‘IL SILENZIO ” – avec Melissa 13 yo et sa trompette – & Andre’ Rieu
httpv://www.youtube.com/embed/H4l3Rgq-L1M?feature=player_embedded

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
‘IL SILENZIO ” – avec Melissa 13 yo et sa trompette – & Andre’ Rieu
httpv://www.youtube.com/embed/H4l3Rgq-L1M?feature=player_embedded
Thiên thạch đâm xuống vùng núi Ural ở Nga

Video ghi lại vật thể rơi bốc cháy phía trên một khu chung cư trong thành phố
Chelyabinsk trong vùng núi Ural ở Nga, 152/13
15.02.2013
Giới chức Nga cho biết một thiên thạch đã bay vụt qua bầu trời vùng núi Ural của Nga vào sáng thứ Sáu, gây nên những vụ nổ và làm vỡ cửa sổ.
Giới chức nói hơn 400 người ở khu vực Chelyabinsk bị thương và nhiều người trong số họ bị thương do kính vỡ.
Chính quyền địa phương nói rằng một bức tường và mái của một nhà máy sản xuất
kẽm ở Chelyabinsk bị hư hại trong vụ nổ.
Nhà chức trách nói rằng sóng điện thoại di động chập chờn không ổn định.
Thiên thạch này đâm xuống Trái đất chỉ vài giờ trước khi một tiểu hành tinh với
tên gọi 2012 DA14 dự báo sẽ bay qua với khoảng cách gần với Trái đất.
Cơ quan không gian Hoa Kỳ NASA nói rằng các tiểu hành tinh rộng 45-mét có thể
đến gần tới 27.000 km phía trên Trái Đất. Tuy nhiên, NASA khẳng định tiểu hành
tinh này không có nguy cơ đâm xuống Trái đất.

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (1)
11.02.2013
Tôi có cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Đức đã khá lâu nhưng mấy ngày vừa rồi mới có thì giờ để đọc. Ấn tượng chung: Thích.
Thích nhất là về tư liệu. Đã có nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết
về Việt Nam sau năm 1975 nhưng có lẽ chưa có cuốn sách nào bao quát nhiều khía
cạnh và dồi dào tư liệu đến như vậy. Các cuốn sách khác, cho đến nay, dưới hình
thức hồi ký hay biên khảo, thường chỉ tập trung vào một lãnh vực và từ một góc
độ cụ thể nào đó. Bên Thắng Cuộc, ngược lại, hầu như đề cập đến mọi góc
cạnh lớn, từ quân sự đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, từ tổ chức
chính quyền tại Sài Gòn sau năm 1975 đến các chiến dịch đánh tư sản, các trại
cải tạo, phong trào vượt biên, các nỗ lực “xé rào” về kinh tế, chính sách đổi
mới, chiến tranh với Campuchia cũng như với Trung Quốc và các cuộc tranh giành
quyền lực trong nội bộ đảng Cộng sản. Ở từng vấn đề, Huy Đức đều nêu lên thật
nhiều chi tiết. Các chi tiết ấy thuộc hai loại chính: Một, lời kể của các chứng
nhân được thu lượm qua các cuộc phỏng vấn hoặc qua các hồi ký – đã hoặc chưa
xuất bản – của họ; và hai, các tài liệu đã được công bố đây đó, bằng tiếng Việt
cũng như bằng tiếng Anh. Nguồn tài liệu thứ nhất được Huy Đức thực hiện với tư
cách một nhà báo; nguồn thứ hai, với tư cách một nhà nghiên cứu. Tôi cho sự kết
hợp giữa hai tư cách này là mặt mạnh nhất của Huy Đức đồng thời cũng là ưu điểm
chính của cuốn Bên Thắng Cuộc: Thường, các nhà báo Việt Nam chỉ “tác
nghiệp” theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, dựa trên những gì mình nghe kể hoặc
quan sát được; còn các nhà nghiên cứu thì lại thiếu thực tế, do đó, hoặc chỉ
xào nấu từ các cuốn sách khác hoặc phải sa vào tư biện, tệ hại hơn nữa là tư
biện kiểu Việt Nam: cứ lải nhải những luận điệu rặt mùi tuyên truyền, tức những
luận điệu ai cũng biết, hơn nữa, biết là sai.
Trong Bên Thắng Cuộc, nguồn tài liệu từ sách vở chỉ có tính chất bổ
sung, chủ yếu để cung cấp số liệu và mở rộng kích thước lịch sử, từ đó, tăng
tính thuyết phục cho những vấn đề được đề cập. Ví dụ, nói về cuộc họp mặt với
khoảng 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội của Nguyễn Văn Linh vào ngày 6 và 7
tháng 10 năm 1987, Huy Đức quay trở lại với thời Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc xa
hơn nữa, thời Trường Chinh viết “Đề cương văn hóa” năm 1943, thậm chí, một
chút, về lịch sử báo chí Việt Nam trước đó. Nói về kinh tế thị trường (lần đầu
tiên được đưa vào các văn kiện Đảng là năm 1991), anh quay trở lại vấn đề “lược
sử kinh tế tư nhân” ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đặc biệt, đầu thế kỷ 20, dưới
thời Pháp thuộc. Nói về các chính sách đối với người Hoa vào những năm 1978-79,
anh quay lại quan hệ giữa Việt Nam (chủ yếu là miền Bắc) với Trung Quốc trong
Hiệp định Geneve năm 1954 cũng như trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc thời
1954-75, bao gồm cả chuyện Hoàng Sa năm 1974, v.v.. Những tài liệu này, thật
ra, không mới, nhưng chúng được trình bày một cách gọn ghẽ, sáng sủa và mạch
lạc, làm cho vấn đề có thêm bề dày của lịch sử.
Nhưng mặt mạnh nhất của Huy Đức là ở tư cách nhà báo. Không những chỉ là người
làm báo lâu năm, anh còn có ba đặc điểm mà không phải nhà báo kỳ cựu nào cũng
có: Một, quan hệ rộng; hai, có tầm nhìn dài; và, ba, có cách làm việc khoa học.
Tôi gặp Huy Đức một lần ở Hà Nội, hình như là vào cuối năm 2002 hay đầu năm
2005 gì đó. Buổi sáng, tôi đang ngồi uống cà phê với nhà thơ Phan Huyền Thư và
nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì anh và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đến nhập bọn. Phạm Xuân Nguyên giới thiệu Huy Đức với tôi: “nhà báo, đang làm ở tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn”. Lúc ấy, Huy Đức chưa có Osin blog, chưa có các bài bình
luận chính trị được phổ biến rộng rãi trên internet, cho nên, thú thật, tôi
không hề biết anh, kể cả cái tên. Mà Huy Đức cũng rất ít nói. Hôm ấy, anh chỉ
ngồi nghe bọn tôi nói hươu nói vượn về chuyện văn chương và cười. Đến lúc Phạm
Xuân Nguyên đọc một số bài ca dao mới chế giễu giới lãnh đạo Việt Nam, trong
đó, có cả Hồ Chí Minh, cả bọn cười ngất, riêng Huy Đức thì lôi trong túi ra một
cuốn sổ tay nhỏ và đề nghị Nguyên đọc lại, chầm chậm, cho anh chép. Sau đó,
trong suốt buổi nói chuyện, cứ hễ bắt gặp một câu gì hay hay, một chi tiết gì
thú vị, anh lại lôi sổ tay ra chép. Cung cách làm việc của anh khiến tôi để ý.
