Vẫn tin vào Chúa, dù gặp gian truân

Vẫn tin vào Chúa, dù gặp gian truân

Dongten.net

timthumb.php

“Trên con đường vợ chồng con đang đi, chúng con luôn đặt niềm tin vào Chúa, vào Mẹ Maria. Chúng con được Chúa ban cho một đứa con trai. Ngày đêm chúng con luôn cầu nguyện, đọc Lời Chúa để cảm tạ. Xin cho con của con được sinh ra khỏe mạnh như bao đứa con khác. Cuối tuần vừa rồi, vợ con chuyển dạ sinh non. Bào thai chỉ mới được 7 tháng tuổi. Em bé được sinh ra trong sự lo lắng và chờ đợi. Khi em bé sinh ra cũng là lúc chúng con không còn đứng vững khi biết con trai mình mang căn bệnh nhiễm sắc thể thứ 18. Dù vợ chồng con vẫn mạnh khỏe, gia đình không có ai bị bệnh đó cả. Bác sĩ bảo em bé chỉ có thể sống không quá một tuổi. Bé có thể ra đi bất cứ khi nào. Nhìn con mà chúng con không còn chút nghị lực để tiếp tục sống. Chúng con luôn hỏi tại sao Chúa lại bỏ rơi chúng con. Lúc này, chúng con không biết phải làm thế nào cả.”

(Một độc giả)

Xin chào bạn,

Khi viết những chữ này để chia sẻ cùng anh, tôi thật sự không nhớ nỗi là mình đã đọc những dòng tâm tư của anh bao nhiêu lần rồi. Câu chuyện của gia đình anh đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi cảm thấy nơi đó là cả một bầu không khí ảm đạm, nỗi buồn, nỗi thất vọng và cả hụt hẫng nữa của anh và toàn thể gia đình. Anh và gia đình luôn quy hướng về Chúa với một lòng tin yêu. Thế nhưng, điều mà anh nhận được chỉ toàn là những đau xót. Tôi xin chia sẻ cùng anh nỗi đau thương mà anh và gia đình đang gánh chịu. Tôi hứa là sẽ cầu nguyện, xin Chúa nâng đỡ anh và gia đình trong biến cố đau thương này.

Tôi nghĩ là bất cứ ai, khi rơi vào tình trạng giống như anh cũng sẽ có cùng một thái độ và lối suy nghĩ như anh. Nếu anh thấy cần, anh có thể đến trước mặt Chúa, thổ lộ hết tất cả những gì đang có trong lòng anh, trách Chúa, buồn Chúa, hỏi Chúa… Hãy khóc trước Chúa, nếu như anh cảm thấy không thể kiềm chế được cảm xúc. Tôi tin là Chúa sẽ hiểu anh. Ngài sẽ không trách anh, trái lại, Ngài sẽ đến và thêm sức cho anh, vì chính Chúa Cha cũng đã có kinh nghiệm nhìn người Con Yêu của mình đang từ từ chết đi trên thập giá.

Bạn thân mến,

Cuộc sống mà chúng ta đang sống là một nhiệm mầu. Chúng ta sẽ không tài nào có thể lý giải được những biến cố xảy đến. Sự dữ vẫn cứ hoành hành khắp nơi, gây nên những điều có vẻ như rất bất công. Tại sao người giàu càng giàu, tại sao người nghèo cứ nghèo, tại sao người ác thì cứ luôn bình an vô sự, còn người tốt thì chết bất đắc kỳ tử…? Đây là những câu hỏi mà muôn đời chúng ta không thể nào có được câu trả lời cho thỏa đáng. Cả người tin vào Chúa và không tin vào Chúa đều trải qua tất cả những điều ấy, nhưng thái độ của hai loại người này trước biến cố không may xảy đến cho họ thì có khi lại khác nhau.

Anh có nhớ Mẹ Maria không? Mẹ sống một cuộc đời tuyệt vời, lúc nào cũng tín thác và đọc kinh dâng lời tạ ơn Chúa. Vậy mà phần thưởng Chúa ban cho Mẹ là gì? Là bị người ta xua đuổi nên phải sinh con trong chuồng bò, là khi thai kỳ chưa hết thì phải chạy trốn lánh nạn, là chịu cảnh nghèo cùng với con, và đau đớn nhất là đứng đó, nhìn con của mình chết từ từ trong đau đớn. Anh có thấy hoàn cảnh của mình giống Mẹ Maria không? Thấy con mình đang dần dần chết đi, mà không thể làm gì được. Nhưng Mẹ đã làm gì? Mẹ chẳng hiểu cái gì là ơn cứu độ, chẳng thể hiểu nỗi vì sao việc con mình chết đi thì có lợi cho cả nhân loại. Trước mắt Mẹ đây là một nỗi đau xé gan xé thịt. Nhưng MẸ VẪN TIN. Mẹ tin là Chúa khôn ngoan hơn Mẹ, Chúa quyền năng hơn Mẹ. Nếu Chúa đã muốn để cho chuyện này xảy ra thì chắc chắn là để nhắm đến 1 điều tốt hơn. Hiện tại, Mẹ chưa thấy chưa hiểu, nhưng từ từ, khi thời gian qua đi, Mẹ sẽ hiểu. Và quả đúng như thế, niềm tin của Mẹ đã không phản bội Mẹ, vì Chúa chẳng bao giờ làm ngơ kẻ đặt niềm tin vào Ngài. Giây phút này đây, tôi khuyên bạn hãy đến với Mẹ, chiêm ngắm Mẹ, để Mẹ ban thêm niềm tin cho bạn.

Bạn chia sẻ với tôi là trên con đường vợ chồng bạn đang đi, các bạn luôn đặt niềm tin vào Chúa, vào Mẹ. Đây chính là lúc bạn chứng tỏ niềm tin ấy! Người ta sẽ dễ dàng ca ngợi Chúa khi được Chúa ban cho của cải đầy dư, vạn sự như ý. Nhưng người ta có thực sự tin vào Chúa hay không, thì chỉ những lúc khó khăn như thế này mới chứng minh được. Bạn có nhớ dụ ngôn 10 cô trinh nữ không (x. Mt 25,1-13)? Khi bình thường, cô nào cũng như cô nào. Nhưng khi chú rễ đến muộn, cô nào khôn ngoan trữ dầu sẽ khác biệt với cô nào ỷ lại không trữ dầu. Đời sống đức tin của chúng ta cũng vậy! Bình thường thì ai cũng như ai. Nhưng khi đau khổ đến, người có đức tin sẽ được phân biệt với người không có đức tin ngay. Nếu anh và gia đình đã luôn tin vào Chúa, thì hãy cố gắng thêm chút nữa đi. Hãy cố mà tin vào Chúa ngay trong khoảnh khắc này đi. Chắc chắn, một điều tốt đẹp trong tương lai sẽ đến với gia đình bạn vào một ngày không xa.

Chắc chắn là anh và gia đình đang đau khổ lắm. Những dòng chia sẻ của tôi trên đây chưa chắc giúp được gì cho anh, càng không có tác dụng cứu sống em bé. Nhưng tôi xin Chúa luôn ở cùng bạn và ban thêm niềm tin cho bạn. Sống giữa thế gian này, chỉ có niềm tin vào Chúa mới giúp mình thoát khỏi những bận tâm về đau khổ và buồn phiền thôi. Mến chúc anh sớm lấy lại tinh thần và là chỗ dựa vững chắc là vợ anh.

(Xin quý độc giả cùng hiệp thông với gia đình nhỏ trên qua lời kinh đơn sơ dâng lên Chúa, vì xét cho cùng, chúng ta đều là con cái Thiên Chúa, là anh chị em của nhau)

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

“Chuyện tử tế” ngày nay

“Chuyện tử tế” ngày nay

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-01-24

VHNT01242015.mp3

tran-van-thuy-622.jpg

Đạo diễn Trần Văn Thủy.

Courtesy apl.edu.vn

Your browser does not support the audio element.

Nhiều vấn đề bức bối

Trong những năm vừa qua nhân sĩ trí thức Việt Nam đã lên tiếng lo ngại cho việc xuống cấp đạo đức, văn hóa suy đồi nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam. Những chuyện đáng buồn từ trường học cho tới mặt bằng xã hội từ chính quyền cho tới hệ thống truyền thông, giải trí đâu đâu cũng xảy ra những vấn đề bức bối không thể chấp nhận.

Mời quý vị theo dõi cuộc mạn đàm giữa Mặc Lâm và đạo diễn Trần Văn Thủy, tác giả cuốn phim “Chuyện tử tế” phát hành từ hơn 30 năm trước nhưng nay nhìn lại vẫn thấy như cuốn phim nói về cuộc sống hôm nay. Trước tiên đạo diễn Trần Văn Thủy nhận xét:

Trần Văn Thủy: Tôi thấy có lẽ vào thời điểm hiện tại những bi kịch của xã hội, những chuyện trên báo đài và trong các phương tiện thông tin đại chúng đưa ra các mặt trái của xã hội, tệ nạn, những chuyện hiếp đáp nhau và những chuyện đau lòng nhiều quá.

