Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA

000_ARP2823700

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

AFP photo

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm cùng với bào đệ là Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Nhu bị giết tại Sài Gòn trong một cuộc đảo chính. Đây cũng là khoảnh khắc khép lại thời vàng son của dòng họ Ngô Đình. Và đây cũng là thời điểm mà cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều nguy biến nhất. Có thể nói rằng số phận lênh đênh của dòng họ xuất chúng này vẫn chưa bao giờ ngừng.

Cố hương vời vợi…
Một người tên Hàm, sống ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Ông đầu tiên học trường thuộc địa, gọi là trường Hậu Bổ, sau đó ra làm quan Tuần Vũ, cũng như tỉnh trưởng vậy đó. Sau đó nhờ tài năng ông được rút về trung ương, tức triều đình Huế. Sau đó đụng chạm với Phạm Quỳnh, đụng phải sự cố chấp, không chịu canh tân, ông từ quan. Sau đó nữa ông âm thầm hoạt động cách mạng độc lập, để có nền Việt nam Cộng Hòa sau này là nhờ ông biết hoạt động độc lập…”.

Theo cụ Hàm, quê gốc của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, Lệ Thủy, mà là ở phủ Xuân Dục, Quảng Bình. Cụ Ngô Đình Dinh, ông nội của Tổng Thống Diệm là một con chiên mộ đạo. Do tránh nạn tiêu diệt Ki-Tô giáo của triều đình Huế, cụ đã trốn vào làng Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình để sống.

Ban đầu cụ làm nghề chèo đò, nấu nước trà cho làng mỗi khi có lễ lạc. Bởi quan niệm dân gốc và dân trú thời đó nên cụ gặp rất nhiều khó khăn, sống trong nghèo khổ, bần hàn. Cụ sinh được một người con là Ngô Đình Khả, chính là thân sinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này. Cụ Dinh mất sớm do bệnh tật, lúc đó, Ngô Đình Khả là đứa bé sáu tuổi. Một vị linh mục người Pháp mang Ngô Đình Khả về nuôi và cho học hành tử tế. Vốn có tư chất thông minh, Ngô Đình Khả nhanh chóng thăng tiến sau này nhờ vào học hành.

Với đời vợ cả, cụ Ngô Đình Khả sinh ra được hai người con trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục. Sau khi vợ cả qua đời, cụ Khả tái hôn với bà Phạm Thị Thân, sinh ra sáu người con là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp.

Với gia thế làm quan kể từ sau giai đoạn khó khăn của ông nội Ngô Đình Dinh, có thể nói rằng đến thời cụ Ngô Đình Diệm là thời phát tiết của tộc Ngô. Cụ nổi tiếng là người học giỏi, cụ được Pháp đưa sang mẫu quốc để du học nhưng cụ không chịu đi để giữ khí tiết chống thực dân đô hộ, cụ ra Hà Nội để học Hành chính quốc gia, còn gọi là trường Hậu Bổ. Năm 1921, cụ tốt nghiệp trường Hậu Bổ và về làm quan tại Huế. Thời kì làm quan của cụ là thời kì mà nhân dân địa phương được sống sung túc nhất dưới sự dẫn dắt của cụ.

Cụ tổ chức đào kênh, đắp đường lộ, làm nhiều việc có lợi cho dân. Sau nhiều biến thiên lịch sử, cụ phải trốn sang nhiều nơi, thậm chí nhiều nước. Và đến năm 1954, cụ làm Thủ tướng dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại. Mười năm sau, năm 1955, nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự dẫn dắt của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Cuối năm 1955, cụ Diệm làm Quốc Trưởng và sau này đổi thành danh xưng Tổng Thống cho đến tháng 11 năm 1963.

Ông Hàm cho rằng cái chết và sự lưu vong của gia đình họ Ngô là do một thủ đoạn tính toán về phong thủy. Bởi lúc đó, Quảng Bình nằm phía Bắc vĩ tuyến 17, thuộc lãnh địa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghiệt nỗi, mộ cụ nội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn nằm trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Quảng Bình. Mà theo lời của một nhà chiêm tinh có uy tín lúc bấy giờ thì đất Lệ Thủy sinh ra bậc kỳ tài, ứng vào tộc Ngô và tộc Võ.