Và nhớ mãi.
Nhiều người trong giới nhà báo có ưu điểm là biết rộng nhưng phần lớn lại mắc
phải khuyết điểm là sa đà trong các sự kiện có tính chất giai thoại vụn vặt,
cuối cùng, chỉ viết được những bài báo ngăn ngắn, đầy tính thời sự, để được đọc
ngày hôm trước và bị quên lãng ngay vào ngày hôm sau. Huy Đức, khi theo dõi và
ghi chép các tin tức hằng ngày, đã có tham vọng sử dụng cho một bức tranh toàn
cảnh về sinh hoạt chính trị Việt Nam thời anh đang sống. Cuốn Bên Thắng Cuộc,
gồm hai tập, “Giải phóng” và “Quyền bính”, như anh tiết lộ trong lời nói đầu,
được hình thành trong 20 năm, chính là kết quả của tham vọng ấy.
Không phải nhà báo nào cũng có quen biết nhiều, đặc biệt trong giới lãnh đạo,
như Huy Đức. Ở Việt Nam, để có được những quan hệ rộng rãi như thế, không những
cần có tính cách thích hợp (quảng giao) mà còn có cả yếu tố “nhân thân” nữa:
Sinh trưởng ở miền Bắc, vốn là sĩ quan, từng làm việc ở Campuchia với tư cách
chuyên gia quân sự trong hơn ba năm trước khi về làm báo, anh có đủ điều kiện
để được tin cậy. Chính vì thế, anh được báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm tường
thuật các kỳ họp Quốc Hội, ở đó, anh có thể, ở “những thời điểm nóng bỏng
nhất”, “vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan
Văn Khải” hoặc “đến nhà riêng, văn phòng làm việc của Tổng bí thư Đỗ Mười, Tổng
bí thư Lê Khả Phiêu… phỏng vấn”. Trong “Mấy lời của tác giả”, anh cho
biết anh đã tiến hành “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”; và theo “Lời cám ơn”, chúng
ta được biết, trong số những người được anh phỏng vấn, ngoài các tên tuổi nêu
trên, còn có Chủ tịch Nước Lê Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh,
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội
Lê Quang Đạo, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, v.v.. Cả trăm người. Toàn những người lãnh đạo ở bậc cao nhất trong nước. Ngoài ra, anh còn phỏng vấn vợ họ, con họ và các
thư ký riêng của họ nữa.
Chắc chắn không có một nhà báo hay nhà biên khảo nào ở hải ngoại, kể cả người
ngoại quốc – vốn vừa ít bị nghi ngờ vừa được các trung tâm nghiên cứu lớn tài
trợ để có thể bỏ ra năm bảy năm thu thập tài liệu cho một cuốn sách – có thể
tiếp cận được đến chừng ấy người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Ở trong nước,
làm được điều ấy, cũng không phải dễ. Nhìn từ góc độ xuất bản, có lẽ Huy Đức là
người đầu tiên. Điều này trở thành một thế mạnh đầu tiên của cuốn sách: Đó là
chuyện kể từ những người trong cuộc của “bên thắng cuộc”. Tính chất “trong
cuộc” ấy đã tạo nên những đặc trưng về thể loại và thẩm mỹ của cuốn sách.
Trong cái gọi là đặc trưng thẩm mỹ ấy, tôi chỉ xin tập trung vào một điểm: sự
hấp dẫn.
Phải nói ngay: hiếm có cuốn sách về chính trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng
Cuộc. Điều đó có thể thấy qua những tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa
qua. Lâu lắm rồi, giới cầm bút Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc
gây ồn. Hầu hết sách báo được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc
biệt ở hải ngoại, đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay hay dở. Mà
chủ yếu ở tâm lý quần chúng: dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc, ngược lại,
ngay từ lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ bênh người chống,
bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn đàn, từ trên giấy đến
trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người chưa đọc cuốn sách, hoặc có
khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng quan tâm, thậm chí, như ở California,
xuống đường biểu tình đòi… đốt sách!
Mà Bên Thắng Cuộc hấp dẫn thật. Đọc, chúng ta biết được rất nhiều
chuyện, từ những chuyện lớn liên quan đến chính sách đến những chuyện nhỏ, có
khi nhí nhách nữa, liên quan đến đời sống hàng ngày của một số người. Lớn, ví
dụ, những toan tính đằng sau các chính sách hay chiến dịch có ảnh hưởng đến
sinh mệnh cả hàng chục triệu người; những thay đổi trong tính cách của Lê Duẩn:
từ một cán bộ hay hy sinh cho người khác đến một lãnh tụ chuyên quyền và độc
đoán; trong thái độ của Trường Chinh: từ một người giáo điều và bảo thủ đến một
người đi đầu trong phong trào đổi mới; trong chủ trương của Nguyễn Văn Linh: từ
một người đổi mới đến một người phản-đối-mới. Cũng có thể xem là lớn mối quan
hệ giữa các lãnh tụ với nhau, như giữa Lê Duẩn với Hồ Chí Minh, Trường Chinh,
Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ; giữa Nguyễn Văn Linh với Võ Văn Kiệt, những chi
tiết liên quan đến cái chết của Đại tướng Lê Trọng Tấn vào tháng 12 năm 1986
vốn, theo lời Huy Đức, bị “lịch sử phi chính thống […] xếp vào hàng nghi án”
(“Giải phóng”- GP, tr. 151)… Còn nhỏ thì nhiều hơn, có khi lôi cuốn người đọc
hơn, chẳng hạn, chuyện vào ngày 30/4/1975, trong Dinh Độc Lập không hề có chiếc
máy ghi âm nào để thu lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh (GP, tr. 23);
chuyện các sĩ quan Bắc Việt đầu tiên vào chiếm Dinh không dám bước vào thang
máy vì thấy nó giống cái… hòm và họ sợ bị nhốt luôn trong đó (GP, tr. 22);
chuyện khuya ngày 5/7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bị mệt, được đưa vào
bệnh viện Quân y 108 để cấp cứu, nhưng vừa đến nơi thì ông “phát ra một tiếng
kêu ‘ặc’ rồi mặt và toàn thân tím ngắt”; mấy tiếng đồng hô sau, ông mất…
(“Quyền bính” – QB, tr. 64) Có một số chuyện không biết là lớn hay nhỏ, như
chuyện khi Hiệp định Geneva được ký kết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn
Bắc Việt, không hề biết sông Bến Hải nằm ở đâu (vì tất cả đều đã được Trung
Quốc quyết định giùm!) (GP, tr. 52); chuyện Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước, vốn
là thợ cơ khí, nhiều lúc rảnh và buồn quá, lật “chiếc xe đạp của ông ra sửa để
giết thời gian” (GP, tr. 120); chuyện Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng,
biết trước vụ tổng tấn công hồi Tết Mậu thân chỉ có một ngày (QB, tr. 67);
chuyện khi đón tiếp Tổng thổng Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam năm
2000, “Bộ Chính trị đã thống nhất là không được cười” (QB, tr. 137), v.v..
Nhiều chuyện có thể đã được người này người nọ kể đâu đó rồi. Nhưng theo chỗ
tôi biết, chưa có nơi nào các chuyện thuộc loại ấy được tập trung với mật độ
dày đặc như trong cuốn Bên Thắng Cuộc. Trang nào cũng đầy ắp chi tiết.
