Bầu cử Ukraine 2014: xong rồi, có tân tổng thống, an tâm hơn

Bầu cử Ukraine 2014: xong rồi, có tân tổng thống, an tâm hơn

Nguyễn Khanh, RFA
2014-05-26

RFA

Các ứng cử viên Petro Poroshenko và Yulia Tymosheko

 

Các ứng cử viên Petro Poroshenko và Yulia Tymosheko

Kết quả những cuộc thăm dò cử tri sau khi họ vừa rời phòng phiếu cho thấy người dân Ukraine đã chọn được tổng thống.

Đúng như dự đoán được đưa ra từ những ngày đầu tiên của cuộc vận động tranh cử, người được chọn không ai khác hơn, chính là nhà tỷ phú Petro Poroshenko, nổi tiếng trong chính trường vì từng giữ nhiều vai trò quan trọng khác nhau như vai trò của ngoại trưởng hay vai trò bộ trưởng kinh tế, đồng thời cũng nổi tiếng trong thương trường với biệt danh “Vua Chocolat”, đang làm chủ những hãng xưởng sản xuất kẹo ở nhiều quốc gia, kể cả những cơ xưởng do ông dựng lên trên lãnh thổ Liên Bang Nga, kẻ thù không đội trời chung với những người bỏ phiếu chọn ông làm người lãnh đạo và điều khiển một quốc gia đang gặp quá nhiều khó khăn.

Mặc dù lực lượng dân quân thân Nga tìm đủ mọi cách để gây cản trở cho cư dân miền Đông muốn tham gia cuộc bầu cử (không đầy 20% phòng phiếu miền Đông mở cửa), nhưng hình ảnh ghi nhận được ở thủ đô Kiev và những nơi khác cho thấy cử tri đứng xếp hàng chờ đến lượt để làm nhiệm vụ công dân là bằng chứng xác nhận người dân Ukarine nôn nóng muốn thấy một chính phủ chào đời, thay thế cho chính quyền lâm thời được dựng lên hồi tháng Hai vừa rồi sau cuộc cách mạng lật đổ nhà lãnh đạo thân Nga Viktor Yanukovych.

Hội Đồng Bầu Cử Trung Ương Ukraine cho biết có tới 60% cử tri đi bầu, những cuộc thăm dò cho thấy hơn 55% bỏ phiếu cử tri chọn ông Poroshenko, đủ để ông tự tin “vui mừng đón nhận tin chiến thắng và trách nhiệm đầy khó khăn” đi kèm với lời cam kết sẽ dựng một chính phủ như ý người dân trông chờ, cho biết việc đầu tiên ông sẽ làm sau ngày tuyên thệ nhậm chức là đến vùng Donetsk Luhansk, nói chuyện trực tiếp với lực lượng thân Nga đang làm chủ tình hình, muốn tách rời khỏi Ukraine để sáp nhập vào Liên Bang Nga như cư dân Crimea mới làm cách đây chỉ một vài tháng trời.

Bằng tất cả tấm lòng, tôi xin cám ơn người dân Ukraine đã đi bầu với con số kỷ lục…Tôi biết chắn chắn sự hỗ trợ của người dân sẽ giúp xây dựng một chính phủ vững mạnh, tạo cơ hội để (chúng ta cùng) giải quyết những trở ngại đang phải đương đầu

Petro Poroshenko

“Bằng tất cả tấm lòng, tôi xin cám ơn người dân Ukraine đã đi bầu với con số kỷ lục” vị Tổng Thống đắc cử mới 48 tuổi của Ukraine nói trong bài diễn văn chiến thắng đọc tối Chủ Nhật, chỉ vài giờ đồng hộ sau khi phòng phiếu đóng cửa. “Tôi biết chắn chắn sự hỗ trợ của người dân sẽ giúp xây dựng một chính phủ vững mạnh, tạo cơ hội để (chúng ta cùng) giải quyết những trở ngại đang phải đương đầu”.

Các quan sát viên bầu cử. RFA

Các quan sát viên bầu cử. RFA

Những trở ngại ông nói tới là “bát ổn, chấm dứt cuộc chiến và đem lại hòa bình cho đất nước” và chắc chắn, “sẽ làm việc với Liên Bang Nga” để giải tỏa những bất đồng như ông từng nói lúc còn vận động tranh cử. Nói rõ hơn, ông muốn bắt đầu thảo luận để đi đến một hiệp định mới về an ninh với đại cường quốc láng giềng, nơi thành phần lãnh đạo một mặt vẫn gọi cuộc bầu cử của người dân Ukraine là cuộc bầu cử bất hợp pháp, nhưng mặt khác cho hay sẵn sàng công nhận kết quả của cuộc bầu cử, “tôn trọng quyết định của người dân Ukraine”.

Đại đa số cử tri cho biết có nhiều lý do để họ bỏ phiếu chọn ông Poroshenko làm tân tổng thống. Bà Natalia dẫn theo 2 cậu con trai còn nhỏ đi bầu ở trung tâm thủ đô Kiev cho biết chọn ông Proshenko “vì ông ta có kinh nghiệm làm việc, đồng thời cũng là người thực tế, biết phải làm gì và biết tương nhượng khi thấy cần thiết”. Bà đưa ra dẫn chứng “ông ta từng làm bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng kinh tế và nhất là một thương gia rất thành công, điều đó chứng tỏ ông ta có tài ăn nói, khôn khéo, biết cách giải quyết vấn đề”, giúp Ukraine qua được khó khăn “chính trị, ngoại giao lẫn kinh tế”.

Tôi bỏ phiếu chọn ông Poroshenko vì tôi tin ông ta học được kinh nghiệm của những chính phủ xấu xa cũ, ông ta biết nghe tiếng nói của người dân hơn, biết một chính quyền tham nhũng là một chính quyền không thể nào tồn tại được

Natalia

Một bà -cũng tên Natalia- đang làm việc cho trường đại học của thủ đô Kiev nói rằng từ năm 2001 đến giờ đã có 4 cuộc bầu cử diễn ra, “nhưng không kỳ bầu cử nào quan trọng cho kỳ bầu cử này”. Bà giải thích “chẵng ai ngờ những cuộc bầu cử trước đây lại đẩy Ukraine đến vực thẳm vì thành phần lãnh đạo không biết nghe dân, họ chỉ biết chia chác quyền hành và tham nhũng”. Bà hy vọng “tôi bỏ phiếu chọn ông Poroshenko vì tôi tin ông ta học được kinh nghiệm của những chính phủ xấu xa cũ, ông ta biết nghe tiếng nói của người dân hơn, biết một chính quyền tham nhũng là một chính quyền không thể nào tồn tại được”.

Các thùng phiếu có đánh số. RFA

Các thùng phiếu có đánh số. RFA

Ngay chính một số người Việt Nam đang sinh sống ở Ukraine cũng chia sẻ nhận xét tương tự. Hầu như không ai ngạc nhiên khi được tin ông Poroshenko đắc cử, “vui mừng vị không phải bầu cử vòng hai” như lời ông Thông nói với bạn bè trong bữa cơm -vừa ăn vừa bàn tán và theo dõi tin tức bầu cử-. “Tôi thấy an tâm hơn, tôi mong chính phủ của ông Poroshenko sớm ra mắt mọi người, may quá chỉ bầu có vòng đầu đã xong chứ phải bầu vòng hai trong tình huống quốc gia đang sôi bỏng như thế này thì khó lắm”. Khó ở đây, ông Thông giải thích, là “ngày nào còn chính quyền lâm thời là ngày đó còn mệt với Nga”.

Một người Việt khác, ông Tiến, mong ước “chính phủ mới phải nghe dân”, nhắc lại các chính quyền cũ “có lối làm việc cứ như là Sa Hoàng của Nga thời xưa, không đếm xỉa gì đến nguyện vọng của dân chúng cả”. Ông Tiến cho biết lý do tại sao đoàn biểu tình đã lật đổ được chính quyền cũ của ông Viktor Yanukovych nhưng đến bây giờ họ vẫn không rời những điểm đóng chốt ngay tại trung tâm thủ đô Kiev “vì họ chờ xem chính phủ mới sẽ làm việc như thế nào, có thật sự là một chính quyền của dân và vì dân hay lại giống như các chính phủ cũ, chỉ hứa mà không bao giờ giữ lời hứa”.

Những cuộc thăm dò cũng cho thấy về nhì trong cuộc bầu kỳ này là bà Cựu Thủ Tướng Yulia Tymoshenko với khoảng gần 13% tổng số phiếu. Trong bài diễn văn đọc sau khi biết tin không thành công, người từng điều hành chính phủ Kiev nói rằng bà “xin được chúc mừng nhân dân Ukraine đã hết lòng tham gia cuộc bầu cử bất chấp đe dọa lẫn thái độ hung hăng của Kremlin” cho biết thêm “cuộc bầu cử diễn ra công bằng và dân chủ”, kêu gọi ông Poroshenko “xây dựng đoàn kết quốc gia”.

Cũng cần nói thêm sau khi bỏ phiếu, bà Tymoshenko có nói rằng một trong những việc vị tân tổng thống phải làm là tiến hành thủ tục để gia nhập NATO, xem đó là “cách duy nhất có thể giúp giải quyết áp lực nặng nề đến từ Moscow”.

TQ lại nhắc Công hàm Phạm Văn Đồng

TQ lại nhắc Công hàm Phạm Văn Đồng

Thứ ba, 20 tháng 5, 2014

Trung Quốc nói không có tranh chấp với Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa

Một nhà ngoại giao và một học giả Trung Quốc nói Công hàm 1958 là bằng chứng Việt Nam công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.

Công hàm 1958 gây tranh cãi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại được Trung Quốc đề cập trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc đối đầu vì vụ giàn khoan HD-981.

Căng thẳng Việt – Trung đã gia tăng, với việc nổ ra các cuộc bạo động ở Việt Nam, sau khi Việt Nam lên án Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực biển Hoàng Sa.

Hôm 20/5, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia có bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post để biện hộ cho Trung Quốc.

Ông Lưu Hồng Dương nói quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc dùng để chỉ Hoàng Sa) là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”.

“Vị trí của các đảo đã được cộng đồng quốc tế, kể cả Việt Nam, công khai thừa nhận trong nhiều thập niên từ Thế chiến Hai.

“Trong tuyên bố ngày 14/9/1958 thay mặt chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.”

Ông Lưu Hồng Dương cáo buộc “việc chính phủ Việt Nam gần đây thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc thật vô cùng gây sốc”.

“Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc ‘estoppel’ [không được nói ngược],” ông Lưu cáo buộc.

Bày tỏ lập trường chính thức của Trung Quốc, ông Lưu nói tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ tồn tại ở quanh quần đảo Trường Sa.

