Việt Nam còn ăn xin đến bao giờ?

Việt Nam còn ăn xin đến bao giờ?

Nguyễn Văn Tuấn

Chuyện lãnh đạo nước mình đi ăn xin dài dài không đợi bác Nguyễn Văn Tuấn nói, thằng Tàu nó đã vạch mặt chỉ tên từ lâu.

Còn nhớ, ngày trước cứ mở đài Bắc Kinh ra là nghe Tàu nó réo chửi mình: “Việt Nam là tên ăn mày quốc tế vô liêm sỉ”.

Ngẫm kỹ ra thì từ khi cách mạng về, kể đã mấy chục năm, Đảng mình, các lãnh tụ nước mình có hai cái tài đặc biệt, xưa nay hiếm: Một là tài đi ăn xin, hai là tài … sống lâu. Kìa, xem bác Phạm Văn Đồng, bác Đỗ Mười, bác Lê Đức Anh… đều sống ngót nghét cả trăm tuổi. Ít hơn một chút thì có bác Phiêu U 90 rồi mà vẫn lặn lội suốt từ Nam chí Bắc, hễ đâu có chuyện hiếu hỉ là có bác. Rồi bác Nông Đức Mạnh U 80 mà răng vẫn chắc, môi vẫn đỏ, còn phong độ hơn cả vận động viên thể hình. Có lẽ bác này phải thọ đến 200 tuổi chứ chẳng chơi. Các bác đày tớ cứ phong độ như thế suốt cả thế kỷ trong lúc đám 90 triệu ông chủ cứ thi nhau lăn đùng ra chết, hết chết vì tai nạn giao thông lại đến chết vì ung thư, tiểu đường, ho lao. Bệnh viện người nằm đè lên người như xếp cá trong nồi. Ô hay, các bác cứ sống lâu như vậy còn dân thì tranh nhau chết như vậy rồi ra còn ai cho các bác lãnh đạo? Còn ai để đi trên con đường mang tên Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu…

Trở lại với chuyện Việt Nam ăn xin. Nhục thì nhục rồi, nhưng nước mình không phải là ngoại lệ. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều là những kẻ ăn xin có hạng, ăn xin lẫn nhau và ăn xin các nước ngoài hệ thống XHCN, nghĩa là ăn xin các nước tư bản. Hồi còn Liên Xô, họ đã phải nuôi báo cô hàng loạt nước XHCN vệ tinh. Điển hình nhất là Cu Ba. Rồi Bắc Triều Tiên cũng sống nhờ vào bầu sữa Trung Quốc. Khi thiếu đói quá, họ phải buôn lậu vũ khí và thuốc phiện để tồn tại qua ngày.

Không ăn xin sao được khi mà năng suất lao động thấp nhất khu vực, tham nhũng cao nhất khu vực? Không ăn xin sao được khi mà số cán bộ của một xã ở Thanh Hóa (500 người), xấp xỉ một cơ quan quản lý của khối EU trông coi mấy trăm triệu công dân EU ? Không ăn xin sao được khi mà chỉ một cái Văn phòng trung ương Đảng đã có tới gần 3000 nhân sự và chi tiêu mỗi năm hàng trăm triệu USD ?

Bauxite Việt Nam

Thật ra, đó là câu hỏi của người đại diện JICA (Quĩ Hợp tác Quốc tế của Nhật) dành cho phía Việt Nam trong cuộc họp báo hai ngày trước ở VN (1). Điều vui vui là phóng viên đặt câu hỏi rằng Quốc hội VN về tài trợ của Nhật có ràng buộc (như phải thông qua hay dùng nhà thầu Nhật), ông đại diện nói rất thẳng là “Tôi nghĩ đến câu chuyện Việt Nam lúc nào không cần ODA nữa. Đến nay Việt Nam đã nhận ODA 20 năm. Bao giờ Việt Nam không cần cần nữa? 10 năm hay 20 năm nữa?” Có thể hiểu câu đó một cách nôm na là: các anh còn ăn xin đến chừng nào nữa, 10 năm hay 20 năm? Đã ăn xin mà còn cao giọng đòi hỏi! Phải nói rằng đó là một lời bình rất thật, hơi trịch thượng, và có thể làm cho người có tự trọng cảm thấy rất nhục.

Ông đại diện JICA không chỉ mắng là ăn xin đến khi nào, mà còn gõ đầu cảnh cáo về tình trạng tham nhũng hối lộ. Ông nói thẳng thừng: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN“. Bất quá tam. Thú thật, đọc câu đó thoạt đầu tôi cứ tưởng là chuyện “Cá Tháng Tư”, chứ có ngờ đâu là tin thật. Cảm giác đầu tiên dĩ nhiên là thấy nhục nhã, bởi vì để cho một nước khác nói thẳng như thế, nói trong tư thế của kẻ bề trên. Nhưng nghĩ lại thì thấy cũng … đáng. Quen thói “ăn không chừa thứ gì” (lời của một quan chức cao cấp) thì cũng phải đến ngày bị người ngoài mắng cho một trận nên thân. Chỉ tội đa số người dân Việt phải hứng chịu sự khinh bỉ của người khác.

Tại sao người Nhật họ có thể nói thẳng như thế? Câu trả lời là vì họ là người chủ nợ lớn nhất của Việt Nam. Trong quá khứ và cho đến nay, Nhật đã tài trợ cho VN rất nhiều. Một bài báo năm ngoái cho biết trong thời gian 20 năm qua, Nhật đã hỗ trợ cho VN 20 tỉ USD (2), và con số vẫn còn tăng. Chỉ riêng năm 2014 Nhật đã tài trợ cho VN gần 2 tỉ USD, có lẽ là nguồn tài trợ lớn nhất cho VN (?). Có lẽ chính vì thế mà Nhật có tư cách cảnh báo VN như cha cảnh báo con: cứ tối ngày phung phí thì coi chừng, nghe chưa con! Thật ra, nói là tài trợ, nhưng thực tế là vay, và thế hệ con cháu phải trả số tiền vay này trong tương lai.

Nhưng VN không chỉ nhận từ Nhật, mà còn từ một nguồn quan trọng khác là Ngân hàng Thế giới (WB). Tôi thử tra số liệu của WB thì thấy tiền vay ODA từ WB qua các thời gian như sau:

1995-1999: 2.94 tỉ USD
2000-2004: 3.59 tỉ USD
2005-2009: 4.11 tỉ USD

Số tiền này rất lớn so với các nước khác. Thật ra, các nước như Phi Luật Tân và Nam Dương thì họ giảm vay ODA (riêng Thái Lan và Mã Lai thì không thấy vay ODA nữa, chắc là họ đã “ok”). Số liệu của Nam Dương:

1995-1999: 1.39 tỉ USD
2000-2004: 419 triệu USD
2005-2009: 67 triệu USD

và Phi Luật Tân:

1995-1999: 531 triệu USD
2000-2004: không vay
2005-2009: 5.14 triệu USD

Ngay cả Lào cũng có xu hướng giảm vay ODA. Năm 1995-1999, Lào vay 414 triệu USD, đến năm 2005-2009 thì còn 409 triệu USD. Còn Kampuchea thì chỉ vay khoảng 700 đến 800 triệu USD mỗi 5 năm, và không thấy tăng.

Tất cả những con số trên cho thấy VN là nước vay rất nhiều từ WB, và xu hướng đang tăng (xem biểu đồ). Nếu dân số năm 2014 là khoảng 89.7 triệu, thì tính trung bình số tiền vay (5 năm) là 46 USD mỗi người dân. Có lẽ vì vay nhiều thế, nên có chuyên gia tính toán rằng hiện nay, mỗi người Việt nợ 900 USD (?).

Biểu đồ về số tiền vay ODA từ Ngân hàng Thế giới trong thời gian 1995-2009 của Việt Nam, Nam Dương, Lào, và Phi Luật Tân. Đơn vị là triệu USD.

VN vay nhiều nhưng “ăn” cũng nhiều. Nguồn tin từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì cho biết trong các nước mà WB tài trợ, thì VN là nước bị than phiền nhiều, đứng hàng thứ 2 (chỉ sau Ấn Độ). Người ta than phiền VN ăn hối lộ, ăn chận tài trợ của WB. Lĩnh vực bị than phiền nhiều là giao thông vận tải, viễn thông và công nghệ thông tin, và cấp nước (4). Đã ngửa tay ăn xin mà còn tham nhũng! Chính vì thế mà VN bị khinh bỉ trên trường quốc tế.

Thuỵ Điển đã cúp viện trợ. Vài nước khác cũng đang sắp cúp viện trợ cho VN. Cuối cùng thì có lẽ VN nhờ vào kiều hối, nhưng số này cũng sẽ giảm vì thế hệ thứ 2 người Việt ở nước ngoài sẽ không có gắn bó gì với VN, và họ sẽ chẳng gửi tiền về VN nữa.

Quay lại câu hỏi nhức nhối (ăn xin đến khi nào), nên nhớ rằng viên đại diện Nhật không phải là người đầu tiên nói như thế. Ông Lê Đăng Doanh, trong một buổi báo cáo cho Trung ương Đảng, đã nói thẳng, không màu mè (5):

Ngày 01 tháng 12 này cũng có một cái Hội nghị tài trợ. Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa? Chúng mày là người thông minh, có học, về mặt nào đấy chúng mày không kém gì chúng tao cả… Tại sao chúng mày cứ ăn xin miết thế. Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không? Nó nói với tôi trắng trợn và thẳng lắm chứ, y nguyên như tôi nói với các anh chị.”

