50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới (Nguyễn Hải Di, Nguyễn Gia Kiểng, Từ Thức, Lê Mạnh Hùng)

27/1/2023 là tròn 50 năm ngày ký Hiệp định Paris, để Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến Việt Nam.

Nhìn lại Hiệp định Paris sau nửa thế kỷ, tôi phỏng vấn ông Từ Thức, ký giả của miền Nam có mặt theo dõi hội đàm từ đầu đến cuối ; sử gia Lê Mạnh Hùng ; và kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người sáng lập và đứng đầu Tập hợp Dân chủ Đa nguyên.

Hiệp định Paris có những lỗ hổng nào ?

Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, ký ngày 27/1/1973. Các bên đàm phán chính thức là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam), và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam “được coi như là một trong hai “bên miền Nam” trong khi ai cũng biết nó không có thực chất nào cả mà chỉ là một danh xưng rỗng nghĩa. Lực lượng cộng sản chiến đấu tại miền Nam hoàn toàn của Hà Nội và do Hà Nội điều khiển.

“Hai là hiệp định hoàn toàn không nói tới chính quyền cộng sản Bắc Việt, làm như là miền Bắc không có trách nhiệm gì trong cuộc chiến, trong khi chính quyền cộng sản Bắc Việt là kẻ chủ trương và điều động cuộc chiến đồng thời cũng là một trong hai bên đối thoại chính, cùng với Mỹ, trong hội nghị Paris.

“Ba là hiệp định quy định Mỹ sẽ rút hết quân khỏi miền Nam và hai bên miền Nam, đặc biệt là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, sẽ không được nhận thêm vũ khí và sử dụng cố vấn hay chuyên viên quân sự nước ngoài trong khi Hà Nội không bị bó buộc gì cả, không phải rút quân khỏi miền Nam và vẫn tiếp tục nhận viện trợ quân sự từ bên ngoài”.

Ông nói thêm, những người hiểu lầm nhất về Hiệp định khi đó có lẽ là những người thuộc “lực lượng thứ ba”.

“Họ nghĩ rằng hiệp định này sẽ dành cho họ một chỗ đứng trước hết trong Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc và sau đó trong một chính quyền miền Nam trung lập. Họ không hiểu rằng miền Nam đang đứng trước nguy cơ gần như chắc chắn sắp bị thôn tính. Trên thực tế họ chỉ tiếp tay làm cho Việt Nam Cộng hòa sụp đổ nhanh hơn”.

Ai vi phạm Hiệp định Paris ?

Năm 1973, Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, hai nhân vật chủ chốt trong đàm phán, được trao giải Nobel Hòa bình. Ông Lê Đức Thọ từ chối.

Ông Từ Thức nói “Hiệp định Paris 1973 đòi ngừng bắn trên toàn miền Nam ; việc thống nhất đất nước sẽ được thực hiện bằng phương pháp hòa bình, qua tổng tuyển cử, trong thời hạn do miền Bắc và miền Nam đồng thuận. Trên thực tế, ngay sau khi ký Hiệp định, Cộng sản đã đánh phá nhiều nơi, gia tăng quân sự để chiếm thêm đất ở những vùng “da beo”, thí dụ tổng công kích Bình Long, Ban Mê Thuột, và cuối năm 1974, đã chiếm trọn tỉnh Phước Long.

“Hiệp định Paris quy định miền Bắc phải ngưng việc đưa quân vào miền Nam. Trên thực tế, chỉ trong tháng 5/1973, Bắc Việt đã đưa thêm vào miền Nam 35.000 quân, 30.000 tấn võ khí”.

Hiệp định Paris cũng yêu cầu hai bên rút quân khỏi Lào và Campuchia, nhưng “Bắc Việt không những không rút quân, còn gia tăng hoạt động quân sự tại hai nước này”.

Sử gia Lê Mạnh Hùng thì cho rằng Hiệp định Paris “là một cách để Mỹ tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không mất mặt. Trên phương diện pháp lý nó không có cả tính chính đáng (legitimacy) vì cả bốn bên không bên nào thông qua. Việt Nam Cộng hòa, Bắc Việt và Giải phóng Miền Nam không nói làm gì, nhưng ngay cả đến Mỹ, Hiệp định này cũng không được Thượng viện Mỹ thông qua”.

Theo ông, “vì được thiết kế để cho Mỹ rút quân thành ra có thể nói không có điều khoản nào ràng buộc phía bên kia cả. Ngoài ra cũng không có biện pháp chế tài nào nếu bên kia vi phạm. Vả lại vì nó không có tính cách pháp lý thành ra ta cũng không thể lên án bên kia là vi phạm được”.

Nhưng Hiệp định Paris không chỉ nói ngừng chiến tranh và chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ với vấn đề Việt Nam.

Ông Từ Thức nói thêm :

“Hiệp định Paris cấm mọi hành động trả thù, phân biệt đối xử. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, tháng 4/1973, hàng triệu người bị bắt vào trại cải tạo, nhiều người mất mạng vì bị hành hạ, đói khát, mở đầu cho phong trào “boat people” của hàng triệu dân miền Nam liều chết vượt biển, tìm cách thoát khỏi chế độ”.

50 năm nhìn lại

Ông Lê Mạnh Hùng cho rằng “Trên quan điểm lịch sử, sau 50 năm nhìn lại, tôi nghĩ rằng trong tình thế lúc đó, Hiệp định Paris là một cái gì tất yếu phải xảy ra. Như Afghanistan trong năm 2021 cho thấy, khi Mỹ thấy cần bỏ chạy là họ bỏ chạy. Đối với Nixon và Kissinger, Việt Nam không còn quan trọng nữa khi họ đã mua được Tàu thành ra bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là tất yếu, nhất là khi sự chống đối chiến tranh Việt Nam đang dâng lên ào ạt tại Mỹ.

“Điều đáng buồn độc nhất là tuy rằng về phía Việt Nam Cộng Hòa, người ta có biết chuyện đó, nhưng giới lãnh đạo cũng vẫn không hoàn toàn tin hẳn rằng nó nói bỏ là bỏ ! Vì vậy không có bao nhiêu chuẩn bị để có thể cầm cự lâu dài với những phương tiện mình có hoặc là tìm thêm nguồn cung cấp vũ khí tại nơi khác”.

Ông Từ Thức thì nói “Nhiều người ngạc nhiên trước sự thất thủ nhanh chóng của miền Nam năm 75, nhưng hãy tưởng tượng những gì xảy ra ở Ukraine ngày nay, nếu một sớm một chiều các nước Tây Phương cắt đứt viện trợ kinh tế, quân sự cho nước này ?”

Ông cho rằng “Hiệp định Paris là một ô nhục đối với những người tranh đấu cho quyền tự quyết của các dân tộc, một vết đen trong lịch sử Hoa Kỳ, vì đây là lần đầu cường quốc này đã bỏ rơi đồng minh, tháo chạy. Nixon và Kissinger chỉ có một mục tiêu, làm quà cho cử tri Mỹ bằng cách chấm dứt chiến tranh”.

