ÔM LẤY NÓ! – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt!”.

“We Are the World”, “Chúng Ta là Thế Giới”, một ca khúc Michael Jackson và Lionel Richie viết. Một đĩa đơn “thu hút sự chú ý chưa từng có của quốc tế về châu Phi” ghi âm năm 1985 với sự góp giọng của hơn 45 siêu ca sĩ; đạt doanh số hơn 20 triệu bản, thu hơn 75 triệu dollars quỹ giúp châu Phi. “Chúng ta là thế giới, hãy học biết chia sẻ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng “Chúng ta là thế giới, hãy học biết chia sẻ!”, khác nào nói, hãy ‘Ôm lấy thế giới!’. Vậy mà, Lời Chúa hôm nay cảnh báo, đó là một thế giới ‘đầy cỏ!’; một thực tế vừa xót xa vừa đáng mừng! Tại sao? Cỏ ở khắp mọi nơi, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn nhiều hơn cỏ; nó bao phủ cả thế giới! Quan trọng hơn, bạn và tôi được kêu gọi để ‘ôm lấy nó’ và cho phép Thiên Chúa ‘ôm nó’ qua chính mình!

Nếu coi lúa tốt là tất cả những gì Chúa Kitô dạy thì thế giới ngày nay có rất nhiều điều trái nghịch Kitô giáo; nói cách khác, lắm cỏ! Cỏ thậm chí sinh sôi nhiều hơn và dễ thấy hơn lúa. Vậy không lẽ Chủ Mùa cho phép cỏ át lúa? Không đâu! Chúa Giêsu nói, “Cha trên trời cho mặt trời mọc trên kẻ xấu và người tốt!”. Vì thế, khi thấy cỏ hầu như ở khắp mọi nơi, chúng ta không nản chí; trái lại, cứ ‘ôm lấy nó’, để Vương Quốc Đức Kitô hiện diện trong đó, ít nữa là ‘thế giới quanh mình!’.

Cần nhớ, cỏ luôn luôn có và nó sẽ có cho đến tận thế! Tập trung vào lúa, đừng tập trung vào cỏ! Tập trung vào cỏ, chúng ta có thể rơi vào phê phán hoặc rút lui khỏi những tương tác với ai không nhìn mọi thứ như chúng ta nhìn; và như thế, trở nên tiêu cực, đánh mất hy vọng và niềm vui. Không! Tình yêu kêu gọi chúng ta không chỉ thấy ‘những gì đang có’ nhưng còn mời gọi chúng ta thấy ‘những gì có thể!’. Mẹ Têrêsa nói, “Tôi tin rằng, Thiên Chúa yêu thương thế giới qua chúng ta!”. Vậy tôi có cho phép Thiên Chúa yêu nó qua tôi, và tôi có cùng Ngài ‘ôm lấy nó’, một thế giới đáng thương?

Thật trùng hợp, điều chúng ta được mời gọi cũng là điều Giêrêmia đã sống! – bài đọc một. Giêrêmia không nguyền rủa dân, một Israel phản nghịch; trái lại, ông ôm lấy dân! Đúng hơn, Giêrêmia cho phép Thiên Chúa qua ông, ôm lấy Israel, “Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này!”. “Nơi” của Chúa là ‘đất Hứa’, là đền thờ, là “Cung điện khả ái” như Thánh Vịnh đáp ca hoài niệm.

Anh Chị em,

“Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt!”. “Mùa gặt” là ‘mùa xót thương!’. Với Chủ Mùa, ‘cỏ thành lúa’ vẫn là điều có thể. Lòng thương xót là nguồn gốc và động lực của mọi cuộc hoán cải. “Lòng thương xót là gì nếu không phải là tình yêu vô bờ của Thiên Chúa, Đấng đã đương đầu với tội lỗi của con người, kiềm chế xung năng của công lý nghiêm khắc, và để cho mình ‘bị lay động’ bởi sự khốn khổ của các tạo vật vốn thúc đẩy đến toàn bộ, đến nỗi trao cả món quà của bản thân, Con Một, trên thập giá!” – Gioan Phaolô II. Cả chúng ta, hãy ước ao thật nhiều về một kinh nghiệm tái tạo của lòng thương xót, để có thể cùng Chúa ‘ôm lấy nó’, một thế giới đáng thương hơn là đáng ghét!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, để có thể ôm lấy một thế giới ‘ít lúa, lắm cỏ’, tiên vàn, xin ân sủng Chúa hoán cải tâm hồn con; nhờ đó, nó ‘đầy Chúa’ và ‘sạch cỏ!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******************

Thứ Bảy Tuần XVI, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

Khi ấy, Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe dụ ngôn sau đây : “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. 25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. 26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. 27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng : ‘Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?’ 28 Ông đáp : ‘Kẻ thù đã làm đó !’ Đầy tớ nói : ‘Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?’ 29 Ông đáp : ‘Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi’.” 


 

MỘT MÌNH – Lang Thang Chiều Tím

 Lang Thang Chiều Tím

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mìnhngoài hiên nắng lóe, đàn

chim giật mình… đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình“biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

Nắng xuyên qua láhạt sương lìa cànhđời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận tình duyên trăm mốimột kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì túy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

 Lang Thang Chiều Tím


 

Mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria.

Chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé.

*THÔNG BÁO ĐẶC BIỆT: Cơ hội để lãnh ơn toàn xá nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Tư được ấn định vào ngày 28/7/2024. Sắc lệnh viết: “Ơn toàn xá này được ban theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) cho ông bà, người cao tuổi và tất cả các tín hữu, được thúc đẩy bởi tinh thần sám hối và bác ái thực sự, vào ngày 28/7/2024, nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi lần thứ Tư, sẽ tham dự Thánh lễ trọng thể do Đức Thánh Cha chủ sự tại Đền thờ Thánh Phêrô, hoặc các cử hành khác trên toàn thế giới. Ơn toàn xá này có thể như một sự cầu bầu dành các linh hồn trong luyện ngục”.

Ơn toàn xá này cũng được ban cho các tín hữu sẽ dành thời gian thích đáng, bằng sự hiện diện hoặc qua phương tiện truyền thông, để thăm viếng những người cao tuổi đang cần hoặc đang gặp khó khăn, như người bệnh, người bị bỏ rơi và tàn tật.