Ông Lưu cáo buộc Việt Nam có “tiêu chuẩn kép” khi đã “đánh dấu 57 lô dầu khí ở trong vùng biển tranh chấp”.

Nói về cuộc đối đầu quanh giàn khoan HD-981, ông Lưu nói Việt Nam “phải bỏ mọi ảo tưởng và tiến hành hai biện pháp quyết định”.

“Một, ngay lập tức dừng mọi hoạt động nguy hiểm chống lại giàn khoan Trung Quốc và rút toàn bộ tàu khỏi vùng biển thuộc Trung Quốc.

“Hai, thực thi lời hứa dừng mọi bạo lực trong nước để bảo vệ công dân và tài sản công ty Trung Quốc ở Việt Nam.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa lên tiếng về bài báo của ông Lưu Hồng Dương.

Trong một diễn biến liên quan, Tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, có bài trả lời phỏng vấn hãng tin Đức Deutsche Welle (DW), được đăng trên mạng hôm 20/5.

Ông này cũng nhắc lại về Công hàm Phạm Văn Đồng.

“Năm 1958, Thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

“Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975,” tiến sĩ Ngô nói.

“Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”

Công hàm Phạm Văn Đồng vẫn gây tranh cãi sau 50 năm

Công hàm tranh cãi

Công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958 để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.

Viết trên BBC, Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, cho rằng công hàm “không liên quan gì đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có nghĩa là Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”.

“Bởi thời điểm này 2 quần đảo đang do chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho nhà nước Việt Nam quản lý, thực thi chủ quyền,” ông Trục giải thích.

Tuy vậy, tranh luận trên BBC, ông Lý Thái Hùng, một lãnh đạo của đảng Việt Tân ở Hoa Kỳ, lại nói công hàm “vẫn đã thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông bao gồm luôn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và cho Trung Quốc lý cớ để cột công hàm này vào nền tảng biện minh cho chủ trương xâm lược của họ hiện nay”.

Nói như một nhà nghiên cứu khác, Dương Danh Huy, công hàm có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không là một vấn đề “còn tranh cãi”.

BÀI VĂN 9,5 ĐIỂM GÂY XÔN XAO THÀNH PHỐ VINH !

BÀI VĂN 9,5 ĐIỂM GÂY XÔN XAO THÀNH PHỐ VINH !

Trích EPHATA 611

Trong buổi lễ chào cờ đầu tuần, thầy Lê Trần Bân, Hiệu phó THPT Huỳnh Thúc Kháng ( thành phố Vinh, Nghệ An ) đã đọc bài văn viết về bố của học sinh Nguyễn Thị Hậu. Thầy ngân ngấn nước mắt, cả sân trường xúc động lặng im. Sau hôm đó, người dân thành phố Vinh photo bài văn, chuyền tay nhau đọc.

Nguyễn Thị Hậu, học sinh chuyên Toán lớp 10A2 THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, Nghệ An, chỉ có 45 phút ngồi trên lớp học để viết lên bài văn này. Bài văn với gần 1.500 từ trên 4 trang giấy kiểm tra ướt nhoè nước mắt của Hậu khi làm bài.

Bóng dáng người bố yêu thương hiện lên trang văn, người đọc đường như thấy một chút bóng dáng người bố thân yêu của mình và thôi thúc nuôi dưỡng ước mơ và thúc giục sống tốt hơn. Bài làm văn của em đã viết lên cảm nghĩ chân thực về người cha thân yêu làm nghề xe lai ( xe đạp ôm ), nhưng bị căn bệnh quật ngã ra đi.

Thầy Võ Tuấn Thiện, hiệu trưởng THPT Huỳnh Thúc Kháng, cho biết: “Thầy Bân đọc được nửa bài văn quá xúc động nghẹn lời, ngân ngấn nước mắt. Chúng tôi đều rưng rưng, mến phục thương em Hậu và thôi thúc chúng tôi sống và giảng dạy tốt hơn. Từ nay vào các buổi lễ chào cờ đầu tuần chúng tôi chọn lọc những đề văn và bài làm hay đọc dưới cờ để nhân lên sự yêu thích văn chương của học sinh”.

Ngay sau đó từ học sinh, giáo viên các trường trên địa bàn thành phố Vinh cho đến bà bán nước bác xe ôm đã photo bài văn, chuyền tay nhau đọc. Cứ thế bài văn nhân thêm nhiều bản, và chuyền về tận các huyện…

Đề bài: “Em hãy phát biểu cảm nghĩ về một người thân yêu nhất”

Bài làm:

Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa ? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.

Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng.

Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ. Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió.

Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.

Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.

Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngả bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.

Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38 – 48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.

Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy ? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không ?

Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.

Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.

Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…

Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.

Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố.

Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết mộc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào ? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu ? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc. Không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa.

Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.

Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.

Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không ? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố ? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.

Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.

NGUYỄN THỊ HẬU

( Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng,
Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An )

Lời phê của cô giáo Phan Thị Thanh Vân:

Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động.Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu, em đã cho cô một bài học làm người. Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”.

VỪA TIN CHÚA VỪA MẾN PHẬT, ĐƯỢC KHÔNG ?

VỪA TIN CHÚA VỪA MẾN PHẬT, ĐƯỢC KHÔNG ?

PHÙNG VĂN HÓA

Trích EPHATA 611

Truyền giáo gắn liền với hội nhập và việc hội nhập ấy diễn ra không đâu cụ thể và khó khăn cho bằng nơi các cặp hôn nhân khác đạo. Do sự sắp xếp của một người bạn, vị Tu Sĩ đã được mời đến dự bữa ăn tại nhà hàng cùng với hai vợ chồng, vợ theo Công Giáo, còn chồng theo Phật Giáo ( có phép chuẩn ). Cả hai đều nhất quyết bảo vệ… đạo của mình. Thế nhưng cuộc sống chung đạo ai người ấy giữ, có thể đi đến chỗ đổ vỡ vì một mối lo chung, “lo là vì sau này không biết giáo dục các cháu theo tôn giáo nào ! Dựa vào giáo lý Đức Phật hay Chúa Giêsu để định hướng cho chúng nó, nên mỗi khi đụng đến vấn đề này là vợ chồng cãi nhau” ( Nguồn: Lamhong.org 15.11.2013, Nguyễn ngọc Phú Đa, Truyền giáo ngày nay: Làm sao tin Chúa mà vẫn không mất lòng mến Đức Phật ? ).

Sự xung đột diễn ra giữa các niềm tin tôn giáo là điều không thể tránh, lý do là vì ai cũng muốn bảo vệ niềm tin của mình bất chấp nó đúng hay không đúng. Người vợ rất muốn chồng phải theo Công Giáo. Ngược lại, chồng lại muốn vợ phải theo Phật Giáo. Vị Tu Sĩ hỏi lý do thì cả hai đều có câu trả lời như nhau, là vì gia đình đã theo Chúa hoặc theo Phật từ nhiều đời, nay không có cách chi bỏ được.

Sau khi biết lý do, vị Tu Sĩ bèn thuyết giảng cho người chồng theo Đạo Phật về… Đức Phật thế này: “Trước tiên tôi thấy Đức Phật là một đấng rất đáng kính. Ngài đã dám chấp nhận từ bỏ con đường giàu sang nhung lụa chốn triều đình và đã nhất quyết bỏ lại tất cả khi đã giác ngộ ra chân lý “đời là bể khổ” và ngài đã tìm ra con đường để giải thoát. Con đường ấy được thể hiện trong triết lý Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Bát Chính đạo. Qua đó ngài cũng mời mọi người đi theo con đường mà Ngài đã tìm ra để đạt được hạnh phúc. Đức Phật thật tốt. Tuy nhiên khi được học trò hỏi: Thưa thầy chân lý ở đâu ? Ngài đã không tự nhận mình là chân lý nhưng âm thầm chỉ tay lên trời, chân lý ở trên đó ! Ngài đóng vai trò là người dẫn đưa người ta đến gần Ông Trời, gặp được Ông Trời, và được ở với Ông Trời là chân lý tuyệt đối. Vì thế người Công Giáo chúng tôi rất mến Đức Phật, bởi vì ngài cũng như chúng tôi là tin Ông Trời, gặp được Ông Trời, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa. Tuy có nhiều cách gọi khác nhau nhưng những tước hiệu đó bên chúng tôi gọi ngài qua một tên chung là Thiên Chúa” ( Nguồn: Nguyễn Ngọc Phú Đa, đã dẫn ).

Sau khi nghe… thuyết một hồi như thế thì anh chồng có vẻ đắc trí ( nguyên văn ) tỏ ý muốn theo… Chúa, nhưng còn gặn hỏi: “Bây giờ làm thế nào để con theo Chúa mà không bỏ Đức Phật. Bởi vì con thương và thấy tội Đức Phật quá. Con cũng thấy có một số người khi đã tin theo tôn giáo khác thì ngay lập tức họ quay lưng lại với Đức Phật ! Thậm chí họ coi Đức Phật rất tầm thường, nếu không muốn nói là báng bổ ngài. Nếu mà thầy bắt con cũng như họ là con nhất quyết không theo Đạo Chúa đâu. Tôi bảo anh định theo Chúa là đúng rồi, bởi vì Chúa là Đấng dựng nên trời đất muôn vật muôn loài trong đó có loài người và cũng có cả Đức Phật luôn” ( Nguồn: Nguyễn Ngọc Phú Đa, đã dẫn ).

Chẳng biết chuyện kể này… thật hư thế nào, nhưng qua đây cũng có thể thấy được quan điểm của không ít người Công Giáo về Đạo Phật cũng như về Đức Phật. Theo họ thì Phật Thích Ca cũng chỉ là người như bao người khác đã được tạo dựng bởi Đấng Thần Linh Tạo Hóa và vì thế chỉ có thể đáng mến chứ không thể tôn thờ. Dẫu vậy cái sự… đáng mến ấy sở dĩ có là vì Đức Phật cũng… tin có Ông Trời !?!

Thương như thế thì cũng chẳng bằng mười phụ nhau, có nghĩa đã… mạ lỵ Đức Phật một cách trắng trợn đấy chứ chẳng phải không ! Niềm tin có Ông Trời hay còn gọi là Thượng Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế v.v… sinh ra và cai quản muôn loài, đó chỉ mang tính chất dân gian chứ không phải tôn giáo. Lấy tính chất dân gian gán cho tôn giáo, điều ấy không khỏi khiến con đường tâm linh trở nên bế tắc. Làm sao không bế tắc, bởi lẽ đường tâm linh là đường tìm kiếm: “Các ngươi hãy tìm Ta và gặp được khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng” ( Gr 29, 13 ).

