Niềm tin người ngoại đạo

Niềm tin người ngoại đạo

Trầm Thiên Thu
Giáng Sinh luôn có điều gì đó kỳ diệu mà người ta khó có thể diễn tả một cách trọn vẹn. Theo thiển ý của tôi, điều kỳ diệu đó rất có thể là NIỀM TIN. Vì niềm tin vô hình và trừu tượng nên khó nhận biết, khó nhận biết nên khó diễn tả. Ngay cả những người không có niềm tin tôn giáo hoặc vô thần cũng vẫn có niềm tin, nhất là khi người ta cảm thấy bất lực, đành thúc thủ, người Công giáo gọi niềm tin đó là Đức Tin.
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (1) không là người Công giáo nhưng vẫn ảnh hưởng “điều
kỳ diệu” của Lễ Giáng Sinh, bằng chứng là ông đã viết ca khúc “Lạy Chúa, con là
người ngoại đạo”.
Tuy là người ngoại đạo, nhưng ông xác định: “Lạy Chúa tôi, con người không đạo,
nhưng tin có Chúa ở trên cao”. Ca khúc này được viết trong thời chiến tranh tại
Việt Nam, ông đã thổ lộ với Đức Chúa về thực tại lúc đó: “Con nghe trong đêm
Việt Nam tối tăm, những mìn bom hoen dấu”. Chỗ nào cũng thấy dấu đạn, mìn,
bom,… Đáng sợ thật! Không ai làm gì được. Và ông thắc mắc: “Lạy Chúa trên cao
Chúa ở nơi nào?”. Không chỉ người ngoại đạo “thắc mắc” mà chính những người
mang danh Kitô hữu cũng đã có những lúc “thắc mắc” như vậy khi gặp vấn nạn mà
Ông Trời vẫn im lặng!
Tuy có vẻ “mơ hồ” như vậy, nhưng ông vẫn tin: “Lạy Chúa tôi, tuy người không
đạo, nhưng yêu nhớ lắm nhạc chuông khuya”. Ông không nói rõ, mà ông chỉ nói
theo cách diễn tả của một nhạc sĩ rằng ông “yêu và nhớ nhạc chuông khuya”. Nhạc
chuông khuya không phải nhạc chuông điện thoại reo lúc đêm khuya, mà đó là
“chuông nhà thờ đổ vang lúc cử hành Thánh lễ đêm Giáng Sinh”. Nhiều năm trôi
qua, ông đã quen và thấy nhớ tiếng chuông đó.
Vì thấy thiếu cái gì đó, ông lại hướng tâm lên Đấng mà ông tin: “Khi con bơ vơ
chắp tay nguyện cầu cho người thương còn xa mãi xa, mà suốt đêm dài ánh sáng
chưa qua”. Người thương mà ông cầu nguyện cho có thể là người yêu, người thân,
hoặc chính những người Việt ở khắp đất nước bốn ngàn năm văn hiến này.
Bản thân ông cũng là một binh sĩ thời chiến, nhưng ông hoạt động trong lĩnh vực
tâm lý chiến, ông mô tả một thực tế đau thương: “Xác người nào trôi sông, quay
đầu về biển Đông, những bước chân nào đi, có khi không trở lại. Đứa nhỏ ngồi ôm
em, không còn nghe đạn nổ, một người phơi tóc bạc, đếm thầm 20 năm”. Chiến
tranh là thế, có người đi mà không hẹn ngày về, đứa bé ngồi ôm đứa em chết trên
tay, cha mẹ già chờ con mòn mỏi đến nỗi tóc bạc phơ màu thời gian. Gia cảnh
buồn biết bao!
Những điều thực tế đó cho thấy con người hoàn toàn bất lực, do đó mà người ta
phải tin tưởng trọn vẹn vào một Đấng-Ngự-Trên-Cao. Ông bày tỏ
niềm-tin-của-người-ngoại-đạo: “Chúa ơi, Chúa ơi, con người không đạo, nhưng tin
Chúa giúp đời thương đau”. Không ai có thể cứu giúp cuộc đời đầy đau thương
này, ngoại trừ Thiên Chúa. Và rồi ông dẫn chứng: “Như con tin trong một lần đã
lâu, những hờn đau thu ngắn, để đám mây hồng âu yếm giăng ngang”.
Rõ ràng đã có lần ông tin Đấng-Ngự-Trên-Cao, rồi ông được giảm bớt đau khổ, và
lại còn được “đám mây hồng âu yếm giăng ngang” – tức là ông thực sự cảm thấy sự
bình an trong tâm hồn. Vậy là Thiên Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của ông, và đó
cũng chính là phép lạ dành cho ông – một con người thương nước, thương dân, và
luôn khao khát hòa bình.
Khi NS Trần Thiện Thanh chưa đi định cư tại Hoa Kỳ, tôi có dịp gặp ông 2 lần
tại Saigon, khi ông đi hát ở mấy tụ điểm ca nhạc, những nơi mà tôi sinh hoạt về
âm nhạc. Ông rất bình dị và hay cười, điều đó chứng tỏ ông là người có tâm hồn
tốt lành. Thiết tưởng, cuộc sống của NS Trần Thiện Thanh rất gần với Thiên
Chúa, vì ông là người-ngoại-đạo-có-niềm-tin-vào-Chúa.
Nói về niềm tin, hẳn có nhiều người biết bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo
Tím” của Thi sĩ Kiên Giang (2). Bài thơ nổi tiếng này đã được một nhạc sĩ phổ
nhạc và cũng khá phổ biến. Thi sĩ Kiên Giang cũng có niềm tâm sự của một
người-ngoại-đạo-có-niềm-tin. Khổ thơ cuối của bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên
Áo Tím” được ông kết bằng một lời cầu nguyện chân thành:
Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!
Ngay cả những người ngoại đạo cũng phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn cứu rỗi,
huống chi những người đã và đang có niềm tin vào Thiên Chúa, biết tín thác vào
Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế từ trời sinh xuống gian trần.
Kinh thánh cũng cho biết một số người ngoại đạo mà lại liên quan niềm tin tôn
giáo. Trên đường lên Can-vê, Chúa Giêsu đã được ông Simon vác đỡ Thập giá. Ông
Simon là người ngoại đạo thuộc xứ Kyrênê (Lc 23:26).
Và rồi một hôm, khi Đức Giêsu vào thành Ca-phác-na-um, có một viên đại đội
trưởng đến gặp Người và nài xin: “Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm
liệt ở nhà, đau đớn lắm”. Người nói: “Chính tôi sẽ đến chữa nó”. Viên đại đội
trưởng đáp: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói
một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8:5-8). Chúa Giêsu đã khen đức tin
của viên đội trưởng, rồi Ngài nói thẳng: “Từ phương đông phương tây, nhiều
người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước
Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó
người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 8:11-12).
Thánh sử Luca kể: Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa
hai miền Samari và Galilê. Lúc Người vào một làng kia, có mười người phong hủi
đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ
lòng thương chúng tôi!” (Lc 17:13). Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình
diện với các tư tế”. Vì hồi đó, bệnh nhân phong nào cũng bị coi là ô uế. Đang
khi họ đi thì họ được sạch. Phép lạ nhãn tiền. Thấy mình được khỏi thì một
người trong số họ liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta
sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Mà anh ta lại là người Samari, tức là
người ngoại đạo. Thấy vậy, Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều
được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh
Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17:17-18). Rồi Người nói với
anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:19).
Người ngoại đạo không chỉ có đức tin mạnh và còn biết trở lại để tạ ơn Chúa sau
khi được ơn. Còn 9 người có đạo lại “qua cầu rút ván”, phủi tay là xong, không
hề biết tạ ơn.
Lại một người ngoại đạo khác biết thể hiện đức tin qua việc yêu thương và giúp
đỡ người khác: Có một người trên đường đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc
đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi,
để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, một thầy tư tế đi qua con đường ấy,
trông thấy nạn nhân, nhưng ông ta tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một
thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy nạn nhân nhưng cũng tránh qua bên kia mà đi.
Sau đó, một người Samari kia đi ngang qua chỗ ấy, cũng thấy nạn nhân, và thấy
chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, băng bó vết thương cho người ấy, rồi đặt
người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy
ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có
tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10:35).
Người ngoại đạo mà sống đức tin cụ thể như vậy đó. Còn những người có chức vụ
và quyền hành trong Giáo hội lại nhẫn tâm làm ngơ, giảng hay mà làm không hay.
Chúng ta mệnh danh là Kitô hữu nhưng cũng chỉ là cái “mác”, là “nhãn hiệu”,
hành động có khi còn trái ngược! Những người hoạt động Lòng Chúa Thương Xót và
Giáo huấn Xã hội Công giáo cũng chưa thực sự khá hơn. Đức tin bị mai một hay đã
chết?
Chúa Giêsu hỏi: “Trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã
bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Lúc đó, người thông luật trả lời: “Chính
là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37a). Đức Giêsu bảo
ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:37). Lời này cũng là lời
Chúa Giêsu nói riêng với mỗi chúng ta.
Thánh sử Gioan nói: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nổi đã ban Người Con
Một, để ai tin nhận Người Con đó thì sẽ không phải chết nhưng được sống muôn
đời” (Ga 3:16). Tin bằng môi miệng thì ai cũng tin được, tin bằng hành động cụ
thể mới là điều Chúa muốn. Vậy mà nhiều người ngoại đạo đã làm được. Bạn có
thấy xấu hổ không?
Ngay đêm Chúa Giáng Sinh, một Ánh Sao Lạ xuất hiện trên bầu trời Belem. Những
người tai to mặt lớn, chức quyền cao sang đã tìm những chuyên gia cắt nghĩa lời
ngôn sứ, nhưng họ chỉ như vịt nghe sấm, miệng chữ A và mắt chữ O. Tới khi những
người ngoại đạo từ phương xa tới và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở
đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng
tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2). Vua Hêrôđê lúc đó mới tá hỏa tam tinh!
Tại Belem năm ấy, tại nhiều nơi ngày nay cũng đã và đang có những người thốt
lên lời cầu nguyện chân thành như NS Trần Thiện Thanh: “Lạy Chúa, con là người
ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.
Trầm Thiên Thu