Tòa Ân giải Tối cao còn cho biết Ơn toàn xá cũng có thể được ban cho những người, vì những lý do nghiêm trọng, không thể ra khỏi nhà và hiệp nhất cách thiêng liêng với các cử hành của Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi, dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện, những nỗi đau hay những đau khổ trong cuộc sống của họ, đặc biệt là trong thời gian phát sóng Thánh lễ, qua các phương tiện truyền hình và đài phát thanh, cũng như các phương tiện truyền thông xã hội.

Cha Vương

 Thứ 6: 26/7/2024

TIN MỪNG: Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả. (Luca 8:15)

SUY NIỆM: Cây tốt sinh trái tốt. Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Xem quả biết cây. Đức Maria là hoa quả của hai thánh Gioakim và thánh Anna. Tất cả những điều ấy muốn nói lên rằng Chúa luôn yêu thương những người biết tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Ngài. Đọc lại Kinh Thánh, ta không thấy Thánh Kinh thuật lại lai lịch, và cuộc sống của hai thánh Gioakim va Anna là song thân của Mẹ Maria. Nhưng các Thánh Truyền cho ta hiểu rõ rằng hai ông bà Gioakim và Anna luôn phó thác, cậy trông và tin tưởng vào Chúa. Hai ông bà đã già nua tuổi tác mà vẫn không có con, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương, chấp nhận lời khẩn nguyện, cầu xin của hai ông bà và cho hai ông bà cưu mang, hạ sinh người con yêu quý là Maria. Đây là hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho ông bà Gioakim và Anna. Cái phúc mà song thân của mẹ Maria đã lãnh nhận từ Thiên Chúa biến đổi cả cuộc đời của hai ông bà như lời Tv 23, 5 đã viết: ”Các Ngài được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng xót thương”. Thiên chúa đã chúc phúc cho hai ông bà bằng tình yêu vĩnh cửu, tình yêu không bao giờ tàn lụi, phai mờ, tình yêu hiến trọn cho người khác. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa, hai ông bà được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt và Maria là con hai ông bà đã được Thiên Chúa cất nhắc, để ý và tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính nhờ phúc lành Hai ông bà lãnh nhận nơi Thiên Chúa, qua các Ngài, phúc lành ấy cũng được đổ xuống cho muôn dân, muôn nước và từng người.

(Nguồn-mạng Mến Thánh Giá Cái Mơn, hạnh các Thánh)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa xin cho con cháu trong các gia đình luôn biết sống thảo hiếu với Chúa và ngoan hiền với Ông Bà Cha Mẹ.

LẮNG NGHE: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mátthêu 5:4)

THỰC HÀNH: Hôm nay Bạn hãy gọi điện thoại hỏi thăm Ông Bà Cha Mẹ và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các đấng còn sống cũng như qua đời nhé.

From: Do Dzung

************************************

Cầu Cho Cha Mẹ 7 – Hồng Ngọc

Con ra đời có mẹ cha Là trời cao biển lớn bao la Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà Nhờ công cha nhờ nghĩa mẹ Con khôn lớn trong muôn lời ca

ĐK: Xin ơn trên đổ xuống muôn nhà, Giúp mẹ cha ngày tháng an hoà Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa Xin cho con ở giữa gia đình Sống làm sao đền đáp ân tình Ơn biển trời ghi khắc trong tim

Nuôi con bằng sữa tình yêu và dạy con bằng tiếng thương yêu Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ,con nhờ mẹ cha mới trở nên người Bàn tay cha,dòng sữa mẹ Xin ghi nhớ không bao giờ quên Con ra đời có mẹ cha Là trời cao biển lớn bao la Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà Nhờ công cha nhờ nghĩa mẹ Con khôn lớn trong muôn lời ca

ĐK: Xin ơn trên đổ xuống muôn nhà, Giúp mẹ cha ngày tháng an hoà Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa Xin cho con ở giữa gia đình Sống làm sao đền đáp ân tình Ơn biển trời ghi khắc trong tim

Nuôi con bằng sữa tình yêu và dạy con bằng tiếng thương yêu Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ, con nhờ mẹ cha mới trở nên người Bàn tay cha, dòng sữa mẹ Xin ghi nhớ không bao giờ quên

Trump kể lại cuộc điện thoại với Biden sau vụ mưu sát

Ba’o Nguoi-Viet

July 26, 2024

WASHINGTON, DC (NV) – Cựu Tổng Thống Donald Trump tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn vừa phát sóng về cuộc nói chuyện với Tổng Thống Joe Biden ngay sau khi ứng cử viên Đảng Cộng Hòa thoát chết sau một vụ ám sát hụt tại một cuộc vận động tranh cử diễn ra ở Pennsylvania, theo tờ New York Post.

“Ông ấy nói, ‘Hên cho ông là ông quay đầu qua bên phải,’” Trump, 78 tuổi, kể với Jesse Watters, người chủ sự chương trình Đài Fox News về cuộc điện thoại giữa ông và vị tổng thống 81 tuổi.

Trump thoát chết trong gang tấc vào ngày 13 Tháng Bảy trong lúc ông quay đầu qua bên phải để nhìn vào biểu đồ trên màn hình thì ngay lúc đó, Thomas Crooks, 20 tuổi, nổ súng trong cuộc vận động tại Butler, Pennsylvania.

Cựu Tổng Thống Donald Trump và ứng cử viên Phó Tổng Thống, Thượng Nghị Sĩ JD Vance trả lời phỏng vấn Fox News ngày 20 Tháng Bảy, 2024 (Hình: Fox News)

Trump mô tả cuộc trò chuyện với Biden là “tốt đẹp.”

Trong cuộc phỏng vấn được thu hình hôm Thứ Bảy, 20 Tháng Bảy, nhưng phát sóng vào Thứ Hai, Trump cũng tiết lộ rằng ông không chịu nằm lên cáng cứu thương để được khiêng ra khỏi sân khấu sau khi viên đạn sượt qua tai phải của ông.

“Họ muốn tôi nằm lên cáng,” Trump nói. “Lúc đó họ chuẩn bị một cái cáng cứu thương, và họ muốn tôi nằm lên đó. Nhưng tôi nói, ‘Không, nằm làm chi.’”

Các đặc vụ thuộc Sở Mật Vụ che chắn cho ông ngay sau khi phát súng đầu tiên vang lên vì tin rằng ông bị bắn trúng bụng, Trump nói.

