Ngôn ngữ của miền Nam Việt Nam đang tiếp tục bị xâm thực-Tác Giả: Đỗ Thái Nhiên

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Đỗ Thái Nhiên

Diễn giả Đỗ Thái Nhiên nói chuyện với cử tọa

(BBC NEWS NGÀY 4 THÁNG 3 NĂM 2024)

Tin Tức Về Đại Họa Ngôn Ngữ Địa Phương Bị Xâm Thực

Tháng 3/2022, Bến Bạch Đằng Saigon bị đổi tên thành “Ga Tàu Thủy Bạch Đằng”.

Sự kiện này đã dẫn đến những tranh luận trong dân gian chung quanh đề tài:

Ngôn ngữ Hà Nội (ngôn ngữ miền Bắc) đang làm mờ dần sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ miền Nam Việt Nam.

Ngày 4 tháng 3 năm 2024, BBC NEWS đã phổ biến một bài viết có tựa đề:

“Phương Ngữ Miền Nam Việt Nam đang tiếp tục bị xâm thực”. Bài viết này ghi nhận rằng phương ngữ Hà Nội, phương ngữ đảng thì đúng hơn, đã tràn ngập các bảng chỉ đường, cách viết trên sách giáo khoa, trên báo chí. Sự kiện “xâm thực” kia xin được dẫn chứng bằng một số thí dụ điển hình như sau:

– Miền Nam gọi là bùng binh, Miền Bắc đổi thành vòng xuyến.

– Giao lộ, ngã 4, ngã 5 đổi thành nút giao

– Xe cộ: phương tiện giao thông

– Lái xe: điều khiển phương tiện giao thông

– Con rùa: cá thể rùa

– Đi dạo, đi lang thang: đi phượt

– Đi cổ vũ, đi hoan hô: đi bão

– Đương sự: đối tượng

– Nguyên đơn: bị hại

– Thực hiện nhiêm vụ: bám sát nhiệm vụ

– Có giá trị: chất lượng cao

– Thi hành hữu hiệu: làm rất tốt

Nhà báo Cù Mai Công, nguyên thư ký tòa soạn báo Tuổi Trẻ, một cây bút viết sách về Saigon xưa, nói với BBC News tiếng Việt rằng: nếu kể về ngôn ngữ miền Bắc tràn vào miền Nam thì “nhiều lắm, kể không nổi đâu và cũng không cần kể vì ai cũng thấy, cũng nghe ra rả hàng ngày”.

Vẫn theo bài viết của BBC News, sở dĩ ngôn ngữ đảng CSVN phủ sóng áp đảo trên toàn thể Việt Nam, đặc biệt là trên miền Nam Việt Nam là vì Hà Nội nắm lợi thế của truyền thông, lợi thế của bộ máy nhà nước. Sau đây là ba phương pháp chính yếu giúp Hà Nội thực hiện hành động xâm thực ngôn ngữ của địa phương miền Nam Việt Nam:

1-Nhà nước Hà Nội là chế độ toàn trị. Vì vậy Hà Nội nắm giữ độc quyền giảng dạy và độc quyền in sách giáo khoa cho sinh viên học sinh. Từ đó ngôn và lời của guồng máy giáo dục kia đều là ngôn ngữ đảng. Và cũng từ đó các thế hệ trẻ xuất thân từ hệ thống giáo dục của Hà Nội đều cảm thấy xa lạ mỗi khi nghe nói tới ngôn ngữ địa phương của Việt Nam, nhất là của miền Nam Việt Nam.

2-Nhà nước độc quyền xuất bản sách báo và độc quyền kiểm soát báo chí. Vì vậy muốn cho bài vỡ, sách báo đi qua cửa ải kiểm duyệt một cách êm ả, giới cầm bút tại Việt Nam thường phải viết theo cung cách của đảng, sử dụng ngôn ngữ đảng.

Đây là một quy định ngầm trong giới báo chí.

3-Đài VTV là đài truyền hình quốc gia duy nhất tại Việt Nam. VTV lại được vô số cơ quan truyền thông tiếp vận về địa phương. Điều này giải thích lý do tại sao hầu như toàn bộ truyền thông Viêt Nam đều tuyển dụng nhân viên truyền thanh, truyền hình nói giọng Bắc, viết kiểu đảng, dùng ngôn ngữ của đảng.

Sau cùng xin được nhấn mạnh: Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã long trọng minh định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Rõ ràng Hà Nội thừa biết hành động bôi xóa ngôn ngữ địa phương của miền Nam Việt Nam là một việc làm trái với hiến pháp do chính chế độ Hà Nội viết ra? Thế nhưng, tại sao Hà Nội vẫn quyết liệt hành động một cách có hệ thống? Hà Nội trả lời câu hỏi này bằng cách nêu vấn đề “chuẩn hóa và thống nhất tiếng Việt” như một phương pháp mặc nhiên dẫn đến đoàn kết toàn dân, thống nhất nhân tâm. Lời lẽ biện minh kia của Hà Nội có thỏa đáng và nghiêm chỉnh hay không? Người cầm bút xin được bình giải thắc mắc vừa kể ở phần nói về nhận thức đối với hiện tượng ngôn ngữ miền Nam Việt Nam bị xâm thực.

Nhận Định Về Đại Họa Xâm Thực Ngôn Ngữ Địa Phương

Nhận định về sự kiện ngôn ngữ miền Nam Việt Nam bị xâm thực, chúng ta không thể không khảo sát mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

Trái nghĩa với văn minh là dã man. Dã man là tình huống sống không có sự khác biệt giữa đời người và kiếp vật. Với đà tiến hóa của lịch sử, con người bắt đầu nhận ra đời người cần phải được tổ chức khác hẳn và cao cấp hơn kiếp vật. Từ đó ý niệm văn minh ra đời: văn minh là khoảng cách biệt trong sinh sống giữa đời người và kiếp vật. Và cũng từ đó mọi suy nghĩ và hành động nhằm làm cho xã hội loài người hóa thành văn minh hơn gọi là văn hóa.

Văn hóa qua sự truyền đạt của ngôn ngữ xác quyết rằng: điểm trội yếu của văn minh là sự đòi hỏi mọi người (cá nhân và pháp nhân tư nhân) sanh ra đều bình đẳng và rằng bình đẳng hàm ý bình đẳng về cơ hội sống: đời sống tinh thần và đời sống thể chất.