Chính tình yêu là một tặng phẩm hoàn hảo

 

Chính tình yêu là một tặng phẩm hoàn hảo

Trầm Thiên Thu

Hai tuần trước lễ Giáng Sinh, tôi rời khu ngoại ô với một ít bạn bè để rảo quanh các đường phố Los Angeles. Tôi vừa đi vừa hát nhỏ: “Chuông leng keng, chuông leng keng, chuông giáo đường âm vang…”. Nhưng tôi không thấy những đứa trẻ cười và người qua lại, nụ cười ẩn giấu sau nụ cười”.

Tôi gặp hàng trăm người vô gia cư, những con nghiện tụ tập chỗ này chỗ nọ. Họ
xách theo những chiếc bịch ni-lông chứa các vật dụng thường, trong khi những
dãy nhà, những người mua sắm tranh thủ về nhà từ các cửa tiệm.

Không có gì mang vẻ ngày nghỉ. Tôi mong chờ Chúa can thiệp và nhắc nhớ tôi về
mùa lễ hội.

Qua ngày thứ hai của hành trình, người hướng dẫn mời chúng tôi nhìn ngắm khu
Metro Kidz. Chúng tôi theo chiếc xe đẩy phát bữa trưa, được vẽ những hình nghệ
thuật thánh graffiti, khi xe vòng quanh khu nhà nghèo. Âm nhạc âm vang từ những
chiếc loa và kéo theo hàng trăm trẻ em tới một hẻm cụt tĩnh lặng. Đủ lứa tuổi,
từ chập chững tới thiếu niên, chúng ùa theo. Mọi người cùng phát quà cho chúng.

– Em nào muốn chơi trò chơi?

– Con, con. – Một đứa trẻ nói với giọng tự tin.

– Để con, để con. – Cả đám đồng thanh hô theo.

Niềm vui lan tỏa và tôi mỉm cười.