” Theo sự hiểu biết trải nghiệm cũng như cái ám ảnh của tôi thì một đất nước có trở nên hấp dẫn hay không, có hạnh phúc hay không cái quan trọng nhất là mối quan hệ giữa người với người, cái tình người.
-Đạo diễn Trần Văn Thủy”

Đúng là thời điểm hiện tại thì tự nhiên nó rộ lên đề cao sự tử tế. Truyền hình thì có chương trình “Việc tử tế” và gần đây thì người ta nhắc nhiều lắm kể cả những tổ chức xã hội dân sự có quan tâm họ mời tôi đến để chiếu phim, nói chuyện, mạn đàm. Không phải ngẫu nhiên mà bây giờ lại quan tâm đến chuyện tử tế, coi như một đề tài nóng bởi vậy cho nên vừa rồi theo lời mời của một số diễn đàn thì tôi có trao đổi tham luận và có một số suy nghĩ như thế này:

Nếu mà nói về sự tử tế thì nó là vấn đề của nhân loại, nó lớn lắm và nếu nói vể sự tử tế tận cùng tới cái góc khuất của đời sống thì nó cũng sẽ đụng tới vấn đề chính trị. Đấy là qua cái trải nghiệm của tôi mà nhất là Việt Nam khi bàn vể chuyện tử tế, bàn về nếp sống văn hóa, sự ứng xử văn hóa thì thực ra nó không phải là vấn đề nhỏ.

Theo sự hiểu biết trải nghiệm cũng như cái ám ảnh của tôi thì một đất nước có trở nên hấp dẫn hay không, có hạnh phúc hay không cái quan trọng nhất là mối quan hệ giữa người với người, cái tình người. Tôi nghĩ chưa chắc một đất nước giàu nhất to nhất hay đông dân nhất hay đánh nhau giỏi nhất…mà ở xứ sở nào có tình người tốt đẹp thì người ta tìm thấy hạnh phúc và người ta coi là nơi đáng sống nhất.

Mặc Lâm: Trong lúc xã hội bàn cãi một cách rộng rãi về chuyện tử tế thì truyền thông có nhắc lại cuốn phim cùng tên của ông đã làm hơn 30 năm trước hay không?

Trần Văn Thủy: Gần đây người ta bàn rộ lên chuyện tử tế thì tôi đôi khi trở thành mục tiêu cho người ta đàm tiếu. Thường thường người ta đặt ra cho tôi câu hỏi: Tôi hỏi ông cái xã hội bây giờ so với hơn 30 năm trước khi ông làm “Chuyện tử tế” thì bây giờ nó tốt lên hay xấu đi? Tôi cũng thẳng thắn mà thưa rằng 30 năm trước đây tuy nghèo thật, khó khăn đời sống vất vả hơn nhưng tình người, cách đối xử giữa con người với nhau nó tốt hơn bây giờ. Bây giờ đời sống đi lên nhưng về mặt tình người, về mặt đạo đức, ứng xử thì nó tệ hơn ngày xưa. Rõ ràng bây giờ trộm cắp hơn, tệ nạn hơn, tham nhũng hơn, nhiều chuyện bất nhẫn hơn. Đấy là một nghịch lý.

20130601165840-chuyen-tu-te-400.jpg

Một cảnh trong phim Chuyện Tử Tế. Screen capture.

Có lẽ tôi là người khởi xướng cái đề tài này cách đây 30 năm mà tôi phải xin thưa với quý thính giả rằng thời tôi làm bộ phim có tên là “Chuyện tử tế” thì mọi người nhìn tôi bằng con mắt ít thiện cảm và cũng ít sự chia sẻ. Những người có trách nhiệm trong chính quyền về phương diện điện ảnh gây khó khăn cho tôi rất nhiều. Mà bộ phim cho tới giờ phút này cũng không nhận được một vinh danh, một đánh giá nào chính thức của các Liên hoan phim hay các hội đoàn về điện ảnh.

Tôi nghĩ rằng cái quan trọng nhất là giữa người với người. Sự ứng xử, lòng tốt, sự tử tế…thậm chí tôi viết trong lời mở đầu của cuốn phim có một đoạn nguyên văn mà tôi còn thuộc lòng như thế này:

“Từ rất xa xưa cha bác có dạy rằng tử tế vốn có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi giòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bĩ đánh thức sự tử tế đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành giỏi giang hoặc siêu phàm.

Tương tác giữa văn hóa và sự tử tế

Mặc Lâm: Thưa ông xét trên bình diện xã hội thì sự tử tế có liên quan mật thiết thế nào đối với văn hóa, nhất là trong thể giới văn minh ngày nay sự tử tế được xem như là khởi điểm của ứng xử trong cộng đồng?

Trần Văn Thủy: Cái chìa khóa cho xã hội đi lên là vấn đề văn hóa. Tất nhiên giữa văn hóa và sự tử tế nó có sự tương tác. Một người tử tế thì không thể nào thiếu văn hóa được. Tủ tế là đỉnh điểm của văn hóa. Trong bản thân người được gọi là có văn hóa không thể nào thiếu sự tử tế được. Đây là một đề tài lớn lắm anh Mặc Lâm ạ, đề tài của nhân loại, tuyệt đối không phải là đề tài nhỏ.

” Cái chìa khóa cho xã hội đi lên là vấn đề văn hóa. Tất nhiên giữa văn hóa và sự tử tế nó có sự tương tác. Một người tử tế thì không thể nào thiếu văn hóa được. Tủ tế là đỉnh điểm của văn hóa.
-Đạo diễn Trần Văn Thủy”

Thế nhưng ở Việt nam đã lâu rồi ai nói cái gì cứng một tí, lệch lề phải lể trái một tí thì “Ối giời ôi chuyện chính trị” hoặc là “không nói chuyện chính trị” hay “không thích chuyện chính trị”. Khổ, chính trị nó có tội vạ gì đâu? Xã hội Việt Nam bây giờ nếu mà luận bàn sơ sơ hay nói chuyện phiếm lề đường quán nước thì không sao nhưng bất kỳ một để tài gì mà nói đến sự tận cùng của nó thì đều đụng đến cái gọi là chính trị.

Mặc Lâm: Thưa có lẽ vì vậy mà chính quyền đang kêu gọi thực hiện theo nghị quyết vực dậy đạo đức nơi công sở cũng như thực hiện đời sống văn hóa mọi nơi…đem chính trị hướng dẫn văn hóa đôi khi cũng thuyết phục người dân phải không ạ?

Trần Văn Thủy: Tôi nói thì nó hơi ngược tí anh Mặc Lâm ạ. Ở Việt Nam đã từ lâu rồi người ta quan niệm rằng văn hóa là một phạm trù của chính trị. Một phạm trù nhỏ bé trong chính trị và chính trị phải lãnh đạo văn hóa, điều đó xã hội Việt Nam xem là mặc nhiên từ lâu rồi nó là như thế. Có lúc tôi đã nghĩ như thế này: hình như không hoàn toàn là như thế mà hình như chính trị là một phạm trù của văn hóa. Nếu như một nền chính trị mà không mang màu sắc văn hóa, không mang tinh thần nhân văn, nhân đạo, tiên tiến thì không thể nào có một cái thứ chính trị chân chính được.

Nếu cứ quan niệm đặt chính trị lên trên, rồi thì văn hóa phải đi theo chính trị thì một đất nước có một nền văn hóa tốt sẽ không thể nào có một nền chính trị dở được và cũng không thể sản sinh ra chính trị gia tồi được cho nên cái văn hóa nó phải bao trùm lên. Tôi nghĩ rằng nó bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội chứ không riêng những phạm trù nào đâu. Phải nói rằng đến bây giờ chúng ta ý thức được điều đấy thì cũng là may mắn nhưng cũng quá muộn.

Mặc Lâm: Ông có vẻ bi quan nhưng tôi vừa đọc một bản tin nói về người dân Sài Gòn kéo một tên trộm dưới sông lên và thấy anh ta lạnh quá có người cởi áo ra cho anh ta nữa. Đây là một sự tử tế tuy ít nhưng vẫn xảy ra phải không?

Trần Văn Thủy: Anh gợi ra cái chuyện một số bà con đã lấy áo cho người ăn trộm thì nó là cái chuyện quý mà nó không phải là ít đâu những người tốt trong xã hội còn nhiều nếu không có chắc chúng ta không sống nỗi. Tôi xin thưa cũng trong bộ phim vừa nhắc đến là bộ phim “Chuyện tử tế” cách đây hơn 30 năm có một đoạn nguyên xi cái hình và lời của nó như thế này; “Xung quanh chúng ta có nhiều người tử tế lắm chứ! Những người tử tế chính là những người bất hạnh, nghèo khó. Họ chính là những người khát khao sự tử tế hơn ai cả.

Tôi vẫn tin đời sống còn rất nhiều người tử tế nhưng tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của người trí thức, vai trò của thông tin đại chúng, vai trò báo chí phát thanh truyền hình và đặc biệt là vai trò của người cầm quyền. Tôi nghĩ trong một đất nước, trong một gia đình, vai trò của người cầm quyền rất là quan trọng nếu anh không gương mẫu thì xã hội không thể tốt đẹp lên được.

Nhưng bây giờ nhìn vào những người cầm quyền thì đâu có nhiều gương tốt? Phần lớn những người tốt thì tiếng nói của họ đâu phải là tất cả và nhiều khi nổi lên những chuyện băng đảng rồi chạy quyền chạy chức, rồi tham nhũng. Để làm sao xã hội nó tốt lên được, để làm sao xã hội mà văn hóa và sự tử tế nó có đất tồn tại, thì có lẽ người cầm quyền chịu trách nhiệm rất là quan trọng. Bên cạnh sự khích lệ sự tử tế có lẽ phải bàn đến việc tạo ra một môi trường để con người ta có thể sống tử tế được. Nếu không có môi trường để con người ta sống tử tế, người ta đói rách quá người ta bần hàn quá, bất công ngạt thở quá thì làm sao người ta sống tử tế được mà cái này thì tôi nghĩ trách nhiệm của người cầm quyền.

Mặc Lâm: Như ông nói thì hình như vai trò của người dân trong xã hội không mấy quan trọng trong việc ứng xử với nhau một cách tử tế. Dù sao thì trong mỗi cá thể phải tự chịu trách nhiệm trong cách ứng xử của mình thưa ông?