Có những chi tiết không dễ gì tìm được ở những nơi khác, ví dụ: Ở Sài Gòn,
trước tháng 4/1975, có bao nhiêu đảng viên Cộng sản nằm vùng? – 735 người! (GP,
tr. 27) Cũng ở Sài Gòn, sau tháng 4/1975, có bao nhiêu người ra trình diện để
“được đi học tập cải tạo”? – Có 443.360 người, trong đó, có 28 tướng, 362 đại
tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát,
1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền,
và 9.306 người trong các đảng phái bị xem là “phản động’ (GP, tr. 29),
v.v..(Còn tiếp)
***
Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition” của
Bên Thắng Cuộc.
|
Sống trong gia đình nên săn sóc cho nhau và tìm hiểu cặn kẽ, đừng vội trách
|
THÂN PHẬN BỤI TRO
“Hãy ăn năn sám hối
và tin vào Tin Mừng.”
(Mác-cô 1:15)
Phàm hèn thân phận bụi tro
Nên con nào có thơm tho hương nồng
Tháng ngày tội lụy chất chồng
Bao lần say đắm bóng hồng thiết tha
Hôm nay thức tỉnh ngộ ra
Nghe lời Ngài gọi tránh xa lối mòn
Niềm hy vọng vẫn hãy còn
Trái tim rộn rã, cõi lòng hân hoan
Quyết tâm bỏ chốn phòng loan
Bắt đầu cuộc sống nhịp khoan vui mừng
Chúa ôi, nhảy múa tưng bừng
Nhiệm mầu hạnh phúc mỗi từng phút giây
Vô thường là chính nơi đây
Tiến về Vĩnh Cửu ngất ngây diệu vời !
* Nguyễn Sông Núi
(Tv Thánh Gioan Neumann,Dallas,TX,Jan.21,2013)
Anh Nguyễn v Thập gởi


httpv://www.youtube.com/watch?v=PS716dHotZs&list=PLfe9JTtbGcgUIoL78zOY5vd4cqI4mYjd3&index=3
Xin cám ơn anh Tran Nang Phung gởi
ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ VỀ VIỆC ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI TỪ CHỨC
Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn
nguồn:conggiaovietnam.net
Tin Đức Thánh Cha Benedict 16 đột nhiên tuyên bố từ chức sáng thứ hai 11-2 vừa qua đã làm chấn động thế giới và kinh hoàng mọi người trong toàn Giáo Hội Công Giáo.
Thật vậy, đây quả là biến cố trọng đại nhất trong Giáo Hội từ 600 năm qua sau ngày cố Đức Giáo Hoàng Gregorio 12 tự ý thoái vị năm 1415 để giúp chấm dứt tình trạng Đại ly giáo phương Tây ( Great Western Schism) xảy ra trong Giáo Hội từ năm 1378 và dọn đường cho Đức Giáo Hoàng Martin V lên cai trị Giáo Hội
Trong lịch sử Giáo Hội thì đã có 3 lần các Đức Giáo Hoàng tự ý thoái vị hay từ chức như sau:.
1- Đầu tiên là Thánh Giáo Hoàng Pontian lên ngôi ngày 21-7-230 ( 230-235 ) Ngài từ chức trong đợt Hoàng đế Maximinus Thrax bách hại các Kitô hữu và các thủ
lãnh Giáo hội năm 235. Ngài bị lưu đầy qua Sardinia cùng với Hippolitus
và ở đây, Ngài tuyên bố thoái vị ngày 26-9-235 và được phúc tử Đạo cùng
với Hippolitus. Sau đó Ngài được phong hiển thánh với ngày lễ kinh là 19 tháng
11 hàng năm.
2- Kế đến là Đức Thánh Cha Celestine V, một tu sĩ Biển Đức, lên ngôi Giáo Hoàng ngày tháng 7 năm 1294 ở tuổi 84. .Nhưng đến ngày 13 tháng 12 năm đó,
ngài xin từ chức vì không am hiểu nhiệm vụ được trao phó, và không muốn bị chi
phối bởi Vua Charles V của lãnh địa Naples muốn khuynh đảo Giáo Hội. Ngài
mất năm 1296 và được phong thánh năm 1313 tại Avignon ( Pháp Quốc) nơi Tòa
Thánh còn đóng đô ở đây.
3- Tiếp theo là Đức Giáo Hoàng Gregory XII lên kế vị Giáo Hoàng Innocent VII ngày 30-11-1406 với hy vọng chấm dứt cuộc Đại ly giáo Tây phương đã kéo dài từ năm 1378 mà hậu quả là có hai Giáo Hoàng nữa là Alexander V và Gioan XXIII cũng tranh Tòa Phêrô với ngài.
Để chấp dứt tình trạng này và cũng để chữa vết thương ly giáo, ĐứcGiáo Hoàng Gregory XII. đã xin thoái vị ngày 4-7-1414, dọn đường cho Công Đồng Constance đang họp để truất phế ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII ( ngụy Giáo Hoàng Alexander V đã chết cách bí ẩn ngày 3-5-1410 sau 10 tháng tại chức) và bầu Đức Martin V lên làm Giáo Hoàng thống nhất của Giáo Hội. Đức Gregory XII qua đời ngày 18-19-1417.Vì Joan XXIII không được công nhận là Giáo Hoàng , nên năm 1958 khi Hồng Y Angelo Giuseppe Roncalli đắc cử Giáo Hoàng, ngài đã chọn lại tước hiệu Gioan XXIII.
Như vậy, trước Đức Thánh Cha Biển Đức XVI , đã có ba Giáo Hoàng từ nhiệm vì những hoàn cảnh và lý do khác nhau. Tuy nhiên, vì đã sáu thế kỷ qua chưa có thêm Giáo Hoàng nào từ nhiệm, nên quyết định rời bỏ ngai tòa Phêrô của Đức đương kim Giáo Hoàng đã là một tiếng sét vang động khắp Giáo Hội và thế giới ngày thứ hai 11-2
vừa qua.
Lý do mà ngài tự ý xin từ nhiệm là vì “tuổi tác và sức khỏe” không còn đủ để cho phép Ngài tiếp tục Sứ Vụ cai quản Giáo Hội nữa. Thật là một biến cố ngoài sức tưởng tượng của toàn thể Giáo Hội khiến mọi người đều đang còn bàng hoàng về tin quá bất ngờ này. Tuy nhiên ai cũng phải nhìn nhận rằng đây là một quyết định rất can đảm và đầy khiêm nhu của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, người Cha chung rất đáng kính
yêu của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, đã khôn ngoan, sáng suốt chèo lái Con
Thuyền Phêrô trong suốt gần 8 năm qua.
Ngài được bầu lên ngôi Giáo Hoàng rất nhanh chóng ngày 19-4-2005, để kế tục sứ mạng chăn dắt Giáo Hội do Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II để lại. Trong gần 8 năm qua, ngài đã chứng tỏ là một Thầy dạy Đức tin rất vững vàng, một thần học gia uyên thâm, một mục tử tha thiết với đoàn chiên và một sứ giả của hòa bình và đại kết ( ecumenism).
Theo gương mục vụ của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, Ngài đã thăm viếng mục vụ các Giáo Hội địa phương ở nhiều quốc gia trên thế giới. trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Đức. ÚC Châu, Ba Lan, Tây ban Nha., Ba Tây, Do Thái, Palestine …
Chắc chắn sự từ nhiệm của ngài đang gây luyến tiếc cho mọi người trong Giáo Hội hiện nay.
