Vui buồn nghề nuôi bệnh thuê ở Sài Gòn

Vui buồn nghề nuôi bệnh thuê ở Sài Gòn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2014-06-24

TTVN06242014.mp3

benh-vien-305.jpg

Một phòng bệnh ở Bệnh Viện Ung Bứu TPHCM (ảnh minh họa).

RFA

Ở các bệnh viện lớn trong thành phố, dường như bất kỳ ngày nào, bệnh nhân cũng có thể gặp những người chuyên nuôi bệnh thuê đến hỏi thăm, thậm chí gạ gẫm để được chăm sóc thuê và đưa ra mức chi phí vừa phải để người nhà bệnh nhân chấp nhận cho họ chăm sóc người thân. Nghề nuôi bệnh thuê là một nhóm nghề có thu nhập tương đối khá so với các nhóm lao động khác nhưng bù vào đó, những người chuyên nuôi bệnh thuê có cuộc sống và số phận hết sức trắc ẩn và tủi buồn.

Nghề nhiều nước mắt

Một người tên Loan, trôi dạt từ xứ Quảng vào Sài Gòn suốt mười bảy năm với nghề bán mì quảng để rồi trong một cơn bạo bệnh, bà phải bán sạch vốn liếng để điều trị, sau khi lành bệnh, không còn gì để sống, bà chuyển sang nghề nuôi bệnh thuê và sống với nó suốt tám năm nay, chia sẻ: “Mình thấy rứa mình cũng xót, vì mình thay gia đình họ chăm sóc mà, mỗi khi họ lên cơn đau mình thấy mình xót lắm, điên cái ruột ấy chứ! Mình không có tâm thì sao mình chăm họ được, mình phải thương họ như cha mẹ mình ấy chứ! Ở bệnh viện có nhiều cảnh đau thương lắm, mình đã nghèo mà họ còn nghèo hơn mình nữa, họ nằm viện mà bệnh không hết, họ không có tiền trả tiền thuốc bệnh viện nên nửa đêm họ lén họ về, cơm họ còn không có để ăn lấy gì họ trả tiền bệnh viện.”

Mình không có tâm thì sao mình chăm họ được, mình phải thương họ như cha mẹ mình ấy chứ! Ở bệnh viện có nhiều cảnh đau thương lắm, mình đã nghèo mà họ còn nghèo hơn mình nữa.
-Bà Loan

Theo Bà Loan, nghề nuôi bệnh thuê là cái nghề hết sức ngẫu nhiên và buồn nhiều hơn vui. Cũng có thể nói thêm rằng đây là cái nghề mà người ta có thể chiêm nghiệm sâu sắc về thân phận con người cũng như sự sống nhỏ nhoi, heo hút của kiếp người nơi bệnh viện. Chính vì thế, bất kỳ một người nào có đời sống nội tâm phong phú, họ sẽ làm công việc nuôi bệnh thuê với tấm lòng chan chứa yêu thương và luôn xem mình là con cháu của Hải Thượng Lãn Ông mặc dù họ không có chuyên môn về y học.

Bà Loan nói rằng sở dĩ những người nuôi bệnh thuê xem mình là con cháu của Hải Thượng Lãn Ông bởi vì đức độ của Hải Thượng Lãn Ông cao vời, Người đã cống hiến cuộc đời của mình để nghiên cứu, chữa chạy cho người bệnh. Nếu như các bác sĩ giỏi thừa kế được phần tài năng của ngài Hải Thượng để chữa bệnh, điều trị cho người bệnh thì những người nuôi bệnh thuê phải thừa kế được phần đức của ngài trong vấn đề chăm sóc, biết đau cùng cái đau của người bệnh và nâng niu, ân cần với người bệnh.

Bà Loan nói thêm rằng đương nhiên, trong xã hội hiện tại, không thiếu những kẻ tuy làm nghề nuôi bệnh thuê nhưng tâm ý chỉ nghĩ đến đồng tiền và không cần biết người bệnh đau đớn, cô đơn đến mức độ nào. Chuyện đau đớn đối với người bệnh thì dễ hiểu, nhưng chuyện một người bệnh thiếu vắng người thân chăm sóc, phải nhờ đến người nuôi bệnh thuê, đó là nỗi đau ẩn khuất mà nếu người nuôi thuê không khéo léo sẽ khiến cho người bệnh thêm nặng và nguy cơ tử vong là trong tầm tay.

benh-vien-250.jpg

Khu khám bệnh ở Bệnh Viện Ung Bứu TPHCM (ảnh minh họa). RFA PHOTO.

Vốn là người trôi dạt, không còn đồng xu dính túi và sống dựa vào những bữa cơm tình thương ở bệnh viện để lây lất qua ngày, tồn tại cho đến lúc khỏe mạnh và ra trước tượng Hải Thượng Lãn Ông, vái lạy xin ngài ban cho sức mạnh để làm một người nuôi bệnh thuê, nghề nuôi bệnh thuê của bà Loan bắt đầu từ đó. Có nhiều trường hợp, bà nuôi với mức phí từ 200 ngàn đồng đến 250 ngàn đồng cho 24 giờ, cũng có trường hợp bà chỉ nhận 100 ngàn đồng mỗi 24 giờ, và cũng không thiếu những trường hợp bà chỉ nuôi miễn phí bởi cuộc đời và số phận của họ làm bà rơi nước mắt, cám cảnh đến những ngày lây lất nơi bệnh viện của mình.

Trong quãng đời nuôi bệnh thuê gần mười năm của bà Loan, có hai lần bà rơi nước mắt và không thể nén tiếng khóc, đó là lần một bệnh nhân nghèo vốn là gái đứng đường lúc mạt vận, không xu dính túi, không người thân đã liều lĩnh nhờ bà chăm sóc vì không còn lựa chọn nào khác khi mổ ruột thừa. Đến ngày chị này tỉnh dậy, bệnh viện đòi viện phí, chị này đã quì lạy và tình nguyện ở đợ cho bà hai tháng để trừ tiền công. Nghe cảnh ngộ của chị ta, bà không thể kiềm nén xúc động, tuyên bố miễn phí và tặng thêm một ít tiền để chị ra về. Và một lần người mẹ đã nhờ bà chăm sóc đứa con để ra đứng đường kiếm tiền chạy chữa cho con. Lần đó bà cũng chăm sóc miễn phí và cũng là lần mà bà cảm nhận ra cái nghèo và sự sống nó thổn thức, đau thương đến mức độ nào.

Tràn lan dịch vụ nuôi bệnh thuê

Trường hợp của bà Loan là một trong những trường hợp hiếm hoi, có lương tâm và có tôn chỉ, mục đích trong công việc nuôi bệnh thuê. Cũng không thiếu những trường hợp bịp bợm và xã hội luôn tràn lan những kẻ vô cảm làm nghề này. Một bệnh nhân tên Trung, ở Gò Vấp, Sài Gòn, chia sẻ: “Nuôi bệnh thuê mỗi ngày đôi khi một trăm có, hai trăm có, ba trăm có, tùy theo mỗi dịch vụ, thí dụ như họ lo đầy đủ, chăm sóc, giặt đồ… thì ba trăm, chỉ tới chăm sóc mà không giặt giũ thì hai trăm, đôi khi một trăm họ cũng tới, ngồi đó, chỉ gì làm đó thì một trăm. Cái giá tiền khác nhau, như chuyển người qua giường thì họ cũng rành lắm, làm như y tá. Nhưng cái nghề này cũng như osin thôi chứ có gì đâu, cũng vì tiền đi giúp việc.”

Nuôi bệnh thuê mỗi ngày đôi khi một trăm có, hai trăm có, ba trăm có, tùy theo mỗi dịch vụ, thí dụ như họ lo đầy đủ, chăm sóc, giặt đồ… thì ba trăm, chỉ tới chăm sóc mà không giặt giũ thì hai trăm.
-AnhTrung

Theo ông Trung, chuyện nuôi bệnh thuê và nghề nuôi bệnh thuê hiện nay đã tràn lan khắp các bệnh viện thành phố. Người nuôi bệnh có đạo đức thì hiếm hoi nhưng kẻ lợi dụng thì nhiều vô kể. Sở dĩ có chuyện như thế bởi vì ngành y tế Việt Nam đang ở giai đoạn khủng hoảng đạo đức trầm trọng, ngay cả các bác sĩ, y tá được đào tạo bài bản, có tri thức mà vẫn còn mè nheo, vòi vĩnh tiền của bệnh nhân thì huống gì những người nuôi bệnh thuê được chăng hay chớ.