Vì làn sóng phản chiến tại nhà, và để ngưng chiến và mang quân Mỹ trở về, Nixon đã chấp nhận rút toàn bộ quân Mỹ nhưng không nói gì đến quân đội Bắc Việt ở miền Nam.

“Nixon hứa với ông Thiệu sẽ tái oanh tạc, sẽ phản ứng mạnh, nếu Bắc Việt vi phạm những điều đã ký kết, nhưng đã khoanh tay khi Cộng sản gia tăng chiến tranh, vì đang gặp khó khăn chính trị, đặc biệt là vụ Watergate. Sinh mệnh của hàng triệu người dân miền Nam rơi vào quên lãng”.

Nixon, theo ông Từ Thức, muốn “hòa bình trong danh dự”, nhưng cuối cùng “chẳng có hòa bình cũng chẳng có danh dự, như tựa đề một cuốn sách của sử gia Larry Berman, No Peace, No Honor : Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam. Theo Larry Berman, đó là một hiệp định tự sát, một hòa bình ô nhục”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho biết “Theo tôi hiệp định này đánh dấu một khúc quanh lớn của Mỹ trong đạo đức chính trị và chính sách đối ngoại. Đó là lần đầu tiên mà Mỹ rút lui và bỏ rơi một đồng minh, dần dần sự trở mặt đã thành một tập quán của Mỹ, dù là tại Liban, Iraq, Syria, Venezuela hay gần đây nhất tại Afghanistan.

“Điều mà tôi chỉ hiểu sau này khi các bí mật dần dần được tiết lộ là việc Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa có liên hệ mật thiết với việc Mỹ vừa bắt tay được với Trung Cộng. Theo tính toán của Nixon và Kissinger nếu Hà Nội thôn tính được Sài Gòn thì Việt Nam sẽ rơi hẳn vào quỹ đạo Liên Xô vì Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó theo Liên Xô và chống Trung Cộng, như thế Bắc Kinh sẽ phải sáp lại hơn nữa với Mỹ vì Liên Xô đang là thù địch của họ. Tính toán này ít nhiều được các tổng thống Mỹ sau đó tán thành, cho đến khi Trung Quốc trở thành mối đe dọa cho thế giới.

“Hệ quả là đất nước ta hoàn toàn bị đặt dưới chế độ cộng sản. Đó là một tai họa lớn. Chúng ta đang là một nước rất chậm tiến với một đảng cầm quyền cư xử như một lực lượng chiếm đóng hung bạo”.

Ông Từ Thức nói “Bài học cay đắng là miền Nam nhỏ bé rơi vào trò chơi, tính toán chính trị của các thế lực quốc tế”.

Nhìn lại sau 50 năm, ông Nguyễn Gia Kiểng nói “Thật đáng buồn, nếu miền Bắc chấp nhận bắt tay hợp tác với miền Nam để dần dần tiến tới thống nhất đất nước trong hòa bình thì bây giờ Việt Nam ít lắm cũng phải phồn vinh gấp nhiều lần hiện nay. Nhưng Đảng cộng sản đã đặt quyền lực và chủ nghĩa Mác Lênin lên trên hết”.

Nguyễn Hải Di

Nguồn : Diễn Đàn Thế Kỷ, 27/01/2023

50 năm sau hiệp định Paris, một Việt Nam không còn lịch sử-Jackhammer Nguyễn

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

28-1-2023

Bi kịch Paris

“Hòa bình ơi/ Tình yêu em như sông biển rộng/ Tình yêu em như lúa ngoài đồng/ Tình yêu em tát cạn biển Đông…” Lời bài hát này được nghe trên khắp các thành thị miền Nam Việt Nam, khi nó còn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng hòa 50 năm trước.

Người sáng tác bài hát đó là nhạc sĩ Thông Đạt, tức Ngô Văn Giảng, nhưng tôi không biết ai là người hát nó đầu tiên trên radio hay TV, chỉ biết rằng nó xuất hiện sau ngày 27-1-1973, ngày hiệp định đình chiến bốn bên được ký kết tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Tuy nhiên cuộc chiến không đình được, nỗi khát khao hòa bình trong bài hát nhanh chóng bị dập tắt. Chiến tranh tiếp tục trong hai năm tiếp theo, dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa. Với độ lùi thời gian nửa thế kỷ, cùng nhiều thông tin mới dần được công bố, nay đã rõ là việc ký kết hiệp định này có nguyên nhân lớn nhất là ý chí của người Mỹ, tìm kiếm một lối thoát trong vũng lầy Việt Nam của họ.

Việt Nam đã không còn là một tiền đồn chống cộng sản có giá trị nữa, chính sách mới của Washington bắt tay với Trung Hoa cộng sản nhằm phân hóa thế giới cộng sản bắt đầu. Tiền đồn của Mỹ bây giờ không phải là Sài Gòn nữa, mà là Bắc Kinh. Vũ khí không phải là ném bom nữa mà là những cái bắt tay thân mật bên cốc rượu Mao đài.

Cuộc chiến hai năm sau hiệp định Paris thực sự là nội chiến, là cuộc chiến giữa những người Việt với nhau, dù rằng cho đến 50 năm sau, cho tới bây giờ Hà Nội vẫn vô cùng “nhạy cảm” với hai từ “nội chiến”. Họ cũng “nhạy cảm” cả với ba từ “ý thức hệ”, lý do chính mà người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Điều trớ trêu và buồn cười nhất là tính chất ý thức hệ (đấu tranh giai cấp) là điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam lớn tiếng hơn ai hết khi họ nắm quyền trên toàn quốc.

Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vì sự yếu kém về tổ chức xã hội, nhà nước, của nó, không phải để chiến đấu, quân đội của họ dựa hoàn toàn vào người Mỹ, mà không sẵn sàng cho một cuộc chiến dựa trên sức mạnh của chính mình. Trong khi đó, xã hội và nhà nước miền Bắc, với mô hình toàn trị, thích hợp hơn rất nhiều lần để tiến hành một cuộc chiến. Vũ khí và tài lực từ Liên Xô vẫn tiếp tục cung cấp cho Hà Nội.

Bi kịch ngày 30-4-1975 của Việt Nam Cộng hòa là không thể tránh khỏi. Bi kịch đó kéo theo bị kịch tù cải tạo với hàng trăm ngàn người lao động khổ sai không án.

Bi kịch đó kéo theo bi kịch thuyền nhân với gần một triệu người liều mình đào thoát khỏi Việt Nam, trong đó không biết bao nhiêu người chết thảm khốc.

Lịch  sử và xóa bỏ lịch sử

Người cộng sản Việt Nam đã thắng cuộc chiến quân sự sau bi kịch Paris, nhưng họ đại bại trong cuộc chiến ý thức hệ.