Ông nói thêm:

Nó bảo mày phải nghĩ đi, mà phải nghĩ cả phẩm giá, tư cách của mày đi xem mày là thế nào đi, lúc nào rồi dân tộc của mày sẽ như thế này sao? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Ta cứ tưởng nó cho tiền mãi là vinh dự. Tôi thấy vinh dự vừa phải thôi, chứ trong thâm tâm tôi như muối xát vào ruột chứ không đơn giản đâu. Vì nó nói đến như thế. Thằng không nói thì trong thâm tâm nó cũng nghĩ thế cả, thằng bỗ bã thì nó nói toẹt vào mặt chứ không phải đơn giản đâu. Cho nên, có người nói với tôi là, vậy thì bây giờ mình có lãnh đạo ASEAN được không, tức ông phải trả lời trước hết ông lãnh đạo thì ông có tiền ông bao thằng khác không? Hai là ông có cái học thuyết gì để hướng dẫn cho người ta không? Thứ ba nữa là ông muốn lãnh đạo thì thằng Washington và thằng Bắc Kinh nó có tin ông không? Hai thằng ấy mà nó không tin ông nó cho ông mấy chưởng thì lúc bấy giờ, ông chưa lãnh đạo nó đã cho ông què cẳng rồi. Thì thôi, bây giờ coi như ông đừng lãnh đạo; chứ ông mà lên tiếng, ông mạnh mồn ra tiếng lãnh đạo, hò hét thì đừng là nó cho ông mấy chưởng ngay chứ không phải không đâu. Mà nó có nhiều võ hơn mình, nhiều tiền hơn mình, nhiều công cụ hơn mình”.

Hãy đọc và suy nghĩ! Ai làm cho đất nước này và con người Việt Nam nhục như thế, để cho thiên hạ mắng mình ngay trong đất nước mình và mắng trên mặt báo.

_____

(1) http://laodong.com.vn/kinh-te/nhat-ban-co-the-cham-dut-cho-viet-nam-vay-von-oda-neu-con-xay-ra-hoi-lo-311314.bld

(2) http://globalanticorruptionblog.com/2014/04/16/the-scandal-of-corruption-in-development-aid/

(3) http://data.worldbank.org/indicator/DT.ODA.ALLD.CD

(4) http://www.thanhniennews.com/business/vietnam-world-bank-projects-blighted-by-corruption-37838.html

(5) http://www.wright.edu/~tdung/LeDangDoanh_02_11_2004.htm

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2015/04/03/3689-viet-nam-con-an-xin-den-bao-gio/#more-146622

Khi Cây Búa Nổi Giận

Khi Cây Búa Nổi Giận

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Nói thật, phen này gay go đấy các bác ạ! Một đạo luật bất công và bất hợp lý bao giờ cũng phải đối diện với phong trào bất tuân dân sự của toàn xã hội. Những ngày êm ả nay còn đâu?

Lê Công Định

Tôi không có may mắn được quen biết nhà thơ Bùi Minh Quốc  lúc ông còn trẻ trung, và sung sức:

Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường.

Khi tôi được hân hạnh diện kiến người thơ thì thi sĩ của chúng ta đã già quá cỡ thợ mộc rồi, trông hom hem thấy rõ, và thơ thẩn (xem ra) cũng … yếu xìu hà:

Tuổi sáu mươi khi nghĩa đời đã thấy

Thì gian nan biết mấy cũng lên phường.

Lên là phải. Phường xã ở Việt Nam – cả nước này đều biết –  đâu phải chỉ là nơi chứng nhận giấy tờ hộ tịch (vớ vẩn) như bên xứ Lào, xứ Thái, xứ Miên hay xứ Miến … mà là chốn quan quyền. Dữ dằn thấy rõ!

Ngay cả đến ông Hồ Chí Minh mà nhận được lệnh triệu tập chưa chắc đã dám không đi, nói chi đến “cỡ” ông Bùi Minh Quốc. Không trình diện phường thì lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và (không chừng) dám lôi thôi lớn.

Đôi khi, khỏi cần phải lên tới phường cũng vẫn bị rắc rối như thường – theo tin báo Người Lao Động:

“Tối 26-3, trong lúc ông Dũng cùng nhân viên đang bán hàng, một số cán bộ phường 1 đến tịch thu tấm biển quảng cáo của quán nhưng không hề có văn bản, không có ý kiến từ cơ quan chức năng có thẩm quyền. Lý do là do tấm biển có nội dung phản cảm và nhảm nhí…

‘Tôi cố giải thích rằng đó là bảng quảng cáo với nội quy mang tính hài hước để thu hút thực khách. Không chỉ để giải trí, thư giãn mà còn nhắc nhở mọi người giữ vệ sinh chung. Tôi thấy hết sức vô lý khi họ không đưa ra lý do chính đáng nhưng vẫn lao vào gỡ bỏ rồi tịch thu tấm biển. Họ còn nói sẽ mời tôi lên phường làm việc nhưng đến chiều nay (27-3) vẫn chưa thấy phản hồi hay đưa ra lý do cụ thể’ – ông Dũng nói.”

Ảnh: Người Lao Động

Sáu ngày sau, ngày 1 tháng 4 năm 2015, sau khi có phản ứng  của dư luận, tấm biển quảng cáo đã được hoàn lại cho khổ chủ – báo Người Lao Động cho biết tiếp:

“Tiếp xúc với báo báo chí, đại diện phường 1 cho biết việc tịch thu bảng hiệu ở quán Bún Bò Gân không phải là ý kiến của UBND hay công an phường mà do lực lượng kiểm tra trật tự lòng lề đường đã vội vàng xử lý khi chưa có chỉ đạo từ trên. Phường 1 cũng sẽ họp kiểm điểm những cá nhân đã trực tiếp tịch thu bảng hiệu ở quán Bún Bò Gân.”

Ồ thì ra đây “không phải là ý kiến của UBND hay công an phường mà do lực lượng kiểm tra trật tự lòng lề đường đã vội vàng xử lý khi chưa có chỉ đạo từ trên.” Cũng “ vội vàng” và “chưa có chỉ đạo” y như vụ chặt (đại) đám cây xanh ở Hà Nội vậy, theo tường thuật của báo Pháp Luật:

“Việc thực hiện thay thế đồng loạt hàng trăm cây xanh, trong đó rất nhiều cây cổ thụ đang tươi tốt, đã vấp phải phản ứng của người dân, cũng như các nhà khoa học, chuyên gia bảo tồn trên cả nước.

Ngày 20-3, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã yêu cầu dừng việc chặt hạ cây xanh tại Hà Nội. Ngày 22-3, Chủ tịch UBND TP Hà Nội tiếp tục yêu cầu thanh tra toàn diện việc thay thế cây xanh, đồng thời tạm đình chỉ công tác một số cán bộ liên quan trực tiếp đến vụ việc kể trên…

Ngày 31-3, Bí thư Thành ủy TP Hà Nội Phạm Quang Nghị nhìn nhận việc triển khai chặt cây xanh, thay thế cây xanh đã làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Thủ đô. ‘Chúng ta phải tự phê bình, tự kiểm điểm, khẩn trương khắc phục sai sót, sự nóng vội giản đơn trong việc cải tạo thay thế cây xanh.’ –  ông Nghị nói.”

Cũng trong này 31 tháng 3 năm 1975, công nhân Công ty TNHH Pou Yuen nhận được thư  của ông Đặng Ngọc Tùng (Ủy Viên Trung Ương Đảng, Chủ Tịch TLĐLĐVN) với lời lẽ hết sức mềm mỏng, tử tế và … phục thiện:

Anh chị em đoàn viên và công nhân lao động thân mến,

Trong những ngày vừa qua, một số công nhân lao động tại Công ty TNHH Pou Yuen Việt Nam (quận Bình Tân, TP HCM) đã ngừng việc tập thể để thể hiện quan điểm không đồng tình với điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần…

Trên cơ sở những nguyện vọng chính đáng của công nhân lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã có báo cáo và kiến nghị với Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thủ tướng Chính phủ đồng ý giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người lao động: Từ nay đến hết ngày 31-12, các chế độ bảo hiểm xã hội vẫn giữ nguyên theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành. Sau năm 2015, kiến nghị Quốc hội sửa việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo hướng để người lao động tự chọn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần như cũ hoặc thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Vì vậy, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên và công nhân lao động:

– Hãy yên tâm trở lại làm việc để bảo đảm thu nhập và thể hiện ý thức trách nhiệm của người  lao động đối với doanh nghiệp và xã hội.

– Không để cho kẻ xấu lợi dụng, kích động, xúi giục làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp và tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Qua hôm sau, vẫn theo báo Người Lao Động:

“Ngày 1-4, Chính phủ đã thống nhất kiến nghị sửa Điều 60 Luật BHXH; nhất trí kiến nghị QH sửa theo hướng nếu người lao động không đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì được hưởng BHXH 1 lần.”

Ô hay, sao mới cách đó hai hôm, hôm 30 tháng 3, Thứ Trưởng Doãn Mậu Diệp còn “nhấn mạnh” rằng: “xét một cách toàn cuộc thì quy định tại Điều 60, Luật BHXH 2014 có tới 6 điểm có lợi hơn cho NLĐ.”

Cùng ngày, ông Đặng Quang Điều, trưởng ban chính sách pháp luật Tổng liên đoàn Lao động VN, cũng nói cùng một giọng: “Tổng liên đoàn đã có kế hoạch và sắp tới các cấp công đoàn sẽ triển khai tuyên truyền, phổ biến sâu rộng với công nhân ở các địa phương về những lợi ích, tính ưu việt của Luật BHXH 2014. Khi hiểu thấu đáo, người lao động sẽ đồng thuận.”

Khu Công Nghiệp Tân Hương-Tỉnh Tiền Giang, hôm 2 tháng 4. Ảnh:  FB Hành Nhân

Nhưng khi thấy người lao động nhất định không chịu “đồng thuận,” và nguy cơ đình công có thể lan rộng khắp nơi thì Chính Phủ quên ngay “6 điểm có lợi hơn” và tính “ưu việt” của Luật BHXH 2014 để sẵn sàng “kiến nghị QH sửa theo hướng nếu người lao động không đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì được hưởng BHXH 1 lần.”

Thì ra  “mềm nắn, rắn buông”!

Vì có sự can thiệp của công luận nên ông chủ quán bún bò ở Sài Gòn thoát khỏi một phen “lên phường làm việc,” và hàng ngàn cây xanh ở Hà Nội cũng (tạm thời) thoát nạn. Tương tự, nhờ thái độ sáng suốt và cương quyết của nhân viên công ty TNHH Pou Yuen nên giới công nhân VN cũng vừa thoát khỏi một vụ cướp ngày từ tay Nhà Nước. Thấy nuốt không trôi nên đành phải ói ra thôi.