Trần Văn Thủy: Tôi thấy anh Mặc Lâm hôm nay lại nhắc nhiều đến trách nhiệm và hiện trạng của người bình thường. Vâng, tôi rất chia sẻ và tán thành với anh bởi vì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với vần đề thịnh suy, tốt xấu của xả hội. Tôi là người có chính kiến và tôi nghĩ đầu tiên phải là người câm quyền. Thượng bất chính, hạ tất loạn.

Thưa anh nếu như dân chúng, trí thức và những người có lòng không được tự do trình bày cái ý kiến của mình tức là lại đụng đến vấn đề lớn là vấn dề tự do ngôn luận ở Việt Nam, thì không có cách nào xây dựng một xã hội có văn hóa và có sự tử tế được đâu. Nếu bây giờ chỉ nói theo lề phải, chỉ nói theo văn bản, chỉ nói theo đường lối chính sách tại vì cuộc sống nó muôn màu muôn vẻ và nó đa dạng. Có lẽ để kết thúc buổi mạn đàm ngày hôm nay anh cho phép tôi được nhắc lại cái câu mà tôi cho rằng cũng đáng lưu tâm.

Vừa rồi có một buổi giao lưu ra mắt cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo” của sử gia Larry Berman ông ấy viết về điệp viên Phạm Xuân Ẩn ra mắt ở số 3 Phạm Ngũ Lão. Họ cũng biết tôi là người tham gia chiến tranh có mặt ở chiến trường cũng có rất nhiều quan tâm đến thời chiến, có một nhà báo bảo ông Trần Văn Thủy phát biểu đi, thế là tôi lên phát biểu. Cái đoạn cuối cùng tôi có nói như thế này: “Thượng đế sinh ra cho chúng ta mỗi người một cái mồm. Cái mồm có bổn phận phải nói những điều chúng ta nghĩ. Không có lý do gì cái mồm do Thượng đế sinh ra mà chúng ta lại nói những điều người khác muốn”. Cho nên tôi cho rằng tôn trọng tự do ngôn luận là điều tối thượng để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, tử tế hơn, văn hóa hơn.

Mặc Lâm: Xin cám ơn đạo diễn Trần Văn Thủy.

Im lặng mãi với ‘Chân dung quyền lực?’

Im lặng mãi với ‘Chân dung quyền lực?’

BBC

Lựa chọn giữ im lặng của chính quyền Việt Nam trước các thông tin do trang mạng đang thu hút chú ý của dư luận “Chân dung Quyền lực” có thể vô hình chung ‘có lợi’ hay gây ‘bất lợi’ cho ‘vận động’ của một số người trong giới lãnh đạo ở Việt Nam trước Đại hội Đảng lần thứ 12, theo nhà bình luận trong nước.

Trao đổi với BBC hôm 23/01/2015, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quý Thọ, nhà phân tích chính sách từ Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho rằng dường như có vẻ trang này hiện nay đang được coi như một dạng ‘thư nặc danh’ và do đó không được chính quyền xem xét mà có thể là sẽ ‘lờ đi’.

Tuy nhiên, ông cũng đặt vấn đề là dù nhà nước ‘giữ im lặng’ và chọn giải pháp ‘không làm gì’ với trang này, thì dư luận và cộng đồng, các giới có thể sẽ vẫn còn duy trì sự chú ý và do đó sẽ có ‘lợi’ hay ‘hại’ cho một số nhân vật.

Ông nói: “Tôi cho rằng người ta vẫn cứ im lặng để người ta hiểu như rằng đây cũng coi nó như một bức thư nặc danh vậy.

” Tôi cho rằng chưa thể một sớm một chiều mà đưa trang này ra công khai hoặc là có những ý kiến chính thức từ một cơ quan nào đó hoặc là từ một vị lãnh đạo nào đó. Cho nên trang này vẫn còn đang là một bí ẩn ất thú vị hiện nay

PGS. TS. Phạm Quý Thọ “

“Và người ta lờ đi, và trong cái lờ đi như thế này thì chắc chắn người ta quan tâm, người ta đọc thì sẽ có lợi cho một số người và cũng lại không có lợi cho một số người khác về mặt vận động hoặc đặc biệt là về nhân sự trước Đại hội 12 này.”

‘Bí ẩn thú vị?’

Tuy nhiên xem xét mức độ ‘nhạy cảm’ từ mức độ mà các thông tin gây tranh cãi của trang ‘Chân dung Quyền lực’ đưa ra, ông cho rằng việc giữ ‘im lặng’ là ‘một vấn đề khó hiểu’.

Nhà nghiên cứu và quan sát về chính sách công cho rằng có vẻ như nhà nước vẫn chưa đạt được một sự ‘thống nhất chỉ đạo’ khi ứng phó với các trang mạng như vậy trong so sánh với những trang mạng khác được cho là ‘nhẹ hơn’ và ‘ít nhạy cảm’ hơn nhiều.

“Thường thường muốn giải quyết nó thì phải có những cơ quan cao nhất về chống tham nhũng, hoặc là phải có những nhân vật quyền lực lắm để người ta có thể giải quyết được vấn đề này.

“Tất nhiên ai mà đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm như thế này thì người ta sẽ hết sức thận trọng, cho nên tôi cho rằng chưa thể một sớm một chiều mà đưa trang này ra công khai hoặc là có những ý kiến chính thức từ một cơ quan nào đó hoặc là từ một vị lãnh đạo nào đó.

“Cho nên cái trang này vẫn còn đang là một bí ẩn ất thú vị hiện nay,” ông Thọ nói với BBC từ Hà Nội.

Một cơn đau tim.

Một cơn đau tim.

Tối thứ ba tuần trước, sau khi gửi ý kiến về Lá Diêu Bông vào Diễn Đàn, tôi đi
ngủ rất ngon đến hơn 6 giờ sang, dậy đi tắm và sửa soạn đi làm, cảm thấy thoải mái bình thường, không có triệu chứng gì khác lạ. Khoảng 7 giờ hơn, khi với tay tắt ngọn đèn trên đầu tủ (hơi cao), tôi bỗng thấy mặt nóng bừng, mồ hôi toát ra, hai cánh tay rã rời như vừa khiêng vác vật nặng quá sức. Khi đó, tôi hơi nghi là bị stroke (đứt hoặc nghẽn mạch máu dẫn vào óc), liền lấy máy đo huyết áp, thấy rất cao, khoảng 180/100. Tôi vội lấy 2 viên thuốc chống cao máu uống liền một lúc. (Tiếc rằng nhà không có sẵn aspirin). Ngay sau đó, tôi xuống cầu thang thì bắt đầu thấy tức ngực, đau khoảng giữa lồng ngực, nửa như đau bao tử (xót bao tử khi đói), nửa như bị ai đấm vào chấn thủy. Nhìn vào gương, cười, nói, dơ tay lên xuống thì không thấy có gì biến đổi hay khó khăn, không nhức đầu chóng mặt, hát thử vài câu vẫn thấy dở như thường, nghĩa là không có những triệu chứng của stroke. Tôi liền nghĩ ngay đến heart attack (cơn đau tim), chứ không phải stroke. Không chần chờ nữa, tôi gọi số cấp cứu 911 ngay. Lúc đó vào khoảng 7 giờ 20, chỉ chừng 10 phút sau khi tôi nhận thấy triệu chứng khó chịu đầu tiên.

Qua điện thoại, nhân viên cấp cứu bảo tôi ngồi hoặc nằm ở tư thế nào thấy thoải mái nhất, nhờ người nhà lấy tất cả những thứ thuốc tôi đang uống để sẵn, và để ngỏ cửa vào nhà. Khi đó tôi vẫn tỉnh táo, đọc tên từng loại thuốc và liều lượng đang uống cho họ, nhưng rất khó thở và hai cánh tay rất mỏi.
Vẫn không thấy nhức đầu và không nói líu lưỡi (không phải stroke). Chừng 5 phút sau, xe cấp cứu tới. Người paramedic (chuyên viên cấp cứu) cho tôi nhai ngay chừng 5 hay 6 viên baby aspirin (loại 81 mg), nhai rồi nuốt trửng chứ không chiêu với nước để cho thuốc thấm theo nước miếng vào các mạch máu nhỏ dưới lưỡi, mục đích là làm cho máu loãng ra. Đồng thời họ xịt Nitroglycerin lỏng vào dưới lưỡi tôi ba lần, mỗi lần cách nhau chừng 5 phút, để cho các mạch máu giãn nở (không được dùng quá 3 lần, kẻo sự giãn nở mạch máu quá đáng, có thể gây stroke). Tôi thấy bớt tức ngực, thở dễ hơn, nhưng hai cánh tay vẫn rã rời. Trái lại, đầu óc tỉnh táo, không nhức đầu, và chân đi vẫn vững vàng (không stroke).

Chừng 5 phút sau, xe cứu thương tới. Tôi đã cảm thấy dễ thở hơn và có thể tự đi ra trèo lên băng-ca cấp cứu. Trên đường vào vào bệnh viện, tôi để ý thấy xe không hụ còi – có nghĩa là không có gì khẩn cấp lắm. Trên xe, người paramedic hỏi chuyện tôi liên tục, mục đích là coi tôi có tỉnh táo, có bị stroke khiến nói ngọng không. Có người vừa bị heart attack vừa bị stroke, rất nguy hiểm.

