So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

Trần-Đăng Hồng, PhD

image

Hiện nay, năm 2013 nước Việt Nam giàu hay nghèo? Câu hỏi được trả lời trong bài đọc “So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu cuả tác giả Trần-Đăng Hồng, PhD.

image

Ngày nay, người Việt nào cũng biết là Việt Nam còn nghèo. Chữ “giàu” hay “nghèo” chỉ diễn tả tình trạng định tính chung chung, ta không biết được giàu hay nghèo ở mức độ nào, vì vậy cần phải định lượng bằng con số để có thể so sánh dễ dàng.

Để so sánh mức sống (living standards) giữa các vùng hay quốc gia, các nhà kinh tế xử dụng chỉ số GDP đầu người (GDP per capita). GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ hay quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP đầu người là số trung bình (bình quân) của GDP toàn quốc chia cho dân số. Để so sánh mức sống giữa các quốc gia, GDP đầu người phải được chuyển đổi theo cùng một hệ thống tiền tệ, US Dollar (US$). Tuy nhiên, mức sống tùy thuộc vào giá cả và hối xuất của mỗi quốc gia, để chính xác hơn, tính GDP đầu người theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP) trên cơ sở chênh lệch giá cả hàng hóa ở nước đó so với giá cả hàng hóa tương tự ở Hoa Kỳ.

Từ năm 2010, báo chí cho biết GDP toàn quốc của Trung quốc rất lớn, khoảng $5880 tỉ cho năm 2010, vượt qua Nhật Bản ($5470 tỉ), và nay đứng hàng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Tuy đứng thứ 2 thế giới, nhưng mức sống của người Tàu còn rất nghèo so với người Nhật, vì GDP đầu người của Trung quốc chỉ $7.500 trong lúc của Nhật là $34.000 (4,5 lần cao hơn Trung quốc), chưa kể đến sự chênh lệch quá lớn giữa người nghèo và người giàu ở Trung quốc

Dựa vào chỉ số GDP công bố cho thời gian một hai thập niên qua, chúng ta biết Việt Nam hiện nay còn rất nghèo, nhưng không biết nửa thế kỹ trước Việt Namgiàu hay nghèo. May mắn, mới đây (2012), cơ quan Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) công bố chỉ số GDP đầu người cho 185 quốc gia, bắt đầu từ năm 1960 (1).

Vì không phải là chuyên gia về chính trị kinh tế, người viết bài này không dám lạm bàn về nguyên nhân hay chánh sách kinh tế. Phần này để bạn đọc tự tìm hiểu (hay đã hiểu). Thiển giả chỉ trình bày lại các dữ kiện khô khan của số liệu do WB và IMF cung cấp bằng các biểu đồ dễ dàng theo dõi hơn.

Việt Nam năm 1960

image

Biểu đồ 1. So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (Vẽ từ tài liệu 1)

Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất. Vào năm này VNCH xuất cảng (xuất khẩu) tổng cộng 84 triệu US$, gồm 2 sản phẩm chánh là cao su (40 triệu US$) và gạo (27,7 triệu US$).  Riêng về xuất cảng gạo, năm 1960 là đỉnh cao nhất kể từ 1955 với khoảng 340.000 tấn, nhưng giảm dần sau đó, và từ 1965 Nam VN phải nhập cảng (nhập khẩu) 271.000 tấn, năm 1966 khoảng 434.000 tấn, và 1967 khoảng 749.000 tấn gạo (3). Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỉ đồng VN, trong số này gồm có 4,481 tỉ đồng (5,5%)  là tiền viện trợ (3). Hối xuất chính thức trong đầu thập niên 1960 là 1US$ = 118 đồng Ngân Hàng Quốc Gia VN (VNCH, South Việt Nam), trong lúc hối xuất chợ đen năm 1968 là 235-245 đồng (3).

Cũng cần nhắc lại là thời điểm 1960, chiến tranh du kích đã phá hủy khá nhiều nền kinh tế ở nông thôn của Miền Nam, nhất là sản xuất cao su và lúa gạo. Theo tài liệu 2, từ 1955 đến 1961, chính phủ VNCH đã gia tăng đầu tư, nhờ vậy kỹ nghệ (công nghiệp) và nông nghiệp phát triển mạnh, nhưng sau 1961, các yếu tố trên bị suy giảm vì chiến tranh. Vì vậy, năm 1967, lợi tức đầu người (income per capita) Việt Nam Cộng Hòa giảm xuống 126 US$, trong lúc Thái Lan tăng lên 141 US$ (3).

Việt nam trước 1960

Câu hỏi là trước 1960, Việt Nam có nền kinh tế ra sao? Theo Anne Booth (2003), vì hậu quả của đệ nhị thế chiến và chiến tranh dành độc lập sau đó, cho tới năm 1960, vài nước Á châu như Indonesia, Miến Điện và Việt Nam vẫn chưa khôi phục lại GDP đầu người của thời tiền chiến.

Chẳng hạn, Miến Điện có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1929 có GDP cao hơn năm 1960 tới 68%. Riêng Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1938, có GDP cao hơn năm 1960 là 69%. Vì Đệ nhị thế chiến (1939-1945) tiếp theo chiến tranh với Pháp (1945-1954) kinh tế Việt Nam kiệt quệ, suy giảm nặng nề, mải tới năm 1956 kinh tế mới bắt đầu tăng trưởng trở lại ở Miền Nam, và năm 1960 Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới phục hồi được 60% của GDP đầu người của năm 1938 (4).

Như vậy, ở cuối thập niên 1930s, Việt Nam có một nền kinh tế hùng mạnh có hạng của Á Châu, chỉ đứng sau Nhật Bản, có lẻ ngang ngửa với Malaysia (lúc này Singapore còn là lãnh thổ của Malaysia), Philippines, và hơn hẳn các quốc gia khác như Thái Lan, Trung quốc, Triều Tiên, Ấn Độ và Indonesia.

GDP đầu người của Việt Nam và vài nước Á Châu từ 1980 đến 2011

Việt nam thống nhất lãnh thổ từ sau biến cố 30/4/1975. WB không có công bố số liệu GDP của Việt Nam trong 4 năm từ 1976 đến 1979. Vì vậy, ở đây chỉ trình bày từ năm 1980 cho tới nay (2011).

Biểu đồ 1 trình bày GDP đầu người của 7 quốc gia Á Châu  trong thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Trong thời gian 1980 – 2011, có 3 thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới gồm 1984-1986, 1997-2003 và 2008. Mỗi kỳ khủng hoảng phải mất vài ba năm mới phục hồi lại. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng 1997, phải mất 6 -7 năm Singapore mới phục hồi, nhưng chỉ 1 năm với khủng hoảng 2008, trong lúc Nam Hàn với khủng hoảng năm 2008 tới nay mới phục hồi. Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng gì (biểu đồ 1).

Theo biểu đồ 1, mọi quốc gia đều có tăng trưởng, nhưng với vận tốc tăng trưởng khác nhau. Nếu tính theo vận tốc tăng trưởng thì Singapore và Nam Hàn mạnh nhất, kế là Malaysia. Mặc dầu Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng cao hơn chút ít, nhưng mức khởi đầu quá thấp, nên Nam Hàn vẫn chưa thể nào bắt kịp vàSingapore vẫn còn tiếp tục dẫn đầu. Còn Việt Nam phát triển chậm nhất, vẫn ở vị trí chót trong số 7 quốc gia Á Châu nói trên (biểu đồ 1).

image

Biểu đồ 2. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Thay đổi vị thứ. Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống  3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6  trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.

Cách biệt GDP của vài quốc gia lân cận với Việt Nam.

Bảng 1. Số lần cách biệt GDP đầu người giữa một quốc gia đối chiếu với ViệtNam (tỉ số của GDP quốc gia đối chiếu/GDP của Việt Nam) ở hai thời điểm 1980 và 2011. Cột 4 là số lần gia tăng GDP của năm 2011/GDP của năm 1980 của một quốc gia. Cột 5 là số năm cần thiết để GDP tăng lên gấp đôi…

image

Theo Bảng 1, GDP đầu người  của Singapore nhiều 9,25 lần GDP của Việt Nam vào năm 1980, và chênh lệch tới 35,86 lần vào năm 2011. Thái Lan và Indonesiachỉ hơn Việt Nam chút ít vào năm 1980 (1,35 và 1,14 lần), nhưng nay Indonesiagấp 2,5 lần và Thái Lan gấp gần 4 lần Việt Nam.

Trong vòng 31 năm qua, GDP của Nam Hàn gia tăng 13 lần, tức chỉ cần 4,7 năm GDP tăng gấp đôi, Singapore 10 lần tức mỗi 6 năm GDP gấp đôi, Thái Lan 7,8 lần trong khi Việt Nam chỉ 2,7 lần, tức Việt Nam phải mất hơn 23 năm GDP mới tăng gấp đôi (Bảng 1). Như vậy, càng về sau Việt Nam càng tụt hậu.

Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan không?

Nhìn biểu đồ 2, chúng ta thấy là Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippines, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Malaysia, Nam Hàn hay Singapore.

Để có thể tiên đoán chính xác, tác giả dựa vào số liệu do IMF cung cấp trong 10 năm qua (2002-2011) để vẻ lại mức tăng trưởng GDP đầu người cho mỗi quốc gia. Sau đó, dùng máy vi tính thử nghiệm các mô hình toán học để vẻ nhiều đường biểu diễn, rồi chọn một đường biểu diễn nào phù hợp có độ chính xác cao nhất. Kết quả cho thấy là các đường biểu diễn cho các quốc gia trình bày trong biểu đồ 3 có độ chính xác cao nhất (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho ViệtNam). Ở mỗi đường biểu diễn, chương trình toán học thống kê cũng cho một phương trình. Giải đáp bài tính lần lượt giữa hai phương trình của hai quốc gia để tìm ẩn số thời gian nơi hai đường biểu diễn gặp nhau, tức là thời kỳ GDP của quốc gia này bắt kịp một quốc gia khác.

image

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).