Nói chuyện ói, mửa, nôn, oẹ … nghe (e) hơi phản cảm.  Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự có cách diễn tả khác, tuy dài dòng chút đỉnh nhưng thanh lịch hơn nhiều:

Diễn tiến trong thái độ của chính quyền đối với vụ tưởng niệm Gạc Ma 14/3 và việc thực hiện kế hoạch chặt 6700 cây xanh ở thủ đô Hà Nội cho thấy hành động của nhân dân đã tác động đến chính quyền.

Sau khi đám “dư luận viên” phá rối vụ tưởng niệm Gạc Ma, khác với sự im lặng hay công khai hỗ trợ hành động phá rối, lần này chính quyền đã lên tiếng phủ nhận việc tổ chức và ủng hộ đám “dư luận viên” thô thiễn, ngu ngốc gây phẫn nộ trong nhân dân; thay vì gọi những người đến tưởng niệm là “bọn phản quốc” như các lần khác, đã tôn vinh họ là “những người yêu nước”. Tương tự, sau việc chặt phá một số cây xanh, chính quyền đã lùi bước trước phản ứng mạnh mẽ và tức thời của nhiều tầng lớp dân chúng trên đường phố và trên mạng xã hội.”

Những điều trên làm ta liên tưởng đến câu tổng kết của một nhà tư tưởng: “Nhân dân nào chính quyền ấy”.

Dân trí và ý thức của người dân Việt Nam mỗi lúc một cao mà quan trí ở xớ sở này thì vẫn vậy. Vẫn cứ tiếp tục với chủ trương xuyên suốt dối trá, lươn lẹo, lấp liếm, quanh co và hù doạ – khi cần. Với “nhân dân này” thì cái “chính quyền ấy” chả còn tí cơ may để mà tồn tại nữa.

Huế Buồn -Lê Dinh -Hoàng Oanh & Tinh Ca Cho Nguyen Thi Sai Gon – Viet Dzung & Saigon Niem Nho Khong Ten -Nguyen Dinh Toan -Khanh Lyg

Huế Buồn -Lê Dinh -Hoàng Oanh

httpv://www.youtube.com/watch?v=TNhqSiuY7YM&list=PLF50BDFDAD1C258BA&index=27

Tinh Ca Cho Nguyen Thi Sai Gon – Viet Dzung

httpv://www.youtube.com/watch?v=NlQScR-DAd0&list=PLA410BAD4E8E51039&index=9

Saigon Niem Nho Khong Ten -Nguyen Dinh Toan -Khanh Ly

httpv://www.youtube.com/watch?v=YUVUOSy03_I&list=PLA410BAD4E8E51039&index=17

‘TQ lo sợ chuyến thăm Mỹ của ông Trọng’

‘TQ lo sợ chuyến thăm Mỹ của ông Trọng’

Chuyến thăm Mỹ dự kiến của ông Nguyễn Phú Trọng được thông báo công khai trước chuyến thăm tới Trung Quốc, theo nhà quan sát.

Lãnh đạo Trung Quốc ‘vội vã’ mời Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sang thăm Trung Quốc ngay trước chuyến đi được dự kiến của ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ vì ‘lo sợ’ chuyến đi này gây bất lợi cho quan hệ Trung – Việt và lợi ích của Trung Quốc, theo nhà quan sát từ Hà Nội.

Cũng ý kiến quan sát này hôm 04/4/2015 nói với BBC giới phân tích đã nhận thấy ngay sau khi dự kiến đi thăm Hoa Kỳ của lãnh đạo Đảng Việt Nam được công bố, mà theo đó, ông Trọng sẽ ghé thăm Hoa Kỳ và tiếp kiến với lãnh đạo Mỹ vào tháng 5/2015, đồng loạt các đài báo, truyền thông nhà nước của Trung Quốc đã ‘hạ giọng’ và ‘thôi chỉ trích’, ‘nói xấu’ Việt Nam.

Trao đổi với BBC hôm thứ Bảy từ Hà Nội, nhà nghiên cứu quan hệ Việt – Trung, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Trung Quốc, ông Dương Danh Dy nói:

“Cách đây khoảng độ nửa tháng, tức trước khi người ta tuyên bố chuyến đi của ông Trọng quảng mươi, mười lăm ngày, báo chí, các đài chính thống của Trung Quốc, không viết những bài xấu về Việt Nam nữa.

” Tại sao Trung Quốc lại cần mời ông Trọng đi bằng được, mà ông Trọng cũng phải đi? Theo tôi, phía Trung Quốc thấy rằng rất ngại chuyến đi của ông Trọng sang Mỹ và họ muốn rằng trước khi ông Trọng đi Mỹ thì phải sang Trung Quốc đã

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy”

“Và tôi bắt đầu thắc mắc không biết có chuyện gì đây? Hóa ra cuối cùng là chuyện ông Trọng đi, chuyện đó chứng minh điều gì? Chuyện đó chứng minh rằng ông Trọng đi Trung Quốc không phải là chuyện bàn bạc kế hoạch từ trước, như là chuyến ông đi Mỹ, mà chuyện đó là bất lợi.

“Hai bên gặp gỡ với nhau thế nào không biết, nhưng mà mới quyết định gần đây thôi, thì đấy là điểm mà chúng ta phải thấy.”

‘Chuyến đi bất ngờ’

Và nhà quan sát này tiếp tục phân tích vì sao Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình lại ‘vội vàng’ mới ông Trọng như vậy.

Ông Dương Danh Dy nói tiếp:

“Từ cái đó đặt ra vấn đề là gì? Thế thì tại sao Trung Quốc lại cần mời ông Trọng đi bằng được, mà ông Trọng cũng phải đi?

“Theo tôi, phía Trung Quốc thấy rằng rất ngại chuyến đi của ông Trọng sang Mỹ và họ muốn rằng trước khi ông Trọng đi Mỹ thì phải sang Trung Quốc đã.”

Và cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Trung Quốc phân tích tiếp về ‘mục đích’, ‘động cơ’ của việc mời ‘gấp’ này, ông Dy nói thêm:

“Cái thứ nhất, nó làm cho chuyến đi của ông Trọng không quan trọng, không ý nghĩa với thế giới nữa, theo tôi nghĩ như vậy.

“Cái thứ hai là qua chuyến thăm này, chưa biết hai bên sẽ bàn bạc ép nhau những gì, thế và những cái gì nên, những cái gì không được làm với Mỹ chẳng hạn…

“Trung Quốc họ luôn sẵn sàng, họ không từ một thủ đoạn nào để mà ép mình (Việt Nam) đâu, cho nên tôi nghĩ rằng chuyến đi của ông Trọng, từ cái đó tôi thấy rằng, nó không phải là một chuyến đi dự định từ trước, mà là chuyến đi bất ngờ.”

‘Một thói quen?’

” Tàu (TQ) đang ăn hiếp các nước nhỏ, thế thì để tránh sự ăn hiếp, tôi sẵn sàng tìm lấy những lực lượng để ủng hộ chúng tôi, chống lại sự ăn hiếp. Liệu anh có dám nói như thế với nhân dân Mỹ, với chính phủ Mỹ không?

Giáo sư Nguyễn Khắc Mai”

Cũng hôm thứ Bảy, một nhà quan sát khác về tình hình chính trị, xã hội Việt Nam nêu quan điểm về lý do tại sao ông Trọng theo dự kiến đã nhận lời tới thăm Trung Quốc gặp ông Tập Cận Bình trước khi được cho là tới Mỹ gặp lãnh đạo Mỹ như tin tức cho hay gần đây.

Từ Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Minh Triết Việt Nam, nói với BBC:

“Tôi nghĩ rằng đấy là một thói quen của Đảng Cộng sản đi thăm những anh nào mà họ cho là quan trọng trước. Giống như trước đây phải đi Liên Xô, sau rồi mới đi Trung Quốc, thì cũng là lập lại cái kiểu như vậy để tỏ ra rằng mình có lập trường kiên định.

“Nhưng tôi không quan tâm việc đi anh nào trước, anh nào sau, vấn đề là lập trường chính trị của anh có đàng hoàng không. Anh đến đâu anh cũng nói rõ dân tộc tôi là thế này, anh đã vi phạm những này, và chúng ta phải sòng phẳng trong chuyện này, và ông ta (Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng) phải nói rõ ràng những vấn đề như vậy.

Quan hệ Việt - Mỹ

Tổng thống Hoa Kỳ Obama đã từng mời Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang thăm Mỹ hồi cuối tháng 7/2013.

“Thế còn có thể sang Mỹ sau cũng được, nhưng mà ông phải nói ‘chúng tôi cần sự liên minh’ với Mỹ để đối trọng lại với thái độ lấn lướt, ăn hiếp. Mà từ ‘ăn hiếp’ là quốc tế nói, chứ không phải ta (Việt Nam) nói.

“Tàu (TQ) đang ăn hiếp các nước nhỏ, thế thì để tránh sự ăn hiếp, tôi sẵn sàng tìm lấy những lực lượng để ủng hộ chúng tôi, chống lại sự ăn hiếp. Liệu anh có dám nói như thế với nhân dân Mỹ, với chính phủ Mỹ không?

“Và nếu anh nói được như vậy, chúng tôi cho rằng như thế mới xứng đáng là người lãnh đạo quốc gia,” nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nói với BBC.

‘Xu thế khó đảo ngược’

” Lập trường của Việt Nam trong việc muốn chơi, muốn bình thường hóa quan hệ với Mỹ và muốn tiến sâu trong quan hệ trên một số mặt trong quan hệ với Mỹ, thì tôi chắc là không thể nào Trung Quốc ép được

Ông Dương Danh Dy”

Hôm 04/4, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng ‘chắc chắn’ Trung Quốc sẽ gây sức ép với Việt Nam, tuy nhiên theo ông áp lực này vẫn khó thay đổi được ‘xu hướng’ Việt Nam có thể xích lại gần hơn trong quan hệ với Hoa Kỳ.

Ông Dy nói: “Sang Trung Quốc, thì dù Trung Quốc có ép, có dụ dỗ, ép thế này thế kia.