Khoảng 15 phút sau đến bệnh viện, họ đưa tôi vào khu cấp cứu, có bác sĩ chăm sóc ngay lập tức. Họ tiếp “nước biển” hòa thuốc làm loãng máu và làm tan máu đông (blood clots), morphine làm bớt đau, chụp quang tuyến X lồng ngực để tìm dấu vết sưng phổi nếu có (pneumonia), đo tâm động đồ (EKG). Đồng thời họ cho thử máu để tìm chỉ số enzyme định bệnh tim. Khi tim bị thiếu máu, tim sẽ tiết ra loại enzyme này. Nếu chỉ số enzyme cao tức là bệnh nhân đã bị heart attack. Lần đầu, có lẽ vì thử nghiệm quá sớm, nên chỉ số không cao. Họ chờ 2 tiếng sau thử lại, thì mới rõ ràng là bị heart attack. Vì nhịp tim của tôi đập không quá nguy cấp, nên bác sĩ không mổ ngay. Trong thời gian đó, tuy vẫn nằm ở khu cấp cứu, nhưng tôi rất tỉnh táo, bớt đau ngực và tay, và còn có thể lấy smart phone ra trả lời ngắn gọn một hai emails.

Lạ một điều là tâm động đồ làm mấy lần đều không có dấu hiệu heart attack rõ ràng. Sau này bác sĩ giải thích rằng bắp thịt tim tôi chưa bị hư hại và còn hoạt động mạnh dù bị attacked, có lẽ nhờ vào việc tôi bơi lội thường xuyên (tôi thường bơi 40 đến 60 chiều dài hồ bơi trong một giờ, một hai lần mỗi tuần – nhưng từ sáu tháng nay bận nhiều việc quá nên chuồn, không bơi, không tập thể dục gì hết!).

Khoảng 3 giờ chiều thì bác sĩ chuyên khoa tim quyết định làm phẫu thuật thông mạch máu tim (angioplasty). Theo kỹ thuật này, bác sĩ cắt một lỗ rất nhỏ ở mạch máu gần háng hay cổ tay – trường hợp của tôi bác sĩ cắt ở cổ tay – rồi luồn một camera cực nhỏ ở đầu một catheter (ống mềm rất mảnh) đưa vào đến động mạch tim. Camera sẽ chiếu lên màn ảnh computer lớn như TV cỡ 60″ để cho thấy chỗ bị tắc nghẽn. Khi đó tôi vẫn tỉnh, chỉ hơi mơ mơ buồn ngủ do được chích thuốc an thần, không làm mê hoàn toàn, và không cảm thấy đau đớn gì hết. Khi tìm ra chổ mạch máu nghẽn, bác sĩ sẽ “bắn” cho cục máu đông (blood clot) tan ra, rồi đẩy một “bong bóng” (balloon) vào chỗ đó, xong bơm cho bong bóng căng lên, làm phồng khúc mạch máu nghẹt khiến cho máu thông dễ dàng, trước khi xì hơi bong bóng, còn để lại một “giàn lưới” (stent) hình ống, nằm lót bên trong nhằm căng khúc mạch máu đó ra. Lưới sẽ nằm vĩnh viễn trong mạch máu tim, nên bệnh nhân sẽ phải uống thuốc làm loãng máu dài dài, nếu không, máu đông có thể kẹt vào đó làm heart attack nữa!

Cuộc giải phẫu, ban đầu dự tính chừng 45 phút, đúng hai giờ mới xong! Mà vẫn còn hai mạch máu nữa chưa được thông, nên vài tuần nữa tôi sẽ phải vào bệnh viện làm tiếp. Tuy nhiên, lần sau sẽ dễ dàng hơn nhiều, có thể làm xong trong ngày, trừ khi tôi để cho bị heart attack nữa. Sau khi mạch máu tim được thông, tôi cảm thấy dễ chịu ngay lập tức. Hai cánh tay hết mỏi rã rời, ngực hết tức, nhịp thở gần bình thường trở lại.

Bác sĩ đã mổ từ mạch máu ở cổ tay tôi, luồn vào tim, nên tôi mau hồi phục hơn là mổ từ dưới háng. Sau ba ngày, mở băng ra, cổ tay tôi chỉ còn vết đóng vảy cỡ như bị con kiến lửa cắn rồi mình gãi ra mà thôi! Tuy nhiên, dọc theo cánh tay có vết bầm phía bên trong, chắc là do đường ống luồn qua gây nên.
Không đau đớn gì cả. Tim không có cảm giác gì mới lạ, vẫn yêu, thương, hờn, giận… như thường! Đặc biệt là sau khi được thông mạch máu tim, huyết áp của tôi xuống và nằm ở mức rất tốt, rất ổn định. Bác sĩ giải thích là do mạch máu được thông nên tim đỡ phải làm việc nhiều, không cần bơm máu mạnh như trước nữa, nên áp suất nén vào thành mạch máu cũng giảm đi. Thật là một công đôi việc!

Qua tai biến này, tôi rút ra được vài kinh nghiệm quý báu như sau, xin được chia sẻ cùng Diễn Đàn:

Thứ nhất, BÌNH TĨNH MÀ RUN! Đúng vậy, ai mà không run khi nghĩ đùng một cái mình đang bị một trong hai chứng bệnh giết người nhiều nhất và nhanh chóng nhất: Heart attack đứng đầu, stroke thứ ba, chỉ sau ung thư. Nhưng phải thật bình tĩnh và tỉnh táo để không lãng phí từng giây phút và làm bệnh thêm trầm
trọng.

Thứ hai, NGƯNG MỌI HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỂ Ý NGAY KHI CÓ TRIỆU CHỨNG LẠ THỨ NHẤT (trường hợp tôi là toát mồ hôi dù buổi sáng khá lạnh). Nếu đang lái xe, cần phải tìm chỗ an toàn đậu lại ngay. Chú ý: Nếu có cell phone, luôn luôn mang bên mình, không để trong cặp hay giỏ đàng sau cóp xe.

Thứ ba: GỌI CẤP CỨU NGAY KHI CÓ NHIỀU HƠN MỘT TRIỆU CHỨNG LẠ của stroke hay heart attack (thí dụ: cánh tay mỏi rã, tức ngực, ngay sau khi toát mồ hôi).
Ở Mỹ: Không nên nhờ người nhà chở vô nhà thương, mà phải gọi 911. Lý do:
bệnh viện có bổn phận phải cấp cứu ngay lập tức khi tiếp nhận một bệnh nhân do 911 đưa tới. Người paramedic đưa mình tới phải chờ cho đến khi thấy mình được chăm sóc bởi bác sĩ, rồi mới đi được. Nếu mình tự tới xin cấp cứu, trừ khi bị thương máu me đầm đìa như bị đụng xe, còn không sẽ phải làm nhiều thủ tục và chờ đợi trước khi được cấp cứu. Nếu bị stroke hay heart attack mà mất chừng 15 phút là nguy lắm rồi.

Thứ tư: Cố gắng PHÂN BIỆT CÁC TRIỆU CHỨNG GIỮA STROKE VÀ HEART ATTACK. Khi chuyên viên cấp cứu đến nhà, cố gắng trả lời rõ ràng sao cho họ có thể hướng sự cấp cứu về một loại tai biến: Stroke hay Heart Attack. Lý do: những giây phút cấp cứu đầu tiên là cực kỳ quan trọng. Nếu không phải stroke vì máu
nghẽn, mà vì đứt mạch máu, nhức đầu mạnh, mạch máu chính trên đầu bị bể, mà nhân viên cấp cứu cho thêm aspirin làm loãng máu, nitroglycerin làm giãn mạch… thì tiêu luôn tại chỗ! Theo các bác sĩ, khi thiếu máu vào nuôi, tế bào óc sẽ chết mau hơn tế bào tim nhiều. Do đó, nếu nhân viên cấp cứu tin là bệnh nhân bị stroke do đứt, bể mạch máu thì nhiều phần là họ sẽ lo chở bệnh nhân vào bệnh viện thật sớm (bây giờ ở Mỹ và các nước tiên tiến có thuốc chích có thể hồi phục stroke, nếu được chích trong vòng một, hai giờ kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, càng sớm càng tốt.) Nếu tin là heart attack thì họ sẽ thử làm cho máu loãng và mạch nở tại chỗ, mất chừng 10 phút trước khi họ chở đi. Mười phút phù du đầu tiên đó quý giá bằng 10 năm hay có thể bằng cả quãng đời còn lại!

Thứ năm: Trong bệnh viện, cần TỈNH TÁO (khi còn có thể), NÓI CHUYỆN NHÌỀU với y tá, bác sĩ (không hiểu thì yêu cầu người thông dịch). Đặt câu hỏi mỗi khi nhân viên y tế làm bất cứ thủ thuật nào trên cơ thể mình. Thí dụ: Chích thuốc này làm gì? Tại sao cần chụp X-ray ngực hai lần trong vòng vài giờ khi tình trạng không có gì thay đổi? – Nhờ hỏi mà tôi tránh được 1 lần X-ray vô ích do lỗi của y tá, người ca trước đã làm, người ca sau lại định làm nữa!

Thứ sáu: Khi đã lên bàn phẫu thuật mà không bị đánh thuốc mê thì hãy quên hết mọi sự, mà chỉ NGHĨ VỀ CHUYỆN VUI, như chuyện trên Diễn Đàn THTĐ, mặc kệ họ làm gì thì làm! Chẳng có gì phải lo lắng nữa!

Vài hàng chia sẻ cùng thầy cô và anh chị em.

Kính chúc thầy cô và thân chúc ACE không ai đau ốm, mà có đau ốm (con người ai tránh được?) thì cũng sẽ mau lành.

Kính mến,

Nguyễn Hưng (K7)

Gia Tài Của Mác

Gia Tài Của Mác

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

Rồi chế độ toàn trị sẽ chấm dứt tại Việt Nam. Nhưng người Việt Nam không thể xây dựng đất nước bằng cách phủ định thực tại Việt Nam. Trong thực tại ấy, có Mác.