“Tôi chỉ có cảm giác lỗ tai bị thương,” vị tổng thống thứ 45 kể về việc ông từ chối nằm lên cáng cứu thương, nhưng ông thừa nhận “chảy máu rất nhiều” phần nào khiến các đặc vụ lo sợ.

Trump cho biết vì ông không chịu nằm lên cáng cứu thương nên dẫn tới “lời qua tiếng lại” trong lúc các đặc vụ “đè lên người tôi.”

“Tôi mới nói rằng, ‘Tôi nói rồi, tôi ổn. Tôi ổn mà. Để tôi ngồi dậy đã. Tôi muốn đứng dậy. Nhưng đừng có bắt tôi nằm lên cáng cứu thương,’” ông nói.

Về tình trạng sức khỏe hiện tại, Trump cho biết tai phải của ông “tốt” và “đang khá hơn nhiều.”

“Tôi được gỡ băng gạc ra rồi, nhưng đó là một vết thương rất nghiêm trọng,” Trump nói về vết đạn bắn.

Trong cuộc phỏng vấn, Trump cũng đề nghị rằng nên mở một cuộc điều tra để xác định xem Tòa Bạch Ốc có cố tình che đậy tình trạng suy giảm cả thể chất lẫn tâm thần của Biden hay không.

“Tôi nghĩ phải xem xét vấn đề này,” Trump lập luận. “Nhìn đi, có những người từng dối trá trước công chúng Mỹ. Và để tôi nói cho nghe chuyện này, người ta nên kiểm tra các bác sĩ khám cho ông ấy, vì các bác sĩ của ông ấy liên tục đưa ra các kết quả tuyệt vời về sức khỏe.”

“Tôi không phải là bác sĩ, nhưng hôm kia tôi có nhìn thấy [Biden],” cựu tổng thống nói thêm. “Ông ấy không thể bước lên cầu thang dành cho trẻ em để lên phi cơ Air Force One.”

“Bác sĩ của ông ấy nói thế này — nhân tiện thì tôi còn biết tất tần tật về bác sĩ của ông ấy — bác sĩ của ông ấy nói rằng ông ấy khỏe mạnh. Ông ấy không khỏe chút nào cả. Tôi không nghĩ sức khỏe ông ấy tốt,” Trump nói thêm, dường như ám chỉ tới bác sĩ Tòa Bạch Ốc, Kevin O’Connor.

Trump tiết lộ rằng ông còn gặp gỡ Giám Đốc Sở Mật Vụ Kimberly Cheatle đang bị bủa vây sau vụ ám sát.

“Thực ra là Cheattle có tới gặp tôi,” Trump nói.

“Tôi nghĩ bà ấy là người tử tế. Nhưng, thực ra mà nói, phải có ai đó bảo đảm rằng không một ai được leo lên nóc tòa nhà đó,” cựu tổng thống nói thêm.

Ứng cử viên phó tổng thống Đảng Cộng Hòa JD Vance, ngồi kế bên Trump trong cuộc phỏng vấn, nói với Fox News rằng lúc đó ông đang chơi golf mini với các con và mong nhận được cuộc điện thoại từ Trump về vị trí phó tổng thống khi ông hay tin về vụ nổ súng trong cuộc vận động tranh cử.

“Tôi nói với các con mình, ‘Chúng ta phải đi ngay. Tổng Thống bị bắn rồi.’” Và tất nhiên, lúc đó chúng tôi chưa biết liệu tính mạng Trump sẽ ra sao, và con trai tôi hỏi, ‘Bố ơi, đó là ông tổng thống bạn của bố hay ông tổng thống mà bố không ưa?’ Tôi trả lời, ‘Ông tổng thống đó là bạn của bố.’ Và thằng bé nói, ‘OK, thật đáng tiếc.’ Đó là một khoảnh khắc rất dễ thương,” Vance nói. (TTHN)


 

Chữ viết Việt Nam và giáo sĩ Alexandre de Rhodes

Ba’o Nguoi-Viet

July 25, 2024

Kỷ niệm 400 năm hình thành chữ quốc ngữ (1624-2024)

Huỳnh Duy Lộc/SGN

K.W.Taylor (Keith Weller Taylor) sinh năm 1946 tại Michigan, Hoa Kỳ, có bằng cử nhân vào Tháng Năm năm 1968 tại Đại học George Washington. Chỉ hai tuần sau, ông bị gọi khám sức khỏe để đi quân dịch và đã tình nguyện vào Cơ Quan Tình Báo Quân Đội với hy vọng không bị đưa sang chiến trường Việt Nam.

Thế nhưng ông vẫn phải sang Việt Nam vào năm 1970 với cấp bậc trung sĩ trong quân đội Mỹ rồi được trở về Mỹ vào năm 1971 sau khi bị thương. Vào Tháng Giêng năm 1972, sáu tháng sau khi trở về từ Việt Nam, ông được giải ngũ và tiếp tục theo học Đại học Michigan, chuyên về lịch sử Việt Nam.

Sau khi lấy được bằng tiến sĩ về lịch sử vào năm 1976 với luận án “The birth of Vietnam” (Việt Nam thời dựng nước), ông làm giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Quốc Gia Singapore (1981-1987), giáo sư khoa Lịch sử ở Hope College (1987-1989) rồi làm giáo sư của khoa Nghiên cứu châu Á của Đại học Cornell (từ năm 1989 đến nay)

K.W.Taylor đã viết hai cuốn sách về Việt Nam:
-Luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1976, được xuất bản năm 1983 với nhan đề “The Birth of Vietnam” (Việt Nam thời dựng nước).
-“A History of the Vietnamese” (Một lịch sử của người Việt, Cambridge University Press ấn hành, New York, 2013).

Trong lời giới thiệu đầu sách “A History of the Vietnamese”, K.W.Taylor định nghĩa: “Lịch sử Việt Nam là những gì có thể tìm biết được về một mặt nào đó của quá khứ. Lý do gọi nó là sử Việt là vì những biến cố đã xảy ra trên phần đất mà hiện nay chúng ta gọi là Việt Nam và một số phiên bản của nó đã từng được dạy như là một hồi ức hay kỷ niệm chung cho nhiều thế hệ người nói tiếng Việt và do đó gây ra một cảm giác rằng họ làm chủ. Tôi thích thú với quá khứ của Việt Nam không phải vì đấy là của [nước hay người] Việt Nam, mà vì nó giúp tìm hiểu về cách xã hội con người được tổ chức và cai trị như thế nào trong nhiều năm bên cạnh một đế quốc.”

