các Bạn tử đạo người Ðại Hàn.

Cha Vương

Thứ 3: 20/09/2022

Anrê Kim Taegon là linh mục Ðại Hàn đầu tiên và là con của một người trở lại đạo. Cha của ngài, ông Ignatius Kim, được tử đạo trong thời cấm đạo năm 1839 và được phong thánh năm 1925. Sau khi được rửa tội vào lúc 15 tuổi, Anrê phải trải qua một hành trình dài 1,300 dặm để gia nhập chủng viện ở Macao, Trung Cộng. 

Sáu năm sau, ngài xoay sở để trở về quê hương qua ngả Mãn Châu. Cùng năm ấy ngài vượt qua eo biển Hoàng Sa đến Thượng Hải và thụ phong linh mục. Khi trở về quê, ngài có nhiệm vụ thu xếp cho các vị thừa sai vào Ðại Hàn qua ngã đường biển, nhằm tránh né sự kiểm soát biên phòng. Ngài bị bắt, bị tra tấn và sau cùng bị chặt đầu ở sông Han gần thủ đô Hán Thành.

    Thánh Phaolô Chong Hasang là một chủng sinh, 45 tuổi. Kitô Giáo được du nhập vào Ðại Hàn khi Nhật xâm lăng quốc gia này vào năm 1592, lúc ấy có một số người Ðại Hàn được rửa tội, có lẽ bởi các binh sĩ Công Giáo người Nhật. Việc truyền giáo rất khó khăn vì Ðại Hàn chủ trương bế quan tỏa cảng, ngoại trừ những hành trình đến Bắc Kinh để trả thuế.

    Một trong những chuyến đi này, khoảng năm 1777, sách vở tài liệu Công Giáo của các cha dòng Tên ở Trung Cộng được lén lút đem về để dạy bảo người Kitô Giáo Ðại Hàn. Giáo Hội tại gia bắt đầu thành hình. Khoảng mười năm sau đó, khi một linh mục Trung Hoa lén lút đến Ðại Hàn, ngài thấy có đến 4,000 người Công Giáo mà chưa có ai được gặp một vị linh mục. Bảy năm sau, số người Công Giáo ấy lên đến khoảng 10,000 người. Sau cùng, tự do tôn giáo được ban hành vào năm 1883.

    Khi Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Nam Hàn ngày 06 tháng 5 năm 1984 để phong thánh, ngoài hai Thánh Anrê Kim Taegon và Phaolô Chong Hasang, còn 98 người Ðại Hàn và ba vị thừa sai người Pháp, tất cả đều tử đạo trong khoảng 1839 và 1867. Trong số 103 Thánh tử đạo có các giám mục và linh mục, số còn lại  là giáo dân: 47 phụ nữ, 45 quý ông.

    Trong những người tử đạo năm 1839 là Columba Kim, một phụ nữ 26 tuổi. Ngài bị cầm tù, bị tra tấn bằng vật dụng bằng sắt nung nóng và than. Ngài và người em là Agnes bị lột quần áo và bị giam chung với những tù nhân hình sự, nhưng họ không bị làm nhục. Sau khi Columba phàn nàn về sự sỉ nhục này, từ đó về sau không một phụ nữ nào bị nhục nhã như vậy nữa. Hai người bị chém đầu. Một em trai 13 tuổi, Peter Ryou, bị tra tấn dã man đến độ em có thể lấy da thịt của mình mà ném vào quan toà. Em bị xiết cổ cho đến chết. Protase Chong, một người quý tộc 41 tuổi, sau khi bị tra tấn ông đã chối đạo và được thả tự do. Sau đó, ông  trở lại, tuyên xưng đức tin và bị tra tấn cho đến chết.

LỜI BÀN: Chúng ta bàng hoàng khi thấy Giáo Hội Ðại Hàn, sau khi được thành lập, hoàn toàn là một Giáo Hội của giáo dân khoảng hơn một chục năm. Làm thế nào mà giáo hội ấy sống còn khi không có bí tích Thánh Thể? Ðiều này cho thấy, không phải các bí tích không có giá trị, nhưng phải có một đức tin sống động trước khi thực sự được hưởng ơn ích của bí tích Thánh Thể. Bí tích là dấu chỉ của sự hoạt động của Thiên Chúa và là đáp ứng của đức tin sẵn có. Bí tích làm gia tăng ơn sủng và đức tin, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra khi đã có một điều gì đó để gia tăng.

LỜI TRÍCH: “Giáo Hội Ðại Hàn thì độc đáo vì được thành lập hoàn toàn bởi giáo dân. Giáo Hội còn non yếu, thật trẻ trung nhưng thật vững mạnh trong đức tin, và đã đứng vững sau những đợt sóng bách hại mãnh liệt. Do đó, chỉ trong vòng một thế kỷ, Giáo Hội đã kiêu hãnh với 10,000 vị tử đạo. Cái chết của các vị tử đạo này trở thành men cho Giáo Hội và đưa đến sự triển nở huy hoàng của Giáo Hội Ðại Hàn ngày nay. Ngay cả bây giờ, tinh thần bất khuất ấy vẫn còn trợ giúp cho người tín hữu của Giáo Hội thầm lặng ở miền bắc bên kia vĩ tuyến” (ÐGH Gioan Phaolô II, bài giảng trong lễ phong thánh).

(Nguồn: Người Tín Hữu Online)   

From: Đỗ Dzũng

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Song Chi

20-9-2022

Tang lễ của Nữ hoàng Elizabeth II hôm nay cho thấy lịch sử lâu đời của Vương quốc Anh và chế độ quân chủ.

Nữ hoàng qua đời ở tuổi 96 tại nhà riêng của bà, Lâu đài Balmoral, ở Aberdeenshire, Scotland. Bà đã sống một cuộc sống lâu dài, luôn phục vụ cho đất nước của mình và cho Khối thịnh vượng chung. Tại Balmoral, chỉ hai ngày trước khi băng hà, bà chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng Boris Johnson và bổ nhiệm người tiếp theo, Lizz Truss. Truss là Thủ tướng thứ 15 dưới triều đại của Nữ hoàng, người đầu tiên là Winston Churchill. Hàng tuần, bà tổ chức một buổi tiếp kiến với Thủ tướng, thể hiện sự quan tâm đến công việc của chính phủ, của đất nước.

Những địa điểm nơi diễn ra tang lễ, đều được xây dựng từ lâu đời và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của vương quốc Anh. Quan tài của Nữ hoàng đầu tiên được đưa đến Cung điện Holyroodhouse ở Edinburgh, dinh thự chính thức của chế độ quân chủ Anh ở Scotland.

Từ Edinburgh, quan tài của Nữ hoàng đã được đưa đến London. Linh cữu được quàn trong Hội trường Westminster, bên cạnh Nhà Quốc hội, để công chúng đến viếng. Hội trường Westminster được xây dựng vào năm 1097 bởi Vua William II, con trai của William the Conqueror. Ngoài việc được sử dụng làm nơi quàn linh cữu các thành viên của Hoàng gia và một vài chính khách quan trọng (trong đó Winston Churchill), tòa nhà cũng được sử dụng như một tòa án, bao gồm cả việc luận tội Vua Charles I và xét xử Guy Fawkes, người định làm nổ tung Nhà Quốc hội và Vua James I.