Tuy nhiên ,sự sừ nhiệm này đã diễn ra đúng với điều Giáo Luật số 332, triệt 2 đã dự liệu như sau:
“ Nếu xảy ra trường hợp Đức Thánh Cha từ chức, thì để được hữu hiệu, sự từ chức phải được tự do và được bày tỏ cách hợp thức nhưng không cần được ai chấp nhận.”
Trong tuyên bố từ chức sáng thứ hai vừa qua, Đức Thánh Cha đã nói rõ lý do như sau:
“ ..để lèo lái Con Thuyền Phêrô và để công bố Tin Mừng, sức mạnh thể xác và tinh thần đều cần thiết. Nhưng trong vài tháng qua sức mạnh đó trong tôi đã suy giảm đến mức tôi phải nhìn nhận là tôi không còn đủ năng lực để chu toàn sứ vụ đã được trao phó cho tôi. Vì thế, ý thức rõ về tầm mức quan trọng của quyết định này và với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám mục Rôma, Người kế vị Thánh Phêrô mà các vị Hồng Y đã trao cho tôi ngày 19-4-2005.”
Như thế, lý do vững chắc mà Đức Thánh Cha nêu ra đã phù hợp với tinh thần giáo luật nêu trên, và sự từ nhiệm của ngài là hợp thức, có hiệu lực vì không cần ai chấp nhận.
Ngài sẽ chính thức rời bỏ nhiệm vụ Giáo Hoàng vào lúc 20 giờ địa phương ngày 28 tháng 2 này và các Hông Y dưới 80 tuổi sẽ họp Mật Nghi ( Conclave ) để chọn Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội.
Là đoàn chiên trong Giáo Hội, chúng ta tha thiết cầu xin cho ĐứcThánh Cha Biển Đức XVI để ngài được an vui, mạnh khỏe sau khi rời Tòa Phêrô, cũng như cầu xin cho Giáo Hội sớm có Chủ Chiên mới để chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô trong giai đoạn mới này.
Sau hết, một điều phải tránh là hãy bỏ ngoài tai những lời đồn đoán và “tiên tri giả” đang loan truyền những điều huyền hoặc vô căn cứ về Giáo Hoàng mới sắp được bầu lên. Chúng ta hãy tin tưởng và phó thác Giáo Hội cho Chúa Thánh Thần để Người soi sáng các Hồng Y trong việc chọn Tân Giáo Hoàng trong những ngày sắp tới. Chắc chắn Chúa sẽ hướng dẫn Giáo Hội trong mọi quyết định quan trọng và chúng ta sẽ có Chủ Chăn mới đúng theo ý muốn của Người.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Vợ chồng đừng thử thách nhau
13/02/2013
Tác giả: Lm Đan Vinh
THỰC TẬP XÂY DỰNG HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH
VỢ CHỒNG ĐỪNG THÁCH THỨC NHAU
1. LỜI CHÚA: Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,1-7)
2.CÂU CHUYỆN:
Gần nhà tôi có đôi vợ chồng tuổi trung niên lấy nhau được mười lăm năm va đã có với nhau hai mặt con. Hằng ngày anh chồng chạy xe ôm đều mang tiền về nhà nuôi vợ con. Gần đây khi xăng lên giá, việc chạy xe thu nhập không còn được như trước. Ngày nào đưa tiền về không đủ sở hụi là chị vợ mặt nặng mày nhẹ và nói những câu chì chiết khiến anh tức bực sinh ra rượu chè. Nhiều lần nghe vợ nói cạnh nói khóe bị chạm tự ái nhưng vẫn cố nín nhịn bằng cách lấy xe đi ra khỏi nhà để tránh cãi nhau. Hôm đó nghe vợ chê trách, trước khi bỏ đi anh chồng đã nói thòng thêm một câu cho đỡ quê : “Cô có im đi không? Cô mà nói thêm là coi chừng ăn đòn !”. Bị chạm tự ái vì câu hăm dọa của anh chồng xưa nay vốn hiền lành nhẫn nhịn, chị vợ đã chạy theo nắm lấy tay anh và thách thức : “Nè, có “ngon” thì đánh tui đi ! Đánh đi ! Chớ đừng
nói rồi không dám làm thì hèn lắm!”. Và thế là “bốp ! Bốp !…” Chị vợ bị hai
cái tát trên má. Chị lại la tóang lên: “Anh dám đánh tui hả? Ối làng nước ơi!
Nó đánh tui!”. Cũng may mà có mấy người hàng xóm nghe tiếng xô xát đã kịp thời
chạy tới can ngăn nên gia đình mới tạm yên. Về sau khi đã bình tĩnh, anh chồng
đã tâm sự với anh bạn hàng xóm: “Thực ra, tôi không muốn đánh cổ làm chi. Nhưng
cổ thấy tôi nhẫn nhịn lại càng làm tới thách thức, nên tôi không giữ được bình
tĩnh đã phải tát cho cô ấy hai cái để mong được yên thân”.
3.SUY NIỆM:
1.Vợ bị chồng đánh do thái độ thách thức: Sự thực thì có những ông chồng có
thói vũ phu, sau khi có tí hơi men mà vợ nói động tới là không thể nhịn được mà
phải đánh đập vợ con cho hả cơn giận. Nhưng bên cạnh đó cũng có những ông chồng
bất đắc dĩ mới phải đánh vợ vì ý thức rằng: “Mình là đàn ông, có sức khỏe, giỏi
thì đánh nhau với mấy tên ngang cơ ! Chứ còn đánh thứ đàn bà chân yếu tay mềm
thì hèn lắm!” Hoặc: “Vợ chồng nào mà chẳng có chuyện bất đồng ý kiến
tranh cãi nhau. Tức quá thì mình dọa mấy câu cho bả ấy ngán mà im miệng. Ai dè
bả lại cãi lại và còn thách thức : “Này, dám đánh không ? Nói mà không làm là
hèn, là hạng …tiểu nhân !”. Như vậy là do tự ái, nên anh chồng mới phải chứng
tỏ “quân tử nhất ngôn”. Vậy là nhiều bà vợ đã bị ăn đòn do tội thách thức khinh
thường chồng!
2.Hậu quả của thách thức là sự thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất: Anh
chồng thích uống rượu nhưng do tửu lượng kém nên chỉ cần uống một hai ly là đã
say xỉn. Một hôm uống một vài ly chưa đã như mọi lần, anh yêu cầu chị vợ mua
thêm cho anh một xị nữa để uống tiếp kèm theo lời đe dọa : “Không đi mua thì cứ
mà chết với ông!”. Nghe vậy chị vợ tự ái liền hét to lên: “Tôi không đi mua đó.
Anh làm gì tôi thì làm đi!” Anh chồng tức giận xô chị ngã chạm vào thành giường
bị trặc cánh tay, phải đi bó thuốc mất cả tháng trời mới khỏi. Bị chồng xô té,
chị tức quá vào tủ lấy hết số tiền năm triệu do mới bán lứa heo sữa quăng
cho anh chồng với lời nói dỗi : “Anh có ngon thì đi mà nhậu hết đi”. Làm như
vậy chị nghĩ anh chồng chắc sẽ không dám tiêu xài vì số tiền đó hai vợ chồng đã
nhất trí sẽ dùng để sửa nhà bếp sắp sập do bị mối ăn. Anh chồng nghe vợ thách
thức, liên ôm gói tiền đi luôn. Mãi ba ngày sau mới quay về nhà, trong túi
không còn một đồng bạc nào!! Anh đã thành tâm xin lỗi vợ. Sau khi cằn nhằn mấy
câu chị sẵn sàng tha thứ cho anh. Nhưng về sau mỗi khi nghĩ tới chị lại tiếc rẻ
và tự trách: “Giá đứng mang tiền ra thách thức anh ta thì gia đình đâu có bị
mất số tiền lớn như vậy”.