Nước Việt Nam ngày nay không phải là một đất nước sống theo thiên đường cộng sản, “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, như trong các kinh điển Mác – Lê. Việt Nam ngày nay là đất nước của cụ già Nguyễn Phú Trọng sửa luật Đảng của chính ông ta để cầm quyền, là đất nước của hơn triệu công nhân bỏ chạy về quê vì đói trong đại dịch 2021, là đất nước của Phạm Nhật Vượng, chuyên thu gom đất đai giá rẻ để làm tỷ phú, và cũng là đất nước của những “thùng nhân” chết đông lạnh ở Anh.

Họ thất bại trong ý thức hệ, nhưng có thể họ đang thắng trong việc xóa bỏ lịch sử, ít nhất là đối với mấy chục triệu dân trong nước.

Tôi không nghĩ rằng có hơn 50% dân chúng Việt Nam trong nước biết Hiệp định Paris là cái gì! Dĩ nhiên họ cũng chẳng biết tới trại tù cải tạo khổ sai, không biết cả thảm họa thuyền nhân.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Hiệp định Paris năm 1973. Nguồn: Getty Images

Báo chí tuyên truyền của Đảng nói với họ rằng, có mấy triệu người Việt sống ở phương Tây, “lúc nào cũng hướng về tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (sic). Nhưng tại sao mấy triệu người ấy có mặt ở phương Tây? Báo chí và sách vở của Đảng … cứ làm như không biết!

Mấy ngày gần đây, báo chí Việt Nam cũng góp lời ca tụng hai diễn viên được đề cử giải Oscar danh giá ở Mỹ, có liên quan đến Việt Nam, là ông Quan Kế Huy và bà Hồng Châu. Họ ca tụng vì cả hai người đều được xem là người Mỹ gốc Việt. Tuy nhiên báo Đảng cắt bén đi cái lý lịch thuyền nhân của họ.

Mà không chỉ trong câu chuyện với hai người này, những cái từ như là thuyền nhân, trại cải tạo… cũng biến mất tăm ở Việt Nam ngày nay, dù rằng nó là một giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc.

50 năm hiệp định Paris, Việt Nam đi từ một nền hòa bình tưởng tượng, cho đến một tương lai bất định, trên nền của một dân tộc 100 triệu dân bị xóa bỏ lịch sử.

Thánh Tôma Aquinô (1225-1274), Tiến Sĩ Hội Thánh

Chúc bình an! Hôm nay ngày 28/01, Giáo hội mừng kính Thánh Tôma Aquinô (1225-1274), Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng quan thầy đến những ai chọn Thánh Tôma làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Mọi người đều đồng ý rằng Thánh Tôma Aquinô  là tiếng nói trổi vượt của truyền thống Công Giáo về lý lẽ và về sự mặc khải của Thiên Chúa. Ngài là một bậc thầy vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo thời trung cổ, và được vinh danh với tước vị Tiến Sĩ Hội Thánh và Tiến Sĩ Thiên Thần.

Sinh hạ năm 1225 trong một gia đình quí phái ở Roccasecca gần Aquinô trong vương quốc Napples. Lúc năm tuổi, ngài được cha mẹ cho vào tu viện Biển Ðức ở Monte Cassino với hy vọng ngài sẽ thích lối sống ấy và trở nên một tu viện trưởng. Trong tu viện, các thầy giáo đều ngạc nhiên về sự tiến bộ của ngài, và mọi bạn cùng lớp đều thua kém ngài về việc học cũng như việc trau dồi nhân đức.

Khi đến tuổi khôn được lựa chọn con đường cho chính mình, Thánh Tôma đã khước từ mọi sự của thế gian và quyết tâm chọn Dòng Ða Minh trái với ý định của cha mẹ. Năm 1239, lúc mười bảy tuổi, ngài gia nhập Dòng Ða Minh ở Naples. Theo lệnh của bà mẹ, ngài bị các anh em bắt cóc và giam ở nhà trên một năm trời. Gia đình còn đi xa hơn nữa bằng cách dùng một cô gái điếm đến dụ dỗ ngài. Nhưng tất cả mọi cố gắng đều vô hiệu, Thánh Tôma vẫn kiên trì với ơn gọi. Như một phần thưởng cho sự trung tín này, Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn thanh sạch tuyệt đối, mà nhờ đó ngài xứng đáng được tước vị là “Tiến Sĩ Thiên Thần.”

Sau khi tuyên khấn ở Naples, ngài theo học ở Cologne với vị thầy nổi tiếng là Thánh Albert Cả. Ở đây ngài có biệt danh là “bò câm”, vì ngài to con và thường im lặng, nhưng thực sự ngài là một người rất giỏi. Vào năm hai mươi hai tuổi, ngài được bổ nhiệm để dạy học tại hai thành phố. Ðồng thời ngài cũng bắt đầu công bố các sáng tác của ngài. Bốn năm sau, ngài được gửi đến Balê. Vào năm ba mươi mốt tuổi, ngài đậu bằng tiến sĩ.

Ở Balê, ngài được vinh dự làm bạn với Vua Louis (sau này được phong thánh). Năm 1261, Ðức Urbanô IV gọi ngài về Rôma để dạy học, và ngài nhất quyết từ chối mọi vinh dự của một chức sắc trong giáo hội. Không những Thánh Tôma có tài viết, mà ngài còn có tài giảng thuyết với nhiều kết quả tốt đẹp.

Sự đóng góp lớn lao của ngài cho Giáo Hội Công Giáo là các trước tác. Sự đồng nhất, sự hài hòa và sự liên tục của đức tin và lý lẽ, của mặc khải và khiến thức loài người, được thấy đầy dẫy trong các văn bản của ngài.

Tập “Summa Theologica” là công trình sau cùng của ngài, nhưng không may chưa được hoàn tất, đề cập đến toàn thể thần học Công Giáo. Ngài ngưng sáng tác sau khi cử hành Thánh Lễ vào ngày 6 tháng Mười Hai, 1273. Ðược hỏi lý do, ngài trả lời, “Tôi không thể tiếp tục… Tất cả những gì tôi viết, đối với tôi dường như chỉ là cọng rơm so với những gì tôi được thấy và những gì tôi được mặc khải.” Ngài từ trần ngày 07 tháng 3 năm 1274 tại Fossanuova gần Terracina và được chôn cất tại nhà thờ Saint Servin, Toulouse, nước Pháp; thánh tích được chuyển về nhà thờ thánh Jacobins, Toulouse ngày 22 tháng 10 năm 1274

Thánh Tôma Aquinô là một trong những thần học gia vĩ đại và ảnh hưởng đến mọi thời đại.  Ngài được Đức Giáo Hoàng Joannes XXII phong thánh ngày 18 tháng 7 năm 1323 tại Avignon, nước Pháp và được Ðức Giáo Hoàng Pius V tuyên xưng là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 11 tháng 4 năm 1567. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đặt Ngài làm quan thầy các trường và các đại học Công Giáo ngày 04 tháng 8 năm 1880. Lễ kính thánh nhân được cử hành vào ngày 28 tháng 01 hàng năm là ngày kỷ niệm cải táng thay vì ngày 07 tháng 3 là ngày kỷ niệm qua đời. (Nguồn: Người Tín Hữu online)

Sau đây là những câu nói và lời khuyên của Thánh Nhân:

❦  Yêu mến Chúa thì cao trọng hơn nhận biết Ngài.