Như trường hợp ông gặp là một ví dụ đau lòng, ông bị viêm túi mật, phải đi phẫu thuật ở bệnh viện nhân dân Gia Định, trong lúc các con và vợ ông đang đi du lịch ở Mỹ. Không có người nhà, ông phải thuê một cô nuôi thuê. Cô này lúc đầu thì hiền hòa, dễ mến. Nhưng khi chính thức bắt tay vào công việc, cô đòi hỏi đủ thứ, ngoài khoản tiền 300 ngàn đồng mỗi ngày, cô yêu cầu ông đóng thuế cho các hộ lý thông qua cô và chính cô cũng là người gợi ý ông bỏ phong bì cho các bác sĩ, y tá có liên quan đến ca mổ của ông.

Vì không có người thân, tâm trạng lại buồn bã sau khi mất đi một phần trong cơ thể, sức lực yếu hẳn ra, cộng thêm sự vô cảm của người chăm sóc khiến ông nhiều lần chẳng còn tha thiết sống. Nhưng nghĩ đến vợ và các con ở xa, ông quyết cắn răng chịu đựng để sống cho đến ngày ra viện.

Ông Trung nói rằng người nuôi bệnh thuê rất đông nhưng ông chấp nhận cắn răng chịu đựng bởi vì nếu ngưng hợp đồng với cô này để thuê một cô khác, sẽ rất khó khăn cho ông bởi họ cùng hội cùng thuyền với nhau cả, có thể người nuôi sau sẽ gây khó khăn cho ông nhiều hơn cả người nuôi trước để bỏ ghét. Như vậy chẳng khác nào tiền mất mà tật mang. Cuối cùng, ông quyết định cắn răng chịu đựng.

Xã hội đang ngày càng đông đúc, mọi thứ trở nên phì đại và con người trở nên lẻ loi, cô đơn trước thế giới mình hiện hữu, nhất là khi đối diện vợi bệnh tật, đối diện với các thiết bị y tế cùng với âm thanh của nó cũng như đối diện với bức tường trắng và khoản sân côi cút của bệnh viện… Hơn bao giờ hết, con người cảm nhận ra mình nhỏ nhoi và bất an, và cũng hơn bao giờ hết, người bệnh cần sự chia sẻ, chăm sóc tận tình, ân cần của đồng loại. Thế nhưng, câu chuyện của người nuôi bệnh thuê luôn là một đề tài trắc ẩn!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

 

Tại sao cần phải xóa cơ chế Đảng cử dân bầu?

Tại sao cần phải xóa cơ chế Đảng cử dân bầu?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2014-06-24

06242014-party-nomi-peop-vote.mp3

Các lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam từ phải sang: Chủ tịch Trương tấn Sang, TBT Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Các lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam từ phải sang: Chủ tịch Trương tấn Sang, TBT Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

AFP

Cần xóa cơ chế “Đảng cử dân bầu” đó là kiến nghị của trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng Huỳnh Nghĩa tại phiên thảo luận Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi) ngày 16.6.2014. Vậy trên thực tế cơ chế này là gì và tại sao cần phải xóa bỏ?

Điều 69 Hiến pháp Sửa đổi năm 2013 quy định rõ: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Quốc hội của đảng hay của dân?

Theo quy định thì các đại biểu quốc hội Việt Nam, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Thông qua các đại biểu và thông qua Quốc hội, nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước

Song trên thực tế từ nhiều chục năm qua Quốc hội Việt nam được dư luận đánh giá là một bức bình phong trang trí, nhằm hợp thức hóa các nghị quyết của Đảng CSVN. Có tới trên 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên đảng CS.

Giải thích nội dung của cơ chế “Đảng cử, dân bầu”, Nhà báo Mai Dũng từ Hà nội cho rằng: đó là thứ cơ chế để hợp thức hóa quyền lãnh đạo của Đảng CSVN, mà trong đó tất cả những chức vụ quan trọng của nhà nước đã được Đảng xắp xếp trước. Quốc hội chỉ làm một công việc là hợp thức hóa những gì Đảng đã sắp đặt, ngay bản thân Quốc hội cũng do Đảng sắp xếp trước, rồi để người dân bầu lên theo lối “Đảng cử, dân bầu”, cho nên Quốc hội này cũng là Quốc hội của Đảng.

Hiện nay việc đi bầu cử là như thế, dân thì đi bầu theo danh sách Đảng cử ra, như thế người ta gọi là cơ chế Đảng cử, dân bầu. Cái này toàn dân thấy rõ là cái việc hết sức kỳ cục, thế nhưng cũng chả biết làm sao? Đến nỗi mấy cái ông được Đảng cử ra cũng tự thấy quá áy náy, nên các ông ấy phải đưa vấn đề này ra trước Quốc hội

Nhà báo Mai Dũng

Theo ông chính vì lý do Đảng CSVN thao túng toàn bộ nên người dân không có một tác động gì vào bộ máy nhà nước.

Nhà báo Mai Dũng nói với chúng tôi:

“Hiện nay việc đi bầu cử là như thế, dân thì đi bầu theo danh sách Đảng cử ra, như thế người ta gọi là cơ chế Đảng cử, dân bầu. Cái này toàn dân thấy rõ là cái việc hết sức kỳ cục, thế nhưng cũng chả biết làm sao? Đến nỗi mấy cái ông được Đảng cử ra cũng tự thấy quá áy náy, nên các ông ấy phải đưa vấn đề này ra trước Quốc hội”.

Các đại biểu quốc hội đều đồng ý, nhất trí...(minh họa)

Các đại biểu quốc hội đều giơ thẻ đảng đồng ý, nhất trí…(minh họa)

Nói về vai trò của Quốc Hội có là cơ quan quyền lực cao nhất và đại diện cho nguyện vọng của người dân hay không? Bà Dương Thu Hương, nguyên Phó Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước VN cho rằng: trên thực tế các đại biểu Quốc hội VN đã không làm đúng và đủ trách nhiệm của mình đối với cử tri. Theo bà đây là hậu quả của cơ chế “Đảng cử, dân bầu.

Bà Dương Thu Hương nói:

“Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất. Thế rồi Đại biểu Quốc hội là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cho nên nếu là một Đại biểu quốc hội, vừa là đảng viên vừa là Đại biểu quốc hội thì trong con người đó hoàn toàn mâu thuẫn, tức là không đảm bảo được quyền lợi của cử tri mà phải thực hiện vai trò đảng viên của mình. Và có thể lúc ấy là phải hy sinh cái quyền lợi của cử tri.”

Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất. Thế rồi Đại biểu Quốc hội là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước

Bà Dương Thu Hương

Cơ chế “Đảng cử, dân bầu”: vừa đá bóng anh vừa thổi còi

Khi được hỏi  tại sao cần phải xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, dân bầu”?  Nhà báo Nguyễn Vũ Bình thấy rằng người dân bây giờ, ai cũng biết rằng các kỳ bầu đại biểu Quốc hội là trò hề bầu cử do Đảng bày ra, không có tí gì gọi là dân chủ cả. Thực chất đây là những cuộc bầu cử áp đặt. Nhưng họ vẫn buộc phải đi bầu để khỏi bị công an quấy rầy, chứ thực ra đây đâu phải là thực hiện quyền công dân một cách đúng nghĩa.

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình nói với chúng tôi:

“Cơ chế này chủ yếu để nhằm hợp thức hóa quyền lãnh đạo của Đảng CS, do vậy nó có rất nhiều chi tiết, tình tiết đã áp đặt và đã làm tới mức mà nó đi vượt quá. Đã không để lại chút gì cho quyền lực của người dân cả”

Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng Huỳnh Nghĩa phát biểu tại một kỳ họp Quốc hội

Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng Huỳnh Nghĩa phát biểu tại một kỳ họp Quốc hội

Nhà báo Mai Dũng thấy rằng việc bầu cử ở VN hiện nay chỉ là một màn kịch do Đảng đạo diễn, hoàn toàn không minh bạch, thiếu dân chủ và công bằng. Những ứng cử viên hầu hết do Đảng nắm và chỉ đạo, kể cả việc để cho ai trúng cử cũng do Đảng quyết định từ trước. Không những thế, việc đưa các ứng cử viên ở khu vực khác về những nơi mà cử tri không hề biết về họ, đó là việc làm có chủ đích nhằm làm rắc rối vấn đề. Theo ông việc chấp nhận cho các ứng cử viên tự do với tỷ lệ rất thấp cũng chỉ là hình thức, vì thực chất các ứng cử viên phải thông qua sự xét duyệt của Mặt trận Tổ quốc – một cánh tay đắc lực của Đảng thì việc đó hoàn toàn vô nghĩa.