Với các sử gia ngoại quốc như K.W.Taylor, Alexandre de Rhodes có phải là “tên gián điệp,” “biệt kích Kitô” như lời kết án của một số tác giả người Việt như Chu Văn Trình?

K.W.Taylor viết về giáo sĩ Alexandre de Rhodes: “Vào năm 1651, Alexandre de Rhodes cho in cuốn “Từ điển Việt – Bồ – La” tại Rome. Đây là cuốn từ điển đầu tiên dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Chính vì vậy, người ta thường cho rằng Alexandre de Rhodes là người đã sáng chế chữ quốc ngữ, nhưng sự thật, chữ quốc ngữ do người Bồ Đào Nha sáng chế và các giáo sĩ dòng Tên vận dụng để hiểu được tiếng Việt.

Nhà nghiên cứu Keith Weller Taylor (Instagram)

Alexandre de Rhodes đến từ miền Avignon của Pháp, là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên đã đến truyền đạo cho người Việt. Sau khi ở Đàng Trong trong một năm rưỡi để học tiếng Việt, ông ra Đàng Ngoài vào năm 1627, ở lại đó suốt ba năm rồi bị trục xuất.

Sau khi trở về Macao và ở lại đó trong 10 năm, ông trở lại Đàng Trong trong 5 năm (1640-1645), rồi đến Rome vào năm 1649. Alexandre de Rhodes đã cung cấp cho người Âu châu những kiến thức về Đàng Ngoài qua tác phẩm “Vương quốc Đàng Ngoài” ấn hành bằng tiếng Ý vào năm 1650, bằng tiếng Pháp vào năm 1651 và bằng tiếng La tinh vào năm 1652.

Sau đó, những tác phẩm về xứ Đàng Trong của những nhà truyền giáo Dòng Tên khác lần lượt ra mắt. Joseph Tissanier (1618-1688) ở Đàng Ngoài từ năm 1658 tới năm 1663 đã viết một bản tường trình bằng tiếng Pháp vào năm 1663. Cũng trong năm ấy, Giovanni Filippo de Marini (1608-1677) truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1647 tới năm 1658, đã viết một bản tường trình bằng tiếng Ý được dịch ra tiếng Pháp vào năm 1666. Một bản tường trình của Christoforo Bori sống tại Bình Định từ năm 1618 tới năm 1622 đã được dịch ra tiếng Ý vào năm 1631 và chỉ 2 năm sau được dịch ra tiếng La tinh, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hà Lan và tiếng Đức. Alexandre de Rhodes viết một bản tường trình về cuộc truyền giáo ở Đàng Trong được xuất bản bằng tiếng Pháp vào năm 1652. Trong những bản tường trình này là những trải nghiệm của hàng chục nhà truyền giáo của Dòng Tên đã sống ở Đàng Trong và Đàng Ngoài vào tiền bán thế kỷ 17.

Sự khởi đầu của Thiên Chúa Giáo ở xứ sở của người Việt thường được gắn kết với các nhà truyền giáo đã viết những bản tường trình bằng những ngôn ngữ của châu Âu, đặc biệt là Alexandre de Rhodes với cuốn “Từ điển Việt – Bồ – La” và cuốn “Phép giảng tám ngày” được ấn hành tại Rome…

Sự nhầm lẫn về Alexandre de Rhodes bắt nguồn từ việc cho ông là người sáng chế chữ quốc ngữ trong khi thật ra, chữ cái La tinh được các nhà truyền giáo của Dòng Tên vận dụng khi học tiếng Việt và được người Việt vận dụng để học tiếng La tinh, và cả người Việt lẫn người Âu châu đều dùng chữ cái La tinh để dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo mới đến hoặc để phục vụ những mục tiêu riêng… (A History of the Vietnamese, tr. 287, 288)


 

Trịnh Văn Quyết bị ép bán hãng Bamboo Airways trong tù để ‘khắc phục’

Ba’o Nguoi-Viet

July 25, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong lúc phiên tòa xử vụ “thao túng chứng khoán” đang diễn ra, bị cáo Trịnh Văn Quyết, cựu chủ tịch tập đoàn FLC, khai rằng hồi bị tạm giam, ông này đã bán hãng hàng không Bamboo Airways, thu được 200 tỷ đồng ($7.9 triệu) là khoản thanh toán ban đầu, để nộp “khắc phục hậu quả.”

Theo tạp chí Tri Thức (ZNews) hôm 25 Tháng Bảy, bị cáo Quyết nói bên cạnh số tiền nêu trên, ông này còn nhờ gia đình nộp thêm, tổng cộng đến nay là 240 tỷ đồng (gần $9.5 triệu).

Bị cáo Trịnh Văn Quyết (đứng), cựu chủ tịch tập đoàn FLC, tại phiên tòa. (Hình: ZNews)

Mong muốn của bị cáo Quyết là tiếp tục nộp thêm tiền để “khắc phục” 700 tỷ đồng ($27.7 triệu).

Cũng theo lời bị cáo Quyết, trong thương vụ Bamboo Airways, bên mua (tập đoàn Him Lam của “đại gia” Dương Công Minh) hiện còn nợ 500 tỷ đồng ($19.8 triệu) và họ cam kết chuyển số tiền này vào tài khoản của Cơ Quan Điều Tra để “khắc phục hậu quả” cho bị cáo Quyết.

Ngoài ra, trước những quy kết gây thiệt hại với tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” bị cáo Quyết “xin bán toàn bộ tài sản tích góp, bao gồm tài sản cá nhân và cổ phần tại FLC để khắc phục.”

Bị cáo Trịnh Văn Quyết còn ước lượng rằng tài sản của ông này đang bị phong tỏa trị giá khoảng 5,000 tỷ đồng ($198 triệu).

Đến nay, thương vụ bán hãng Bamboo Airways cho “đại gia” Dương Công Minh vẫn còn nhiều chi tiết bí ẩn, không được truyền thông trong nước làm rõ.

Công luận chỉ được biết những góc khuất của vụ thâu tóm này khi ông Đặng Tất Thắng, 43 tuổi, cựu chủ tịch tập đoàn FLC và cựu tổng giám đốc hãng hàng không Bamboo Airways, phanh phui và tố giác ông Minh trên trang cá nhân hồi Tháng Tư.