❦  Không có hy sinh nào giải cứu linh hồn Luyện ngục bằng hy sinh của Thánh lễ Misa.

❦  Chỉ cần chạm một cái rất nhẹ, rất mong manh vào lửa Luyện ngục thì còn rùng rợn hơn tất cả những cực hình đau đớn chết người trên trái đất này.

❦ Đừng tọc mạch muốn biết công chuyện riêng tư của người khác.

❦ Hãy giữ lương tâm tinh tuyền.

❦ Đừng bỏ qua việc cầu nguyện.

❦ Tránh bàn tán những chuyện nhảm nhí.

❦  Hãy gắng bắt chước gương tốt của những bậc thánh hiền.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Hãy đọc lại và dùng câu đó để làm hướng đi cho Bạn trong ngày nhé.

From: Đỗ Dzũng

NOI GƯƠNG CÁC VỊ THÁNH NHƯ THÁNH THOMAS AQUINAS

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ)

Có rất nhiều vị thánh – đủ mọi độ tuổi – đáng để chúng ta noi gương.

Thật là một lợi ích tuyệt vời mà tất cả chúng ta có được trong đại gia đình trên trời, sự hiệp thông vinh quang của các thánh mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, qua việc họ sẵn sàng hiến thân cho Ngài.  Với đức tính anh hùng lấy Đức Kitô làm trung tâm, các thánh có thể truyền cảm hứng và dạy dỗ tất cả chúng ta.  Sự tự kỷ luật đáng kinh ngạc mà rất nhiều vị thánh đã thể hiện và những thử thách bên ngoài mà họ phải chịu đựng sẽ đặt vào góc nhìn thích hợp về những sự bất tiện và sự thiếu thốn nho nhỏ mà chúng ta phải trải qua để theo đuổi việc học hỏi.

Trong số những người cao quý nhất và thánh thiện nhất mà chúng ta nên cố gắng noi gương là Thánh Tôma Aquinô về cách noi gương Chúa Kitô.  Thánh Tôma đã hết lòng thi hành tài năng tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho.  Ngài là tu sĩ linh mục thuộc Dòng Thuyết Giáo của Thánh Đa Minh, dòng này có phương châm Veritas (chân lý, sự thật), được duy trì bằng việc nghiên cứu như một trong bốn trụ cột (các thứ khác là cầu nguyện, cộng đồng và rao giảng).  Đặc sủng Đa Minh, với xu hướng trí tuệ, đã gần gũi nhất với trái tim và khối óc của tôi từ khi tôi được các Nữ tu Đa Minh dạy dỗ ở trường học.

Tuy nhiên, tôi tạ ơn Chúa vì những đặc sủng và món quà tuyệt vời của tất cả các dòng tu thánh thiện và các thánh mà các dòng đã sản sinh.  Khó mà không được thôi thúc bởi cuộc sống vinh quang và những việc làm yêu thương của Thánh Biển Đức và các tu sĩ dòng Biển Đức, Thánh Phanxicô và các tu sĩ dòng Phanxicô, Thánh Inhaxiô và các tu sĩ Dòng Tên, và rất nhiều dòng khác được hình thành tại nhiều quốc gia qua nhiều thế kỷ.

Dĩ nhiên, các vị thánh vĩ đại không chỉ là thành viên của các dòng tu.  Trên thực tế, có những vị thánh vĩ đại từ mọi thời đại kể từ khi Đức Kitô thiết lập Giáo Hội, từ hầu hết mọi quốc gia, cả nam và nữ, và từ hầu hết mọi nghề nghiệp và địa vị trong cuộc sống.  Hơn nữa, có những vị thánh đã chịu đựng và chiến thắng hầu như mọi khó khăn, đau khổ, bệnh tật, hoặc rối loạn mà bạn và tôi có thể phải đối mặt.

Có những lý do rất đúng để chúng ta có thể tìm một vị thánh bảo trợ cho hầu hết mọi thứ.  Theo Thánh Tôma, điều quan trọng nhất là chúng ta phải theo dõi họ, tìm ra những bài học và nguồn cảm hứng mà họ giữ cho chúng ta.  Chúng ta có thể học hỏi rất nhiều điều từ các vị thánh mà chúng ta có thể xác định gần gũi và đôi khi là những người có vẻ rất khác với chúng ta.

Nếu tôi có thể đưa ra một ví dụ cá nhân, tôi thường say mê nghiên cứu các bài viết của Thánh Albertô Cả và Thánh Tôma Aquinô, hai trong các bộ óc uyên thâm nhất trong lịch sử.  Vài năm trước, khi tôi được yêu cầu thuyết trình về Thánh Martin de Porres (1579–1639) cho một nhóm tu sĩ Đa Minh.  Tôi biết vị thánh này sống ở Peru, và tôi biết rằng trong khi Thánh Albertô và Thánh Tôma thường được mô tả cầm một quả địa cầu hoặc một nhà thờ, hoặc một cuốn sách đồ sộ trên tay, thì Thánh Martin thường được mô tả cầm một cây chổi.  Tôi không chắc mình sẽ mong đợi điều gì khi tìm hiểu sâu về cuộc đời của vị thánh này, nhưng những gì tôi khám phá ra vượt quá những ước mơ mạnh mẽ nhất của tôi.  Vị thánh vĩ đại có chủng tộc hỗn hợp này là nhà vô địch trong việc thu hút người giàu, người nghèo, người trung lưu, nô lệ Phi châu, các nhà cai trị Tây Ban Nha và các dân tộc bản địa của Peru.  Lòng yêu động vật của ngài đem lại niềm vui cho bất kỳ vị thánh nào thuộc dòng Phanxicô hoặc người Ai-len.  Trong khi vui vẻ quét nhà, ngài cũng rất thành thạo với con dao mổ của bác sĩ phẫu thuật mà các tổng giám mục đã mời ngài tới khi ốm đau.

Có lẽ điều ngạc nhiên lớn nhất của tôi về Thánh Martin vì ngài khiêm tốn, yêu thương, cũng yêu mến Thánh Tôma, và rất thông thạo các bài trong bộ Tổng Luận Thần Học, đôi khi cung cấp các trích dẫn hoặc giải thích cho các sinh viên chủng viện khi ngài thảo luận về sự bối rối của họ trong lúc ngài vẫn dọn dẹp hoặc quét các tầng lầu.

Cũng như Thánh Martin về một số phương diện, một vị thánh khác mà tôi yêu mến là Thánh Têrêsa Lisieux (1873–1897), Bông Hoa Nhỏ khiêm nhường và yêu thương.  Đáng chú ý là nữ tu này qua đời khi còn quá trẻ mà được tôn vinh giống như Thánh Albertô và Thánh Tôma, trong số vài chục tiến sĩ hoặc những người thầy vĩ đại của Giáo Hội.  Thánh Catarina Siena (1347–1380) cũng vậy, mặc dù bà không được giáo dục chính thức và thậm chí mãi tới lúc 12 tuổi mới học đọc, học viết.