Lễ tang diễn ra tại Tu viện Westminster. Một nhà thờ được xây dựng lần đầu tiên ở đó vào khoảng năm 1080, nhưng tòa nhà hiện tại được khởi công vào năm 1245. Được chôn cất trong tu viện là 3.300 người Anh lỗi lạc, bao gồm ít nhất 16 quốc vương, tám thủ tướng, nhà thơ, diễn viên, nhà khoa học và nhiều người khác.

Lễ tang có sự tham dự của hoàng gia, các nguyên thủ quốc gia và những người đứng đầu chính phủ từ khắp nơi trên thế giới. Trong số các nhà lãnh đạo nước ngoài có những người đứng đầu chính phủ của các vương quốc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth realms), thuộc địa cũ của Đế quốc Anh nơi Nữ hoàng vẫn là nguyên thủ quốc gia, và nguyên thủ quốc gia của các nước thuộc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth countries), nay đã trở thành các nước cộng hòa.

Sau đó, quan tài của Nữ hoàng được đưa đến lâu đài Windsor, nơi ở của hoàng gia ở phía tây London. Lâu đài được khởi công bởi William the Conqueror sau Cuộc chinh phạt Norman của Anh vào năm 1066. Tại lâu đài, một nghi lễ được tổ chức trong Nhà nguyện St George (được xây dựng vào năm 1348), nơi quan tài của bà được hạ xuống hầm bên dưới nhà thờ. Nơi an nghỉ cuối cùng của Nữ hoàng sẽ là trong nhà nguyện tưởng niệm Vua George VI, bên cạnh cha của Nữ hoàng (George VI), mẹ, em gái và người chồng yêu dấu là Vương tế Philip, Công tước xứ Edinburgh. Nhiều quốc vương và hoàng gia khác được chôn cất trong nhà nguyện (bao gồm Henry VIII, Charles I, George III, George IV, Edward VII, George V).

Tất cả những điều này cho thấy rằng Nữ hoàng, cũng như tất cả mọi người, là một phần của lịch sử lâu dài và đa dạng, một sự tiếp nối lâu dài của sự sống quý giá trên hành tinh này. Hầu hết chúng ta sẽ không đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử, như Nữ hoàng, nhưng tất cả chúng ta vẫn là những sợi dây trong tấm thảm lớn của cuộc sống.

Một sự kiện xảy ra dưới triều đại của George III, tất cả thu nhập từ Crown Estates (trừ Công quốc Cornwall), đất đai và tài sản thuộc về Quốc vương (nhưng không phải tài sản cá nhân của Vua hoặc Hoàng hậu), đều do chính phủ nắm giữ. Đổi lại, chính phủ trả lại một số tiền cho George III để chi trả cho chế độ quân chủ và hoàng gia. Sự sắp xếp này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, được Nữ hoàng cải tổ lại. Thu nhập từ toàn bộ đất đai, bất động sản đó, tính ra chế độ quân chủ Anh trả nhiều tiền hơn cho chính phủ so với chi phí để điều hành các hộ gia đình hoàng gia, hoàng gia không phải sống bằng tiền đóng thuế của người dân như nhiều người lầm tưởng.

Nữ hoàng là Người bảo trợ của hơn 600 tổ chức và hội từ thiện lớn nhỏ, ví dụ như tổ chức từ thiện lớn Nghiên cứu Ung thư của Vương quốc Anh và Hội Chữ thập đỏ Anh. Sự hỗ trợ và bảo trợ của bà đã giúp các tổ chức này gây quỹ (ước tính hơn 1,4 tỷ bảng Anh trong thời gian bà trị vì) và tiếp thêm tinh thần cho các tình nguyện viên và nhân viên của họ. Bà đã tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm để hỗ trợ các tổ chức này, cùng với hoạt động ngoại giao trong các chuyến viếng thăm các nước, chiêu đãi các nguyên thủ nước ngoài và những người đứng đầu chính phủ ở Vương quốc Anh. Khi còn sống, khối lượng công việc mà Vương tế Philip đảm nhận còn nhiều hơn, ông bảo trợ cho khoảng 800 tổ chức, đặc biệt tập trung vào môi trường, công nghiệp, thể thao và giáo dục, trong đó có việc sáng lập và là Chủ tịch của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund (WWF), thành lập Học bổng Kỹ thuật, sau này là Học viện Kỹ thuật Hoàng gia (Fellowship of Engineering, Royal Academy of Engineering)…

Các thành viên chịu trách nhiệm làm những công việc của Hoàng gia khác cũng vậy, họ cũng tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm, họ không ngồi không một chỗ cả ngày không làm gì cả như nhiều người lầm tưởng.

Hoa Kỳ tự hào về sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước. Tại Vương quốc Anh, Quốc vương là người đứng đầu Giáo hội Anh và Nữ hoàng là một tín đồ Cơ đốc sùng đạo, cũng như Vua Charles III. Phần lớn ý thức về bổn phận của họ đến từ đức tin Cơ đốc. Thay vào đó, ở Anh, có sự tách biệt giữa chính trị và đời sống công dân. Các chính trị gia đến rồi đi. Nữ hoàng luôn ở đó, là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, gắn kết mọi người. Với các chính trị gia, tất cả mọi lời nói, việc làm của họ trước hết phải thỏa mãn người dân ngay nhiệm kỳ này, thế hệ này, đồng thời phải đặt quyền lợi đảng của họ, những người bỏ phiếu bầu cho họ lên trên và không bao giờ có thể có sự hài lòng của toàn bộ người dân đối với một Tổng thống hay Thủ tướng. Vì vậy luôn luôn có sự chia rẽ, cứ nhìn Hoa Kỳ chẳng hạn.

Còn một chế độ quân chủ kiểu như Vương quốc Anh với Nữ hoàng hay Vua ở bên ngoài chính trị, bên trên chính trị, với tầm nhìn xa, cao hơn, cho một bức tranh lớn hơn.

Nữ hoàng hay Nhà Vua ở Anh hoàn toàn không can thiệp vào công việc chính trị. Quyền lực của họ là một thứ quyền lực mềm, dựa trên uy tín, hình ảnh, tư cách, ý thức về bổn phận, trách nhiệm của họ. Nếu làm tốt công việc và giữ gìn tốt hình ảnh, Quốc vương sẽ đại diện cho một lý tưởng và có sức mạnh truyền cảm hứng cho mọi người nỗ lực hết mình, cống hiến thời gian, công sức và nguồn lực cho những mục đích lâu dài, và đoàn kết mọi người. Và Nữ hoàng đã thể hiện điều đó trong suốt 70 năm trị vì của mình.