Đến trung tuần Tháng Năm, ông Đặng Tất Thắng, người đang định cư ở Úc, bị Bộ Công An phát lệnh truy tìm với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Thông báo truy tìm của Bộ Công An cho biết ông Thắng “không có mặt tại nơi cư trú quận Cầu Giấy, Hà Nội” và “không biết đang ở đâu.”

Lệnh của Bộ Công An được ghi nhận là nhằm “xác minh tin báo của ngân hàng Sài Gòn-Thương Tín (Sacombank).”

Loạt bài đăng trên trang cá nhân của ông Đặng Tất Thắng cho rằng ông Dương Công Minh “đang bị cấm xuất cảnh vì rửa tiền cho bà Trương Mỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát.”

Bài của ông Thắng viết: “Minh là người trực tiếp giúp bà Lan ‘tẩy rửa’ 108,000 tỷ đồng ($4.2 tỷ) và $14.7 triệu tiền mặt cùng với một chân tay khác của bà Lan cũng hiện đã đang bỏ trốn khỏi Việt Nam là Hồ Quốc Minh. Hồ sơ về Minh hiện đang được cơ quan Cảnh Sát Điều Tra thụ lý.”

Thương vụ Bamboo Airways diễn ra âm thầm trong những tháng mà bị cáo Trịnh Văn Quyết bị tạm giam. (Hình: ZNews)

“Minh ‘Xoài’ này là thằng đã bị mình chửi thẳng mặt cả trên Facebook, cả ngoài đời: ‘Mày có tiền và già thì tao vẫn dạy cho mày làm người,’ và giờ ra đường hay phi trường thì đều cúi gằm mặt không dám nhìn mình. Minh ‘Xoài’ giờ đang mưu tính thâu tóm tiếp FLC nhưng liệu có kịp không hả Xoài?” ông Thắng viết.

Tuy vậy, sau loạt bài đăng liên tiếp gây xôn xao dư luận, trang cá nhân của ông Thắng bỗng dưng biến mất.

Một số nguồn thạo tin trên mạng xã hội xác nhận lúc đăng đàn tố cáo ông Minh thì ông Đặng Tất Thắng đã nhập quốc tịch Úc. (N.H.K) [qd] 


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lê Đình Công & Lê Đình Chức

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

25/07/2024

Hồi đầu thế kỷ, có hôm, tôi nhận được thư của Vũ Thư Hiên. Ông hớn hở cho hay “Anh Tấn sắp sang Pháp chơi với anh vài tuần”. Thuở ấy, hai ông còn trẻ trung (và còn sung lắm) nên chắc chắn là đôi bạn sẽ đi lung tung khắp nơi, chứ dễ gì mà chịu quanh quẩn ở Paris.

Mãi cả chục năm sau, tôi mới nghe nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhắc đến chuyến du hành thú vị này (với ít nhiều tiếc nuối) trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC – hồi cuối năm 2014: “Sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm… Đi thì mới biết mình bị mất những gì.”

Giờ ạ! Tưởng gì? Chứ nếu “đi thì mới biết mình bị mất những gì” thì cần chi phải qua đến tận Âu Châu làm chi (cho má nó khi) chỉ cần bước qua Cambodia là cũng đủ “biết” là “họ khác dân mình lắm”, khác hết biết luôn.

“Trên đường phố mù bụi đỏ, những tủ đổi tiền, cỡ bằng tủ thuốc lá của ta, vẫn hoạt động bình thường, thong thả với hàng cọc tiền đủ từ mọi quốc gia chứa bên trong. Tiền bày ra đường, an nhiên, tự tại như vậy, ắt hẳn nạn trộm cướp ở đây không hề là nỗi ám ảnh thường xuyên của những ngân hàng đường phố kiểu này …

Dừng chân hỏi đường với một anh xe ôm đen sạm, phong sương bên đường bằng một thứ tiếng Miên bồi, tôi đã không khỏi ngạc nhiên và cảm động khi câu trả lời chỉ được thốt ra sau khi giở nón. Rõ ràng, người xe ôm này thuộc về một nền văn hóa lớn, mà những con người của nó đã học cách sống lễ độ và văn minh một cách rất tự nhiên.” (Lê Đình Phương. “Về Một Nền Du Lịch Lễ Độ.” Lang Thang Như Gió. Phụ Nữ: 2013).

Cho đến nay số người Việt có cơ hội “lang thang như gió” vẫn chưa nhiều nhặn gì cho lắm nên ít kẻ có cơ hội để so sánh, và nhận thức được về sự thua thiệt hay “mất mát” của mình. Phần lớn vẫn chấp nhận chuyện bị giựt đồ, bị thu phí vô tội vạ, bị công an giao thông trấn lột, bị bắt đi bầu, bị công an phường mời lên làm việc (bất kể ngày giờ) … chỉ là những chuyện xui thôi. Cũng không mấy ai phiền hà chi, khi hỏi đường thì bị đòi tiền công (“10K”) chỉ dẫn.

Cho đến khi “đụng” phải sự lập lờ, gian giảo, lật lọng (trắng trợn) của Bộ Luật Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân thì “toàn dân” mới thực sự biết thế nào là “mất mát”, và mới có những phản ứng thích đáng, sau khi “bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay”. Cái giá mà dân Việt, Kinh cũng như Thượng, phải trả cho sự phản kháng quyết liệt của họ – tất nhiên – không rẻ và không ít kẻ đang (hoặc đã) lãnh án tù.

Sự việc gần nhất (và nổi cộm nhất) liên quan đến chuyện tranh chấp đất đai, giữa Đảng và Dân, được mệnh danh là Vụ Án Đồng Tâm. Từ California, ký giả Nguyễn Tuyển (nhật báo Người Việt) tóm lược như sau:

Vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020, nhà cầm quyền CSVN đưa một lực lượng hùng hậu gồm một trung đoàn cảnh sát cơ động cùng các lực lượng công an khác tấn công xã Đồng Tâm. Dân làng cương quyết chống đối lại việc tịch thu khu đất thường được gọi là “cánh đồng Sênh” mà dân làng canh tác hàng chục năm. Họ có các văn kiện địa bạ chứng minh quyền sở hữu, canh tác trong khi nhà cầm quyền lấy cớ đó là đất “quốc phòng” nên đòi lại.