Xã hội loài người khởi đi từ bộ lạc, tiến lên làng xã rồi mới đến quốc gia. Nói rõ ra địa phương có trước quốc gia, đia phương là gốc rễ của quốc gia. Không có địa phương, không thể có quốc gia.

Mặt khác, Không có bất kỳ ngôn ngữ nào không xuất phát từ một địa phương cụ thể.

1-Ngôn ngữ là gạch nối giữa con người với con người.

2-Ngôn ngữ là phương tiện gói ghém phong tục tập quán, văn hóa địa phương và nhất là lòng yêu thương quê cha đất tổ.

3-Ngôn ngữ là chỉ dấu của tự do tư tưởng, tự do biểu tỏ trí thông minh và óc sáng tạo.

4-Ngôn ngữ là linh hồn của văn hóa địa phương.

Những điều vừa trình bày nói lên sự cách biệt giữa đời người và kiếp vật, đây là văn hóa. Ngôn ngữ đan quyện vào văn hóa, làm cho văn hóa được hiển lộ. Ngôn ngữ đích thực là linh hồn của văn hóa. Xâm thực ngôn ngữ địa phương chính là thủ tiêu sinh mệnh văn hóa của địa phương.

Nếu quốc gia là một guồng máy thì địa phương là những cơ phận của guồng máy kia. Trong trường hợp sinh hoạt của địa phương không tồn tại trên căn bản độc-lập-nhưng-liên-lập thì địa phương hiển nhiên là những gốc cây khô và quốc gia chỉ là quốc gia không gốc rễ, quốc gia do chế độ độc tài nhào nặn ra.

Từ mỗi địa phương lên đến quốc gia, tất cả đều được hình thành bởi hai yếu tố:

Linh hồn đia phương: lòng yêu thương dãy núi, bờ sông, hàng tre, ruộng lúa, yêu đồng quê, yêu tổ quốc, yêu đời sống tự chủ, yêu phong tục tập quán, yêu ngôn ngữ vùng miền, yêu cảnh quang quê cha, đất tổ, yêu “phép vua thua lệ làng”… Nói chung là yêu và sống quấn quyện trong văn hóa. Văn hóa thăng hoa sản sinh ra văn, thi, nhạc, họa.

1-Văn là ngôn ngữ của bút mực.

2-Thi là ngôn ngữ của vần điệu.

3-Nhạc là ngôn ngữ của âm thanh.

4-Họa là ngôn ngữ của màu sắc.

Ngôn ngữ thực sự là linh hồn của bốn viên ngọc quý, của văn hóa, là linh hồn của mỗi địa phương.

Hành chánh địa phương: (Cơ thể địa phương) cơ quan công quyền địa phương.

Hội đồng xã, xã trưởng, phó xã trưởng, các tiểu ban: y tế, giáo dục, an ninh, trật tự… tổ chức và điều động đời sống cho muôn dân.

Từ sau 30/04/1975, CSVN nắm giữ toàn bộ guồng máy hành chánh Việt Nam từ trung ương tới địa phương. Riêng linh hồn của đia phương, nói theo kiểu Võ Văn Kiệt “bên cạnh một triệu người vui có một triệu người buồn”. Lòng dân ly tán. Vì vậy, nhằm làm biến mất một triệu nỗi buồn kia CSVN đã chiếm giữ linh hồn của địa phương bằng cách xâm thực phương ngữ, đặc biệt là phương ngữ miền Nam Việt Nam. Xin nhấn mạnh phương ngữ là linh hồn của văn hóa địa phương. Như vậy 30/4/1975 CSVN chiếm giữ cơ thể (hành chánh) Việt Nam.

Ngày nay bằng hành động xâm thực phương ngữ Việt Nam, CSVN đang

chiếm giữ linh hồn Việt Nam. Do đó, CSVN đã thực hiện được tham vọng chiếm giữ cả cơ thể lẫn linh hồn Việt Nam.

Sự thể này dẫn đến hệ quả đời sống tình cảm của người Việt Nam: tình yêu con cái đối với cha mẹ , tình bằng hữu, tình yêu nam nữ, yêu quê hương, yêu bờ cây bụi cỏ, yêu địa phương, yêu tổ quốc đều bị triệt để bôi trắng… Sau một loạt bôi trắng kia cộng với giáo dục nhồi sọ, trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam sống dưới chế độ Cộng Sản chỉ còn lại một loại tình yêu đơn độc đến lạ lùng: yêu tổ quốc tức yêu xã hội chủ nghĩa. Nói ngắn và gọn toàn dân chỉ có một nghĩa vụ duy nhất phải tuân hành: yêu đảng và trung với đảng.

Người Việt Nam Nghĩ Gì Và Làm Gì Trước Đại Họa Xâm Thực Ngôn Ngữ Địa Phương

Xin được nhắc lại: Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã long trọng minh định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Rõ ràng Hà Nội thừa biết hành động xâm thực ngôn ngữ địa phương của miền Nam Việt Nam là một việc làm trái với xu thế sống bình thường của loài người. Hành động vừa kể của chế độ Hà Nội đã thực sự chống lại điều 1 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10 tháng 12 năm 1948: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng”. Mọi người bao hàm cá nhân và pháp nhân tư nhân (gia đình, làng xã, địa phương). Bình đẳng có nghĩa là mọi người đều được tôn trọng như nhau. Mỗi người là một nguyên. Nguyên là đầu, là trước tiên: nguyên thủ quốc gia, tết nguyên đán (ngày đầu năm), nguyên nguyệt (tháng giêng)… Mọi người đều là nguyên, đều có quyền bình đẳng. Dân số hàng triệu người là hàng triệu nguyên. Vì vậy xã hội ắt phải đa nguyên. Làm sao lý tưởng đa nguyên được thực thi? Hãy tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu bằng cách khảo sát đời sống của một gia đình. Gia đình phụ hệ: mọi quyết định về quyền lợi của gia đình đều nằm trong tay người cha. Nếu tổ chức gia đình được hình dung như một kim tự tháp thì người cha ngự trên đỉnh kim tự tháp, mẹ và con cái an phận nằm ở đáy kim tự tháp. Trong gia đình kim tự tháp, đời sống tự giác của mẹ và con cái của mẹ đều bị triệt tiêu.