Tất nhiên sẽ khó khăn hơn nhiều để duy trì chế độ quân chủ, khi thiếu vắng một Nữ hoàng Elizabeth luôn sáng suốt, điềm tĩnh, đáng tin cậy và vững vàng. Tân vương Charles III chắc chắn hiểu rõ điều này.

Không có hệ thống nào tỏ ra hiệu quả như một bức tường thành chống lại chế độ chuyên chế. Hoa Kỳ có các giải pháp – phân chia quyền lực giữa các nhánh tư pháp, lập pháp và hành pháp, nhưng có lẽ là không đủ.

Mỗi quốc gia đều cần một người gánh vác gánh nặng biểu tượng của nhà nước. Nếu người đó không phải là quân chủ, được thiết lập rõ ràng để quản lý vai trò đó, trách nhiệm, và sự cám dỗ, có xu hướng rơi vào người đứng đầu nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tại sao đó lại là một vấn đề? Chẳng hạn, trong chế độ Tổng thống, với quyền lực tập trung quá nhiều vào Tổng thống, rất có nguy cơ trở thành độc tài.

Hệ thống quân chủ thực hiện một mục đích tâm lý/tinh thần và xã hội quan trọng. Nó cũng có tiện ích thực tế to lớn, về mặt văn hóa – và kinh tế. Ai có thể phủ nhận sức hút to lớn của các truyền thống của Vương quốc Anh, ví dụ, đối với thương mại, du lịch?

Và cuối cùng, ý thức về lịch sử, sự trường tồn, về truyền thống phát triển, về sự phục vụ và cống hiến, là một phần của điều gì đó vĩ đại hơn, đó là lý do tại sao hơn quá nửa người dân Anh vẫn tiếp tục ủng hộ và tôn trọng chế độ quân chủ của họ.

Còn nếu một ngày nào đó đa số người Anh cảm thấy chế độ quân chủ không còn có ích lợi gì nữa, thì họ cũng sẽ nhẹ nhàng dứt bỏ thôi.

72% số người mới mua nhà gần đây ‘hối hận’

LOS ANGELES, California (NV) – Theo kết quả từ một cuộc khảo sát mới được thực hiện bởi Clever Real Estate, khi thị trường nhà ở Mỹ nguội đi, cuộc cạnh tranh nhà ở gay gắt trong vài năm qua đã khiến 72% người mua phải hối tiếc về việc mua nhà.

CNBC cho hay, lý do số một khiến người mua hối hận: 30% người được hỏi cho biết họ đã tiêu quá nhiều tiền.

Nhiều người Mỹ cho biết họ đã quyết định mua nhà quá vội vàng. (Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images) 

Cuộc khảo sát trực tuyến được thực hiện vào Tháng Bảy và gồm có khoảng 1,000 cá nhân đã mua nhà vào năm 2021 hoặc 2022. Cuộc khảo sát này được ủy quyền bởi Anytime Estimate, thuộc sở hữu của Clever Real Estate.

Những thỏa hiệp góp phần gây ra sự hối tiếc

Thị trường quá nóng thiên về người bán trong những năm gần đây đã đẩy người mua cạnh tranh nhau để nổi bật trong việc giành quyền ký kết giao dịch đối với căn nhà tương lai của họ, chính điều này góp phần gây ra sự hối tiếc.

Tại thời điểm đó, 31% người mua cho biết họ đã trả cao hơn giá chào bán. Số tiền chênh lệch trung vị phải trả cao hơn so với giá niêm yết vào khoảng $65,000.

Đáng chú ý, sự cạnh tranh đấu giá gay gắt khiến 36% đưa ra lời đề nghị mua nhà mà không nhìn thấy căn nhà.

Mặc dù vậy, sự cạnh tranh vẫn rất khốc liệt, với 80% người mua cho biết họ đã gửi đi hơn một đề nghị, với 41% gửi từ năm đề nghị trở lên. Khoảng 1/3 người mua cho biết họ đã tìm kiếm nhà trong ba tháng, trong khi 1/8 người mua phải tốn thời gian từ sáu tháng trở lên.

Người mua có nhiều quyền hơn trên thị trường hiện tại

Theo Danetha Doe, kinh tế gia của Clever Real Estate, khi thị trường địa ốc có dấu hiệu hạ nhiệt, sẽ mang lại cho người mua nhiều đòn bẩy hơn đối với những quyết định giao dịch có giá trị lớn này.

Hiệp Hội Địa Ốc Quốc Gia tuần trước thông báo rằng Mỹ đang rơi vào tình trạng suy thoái nhà ở do doanh số bán và xây dựng giảm sút. Tuy nhiên, giá nhà vẫn tiếp tục tăng trên toàn quốc do số nhà tồn đọng vẫn khan hiếm.

Lãi suất đối với các khoản thế chấp cũng được cho là sẽ tiếp tục tăng do Cục Dự Trữ Liên Bang nỗ lực kiềm chế lạm phát đang cao kỷ lục. (Ng.Tr) 

Bệnh Mất Trí Nhớ – Câu chuyện buồn không của riêng ai


Bệnh Mất Trí Nhớ – Câu chuyện buồn không của riêng ai

Thái Anh/ QNA

Minh họa: Unsplash

Cụ Shigezo, một tư chức về hưu đã 20 năm, góa vợ và ở chung với gia đình con trai tên Nobutoshi, con dâu Akiko và cháu nội trai Satoshi. Con dâu Akiko vừa đi làm, vừa lo việc nội trợ, vừa lo cho đứa con trai còn học trung học và nhất là chăm sóc bố chồng. Cụ Shigezo, 85 tuổi, với căn bị bệnh mất trí nhớ Alzheimer’s ngày càng nặng, là một trách nhiệm nặng nề mà Akiko phải gánh vác. Cuộc sống của cô căng thẳng mà cô phải chịu đựng, không có được sự cảm thông nào của chồng, dù chồng cô là con trai trưởng của cụ Shigezo. Tình trạng tâm trí ông cụ như quay về tuổi ấu thơ. Akiko phải chăm sóc ông bằng cố gắng phi thường.

Cụ ông Shigezo bị bệnh lãng trí ngay từ khi cụ bà còn sống. Rất nhiều lần cụ ông đi ra ngoài và không nhớ đường về nhà. Có lần cảnh sát phải đưa về. Lúc bà vợ bị ngã nằm chết trong nhà, ông cũng không hề biết, lại bỏ đi ra ngoài. Akiko đi làm về thấy bố chồng đứng ngoài trời lạnh không áo khoác, cô đưa ông vào nhà mới phát giác bà mẹ chồng đã nằm chết từ lúc nào…

Sau khi vợ mất, bệnh của cụ Shigezo càng trở nặng, đến nỗi buổi tối Akiko phải ngủ bên cạnh để canh chừng ông. Chính vì Akiko gần gũi chăm sóc, nên trong gia đình, cụ chỉ quen mặt và nhớ tên một mình Akiko. Điều này khiến vài lần chồng và cô em chồng tỏ ra ganh tị với Akiko. Cụ ngày càng ăn uống mất kiểm soát, ăn chẳng biết ngừng nếu không ai cản ngăn. Trong đám tang của vợ, ông vào bếp ăn hết cả nồi súp nấu cho khoảng chục người ở tang lễ. Sau đó, trong một đêm, Akiko rất đỗi kinh hoàng khi thấy bình tro cốt của mẹ chồng trên bàn thờ được bỏ nằm dưới đất, và trên hai tay cụ Shigezo cầm một vật như là mảnh xương lấy từ trong bình… Rồi có lần sau khi đi vệ sinh, cụ Shigezo cởi tã, bốc phân trét đầy tường, đầy thảm… Không chịu đựng nổi nữa, Akiko đề nghị chồng gửi cụ vào nhà dưỡng lão. Vấn đề chưa được giải quyết thì sau một lần rời nhà đi lạc, cụ Shigezo bị cảm nặng nằm liệt mấy ngày rồi trút hơi thở cuối cùng sau đó không lâu. 