Đỗ Mạnh Tri

Cuối năm, nhiều cơ quan truyền thông – trong cũng như ngoài nước – đồng loạt đưa tin “Dân Sài Gòn cởi áo cho kẻ trộm mặc chống lạnh.” Đọc xong bỗng chợt thấy có cái gì “vương vướng?” Tại sao không phải là “người dân cởi áo cho kẻ trộm mặc chống lạnh” mà lại có thêm hai chữ “Sài Gòn” vô đó, vậy  kìa?

Thương người như thể thương thân.

Rét thời cho mặc, đói thời cho ăn.

Gia Huấn Ca có dạy như vậy mà. Không lẽ, ở nơi khác, dân chúng lại hành sử khác sao? Mà có khác thiệt, và khác lắm, khi xem lại vài trang báo cũ:

Cách đây chưa lâu, báo Dân Trí đi tin:

Rạng sáng nay 7/6, người dân xã Hưng Đông, TP Vinh (Nghệ An) phát hiện một vụ cháy kinh hoàng: một người đàn ông cùng một chiếc xe máy bị thiêu cháy bên vệ đường

Quan sát kỹ tại hiện trường, PV Dân trí nhận thấy nạn nhân bị đốt cháy gần thành than, không thể nhận dạng, bốc mùi khét lẹt… Chiếc xe máy bị đốt cũng chỉ còn trơ khung đen.Nhiều người cho rằng nạn nhân xấu số này ăn trộm chó bị phát hiện, bị đánh chết ở đâu đó rồi đưa ra cánh đồng này đốt xác.”

Ảnh: Nguyễn Duy

Hai tháng sau, cũng báo Dân Trí, lại có thêm tin nữa:

Khoảng 17 giờ 30 phút chiều ngày 29/8, hai kẻ ăn trộm chó đã bị người dân xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) đánh chết….

Ba người bị đánh chết (ở Nghệ An) trong vòng hai tháng, đã khiến tôi liên tưởng đến những cái chết khác – thảm khốc và thương tâm không kém – cũng ở địa phương này, hồi giữa thế kỷ trước, chính xác là vào năm 1952, theo lời kể của nhà văn Võ Văn Trực:

Một lũ ngồi lúc nhúc ở giữa vòng vây người nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa. Người xem đông quá là đông. Sóng người xô dồn lên, rồi dạt ra phía sau, rồi lại cuộn xoáy, ôm nhau, níu áo nhau. Không thể nào nghe được dân quân đang tra khảo tội nhân điều gì? Chỉ nghe nhứng tiếng quát lớn;’Mi có khai không? Mi có khai không?’ trộn lẫn với tiếng đấm đá huỳnh huỵch…”

“Tổ cha cái đồ phản động cái đồ Việt gian” – có tiếng người hét to như muốn vỡ ngực vỡ họng. Chính cái người hét to ấy đang ôm một gốc cây phi lao sần sùi mấu lao từ trên bức tường xuống như con mạnh thú vồ mồi, giơ cao gốc cây phang một cú vào ngực người bị treo ngược. Người bị treo rú lên một tiếng thất thanh và hai tay run rẩy như con nhái trước lúc chết. Thịch! Sợi dây đứt. Người bị treo ngược rơi xuống, sọ đập trên đất lổn nhổn cứt sắt… Người bị treo ngược bây giờ thành cái xác nằm sõng xoài trên đất ….(Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. California: Tạp Chí Văn Học, 2006).

Chuyện làng ngày ấy, và chuyện làng bây giờ – xem ra – không khác nhau nhiều lắm. Lòng “nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa” được thổi bùng lên từ thời “cách mạng phóng tay phát động quần chúng” đến nay – có lẽ – chưa bao giờ tắt (hẳn) ở rất nhiều nơi, tại Việt Nam.

Sài Gòn may mắn không phải là một nơi như thế. Vùng đất này không từng trải qua những năm Cải Cách Ruộng Đất (“nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa”) như tỉnh Nghệ An. Có phải nhờ vậy mà người dân “cởi áo cho kẻ trộm mặc chống lạnh,” thay vì đánh cho đến chết rồi mang đi đốt?

Nhắc đến Sài Gòn, tưởng cũng nên đọc lại vài dòng bút ký của anh Ba Sàm:

“Sau 1975, có những thứ mà Sài Gòn, miền Nam làm cho hắn rất lạ và không thể quên. Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không. Quê quá, phải dừng theo!

Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm có 4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.

Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành ‘Nội quy’). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

Thảo nào mà hôm rồi ông Chủ Tịch UBND Nguyễn Thế Thảo “than phiền về thái độ văn hóa ứng xử nơi công cộng của người dân thành phố, và “mong người Hà Nội ra đường trật tự như TP HCM.”

Chớ người Hà Nội “ứng xử nơi công cộng” ra sao mà mang tiếng dữ vậy cà? Xin đọc một đoạn văn khác của một nhà văn (vốn) gốc Hà Thành:

“Sắp đến ngày kỷ niệm Quốc khánh mùng 2 tháng 9, cả Hà Nội bừng sáng trong rừng khẩu hiệu và cờ hoa… Nơi các cửa hàng thịt cá mậu dịch người ta niêm yết trên bảng thông cáo: Các ô sổ phụ của phiếu thực phẩm tháng Chín bán cá bể, mỗi hộ được mua hai ký cá ngoài tiêu chuẩn để ăn mừng quốc khánh…”

“Cá bể chưa về. Thế mà có mấy người chầu chực sắp hàng từ năm giờ sáng. Trời vào thu rồi mà vẫn nóng, đám người chờ mua đông đặc không ra hàng lối gì. Mồ hôi, mồ kê nhễ nhại…vừa lúc đó, thốt nhiên bên kia đường bật lên tiếng reo lớn:”Cá về! Cá về!…”

Lúc đó thì không còn hàng lối gì nữa, mọi người chen chúc xô đẩy nhau, ý ới gọi nhau. Từng lớp sóng người dồn lên rồi lại dạt xuống, khiến không còn chỗ cho những bà mậu dịch viên đổ hàng. Thế là lại phải giải thích cho mọi người lùi lại, nhường cho một khoảng trống. Có đến hai mươi phút sau cá mới được đổ xuống vỉa hè, chả cần thau chậu gì ráo. Và lũ ruồi đánh hơi mới tài làm sao! Chỉ loáng một cái chúng đã kéo đến hàng đàn, bám đen lên đống cá. Tôi không đủ can đảm để giữ tư cách nữa, cứ thế mà chen đẩy theo sức lực của mình. Đứng trước tôi là một thằng bé, không hiểu bằng cách nào mà len lỏi tới trước được, nhưng cũng khổ cho nó, mỗi khi đợt xô đẩy dồn tới là nó lại bị đè ngã vào đống cá …” (Thế Giang. “Lộc Thánh”. Thằng Người Có Đuôi. Costa Mesa, CA: Người Việt, 1987).

Ảnh: vnexpress.net

Chuyện “xô đẩy” vì vài con cá, vài lạng thịt của người dân Hà Nội  – năm xưa –  có ảnh hưởng (ít nhiều) chi đến “văn hóa ứng xử nơi công cộng” của họ hôm nay không? Và “ảnh hưởng” (hay “di sản” hoặc “di hoạ”) này, mai hậu, “sẽ cần bao nhiêu lâu để vượt qua” là một trong nỗi bận tâm của nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Chúng ta thử hình dung, một ngày nào đó không xa, trong vòng một thập niên tới, Việt Nam sẽ chuyển thành công từ thể chế độc quyền dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam sang dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự.

Khi đó, cái di sản kéo dài gần ba phần tư thế kỉ ở miền Bắc và gần một nửa thế kỉ trên toàn quốc đó sẽ đặt chế độ mới trước những thử thách nào?

Xã hội Việt Nam sẽ cần bao nhiêu lâu để vượt qua di sản đó?”

Nhà văn Phạm Thị Hoài không phải là người duy nhất có nỗi lo âu (bao la) cỡ đó. Trước đó, trong tác phẩm Di Sản Mác Xít Tại Việt Nam – xuất bản vào năm 2002 – giáo sư Đỗ Mạnh Tri cũng cũng đã … cầm đèn chạy trước ô tô một đoạn rất xa:

“Học thuyết Mác sẽ để lại gì trên đất nước Việt Nam ? Có chút tương lai nào cho học thuyết đó ? Nói rộng ra, tương lai nào sau khi độc tài toàn trị chấm dứt ?

….

Nhưng chôn hay không chôn, dù sao ông Mác cũng di tản vào Việt Nam rồi…. Vào với tất cả hành trang lỉnh kỉnh của ông, của con cháu và tổ tiên ông…. Cũng như mấy thế kỷ trước đây đạo Kitô và trước nữa, Khổng, Phật, Lão. Dù muốn dù không, Mác đã thuộc phần gia tài của người Việt. Trong gia tài có thể có nợ. Kể cả nợ máu.

Làm gì với gia tài đó ?

Dù muốn dù không, Mác và những bóng ma của Mác đã và đương ám ảnh người Việt từ hơn nửa thế kỷ nay. Dù muốn dù không, nhân danh Mác hay nhân danh chống Mác, người ta đã làm nên ức triệu những con ma, những oan hồn từ đây sẽ luôn luôn quyện vào lịch sử dân tộc.