Theo đà phát triển của nhân văn, gia đình kim tự tháp đang nhanh chóng chuyển đổi thành gia đình hạch tâm (nuclear family). Hạch tâm còn gọi là nguyên tử vật chất. Hạch tâm gồm các điện tử âm, điện tử dương và trung hòa tử xoay quanh nhân nguyên tử theo một trật tự bền bỉ, không lãnh tụ, mỗi điện tử di chuyển trên quỹ đạo riêng, không lấn át lẫn nhau. Tương tự như vậy, trong gia đình hạch tâm: Cha, mẹ, con cái mỗi người là một cơ phận của gia đình, mỗi người là một nguyên. Mọi quyết định của gia đình đều lấy quyền lợi chung của gia đình làm chuẩn mực duy nhất trong việc dẫn đạo gia đình. Điều này giải thích lý do tại sao gia đình hạch tâm không có gia trưởng nhưng vẫn bình ổn.

Bây giờ, chúng ta hãy phóng chiếu mô thức gia đình hạch tâm lên địa bàn quốc gia để có được sự chuyển đổi từ hành chánh kim tự tháp lên hành chánh hạch tâm.

Xã hội hạch tâm chính là môi trường thích nghi trong việc tạo điều kiện để mỗi địa phương là một nguyên của quốc gia đa nguyên. Trong quốc gia đa nguyên, tất cả văn hóa địa phương (ngôn ngữ địa phương là linh hồn) đều được tự do vận động và phát triển, không có vấn đề ngôn ngữ đảng xâm thực ngôn ngữ địa phương.

Câu hỏi kế tiếp: Tất cả ngôn ngữ địa phương đều được tư do vận động và phát triển, như vậy, đâu là con đường tiến đến thống nhất ngôn ngữ Việt Nam? Thưa rằng Bạn hãy hình dung ngôn ngữ như một guồng máy, mỗi ngôn ngữ địa phương là một cơ phận của guồng máy ngôn ngữ kia. Những giao dịch trong guồng máy vừa kể đã đãi lọc các loại phương ngữ của quốc gia để cuối cùng sản sinh ra ngôn ngữ Việt Nam thống nhất. Cứ như vậy, phương ngữ tiếp tục giao thoa, tiếp tục đãi lọc lẫn nhau và tiếng Việt tiếp tục thống nhất trong sinh sinh hóa hóa. Đây chính là chân ý nghĩa của sinh ngữ trong ngôn ngữ.

Thống nhất ngôn ngữ phải là kết quả của quá trình đãi lọc các phương ngữ trên căn bản tôn trọng tính sinh ngữ của ngôn ngữ. Quan điểm này là sự phản kháng mạnh mẽ mọi hành động thống nhất ngôn ngữ bằng cách dùng “ngôn ngữ đảng” để xâm thực những phương ngữ khác trên toàn Việt Nam. Ngôn ngữ là linh hồn của văn hóa. Thống nhất ngôn ngữ nhưng vẫn bảo vệ được tính sinh ngữ của ngôn ngữ là phương pháp khoa học và thích nghi nhất trong công việc vừa xây dựng ngôn ngữ chung vừa giúp cho văn hóa liên tục phát triển trong phong phú, thông minh và sáng tạo.

Quần chúng sản sinh ra văn hóa. Văn hóa địa phương là cỗi gốc của văn hóa quốc gia. Văn hóa từ đảng ban bố xuống địa phương thông qua “đảng ngữ” là văn hóa phản xu thế sống, phản nhân văn.

Câu chuyện “đảng ngữ” xâm thực phương ngữ Việt Nam với hậu ý “đảng hóa văn hóa Viêt Nam” đã mở ra trong tâm trí người Việt hải ngoại nghĩa vụ phục hoạt văn hóa truyền thống của Tổ Tiên Việt.

Phục hoạt văn hóa Việt theo chỉ hướng nào? Thưa rằng: tất cả những gì phục vụ đời sống của con người, những gì thuận theo lòng người đều hàm chứa trong văn hóa Việt. Điều này đã giải thích tại sao nhạc vàng của miền Nam Việt Nam trước

1975 vẫn lừng lững phục sinh mặc cho mọi nỗ lực triệt để ngăn cấm của CSVN.

Xin được nhấn mạnh: ngay sau 30/04/1975 người Việt hải ngoại trên bước đường ly hương đã mang theo văn hóa Việt, đặc biệt là mang theo nhạc vàng. Sau thời gian ổn định đời sống trên đất khách, người Việt hải ngoại không ngừng tiếp tục sáng tác và phổ biến nhạc vàng, xem nhạc vàng như những bài kinh nhật tụng gói ghém tấm lòng thương nhớ đồng bào, thương nhớ quê hương… Khi tâm tình của nhạc vàng lên tới đỉnh điểm, khi nhạc vàng lan tỏa về tới Việt Nam theo tâm lý “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, nhạc vàng trở thành gạch nối lớn, gạch nối chặt chẽ giữa người Việt trong và ngoài nước. Từ đó nhạc vàng hiên ngang hồi sinh ngay trên quê Mẹ Việt Nam, bất chấp sự cấm cản nghiêm khắc của nhà cầm quyền Hà Nội.

Nương vào phương cách phục hoạt của nhạc vàng, người Việt hải ngoại hãy

thân mến ngồi xuống bên nhau, cùng nhau thảo luận về văn hóa truyền thống Việt. Nền tảng của văn hóa truyền thống Việt là ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích dân gian… Trực tiếp ngắm nhìn dòng sống Việt, khảo cứu kho tàng văn chương bình dân, các tác giả Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lý Đông A và nhiều nhà tư tưởng khác… đã hệ thống hóa, chi tiết hóa kho tàng văn chương kia để xây dựng thành tư tưởng truyền thống văn hóa Việt. Mang văn hóa này phổ vào bốn viên ngọc quý: văn, thi, nhạc, họa. Từ bốn viên ngọc vừa kể, văn hóa Việt Nam hải ngoại sẽ tràn về quê hương Việt một cách êm ái nhưng mạnh mẽ và rộng khắp.