Cơ chế này chủ yếu để nhằm hợp thức hóa quyền lãnh đạo của Đảng CS, do vậy nó có rất nhiều chi tiết, tình tiết đã áp đặt và đã làm tới mức mà nó đi vượt quá. Đã không để lại chút gì cho quyền lực của người dân cả

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình

Nhà báo Mai Dũng nói:

“Trong chuyện minh bạch thì hoàn tòan không khả thi, bởi vì các cơ quan bầu cử hoàn toàn do các cơ quan Đảng điều hành kiểm soát. Cho nên là liệu điều đó có minh bạch được không? Tôi nghĩ rằng đấy là việc hoàn toàn không có minh bạch. Anh vừa đá bóng anh vừa thổi còi thì sao có minh bạch được?”

Nói về các giải pháp để tiến tới xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, dân bầu” ở VN hiện nay, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình thấy rằng trước hết phải để người dân được quyền tự do ứng cử. Đồng thời các tiêu chuẩn và các thủ tục không được tạo ra bất kể sự phân biệt nào giữa các đối tượng ứng cử, như: không được đưa ra vấn đề lý lịch, tôn giáo; không có chuyện xét duyệt của Mặt trận Tổ quốc hay tổ dân phố và những hành động khác có thể tạo ra sự phân biệt.

Theo ông, ngoài tự do ứng cử còn phải có các hội đồng bầu cử độc lập, trung thực và hoạt động của chúng phải được giám sát một cách chặt chẽ.

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình nói:

“Tất nhiên là Đảng người ta phải cử, nhưng họ phải để dân cũng được cử và dân tụ ứng cử nữa. Quan trọng là người dân phải bỏ phiếu trung thực và có một Hội đồng bầu cử phải là của người dân. Đơn giản vậy thôi”

Nhà báo Mai Dũng nhận xét rằng cơ chế “Đảng cử, dân bầu” là hệ quả của thể chế chính trị độc đảng, độc tôn chính trị của Đảng CSVN, họ không muốn phân chia quyền lực với bất kỳ ai. Do vậy muốn xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, dân bầu” ở VN thì nhất thiết phải để người dân có quyền thực sự để lựa chọn các đại biểu của mình vào Quốc hội.

Nhà báo Mai Dũng nói:

“Để xóa bỏ cái cơ chế bầu cử này đi thì chắc chắn một điều là sẽ phải thay đổi cơ chế thôi. Cần thay đổi một thể chế chính trị cho dân chủ như các nước dân chủ khác trên thế giới”

Dân chủ là chế độ chính trị thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân. Người dân thực hiện các quyền của mình bằng cách trực tiếp hoặc bằng cách chọn ra các đại biểu để đảm nhiệm các công việc trong bộ máy nhà nước. Và chỉ có như thế mới tạo ra một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

 

Căng thẳng ở Biển Đông thể hiện sự mong manh của chế độ Trung Quốc

Căng thẳng ở Biển Đông thể hiện sự mong manh của chế độ Trung Quốc

Tàu tuần dương Trung Quốc (màu trắng) cản mũi tàu cảnh sát biển Việt Nam trong vùng biển của Việt Nam (ảnh chụp ngày 14/05/2014)

Tàu tuần dương Trung Quốc (màu trắng) cản mũi tàu cảnh sát biển Việt Nam trong vùng biển của Việt Nam (ảnh chụp ngày 14/05/2014)

REUTERS

Trọng Nghĩa

Trung Quốc trong thời gian gần đây đã gây căng thẳng với hầu hết các láng giềng, từ Nhật Bản cho đến Việt Nam, Philippines. Trả lời nhật báo Công giáo La Croix ngày 16/06/2014, chuyên gia Pháp Valérie Niquet, đứng đầu bộ phận châu Á của Hiệp hội Nghiên cứu Chiến lược FRS (Fondation pour la Recherche stratégique) nhận định : Chế độ Bắc Kinh – bị suy yếu từ bên trong – đã sử dụng chủ nghĩa dân tộc và tham vọng bá quyền trên biển để lấy lại tính chính đáng. Chiến lược này, theo bà, không phải là không có rủi ro.

Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn :

La Croix : Yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông có chính đáng hay không ?

Valérie Niquet : Vấn đề chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc tại Biển Đông hay biển Hoa Đông đã được không chỉ các nước láng giềng của Bắc Kinh (Việt Nam, Philippines,Nhật Bản) mà cả cộng đồng quốc tế nêu lên bởi vì Trung Quốc chỉ đơn thuần giải thích các tuyên bố chủ quyền của họ bằng nguyên nhân lịch sử.

Lập luận của Trung Quốc là gì ? Là kể từ thời Hán – hơn hai thế kỷ trước Công nguyên – các thủy thủ Trung Quốc đã nhận biết khu vực này, và trên cơ sở đó Bắc Kinh đòi chủ quyền trên toàn bộ biển bao quanh Trung Quốc. Nếu như vậy, thì Hy Lạp cũng có thể đòi chủ quyền trên toàn bộ biển Địa Trung Hải…

Vấn đề thứ hai là những tuyên bố chủ quyền khá mới mẻ đó lại không được Trung Quốc xác định rõ ràng như Philippines và Việt Nam đã yêu cầu. Ngày nay, Bắc Kinh dựa trên một đường chín đoạn đã được chính quyền Trung Hoa vẽ ra một cách thô thiển và nhanh chóng vào năm 1948, để đòi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông.

Nhưng người ta không biết là Trung Quốc đòi chủ quyền trên các đảo với các khu vực đặc quyền kinh tế và lãnh hải xung quanh hay là họ muốn toàn bộ Biển Đông mà không dựa vào một vùng lãnh thổ cụ thể nào.

La Croix : Các hành động của Trung Quốc – sự hiện diện của các tàu tuần duyên, việc cắm các giàn khoan dầu… – có thể gây nên hay không một cuộc chiến tranh cục bộ hay rộng lớn hơn, lôi kéo Nhật Bản và Hoa Kỳ nhập cuộc ?

Valérie Niquet : Kể từ cuối những năm 2000 và cuộc khủng hoảng kinh tế, Bắc Kinh đã thay đổi chiến lược trên Biển Đông và quyết định thử sức phản ứng và quyết tâm đáp trả của các nước láng giềng và Hoa Kỳ. Mục tiêu của Trung Quốc là tạo ra một tình huống để phân tích quan hệ quyền lực trong khu vực chứ không phải là một cộng đồng quốc tế được tổ chức hài hòa.

Phải đối mặt với chiến lược thử sức đó, các nền dân chủ như Nhật Bản hay Hoa Kỳ không muốn Trung Quốc đi quá xa, nhưng cũng không sẵn sàng lao vào một cuộc xung đột trực diện Bắc Kinh. Nhưng nguy cơ sự cố đáng tiếc xảy ra không phải là không có : Từ đầu năm đến nay, tại Biển Hoa Đông, Nhật Bản đã cho phi cơ cất cánh hơn 400 lần do các sự cố với Trung Quốc.

Tại Biển Đông, tình hình khác hơn, và có thể xấu đi một cách nhanh chóng. Ở đó, Bắc Kinh đang phải đối mặt với các quốc gia kém dân chủ hơn, chẳng hạn như Việt Nam. Khi Trung Quốc hạ đặt một giàn khoan dầu ở vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, chúng ta không nên quên là nhiều cuộc biểu tình bạo động nhắm vào các cơ sở của Trung Quốc hay Đài Loan đã xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam vào tháng trước.

Trung Quốc hiện nay như đang cho rằng họ ở một thế mạnh và có thể đẩy quân cờ của mình về phía trước. Ta hoàn toàn có thể lo ngại rằng đó là một tính toán sai lầm và cuối cùng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với phản ứng dữ dội từ Việt Nam, Nhật Bản hay Hoa Kỳ.

La Croix : Giới hạn mà Trung Quốc không được vượt quá là gì ?

Valérie Niquet : Tại vùng Biển Đông, rất khó mà xác định điều này. Trung Quốc từ lâu đã hiện diện trên quần đảo Hoàng Sa. Và Hoa Kỳ, dù đã tăng cường sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực với Philippines, Malaysia và Việt Nam, nhưng chưa sẵn sàng đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ hai hoặc ba hòn đảo do Manila và Hà Nội tuyên bố chủ quyền.

Một trong những lằn ranh mà Mỹ đã đề cập đến trong vấn đề Biển Đông là việc Bắc Kinh thiết lập một vùng nhận dạng phòng không như họ đã làm tại vùng Biển Hoa Đông.

Ngược lại, ở trên Biển Hoa Đông, Bắc Kinh sẽ vượt quá giới hạn nếu dùng võ lực chiếm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật Bản quản lý. Điều đó sẽ dẫn đến một phản ứng từ phía Hoa Kỳ. Chỉ mới gần đây thôi, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn tuyên bố rằng quần đảo đó được che chở bằng thỏa thuận quân sự giữa Washington với Tokyo.