400
Sông Kiến Giang, đoạn ngang qua ngôi mộ cụ Dinh. RFA photo

Nếu giữ bậc hiền tài tộc Ngô thì khí vận của nhân tài tộc Võ không đủ để lay chuyển thời vận. Và người ta đã nhắm đến mộ của cụ Ngô Đình Dinh, ông nội cụ Ngô Đình Diệm để phá phách, trấn yểm. Việc trấn yểm, phá phách này kéo dài gần chục năm, cho đến khi ngôi mộ của cụ Dinh bị phá tan hoang cũng là lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị ám sát.

Hiện tại, không còn dấu vết nào của dòng họ nhà Ngô Đình trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Mặc dù trong quá trình di cư, vẫn còn nhiều người họ hàng của tộc Ngô Đình sống lại làng Đại Phong nhưng đã đổi thành một họ khác như Trần, Lê. Sau biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, những người họ hàng này lại một lần nữa rời bỏ quê hương, sống lưu vong.

Dấu xưa không còn và ngôi mộ thiên táng

Cụ Hải, sống ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Nhà ông Giáp và ông Diệm gần nhau. Rõ ràng ông Diệm phải giỏi ngang ngửa với ông Giáp mới đấu nổi với nhau chứ. Nhưng do người ta giết hại ông Diệm nên đành vậy thôi.”.

Theo cụ Hải, lúc cụ Ngô Đình Dinh, tức ông nội của Tổng thống Ngô đình Diệm qua đời, vì gia cảnh nghèo khó, vợ chết sớm, chỉ có một con trai nhỏ là Ngô Đình Khả mới sáu tuổi. Hai cha con sống lây lất qua ngày bằng việc chèo đó thuê ban ngày và ngủ nhờ đình làng ban đêm. Khi cụ Dinh mất, dân làng thương tình mua áo quan khâm liệm và chèo thuyền đưa thi hài ông dọc theo sông Kiến Giang, đến núi Bến Đẻ để an táng.

Nhưng đi nửa đường thì trời đổ mưa, nghe tiếng cọp gầm, dân làng sợ quá đào qua loa một huyệt bên đường lên núi để chôn tạm rồi sáng mai tiếp tục an táng. Đang đào thì cọp gầm gần quá, người dân hoảng hốt lấp vội đất và bỏ chạy. Sáng mai, bà con lại bơi ghe lên chỗ huyệt mộ để lấp đất cho tử tế. Nhưng khi đến nơi thì thấy một gò đất tròn, cao đã phủ trên ngôi mộ. Gò đất này do mối đụn lên mà tạo thành. Người làng kháo nhau ngôi mộ được thiên táng, tức trời chôn, đời sau sẽ phát tích. Và chuyện này đã thành sự thật.

Cùng lúc đó, bên khu nhà thờ làng tộc Võ, một cây dừa bị bão đánh đã lâu, từ thân khô của nó mọc ra hai nhánh và phát triển rất nhanh. Tin đồn về khí vận ở Lệ Thủy đang phát tiết lan rộng. Trong đó, ngôi mộ thiên táng của tộc Ngô được cho là tụ khí hơn khu nhà thờ làng có cây dừa mọc đôi của tộc Võ.

Đến những năm 1950, công cuộc đào phá long mạch mộ tộc Ngô bắt đầu nhưng không có tác dụng. Đến năm 1961, một đường hầm đào xuyên qua trước ngôi mộ, gọi là công sự để chế tạo vũ khí nhưng thực chất chưa bao giờ có vũ khí nào chế tạo ở đây.

Sau đó một thời gian, các đường công sự đào ngang đào dọc và ngôi mộ cũng tự dưng biến mất. Cuối cùng là cái chết thương tâm của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời tứ tán của dòng họ Ngô. Dấu vết xưa của dòng họ Ngô trên đất Lệ Thủy, Quảng Bình cũng không còn.

Theo như chia sẻ của cụ Hải thì khi mà khí vận của đất Lệ Thủy bị tuyệt, từ đó đến giờ, đời sống khó khăn, người đỗ đạt cao một cách nghiêm túc rất hiếm và niềm tự hào của người dân về gia tộc họ Ngô cũng bị triệt tiêu một cách đáng sợ. Nhưng cụ Hải cũng khẳng định rằng nếu chọn một điều gì đó để nói về quê hương mình, ông sẽ chọn gia tộc họ Ngô bởi đây là một gia tộc đi từ nghèo khổ đến đỗ đạt và cống hiến cho dân tộc này rất nhiều.