“Nhưng tôi chắc rằng là lập trường của Việt Nam trong việc muốn chơi, muốn bình thường hóa quan hệ với Mỹ,

“Và muốn tiến sâu trong quan hệ trên một số mặt trong quan hệ với Mỹ, thì tôi chắc là không thể nào Trung Quốc ép được,” cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc nói với BBC.

Tin cho hay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng theo dự kiến sẽ thăm Trung Quốc từ ngày 7/4-10/4/2015 theo lời mời của ông Tập Cận Bình, Tổng bí thư đảng cộng sản, Chủ tịch Trung Quốc.

Chuyến đi này được thực hiện trước chuyến đi của ông Trọng tới Hoa Kỳ, dự kiến diễn ra vào tháng Năm.

Cuối tháng 7/2013, trong một diễn biến liên quan quan hệ Mỹ – Việt, Tổng thống Obama đã từng mời Chủ tịch nước Việt Nam, ông Trương Tấn Sang có chuyến thăm chính thức cấp nhà nước tới Mỹ.

“Định cư” và “tị nạn”: trường hợp Kim Phúc

“Định cư” và “tị nạn”: trường hợp Kim Phúc

Nguyễn Văn Tuấn

04-04-2015

Cô Kim Phúc và Nick Út trong lần nói chuyện tại 1 nhà thờ ở quận Cam ngày 3/6/2012. Photo: Ngọc Thu

Cô Kim Phúc và Nick Út trong lần nói chuyện tại 1 nhà thờ ở quận Cam ngày 3/6/2012. Photo: Ngọc Thu

Sắp đến ngày 30/4 báo chí VN đang đi tìm những nhân vật lừng danh một thời. Báo Người đô thị có phóng sự ảnh về Phan Thị Kim Phúc, nhưng có một thông tin tôi thấy không đúng và có thể làm người đọc hiểu sai vấn đề. Trong ảnh, phóng viên chú thích rằng “Kim Phúc cùng con trai và chồng (phía sau). Năm 1992, trong chuyến nghỉ trăng mật ở Moscow, Nga sau khi kết hôn, vợ chồng Kim Phúc xin định cư tại Ajax, Ontario, Canada.” (1) Sự thật thì không phải như thế; sự thật là Kim Phúc và chồng xin tị nạn chính trị tại Canada.

Có lẽ tôi phải nói qua về cái “tị nạn” để các bạn hiểu chút. Thời thập niên 1980 trong các trại tị nạn ở Thái Lan, các nhân viên thiện nguyện và người đi trước lúc nào cũng dặn dò người đến sau là phải chứng minh tư cách tị nạn chính trị. Tiếng Anh là “political refugee“. Trong thực tế thì khi các viên chức phỏng vấn người xin đi tị nạn cũng xoáy vào những thông tin để đương sự khai cho hợp với tư cách đó. Đại đa số người Việt không có vấn đề gì, nhưng những người như người Việt gốc Tàu có khi có vấn đề. Vấn đề là khi họ đến trại tị nạn, họ vênh mặt lên và khai rằng họ là “Chinese” (người Hoa) chứ không phải người Việt. Có lẽ họ nghĩ người Hoa cao hơn người Việt? Mà, đối với các viên chức phương Tây thì nếu họ là người mang quốc tịch Tàu, họ không có tư cách tị nạn chính trị, và giao họ về cho … China! Nhiều người chết dở sống dở vì lời khai người Hoa đó, nhưng lời khai đó cũng nói lên phần nào bản chất của một số người Hoa là họ không trung thành gì với VN cả cho dù họ sinh ra và lớn lên và mang quốc tịch Việt Nam. Câu chuyện đó nói rằng rất quan trọng phải phân biệt “định cư” và “tị nạn”. Cho đến nay ở Úc sự phân biệt đó vẫn quan trọng, và theo đó nếu đương sự chứng minh được là tị nạn chính trị thì được phép cho vào Úc tị nạn, còn không thì bị gửi qua Kampuchea.

Quay lại câu chuyện của Kim Phúc, một thời nổi tiếng là “em bé Napalm” trong bức ảnh do phóng viên Nick Út chụp vào năm “mùa hè đỏ lửa” (1972). Bức ảnh nói lên sự dã man của chiến tranh và bom đạn, làm xúc động cả thế giới, và Mĩ bị phản đối dữ dội. Bức ảnh cũng đem đến cho Nick Út giải thưởng danh giá. Sau 1975, Kim Phúc được giới tuyên truyền VN sử dụng như là một vật thể cho tuyên truyền chống Mĩ. Chính Kim Phúc từng viết “The Communists had other plans, and used me as a propaganda tool” (người cộng sản có kế hoạch khác, và họ dùng tôi như là một công cụ tuyên truyền) (2).

Cô được Nhà nước ưu ái cho đi học ở Cuba vào năm 1986. Theo Kim Phúc kể lại (1), cô gặp người chồng tương lai ở Cuba, và sau khi thành hôn, họ được phép đi Moscow. Sau khi thành hôn họ được phép đi hưởng tuần trăng mật ở Moscow. Trên đường từ Moscow về lại Cuba, máy bay tạm đáp ở Newfoundland (Canada) để tiếp nhiên liệu, và nhân dịp này Kim Phúc và chồng xin tị nạn chính trị ở Canada. Trước đó, Kim Phúc đã có ý định xin tị nạn chính trị, nhưng cô chưa nói cho chồng biết. Hai vợ chồng được chấp nhận cho tị nạn và họ sống ở Ontario từ đó cho đến nay. Kim Phúc còn cho biết cô trở thành một tín đồ đạo Tin Lành từ đó.

Tôi nghĩ phóng viên báo Người đô thị thừa biết Kim Phúc xin tị nạn chính trị, chứ không đơn thuần “xin định cư”, nhưng phóng viên phải viết như thế để được đăng báo. Tôi có cảm giác cho đến nay, sau 40 năm ngày thống nhất đất nước, Nhà nước VN vẫn chưa chấp nhận hai chữ “tị nạn”, và do đó, họ không muốn nhắc đến hai chữ đó trên báo chí (?)

Nhưng “định cư” và “tị nạn” chính trị khác nhau xa. Sự kiện “thuyền nhân” tị nạn là một vết nhơ trong lịch sử VN (chưa bao giờ người Việt bỏ nước ra đi nhiều như thế), nó nói lên bản chất của chế độ thời đó, và do đó, nhiều người trong chính quyền cũng như nhiều người ngoài Bắc vẫn chưa thoải mái khi nói về người tị nạn. Cho đến ngày nay, không ít người miền Bắc vẫn cho làn sóng người Nam vượt biển đi tị nạn là những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của đế quốc. Dĩ nhiên, người biết chuyện chỉ thấy tội nghiệp cho những kẻ có suy nghĩ như thế. Đối với họ thì không thể nào nói gì thêm được do tế bào trí tuệ đã bị đột biến hư hỏng rồi. Và, chính những kẻ có suy nghĩ như thế này là lực cản để người trong và ngoài nước hoà giải, hoà hợp — tôi nghĩ thế.

Lí do Kim Phúc xin tị nạn thì có thể đọc trong bài qua chính chữ của cô ấy (2), nhưng thiết nghĩ các bạn không đọc cũng thừa thông minh hiểu tại sao Kim Phúc quyết định như thế. Thời đó ở miền Nam có câu “cái cột điện mà biết đi, chúng cũng đi”. Tuy nhiên, sự việc nhỏ này có ý nghĩa lớn, bởi vì thế hệ sau vẫn cứ nghĩ là Kim Phúc xin định cư ở Canada, và đó là một sự nói dối làm cho sự thật lịch sử bị lệch lạc. Nhiều người đòi hỏi khi viết sử phải dựa vào thông tin chính thống và điều đó cũng chẳng có gì sai (có lẽ họ mới đọc một cuốn sách giáo khoa nào đó bên phương Tây dạy về sử học nên đòi hỏi như thế), nhưng ở VN cái gọi là “thông tin chính thống” thường bị xuyên tạc, làm cho lệch lạc, và đổi trắng thay đen. Câu chuyện của Kim Phúc trên báo chí VN chỉ là một nhắc nhở người đọc nên cảnh giác trước những thông tin gọi là “chính thống”.

====

(1) http://nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/noi-mang-toan-cau/4012/-em-be-napalm-ngay-ay-bay-gio.ndt

(2) http://arts.lgontario.ca/lestweforget/essays/kim-phuc-phan-thi/

MỘT CÂU CHUYỆN TẦM THƯỜNG ĐẾN THẾ !

MỘT CÂU CHUYỆN TẦM THƯỜNG ĐẾN THẾ !

LM. Giuse Trương Đình Hiền

Gần hai ngàn năm,
Nhân loại nghe hoài một chuyện kể,
Chuyện kể của bà Maria
trên đường về từ Ngôi Mộ Trống :

“Tôi đã thấy nấm mồ của Đức Ki-Tô.
Người đã sống lại và ra khỏi mồ.
Người đang sống vinh quang” [1]

Một ngôi mồ trống,
Qua chứng từ của một cô thôn nữ tiểu tốt vô danh,
Một câu chuyện quá tầm thường, quá giản đơn,
Nhưng mau chóng đã trở thành “Tin Vui vĩ đại” ?

Một Tin Vui đã làm nên bao điều kỳ lạ,
Đã vươn xa Khỏi vùng đất khô cằn sỏi đá Palestina
Đã vượt biên đến mọi miền thế giới bao la,
Mà ngươi mang tin vui, cũng lại là,
Những cô, những cậu mang thân phận khó nghèo khiêm tốn.

Và từ lời chứng của Maria,
Cho đến bảng “Tin Vui”,
Của hàng hàng lớp những thế hệ tông đồ tiếp nối,
Cũng chỉ được dệt đan, thêu thùa, trau chuốt…
Mà nội dung cốt yếu vẫn chỉ là :
“Ngôi Mộ Trống và Một Đấng Phục Sinh”.

Thì ra đây,
Là đích điểm của một chuyện tình,
Một giao ước giữa Thượng đế với con người,
đã hình thành trước ngàn muôn thế kỷ.