La Croix : Những mối căng thẳng đó liệu có cơ may giảm bớt hay không ?

Valérie Niquet : Tình hình chỉ có thể thay đổi với sự chuyển biến của chính quyền Trung Quốc. Thật vậy, chế độ Bắc Kinh dù mở cửa về kinh tế, nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ về chính trị. Và ngày nay nó xây dựng tính chính đáng trên nền tảng chủ nghĩa đân tộc, điều được gọi là thực hiện giấc mơ về một nước Trung Quốc được phục hưng.

Những tham vọng về một nước lớn đó dùng để bảo vệ tính chính đáng của Đảng Cộng sản giải thích tại sao Trung Quốc rất hung hăng với các láng giềng sát cạnh mình, để cố gắng áp đặt mình vào vị trí một cường quốc không thể tranh cãi và lãnh đạo châu Á.

Các vấn đề tài nguyên, lãnh thổ, năng lượng và thủy sản chỉ là cái cớ. Chúng ta đang phải đối mặt với một cường quốc bị suy yếu từ bên trong và dựa trên chủ nghĩa dân tộc và tham vọng bành trướng để tìm lại tính chính đáng của mình.

Bà Valérie Niquet, Chuyên gia Pháp về Châu Á

 

24/06/2014

 

Nghe (05:58)

 

 

 

 

Bác Học CARREL với PHÉP LẠ LỘ ĐỨC

Bác Học CARREL với PHÉP LẠ LỘ ĐỨC

Alexis Carrel là một bác sĩ nổi danh người Pháp, từng được giải Nobel về y khoa vào năm 1912 vì đã sáng chế ra tim nhân tạo và mạch máu nhân tạo giúp giữ các phần cơ thể con người và thú vật được tiếp tục sống vô thời hạn ngoài thân thể. Ông cũng từng là một người hoàn toàn mất Đức Tin Công giáo.Nhưng sau đó nhờ Mẹ Maria, ông đã tìm lại được niềm tin này.

Dạo năm 1903 Alexis Carrel được một người bạn bác sĩ nhờ tháp tùng một đoàn hành hương Lộ Đức. Trên chuyến tàu hỏa có thiếu nữ Marie Bailly Ferrand, 24 tuổi, bị lao phổi ở thời kỳ chót và lại mắc thêm chứng bịnh sưng màng bụng  đau đớn. Cô đã được bác sĩ nổi danh tên là Broumilloux ở Bordeaux chữa trị mà không chút thuyên giảm. Bác sĩ Carrel cũng khám bịnh cho cô Marie Bailly. Đứng trước trường hợp vô phương cứu chữa của bịnh nhân, Carrel tự nhủ: “ Nếu người bịnh này mà được khỏi, thì thực có phép lạ. Tôi sẽ tin và sẽ đi tu.”

Đến Lộ Đức, cô Marie Bailly lại được bác sĩ Carrel  và một bác sĩ bạn khám nghiệm lần nữa. Khi họ sắp rời bịnh nhân thì một thiếu nữ xin phép mang cô Bailly đến hồ tắm nước suối hang đá Đức Mẹ. Bác sĩ Carrel vặn hỏi: “ Nếu cô ta chết dọc đường thì các người làm sao?”  Thiếu nữ đáp: “ Cô ta nài nỉ tôi mang cô ta nhúng xuống hồ tắm. Chính vì mục đích đó mà cô ta đã từ Bordeaux đến đây.” Bác sĩ Carrel và bác sĩ bạn tin chắc bịnh nhân không còn phương cứu chữa và có thể chết trong vòng một giờ. Nhưng nhờ sự can thiệp của một nữ tu, họ đành cho phép mang cô Marie Bailly đến hồ tắm. Carrel lại nói nhỏ vào tai bác sĩ bạn: “ Nếu cô này mà khỏi bịnh, tôi sẽ tin có phép lạ.”

Cô Bailly được khiêng trên cáng và được đắp chăn. Cái bụng to tướng phình lên và khuôn mặt nhợt nhạt. Cô được đưa vào trong hồ tắm. Nhưng một lát sau người ta khiêng cô ra và nói: “ Các nữ tu chỉ thấm nước rửa bụng sơ sơ cho cô mà thôi chứ không nhúng xuống hồ. Cô Bailly được khiêng đến trước hang đá Đức Mẹ. Bác sĩ Carrel và bác sĩ bạn cũng đi theo. Đôi mắt của Carrel vẫn không rời cô Bailly. Bất chợt Carrel tái mặt. Ông thấy cái bụng của cô Bailly dần dần xẹp xuống và nét mặt của cô không còn nhợt nhạt như trước nữa. Ông tiến lại gần bịnh nhân để bắt mạch và thấy tim cô đập đều hòa. Ông hỏi: “ Cô thấy thế nào?” Bịnh nhân đáp: “ Tôi thấy khỏe khoắn  mặc dù không được mạnh lắm nhưng tôi cảm thấy khỏi bịnh rồi, thưa bác sĩ.”

Bác sĩ Carrel chạy lại văn phòng y khoa, thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Bác sĩ giám đốc Boisarie yêu cầu đưa bịnh nhân trở lại dưỡng đường ngày hôm sau để tái khám.

Ngày hôm sau, cô Marie Bailly được chứng thực là khỏi bịnh hoàn toàn. Quá nửa đêm hôm đó bá sĩ Carrel đi bách bộ trước Vương Cung Thánh Đường Lộ Đức và cuối cùng ông vào nhà thờ cầu nguyện với Đức Mẹ. Ông đã tìm lại được Đức Tin và trong 42 năm còn lại của cuộc đời bác sĩ Carrel đã không ngừng làm chứng cho niềm tin Kitô ấy.

Ký sự của ALEXIS CARREL

Sưu tầm

Lời cuối với vợ trước khi tự thiêu: ‘Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.’

Lời cuối với vợ trước khi tự thiêu: ‘Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.’
June 23,  2014

Tự thiêu phản đối giàn khoan HD 981.

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – “Ba tôi mất vào lúc 1 giờ 45 phút sáng nay, Thứ Hai, 23 Tháng 6, 2014, tại bệnh viện Tampa General Hospital vì vết bỏng quá nặng.” Chị Hoàng Thục Oanh, con gái của ông Hoàng Thu, người đàn ông tự thiêu tại Florida vào sáng Thứ Sáu vừa qua, nói với phóng viên Người Việt qua điện thoại.

Ông Hoàng Thu, người tự thiêu tại Tampa, Florida vào sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Sáu, 2014,

với tâm thư để lại “Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử.” (Hình: Gia đình cung cấp)

Trong tiếng khóc nức nở, con gái của người đàn ông vừa thực hiện một hành động quả cảm bằng cách tự thiêu để phản đối hành vi xâm lấn của Trung Quốc, cho biết, “Không ai trong nhà biết gì hết về chuyện ba làm như vậy. Ba tôi rất bình thường, không có một biểu hiện gì khác thường hết, ba rất khỏe mạnh, không có bệnh đau gì hết.”

Oanh kể, chị cùng chồng con về Việt Nam từ tối ngày Thứ Hai, 16 Tháng Sáu, và theo dự liệu thì đến 18 Tháng Bảy, “khi chồng tôi trở lại Mỹ trông nhà trông tiệm thì ba má sẽ bay về Việt Nam.”

Thế nhưng khi vừa về Sài Gòn được 2 ngày thì chị Oanh nhận được điện thoại của người bạn cùng xóm gọi báo tin “Ba Oanh tự thiêu.” Lúc đó khoảng hơn 11 giờ sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Sáu.

“Tôi không tin, tôi nhờ bạn tôi cho nói chuyện trực tiếp với cảnh sát và họ xác nhận tin đó. Tôi mua vé để cả nhà trở về Mỹ ngay lập tức.” Con gái người quá cố nghẹn ngào.

Chị Thục Oanh trở lại Tampa, Florida vào lúc khoảng 7 giờ tối Chủ Nhật, “chạy liền vào bệnh viện thì thấy ba cháy hết rồi. Người ta trùm lại hết, chỉ còn đưa mặt ra cũng cháy đen hết.”

“Tôi hỏi ‘sao ba bỏ con đi.’ Ba không còn nói gì được, tôi chỉ thấy hình như ba chảy nước mắt. Ba đợi thêm một lát, chồng tôi vào hỏi thêm ba được vài câu thì ba tắt thở. Lúc đó là 1 giờ 45 phút sáng Thứ Hai, 23 Tháng Sáu.” Chị Oanh khóc òa.