“Hôm qua tiễn em đi,”

“Hôm qua tiễn em đi,”

Buồn biết nói năng gì.

Đường chiều mưa tiễn bước,

Hồn khóc theo người đi.”

(Đăng Khánh/thơ Du Tử Lê – Tiễn Em Chiều Mưa)

 ( 1Cor 14: 26-29)

 Trần Ngọc Mười Hai

             Vâng. “Tiễn Em chiều mưa”, hôm qua hay hôm nay đi nữa, cũng đều buồn để rồi lại những thưa và thốt “biết nói năng gì?”, “hồn khóc người đi”.

            Hồn còn khóc, nhiều hơn nữa, khi người đưa tiễn lại có ý-nghĩ cùng hành-xử khá lạ-kỳ như truyện kể sau đây:

“Vợ hỏi chồng:

            -Anh cắt bài gì trong báo Buổi Chiều, vậy? Báo này có gì hay ho đâu mà cắt?

-Cũng chỉ là bài báo kể về chuyện: có anh chàng nọ được toà án gia đình cho phép ly-dị vợ vì cô ta cứ liên tục lúc túi áo của anh cả khi treo lên mắc cũng như trước khi đem giặt, ấy mà!

-Đành là thế. Nhưng, anh định dùng mẩu báo ấy làm gì mà cứ lúi húi giấu mẩu giấy ấy thế?

-Ấy, anh địng bụng bỏ vào túi áo mình, ngộ nhỡ sau này…”

             Nói chữ “ngộ nhỡ sau này”, thật sự cũng khó biết. Chí ít là khi anh bạn cứ áp-dụng vào các trường-hợp sẽ xảy ra trong đời, với nhà Đạo. Trong đời người, có rất nhiều truyện để kể, làm sao nói hết, cho bớt buồn? Về chuyện nhà Đạo hay nhà Chúa, cũng hệt thế.

Duy mỗi chuyện cứ đến rồi đi ở chốn chóp bu nhà Chúa ở Vaticăng, vốn Đạo-hạnh không kém. Như, chuyện được ngành truyền-thông báo chí, cứ kể đi kể lại mãi một chuyện. Chuyện Đức Giáo Tông nhà mình vừa kết-đọan buổi Họp Thượng Đỉnh của Đạo mình hôm 29/10/2015 ở Rôma 2015, bằng một tựa đề, rất “đánh đấm”, như sau:

“Thượng Hội đồng kết thúc với chiến thắng lớn của Đức Phanxicô

Sau ba tuần thảo luận, Đức Giáo hoàng có được khả năng cho người ly dị tái hôn rước lễ xét theo từng trường hợp một.

Từ ba tuần nay, các giám mục họp Thượng Hội đồng ở Rôma về các vấn đề hôn nhân và gia đình, họ đã bỏ hai phần ba số phiếu quy định cho tất cả các điều khoản của hồ sơ cuối cùng và, nếu Đức Giáo hoàng chấp nhận thì sẽ có thể cho những người ly dị tái hôn rước lễ, xét theo từng trường hợp một.

 Cuộc bỏ hiếu này đánh dấu một bước chiến thắng quan trọng của vị giáo hoàng cải cách, sau lần họp đầu tiên năm ngoái bị một phần các giám mục từ chối.

 Điều khoản số 85 của tài liệu nói về việc cho người ly dị tái hôn được rước lễ theo một vài điều kiện. Trên 94 điều khoản thì điều khoản này nhận được ít số phiếu bầu nhất, với 178 phiếu thuận và 80 phiếu chống – nhưng vẫn đạt được đa số hai phần ba ấn định là 177 phiếu thuận trên tổng số 265 phiếu bầu…” (Nguyễn Tùng Lâm dịch tin-tức do Jean-Marie Guénois viết trên lefigaro.fr).