Đi theo văn hóa truyền thống được phục hoạt, tự do dân chủ sẽ đến với Việt

Nam chậm rãi nhưng vững vàng đúng như hình ảnh nhạc vàng đã bừng bừng sống lại trên toàn cõi Quê Hương Việt.

Đỗ Thái Nhiên


 

Đắng Lòng Con Chúa Xót Thương – Phương Anh 

Đắng Lòng Con Chúa Xót Thương – Phương Anh 

 Sáng tác: Phan Hùng Ca sĩ: Phương Anh

[Verse 1:]Chúa ơi! Đời con sao cứ mãi lênh đênh Khổ đau cứ theo con hoài, chẳng bao giờ con được thảnh thơi Nhiều khi con muốn bỏ Thánh Giá Ngài nặng trĩu đôi vai Bởi vì con chưa yêu Chúa nên thập hình còn rướm máu đau thương.

[Chorus:] Đắng lòng con quá Chúa ơi! Xót thương xin cho con vơi nỗi cơ cầu Xin cho con vơi những giọt sầu Để con được vui sống bình an. Đắng lòng con quá Chúa ơi! Chúa ơi! Xin ban thêm sức thiêng con chịu đựng Để con chọn Thánh Giá là niềm vui Dẫu buồn vui con vững tin vào Ngài.

[Verse 2:] Chúa ơi! Nhiều đêm con khắc khoải ưu tư Biết sao khép đôi mi được, nhiều nỗi niềm trăn trở xót xa Nhìn lên con Chúa đã hiến thân mình chịu chết hy sinh Nguyện xin công ơn giá máu ban ơi Ngài đổ xuống trên con.

 KHÔNG CẦN NGÃ GIÁ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”.

Trong “Ơn Cứu Độ Quá Vĩ Đại”, “So Great Salvation”, Charles C. Ryrie viết, “Ân sủng không hề rẻ, nó rất đắt! Nó miễn phí cho người nhận, nhưng rất tốn kém cho người trao!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Để cứu độ nhân loại, Con Thiên Chúa đã trả một giá ‘rất đắt’; ngược lại, dẫu là miễn phí, nhưng đôi khi, có người cũng phải ‘rất tốn kém’ với nó. Tin Mừng hôm nay đề cập cái ‘giá tốn kém’ mà một người trẻ được chào mời. Anh muốn có ơn cứu độ, mua nó bằng được, mà ‘không cần ngã giá’. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cho biết, điều đó không dễ!

Ơn cứu độ là gì? Là sự sống đời đời! Có lẽ biết người trẻ này quá giàu, Chúa Giêsu ra giá, “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi!”. “Nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt, buồn rầu bỏ đi”. Anh không ngờ, Ngài hát trên trời! Và cũng không ngờ, Ngài muốn dẫn anh và mỗi người chúng ta buông bỏ mọi sự – ngay cả bản thân – để thanh thoát hướng cả tim lẫn hồn lên ‘tận trời’.

Rất dễ dàng để chúng ta tập trung vào cái giá phải trả cho một thứ gì đó! Chàng trai tiu nghỉu khi anh nhìn vào giá phải trả nhiều hơn kho tàng được hứa; giá cả là một cái gì đó mà anh cảm thấy bây giờ, đang khi kho tàng là một cái gì đó anh chưa thấy. Trong cuộc sống, bao lần chúng ta trải nghiệm sự thật này! Chúng ta tìm kiếm những thoả mãn tức thời và ngã giá ngay, ít sợ tốn kém; đang khi với kho tàng trên trời, chúng ta chần chừ, ngại tốn phí. Vậy thay vì tập trung vào ‘phí’ phải trả, bạn nên tập trung vào ‘phúc’ được hứa và sẽ khám phá ra rằng, giá phải trả hôm nay luôn luôn ‘hời’ so với phần phúc mai ngày. Hãy nhìn vào chân trời bên kia! Để một khi biết được giá trị điều Chúa hứa, hẳn chúng ta sẽ khát khao, dám đặt cược mọi sự mà ‘không cần ngã giá’.

Thật trùng hợp, bài đọc một nói đến một “Gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai”, dẫu là một gia tài đòi hỏi hy sinh và thử thách. Tuy nhiên, Phêrô – vị ‘Giáo Hoàng tiên khởi’ – trấn an, “Lúc đó anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách”. Bởi lẽ, Thiên Chúa luôn giữ lời hứa; Thánh Vịnh đáp ca xác tín, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!”.

Anh Chị em,

“Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Con người ít nghĩ đến sự sống đời đời, họ chỉ nghĩ đến những thứ ‘không đời đời’; mà những thứ này quả là không đáy, kể cả những điều phi lý! Chớ gì chúng ta khôn ngoan hơn người bạn trẻ kia, khi biết rằng, chỉ có nơi Chúa Giêsu, bạn và tôi mới sở hữu một cái gì đó vĩnh cửu; bấy giờ, ai nấy sẽ can đảm bán hết mọi sự để tậu bằng được nó mà ‘không cần ngã giá’. Sẽ không có chỗ cho Thiên Chúa trong một trái tim vốn đã đầy ắp những gì thế tục; chỉ khi tách rời chúng, may ra chúng ta mới có thể đến với niềm vui thực sự. Và Thiên Chúa sẽ trao mình cho ai không có bất kỳ một ràng buộc nào khi họ tìm kiếm Ngài, cho ai ‘không cần ngã giá’ với Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bám víu vào những gì ‘không đời đời’; để từ đó, con dám đầu tư cả cuộc sống của con vào ‘Đấng Đời Đời’ mà không cần biết rẻ hay đắt!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

 *********** 

Thứ Hai Tuần VIII – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

17 Khi ấy, Đức Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi : “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” 18 Đức Giê-su đáp : “Sao anh nói tôi là nhân lành ? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. 19 Hẳn anh biết các điều răn : Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” 20 Anh ta nói : “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ.” 21 Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta : “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” 22 Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

23 Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ : “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao !” 24 Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp : “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao ! 25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” 26 Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau : “Thế thì ai có thể được cứu ?” 27 Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói : “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.”


 

Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách- Cha Vương

Chúc bạn ngày nghỉ lễ Memorial Day thật zui zẻ và an lành nhé. Đừng quên cầu nguyện cho những linh hồn của những người đã hy sinh bảo vệ quốc gia Hoa Kỳ và nền tự do mà bạn đang tận hưởng.