3.Vợ cũng có thể làm liều khi bị thách thức: Không phải chỉ có những ông chồng, mà ngay cả các bà vợ, khi bị chạm tự ái, thì cơn giận cũng nổi lên: “Liên tiếp
hai tuần qua, ngày nào ông chồng cũng phải ăn cơm ngòai, vì chị vợ đã quyết làm
theo lời “thách thức” của ông, khi hai người cãi nhau chỉ vì chị lỡ làm cháy
món nhậu của ông. Trong lúc tức giận ông đã chì chiết vợ: “Làm đàn bà có mỗi
công việc làm bếp mà làm không xong thì bà còn làm được gì nữa? Thôi dẹp luôn
cái bếp này đi, cả nhà đi ăn cơm tiệm luôn!”. Về sau chị đã kể tội của chồng
cho bà hàng xóm : “Cô coi: Cứ hở ra chuyện gì là “ổng” lại bảo: Dẹp bà nó đi!
Vứt hết đi! Bà đi đâu cho khuất mắt tôi! Hỏi cô ai mà không tức? Bị ổng nói
nhiều lần như vậy rồi, nay tôi mới quyết làm theo cho “ổng” biết thân”. Biết
thân ai đâu không thấy, chỉ thấy tháng đó cả nhà bị hụt tiền, phải đi vay mượn
hàng xóm để trả cho cái món nợ hai người phải ra ăn cơm tiệm hằng ngày.
4. Đừng thách thức nhau: Nguyên nhân dẫn đến giận hờn ly hôn giữa hai vợ chồng chính là những lời khích bác coi thường và thách thức nhau. Người ta thường hay thách thức nhau do thói sĩ diện hão hay tự ái vặt. Do đó, vợ chồng cần tránh nói lời thách thức lẫn nhau. Mỗi khi nghe lời thách thức, vợ chồng cần áp dụng phương
cách tránh gây hậu quả nghiêm trọng như sau:
1) “Bíet mình biết người trăm trận trăm thắng”: Người ta khác nhau là do “gien” di truyền, do nền giáo dục gia đình hay nhà trường, do tâm sinh lý sai biệt giữa
hai phái nam nữ… Một khi hiểu rõ những khác biệt đó, vợ chồng sẽ dễ cảm thông
cho nhau và biết cách ứng xử phù hợp với hòan cảnh và tâm lý của chồng vợ mình
để tránh tranh cãi to tiếng như người xưa dạy: “Biết mình biết người trăm trận
trăm thắng”. Cần tránh nói lời cay độc xúc phạm danh dự của nhau vì : “Lời nói
không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
2) “Mau nghe, chậm nói, khoan giận”: Khi bị chạm tự ái và cơn giận đang bốc lên, vợ chồng hãy áp dụng thuật “hoãn binh chi kế” của người xưa. Nghĩa là đừng vội làm gì trong lúc nóng giận vì “giận quá mất khôn”. Thánh Gia-cô-bê cũng dạy các tín hữu về cách ứng xử như sau: “Mau nghe, chậm nói, khoan giận” (Gc 1,19).
3) “Một sự nhịn bằng chín sự lành”: Đừng vội trả đũa khi nghe những lời nói xúc phạm của chồng hay vợ mình. Một linh mục già nhiều kinh nghiệm mục vụ đã khuyên các đôi tân hôn như sau: “Khi hai vợ chồng chúng con sắp tranh cãi to tiếng với nhau, thì mỗi người hãy tự nhủ: “Đừng nóng! Chuyện đâu còn đó. Hãy đợi đến sáng mai sẽ
tính”. Và đến hôm sau, sẽ thấy sự việc kia là chuyện nhỏ, không đáng để hai vợ
chồng gây gỗ, làm sứt mẻ tình nghĩa phu thê”.
4) Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29): Để
dẹp được tính tự ái vốn có sẵn trong mỗi người, chúng ta hãy nhìn vào ấm hình
Thánh Tâm Chúa Giê-su và xin Người ban ơn nhẫn nhịn chịu đựng noi gương Người.
Thánh Phao-lô cũng khuyên các tín hữu Phi-lip-phê: ”Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là
Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên
Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống
phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi
bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
4.THẢO LUẬN:
1)Bạn nên ứng xử thế nào khi bị chồng hay vợ nói lời thách thức?
2)Bạn sẽ làm gì để tạo bầu khí thuận hòa yêu thương trong gia đình ?
5.LỜI CẦU:
Lạy Chúa, xin cho các đôi vợ chồng sống yêu thương đòan kết, tránh lời nói việc làm gây tranh cãi bất hòa. Xin cho các gia đình tín hữu chúng con năng cầu nguyện trong giờ kinh tối gia đình và quan tâm phục vụ lẫn nhau để làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.-
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH
(Hiệp Hội Thánh Mẫu)
Toàn Văn Sứ Điệp Mùa Chay Năm 2013
nguồn:Thanhlinh.net
Tin trong Đức Mến khơi dậy lòng Bác ái
“Chúng ta đã biết và đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.” (1
Ga 4, 16)
Anh chị em thân mến,
Cử hành Mùa Chay trong bối cảnh Năm Đức Tin cho chúng ta cơ hội quý giá để suy
niệm về mối tương quan giữa đức tin và đức ái: giữa tin vào Thiên Chúa – Thiên
Chúa của Đức Giêsu Kitô – và tình yêu, là hoa trái của Chúa Thánh Thần vốn
hướng dẫn chúng ta trên con đường dâng hiến cho Thiên Chúa và tha nhân.