Chuyện “đánh đấm” hoặc đấu tranh/xung-khắc giữa các đấng bậc ở chốn chóp bu của Giáo-triều nhà Chúa sẽ thiếu-sót nếu ta quên không trích-dẫn một số sự-việc được ghi trên sách hoặc tự-điển Bách-Khoa Công-giáo như tác-giả Ralph Wroodrow từng ghi như sau:

 “Sự việc ‘phân-rã/cách-biệt’ lớn-lao trong Giáo-hội xảy đến vào năm 1378 và kéo dài đến 50 năm. Chức-sắc người Ý, khi ấy, đã bầu chọn Đức Urbanô 6 làm Giáo-Hoàng; trong khi đó, các vị hồng-y người Pháp lại chọn Đức Clêmentê 7.

 Khi ấy, các Giáo-hoàng lại cãi-vã/rủa sả lẫn nhau năm này qua năm khác, cho đến khi Công đồng quyết-định hạ bệ cả hai vị trên, để bầu lên một Giáo-chủ mới!

 Đức Sixtô 5 khi ấy có trong tay ấn-bản kinh thánh đã được soạn mà ngài tuyên-bố là ấn-bản xác-thực. Hai năm sau, Đức Clêmentê 8 tuyên-bố bản ấy đầy dẫy những sai-sót và truyền lệnh thiết-lập ấn-bản khác để sử-dụng…

 Khi cứu xét cả trăm sự-kiện và cung-cách các Đức Giáo-chủ đối-nghịch nhau hàng thế-kỷ, ta cũng hiểu rằng ý-niệm về quyền-uy cùng tính-chất rất “vô ngộ” của Đức Giáo Tông cũng rất khó cho nhiều người cảm-thông, chấp-nhận…

 Khi xem xét những sự việc như thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tin rằng việc gọi các Đức Giáo Hoàng là “ Hiện-thân của Đức Kitô” không có cơ-sở vững-chãi. Càng không vững hơn, nếu ta lại cứ gọi các ngài là “Đức Thánh Cha” của Giáo-hội Công giáo, nữa… (X. Ralphn Woodrow, Are Popes Infallible? Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 100-104)

             Trích-dẫn như trên, người trích và dẫn chỉ muốn nói rằng: ở giai-tầng/địa-hạt nào cũng thế, vẫn có nhiều thứ nhiều chuyện để bạn và tôi, ta coi đó như một đấu tranh hoặc chiến tranh giành phần thắng lợi hoặc chiến thắng đem về cho bản thân mình hoặc cho phe/nhóm của mình.

Về thành-quả do cuộc họp thượng-đỉnh của Hội thánh được gọi là Thượng Hộ-đồng Giám mục đem lại, cũng có những điều để tôi và bạn ta học-hỏi, cho riêng mình. Học và hỏi, hôm nay, có đôi điều đưa ra không chỉ để tôi và bạn, ta nghiên-cứu/khảo-sát mà thôi. Nhưng, còn để giúp ta ghi nhớ mà giữ lại cho đời mình, làm kinh-nghiệm.

Nghĩ thế rồi, bần đạo bầy tôi đây lại tiếp tục luận phiếm thêm cho vui đời, bằng những chuyện đời trong/ngoài Đạo. Nhưng trước khi đi vào truyện kể hoặc tìm về lời vàng ngọc ở Kinh Sách, tưởng cũng nên ca lại lời ca ở trên, hơi buồn, rằng:

“Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào truyện kể, rất bên dưới:

             “Truyện rằng:

Có một lần, Đức Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn, các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại và hỏi
– Ngài có điếc không?

–Ta không điếc.

–Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

– Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ, họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

–Quà ấy về tôi chứ ai.

– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

 Người kêu tên Phật ra chửi mà Ngài không nhận. Còn chúng ta, những lời nói bóng, nói gió ở đâu, nơi nào cũng đều lắng tai nghe, để buồn/để giận. Như vậy mới thấy những lời cuồng dại của con người. Ngài không chấp không buồn, còn chúng ta do si mê, chỉ một lời nói nặng nói hơn, ôm ấp mãi trong lòng, vì vậy mà khổ đau cứ triền miên, tiếp-diễn.

 Trong kinh sách nhà Phật, Đức Phật đã dùng ví dụ người ác lại cứ mắng chửi người thiện, mà người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun. Thế nên có tiếp-nhận mới dính mắc đau khổ, không tiếp-nhận thì an vui hạnh-phúc. Từ đây về sau mọi người có nghe ai nói gì về mình, dù tốt xấu, chớ nên tiếp-nhận thì sẽ được an vui.