Trong ngày tang lễ bố chồng, Akiko – tay ôm chặt chiếc lồng có con chim mà lúc sinh thời cụ Shigezo rất ưa thích – chợt thấy một nỗi trống vắng vô cùng. Lúc này cô mới cảm thấy bố chồng đã là một hình ảnh rất thân thuộc. Khi cô cảm nhận được điều này thì hình ảnh ấy đã xa rời cô mãi mãi…

Đó là nội dung tác phẩm The Twilight Years của nữ văn sĩ Nhật Sawako Ariyoshi, một trong những tiểu thuyết từng bán chạy nhất của Nhật. Ngay lần phát hành đầu tiên (1972), tác phẩm đã bán trên một triệu bản. Một vấn đề xã hội ở Nhật, cũng như ở nhiều nước khác đó là cuộc sống của người già, vị trí xã hội và quyền lợi mà họ xứng đáng được hưởng sau nhiều năm cống hiến cho cộng đồng xã hội. Và đi cùng với điều đó là căn bệnh khá phổ biến: Alzheimer’s.

* * * 

Các trường hợp mất trí nhớ trên toàn thế giới sẽ gia tăng gấp ba vào năm 2050 với 135 triệu người bệnh, theo phúc trình mới nhất của Alzheimer’s Disease International, được công bố trong cuộc họp G8 về bệnh Alzheimer tại London. Riêng tại Mỹ, hơn năm triệu người Mỹ đang mắc bệnh này. Các thống kê chính thức về bệnh lãng trí Alzheimer cho thấy bệnh này là nguyên nhân làm chết người nhiều thứ sáu tại Mỹ, với khoảng 83,000 người chết mỗi năm. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất cho thấy con số thật có thể nhiều gấp sáu lần, theo CNN. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Neurology ước tính rằng bệnh lãng trí Alzheimer’s làm chết 503,000 người mỗi năm, và con số này là nguyên nhân làm chết người nhiều thứ ba tại Mỹ, chỉ sau bệnh tim (600,000), và bệnh ung thư (575,000). Nhóm nghiên cứu tại Alzheimer’s Disease Center ở Chicago nói rằng giấy chứng tử báo cáo thiếu sót về bệnh lãng trí Alzheimer’s thường ghi nguyên nhân chết vì bệnh trực tiếp hơn, như là bệnh hoại huyết (pneumonia).

Bệnh Alzheimer’s là căn bệnh của tuổi già, phá hủy tế bào não và chức năng của não bộ và làm người bệnh thiệt mạng. Bệnh có những dấu hiệu sau:

 Trí nhớ sụt giảm, ảnh hưởng đến công việc hàng ngày.
– Mất định hướng về thời gian và không gian.
– Có vấn đề với cách dùng ngôn ngữ như xáo trộn từ ngữ thông thường.
– Để lạc đồ đạc và mất khả năng nhớ lại.
– Thay đổi tính tình hay tâm trạng. 

Rồi dần dần bệnh nhân không còn biết tự kiểm soát, dẫn đến bỏ ăn, nằm liệt và chết dần. Từ trước nay, y khoa vẫn chưa tìm ra phương pháp chữa trị dứt, ngoài những khuyến cáo nên làm đối với người mới nhuốm bệnh, như tập thể dục, chữa mất ngủ, chữa bớt quên sót. Giới y khoa chỉ biết là bệnh liên quan đến việc thoái hóa những mảng xám của thần kinh não (neocortex), nơi điều hành suy nghĩ và lý luận của con người. Từ sự thoái hóa này, bệnh Alzheimer’s sẽ đem đến một cái chết khổ sở, kéo dài, và đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần cho cả người bệnh và thân nhân.

Alzheimer’s từ lâu không xa lạ với cộng đồng Việt hải ngoại. Tại Nam California, trước đây có hai vợ chồng giáo sư bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Nguyễn Hoàng Lan chuyên nghiên cứu việc dùng sinh tố D (loại bác sĩ kê toa chứ không phải loại bán tự do) để chữa trị Alzheimer’s. Tạp chí y khoa của giới y sĩ Hoa Kỳ American Journal of Alzheimer’ s Disease & Other Dimentias, Volume 26 (7): 510, đã đăng bài khảo cứu này. Bác sĩ Khanh là cựu giáo sư bác sĩ tại University of Southern California (USC), Keck Medical School, Los Angeles, California. Ông còn là chủ tịch sáng lập VAMA (Vietnamese American Medical Research Foundation). Nhưng không may, vị bác sĩ tâm huyết này đã đột ngột từ trần năm 2013, trong khi công trình nghiên cứu về cách chữa trị Alzheimer’s của ông đang tiến 

Theo mẹ kể lại, ông cố tôi (bố của ông ngoại) lúc già cũng hay quên đường về nhà. Người nhà cứ phải đi tìm ông. Có lúc lối xóm thấy đưa ông về giùm. Sau ngày 30-4-1975, ông cố lên Sài Gòn ở nhà ông bà ngoại tôi. Sau đó, ông chú út, em ruột ông ngoại tôi (ra Bắc từ năm 1954, nay trở về là “cán bộ cách mạng”), khẳng định bố mình bị mất trí như người điên, nên đưa ông cố vào bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Ông cụ bị nhốt chung phòng với những người điên thật sự. Chỉ thời gian ngắn ngủi sau, ông bị khủng hoảng trầm trọng. Ông cụ bỏ cả ăn uống, kiệt sức dần. Ông ngoại tôi hay tin, đến đón cụ về nhà. Cụ nằm mê man. Một ngày sau thì qua đời.

Sau này ở Mỹ, lúc tôi còn học tiểu học, bà nội tôi cũng mất vì bệnh này năm 2004. Lúc ấy bà nội về ở chung nhà với bố mẹ và tôi. Tôi chỉ nhớ bố hay bảo tôi nói chuyện, rồi ôm bà cho bà thấy vui. Mà nào tôi có thấy bà cười. Ánh mắt bà dững dưng, như ngó tận đâu đâu xa vắng. Sau đó, bà bệnh nhiều nên phải vào bệnh viện để chữa. Rồi một hôm, đi học về, tôi thấy nhà tôi đầy người. Mẹ khóc, nói với tôi bà mất rồi, con sẽ không bao giờ thấy bà nữa.