Kết quả phân tích toán học bằng máy vi tính cho thấy đường biểu diễn tăng trưởng GDP đầu người của mỗi quốc gia không phải là một đường thẳng (linear) như mắt ta thấy, mà là một đường cong theo hình dạng của một cánh parabole (parabolic curve). Càng xa trục tâm 0, đường biểu diễn càng cong lên hơn, tức vận tốc tăng trưởng theo phương trình lũy tiến.

image

Biểu đồ 4. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 3.

Cần nhớ rằng ở thời điểm 0 (tức năm 2013), các quốc gia không khởi hành cùng ở mức 0, mà ở những vị trí khác nhau trên trục tung (Y). Chẳng hạn Việt Nam có tọa độ 1.660 US trong lúc Singapore ở tọa độ 50.899 US$, tức GDP hiện có của các nước này ở thời điểm 2013. Ngoài ra, vận tốc lũy tiến (độ cong) của mỗi quốc gia cũng đều khác nhau.

Theo tiên đoán của biểu đồ 4, Indonesia sẽ bắt kịp Thái Lan trong 23 năm tới (tức 2036) và kịp Malaysia vào 2095. Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng lũy tiến chỉ hơn Singapore chút đỉnh nên Nam Hàn vẫn chưa bắt kịp trong thế kỷ 21.

Riêng phần Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn mọi quốc gia, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không bắt kịp được nước nào mà càng ngày càng tụt hậu, càng nghèo nếu so với các nước trên.

Biểu đồ 5 trình bày dữ kiện cung cấp bởi IMF tiên đoán tăng trưởng GDP từ 2011 đến 2017, cũng xác định rằng Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại (vận tốc ban đầu = (1374 – 440)/10 = tức tăng thêm 93.4 US/năm).

image

Biểu đồ 5. Tiên đoán GDP đầu người do IMF  thực hiện cho thời kỳ 2011 – 2017 cho Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Vẽ từ tài liệu của IMF (1).

Vì vậy, muốn bắt kịp các nước nói trên, Việt Nam phải có vận tốc tăng trưởng ban đầu tăng cao hơn nữa, trước nhất để bắt kịp Philippines, sau mới tới Thái Lan.

Sau đây là các bài tính với giả sử rằng Việt Nam từ năm 2013 lần lượt đạt được vận tốc tăng trưởng GDP từ thấp lên cao, trước nhất bằng Philippines, rồi Thái Lan, rồi tới Indonesia, Malaysia, Singapore và Nam Hàn.


Nếu Việt Nam tăng vận tốc tăng trưởng GDP ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93,4 lên 133 US$/năm), Việt Nam vẫn tiếp tục tụt hậu, vì vậy muốn bắt kịp Philippines phải có vận tốc tăng trưởng cao hơn, càng cao hơn thì bắt kịp sớm hơn.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu và vận tốc lũy tiến (độ cong) bằng Indonesia hiện nay (ban đầu tăng thêm 259 US, tuy thấp nhưng lũy tiến tăng nhanh, xem đường cong ở biểu đồ 5), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2023, bắt kịp Thái Lan vào năm 2040, và bắt kịp Malaysia vào 2093.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Thái Lan (tăng thêm 337,5 US$/năm, cao 3,6 lần hơn VN), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines trong 4,5 tới, tức giữa năm 2017, nhưng không bao giờ bắt kịp Thái Lan.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Malaysia hiện nay (tăng thêm 600 US/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2015, Indonesia vào 2019, Thái Lan năm 2028, nhưng không bắt kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng của Nam Hàn hiện nay (tăng thêm 1583 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines và Indonesia vào năm 2014, Thái Lan năm 2017, Malaysia vào 2022, Singapore vào 2117 (104 năm nữa).


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Singapore hiện nay (tăng thêm 2724 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào giữa năm 2014, Indonesia vào cuối 2014, Thái Lan năm 2018, Malaysia vào 2020, nhưng không bắt kịp Nam Hàn và Singapore.


Trên đây chỉ là giả thuyết, bởi vì muốn đạt được vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93 lên 133 US$/năm) cũng vất vả lắm rồi.

image

Ông Lý Quang Diệu và sách mới xuất bản đầu năm 2013 “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

image

10 quốc gia có GDP đầu người dẫn đầu thế giới năm 2030 và 2040

Sau đây là danh sách của Citygroup công bố vào tháng 2/2011 tiên đoán về 10 quốc gia và lãnh thổ (như Hồng Kông) có GDP đầu người dẫn đầu thế giới vào năm 2030 và 2040 (1).

Theo bảng xếp hạng tiên đoán này, Singapore dẫn đầu thế giới, tiếp theo làNorway, Switzerland và Canada trong năm 2030 và 2040. Nam Hàn từ vị trí 9 năm 2030 sẽ lên vị trí 6 năm 2040, Hoa Kỳ tụt từ thứ 7 xuống thứ 9, trong lúc Hồng Kông không còn nằm trong danh sách “Top Ten” của năm 2040, mà thay thế bằng Anh quốc.

image

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capitahttp://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

2.Economy of the Republic of Vietnam

http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_the_Republic_of_Vietnam

3. Timothy Hallinan (1969). Economic prospects of the Republic of Vietnam.www.rand.org/pubs/papers/2008/P4225.pdf

4. Tran Van Tho (2003). Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind. In: The Vietnamese Economy: Awakening the dorming dragon, ed. by Binh Tran Nam and Chi Do Pham, Routled Curzon, 2003, Chapter 2.

5. Anne  Booth (2003). The Burma Development Disaster in Comparative

Historical Perspective. SOAS Bulletin of Burma Research, Vol. 1, No., 1, Spring 2003, ISSN 1479-8484

Trần-Đăng Hồng, PhD

Cám ơn Anh Lê Khôi gởi

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

Phan Sinh Trần. 09/2013.

1.Ca Ngợi Chúa có tác dụng chữa lành, bạn biết rồi nhưng mà Ca ngợi Chúa cũng có tác dụng chữa cho liệu pháp chữa lành nữa. Có bao giờ Bạn cầu nguyện cho ai đó theo yêu cầu của họ mà bị bế tắc không kết quả, chắc là cảm giác của Bạn khi đó rất là ngỡ ngàng và hoang mang nữa phải không? Chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm này.

Vào năm 2009, Chị Maria M, một người rất nhân hậu và nhiệt thành trong Giáo xứ Lord Incarnation, Houston, Texas. Chị thường đi viếng kẻ liệt và khi bệnh nhân hấp hối.Chị sẽ ở với người sắp ra đi cho đến khi họ về với Chúa, cho dù thời gian là 2 ngày, 3 ngày hay 1 tuần, dù lâu bao nhiêu đi nữa, chị túc trực đọc Kinh Thánh cho bệnh nhân. Ngồi bên cạnh giường bệnh, Chị an ủi bệnh nhân rồi thầm thỉ lần hạt và cầu nguyện cho họ. Có khi Chị phải nghỉ làm để có giờ gần gũi kẻ hấp hối. Chị M đã nói, đó là giờ phút quyết định của đời người khi mà Quỉ sẽ dồn hết sức để cám dỗ, làm nản lòng, gieo nghi ngờ tình thương của Chúa nơi bệnh nhân, nó mong lôi kéo cho bằng được linh hồn này về hỏa ngục với nó, cho nên đây là lúc mà người sắp ra đi cần đến sự hỗ trợ của Thiên Thần bản mệnh, cần lời cầu bầu của Đức Mẹ của Các Thánh và của mình nhiều nhất.

Rồi một ngày nọ, điều không may đã xảy ra , Chị bị suy nhược thần kinh nặng vì đã bị chồng bỏ rơi và đi lấy vợ khác, chị bị mất ngủ, các bắp thịt và tay chân đều đau, bệnh tình càng ngày càng nặng đến độ chị không nhắc nổi tay, chân để đi làm. Chị sống rất cô đơn ở nhà có một mình thôi. Điều đáng lo là nếu Chị không đi làm được thì có thể Chị sẽ bị mất nhà vì không có tiền đóng Mortgage cho nhà băng, đó là chưa kể đến tình trạng một thân một mình không có ai săn sóc và giúp đỡ Chị !

Dĩ nhiên là Chị đã đến Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và các Hội Đoàn quen biết để nhờ chúng tôi cùng cầu nguyện xin Chúa Giê Su chữa lành cho, chúng tôi cầu nguyện cho Chị đã mấy lần, tình trạng bệnh vẫn kéo dài theo thời gian, đã 8-9 tháng trôi qua. Cuối cùng thì Chị mất ngủ hoàn toàn, không ăn được gần như không đi lại được. Chúng tôi càng cầu nguyện thì bịnh tình của Chị càng nặng, đến độ tôi mắc cỡ mỗi khi nhìn thấy Chị từ xa, lòng tôi vừa thẹn thùng vừa cảm thấy mình vô duyên! Thật là bế tắc !

Rồi hôm đó, là buổi tĩnh tâm Thánh Linh trong Giáo Xứ, chúng tôi ca ngợi Chúa rất hứng khởi với nhứng bài hát ý nghĩa này:

…Lời ca vang cánh đồng bên muôn hoa tươi hồng, tôi vui mừng luôn trong Đức Chúa.

In moment like this, I lift up my hand, I lift up my soul to the Lord.