 Và, lời bàn của người kể, rất như sau:

“Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây chuyện thị phi vì vô ý thức, cũng đừng vì một ai mà gây ra lầm lỗi trong quá khứ hoặc dùng lời lẽ nặng nề để hành hạ họ, như Oscar Wilde đã từng nói: “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

 Hậu quả của khẩu nghiệp thật vô cùng kinh khiếp. Không dương thì âm, sớm muộn gì cũng đều có báo ứng. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành-lặn, nhưng vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được.

 Chửi bới và nói xấu hay đi rêu rao về người khác mà người đó không có phản-ứng, hay không biết thì cũng giống như kẻ tự ngửa cổ lên trời phun nước bọt rồi chỉ rơi trúng mặt mình. Vậy, tốt nhất không nên nói xấu ai ở đâu/nơi nào, dù họ có làm điều không tốt nhưng có thể không gây hại đến bản thân và cộng đồng mình. Bởi ngậm máu phun người thì chỉ tanh mồm mình trước. (Sưu tầm)

            Kể truyện rồi, nay ta tìm về vườn hoa Lời Vàng của bậc thánh-hiền có những lời dịu dàng, nhưng thấm-thía để suy-tư/nghĩ-tưởng về những lời dặn-dò như sau:

             “Vậy, thưa anh em, ta phải kết luận thế nào đây?

Khi anh em hội họp,

người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy,

người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ,

người thì giải nghĩa:

tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh.

Nếu có nói tiếng lạ,

thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi,

mỗi người cứ theo phiên mà nói,

và phải có một người giải thích.

Nếu không có người giải thích,

thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn,

mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi.

Về các ngôn sứ,

chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi,

còn những người khác thì phân định”.

(1 Cor 14: 26-19)

             Nói như bậc thánh-nhân hiền-lành, thì có nói trong buổi họp hay ở đâu nữa, cũng vẫn nên cẩn-trọng về lời mình nói. Chí ít, là lời nói đó hoặc phán bảo nọ xuất tự đấng bậc vị vọng trong Đạo. Cũng thế, có lần bần đạo được bảo rằng: các lời phát-biểu trên bục nhà thờ cũng nên cẩn-trọng vì lời ấy một cách nào đó vẫn là khuôn-mẫu cho người nghe ngồi bên dưới, tựa hồ lời thày giáo nói với học trò, vậy.

Không chỉ mỗi thế. Phán-quyết của đấng-bậc ở nhà Đạo vẫn là lời phán/bảo dù có mang tính-chất quyết-định hay không, cũng vẫn được coi như hành-xử quan-trọng cho cả người phán lẫn người nghe.

Trường-hợp đấng bậc trưởng-thượng Hội-thánh Công-giáo, tình-hình Giáo-hội nay rối rắm đã hiển-hiện cả vào lúc trước khi bắt đầu cuộc họp bàn cấp cao kéo dài nhiều tuần-lễ. Khi Thượng Hội-Đồng Giám mục 2015 đi vào giai-đoạn cuối, báo-giới truyền-thông Hoa Kỳ đã có những nhận-xét như sau:

“Toà thánh Vatican xem ra đang có những bí-mật, lộn xộn của toà án thời Trung Cổ, gồm những sự việc xảy ra theo cách nào đó, vẫn như xưa. Hành-xử khiêm-tốn đầy phô-trương của Đức Phanxicô, sự việc ngài quở trách các Giám-mục cao cấp không thay-đổi trạng-huống “như xưa” này, chút nào hết. Nếu có, thì cũng chỉ là tham-vọng của một giáo-chủ từng khuyến-khích các vị hay bày mưu-kế hãy cộng-tác mà làm việc chung với các vị khác từng chống cưỡng những chủ-trương như thế, mà thôi.

  Nhưng hiện nay, vị chủ mưu bày kế lại chính là đức Giáo-chủ, nhà mình. Quả là, mục-tiêu/mục-đích do Đức Phanxicô đưa ra, cũng đơn-giản là: ngài hỗ-trợ cho các đề-nghị nên đốc-thúc các vị có tinh-thần thông-thoáng khả dĩ cho phép bổn-đạo nào từng ly-thân/ly-dị nay tái-giá được phép hiệp-thông rước lễ mà không cần phải tiêu-hủy hôn-nhân đầu.