Đường tâm linh là đường tìm kiếm, nhưng nên nhớ việc tìm kiếm ấy không phải là tìm cái chi đó ở bên ngoài, nhưng là quay trở về với Đấng ở nơi mình: “Hãy trở lại cùng Ta thì Ta sẽ trở lại cùng ngươi” ( Ml 3, 7 ). Quay trở về với chính mình, đây là mệnh lệnh của tâm linh tôn giáo nhưng cũng là của minh triết: “Hãy tìm cho biết về chính mình ngươi” ( Connais toi – Toi même ), người ta thấy lời này được khắc ghi trên cổng lối vào Đền Delphe của Hy Lạp cổ, như nhắc nhở con người rằng chân lý chỉ có thể tìm thấy khi biết quay trở về với chính mình.

Mặc dầu vậy, đối với triết học thì nhắc nhở chỉ là nhắc nhở, bởi lẽ trước sau nó vẫn cứ là duy lý, không thể khác. F. Nietzche ( 1844 – 1900 ), ông tổ của triết học hiện sinh vô thần, đã nặng lời phê phán Socrates, cho rằng ông này “…như người dẫn trẻ đến vườn mà không chỉ cho lối vào: Bảo hãy biết chính ngươi, mà không có phương pháp, nên môn sinh người thì tìm vào sinh vật học như Aristotes, người thì như Platon thì bám vào thế giới lý niệm. Tất cả mong mỏi tìm biết nhưng rút cục như Faust đi đến chỗ bán linh hồn để mua tri thức mà không đạt được” ( Kim Định – Nhân Bản, NXB. Ra Khơi 1965 ).

Tất cả mong mỏi tìm biết đến nỗi bán cả linh hồn cũng không được, lý do là bởi tri thức ấy muôn đời chỉ là cái biết của sự phân biệt. Bao lâu còn phân biệt là còn thấy có người, có vật ở ngoài mình, thậm chí ngay cả Thiên Chúa khi ấy cũng chỉ là một thứ sự vật, một thứ khái niệm chết khô. Lấy tri thức để hòng tìm biết Thiên Chúa chỉ vô ích, bởi lẽ Thiên Chúa là thực tại vượt thoát khỏi mọi ý niệm ngôn ngữ.

Tất cả nguyên nhân đưa đến khủng hoảng của Giáo Hội từ trước đến nay là do đã lầm tri thức với thực tại. Chính vì sự lầm lẫn ấy nên thay vì tìm kiếm Thiên Chúa Đấng chưa ai từng thấy biết ( Ga 1, 18 ), Thần Học lại theo đuổi một thứ tri thức tìm biết về cái căn nguyên sinh thành vũ trụ: “Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng” ( La Philosophie est la science des choses par leurs causes suprêmes, Trần Thái Đỉnh – Triết Học Hiện Sinh ).

Trong cuộc sống thường nhật, người ta thấy không có gì lại không có nguyên nhân. Cái nhà không thể tự mình có mà phải có người làm ra cái nhà. Cơm không thể tự chín mà phải có người nấu mới thành cơm v.v… và v.v… Từ đó suy ra thì cả vũ trụ này với muôn vàn tinh tú vận hành trong trật tự vĩnh hằng thì lý đương nhiên ắt cũng phải có đấng sinh ra nó ? Sự suy ra ấy đã được thần học trong đó có cả Thánh Thomas Aquino, lập luận thế này: mọi sự đều có nguyên nhân nhưng do không thể có một chuỗi vô tận các nguyên nhân ngẫu nhiên nên chuỗi này nhất thiết phải dừng lại ở một nguyên nhân đầu tiên, hay còn gọi là nguyên nhân tối cao, và đó chính là Thượng Đế, là Tạo Hóa.

Thật sự thì trong thiên nhiên vạn vật không có bất cứ cái gì do ngẫu nhiên, nhưng nếu bảo rằng cần có Đấng Tạo Hóa để điều hòa trật tự trong vũ trụ, thì đấng ấy nếu có, xét ra cũng chỉ tương đương như một kiến trúc sư hay một nhà quản trị thôi sao ? Mặt khác, Tạo Hóa chẳng lẽ chỉ điều hòa trật tự trong vũ trụ thiên nhiên, còn con người thì sao ? Đang khi đó chính con người và cuộc sống, tức hạnh phúc hay khổ đau của nó, mới là đối tượng tôn giáo cần nhắm tới. Tôn giáo có mặt không phải là để nêu lên những vấn nạn siêu hình, nhưng là để giải quyết nó cho đến tận căn.

Đức Phật trả lời cho vị Tỳ Kheo: “Này Malunkyaputta, Như Lai không hề nêu lên vấn đề thế gian  có vĩnh cửu hay không, thế gian có giới hạn hay vô tận. Tại sao ? Bởi vì những điều ấy không tạo ích lợi, không thể làm nền tảng cho đời sống phạm hạnh, không chấm dứt sân hận phiền não, không dẫn đến sự dập tắt, sự vắng lặng, trí tuệ, sự giác ngộ hay là Niết Bàn. Vì vậy Như Lai không đề cập đến những vấn đề ấy” ( Thiền sư Nãrada Thera – Đức Phật và Phật Pháp ).

Đức Phật không trả lời những vấn nạn siêu hình bởi nó chẳng ích lợi gì cho việc chấm dứt khổ đau. Để chấm dứt khổ đau thì chỉ có một con đường, đó là nhận biết sự thật. Ngay sau khi thành đạo, Đức Phật thuyết giảng về bốn sự thật ( Tứ Diệu Đế ) đó là:

1. Khổ Đế: Cõi đời là đau khổ, dù cho có danh vọng giàu có tài trí đến đâu cũng không ai có thể thoát khỏi sinh lão bệnh tử, xa lìa người thân, gần gũi kẻ thù.

2. Tập Đế: Tất cả những khổ đau ấy không phải do ngẫu nhiên nhưng đã được kết tập từ nhiều đời nhiều kiếp. Nói cách khác, khổ đau chỉ là cái quả của cái nhân do chính mình gây ra.

3. Diệt Đế: Nếu khổ chỉ là cái quả của nhân do mình gây ra, thì cũng chỉ có mình mới có thể chấm dứt nó.

4. Đạo Đế: Có tám con đường ( Bát Chánh Đạo ), tức phương pháp tu hành cần noi theo để đi đến chỗ an lạc tuyệt đối là Niết Bàn.

Đức Phật đã từ bỏ ngôi báu thái tử để dấn thân trên con đường tu tập, trải qua muôn vàn hiểm nguy gian khổ mới có thể đem đến cho nhân loại con đường giải thoát sinh tử ấy. Đối với những người theo Phật ( Phật Tử ) thì việc biết ơn là lẽ đương nhiên và sự biết ơn ấy còn đi đôi với lòng yêu mến, bởi vì Ngài đã đem đến cho mình con đường thoát khổ một cách chắc chắn. Người ta vẫn nói có biết thì mới mộ mến, còn ngược lại thì không ( Vô tri bất mộ ). Có thể nói người Công Giáo chúng ta sở dĩ không có lòng mến mộ Đức Phật là vì đã thiếu sự hiểu biết cần thiết về Ngài cũng như về con đường của Ngài. Chính bởi vậy vấn đề đặt ra cho việc truyền giáo hội nhập hôm nay là phải làm sao có được sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về Đạo Phật.

Rất có thể có những e ngại rằng nếu hiểu Đạo Phật, biết đó là con đường chân chính thoát khổ thì người ta sẽ bỏ Công Giáo để theo Phật Giáo hay chăng ? Thực tế điều ấy cũng đã xảy ra, có ký giả người Ý, ông Vittorio Messori đã thưa với Đức Gioan Phaolô 2: “ Như Đức Thánh Cha đã biết, hình như giáo lý giải thoát của Phật Giáo đang lôi cuốn một số lớn người Tây Phương như để thay thế cho Kitô Giáo, hay như một thứ bổ túc, ít ra là về những gì liên quan tới kỹ thuật tu đức và thần bí” ( Bước Vào Hy Vọng – Câu hỏi số 14 ).

Có một số lớn trí thức Tây Phương bị giáo lý Phật Giáo lôi cuốn, đó là thực tế không thể phủ nhận. Tuy nhiên cần nhận ra lý do của nó, phải chăng là vì giáo lý Công Giáo của chúng ta thực sự có vấn đề, nghĩa là vẫn còn xiển dương một Đấng Thần Linh Tạo Hóa. Một khi còn xiển dương Đấng được gọi là Tạo Hóa ấy thì sẽ không bao giờ có thể nhận ra vai trò Thiên Sai của Đấng Cứu Độ: “Vừa rạng ngày, Ngài ra đi đến nơi vắng vẻ. Có quần chúng kéo đi tìm Ngài theo kịp, muốn giữ Ngài lại không cho Ngài đi khỏi họ. Nhưng ngài nói cùng họ rằng: “Ta cũng cần phải rao giảng Tin Mừng Nước Đức Chúa Trời cho các thành thị khác, vì cốt tại việc đó mà Ta được sai đến” ( Lc 4, 42 – 43 ).

Rao giảng Tin Mừng Nước Trời, đó cũng là rao giảng Sự Thật, bởi vì Nước Trời ấy là nước nội tại trong tâm mỗi người ( Lc 17, 20 – 21 ). Con người do bởi vô minh che lấp thế nên không thể nhận biết và sống với Bản Tinh Chân Thật của mình. Bản tính ấy với Đạo Phật là Phật Tánh, còn với Đạo Chúa là phẩm vị Con Thiên Chúa. Bao lâu còn bị trói buộc trong vòng vô minh mà Kinh Thánh gọi là Tội Nguyên Tổ ấy thì con người không sao có thể thoát khỏi khổ não. Phật Thích Ca cũng như Chúa Giêsu Kitô xuất hiện ở nơi cõi thế cũng không ngoài mục đích rao giảng sự thật để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi sự trói buộc của vô minh đó thôi.

Dẫu vậy, chúng ta cần nhận ra sự khác biệt giữa Phật Thích Ca và Chúa Giêsu Kitô trong công cuộc cứu khổ cứu nạn này.

Phật Thích ca rao giảng Bốn Sự Thật ( Tứ Diệu Đế ) như là nguyên lý tối thượng phải theo hầu thoát khổ. Còn Chúa Kitô thì lấy chính mạng sống mình làm giá cứu chuộc: “Ấy vậy Cha thương yêu Ta vì Ta bỏ mạng sống ta để lấy lại. Chẳng ai có thể lấy mạng sống Ta được nhưng Ta tự bỏ. Ta có quyền bỏ đi cũng có quyền lấy lại. Mạng lịnh ấy Ta đã nhận lãnh ở nơi Cha Ta” ( Ga 10, 17 – 18 ).

Bởi Chúa Kitô đã chịu chết để vâng phục Thánh Ý, chính vì vậy nên Ngài cùng với Chúa Cha đã trở nên một: “Ai tin Ta chẳng phải tin Ta nhưng là tin Đấng đã sai Ta. Còn ai thấy ta tức là thấy Đấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đến thế gian hầu hễ ai tin ta thì chẳng cứ ở trong tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không vâng giữ thì Ta chẳng xét đoán kẻ đó, vì Ta đến chẳng để xét đoán nhưng để cứu rỗi thế gian” ( Ga 12, 44 ).