Quả thật, các thánh là sự giúp đỡ lớn cho Thánh Tôma, theo những cách nổi bật nhất.  Người bạn Reginald, và là thư ký của Thánh Tôma, đã báo cáo rằng có lần Tôma cảm thấy bối rối suốt nhiều ngày về việc giải thích một đoạn văn trong sách Isaia khi viết bình luận về sách đó.  Một đêm nọ, khi thức ở trong phòng để cầu nguyện, Reginald nghe thấy Tôma nói lớn như đang nói với mình, với những người khác trong phòng, mặc dù Tôma không phát ra tiếng nói.

Ngay sau khi tiếng nói ngừng lại, Tôma gọi: “Reginald, hãy đứng dậy và mang cho tôi ánh sáng với lời bình luận về Isaia; tôi muốn anh viết cho tôi.”  Reginald đứng dậy và bắt đầu viết theo lời Tôma đọc, lời lẽ rõ ràng đến mức như thể đang nhìn vào sách mà đọc vậy.

Khi Reginald liên tục hỏi Tôma về những giọng nói đã nghe thấy, Tôma trả lời: “Thánh Phêrô và Thánh Phaolô được cử đến gặp tôi và nói với tôi tất cả những gì tôi muốn biết.”

Dĩ nhiên, lý do chính mà chúng ta nên noi gương các thánh là tất cả họ đều trở nên thánh thiện nhờ noi gương Đức Kitô.  Trước hết, chính là Đức Kitô , Đấng mà họ giúp chúng ta noi gương, bằng cách cho thấy một cuộc sống tập trung vào Đức Kitô có thể thực hiện được như thế nào ở mọi nơi trên thế giới vào bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.

Thánh Phêrô đã trả lời khi Đức Kitô hỏi ông có bỏ Ngài không, ông nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?  Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6:68)  Thánh Phaolô đã tuyên bố: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá.  Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2:19-20)  Bạn sẽ nhớ lại rằng chính Đức Kitô là Đấng mà Thánh Tôma gọi là người vĩ đại nhất trong tất cả những người thầy, người dạy dỗ qua lời nói và việc làm.  Tất cả chúng ta đều được mời gọi noi gương Ngài trước hết.

Trong tuyệt phẩm Summa Theologica – Tổng Luận Thần Học, Thánh Tôma cẩn trọng cân nhắc các lời tuyên bố của nhiều vị thánh vĩ đại ở Tây phương và Đông phương, từ Thánh Augustinô đến Thánh Giêrônimô, Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả đến Thánh Gioan Chrysostom, Thánh Athanasiô, Thánh Grêgôriô Nazianzen, và nhiều vị thánh khác.  Hơn nữa, ngài tìm kiếm sự thật và những viên ngọc của sự khôn ngoan trong các bài viết của những người mà ngài biết không có đầy đủ chân lý của Giáo Hội Công giáo.  Những người này bao gồm các nhà tư tưởng như người ngoại giáo Aristotle của Hy Lạp, người ngoại giáo Cicero và Seneca của La Mã, và nhiều người khác nữa; Maimonides của Do Thái; Averroes và Avicenna của Hồi giáo Ả Rập.  Thánh Tôma trân trọng những sự thật ở bất cứ nơi nào chúng có thể được tìm thấy, và thực sự đây là một dấu ấn của Giáo Hội Công giáo.  Sự mặc khải sợ hãi không có sự thật của lý trí, vì chỉ có một sự thật.

Gần với thời đại của chúng ta, Thánh Gioan Phaolô II đã nêu ra ý chính trong châm ngôn của Thánh Tôma một cách trang nhã nhất:

“Nghiên cứu kỹ lưỡng hơn cho thấy rằng ngay cả trong tư duy triết học của những người đã giúp thúc đẩy niềm tin và lý trí xa nhau hơn, đôi khi người ta vẫn tìm thấy những hiểu biết quý giá và tinh tế, nếu được theo đuổi và phát triển với tâm trí và con tim được điều chỉnh đúng cách, có thể dẫn đến việc khám phá ra con đường sự thật.

Một số thần học gia thời Thánh Tôma đã phê phán việc sử dụng triết học của ngài nói chung, và của Aristotle nói riêng, để phục vụ thần học.  Họ cho rằng ngài đang pha loãng rượu của tri thức thần thánh với nước của tri thức nhân loại.

Tuy nhiên, Thánh Tôma biết rằng chỉ có một sự thật và sự thật của đức tin không bao giờ có thể mâu thuẫn với lý trí, nhưng lý trí có thể giúp lôi kéo một số người đến với đức tin và giúp làm sáng tỏ các nguyên tắc thần học cho các tín hữu.  Ngài không tin rằng triết lý cao quý của những người cao quý đã làm loãng đức tin, nhưng đúng hơn, những ai sử dụng các học thuyết triết học trong Kinh Thánh để phục vụ đức tin thì không được pha nước với rượu, nhưng thay nước bằng rượu.”

Cầu mong chúng ta, giống như Thánh Tôma, khát nước trong veo và lấp lánh của lý trí, làm cho rượu của tri thức thần thánh và rượu trên các loại rượu trở thành chính Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể!

Đây là hai điều để các vị thánh có thể đi vào linh hồn bạn:

  1. PHẢN ÁNH

Bạn có một dòng tu yêu thích mà đặc sủng của họ kêu gọi bạn?  Nếu có, bạn đã xem xét việc tham gia với tư cách là hội viên?  Bạn có một số vị thánh yêu thích?  Nếu có, gần đây bạn đã làm gì để noi gương họ, đặc biệt là đối với việc họ theo đuổi chân lý?  Nếu không, bạn có thể cân nhắc tìm kiếm một số vị thánh mới để học hỏi và cầu xin sự chuyển cầu của họ?  Thế giới của chúng ta đang rất cần các vị anh hùng thánh thiện.

  1. ĐỌC SÁCH

Gần đây, bạn có dành thời gian để đọc tiểu sử của một vị thánh không quen thuộc với bạn hoặc một cuốn sách mới về một vị thánh bạn yêu thích?  Có rất nhiều tiểu sử để lựa chọn.  Nếu bạn có xu hướng về tiểu thuyết, tôi nhận thấy các tác phẩm của Louis de Wohl cũng khai sáng và truyền cảm hứng cũng như mang tính giải trí.  (Sách yêu thích của tôi?  Chắc bạn có thể đoán, đó là cuốn The Quiet Light (Ánh Sáng Tĩnh Lặng, nói về Thánh Tôma Aquinô.)  Gần đây, bạn có đọc các tác phẩm của chính các vị thánh – chẳng hạn Thánh Tôma, hoặc tất cả thế giới của những người khác?  Gần đây bạn có đọc Phúc Âm hoặc sách hay về Chúa Giêsu Kitô?