1. Đức tin như một lời đáp lời tình yêu Thiên Chúa
Trong Thông điệp đầu tiên của mình, tôi đã đưa ra một vài suy tư về mối tương
quan gần gũi giữa hai nhân đức đối thần: đức tin và đức ái. Khởi đi từ một
khẳng định nền tảng của Thánh Gioan: “Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu
của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó” (1 Ga 4,16). Tôi nhận
xét rằng: “Khởi đầu cho cuộc sống Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức
hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố với một Con Người,
Đấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và một định hướng dứt
khoát.…Vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước (x. Ga 4,l0), nên tình yêu không còn
là một “giới luật”, nhưng là lời đáp trả cho hồng ân “tình
yêu” qua đó Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta. (Thiên Chúa là Tình Yêu, số
1). Đức tin là một sự gắn kết cá nhân, bao gồm toàn thể khả năng của chúng ta,
với mạc khải tình yêu vô điều kiện và thương xót của Thiên Chúa, được mạc khải
trọn vẹn nơi Đức Kitô. Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa là Tình yêu không chỉ hệ tại
ở con tim nhưng bao gồm cả lý trí: “Việc nhận biết Thiên Chúa hằng sống là con
đường đi đến tình yêu và tiếng thưa vâng của ý chí chúng ta đối với ý muốn của
Người kết hợp sự hiểu biết, ý chí và cảm xúc trở thành một hành động trọn vẹn
của tình yêu. Đây rõ ràng là một tiến tình vẫn luôn chuyển động: tình yêu không
bao giờ “kết thúc” và trọn vẹn được” (ibid., số 17). Vì thế, mọi Kitô
hữu, đặc biệt là những ai “lao tác cho đức ái”, cần đức tin vì “họ cần được
hướng dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Kitô, cuộc gặp gỡ này sẽ đánh thức
tình yêu trong họ và mở rộng con tim của họ cho tha nhân, đến độ tình yêu tha
nhân đối với họ không còn là một giới răn được thiết đặt tự bên ngoài, nhưng đó
là bước tiếp nối của đức tin, chính đức tin đó: hoạt động trong tình yêu
(ibid., 31a). Kitô hữu là những người được tình yêu Thiên Chúa khuất phục và do
đó, dưới tác động của tình yêu – “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (Caritas
Christi urget nos) (2 Cr 5,14) – họ mở ra để yêu mến tha nhận một cách
trọn vẹn trong những việc làm cụ thể (Ibid, 33). Thái độ này chính yếu nảy sinh
từ việc ý thức mình được yêu, được tha thứ và thậm chí là được phục vụ bởi
Thiên Chúa, Đấng đã cúi mình để rửa chân cho các Tông đồ và đã trao hiến chính
mình trên Thập giá để đưa dẫn con người về với tình yêu Thiên Chúa.
“Đức tin chỉ cho chúng ta Thiên Chúa, Đấng đã ban Con của Người cho chúng ta và
ban cho chúng ta niềm xác tín bất khuất: Thiên Chúa là tình yêu! … Niềm tin, ý
thức tình yêu của Thiên Chúa tự tỏ lộ nơi trái tim bị đâm thâu của Đức Giêsu
trên thập giá, niềm tin đến phiên mình sẽ làm nảy sinh tình yêu. Tình yêu là
ánh sáng – cuối cùng là ánh sáng duy nhất – sẽ làm cho một thế giới đen tối
được sáng trở lại và ban cho chúng ta sự can đảm để sống và để hành động”
(Ibid., 39). Tất cả điều này giúp chúng ta hiểu rằng điều làm cho đời sống của
người Kitô hữu trở nên trổi vượt chính là vì “tình yêu được đặt nền tảng trên
đức tin và được nhào nặn bởi đức tin” (ibid., số 7).
2. Đức mến như một cuộc sống trong đức tin
Toàn thể đời sống Kitô hữu là một lời đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Lời đáp
đầu tiên là việc đón nhận đức tin, đầy ngỡ ngàng và biết ơn, đối với một sáng
kiến chưa từng có của Thiên Chúa, đi trước và gọi hỏi chúng ta. Và tiếng xin
vâng của đức tin đánh dấu một sự khởi đầu cho một lịch sử chói sáng về tình bạn
với Thiên Chúa vốn đổ đầy và trao ban một ý nghĩa trọn vẹn cho toàn bộ đời sống
con người. Nhưng đối với Thiên Chúa, nếu chúng ta chỉ đơn thuần đón nhận tình
yêu nhưng không của Ngài thì không đủ. Ngài không chỉ yêu thương chúng ta, Ngài
còn muốn lôi kéo chúng ta đến với Ngài, để biến đổi chúng ta một cách sâu xa
đến nỗi như thánh Phaolô, chúng ta có thể thốt lên rằng: “Tôi sống, nhưng không
còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Khi chúng ta dọn chỗ cho tình yêu Thiên Chúa, thì chúng ta trở nên giống Ngài
và chia sẻ chính đức ái của Ngài. Nếu chúng ta mở lòng mình ra cho tình yêu ấy,
chúng ta cho phép Ngài sống trong chúng ta và làm cho chúng ta yêu mến Ngài,
trong Ngài và trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Chỉ khi đức tin của chúng
ta “hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6), thì Thiên Chúa mới thực sự ở trong chúng ta
(xem 1 Ga 4,12).
Đức tin nhận biết chân lý và gắn chặt với chân lý (x. 1 Tm 2,4); đức ái là bước
đi trong chân lý (x. Ep 4,15). Nhờ đức tin, chúng ta đi vào mối tương quan tình
bạn với Thiên Chúa, qua đức ái, mối tình này được sống động và được dưỡng nuôi
(x. Ga 15,14). Đức tin làm cho chúng ta ôm ấp lệnh truyền của Thiên Chúa và của
Thầy; đức ái trao ban cho chúng ta niềm vui khi chúng ta thực hành lệnh truyền
ấy (x. Ga 13,13-17). Trong đức tin, chúng ta được sinh ra với tư cách là con
Thiên Chúa; với đức ái, chúng ta gìn giữ mối tình con thảo của chúng ta với
Ngài và trổ sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Gl 5,22). Đức tin giúp chúng
ta nhận ra những quà tặng mà Thiên Chúa tốt lành và quảng đại tặng ban cho ta;
đức ái làm cho những món quà ấy trổ sinh hoa trái (x. Mt 15,14-30).
3. Mối liên kết bất khả phân ly giữa đức tin và đức ái
Trong ánh sáng này, rõ ràng chúng ta không thể tách rời hoặc đối nghịch giữa
đức tin và đức ái. Hai nhân đức đối thần này liên kết mật thiết với nhau, và
thật sai lầm khi đặt chúng trong một tương quan đối nghịch hay “biện chứng”.
Trái lại, chúng ta cũng cần tránh việc quá nhấn mạnh đến sự ưu tiên và tầm quan
trọng quyết định của đức tin đến độ coi nhẹ và hầu như coi thường những công
việc bác ái cụ thể, coi chúng chỉ là những hành vi nhân đạo tổng quát mà thôi.
Trái lại, chúng ta cũng không nên quá phóng đại vị trí ưu việt của đức ái và
những hoạt động của đức ái, như thể là việc làm có thể thay thế đức tin. Một
đời sống thiêng liêng trưởng thành cần tránh hai thái cực trên, cần phải xa
tránh thuyết duy tín (fidéisme) cũng như thái độ duy hoạt động về luân lý
(moral activism).
Đời sống Kitô hữu hệ tại ở việc liên lỉ lên núi để gặp Chúa, để rồi “hạ sơn”,
tựa nương vào tình yêu và sức mạnh đã kín múc nơi Ngài, phục vụ anh chị em với
tình yêu của chính Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy lòng hăng say
rao giảng Tin Mừng và khơi dậy đức tin nơi người khác của các tông đồ liên kết
chặt chẽ với mối quan tâm đức ái trong việc phục vụ người nghèo (x. Cv 6,1-4).