Tin và theo Chúa, đó là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi đời đời của mỗi người, ấy là vì lòng tin ấy sẽ dẫn đưa ta đến với Chúa Cha: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). Tin theo Chúa để được cứu rỗi, thế nhưng tin Chúa thế nào được nếu không ở trong Giáo Hội do Người thiết lập ? Lý do cần phải “Ở” trong Giáo Hội bởi mỗi Kitô Hữu chúng ta, dầu là Giáo Sĩ hay Giáo Dân cũng đều là chi thể trong Thân Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Là chi thể thì phải gắn kết với thân mới có thể sinh hoa kết quả, trái lại thì không. Những con người gọi là trí thức Tây Phương đó đã rời bỏ Giáo Hội để ngả theo Phật Giáo, họ có được gì đâu ngoài ra một mớ kiến thức vô bổ về triết học này nọ. Phương pháp dù có hay đến đâu nhưng nếu không áp dụng thực hành đến nơi đến chốn thì chẳng những chẳng ích lợi gì mà còn mang họa.

Người Công Giáo nếu có mến Phật thì cũng chỉ nên coi đó như một phương pháp tu tập giúp ta đi sâu vào bản tâm mà thôi… Còn như nói rằng mến Phật chỉ vì ngài cũng tin có Ông Trời như mình thì quả là… lố bịch ! Trong bất cứ thời nào, bản chất của Giáo Hội vẫn là theo đuổi việc truyền giáo, thế nhưng việc truyền giáo ấy sẽ không thể kết quả nếu không rao giảng Tin Mừng Nước Trời của Đức Kitô, bởi vì chỉ với Nước Trời ấy mà con người mới “Hòa” được với Thiên Chúa và với nhau : “Mọi sự đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người và trao cho chúng tôi chức vụ giải hòa” ( 2Cr 5, 18 ).

PHÙNG VĂN HÓA

Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa

Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, tường thuật tại điểm nóng giàn khoan Hải Dương 981, gần quần đảo Hoàng Sa, trên boong tàu Cục Kiểm Ngư (18/5/2014)

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, tường thuật tại điểm nóng giàn khoan Hải Dương 981, gần quần đảo Hoàng Sa, trên boong tàu Cục Kiểm Ngư (18/5/2014)

 

Trà Mi-VOA

24.05.2014

Căng thẳng đối đầu giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc xung quanh khu vực giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa có phần hạ giảm khi Việt Nam chuyển hướng thôi đáp trả các vụ tấn công và phun vòi rồng của phía Trung Quốc.

Ký giả Vũ Hoàng Lân từ California, sáng lập viên chương trình PhoBolsaTV, người vừa tham gia các chuyến đi thực tế ra thăm Trường Sa (ngày 18 đến 27 tháng 4) và Hoàng Sa (ngày 17 đến 20 tháng 5), chia sẻ những gì anh tận mắt chứng kiến sau hai cuộc hải trình đặc biệt này trên Tạp chí Thanh Niên đài VOA hôm nay.

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn

Vũ Hoàng Lân: Tôi đi chung tàu với một nhóm viên chức của Cục Kiểm Ngư Việt Nam, trong đó có ông Cục trưởng. Vì thế, không được tiếp cận (tàu Trung Quốc) theo cách mà các tàu Việt Nam thường vẫn làm với giàn khoan này, tức là đi sát vào trong khu vực đó để tuyên truyền cho phía Trung Quốc biết rằng đây là lãnh hải của Việt Nam và Trung Quốc cần phải đi ra xa. Tuy nhiên, chiếc tàu này cũng đi tương đối sát, có lúc khoảng 7 hải lý tính từ giàn khoan đó. Thỉnh thoảng có những lúc tôi thấy có 5-6 tàu Trung Quốc chĩa thẳng chạy về hướng tàu này. Có những lúc vào ban đêm, tàu này ngưng máy để thả trôi, trôi về phía giàn khoan đó. Khi quá gần thì phía Trung Quốc bật đèn pha rất sáng, rọi thẳng vào tàu thì tàu lại nổ máy chạy ra xa.

Trà Mi: Anh thấy khoảng cách giữa tàu Việt Nam với các tàu Trung Quốc bao xa thì bị họ xua đuổi?

Vũ Hoàng Lân: Các vị đó nói thời gian đầu khoảng 3-4 hải lý thì mới bị xua đuổi, bây giờ thì cách 5-7 hải lý thì đã bị xua đuổi rồi. Khi một tàu Việt Nam vào thì có 2 tới 4 tàu Trung Quốc vây. Phía Việt Nam tuyên truyền kiểu Việt Nam, còn Trung Quốc tuyên truyền kiểu Trung Quốc. Tàu Trung Quốc nói đây là khu vực của Trung Quốc, phía Việt Nam phải đi ra nếu không sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nếu mình không đi, họ phun vòi rồng và có thể tông thẳng vào tàu của Việt Nam. Vòi rồng thì rất mạnh. Tôi lên các tàu đã từng bị phun vòi rồng thấy những thanh sắt bằng bắp tay người bị sức phun của vòi rồng làm cong hẳn 90 độ, các loại kính bị bể tan tành hết. Tôi gặp 3 chiếc, một của Kiểm Ngư, một của Cảnh sát biển, và một của ngư dân bị vòi rồng phun như vậy. Kính bị bể hết, nước vào trong tàu làm hư toàn bộ hệ thống điện.

Trà Mi: Trong chuyến hải trình từ ngày 17 đến 20 tháng 5, anh có chứng kiến những vụ việc nào đáng tiếc xảy ra giữa đôi bên không?

Vũ Hoàng Lân: Không thấy chuyện gì xảy ra giữa đôi bên trong thời gian đó cả vì tàu này không tới đủ gần để thấy điều đó. Đúng ngày 17 tháng 5 tôi có nghe có tàu bị tông vào, nhưng tôi không trực tiếp nhìn thấy. Họ nói rất rõ ràng rằng tàu Việt Nam chủ trương tránh va chạm, nghĩa là khi bị tàu Trung Quốc phun nước hoặc tông thì không tông hay phun nước lại mà bỏ chạy ra ngoài. Tàu Việt Nam đi vào đủ để cho Trung Quốc biết rằng Việt Nam vẫn đang phản đối, nhưng đến khi căng thẳng như vậy thì họ lại lui ra. Nhưng họ cứ mỗi ngày đều có đi vào, thứ nhất để nói cho Trung Quốc biết như vậy, thứ hai để quan sát thêm những hoạt động trên giàn khoan như thế nào.

Một trong nhiều tàu Kiểm Ngư Việt Nam bị Trung Quốc đâm móp.

Một trong nhiều tàu Kiểm Ngư Việt Nam bị Trung Quốc đâm móp.

Trà Mi: Qua trao đổi với ngư dân và cảnh sát biển ở đó, anh ghi nhận cảm xúc, phản ứng, tâm tư tình cảm của họ như thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Mình nói chuyện nhiều với mấy người kiểm ngư, cảnh sát biển trên khu vực đó, họ cho biết thấy rất khó khăn với chủ trương không phản trả lại ở thời điểm hiện nay. Họ nói Trung Quốc vào đất nước Việt Nam, xua đuổi tàu Việt Nam ngay trong đất nước Việt Nam mà họ vẫn phải chấp nhận bỏ chạy chứ không đánh trả lại là điều rất khó khăn đối với họ. Tôi có tiếp xúc với một tàu của ngư dân bị Trung Quốc tông vào gây thiệt hại nhiều do thuyền trưởng Trương Văn Hải ở Đà Nẵng làm thuyền trưởng. Ông ấy nói yêu cầu phải có thêm sự trợ giúp từ phía các lực lượng của Việt Nam. Ông nói phía Trung Quốc, tàu đánh cá được tàu hải giám kè kè mà phía Việt Nam thì không có. Sau đó, tôi có nói chuyện với những người trong Cục Kiểm ngư. Họ nói Trung Quốc xuống đây đánh cá là trái lẽ nên phía Trung Quốc phải đem tàu hải giám ra kè. Còn ngư trường này là của Việt Nam, người Việt đánh cá ở đây là chuyện bình thường. Họ nói nếu hai tàu của các lực lượng đi kè bảo vệ 1 tàu cá của ngư dân thì Trung Quốc sẽ làm gấp đôi, gấp ba, sẽ leo thang căng thẳng nữa. Ở đây phải nói rõ là Việt Nam tuyên bố hoàn toàn không đưa bất cứ một lực lượng quân sự nào ra cả. Hiện nay chỉ nằm trong vòng Cảnh sát biển và Cục Kiểm ngư. ​

Trà Mi: Với tình hình anh mô tả, tại hiện trường cho thấy ưu thế hoàn toàn thuộc về phía Trung Quốc, họ quyết tâm bảo vệ hoạt động của giàn khoan, bất khả xâm phạm. Phía Việt Nam không làm được gì hơn ngoài mỗi ngày ra “tuyên truyền.” Vậy Việt Nam có cách nào thực thi hiệu quả vấn đề chủ quyền và chống vi phạm chủ quyền, họ có phương án nào khác nữa hay không? Anh có đặt câu hỏi đó với giới hữu trách?

Không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ…Mình nghĩ một cách khách quan là Việt Nam không thể làm gì hơn được trong việc này.

Vũ Hoàng Lân
Vũ Hoàng Lân: Đó là chiến lược hiện nay Việt Nam đang theo đuổi: vẫn tiếp tục cho Trung Quốc hiểu rằng Trung Quốc không thể yên ổn đặt giàn khoan ở đó. Và họ cũng hiểu rằng nếu Trung Quốc muốn rút Trung Quốc phải có cớ nào đó, ví dụ như đợi ngày đáo hạn vào tháng 8 mà Bắc Kinh loan báo sẽ hoàn thành thăm dò.

Trà Mi: Có vẻ giải pháp cuối cùng cho Việt Nam là phải chờ đến hết thời gian thăm dò của giàn khoan ở đó thì Trung Quốc mới rút về, chứ hiện nay không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ?

Vũ Hoàng Lân: Không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ trong vụ này. Mình nghĩ một cách khách quan là Việt Nam không thể làm gì hơn được trong việc này. Việt Nam không thể nào manh động dùng quân sự, cái mà Trung Quốc đang trông đợi nhất. Và Việt Nam sẽ không để cho Trung Quốc có cơ hội đó.

Trà Mi: Anh có cảm nhận thế nào từ những gì mắt thấy tai nghe tại hiện trường?