Các vụ tranh cãi, kiện tụng và cưỡng chế hụt cũng như chống cưỡng chế đất tại xã Đồng Tâm kéo dài suốt nhiều năm. Trước khi xảy ra vụ tấn công đầu năm ngoái, vào Tháng Tư, 2017, dư luận trong ngoài nước rúng động khi dân làng đã bắt giữ gần 40 cảnh sát cơ động, công an, viên chức huyện Mỹ Đức. Những người vừa kể chỉ được thả một tuần sau khi nhà cầm quyền cam kết giải quyết thỏa đáng, căn cứ theo đúng luật đất đai và quyền lợi của người dân.

Nhưng sau đó, nhà cầm quyền CSVN trở mặt, vẫn lập luận là dân địa phương chiếm cứ bất hợp pháp, đòi trả đất nhưng không lấy được, dẫn tới đàn áp.

Từ phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm, các nhân chứng quan trọng có mặt khi xảy ra vụ việc như bà vợ ông Kình, con dâu, cháu dâu cùng nhiều dân làng khác đã có lời yêu cầu triệu tập ra tòa làm chứng. Không những không cho triệu tập mà còn bị ngăn chặn từ xa, không cho đến gần tòa án.

Trước phiên xử phúc thẩm, các luật sư biện hộ đã gửi một đơn kiến nghị, yêu cầu thực nghiệm lại hiện trường để xem những cáo buộc qua lời khai của công an có đúng hay trái với sự thật. Tuy nhiên, họ đã bị tảng lờ. Nói chung, phiên tòa xử mang tính áp đặt, bất chấp luật lệ tố tụng hình sự của chính họ đặt ra…

Phiên tòa phúc thẩm tại Hà Nội chiều Thứ Ba, 9 Tháng Ba, với kết quả không làm mấy ai ngạc nhiên khi chủ tọa phiên xử phúc thẩm đọc bản án y án tử hình với hai anh em ông Lê Đình Công, Lê Đình Chức. Hai ông là con ông Lê Đình Kình, người bị công an CSVN giết chết khi xông vào nhà ông vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020. Con trai ông Công là Lê Đình Doanh bị y án chung thân…

Vào thời điểm trên tuy ông Tô Lâm đang giữ chức Bộ Trưởng Công An VN (lực lượng đã tấn công vào xã Đồng Tâm và hạ sát ông Lê Đình Kình) nhưng T.B.T kiêm CTT Nguyễn Phú Trọng mới là người “chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất trong vụ án kinh hoàng” này. Ông đã qua đời vào hôm 19 tháng 07 vừa qua, để lại không ít eo sèo và nhiều điều tiếng.

Bên cạnh những hạn từ có cánh quen thuộc (anh minh, đạo đức, vỹ đại, giản dị, liêm chính, hết lòng vì dân vì nước…) của mọi cơ quan truyền thông quốc doanh – đây đó – trên những trang Thông Tấn Xã Vỉa Hè, là vô số những lời chỉ trích, phê bình, chê bai, mạt sát: lạc hậu, bảo thủ, giáo điều, hèn nhát, tham quyền cố vị …

Giữa hai thái cực này là thái độ và ngôn từ trung dung, dễ được công luận tán đồng: hãy để lịch sử phán xét, nghĩa tử là nghĩa tận… Chỉ có điều phiền là hai ông Lê Đình Công và Lê Đình Chức thì chưa “tử” (và tất nhiên chưa “tận”) cả hai vẫn còn sống nhăn, với hai bản án tử hình lơ lửng, trong tù!

Nếu ý thức được phần nào việc làm tàn ác/bất nhân/thất đức của mình, khi còn thoi thóp thở, Nguyễn Phú Trọng (chắc chắn) đã miễn tử cho Lê Đình Công và Lê Đình Chức. Đây là một công hai việc: vừa làm giảm nhẹ được phần nào tội nghiệt đã lỡ gây ra và cũng xóa luôn được cái bản án “tru di”, một vết nhơ không nhỏ ở thế kỷ này.

Ông Trọng, tiếc thay, đã không “ý thức” được chi ráo trọi cho mãi đến lúc xuôi tay/nhắm mắt!

Nay thì mạng sống hai lương dân vô tội này đang trong tay của ông Tô Lâm. Nếu còn nhất điểm lương tâm thì ông tân CTN, có thể, cũng sẽ ký lệnh “ân xá” (và phóng thích tất cả những người dân Đồng Tâm đang bị cầm tù) dù hy vọng thế rất mong manh. Kẻ còn chút tình người hay nhân tính đâu ai đủ nhẫn tâm để thưởng thức miếng thịt bò dát vàng (trị giá “tương đương với tám tấn lúa khô”) trong khi suy dinh dưỡng vẫn là một vấn nạn lớn đối với rất nhiều trẻ thơ ở đất nước mình.


 

HƯƠNG THƠM CỦA KÝ ỨC – (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Phúc cho mắt các con vì được thấy; phúc cho tai các con vì được nghe!”.

“Ôi, đôi bạn diễm phúc! Mọi tạo vật đều mắc nợ quý ngài, vì qua quý ngài, một quà tặng thanh khiết nhất, xinh đẹp nhất dâng cho Đấng Tạo Hoá; đó là Thánh Mẫu tinh tuyền mà chỉ mình ‘Nàng’ xứng đáng cưu mang Đấng Tạo Dựng muôn loài!” – Gioan Đamas.

Kính thưa Anh Chị em,

Đó là bút tích thâm trầm và sâu sắc của vị thánh tiến sĩ thế kỷ thứ 8 khi nói về hai thánh Gioakim và Anna, song thân của Đức Maria như là ‘hương thơm của ký ức’ – theo Đức Thánh Cha Phanxicô – Giáo Hội mừng kính hôm nay.

Trong một Thánh Lễ ban ơn toàn xá và cầu nguyện cho người cao tuổi, Đức Thánh Cha nhấn mạnh, chúng ta phải biết thu thập, cẩn thận giữ gìn và bảo vệ kho báu quý giá mà Thiên Chúa đã ban cho mỗi người, đó là các bậc sinh thành. “Ông bà của chúng ta và người già không phải là đồ thừa của cuộc sống, không phải là đồ vụn vặt bỏ đi; họ là những mẩu bánh quý giá còn sót lại trên bàn ăn cuộc sống và vẫn có thể nuôi dưỡng chúng ta bằng một hương thơm mà chúng ta đã đánh mất, ‘hương thơm của ký ức!’”.