Shine Jesus shine, Lạy Chúa, Ánh Sáng của Tình Yêu Chúa đang chiếu tỏa trong bóng tối …

Trong buổi ca ngợi này, ai cũng cảm thấy tình thương và sự hiện diện của Chúa, chúng tôi được mạnh mẽ trong đức tin. Thật là đúng lúc, Chị Maria đã đến, xin chúng tôi đặt tay cầu nguyện để có đủ sức đi đến Bác Sĩ và gặp được “thầy hay, thuốc đúng”. Chúng tôi họp lại thành một vòng tròn nhỏ, lòng tin tưởng dứt khoát và mạnh mẽ, chúng tôi cùng đặt tay cầu nguyện, xin Chúa cất đi bệnh tật cho Chị trong danh yêu kính đầy quyền năng của Chúa Giê Su, chúng tôi cầu nguyện tha thiết trong lòng cảm phục sự đẹp đẽ, nhân từ và thương xót của Chúa kính yêu. Ngay khi đó Chúa đã cho Chị hết đau nhức toàn thân, và lúc sau, khi Chị đi đến phòng mạch, Bác Sĩ khám và khuyên Chị ngưng dùng thuốc vì không thấy cần thiết nữa. Cảm tạ Chúa, năm ngoái, tôi đã trông thấy Chị, vẫn tiếp tục giúp hội chợ Giáo Xứ, Chị tươi vui, nhẩy múa và đùa giỡn như một cô gái 18 và làm việc nhiều như một cô gái đôi mươi mà không biết mệt dù tuổi chị đã lớn hơn gấp đôi con số đó.

Ca ngợi Chúa đã đem lại cho chúng tôi sức mạnh và có thể chữa cho sự cầu nguyện yếu và lu mờ trước đó của Nhóm Tôi. Cũng có thể lý do khác nữa là Chúa dành đến ngày Ca Ngợi để ban quà cho con cái người và dậy dỗ chúng tôi về lòng kiên nhẫn, cậy trông . Ca Ngợi Chúa có thể gia tăng mạnh mẽ lòng Tin, Yêu Chúa vốn là Sức mạnh cho lời cầu nguyện được có kết quả. Ca ngợi Chúa làm cho chúng tôi nên mạnh mẽ trong cầu nguyện và được Chúa nhận lời.

2. Sự Ca Ngợi Chúa một cách hết lòng của mình có thể biến đổi tâm hồn của người khác cách lạ lùng. Điều này thì có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm, nhất là nơi các Bà Mẹ khi họ ca ngợi Chúa và dâng trình con cái mình cho Chúa.

Cuối năm 2010, Nhóm chúng tôi có kỳ tĩnh tâm 3 ngày cuối tuần tại trung tâm tĩnh tâm Renewal Centre, Dickinson, Texas do Cha Giu Se Nguyễn Thiện Lãm hướng dẫn. Bước vào Thánh lễ, chúng tôi hân hoan ca ngợi Chúa với tất cả sự hưng phấn của tâm hồn, với tất cả sự tin tưởng và phó thác . Chúng tôi cảm thấy Chúa thật là gần mình, lòng thanh lắng một cách nhẹ nhàng và rất an vui, sôt sắng, chúng tôi biết Chúa đang hiện diện trong Thánh Lễ này và như đã có lần xảy ra, Chúa sẽ có quà cho chúng ta.

Đúng là như vậy! Đến phần truyền phép Mình Máu thánh Chúa, chúng tôi thấy Chúa đang làm việc với một Anh Thanh Niên khoảng 25, 27 tuổi, to cao , vạm vỡ, anh đang quì và run rẩy toàn thân, Anh rên rỉ và nhăn nhó… Khi Cha dâng lễ xong và chuẩn bị đặt tay cầu nguyện thì Anh đã ngã ra và được bình an trở lại, anh nghỉ ngơi trong Chúa và thầm thì với Chúa .

Sau đó một vài tuần , anh có đến Nhóm tôi trong tình trạng rất an vui và làm chứng cho Chúa. Anh H cho biết mình là một người trong một băng đảng qui tụ khoảng trên một tá thanh niên trong khu vực, băng này thành lập đã mấy năm, bắt đầu khi Anh còn đang đến trường ở bậc Trung Học, thấy có những thanh niên Mỹ đen ăn hiếp người khác, anh tụ họp bạn bè lại để đánh trả, rồi từ từ đã đi đến chỗ phạm vào các hành vi đánh lộn và thao túng khác. Anh bỏ nhà ra đi, sống với băng nhóm của mình, Anh cho biết đã trải qua đủ mọi tội và từng sử dụng mọi thủ đoạn, rành rẽ từng loại vũ khí, dao, súng, … Rồi đến hôm đó, nể Mẹ năn nỉ và liên lỉ cầu nguyện ngày đêm cho Anh với Chúa và Đức Mẹ nên Anh H đã đến buổi tĩnh tâm, anh tham dự cho có, nhưng mà dần dần thì thấy quan tâm hơn, trong lúc Mình Thánh Chúa hiện diện, Chúa bắt đầu chiếu lại cuốn phim “lich sử đời Tôi” của chính Anh cho Anh xem, trong đầu Anh H diễn lại theo tuần tự thời gian các diến tiến manh động, bạo lực, với cảnh nạn nhân của anh thiệt thòi ra sao, đau khổ đến mức nào, cảnh mất mát của gia đình, … tất cả đã làm cho Anh thật là hối hận và đau đớn đến nhỏ nước mắt. Anh xin lỗi Chúa và quyết tâm không lầm lỗi nữa. Chúa đã nghe, đã tha thứ và ban cho Anh ơn đổi mới trong Chúa Thánh Linh. Anh cho biết, từ ngày đó, anh xa lánh băng nhóm, dù bạn bè có năn nỉ và rủ rê Anh, lòng anh luôn vui và bằng an. Chúa còn làm cho anh say mê đọc Kinh Thánh ngày đêm, có khi thức đọc Kinh Thánh đến quá khuya mà không hay! Thật là ngộ nghĩnh vì trước đó hầu như không bao giờ Anh muốn đụng tới sách vở, dù chỉ một vài dòng cũng không. Trong đời Anh cả khi người thân ra đi anh cũng không thể khóc mà nay anh lại có lúc mủi lòng. Ca ngợi Chúa làm biến đổi lòng Người, Chúa đã ra tay ban ơn khi ta đang ca ngợi Chúa và hiệp nhất với Ngài, trước khi chúng ta kịp xin ơn thì Ngài đã ban ơn hoán cải và đổi mới cho đối tượng rồi. Từ hung dữ thành hiền lành, từ thờ ơ thành sốt sắng, từ tham lam thành thật thà , chân thành… Ca Ngợi Chúa Thật là tuyệt vời phải không thưa Bạn ?

Thực ra Ca ngợi còn có nhiều kết quả cho cả nhà Anh H. Trước hết là Mẹ của Anh, bà N cũng được ơn yêu mến, đổi mới nhờ bền tâm trong 2 năm trời, tiếp tục ca ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh của Giáo xứ. Rồi ơn đổi mới lan sang Mẹ Chồng khi bà tham dự các buổi Ca Ngợi Chúa cùng với con dâu, hai mẹ con trở nên yêu nhau thắm thiết như mẹ con ruột, đi đâu cũng có nhau như cặp uyên ương thật tâm đắc, sau đó, ơn đổi mới lan sang cho cả 3 người con trong nhà. Hiện nay, ơn đổi mới đang từ từ lan sang cho Chồng chị N . Tất cả bắt đầu từ sự Ca Ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh và Cầu nguyện liên lỉ ở nhà.

Chúa cũng muốn ban ơn đổi mới cho gia đình Bạn nếu ta để hết lòng Ca Ngợi và Cầu Nguyện.

Tôi cho rằng Bạn biết bí quyết của sự Ca Ngợi là mặc lấy tinh thần đơn sơ, bé nhỏ của mình với Chúa và với Anh Em. Sự ca ngợi càng đơn sơ thì càng được Chúa yêu thích. Phần tôi cũng vậy, nửa đêm chợt thức giấc, nhớ đến Chúa Giê Su tôi thường hay thầm thì: “ Giê Su, thánh khiết của con, đầy lòng thương xót của con, gia tài của con. Con tôn thờ và cảm tạ Ngài”. Trong giờ phút kết hiệp với Chúa qua bí tích Thánh Thể, có lúc ta thảng thốt với Chúa: “Giê Su, (Chúa) là tất cả của con !”

Còn khi nào yêu Chúa quá thì sao ? Khi đó tôi và có khi một số trong các Bạn nữa phải không? Chúng ta sẽ nói đùa với Chúa, lời thì thầm, chỉ đủ cho một mình Chúa nghe mà thôi : “Cục vàng của con !!!”