Mẹ tôi không phải là người làm nghề y nhưng từ cuộc đời những người thân, bà bắt đầu để ý tìm hiểu những tài liệu nói về bệnh Alzheimer’s. Bà trở thành một thành viên của nhóm hỗ trợ người bệnh và người nuôi bệnh (Alzheimer’s Vietnamese Caregiver Support Group). Bà sinh hoạt hàng tháng với nhóm vào mỗi ngày thứ năm trong tuần lễ thứ nhì. Mẹ tôi có gần bốn năm tham gia săn sóc cho một bà cụ bị bệnh. Lúc đầu mới tiếp xúc với bà, mẹ gặp rất nhiều khó khăn. Do lần đầu tiên gặp người lạ, bà cụ la lối, xua đuổi, có khi còn nặng lời với mẹ. Thời gian đầu mẹ tôi rất stress, có lúc tưởng phải bỏ ngang, nhưng rồi mẹ hiểu là bà cụ bị Alzheimer’s không hề ý thức được hành động của mình, cũng như ông cố hồi đó hay như bà nội tôi lúc bệnh, và cũng y như ông cụ Shigezo trong truyện Nhật kể trên…

Tôi cũng theo gương mẹ góp phần vào việc vận động mọi người mở lòng nhân ái, đóng góp chút công sức và vật chất vào những buổi đi bộ gây quỹ của Hội Alzheimer’s. Khi nắm tay nhau trong những cuộc đi bộ gây quỹ, chúng tôi quyết tâm thực hiện như lời kêu gọi của ông Jim McAleer, chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành Hội Alzheimer’s: “Cùng nhau, chúng ta hy vọng ở một thế giới không còn bệnh Alzheimer’s”. Mỗi lần đi bộ, tôi lại được phát chiếc T-shirt màu tím in tên của Hội. Tôi từng hỏi mẹ, “Sao Hội lại chọn màu tím buồn vậy?”. Mẹ nói màu tím giống như buổi hoàng hôn của tuổi già, buồn bã và quạnh hiu như căn bệnh Alzheimer’s thời kỳ cuối. Trong quyển truyện về cụ Shigezo lẫn trí, có chi tiết đứa cháu nội Nobutoshi, trong một lúc bực dọc khi cuộc sống gia đình bị xáo trộn do căn bệnh của ông nội, đã thốt ra với bố mẹ: “Bố mẹ đừng bao giờ sống già như thế!”.

Tôi cầu mong các nhà nghiên cứu về y khoa trên thế giới sớm tìm ra thuốc điều trị được căn bệnh quái ác này để con cháu trong nhà không phải thốt ra những câu đau lòng như thế, để rồi phải ân hận, như Nobutoshi cuối cùng hối tiếc nói với mẹ: “Giá mà ông nội sống thêm vài năm nữa!”…

https://saigonnhonews.com/doi-song/benh-mat-tri-nho-cau-chuyen-buon-khong-cua-rieng-ai/

* * * 

Đọc thêm:

Đã Có Thuốc Chữa Bệnh Mất Trí Nhớ Alzheimer’s

New York: Trong hôm thứ hai ngày 7 tháng 6, cơ quan đặc trách về thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn y cho việc dùng thuốc Aducanumab của công ty Biogen trong việc điều trị bệnh Alzheimer’s. Và đây là lần đầu tiên trong vòng 30 năm qua, đã có thuốc chữa bệnh lãng trí.

Với những tin tức được loan báo, giá cổ phiếu của công ty Biogen gia tăng $107.76 và ở mức $393.90 một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York.

Loại thuốc Aducanumab có nhiệm vụ tách rời một loại protein có tên là amyloid beta trên não cũa bệnh nhân, những người bắt đầu có triệu chứng của bệnh lãng trí.
Loại protein amyloid beta bám trên màng não sẽ gây cho bệnh nhân bị mất trí nhớ, không có khả năng tự chăm sóc lấy mình.
Theo những ước tính thì trong năm 2020 có khoảng trên 6 triệu người Mỹ bị bệnh Alzheimer’s và có khoảng 1 triệu người Anh cũng bị bệnh này.
Khác biệt giữa dementia và Alzheimer’s: dementia là các triệu chứng quên trong khi Alzheimer’s là bệnh quên, bệnh mất trí nhớ.

60 phần trăm cho đến 70 phần trăm những người có các triệu chứng quên sẽ dần dần biến thành bệnh.

Đa số những người bị bệnh mất trí nhớ là những người trên 65 tuổi
Trước đây không có thuốc chữa cho nên một người có những triệu chứng quên, dần dần biến thành bệnh và cuối cùng cũng chết.

Các triệu chứng của bệnh mất trí nhớ

  • Khó nhớ những thông tin mới học
  • Không nhớ phương hướng
  • Tính tình thay đổi bất ngờ
  • Luôn luôn nghi ngờ về gia đình, bạn bè và những người chăm sóc, không tin những người này
  • Dần dần sự mất trí nhớ trở nên nghiêm trọng
  • Khó nói, khó nuốt đồ ăn và khó khăn trong việc đi lại.

Những cách phòng ngừa bệnh mất trí nhớ

Người ta thường nói phòng bệnh hơn trị bệnh: nếu chúng ta có thể phòng ngừa được bệnh mất trí nhớ xảy ra thì đó là cách tốt nhất.

Sau đây là những cách phòng ngừa bệnh mất trí nhớ theo tài liệu của bệnh viện Mayo ở thành phố New York:

 Không hút thuốc
– Kiểm soát không để gia tăng áp huyết, lượng cholesterol và bệnh tiểu đường.
 Ăn uống theo kiểu Địa Trung Hải: ăn nhiều rau trái, chất đạm nạc (lean protein) và có chất omega 

– Tránh không ăn nhiều chất bột, chất đường, nước soda, nước tăng lực, không ăn nhiều thịt đỏ, cơm trắng, các loại bánh ngọt, khoai tây chiên, các thứ đồ ăn fast foods.
 Giảm nhũng thực phẩm đã chế biến (processed foods) như lạp xưởng, hotdog, các đồ hộp.
– Nên ăn cơm gạo đỏ hay nâu, ăn các loại hạt (nuts), dầu olive, cá (nhưng tránh ăn những loại cá có nhiều thủy ngân như cá tuna)
 Tập thể dục đều đặn nhất là aerobics (thể dục nhịp điệu)
– Tránh bị suy thoái tâm thần
– Tìm cách học hỏi những thứ cần suy nghĩ, cần trí nhớ như học sinh ngữ, học chơi đàn
 Ngủ đủ giấc mỗi đêm
 Tham dự những sinh hoạt xã hội cộng đồng như học khiêu vũ, học hát, học đàn… tình nguyện làm việc giúp người nghèo trong cộng đồng.