– Được rồi. Chúng ta sẽ chơi và có thưởng. Tôi muốn kể chuyện Giáng sinh. Bao
nhiêu người đã từng nghe chuyện về Hài nhi Giêsu?

Hầu như mọi cánh tay đều giơ lên. Tôi ngồi bắt chéo chân giữa những đứa trẻ nói
cười khúc khích, có một đứa bé bò vào lòng tôi và ngủ ngon lành. Có gì đó chạm
vào cạnh sườn tôi. Quay lại tôi thấy một bé gái xinh xắn có mái tóc xoăn. Bím
tóc có chiếc kẹp hình cầu vồng đa sắc. Đôi mắt sáng và to. Tôi hỏi:

– Chào con. Tôi là Sandy. Con tên gì?

Nó có vẻ bẽn lẽn, mắt nhìn xuống đất, nói nhỏ:

– Con tên Erika.

– Con bao nhiêu tuổi? – Vừa hỏi tôi vừa đặt tay lên vai nó.

Erika vừa cười vừa nói:

– Con 5 tuổi.

– Con muốn chơi hả?

Nó nắm tay tôi, lắc đầu và nói:

– Không.

– Được rồi. Chúng ta ngồi xem nha.

Phần thưởng là đồ ăn, đồ chơi và sách được trao cho những em dự thi. Người
thắng nhận phần thưởng và giơ cao lên cho mọi người thấy.

Chúng nói với nhau:

– Xem bạn có gì nè!

Cuối cùng, đến lúc nghe truyện Giáng sinh và học những câu kinh thánh mới.

– Nghe đây! Chúng ta có vài phần thưởng nữa. Lắng nghe cho kỹ và trả lời nha
các con!

Ngồi giữa những đứa trẻ nghèo ở đường phố Los Angeles, Tôi rất vui và hạnh
phúc. Tôi nghe truyện về hai cha mẹ phải ở trong chuồng bò vì không còn quán
trọ cho họ. Tôi cảm thấy đứa bé ngủ trong lòng tôi như đứa trẻ được bọc trong
khăn và bú mẹ.

Erika lắng nghe câu chuyện đêm vọng Giáng sinh và nhích tới một chút. Nó chăm chú
nhìn và kiên nhẫn chờ phần thi.

– Hôm nay là câu kinh thánh trong thư thánh Giacôbê 1:17. Tôi sẽ đọc và các con
lặp lại nha. Mỗi món quà tốt đẹp và hoàn hảo đều đến từ Chúa Cha.

– Mỗi món quà tốt đẹp và hoàn hảo đều đến từ Chúa Cha. – Các em đồng thanh lặp
lại.

– Cảm ơn con đã lắng nghe. Con được nhận phần thưởng.

Erika giơ cao món quà gói giấy đỏ. Tôi chú ý mặt nó ngời sáng và miệng cười
tươi. Các em khác mở quà của mình ra xem, nhưng Erika không mở quà. Nó nhìn đứa
bé ngủ trong lòng tôi, rồi nó nói nhỏ vào tai tôi:

– Hôm nay con có quà Giáng sinh cho em con rồi.

Không biết đó là món quà gì, nó trao quà cho em nó. Tôi cảm động và rơi nước
mắt. Tấm lòng của Erika như Chúa Giêsu vậy. Mới 5 tuổi nhưng nó biết yêu thương
là món quà hoàn hảo, và tặng phẩm tốt nhất là biết yêu thương người khác.

(Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul)

Trầm Thiên Thu

Mừng Chúa Giáng Sinh

Mừng Chúa Giáng Sinh

Đăng bởi lúc 8:38 Chiều 24/12/12

nguồn: Chuacuuthe.com

VRNs (24/12/2012) – Sài Gòn- Giáng Sinh có nhiều điều để
nói, nhiều cảm xúc để viết, nhiều chuyện để hàn huyên, nhiều tâm sự để chia
sẻ,… Giáng Sinh cũng có nhiều bài hát dù không phải là Thánh ca, một trong số
đó là ca khúc “Mừng Chúa Ra Đời” của NS Tô Thanh Tùng (*).Ca khúc này
được viết ở âm thể Trưởng nhưng lại không vui rộn ràng, cũng không trĩu buồn,
mà giai điệu lại nghe rất giống Thánh ca với những ca từ rất Công giáo ngay cái
tựa đề: “Mừng Chúa Ra Đời”.

NS Tô Thanh Tùng dẫn thính giả đi từ Thành Thánh: “Thành phố Giêrusalem trong
một đêm lạnh giá giăng đầy, nghìn ánh sao trời bỗng một vì sao rơi ngời sáng.
Mẹ Maria nơi hang đá Belem, vinh danh Chúa sinh ra đời, Thiên thần chắp cánh
vây quanh”
.

Ông có tầm nhìn của các Đạo Sĩ: “Nghìn ánh sao trời bỗng một vì sao rơi ngời
sáng”
. Mùa sao sáng nên có rất nhiều sao lấp lánh trên nền trời tối đen,
nhưng đặc biệt có một ngôi sao sáng nhất, đó là “ngôi sao lạ” dẫn đường các Đạo
Sĩ đến hang Belem để thờ lạy Vương Nhi Giêsu. Thấy trong hang đá có Mẹ Maria và
các thiên thần, và ông thầm nguyện: “Vinh danh Chúa sinh ra đời”.

Dòng nhạc cứ chảy, ca từ giản dị mà sâu lắng. Ông có niềm vui như một nốt nhạc trầm: “Mùa Giáng sinh năm nay tôi lại vui mừng Chúa ra đời, mừng Chúa ra đời có
muôn màu hoa đăng ngập lối”
. Lòng người vui hòa chung với hoa đăng muôn màu
giăng khắp các ngả đường, nhưng niềm vui trong lòng người khác lạ vì đó là niềm
vui của niềm tin Kitô giáo, niềm tín thác vào một Thiên Chúa toàn năng và bất
biến: “Một niềm tin Chúa ở ngôi cao, Chúa luôn ban phép cho người muôn đời
mãi mãi thương nhau”
. Là Thiên Chúa và mệnh danh Tình Yêu, Ngài cũng làm
cho mọi người mãi mãi thương nhau. Dù là người bình thường, không có niềm tin
tôn giáo thì cũng vẫn luôn muốn yêu và muốn được yêu.

