kỳ diệu” của Lễ Giáng Sinh, bằng chứng là ông đã viết ca khúc “Lạy Chúa, con là
người ngoại đạo”.
nhưng tin có Chúa ở trên cao”. Ca khúc này được viết trong thời chiến tranh tại
Việt Nam, ông đã thổ lộ với Đức Chúa về thực tại lúc đó: “Con nghe trong đêm
Việt Nam tối tăm, những mìn bom hoen dấu”. Chỗ nào cũng thấy dấu đạn, mìn,
bom,… Đáng sợ thật! Không ai làm gì được. Và ông thắc mắc: “Lạy Chúa trên cao
Chúa ở nơi nào?”. Không chỉ người ngoại đạo “thắc mắc” mà chính những người
mang danh Kitô hữu cũng đã có những lúc “thắc mắc” như vậy khi gặp vấn nạn mà
Ông Trời vẫn im lặng!
đạo, nhưng yêu nhớ lắm nhạc chuông khuya”. Ông không nói rõ, mà ông chỉ nói
theo cách diễn tả của một nhạc sĩ rằng ông “yêu và nhớ nhạc chuông khuya”. Nhạc
chuông khuya không phải nhạc chuông điện thoại reo lúc đêm khuya, mà đó là
“chuông nhà thờ đổ vang lúc cử hành Thánh lễ đêm Giáng Sinh”. Nhiều năm trôi
qua, ông đã quen và thấy nhớ tiếng chuông đó.
chắp tay nguyện cầu cho người thương còn xa mãi xa, mà suốt đêm dài ánh sáng
chưa qua”. Người thương mà ông cầu nguyện cho có thể là người yêu, người thân,
hoặc chính những người Việt ở khắp đất nước bốn ngàn năm văn hiến này.
tâm lý chiến, ông mô tả một thực tế đau thương: “Xác người nào trôi sông, quay
đầu về biển Đông, những bước chân nào đi, có khi không trở lại. Đứa nhỏ ngồi ôm
em, không còn nghe đạn nổ, một người phơi tóc bạc, đếm thầm 20 năm”. Chiến
tranh là thế, có người đi mà không hẹn ngày về, đứa bé ngồi ôm đứa em chết trên
tay, cha mẹ già chờ con mòn mỏi đến nỗi tóc bạc phơ màu thời gian. Gia cảnh
buồn biết bao!
phải tin tưởng trọn vẹn vào một Đấng-Ngự-Trên-Cao. Ông bày tỏ
niềm-tin-của-người-ngoại-đạo: “Chúa ơi, Chúa ơi, con người không đạo, nhưng tin
Chúa giúp đời thương đau”. Không ai có thể cứu giúp cuộc đời đầy đau thương
này, ngoại trừ Thiên Chúa. Và rồi ông dẫn chứng: “Như con tin trong một lần đã
lâu, những hờn đau thu ngắn, để đám mây hồng âu yếm giăng ngang”.
lại còn được “đám mây hồng âu yếm giăng ngang” – tức là ông thực sự cảm thấy sự
bình an trong tâm hồn. Vậy là Thiên Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của ông, và đó
cũng chính là phép lạ dành cho ông – một con người thương nước, thương dân, và
luôn khao khát hòa bình.
tại Saigon, khi ông đi hát ở mấy tụ điểm ca nhạc, những nơi mà tôi sinh hoạt về
âm nhạc. Ông rất bình dị và hay cười, điều đó chứng tỏ ông là người có tâm hồn
tốt lành. Thiết tưởng, cuộc sống của NS Trần Thiện Thanh rất gần với Thiên
Chúa, vì ông là người-ngoại-đạo-có-niềm-tin-vào-Chúa.
Tím” của Thi sĩ Kiên Giang (2). Bài thơ nổi tiếng này đã được một nhạc sĩ phổ
nhạc và cũng khá phổ biến. Thi sĩ Kiên Giang cũng có niềm tâm sự của một
người-ngoại-đạo-có-niềm-tin. Khổ thơ cuối của bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên
Áo Tím” được ông kết bằng một lời cầu nguyện chân thành:
huống chi những người đã và đang có niềm tin vào Thiên Chúa, biết tín thác vào
Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế từ trời sinh xuống gian trần.
giáo. Trên đường lên Can-vê, Chúa Giêsu đã được ông Simon vác đỡ Thập giá. Ông
Simon là người ngoại đạo thuộc xứ Kyrênê (Lc 23:26).
trưởng đến gặp Người và nài xin: “Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm
liệt ở nhà, đau đớn lắm”. Người nói: “Chính tôi sẽ đến chữa nó”. Viên đại đội
trưởng đáp: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói
một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8:5-8). Chúa Giêsu đã khen đức tin
của viên đội trưởng, rồi Ngài nói thẳng: “Từ phương đông phương tây, nhiều
người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước
Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó
người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 8:11-12).
hai miền Samari và Galilê. Lúc Người vào một làng kia, có mười người phong hủi
đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ
lòng thương chúng tôi!” (Lc 17:13). Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình
diện với các tư tế”. Vì hồi đó, bệnh nhân phong nào cũng bị coi là ô uế. Đang
khi họ đi thì họ được sạch. Phép lạ nhãn tiền. Thấy mình được khỏi thì một
người trong số họ liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta
sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Mà anh ta lại là người Samari, tức là
người ngoại đạo. Thấy vậy, Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều
được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh
Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17:17-18). Rồi Người nói với
anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:19).
khi được ơn. Còn 9 người có đạo lại “qua cầu rút ván”, phủi tay là xong, không
hề biết tạ ơn.
đỡ người khác: Có một người trên đường đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc
đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi,
để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, một thầy tư tế đi qua con đường ấy,
trông thấy nạn nhân, nhưng ông ta tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một
thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy nạn nhân nhưng cũng tránh qua bên kia mà đi.
chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, băng bó vết thương cho người ấy, rồi đặt
người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy
ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có
tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10:35).
Người ngoại đạo mà sống đức tin cụ thể như vậy đó. Còn những người có chức vụ
và quyền hành trong Giáo hội lại nhẫn tâm làm ngơ, giảng hay mà làm không hay.
Chúng ta mệnh danh là Kitô hữu nhưng cũng chỉ là cái “mác”, là “nhãn hiệu”,
hành động có khi còn trái ngược! Những người hoạt động Lòng Chúa Thương Xót và
Giáo huấn Xã hội Công giáo cũng chưa thực sự khá hơn. Đức tin bị mai một hay đã
chết?
bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Lúc đó, người thông luật trả lời: “Chính
là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37a). Đức Giêsu bảo
ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:37). Lời này cũng là lời
Chúa Giêsu nói riêng với mỗi chúng ta.
Một, để ai tin nhận Người Con đó thì sẽ không phải chết nhưng được sống muôn
đời” (Ga 3:16). Tin bằng môi miệng thì ai cũng tin được, tin bằng hành động cụ
thể mới là điều Chúa muốn. Vậy mà nhiều người ngoại đạo đã làm được. Bạn có
thấy xấu hổ không?
người tai to mặt lớn, chức quyền cao sang đã tìm những chuyên gia cắt nghĩa lời
ngôn sứ, nhưng họ chỉ như vịt nghe sấm, miệng chữ A và mắt chữ O. Tới khi những
người ngoại đạo từ phương xa tới và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở
đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng
tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2). Vua Hêrôđê lúc đó mới tá hỏa tam tinh!
lên lời cầu nguyện chân thành như NS Trần Thiện Thanh: “Lạy Chúa, con là người
ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.

