Chile thông báo đang phát triển một bộ xét nghiệm nhanh có thể phát hiện bệnh Alzheimer chỉ qua một xét nghiệm máu đơn giản và hy vọng có thể đưa vào sản xuất trong năm tới.

Một xét nghiệm máu đơn giản có thể sớm phát hiện mắc bệnh Alzheimer

Ông Ricardo Maccioni, trưởng nhóm nghiên cứu chung của Đại học Chile và Trung tâm Y sinh quốc tế (ICC), cho biết công trình này dựa trên kết quả nghiên cứu gần 10 năm qua về protein TAU. Các nhà nghiên cứu khẳng định mô hình mới này là ‘duy nhất trên thế giới’, cho phép có được thông tin chính xác không chỉ giúp ích trong chẩn đoán mà còn cả trong ngăn ngừa sớm, thậm chí tới 10 năm, trước khi phát bệnh.

Theo ông Maccioni, bệnh Alzheimer cũng như nhiều bệnh lý suy giảm thần kinh khác bắt nguồn từ những rối loạn sinh hóa trong não bộ khi protein TAU bắt đầu sản sinh ra những polymer không mang tính sinh lý, do vậy việc ngăn ngừa và điều trị những bệnh lý này cần hướng tới khả năng kiểm soát tiến trình nói trên.

Cụ thể, xét nghiệm kiểu mới được thực hiện theo công nghệ mang tên Alz Tau, bao gồm một thiết bị để chuẩn bị protein tiểu cầu và một thiết bị để phân tích giá trị và mức độ của protein TAU. Xét nghiệm này dựa trên việc tính toán, thông qua một chỉ số sinh học, các dạng protein TAU khối lượng cao và các dạng khối lượng thấp, với cơ sở nghiên cứu là 90% các bệnh nhân Alzheimer có liên quan tới protein TAU khối lượng cao.

Các nhà khoa học cũng chứng minh rằng chỉ số sinh học này trong máu của bệnh nhân cũng tương tự như trong não, và quá trình biến thiên protein TAU khối lượng cao này trong nhiều trường hợp không có triệu chứng và đây được coi là giai đoạn tiền lâm sàng của bệnh Alzheimer.

Việc phát hiện bệnh Alzheimer sớm có thể giúp đẩy lùi thời điểm phát bệnh và thậm chí chặn được nguy cơ phát bệnh từ góc độ nhất định. Theo thống kê mới nhất, số người được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer chiếm tới 1,06% dân số Chile, và tỉ lệ này có thể lên tới 3,1% vào năm 2025. Nhóm nghiên cứu đang làm việc với các quan chức y tế của quốc gia Nam Mỹ này để có thể triển khai rộng rãi biện pháp xét nghiệm mới trên toàn quốc.

From: TU-PHUNG

Vài kỷ niệm về Đức Hồng y thứ 5 người Việt Nam-ĐHY.PX. NGUYỄN VĂN THUẬN 

 
XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU BÀI CHIA SẺ ĐẦY TÍNH LỊCH SỬ BI TRÁNG VỀ ĐHY.PX. NGUYỄN VĂN THUẬN 

Tác giả bài viết: TS. Phạm Huy Thông

(Sau khi rời khỏi ngục tù suốt 13 năm)
Vài kỷ niệm về Đức Hồng y thứ 5 người Việt Nam.
Giáo phận Bùi Chu
Thứ sáu – 17/09/2021 

Thế mà thấm thoắt đã hơn 20 năm, kể từ ngày tôi lần đầu tiên được diện kiến với Đức TGM Nguyễn Văn Thuận. Tôi nhớ hồi giữa năm 1990, khi biết tin Mẹ Teresa Calcutta sắp sang thăm Việt Nam, tôi rất muốn viết một bài báo về Mẹ mà không kiếm đâu được tư liệu. Lúc đó internet chưa có, sách báo nước ngoài rất hiếm, chỉ có thể biết tin tức Công giáo bập bõm qua đài Veritas hoặc Vatican. Tôi đánh liều vào Toà Giám mục Hà Nội để mong gặp Ngài vì Ngài vừa mới được trả tự do về đây nhưng chưa được đi đâu vì không có giấy chứng minh thư. Gặp mấy cha quen biết để đề xuất, ai cũng lắc đầu cho rằng, chắc Ngài chẳng tiếp vì lúc đó tôi đang cộng tác với báo Người Công giáo Việt Nam. Tôi chạy tìm cha Toma Aquino Nguyễn Xuân Thuỷ đề nghị và hồi hộp chờ đợi. Mấy phút sau, Ngài xuống. Tôi đã xem ảnh Ngài nhiều lần nhưng vẫn ngạc nhiên khi gặp Ngài. Phải nói là Ngài có vóc dáng rất đẹp và phúc hậu. Ngài hỏi thăm về công việc, gia đình của tôi rất ân cần. Tôi băn khoăn về việc đang cộng tác với tờ báo Người Công giáo Việt Nam vì hiện ở Việt Nam không có tờ nào chính thức nào của giáo hội cả. Ngài bảo: không có gì Chúa dựng tạo là xấu cả. Chỉ có điều mình chưa làm cho nó trở nên tốt đẹp mà thôi. Anh xem, cây gỗ đóng đinh Chúa vốn là công cụ giết người mà Chúa đã làm cho nó nên vật thánh thiêng, là biểu tượng của đạo Công giáo đấy”. Tôi rất thích suy tư này và về sau có nói lại với Đức cha GB. Bùi Tuần. Đức cha Bùi Tuần rất tâm đắc và vẫn thường xuyên động viên tôi coi việc viết báo và nghiên cứu khoa học nghiêm túc cũng là một công việc truyền giáo.

Sáng hôm sau, Ngài cho người đưa cho tôi tờ giấy ghi khá kỹ về tiểu sử của Mẹ Teresa Calcutta kèm cả bức ảnh Mẹ nhận giải Nobel ở Oslo (Nauy) năm 1978 nữa. Bởi vậy, khi Mẹ đến Toà Tổng giám mục Hà Nội năm 1991, tôi vào biếu Mẹ tờ báo có bài “Thiên thần Calcutta đến Việt Nam” có cả ảnh, Mẹ cầm tờ báo thích lắm bảo: Làm sao vừa đến Hà Nội đã có báo đăng?”. Rồi Mẹ hỏi tôi: Báo này là báo gì? Tôi đáp: Báo Người Công giáo Việt Nam. Mẹ hỏi tiếp: Báo Người Công giáo Việt Nam của ai? Lúc đó vốn tiếng Anh của tôi “terrible” (tồi tệ) lắm nên quay sang nhờ cô thông dịch viên của Bộ Ngoại giao. Cô giãy nảy lên: Cháu chịu không sao dịch được. Lập tức Đức TGM Nguyễn Văn Thuận quay lại nói: Báo Người Công giáo Việt Nam là của người Công giáo Việt Nam. Tôi cảm ơn Ngài về sự giúp đỡ này. Mẹ Teresa bảo tôi: Lần sau nếu có bài nào viết về Mẹ thì gửi cho Mẹ qua ông Đại sứ Ân Độ tại Hà Nội. Tôi có viết mấy bài nữa và gửi như lời Mẹ dặn. Không biết Mẹ có nhận được không?