Ca khúc này được ông viết trong thời chiến, vì thế ông đặt mình vào vị trí một
người lính đang trấn giữ biên cương để bảo vệ tổ quốc và giữ hòa bình cho người
dân, ông cầu nguyện: “Chúa ơi, Chúa ơi, mùa đông nghe giá lạnh về, con đang
trấn miền biên giới xa xôi. Đêm nay, đêm nay, Chúa sinh ra đời, con nhìn từng
hỏa châu rơi, từng vì sao rơi, con nguyện cầu hai tiếng “Chúa ơi!”
.

Trong chiến tranh, người lính đang làm nhiệm vụ luôn mang nhiều tâm sự, nhất là trong đêm Chúa giáng sinh, nhìn những ánh sao mà tưởng những ánh hỏa châu, nhìn những ánh hỏa châu mà tưởng những ánh sao. Sự lẫn lộn đó nói lên niềm khao khát hòa bình của con người. Nhưng con người bất lực, chỉ còn biết hướng tâm lên, tin
tưởng và cậy trông vào Thiên Chúa, và thân thưa: “Chúa ơi!”. Lời cầu nguyện giản dị và ngắn gọn, nhưng chứa đầy nỗi niềm. Thiên Chúa chỉ chờ con người tâm phục khẩu phục như vậy để Ngài ban ơn bình an.

Cuối cùng, ông cầu nguyện cho quê hương Việt Nam: “Lạy Chúa ban ơn cho Việt Nam bền vững muôn đời, hạnh phúc lâu dài, xây đắp một quê hương đổi mới”. Đổi
mới là canh tân, điều này luôn cần thiết trong cuộc sống đời thường, nhất là trong đời sống tâm linh. Có tích cực đổi mới thì mọi sự mới khả dĩ hanh thông và tốt đẹp: “Và từ đây trên khắp nơi nơi vang tiếng ca non nước thanh bình, quên những ngày chinh chiến điêu linh”.

Hòa bình luôn cần thiết, hòa bình trong tâm hồn, trong gia đình, trong xã hội,
trong đất nước, trong thế giới. Muốn có hòa bình đích thực thì công lý phải
được tôn trọng triệt để. Vẫn còn cảnh áp bức, bóc lột, gian lận, tham nhũng,
hối lộ, kỳ thị,… thì chưa có hòa bình đích thực.

Đất nước hòa bình, xã hội hòa bình, gia đình hòa bình,… nhưng lòng người chưa hòa
bình thì cũng chưa có hòa bình đích thực. Mỗi cá thể phải hòa bình với tập thể,
với cộng đồng, và mỗi con người phải hòa bình với Thiên Chúa, đó mới là hòa
bình đích thực.

Lạy Chúa Hài Đồng, chúng con hân hoan và rộn ràng mừng Chúa ra đời, xin giúp chúng con biết trang trí hang-đá-tâm-hồn bằng những dây kim-tuyến-nhân-đức và ánh-sáng-đức-tin để Ngài giáng sinh và ở lại mãi mãi, đồng thời xin giúp chúng con biết sống trong tình liên đới hòa bình đích thực ngay tại thế gian này, hôm nay và suốt đời. Chúng con cầu xin nhờ công nghiệp giáng sinh và cứu độ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Amen.

Trầm Thiên Thu

 

_________________________________

(*) NS Tô Thanh Tùng sinh năm 1944 tại Hồng Ngự (Đồng Tháp). Năm 19 tuổi, ông có sáng tác đầu tiên là bài “Hồng Ngự Mang Tên Em”. Năm 20 tuổi, ông lên Saigon
học trường Luật. Ở quán cà phê gần trường, ông quen một cô gái thu ngân tên
Diễm nhờ viết bài “Mắt Diễm Buồn” cho ca sĩ Elvis Phương hát ở quán. Bốn
năm sau, cuộc tình giữa ông và cô gái này kết thúc, ông viết bài “Giã Từ” nhưng
không xuất bản.

Năm 1971, ông quen một cô gái ở Sa Đéc, ông đưa cô này lên Saigon để hát thử bài
“Giã Từ”. NS Quốc Dũng đã phối âm, nhưng khi đem trình cho nhạc sĩ Lê
Dinh (lúc đó là trưởng phòng văn nghệ Đài phát thanh Saigon), NS Lê Dinh
không đồng ý cho phát trên đài. Tuy nhiên, sau khi nghe băng cassette, NS Lê
Dinh lại đồng ý cho phát vào “giờ vàng” Chủ nhật. Bài hát lập tức gây chú ý cho
khán giả Saigon lúc bấy giờ. Nhà xuất bản Minh Phát lập tức ký độc quyền phát
hành bài “Giã Từ”. Sau đó, Tô Thanh Tùng viết tiếp một loạt bài như: Xót Xa,
Mừng Chúa Ra Đời, Sao Anh Nỡ Đành Quên, Nhớ Người Tình Phụ,… Bài “Sao Anh Nỡ Đành Quên” nói về một mối tình khác của ông.

Sau năm 1975, ông được giữ chức Trưởng ban văn nghệ thị trấn Hồng Ngự 3 năm. Sau đó khó khăn ông phải bán đủ thứ, từ xà bông, dầu gió, nước mắm,… cho đến phụ tùng xe đạp, để sống qua ngày. Năm 1979, ông cho phát hành album cassette “Tình Ca Hương Lúa” với một số bài như: Người hàng xóm, Hồng Ngự mang tên em,… do
Nhật Trường và Bảo Yến hát. Có thể nói Tô Thanh Tùng là nhạc sĩ nhạc vàng đầu
tiên trong nước sau năm 1975 đã phát hành album nhạc ngợi ca quê hương. Album
bị nhiều người cho là “nhạc vàng đội mồ sống dậy” nhưng vẫn được Sở VH-TT Đồng
Tháp đồng ý cho phát hành. Hiện nay, ông vẫn chưa lập gia đình và sống ở Thủ
Dầu Một (Bình Dương).