Vũ Hoàng Lân: Tôi nghĩ cần cố gắng làm sao đừng để xảy ra chiến tranh vì nếu có chiến tranh sẽ rất lỗ lã về phía Việt Nam. Hiện nay, tôi đang có mặt tại thành phố Đà Nẵng, nơi có rất đông du khách là Trung Quốc. Bây giờ họ gần như rút hết về nước. Họ không tới ăn chơi gì ở đây nữa. Việc này cho thấy tất cả những biến động gì đều rơi ngược ngay lập tức vào đời sống bình thường của người dân Việt Nam. Về đây, tiếp xúc với người dân, với thực địa, mình thấy vấn đề manh động là rất khó.

Trà Mi: Mình không nói tới mức manh động, mà nói tới khả năng có mức cứng rắn hơn những gì Việt Nam đang làm hiện giờ…

Vũ Hoàng Lân: Tôi hỏi chuyện họ, tôi không thấy họ có bất cứ một giải pháp nào.

Ngư dân từ Đà Nẵng kể chuyện bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể tàu gỗ.

Ngư dân từ Đà Nẵng kể chuyện bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể tàu gỗ.

Trà Mi: Tiếp xúc với giới chức và người dân Việt Nam trong chuyến đi này, anh thấy cách phản ứng giữa dân chúng và nhà nước trước cùng sự việc (giàn khoan Trung Quốc) khác nhau thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Cả dân lẫn nhà nước lần này đều phản đối hành động của Trung Quốc. Cái đó quá rõ ràng, ai cũng thấy. Khác nhau là ở cách biểu hiện ra. Người dân tẩy chay hàng hóa, nhà máy, và khách hàng Trung Quốc. Khách sạn thì không tiếp người Trung Quốc..v.v..Nhà nước rõ ràng không có chủ trương làm như vậy. Hậu quả của việc đó bắt đầu tác động lên vấn đề làm ăn buôn bán ở đây. Ở Bình Dương nhà máy Trung Quốc, Đài Loan bị đập phá bây giờ hàng ngàn người không có công ăn việc làm ở Bình Dương.

Trà Mi: Khi anh ra Trường Sa, anh ghi nhận được những gì?

Vũ Hoàng Lân: Chuyến đi Trường Sa và chuyến đi Hoàng Sa hoàn toàn khác nhau. Hoàng Sa thì Trung Quốc lấy từ năm 1974 rồi, bây giờ họ xây cất dữ dội rồi. Trường Sa thì hiện nay Việt Nam gần như chủ đạo trong vấn đề chủ quyền ở khu vực đó, với 21 đảo gồm 9 đảo nổi và 11 đảo đá ngầm. Những chuyến đưa người, kể cả người Việt ở hải ngoại, ra Trường Sa để thăm hỏi nằm trong chủ trương mà Việt Nam muốn làm để khẳng định chủ quyền ở vùng đất đó.​

Trà Mi: Ra Trường Sa, anh thấy cộng đồng người Việt sinh sống, làm ăn ở đó thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Người Việt ở đó sống giống như quân đội vậy: chồng đi đánh cá, vợ vào phụ các công việc trong các doanh trại của hải quân. Những đảo lớn thì như vậy. Những đảo nhỏ quá, nhất là những đảo đá ngầm, thì ở đó chỉ có quân sự thôi.

Trà Mi: Tình hình ở Trường Sa có gặp khó khăn gì từ phía Trung Quốc không?

Vũ Hoàng Lân: Trường Sa thì không có khó khăn gì với Trung Quốc trừ đảo Gạc Ma mà Trung Quốc đã đánh chiếm từ năm 1988. Trung Quốc đã tập trung vào đó xây dựng. Chuyến vừa rồi đi qua, tôi thấy Trung Quốc bắt đầu húc cát lên đổ cho đảo đó to ra để làm sân bay. Việt Nam không can thiệp được vào chỗ Gạc Ma. Chỗ này Trung Quốc chiếm và giữ rất kỹ. Lúc chúng tôi đi ngang đó dừng tàu lại ở khu vực Collins-Gạc Ma-Lansdowne, tôi thấy họ húc cát lên trắng xóa và xung quanh cả chục chiếc tàu của họ đậu. Trong 11 đảo đá ngầm ở Trường Sa, không có người dân. 9 đảo kia cũng không phải đảo nào cũng có dân. Những đảo lớn như Trường Sa, Sơn Ca, Song Tử Tây thì có. Đa số, nhưng không phải là tất cả, đảo đều có dân sinh sống.

Trà Mi: Mật độ dân cư ở đó thế nào? Sự hiện diện quân sự, đồn bốt ở đó có nhiều không?

Vũ Hoàng Lân: Cái đó thì vô kể. Có thể nói những đảo đó là khu quân sự. Cho tới thời điểm này quân sự ở đây rất chặt. Giao thông hào chạy khắp đảo, đặc biệt là khu ven biển giao thông hào bọc xung quanh. Ngoài biển họ dựng có những cái cọc gọi là cọc chống đổ bộ, chỉ chừa một đường để tàu chạy thẳng vào trong đảo thôi. Nói chung vấn đề quân sự rất chặt chẽ trên mấy đảo đó. Mỗi đảo có khoảng 7 hộ dân. Chia sẻ thêm, không phải về điều mình nhìn thấy mà về điều mình cảm nhận: Trường Sa-Hoàng Sa là vấn đề hết sức phức tạp. Mình nghĩ, chính quyền Việt Nam dù có giữ bí mật thế nào đi nữa cũng nên cố gắng thêm thông tin nhiều chừng nào tốt chừng đó cho người dân trong và ngoài nước để người dân có thái độ cho đúng. Nhiều khi người dân ở đây hoặc ở Mỹ có những phát biểu, ý thức, hoặc ý muốn xa rời thực tế vì thiếu thông tin. Đó là điều mình muốn chia sẻ.

Trà Mi: Xin cảm ơn anh đã dành thời gian cho Tạp chí Thanh Niên VOA trong cuộc trao đổi hôm nay.

Một số hình ảnh từ chuyến đi của ký giả Vũ Hoàng Lân:

Cán bộ Cục Kiểm Ngư Việt Nam nói về tại nạn bị tàu hải giám Trung Quốc đâm. Cán bộ này cho biết những tấm đệm quanh mạn tàu Trung Quốc bị rớt lại trên tàu Việt Nam.

Cán bộ Cục Kiểm Ngư Việt Nam nói về tại nạn bị tàu hải giám Trung Quốc đâm. Cán bộ này cho biết những tấm đệm quanh mạn tàu Trung Quốc bị rớt lại trên tàu Việt Nam.

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, phỏng vấn Chính trị viên tàu Cảnh sát biển CSB 8001

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, phỏng vấn Chính trị viên tàu Cảnh sát biển CSB 8001
Ngư dân tự sửa chữa tàu cá sau khi bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể

Ngư dân tự sửa chữa tàu cá sau khi bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Vương Quốc Giordani

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Vương Quốc Giordani

LM. Trần Đức Anh OP

5/24/2014

AMMAN. Trưa ngày 24-5-2014, ĐTC Phanxicô đã đến thủ đô Amman của Giordani, chặng đầu tiên trong chuyến viếng thăm Thánh Địa trong vòng 3 ngày cho đến hết thứ hai, 26-5 tới đây, nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Athenagoras của Giáo Hội Chính Thống Constantinople, là vị đứng đầu trong tất cả các vị Thượng Phụ Chính Thống giáo.

Cuộc viếng thăm được giới báo chí quốc tế mô tả là rất khó khăn, xét vì tình hình địa phương, nhưng ĐTC đã đặt biến cố này dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Thực vậy, sáng thứ sáu 23-5-2014, ngài đã trở lại Đền Thờ Đức Bà Cả lần thứ 8 để cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ là Phần Rỗi của dân Roma và phó thác cho Mẹ cuộc viếng thăm này.

Cuộc gặp gỡ cách đây nửa thế kỷ giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Athenagoras đáng kỷ niệm đặc biệt vì đã mở ra một trang mới trong lịch sử ngàn năm giữa hai khối Giáo Hội và chuyến viếng thăm lần này của ĐTC Phanxicô không những để kỷ niệm biến cố đó, nhưng còn nhắm tăng cường các quan hệ đại kết, và không quên phát triển cuộc đối thoại liên tôn với Hồi giáo.

Cùng đi với ĐTC trên chuyến bay dài 4 tiếng từ Roma có 30 vị thuộc đoàn tùy tùng và 70 ký giả quốc tế.

Vương quốc Giordani chỉ rộng gần 89 ngàn cây số vuông, bằng 1 phần 4 Việt Nam, nhưng lại rộng gấp quá 4 lần lãnh thổ của Israel và Palestine cộng lại, vì hai nước này chỉ có 20.700 cây số vuông, tuy rằng họ có dân số đông hơn, gần 8 triệu người, so với 6 triệu 400 ngàn dân cư của Giordani. Cũng vậy về con số tín hữu Công Giáo: tại Giordani chỉ có 107 ngàn tín Công Giáo, trong khi tại Israel và Palestine có 266 ngàn tín hữu Công Giáo, tức là gần gấp 3.

Tại Giordani có 3 giáo phận với 4 GM và 69 giáo xứ và 143 LM triều và dòng, 210 nữ tu. Các tín hữu Công Giáo la tinh ở Giordani thuộc quyền Tòa Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem với Đức Thượng Phụ hiện nay là Fouad Twal, người Giordani.

Đón tiếp

Từ trên máy bay bước xuống, ĐTC đã được đại diện Quốc vương Abdullah II là hoàng thân Ghazi bin Muhammed, cố vấn trưởng về tôn giáo và văn hóa của quốc vương, tiếp đón, cùng với đại diện của giáo quyền, trong đó có Đức Thượng Phụ Fouad Twal, các GM và Cha Pierbattista Pizzaballa, Bề trên dòng Phanxicô tại Thánh Địa tiếp đón. Hai em bé, một trai một gái, dâng tặng ĐTC đóa hoa phong lan (orchidea) màu đen là biểu tượng của Vương quốc Giordani. Trong khi 200 trẻ em đón chào ngài bên trong sân bay và 2 ngàn em khác chờ ngài từ bên ngoài phi trường.

Có 10 người gia nhập phái đoàn chính thức của ĐTC sau khi ngài đặt chân lên đất Giordani, đặc biệt là Rabbi Do thái Abraham Skorka, Viện trưởng Học viện đào tạo Rabbi ở Buenos Aires, và Imam Hồi giáo Omar Abboud, Tổng thư ký tổ chức đối thoại liên tôn, cả hai đều là bạn của ĐTC từ khi ngài là TGM giáo phận thủ đô của Argentina.

Liền đó, ngài cùng với đoàn tùy tùng đi xe về hoàng cung Al-Husseini ở trung tâm thủ đô Amman cách đó 38 cây số nơi diễn ra nghi thức đón tiếp chính thức. Quốc vương và hoàng hậu Rania đón tiếp ĐTC ngay tại cổng vào hoàng cung và tiến qua đoàn quân danh dự.