Cũng vì mấy bức ảnh Ngài gửi tôi có chú thích trên báo rằng: Ảnh do Đức cha FX. Nguyễn Văn Thuận cung cấp mà tôi bị ông Phó Trưởng Ban Dân vận phê bình nặng lời (khi đó Báo trực thuộc Ban dân vận Trung ương, mặc dù tôi đã khéo léo không đề chức vụ TGM), vì cho rằng, tôi kém nhạy bén chính trị dám đưa tên một người mà xã hội đang muốn quên đi lên mặt báo. Ông dứt khoát chỉ đạo Ban tổ chức không nhận tôi về làm việc ở báo Người Công giáo Việt Nam nữa.

Rồi đoàn của Đức Hồng y Bernard Law của giáo phận Boston Hoa Kỳ sang thăm Việt Nam, tôi lại chạy vào xin Ngài tư liệu. Ngài cũng mau mắn giúp đỡ. Chữ của Ngài rất đẹp, chữ cao, thanh thoát và rất rõ ràng. Tôi vẫn còn giữ những bì thư đó như kỷ vật của Ngài.

Tôi nghe đồn rằng, lúc đó Việt Nam đang bị Hoa Kỳ cấm vận ngặt nghèo và Nhà nước muốn Ngài tác động với Tổng thống Carter và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo 2 để Hoa Kỳ nới lỏng lệnh cấm vận vì nghe nói Ngài rất thân thiết với các vĩ nhân này. Ngài đã nhận lời. Không biết kết quả cụ thể thế nào nhưng năm 1991, khi Đức Cha Phạm Đình Tụng lúc đó đang là Giám quản Hà Nội có văn thư đề nghị Ngài làm TGM Hà Nội thì Nhà nước lo lắng thật sự vì trước đây Ngài được bổ nhiệm là TGM Phó tổng giáo phận Sài Gòn đã được coi như là “âm mưu hậu chiến của Vatican” nay lại về TGM Thủ đô thì làm sao chấp nhận được. Bởi vậy, bằng mọi cách người ta khuyên Ngài đi thăm bà cố ở Austrailia. Tôi nhớ hôm đó là ngày 21-9-1991, mặc dù mới chớm đông nhưng Hà Nội trời rất lạnh, tôi bám theo xe của Đức cha FX. Nguyễn Văn Sang ra sân bay Nội Bài để tiễn Ngài. Tôi có nghe nói loáng thoáng rằng, Ngài sẽ bị cấm quay về Việt Nam. Có lẽ Ngài cũng linh cảm thấy điều này. Ngài chụp ảnh kỷ niệm với mọi người và bắt tay từng người đưa tiễn. Ngài đứng giữa, gọi tôi đứng bên cạnh cùng Đức cha Sang. ( ảnh bên, rất đẹp do cha FX. Nguyễn Thế Khải- một linh mục được Ngài truyền chức bí mật chụp và tôi vẫn giữ đến hôm nay).  Khi bắt tay tôi, Ngài hỏi:

– Nhà báo dự đoán xem bao giờ tôi trở về Hà Nội?
Tôi đáp theo lối ngoại giao rằng:
– Đức Cha sẽ trở về Việt Nam với cương vị khác và màu phẩm phục khác.

Không ngờ đấy là lần cuối cùng tôi được gặp Ngài và cũng là lần cuối cùng Ngài được đứng trên mảnh đất quê hương.

Năm 2000, Uỷ ban giáo dân của HĐGMVN tổ chức hội thảo về Văn hoá Công giáo Việt Nam đầu tiên ở Huế quy tụ cả ngàn người tham dự có tiếng vang lắm nhưng cũng rất tốn kém. Khi đó tôi đang làm Thư ký cho Uỷ ban giáo dân liền trao đổi với Đức cha Chủ tịch FX. Nguyễn Văn Sang khi qua Roma nên nhờ Đức TGM Nguyễn Văn Thuận giúp đỡ và Đức cha Sang về cho biết. Ngài rất cổ vũ cho những hoạt động như thế và sẵn sàng vận động nguồn tài trợ giúp những cuộc hội thảo lần sau. Tiếc rằng sau đó, Ngài bị ốm phải nhập viện và qua đời nên không thực hiện được.

Khi Ngài được tấn phong Hồng y tháng 2-2001, tôi có viết bài: “Vài nét về vị Hồng y thứ năm người Việt Nam” (cũng không dám viết tên). Một sĩ quan công an tên là M.V- cháu ruột của một ông tướng công an có tiếng gọi điện bảo tôi rằng, ông ta từng coi trại giam trong đó có tù nhân Nguyễn Văn Thuận. Khi tôi gặp ông, ông nói: 

“Tôi coi nhiều tù Công giáo nhưng có hai người tôi thán phục là ông Nguyễn Văn Vinh (cha chính Vinh) và ông Nguyễn Văn Thuận. Họ thông minh, trí tuệ nhưng đặc biệt là nhẫn nhục và vị tha. Viên sĩ quan công an kể rằng, mới vào trại được mươi ngày, ông Thuận xin cán bộ trại giam mua hoặc mượn cho sách học tiếng Nga. Rồi mượn bộ Lênin toàn tập bằng tiếng Nga. Khoảng vài tháng, ông Thuận bảo:

– Các cán bộ có ai biết tiếng Nga không?
Vị công an hỏi lại: Ông cần làm gì?
Ông Thuận nói: Để cán bộ nghe tôi nói tiếng Nga thế nào?
Ông công an đáp: Kỷ luật trại không cho phép nói chuyện với phạm nhân bằng tiếng nước ngoài.

Thật ra, chúng tôi ai ở trong trường dù phổ thông hay đại học tại Việt Nam lúc đó chẳng học tiếng Nga nhưng học xong chữ thầy trả thầy cả, làm gì mà nói được tiếng Nga nữa nên nói tránh đi thế”.

Khi Ngài qua đời ngày 17-9-2002, tôi lại viết bài: “Tiễn người lên đường Hy vọng”. Mặc dù bài báo bị Ban biên tập cắt mất quá nửa nhưng cũng gây được cảm tình của bạn đọc. Lại một ông công an nhắn tôi gặp để kể cho nghe nhiều chuyện về người tù Nguyễn Văn Thuận. Ông bảo: tôi thật may mắn và hạnh phúc khi được coi tù nhân Nguyễn Văn Thuận. Chính vị tù nhân này đã giải phóng cho tôi khỏi ngục tù tội lỗi và tối tăm để quay về làm con Chúa”. Ông đã bỏ ngành công an và gia nhập đạo Công giáo để mang tên thánh Phaolô. Ông là nhà văn và là triết gia Nguyễn Hoàng Đức, bây giờ cũng sinh hoạt cùng nhóm Doanh Trí Công giáo với chúng tôi. Chắc chắn ông sẽ là một chứng nhân với phái đoàn điều tra của Toà thánh sắp tới khi sang Việt Nam để thẩm định về việc phong thánh của Ngài với bài: “Con đường đức tin vào Nước Chúa qua cây cầu Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận” nên tôi không muốn nói nhiều ở đây nữa.