Một số ca khúc khác của ông cũng được biết đến nhiều: Người Hàng Xóm (phổ thơ
Nguyễn Bính), Mẹ Của Tôi, Giăng Câu, Về Miền Tây, Xót Xa,…

Một ngày trong trại lao cải thời Xô Viết

Một ngày trong trại lao cải thời Xô Viết

Thứ ba, 20 tháng 11, 2012

Cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovich

Một ngày trong Đời Ivan Denisovicht của Solzhenitsyn là một trong những tác phẩm nổi bật nhất thế kỷ 20

Một ngày trong Đời Ivan Denisovich, tiểu thuyết kinh điển của Solzhenitsyn, được xuất bản vào tháng này 50 năm trước. Câu chuyện ngắn gọn đơn giản kể về người tù cố gắng sống sót trong Gulag – hệ thống trại cải tạo của Liên Xô – nay được coi là một trong những cuốn sách nổi bật nhất thế kỷ 20.

Trời vẫn tối, dù một luồng sáng màu xanh lá đã bừng lên ở phía đông. Làn gió mảnh, gian trá lén lút tiến về cùng hướng. Chẳng có khoảnh khắc nào tồi tệ hơn lúc anh phải có mặt để xếp hàng trong đoàn người đi lao động buổi sáng. Trong bóng tối, trong cái lạnh cứng người, mang theo bụng rỗng và cả ngày đang chờ phía trước. Anh mất đi sức mạnh phát ngôn…

Tháng 11/1962, cuốn truyện đã làm rung chuyển cả đất nước Xô Viết.

Alexander Solzhenitsyn miêu tả một ngày trong đời của tù nhân Ivan Denisovich Shukhov.

Nhân vật là hư cấu. Nhưng có cả  triệu người như ông ta – những người dân vô tội, cũng như chính tác giả, từng bị đẩy tới Gulag trong làn sóng kinh hoàng thời Joseph Stalin.

Gulag

  • Tên  Gulag xuất phát từ chữ viết tắt của Tổng cục Lao Cải Liên Xô
  • Khoảng  14 triệu người từng bị giam trong các trại này giai đoạn 1929 – 1953.
    Trong đó có 1.6 triệu người chết trong trại
  • Các  trại Gulag bắt đầu đóng cửa sau cái chết của Stalin năm 1953, chính thức
    chấm dứt năm 1960

Kiểm duyệt và nỗi sợ hãi đã cản trở sự thật về những khu trại này tới được công chúng, riêng quyển này vẫn được in. Liên Xô không bao giờ trở lại được như xưa.

“Chúng tôi hoàn toàn bị tách biệt khỏi thông tin, và ông ta bắt đầu làm chúng tôi mở mắt,” nhà văn, nhà báo Vitaly Korotich nhớ lại.

Cuộc sống trong trại từng là những điều “chẳng dám nghĩ tới”, ông nói. “Tôi đọc đi đọc lại cuốn sách và tôi chỉ nghĩ tới một điều đơn giản là ông ấy dũng cảm làm sao. Chúng tôi có rất nhiều nhà văn nhưng chưa từng có người nào dũng cảm thế.”

Chính là lãnh đạo Xô Viết Nikita Khrushchev đã phê chuẩn cho xuất bản tiểu thuyết của Solzhenitsyn, khoảng một thập niên sau cái chết của Stalin.

Ông ta nghĩ rằng, cho phép cuốn sách về Gulag ra đời sẽ giúp hạ bệ sự tôn sùng Stalin. Nhưng chuyện không chỉ dừng ở đó.

“Sau khi xuất bản, không gì có thể kìm hãm được nó,” Korotich kể lại. “Chúng tôi ngay lập tức nhận được bao nhiêu tài liệu bị cấm xuất bản. Nhiều người từng trong tù bắt đầu nhớ lại thời kỳ đó.

“Lúc đó không phải là thời của máy tính và máy in. Sách được in trên giấy cuốn thuốc lá, là cách duy nhất để in được số lượng lớn. Xô Viết bị phá hủy bởi thông tin, và chỉ một thông tin. Và làn sóng này bắt đầu từ cuốn Một ngày của Solzhenitsyn.”

Tom Courtenay played Ivan Denisovich in a 1970 film adaptation

Tom Courtenay đóng vai chính Ivan Denisovich trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết năm

Theo tài liệu của ông ta thì Shukhov phải vào đây vì âm mưu phản quốc. Ông ta đã thú nhận trong một cuộc điều tra – phải, ông ta đã đầu hàng để phản bội lại đất nước và quay về từ trại tù chiến tranh để thực hiện nhiệm vụ tình báo cho Đức. Nhiệm vụ này là gì, cả Shukhov lẫn người thẩm tra ông ta cũng chẳng tưởng tượng được. Họ để ngỏ nó ở đấy – chỉ là “một nhiệm vụ”. Các cậu trai của công tác phản gián đánh ông rã người. Lựa chọn cũng đơn giản: đừng ký và mặc áo khoác gỗ, hay là ký và sống lâu hơn được chút đỉnh…

Các nhà theo học thuyết cộng sản chủ nghĩa cố ẻm đi vụ này. Nikita Khrushchev bị phế truất, các hoạt động phô bày tội ác của Stalin bị ngừng, và đến năm 1974 Solzhenitsyn bị bắt và trục xuất.

Nhưng điều đó cũng không cứu được Liên Xô. Một khi Liên Xô tan rã, toàn bộ tội ác của Stalin trở nên rõ ràng.

Bên rìa Moscow, Anatoly Mordashev chỉ cho tôi thấy 13 nấm mộ tập thể trải dài khoảng một cây số trên cánh đồng.

Alexander Solzhenitsyn 1918 – 2008

Từng phục vụ xuất sắc ở Hồng binh trong Thế chiến II

Bị kết án tám năm lao động năm 1945 do viết chỉ trích về Stalin

Một số tác phẩm khác gồm có Cancer Ward and The Gulag Archipelago, ba tập truyện không hư cấu

Giải Nobel văn chương năm 1970

Tước quyền công dân Xô Viết và bị trục xuất năm 1974

Sống ở Hoa Kỳ tới năm 1994 rồi trở lại Nga từ đó

Điều xảy ra ở đây, trường bắn Butovo, được giữ bí mật trong suốt hơn nửa thế kỷ.