Hồn những kẻ đã nằm xuống nơi rừng núi, trong hầm sâu, nơi đồng ruộng, trong những trại giam, trong bụng cá, tại những đài tử sĩ đã bình địa vì thuộc bên này hay vẫn còn đó nhưng mốc meo không ai dòm ngó vì thuộc bên kia. Còn phải kể tới hồn những kẻ chưa sinh ra nhưng rồi đây sẽ phải gánh lấy gia tài đó…”

Cái đầu (bò) của một anh thường dân vớ vẩn như tôi khó có thể thể hình dung ra được (mai sau) “những kẻ chưa sinh ra nhưng rồi đây sẽ phải gánh lấy gia tài” của XHCN ra sao? Tôi chỉ có chút kỷ niệm (không vui) liên quan đến Marx và đứa con gái út của mình.

Khi cháu chừng mười hai hay mười ba gì đó, một hôm thay vì mua quà sáng cho cháu, tôi bảo nó xuống xe vào tiệm mua lấy  theo ý mình đi. Mấy phút sau, con bé đi ra tay không:

  • Con ghét người Việt Nam, con ghét người Việt Nam. I hate Vietnamese, I hate Vietnamese!

Mặt cháu đỏ bừng vì ngượng ngùng và tức giận khiến tôi ái ngại:

  • Chuyện gì vậy con?
  • Con đứng xếp hàng nhưng mấy người đến sau cứ chen lên trước nên con đợi mãi cũng chả đến lượt mình.

Cháu chào đời và lớn lên tại California nên không biết rằng những ông bà, cô dì, chú bác … khách hàng  trong tiệm giò chả này phần lớn (cũng y như chính bố nó) đều là những thuyền nhân. Họ đã bán tống bán tháo hết cả gia sản, bỏ của chạy lấy người, đâm xầm ra biển, xô đẩy chen lấn và sẵn sàng đạp lên nhau (nếu cần) chỉ để mong có thể dành được một chỗ trên một con thuyền ọp ẹp và mong manh nào đó. Người nhanh chân chưa chắc đã sống nhưng kẻ chậm chân thì chắc chết, chết chắc.

Kinh nghiệm hãi hùng này vẫn còn in đậm trong tâm trí và cách hành xử của rất nhiều người tị nạn C.S. nên cứ thấy đám đông là là họ chen liền, như một phản xạ tự nhiên, cho nó chắc ăn – dù chỉ để mua và cái bánh giò, hay mấy cân chả lụa. Cá nhân tôi, đôi lần, cũng đã “chen xe” trên freeway một cách hoàn toàn vô thức (và ngu xuẩn) tương tự.

Thiệt khó mà biết “xã hội Việt Nam sẽ cần bao nhiêu lâu để vượt qua di sản” thổ tả này nhưng ý thức được rằng “chúng ta không thể xây dựng đất nước bằng cách phủ định thực tại Việt Nam … có Mác” (chắc chắn) sẽ giúp cho dân tộc này dễ thông cảm và  bao dung với nhau hơn khi cùng chung tay xây dựng lại Việt Nam – trong tương lai gần.

THỜI ĐẠI MỚI

THỜI ĐẠI MỚI

AM. TRẦN BÌNH AN

Trích EPHATA 638

Nhà văn Phaolô Nguyễn Hoàng Đức, một chứng nhân sống động của Chúa, của Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận. Ông từng là trung uý an ninh, công tác tại cục “chống phản động” A16 thuộc Bộ Nội Vụ, phụ trách vấn đề tôn giáo. Năm 1987, ông có dịp gặp Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận lúc đang bị giam cầm để học tiếng Pháp. Sau gần hai năm học cùng ngài, ông được khai sáng Đức Tin Thiên Chúa. Một thời gian sau khi Đức Hồng Y được trả tự do sau 13 năm giam giữ bất công, ông Đức cũng từ bỏ ngành Công An và chính thức trở thành con cái Chúa vào dịp Lễ Phục Sinh 2003.

“Con đường Đức Tin vào Nước Chúa qua cây cầu Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận”, của nhà văn Nguyễn Hoàng Đức là một chứng từ trong hồ sơ phong Chân Phước cho Đức Hồng Y FX. Nhà văn tự thuật: “Cuối năm 1988, sang đầu năm 1989 tôi bắt đầu nộp đơn xin chuyển ngành, lý do chính là, sau một loạt sự kiện hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tan vỡ, đặc biệt “sự kiện Mùa xuân Bắc Kinh” xảy ra tại quảng trường Thiên An Môn ngày 4.6.1989, rồi quân đoàn 27 tràn vào trộn máu thịt sinh viên bằng xích xe tăng, lúc đó Việt Nam coi “Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp”, nhưng lại chiếu phim thời sự trong nội bộ để học tập cách đàn áp của Trung Quốc. Điều đó làm tôi không muốn ở cục “Chống phản động” nữa, vì qua ngót mười năm làm việc, đọc nhiều hồ sơ, tôi hiểu hầu hết người dân lành đó không phải là phản động. Đôi khi, vài anh em bạn bè trong cục tôi vẫn thường bảo với nhau: Tại sao chúng ta thừa nhận Giáo Hội là hợp pháp, trong khi đó lại coi việc hành lễ hay rước lễ của họ là bất hợp pháp ? Tại sao một Linh Mục hợp pháp cả về tư cách công dân, cả về tư cách mục vụ đã được nhà nước chấp thuận theo luật, vậy mà ông Linh Mục đi từ nơi này đến nơi kia lại phải xin phép ?

Ngay việc của Đức Cha FX. Nguyễn Văn Thuận thôi, nếu Giáo Hội mà ngài theo hợp pháp, thì việc Giáo Hội đó tổ chức ra một hội đoàn “Tu hội Hy Vọng” tại sao thành bất hợp pháp ? Nếu bất hợp pháp sao không đưa người phạm pháp ra xử theo luật mà cứ tự tiện biệt giam ?

Hồi đó, một cách tự nhiên, hàng tuần tôi thường đi dự Thánh Lễ tại Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn, nghe Linh Mục Nguyễn Khảm giảng lễ, một lần thấy cha giảng hay quá, tôi còn đợi hết lễ và sang tận nhà xứ gặp cha… Lần đầu tiên dự Thánh Lễ, tôi rất cảm động và khâm phục về trình độ phản tỉnh cũng như mở lòng với tha nhân qua hai hình thức “Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi mọi đàng !” và việc “Anh chị em chúc bình an cho nhau”, cúi phía trước, cúi phía trái, cúi phía phải chào nhau…

Nhưng có một đêm tôi được một giấc mơ kéo vào thế giới của tâm linh, đại loại như có một cánh tay dẫn tôi đến một chân trời có tấm phông thả từ vòm trời xuống, và có giọng nói, nếu tôi vén màn sẽ nhìn thấy thế giới ánh sáng ở phía bên kia. Tôi giơ tay vén màn thì choàng tỉnh. Đêm thứ hai, sau đó vài ngày, thì giấc mơ kéo tôi đến thẳng Nhà Thờ, và có giọng nói: “Hãy đi vào đường của tâm linh thiêng liêng”… Kể từ đó, sáng Chủ Nhật nào tôi cũng dậy từ 5 giờ sáng đi Lễ Nhà Thờ Phùng Khoang, tôi đã luôn tự nhận mình là con cái Chúa…

Tối 19.4.2003, tôi được rửa tội… Trước bàn thờ Chúa ở Nhà Thờ và bàn thờ Chúa ở nhà riêng, tôi đã hân hoan cảm tạ Chúa rằng: “Lạy Chúa ! Hành trình đi đến Đức Tin của con có cả ơn soi, ơn gọi, và ơn chọn, khởi đầu từ hạt men đầu tiên nơi cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, giờ đã dậy lên cả đống men, trong tâm hồn con tràn ngập ân sủng Đức Tin của Chúa, trong Chúa và hướng về Chúa !”

Theo Kinh Thánh, thời gian được chia làm hai thời kỳ Cựu Ước và Tân Ước. Đức Giêsu loan báo thời kỳ Cựu Ước đã đến hồi kết thúc và thời đại Tân Ước, thời cuối cùng, thời cánh chung đã tới. Người kêu gọi hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Trong bối cảnh này, Người đã gọi các ông Anrê, Simon, Giacôbê và Gioan làm những môn đệ đầu tiên. Các ông đã mau mắn vâng lời, dứt khoát bỏ tất cả đi theo Người. Hôm nay, mhà văn Nguyễn Hoàng Đức cũng đã dứt khoát từ bỏ vinh hoa phú quý, tương lai huy hoàng, xán lạn để tin vào Tin Mừng đầy cam go, gian lao và thách đố.

Nhìn lại và đổi mới

“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Sám là ăn năn lỗi trước, hối là chừa bỏ lỗi sau. Sám hối nghĩa là dứt trừ lỗi trước đã phạm, không cho lỗi lầm sau phát sinh. Nhưng con người hiện đại hình như hiếm hoi thì giờ để hồi tâm xét mình, để nhìn lại những gì đã trải qua, đã làm, đã vấp phạm, đã xúc phạm đến Chúa và tha nhân.

Lúc nào cũng bận rộn, vừa dứt công việc thì lao ngay vào giải trí, thú vui, thư giãn. Âm thanh, hình ảnh, sự kiện luôn lấp đầy tâm trí, lòng dạ. Vì thế cuộc sống ồn ào, quay cuồng, xô bồ, ô nhiễm, ngộ độc con người từng phút giây, từ sáng tinh mơ đến tận đêm khuya nghỉ ngơi. Do vậy, số người cô đơn, mất phương hướng và lý tưởng, tha hóa, tự tử ngày càng tăng trong những xã hội văn minh, hiện đại như Nhật Bản, Hàn Quốc và Âu Mỹ.