Lời Chúa được chọn hôm nay nhắc lại cùng một điều. “Chúng ta hãy ca tụng những vĩ nhân và các tổ phụ của mình qua các thời đại. Có những người nhân hậu mà việc thiện của họ không bao giờ bị lãng quên; tên tuổi của họ sẽ được lưu truyền từ đời nọ sang đời kia; sự khôn ngoan của họ được cộng đoàn truyền tụng”. Huấn Ca gọi các ngài là vĩ nhân; và còn hơn cả vĩ nhân, vì qua họ, Thiên Chúa tặng ban cho thế giới, cho Giáo Hội không chỉ các vĩ nhân mà cả những thánh nhân. Họ là vĩ nhân của các vĩ nhân!

Song thân của Đức Maria là ông bà ngoại của Chúa Giêsu; chính các ngài đã giúp hình thành một môi trường đức tin lành thánh, trong đó, trẻ Giêsu phát triển về trí tuệ, tâm đức và cả tầm vóc trước mặt Thiên Chúa và loài người. Ngày lễ hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến ‘hương thơm của ký ức’ Chúa ban cho mình; các ngài là những người đầy lòng tin “đã đi trước chúng ta và đang nghỉ giấc bình an”. Không chỉ nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục, chúng ta còn nhớ đến đức tin; trong đó, các ngài đã sống, chiến đấu, cầu nguyện… và thắp lên ngọn lửa đức tin trong linh hồn và cuộc sống bạn và tôi.

Anh Chị em,

“Phúc cho mắt các con vì được thấy; phúc cho tai các con vì được nghe!”. Như vậy, chúng ta không chỉ mắc nợ các thế hệ đi trước, nhưng còn nợ nần thế hệ cùng thời và nợ cả những thế hệ tương lai. Tại sao? Vì nhờ các đấng sinh thành, chúng ta tin nhận Chúa Giêsu; và trong Chúa Giêsu, chúng ta được lãnh nhận mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa. Vì thế, bổn phận của chúng ta là phải chia sẻ đặc quyền đó, đặc quyền mà “Nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy, mà không được thấy; mong mỏi nghe mà không được nghe”; nghĩa là không chỉ gìn giữ ‘hương thơm của ký ức’, chúng ta còn phải chia sẻ hương thơm Giêsu cho các thế hệ hôm nay và mai ngày.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì cuộc sống của con luôn toả hương nhân đức của các đấng sinh thành; và nhất là ngạt ngào hương Giêsu mà con ra sức ướp lấy mỗi ngày!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******************

Ngày 26 tháng 7

Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Ma-ri-a

Thứ Sáu Tuần XVI – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. 19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. 20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận ; 21 nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nông nổi nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. 22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt Lời, khiến Lời không sinh hoa kết quả. 23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” 


 

Ở MỸ NGAY CẢ NGƯỜI NHẶT VE CHAI HỌ VẪN LUÔN ĐỨNG THẲNG.

Lâm Ái

Dù làm công việc gì, người Mỹ biểu lộ sự tự tin theo phong cách rất riêng.

Đa số họ không thích thể hiện bản thân và tìm kiếm danh tiếng, họ vui vẻ đón nhận và tận hưởng mọi điều cuộc sống đem lại.

Có một số người châu Á rất giàu có khi đến Mỹ, họ phát hiện ra chẳng có ai ngưỡng mộ tài sản kếch xù của mình, và bắt đầu thấy lạc lõng.

Rồi họ xây nhà đẹp, mua siêu xe và những bộ đồ hiệu đắt tiền với hy vọng mang lại sự ảnh hưởng nhất định, nhưng tất cả đều vô ích.

Ngay cả những người Mỹ ở khu ổ chuột, đi xe bình dân vẫn thản nhiên khi thấy những chiếc xe Mercedes lái qua.

Và họ lại càng không chú ý đến những chiếc áo măng-sét hay cổ áo hàng hiệu của người khác.

Ở Mỹ, lương của người dân thường không cao, và tất nhiên không phải ai cũng có nhà đẹp, xe xịn.

Rất nhiều người Mỹ đi làm thuê với mức thu nhập khá thấp, nhưng họ cảm thấy đủ đầy và mãn nguyện.

Thay vì than vãn về những khó khăn và đặt những mục tiêu xa vời, họ vui vẻ đón nhận mọi điều từ cuộc sống và tận hưởng chúng.

Vì vậy, các đại gia châu Á vốn quen “chỉ tay năm ngón” khi đến đất Mỹ thì mất hết sự kiêu ngạo.

Một viên chức Trung Quốc đã từng chia sẻ: “Ở trong nước, người khác nhìn tôi là cúi đầu khom lưng. Nhưng ở Mỹ, ngay cả người nhặt ve chai họ vẫn luôn đứng thẳng.”

( LA sưu tầm & biên soạn )

Ảnh : Một gia đình nông dân Mỹ thật dễ thương.

FB Le An


 

BA CÁI THIẾU KINH NIÊN CỦA NGƯỜI GIÀ – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Già thì khổ, ai cũng biết. Sanh lão bệnh tử! Nhưng già vẫn có thể sướng. Muốn sống lâu thì phải già chớ sao! Già có cái đẹp của già. Trái chín cây bao giờ cũng ngon hơn trái giú ép. Cái sướng đầu tiên của già là biết mình… già, thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây. Nhiều người chối từ già, chối từ cái sự thật đó và tìm cách giấu cái già đi, như trái chín cây ửng đỏ, mềm mại, thơm tho mà ráng căng cứng, xanh lè thì coi hổng được.

Mỗi ngày nhìn vào gương, người già có thể phát hiện những vẻ đẹp bất ngờ như những nếp nhăn mới xòe trên khóe mắt, bên vành môi, những món tóc lén lút bạc chỗ này chỗ nọ, cứng đơ, xơ xác… mà không ngờ nhanh vậy!

Thực tế con người ta có cái khuynh hướng dễ thấy khổ hơn. Khổ dễ nhận ra còn sướng thì khó biết! Một người luôn thấy mình sướng thì không khéo người ta nghi ngờ là có vấn đề về tâm thần!