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Trung tuần tháng 12 năm 1989, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã gửi cho các Giám Mục Công Giáo trên toàn thế giới một bức thư, lưu ý về việc suy niệm trong Kitô Giáo. Hiện nay có nhiều tín hữu Kitô dùng những phương pháp như nhập thiền, Yoga của các trường phái Ấn Giáo và Phật Giáo để giúp cầm trí cầu nguyện. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra: khi thực hành phương pháp chiêm niệm của các tôn giáo Đông phương, các tín hữu Công Giáo đi tìm bầu khí thinh lặng, hay họ cũng tìm đến sự trống rỗng tuyệt đối, hoặc là tìm về cái ngã, cái tôi của mình?? Bởi vì bản chất của sự cầu nguyện hệ tại cuộc đối thoại với Chúa. Con người giữ im lặng ngõ hầu có thể lắng nghe và đáp lại Tiếng Chúa. Trong khi đó, một số phương pháp suy niệm theo các tôn giáo Đông phương chỉ nhằm tạo ra sự trống rỗng tuyệt đối, chứ không đả động gì đến việc gặp gỡ đối thoại với Thiên Chúa. Và đó chính là điều mà văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn lưu ý. Sau đây là chứng từ của ông Christian Marie, tín hữu Công Giáo Pháp, về cái nguy hại của phương pháp Yoga. Ông viết:
Đọc xong văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo, tôi muốn bày tỏ vài thiển ý của riêng tôi. Yoga là một trong những phương pháp đông phương của thần bí triết học đang rất thịnh hành. Nhưng bên trong phương pháp này lại ẩn chứa một hiểm nguy mà ít người ngờ tới, nên tự để mình bị lôi cuốn vào vòng lừa đảo của nó.
Yoga là phương pháp khổ chế nhằm dẫn đưa tâm trí con người đến trạng thái của lương tâm tinh tuyền, của sự hiện hữu tinh tuyền. Đó là trạng thái mà con người ý thức về cái tôi của mình, nghĩa là về điều siêu việt hóa sự hiện hữu, trừu tượng hóa sự hiện hữu. Yoga khiến con người ý thức về cái ngã, cái vô thể, cái hòa lẫn trong khoảng không, bởi vì, nó không có chất thể, nghĩa là không có bản thể, không có một hiện hữu nào hết từ chính nó. Nói tắt một lời, Yoga trước tiên là một học thuyết của trạng thái trống không, một học thuyết của trống rỗng tuyệt đối. Mục đích tối hậu của Yoga là dẫn đưa linh hồn con người đến chỗ hòa lẫn, hiệp nhất với cái vô thể. Thế nhưng điều này không thể nào xảy ra được, do đó có thể kết luận rằng: Yoga là một phương pháp chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của các quyền lực quỷ dữ. Cái hiểm nguy là ở chỗ trạng thái tinh tuyền mà Yoga muốn đạt tới trở thành đối thủ của Thần Linh và nhường chỗ cho tên quỷ ngày xưa trong vườn địa đàng đã quyến rũ bà Evà rằng: “Các người sẽ trở thành những thần linh!”
Nói theo triết học thì Yoga được trình bày như một chối bỏ tất cả mọi hình thức của hữu thể. Và chính khi chối bỏ hữu thể cùng sự hiện hữu mà đồ đệ của trường phái Yoga phải đạt đến cái gọi là lương tâm tinh tuyền. Như thế Yoga là một loại triết học của vô thể. Để làm nổi bật ý tưởng này, xin trích dẫn vài tư tưởng của các triết gia đề cao chủ thuyết vô thể. Đó là ba nhà triết học hiện sinh vô thần nổi danh: Friedrich Nietzsche (1844-1900), người Đức; Jean Paul Sartre (1905-1980), người Pháp và Adolf Hitler (1889-1945), người Đức. Hitler còn là một tên độc tài khát máu. Nietzsche viết: “Tôi tuyên bố chỉ hư vô là vua có giá trị”. Còn Sartre thì nói: “Bởi vì tự chọn vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình, nên tôi không đi về đâu hết”. Trong khi Hitler trơ trẽn tuyên bố: “Tại sao chúng ta lại ưu tư lo lắng về đạo lý tình yêu và về trách nhiệm luân lý? Tôi chống lại điều này và thay vào đó bằng học thuyết tối cao của hư không, và cái vô nghĩa hoàn toàn của cá thể, của thằng tôi”. Những câu tuyên bố như thế, phải chăng chỉ có thể xuất phát từ các đồ đệ của Satan?
Con rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa đã dựng nên. Nó hỏi người đàn bà: “Có phải thật Thiên Chúa đã dạy: các ngươi không được ăn quả cây nào trong vườn không?” Người đàn bà trả lời con rắn: “Chúng tôi được ăn các quả trong vườn, nhưng còn quả cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã phán: “Các con không được ăn, không được chạm tới, để khỏi phải chết”. Con rắn nói: “Không, ông bà sẽ không chết đâu, nhưng Thiên Chúa biết rằng, ngày nào ông bà ăn quả cây ấy, ông bà sẽ mở mắt ra, sẽ được nên như những vị thần, biết điều lành, điều dữ” (Sách Sáng Thế 3,1-5).
(“LE CHRIST AU MONDE”, 2/1992, trang 176-177).


(Sylvie là thanh nữ Pháp, 22 tuổi. Sau những tháng ngày mò mẫm tìm kiếm hạnh phúc trong hư vô lầm lạc, Sylvie đã hồng phúc gặp được Chúa GIÊSU, Đấng hiện hữu thực sự và Mẹ MARIA, Người Mẹ dấu ái của loài người). Sylvie kể lại cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa như sau. Cách đây 4 năm, Mẹ MARIA đã tìm đến gặp con trong chính cảnh khốn cùng cuộc đời con. Ngay từ tuổi thơ và suốt trong thời gian của tuổi dậy thì, tận sâu thẳm nội tâm, con luôn luôn khát vọng Thiên Chúa và mong mỏi gặp được Ngài.. Nhưng đáng buồn thay, con đã dại dột dùng những phương thế lầm lạc, đi theo những con đường giả dối. Thật ra con cũng bị bạn bè lôi cuốn một phần. Như bao người trẻ cùng lứa tuổi, con thích ca-vũ-nhạc-kịch và chạy theo bóng hình của một chàng trai!
Một buổi tối, người bạn gái hỏi con có muốn dự buổi thực tập ngồi thiền không. Cô bạn giải thích: “Đây là lối suy niệm siêu hình, hay đúng hơn, là kiểu ngồi thiền tìm kiếm hư vô”. Con tự nhủ: “Mình cứ thử xem sao. Biết đâu sẽ gặp được Thiên Chúa, thay vì đi đến nhà thờ!” Nghĩ thế nên con theo bạn dự buổi ngồi thiền. Người hướng dẫn buổi ngồi thiền là một phụ nữ. Bà nói với chúng con: “Suy niệm kiểu này sẽ mang đến cho con người sự điềm-tĩnh, sự tự-chủ, niềm bình-an, trở về với nguồn cội của tư tưởng và đạt được những sức mạnh phi thường, kể cả các bí thuật thần thiêng!” Lời giải thích nghe thật êm tai, đưa hồn giới trẻ chúng con vào cõi mộng .. Nếu chỉ ngồi thiền trong một thời gian không lâu mà đạt được những điều vừa nói, thì quả thật là quá hay và quá dễ! Chúng con phải ngồi thiền mỗi ngày hai lần và mỗi lần 20 phút. Trong vòng 20 phút đồng hồ, con phải ngồi yên và chỉ lập đi lập lại hai tiếng duy nhất là “hư-vô”. Ban đầu, con cảm thấy mình hạnh phúc và hớn hở với ý nghĩ: “Chắc hẳn rồi đây mình sẽ khám phá nhiều điều lạ lùng. Và biết đâu, mình chẳng khám phá được Thiên Chúa?” Nhưng rồi, thời gian qua đi cùng với việc thực hiện phương pháp ngồi thiền, con không hề khám phá ra ánh sáng. Trái lại, con cứ càng ngày càng chìm sâu trong bóng tối đen dày đặc! Thật là hãi hùng kinh khiếp. Cứ mỗi lần con ngồi yên nhắm mắt là đầu óc con quay cuồng giữa hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng! Sau 20 phút ngồi thiền, thể xác con có phần nghỉ ngơi chút ít, nhưng linh hồn con lại rơi vào lo âu sầu khổ và tràn đầy tuyệt vọng. Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi hai tiếng hư-vô .. hư-vô .. hư-vô! Và vì chỉ lập lại hai tiếng hư-vô nên con không còn cầu nguyện cùng Chúa GIÊSU và Đức Mẹ MARIA nữa. Trong khi đó hai tiếng hư-vô làm con khiếp sợ và chỉ muốn tìm cách trốn thoát.
Trong cơn khốn cùng, Mẹ MARIA đã giơ tay cứu vớt con. Trong phòng con có Bức Tượng Đức Mẹ nhỏ. Con thưa với Đức Mẹ: “Xin Mẹ đến giúp con!” Con chỉ nói với Đức Mẹ có thế thôi.. Cho đến một ngày, con gặp nhóm tín hữu Công Giáo đi hành hương. Họ cùng nhau lần hạt Mân Côi. Rồi họ nói về nhân đức khiêm-nhường, sự nghèo-khó và lòng trong-sạch. Đối với con, đây là điều hoàn toàn mới lạ, vì con nghĩ rằng, chả còn ai thực hành ba cái thứ nhân đức lỗi thời ấy nữa! Từ đó niềm hy vọng nhen nhúm trong lòng con. Con bắt đầu cầu nguyện với Đức Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Con dần dần lấy lại niềm an bình. Sau cùng con khóc vì cảm động, vì đã tìm thấy niềm vui, lòng trong trắng và tình yêu thương. Vâng, chính Đức Mẹ đã giúp con không còn sợ hãi Thiên Chúa nữa. Ngài không phải là Thiên Chúa hư-vô, nhưng là Thiên Chúa Hằng Hữu và đầy tràn tình thương..
Rồi con gặp một vị Linh Mục. Ngài giúp con lãnh nhận bí tích Hòa Giải và trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con. Thật là cuộc giải phóng tuyệt diệu! Con được tái sinh trong ơn thánh và tìm được hai vị Chủ Chăn dấu ái của cuộc đời con. Đó là Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA. Con thay thế hai tiếng hư-vô bằng lời Kinh dấu ái: Kính Mừng MARIA Đầy Ơn Phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
(Marie-Michel et Daniel-Ange, “Ce Jésus que tu cherches”, Le Sarment FAYARD, 1988, trang 118-120).