Ngôi Mộ trống trên đồi Gô-gô-tha thuở ấy,
Đã ôm trọn cả chiều dài của lịch sử con người,
Từ xa tắp cát bụi A-đam
cho đến tiếng khóc oa oa của em bé sau cùng trên trái đất…
Mộ trống của tối tăm, ngục tù chết chóc,
Của đau thương, tội lỗi, thất vọng, đọa đầy…
Mộ trống của muôn kiếp phận xưa nay,
Bị giam kín dưới quyền lực của tử thần âm phủ.

Nhưng viên đá lấp mộ,
Đã lăn ra vào buổi sáng tinh mơ ngày thứ nhất,
Buổi sáng diệu kỳ làm lóa mắt người thôn nữ Maria,
Một người đã chết,
một một Đấng Phục Sinh đầy uy dũng bước ra,
Bỏ lại sau lưng cánh cửa mộ âm u,
Cùng với lịch sử nhân loại với cả con đường hầm tăm tối.

Để có được giây phút bình minh rạng rỡ ấy,
Thiên Chúa đã phải lặn lội,
Đi qua bao ngàn năm chắp nhặt dựng xây.
Dãy dỗ, bảo ban, ước hẹn vơi đầy,
Mà đích điểm chính là quà tặng :
Ban Con Một hiến thân làm hy lễ.

Thì ra, đâu chỉ giản đơn là chuyện kể,
Mà “Ngôi Mộ trống” của ngươi thôn nữ Maria,
Một chuyện tình vĩ đại mang tên : cứu độ giao hòa
Một chiến thắng của tình yêu và ân sủng.

Đã lâu rồi, Thiên Chúa vẫn luôn làm chuyện lớn
Bằng những sự kiện tầm thường, khiêm hạ, giản đơn.
Và câu chuyện “Mồ trống” cách đây hai ngàn năm,
Lại là chuyện lớn nhất trong “trường ca cứu độ”.

Tin Mừng Phục Sinh và câu chuyện “Mộ Trống” đó,
Sẽ cứ mới hoài cho đến mãi ngàn sau !

LM. Giuse Trương Đình Hiền

[1] Một đoạn lời trong bài “hoan ca Phục Sinh” của ns. Hùng Lân

THƯ GỬI CÁC SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO, NHÂN DỊP ĐẠI LỄ PHỤC SINH 2015

THƯ GỬI CÁC SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO, NHÂN DỊP ĐẠI LỄ PHỤC SINH 2015

ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO

trực thuộc

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

_________________________________________________________________________

72/12 Trần Quốc Toản, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Email: uybangiaoduc@gmail.com; Đt: 098 250 4545

Các con rất thân mến,

Nhân dịp Đại lễ Phục Sinh, Cha viết thư thăm các con. Xin Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho các con ơn an bình và niềm vui của Ngài và khơi lên trong các con lòng hăng say thông truyền sự an bình và niềm vui đó cho tha nhân, nhất là cho các bạn sinh viên, học sinh của các con.

Niềm vui Chúa Giêsu Phục Sinh đem đến cho nhân loại đặt nền tảng trên chính Chúa nên không tùy thuộc vào ngoại cảnh. Người ta có thể nếm được niềm vui và sự an bình trong tâm hồn giữa những đau khổ của cuộc đời. Điều này đã được Chúa nói cho các môn đệ trước khi Ngài chịu nạn: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27). Sau khi Chúa phục sinh, thánh Gioan thuật lại việc các môn đệ Chúa họp nhau trong nhà, “các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói : ‘Bình an cho anh em!’ Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,19-20).

Nếu nhìn vào thực tế cuộc sống, các con sẽ thấy còn quá nhiều người đau khổ, không biết sự bình an và niềm vui là gì, không phải chỉ vì họ nghèo đói hay bệnh tật, nhưng còn vì họ bị sức mạnh của sự dữ áp bức tâm hồn. Nhiều người khi đau khổ thì tin tưởng chạy đến với Chúa và Đức Mẹ để tìm sự an bình. Cha muốn đọc với các con lời cầu xin tha thiết của một người trong cơn gian nan và yếu đuối:

Con tạ ơn Chúa và Mẹ đã ban cho con nhiều ơn. Bây giờ con cũng còn nhiều khó khăn lắm. Nay con dâng lên cho Chúa và Mẹ nỗi buồn của con. Xin Chúa và Mẹ chạnh lòng thương đứa con tội lỗi này đã xúc phạm đến Chúa và Mẹ quá nhiều. Xin Chúa và Mẹ cứu giúp con trong cơn ngặt nghèo, trong cơn bế tắc đường cùng. Xin Mẹ cứu giúp con, xin Mẹ hiểu thấu lòng con. Chỉ có Chúa và Mẹ ra tay con mới được bình an”.

Nhưng cũng có những người khi đau khổ thì thất vọng, không biết bám víu vào đâu và để mặc cho sức mạnh sự dữ lôi kéo. Sự dữ giống như một thứ “ma túy”, vừa quyến dũ, vừa tàn phá. Trong khi đó, con người lại hết sức yếu đuối. Người ta không chỉ ngã quỵ trước sức mạnh của sự dữ, mà dường như còn đua nhau chạy theo sự dữ.

Trong mọi hoàn cảnh, sứ mệnh của chúng ta, những môn đệ Chúa, vẫn là nói cho người ta biết, nhắc cho người ta nhớ, giải thích cho người ta hiểu để họ chấp nhận tình yêu của Chúa Giêsu là Đấng thương yêu nhân loại đến nỗi đã dâng tặng chính mình như của ăn (x. Mc 14,22-24) để nâng đỡ, để đem an bình và hạnh phúc đến cho mọi người. Đây là tình yêu của chính Thiên Chúa, Đấng yêu thương nhân loại vô điều kiện: thương yêu, dâng tặng, tha thứ, cứu vớt. Chỉ có tình yêu này mới có thể xóa tan sức mạnh của sự dữ và nâng dậy tâm hồn con người.

Các con quý mến, sứ mệnh loan truyền tình yêu cứu độ của Chúa là một bổn phận rất khó khăn vì nhiều người không tin Thiên Chúa thương yêu loài người vô điều kiện và không tin chỉ có tình yêu mới xây đắp, kiến tạo và là suối nguồn đích thực của hạnh phúc. Do đó, người ta làm ngơ trước tình yêu trời bể của Thiên Chúa và nhiều khi còn tìm cách loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống; người ta miệt mài tìm kiếm lợi lộc và thú vui cho dù có phải hy sinh gia đình, bạn bè hoặc loại trừ người khác; người ta nhắm mắt làm ngơ trước những người yếu kém, nghèo đói, đau khổ. Nhưng vấn đề còn trở nên nghiêm trọng hơn vì có khi chính các môn đệ của Chúa cũng không tin vào sức mạnh tình yêu của Chúa, nên có khi đã sử dụng những phương tiện và cách thức tiêu cực của loài người, kể cả bạo lực, để giải quyết các vấn đề (x. ĐTC Gioan Phaolo II, Tông thư « Ngàn Năm Thứ Ba đang tới », số 35-36).

Sứ mệnh này tuy khó, nhưng có thể thực hiện được, vì Chúa đã quả quyết với các môn đệ của Người: “Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, các con có thể chuyển núi rời non” (Mt 17,20, x. Mt 21,21). Tình yêu cứu  độ của Thiên Chúa không những là sức mạnh, mà còn là sức mạnh vô song. Đó là sức mạnh của tình yêu thần linh dâng hiến trọn vẹn, có sức thay đổi lòng người và đây cũng chính là lòng tin của Đức Mẹ, Đấng đã được xưng tụng là người có phúc vì đã tin (x. Lc 1,45).

Với lòng tin tưởng, Cha mời gọi các con hãy là Sứ giả của Tình yêu Chúa cho mọi người các con gặp, ở mọi nơi các con tới. Nhờ vậy, các con sẽ được nghe lại lời của Thiên Chúa đã nói xưa kia trong sách ngôn sứ Isaia như thể Ngài nói hôm nay cho chính các con: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng : ‘Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị’” (Is 52,7).

Với lòng quý mến, Cha chào các con và chúc các con mừng Đại lễ Phục Sinh với niềm vui, bình an và hạnh phúc của Chúa. Xin Mẹ Maria che chở và giúp các con gìn giữ, bảo vệ niềm vui, sự bình an và hạnh phúc của Chúa Giêsu Phục Sinh trong lòng các con.

Ngày 27 tháng 3 năm 2015

+ Giuse Đinh Đức Đạo

Giám mục Phụ tá Gp Xuân Lộc

Chủ tịch Ủy Ban Giáo dục Công Giáo

Tác giả: + GM. Giuse Đinh Đức Đạo, Chủ tịch Ủy Ban Giáo dục Công Giáo

Chứng cớ phục sinh

Chứng cớ phục sinh

– Tin nổi bật, Công Giáo Trẻ

VRNs (05.04.2015) – Sài Gòn – Ngôi mộ thực sự trống trơn. Chúa Giêsu phục sinh hay thi thể Ngài bị đánh cắp? Chắc chắn có điều bất thường đã xảy ra, vì những người theo Chúa Giêsu không còn khóc thương Ngài, che giấu Ngài, và bắt đầu can đảm rao giảng với lý do minh nhiên: CHÚA GIÊSU ĐÃ PHỤC SINH.

Các nhân chứng đều nói rằng Chúa Giêsu bất ngờ hiện ra với họ trong thân xác như trước khi Ngài chết, trước tiên Ngài hiện ra với các phụ nữ. Trong thế kỷ đầu, các phụ nữ không có quyền gì, số phận lép vế lắm. Thế mà chính Chúa Giêsu lại ưu tiên hiện ra với họ trước, nghĩa là phụ nữ là những người đầu tiên thấy Chúa Giêsu phục sinh. Thật là độc đáo vô cùng. Phụ nữ cũng là những người đầu tiên phát hiện ngôi mộ trống, được nói chuyện với Ngài và đi làm chứng về Ngài.

Sau đó, các tông đồ mới được thấy Chúa Giêsu, và thấy hơn 10 lần. Ngài cho họ xem tay chân và cạnh sườn và bảo sờ thử xem sao. Ngài còn ăn uống với họ, và có lần Ngài hiện ra với hơn 500 người đi theo Ngài.