Người đàn ông quả cảm Hoàng Thu cùng vợ, bà Lê Thị Huế. (Hình: Gia đình cung cấp)

Người đàn ông tên là Hoàng Thu, sinh ngày 16 Tháng 11, 1942 tại Huế, từng là “lính pháo binh biệt động quan, liên đoàn 9” trong quân đội VNCH. Sau năm 1975, ông Thu cùng gia đình từ Huế trốn vô Sài Gòn, bị bắt đi kinh tế mới ở Đồng Xoài. Từ kinh tế mới trở về, ông Thu chỉ có thể đi làm công việc chân tay, “ai kêu gì làm đó, chứ không thể nào xin được một việc làm ổn định.”

Ông Thu được chị Oanh bảo lãnh sang Mỹ năm 2008. Ông sống cùng vợ và gia đình chị Oanh ở, Silver Lake, Tampa, Florida.

“Ba tôi thích coi tin tức, cũng hay nói những suy nghĩ của ông về tình hình chính trị. Nhưng tôi và má tôi không quan tâm nhiều đến điều này. Ba tôi thường nói nếu mà ba ở California thì ba sẽ làm được nhiều chuyện, tham gia nhiều chuyện, còn ở đây thì không làm gì được hết.” Chị Oanh cho biết.

Tất cả những gì mà gia đình nhận được trước khi ông Thu tự thiêu là “khoảng 15 phút đến 30 phút trước khi tự thiêu, ba tôi gọi điện thoại cho má tôi, khi đó má đang ở ngoài tiệm nail, nói ‘Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.’” Chị Oanh kể.

“Má tôi thấy lạ có hỏi ông đi đâu? Muốn đi đâu thì phải chờ tụi nó về. Thì ba nói ‘tụi nó về thì tôi không đi được.’ Rồi ba tắt phone. Má tôi gọi lại nhiều lần nhưng ba không nghe. Cho đến khi cảnh sát báo tin cho má tôi biết.” Chị khóc.

Chị Oanh xác nhận tờ giấy có viết dòng chữ “Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử” là chữ viết của ông Hoàng Thu. “Ba tôi viết chữ đẹp lắm!” Con gái người đàn ông có ý chí kiên cường này nức nở. “Tôi cứ ngỡ như ba tôi ở trên lầu thôi. Tôi không nghĩ là ba tôi chết rồi.” Chị Oanh đau đớn.

Hoa tưởng niệm ông Hoàng Thu được đặt tại nơi ông tự thiêu

để thể hiện sự phản kháng của mình. (Hình: Kenny Diệp)

Theo lời chị Oanh, vì gia đình quá đơn chiếc, không có nhiều bạn bè, người thân nên chị sẽ không tổ chức đám tang cho ba chị, vì làm ra không có ai hết nên “chỉ thiêu rồi mang lên chùa thôi.”

“Ngày mai nhà quàn sẽ đến nói chuyện và chờ 2-3 ngày nữa khi bệnh viện trả xác ba tôi về thì sẽ đưa đi thiêu ngay.” Chị Oanh cho biết.

Ông Hoàng Thu có vợ là bà Lê Thị Huế và hai con, người con gái đầu là chị Hoàng Thục Oanh, người con trai tên Hoàng Huy Quốc hiện còn ở Việt Nam.

 

Liên lạc tác giả: Ngoclan@Nguoi-Viet.com

 

Người Việt tự thiêu ‘vì giàn khoan’ qua đời

Người Việt tự thiêu ‘vì giàn khoan’ qua đời

Thứ ba, 24 tháng 6, 2014

Biểu tình phản đối giàn khoan Trung Quốc tại San Francisco, Hoa Kỳ (hình minh họa)

Tin cho hay người gốc Việt ở bang Florida, Hoa Kỳ, tự thiêu hôm 20/6 với thông điệp phản đối giàn khoan Trung Quốc, đã qua đời.

Người đàn ông 71 tuổi được nói đã tới cổng trung tâm cộng đồng Silver Lake nằm ở góc đường Lockwood Ridge cắt phố 59 Đông vào lúc 11:15 phút sáng thứ Sáu 20/6 và châm lửa tự thiêu.

Sau đó ông này được cấp cứu bằng trực thăng tới bệnh viện đa khoa Tampa trong tình trạng nguy kịch và qua đời sáng thứ Hai 23/6.

Ông để lại hai tờ giấy, hình chụp một tờ viết bằng tay có nội dung: “Hai Yang 981 phải rời khỏi VN hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử. Thu Hùng”, đi kèm chữ ký.

Một bản thông cáo được nói là của Cộng đồng Người Việt Quốc gia Tampa Bay, Florida, nói người đàn ông này là ông Hoàng Thu Hùng, cựu sỹ quan pháo binh Việt Nam Cộng hòa.

Trong khi đó báo Người Việt nói ông tên là Hoàng Thu, sinh năm 1942.

Ông sang Mỹ năm 2008, trước khi qua đời sống cùng vợ tên là Lê Thị Huế và gia đình người con gái tại Silver Lake, Tampa, bang Florida.

‘Phật tử tự thiêu’

Cách đây một tháng, một nữ Phật tử tại TP HCM cũng đã tự thiêu với một số biểu ngữ viết tay phản đối Trung Quốc.

Bà Lê Thị Tuyết Mai, Phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được phép hoạt động ở trong nước, đã châm lửa tự thiêu ngay trước Dinh Thống nhất ở trung tâm thành phố ngày 23/5.

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận 1 được báo Thanh Niên dẫn lời nói sau đó rằng “theo điều tra ban đầu, nguyên nhân khiến người phụ nữ này tự thiêu là do bế tắc về cuộc sống và bức xúc việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép, xâm phạm chủ quyền Việt Nam”.

VN ‘đội sổ về đóng góp cho nhân loại’

VN ‘đội sổ về đóng góp cho nhân loại’

Thứ ba, 24 tháng 6, 2014

Việt Nam bị xếp chót trong bảng xếp hạng về đóng góp cho nhân loại

Việt Nam bị một bảng xếp hạng đặt ở vị trí ‘đội sổ’ về đóng góp tổng thể cho nhân loại.

Good Country Index là bảng xếp hạng mới ra mắt của một tác giả, nhà tư vấn chính sách Simon  Anholt.

Kết quả của bảng xếp hạng nói Ireland đứng đầu thế giới, còn Iraq, Libya và Việt Nam ‘cùng xếp hạng dưới đáy’.

Trong ba nước này, Việt Nam (thứ 124) đứng sau cả Iraq (123) và chỉ trên có Libya (125).

Nó dựa trên các khảo sát của các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc và World Bank.

Tác giả đánh giá đóng góp của 125 nước theo bảy tiêu chí về thành tích như khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình quốc tế và na ninh, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe…

Trong các yếu tố được xem xét có số lượng sinh viên nước ngoài học tại nước đó, tiền dành cho gìn giữ hòa bình, số lượng giành giải Nobel.

Ireland đứng đầu, và cùng nhóm đầu bảng là các nước vùng Bắc Âu được cho là “có đóng góp chung nhiều nhất cho nhân loại và hành tinh”, hơn hẳn các khu vực khác trên thế giới.

Anh Quốc đứng thứ bảy và Hoa Kỳ đứng thứ 21 trong khi Kenya đứng thứ 26 trên toàn cầu nhưng là quốc gia đứng đầu châu Phi vì đã “nêu ví dụ đầy cảm hứng” về đóng góp có ý nghĩa xã hội.

Tác giả báo cáo nói với báo Financial Times: “Một nước thành công vẫn chưa đủ. Họ phải đóng góp gì đó cho nhân loại.”

Một số kết quả xếp hạng gây tranh cãi, ví dụ về văn hóa, Bỉ được xếp thứ nhất. Ai Cập cũng xếp đầu coh đóng góp cho hòa bình và an ninh quốc tế, mặc dù đang hỗn loạn về chính trị trong nước.

Ông Anholt giải thích những yếu tố nội địa không được ông tính, mà chỉ tính đóng góp của nước đó với thế giới bên ngoài.

“Đức là nước được quản trị rất tốt, nhưng tôi muốn hỏi là Đức làm được gì cho tôi, một công dân Anh?”

Nhiều hạng mục khác nhau

Trong 10 nước đứng đầu thế giới thì chín nước thuộc khu vực Tây Âu, tính tổng thể.

Tuy thế, các chỉ số cụ thể của từng nước lại khác.

Ví dụ, Bỉ đứng đầu thế giới về đóng góp văn hóa, Tây Ban Nha về chăm sóc y tế.

Hoa Kỳ bị tụt xuống hàng thứ 21 vì ‘bị điểm xấu trong mục đóng góp cho hòa bình và an ninh quốc tế’, theo bài báo của Independent.