Nếu bạn muốn noi gương Chúa Kitô, một trong các tác phẩm kinh điển về tâm linh nhất thế giới là cuốn Imitation of Christ (Gương Chúa Giêsu) của tác giả Thomas à Kempis. S ách đã được tái bản rất nhiều lần qua nhiều thế kỷ, mới đây có phiên bản được bổ sung và sống động hơn với các tập được nghiên cứu kỹ lưỡng và viết kỹ về cuộc đời của Thomas à Kempis, với các tình tiết xung quanh việc tạo ra cuốn sách sùng kính đơn giản nhưng sâu sắc này.  Tác phẩm mới này của Timothy E. Moore.

Tiến Sĩ Kevin Vost – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

Kính mừng Thánh Tiến Sĩ Tôma Aquinô – 2021

From: Langthangchieutim

VỊ LINH MỤC VIỆT NAM RẤT ĐẶC BIỆT VÌ CÓ CHA THUỘC ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÓ MẸ THUỘC ĐẠO PHẬT

Nguyễn Văn Hùng

Nhất gia tam Đạo. Tam nhân tam Tôn. Gia đình liên Tôn. Một gia đình ba Tôn giáo. Ba thành viên trong cùng một gia đình lại thuộc ba Tôn giáo khác nhau.

Chuyện lạ không tưởng này đã xảy ra trong gia đình cha Phêrô Giuse Maria HÀ THIÊN TRÚC, đương kim Chánh xứ Martinô và nguyên là Phó xứ Hàng Xanh thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Quả vậy, cha Trúc đã xuất thân trong một gia đình có thân phụ là một tín đồ thuộc Đạo Cao Đài và thân mẫu thuộc Đạo Phật.

Ngài nguyên là một bác sĩ y khoa có tâm và kiêm là một ca sĩ hát rất chân tình.

Cha ngài vì muốn con trai trưởng thành về tâm linh và vững mạnh về kiến thức nên đã đặt tên ngài là Thiên Trúc, tên cũ của Ấn Độ, một quốc gia Phật Giáo.

Cả ông cố và bà cố đều tôn trọng niềm tin của nhau, cùng sùng Đạo của riêng mình và đã tôn trọng sự chọn lựa tâm linh của các con, nên đã vui vẻ chấp nhận cho con trai mình là Hà Thiên Trúc được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội để gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Chính Chúa Giêsu đã phán: “Cây tốt thì sinh trái tốt. Xem quả thì biết cây” (Lc 6, 43-44). Ông bà cố bố mẹ cha Trúc quả thật rất tốt lành. Hiện nay cả hai ông bà cố đều đã an nghỉ. Lễ tang của ông bà cố đã được cử hành theo nghi thức của riêng Đạo mình.

Cha Trúc đã từng sống bên những người Công giáo đạo đức thánh thiện, đã được nghe biết về Chúa Giêsu cách sâu xa ấn tượng thuyết phục.

Chính vì thế mà cha Trúc đã gia nhập Đạo Công giáo vào năm 19 tuổi với sự chấp thuận, tôn trọng và ủng hộ rất vô tư của cả cha lẫn mẹ.

Ngài được Rửa tội ở Giáo xứ Tân Định, Sài Gòn năm 1989 và được gia nhập vào Giáo xứ này.

Không dừng lại ở đó, cha còn say mê Đạo Công giáo đến nỗi đã muốn trở thành một Linh mục để phục vụ nhằm đem ơn cứu độ cho nhân thế.

Cha đã được cha sở Gioan Baotixita Võ Văn Ánh giới thiệu vào Đại Chủng viện dưới sự dìu dắt tận tình vô tư trước đó của cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn.

Chính cha Lạn đã khuyến khích, đã nâng đỡ, đã hướng dẫn bác sĩ Hà Thiên Trúc trong những bước đầu của ơn gọi linh mục.

Và cuối cùng, sau 20 năm liên lỷ tận tụy theo Chúa, cha đã được truyền chức Linh mục vào ngày 19.06.2009. Năm nay 2021, cha vừa tròn 12 năm được làm Linh mục.

Vậy là cha Trúc tuy đang có một tương lai xán lạn, cũng đang phục vụ, mang lại an ủi cho nhiều bệnh nhân, nhưng đã chọn đi tu trở thành linh mục, và có lẽ đã làm nhiều người thắc mắc, khó hiểu.

Vậy là bác sĩ Trúc từ việc chữa lành thể xác con người cách chóng qua lại trở nên “bác sĩ” chữa lành tâm linh con người cách Vĩnh cửu.

Vậy là cha Trúc từ là người không hiểu gì về Đạo Công giáo đã trở thành thầy dạy sâu sắc về Đức tin Công giáo.

Khẩu hiệu đời linh mục mà cha đã chọn lại chính là những câu ca ngợi Thiên Chúa của Đức Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa” (Lc 1,46).

Sở dĩ cha Trúc có đến 3 tên Thánh vì cha rất yêu thích Thánh Phêrô, rất sùng kính Đức Mẹ và tri ân cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn nên đã chọn tên Thánh Giuse để tưởng nhớ cha cố.

Cha đã thành tâm thiện chí tìm hiểu Đạo Công giáo nên đã khiến cha hết sức thán phục và quyết định gia nhập Đạo.

Hiện nay cha Trúc còn là thành viên tích cực của ủy ban đối thoại liên Tôn thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn và là phó Linh giám hội Legio Mariae Việt Nam.

Cha Trúc khi còn là một Chủng sinh đã từng chân thành tâm sự như sau:

“Ba con rất sùng đạo Cao Đài, ăn chay trường, đạo đức, có ước muốn con cái giúp ích cho đời (như: đặt tên chị con là “Thanh Tuyền” với ước mong phục vụ vô vị lợi cho đời như “dòng suối trong” chảy hoài không ngưng nghỉ, và hiện chị con là bác sĩ đang giúp ích rất nhiều cho các bệnh nhân và cho xã hội trong lãnh vực ngoại thần kinh và chẩn đoán hình ảnh).

“Và ba con cũng đã giác ngộ trên đường Đạo nên có ước mong các con cái sẽ được thăng tiến trong đời sống tâm linh (như đặt tên con là “Thiên Trúc”, tên cũ của Nước Ấn Độ – cái nôi của Phật giáo).

“Má con cũng là người sùng đạo Phật, đã dẫn các con cái quy y Phật. Má cũng thường đi học và nghe thuyết pháp về Phật giáo vào các chiều chủ nhật hàng tuần ở chùa Xá Lợi. Bản thân con cũng được má con dẫn quy y Phật vào năm học lớp 6, pháp danh “Thiện Tuấn”.

“Ba má con rất quan tâm, chăm sóc, giáo dục nhiều cho các con cái về tri thức và đạo đức.”

Cha Trúc chính là chứng nhân cho câu nói của Thánh Phê-rô: “Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận!” (Cv 10, 34-35).

Hồng ân Chúa vẫn ngày ngày tuôn đổ như nắng như mưa xuống trần gian không phân biệt.