Chị Nguyễn Kim Bẳng gởi

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ Nhị xưng tội với một kẻ ăn xin

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ Nhị xưng tội với một kẻ ăn xin

Hầu hết quý vị chắc biết đến cái tên Scott Hahn. Ông ta là một học giả vỉ đại về Kinh Thánh và là một mục sư Tin Lành dã cải đạo theo Công Giáo. Scott Hahn có một người bạn là linh mục và vị linh mục này đã đi viếng thành Rome. Ngoài những công việc khác thì linh mục này còn có cuộc hẹn để trò chuyện riêng tư với Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị. Vào ngày hẹn đó, vị linh mục này còn nhiều giờ rảnh cho nên, như một du khách ngài quyết định ghé vào một vương cung thánh đường để chiêm ngắm và đọc kinh. Ở các bực thềm vào thánh đường hiện diện nhiều kẻ ăn xin, một hình ảnh thường thấy ở Rome. Trên các bực thềm đó, ngài mường tượng rằng mình nhận ra một người trong số ăn xin đó. Sau khi vào cung thánh và quỳ gối để cầu nguyện thì hình ảnh đó đã đập vào trí nhớ của ngài. Ngài nhớ ra rằng ngài đã quen biết người ăn xin đó ở hoàn cảnh nào. Ngài liền vội chạy ra và đến gần người ăn xin đó và nói:

– “Tôi biết ông mà. Có phải chúng ta cùng vào chủng viện với nhau không ?”

Người đàn ông gật đầu.
– “Vậy thì ông là linh mục phải không ?” ngài nới với người ăn xin. Người này trả lời:
– “Không còn nữa, tôi đã rớt ở tận cuối đường. Xin để cho tôi yên một mình”

Vị linh mục vì đang lo cho cuộc hẹn sắp tới của mình với Đức Thánh Cha nên nói:
– “Tôi phải đi. Tôi sẽ cầu nguyện cho bạn”

Người ăn xin với khuôn mặt quen thuộc đó trả lời:
– “Việc đó sẽ mang lại nhiều điều tốt lành.”


Với lời hứa trên, vị linh mục bỏ lại kẻ ăn xin ở các tầng cấp của thánh đường và khởi sự đi đến nơi hẹn.

Những cuộc hẹn riêng từ này với Đức Giáo Hoàng bao giờ cũng rất khuôn phép. Có một số người cũng được chấp thuận cho hội kiến riêng tư cùng một lúc, và khi Đức Thánh Cha tiến về phía quý vị thì linh mục bí thư của Ngài trao cho Ngài một tràng chuổi Mân Côi đã được làm phép rồi Ngài sẽ trao nó lại cho quý vị. Ở giai đoạn này thì người ta sẽ hôn nhẫn của Đức Giáo Hoàng và nói một lời tự cỏi lòng, chẳng hạn như xin Ngài cầu nguyện cho quý vị, hoặc cám ơn Ngài đã phục vụ cho Giáo Hội. Tuy nhiên khi Đức Giáo Hoàng tiến đến thì vị linh mục này đã không cưởng được mình nên nói lên câu : “Xin Cha cầu nguyện cho người bạn của con.” Và không những thế, ông còn kể hết cả câu chuyện. Đức Thánh Cha xem ra quan tâm và cam đoan với vị linh mục rằng Ngài sẽ cầu nguyện cho người bạn của ông. Khi Ngài tiếp tục đi thì Ngài nói nhỏ điều gì đó cho vị phụ tá của Ngài.

Cuối ngày hôm đó, vị linh mục được nhân viên của Tòa Thánh liên lạc bằng điện thoại di động. Họ nói với ngài rằng ngài và người bạn ăn xin, người trước đây là linh mục, cả hai sẽ được gặp Đức Giáo Hoàng để ăn cơm tối.

Kích động và hiếu kỳ, ngài chạy ngay về thánh đường nơi trước đó ngài đã gặp được người bạn cùng học ở chủng viện. Chỉ còn rải rác vài người ăn xin, và may mắn thay (hay là ơn Chúa) người bạn cũ vẫn còn trong đám này.

Ngài tiến đến người đàn ông và nói:
– “Tôi đã được gặp Đức Giáo Hoàng, và Ngài nói sẽ cầu nguyện cho bạn. Và còn hơn thế, Ngài mời chúng ta đến tư dinh để ăn tối.”
– “Không thể nào !” người đàn ông nói “Hãy nhìn tôi nè. Tôi là đống dơ dáy. Từ lâu tôi không tắm gội … và áo quần nữa …” Thấy hoàn cảnh có vẻ trầm trọng (và hiểu rõ rằng người bạn ăn xin này chính là vé vào cửa của mình để được ăn tối với Đức Giáo Hoàng) vị linh mục nói:
– “Tôi có phòng ở khách sạn, bạn có thể đến đó để tắm và cạo râu, và tôi có y phục vừa cở của bạn”.

Và lại nữa, nhờ vào ơn Chúa, người linh mục ăn xin này đã bằng lòng. Và sau đó, họ ra đi để ăn tối với Đức Giáo Hoàng.

Sự tiếp đãi thật là kỳ diệu. Khi gần hết bữa ăn, trước khi dùng đồ tráng miệng, Đức Thánh Cha ra dấu cho vị linh mục nhưng vị này không hiểu Ngài muốn nói gì thì vị bí thư của Ngài nói nhỏ vào tai ông rằng : “Đức Giáo Hoàng muốn chúng ta ra ngoài” và ngay lúc đó vị linh mục và bí thư đã để Giáo Hoàng lại một mình với người ăn mày.

Sau một thời gian, người ăn mày bước ra khỏi phòng nước mắt ràn rụa.
– “Chuyện gì đã xảy ra trong đó ?” vị linh mục hỏi.

Một câu trả lời không ngờ và đáng chú ý là:
– “Đức Giáo Hoàng muốn tôi hãy cho Ngài xưng tội” người ăn mày nghẹn ngào.

Sau khi chấn chỉnh lại tư thế, người đàn ông nói tiếp:
– “Tôi nói với Ngài : ‘Lạy Dức Thánh Cha, hãy nhìn con đây. Con chỉ là tên ăn mày. Con không phải là linh mục’ .” Đức Giáo Hoàng nhìn tôi và nói: Con ơi, một khi đã là linh mục thì luôn là linh mục, và có ai trong chúng ta lại không phải là ăn mày ? Cha cũng đến trước mặt Thiên Chúa như một tên ăn mày xin Ngài tha thứ cho những tội lỗi của Cha’. Tôi kể cho Ngài rằng tôi không còn đủ điều kiện để đứng chung trong Hội Thánh nữa, và Ngài đã cam đoan với tôi rằng với quyền hạn là Giám Mục thành Rôma, Ngài có thể tái kết nạp tôi ngay lúc đó và tại đó.”

Người đàn ông cho biết là đã từ lâu ông không làm phép xưng tội cho nên Đức Giáo Hoàng phải giúp ông đọc lại lời phép giải tội. Vị linh mục bạn hỏi :
– “Nhưng mà ông ở với Ngài thời gian lâu. Chắc hẳn là Ngài xưng tôi không lâu đến thế.”
– “Không”, ông bạn trả lời, “Nhưng sau khi tôi nghe Ngài xưng tội, thì tôi xin Ngài hãy nghe tôi xưng tội của tôi.”

Những lời cuối cùng mà Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ Nhị nói với đứa con hoang đàng đã được thốt ra theo cung cách của một sự ủy nhiệm. Đức Thánh Cha đã trao cho vị linh mục vừa mới được hòa giải một nhiệm vụ đầu tiên: Hãy đi và rao giảng cho những kẻ vô gia cư và hành khất trên các bực thềm của ngay cái nhà thờ mà ông ta vừa từ đó đến.

Ông gật đầu chấp nhận.

 

 

 

Tuổi Già Tân Thời

Tuổi Già Tân Thời

Tác Giả: Bút Xuân Trần Đình Ngọc


Tuổi càng già, ta càng nên giản dị
Không cao lương, mỹ vị lắm mỡ, bơ
Không đòi này, đòi khác, gọi rồi chờ
Một chén cơm, đĩa muối vừng cũng đủ!

Đêm bảy tiếng, phải trọng tôn giấc ngủ
Ngày ba lần chén bát đụng trên mâm
Nước bốn ly ta uống rất ân cần
Không bia rượu nhưng cần nhiều hoa quả!

Nếu nợ nần thì ta lo mà trả
Không buồn phiền, không quấy nhiễu một ai
Sức khoẻ ta nhờ luyện tập dẻo dai
Bỏ hút thuốc để phổi tim thật tốt!

Chớ ngồi nhà như người đang bị nhốt…
Rủ vợ, chồng đi bộ ở ven đường
Ngày nửa giờ, đi hơi lẹ, bớt vương
chứng tiểu đường, máu cao, xương rỗng sốp…

Mặc giản dị, vệ sinh và chỉ cốt
Đủ ấm thân khi gió lạnh Đông về
Nhiều bạn hiền là hạnh phúc tràn trề
Truyện với bạn cũng làm tăng tuổi thọ!

Tuổi cao rồi không cần chơi bát họ
Nhưng rộng tay làm bác ái, giúp người…
Đồng tiền ta, ta biết giúp cho đời
Là bó hoa muôn mầu khi tạ thế!

Bỏ tính xấu ghét ghen vì nó tệ
Người hơn ta, ta ưu ái mừng cho
Đố kỵ, ghen tài chẳng có hay ho
Không chứng tỏ một tấm lòng quảng đại!