Không xét mình, chẳng nhìn lại đằng sau, thì cũng chẳng thể nào tiến triển, trưởng thành trên đường đạo hạnh, con người chỉ có thể chìm dần, sa vào vũng lầy tội lỗi, đen tối, u ám, bất hạnh. Cái chết là kết cục đương nhiên. Cho nên không sám hối thì sớm muộn chỉ tìm đến cái chết cả xác lẫn hồn.

Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?” ( Mt 16, 25-26 ).

“Nếu con chỉ “giữ đạo” con chưa canh tân. Ma quỷ muốn đuổi Chúa ra khỏi thế gian và lôi thế gian ra khỏi Chúa. Con phải đem Chúa đến thế gian và đưa thế giới về với Chúa.” ( Đường Hy Vọng, số 650 ).

Sống Tin Mừng

Sám hối mà thôi vẫn chưa đủ khả năng nhập gia tùy tục vào thời đại mới, thời đại Tin Mừng, thời đại Tân Ước, mà còn phải sống Tin Mừng. Cụ thể hóa Tin Mừng ngay trong đời thường hằng ngày qua bổn phận, trách nhiệm, yêu thương và phục vụ tha nhân, cùng vâng theo Thánh Ý Chúa mọi nơi, mọi lúc.

Bốn anh thuyền chài khỏe khoắn, vạm vỡ: Anrê, Simon, Giacôbê và Gioan đã mau mắn nghe tiếng Chúa gọi, quyết định từ bỏ tất cả, thân quyến, nghề nghiệp, của cải, ra đi làm môn đệ, làm anh em của Người. Sau này “Simon Phêrô lên tiếng thưa Ngài: “Này chúng tôi từ bỏ mọi sự mà đi theo Thầy”. Ðức Yêsu nói: “Quả thật Ta bảo các ngươi: không ai bỏ nhà cửa, hay anh em chị em, hay cha mẹ, hay con cái, hay ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng, mà lại không lĩnh lấy gấp trăm bây giờ ở đời này về nhà cửa, anh em và chị em, mẹ và con cái cùng ruộng nương, làm một với cấm cách bắt bớ, và sự sống đời đời trong thời sẽ đến” ( Mc 10, 28-30 ).

“Hãy đi rao giảng Phúc Âm…” ( Mc 16, 15 ). Chúa cần những người “cảm tử” để đảm nhận một sứ mạng cao cả như thế. Hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh cho ta thấy, giai đoạn nào cũng không thiếu cảm tử, từ mọi tầng lớp Giáo Dân” ( Đường Hy Vọng, số 64 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin chiếu giãi Lòng Chúa xót thương, mở lòng, mở trí chúng con ra, để chúng con biết khiêm tốn, cúi đầu đấm ngực, ăn năn, sám hối, canh tân, cùng thực thi Tin Mừng trong đời sống thường nhật chúng con.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giải thoát chúng con khỏi bùn lầy thế gian, mà sám hối trở về cùng Chúa Giêsu, cội nguồn ơn cứu rỗi, để được thứ tha và an ủi, hầu chúng con có thể noi gương Mẹ, sống kết hợp cùng Chúa luôn. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

TIẾNG AI GỌI MỜI

TIẾNG AI GỌI MỜI

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 638

Trong mấy ngày qua tôi có dịp tiếp xúc với một chuyên viên về gỗ, anh còn rất trẻ nhưng lặn lội trong nghề gỗ “từ trong nôi”. Qua anh tôi học được nhiều điều, những tiến bộ trong công nghệ sấy và tẩm gỗ, tôi lạ lẫm và say mê nghe anh nói, kiến thức tôi có được khi ngồi trên ghế nhà trường từ hơn 40 năm trước về công nghệ gỗ bỗng bị anh bỏ xa tắp tít mù khơi. Tôi như bị choáng ngợp khi được anh mời vào thăm xưởng gỗ của anh, đi mỏi chân và khá mệt vì leo trèo qua các súc gỗ to vạm vỡ đường kính có đến trên dưới 2 mét. Cái lò sấy gỗ to đùng như một công xưởng lớn mà chúng ta chỉ thấy qua các hình ảnh ở các khu công nghiệp nước ngoài.

Anh giới thiệu với tôi về tính năng của một vài loại gỗ, tính cơ lý thể hiện qua độ dai, độ dòn, tính hóa học thể hiện qua khả năng chống mối mọt, tính cấu tạo thể hiện qua độ rỗng của thớ gỗ, và với các công cụ kỹ thuật anh đo độ ẩm trên từng súc gỗ đã sấy, kéo dài qua thời gian… Anh nói về Phượng tím Châu Phi, anh phân biệt Lim Lào, Lim Indonesia, Lim Châu Phi khác nhau thế nào, ảnh hưởng của núi lửa trên các tính năng của gỗ ra sao, tại sao Lim Châu Phi lại tốt hơn Lim Indonesia… Anh tiếp tục nói về các loại gỗ ưu việt từ rừng Amazone, Surinam, những chuyến hàng chuyển về từ những nơi xa lạ.

Ngồi nghe anh nói tôi bị cuốn hút vào một thế giới khoa học kỹ thuật đầy hấp dẫn, những tiếng trống bập bùng vang vang trong các cánh rừng Châu Phi, những cánh rừng Nam Mỹ bạt ngàn gỗ ẩn hiện trong mắt tôi. Những người anh em da đen. da đỏ cao lòng khòng nhảy múa trong trái tim tôi. Từ lâu rồi tôi biết về một con người, một người anh em của chúng tôi dấn thân và phục vụ trong những rừng già âm u ấy. Chân Phúc Phêrô Donders, DCCT.

Chân Phúc Phêrô Donders sinh tại Hà Lan năm 1809. Năm 1841 ngài thụ phong Linh Mục, ngay năm sau, 1842 ngài sang Surinam thuộc Nam Mỹ để thi hành sứ vụ. Từ công việc làm tuyên úy cho người da trắng, cảm thương tình trạng nô lệ của người da đỏ, ngài đứng về phía người bản địa rồi trở thành kẻ thù của chính người đồng hương da trắng. Công cuộc đấu tranh cho người da đỏ bị bóc lột đẩy ngài ngày một xa dần phố thị để đi mãi vào rừng sâu. Mười năm cuối đời ngài sống trong một khu rừng quy tụ những người bản địa bị bệnh phong cùi, ngài yêu thương phục vụ họ và ngài đã qua đời tại đó ngày 14 tháng 1 năm 1887, Batavia là địa danh cuối cùng trong đời ngài.

Phêrô Donders đã không chọn cho mình sự sung sướng, chăn êm nệm ấm, Phêrô Donders đã không tìm cho mình sự an toàn cá nhân và sự thăng tiến phẩm trật, nhưng Tin Mừng đã thôi thúc và đầy Phêrô Donders về phía người bị bóc lột, người bị coi khinh, người bị ruồng rẫy. Hẳn rằng ngài đã bị dằn vặt rất nhiều khi chọn lựa hướng dấn thân này, ngài phải vượt chính cá nhân mình và vượt qua cả những cản ngại của anh em cùng là Giáo Sĩ, vượt qua cả những âu lo, những ngăn cản “vì sự an toàn” của ngài và của anh em khác, vì công cuộc của Giáo Hội, vì sự nghiệp của người da trắng… Chắc hẳn ngài đã băn khoăn rất nhiều khi dã từ những sinh hoạt khá tiện nghi để đi dần vào rừng sâu, lang thang cùng những con người bị bách hại.

Phêrô Donders đã chọn Tin Mừng để dấn thân chứ không chọn công việc để hoạt động, và vì Tin Mừng gắn chặt với người nghèo, người bị bỏ rơi nên Donders không còn con đường nào khác ngoài con đường “theo chân” người bị bỏ rơi người nghèo mà sống. Thật cụ thể thiết thực, không lý thuyết xuông, không hô khẩu hiệu, không nói thuộc lòng những câu văn hoa mỹ để lòe bịp người nghe, ru ngủ người nghe, Donders dấn thân thức sự và chấp nhận thập giá trong cuộc đời mình.

uyến “xuất hành” của Donders vào rừng sâu là chuyến xuất hành theo chân chuyến “xuất hành” của An Phong vào Scala. Nhìn vào lịch sử của Dòng Chúa Cứu Thế, từng chuyến xuất hành về phía người nghèo được lập đi lập lại và tiếp nối nơi từng vị Thánh thích ứng với từng thời kỳ khác nhau, nhưng dù ở bất cứ thời kỳ nào, người nghèo và người bị bỏ rơi hơn cả vẫn luôn là điểm đến của những chuyến xuất hành mang tên An Phong.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

19.1.2015

Bệnh Tật và Chữa Lành

Bệnh Tật và Chữa Lành

(Suy Niệm Phúc-âm Mác-cô 3:7-12)

Bài Tin-mừng hôm nay được coi là một bản tóm lược những hoạt động của Đức Giêsu tại vùng phía Biển Hồ.  Có vẻ Ngài rút lui về vùng này không phải vì sợ bị hãm hại, nhưng để mở rộng phạm vi hoạt động hơn.

Như trước đây không lâu, mọi người từ vùng Giuđê và Giêrusalem kéo đến chịu thanh tẩy bởi ông Gioan, giờ đây một đám đông lớn hơn từ khắp mọi vùng đổ xô đến với Đức Giêsu.  Có thể nói là toàn dân Israel hào hứng tụ họp bên Ngài.  Chưa bao giờ Đức Giêsu thành công đến thế.