Cha Vương

Thứ 2: 27/05/2024

TIN MỪNG: Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người. (Gc 1:12)

 HOA QUẢ THỨ 7: Trung Tín— Trung tín là sự hiện hữu đúng với con người và sự việc. Bạn giữ vững lập trường cho dù khó khăn xảy đến. Sự trung tín là niềm tin vững mạnh được thử thách theo thời gian. Bạn dấn bước lên đường và sẽ tiếp tục hành trình ấy dù có khi bạn muốn dừng lại hoặc bị phân tâm.

SUY NIỆM: Bạn có biết không? Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng. (Gc 1:17) Đối Chúa không gì thay đổi nhưng lòng người lại hay đổi thay vì Ngài là Chân lý, đồng thời Ngài cũng là Tình Yêu. Vì là Tình yêu, Ngài muốn thông ban chính mình cho bạn ; Ngài yêu thương bạn, vì thế Ngài  không muốn lường gạt ai cả. Lòng trung tín của Thiên Chúa phải trở thành nền tảng cho đời sống của người Ki-tô hữu. Xã hội ngày nay đang đương đầu với căn bệnh “giả dối, dối trá”. Con người tìm đủ mọi thủ đoạn đề tìm lợi tức cho riêng mình.  Căn bệnh này đang được báo động ở vị trí đỏ. Điều này nhắc nhở cho bạn về sự rất cần thiết của lòng trung tín, không những đối với Chúa mà còn đối với tha nhân nữa. Trong đời sống xã hội, lòng trung thành với lời cam kết rất quan trọng: sự bền vững của các mối tương quan đặt nền tảng trên sự trung thành của mỗi phần tử. Điều này đòi hỏi những nghĩa vụ hỗ tương. Mình phải có nghĩa vụ trung thành với điều đã cam kết, và phải cư xử thế nào để người khác có thể tin tưởng vào mình . Đồng thời, bạn cũng hãy tin tưởng nơi người khác, dựa trên lòng thành thực và tốt lành của họ. Thái độ này sẽ nảy sinh ra một sức mạnh nội tâm để giúp bạn đứng vững với lập trường của mình trước những khó khăn và thử thách trong đời.

LẮNG NGHE: Đừng sợ các nỗi đau khổ ngươi sắp phải chịu: này ma quỷ sắp tống một số người trong các ngươi vào ngục để thử thách các ngươi; các ngươi sẽ phải lâm cảnh gian truân trong vòng mười ngày. Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống. (Kh 2:10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp con biết lắng nghe tiếng gọi của lương tâm chân chính để con sống trung thành với Chúa, trung thành với lề luật, trung thành với những quyết định mà con đã lựa chọn trong ơn gọi làm Kitô hữu, xin cho con biết đáp lại lời mời gọi của Chúa: “Hãy từ bỏ mọi sự, vác thập giá đi theo Chúa”.

THỰC HÀNH: Một người trung tín không bao nói xấu bạn mình sau lưng người khác. Tránh nói xấu hôm nay nhé.

From: Do Dzung

TÌNH CHÚA TRUNG KIÊN – ĐGM. NGUYỄN NĂNG – LM. NGUYỄN HƯNG – CA SỸ TẤN ĐẠT. 

 44 câu trả lời của Thầy Thích Minh Tuệ-Ngộ Trí Tâm/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

May 26, 2024

Ngộ Trí Tâm/SGN

  1. Giữa Tháng Bảy 2015, con đi làm vô tình nghe được Phật pháp. Con phát nguyện ăn chay ngày một bữa, tìm đọc kinh sách Phật và giữ giới trong sáu tháng.
  2. Con thấy mục đích Phật dạy rất cao cả, nên con muốn đi tu và quyết định xuất gia.
  3. Cha mẹ con lúc đầu không cho. Sau đó, thì cũng chấp thuận. Con được cha mẹ chia phần tài sản như các anh em trong nhà, nhưng con từ chối, con chỉ xin cha mẹ ký giấy cho con xuất gia thôi.
  4. Lúc đầu tu học thì con không hiểu được gì nhiều. Con như người học lớp Một, rồi học lớp Hai, từ từ học lên nữa, người ta cũng chỉ cho con, con mới hiểu nhiều hơn.
  5. Con học tu ở chùa một thời gian, có pháp danh là Thích Minh Tuệ. Sau đó, con thấy không hợp, nên con rời bỏ chùa, lên núi ẩn cư một mình trong hốc đá, hàng ngày đi khất thực. Dù Phật không có nói, nhưng con chọn ngủ ngồi ba năm rồi, không có nằm. Con ngủ ngồi là con muốn bỏ cái ngủ đi. Khi nào mệt quá thì ngồi dựa vào gốc cây hay bờ tường cũng được.
  6. Sau thời gian ở một chỗ con thấy mình không có cơ hội xúc chạm để thử thách tham-sân-si, nên con quyết định bộ hành từ Nam ra Bắc, rồi ngược lại. Con không dám nói trước cho đến lúc nào thì con dừng.
  7. Con muốn giữ lại pháp danh cũ, nên con nói tên con là Thích Minh Tuệ, thay vì nói tục danh con (là Lê Anh Tú). Bình thường như con khi chưa phát tâm tu hành chánh đẳng , chánh giác thì không sao, nhưng khi phát tâm tu hành rồi thì đầy đủ các thứ đánh đập, chửi bới bệnh đau nó đến để thử thách lòng mình có vượt qua được không, có chiến thắng với bốn nỗi khổ: sinh, già, bệnh, chết không. Ví dụ bệnh đau là cái đầu tiên vẫn đến để xem mình có sợ nó không.
  8. Trước khi đi tu, con cũng có việc làm như bao người, nhưng con không hạnh phúc, bởi con tư duy thấy rằng cho dù ai có việc làm, có công chức, cuộc sống ổn định nhưng rồi cũng bệnh, cũng già và chết như nhau. Con sẽ giống họ.
  9. Con muốn học những điều Phật dạy cao siêu, vi diệu, tối ưu , thiền định, trí tuệ , thoát được khổ đau, và an lạc hạnh phúc.
  10. Phật bày như thế nào, con làm theo thế ấy, để có an lạc hạnh phúc, chứ không phải tự mình mà biết. Con chưa vào định được. Con còn đang học.
  11. Con đi tu là để cầu giải thoát. Khi đắc đạo chánh đẳng, chánh giác, con mới đền đáp được công ơn cha mẹ.
  12. Ngày nào con cũng xin ăn không quá một bữa cơm mỗi ngày để nuôi thân tu hành. Con không tích chứa để dành, hoặc xin thêm.
  13. Con tuyệt đối không nhận tiền, vàng và vật phẩm của ai, dưới bất cứ hình thức nào.
  14. Y áo con mặc được may từ vải con nhặt ở nghĩa địa, hay thùng rác ven đường.
  15. Con không sử dụng y áo có màu giống với các tu sĩ, và nói mình ở chùa nào, vì con không muốn mượn hình ảnh để xúc phạm đến sư thầy và các nhà chùa. Người ta có thể nói con lợi dụng để lừa đảo, hay làm điều sai trái, làm ảnh hưởng đến họ.
  16. “Bình bát” để nhận thức ăn là do con sửa chế từ nồi cơm điện người ta cho con. Đó không phải là “y bát” của quý sư thầy.
  17. Đời là vô thường, sống nay chết mai đâu ai biết, nên con phải sớm đi tu, lỡ mai chết mất thân này thì con đâu còn cơ hội.
  18. Có người hỏi con ngủ ở nghĩa địa có thấy gì không? (ma). Con nói không thấy cũng không đúng. Có khi con thấy bóng đen nào đó đi qua, nhưng không ảnh hưởng gì đến con thì con nói thấy hay không thấy cũng vậy.
  19. Giờ đây con coi mọi người đều là anh em, cha mẹ con.
  20. Trong lòng con không còn ích kỷ, thù hận. Con coi tất cả mọi người trong thế gian đều bình đẳng.
  21. Giờ nếu anh có chửi con, con vẫn coi anh là bạn.
  22. Người ta có đánh con, con vẫn chúc mọi điều tốt đẹp đến với họ.
  23. Con nguyện ước chúc cho mọi người được hạnh phúc.
  24. Mọi người không nên học bói toán, vì có cái đúng, cái không đúng. Đức Phật không có dạy xem bói. Hơn nữa, nếu họ tài giỏi thì họ đã bói cho họ rồi.
  25. Thay vì học bói toán, mọi người nên học đạo đức, giới luật. Cố gắng giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống bia rượu, sẽ được hạnh phúc.
  26. Việc giữ giới là quan trọng đầu tiên trong Giới-Định-Tuệ. Không giữ giới thì không tu được thành Phật.
  27. Ăn chay mà giữ giới thì cũng thành đạt trong việc tu Phật được.
  28. Người ta cho con chay, mặn có đủ. Khi ăn, con chọn thức ăn chay.
  29. Mọi người đừng lạy con mà hãy lạy Phật – Pháp – Tăng.
  30. Con không kêu gọi hay lập ê kíp đi theo quay phim con. Nhưng con cũng không xua đuổi họ.
  31. Nếu họ vì quay phim con mà được lợi ích, thì con cũng chúc họ hạnh phúc.
  32. Đối với con, ở đâu cũng là chùa. Nên con không quan trọng lý do vì sao chùa này mở cửa, chùa kia đóng cửa.
  33. Con đi bộ, không đi xe, là để rèn luyện sức khoẻ.
  34. Con đi chân trần là để cảm nhận được những gì ở phía dưới chân, mình có dẫm đạp lên các côn trùng, sinh vật không? Hơn nữa giày, dép mau hư hơn chân con.
  35. Ai không có thứ gì đáng giá trên người, mới là hạnh phúc, vì họ không phải lo giữ gì cả.
  36. Con không có gì hết nên con không sợ bị ai đánh đập hay giết mình để lấy của. Con không sợ chết, bởi con đâu có thứ gì tiếc uổng, cần phải sống để giữ nó.
  37. Có người hỏi con ngủ trong chòi lá, rừng cây lạnh lẽo, rét buốt làm sao ngủ ngon bằng ở phòng kín, chăn ấm, nệm êm? Con nói vẫn ngon, vì theo lời Đức Phật dạy ngủ ở đâu cũng ngon, nếu không có khởi tâm dâm dục.
  38. Đọc chú đại bi phải có mục đích nào đó. Nếu vì muốn mình an ổn, cần phải đọc chú đại bi, ví dụ xua đuổi con quỷ chẳng hạn, thì mình cư xử ác với nó rồi. Con không muốn giành lấy chỗ ở hay sự an ổn của ai, (ví dụ của con quỷ) nên con không học chú đại bi.
  39. Ai nói xấu con hay chửi mắng con thì con không giận họ và chúc họ may mắn. Ai nói tốt con hay khen tặng con thì con bình tâm, không để mình bị dính mắc vào ngã mạn, và con cũng chúc họ được hạnh phúc.
  40. Nói tốt, nói xấu hoặc khen, chê con thì rồi cũng vậy. Nhưng con phát hiện ra hai tâm trạng: người cho con thức ăn thì con thấy họ rất vui và hạnh phúc, còn người chửi con thì con thấy họ đỏ mặt không tự nhiên.

41.Con không phải là sư, là thầy gì cả. Con là công dân Việt Nam giống như mọi người thôi. Con chỉ muốn học tu. Con không có mục đích tuyên truyền hay rao giảng gì cả. Tất cả lời Phật dạy đều có trên mạng.

  1. Khi nào con thành tựu được chánh đẳng chánh giác con mới giảng pháp cho mọi người được. Bây giờ người nào muốn học thì cứ lên mạng nghe giảng của các sư thầy. Kinh sách nào của Phật cũng đều có cả.
  2. Những người tu hành, già cả hay nghèo khổ mình nên bố thí cho họ cơm ăn, y áo vật thực hay cái gì đó.

Những người sa ngã, ăn chơi, hư hỏng, mình bày cho họ đừng sát sanh, trộm cắp, sống lương thiện, giữ trọn năm giới, đó là bố thí pháp.

44.Sáu năm qua con không là nhân sự ở chùa nào. Con không là Nam tông hay Bắc tông, cũng không phải là tu sĩ của GHPGVN, bởi con tự thấy đạo đức của con chưa đạt đến cảnh giới đó.

Từng bước chân của nhà sư Thích Minh Tuệ đang được nhiều Phật tử dõi theo. (Hình: Tiền Phong)

(Ghi chép sau khi xem các clip về Thầy Thích Minh Tuệ)


 

Nhìn theo những bước chân của Thầy Minh Tuệ. Ta học được điều gì?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Nhờ sống trong thời đại “internet” toàn cầu, sức lan toả của mạng xã hội khắp nơi trên thế giới, nhờ các youtuber, hình ảnh của Thầy Minh Tuệ đã tác động đến nhiều người trong toàn xã hội.

Một nhà sư đi chân đất, đi bộ từ Nam ra Bắc và từ Bắc vô Nam, ngủ ngồi, ăn ngày một bữa, không nhà cửa, không tài sản, không tiền bạc nhưng tâm thái vui tươi và rất hạnh phúc khi trả lời báo chí.

Những việc làm của Thầy Minh Tuệ đã tác động đến toàn xã hội, để mọi người soát xét lại suy nghĩ và việc làm của mình.

-Các quan tham cũng phải suy nghĩ một người dám từ bỏ tất cả, ngược lại, các quan tham đã tìm cách thu vén, vơ vét nhiều tài sản cho cá nhân và gia đình, xài mấy đời cũng không hết. Các quan tham đầy quyền lực, giàu có đang ở tù (dĩ nhiên không hạnh phúc) và các quan tham khác (chưa bị lộ) cũng không hạnh phúc vì không biết ngày nào tới phiên mình bị lộ và đi tù.

– Sư Minh Tuệ tu hạnh đầu đà, thực hiện lý tưởng của mình, từ bỏ tất cả tiện nghi vật chất mà nhiều người ham muốn và theo đuổi, vậy tại sao Sư Minh Tuệ lại có được hạnh phúc, bình an tuyệt đối nơi tâm hồn.?

Trong một xã hội luôn luôn đánh giá sự thành công của con người qua chức vụ họ có, qua tài sản họ kiếm được, con người đặt nặng về tài sản, tiền bạc, qua sự giàu có, xe sang, nhà cao cửa rộng, hiện có bao nhiêu tiền trong ngân hàng, kiếm một tháng bao nhiêu tiền?

Việc làm của Thầy Minh Tuệ đã nói với chúng ta điều gì?

1) Buông bỏ tuyệt đối: Thầy đã từ bỏ tất cả nhà cửa, tiền bạc, chỉ ăn một ngày một bữa. Thầy ngủ ngồi, có thể ngủ bất cứ nơi nào dưới gốc cây, trong hang đá… (dĩ nhiên không có tiện nghi ngủ trên giường, trong nhà có thể có máy lạnh như đa số người bình thường)

2) Khiêm tốn: Thầy Minh Tuệ xưng con với tất cả mọi người tiếp xúc với thầy. Thầy Minh Tuệ không nhận mình là tu sĩ, không nhận mình là thầy để hướng dẫn ai hết, thầy đang học tập tu hành. Chúa Giê su cũng nói: “hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

3) Nhẫn nại, yêu thuơng, tha thứ…Không giận hờn, luôn tha thứ. Có ai chửi rủa đánh đập Thầy cũng chấp nhận tất cả cũng như Chúa Giê su dạy “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5 câu 44).

Còn tha thứ cần phải tha 70 lần 7 nghĩa là tha hoài, tha vĩnh viễn, tha mãi mãi.

4) Thực hành.  Điều khó khăn nhất Thầy Minh Tuệ đã thực hiện trong 6 năm qua. Thầy nói như thế nào thì làm như vậy. Thầy thực hiện “Tri hành hợp nhất”.

Nhưng từ biết và đem ra thực hành có khoảng cách. Khó khăn nhất là thực hành.

Tri dị, hành nan. Biết dễ, làm mới khó. Làm sao để có Bình an, Vui vẻ, Hạnh phúc.

Trong hoàn cảnh ăn ngày một bữa, do bá tánh bố thí khi đi khất thực, áo quần một bộ trên người, ngủ ngồi ở gốc cây hay dựa vách tường nào đó trong 6 năm qua.  Không phải ai cũng làm được.

5) Thầy Minh Tuệ không sợ chết. Tôi cũng có ý nghĩ và thường nói với bạn bè: “làm sao vui để đợi chết”?

Có những điều Thầy Minh Tuệ thực hành ta có thể học tập, làm việc đạo đức, tu sửa bản thân thường xuyên.

Việc Thầy Minh Tuệ làm đáng được kính trọng và rất đáng khâm phục.

-Ở Mỹ cũng có người Amish, biết từ bỏ đời sống tiện nghi như không dùng điện thoại, máy tính, không dùng xe hơi, không nhà cao cửa rộng, người Amish có cuộc sống hết sức đơn giản. Đa số chỉ học hết lớp 8 là nghỉ học. Đến năm 14 tuổi trẻ em có quyền nghỉ học. Họ có khoảng 300.000 người sống rải rác ở các bang Pennsylvania, Ohio, Indiana. New York.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Mời xem thêm:

-Người Amish từ bỏ đời sống tiện nghi.

https://vov.vn/the-gioi/cuoc-song-do-day/amish-toc-nguoi-choi-bo-the-gioi-hien-dai-giua-long-nuoc-my-827390.vov

 “Ôi đất nước u mê ngàn năm…”-Minh Thùy

https://baotiengdan.com/2024/05/25/oi-dat-nuoc-u-me-ngan-nam/

-Một linh mục công giáo nói về Thích Minh Tuệ:

https://keditim.net/187489-2/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Buồn

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh …  Đó là chưa kể những nỗi buồn buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa …

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn dữ dội, buồn thê thảm, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn …

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật (cũng) buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận.

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng:

Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu

Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn quá.

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu:

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm:

  • Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”.
  • Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!”
  • Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.”
  • Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.”
  • Phạm Quang Trung“Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?”

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương:

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành…

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai…

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên…

Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử…  Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định “bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn”. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay.

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 49 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc?

Trương Nhân Tuấn trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”.

Nghe thế có buồn không?

Buồn chớ và buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngãy bẩy, ngã ba buồn về.


 

GIÁO HOÀNG MỞ ĐƯỜNG PHONG THÁNH CHO THẦN ĐỒNG MÁY TÍNH

 BBC News Tiếng Việt 

Một thiếu niên sắp trở thành một vị thánh của Công giáo.

Carlo Acutis, gốc Ý, sinh năm 1991 tại London (Anh) và qua đời năm 2006 ở tuổi 15.

Điều này có nghĩa là Carlo sẽ trở thành người thuộc thế hệ Millennial (sinh ra trong khoảng 1981-1995) được phong thánh.

Trong những tháng cuối đời khi bị bệnh máu trắng, Carlo đã sử dụng internet để kể về phép lạ và truyền bá đức tin, khiến cậu được mệnh danh là “Người có ảnh hưởng của Chúa”.

Năm 2020, Giáo hoàng Francis phong Carlo là Chân phước khi Carlo được cho là đã giúp một cậu bé bị dị tật tuyến tụy bẩm sinh bất ngờ khỏi bệnh sau khi chạm vào một trong những chiếc áo còn sót lại của cậu.

Phép lạ thứ hai, giúp Carlo đủ điều kiện được phong thánh liên quan đến việc một sinh viên đại học người Costa Rica khỏe lại sau khi ngã xe đạp và chấn thương nặng ở đầu.

Tòa thánh Vatican vẫn chưa công bố ngày cũng như kế hoạch phong thánh cụ thể cho Carlo.

#BBCNewsTiengViet #GiaohoangFrancis #phongthanh

Lễ Chúa Ba Ngôi- Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Chúa Ba Ngôi, ước mong tim bạn được tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi nhé. XIN THÔNG BÁO: Mình sẽ đi vắng đến 19/6 mới về nên không có bài. Nhớ nhau trong lời kinh nguyện nhé.

Cha Vương

 CN: 26/05/2024

TIN MỪNG: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (Mt 28:19)

 SUY NIỆM: Là một Ki-tô hữu Công Giáo, bạn không sao tránh khỏi những lần làm Dấu Thánh Giá một cách qua loa hời hợt. Nếu Dấu Thánh Giá là lời nguyện tắt đẹp nhất và nếu Dấu Thánh Giá được coi là quy luật sống của mỗi người kitô-hữu thì bạn không thể làm một cách hời hợt được. Dấu thánh giá còn nhắc nhở bạn về bí tích Thánh Tẩy của mình, bởi vì bạn đã được rửa tội “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Nói cách khác bạn được Thánh Tẩy bởi Tình Yêu cao cả phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Augustinô nói: “Khi nói đến tình yêu là nói đến Thiên Chúa Ba Ngôi, một ngôi yêu, một ngôi được yêu và một ngôi là nguồn mạch của tình yêu.” “Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy”(1 Ga 4:16).

– Trong tình yêu giữa vợ chồng với nhau mà không có tình yêu của Thiên Chúa, thì tình yêu ấy sẽ không tìm thấy hạnh phúc.

– Trong tình yêu bạn hữu với nhau mà không có tình yêu của Chúa, thì đó là sự lợi dụng nhau và sẽ đi đến phản bội nhau khi không còn lợi dụng nhau được nữa.

– Trong tình yêu nam nữ, nếu không thấy được tình yêu của Chúa qua người mình yêu, thì đó là tình yêu hoàn toàn để thỏa mãn xác thịt, và những ham muốn khác.

– Khi phục vụ tha nhân mà không có tình yêu Chúa, thì sự phục vụ ấy chỉ là khoe khoang đánh bóng bản thân mình mà thôi, và khi người khác phê bình chỉ trích thì nóng giận và không thèm phục vụ nữa…

Để yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi lần bạn làm Dấu Thánh Giá thì nên khoan thai, cung kính và yêu mến mà làm dấu, vì đó chính là lúc bạn tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Và cứ dấu ấy mà người ta nhận biết bạn và tôi là người Ki-tô hữu, là con của Thiên Chúa đó.

LẮNG NGHE: Vậy hôm nay, anh em phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa. (Đnl 4:39)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ba Ngôi cực thánh là nguồn mạch của Tình Yêu, nguồn mạch của sự Hiệp Nhất, xin hãy đến và ở lại với con và ban thêm tình yêu, hiệp nhất xuống trên từng người trong gia đình, trong cộng đoàn để gia đình, cộng đoàn luôn đầy ắp niềm vui, luôn đầy ắp tiếng cười.

THỰC HÀNH: Mỗi lần làm dấu Thánh Giá là bạn ý thức và làm cách nghiêm trang để tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như sau:

+ Nhân danh Cha—Con tạ ơn Chúa vì Chúa đã dựng nên con

+ và Con—con tạ ơn vì Chúa đã cứu chuộc con

+ và Thánh Thần—Lạy Chúa xin thánh hoá đời sống con.

From: Do Dzung

Dấu Thánh

BỨC ẢNH ĐẸP NHẤT CỦA SỰ CHẤP NHẬN…

 

Hình ảnh này được coi là một trong những bức ảnh đẹp nhất trong 10 năm qua, vì nó khiến người chụp rơi vào trạng thái….trầm cảm.

Câu chuyện xảy ra:

2 con báo cheetah này đã tấn công con linh dương vào lúc nó đang chơi đùa với con nhỏ.

Thực tế là con linh dương có cơ hội trốn thoát. Khoảng cách và lối thoát cho mạng sống là có lợi cho bản thân nó. Nhưng nó quyết định đầu hàng 2 con báo hoa mai theo cách này.

Tại sao???

Để cho những đứa con nhỏ của nó có cơ hội trốn thoát … Bởi vì nếu nó rời đi trước, sẽ không có thời gian cho những đứa con nhỏ của nó trốn thoát.

Hình ảnh này là khoảnh khắc cuối cùng của linh dương mẹ, với cổ họng rơi vào hàm 2 con báo cheetah, khi nó nhìn lại để đảm bảo những đứa con nhỏ của mình thoát ra ngoài an toàn trước khi nó bị nuốt chửng.

Mẹ là người duy nhất trên thế giới này có thể hy sinh cuộc sống của mình cho bạn một cách vô hạn.

Lược dịch từ – Nature Merveilleuse

From: Tu-Phung