Học giả John Warwick Montgomery cho biết: “Năm 56 sau công nguyên, tông đồ Phaolô cho biết rằng có hơn 500 người đã được thấy Chúa Giêsu phục sinh và nhiều người trong số đó vẫn còn sống (1 Cr 15:6-8). Điều đó không có nghĩa là các Kitô hữu thời sơ khai có thể dựng chuyện như vậy rồi rao truyền cho những người nhẹ dạ cả tin bằng cách làm ra thân thể Chúa Giêsu” (1).

Các học giả Kinh Thánh Geisler và Turek nói: “Nếu sự phục sinh không xảy ra, tại sao tông đồ Phaolô lại dám đưa ra con số nhiều các chứng nhân như vậy? Nếu không đúng, tông đồ Phaolô sẽ mất uy tín với các tín hữu Côrintô vì ông nói dối trắng trợn” (2).

Tông đồ Phêrô nói với đám đông ở Xê-da-rê về lý do ông và các tông đồ khác đã tin Chúa Giêsu sống lại: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10:39-41).

Học giả Kinh Thánh Michael Green (người Anh) nói: “Những lần Chúa Giêsu hiện ra chính xác như bất cứ thứ gì cổ xưa… Không thể nói rằng những điều đó đã không xảy ra” (3).

150404001

Sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là một sự kiện lịch sử đã thực sự xảy ra, không là huyền thoại như nhiều người vô thần đã nói. Các cuộc nghiên cứu khảo cổ vẫn tiếp tục phát hiện sự chính xác mang tính lịch sử của Kinh Thánh. Ngoài các sách Phúc Âm và sách Công Vụ, còn có những chứng cớ về sự hiện hữu của Chúa Giêsu phục sinh trong các tác phẩm của Flavius Josephus, Cornelius Tacitus, Lucian Samosata, và Tòa án Tối cao Do-thái (Jewish Sanhedrin).

Đây là 7 chứng cớ về sự phục sinh cho thấy Đức Giêsu Kitô đã thực sự trỗi dậy từ cõi chết:

  1. Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống có thể là bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Có 2 lý do chính được những người không tin đưa ra: Ai đó đã lấy trộm xác Chúa Giêsu, hoặc các phụ nữ và các tông đồ đến không đúng mộ. Người Do Thái và người Rôma không có động cơ để cướp xác, còn các tông đồ quá nhát đảm và phải trốn quân lính Rôma. Các phụ nữ thấy mộ trống và không còn thấy xác Chúa Giêsu, họ biết chắc đó là mộ an táng Chúa Giêsu. Giả sử họ đến không đúng mộ, Tòa án Tối cao Do Thái có thể lấy xác ở đúng mộ để ngăn cản chuyện phục sinh. Vải liệm Chúa Giêsu được xếp gọn gàng trong mộ, kẻ trộm nào cũng vội vàng, không ai lại cẩn thận như vậy. Chính các thiên thần nói rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

  1. Các nữ chứng nhân đạo đức

Các nữ chứng nhân là bằng chứng rằng Phúc Âm là tài liệu lịch sử chính xác. Nếu được bịa đặt, không tác giả cổ nào lại dùng phụ nữ làm nhân chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô. Phụ nữ là giai cấp công dân thứ yếu trong thời đó, chứng cớ của họ không được xem xét ở tòa án. Nhưng Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phục sinh hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala và mấy phụ nữ đạo đức khác. Ngay cả các tông đồ cũng không tin bà Maria khi bà nói về ngôi mộ trống. Chúa Giêsu luôn tôn trọng các phụ nữ này, Ngài đề cao họ bằng cách cho họ trở thành nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh của Ngài. Các Thánh sử đã kể lại hành động lúng túng này, vì đó là cách nó xảy ra.

  1. Các tông đồ can đảm

Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đã trốn biệt trong các phòng khóa chặt cửa, sợ sẽ đến lượt mình bị lôi đi xử tử. Nhưng có sự thay đổi khác thường: Họ đang là những người nhát đảm trở thành những người rao giảng can trường. Bất kỳ ai biết bản chất con người thì đều hiểu rằng con người không thể thay đổi mau chóng như vậy nếu không có sự tác động lớn. Sự ảnh hưởng đó là được thấy Thầy sống lại từ cõi chết. Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn phòng còn khóa kín cửa, trên bờ biển Galilê, và trên núi Ô-liu. Sau khi thấy Thầy phục sinh, tông đồ Phêrô và các tông đồ khác đã ra khỏi phòng và đi rao giảng về Đức Kitô phục sinh, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra với mình. Họ không còn trốn tránh vì họ đã biết sự thật. Cuối cùng, họ hiểu rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và cứu mọi người thoát khỏi tội lỗi.

  1. Biến đổi Giacôbê và những người khác

Cuộc sống biến đổi là một bằng chứng khác về Chúa Giêsu phục sinh. Tông đồ Giacôbê, anh em họ với Chúa Giêsu, đã từng nghi ngờ không biết Chúa Giêsu có là Đấng Mêsia hay không. Nhưng sau đó, ông đã trở thành người lãnh đạo can đảm của giáo đoàn Giêrusalem, thậm chí còn bị ném đá chết vì đức tin. Tại sao? Kinh Thánh nói rằng vì Đức Kitô phục sinh đã hiện ra với ông. Thật là cú sốc cho người anh em của ông còn sống, sau khi nghe tin này. Tông đồ Giacôbê và các tông đồ khác cũng đều trở thành các nhà truyền giáo hăng say vì họ đã được thấy và chạm vào Đức Kitô phục sinh. Với các chứng nhân như vậy, Giáo hội sơ khai đã phát triển mau chóng, lan rộng từ Giêrusalem tới Tây phương, tới Rôma và xa hơn nữa. Cả hai ngàn năm qua, những người gặp được Đức Giêsu phục sinh đều thay đổi cách sống.

  1. Đám đông

Đám đông hơn 500 người đã cùng nhau tận mắt thấy Chúa Giêsu phục sinh (1 Cr 15:6-8). Thánh Phaolô nói rằng đa số họ còn sống khi ông viết lá thư đó, khoảng năm 55 sau công nguyên. Chắc chắn họ nói với người khác về “sự lạ” này. Ngày nay, các tâm lý gia nói rằng không thể có số đông người như vậy mà chỉ là ảo giác cộng đồng. Các nhóm nhỏ cũng thấy Chúa Giêsu phục sinh, chẳng hạn như các tông đồ, ông Clê-ô-pa và người bạn đồng hành. Họ cùng thấy một sự việc, còn trường hợp các tông đồ, họ còn sờ vào Chúa Giêsu và xem rõ các vết thương của Chúa Giêsu, rồi tận mắt thấy Ngài ăn uống nữa. Không thể nào là ảo giác, vì sau khi Chúa Giêsu lên trời, họ mới không còn gặp lại Ngài.

  1. Phaolô trở lại

Cuộc trở lại của Thánh Phaolô là bằng chứng mạnh mẽ về việc biến đổi cuộc đời mau chóng. Là Saolê cùa thành Tác-sô, ông là người bắt đạo dữ dội. Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với ông trên đường Đa-mát, ông trở thành nhà truyền giáo của Kitô giáo. Ông chịu 5 lần đánh bằng roi, 3 lần đánh đập, 3 lần đắm tàu, 1 lần bị nén đá, chịu nghèo nàn và bị chế nhạo. Cuối cùng, hoàng đế Nê-rô của Rôma đã chặt đầu Phaolô vì tội không chịu bỏ niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Điều gì khiến Phaolô chịu cực hình như vậy? Các Kitô hữu tin rằng cuộc trở lại của Phaolô là nhờ ông đã gặp được Đức Kitô phục sinh.

  1. Người ta dám chết vì Chúa Giêsu

Vô số người đã dám thí mạng vì Chúa Giêsu, chắc chắn sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện có thật trong lịch sử. Truyền thống nói rằng có 10 tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã tử đạo vì Đức Kitô phục sinh. Hàng trăm, hàng ngàn Kitô hữu thời sơ khai đã chịu chết tại đấu trường Rôma và tại các nhà lao tù vì họ vững tin vào Đức Kitô phục sinh. Ngày nay, người ta cũng vẫn bị bách hại vì tin vào Đức Kitô phục sinh. Rất nhiều vị tử đạo đã chết ở nhiều nơi suốt hai ngàn năm qua, vì họ vững tin rằng Chúa Giêsu sẽ ban cho họ sự sống đời đời.

TRẦM THIÊN THU

(Viết theo từ Y-Jesus.com và Christianity.about.com)

______________________________

(1) John W. Montgomery, Lịch sử và Kitô giáo (Downers Grove, ILL: InterVarsity Press, 1971), 78.

(2) Norman L. Geisler và Frank Turek, Tôi Không Đủ Tin Để Là Người Vô Thần (Wheaton, IL: Crossway, 2004), 243.

(3) Michael Green, Thập Giá Trống Trơn Của Chúa Giêsu (Downers Grove, IL: InterVarsity, 1984), 97, trích dẫn trong John Ankerberg và John Weldon, Biết Sự Thật Về Sự Phục Sinh (Eugene, OR: Harvest House), 22.

Giáo Hoàng: hòa bình cho Syria và Iraq

Giáo Hoàng: hòa bình cho Syria và Iraq

Giáo hoàng Francis

Đức Giáo hoàng Francis kêu gọi hòa bình và tình bác ái, trong buổi lễ thánh hôm Chủ Nhật Phục Sinh tại Vatican.

Giáo Hoàng Francis kêu gọi hòa bình “trên hết” ở Syria và Iraq trong thông điệp truyền thống vào ngày Chủ Nhật Phục Sinh.

Ngài kêu gọi cộng đồng quốc tế giải quyết “thảm họa nhân đạo to lớn” ở cả hai quốc gia này.

Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi hòa bình tại vùng Thánh Địa (Holy Land), Ukraine, Libya, Yemen, Nigeria, Sudan và Cộng hòa Dân chủ Congo.

Và một lần nữa ngài đề cập cuộc bức hại các Kitô hữu ở nhiều quốc gia.