Nhưng nhiều người trong đám đông khổng lồ này lại là những bệnh nhân.  Họ theo Đức Giêsu vì họ nghe biết những phép lạ chữa lành Ngài đã làm.  Đức Giêsu xin các môn đệ chuẩn bị một chiếc thuyền để nếu có bị chen lấn quá trên bờ Ngài còn có thể xuống thuyền mà tránh đám đông.  Những bệnh nhân tin rằng họ có thể được chữa lành nhờ chạm đến Ngài.  Có những người chỉ xin được chạm vào tua áo choàng của Ngài là được khỏi bệnh… Họ không chờ Đức Giêsu đến với họ, chính họ chủ động chen lấn để chạm được đến Đức Giêsu.  Họ không cần Ngài phải làm gì hay nói gì… họ chỉ cần “chạm đến” với lòng tin là mọi bệnh tật được chữa lành.

Dù y-khoa đã đạt được những bước tiến đáng kể, nhưng ai có thể thống kê hết các bệnh nhân trên thế giới?

·        Con người hôm xưa, chạy đến với Đức Giêsu để được chữa lành khỏi ách nặng nề của bệnh tật thân xác và tinh thần.

·        Con người hôm nay cũng chạy đến với Giáo-hội để xin chữa lành.

Mọi nhà thương, phòng khám bệnh hay nơi phát thuốc của người Công-giáo đều là nơi các bệnh nhân gặp được Đức Giêsu.  Nơi đây, họ chạm được vào con người nhân hậu của Ngài.  Và nơi đây, Đức Giêsu chạm đến họ qua bàn tay của các bác sĩ Công-giáo.

Con người hôm nay nhận ra Đức Giêsu không nhờ sự giới thiệu của thần ô uế (quỷ) như thời Ngài đang rao giảng. Thần ô uế (quỷ) xấp mình trước mặt Ngài mà tuyên xưng: “Ông là Con Thiên Chúa”

Con người hôm nay nhận ra Đức Giêsu nhờ sự phục vụ khiêm hạ của những lương y giống như Ngài.

Lạy Chúa,

xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

nơi khuôn mặt khốn khổ

của tất cả những người bị thử thách:

những kẻ đói, không chỉ vì thiếu của ăn,

nhưng vì thiếu Lời Chúa;

những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật,

công bằng và tình thương;

những kẻ vô gia cư,

không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

nhưng còn tìm một con tim hiểu biết, yêu thương;

những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

không chỉ trong thân xác,

nhưng còn trong tinh thần nữa,

bằng cách thực thi lời hy vọng này:

“Ðiều mà ngươi làm

cho người bé mọn nhất trong anh em

là làm cho chính Ta”

(Mẹ Têrêxa Calcutta)

THÁNH PHAOLÔ NGÃ NGỰA

THÁNH PHAOLÔ NGÃ NGỰA

ĐGM Vũ Duy Thống

Cuộc đời thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần được đưa lên tầng trời thứ ba; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hy Lạp; chẳng hạn khi ngài lênh đênh trên biển tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa.  Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ?

Thưa vì hình ảnh đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai nửa đời ấy dường như hội tụ lại trong hình ảnh thánh Phaolô ngã ngựa hôm nay.

1) Cú ngã ngựa cũng là ngã rẽ cuộc đời.

Về danh xưng, nửa đời trước là “Saolô” với một câu hỏi “tại sao?” đang cỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”.

Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người bạn biệt phái cũ của ông.

Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ lúc gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời thánh Phaolô.  Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa.

2) Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản những cú “ngã ngựa”.  Có những cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú ngã ngựa trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm; và cũng có những cú ngã ngựa đau điếng trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được, mà hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại làm điều kiện cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh.  Ăn trái cấm là một thất bại của Adam Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người.  “Tội hồng phúc” là thế.  Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, nhưng lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.  Và cú “ngã ngựa” của thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt quãng đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.

Như vậy, người ngã ngựa không nhìn vào mình để chỉ cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sáng niềm tin.  Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy.  Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

ĐGM Vũ Duy Thống

DANH SÁCH NHỮNG CÁI CHẾT VÌ ĐỘT TỬ CỦA QUAN CHỨC ĐẢNG CSVN

DANH SÁCH NHỮNG CÁI CHẾT VÌ ĐỘT TỬ CỦA QUAN CHỨC ĐẢNG CSVN

Đôi lời: Phần tổng kết này còn thiếu nhiều cái chết của các lãnh đạo đảng CSVN do đột tử, chẳng hạn như trường hợp tướng công an Phạm Quý Ngọ, đã đột ngột qua đời vì… bệnh ung thư gan hồi tháng 2 năm 2014. Hay như cái chết của Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám, cũng đã “đột tử” hồi năm 2008 ở tuổi 60. Cái chết của Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên hồi năm 2010 cũng gây nhiều tranh cãi. Xa hơn nữa là cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình, bị Tây phục kích giết chết hay là do các “đồng chí” của ông ấy giết?

Còn rất nhiều cái chết của các lãnh đạo cao cấp trong hàng ngũ Đảng CSVN bị cho là thủ tiêu, tuy nhiên chưa có thống kê nào chính xác và đầy đủ về những cái chết đầy nghi ngờ này. Xin tạm nêu nghi vấn về những cái chết dưới đây, để mọi người hiểu thêm cái “tình đồng chí” của những người cộng sản.

Dương Hoài Linh

22-01-2015

Bên cạnh những cái chết về ung thư, Đảng CSVN cũng sáng tạo ra những cái chết vì đột tử. Nhân cái chết của Nguyễn Hữu Thắng – Cục trưởng Đường sắt VN được phát hiện chết tại phòng làm việc, thử điểm lại những cái chết mang nhãn hiệu này trong lịch sử Đảng CSVN.

1/ Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.

2/ Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam,gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng vào ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2 .

3/ Đại Tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), nguyên là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,đã chết bất đắc kỳ tử.

4/- Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986) khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột ngày 2/7/1986.

5/ Đại Tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân dân Việt Nam, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam, chết thình lình ngày 5/12/1986.

6/- Thượng Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987), người hùng đường mòn Hồ Chí Minh, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ ,bị “lạc đạn” chết trong lúc đi săn, nhưng nhà cầm quyền nói là tai nạn giao thông.

7/- Trung Tướng Phan Bình (1934-1987), Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi vừa bị Lê Đức Anh tước mất quyền, bị giết bằng cách bắn vào đầu ngày 13/12/1987 tại Sài Gòn, nhưng nhà cầm quyền cho là tự sát.

8/- Thủ Tướng CSVN Phạm Hùng (1912-1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, tại nhiệm 1987-1988. Chết đột ngột ngày 10/3/1988 tại Sài Gòn, khi đang tại chức.

9/Chiều 22/1, ông Nguyễn Hữu Thắng – Cục trưởng Đường sắt VN được phát hiện chết tại phòng làm việc. Cơ quan công an đang khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân.

Chân dung quyền lực – Hồn ma báo oán?

Chân dung quyền lực – Hồn ma báo oán?

Cục Đất – Còm sĩ lâu năm của trang Ba Sàm

23-01-2015

Chân dung quyền lực (CDQL) là một kênh truyền thông đình đám hiện nay, với đủ các dạng như: blog, facebook, twitter v.v… với chế độ còm men khá thoải mái.

Đến nay, ít nhất nó đã vạch mặt chỉ tên việc tham nhũng của 3 vị lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN, với những cứ liệu hết sức rõ ràng, chi tiết.

Có nhiều phỏng đoán về chủ nhân và mục đích của Chân dung quyền lực:

Phải chăng, đó là sự báo thù của một vị Trưởng ban đang nằm chờ chết do nghi án bị đầu độc bằng phóng xạ.

Phải chăng, đó là sự báo thù của một vị Tổng thanh tra “đã bị lộ”.

Phải chăng, nó là của một vị đầy quyền lực đang đứng đầu bảng tín nhiệm.

Phải chăng, nó là của một nhà chính trị thật sự vì dân, đang tạm thời ẩn danh, chuẩn bị làm cách mạng.

Phải chăng nó là của Trung Nam Hải, CIA…

Phỏng đoán chỉ là phỏng đoán. Nhưng những điều dưới đây là có thật:

– CDQL mang lại cho dân những cứ liệu hết sức rõ ràng về sự thối nát của chế độ. Những suy luận hợp lý về việc độc tài, quyền lực không kiểm soát sẽ dẫn đến tham nhũng khủng khiếp, nay đã có nhiều bằng chứng cụ thể.

– Chủ nhân của CDQL là người rất can đảm, không sợ bị trả thù. Dầu anh ta mạnh đến đâu chăng nữa, ta cũng cần nhớ rằng những kẻ bị tố cáo – vốn có quyền lực – có thể sẽ phản đòn.

Thế nhưng, phản ứng của cộng đồng hiện nay thế nào?

Phần lớn những nhà bất đồng có tên tuổi đều phản ứng khá dè dặt, với những quan điểm như: đó là đấu đá nội bộ, mục tiêu không phải là dân chủ, nghi ngờ sự trung thực v.v…

Các comment ở CDQL thiếu vắng các còm sĩ nghiêm túc, quen thuộc.

Thậm chí trang B. khi đăng lại bài của CDQL về kết quả tín nhiệm, đã ngang nhiên cắt xén phần bình luận của nó. Theo tôi, việc làm này không đẹp.

Các tổ chức xã hội dân sự tiến bộ có vẻ khá chân chất và thiếu nhạy bén, thiếu kết nối trong tình huống này.

Cớ sao không hiệp đồng phát động phong trào rộng rãi: “Yêu cầu làm rõ và xử lý các vụ tham nhũng do Chân dung quyền lực nêu ra”

Việc ra đời của CDQL, bất kể chủ nhân của nó là ai, là một cơ hội tốt, có thể nói là độc nhất vô nhị, để có một phong trào rộng lớn thể hiện sự nhất trí cao của đông đảo mọi người, mọi tổ chức trong việc đấu tranh cho tiến bộ xã hội ở Việt Nam.