Mắt, tai yếu và khí lực giảm mãi…
Đừng buồn chi vì Tạo hóa sinh ra
Hễ hữu hình là hữu hoại, gần… xa
Ta biết thế không bao giờ buồn tủi!

Nếu con cái chăm lo, hằng lầm lũi
học ra nghề để kiếm sống, mưu sinh
Ấy là ta yên chí mọi sự tình
Có nhắm mắt vẫn an lòng, sung sướng!

Tác Giả: Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Nghệ thuật làm giàu

Nghệ thuật làm giàu

Thiên Phúc
Nhïng béc £nh Ùng ¹p nh¥t cça cÙng Óng m¡ng (Ph§n 3)

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu.” Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.”

Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử, nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thản, thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là nhục?”

***


Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giàu trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 12,21). Đó chính là “nghệ thuật làm giàu” đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giàu có trước mặt Thiên chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của chi mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá.” (Lc 12,33).

Quả thật, một kho lẫm dù có được khoá chặt đến đâu cũng không ngăn cản được kẻ trộm, nhưng chỉ có những tài sản đích thực mà không ai có thể đánh cắp, chính là những tài sản thiêng liêng.

Thật ra, khi người giàu chia sẻ của cải cho kẻ nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augier đã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo.” Vì thế, những ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa.”

Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta ăn chơi, mua sắm như ném tiền qua cửa sổ.

Thánh Basilio không một chút ngần ngại nói với chúng ta: “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi.”

***


Lạy Chúa, Chúa để 80% của cải trên thế gian này vào tay 20% những người giàu có là để họ biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, là để họ “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, chứ không phải để biến họ thành những kẻ đánh cắp.

Xin dạy chúng con chỉ nên giữ lại những gì cần thiết, và biết san sẻ hồng ân của Chúa cho mọi người, để thế giới này không còn cảnh bất công, nghèo đói, nhưng sẽ là một thế giới công bằng và yêu thương. Amen.

Thiên Phúc

From: ngocnga_12

Anh chị Thụ Mai gởi

GM. Nguyễn Thái Hợp lên tiếng vụ Mỹ Yên

GM. Nguyễn Thái Hợp lên tiếng vụ Mỹ Yên

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-09-05

RFA

thanhnienconggiao-305.jpg

Lực lượng công an, côn đồ đang chấn giữ tất cả các ngã đường khu giáo xứ Mỹ Khê

Photo courtesy of thanhnienconggiao

Công an bao vây, dùng côn đồ tấn công giáo dân thuộc xứ Mỹ Yên, Huyện Nghi Lộc, Nghệ An đã bước sang ngày thứ ba. Hàng chục giáo dân bị thương nặng và ít nhất 4 người có thương tích trầm trọng đã được cấp cứu tại Phòng khám Đa khoa Tòa Giám Mục Vinh. Mặc Lâm phỏng vấn Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa Bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng là Giám mục chính tòa của Địa phận Vinh nơi đang xảy ra những vụ đàn áp thô bạo này.

Mặc Lâm: Xin Đức cha cho biết hiện tình của các giáo dân đang đựơc chữa trị tại Phòng khám của Giáo phận cũng như giải pháp nào mà Giáo phận Vinh sẽ đưa ra về việc công an tiếp tục đàn áp giáo dân một cách thô bạo trong những ngày vừa qua?

GM. Nguyễn Thái Hợp: Chúng tôi sẽ có những phản đối và cũng có những lá thư cho giáo dân để phản đối quyết liệt hành động bạo lực đó. Gíao hội chúng tôi chủ trương đối thoại, không chủ trương dùng bạo lực. Tuy nhiên chúng tôi vẫn can đảm để bênh vực cho những nạn nhân, những người bị đàn áp; Những nạn nhân của bạo quyền cũng như là của thế lực mà dùng quyền lực của mình để đàn áp dân đen.

Mặc Lâm: Thưa Đức cha, cho tới giờ phút này, dĩ nhiên là giáo phận đã có những lên tiếng cụ thể rồi nhưng về phía chính quyền thì họ có phản hồi nào hay nói chuyện với giáo phận chưa, thưa Đức cha?


“Chúng tôi sẽ có những phản đối và cũng có những lá thư cho giáo dân để phản đối quyết liệt hành động bạo lực đó. Giáo hội chúng tôi chủ trương đối thoại, không chủ trương dùng bạo lực.
– GM. Nguyễn Thái Hợp”

GM. Nguyễn Thái Hợp: Hành động của họ như là tạm cắt đứt đối thoại, đó là hành động mà chúng tôi không thể chấp nhận. Như vậy có lẽ trong vụ kiện vừa rồi, nhiều giáo dân bị tổn thương về thể lý. Có 3 người bị nặng nhất: một em 18 tuổi, học sinh bị tụ máu não, có thể phải đi mổ một thời gian. Gia đình họ đang muốn đưa đi Sài Gòn hay ra Hà Nội. Hai người nữa cũng bị não, sọ não. Những vết tích chứng tỏ là công an đã dùng bạo lực một cách thô bạo để đánh phá những người dân thường đến vì tin vào lời của nhà cầm quyền sẽ có giải pháp. Trước 4 giờ họ đến có sự ngụy tạo, dàn cảnh để dẫn người dân vào. Một số người đã lấy đá và ném công an. Những người đó, theo giáo dân cho biết thì không phải là người công giáo. Họ nhìn ra thì không phải mà hình như là có một nhóm nào đó được gài vào để ném, để tạo cơ hội cho công an trấn áp giáo dân. Đó là điều mà chúng tôi thấy.

Mặc Lâm: Thưa Đức cha, như Đức cha vừa nói là chính quyền đã cắt đứt đối thoại với giáo phận Vinh, vậy Đức cha có được thông tin gì về Hội đồng Gíam mục Việt Nam trước sự việc xảy ra cho giáo phận Vinh hay không, thưa cha?

GM. Nguyễn Thái Hợp: Các giám mục vẫn hợp thông và rất hiểu hoàn cảnh này nhưng đây là những chuyện nhỏ thì mỗi giám mục cũng có thể giải quyết được, không cần đến Hội đồng Giám mục. Hôm qua  các Đức cha đến thì rất băn khoăn và cảm thông về những gì mà giáo phận Vinh đang phải trải qua.

Mặc Lâm: Vâng con xin được hỏi Đức cha một câu cuối là trước hiện tình như vậy thì Đức cha có thấy một hướng nào đó để giải quyết một cách ổn thỏa: vừa giữ an toàn cho giáo dân và chính quyền bớt đi những chuyện đàn áp. Có một giải pháp nào hiện nay mà Đức cha cho rằng có thể giải quyết được tình trạng này hay không ạ?

GM. Nguyễn Thái Hợp: Chúng tôi tin là một xã hội càng ngày càng văn minh hơn; Một xã hội càng ngày càng tôn trọng quyền con người hơn; Một xã hội mang tính cách pháp trị hơn; Một xã hội dùng đối thoại chứ không dùng đối thủ hay dùng dùi cui để đàn áp và để đánh đập những con người bị thương tích như vậy. Bài học rút ra trong vụ việc này thì tất cả những người bị thương là giáo dân của công giáo, bị thương nặng. Bây giờ có 4 người bị thương nặng và có 15-16 người bị thương vẫn còn đang nằm điều trị. Gíáo dân bị nỗi đau thể lý, nỗi thất vọng đối với nhà cầm quyền hôm nay.

Không hiểu câu nói “Công an là bạn dân” trong hoàn cảnh này thì công an có là bạn dân không. Trong thời gian ít lâu nay chúng ta thấy hành động của công an là quá bạo tàn đối với người dân không chỉ ở đây mà nhiều chuyện đã xảy ra. Con đường mà mọi người mong đợi là đi đến một nhà nước pháp trị, một nhà nước dân chủ, một nhà nước đối thoại, một nhà nước văn minh nhân ái, có lẽ đang bị giật lùi chăng. Tôi thấy hình ảnh của nhà nước bị mất, bị thiệt hại chứ không phải nỗi đau về thể xác của một số nạn nhân đó.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn Đức cha.

Bà Diana Nyad thực hiện thành công giấc mơ bơi từ Cuba sang Mỹ

Bà Diana Nyad thực hiện thành công giấc mơ bơi từ Cuba sang Mỹ

VOA

Bà Nyad về đến Key West, mỏm cực nam của tiểu bang Florida vào 2 giờ chiều thứ Hai, hoàn tất đoạn đường dài 177 km sau 53 tiếng đồng hồ.

Bà Nyad về đến Key West, mỏm cực nam của tiểu bang Florida vào 2 giờ chiều thứ Hai, hoàn tất đoạn đường dài 177 km sau 53 tiếng đồng hồ.

02.09.2013

Vận động viên bơi lội đường dài người Mỹ 64 tuổi Diana Nyad đã thực hiện được giấc mơ của cuộc đời, trở thành phụ nữ đầu tiên bơi ngang vùng biển nguy hiểm từ Cuba sang Mỹ mà không có lồng bảo vệ chống cá mập.

Bà Nyad đã về đến Key West, mỏm cực nam của tiểu bang Florida vào 2 giờ chiều thứ Hai, hoàn tất đoạn đường dài 177 km sau 53 tiếng đồng hồ.

Bà có vẻ mệt mỏi và cháy nắng, hai môi sưng phồng. Ngay khi lên bờ, bà đã được đưa lên băng ca để chăm sóc và vô nước biển.

Hàng trăm người đứng trên bờ đã theo dõi và hoan hô bà.

Đây là lần thứ 5 và cũng là lần cuối cùng bà định thực hiện giấc mơ của mình, kể từ lần đầu tiên vào năm 1978, khi bà 28 tuổi.