Giữa tháng 8/1937 và tháng 10/1938, 20.760 phạm nhân bị chuyển tới đây và bị cảnh sát mật của Stalin tử hình. Người dân sống xung quanh được trả lời về tiếng súng nổ là do người ta tập bắn.

Những người bỏ mạng ở đây là công nhân và nông dân Xô Viết, là nhà khoa học và dân chơi thể thao, là kỹ sư và nhân viên văn phòng. Họ bị tuyên là kẻ thù của nhân dân.

Mà đây chỉ là một trong số rất nhiều cánh đồng chết của kỷ nguyên Stalin trải trên khắp Liên Xô.

Mordashev nói với tôi, bây giờ thì nước Nga đã biết sự thật, họ sẽ không bao giờ làm ngơ với những gì đã xảy ra.

Nhưng nước Nga bắt đầu quên rồi.

“Ở cấp quốc gia, không ai từng tuyên bố cộng sản chủ nghĩa là tội ác, hay Stalin là kẻ bạo ngược khơi dậy chiến tranh trong chính nhân dân của mình.”

Natalya Dmitrievna, vợ tác giả Solzhenitsyn

Tôi tới thăm trường học ở Moscow và nói chuyện với vài học sinh tầm 16 tuổi. Chúng vẫn chưa được học về Stalin trên lớp.

Cuốn Một ngày trong Đời Ivan Denisovich nằm trong chương trình giảng dạy của trường, nhưng chỉ có ba trong số 21 học sinh từng đọc. Vậy chúng biết gì về Stalin?

“Tôi cũng không thể nói là mình có thích ông ta hay không vì tôi không biết nhiều,” một học sinh thừa nhận.

“Ở thời Stalin, mọi người chắc chắn là khi học xong đại học thì sẽ tìm được việc làm và họ có thể sống được,” đứa khác nói. “Nhưng thời này thì mọi người còn chẳng chắc được việc đó, họ còn không biết là mình có được đi làm hay không.”

Học sinh thứ ba nói với tôi: “Tôi khá chắc là Stalin thực sự muốn đưa Liên Xô thành quốc gia lớn, có ảnh hưởng mạnh tới tất cả mọi người. Ông là hình tượng vĩ đại. Nhưng màu sắc cá tính của ông thì khá đen tối.”

Trong cuộc trò chuyện của tôi với mấy học sinh, cảm giác như chúng tôi đang bàn luận về một nhân vật lịch sử xa xôi nào đó, tách biệt hẳn hiện tại cả nhiều thế kỷ – một lãnh đạo như Oliver Cromwell hay Ivan Bạo chúa chẳng hạn. Nhưng Stalin chỉ qua đời chưa đầy 60 năm trước.

Theo cuộc khảo sát gần đây, 48% người Nga ngày nay tin rằng Stalin có ảnh hưởng tích cực tới đất nước. Chỉ có 22% cho là tiêu cực.

Thánh giá đặt ở trường bắn Butovo nơi tù nhân bị tử hình

Người vợ góa của Solzhenitsyn, Natalya Dmitrievna, trách các lãnh đạo thời hiện đại của Nga, trong đó có Mikhail Gorbachev và Boris Yeltsin, thất bại trong việc đưa đất nước đối diện với quá khứ.

“Họ chẳng có hoạt động phô bày tội ác thời Stalin,” bà nói với tôi. “Ở cấp quốc gia, không ai từng tuyên bố cộng sản chủ nghĩa là tội ác, hay Stalin là kẻ bạo ngược khơi dậy chiến tranh trong chính nhân dân của mình. Giờ đã quá muộn cho tất cả các ngôn từ,” bà nói.

“Toàn bộ Đông Âu thời hậu Liên Xô cố gắng kết thúc bằng cách sống cộng sản, ở Ba Lan, ở Đức, ở khắp nơi,” Korotich nhớ lại.

“Ở đây thì không. Chúng tôi cần có Nuremberg như từng xảy ra ở Đức. Nhưng chúng tôi chưa từng có nó. Và cho tới khi chúng tôi bàn về các vấn đề chủ nghĩa cộng sản ở cấp độ mà Solzhenitsyn khởi đầu từ 50 năm trước, chúng tôi sẽ vẫn sống ở đất nước bán-Xô Viết này, cố gắng hòa nhập với nhân loại, nhưng lại sợ lộ thông tin về lịch sử của chính mình.

Chúc mừng Lễ Giáng Sinh và năm mới 2013:

Nhân mùa Chúa Giáng Sinh và năm mới 2013:

Ban Biên Tập “Kẻ đi tìm” xin Cầu chúc các bạn:

Nim tin làm mi th trnên dễ dàng;

Hy vng làm mi th đều chất chứa niềm vui.

Tình yêu làm mi thđều  tốt đẹp.

Thân mến Chúc bn có c3 điu y
trong mùa Giáng Sinh này và mãi mãi về sau.

18 lÝi chúc ¥n t°ãng nh¥t ngày lÅ Noel - 1

Xin mời thưởng thức:

We wish you a Merry Christmas Song Video! – lyrics

httpv://www.youtube.com/watch?v=V_S0Rd48hfU

Abba – Happy New Year

httpv://www.youtube.com/watch?v=3Uo0JAUWijM

Cám ơn Nguyễn Thọ đã gởi hai Video này.

10 bức ảnh khiến dân mạng rơi nước mắt

10 bức ảnh khiến dân mạng rơi nước mắt
1. Tình bạn chân thành của hai cậu bé
2. Cậu bé 2 tuổi khóc bên xác mẹ
3. Học sinh quỳ đất trong lễ khai giảng
4. Cậu bé ôm di ảnh mẹ thiệt mạng tại Nga

Ngày 11.09.2012 vừa qua đã xảy ra vụ hỏa hoạn kinh hoàng tại một xưởng may tại
Nga khiến 14 công nhân Việt Nam thiệt mạng. Trong ảnh là cậu bé Nguyễn Ngọc
Minh (10 tuổi, quê Nghệ An) khi đi nhận di hài của mẹ tại sân bay. Cậu bé ngồi
gục trên sàn, một tay cầm di ảnh của mẹ, một tay ôm mặt khóc nức nở. Sau 5 năm
xa cách, Minh “đón” mẹ về nước nhưng mãi mãi không được gặp mẹ nữa.