Nga bị xếp hạng 95, gần với Honduras và Cộng hòa Dân chủ Congo.

Trong bảng xếp hạng này, người ta đánh giá các quốc gia theo những tiêu chí: Khoa học – Công nghệ, Văn hóa, Hòa bình và An ninh Quốc tế, Trật tự Thế giới, Biến đổi Khí hậu, Thịnh vượng – Bình đẳng, Sức khoẻ và Vui sống.

Ngoài các hạng mục này, người ta cũng đưa vào các tiêu chí như số sinh viên nước ngoài đến du học, số tiền một nước bỏ ra để gìn giữ hòa bình và đóng góp cho sự phát triển quốc tế cũng như số giải Nobel có được.

Trong ba nước cuối bảng thì Việt Nam lại có xếp hạng cao hơn hẳn hai nước kia về đóng góp Văn hóa vì đạt vị trí 76 so với Iraq (116) và Libya (124).

Còn về Thịnh vượng và Bình đẳng, Việt Nam đạt mức 79, cao hơn hẳn Trung Quốc (108).

Ngoài ra còn xếp hạng tổng thể (Overall Rankings), theo đó tại châu Á, Trung Quốc đứng thứ 107 thế giới, thua xa Ấn Độ (thứ 81).

Hiện chưa rõ dư luận Việt Nam nghĩ gì về bảng xếp hạng này của Good Country Index.

Hồi đầu năm 2011, một khảo sát quốc tế khác lại cho rằng người Việt Nam ‘lạc quan nhất thế giới’, với 70% người tham gia nói tự tin về triển vọng kinh tế nước này năm 2011.

Khảo sát về chỉ số lạc quan do tổ chức nghiên cứu dư luận BVA của Pháp và Viện Gallup của Mỹ thực hiện ở 53 quốc gia.

Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chỉ số lạc quan về kinh tế cao nhất, còn Pháp thì ‘đội sổ’ với 61% người được hỏi tỏ ra bi quan về tình hình kinh tế trong năm đó.

 

Con đường gặp Chúa

Con đường gặp Chúa

Chuacuuthe.com

VRNs (23.06.2014) – Sài gòn- Anh Tú và anh Trí là hai anh em từng là tù nhân lương tâm. Họ bị bắt cách đây 14 năm với tội danh: “âm mưu lật đổ chính quyền” dù rằng họ chưa có một hành động cụ thể nào. Mới đây họ được ra tù. Và ngày 21.06 vừa qua, họ được rửa tội tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Chúng tôi xin gởi đến quý vị và các bạn cảm nhận của người anh Martino Huỳnh Anh Tú về con đường gặp gỡ Thiên Chúa

“Thiên Chúa là Ai ? Giê-su là ai mà tôi thờ lạy chứ? Đó là thách thức ngông cuồng nhất của tôi trước đây. Chỉ có chính mình mới quyết định số phận của mình. Với suy nghĩ ấy, tôi sống bất cần đời, tự mình lo cho vận mạng của mình. Thế rồi cũng với tuổi trẻ bồng bột và tính ngông cuồng đã đưa tôi vào nhà tù Cộng Sản… (tuổi trẻ bồng bột vì không nhận ra được bộ mặt thật của chế độ Cộng Sản; đâu là con đường đúng mà tôi cần phải kiên trì theo đuổi cho ước mơ của mình. Cùng với tính ngông cuồng, đẩy tôi hành động tức thời theo tiếng gọi của lương tâm mà thiếu sự kiên nhẫn chờ đơi). 14 năm trong chốn lao tù, tưởng như cuộc đời đã chấm hết. Khi cánh cửa tù mở ra, tôi là người tự do nhưng cánh cửa cuộc đời hầu như đã khép lại với quá khứ mà Cộng sản ghép tội cho tôi.

Nhưng hôm 21.06.2014, là ngày trọng đại nhất cuộc đời của hai anh em chúng tôi, là ngày anh em chúng tôi chính thức được nhận bí tích Khai Tâm Ki-tô giáo, là ngày tôi được tái sinh trong ơn nghĩa của Chúa…Thật hạnh phúc nào bằng!

Làm sao tôi quên được những năm tháng khốc liệt trong nhà tù Cộng Sản. Vì không tin vào đời sống tâm linh, bản thân luôn nghi ngờ về Thiên Chúa, tôi luôn tự hỏi rằng có Thiên Chúa hiện diện thật trong cuộc đời này không? Với suy nghĩ ấy, nên tâm tưởng tôi lúc nào cũng hoang mang. Có lúc tôi muốn điên loạn vì không biết cuộc đời mình sẽ ra sao? Chốn lao tù với đầy những thủ đoạn đê hèn của những tên cai ngục, chỉ nhằm hãm hại những tù nhân bất đồng chính kiến.

Rồi một đêm nọ, sau song sắt nhà tù, đang cô độc với nỗi tuyệt vọng và tinh thần đang đi dần vào ngõ cụt thì bất chợt trong tâm trí tôi vọng lên một tiếng nói: “hãy cầu nguyện Thiên Chúa đi, xem chừng biết đâu Ngài sẽ giúp ngươi.”

Và tôi đã ngồi dậy cầu nguyện: “Lạy Chúa con là kẻ ngoại đạo, xin Ngài đừng phân biệt mà hãy mở vòng tay cứu rỗi lấy đời con.”  Lặng một hôi, tôi cảm giác trong người rờn rợn, nhưng đồng thời mọi lo lắng, hoang mang dường như tan biến.

Lời cầu nguyện có sức mạnh diệu kỳ như thế sao? Từ đó về sau, mỗi khi tôi lâm vào hoàn cảnh nguy nan khó xử, tôi luôn tìm đến Chúa qua những lời cầu nguyện mong được bình an và sáng suốt để vượt qua.

Trong tù tôi may mắn được quen biết Thầy Sáu Nguyễn Viết Huân dòng Đồng Công. Thầy đã bị bắt trước tôi vài năm cùng các vị linh mục khác thuộc Dòng Đồng Công. Cộng sản gán cho những người chân chính ấy tội danh âm mưu lật đổ chính quyền, nhưng không bao giờ đưa ra được bằng chứng thuyết phục. Tôi tìm đến Thầy mong được học hỏi về đạo Công Giáo. Thầy đã vui vẻ phân tích và giải thích cho tôi rất nhiều về mầu nhiệm trong đạo như: Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Nhập Thể… Tôi cũng tìm đến các bạn trong tù có đạo công giáo để tìm hiểu thêm về giáo lý và nghe họ chia sẻ cảm nghiệm về Đạo.

Trong chốn lao tù ấy, tôi đã học được ba bài kinh căn bản mà tất cả Ki-tô hữu nào cũng thuộc (kinh Lạy Cha – kinh Kính mừng – kinh Sáng Danh ). Kể từ lúc ấy, đêm nào tôi cũng cầu nguyện với Thiên Chúa, với Mẹ Maria qua ba bài kinh này. Thế rồi tâm hồn rất bình an, thanh thản và không còn lo sợ trước bạo quyền của những kẻ vô tâm, vô tri.

Tôi đã hứa với Chúa, ngày nào đó ra tù, công việc đầu tiên của tôi là tìm học giáo lý để hiểu hơn về Thiên Chúa và Đạo để xin được rửa tội.

Sau 14 năm trong lao tù, ngày ra tù cũng đã đến, lòng nặng trĩu cùng những bước chân không định hướng. Cánh cửa tù mở ra nhưng cánh cửa cuộc đời khép lại. Tôi không thể xin được một việc làm ổn định. Vì dòng chữ ghi trên tấm giấy ra tù: “tội âm mưu lật đổ chính quyền!”

Dầu vậy, tôi không bơ vơ vì có Chúa ở với tôi. Khó khăn cứ dồn dập nhưng tâm hồn tôi luôn cảm thấy bình an. Mỗi khi gặp khó khăn tôi đều có những ân nhân, những người chưa từng biết trước đây, họ luôn nhiệt tình giúp đỡ. Thật là phép mầu của Chúa dành cho tôi.  Chúa luôn gởi đến cho tôi những con người để nâng đỡ và trợ giúp cho tôi như: chị Bùi Thị Minh Hằng, Cha Thanh, Cha Thoại, anh Thịnh chị Phượng, vợ chồng em Khanh … Họ luôn quan tâm và lo lắng cho chúng tôi. Có phải đây là sự sắp đặt của Thiên Chúa chăng? Vâng, không còn nghi ngờ gì nữa, con tạ ơn Thiên Chúa, Ngài chưa bao giờ bỏ rơi con. Ngài luôn theo dõi từng bước chân con và luôn an ủi tâm hồn con mỗi lúc con tuyệt vọng.