Nói chung, người già có ba nỗi khổ thường gặp nhất, nếu giải quyết đựơc sẽ giúp họ sống “trăm năm hạnh phúc”:

* Một là thiếu bạn !

Nhìn qua nhìn lại, bạn cũ rơi rụng dần… Thiếu bạn, dễ hụt hẫng, cô đơn và dĩ nhiên… cô độc. Từ đó dễ thấy mình bị bỏ rơi, thấy không ai hiểu mình!.

Người già chỉ sảng khoái khi được rôm rả với ai đó, nhất là những ai “cùng một lứa bên trời lận đận”… Gặp đựơc bạn tâm giao thì quả là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho họ mua được!

Để giải quyết chuyện này, ở một số nước tiên tiến, người ta mở các phòng tư vấn, giới thiệu cho những người già cùng sở thích, cùng tánh khí, có dịp làm quen với nhau. Người già tự giới thiệu mình và nêu “tiêu chuẩn” người bạn mình muốn làm quen.

Rồi họ dạy người già học vi tính để có thể “chat”, “meo” với nhau chia sẻ tâm tình, giải tỏa stress… Thỉnh thỏang tổ chức cho các cụ họp mặt đâu đó để được trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, dòm ngó, khen ngợi hoặc… chê bai lẫn nhau. Khen ngợi chê bai gì đều có lợi cho sức khỏe! Có dịp tương tác, có dịp cãi nhau là sướng rồi. Các tế bào não sẽ đựơc kích thích, đựơc hoạt hóa, sẽ tiết ra nhiều kích thích tố. Tuyến thượng thận sẽ hăng lên, làm việc năng nổ, tạo ra cortisol và epinephrine làm cho máu huyết lưu thông, hơi thở trở nên sảng khóai, rồi tuyến sinh dục tạo ra DHEA (dehydroepiandoster one), một kích thích tố làm cho người ta trẻ lại, trẻ không ngờ!…

Dĩ nhiên phải chọn một nơi có không khí trong lành. Hoa cỏ thiên nhiên. Thức ăn theo yêu cầu. Gợi nhớ những kỷ niệm xưa… Rồi dạy các cụ vẽ tranh, làm thơ, nắn tượng… Tổ chức triển lãm cho các cụ. Rồi trình diễn văn nghệ cây nhà lá vườn. Các cụ dư sức viết kịch bản và đạo diễn. Coi văn nghệ không sướng bằng làm văn nghệ!

* Cái thiếu thứ hai là thiếu ăn !

Thực vậy. Ăn không phải là tọng là nuốt là xực là ngấu nghiến… cho nhiều thức ăn! Ăn không phải là nhồi nhét cho đầy bao tử! Trong cuộc sống hằng ngày có nhiều thứ nuốt không trôi lắm! Chẳng hạn ăn trong nỗi sợ hãi, lo âu, bực tức; ăn trong nỗi chờ đợi, giận hờn thì nuốt sao trôi? Nuốt là một phản xạ đặc biệt của thực quản dưới sự điều khiển của hệ thần kinh. Một người trồng chuối ngược vẫn có thể nuốt được dễ dàng! Nhưng khi buồn lo thì phản xạ nuốt bị cắt đứt!

Nhưng các cụ thiếu ăn, thiếu năng lựơng phần lớn là do sợ bệnh, kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù, làm cho họ sợ thêm! Nói chung, chuyện ăn uống nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử.

“Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn cái gì thì nó đang cần cái đó, thiếu cái đó! Nhưng nhớ ăn là chuyện của văn hóa! Chuyện của ngàn năm, đâu phải một ngày một buổi. Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn… kỳ cục, không sao. Đừng ép! Miễn đủ bốn nhóm: bột, đạm, dầu, rau… Mắm nêm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm bồ hóc, tương chao… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt…là đựơc. Cách ăn cũng vậy. Hãy để các cụ tự do tự tại đến mức có thể đựơc. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ!

Cũng cần có sự hào hứng, sảng khoái, vui vẻ trong bữa ăn.. Con cháu hiếu thảo phải biết… giành ăn với các cụ. Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ bao tử.

* Cái thiếu thứ ba là thiếu vận động !

Già thì hai chân trở nên nặng nề, như mọc dài ra, biểu không chịu nghe lời ta nữa! Các khớp cứng lại, sưng lên, xương thì mỏng ra, dòn tan, dễ vỡ, dễ gãy!

Bác sĩ thường khuyên vận động mà không hướng dẫn kỹ dễ làm các cụ ráng quá sức chịu đựng, lâm bệnh thêm. Phải làm sao cho nhẹ nhàng mà hiệu quả, phù hợp với tuổi tác, với sức khỏe. Phải từ từ và đều đều. Ngày xưa người ta săn bắn, hái lượm, đánh cá, làm ruộng, làm rẫy… lao động suốt ngày. Bây giờ chỉ ngồi quanh quẩn trong bốn bức tường trước TV!. Có một nguyên tắc “Use it or lose it!” Cái gì không xài thì teo! Thời đại bây giờ người ta xài cái đầu nhiều quá, nên “đầu thì to mà đít thì teo”. Thật đáng tiếc!

Không cần đi đâu xa. Có thể tập trong nhà. Nếu nhà có cầu thang thì đi cầu thang ngày mươi bận rất tốt. Đi vòng vòng trong phòng cũng được. Đừng có ráng lập “thành tích” làm gì! Tập cho mình thôi.. Từ từ và đều đều… Đến lúc nào thấy ghiền, bỏ tập một buổi… chịu hổng nổi là được!

Nguyên tắc chung là kết hợp hơi thở với vận động. Chậm rãi, nhịp nhàng. Lạy Phật cũng phải đúng… kỹ thuật để khỏi đau lưng, vẹo cột sống. Đúng kỹ thuật là giữ tư thế và kết hợp với hơi thở. Đó cũng chính là thiền, là yoga, dưỡng sinh…! Vận động thể lực đúng cách thì già sẽ chậm lại. Giảm trầm cảm, buồn lo. Phấn chấn, tự tin. Dễ ăn, dễ ngủ…

Tóm lại, giải quyết được “ba cái lăng nhăng” đó thì có thể già mà… sướng!

https://www.ngo-quyen.org/p116a9499/4/bac-si-do-hong-ngoc-ba-cai-thieu-kinh-nien-cua-nguoi-gia