Lần mới nhất là vào năm 2010, bà phải hủy vì kiệt sức, bị sứa cắn, và trời muốn bão.

Lần này, bà mang một mặt nạ được thiết kế đặc biệt để làm các con sứa sợ hãi, cùng với bộ trang phục đặc biệt, có bao tay và giày.

Vận động viên bơi lội Susan Maroney, người Australia, đã hoàn tất đoạn đường này vào năm 1997, lúc 22 tuổi, và có lồng bảo vệ chống cá mập.

Syria: Vatican giải thích lý do Đức Giáo hoàng từ chối can thiệp quân sự

Syria: Vatican giải thích lý do Đức Giáo hoàng từ chối can thiệp quân sự

Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi đến Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 04/09/2013.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi đến Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 04/09/2013.

Reuters

Thanh Phương

RFI

Sáng nay, 05/09/2013, Vatican đã triệu tập các đại sứ toàn thế giới tại Tòa Thánh để giải thích với họ lý do vì sao Đức Giáo hoàng Phanxicô chống mọi can thiệp quân sự vào Syria.

Cuộc họp hôm nay được triệu tập sau khi Đức Giáo hoàng mở cuộc vận động ngoại giao nhằm ngăn chận một cuộc can thiệp quân sự vào Syria, 10 năm sau khi cố Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị vận động chống cuộc chiến tranh Irak do Hoa Kỳ phát động.

Vatican và Đức Giáo hoàng đã quyết định dùng mọi phương tiện, kể cả các trang mạng xã hội, để huy động người Công giáo, cũng như tín đồ các tôn giáo khác và những người không tín ngưỡng, tham gia một ngày nhịn ăn và cầu nguyện vào thứ bảy tới ở khắp nơi trên thế giới nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh ở Syria. Đích thân Giáo hoàng sẽ chủ trì một buổi cầu nguyện tối thứ bảy trên quảng trường thánh Phêrô.

Chủ nhật vừa qua, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã dùng những lời lẽ rất cứng rắn để lên án việc sử dụng vũ khí hóa học ở Syria và đã thẳng thừng bác bỏ mọi can thiệp quân sự của nước ngoài. Ngài tuyên bố: “Việc sử dụng bạo lực không bao giờ dẫn đến hòa bình. Chiến tranh sẽ kéo theo chiến tranh”. Lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng đã nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo các tôn giáo khác.

Cafe Cộng & Nghị định 72

Cafe Cộng & Nghị định 72

Huy Đức

Bauxite vietnam

Quyết định cho an ninh điều tra quán cafe Cộng và việc áp dụng Nghị định 72 cho thấy, cho dù có ăn bò Kobe và xài I-phone, tư duy của những người cầm quyền vẫn không thoát ra khỏi vỏ bobo của thời bao cấp.

Không phải tự nhiên mà Cafe Cộng có thể trở thành chuỗi. Chủ nhân của nó đã thành công khi nhìn thấy tính hữu dụng của những món đồ vứt đi. Nếu chính quyền tự tin thì phải biết ơn óc hài hước của các nhà kinh doanh. Làm gì có bộ máy tuyên truyền nào có thể đưa những người mà ý tưởng của họ trở thành cơ sở lý luận cho những kẻ độc tài đày đọa loài người vô được quán ngồi cùng với những người tử tế.

Cafe Cộng là một ý tưởng kinh doanh chứ không có khả năng “âm mưu”. Quy kết vội vàng của Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội Tô Văn Động thể hiện não trạng của hệ thống, não trạng chỉ nhận biết khía cạnh “an ninh chính trị” trong sự muôn mặt của cuộc sống bình thường. Não trạng ấy còn chi phối tiến trình lập pháp của Nhà nước hiện nay, Nghị định 72 về internet bắt đầu có hiệu lực trong tuần này là một trong rất nhiều ví dụ.

Internet không chỉ là một phương tiện truyền thông mà còn là một không gian sống, một không gian kinh doanh. Việc xâm phạm bản quyền đã có Công ước Berne và Luật Sở hữu Trí tuệ lo. Tác giả nào thấy website khác lấy bài của mình thì kiện ra tòa. Hà cớ gì chính phủ phải dùng quyền hành chính để điều chỉnh những hành vi dân sự.

Bắc loa ra giữa làng hay viết bài trên Facebook vu khống, xúc phạm danh dự, quyền lợi của tổ chức, nhân phẩm của cá nhân đều đã được quy tội và định danh trong Bộ Luật hình sự Việt Nam kể cả những tội danh phi pháp và vi hiến như Điều 88 và Điều 258…

Làm báo, báo giấy hay báo online, phải được coi như những hành vi kinh doanh. Ở các quốc gia mà người dân có quyền tự do, từ những cậu học sinh trong trường phổ thông cho đến các doanh nhân, ai muốn ra báo thì cứ ra, chỉ khi họ sử dụng những tờ báo đó để bán, để đăng quảng cáo lấy tiền thì mới phải đăng ký kinh doanh và nộp thuế.

Tại sao Nghị định 72 lại phải quy định “các loại hình thông tin trên mạng như trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội”; tại sao lại chỉ có “5 loại trang tin tổng hợp”; tại sao Nhà nước lại phải can thiệp vào “năng lực tài chính, nhân lực, kỹ thuật” của những người làm “trang tin”; tại sao “trang tin điện tử tổng hợp phải do tổ chức…”?

Tổng thống Mỹ không phải là tác giả nhãn hiệu Starbucks Coffee. Độc tài như Hitler cũng không thể đẻ ra chiếc xe Wolkswagen. Làm sao Nhà nước lại đóng khung khả năng sáng tạo của doanh nhân Việt Nam trong khuôn khổ được lập ra bởi những cái đầu hành chính, quan liêu.

Mãi tới năm 2006, Tuổi Trẻ mới được ra nhật báo cho dù một thập niên trước đó tờ báo này đã có đủ bạn đọc và tiền bạc để tăng kỳ. Và, chỉ vì sự thiếu hiểu biết của Bộ Thông tin, thương hiệu Tuổi Trẻ Chủ Nhật (tờ tuần báo rất có uy tín) đã phải đổi thành Tuổi Trẻ Cuối Tuần với lý do Tuổi Trẻ đã có một số báo ra ngày chủ nhật.

Cũng trong hơn hai thập niên qua, khi thị trường báo chí bắt đầu hình thành, những người làm báo tử tế hết sức khổ sở, muốn tăng trang quảng cáo cũng phải chạy ra Thủ đô, muốn tăng kỳ cũng phải ban, sở, bộ, ngành lạy lục. Từ manchette cho đến khổ báo, số trang… đếu phải xin phép thay vì tùy thuộc vào thị trường bạn đọc mà các chủ nhân kinh doanh tự chọn.

Làm sao Larry Page và Sergey Brin có thể kiến tạo nên Google; làm sao Mark Zuckerberg có thể nghĩ ra Facebook nếu như họ chỉ có thể “vùng vẫy” trong “5 loại trang tin tổng hợp”.

Năm 2005, 4 người Mỹ tự lập ra một dạng website – blog có tên là Huffington Post để đưa tin, bình luận… Website của họ có lúc thu hút lượng truy cập cao hơn cả New York Time. Năm 2011 Huffington Post được AOL mua lại với giá lên đến 315 triệu dollars. Cho dù không thể so sánh với Huffington Post về quy mô nhưng nếu không bị “tường lửa” và liên tục tấn công, cho dù không phải vì mục tiêu kiếm tiền, các chủ nhân của các trang Bauxite, Ba Sàm và Quê Choa… hoàn toàn có khả năng thu hút hàng chục triệu người đọc và trở nên giàu có.

Chỉ vì bị chính trị hóa, báo chí và internet không còn là một ngành kinh tế, một lĩnh vực kinh doanh tiềm năng. Đành rằng, nếu để tự do báo chí và internet thì chế độ không còn một mình một chợ sử dụng truyền thông nhà nước để tự tụng ca và huyễn hoặc mình. Nhưng, không lẽ chỉ vì lợi ích của một nhóm nhỏ mà phải bóp nghẹt khả năng sáng tạo của người Việt Nam, hy sinh phương tiện khai trí cho cả quan lẫn dân, đánh mất cơ hội vươn lên của quốc gia, dân tộc.

H.Đ.

Nguồn: facebook.com

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

Đăng bởi lúc 5:00 Sáng 4/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (04.09.2013) – Úc Đại Lợi – Suy niệm Lời Ngài đọc trong tuần thứ 23 Thường niên năm C 10.9.2013

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”

(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Lc 14: 25-33

Với nhà thơ, làm sao biết được sự đời vì tuổi nhỏ. Nhỏ về tuổi, nhưng vẫn có nỗi khổ tâm riêng, rất oặn mình. Với nhà Đạo, tuổi đời của ai đó tuy có nhỏ, nhưng nếu người tuổi nhỏ biết lắng nghe và thực hiện lời Chúa, thì đời mình rồi cũng sẽ vui.

Lời Chúa hôm nay thánh Luca ghi, là Lời nhắn mọi người hãy từ bỏ giàu sang bạc tiền, của cải. Lời Chúa, vẫn là bí quyết để sống vui, sống đẹp, sống thanh thản như Ngài từng khuyên. Từ bỏ của cải/bạc tiền vẫn là chuyện dĩ nhiên. Dĩ nhiên, cho người tuổi nhỏ và dĩ nhiên cho cả người đi Đạo những biết phải bỏ rời cả mẹ cha và quá khứ, để theo Chúa.