 Nhờ Đức Giáo-chủ âm-thầm hỗ-trợ, đề-nghị này trở-thành mối giây gây tranh-cãi trong lần họp thượng-đỉnh năm 2014 về gia-đình và lần thứ hai năm 2015 này…

 Giả như đề-nghị ở trên thật rõ ràng, thì con đường ngài đang đi cũng thật tăm-tối. Theo thủ-tục, thì quyền-bính của Đức Giáo-tông gần như tuyệt-đối: tức có nghĩa, nếu Đức Phanxicô quyết-định rằng ngày mai đây sẽ tán-thành cho phép những người tái-giá được lên rước Mình Chúa đi nữa, thì cũng chẳng có Toà án Tối cao nào của Công-giáo lại có thể phản kích quyết-định của ngài, được.

 Dù có thế, cùng một lúc, Đức Giáo Tông lại vẫn được coi là người không có quyền thay-đổi tín-lý/giáo-điều của Đạo, chút nào hết. Điều luật này, không có tính-cách công-khai trợ-lực cho ngài, nhưng cứ theo tục-lệ, có sự khiêm-tốn và tính kính-sợ Thiên-Chúa, thì nỗi lo-sợ sẽ có phân-rã trong hàng-ngũ lãnh-đạo đã kềm-chế các Đức Giáo-chủ có ý-đồ viết lại các tín-lý trong Đạo. Và, việc viết lại tín-lý/giáo-điều là những gì mà người Công-giáo bảo-thủ tin tưởng một cách hữu-lý rằng đề-nghị cho những vị từng tái-giá được phép rước Mình Thánh Chúa đã được sự hỗ-trợ của Đức Phanxicô….

 Với các nhà báo Công giáo, cũng như bất kỳ ký-giả nào khác, đây là câu truyện đầy tính hấp-dẫn; thế nên, nói theo kiểu nhà báo rất nghiêm-ngặt, tôi đây không có ý-kiến là Thượng Hội-Đồng kỳ này sẽ kết thúc ra sao. Nhưng, nói theo tư-cách của người Công-giáo, tôi trông đợi rằng cuối cùng thì mưu-đồ viết lại tín-lý/giáo-điều cũng sẽ thất-bại thôi. Mỗi khi có sự căng-thẳng giữa niềm tin lịch-sử và vị Giáo-chủ trong đạo, thì tôi luôn chọn phía niềm tin để đánh cá-cược. Thế nhưng, đối với một cơ-chế vốn đo-lường tuổi thọ của mình hằng thiên-niên kỷ, thì “cuối cùng” cũng phải mất một thời-gian khá dài ngày mới có thể đạt đích-điểm.” (Xem Ross Douthat, The Plot to change Catholicism, The New York Times SundayReview 17/10/2015

Nhà báo nhận-định ra sao, thì cứ nhận và cứ định. Sự việc xảy ra ở nhà Đạo vẫn là chuyện dậm chân tại chỗ, bàn mãi cũng không hết. Việc cuối, có lẽ sẽ không là ngồi đó mà bàn và luận nhưng là đi vào hiện-thực. Thực-hiện ra sao để mọi thành-viên trong Đạo, sẽ lại trở về với thực-tại diễn-tiến mãi, hệt như trước.

Nhận-định sao thì cứ định và cứ nhận. Định rồi nhận hoặc nhận rồi mới định, thật cũng tuỳ. Tuỳ người, tuỳ mình. Tuy nhiên, có tuỳ ai đi nữa, thì hỡi bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang vững chí hướng về trước mà ngâm nga ba câu hát ở trên mà lập lại những lời buồn, rằng:

“Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

 Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

 Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

 Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi”.

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Đúng thế đấy, bạn ạ. Những mong “Tình như vỡ trong mưa” sau bao lần bàn cãi lưa-thưa hay mạnh bạo, ta cũng đừng “buồn nhìn theo lối xưa”, mà hành-xử. Bởi, có hành và có xử theo lối cũ/xưa đi nữa, thì bánh xe lịch-sử cũng sẽ nghiền-nát tâm-can con người để rồi sẽ “vỡ trong mưa”, cũng rất buồn. Buồn về tình đời. Buồn, một đời người.