Cho đến giờ, tôi vẫn không hiểu vì sao Nhà nước Việt Nam lại lo ngại về một con người hiền lành như vậy. Thậm chí cả đến những ai liên quan cũng bị nghi ngờ luôn. Trường hợp Đức cha Nguyễn Văn Hoà được đề cử về Hà Nội là một ví dụ đến nỗi Thủ tướng Phan Văn Khải trả lời các giám mục Việt Nam năm 2002 rằng: “việc giám mục Nguyễn Văn Hoà xin về Hà Nội xin từ nay không đề cập đến nữa”. Vì nghe đâu Đức cha Phao lô Hoà là do Đức cha Thuận tấn phong nên chắc có “liên hệ gì đó”. Tôi có lần nói chuyện với Đức cha Hoà về chuyện này. Đức cha cũng ngạc nhiên và chịu không thể tìm ra lý do.

Ngài đã ở trại giam tới 13 năm trong đó có 9 năm biệt giam nhưng chưa hề nghe Ngài nói hay viết những lời ca thán, căm ghét chế độ hay thù hận những người đã bắt bớ, giam cầm Ngài. Mặc dù, hoàn cảnh ở trại giam rất tồi tệ. Ngài viết trong Chứng nhân và Hy vọng: “Ở trại Phú Khánh, tôi bị giam trong phòng không có cửa sổ, phải đi qua 3 lớp cửa trong một hành lang mới đến chỗ tôi. Vào đó nóng nực vô cùng, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc người ta để đèn sáng như ban ngày, lúc khác lại nằm trong bóng tối. Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi khi tôi nằm dưới nền, nấm mốc mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dưới vách, ánh sáng dọi vào, tôi lao đến, kê mũi để thở. Lúc nào trời mưa, nước ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và những con rết dài. Dù thấy vậy, nhưng tôi yếu mệt quá không làm gì được, tôi cứ dể chúng bò quanh, ngày nào nước xuống thì chúng lại bò ra”…

Thật ra, cũng có những mưu toan chính trị muốn lợi dụng Ngài. Năm 1973, khi thấy tình thế lâm nguy, đúng là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có nhờ anh trai mình là Nguyễn Văn Hiếu lúc đó đang là đại sứ Việt Nam cộng hoà tại Italia xin Toà thánh bổ nhiệm Đức cha Nguyễn Văn Thuận làm TGM Sài Gòn nhưng Toà thánh không chấp nhận vì cho đấy là sự can thiệp của phần đời. Tài liệu số NT1/4-Lm 10/12 ở Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia Sài Gòn còn ghi lại chuyện này. Còn việc chọn Ngài sau đó nhất là việc bổ nhiệm sát ngày Sài Gòn thất thủ (25-4-1975) rất dễ gây hiểu lầm nhưng trong bối cảnh bất khả kháng. Trong thư của ông Trương Tấn Sang- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân T.p HCM gửi cho Đức TGM Nguyễn Văn Bình ngày 22-9-1993 có viết: “Như Cụ đã biết, năm 1975, chính phủ ta đã không chấp nhận ông Nguyễn Văn Thuận về giáo phận thành phố và dứt khoát không bao giờ chấp nhận vì ông Nguyễn Văn Thuận từng gắn bó với một gia đình có nhiều nợ máu với nhân dân và bản thân ông Nguyễn Văn Thuận cũng có một quá trình lâu dài và tinh vi chống phá sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ độc lập dân tộc”.

Về gia đình cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm tốt xấu thế nào đã có nhiều bài viết, thiết nghĩ không cần nói thêm, chỉ biết rằng, chính Hồ Chí Minh cũng nhận định” Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách của ông ấy”. Song dù gia đình thế nào, cũng chỉ ảnh hưởng chứ không thể quyết định đến việc xem xét một con người cụ thể. Còn về Đức cha Nguyễn Văn Thuận, chúng tôi cũng cố gắng tìm các tài liệu nhưng chưa thấy tài liệu nào trưng ra bằng chứng “chống phá tinh vi” như những lời cáo buộc. Chỉ tìm thấy một lời sám hối của linh mục Thanh Lãng – một trong những người đã ký tên đòi Đức cha Thuận phải rời Sài Gòn về Nha Trang được viết ngày 28-11-1988 như sau:

“Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh toàn cầu và Việt Nam. Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lỗi lầm và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ.
Tôi xin công khai sám hối xin Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn  và trả công cho Đức cha.
Tôi xin công khai sám hối và xin lỗi tất cả vì tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý làm mất lòng.

Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong mục vụ.

Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội thánh và Chúa tha tội cho tôi.”

Nghe nói linh mục Thanh Lãng đã gửi một bản sám hối này cho Ngài trước khi đương sự qua đời song không thấy Ngài phản hồi. Có lẽ Ngài đã quên chuyện ấy từ lâu rồi. Vì Ngài đã phó thác tất cả cuộc đời Ngài cho Chúa. Ngài chỉ có nhiệm vụ sống từng giây, từng phút cho tốt, cho nên thánh mà thôi: “Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng” (ĐHV 978).

Tôi bỗng nhớ trong một lần đến xin tài liệu của Ngài, tôi hỏi: Làm sao để vào được Nước Trời?

Ngài trả lời bằng câu chuyện vui hóm hỉnh: Có một linh mục đạo đức lắm khi qua đời, gặp thánh Phêrô, thánh nhân hỏi: Trên trần cha làm được những công trạng gì? Vị linh mục đáp: Con chu toàn mục vụ, khuyên bảo kẻ tội lỗi, gíup đỡ người khó khăn, an ủi kẻ bệnh tật… Thánh Phêrô bảo: Cha được 1 điểm, còn gì nữa không? Vị linh mục hỏi lại: Vậy bao nhiêu điểm mới được lên Thiên đàng? Thánh nhân đáp: 1000 điểm. Vị linh mục kêu lên: Lạy Chúa xin Chúa thương thế nào chứ con lấy đâu ra 1000 điểm? Thánh nhân nói to: 1000 điểm nữa. Vậy là cha thừa điểm lên Thiên đàng rồi”.

Cho nên, dù mai đây kết quả cuộc điều tra phong thánh của Ngài thế nào thì tôi vẫn tin Ngài đã được hưởng vinh quang nơi Chúa vì Ngài luôn tin tưởng, phó thác vào tình yêu của Chúa.

  ***Tôi còn biết chính Hồng y Thuận được coi là ân nhân của nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đã liên hệ với Hồng Y Bernard Law để chữa trị bệnh máu trắng cho cháu ngoại của tướng Giáp khi Hoa Kỳ còn cấm vận Việt Nam.
  (Viết nhân lễ giỗ lần thứ 10 của Đức Hồng y F.X)                              

Tác giả bài viết: TS. Phạm Huy Thông

 From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen