Thánh Biển Đức (480-547)- Cha Vương

 Cha Vương

 Chúc Bạn và gia đình một ngày an lành nhé. Hôm nay Giáo hôm mừng kính Thánh Biển Đức (Benedict), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Hãy cầu nguyện cho nhau. Nếu Bạn muốn đi tour Tổng Tu Viện Bênêdíctô ở Montecassino bên Ý thì hãy vào linh sau đây. Mình đã có cơ hội đến đó. Tuyệt đẹp!!! Thánh Bênêdíctô, cầu cho chúng con.

Cha Vương

Thứ 5: 11/07/2024

Thánh Biển Đức (480-547), Ngài sinh năm 480 trong một gia đình lỗi lạc ở Nursia, Umbria thuộc miền trung nước Ý, anh em song sinh cùng với nữ thánh Scholastica, theo học tại Rôma và ngay từ khi còn trẻ, ngài đã thích đời sống đan viện. Lúc đầu, ngài là một vị ẩn tu sống trong một cái hang ở Subiaco, xa lánh thế giới nhiều chán nản mà lúc bấy giờ giặc ngoại giáo đang lan tràn, Giáo Hội bị phân chia bởi ly giáo, dân chúng đau khổ vì chiến tranh, đạo lý ở mức độ thấp nhất. Sau đó không lâu, ngài thấy không thể sống cuộc đời ẩn dật ở gần thành phố, dù lớn hay nhỏ, do đó ngài đi lên núi cao, sống trong một cái hang và ở đó ba năm. Trong một thời gian, một số đan sĩ chọn ngài làm vị lãnh đạo, nhưng họ cảm thấy không thể theo được sự nghiêm nhặt của ngài. Tuy nhiên, đó cũng là lúc ngài chuyển từ đời sống ẩn tu sang đời sống cộng đoàn. Ngài có sáng kiến quy tụ các nhánh đan sĩ khác nhau thành một “Ðại Ðan Viện”, đem lại cho họ lợi ích của sự hợp quần, tình huynh đệ, và luôn luôn thờ phượng dưới một mái nhà. Sau cùng, ngài khởi công xây dựng một đan viện nổi tiếng nhất thế giới ở núi Cassino, cũng là nơi phát sinh dòng Bênêđích.

Cũng từ đó, một quy luật từ từ được hình thành nói lên đời sống cầu nguyện phụng vụ, học hỏi, lao động chân tay và sống với nhau trong một cộng đoàn dưới một cha chung là đan viện trưởng. Sự khổ hạnh của Thánh Bênêđích được coi là chừng mực, và đời sống bác ái của ngài được thể hiện qua sự lưu tâm đến những người chung quanh. Trong thời Trung Cổ, tất cả các đan viện ở Tây Phương dần dà đều sống theo Quy Luật Thánh Bênêđích.

Thánh nhân qua đời ngày 21 tháng 3 năm 547 tại Monte Cassino, nước Ý. Thánh nhân được cho táng trong cùng một ngôi mộ với em của ngài là Thánh nữ Scholastica dưới bàn thờ chính của đan viện Monte Cassino, nước Ý. Thánh tích của thánh nhân hiện đang giữ tại đan viện Monte Cassino và một phần tại đan viện Saint Bernoit-sur-Loire tại Fleury, nước Pháp.

Lễ mừng kính ngài vào ngày 11 tháng 7 theo nghi lễ Roma, còn dòng Biển Đức thì cử hành lễ kính vào ngày 21 tháng 3 hàng năm để kỷ niệm ngày Thánh Nhân qua đời.

(Nguồn: Người Tín Hữu Online)

Mời Bạn:

❦  Hãy áp dụng câu châm ngôn của ngài vào những công việc hàng ngày : “Ora et Labora” (Cầu nguyện và Lao động).

❦  Suy niệm những câu đáng ghi nhớ trên huy hiệu kính thánh Bênêdíctô:

+ Chớ gì chúng con được củng cố bởi sự hiện diện của Chúa vào giờ chúng con chết!

+ Chớ gì Thánh giá của Chúa là ánh sáng cho con!

+ Hãy cút đi, hỡi Xatan, đừng gợi ý cho ta về những sự hào nhoáng của thế gian! Ngươi thèm khát sự dữ ư? Ngươi hãy uống lấy nọc độc của ngươi!

Câu nào đánh động Bạn nhất?

From: Do Dzung

Con Nguyện Theo Ngài – Thanh Hoài  

VÔ GIÁ MÀ CHO KHÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

“Các con đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy!”.

“Chúng ta không trả gì cho tình yêu của Chúa Cha, không trả gì cho sự cứu chuộc của Chúa Con, không trả gì cho bảy nguồn ân huệ của Chúa Thánh Thần; và cũng không trả gì cho sự yên nghỉ hạnh phúc đời đời của mình! Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ đến những gì chúng ta hưởng và những gì chúng ta đáng chịu. Hãy gắn trên cửa địa ngục tấm bảng “Đáng Chịu”, trên cửa thiên đàng tấm bảng “Cho Không!”. Những gì Thiên Chúa dành cho chúng ta là vô giá mà cho không!” – Richard Baxter.

Kính thưa Anh Chị em,

“Những gì Thiên Chúa dành cho chúng ta là vô giá mà cho không!”. Lời Chúa hôm nay đặt ra câu hỏi, chỉ riêng Tin Mừng, giá phải trả của nó là bao nhiêu? Thật thú vị, không chỉ một mà là hai: giá ‘mua’, giá ‘bán!’. Phải ‘tốn’ bao nhiêu để ‘mua hay nhận’ Tin Mừng? Và phải ‘tính’ bao nhiêu để ‘bán hay trao tặng’ nó? Kết quả là một câu trả lời kép, nó ‘vô giá mà cho không’ nên liệu đó mà ‘mua’, liệu đó mà ‘bán!’.

Tin Mừng – Lời Thiên Chúa – không bao giờ được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật. Nó vô giá! Chúa Giêsu nói, “Các con đã được cho không”, nghĩa là để có nó, bạn không phải trả bất cứ một thứ gì. Lời vô giá đó xem ra cũng đã từng được tặng không cho Israel. Qua Hôsê, Thiên Chúa nói với họ những lời không thể ngọt ngào hơn, “Khi Israel còn non trẻ, Ta đã yêu nó; từ Ai Cập, Ta đã gọi con Ta về”; “Ta đã tập đi cho Épraim, đã đỡ cánh tay nó”; “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” – bài đọc một. Israel không trả gì cả, tuyệt đối không, khi được chọn làm dân riêng của Ngài!

“Thì cũng phải cho không như vậy!”. Chúng ta không có quyền tính phí hoặc mong đợi bất cứ điều gì để cho đi một cái gì đó mà chúng ta không sở hữu. Sứ điệp cứu rỗi của Phúc Âm thuộc về Chúa Kitô; Ngài đến thế gian, tự do trao tặng nó miễn phí cho mọi người! Chúng ta cũng phải tặng miễn phí Tin Mừng cho người khác; hành động tặng trao này hàm chứa một đòi hỏi âm thầm, thúc giục hiến dâng chính mình. Vậy đâu là lời biện minh cho việc tự do ‘tặng trao’ này? Lý do chỉ vì chúng ta hưởng nhận từ Thiên Chúa tình yêu đời đời của Ngài, một tình yêu ‘vô giá mà cho không!’.

Anh Chị em,

“Phải cho không như vậy!”. Tại sao? Bởi lẽ, Tin Mừng không là gì khác ngoài một Con Người, Đức Giêsu Kitô! Ngài đến giữa chúng ta, trong chúng ta, cách nhưng không; thì đến lượt, chúng ta cũng phải trở thành món quà ‘cho không’ đối với người khác! Mọi sự bạn và tôi có, ơn tự nhiên, ơn siêu nhiên; từ đôi môi biết nói, đôi tai biết nghe; từ hơi thở tự nhiên, siêu nhiên; từ sự sống thể xác, tinh thần; từ những gì thấy được đến những gì vô hình; thời gian, không gian… mọi sự đều được ‘cho không’. Đó là “tình yêu vĩnh cửu của Chúa Cha, sự cứu chuộc của Chúa Con, bảy nguồn ân huệ của Chúa Thánh Thần”. Nếu cảm nhận sâu sắc ân huệ của Thiên Chúa, chúng ta hẳn đã thay đổi cách sống! Hôm nay, hãy bắt đầu lại với những gì nhỏ nhất, một nụ cười, một sự hiện diện cảm thông, một ánh mắt nhân từ, một lời nói yêu thương… và nhất định thế giới sẽ đổi thay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, những gì con hưởng, Chúa ‘cho không’; những gì con đáng chịu, Chúa ‘rước lấy’. Xin dạy con luôn sống trong tâm tình sám hối và tạ ơn!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)  


 

CÁCH CÁC THÁNH DẠY CHÚNG TA KIỀM CHẾ CƠN GIẬN

  Tác giả: Fr. Joseph M. Esper – Người dịch: Kim Linh

“Anh em thân mến của tôi, anh em nên biết rằng: mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa” (Gc 1:19-20).

Bạn có nóng tính không?  Nếu thế thì bạn có đồng minh rồi.  Một số vị thánh cũng nóng tính như thế, một tính nết mà các ngài đã khắc phục được nhờ sự trợ giúp của Chúa.

Tin Mừng cho chúng ta biết rằng thánh Giacôbê và Gioan được gọi là “con của thiên lôi” (Mc 3,17) có lẽ vì bản tính nóng nảy của các ông, như khi các ông muốn Chúa Giêsu gọi lửa từ trời xuống để thiêu hủy một thị trấn không tiếp đón Chúa (Lc 9:51-56).  Các vị thánh nóng tính khác được biết đến bao gồm thánh Basil Cả, người có tính tình nóng nảy khiến ông không khéo léo trong cách cư xử với người khác.

Một ví dụ gần đây hơn là thánh Benildus, một tu sĩ người Pháp sống vào thế kỷ 19.  Ngài từng nhận xét về những khó khăn của mình khi làm giáo viên như sau: “Tôi tưởng tượng rằng nếu các thiên thần xuống làm giáo viên thì họ cũng sẽ khó kiềm chế được cơn giận của mình.”

Khi nói đến danh tiếng là người hay nổi giận, thánh Jerome xứng đáng ở vị trí đầu tiên.  Vị học giả Kinh Thánh vĩ đại này có một nhân cách xuất sắc nhưng hay cáu gắt và nổi tiếng vì những lập luận của ông với các nhân vật khác trong Giáo hội, bao gồm cả với thánh Augustinô.  Ngài thường viết những lá thư với sự gắt gỏng hoặc châm biếm thánh Augustinô.  Thánh Pammachius, một cựu thượng nghị sĩ La Mã, đã trao đổi thư từ với thánh Jerome và cố gắng thuyết phục ngài giảm tông giọng nói của mình nhưng không thành công đáng kể.  Thánh Marcella cũng trao đổi thư từ với thánh Jerome, đôi khi thách đố các ý tưởng của ông và từng than phiền về tính nóng nảy của ông.  Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thánh Jerome đối xử rất dịu dàng với những người nghèo khổ và bị áp bức.  Ngài nhận thức rõ những điểm yếu của mình và thực hiện những hành động sám hối lớn lao vì họ (chẳng hạn như sống trong hang động).

Một số vị thánh được chúng ta biết đến với bản tính hiền lành, ví dụ như thánh Giám mục Francis de Sales và thánh Vincent de Paul, vị linh mục thánh thiện người Pháp.  Họ đã phải rất cố gắng để vượt qua chiều hướng giận dữ và bất bình của mình.  Thánh Vincent nói rằng, nếu không có ân sủng của Thiên Chúa, ngài sẽ là một người “cứng nhắc và ghê tởm, thô bạo và ngang ngược.”  Còn thánh Francis de Sales từng tuyên bố rằng ngài phải mất hơn hai mươi năm để học cách kiềm chế tính khí nóng nảy của mình.

Chân phước John Colombini sống vào thế kỷ 14 là một thương gia khá tham lam, đặc biệt nổi tiếng với tính khí nóng nảy.  Một ngày nọ, ông ấy nổi cơn thịnh nộ vì bữa tối chưa sẵn sàng khi ông ấy trở về nhà.  Với hy vọng ông sẽ cư xử tốt hơn, vợ ông đưa cho ông một cuốn sách về các vị thánh.  John ném cuốn sách xuống sàn, nhưng rồi – xấu hổ vì tính nóng nảy của mình – ông nhặt nó lên và bắt đầu đọc.  Ông mải mê đọc đến nỗi quên mất bữa tối.  Thực sự, John đã hoàn toàn được biến đổi bởi kinh nghiệm này.  Sau đó, ông cho đi phần lớn tài sản của mình, biến ngôi nhà của mình thành bệnh viện và đích thân chăm sóc cho một người đang đau khổ vì bệnh phong.  Khi vợ khuyên ông nên thận trọng trong các việc bác ái của mình, John – người không còn dễ bị xúc phạm bởi những lời quở trách nữa – nhẹ nhàng nhắc nhở bà rằng bà là người đã cầu mong cho ông hoán cải (mà lẽ ra bà phải đáp lại là: “Tôi xin mưa, nhưng đây là lụt”).

Cần có thời gian và sự kiên nhẫn để học cách kiểm soát tính khí nóng nảy, và một số vị thánh đã sẵn sàng nỗ lực hết sức trong vấn đề này.  Chẳng hạn, khi một cơn bão cản trở mùa màng của thánh Nathalan, ngài đã giận dữ phàn nàn với Chúa.  Liền sau đó, ngài hối hận, thề sẽ kiềm chế cơn giận và đã có bước đi triệt để nhắc nhở bản thân về lời thề này.  Ngài trói tay phải vào chân bằng một ổ khóa sắt và ném chìa khóa xuống sông, hứa rằng sẽ không bao giờ mở cho đến khi ngài thực hiện một chuyến hành hương sám hối tới Rôma.  Nhiều năm sau, thánh Nathalan đến Rôma.  Ngài mua một con cá từ một cậu bé ở đó, và bên trong dạ dày của con cá là một chiếc chìa khóa.  Tất nhiên, nó có thể mở được ổ khóa.

Có lẽ Chúa không đòi hỏi chúng ta phải làm những nỗ lực phi thường như thánh Nathalan, nhưng Ngài muốn chúng ta kiểm soát cơn giận của mình, và Ngài ban cho chúng ta cơ hội để làm điều đó, đặc biệt là trong cuộc sống hàng ngày.  Kiên nhẫn chịu đựng những thói quen khó chịu của người khác, sửa chữa lỗi lầm của người khác với sự tử tế và lịch sự, không bấm còi nếu có người cản đường chúng ta khi tham gia giao thông, không chiều theo cám dỗ vội vàng phán xét động cơ của người khác.

Khi phải nói chuyện với người mà chúng ta đang giận, trước tiên chúng ta nên cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn và giúp đỡ. Cầu xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta những lời nói đúng đắn có thể làm dịu một tình huống có nguy cơ bùng nổ.

Thánh Thérèse Lisieux khuyên chúng ta: “Khi giận ai, cách tìm bình an là cầu nguyện cho người đó và xin Chúa thưởng ơn cho họ vì đã làm mình đau khổ.”  Chúng ta thường không nghĩ thế này, nhưng những người chọc giận chúng ta là đang vô tình giúp đỡ chúng ta bằng cách cho phép chúng ta phát huy tính kiên nhẫn, vì vậy chúng ta nên cố gắng cư xử nhẹ nhàng với họ.

Tương tự như thế, thánh Alphonsus Liguori nói: “Khi chúng ta phạm lỗi nào đó, chúng ta cũng phải nhẹ nhàng với chính mình.  Tự trách mình sau khi làm sai điều gì đó không phải là khiêm tốn mà là một hình thức kiêu ngạo tinh tế.  Tự tức giận với chính mình sau khi phạm lỗi là một lỗi lầm lớn hơn lỗi lầm vừa phạm, và sẽ dẫn đến nhiều lỗi lầm khác.”  Vì vậy, Chúa muốn chúng ta kiểm soát cơn nóng nảy của mình, ngay cả khi chính chúng ta là đối tượng của sự tức giận.  Lòng thương xót và sự bình an có tính chữa lành của Chúa được ban cho mọi người, nhưng chúng ta sẽ bỏ lỡ chúng nếu chúng ta để cho cơn giận của mình ngăn trở.

Vài cách để kiểm soát cơn giận

Thánh Francis de Sales khuyên rằng, để tránh tội giận dữ, bạn phải nhanh chóng cầu xin Chúa ban bình an cho tâm hồn khi bạn đang tức giận, và sau đó hướng suy nghĩ của bạn sang việc khác.  Đừng bàn ngay vào vấn đề, đưa ra quyết định hoặc sửa sai người khác khi bạn đang tức giận.  Thánh Francis khuyên, khi một người chọc giận bạn, hãy xem xét những phẩm chất tốt của người đó, thay vì những lời nói hay hành động mà bạn thấy khó chịu.

Nếu bạn muốn kiểm soát tính khí nóng nảy của mình, hãy nhận biết những hoàn cảnh mà bạn có nhiều khả năng tức giận nhất, trong một số hoàn cảnh nhất định (chẳng hạn như giao thông vào giờ cao điểm), với một số người nhất định (có thể là một người hàng xóm hoặc người quen nào đó), hoặc vào những thời điểm nhất định trong ngày (có thể ngay trước khi kết thúc ngày làm việc, khi bạn đang cố gắng thu dọn bàn làm việc).  Một khi bạn đã học được từ kinh nghiệm về những điều có thể khiến bạn tức giận, bạn hãy chuẩn bị cho những khoảnh khắc đó bằng một lời cầu nguyện ngắn và thầm lặng, chẳng hạn: “Lạy Chúa, xin giúp con tránh nổi nóng” hoặc “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được bình tĩnh.”

Khi bạn đang ở trong tâm trạng bình an, việc nhớ lại một tình huống gần đây khiến bạn mất bình tĩnh cũng rất hữu ích.  Hãy tự hỏi bản thân: “Liệu sự tức giận của tôi có chính đáng không?  Tôi sẽ ứng phó thế nào với tình huống này trong tương lai?”  Bạn thậm chí có thể “thực hành” phản ứng đúng cách bằng cách giả vờ như tình huống này đang lặp lại; bằng cách để bản thân cảm thấy tức giận khi ở một mình, bạn có thể luyện tập những phản ứng có thể xảy ra và đánh giá xem phản ứng nào có thể giúp ích cho bạn.

Tác giả: Fr. Joseph M. Esper – Người dịch: Kim Linh
Nguồn: Catholic Exchange

From: Langthangchieutim 


 

Từ Thời Còn Trẻ… Đến Lúc Về Già

 

Lúc trẻ, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ trên đời… nhưng khi lớn tuổi, trải qua nhiều cuộc tình, mới biết sau yêu còn có… chia tay. Không phải chỉ một lần mà rất nhiều lần, cứ lập đi lập lại… Điều mà người trẻ tuổi không bao giờ hoặc ít khi nào nghĩ đến!     

Đời người thường được gói gọn trong một câu thật đơn giản: “Từ thời còn trẻ… đến lúc về già”. Nói như vậy nhưng không đơn giản chút nào vì những suy nghĩ phức tạp của từng thời kỳ, qua đó thể hiện quan niệm sống khác hẳn nhau, nhiều lúc đến độ mâu thuẫn, xung đột gay gắt.

Thời còn trẻ bao gồm các giai đoạn từ thơ ấu, tiến dần đến tuổi vị thành niên và rồi trở thành thanh niên vào lứa tuổi từ 19 đến 24. Đây là khái niệm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhưng chưa được thống nhất vì còn tùy thuộc vào từng khuôn khổ xã hội của từng quốc gia. Chẳng hạn như ở Trung Hoa, tuổi thanh niên là 29, trong khi tại Bangladesh là 34 và ở Malyasia thậm chí đến 40 tuổi!

Tuổi trẻ
Những người được gọi là “cao tuổi”, “cao niên” hay “người già” thường có độ tuổi từ 60 trở lên như tại Việt Nam. Tại một số nước quy định tuổi của người già được căn cứ vào những gì họ cống hiến cho gia đình và xã hội. Thuật ngữ “senior citizen” dùng tại Anh và Mỹ ám chỉ những người đã hưu trí (retiree), thường là những người từ 65 tuổi trở lên. Tại Mỹ, ngày 21/8 là ngày toàn quốc tôn vinh những công dân lớn tuổi, ngày đó được gọi là “National Senior Citizens Day”.

Tuổi già

Bài viết này không có ý tôn vinh tuổi già và cũng chẳng đề cao tuổi trẻ. Tôi chỉ có tham vọng đặt vấn đề về những cảm xúc của con người thay đổi theo tuổi tác. Những điều được nêu ra dưới đây có thể mang phần nào ý nghĩa chủ quan vì người viết thuộc về lứa tuổi “gần đất xa trời”, nhưng thiết nghĩ, người trẻ cũng như già nên đọc để chiêm nghiệm những cái đúng và cả những cái sai.

Đề tài từ cổ chí kim được nói đến nhiều nhất là “Tình yêu trai gái”. Một triết gia nào đó đã phân tích: Cảm xúc về Tâm hồn tạo ra Tình Bạn; Cảm xúc về Tri thức tạo ra lòng Kính Trọng và Cảm xúc về Thể xác tạo ra lòng Ham Muốn. Nếu cả ba cái này cộng lại, người ta sẽ có Tình Yêu (!). Cụ thể hơn, “Tình yêu Nam-Nữ” được thể hiện qua công thức:

Tình yêu Nam & Nữ = Tình bạn + Tôn trọng + Ham muốn

Lúc trẻ, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ trên đời… nhưng khi lớn tuổi, trải qua nhiều cuộc tình, mới biết sau yêu còn có… chia tay. Không phải chỉ một lần mà rất nhiều lần, cứ lập đi lập lại… Điều mà người trẻ tuổi không bao giờ hoặc ít khi nào nghĩ đến!

Lúc trẻ, vẫn nghĩ rằng tình yêu là mãi mãi, tình yêu là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời. Khi có tuổi mới biết tình yêu “đến đó rồi đi, có đó rồi mất”. Từ những cảm nghĩ lạc quan của tuổi trẻ người ta lại bước sang tư tưởng bi quan của người già!

Lúc trẻ, cứ tưởng “yêu một người thì dễ, quên một người mới khó”. Người trẻ khi yêu hình như đã mặc nhiên công nhận vị trí “khó quên” của người bạn tình. Đến khi tuổi tác ngày một cao đã chứng minh điều ngược lại: người lớn tuổi thấy mình đã quên đi nhiều người mình đã từng yêu, quên một cách dễ dàng!

Tình yêu có vĩnh cửu như “ổ khóa tình nhân” trên cầu?

Lúc trẻ cứ tưởng tình yêu luôn dựa theo nguyên tắc “bình đẳng” qua triết lý “yêu thương cho đi là yêu thương nhận lại”. Về già mới chợt nhận ra bài học kinh nghiệm đầy bất công của tình yêu: “có những yêu thương chỉ cho mà không nhận”. Nhà thơ người Anh, Abraham Cowley (1628-1667) đã phải thốt lên:

“Of all the pain, the greatest pain
It is to love, but love in vain”

Tạm dịch là:
“Trong mọi khổ đau, niềm đau vĩ đại,
Là trót yêu người… không hề yêu lại”

Lúc trẻ cứ tưởng rằng “yêu một người là sống chết vì người đó”, giờ mới biết “yêu một người là phải biết tự yêu lấy mình”. Đây không phải là lòng “tự ái” của con người khi về già mà là những điều mà nhiều người có tuổi rút ra được sau những cuộc tình “mù quáng” của thời thanh niên và thiếu nữ.

Lúc trẻ cứ nghĩ “sau tình yêu sẽ là hôn nhân”, đến khi về già mới nhận ra: “vẫn có những cuộc hôn nhân không cần tình yêu”. Ngạn ngữ Pháp có câu: “Tình yêu là Bình Minh của hôn nhân, hôn nhân là Hoàng Hôn của tình yêu” và với kinh nghiệm bản thân, Socrates khuyên nhủ mọi người:
“Bằng đủ mọi cách, hãy lập gia đình. Nếu lấy được người vợ tốt, bạn sẽ hạnh phúc. Nếu lấy phải người xấu bạn sẽ trở thành một triết gia” (By all means: marry. If you get a good wife: you’ll become happy. If you get a bad one: you’ll become a philosopher).

Ngay từ lúc còn trẻ nhiều người cũng đã trở thành “triết gia” vì yêu. Họ thích định nghĩa tình yêu với những mỹ từ, mỹ ý… Nào tình yêu là X, là Y, là A,B,C,D… khi lớn tuổi lại cuống cuồng vì hoang mang, không biết tình yêu thật sự là gì cả. Tại sao ư? Vì, “tình yêu thật khó định nghĩa: nó đến bất chợt, đi bất ngờ, và để lại một vết thương lòng muôn thuở”!

Tình yêu quả là… rắc rối

Lúc trẻ cứ tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, về già mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh, có chăng là mình đã không nhận thấy. Người trẻ chỉ thấy hạnh phúc trong hôn nhân khi được sống bên người tình yêu mến, về già hạnh phúc đó lan tỏa đến con cháu qua một thứ không còn là tình yêu trai gái mà là tình ruột thịt, máu mủ.

Khi còn trẻ, phạm vi giao tiếp thường mở rộng, bạn bè giao thiệp rất đông. Đến lúc ở vào tuổi về hưu bỗng thấy mình cô đơn vì cuộc sống thu hẹp và người già thường “ẩn mình” trong phạm vi gia đình.

Tuy nhiên, cũng có người vẫn hăng say hoạt động xã hội để khỏa lấp sự trống rỗng, có người tìm một thú vui cho bản thân như chăm sóc cây cảnh, viết lách… Chỉ tội nghiệp những ai không tìm cho mình một hướng đi lúc về già trước khi bị bệnh tật tấn công để trở về với cát bụi.

Lúc trẻ tưởng “nói quên là có thể quên được”, giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng. Điều này cho thấy người lớn tuổi hướng về cuộc sống “nội tâm” trong khi người trẻ giữa cuộc sống tất bật ngoài xã hội, luôn… “hướng ngoại”.

Lúc trẻ, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm vì chung quanh toàn là người, về già mới hiểu những giây phút bên người thân quả là một sự ấm áp nhưng lại rất mong manh, trong khi đó, “nỗi cô đơn luôn ở bên cạnh”. Cũng vì thế cho nên khi còn trẻ cứ tưởng việc đóng một cây đinh vào tường thật đơn giản vì không thích thì có thể nhổ đi. Về già mới thấy: đinh có thể nhổ nhưng vết lõm trên tường vẫn còn đó.

“Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi”

Đó là những lời kết trong bài thơ Tình Già của Phan Khôi đăng trên báo Phụ nữ Tân văn năm 1932. Bài thơ này có thể coi như tác phẩm thơ tự do đầu tiên, mở đường cho phong trào Thơ Mới ở Việt Nam. Về phương diện tình cảm, bài thơ thể hiện “một vết lõm trên tường” sau khi cái đinh được nhổ từ thời trai trẻ.

Hạnh phúc tuổi già

Theo lẽ tự nhiên, người ta khóc khi buồn nhưng một khi có tuổi mới thấy điều buồn nhất là…“không thể khóc được”. Xem một cuốn phim, đọc một cuốn truyện người trẻ và người già thường có những cảm xúc khác hẳn nhau! Có thể vì đã từng trải nhiều nên tình cảm của người già đã trở nên… “chai lì”? Phải chăng tuyến lệ cũng đã bị “lão hóa” nên không còn hoạt động?

Giọt nước mắt

Ở một thái cực ngược lại, cười là vui nhưng nhiều khi người lớn tuổi lại thấy “có những giọt nước mắt còn vui hơn tiếng cười”, chẳng hạn như trường hợp gặp lại người thân sau một thời gian dài xa cách, “mừng mừng, tủi tủi”.
Những lúc tình cảm đạt đến “cực điểm”, người ta thường nhớ đến câu thơ đầy mâu thuẫn của Xuân Diệu:
“Cười là tiếng khóc khô không lệ
Người ta cười trong lúc quá chua cay”

Người ta cũng có thể “cười ra nước mắt” hay như Nguyễn Du trong Kiều đã vẽ nên cảnh oái ăm “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”. Suy cho cùng, chuyện Khóc-Cười là lẽ thường tình nhưng rõ ràng là mức độ Khóc-Cười thường bị ảnh hưởng phần nào vì tuổi tác.

Khóc & Cười

Lúc trẻ tưởng chỉ có kẹo là ngọt, giờ lớn mới biết có những thứ còn ngọt ngào hơn cả kẹo. Người cha già trên giường bệnh nhận từ con viên thuốc đắng nhưng sao vẫn thấy ngọt. Người mẹ già ăn bát canh khổ qua nhưng không cảm thấy đắng vì sự hiếu thảo của con. Ông cha ta thường nói: “Già được bát canh, trẻ được manh áo mới” là vậy.

Lúc trẻ tưởng tượng rất nhiều, về già mới nhận ra: “chuyện cổ tích không bao giờ có thật”. Lúc trẻ, tưởng mình có thể thay đổi cả thế giới, khi tuổi tác đã cao mới thấy thay đổi chỉ một người cũng khó, có chăng vẫn chỉ là tự thay đổi mình.

Lúc trẻ cứ tưởng một khi thành “người lớn” là lớn, bây giờ mới thấy có nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn. Đến khi thật sự thành người lớn thì người ta mới hiểu: “không bao giờ bé trở lại được”. Đó là sự thật khiến cho nhiều người lúc bé cứ mong mình chóng lớn, giờ đây lớn rồi lại ước gì mình bé lại.

Lúc trẻ cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia. Về già mới biết: “được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất”. Lúc trẻ tưởng rằng “những gì đến rồi sẽ đi”, giờ mới biết: “khi niềm vui đến thường qua mau, còn nỗi buồn đến thì cứ ở bên ta mãi mãi”.

Lúc trẻ cứ nghĩ: “Tiền bạc, Tình yêu rồi mới đến Sức khỏe”, về già mới khám phá sự đảo ngược: “Sức khỏe, Tiền bạc, Tình yêu”. Lúc trẻ rất sợ phải chết, nhưng về già “sự lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều”.

Cuối cùng, lúc trẻ cứ tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm. Về già mới hiểu nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh. Johann Von Goethe đã từng nói: “Cái chết, ở một mức độ nào đó, là một điều vô lý bỗng trở thành hiện thực” (Death is, to a certain extent, an impossibility which suddenly becomes a reality).

Và lúc đó chúng ta thanh thản ra đi để khởi đầu một cuộc hành trình cuối cùng: Bước – Nhảy – Vọt – Vào – Bóng – Tối.

From: Truong Le


 

Các vị tử đạo Trung Hoa-Cha Vương

Xin Chúa là sức mạnh và là nguồn an ủi đồng hành với bạn trong cơn bão táp của cuộc sống nhé. Mình sẽ cầu nguyện cho bạn và tất cả những nạn nhân của cơn bão Beryl hôm nay.

Cha Vương

Ngày hôm nay 9/7, Giáo hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustinô Zhao Rong, đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 122 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930.

Vào năm 1815, một giám mục tên Gioan Gabriel Đufresse bị bắt. Lúc ấy, việc thực hành đạo Kitô bị coi là một hành vi chống lại luật lệ của đất nước Trung Hoa. Một anh lính Trung Hoa canh giữ đức giám mục rất đỗi khâm phục ngài bởi sự bình thản và lòng kiên nhẫn đối với cuộc bách hại. Sau khi giám mục Đufresse bị giết, người lính này đã xin gia nhập Giáo hội. Anh được chịu phép Thanh tẩy và nhận tên là Augustinô. Sau này, Augustinô gia nhập chủng viện và học làm linh mục.

Thụ phong linh mục chẳng bao lâu, Augustinô cũng bị bắt vì là Kitô hữu. Người ta đã tra tấn Augustinô dữ dội hầu làm cho ngài chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Thế nhưng, những đau khổ ấy lại chỉ giúp cho Augustinô Zhao Rong thêm can đảm và làm xác tín hơn niềm tin của ngài. Augustinô Zhao Rong bị lên án tử và tên ngài được ghi vào danh sách các tín hữu Trung Hoa anh dũng đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin của mình.

Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới bảy tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình.

Chúng ta hãy noi gương thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.

(Dịch giả: Đa Minh M Nguyễn Xuân Lộc, CMC)

HIỆP LỄ: BIỂN ĐỜI GIÔNG TỐ – HIỆP LỄ CHÚA NHẬT 12 TN B. Lm Thái Nguyên 

Kỹ thuật Xe tự lái lại nổi lên với hứa hẹn tiến bộ nhờ vào AI, trí thông minh nhân tạo

Theo Báo Phố Wall và các báo kỹ thuật

Trung Quốc đã thống trị công nghệ xe điện. Giờ đây, có vẻ như họ đã bắt kịp phương Tây trong cuộc đua gập ghềnh để tự động hóa việc lái xe.

Sau nhiều năm hy vọng thất vọng , sự phấn khích xung quanh việc tự động hóa tài xế đang tăng lên trở lại. Dự án taxi không người lái Waymo của Alphabet , chủ sở hữu Google, cũng đang phớt lờ đi những lo ngại do một vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra với đối thủ đang gặp khó khăn Cruise , do hãng xe General Motors kiểm soát. Waymo gần đây đã thể hiện sự tự tin của mình bằng cách mở cửa đón khách đi taxi tự lái tại San Francisco, nó dành cho bất kỳ ai tải ứng dụng xuống và đặt dịch vụ taxi tự lái.

Nhưng có thể nói Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ hơn, xét theo số lượng lớn các công ty có công nghệ tiên tiến hoặc gần tiên tiến. Tháng này, XPeng, một công ty tiên phong về công nghệ tại Trung Quốc, đang đẩy mạnh một bản nâng cấp qua mạng sẽ giúp gói tự lái hàng đầu của họ có mặt trên tất cả các tuyến đường công cộng tại Trung Quốc. Gã khổng lồ công nghệ bị trừng phạt Huawei, tích hợp hệ thống của mình vào các phương tiện do các thương hiệu khác sản xuất, được coi là một công ty dẫn đầu thị trường khác.

Tháng trước, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc cho biết họ đã chấp thuận cho chín nhà sản xuất ô tô, bao gồm cả gã khổng lồ xe điện BYD, thử nghiệm lái xe tự động “Cấp độ 3” trên đường công cộng. Điều này có nghĩa là người lái xe không còn cần phải chú ý quan sát lưu thông trong một số điều kiện nhất định, thí dụ như khi xe quyết định qua mặt xe khác.

Trong một bước tiến đáng kể hướng tới tương lai của xe tự hành, BYD (Build Your Dreams) đã được giấy phép có điều kiện để tiến hành các bài kiểm tra (thử nghiệm) lái xe tự hành Cấp độ 3 (L3) trên đường cao tốc ở New Zealand và Trung Quốc. 

FSD, Tự lái đầy đủ của Tesla 

  • Dùng AI để phân định và lái
  • Không dùng hệ thống radar laser, lidar, vốn đắt tiền và mang lại ít kết quả.
  • Kỹ thuật tự lái Cấp độ 2, cần có tài xế quan sát tay lái.

XNGP, Tự lái đầy đủ của XPeng

  • Dùng AI để phân định và lái
  • Đang từ bỏ dùng lidar đắt tiền và mang lại ít kết quả.
  • Kỹ thuật tự lái Cấp độ 2, cần có tài xế quan sát tay lái.

Trong vài năm, hai trong số những hệ thống lái xe hàng đầu thúc đẩy giới hạn của xe tự lái là Full Self-Driving (FSD) của Tesla và Navigation Guided Pilot (XNGP) của XPeng Motors .  

XPeng Tesla FSD

Nhà sáng lập, chủ tịch và giám đốc điều hành của hãng sản xuất ô tô XPeng, He Xiaopeng, đã lên LinkedIn để chia sẻ kinh nghiệm của mình trong quá trình thử nghiệm Tesla FSD V12.3.6 tại Hoa Kỳ. Theo bài đăng:

Tôi thực sự ấn tượng với những tiến bộ đáng kể mà FSD đã đạt được chỉ trong vài tháng. Nó cung cấp các tính năng có giá trị và trải nghiệm người dùng mà chúng ta có thể học hỏi.

Tôi tin rằng năm 2025 sẽ là ‘khoảnh khắc ChatGPT’ quan trọng cho kỷ nguyên lái xe hoàn toàn tự động, cách mạng hóa cách chúng ta tương tác với công nghệ và chuyển đổi cơ bản cách chúng ta di chuyển.

Trong ngành công nghiệp lái xe tự động, mọi người đang học hỏi lẫn nhau và lặp lại nhanh chóng để tạo ra trải nghiệm di chuyển tốt hơn cho tất cả mọi người.

Tesla tiên phong trong công nghệ EV, nhưng các công ty Trung Quốc, dẫn đầu là BYD, hiện đang dẫn đầu trong việc thương mại hóa nó ở quy mô lớn với hệ thống tự lái cấp độ 3.

Một điều tương tự có thể đang xảy ra với tự động hóa cho tài xế. 

Đối mặt với cuộc chiến giá cả, các thương hiệu EV của Trung Quốc đang tuyệt vọng thu hút những người tiêu dùng giàu có hơn bằng những tiện ích mới nhất. Bắc Kinh quá vui mừng khi có dịp hội hỗ trợ cho sự phát triển của công nghệ tiên tiến này.

 
Trên thực tế, Tesla có thể là một trong những công cụ mà chính phủ Trung Quốc sử dụng để hỗ trợ ngành công nghiệp trong nước. Bắc Kinh đã ra tín hiệu ủng hộ tạm thời cho việc triển khai FSD tại Trung Quốc khi Musk bất ngờ đến thăm nước này vào tháng 4. Cổ phiếu tăng vọt khi các nhà đầu tư dự đoán doanh số bán phần mềm tại thị trường lớn thứ hai của công ty, nơi hiện tại công ty chỉ bán một phiên bản giới hạn của gói hỗ trợ người lái hàng đầu. 

Nhưng Trung Quốc cũng có thể hưởng lợi. Tesla sẽ phải làm việc với các đối tác địa phương như Baidu để lập bản đồ. Công ty Hoa Kỳ này  sẽ phải lưu trữ dữ liệu lái xe của Trung Quốc để đào tạo hệ thống tự lái của mình ở Trung Quốc.

Việc xây dựng nhà máy Tesla tại Thượng Hải vào năm 2019 được cho là đã thúc đẩy chuỗi cung ứng xe điện của Trung Quốc, mở đường cho sự thống trị ngày nay. Một thỏa thuận giữa Bắc Kinh và Tesla về FSD cũng có thể giúp thu hẹp bất kỳ khoảng cách nào còn lại trong công nghệ tự lái và thậm chí thúc đẩy hệ sinh thái AI của Trung Quốc.

Taxi tự lái ở ChongQing, TQ và San Francisco, USA

NHÌN NHAU BẰNG TRÁI TIM

   Gần nhà ngoại tôi có một đôi vợ chồng già bị mù. Họ đã có với nhau một đàn con cháu đông đúc. Nghe ngoại nói, năm nay hai cụ đã ngót nghét tám mươi tuổi.
         Ngoại kể, ngày xưa, khi lấy nhau, người chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu và chú rể đều không nhìn thấy gì, nhưng chú rể vẫn nhờ người cuốn đầy lụa điều lên chiếc xe và đầu con bò, như vậy cho giống đám cưới.
         Khi cô dâu vừa về nhà chồng, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Rồi cũng từ đó, suốt hơn nửa thế kỷ, trong cái thôn nghèo chẳng mấy ai biết đến ấy, dù trời mưa hay nắng, người ta luôn nhìn thấy họ tay trong tay, lẳng lặng cùng nhau làm mọi việc.
         Có lẽ trong tất cả công việc thì khó nhất vẫn là múc nước từ giếng lên. Lần nào cũng thế, hai người họ đều dắt nhau đi. Người vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng. Người chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên.
         Có người nhìn thấy họ múc nước khó khăn ngỏ ý muốn giúp nhưng hai vợ chồng đều cảm ơn rồi từ chối. Họ bảo: “Các ông bà giúp được chúng tôi một lần, nhưng không giúp được chúng tôi một đời”.
         Cứ như thế, hai vợ chồng luôn tay dắt tay nhau đi lấy nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh được một gánh nước. Dân làng đều cảm thấy lạ lùng. Trong thôn cũng có nhiều trai gái trẻ từng vì đất trơn mà trượt chân ngã xuống giếng, nhưng đôi vợ chồng mù chưa lần nào té ngã. Càng lạ lùng hơn, dù không thể nhìn thấy nhưng vợ chồng họ vẫn có thể tìm ra nhau trong đám đông đang nói chuyện ồn ào.
         Người chồng là một người thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê. Ông thường đến các đám cưới thổi những bài: “trăm con chim phượng hoàng”“niềm vui đầy nhà” … Dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng có một yêu cầu, để người vợ mù của ông đi cùng. Ông nói, để vợ ở nhà một mình, ông không an tâm.
         Mỗi khi tiếng kèn của người chồng cất lên, người vợ ngồi bên rất chăm chú nghe. Dường như những giai điệu ấy đều là ông thổi riêng cho bà. Người ta bảo, những lúc ấy, khuôn mặt người vợ mù thường đỏ ửng lên, khiến ai nấy đều cảm thấy người phụ nữ đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết nhường nào.
         Có lần, người chồng sơ ý bị ngã gãy chân. Những ngày chồng nằm bệnh viện, ba bốn hôm liền người vợ không ăn hột cơm nào vào bụng. Bà bảo, không có bàn tay quen thuộc kia, bà chẳng còn lòng dạ nào mà ăn.
         Sau này, khi hai vợ chồng đều đã già và không cần đi ra ngoài nữa, họ bắt đầu trồng hoa trong sân nhà. Dù chẳng thể nhìn thấy được những đóa  hoa tươi rực rỡ mình trồng lên, nhưng ông bà đều rất hạnh phúc mỗi khi đến mùa hoa nở.

         Những người con của ông bà từng hỏi bố mẹ: “Nếu ông trời dành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có muốn nhìn nhau bằng mắt không?”
         Ông tự hào nói: “Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con, đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa từng trông thấy người đẹp nhất. Trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì. Mắt là thứ tham lam nhất trần đời, nhìn cái gì cũng đánh giá tốt hay xấu, xinh hay không xinh; nhìn cái gì hay là muốn có cái đó. Trên mặt người ta có một vết sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.”
        Tim sáng hơn mắt. Nó là sáng nhất, thật nhất!.
         Còn bà thì trả lời: “Người ta nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim. Tim sáng hơn mắt, thật.”
         Bởi chúng ta có mắt. Nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào mắt mà quên dùng trái tim.
         Có lẽ người vợ mù đã nói đúng: Tim sáng hơn mắt. Nó là sáng nhất, thật nhất!

Sưu tầm

From: taberd-& NguyenNThu 


 

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tô Hoài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

07/07/2024

Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng ai oán, thảm thương!

Ðó là đôi câu ngăn ngắn, trong tập truyện (O Chuột) của Tô Hoài mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe khi còn thơ ấu. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà nhỏ côi cút đó, và có cảm tình mãi với tác giả của đoạn văn vừa dẫn.

Tô Hoài có thể sẽ sướng ngất ngư, khi biết có độc giả đã nhớ nằm lòng (suốt đời) những con chữ của mình. Ông (có thể) cũng sẽ tức điên luôn, nếu biết thêm rằng: tôi chưa bao giờ đọc thêm bất cứ một trang hay dòng nào khác nữa trong hàng trăm tác phẩm của ông.

Tôi sinh trưởng ở miền Nam nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn/nhỏ) nào phải hoàn thành hay vượt chỉ tiêu. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi thôi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mải chơi nên không có thì giờ để đọc Tô Hoài, hoặc bất cứ ai.

Sau khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt, thỉnh thoảng, tôi cũng có ghé vào những hiệu sách quốc doanh nhưng không bao giờ ngó ngàng gì đến Tô Hoài. Dù bắt đầu từ đây, cũng như bao nhiêu người dân miền Nam khác, cuộc đời của tôi (bỗng dưng) hoá rảnh. Rất rảnh và rất … đói!

Tác phẩm duy nhất mà tôi thực sự tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập – dù tác giả viết nhiều đoạn hơi (bị) dở. Thí dụ như: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển.”

Tôi chết được chứ chả bỡn đâu, Giời ạ!

Mặt trời chứ bộ mặt trận sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội? Viết như thế mà cũng bầy đặt cầm bút.

Ngoài những lỗi lầm nho nhỏ không đáng kể (như trên) phải nói đây là một công trình đồ sộ, rất đáng đồng tiền bát gạo. Sách rất dầy, giấy in rất tốt, giá rất rẻ, và rất được những bà hay những cô bán hàng rong ưa chuộng.

Họ cần giấy để gói. Còn tôi, tôi cần một phần ăn nhiều hơn số tiền trong túi. Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ (dại dột) sà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi luôn luôn chịu khó đi vòng qua tiệm sách, tìm cho bằng được mấy cuốn Tuyển Tập Hồ Chí Minh, cho đỡ khổ cái dạ dầy!

Trong hoàn cảnh ấy, nói tình ngay, lỡ mà có thấy những tác phẩm của Tô Hoài chắc tôi cũng chỉ ngó lơ thôi. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo giác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.

Trời thương, tôi chui lọt!

Lưu lạc mãi rồi có hôm tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài, trong tác phẩm phê bình văn học (Cây Bút, Ðời Người) của nhà phê bình văn học & xã hội Vương Trí Nhàn, do công ty Phương Nam xuất bản. Đến lúc này thì tôi đủ tuổi đời, đủ rảnh (và cũng đủ no) để có thể tìm đọc thêm chút đỉnh về một tác giả mà mình đã yêu thích, từ khi còn bé. Và đến thời điểm này thì Tô Hoài đã bước vào tuổi bát tuần.

“Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng. Lúc đầu ở thời kỳ Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong cơ sở Hội ái hữu thợ dệt Hà Ðông. Sau đó lại được tổ chức Ðảng ở Hà Nội bắt liên lạc để hình thành nên lực lượng Văn hoá cứu quốc.

Tiếp đó, từ sau 1945, những hoạt động xã hội của nhà văn ngày một đa dạng. Triển khai theo chiều rộng, có lúc ông trở thành cán bộ địa phương, có thời gian đi cải cách ruộng đất, đi học trường Ðảng, nhiều năm làm đối ngoại nhân dân, đồng thời vẫn giữ chân trưởng ban đại biểu dân phố (1956–1972) ở cơ quan văn nghệ trên Trung ương hay ở Hà Nội, hầu như từ năm 1946 tới nay, khoá nào ông cũng được bầu làm bí thư chi bộ, đảng bộ. Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là công tác” (s.đ.d. tr. 264).

Tiểu sử Tô Hoài lung tung, lang tang (ngổn ngang cả đống chức vụ) nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”.

Thực là một cuộc đời chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.

Tôi lầm đấy. Ðược thế thì đã phúc.

Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán hẳn có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – nếu vẫn theo như ghi nhận của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn:

“… bao nhiêu từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn tại, và sau hết, để được viết”.

“Ấy là cái điều không chỉ Tô Hoài biết mà nhiều người cũng biết… Ðại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy”. (s.đ.d. tr. 266).

Tôi thực muốn ứa nước mắt, xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài, khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vương Trí Nhàn cũng chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi thôi) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài!

Tôi trật!

Tôi thành thật xin lỗi vì đã quyết đoán một cách hấp tấp về văn nghiệp, cũng như tư cách, của Tô Hoài. Ông ấy quả là có “tròn” (và đôi khi “tròn lắm”) nhưng không đến nỗi “tròn mãi”, hay “tròn hoài”, như tôi đã tưởng!

Đúng như nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã ví von, có thể hình dung Tô Hoài “… như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.”

Tô Hoài đã “tung tẩy” không dở trong tác phẩm Ba Người KhácTalawas đã có đôi lời giới thiệu khá trang trọng về tác phẩm này:

“Cuốn tiểu thuyết 250 trang của nhà văn Tô Hoài (NXB Đà Nẵng vừa ấn hành) đang làm xôn xao dư luận trong và ngoài giới văn học. Cuộc toạ đàm về tiểu thuyết này do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học sáng ngày 22 tháng 12 năm 2006 đã hầu như một cuộc vinh danh lão tướng văn chương 87 tuổi”.

Trong cuộc tọa đàm này, nhiều vị thức giả đã không ngần ngại lên tiếng:

  • Hoàng Minh Tường: “Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và tư cách công dân của nhà văn Tô Hoài.”
  • Nguyên Ngọc: “Cách viết hay, độc đáo về CCRĐ. Không viết về nông dân mà viết về ba anh đội. Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng. Những cuốn khác viết về nông dân là nạn nhân, nhưng đây là lại là thủ phạm. Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội…”
  • Nguyễn Xuân Khánh: “Cuốn sách đã chạm tới một vấn đề rất nhạy cảm là Cải cách ruộng đất (CCRĐ)… Tôi chợt liên tưởng tới cách chữa bệnh về tinh thần cho con người. Người thầy thuốc, bằng những biện pháp tâm lý, tìm cho ra cái nguyên cớ sinh ra bệnh tật. Tức là làm cho nguyên nhân bệnh từ vô thức chồi lên ý thức”.
  • Lại Nguyên Ân: “Tôi nghĩ, đối với xã hội ta, sự xuất hiện những cuốn sách như cuốn này là một cách giải toả cho một trong những chấn thương của xã hội ta. Sự kiện CCRĐ để lại một chấn thương trầm trọng ai cũng biết, nhưng những người giữ quyền ăn quyền nói ở xã hội ta lại muốn xoá đi bằng cách cấm mọi người nhắc đến”.

Tôi có giấy phép hành nghề tâm lý trị liệu của tiểu bang California, và kiếm cơm nhờ đó. Có lẽ vì chút méo mó nghề nghiệp, tôi “chịu” quá những nhận định (rất Jungian và Freudian) thượng dẫn.

Tuy thế, tôi vẫn không tin rằng những tác phẩm văn học (kể cả loại kiệt tác) có thể “giải toả” những “chấn thương xã hội” do cuộc C.C.R.Đ gây ra.

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất đã hỏng to đến thế.” Nguyễn Hữu Đang đã viết (như thế) trên báo Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1956. Dù chậm, chúng ta cần phải nhìn vấn đề cho minh bạch và “chính qui” y như vậy.

Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài C.C.R. Đ, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – Nhân Văn, Xét Lại, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên … – chưa xử và bắt buộc phải xử, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.


 

 Tách Cà Phê Và Tuổi Thọ – Bác Sĩ Phạm Hiếu Liêm

CAFFEINE CHỈ LÀ CHẤT KÍCH THÍCH

TÁCH CÀ PHÊ MỚI LÀ THUỐC TRƯỜNG SINH

Nếu bạn ở tuổi trên trung niên,khoảng trên dưới 50 tuổi và biết có một viên thuốc mà bạn có thể dùng mỗi ngày không phải để trị bệnh gì cả, nhưng sẽ làm giảm nguy cơ tử vong đến 30% trong bảy năm tới so với những người không uống viên thuốc “trường sinh“ đó, tôi nghĩ bạn sẽ uống viên thuốc ấy ngay.

Bản tin từ báo New York Times về một khảo cứu công bố trên báo Y học Annals of Internal Medicine cho thấy uống từ 1.5 đến 3 tách cà phê mỗi ngày là viên thuốc trường sinh nói trên. Bất kể là bạn uống cà phê có 1 muỗng đường hay cà phê đen và kể cả cà phê decaf (gần như không có caffeine, là loại cà phê được loại bỏ ít nhất 97% caffeine),bạn đều giảm được tử vong so với người cùng tuổi không uống cà phê.

Trong Y học hiện nay, chưa có một thuốc nào không dùng để chữa bệnh mà có thể giúp người tiêu thụ sống lâu hơn như vậy. Do đó, chúng ta có thể gọi cà phê là một thuốc “trường sinh” vì cà phê không phải là một chất dinh dưỡng.

Theo lịch sử thì cà phê có nguồn từ Trung Đông khoảng Thế Kỷ thứ 15, được đưa vào Âu Châu thời Đế Quốc Ottoman và trở thành phổ thông vì có vị đậm đà với mùi thơm dể chịu và giúp hưng phấn làm tỉnh táo tinh thần người tiêu thụ. Người Pháp mang cà phê vào Việt Nam thời thuộc địa. Họ còn khởi xướng việc trồng cây cà phê ở Ban Mê Thuột vẫn còn tồn tại đến hôm nay.

Caffeine là một hóa chất trích ra từ cà phê và có đặc tính kích thích não bộ khiến thần trí tỉnh táo và bớt buồn ngủ. Caffeine cũng khiến áp huyết tăng tạm thời làm tăng lượng máu lọc qua thận nên gây lợi tiểu. Nhịp tim cũng tăng nhanh tạm thời trong lúc ấy. Caffeine được bỏ vào các thức uống, hay chewing gum (kẹo cao su, kẹo nhai) để giúp hưng phấn và tỉnh ngủ. Người có chứng nhịp tim nhanh rối loạn nên tránh dùng caffeine. Caffeine không có màu, không có mùi, vị đắng và không có bằng chứng để tin rằng caffeine làm tăng tuổi thọ.

Những hóa chất khác, đa số là chất kháng oxy trong tách cà phê, kể cả cà phê decaf, với màu nâu sậm, hương thơm ngào ngạt giúp giảm tử vong nên tăng tuổi thọ như đã nói ở trên mà cơ chế vẫn chưa được biết rõ.

Mỗi tách hay ly cà phê có khoảng 180-200 mg caffeine. Cà phê decaf chỉ có khoảng 5-10 mg trong mỗi tách. Muốn khỏi mất ngủ thì chỉ nên uống cà phê decaf sau 2 giờ chiều. Tách cà phê buổi sáng và buổi trưa giúp hưng phấn tỉnh táo và cũng là thuốc trường sinh kể cả tách cà phê decaf vào buổi chiều tối. Nếu bị chứng nhịp tim rối loạn nhanh thì chỉ uống decaf mà thôi thì cũng tốt vậy.

Xin nâng tách cà phê và chúc sức khỏe thật dồi dào.

Bs. Phạm Hiếu Liêm

From: Truong Le


 

 Người Trong Mộng – Nguyễn thị Thanh Dương- Truyen ngan HAY

Nguyễn thị Thanh Dương

Đây là lần thứ hai vợ chồng Tư Chuột về thăm Việt Nam, lần trước cách đây năm, sáu năm. Thời gian cứ vùn vụt trôi, mải mê bận rộn vì cuộc sống, dù nhớ nhà, nhớ người thân hai bên nội ngoại, mà bây giờ mới có dịp trở về lần nữa.

Tư Chuột nao nức về Việt Nam gặp lại người thân, ngoài ra còn vì một lý do khác. Anh sẽ gặp lại một người bạn gái cũ sau hơn 30 năm xa cách, là “người trong mộng” của anh thời còn đi học.

Qua một người bạn học cũ mới liên lạc được, hiện cũng đang sống ở Mỹ, anh ta đã cho Tư Chuột biết tin tức một số bạn bè cùng lớp thời Trung Học. Họ cùng hào hứng nhắc đến người đẹp Ngọc Diệp, cô bé xinh xinh và nổi tiếng làm thơ hay của lớp, đám nam sinh thuở đó cứ mười người thì phải trên năm người có cảm tình với nàng và hâm mộ thơ nàng. Trong số đông đảo những thằng trồng cây si nàng có cả Tư Chuột. Là một người vóc dáng nhỏ thó, gương mặt choắt choeo, lại con nhà nghèo học dở, nên anh nam sinh Lê Văn Tư, biệt danh các bạn đặt cho là Tư Chuột không bao giờ dám mơ được tiếp cận nàng thơ, không bao giờ dám “chen lấn” với các nam sinh khác để hòng chiếm được cảm tình của nàng. Tư Chuột chỉ biết thương trộm nhớ thầm người trong mộng.

Ngọc Diệp là một trong số vài người đẹp của lớp, nàng là con nhà giàu, học giỏi, dáng gầy gầy, đôi mắt to đen đằm thắm, và mái tóc dài qua vai luôn buông xỏa về một bên trông càng quyến rũ và lãng mạn. Các anh tha hồ đua nhau làm thơ tặng nàng, Tư Chuột xôn xao chẳng thể nào ngồi yên, anh không biết làm thơ, nên định mua một cuốn sách thơ của nhà thơ nổi tiếng nào đó để tặng nàng, mượn thơ người khác nói lên nỗi lòng của mình hay ít ra cũng làm nàng vui thích vì nhận được cuốn thơ hay. Nhưng anh chưa thực hiện được thì biến cố 1975 xẩy ra.

Bây giờ Ngọc Diệp là goá phụ, hai con, cuộc sống của nàng ở Việt Nam rất nghèo khổ. Mới nghe, Tư Chuột mủi lòng thương xót cho người xưa. Có ai ngờ một cô gái đẹp cao sang thuở đó, bể dâu cuộc đời vùi dập nàng sa cơ thất thế đến tôị nghiệp? Cũng có ai ngờ anh Tư Chuột, tướng tá lù đù, thuở đó không ông thầy bói nào nhìn mà dám mở miệng tiên đoán tương lai giàu sang phú quý cho được, học hành thì lình bình đủ điểm lên lớp là may lắm rồi, nay lại là một người thành đạt, một ông chủ shop sửa xe to lớn và đông khách trên xứ Mỹ, hai con học Đại học, nhà cao cửa rộng trả off từ lâu, vợ Tư Chuột hột soàn đeo đầy cổ, đầy tay.

Tư Chuột đã ghi chép cẩn thận địa chỉ nhà Ngọc Diệp, nàng sống tại Sài Gòn nên sự đi lại càng thuận tiện vì hầu hết họ hàng bên vợ và bên Tư Chuột cũng ở quanh Saì Gòn. Nhất định, anh sẽ đến thăm nàng, cả một đời người anh mới có dịp hiên ngang tiếp cận nàng như thời điểm này. Dù anh gặp lại Ngọc Diệp chỉ với tư cách một người bạn cũ, để nhìn lại bóng dáng người xưa. Nay ai đã phận nấy, hai khung trời khác biệt, cái tình cảm thời tuổi trẻ chỉ còn là kỷ niệm, một kỷ niệm đẹp có lẽ Tư Chuột không thể nào quên.

Tư Chuột dấu vợ, chị vợ hay ghen và giàu tưởng tượng, chỉ cần anh nói đi thăm một người bạn gái cũ là chị ta sẽ suy đoán ra một thiên tình sử ngay, và chị sẽ không rời anh nửa bước. Tư Chuột không muốn vợ đi theo làm tan biến đi giây phu’t diệu kỳ hội ngộ, chắc chắn nên thơ và lãng mạn như người thơ thuở ấy.

Tư Chuột đã sắp đặt sẵn mọi thứ trong đầu trước khi đến nhà thăm Ngọc Diệp, anh sẽ ghé tiệm sách mua một cuốn thơ, món quà anh còn mắc nợ nàng bao nhiêu năm về trước. Nhưng nàng nghèo lắm, thơ chỉ có ý nghĩa cho tâm hồn. Anh sẽ tặng nàng một món quà thực tế là tiền, là đô la. Anh ngại ngùng quá , với một người yêu thơ, làm thơ, mà anh mang chuyện tiền bạc ra có đụng chạm vào tự ái của nàng không? Anh sẽ bỏ món quà ấy vào phong thư cho lịch sự, sẽ nhẹ nhàng kín đáo và nói hết sức khiêm nhường rằng: “ Tôi quý mến Ngọc Diệp chân tình nên mới tặng món quà nhỏ mọn này, mong Ngọc Diệp đừng từ chối làm tôi đau lòng”. Ôi, đôi mắt to đen đằm thắm của nàng chắc sẽ nhìn anh cảm động? và biết đâu trong sâu thẳm tâm hồn nàng sẽ dày vò nuối tiếc sao ngày xưa không để ý đến anh Tư Chuột, thì ngày nay đời nàng sung sướng biết bao?

Sáng nay sau khi ăn uống điểm tâm bên nhà vợ, Tư Chuột thay bộ quần áo bình dân giản dị nhất, chiếc quần màu kaki và áo sơ mi trắng bỏ ra ngoài. Đến nhà Ngọc Diệp trong hoàn cảnh nghèo, anh chẳng muốn mình ăn mặc sang trọng ra vẻ Việt Kiều làm nàng tủi thân. Anh xin phép vợ để đi thăm vài thằng bạn cũ, nhìn cách ăn mặc tàn tàn của anh, chị tin ngay, và dặn chiều về sớm để hai vợ chồng cùng đi dạo phố.

Tư Chuột ra đầu ngõ kêu xe ôm chở đến một tiệm sách gần nhất và bảo anh xe ôm ngồi ngoài chờ.

Từ xưa tới nay Tư Chuột có biết gì về thơ, nay lạc vào một rừng thơ làm anh hoa cả mắt, có nhiều tập thơ của nhiều tác giả khác nhau, cuốn nào trình bày bìa cũng đẹp, những lời đề tựa, lời giới thiệu nào cũng bay bổng trời xanh. Mở ra đọc thử mỗi bài thơ, Tư Chuột thấy bài nào cũng… giống nhau, thất tình, thương nhớ, giận hờn… càng làm anh rối trí. Thà như ở shop sửa xe của anh, xe nào hư không nổ máy, anh mày mò một lúc là tìm ra lý do ngay, thà khách hàng yêu cầu anh thay nhớt xe, anh làm vèo một cái là xong. Còn lựa chọn một cuốn thơ trong đám thơ này sao mà khó khăn qúa!

Tư Chuột cầm một cuốn thơ lên, bìa màu tím, xinh xinh, cuốn thơ tên “Một thời tương tư”, anh thấy thích hợp với mình nhất, anh đã chẳng một thời tương tư Ngọc Diệp đó sao! Muộn còn hơn không, để anh được bày tỏ tình cảm với nàng, dù điều ấy nàng cũng biết thừa từ lâu..

Anh mang cuốn thơ ra quầy tính tiền, nhờ cô nhân viên gói giấy hoa cho đẹp để làm quà tặng, anh đã hào hoa trả tiền gấp đôi gấp ba giá ghi trên bìa sau cuốn thơ và hớn hở ra khỏi nhà sách.

Anh xe ôm tiếp tục cuộc hành trình tìm địa chỉ nhà Ngọc Diệp, một con hẻm nhỏ gần khu chợ Bà Chiểu, anh ta bảo đảm sẽ tìm ra địa chỉ mới ăn tiền xe, nên Tư Chuột yên tâm, âu yếm ôm nhẹ cuốn thơ vào lòng và ngắm nhìn cảnh tấp nập của phố phường. Sau khi anh xe ôm quẹo vào vài con hẻm ngoằn nghoèo, vài lần rẽ trái, rẽ phải đến chóng mặt, Tư Chuột đã đứng ngay trước số nhà muốn tìm.

Anh sửa lại nếp áo, nếp quần cho bớt nhăn nhó và run run đưa tay lên gõ cửa, hồi hộp chờ đợi gương mặt quen thuộc ngày xưa hiện ra. Chắc khi nghe anh giới thiệu là Tư Chuột, Ngọc Diệp sẽ nhớ ra ngay, cái biệt danh độc đáo của anh nam sinh nhỏ con nhất lớp, nhà quê nhất lớp, và học dở nhất lớp, ai cũng biết.

Nhưng trong nhà vẫn im vắng, không một ai ra trả lời! Tư Chuột đang ngỡ ngàng chưa biết tính sao thì một bà hàng xóm sát bên chạy ra, sốt sắng:

– Ông tìm nhà bà Diệp hả?

Tư Chuột mừng rỡ:

– Vâng, có phải đây là nhà bà Ngọc Diệp không?

– Đúng rồi, ba mẹ con bà ấy bán quán cơm tấm ngoài đầu hẻm, kế bên tiệm bán chè, sinh tố đó, bộ khi nãy vô đây ông anh không nhìn thấy hả?

– Vâng, thôi cám ơn bà.

Tư Chuột leo lên xe ôm và chạy ra đầu hẻm, bây giờ mới để ý thấy quán cơm đúng như bà hàng xóm nói, Anh trả tiền hậu hĩ cho anh xe ôm và đến hàng sinh tố kêu một ly mãng cầu tươi, ngồi nghỉ chân và suy nghĩ, không lẽ Ngọc Diệp đang bận rộn bán buôn mà anh đến nhận diện người quen, chuyện trò và tặng quà ngay giữa chốn bát nháo ăn uống này thì còn gì là ý nghĩa? Để chiều nay, khi nàng về nhà, anh sẽ đến cũng không muộn màng gì, và sẽ có nhiều thời gian để tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học.

Anh thong thả uống ngụm sinh tố và dõi mắt sang hàng cơm tấm bên cạnh. Đang tầm sáng, giờ cao điểm đông khách, anh chẳng thấy Ngọc Diệp đâu, chỉ thấy một bà to mập đang ngồi giữa nồi cơm to tướng không kém gì bà ta, và một cái bàn thấp trên bày la liệt những món ăn, những hũ đồ chua và hũ nước mắm, mấy ống đựng thìa, đựng nỉa. Bà vừa xới cơm ra dĩa, vừa gắp thức ăn lia lịa và luôn miệng quát hai phụ nữ trẻ bưng bê:

– Lẹ tay lẹ chân lên chút coi, khách đang ngồi đợi kìa!

– Dẹp mấy cái dĩa không vào đây cho tao, hết dĩa rồi !

Tư Chuột làm bộ bâng quơ hỏi chị bán sinh tố:

– Nghe nói quán cơm này ngon lắm phải không chị?

Chị sinh tố thật thà:

– Quán cơm tấm bà Ngọc Diệp nổi tiếng ngon, ông ăn thử thì biết.

– Chị làm ơn kêu cô giúp việc cho tôi dĩa cơm tấm sườn nướng đi.

– Hai cô đó là con gái bà Ngọc Diệp, ba mẹ con sống nhờ nồi cơm tấm này đó.

– Vậy bà ấy đâu rồi?

– Thì bà Ngọc Diệp to béo đang ngồi bán cơm chứ ai.

Tư Chuột giật mình hụt hẫng, anh tưởng mình nghe lầm. Cố giữ vẻ bình tĩnh, anh nói cho chị sinh tố khỏi nghi ngờ vì thái độ khác thường của mình:

– Nghe danh quán cơm bà Ngọc Diệp, hôm nay tôi mới có dịp ghé đây ăn thử.

Chị sinh tố chẳng thì giờ đâu mà nghi ngờ như chị Tư Chuột nhà anh. Chị ta vui vẻ đi gọi cơm giùm anh, nên Tư Chuột tự nhiên và thoải mái nhìn bà to mập kia kỹ lưỡng hơn. Đúng là Ngọc Diệp rồi, nhờ đôi mắt to đen mà anh đã nhận ra nàng, dù hình dáng nàng thì hoàn toàn khác hẳn.

Mọi thứ trên cõi đời có thể thay đổi, nhưng sao cuộc sống và thời gian lại nỡ biến đổi một cách phũ phàng từ một cô gái xinh xẻo, vóc dáng gầy gầy, một nàng thơ dịu dàng ngày nào thành một bà to mập, ngồi bán cơm ngoài đường phố và luôn miệng quát mắng con trước mặt mọi người như thế?

Cô con gái của Ngọc Diệp bưng dĩa cơm tới bàn Tư Chuột, nhìn cô gái, Tư Chuột đã thấy lại đôi mắt to đen đằm thắm của người mẹ bao nhiêu năm về trước. Anh thong thả ăn từng thìa cơm nhỏ vì bụng hãy còn no, và vì muốn kéo dài thì giờ để nhìn thêm cảnh đời của Ngọc Diệp, cho bỏ công lao anh nao nức từ bên Mỹ khi chuẩn bị về Việt Nam, cho bỏ công lao anh đã ngồi mỏi lưng sau chiếc xe ôm đi tìm con hẻm nhà nàng cả giờ đồng hồ.

Khách hàng vẫn đông, bà mẹ vẫn the thé sai bảo và mắng hai cô con gái, có lúc rảnh tay bà ngẩng lên, quét ánh mắt lanh lợi như điểm danh các khách hàng, bà ta ngừng lại nơi Tư Chuột vài giây, vẫn không có cảm xúc gì khác lạ, như với bao nhiêu người khách khác mà thôi. Làm sao trong giây phút bận rộn hối hả này, bà có thể nhận ra một người quen sau hơn 30 năm mờ mịt vì gío bụi cuộc đời? rồi bà lại cúi xuống thoăn thoắt xới cơm, lấy thức ăn cho khách.

Tư Chuột kêu tính tiền, cô gái hét gía 40 ngàn đồng, trong khi nãy giờ anh thấy mỗi dĩa cơm tương tự người ta chỉ trả có 20 ngàn đồng. Anh ngạc nhiên nhưng cũng móc túi trả đầy đủ, chị bán sinh tố nhìn Tư Chuột thương hại, thì thầm:

– Mẹ con bà này chuyên môn coi mặt đặt tên, thấy ông là khách lạ, ngàn năm một thuở mới đến quán một lần, nên tính gía trời ơi, kiếm thêm thu nhập. Nhưng cũng còn may cho ông, bữa hôm có chị Việt Kiều về xóm chơi, sáng ra đây ăn cơm tấm, bị chém một dĩa cơm tới 50 ngàn đồng, vì chị đó ăn mặc sang trọng lắm, nhìn vô thấy Việt Kiều liền.

Tư Chuột xót xa, không vì mất thêm tiền một cách vô lý, mà vì lòng tham của con người, lại là người mà anh từng ngưỡng mộ, thương mến. Cuốn sách thơ trong tay Tư Chuột bỗng trở nên thừa thãi, lố bịch, và cái phong thư có vài trăm đô la nằm trong túi áo anh có lẽ không bao giờ cần phải lựa lời tế nhị để trao cho người nhận nữa. Anh bỗng quyết định không cần đến nhà Ngọc Diệp, không đối diện với nàng, người trong mộng của anh đã chết tự lâu rồi. Món tiền này anh sẽ cho những người nghèo khổ nào đó anh gặp trên đường phố, còn cuốn thơ, sẽ có một người xứng đáng hơn Ngọc Diệp để anh trao tặng.

Một thằng bé bán vé số đến bên Tư Chuột, nó chìa xấp vé số ra mời mọc, nhưng Tư Chuột gạt đi và mời lại nó:

– Thằng nhỏ, mày muốn ăn cơm tấm không?

– Muốn, mà không có tiền ông ơi!

– Mày có bao nhiêu đứa bạn kêu hết lại đây, tao bao.

Thằng vé số nhẩy cẩng lên vì vui sướng, vội chạy đi tìm lũ bạn, một lúc sau hơn chục đứa kéo tới bu quanh Tư Chuột, anh ra lệnh:

– Đứa nào muốn ăn gì thì kêu đi, rồi qua uống sinh tố hay ăn chè quán này. Nghe chưa?

Lũ trẻ uà ra chỗ bà bán cơm, xúm xít chỉ trỏ các món ăn. Tư Chuột gọi cô con gái bà hàng cơm ra, đếm bao nhiêu dĩa cơm, mỗi dĩa 40 ngàn đồng , trả tiền ngay tại chỗ, làm cô kinh ngạc không ngờ hôm nay trúng mánh lớn. Tư Chuột lại đưa cho cô một xấp bạc Việt Nam nữa và nói trước mặt lũ trẻ:

– Số tiền này đủ cho lũ trẻ đến đây ăn cơm ít nhất cũng ba lần nữa. Tôi trả trước cho cô đấy.

Anh quay qua trả tiền chị sinh tố cũng đủ cho bọn trẻ ba lần nữa rồi ra về.

Thấy chồng về sớm chị Tư Chuột ngạc nhiên:

– Tưởng anh đi tới nhà bạn bè chiều mới về?

Anh chìa cuốn thơ gói trong tấm giấy hoa xinh đẹp ra:

– Có tìm nhưng không gặp bạn, nên anh ghé vào một tiệm sách, chọn mua tặng em một cuốn thơ tình.

– Một cuốn thơ tình?

Chị Tư Chuột cảm động ngỡ ngàng vì món quà bất ngờ, chồng chị chưa bao giờ tặng chị một món quà thanh lịch như thế này, chị như bay bổng vào cõi thiên thai:

– Anh ơi, tuy em ít đọc thơ, nhưng anh mua tặng thì từ nay em sẽ siêng đọc thơ và sẽ yêu nó.

Chị mở ra thấy cuốn thơ, lẩm bẩm đọc “ Một thời tương tư”, nên càng cảm động và ngạc nhiên:

– Không ngờ anh tối ngày lo sửa xe, tay chân dầu nhớt, mà cũng có tâm hồn thi sĩ ghê. Ở với anh mấy chục năm em mới phát hiện ra điều này. Bộ hồi đó anh tương tư em hả?

Tư Chuột nhìn vợ, chị cũng to mập, sồn sồn không thua gì Ngọc Diệp. Nhưng còn có chỗ dễ thương, chị đôn hậu và thành thật tin vào những lời nói dối của chồng.

Tư Chuột bỗng thấy thương vợ hơn bao giờ, anh nói bằng sự trìu mến như thuở ban đầu mới cưới nàng:

– Vì em mãi mãi là người anh yêu, là người trong mộng của đời anh.

* * *

Buổi chiều đi chơi cùng với vợ, tình cờ đi ngang qua con đường nơi đầu hẻm nhà Ngọc Diệp, quán cơm đã dẹp, chỉ còn quán sinh tố. Tư Chuột bảo tài xế taxi ngừng lại, để anh ghé vào tiệm sinh tố mua một bao thuốc lá ba số. Chị sinh tố nhận ra anh ngay và mau mắn:

– Mấy đứa nhỏ nhờ tôi gởi lời cám ơn ông nếu có dịp gặp lại. Còn bà Ngọc Diệp chủ tiệm cơm, bà ấy tuyên bố một câu về ông, nói ông đừng có buồn nghe?

– Chị cứ nói đi.

– Bà ấy nói với tôi rằng thằng cha đó một là khùng, hai là dân giang hồ làm ăn gian dối, trúng mánh, nên mới thừa tiền bao lũ trẻ bụi đời ngoài đường phố. Biết thằng cha chịu chơi như vậy, lúc nãy tao tính mỗi dĩa cơm 50 ngàn đồng rồi. Tiếc quá!

Tư Chuột chào chị sinh tố lên Taxi, lòng thảnh thơi, không có gì để nuối tiếc khi anh đã quyết định không bao giờ gặp lại người trong mộng ngày xưa của mình nữa. 


 

Người lấy làm lạ vì họ không tin. (Mc 5:5-6)-Cha Vương

Người lấy làm lạ vì họ không tin. (Mc 5:5-6)

Chúc một ngày Chúa Nhật thật hạnh phúc được cả Thiên Chúa lẫn mọi người yêu thương và quý chuộng. Zui zẻ hồn nhiên nhé.

Cha Vương

CN: 07/7/2024

TIN MỪNG: Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Người lấy làm lạ vì họ không tin. (Mc 5:5-6)

SUY NIỆM: Một trong những vấn đề gai góc của thời đại ngày nay là liệu trong tương lai giới trẻ có còn tin vào Chúa nữa không? Vấn đề ở đây không phải là Giáo Hội đang  bị lung lay nhưng mà là đức tin của người tín hữu, đặc biệt là giới trẻ hôm nay đang gặp quá nhiều chướng ngại, nào là văn minh vật chất, nào là óc thực nghiệm, trí tuệ nhân tạo và duy khoa học, sợ dấn thân và thích yên ổn. Trong khi đức tin đòi hỏi phải dấn thân, phải phó thác, phải hy sinh. Đức tin thì lại đồng nghĩa với bị quên lãng, bị bách hại và phải chấp nhận hy sinh. Thảm nào khi nói đến Chúa thì họ cảm thấy ngán ngẩm vì phải hy sinh trong một xã hội đẩy mạnh lối sống hưởng thụ. Trong bài viết “Tại sao phải bận tâm với đức tin?”, tác giả diễn tả thật chính xác về nhu cầu của đức tin như sau: “Đức tin Kitô giáo là chiếc cầu cho phép chúng ta qua bờ bên kia. Đối với những ai nhắm đến cuộc sống vĩnh cửu, thì đức tin Kitô giáo giống như một bàn tay vươn ra nắm lấy người đó và giúp vượt qua một vách núi cheo leo. Đức tin tựa như bờ vai mà trên đó con người có thể dựa vào khi hành trình trở nên quá khó khăn. Đức tin tựa như ánh sáng xuất hiện trong đêm tối và chiếu sáng con đường, như cơn gió nổi lên và đẩy những cánh buồm trôi. Đức tin biến đổi cuộc sống thường ngày của chúng ta. Thậm chí đức tin còn làm sáng tỏ nỗi u ám nhất trong chúng ta. Bạn tự hỏi mục đích của đức tin là gì…. Đó là hãy sống một cuộc sống cách đơn sơ và sống vĩnh cửu! “

LẮNG NGHE: Hãy nghiệm xem CHÚA tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người! (Tv 34:9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin tăng thêm niềm đức tin cho con!

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin Kính: Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…

From: Do Dzung

Cho Con Vững Tin – Gia Ân (St: Lm. Nguyễn Duy) 

ĐIỀU PHI THƯỜNG – (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Bởi đâu ông ta được như vậy?”.

Trong “Les Misérables”, “Những Người Khốn Khổ”, J. Valjean ở tù 19 năm vì ăn cắp một ổ bánh mì. Được tự do, anh đến nhà một Giám mục, được ăn ngon và ngủ qua đêm. Tối đó, J. Valjean lấy cắp bộ đồ ăn bằng bạc và bị bắt. Cảnh sát giao anh cho vị Giám mục; nhưng, chỉ để nghe, “Tôi đã tặng chúng cho anh ta. Và Jean, bạn quên cái chân đèn!”. J. Valjean đã sốc; sau đó, anh thực sự ăn năn vì lòng tốt phi thường của vị Giám mục.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy nhận ra ‘điều phi thường’ giữa những gì bình thường!”. Điều phi thường vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại vẫn là Giêsu, Ngôi Lời làm người. Vậy mà, Tin Mừng Chúa Nhật   hôm nay cho biết, Ngài về thăm quê, vào hội đường, đồng hương của Ngài không đón nhận Ngài; còn hơn thế, họ xúc phạm Ngài. Họ tự hỏi, “Bởi đâu ông ta được như vậy?”.

Qua miệng Êzêkiel, Thiên Chúa phán, “Chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng!” – bài đọc một. Ngạc nhiên thay, vị ngôn sứ Êzêkiel tiên báo chính là Chúa Giêsu. Buồn thay, cuộc gặp gỡ của Ngài với người cùng quê thật đáng thất vọng! Thoạt tiên, họ ngạc nhiên về sự khôn ngoan và những việc Ngài làm; nhưng sau đó, họ “vấp phạm”; đúng hơn, ‘xúc phạm’ Ngài. Họ không hiểu làm thế nào, một người họ biết rạch ròi đến thế lại có thể phi thường đến vậy! Họ để cho sự gần gũi và thân quen che phủ khả năng của một niềm tin lẽ ra phải có đối với Ngài, cùng với sự vui mừng trước Con Thiên Chúa.

“Ngôi Lời đãlàm người và ở giữa chúng ta”; “Ngài đã đến, nhưng người nhà của Ngài không tiếp nhận Ngài”. Nhà thơ Gerard M. Hopkins diễn tả chân lý này một cách tuyệt vời, “Thế giới bị buộc tội bởi sự vĩ đại của Thiên Chúa!”; “Trên một thế giới bị bẻ cong, Đức Thánh Linh vẫn ấp ủ nó với bầu ngực ấm áp và ôi, với đôi cánh rạng ngời!”. Đó là một thế giới không nhận ra ‘điều phi thường’ giữa những gì bình thường!

Tin Mừng muốn nói, Thiên Chúa có thể đến với chúng ta qua bất cứ ai – thân quen hay xa lạ – bất cứ biến cố nào. Vì thường khi, chúng ta coi những gì quen thuộc là hiển nhiên; vậy mà chúng vẫn tiết lộ những bí ẩn về sự vĩ đại và hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới. Ngài vẫn có thể tạo nên điều kỳ diệu cả trong những gì chúng ta ước nó đừng bao giờ xảy ra. Như vậy, cả nơi những con người vốn có thể gây đau đớn cho chúng ta, những người ‘không mong chờ’ nhất, thì ‘điều phi thường’ của Thiên Chúa vẫn xảy ra!

Đó là những gì Phaolô gọi là “cái dằm đâm vào thân xác”. Nhưng nhờ cầu nguyện, Phaolô nghe được, “Ơn của Thầy đã đủ cho an, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối!”. Lời Chúa dạy chúng ta, hãy cậhy trông vào Chúa, “Mắt chúng ta hướng nhìn lên Chúa, tới khi Ngài xót thương chút phận!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Bởi đâu ôn ta được như thế?”. Đừng đặt câu hỏi như vậy, nhưng ngược lại! Bởi đâu tôi được Chúa thương nhiều như vậy? Rất dễ dàng, chúng ta vẫn có thể rơi vào cạm bẫy khiến Chúa Giêsu quay đi. Đã bao lần chúng ta đánh mất cơ hội không gặp được Ngài qua các biến cố, qua những con người. Và chúng ta mất ơn Chúa. Chúng ta quên rằng, chính những con người, những biến cố đó là những hồng ân chính Ngài gửi tặng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, qua những sự việc ‘tầm thường’, những con người ‘bình thường’ và cả người ‘bất thường’, cho con nhận ra ‘điều phi thường’ Chúa thương gửi trao!”, Amen.

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***********************

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN NĂM B

Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

7 Thưa anh em, để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. 8 Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. 9 Nhưng Người quả quyết với tôi : “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi. 10 Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

1 Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.