 

5. Bà cụ mù nép mình bên ghế đá kiếm tiền nuôi con


Giữa đêm Hà Nội mưa lạnh, một bà cụ mù đã gần 90 tuổi ngồi khép nép bên ghế đá ở Hồ Gươm, trên người chỉ có bộ quần áo mỏng và chiếc áo mưa đã sờn rách. Cụ vừa tránh mưa vừa mong bán thêm được chút hàng để kiếm tiền nuôi những đứa con tàn phế và không nghề nghiệp.
6. Hai anh em mồ côi ngủ trên bậc cầu thang

Đây là hình ảnh hai em nhỏ mồ côi ôm nhau ngủ vội bên bậc cầu thang, quần áo
đen bẩn, rách rưới, bên cạnh chỉ có một bình nước nhỏ. Nỗi mệt mỏi, nhọc nhằn
còn hằn sâu trên khuôn mặt của hai em khiến người xem không khỏi xót xa.

7. Nghị lực sống của người đàn ông không tay, không chân

 

Một người đàn ông không còn tay, không chân và chỉ có thể di chuyển trên tấm trượt. Hoàn cảnh của người đàn ông này khiến nhiều người thương cảm, nhưng nghị lực sống phi thường của anh khiến không ít người phải ngưỡng mộ.
8. Em nhỏ ăn thức ăn thừa trên đường
Thêm một bức ảnh khiến nhiều người rơi nước mắt vì nỗi cực khổ của  những em nhỏ lang thang, cơ nhỡ. Trong ảnh là một em nhỏ trong bộ quần áo cũ rách đang nhặt nhạnh thức ăn thừa mà người ta rơi vãi trên đường để ăn vội qua cơn đói khát.

9. Em nhỏ bị bỏ rơi trên lan can đường

Bức ảnh này có thể khiến bất cứ ai bật khóc. Một người mẹ nhẫn tâm  nào đó đã bỏ rơi đứa trẻ và đặt trên bụi cây ven đường khi trên người chỉ quấn mảnh vải mỏng. Đáng thương hơn, em nhỏ đã bị côn trùng bò kín khắp người.

10. Hai chị em nghèo bên bãi rác

Cám ơn anh chị Thụ & Mai gởi
Xem các hình trên ai cũng phải rơi lệ.

TÂM SỰ VỚI CHÚA 2

TÂM SỰ VỚI CHÚA 2

“Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.”(Gioan 1, 10)

Chúng ta bước vào Mùa Vọng, ngày nào con cũng nhận rất nhiều bài suy niệm về Mùa Vọng, đọc đến không kịp luôn. Con nghĩ rằng Giáng Sinh thường đem đến cho Chúa nhiều nỗi buồn hơn niềm vui, cũng như xưa kia tại Bêlem vậy.  Sau bao nhiêu ngày đường vất vả, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse chẳng được ai cho trọ nhờ.

Ngày nay cũng thế, con rất buồn khi nghĩ đến Chúa còn tiếp tục  bị những người không tin từ chối Chúa, còn đối với những người Kitô Hữu thì sao? Chúa cũng chẳng được người ta đáp trả tình yêu của Chúa gì cho lắm đâu.

Lễ Giáng Sinh đáng lẽ phải là ngày được dành trọn cho Chúa, vậy  mà con người ta lại tục hóa ngày lễ trọng đại này.  Tại nhà thờ có nơi cũng đông người đó, nhưng Chúa có được đón rước trong tâm hồn không hở Chúa?

Ngày 24 người ta thường tổ chức ăn reveillon, nhưng con thì  không, vì tối đó Thánh Gia còn vất vả trên đường phố tìm chỗ trọ cho Hài Đồng Giesu, con thường thức khuya để cầu nguyện và kết hiệp với nỗi đau khổ của Chúa. Đêm đông thật lạnh giá, nhưng lòng người mỗi ngày càng giá lạnh hơn nhiều. Chúa vẫn lang thang đi tìm kiếm tình yêu, và khao khát được yêu lại.

Suy gẫm lời này từ một quyển sách nào đó, con cảm thấy thương  Chúa đến không cầm được nước mắt: “Chúa đã dựng nên trời xanh, cây cối, và Chúa biết trước rằng con người sẽ dùng cây gỗ này để làm thập giá đóng đinh  Chúa đây mà. Chúa cũng dựng nên những bông hoa, bụi gai, và con người cũng sẽ dùng những cây gai này mà làm mão gai nhấn vào đầu Chúa, và trong những sỏi đá có chất sắt, người ta lấy sắt để làm thành đinh đóng chân tay Chúa vào thập giá.”

Chúa ơi, Chúa biết trước tất cả nhưng Chúa vẫn dựng nên con người để rồi… Chúa phải nhận lấy toàn vong ân, và xúc phạm đến Chúa.  Phải rồi, Chúa là “Tình yêu không được yêu lại.”

Lạy Chúa Giesu! Tình Yêu Vô Cùng của Chúa đã được con đáp trả ra sao?

·      Con có nghe tiếng Chúa gọi và sẵn sàng vui lòng đáp lại lời mời gọi của Chúa chăng?

·      Phải chăng con đã hâm hở chạy đến mở cửa khi Chúa gõ hay là con đã để Chúa chờ đợi?

·      Con có sống trong tâm tình tri ân khi nhận lãnh dồi dào ân sũng Chúa chăng?

·      Chúa ơi, trong ngày sống của con, bao nhiêu lần con hướng lòng và nghĩ về Chúa?

Lạy Chúa Giesu yêu quý, nếu bây giờ Chúa hỏi con: “Con có muốn  an ủi Thầy không?” Con trả lời với Chúa rằng: “Dạ, con muốn lắm!”