Phát biểu trước đám đông tín đồ trên quảng trường St Peter còn ướt đẫm do trời mưa, Giáo Hoàng Francis nói:

“Chúng ta cầu xin Chúa Giêsu, đấng chiến thắng trên sự chết, hãy khai sáng cho những khổ đau của nhiều anh chị em chúng ta đã bị bách hại vì làm sáng danh Chúa, cũng như khai sáng cho tất cả những người chịu đựng bất công do hậu quả của các cuộc xung đột và bạo lực đang diễn ra.

Chúng ta yêu cầu hòa bình, trên hết, cho Syria và Iraq, để những tiếng gầm thét của vũ khí có thể chấm dứt và các mối quan hệ hòa bình có thể được phục hồi

Giáo Hoàng Francis

“Chúng ta yêu cầu hòa bình, trên hết, cho Syria và Iraq, để những tiếng gầm thét của vũ khí có thể chấm dứt và các mối quan hệ hòa bình có thể được phục hồi trong các nhóm khác nhau vốn đã tạo nên những đất nước đáng yêu này.”

Thông điệp của Giáo hoàng Francis cũng cầu nguyện để cộng đồng quốc tế không phải chứng kiến những ‘bi kịch nhân đạo to lớn’ đang diễn ra ở hai quốc gia trên, cũng như trước tấn thảm kịch dẫn tới ‘vô số thường dân’ đang phải chạy tỵ nạn.

‘Iran và Kenya’

Giáo Hoàng nói những lời cầu nguyện và tâm tư của ngài cũng hướng tới với các thanh niên đã thiệt mạng trong vụ thảm sát hôm thứ Năm tuần trước tại Đại học Garissa University College ở Kenya.

Đề cập thỏa thuận khung về chương trình hạt nhân của Iran đã đạt được gần đây tại thành phố Lausanne của Thụy Sĩ, Giáo hoàng bày tỏ hy vọng rằng đây có thể là “một bước dứt khoát hướng tới một thế giới an toàn hơn với tình huynh đệ”.

Giáo hoàng Francis

Giáo hoàng Francis cũng làm chủ một buổi lễ hôm thứ Sáu tuần Thành, tại đó ngài đã lên án vụ giết hại các Kitô hữu ở một đại học tại Kenya tuần này.

Kết thúc diễn thuyết, Đức Giáo Hoàng nói:

“Chúng ta kêu gọi hòa bình và tự do cho những người đàn ông và phụ nữ đang phải chịu đựng các hình thức nô lệ dù cũ hay mới do các tội phạm cá nhân hay tổ chức gây ra.

“Hòa bình và tự do cho các nạn nhân của những người buôn bán ma túy, những người thường liên minh với các thế lực mà lẽ ra nên bảo vệ hòa bình và hòa hợp trong gia đình nhân loại.

“Và chúng ta cũng yêu cầu hòa bình cho thế giới, thoát khỏi bàn tay của những thương lái vũ khí.”

Hai ngày trước, trong một buổi lễ Thứ Sáu Tuần Thánh tại Roma, Đức Giáo Hoàng đã lên án những gì ông gọi là sự “im lặng đồng lõa” về việc giết hại các Kitô hữu.

Buổi lễ này diễn ra chỉ một ngày sau khi gần 150 người đã thiệt mạng trong cuộc tấn công vào trường đại học ở Kenya do các chiến binh Hồi giáo thực hiện.

Trong đó, các chiến binh này được cho là đã tách riêng các tín đồ Kitô giáo ra và biến họ thành các nạn nhân.

Vatican

Hàng ngàn tín đồ, tín hữu đã đội mưa để lắng nghe thông điệp của Giáo Hoàng.

Khách hàng khuyết tật bị kỳ thị

Khách hàng khuyết tật bị kỳ thị

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-04-04

Khách hàng khuyết tật bị kỳ thị Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

viet_jet_air-622.jpg

Chị Vân (ngồi xe lăn) ngồi chờ ở sân bay Đà Nẵng hôm 2/4 vì bị Vietjet Air từ chối vận chuyển.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Công khai từ chối phục vụ người khuyết tật

Hãng hàng không VietJet Air đã công khai từ chối phục vụ người khuyết tật, không cho khách hàng lên phi cơ trên chuyến về mặc dù hành khách này mua vé hai chiều. Hành động được xem là kỳ thị này đang được hàng ngàn người theo dõi.

Chị Nguyễn Thảo Vân, một người khuyết tật nặng và hiện là Giám đốc Trung tâm Doanh nghiệp Xã hội Nghị lực sống từ Hà Nội bay đi Đà Nẵng do hãng VietJet Air bán vé hai chiều nhưng khi quay trở về thì cũng chính hãng bay này từ chối không cho chị lên phi cơ với lý do hãng không có hệ thống phục vụ người khuyết tật mặc dù chị mua vé khứ hồi.

Nếu như cái quy định của VietJet Air là người khuyết tật nặng không được đi weelchair của hãng thì tại sao lại đồng ý chuyển tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng ngày hôm trước? Vì cái vé của tôi là tôi mua khứ hồi chứ không phải vé một chiều.
-Nguyễn Thảo Vân

Cùng đi với chị Vân là người trợ giúp Ngô Thị Huyền Minh, trước hành động này hai người đã phải nằm vật vạ tại sân bay nhiều giờ đồng hồ. Nhân viên hãng bay VietJet là Lê Vũ Nhiệm cùng Lê Nguyễn Minh Tuyết đã cương quyết từ chối không giúp cho chị Thảo Vân và còn đồng ý để chị Huyền Minh dùng điện thoại quay lại những tranh luận giữa hai bên và sau đó bỏ lên facebook riêng của Thảo Vân. Nói với chúng tôi chị Thảo Vân cho biết:

“Hôm qua đi từ Đà Nẵng về lại Hà Nội tôi bị công ty VietJet Air từ chối vận chuyển với lý do là không vận chuyển trên weelchair cabin. Khi tôi nói tôi không cần đi weelchair cabin vì lúc nào tôi cũng có một người trợ giúp đi cùng thì người ta giải thích rằng: Không, đi weelchair cabin có nghĩa là người khuyết tật không thể di chuyển được trên máy bay. Xong rồi tôi hỏi nếu như cái quy định của VietJet Air là người khuyết tật nặng không được đi weelchair của hãng thì tại sao lại đồng ý chuyển tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng ngày hôm trước? Vì cái vé của tôi là tôi mua khứ hồi chứ không phải vé một chiều. Đến lúc ấy người ta bảo rằng đó là do đầu cầu Hà Nội làm sai. Khi người ta nói như thế tôi tiếp tục hỏi nếu đầu cầu Hà Nội sai thì VietJet Air phải có cách nào đó để chỉ cho khách hàng thì người ta bảo sẽ hoàn tiền lại 100% và tôi tự xử lý chứ còn người ta không có chịu trách nhiệm về chuyện đó và không có liên quan gì đến sân bay Đà Nẵng hết. Đà Nẵng đã làm đúng quy định của hàng không còn tôi thích làm gì thì cứ làm.”

ntv-400.jpg

Chị Thảo Vân trong một lần làm từ thiện. Courtesy photo.

Do mua vé về lại Hà Nội để đi ngay nên giá rất cao vượt khỏi khả năng tài chánh của mình, Thảo Vân phải gọi bạn chị tại Hà Nội để mua vé quay về từ hàng không Air Vietnam, chị Thảo Vân cho biết:

“Tôi không có tiền trong người. Vé vào giờ chót rất là đắt hơn hai triệu một người, hai người hơn 4 triệu tôi không có đủ tiền trong người nên phải gọi điện về Hà Nội để kêu cứu bạn đi mua vé hộ cho tôi.”

Ngay sau khi vụ việc xảy ra dư luận mạng xã hội đã nổi lên trận sóng chống đối hãng bay VietJet Air do sự kỳ thị người khuyết tật hết sức lộ liễu của hãng bay này. Phản ứng trước tiên là của chính VietJet, đại diện của hãng này cho biết sẽ kỷ luật hai nhân viên của họ vì thái độ không phù hợp với khách hàng tuy nhiên lại cho rằng việc từ chối phục vụ người khuyết tật nặng của VietJet Air là bình thường vì theo thông lệ chung của các hãng hàng không, hành khách hạn chế khả năng di chuyển khi đi máy bay thì cần phải đặt dịch vụ hỗ trợ trước một khoảng thời gian nhất định để các hãng hàng không liên hệ với các dịch vụ sân bay và chuẩn bị các điều kiện về nhân lực và trang thiết bị để hỗ trợ phục vụ. Trên thực tế, các sân bay ở Việt Nam sẽ không có đủ trang thiết bị hỗ trợ (xe nâng và các phương tiện khác) nếu cùng lúc có vài chuyến bay có khách hàng cần sự trợ giúp.

Trái quy định?

Ngay sau khi lời phân trần vô lý này đưa ra Luật sư Hoàng Tùng, Trưởng văn phòng Luật sư Trung Hoà cho báo chí biết ở Khoản 2, Điều 145 Luật Hàng không dân dụng năm 2006 quy định về nghĩa vụ của người vận chuyển đối với người khuyết tật có ghi rõ: “hãng hàng không phải quan tâm, chăm sóc hành khách, đặc biệt đối với hành khách là người khuyết tật hoặc cần sự chăm sóc trong quá trình vận chuyển”.

Cùng với Nghị định của Chính phủ ra ngày 10-4-2012 quy định chi tiết hơn “Đơn vị tham gia vận tải công cộng có trách nhiệm bố trí thiết bị, công cụ và nhân viên để trợ giúp hành khách là người khuyết tật lên, xuống phương tiện giao thông thuận tiện. Phương án trợ giúp phải được thông báo tại các nhà ga, bến đón, trả hành khách tại những nơi dễ thấy”.

Tôi muốn hỏi lý do tại sao, tôi muốn có chính sách phù hợp về sau này. Vấn đề của tôi tôi sẽ không đi VietJet Air nữa nhưng mà sẽ có những người khuyết tật khác khi người ta muốn di chuyển thì người ta muốn được tôn trọng và hỗ trợ đúng mức.
-Nguyễn Thảo Vân

Từ những quy định chặt chẽ này cho thấy hãng bay VietJet Air đã sai phạm khi không xây dựng hạ tầng phục vụ người khuyết tật trên phi cơ cũng như tại phi trường mà còn tự tiện ra quy định riêng gây khó khăn cho người khuyết tật.