Vua Abdullah 2 là cháu đích tôn 43 đời của Ngôn sứ Muhammad sáng lập Hồi giáo. Còn hoàng hậu Rania năm nay 44 tuổi là người Palestine sinh trưởng tại Kuwait.

Diễn văn đầu tiên của ĐTC

Trong lời đáp từ sau lời chào mừng của Vua Abdullah, ĐTC nói bằng tiếng Ý:

”Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì được viếng thăm Vương quốc Giordani, theo vết các vị tiền nhiệm của tôi Phaolô 6, Gioan Phaolô 2 và Biển Đức 16, và tôi cám ơn Quốc Vương Abdullah II vì những lời chào đón nồng nhiệt, nhớ lại cuộc viếng thăm mới đây của Quốc vương tại Vatican. Tôi cũng chào thăm Hoàng gia, chính phủ và nhân dân Giordani, đất nước có lịch sử phong phú và ý nghĩa lớn về mặt tôn giáo đối với Do thái, Kitô và Hồi giáo.

”Đất nước này quảng đại đón tiếp đông đảo ngừơi tị nạn Palestine, Irak và những người đến từ các vùng khác bị khủng hoảng, đặc biệt là từ Siria láng giềng, bị đảo lộn vì cuộc xung đột kéo dài đã quá lâu. Sự đón tiếp đó đáng được cộng đồng quốc tế ngưỡng mộ và hỗ trợ. Giáo Hội Công Giáo theo khả năng của mình, muốn dấn thân trong việc trợ giúp người tị nạn và những người sống trong cảnh túng thiếu, đặc biệt là qua trung gian của Caritas Giordani. ”Trong khi tôi đau lòng nhận thấy những căng thẳng cao độ vẫn kéo dài ở vùng Trung Đông, tôi cám ơn chính quyền của Vương quốc Giordani vì những gì đang thực hiện và tôi khích lệ tiếp tục dấn thân trong việc tìm kiếm hòa bình lâu bền mong ước cho toàn vùng; để đạt mục đích ấy, người ta thấy hơn bao giờ hết cần có một giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng ở Siria, và giải pháp công chính cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine.

”Nhân cơ hội này, tôi tái bày tỏ lòng kính trọng sâu xa và sự quí chuộng của tôi đối với Cộng đoàn Hồi giáo, đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Quốc vương trong việc thăng tiến một sự hiểu biết thích hợp hơn về các nhân đức mà Hồi giáo tuyên dạy, cũng như sự sống chung thanh thản giữa tín đồ các tôn giáo khác nhau. Tôi biết ơn đối Giordani vì đã khích lệ các sáng kiến quan trọng cổ võ cuộc đối thoại liên tôn để thăng tiến sự cảm thông giữa người Do thái, Kitô và Hồi giáo, trong đó có sáng kiến ”Sứ điệp liên tôn từ Amman” và vì đã cổ võ giữa lòng LHQ việc cử hành hàng năm ”tuần lễ hòa hợp giữa các tôn giáo”.

”Giờ đây tôi muốn thân ái gửi lời chào thăm các cộng đoàn Kitô hiện diện tại đất nước này từ thời các thánh Tông Đồ, và đang góp phần xây dựng công ích của xã hội trong đó họ hoàn toàn hội nhập. Tuy ngày nay con số của họ bị giảm bớt, nhưng họ vẫn có cách thi hành một hoạt động có chất lượng cao và được quí chuộng trong lãnh vực giáo dục và y tế, qua các trường học và nhà thương, và họ có thể yên hàn tuyên xưng đức tin, trong niềm tôn trọng tự do tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, và tôi nồng nhiệt cầu mong quyền này được đặc biệt tôn trọng ở mọi nơi tại Trung Đông cũng như trên toàn thế giới. Quyền này bao gồm tự do cá nhân và tập thể được chọn lựa tôn giáo mà mình tin là thật và công khai bày tỏ tín ngưỡng của mình” (Biển Đức 16, Tông huấn ”Giáo Hội tại Trung Đông”,26). Các tín hữu Kitộ cảm thấy và là những công dân đúng nghĩa và muốn góp phần vào việc xây dựng xã hội cùng với các đồng bào Hồi giáo của họ, đóng góp phần đặc thù của mình.

Sau cùng tôi đặc biệt cầu chúc hòa bình và thịnh vượng cho Vương quốc Giordani, cho nhân dân nước này, và tôi cầu mong cuộc viếng thăm này góp phần gia tăng và thăng tiến những quan hệ tốt đẹp và nồng nhiệt giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo”.

Ngài cũng ứng khẩu cám ơn Vua Abdullah đã bảo vệ cộng đồng Kitô tại Giordani và là một người hòa bình, người xây dựng hòa bình.

Cử hành thánh lễ đầu tiên

Giã từ hoàng gia Giordani, ĐTC đã tới sân vận động quốc tế Al-Hussein cách đó 11 cây số để cử hành thánh lễ lúc gần 3 giờ chiều cho các tín hữu.

Hiện diện tại Sân Vận động có 30 ngàn tín hữu, không kể hàng ngàn người khác tham dự thánh lễ từ bên ngoài qua các màn hình khổng lồ. Trong số các tín hữu có nhiều người tị nạn Công Giáo đến từ Palestine, Siria và Irak, đặc biệt có 1.400 em được rước lễ lần đầu trong thánh lễ này.

Đồng tế với ĐTC có 5 Hồng Y thuộc đoàn tùy tùng của ngài, 6 HY khác đến từ các Giáo Hội địa phương, đứng đầu là ĐHY Becharai Rai, Giáo chủ Công Giáo Maronite từ Liban, ngoài ra có 6 vị Thượng Phụ, 115 LM, 60 phó tế và đan sĩ đến từ các nước Arập.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC khai triển 3 hoạt động chính của Chúa Thánh Linh là chuẩn bị, thúc giục và sai đi. Ngài nói:

“Trong Tin Mừng chúng ta đã nghe lời Chúa Giêsu hứa với các môn đệ: ”Thầy sẽ xin Chúa và Người sẽ ban cho các con Đấng An ủi khác để Ngài ở lại với các con mãi mãi” (Ga 14,16). Đấng An ủi thứ I là chính Chúa Giêsu; Đấng thứ 2 là Chúa Thánh Linh.

”Ở đây chúng ta không xa nơi Chúa Thánh Linh đã ngự xuống trong quyền năng trên Đức Giêsu thành Nazareth, sau khi Gioan đã làm phép rửa cho Đức Giêsu trong sông Giordan (Xc Mt 3,16). Vì thế Tin Mừng Chúa Nhật này, và cả nơi mà nhờ ơn Chúa tôi ở đây như người hành hương, mời gọi chúng ta hãy suy tư về Chúa Thánh Linh, về điều mà Chúa thực hiện trong Chúa Kitô và nơi chúng ta, và chúng ta có thể tóm tắt thế này: Chúa Thánh Linh thực hiện 3 hành động: chuẩn bị, thúc đẩy và sai đi.

– ”Trong lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thánh Linh ngự xuống trên Đức Giêsu để chuẩn bị Người thi hành sứ mạng cứu độ; sứ mạng này có đặc tính như của một Đầy tớ khiêm hạ và hiền lành, sẵn sàng chia sẻ lịch sử cứu độ và tận hiến toàn toàn. Nhưng Chúa Thánh Linh, hiện diện ngay từ đầu lịch sử cứu độ, đã hoạt động trong Đức Giêsu khi Người được chịu thai trong lòng đồng trinh của Đức Maria thành Nazareth, thực hiện biến cố lạ lùng là sự nhập thể. Thiên Thần nói với Đức Maria: ”Chúa Thánh Linh đã bao phủ Trinh Nữ, sẽ che bóng cho Trinh Nữ và Trinh Nữ sẽ sinh Con và được đặt tên là Giêsu” (Xc Lc 1,35). Tiếp đến Chúa Thánh Linh đã hành động trong ông Simeon và bà Anna, trong ngày dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ (Xc Lc 2,22). Cả hai vị chờ đợi Đức Thiên Sai, được Chúa Thánh Linh soi sáng và đến thăm Hài Nhi Giêsu, cả hai trực giác thấy rằng đó chính là Đấng toàn dân mong đợi…

– Thứ hai, Thánh Linh thúc đẩy. Ngài đã xức dầu trong nội tâm cho Đức Giêsu và xức dầu cho các môn đệ, để họ có cùng tâm tình của Đức Giêsu và nhờ đó có thể đảm nhận trong đời sống của họ những thái độ tạo điều kiện dễ dàng cho hòa bình và hiệp thông. Với sự xức dầu của Thánh Linh, nhân tính của chúng ta được ghi đậm sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô và làm cho chúng ta có thể yêu thương anh chị em với cùng tình thương mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Vì thế, cần có những cử chỉ khiêm tốn, huynh đệ và tha thứ, hòa giải. Những cử chỉ này là tiền đề và điều kiện để có hòa bình chân thực, vững chắc và lâu bền. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha xức dầu chúng ta để chúng ta hoàn toàn trở thành những người con của Ngài, luôn phù hợp với Đức Kitô, để chúng ta cảm thấy tất cả là anh chị em và như thế xua đuổi khỏi chúng ta những oán hận và chia rẽ, đồng thời yêu thương nhau như anh chị em. Và đó là điều Đức Giêsu yêu cầu chúng ta trong Phúc Âm: ”Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy tuân giữ giới răn của Thầy, và Thầy sẽ xin Chúa và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An ủi khác, để Người ở lại với các con mãi mãi” (Ga 14,15-16).

– Và sau cùng Chúa Thánh Linh sai đi. Đức Giêsu là Đấng Được Sai Đi, đầy Thánh Linh của Cha. Được xức dầu với cùng Thánh Linh, cả chúng ta cũng được sai đi như sứ giả và chứng nhân hòa bình.

”Hòa bình không thể mua được: đó là một hồng ân cần kiên nhẫn tìm kiếm và xây dựng một cách khéo léo nhờ những cử chỉ lớn nhỏ bao gồm đời sống hằng ngày của chúng ta. Con đường hòa bình được củng cố nếu chúng ta nhìn nhận rằng tất cả chúng ta có cùng máu mủ và là thành phần của nhân loại; nếu chúng ta không quên mình có một người Cha duy nhất trên trời và tất cả đều là con cảu Ngài được dựng nên theo hình ảnh giống Ngài.