Bỏ và rời, người nhỏ tuổi đôi lúc cũng chơi trò thương-ghét/ghét-thương cả mẹ cha đến độ khép kín cuộc đời lành, để mải miết với thú vui tạm bợ, sống lạc lõng. Lớp người tuổi nhỏ ở đâu cũng có, chẳng bao giờ mãn nguyện với hiện tại, nhưng vẫn kiếm tìm những thứ mới lạ và khác biệt, coi đó là lý tưởng cho riêng mình.

Lý tưởng mà người tuổi nhỏ hằng kiếm tìm bao giờ cũng đẹp, nhưng đôi khi vẫn là những thứ và những sự khó đối mặt để cùng sống. Những thứ và sự ấy, nhiều lúc kiếm tìm mãi vẫn không gặp, khiến người người chẳng biết đi hoặc đến nơi đâu mà tìm kiếm. Lắm lúc như có cảm giác mọi sự đã hiện diện trong con người mình mà không biết, nhưng lại cứ lùng tìm chiếm đoạt nó cho bằng được.

Người tuổi nhỏ có lý tưởng, tuy chưa đạt những thứ và những sự mình hằng ước, nên mới xác tín rằng: những thứ ấy luôn hiện hữu và nghĩ: mình được “phép” tận hưởng mọi thứ theo cách tưởng tượng. Và, vì chưa đạt được những gì mình tìm kiếm, nên người tuổi nhỏ vẫn tìm kiếm mãi. Kiếm và tìm, như thiên đường được báo trước. Cuối cùng, người người lại triển khai niềm tin riêng tư bằng quả quyết: chắc chắn có thiên đường. Đó là niềm tin. Là, xác tín của mọi người dù lớn nhỏ. Đó, là huyền-nhiệm tuy không định nghĩa được, nhưng ta vẫn muốn có, dù chưa gặp.

Trình thuật, nay đề cập chuyện “cởi bỏ” giàu sang, bạc tiền hiểu theo nghĩa rộng, tức: những thứ và những sự mà mọi người dù lớn/nhỏ vẫn cần rũ bỏ. Đó, chính là nỗi khó cho người tuổi nhỏ khi chưa đạt được những gì mình kiếm tìm. Chưa đạt, nên khó mà rũ bỏ. Tuy nhiên, Lời Chúa vẫn dạy mọi người cần rũ bỏ những gì là năng lượng chìm sâu trong quyết tâm đưa mình vào thứ gì khác lạ. Thứ gì khác, là khả năng suy nghĩ về sự sống; về cả khả năng vấn nạn mọi sự trong cuộc sống.

Đi vào cuộc sống, là kiếm tìm niềm tin. Kiếm tìm, một lý tưởng nào đó khiến người người thuộc mọi văn-hoá, lứa tuổi cũng như giai tầng xã hội đều thực thi trong xã hội. Xã hội ngoài đời gồm những vị trưởng giả cũng như giới nghèo/hèn ở cấp thấp vẫn kiếm tìm “thiên đường hạ giới” nơi cuộc đời. Kiếm tìm mãi, mới khám phá ra rằng: thiên đường mình tìm để sống không là chốn miền ao ước, mà là trạng huống sống có tình thương-yêu, giúp đỡ lẫn nhau. “Thiên đường hạ giới”, là diện mạo trần thế của niềm tin, chứ không là chốn vui chơi, sa đà.

Cuộc sống người Công giáo các thập-niên qua, nhiều người lại đã nhận ra rằng: dù vẫn tin, nhưng niềm tin của ta ra như còn mang tính chất của “người tuổi nhỏ”, dù đã lớn. “Tuổi có nhỏ”, nhưng bằng vào cách nhìn về Hội thánh như giấc mơ. Mơ, rằng: cả trong lý tưởng để sống cuộc sống “thiên đường hạ giới”, người người vẫn có nhiều hạn chế. Mơ, còn vì Hội thánh ta chẳng khi nào trưởng thành được nếu không thực hiện điều Chúa nhắc nhở.

Hội thánh ta sẽ chẳng thể nào tìm ra được “thiên-đường-cửa-hẹp” như Chúa nói, nếu không biết cởi bỏ tình huống khép kín, đóng khung, chia cách. Trái lại, nên hiệp thông, yêu thương, giùm giúp nhau. Yêu thương giùm giúp trên đường tìm kiếm cách-thế trưởng thành trong san-sẻ “thiên-đường-cửa-hẹp” có niềm tin sâu sắc. Nhiều thập-niên qua, người Công giáo vẫn cứ ngồi lì trong tình-huống rất “tuổi-nhỏ”, lại chưa đạt tình-trạng trưởng-thành của văn-hoá sự sống, rất đúng nghĩa. Sống, có tin và yêu thương lẫn nhau như người anh người chị cùng một cha, một mẹ.

Chín-chắn/trưởng thành, nằm trong hy-vọng cũng như niềm tin. Hy vọng và tin-yêu như tín-hữu cộng-đoàn tiên-khởi thời của thánh Luca từng sinh sống, dẫn dắt. Cộng-đoàn khi ấy cũng có yêu và có ghét. Yêu người cùng giòng giống, ghét đế quốc La Mã thời trước từng bách hại cộng đoàn mình. Tuy nhiên, cộng đoàn thánh Luca cũng đã kinh qua các giai đoạn khó sống, để rồi tỉnh thức trỗi dậy đi vào một thế giới khác biệt, quyết trở thành tín-hữu của Chúa, đã đổi mới. Thánh Luca tin tưởng điều ấy và tìm cách huấn-dụ dân con đồng Đạo đi vào “thiên-đường-cửa-hẹp”, Chúa muốn đi.

Cộng-đoàn Luca cũng kiếm tìm nhiều, đã nhận ra chân lý, nên thấy được rằng: muốn trở thành dân con đích thực của Chúa, ta đừng quá bận tâm vào chuyện kiếm tìm “thiên-đường-cửa-hẹp” mà làm gì. Bởi, trước khi ta tìm ra Chúa, thì Ngài đã tìm ta và thấy ta. Ngài đón nhận ta làm con của Ngài, ngay từ đầu. Đó, chính là huệ-lộc Chúa ban cho ta một cách nhưng-không. Ta chẳng cần kiếm hoặc tìm mà chỉ cần duy trì quà tặng bằng quyết tâm tin, yêu, hy vọng vào tình Chúa vẫn thương ban.

Huệ-lộc Chúa tặng ban, ta không có khả năng tự mình rút tỉa, nhưng đó là quà nhưng-không, Chúa biếu không ngay từ đầu. Huệ-lộc, biến thành thứ gì đó rất trừu-tượng trừ phi nó được Chúa tặng ban cho ta, không cần đến bàn tay ta dính vào. Điều tuyệt vời, là ở chỗ: quà ân-huệ “đã” được Chúa tặng ban cả vào lúc trước khi ta kiếm tìm nữa. Cũng như thể, ta cứ nghĩ: mình cần thứ ân-huệ-cộng-thêm cho những gì hiện giờ ta chưa có. Nếu nghĩ thế, ắt cho huệ-lộc đây chỉ là thứ quà cáp Chúa tặng ban sau khi suy đi nghĩ lại, chứ không phải từ đầu. Không. Không phải thế. Huệ-lộc Chúa ban không là quà tặng vào giai đoạn cuối đời, mà là quà tặng Chúa cưu mang, ngay từ buổi đầu.

Huệ-lộc cũng không là thứ gì đó chẳng ai trông chờ. Không là món nợ Chúa còn thiếu, nên mới trả cho ta. Quà Chúa tặng, không là phần thưởng Chúa hứa hẹn cho người sống tốt lành, hạnh đạo, chỉ một ít. Huệ-lộc, là quà có sẵn bên trong bản thể con người. Là người, ta đã được tặng ban huệ-lộc “nhưng-không” ở phần thâm-sâu của bản thể; nhờ đó, ta được thấy Chúa, ngay từ đầu. Bản thể “người”, tự thân, đã hàm-ngụ thứ khả-năng được thấy Chúa ngay từ lúc đầu. Đây không là văn/thơ, kịch bản đầy diễn-xuất, nhưng lại là cung-cách Chúa tạo-dựng nên ta. Chúa thẩm-thấu vào chính bản-thể “người” của ta, ngay từ đầu.

Nói cách khác, không phải là ta khởi đầu tìm Chúa khi tìm kiếm huệ-lộc; nhưng, Chúa đã sở đắc và tặng ban huệ-lộc cho ta trước. Chính Ngài yêu thương ta trước. Nên, đó chính là lý do khiến hữu-thể-tạo-vật-là-ta không chỉ mới vừa xuất hiện hoặc đang trên đường tìm kiếm, nhưng đã hiện hữu trong Chúa; đã được tìm thấy trong Chúa. Chúa và hữu-thể-tạo-vật-là-ta ở trong nhau, và với nhau. Ta hiện hữu ở đây là để cảm-tạ Chúa, ngay từ đầu, Ngài đã kiếm tìm ta và thấy ta, trong Ngài. Tóm lại, chính Chúa tìm ta trước vì Ngài thương ta ngay từ đầu và Ngài đã có ta trong bản-thể cao cả của Ngài. Đó chính là chân lý. Đó, mới là điểm son trong quan hệ giữa Chúa và ta.

Trong cảm nghiệm mối tương-quan mật thiết ấy, cũng nên ngâm lời thơ còn bỏ dở:

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,”

“ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”

Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

Đời buồn hiu như lá rụng, ban đêm.”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Viết đâu thì viết, đời người đâu nào đã buồn hiu vì lá rụng ban đêm. Đời người/đời ta vẫn không buồn dù ngày hay đêm, một khi đã biết và hiểu rằng Chúa đã có ta và ta đang ở trong Chúa, rất mừng vui.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá luợc dịch