Thái độ ứng xử của hai nhân viên hãng VietJet phản ảnh lại những gì mà hãng bay này đã huấn luyện cho họ.  Cả hai tỏ ra rất tự tin khi đã làm đúng những gì đã học. Việc kỷ luật nhân viên và đưa ra lời giải thích sai lạc là biện pháp đối phó tạm thời nếu vẫn còn lập luận cho rằng người khuyết tật phải thông báo trước mới được phục vụ.

Chị Thảo Vân cho rằng hành động này là xâm phạm cá nhân chị và kỳ thị người khuyết tật một cách lộ liễu, chị nói:

“Chẳng ai có thể tưởng tượng nỗi là người ta lại có thể đối xử bất công với người khuyết tật như vậy. Người ta đều nói đây là một sự kỳ thị xâm phạm quyền của người khuyết tật, xâm phạm nhân quyền. Bản thân tôi cảm thấy mình bị vô cùng kỳ thị. Tôi có sự so sánh bởi vì tôi từng trải nghiệm ở nước ngoài cho nên lúc nào tôi cũng cảm thấy tại sao lại vô lý như vậy? Tại sao mình được chào đón bởi những người xa lạ ở một đất nước khác thế mà ở ngay trên đất nước của mình tôi lại bị người ta coi thường, bị người ta từ chối phục vụ từ chối cung cấp dịch vụ?”

Trước khi công bố trước công luận kỷ luật hai nhân viên của mình, hãng bay VietJet Air đã gọi cho chị Thảo Vân để thương lượng chị không đem vấn đề này lên thông tin đại chúng, chị Thảo Vân kể:

“Khi người ta đàm phán với tôi để bồi thường cho tôi dừng chuyện này thì tôi không đồng ý. Tôi bảo cái này bây giờ không phải là vấn để của cá nhân tôi muốn. Tôi muốn hỏi lý do tại sao, tôi muốn có chính sách phù hợp về sau này. Vấn đề của tôi tôi sẽ không đi VietJet Air nữa nhưng mà sẽ có những người khuyết tật khác khi người ta muốn di chuyển thì người ta muốn được tôn trọng và hỗ trợ đúng mức.”

Câu chuyện của chị Thảo Vân một lần nữa cho thấy vai trò quan trọng của mạng xã hội và cách ứng xử quen thuộc của các tập đoàn kinh doanh đối với khách hàng cần phải xem xét lại. Mọi biểu hiện xem thường khách hàng đều phải trả giá, nhất là khách hàng bị xâm phạm lại là người khuyết tật.

Tìm Đấng Phục Sinh

Tìm Đấng Phục Sinh

– Tin nổi bật, Bài Giảng

150404_Empty-Tomb-Picture-09

(Đại Lễ Phục Sinh, năm B)

Chuyện kể rằng… Tại một hội nghị tôn giáo, người ta đưa ra một câu hỏi thú vị: “Sau khi chết, thủ lĩnh tôn giáo của quý vị để lại di sản gì?”. Các vị lãnh đạo các tôn giáo lần lượt trả lời. Người thì nói di sản là chút “tro tàn”, người thì nói là “chút hài cốt”, người thì nói là “mấy cọng râu”, người thì nói là vật này hoặc vật nọ. Cuối cùng, vị lãnh đạo Công giáo trả lời: “Chúa Giêsu của chúng tô
i để lại một di sản là NGÔI MỘ TRỐNG”
.

Thật kỳ diệu, “ngôi mộ trống trơn” đó lại chứa đựng tất cả. Thiên thần đã nói với mấy phụ nữ đạo đức: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi” (Lc 24:5-6). Lời Đức Kitô nói trước, giờ đã ứng nghiệm. Vâng, Ngài đã sống lại thật rồi: “Alleluia! Lễ Vượt Qua của chúng ta là Ðức Kitô đã hiến tế, vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa” (1 Cr 5:7b-8a).

Sự thật minh nhiên, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy nhiều chứng cớ, chứng tỏ rằng thực sự có một Ông Giêsu bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.

Đã và đang có các nhân chứng ở khắp nơi, điển hình nhất là ông Phêrô. Kinh Thánh cho biết: “Một hôm, tại nhà ông Co-nê-li-ô, ông Phêrô lên tiếng: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Chúng ta cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản (1). Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói những điều có thật, chứ không hư cấu hoặc bịa đặt.

Một Phêrô hôm nay hoàn toàn khác một Phêrô hôm qua, con người khiếp đảm đã biến thành con người can đảm. Chính ông đã tới nơi chôn cất Đức Giêsu Kitô và ông thấy ngôi mộ trống trơn. Vì thế, ông tin và ông có trách nhiệm phải chia sẻ niềm tin đó với người khác. Ông hùng hồn rao giảng về Đức Kitô: “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđê, bắt đầu từ miền Galilê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng. Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10:37-38).

Và ông dẫn chứng cụ thể: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Ngườiđược ơn tha tội” (Cv 10:39-43). Tin mừng Chúa Giêsu Phục Sinh là sự thật của các sự thật, là sự thật hơn cả sự thật, không gì có thể chối cãi.

Thật hạnh phúc vì chúng ta có được đức tin tông truyền và vẫn đang cố gắng sống niềm tin đó. Hôm nay là dịp chúng ta xem lại đức tin của mình, và hãy xác định lại: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Chúng ta chỉ là con số “không” to lớn, vậy thì không thể không tạ ơn, vì “tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:16). Kinh Thánh đã nói: “Không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết” (Kn 2:1). Nhưng chúng ta không phải chết tủi nhục, mà được sống mãi nhờ Đấng Phục Sinh. Như vậy, ngoài việc tạ ơn, chúng ta còn phải tự hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:17).

Tác giả Thánh Vịnh nói rằng “tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”, và xác nhận “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:22-23). Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, với lý do vô thường: “Đây là ngày Chúa làm ra – Cùng nhau ta hãy reo ca vui mừng” (Tv 118:24).

Thánh Phaolô nói: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Thì phải thế thôi, không thể khác được, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 8:23). Chúng ta là môn đệ, là con cái, là những người đi tìm Đấng Phục Sinh, chắc chắn chúng ta cũng phải noi gương Ngài, một lòng một dạ chỉ “tìm kiếm và ái mộ những sự trên trời” mà thôi.

Thánh Phaolô cho biết lý do: “Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:3-4). Xác đất vật hèn, chúng ta chỉ là bùn đất nhơ nhớp, hôi thối hơn đống rác, ấy thế mà chúng ta lại được hưởng phúc vinh quang cùng với Đấng Phục Sinh Giêsu Kitô. Chuyện như huyền thoại mà lại là sự thật. Quá đỗi kỳ diệu!

Tuy nhiên, đừng vì thế mà ẢO TƯỞNG, ảo tưởng sinh KIÊU NGẠO, kiêu ngạo sinh CỐ CHẤP, cố chấp thì… “hết thuốc chữa”. Thánh Phaolô căn dặn: “Lý do khiến anh em vênh vang chẳng đẹp đẽ gì! Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men” (1 Cr 5:6-7). Vì thế, “chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cr 5:8).

Trình thuật Ga 20:1-9 ngắn gọn, nhưng vẫn đầy đủ các chi tiết, đặc biệt là chuyện người ta đi tìm Đấng Phục Sinh Giêsu Kitô.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Chắc hẳn lúc đó bà hốt hoảng và quan ngại lắm, phụ nữ mà, thấy gì khác lạ là thấy lo lắng rồi. Thế nên bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà thông báo khẩn: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Nghe vậy, cả ông Phêrô và chàng Gioan cũng vội vã đi ra mộ. Họ không đi bộ mà chạy. Chắc hẳn họ cũng đang hoang mang, không biết kẻ nào to gan mà đưa thi hài Thầy đi đâu mất tiêu!

Cả hai đều ráng chạy cho mau, nhưng chàng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Chàng Gioan cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Sau đó, ông Phêrô cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Rất gọn gàng. Thế thì không thể bị đánh cắp. Kẻ trộm nào cũng sợ, vội vàng vơ vét chứ đâu có bình tĩnh mà xếp gọn gàng khăn khố như thế chứ? Chắc chắn chẳng kẻ nào to gan mà lấy trộm xác Thầy được đâu!

Rồi Gioan cũng đi vào theo, chàng đã thấy và đã tin. Trước đó, hai ông còn lo sợ, chưa hiểu hết lời Kinh Thánh đã nói trước rằng Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Giờ đây, hai năm rõ mười, họ an tâm trở về, không chỉ hết lo sợ mà còn vui mừng khôn tả: Thầy đã phục sinh rồi, alleluia! (2)

Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu và hằng sinh, Con Một Yêu Dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô đã phục sinh vinh hiển, chúng con vô cùng hạnh phúc, và xin cho chúng con được sống lại thật về phần linh hồn, đồng thời cũng biết nhiệt thành làm nhân chứng giữa cuộc đời hôm nay. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(1) Có 10 cuốn sách được đọc nhiều nhất thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua, Kinh Thánh đứng hàng đầu: [1] Kinh Thánh (3,9 tỷ bản), [2] Các Trích Dẫn từ Mao Trạch Đông (820 triệu bản), [3] Harry Potter (400 triệu bản), [4] Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn (103 triệu bản), [5] Nhà Giả Kim: 65 triệu bản, [6] Mật Mã Da Vinci (57 triệu bản), [7] Bộ truyện Chạng Vạng (43 triệu bản), [8] Cuốn Theo Chiều Gió (33 triệu bản), [9] Suy Nghĩ và Làm Giàu (30 triệu bản), [10] Nhật Ký của Anne Frank (27 triệu bản). Kinh Thánh là cuốn sách cổ xưa nhất nhưng lại có tỷ lệ “vượt trội” hơn các sách khác.

(2) Nghe Hallelujah của nhà soạn nhạc Handel (1685-1759): httpv://www.youtube.com/watch?v=76RrdwElnTU