ĐTC thân ái chào thăm Đức Thượng Phụ, các anh em GM và linh mục, tu sĩ giáo dân, các em Rước lễ lần đầu.. và ngài kết luận rằng:

”Các bạn thân mến, Chúa Thánh Linh đã ngự xuống trên Đức Giêsu cạnh sông Giordan, và khởi sự công trình cứu chuộc hầu giải thoát thế gian khỏi tội lỗi và sự chết. Chúng ta hãy xin Chúa chuẩn bị con tim chúng ta để gặp gỡ anh chị em vượt lên trên những khác biệt về tư tưởng,ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo; xin Chúa xức dầu toàn thể con người chúng ta bằng dầu từ bi của Ngài, chữa lành các vết thương sai lầm, thiếu cảm thông, tranh biện, và sai chúng ta đi với lòng khiêm tốn và từ bi trên những nẻo đường khó khăn nhưng phong phú trong công trình tìm kiếm hòa bình.

ĐTC giảng hoàn toàn bằng tiếng Ý, và sau bài giảng, có một Đức Cha dịch sang tiếng Arập.

Trong phần hiệp lễ, 118 LM và Phó tế đã phân phát Mình Thánh Chúa cho các tín hữu.

Cuối thánh lễ, Đức Thượng Phụ Fouad Twal đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC và nói đến những thách đố mà Giáo Hội địa phương đang phải đương đầu. Ngài nói: Thánh Địa bị quá nhiều chia rẽ, và Giáo Hội Công Giáo địa phương, đặc biệt là Tòa Thượng Phụ Công Giáo la tinh Jerusalem hết sức cố gắng hiệp nhất nội bộ, hiệpnhất giữa các Giáo Hội và toàn dân. Chúng con là một Giáo Hội nhỏ bé, nhưng cũng là một Giáo Hội lắng nghe, tháp tùng và cộng tác theo khả năng khiêm hạ của mình, vào hành trình hoán cải, vì chúng ta luôn ở trong tình trạng hoán cải trường kỳ (Evan. gaudium 25).

Hơn 20,000 người Trung Hoa gia nhập Giáo Hội Công Giáo trong Mùa Phục Sinh

Hơn 20,000 người Trung Hoa gia nhập Giáo Hội Công Giáo trong Mùa Phục Sinh

Đặng Tự Do

5/24/2014

Hơn 20,000 người đã được rửa tội để gia nhập Giáo Hội Công Giáo tại Trung Quốc vào lễ Phục sinh năm nay. AsiaNews đã cho biết như trên hôm thứ Sáu 23 tháng 5.

Hầu hết những tân tòng mới được rửa tội là người lớn. Bất chấp nỗ lực của chế độ Bắc Kinh muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Giáo Hội, số lượng người gia nhập Giáo Hội đang phát triển, mạnh.

Số liệu thống kê người rửa tội vừa kể chưa tính đến con số người được rửa tội trong Giáo Hội Thầm Lặng vì những khó khăn trong việc thu thập thông tin.

Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Pew, số tín hữu Kitô tại Trung Quốc đã lên tới 67 triệu người vào năm 2010, đứng hàng thứ hai sau Phi Luật Tân trong phạm vi Châu Á.

Hốt hoảng trước sự gia tăng nhanh chóng của Kitô Giáo, nhiều biện pháp bách hại đã được nhà cầm quyền Trung quốc đưa ra.

Mới đây nhất, vào ngày Lễ Lao Động 1 tháng 5, một ngôi thánh đường lớn ở Ôn Châu Trung Quốc đã bị chính quyền dùng xe ủi đất phá bình điạ. Ôn Châu là một thành phố ven biển có biệt danh là “Jerusalem của phương Đông” vì có đông người Kitô giáo cư ngụ tại đây.

Thánh đường bị phá hủy đã được xây dựng trong 12 năm và tốn vào khoảng 30 triệu nhân dân tệ. Ban đầu chính quyền cho phép xây dựng ngôi thánh đường này và tháng Chín năm 2013 chính quyền địa phương còn ca ngợi ngôi thánh đường này là một mô hình kiến trúc tân kỳ

Khi ra lệnh phá hủy ngôi thánh đường, chính quyền cho rằng kiến trúc thánh đường đã to hơn gấp bốn lần diện tích cho phép. Tuy nhiên, anh chị em giáo dân ở đây nói rằng chính quyền muốn giới hạn ảnh hưởng người Thiên Chúa Giáo vì số người tin ở Thiên Chúa đã tăng vọt trong những năm vừa qua. Số giáo dân chiếm 15% trong tổng số dân cư của thành phố.

Năm quan chức chính quyền địa phương liên quan đến việc trước đây đã cho phép xây dựng nhà thờ đang bị điều tra và một người đã bị bắt

Người dân Ukraine đi bầu tổng thống

Người dân Ukraine đi bầu tổng thống

Chủ nhật, 25 tháng 5, 2014

Đây là cuộc bầu cử đặc biệt quan trọng ở Ukraine

Người dân Ukraine hôm nay ngày 25/5 đi bỏ phiếu để bầu tổng thống mới trong bối cảnh đất nước này vừa trải qua nhiều tháng hỗn loạn sau khi cựu Tổng thống Viktor Yanukovych bị lật đổ.

Có 18 ứng viên tranh cử trong cuộc bầu cử được cho là hết sức quan trọng để đoàn kết đất nước.

Tuy nhiên phe thân Nga ở miền đông phản đối cuộc bầu cử này và đã đe dọa sẽ ngăn chặn bỏ phiếu.

Khoảng 20 người đã thiệt mạng trong một đợt giao tranh giữa phiến quân và quân chính phủ trong những ngày qua.

Bạo lực ở miền đông, nhất là ở Donetsk và Luhansk đã làm cản trở nghiêm trọng công việc chuẩn bị cho bầu cử.

‘Vua sôcôla’

Ông trùm ngành bánh kẹo Petro Poroshenko, vốn có biệt danh là ‘vua sôcôla’ nhiều khả năng sẽ giành chiến thắng.

Cựu Thủ tướng Yulia Tymoshenko bị ông Poroshenko bỏ xa trong các cuộc thăm dò ý kiến.

Để giành chiến thắng ngay từ vòng một thì ứng viên phải giành được hơn 50% số phiếu. Nếu không thì sẽ phải bầu cửa vòng hai vào ngày 15/6.

Trong một bài diễn văn trên truyền hình hôm thứ Bảy ngày 24/5, Thủ tướng Arseniy Yatsenyuk đã kêu gọi người dân bỏ phiếu và ‘bảo vệ Ukraine’.

“Cuộc bầu cử này sẽ sự thể hiện ý chí của người dân Ukraine ở miền tây, đông, bắc và nam,” ông nói.

Trong một động thái bất ngờ, Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm thứ Sáu ngày 23/5 nói rằng ồng sẽ tôn trọng kết quả cuộc bỏ phiếu và sẵn sàng làm việc với bất cứ ai được người dân Ukraine bầu làm tổng thống.

Ông Poroshenko dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận

Kiev và phương Tây đang cáo buộc Moscow kích động tình cảm ly khai ở đông Ukraine. Tổng thống Putin đã bác bỏ cáo buộc này.

Hơn 1.000 quan sát viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu đã (OSCE) được huy động ở các phòng bỏ phiếu trên toàn quốc.

Tuy nhiên OSCE đã rút hầu hết các quan sát viên của họ khỏi Donetsk do lo sợ cho an ninh của họ.

Một số phần tử ly khai thân Nga đã cảnh báo mọi người không được bỏ phiếu.

“Nếu cần thiết chúng tôi sẽ sử dụng bạo lực,” ông Denis Pushilin, một lãnh đạo của Cộng hòa nhân dân Donetsk tự phong, được hãng tin AFP dẫn lời nói.

Phe ly khai ở Donetsk và Luhansk đã tuyên bố độc lập khỏi Ukraine sau khi trưng cầu dân ý hôm 11/5 – một động thái không được Kiev và các đồng minh phương Tây công nhận.

Hơn 75.000 cảnh sát và tình nguyện viên đã được huy động để đảm bảo an ninh cho cuộc bầu cử.

Phòng phiếu sẽ mở cửa cho đến 8 giờ tối giờ địa phương, tức 11 giờ tối giờ Việt Nam. Kết quả cuối cùng sẽ được công bố vào thứ Hai ngày 26/5.

“KHI ĐẤT NƯỚC TÔI THANH BÌNH…”

“KHI ĐẤT NƯỚC TÔI THANH BÌNH…”

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

Những ngày đất nước tôi còn chìm trong khói lửa chiến tranh, bao nhiêu lần tôi đã cất cao những lời  hát như vậy để mơ về một ngày thanh bình không còn tiếng súng. Niềm mơ ước ấy cứ luẩn quẩn trong đầu óc thanh niên chúng tôi thời bấy giờ, và rồi đến ngày im tiếng súng, máu thịt thôi rơi vì cuộc chiến huynh đệ tương tàn, ước mơ ấy trở lại cho dù có lắm khi không hài lòng vì một thứ “thanh bình” như thế.

Vì công việc nên tôi có cơ hội đi lại hầu hết những nơi vang danh chiến trường xưa, có những nơi dừng chân lại đôi ba ngày, có những nơi thoáng qua để hồi tưởng bạn bè đã nằm xuống, nhưng có những nơi hạnh phúc cho tôi khi được dâng lễ, dù chỉ là một căn Nhà Nguyện đơn sơ vách lá hay một khoảng sân đất nhỏ tụ họp vài trăm người, thế là quá đủ, quá đủ cho giấc mơ về một ngày được đi thăm khắp nơi. Giấc mơ của một người lớn lên trong chiến tranh, hàng ngày của tuổi trẻ nghe tiếng bom đạn, kỷ niệm đầy ắp hình ảnh thương đau của dân tộc, của đồng bào, và của bạn bè thời chinh chiến xưa.

Những nơi tôi được viếng thăm là những thành phố đầy bom đạn, đầy vết tích chiến tranh, những nghĩa trang “mộ bia đều như nấm”, tôi không phải chịu nỗi xót xa khi theo “mẹ già lên núi tìm xương con mình” nhưng lại là theo một bạn trẻ “lên núi tìm xương cha mình”. Tôi còn phải đi nhiều hơn ước mơ thời trai trẻ, đó là những chuyến vào trại tập trung “tìm thăm anh mình”, hoàn toàn những cái đầu “ngây thơ” thời trước 75 có thể ngờ tới !

Mùa Phục Sinh vừa qua, anh em tôi tổ chức một ngày ghi ơn “Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa”, tôi nhận ra còn một địa chỉ nữa tôi mắc nợ mà chưa được viếng thăm. Hình ảnh và bài viết về cuộc tri ân này đã được chia sẻ rất nhiều trên các mạng xã hội, các Thương Phế Binh là những con người chịu thiệt thòi quá nhiều, xã hội đã bỏ quên họ, những người quan tâm đến họ thì lại không thể thực hiện sự nâng đỡ cần thiết đến từng người và mọi người. Ba mươi chín gần bốn mươi năm rồi, họ vẫn lây lất cố sống cho ngày đời trôi qua, không còn ai và không còn gì để cậy trông.