Trong Giáo hội, chiêm niệm và hoạt động, trong một cách thức nào đó, được tượng
trưng bằng hình ảnh của Maria và Martha trong Tin Mừng, phải đồng tồn tại và bổ
túc cho nhau (x. Lc 10,38-42). Mối tương quan với Thiên Chúa phải là ưu tiên
hàng đầu, và sự chia sẻ của cải đích thực, theo tinh thần của Tin Mừng cần cắm
rễ sâu trong đức tin (Tiếp Kiến Chung, 25-04-2012). Thực tế, đôi lúc chúng ta
có xu hướng giản lược thuật ngữ “đức ái” xuống thành tình liên đới hay chỉ là
hoạt động trợ giúp nhân đạo đơn thuần. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là
công việc bác ái lớn nhất chính là việc truyền giảng Tin Mừng, nghĩa là “sứ vụ
của Lời”. Không có hành động nào có tính bác ái hơn là hành động nuôi dưỡng tha
nhân bằng lời Chúa và sẻ chia với họ những Tin Vui của Phúc Âm, giới thiệu cho
họ đi vào mối tương quan với Thiên Chúa: rao giảng Tin Mừng chính là sự thăng
tiến nhân bản cao cả nhất và đầy đủ nhất. Trong Thông điệp Phát Triển Các Dân
Tộc (Populorum Progressio), tôi Tớ Chúa, Đức Phao-lô VI viết rằng
việc công bố về Đức Giêsu Kitô là sự đóng góp đầu tiên và quan trọng nhất cho
sự phát triển. Chân lý căn bản về Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta
chính là việc sống và công bố tình yêu ấy, vì điều này sẽ giúp đời sống chúng
ta đón nhận tình yêu này và làm cho sự phát triển hội nhất của nhân loại và của
mỗi người trở nên khả thi (x. Tình Yêu Thiên Chúa, số 8).
Một cách thiết yếu, mọi thứ đến từ tình yêu và hướng về Tình yêu. Tình yêu
nhưng không của Thiên Chúa được tỏ cho chúng ta qua việc rao giảng Tin Mừng.
Nếu chúng ta vui vẻ đón nhận Tin Mừng với đức tin, chúng ta đang lãnh nhận để
đi với một tương tác trước hết và không thể tách rời với Thiên Chúa. Mối tương
quan này làm cho chúng ta “phải lòng với Tình Yêu”, và rồi, chúng ta sẽ ở lại
trong Tình Yêu, lớn lên và hân hoan loan báo về Tình yêu ấy cho người khác.
Liên quan đến mối tương quan giữa đức tin và việc làm của đức ái, một đoạn
trong thư gửi Tín hữu Ê-phê-sô cung cấp cho chúng ta một tường thuật tốt nhất
về mối liên kết giữa hai nhân đức này: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng
tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của
Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện.
Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Ðức
Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho
chúng ta” (2,8-10). Ở đây, chúng ta có thể thấy toàn bộ kế hoạch cứu độ khởi đi
từ Thiên Chúa, từ ân sủng của Ngài và từ sự tha thứ của Ngài được lãnh nhận nhờ
đức tin. Thế nhưng, sáng kiến của Thiên Chúa không hạn chế tự do và trách nhiệm
của chúng ta, trái lại, sáng kiến này làm cho chúng trở nên chân thực và hướng
chúng đến công việc của đức ái. Đây không phải là kết quả của những nỗ lực của
chúng ta, để rồi chúng ta phải hãnh diện, nhưng chúng sinh ra từ đức tin và
tuôn trào từ ân sủng mà Thiên Chúa đã trao ban một cách rất phong phú. Đức tin
không có việc làm tựa như cây không trổ sinh hoa trái: hai nhân đức này bao hàm
trong nhau. Qua những thực hành truyền thống của đời sống Kitô hữu, Mùa Chay
mời gọi chúng ta biết dưỡng nuôi đức tin của mình bằng cách chú tâm, siêng năng
lắng nghe Lời Chúa và lãnh nhận các bí tích, và đồng thời lớn lên trong đức ái
và tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân qua những việc làm cụ thể như ăn
chay, đền tội và làm việc bố thí.
4. Vị thế ưu tiên của đức tin, chỗ đứng thứ nhất của đức mến
Như mọi quà tặng của Thiên Chúa, đức tin và đức ái có nguồn gốc nơi hoạt động
của cùng một Chúa Thánh Thần ( x. 1Cr 13); Thần Khí ngự trong chúng ta và giúp
chúng ta thưa lên rằng “Abba, Cha ơi” (Gl 4,6) và chính Ngài cũng làm chúng ta
tuyên xưng: “Đức Giêsu là Chúa!” (1 Cr 12,3) và “Maranatha” (1 Cr 16,12; Kh
22,20).
Đức tin, như một quà tặng và một lời đáp trả, giúp chúng ta nhận biết chân lý
của Đức Giêsu Kitô như là Thiên Chúa nhập thể và chịu đóng đinh khi hoàn toàn
vâng phục Thánh ý Cha và lòng thương xót vô biên dành cho con người; đức tin
ghi khắc vào con tim và tâm trí chúng ta một niềm xác tín vững chắc rằng chỉ có
Tình Yêu đó mới có thể chiến thắng sự dữ và cái chết. Đức tin cũng mời gọi
chúng ta hướng về tương lai với nhân đức hy vọng, trong sự mong chờ đầy tin
tưởng vào cuộc vinh thắng của Đức Kitô sẽ được viên mãn. Về phần mình, đức ái
thúc giục chúng ta đi vào tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Giêsu
Kitô và làm cho chúng ta đi vào tình yêu tự hiến và hoàn hảo của Đức Giêsu dành
cho Chúa Cha và cho anh chị em mình một cách cá vị và sống động. Bằng cách đổ
đầy tình yêu này, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên những kẻ chung phần
trong tình yêu con thảo của Đức Giêsu dành cho Thiên Chúa và tình yêu huynh đệ
đối với tha nhân (Rm 5,5).
Mối tương quan giữa hai nhân đức này tựa như mối tương quan giữa hai bí tích
nền tảng của Giáo hội: Bí tích Rửa tội và Bí tích Thánh Thể. Bí tích Rửa tội
(bí tích đức tin – sacramentum fidei) đến trước bí tích Thánh Thể
(bí tích đức ái – sacramentum caritatis). Nhưng bí tích Rửa tội là
sự chuẩn bị của bí tích Thánh Thể, và bí tích Thánh Thể giúp người Kitô hữu đi
trọn hành trình của mình. Cũng vậy, đức tin đến trước đức ái nhưng đức tin chỉ
trở nên chân thực nếu đạt đến cực điểm nhờ đức ái. Mọi sự khởi đi từ việc đón
nhận đầy khiêm hạ của đức tin (biết rằng tôi được Thiên Chúa yêu), nhưng đức
tin phải đạt đến chân lý là đức ái (biết yêu Thiên Chúa và tha nhân), vốn tồn
tại mãi mãi và là sự viên mãn của tất cả các nhân đức (1 Cr 13,13).
Anh chị em thân mến, trong Mùa Chay này, như là dịp chúng ta chuẩn bị kỷ niệm
biến cố Tử Nạn và Phục sinh – một biến cố mà tình yêu Thiên Chúa đã cứu độ thế
giới và chiếu tỏa ánh sáng vào lịch sử – tôi ước mong rằng tất cả anh chị em có
thể dùng thời gian này để thắp lại ngọn lửa đức tin vào Đức Giêsu. Nhờ đó chúng
ta có thể cùng với Ngài đi vào tình yêu đầy năng động dành cho Cha, cho anh chị
em mình, những người mà chúng ta gặp gỡ trong đời sống của chúng ta. Vì lý do
này, tôi dâng lời nguyện này lên Chúa, và nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho
mỗi người và cho mỗi cộng đoàn!
Từ Vatican, 15 tháng 10 năm 2012
Nguyễn Minh Triệu sj
Người lớn ơi, xin một lần lắng nghe trẻ em nói…
Tác giả: KHƯƠNG DUY
nguồn: tuanvietnam.net
Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp.