Hôm nay trước mặt cộng đoàn, con đã mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin của con vào Ngài. Hai hàng nước mắt con tuôi rơi khi cha chủ tế hỏi con: “Anh có tin Đức Giê-su Ki-tô là Chúa  không? Con đã mạnh mẽ khẳng khái thốt lên: Thưa con Tin! Ôi hạnh phúc nào bằng, tâm hồn con như cánh đồng lúa khô cằn nay nay đón nhận mưa ân sủng của Chúa.

Tôi, Martino Huỳnh Anh Tú cùng em Anphongsô Huỳnh Anh Trí chính thức gia nhập cộng đoàn Dân Thiên Chúa. Tâm hồn tôi như bay bỗng sau khi tuyên xưng đức tin.

Chúng con cảm tạ Thiên Chúa, chúng con hôm nay thật sự thuộc về Ngài rồi. Từ nay chúng con đã chính thức gia nhập gia đình công giáo đầy tình yêu thương bác ái, con cầu xin Ngài cho con biết tin vào Ngài, yêu mến và phụng thờ Ngài luôn mãi trong suốt phần đời còn lại của con.

Tình thương Chúa không bao giờ kể xiết. Chỉ có Thiên Chúa mới tao nên điều kỳ dịu này trong cuộc đời chúng con…Chính Thiên Chúa đã làm thay đổi cuộc đời chúng con.

Tuy nhiên em của con Anphongsô Huỳnh Anh Trí đang lâm bệnh nặng, không biết con có tham lam không, Con xin Thiên Chúa nhân từ đầy quyền phép làm cho em con sớm khỏi bệnh. Con khấn xin Ngài!

Sau đây là vài hình ảnh trong ngày hai anh em nhận Bí Tích Khai Tâm Ki-tô giáo:

Cha Phụng chia sẻ trong thánh lễ: "hành trình đức tin để nhận ra Chúa là hành trình như hai môn đệ làng Em-mau"

Cha Phụng chia sẻ trong thánh lễ: “hành trình đức tin để nhận ra Chúa là hành trình như hai môn đệ làng Em-mau”

"cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần"

“cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”

Cha Thanh mời gọi hai anh em tuyên xưng đức tin

Cha Thanh mời gọi hai anh em tuyên xưng đức tin

Anh Trí (ngồi), người em đang bệnh nặng vì hậu quả của chốn lao tù Cộng Sản

Anh Trí (ngồi), người em đang bệnh nặng vì hậu quả của chốn lao tù Cộng Sản

Anh Tú đọc bài đọc I lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô, cũng là ngày anh nhận bí tích Khai Tâm Ki-tô giáo

Anh Tú đọc bài đọc I lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô, cũng là ngày anh nhận bí tích Khai Tâm Ki-tô giáo

 

Hoa hậu Việt bị 3 năm tù tội trồng cần sa

Hoa hậu Việt bị 3 năm tù tội trồng cần sa
June 21, 2014

Nguoi-viet.com

BOTHELL, Washington (NV) – Một hoa hậu người Việt ở tiểu bang Washington vừa bị tuyên án ba năm tù vì tội trồng và phân phối cần sa, theo báo mạng seattlepi.com, dựa trên hồ sơ Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ.

Đó là cô Trish Trâm Bùi, còn có tên Bùi Nguyễn Thị Trâm, 28 tuổi, cư dân thành phố Bothell, Washington, Hoa Hậu Phu Nhân Việt Nam Toàn Cầu 2012 (Mrs. Vietnam Global 2012).

Trish Trâm Bùi, Hoa Hậu Phu Nhân Việt Nam Toàn Cầu 2012. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Cô bị tố cáo cùng chồng, tên Keith K. Lý, một bác sĩ về nắn xương, trồng cần sa tại ba căn nhà ở khu vực ngoại ô phía Bắc Seattle.

Cả hai bị truy tố hồi Tháng Bảy, 2012, và cô vừa bị toà liên bang tuyên án hôm Thứ Sáu. Riêng người chồng sẽ bị xử sau.

Trish Trâm Bùi đăng quang hoa hậu phu nhân do MFC Media (Media Film Company) tổ chức tại Pala Casino Spa & Resort ở San Diego, California, ngày Chủ Nhật, 25 Tháng Mười Một, 2012.

Tuy nhiên, vì đang mang thai, cựu hoa hậu người Việt được Chánh Án John Coughenour cho phép trình diện nhà tù liên bang vào Tháng Hai năm tới, một tháng sau khi sanh con.

Theo hồ sơ, công tố viên Sarah Vogel viết rằng vụ trồng cần sa này sử dụng điện một cách gián tiếp, để tránh bị công ty điện lực để ý.

Luật Sư David Gehrke, đại diện cho cô Trâm, mô tả đây chỉ là một trường hợp “trồng cần sa kiểu bắt chước.”

Hồi Tháng Hai, 2012, trong lúc lái chiếc Mercedes 2005, cô Trâm bị cảnh sát chặn lại và phát hiện một pound cần sa giấu sau ghế tài xế, cùng với $8,900 tiền mặt. Hai vợ chồng cô và đồng phạm Langhak Eung nói với cảnh sát là họ mang cần sa cho người bị bệnh sử dụng.

Sau đó, cơ quan bài trừ ma tuý King County bắt đầu theo dõi hai vợ chồng nghi can, và phát hiện hệ thống trồng cần sa trong nhà.

Tháng Năm, 2012, cảnh sát bắt được 700 cây cần sa trồng trong một căn nhà ở Renton, sau một vụ cháy vì bị chập dây điện.

Cảnh sát cũng bắt được tổng cộng 1,189 cây và 29 pound cần sa trong một căn nhà ở Shoreline, do cô Trâm làm chủ, và tại một căn nhà khác ở Marysville, theo công tố viên Sarah Vogel.

Cần sa trồng trong nhà do cô Trish Trâm Bùi làm chủ. (Hình: Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ)

Cũng theo hồ sơ toà, cô Trâm đến Hoa Kỳ bằng diện hôn nhân, nhưng ly dị người chồng trước khi có quốc tịch.

Sau đó, cô làm việc tại các sòng bài, làm người mẫu, thi hoa hậu, và bán một số lượng lớn cần sa.

Căn nhà ở Renton, Washington, một trong ba nơi trồng cần sa. (Hình: Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ)

Nghi can hiện trong tình trạng có thể bị trục xuất, vì thế, rất khó được hưởng chương trình quản chế tại gia đối với tù nhân có con nhỏ, chỉ dành cho công dân Mỹ, và có thể phải nuôi con ở trong tù. (Đ.D.)

Đánh vợ sảy thai, vẫn làm bác sĩ

Đánh vợ sảy thai, vẫn làm bác sĩ
June 22, 2014

Nguoi-viet.com

CẦN THƠ 22-6 (NV) – Dù bị khởi tố tám tháng nay về tội đánh vợ sảy thai và chờ lãnh án, một bác sĩ vẫn được làm việc bình thường tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ.

Bệnh viên đa khoa cần Thơ, nơi xảy ra rất nhiều sai phạm nhờ quan chức y tế dung dưỡng bao che lẫn nhau. (Hình: Dân Trí)

Tờ Tuổi Trẻ hôm Chủ Nhật kể chuyện lạ mà không mấy lạ ở bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ về trường hợp của ông bác sĩ tên Phạm Kha Ly, 32 tuổi, đang làm cho bệnh viện này tại khoa tiêu hóa và huyết học.

Theo nguồn tin, đúng ra, phiên tòa hình sự xử Bác Sĩ Ly diễn ra ngày 19/6/2014 phải tiến hành bình thường vì có đủ cả hai bên bị cáo cũng như người tố cáo. Nhưng thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã bất ngờ thông báo dời lại, chưa cho biết bao giờ sẽ xử lại.

Bác Sĩ Phạm Kha Ly bị cáo buộc đã đánh vợ đến sảy thai. Theo lời khai của bà Trần Cẩm Loan, vợ ông Ly, hai người cưới nhau Tháng 12-2012.

“Do nghi ngờ bà Loan có quan hệ với người khác, ba tháng sau ngày cưới, khi được bà Loan thông báo có thai, ông Kha Ly đã mua sẵn dây xích và ổ khóa.” Tờ Tuổi Trẻ kể. “Ngày 22-3-2013, ông Kha Ly khóa cửa rào, cửa nhà, cởi hết quần áo bà và dùng dây xích khóa tay, chửi mắng, đánh đập bà rất tàn nhẫn. Một tuần sau đó bà Loan bị sảy thai.”