Xin Mẹ Maria hãy giúp con  giữ lời hứa này với Chúa, con sẽ cố gắng hết mình để ủi an Chúa và ở bên Chúa.  Nhưng xin Chúa hãy cầm tay con và đừng để con xa rời Chúa bao giờ.

Thế gian không muốn nhận biết Chúa, nhưng chúng con nhận biết Chúa và hiểu rằng từ cái chết, chúng con được Chúa làm cho sống lại bằng cái chết nhục nhã của Chúa trên Thập Giá.

Lay Chúa Giêsu, cảm tạ Chúa vô cùng. Con yêu mến Chúa.

MenYeuGiesu (TSVCNNB 4)

Maria Thanh Mai gởi

Thánh Phêrô Canisius

Thánh Phêrô Canisius

(1521- 1597)

21 Tháng Mười Hai


Cuộc đời đầy năng lực của Thánh Phêrô Canisius phải đánh đổ bất cứ ấn tượng nào cho rằng cuộc đời của các thánh thì nhàm chán. Thánh nhân đã sống 76 năm với một nhịp độ không thể nói gì khác hơn là phi thường, ngay cả trong thời đại thay đổi mau chóng của chúng ta. Là một người được Thiên Chúa ban cho nhiều tài năng, thánh nhân là gương mẫu tuyệt hảo của một người sống cho phúc âm đã phát triển tài năng vì Thiên Chúa.

Ngài là một trong những khuôn mặt quan trọng trong giai đoạn cải cách của Giáo Hội Công Giáo ở nước Ðức. Vai trò của ngài thật quan trọng đến nỗi ngài thường được gọi là “vị tông đồ thứ hai của nước Ðức” mà cuộc đời của ngài thường được sánh với cuộc đời của Thánh Boniface trước đây.

Mặc dù thánh nhân thường cho mình là lười biếng khi còn trẻ, nhưng sự biếng nhác đó không được lâu, vì khi 19 tuổi ngài đã lấy bằng cử nhân của một đại học ở Cologne. Sau đó không lâu, ngài gặp Cha Peter Faber, người môn đệ đầu tiên của Thánh Ignatius Loyola (Y Nhã), và cha đã ảnh hưởng ngài nhiều đến nỗi ngài đã gia nhập Dòng Tên khi vừa mới được thành lập.

Trong giai đoạn này ngài đã tập luyện được một thói quen mà sau này trở thành nếp sống của cuộc đời ngài — không ngừng học hỏi, suy niệm, cầu nguyện và sáng tác. Sau khi thụ phong linh mục năm 1546, ngài nổi tiếng qua công trình soạn thảo các văn bản của Thánh Cyril Alexandria và Thánh Leo Cả. Ngoài khuynh hướng suy tư về văn chương, thánh nhân còn hăng say trong việc tông đồ. Người ta thường thấy ngài đi thăm bệnh nhân và người bị tù đầy, ngay cả khi ngài được giao cho các trách nhiệm khác mà đối với nhiều người để chu toàn công việc ấy cũng đã hết thì giờ.

Năm 1547, thánh nhân được tham dự vài khoá họp của Công Ðồng Triđentinô, mà sau này các sắc lênh của công đồng ấy được giao cho ngài hiện thực hóa. Sau một thời gian được bài sai việc giảng dạy ở trường Messina của Dòng Tên, thánh nhân được giao cho sứ vụ truyền giáo ở Ðức — cho đến mãn đời. Ngài dạy tại một vài trường đại học và góp phần chính yếu trong việc thiết lập nhiều trường học và chủng viện. Ngài viết sách giáo lý giải thích đức tin Công Giáo cho những người bình dân để họ dễ hiểu — một công việc rất cần thiết trong thời ấy.

Nổi tiếng là vị rao giảng, thánh nhân thường lôi cuốn giáo dân đến chật cả nhà thờ qua tài hùng biện của ngài về Phúc Âm. Ngài còn có tài ngoại giao, và thường làm
người hòa giải giữa các bè phái tranh chấp. Trong các thư từ ngài để lại (tất
cả đến tám bộ) người ta thấy các lời lẽ khôn ngoan của ngài khi khuyên nhủ
người dân thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội.

Trong thời gian ấy, ngài cũng viết các lá thư bất thường chỉ trích các vị lãnh đạo
trong Giáo Hội — tuy nhiên luôn luôn với một tâm tình đầy yêu thương, và thông
cảm.

Năm 70 tuổi, thánh nhân bị liệt, nhưng ngài vẫn tiếp tục rao giảng và viết lách với
sự trợ giúp của một thư ký cho đến khi ngài từ trần vào sáu năm sau đó, ngày
21-12-1597.

Lời Bàn

Nỗ lực không mệt mỏi của Thánh Phêrô Canisius là một gương mẫu thích hợp cho những ai muôán góp phần canh tân Giáo Hội hay cho sự thăng tiến ý thức luân lý trong chính phủ hay trong thương trường. Ngài được coi là một trong các vị sáng lập ngành báo chí Công Giáo, và rất có thể là gương mẫu cho các ký giả hay thông
tín viên Công Giáo. Các người trong lãnh vực sư phạm có thể nhìn thấy ngài như
một đam mê muốn truyền lại chân lý cho thế hệ mai sau. Dù chúng ta có nhiều khả
năng để cho đi, như Thánh Phêrô Canisius đã từng làm, hoặc không có tài cán gì
để đóng góp, như bà goá trong Phúc Âm (x. Luca 21:1-4), điều quan trọng là cho
đi tất cả những gì chúng ta có. Chính trong phương cách ấy mà thánh nhân đã trở
nên gương mẫu cho mọi Kitô Hữu trong thời đại thay đổi nhanh chóng này mà chúng ta được kêu gọi đến trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian.

Lời Trích

Khi được hỏi là ngài có làm việc quá sức hay không, Thánh Phêrô Canisius trả lời,
Nế u bạn có nhiều việc phải làm thì với sự trợ giúp của Thiên Chúa bạn sẽ
có thì giờ để thi hành tất cả những điều ấy.

Maria Thanh Mai gởi