Suốt bao nhiêu năm nay, việc chăm lo cho trẻ em luôn được coi là ưu tiên hàng đầu bởi ai cũng thuộc lòng khẩu hiệu “Trẻ em là tương lai của đất nước”. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta đều nghe thấy lời khẳng định: xã hội phải dành những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng thực sự, sau những ngôn từ hoa mĩ ấy, chúng ta đã dành cho trẻ em những gì?
Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi năm nay, cùng những bài diễn văn ca ngợi thành tích chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang vang khắp các hội trường, xin được góp vài lời để phần nào giải đáp câu hỏi này.
Đầu tiên, xin thưa rằng người lớn chúng ta ảo tưởng nhiều lắm về sự sung sướng của
trẻ em. Khi những đứa trẻ đòi hỏi điều này hay điều kia, người lớn chúng ta thường mắng chúng vòi vĩnh và đem sự nghèo khổ của ông bà, bố mẹ xưa kia ra so sánh. Xét về nhiều mặt, trẻ em hôm nay sung sướng hơn thế hệ đi trước rất nhiều với hàng trăm hàng ngàn loại trò chơi, đồ ăn thức uống mà chúng ta ngày trước có mơ cũng không bao giờ dám nghĩ tới.
Nhưng trẻ em có sung sướng không khi bị đe dọa từng miếng ăn, giấc ngủ vì từ rau, đậu, thịt, cá đến món đồ chơi ưa thích, thứ gì cũng có nguy cơ nhiễm độc? Trẻ em hạnh phúc không khi ra đường, muốn bỏ khẩu trang ra để thở cũng không được vì khói bụi, muốn tung tăng bay nhảy trên phố cũng phải lấm lét canh chừng những “anh hùng xa lộ” sẵn sàng cán người rồi bỏ chạy?
Khi còn nhỏ, ai trong số những người lớn chúng ta phải sống trong những nỗi sợ hãi giống như trẻ em hôm nay?
Người lớn luôn tự khen mình đã dành tất cả những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng có một thứ trẻ em còn rất thiếu: người lớn không cho các em quyền được tin.
Chúng ta muốn trẻ em tin những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta chỉ cho chúng thấy những điều nham nhở, xấu xí.

Trẻ em Hà Giang, Ảnh: Đoàn Bảo Châu
Làm sao trẻ em có thể tin rằng xã hội đang chung tay bảo vệ môi trường khi có những quan chức vào tù vì rút tiền ngân sách dành cho môi trường để tư lợi?
Làm sao trẻ em có thể tin vào lời khuyên “cây ngay không sợ chết đứng” khi những người dám nói thẳng, nói thật như thầy Đỗ Việt Khoa trở thành “cây ngay” cô độc giữa rừng cây xiêu vẹo, cực chẳng đã đành phải bỏ nghề?
Làm sao trẻ em có có thể tin mình được xã hội nâng niu khi chứng kiến những đứa trẻ cùng trang lứa như bé Hào Anh bị người lớn đánh đập dã man trước sự thờ
ơ của chính quyền sở tại? Những đứa trẻ lớn lên thiếu hành trang niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ phải hoàn toàn do lỗi của người lớn chúng ta.
Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em
theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp. Trẻ em còn lúc nào để bay bổng và ước mơ khi lịch học chính, học phụ dày đặc đã chiếm hết thời gian từ lúc các em bước vào lớp một?
Trẻ em sao có thể mở rộng tâm hồn với thế giới bên ngoài khi bị người lớn khóa kín trong những căn nhà kín cổng cao tường hoặc phải sống chen chúc trong những
ngõ sâu chật hẹp, “chỉ chính ngọ mới thấy mặt trời”.
Vài chục năm nữa, liệu trẻ em có còn được chiêm ngưỡng cảnh làng quê yên bình với cánh đồng xanh mướt, đàn cò bay thẳng cánh, đàn trâu nhẩn nha gặm cỏ – những cảnh trí đã dung dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt Nam – khi những dự án sân golf, biệt thự, bãi đào vàng đang được người lớn bật đèn xanh không ngơi tay?
Người lớn chẳng những không cho trẻ em cuộc sống an toàn, không cho chúng niềm tin, không cho trẻ em một tuổi thơ theo đúng nghĩa mà còn “ăn vèn” cả vào tương lai của trẻ em. Khi những đứa trẻ lớn lên, chúng ta sẽ trả lời các em ra sao về hàng triệu, hàng tỷ tấn khoáng sản đã bị thế hệ trước khai thác, sử dụng hoang phí và bán với giá rẻ mạt cho nước ngoài để thỏa mãn những nhu cầu không đáy?
Cuốn sách địa lý của thế hệ tương lai sẽ viết về nguồn tài nguyên của đất nước ra sao
khi những mỏ vàng, bạc, dầu thô, than đá chẳng còn gì ngoài những hố sâu thăm thẳm và môi trường sinh thái bị tàn phá nặng nề?
Hãy tự hỏi chúng ta chia cho trẻ thơ được bao nhiêu từ món tiền thu được từ việc bán tống bán tháo tài nguyên, khoáng sản hôm nay. Phần chúng ta dành cho các em
có phải là những ngôi trường dột nát ở vùng cao? Hay đó là những sợi cáp mắc qua sông như ở Đắk Nông để các em trượt từ bờ bên này qua bờ bên kia tới trường ngay trên đầu sóng dữ?

Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em… Ảnh Đoàn Bảo Châu
Và chao ôi, những gì chúng ta dành cho chúng liệu có xứng đáng với những món nợ hàng trăm tỷ đô-la chúng ta đang vay nợ nước ngoài để đầu tư cho những dự
án trên trời dưới biển. Chúng ta hỉ hả khi năm sau vay được nhiều hơn năm trước, chúng ta giận lẫy vài hôm khi có vị quan chức nọ xà xẻo vốn ODA nhưng rồi cũng tặc lưỡi bỏ qua. Chúng ta an ủi nhau rằng trẻ em ngày sau sẽ tài giỏi hơn thế hệ hôm nay và sẽ trả hết những gì chúng ta đang vay mượn để vung tay quá trán và thả sức cho rơi rớt dọc đường.
Vâng, tôi tin lắm vào tài năng, trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Chúng ta có những thần đồng toán học, âm nhạc, thể thao ngang tầm quốc tế; chúng ta có những đôi
bàn tay tài hoa ngay ở tuổi thiếu thời. Nhưng có tủi cho trẻ em không khi cha ông chúng trông vào những bàn tay khối óc ấy để trả những món nợ xuyên thế kỷ?
Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em bằng một thứ tội tổ tông truyền.
Vậy đấy, hành trang cho trẻ em vào tương lai tưởng như rất đầy mà thực ra lại rất vơi.
Chúng ta chẳng cho trẻ em được bao nhiêu so với những gì chúng ta lấy đi của trẻ em. Những người lớn ích kỷ chỉ biết nhắm mắt và tưởng tượng ra những điều vĩ đại đã làm cho con trẻ, nhưng nếu mở mắt ra chúng ta sẽ bàng hoàng khi trẻ em đang trở thành nạn nhân của thói tham lam, mù quáng và ích kỷ của chúng ta.
Xin được mượn câu hát của Trịnh Công Sơn để gọi tên nỗi niềm tôi dành cho những đứa trẻ trong ngày trọng đại này:
Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi
Tin buồn từ ngày mẹ
cho mang nặng kiếp người.
Anh chị Thụ & Mai gởi