Đầu tháng 10-2013, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Ninh Kiều đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ngày 20-11-2013 có kết luận điều tra. Bản kết luận điều tra viết rằng “hành vi dùng lời lẽ thô tục chửi mắng, dùng dao cắt tóc, dùng tay chân đánh bà Loan (vợ) gây tổn hại sức khỏe 2% và làm bà Loan sảy thai, do bị can Phạm Kha Ly thực hiện, xâm phạm trực tiếp đến nghĩa vụ phải đối xử bình đẳng giữa vợ chồng được quy định trong Luật Hôn Nhân và Gia Đình.”

Vì vậy, vụ việc được chuyển sang Viện KSND cùng cấp đề nghị truy tố bị can theo điều 151 Bộ luật hình sự. Nhưng từ đó đến nay, Bác Sĩ Phạm Kha Ly vẫn làm việc bình thường tại bệnh viện. Bà Lâm Thị Nhàn, trưởng phòng tổ chức bệnh viện, cho biết bệnh viện không nhận được bất cứ yêu cầu hay văn bản nào từ công an hay tòa án về việc Bác Sĩ Kha Ly bị khởi tố, truy tố nên “không có lý do gì để đình chỉ công tác chuyên môn đối với anh ấy”.

Giữa năm ngoái, chính ông Đặng Quang Tâm, giám đốc bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, đã phạm nhiều tội đúng ra phải cách chức và truy tố hình sự nhưng Bộ Y Tế vẫn dung dưỡng và chỉ bắt ông này viết giấy “kiểm điểm rút kinh nghiệm” liên quan đến các quyết định trái luật và số tiền khá lớn.

Một trong những sai phạm của ông Đặng Quang Tâm là vi phạm luật đấu thầu, “tự ý mua sắm tài sản với số tiền hơn 70 tỉ đồng mà không xin ý kiến của lãnh đạo Bộ Y Tế”. Bên cạnh đó, ông còn “xét cho trúng thầu mặt hàng thuốc Harxone chưa được cấp phép mà theo kết luận của Bộ Y Tế là sai pháp luật”.

Theo tờ Dân Trí ngày 17/5/2013, dù vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong công tác quản lý bệnh viện, gây nhiều tổn hại tiền bạc hơn trăm tỉ đồng cho ngân sách nhà nước “nhưng giám đốc Phạm Quang Tâm vẫn được Bộ Y Tế dung dưỡng”. (TN)

Công hàm Phạm Văn Đồng ‘còn tranh cãi’

Công hàm Phạm Văn Đồng ‘còn tranh cãi’

Thứ hai, 23 tháng 6, 2014

Bộ Ngoại giao Việt Nam bác bỏ giá trị pháp lý về chủ quyền của Công hàm Phạm Văn Đồng

Từ tháng Năm, một văn bản ngoại giao cũ lại được Việt Nam và Trung Quốc nhắc đến trong khi quan hệ trở nên căng thẳng vì vụ giàn khoan Hải Dương 981.

Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng nhằm phúc đáp công hàm về chiều rộng lãnh hải của Trung Quốc của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

Văn bản này lại được Trung Quốc nêu ra để khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa, trong lúc Việt Nam cũng nhiều lần lên tiếng bác bỏ.

Quan điểm Trung Quốc

Trang web Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 8/6, khi liệt kê các “bằng chứng” về việc Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc, dẫn lại văn bản này.

Trên China Daily, một nhà nghiên cứu, Wu Yuanfu, nói Việt Nam “Việt Nam chỉ thay đổi lập trường sau khi thống nhất Bắc-Nam năm 1975 và kể từ đó luôn cố diễn giải sai lệch và chối bỏ lập trường chính thức đã được nêu rõ trong công hàm”.

Còn Trần Khánh Hồng, Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế Hiện đại Trung Quốc, lại nói văn bản cho thấy “chính phủ Việt Nam công nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”.

Trung Quốc còn đưa ra một số luận cứ khác để nói Việt Nam trước những năm giữa thập niên 1970 đã “luôn công khai và chính thức công nhận” Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc. Nhưng như tác giả Ling Dequan viết trên China Daily, hai bằng chứng “quan trọng nhất” cho sự thừa nhận của Việt Nam là công hàm 1958 và Tuyên bố của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 09/05/1965 liên quan tới vùng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.

Việt Nam phản bác

Sau nhiều năm tránh nhắc về Công thư 1958, Việt Nam đã nhiều lần công khai bác bỏ giá trị của văn bản này kể từ khi xảy ra căng thẳng hồi tháng Năm, và gọi đây là “công thư”.

Hôm 23/5, tại cuộc họp báo ở Hà Nội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia, Trần Duy Hải, nói khi văn bản của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Trung Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa đang được quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa.

“Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa.”

“Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa.”

Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

“Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được. Vậy nên điều đó càng khẳng định công văn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý,” theo ông Hải.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, nói: “Trong công thư đó, Việt Nam chỉ ủng hộ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc thôi, không hề nhắc tới chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này.”

“Phía Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây.”

Một nhà nghiên cứu trong nước, thạc sĩ Hoàng Việt, cũng cho rằng văn bản này “mang một sự cam kết về mặt chính trị hơn là về pháp lý”.

“Đây cũng là một hình thức mà các nước xã hội chủ nghĩa thường hay sử dụng để thể hiện tình đoàn kết trong tinh thần anh em trong phong trào vô sản quốc tế.”

‘Một phần có lý’

Việt Nam bác bỏ tính pháp lý của văn bản

Tuy vậy, trong giới nghiên cứu người Việt ở nước ngoài, có một số ý kiến khác.

Một nhà nghiên cứu gốc Việt cho rằng Trung Quốc không hoàn toàn vô lý khi viện dẫn lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, nhưng ông cho rằng đó chỉ là một nửa sự thật.

Ông Dương Danh Huy, sống ở Anh và là một người Việt nghiên cứu về tranh chấp biển đảo, nói với BBC hôm 20/6.

“Khó nói rằng lập luận Trung Quốc đã đưa ra từ thập niên 1980, mà ngày nay họ đang đưa ra với thế giới một cách mạnh mẽ, về công hàm của ông Phạm Văn Đồng và những hành vi bất lợi khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là hoàn toàn vô lý.”

“Sẽ chính xác hơn nếu cho rằng lập luận của Trung Quốc cũng có lý về một nửa vấn đề.”

Ông Huy nói tiếp: “Nửa đó là giả sử như năm 1974 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc ra Tòa về Hoàng Sa, và Tòa phân xử, khả năng là Tòa sẽ công nhận rằng vào năm đó danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với hai quần đảo này yếu hơn của Trung Quốc.”

“Sẽ chính xác hơn nếu cho rằng lập luận của Trung Quốc cũng có lý về một nửa vấn đề.”

Dương Danh Huy

Nhưng, ông Huy cho rằng còn “một nửa khác của sự thật” mà Trung Quốc bỏ qua.

“Đó là giả sử như năm 1974 Việt Nam Cộng Hòa và Trung Quốc ra Tòa về Hoàng Sa, và Tòa phân xử, khả năng là Tòa sẽ công nhận rằng vào năm đó danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa với quần đảo này mạnh hơn của Trung Quốc.”

“Do đó, phản biện của Việt Nam phải vận dụng nửa này của sự thật, tức là phải vận dụng danh nghĩa chủ quyền mà Việt Nam Cộng Hòa đã duy trì, và cần lập luận cho rằng khi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời năm 1976, quốc gia đó đã thừa kế chủ quyền này.”

Ông Huy cho biết ông đã bày tỏ quan điểm này với các nhà nghiên cứu và phóng viên trong nước. Ông cho rằng trong những thập niên qua Việt Nam cũng biết rằng lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa cần có ba điều. Thứ nhất, những tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa phải có giá trị trong luật quốc tế. Thứ nhì, CHXHNCVN phải thừa kế danh nghĩa chủ quyền mà Việt Nam Cộng Hòa đã duy trì. Thứ ba, phải giảm thiểu giá trị trong luật quốc tế của công hàm của ông Phạm Văn Đồng.

Ông Huy cho rằng thông thường thì điều thứ nhất đi đôi với việc trong quá khứ Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia, nhưng cho đến gần đây truyền thông Việt Nam ít nói thẳng ra. Tuy vậy, trong năm nay đã có ít nhất ba bài trên báo Việt Nam nói thẳng trong quá khứ Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia, và một số quan chức và cựu quan chức Việt Nam trả lời phỏng vấn cũng nói rằng trong quá khứ Việt Nam Cộng Hòa là một chủ thể trong luật quốc tế có chủ quyền lãnh thổ.

Theo ông Huy, “Chủ thể trong luật quốc tế có chủ quyền lãnh thổ là quốc gia.”