Hôm ấy anh em Thương Phế Binh vui mừng lắm, nhiều ông, nhiều anh cảm động bật khóc, họ không nghĩ có ngày được gặp nhau, được quan tâm thương mến, được sống những giây phút hào hùng đứng thẳng lên đọc to số quân, KBC ( khu bưu chính – địa chỉ viết thư của quan đội VNCH ngày xưa ), tên đơn vị tác chiến, ngày và nơi bị thương. Vang lên giữa buổi họp măt tiếng hô to của đơn vị Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên… Họ không ngờ có ngày họ được trân trọng, được nghe lời tri ân.

Nhưng không phải ai cũng có thể biết mà đến, không phải ai biết mà có thể đến được. Đã có nhiều người không biết ngày họp mặt này, có nhiều người biết nhưng bị ngăn cản không đến được, và có rất nhiều người vì hoàn cảnh không thể đến được dù có biết.

Sau buổi họp măt, qua thông tin từ anh em Thương Phế Binh đến dự, chúng tôi chia nhau đi thăm viếng cụ thể từng người, mục đích để có những thông tin xác thực hơn về hoàn cảnh để có một chương trình cụ thể hơn nâng đỡ anh em. Điều kỳ diệu đã đến không ngờ, qua từng Thương Phế Binh đăng ký, chúng tôi khám phá ra nhiều anh em Thương Phế Binh khác nữa, mỗi địa chỉ là một đầu mối phăng ra nhiều trường hợp thương tâm hơn. Đoàn công tác đã phải vượt qua nhiều cây số trong gian lao vất vả để tiếp cận anh em. Họ ở rất xa, những vùng rất xa, rất cơ cực và rất nghèo khổ, cả ngày đoàn chỉ đi được khoảng vài nhà, gặp họ, đoàn công tác hội ra được nhiều điều mà ngồi ở thành phố không thể biết.

Họ nghèo quá, mất hết chân tay lấy đâu vượt qua đường trường ngút ngàn để về thành phố dự ? Xe lăn ? Không thể nhận vì đường ruộng mấp mô, hoặc nền nhà đất khô gập ghềnh làm sao lăn xe ? Đi bằng hai cái ghế đẩu bằng gỗ chắc ăn hơn. Mắt mờ không có tiền lên Sàigòn phẫu thuật, mà có tiền để lên thì không biết nương nhờ vào đâu trong thời gian chữa bệnh. Một Thương Phế Binh sống đơn côi với đứa con gái 13 tuổi nói trong nước mắt: Tật nguyền mà vợ lại qua đời sớm, con nhỏ nheo nhóc không biết làm sao để sống ? Chung nhất là hoàn cảnh khó khăn đẩy họ trôi giạt về quê xa thành phố, rồi cái nghèo, phận tàn phế nhận chìm họ trong chốn tối tăm ấy suốt đời.

Bốn mươi năm rồi bị bỏ quên, họ vẫn sống, sống hào hùng không ăn bám cho dù khốn khổ, anh em không muốn lòng thương hại, nhiều anh tự trọng đến dộ không ngỏ một lời than thân trách phận chứ đừng nói đến một lời xin giúp đỡ. Các anh chị em trong đoàn công tác càng đi càng khâm phục anh em Thương Phế Binh, họ về nói với chúng tôi rằng: “Chúng con khâm phục các chú, hoàn cảnh thấy tội lắm, muốn rơi nước mắt nhưng không hề ta thán, trách móc ai cả”.

Chúng tôi lại nhận được nhiều thư từ nhiều nơi gần xa gởi về với tất cả tấm lòng dành cho các  Thương Phế Binh. Nhiều vị có ý muốn chia sẻ cách nào đó với những việc chúng tôi đang thực hiện. Chúng tôi đang lấy thông tin và xem xét từng hoàn cảnh, chắc chắn phải làm một cái gì đó cho anh em, những người bị thua thiệt quá nhiều. Chúng ta sẽ thi hành lòng yêu mến và sự công bằng mà Thiên Chúa muốn dành cho họ.

Xin biết ơn các anh em Thương Phế Binh đã cho chúng tôi gặp được Chúa Giêsu nơi anh em như Tin Mừng Mt 25 đã mô tả. Anh em chính là một trong những địa chỉ có quá nhiều người “bị bỏ rơi hơn cả” đã được ghi rõ trong Hiến Pháp Nhà Dòng chúng tôi.

Vậy là tôi vẫn còn mắc nợ địa chỉ này nữa chưa viếng thăm sau năm 75. “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm…” Vâng, tôi sẽ đi thăm, tôi phải đi thăm cho dẫu đất nước tôi hôm nay vẫn chưa thật sự được thanh bình…

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

17.5.2014

KHÓC BẠN –

KHÓC BẠN –

Hồi Ký của Ấu Oanh

Tác giả Ấu Oanh là phu nhân của ca nhạc sĩ Duy Trác. Hồi ký này bà viết để khóc một người Bạn – phu nhân của nhà văn Dương Hùng Cường, cũng như để thuật lại những gì đã xảy đến cho gia đình tác giả và gia đình nhà văn Dương Hùng Cường sau cuộc “đổi đời” gây ra bởi Ngày Quốc Hận 30-4-1975.

Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp ”Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi “ “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay ”Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo ”Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải ‘Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng,Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại ”Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an ”Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: ”Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”. Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng. Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”. Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việcThoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số ”tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi:” Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn Vĩnh Biệt Phượng cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói ”Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng , vì đói ăn đó Oanh ạ! ““ Nghề “ bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác:” Cứ yên tâm chờ đợi “. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:- Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:- Có việc gì hả Oanh?Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:- Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.- Oanh nói gì? Ai có bầu?- Mình.- Hả?- Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:- Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:- Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:- Phá? Sao lại phá?- Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…- Thì nói ra cho mọi người biết.- Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:- Ừ, để mình tính xem.Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ. Mẹ tôi bảo:- Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.- Mẹ hỏi gì hả mẹ?- Có phải Oanh toàn con gái không?- Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.- Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.- Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.- Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:- Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.- Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôiKhông trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:- Oanh gửi chị cái này.Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành,( trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát , cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: ”Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời”. “Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu”!! Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút “Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể : “ Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố”. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo “ chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón”. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu? Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:……………………
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêuThật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…Rồi giòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, dấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “ Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi “!!! Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt…..Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ “.Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người .Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu giắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.Hôm nay ngồi viết những giòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.Oanh ơi, những giòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
Chuông chùa vọng giữa thinh không

Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

Hai mươi năm, ngày giỗ bạn
21/6/1989 – 21/6/2009
Ấu Oanh

Lâm Kim Trọng gởi

Đối đầu TQ-VN ở Biển Ðông thử thách chính sách xoay trục Á Châu của Mỹ

Đối đầu TQ-VN ở Biển Ðông thử thách chính sách xoay trục Á Châu của Mỹ

Tàu Tuần duyên Trung Quốc số hiệu 3411 (trái) và tàu Tuần duyên Việt Nam số hiệu 4032 trong khu vực Biển Đông mà cả hai đều tuyên bố thuộc lãnh hải của mình.

Tàu Tuần duyên Trung Quốc số hiệu 3411 (trái) và tàu Tuần duyên Việt Nam số hiệu 4032 trong khu vực Biển Đông mà cả hai đều tuyên bố thuộc lãnh hải của mình.

Scott Stearns

23.05.2014

BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ — Vụ giằng co về một giàn khoan dầu ở vùng biển có tranh chấp ngoài khơi Việt Nam đang trắc nghiệm cái gọi là chính sách “Xoay trục” của chính quyền Obama về các nguồn lực quân sự và ngoại giao qua châu Á.

Việt Nam nói một giàn khoan dầu của Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp đe dọa đến quyền tự do hàng hải. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố:

“Việc hạ đặt giàn khoan bất hợp pháp đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định an ninh hàng hải và tự do hàng hải ở Biển Ðông.”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói chính Việt Nam đang làm tăng thêm căng thẳng qua việc nêu thắc mắc về chủ quyền của Trung Quốc.

Ông Hồng nói: “Họ đang bóp méo các sự kiện, làm cho sai đúng lẫn lộn trên sân khấu thế giới, bôi nhọ Trung Quốc và đưa ra những lời cáo buộc vô lý.”

Vụ giằng co nằm trong khuôn khổ nỗ lực của Trung Quốc nhằm đẩy lui sự hiện diện nhiều hơn của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, theo nhận xét của giáo sư Hillary Mann Leverett của trường American University:

“Cuộc giằng co thực sự đưa Việt Nam ra tiền trường của một cuộc chiến, cơ bản là giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, về việc ai sẽ có khả năng tạo ảnh hưởng ngày nay và dài hạn trong khu vực hết sức quan trọng của thế giới.”

Ðó là một thông điệp nhắm vào tất cả những đối thủ tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh, theo giáo sư Carl Thayer của trường Ðại học New South Wales:

“Các quốc gia chủ chốt trong ASEAN, không riêng gì Philippines và Việt Nam, sẽ hết sức quan ngại, bởi vì không phải chỉ là vấn đề một giàn khoan, mà là sức mạnh quân sự kèm theo, và mỗi quốc gia sẽ cảm thấy yếu thế trước Trung Quốc.”

Chủ tịch Tập Cận Bình nói Trung Quốc luôn luôn cố gắng giải quyết một cách êm thắm các vấn đề chủ quyền hàng hải và nêu thắc mắc về các quốc gia Á châu mưu tìm liên minh chống lại các nước láng giềng. Ông Tập nói:

“Các nước củng cố liên minh quân sự chống lại một nước thứ ba không có lợi ích cho an ninh khu vực.”

Bắc Kinh đang tìm cách phá hoại cái gọi là chính sách xoay trục của Hoa Kỳ dựa vào điều mà giáo sư Leverett nói là một giả thuyết cho rằng Washington sẽ không tranh chấp. Giáo sư Leverett cho biết:

“Khái niệm đối với Trung Quốc thực sự là dành cho Hoa Kỳ sự lựa chọn mà Hoa Kỳ không thể thắng được. Hoặc họ phải chiến đấu với Trung Quốc về những hòn đảo mà họ không quan tâm hoặc họ sẽ không hậu thuẫn cho các đồng minh của mình. Điều này gửi đi một tín hiệu mạnh cho các đồng minh đó là không thể dựa vào Hoa Kỳ, chính sách xoay trục không có thực chất, và láng giềng duy nhất mà họ phải đối phó ngày nay và mãi mãi là Trung Quốc.”

Washington nói sẽ ủng hộ hành động pháp lý của Hà Nội chống lại giàn khoan trong khuôn khổ gọi là “lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ trong việc duy trì hòa bình và ổn định” ở Biển Ðông.