Bất cứ ai thành tâm thiện chí mở rộng tâm hồn, thì sẽ được đón nhận dồi dào ơn Chúa.

Chúng ta cùng nhau thành tâm cúi đầu tạ ơn Chúa, ngợi khen Chúa, chúc mừng cha Thiên Trúc, cám ơn sự thiện chí của cha, cám ơn sự quảng đại của ông bà cố, rồi cầu cho cha, cho ông bà cố và tất cả chúng ta ngày càng gần trái tim Chúa hơn.

Ước được như vậy. Amen.

Giuse Thanh Bình

(Bài viết có tham khảo một số nguồn tin).

Tự hào quá Việt Nam ơi!

Mai Văn Rê

Các báo VN hôm nay đồng loạt đưa tin: một cổng chào trong hạng mục trang trí mừng năm mới cao 5 m, rộng khoảng 15 m của TP Nha Trang bất ngờ đổ sập vào tối mùng 6 Tết. Rất may là không có ai bị thương vong.

Năm mới có cổng chào, và tỉnh, huyện nào cũng thi nhau xây dựng các cổng chào của địa phương mình rất hoành tráng, tốn kém; chưa kể hằng hà các tượng đài…ở các tỉnh nghèo mà hàng năm phải xin cứu đói.

Lãng phí và tham nhũng đã ăn hết vào nguồn lực của đất nước, nhưng người dân thì vẫn tiếp tục bị tuyên truyền lừa dối : “Mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời vẫn đang tỏa sáng ở Việt Nam”…

Nhân đây cũng muốn so sánh: chỉ một cổng chào tỉnh Quảng Ninh với trị giá 200 tỷ (ảnh 1), đắt gấp nhiều lần cổng chào của 50 tiểu bang Mỹ cộng lại.

Đừng sợ, vì bạn đẹp lòng Thiên Chúa, vì bạn quan trọng đối với Thiên Chúa!

 Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Sợ hãi đang vây bủa cuộc đời, đang nhan nhản hiện diện ở khắp mọi nơi: trong gia đình, nơi học đường, tại hãng xưởng và ngay cả trong những nơi tưởng rằng là thánh thiêng nhất. Giữa những “con sóng” tạo nên rất nhiều sự sợ hãi này, một gợn sóng nhỏ trỗi dậy với âm thanh dịu dàng nhưng rất mạnh mẽ: Đừng Sợ!

Lời này Chúa đã nói với ông Da-ca-ria, với Mẹ Maria và sau này với cả các môn đệ lênh đênh trên biển đời đầy hiểm nguy. Hôm nay lời này cũng nói với từng người trong chúng ta, khi chúng ta đang bị biết bao luồng gió gây sợ hãi đe doạ và đang manh nha cuốn phăng chúng ta. Nhưng dù thế nào, chúng ta vững vàng và xác tín rằng: Thiên Chúa rất yêu thương chúng ta, Người không bao giờ quên chúng ta cả, vì mỗi  người trong chúng ta rất quan trọng đối với Thiên Chúa. Vì thế, bạn ơi đừng sợ nhé! Chúa kìa đang ở bên bạn, ở trong trái tim của bạn đó.

Để đi sâu vào trong sứ điệp cao quý của hai từ “Đừng sợ”, chúng ta cùng chiêm ngắm Mẹ Maria, để rồi với ơn Thánh Thần Chúa, chúng ta rút ra được những tâm tình thật đẹp, thật mạnh mẽ và dịu dàng của Thiên Chúa, Đấng quyền năng và giàu lòng thương xót nói với chúng ta.

“Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa”. Đức Maria, Đấng đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng đầy ân sủng được Thiên Chúa tuyển chọn. Ân sủng của Chúa làm cho Mẹ trở nên người phụ nữ tràn đầy phúc lành hơn mọi phụ nữ, và ân sủng của Thiên Chúa làm cho Mẹ không hãi sợ, để Mẹ can đảm đón nhận sứ mạng Chúa trao. “Đừng sợ” là lời trấn an, là sứ điệp của Thiên Chúa đem lại sức mạnh và niềm tin tưởng cho mỗi người chúng ta.

Hôm nay lời ‘Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa’ cũng dành cho chúng ta. Hơn nữa, lời này là một lời quan trọng đối với chúng ta trong xã hội hôm nay, vì sự sợ hãi đang vây bủa xung quanh chúng ta. Chúng ta sống trong thời gian của nhiều đổi thay ở mọi phương diện của cuộc sống. Nhiều điều nền tảng bị lung lay. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Dựa vào đâu để tôi còn có thể hy vọng? Nơi đâu còn có thể tin tưởng? Cái gì gìn giữ và nâng đỡ tôi đây?.

Câu trả lời là: xin đừng sợ, vì bạn đẹp lòng Thiên Chúa, vì bạn quan trọng đối với Thiên Chúa.

Đừng sợ hãi, ân sủng của Thiên Chúa nói với chúng ta rằng: Kìa có một Đấng đang muốn bạn được sống thật tốt. Đó là Đấng Hiện Hữu, chứ không phải là một cái bóng nào cả. Đấng đó là Thiên Chúa, là mầu nhiệm sâu nhất và là Chúa của mọi tạo vật. Thiên Chúa mong muốn cho bạn một cuộc sống tốt lành. Ngài giữ gìn và nâng đỡ. Ngài yêu thương bạn và đã chọn bạn từ muôn thuở, Ngài đã ghi khắc bạn trong lòng bàn tay Ngài, như đã được nói đến nơi ngôn sứ I-sai-a: “Hãy xem, Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,16).

Không bao giờ Thiên Chúa quên bạn. Không bao giờ đâu bạn ơi!

Hơn nữa, Thiên Chúa không chỉ ở bên bạn và ở với bạn, mà Ngài còn ở trong bạn nữa. Ngài đã tự chia sẻ và tự ban tặng chính Ngài cho bạn. Ngài sống trong bạn và trong trái tim của bạn, vì bạn rất đẹp lòng Ngài và vì bạn rất quan trọng đối với Ngài, Đấng tạo dựng nên bạn và luôn yêu thương bạn.

Hơn nữa, Bạn chính là đền thờ của Chúa Thánh Thần và bạn luôn được Thiên Chúa chúc phúc.

Thật vậy, lời chúc phúc của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người, cho Mẹ Maria, cho bạn và cho tôi. Thiên Chúa chúc phúc cho mỗi người chúng ta với tất cả phúc lành của Chúa Thánh Thần, qua sự hiệp thông với Đức Ki-tô ở trên thiên quốc. Thánh Phao-lô nói với chúng ta rằng: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1,4-6).

Thiên Chúa đã chọn mỗi người chúng ta, Thiên Chúa đã ghi khắc mỗi người chúng ta trong bàn tay nhân ái của Chúa. Với Thiên Chúa, mỗi người chúng ta thật quan trọng. Trong sâu thẳm của tình yêu vô điều kiện, mỗi người chúng ta rất đẹp lòng Thiên Chúa, dù cho cuộc đời này có “tô lên” bất cứ “màu gì” trên trang sách cuộc đời chúng ta.

Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và người Cha nhân ái luôn ở bên chúng ta, là con cái của Người.

Như thế, là người con của Thiên Chúa, là người em của Chúa Giê-su và là người luôn sống trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng ta sống và đi từng bước trên hành trình đời này cùng với Mẹ Maria.

Thật đẹp thay, khi được ở bên Mẹ và chúng ta luôn ôm ấp lời Thiên Sứ của Chúa dành cho Mẹ và cho chúng ta:

“Bạn ơi, xin đừng sợ, vì bạn đẹp lòng Thiên Chúa, vì bạn rất quan trọng đối với Thiên Chúa”.

From: Phan Sinh Trần

Bài học quét lá

Dòng Tên Việt Nam

Một đệ tử mới xin gia nhập vào cộng đoàn tu trì, vị bề trên đáng kính đã giao cho cậu bổn phận quét lá các khoảnh sân quanh nhà mỗi ngày. Vị bề trên dạy cậu rằng:

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường.”

Đệ tử nhiệt huyết gật gù đồng ý, cúi đầu chào vị bề trên rồi cầm cây chổi đặt sát góc tường để thi hành nhiệm vụ của mình cách vui vẻ.

Những ngày đầu đệ tử làm điều này với nụ cười trên môi, gặp ai bước vào khuôn viên tu viện cũng mỉm cười và chào hỏi. Nhưng việc được kéo dài trong vài tháng liên tục thì đệ tử chợt ngán ngẩm. Chỉ cần nghĩ tới chiếc cán chổi bằng thanh tre nhỏ đã phải sởn da gà. Dù không nói gì với vị bề trên, nhưng cậu tỏ lộ điều ấy qua chính nét mặt bực tức của mình. Khách vào tu viện cũng không còn thấy cậu mỉm cười hay chào như trước nữa, có khi khách đến thăm phải bước sát bên gọi tên thì đệ tử mới giật mình chào lại khách.

Một cảm giác chán nản vô vàn và một màu đen tối bủa vây quanh cậu sau mỗi sáng mở mắt ra nhìn cuộc sống. Vẫn tiếng chuông vọng đều gọi mọi người bước vào nguyện đường. Vẫn tiếng các bạn đồng môn nói cười đang khi làm việc bổn phận của họ cách thoải mái. Riêng cậu cảm thấy mình bị bó buộc và nặng trĩu bởi một tư tưởng nào đó khó tả.

“Quét! Quét! Quét!” Mỗi tiếng nói là mỗi nhát chổi đệ tử hằn lên mặt sân với thái độ khó chịu. Cứ ngỡ làm ở một góc chẳng ai nhìn thấy, cậu lại tiếp tục bộc lên ý tưởng: “Sao không chặt bỏ những cái cây quái quỷ này đi để khỏi quét! Quét gì quét hoài!”

Đệ tử không hay vị bề trên đã đứng sau lưng mình từ khi nào. Ngài chỉ thinh lặng với tràng chuỗi trên tay. Khuôn mặt ngài hiền từ và mỉm cười phúc hậu khiến những nếp nhăn hằn lên trán cũng giãn nở theo nụ cười. Vị bề trên đưa bàn tay vịn bờ vai đệ tử, cậu giật mình quay lại, một cảm giác sững sờ trước bề trên và nhất là cậu đoán bề trên đã nghe những gì cậu nói nãy giờ.

Gãi đầu ngại ngùng, cậu ấp úng :

-“Con! Con! Con xin lỗi…!”

Vị bề trên bước tới chỗ ghế đá đặt dưới gốc cây gần chỗ sân đệ tử thường quét, đệ tử rón rén đi theo sau. Một cơn gió thổi mát rượi mang lại một cảm giác dễ chịu. Vị bề trên hỏi :

-“Con! Nếu chúng ta chặt những cành cây này đi thì chắc chắn ta sẽ không còn bóng mát, sẽ không thấy dễ chịu như cơn gió vừa rồi mang đến con nhỉ! Rồi khách đến thăm tu viện sẽ ngồi hóng mát ở đâu? Và… có lẽ họ sẽ thấy vui lắm nếu khoảnh sân trước mặt họ sạch, họ biết có bàn tay ai đó đã dọn sạch khoảnh sân để họ có chỗ lý tưởng để ngồi. Con nghĩ người khách nào đó ngồi ở chiếc ghế này hoặc đi vòng quanh đây có vui không? Nghĩ tới đó con thấy việc mình làm có ý nghĩa lớn lao biết chừng nào con nhỉ!”

Vị bề trên ngừng đôi lúc để cùng đệ tử nghe tiếng gió thổi qua các kẽ lá, cũng để cho đệ tử suy ngẫm đôi lúc. Lát sau ngài nói tiếp :

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường con à!”

From: Phan Sinh Trần

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474 tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội. (Nguồn: Dòng Tên) Mời bạn suy niệm 2 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si).

From: Đỗ Dzũng

Chuyện vui: Hết tết, cổng chào xuân tự động mãn chầu

Theo báo Thanh Niên trong nước:

– Khoảng 19 giờ 30 ngày 27.1, cổng chào mừng năm mới vắt ngang đường Trần Phú, gần cầu Trần Phú, P.Xương Huân, TP.Nha Trang bất ngờ đổ sập.

Cổng chào này dài khoảng hơn 15 m, được dựng vắt ngang đường Trần Phú, khi công trình bị sập khiến một chân trụ của cổng chào bị bật lên khỏi mặt đất.

Nhân dân ta khá bình tĩnh và anh hùng, mọi người tỉnh bơ lái xe qua cổng như không có chi.

Bê tông giữ chân cổng không đủ nặng bật lên khi bị phần nhịp vượt dài 15 mét vặn xoắn và oằn đổ xuống, nhịp dàn 15 mét không đủ sức chịu lực:

Thế là hết xuân,

Cũng rất may, không có ai bị đè.

Bộ sưu tập câu lạc bộ cổng sập của nước ta nay được có thêm một thành viên mới, sau đây là danh sách các thành viện câu lạc bộ “Cổng Sập”:

Cổng chào của Công Viên Đầm Sen gia nhập CLB cách đây 5 tháng

 Cổng chào thành phố Bình Dương, thành viên 2 năm của CLB

Cổng chào hội chợ Festival Vũng Tàu, thành viên 4 năm của CLB

Cổng chào bảo tàng Đắc Lắc, thành viên 2 tuổi của CLB, cổng này bị kẻ xấu xuyên tạc là khi cổng đổ, nó lộ ra tình trạng gian dối trong thiết kế.

Còn nhiều nhưng thôi kể bấy nhiêu, bà con đủ chóng mặt rồi. Vậy xin bạn cho phép thôi liệt kê ở đây.

Thành phố Khánh Hòa thân yêu ơi, bạn không cảm thấy lẻ loi trong vụ sập đầu xuân phải không?

Người hay kể: Phan Sinh Trần.