 Trần Ngọc Mười Hai

Đôi lúc cũng có buồn

Nhưng không buồn

về đời hoặc về người.

Bởi, mọi người vẫn cứ vui

ở trong đời.

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

Mai Tá lược dịch

Khi xưa, thiên hạ nguyện cầu bằng lời kinh trong gió như: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cầy, Đong đầy bát cơm…” (Tục ngữ – Phong dao) Lúc này, chúng dân lại mong mưa triền miên nên mãi lắng đọng: “Xin mưa triền miên mãi luôn lắng đọng, Cho đôi tình nhân đắm trong giấc mộng”. ( Đức Huy – Đường xa ướt mưa )

Thuở trước, giấc mộng con người vẫn gắn liền với hiện thực cuộc đời. Bao giờ cũng đủ ăn đủ uống, đủ ruộng để cày, rất đầy bát cơm đong. Ngày nay, mộng vàng người thương không chỉ có thế, nhưng thực tiễn. Thực tiễn như chính sự sống. Một cuộc sống đong đầy những thương yêu. Yêu như tình yêu trai gái, đắm đuối như giấc mộng ban đầu. Thương như tình thương yêu nhân hiền, vẫn thấy nơi các bà góa hồi đầu thế kỷ. Như truyện kể hôm nay.

Trình thuật hôm nay, kể lại câu truyện rất “đong đầy” về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghèo cả chức phận lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng nơi bùn đen. Kiếp người đốn mạt trái ngang, luôn gặp cảnh chê bai, miệt thị. Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo nữa!

Trình thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ lĩnh Kinh Sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người ta cần dè chừng. Dè chừng không chỉ vì họ luôn tìm ra phương cách khai thác bóc lột giai cấp cùng đinh mạt rệp mà thôi. Dè chừng, còn vì các thái độ khinh chê miệt thị và bóc lột ấy vẫn hủy hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa triền miên, ơn lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành xử giả hình, không chấp nhận được. Cần đổi thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh sử thỉnh thoảng vẫn kể lại hành vi kiêu căng, ngạo mạn của các đấng Kinh Sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược khác hẳn lối xử sự của đám nghèo hèn cùng đinh như các bà góa. Hành vi yêu thương luôn giùm giúp những ai đang cần.

Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền miên chịu đựng mọi khổ đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp nhận nổi phong cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh Sư, Biệt Phái. Là môn đồ Đức Chúa, dù ở cương vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp nhận nổi thái độ trịch thượng dễ gây xa cách ấy.

Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền bính này khác, tự nó đâu có gì xấu. Vấn đề đặt ra là: khi tiếp nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền thế hay của cải tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư cách của người công chính được như thường. Hệt như phương châm: hãy nói tôi nghe bạn sử dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền bính và của cải tiền bạc vẫn là “bát cơm đong đầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền uy con người tạo được, dù ở chính trường, nơi nhà Đạo hoặc tại gia đình và xã hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp dẫn khó chối từ. Càng có nhiều uy quyền, người ta càng cố tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người ta lại những tưởng mọi sự đều thuộc về mình. Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu căng, thích bóc lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình.

Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò rằng: tất cả đều là quà tặng từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc nhở từ Trên, người ta có khuynh hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Đã cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Máccô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong thái của người cùng đinh nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn. Chẳng có gì là cao-sang, ca ngợi nơi sự nghèo hèn. Điều mà Đức Ki-tô ngợi khen, chính là phong cách độ lượng, thương yêu giùm giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo hèn tận tuyệt.

Nghèo/hèn tận-tuyệt, là biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai, thế nhưng lại vẫn biết người biết mình, luôn khiêm tốn, vẫn thân thương. Thân thương trong thái độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo hèn tận tuyệt, hơn mình. Biết người biết mình là lâu nay tuy bị bóc lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng lặng yêu thương đùm bọc. Không hợm hĩnh khoe khoang.

Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhè nhẹ khi thương yêu đùm bọc, lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo – Đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao sang quyền quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh thấp hèn có cơ hội minh chứng dỗ dạy các đấng bậc quyền quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự trị nơi: chính trường, nhà Đạo, hoặc tại khắp các nơi chốn như xã hội, gia đình. Và đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật Thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc.

Nơi dân gian trần thế có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng. Như truyện kể về đối chất thần học giữa vị Hồng Y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái Giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở Rôma có quyết định: người Do Thái phải rời bỏ thủ đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất bình trước quyết định gay gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hòa bằng đề nghị: nếu cộng đồng bạn toàn thắng cuộc thi đấu kiến thức thần học, họ được ở lại. Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng Y chủ quản. Còn phía Giáo Hội bạn lại chỉ đề cử một tín đồ nghèo hèn tên là Mô-sê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Mô-sê liền đề nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay ra dấu. Hai bên đồng ý nhập cuộc.

Bắt đầu, vị Hồng Y đưa tay lên cao giơ 3 ngón. Tín đồ Mô-sê chỉ giơ một ngón rất gọn. Hồng Y nhà ta dùng tay vẽ một vòng cầu trên đỉnh đầu. Còn Mô-sê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi. Hồng Y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ thôi, hết sức cung kính lãnh nhận. Trong khi đó tín đồ Mô-sê lại mang trái táo xanh ra… xơi gọn !

Cuối cùng, vị Hồng Y đứng bật dậy nói: “Tôi xin thua! Người này quá tốt lành, anh ta đã thắng”. Thế là, cộng đồng người Do Thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng nhiệm đến hỏi vị Hồng Y: “Sao lại như thế?” Vị Hồng Y đáp: “Trước hết, tôi giơ tay ba ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta chỉ tin một Chúa.

Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này. Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Chúa là việc rất phải. Phần anh ta, anh ta lại lấy trái táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần phải chú ý đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải đáp rất nhanh về mọi vấn đề”.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng đồng Do Thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp hèn Mô-sê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo mạo bên ấy. Anh thưa: “Có gì đâu. Lúc đầu, ông ấy bảo tôi: cộng đồng mình có ba ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không người nào trong bọn tôi sẽ phải ra đi cả ! Rồi ông ta lại bảo: Toàn bộ ngôi thành này sẽ sạch bóng người Do Thái, là ý nói các anh phải biến đi ấy. Tôi bèn cho biết: Không đâu, bọn tôi quyết đóng trụ trên mảnh đất này, chẳng bao giờ đi đâu !”

Cuối cùng, có người hỏi: “Mô-sê, thế rồi sao ?” Mô-sê nói: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ông lấy đồ ăn bữa trưa ra ăn, tôi cũng bèn lấy trái táo xanh của mình ra ăn cho đỡ đói, thế thôi !”

Qua truyện kể, phong cách hành xử giải quyết vấn đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo hữu thấp hèn Môsê, rất khác biệt. Khác biệt, không có nghĩa loại bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt là cần thắc mắc, cần học hỏi do đâu. Khác biệt không phải để so sánh phân tranh ngôi vị. Vì so sánh phân tranh không là giải đáp tốt ở nhiều trường hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái độ biết học và hỏi. Biết áp dụng lối xử sự, phương cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn tận tuyệt, phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý ở trên cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như là cách thế của kẻ nghèo hèn tận tuyệt.

Tham dự Tiệc Thánh hôm nay, ta cầu và mong cho cộng đoàn thân thương của ta có được phong cách hành xử, rất thư thái xứng hợp. Thư thái, như dân thường ở huyện, chốn dân gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng ân. Mưa cứu độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông thường, ta nhận lĩnh. Một khi có được phong cách nhẹ nhàng thoải mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư thái hát lên lời ca, đầy khen ngợi, như ý nhạc của nghệ sĩ Quốc Dũng, mà rằng:

            “Ngày dài anh yêu hỡi

            Em mong chờ từ bao đêm tối

            Một vòng tay thiết tha ấm nồng.” (Quốc Dũng – Cho nhau mùa đông )

Vòng tay thiết tha, đầy những ấm nồng giùm giúp. Thế đó, là sự thiết tha nồng ấm từ những bàn tay giúp giùm nhẹ nhàng của bà góa, những kẻ đơn côi, rất nghèo hèn. Nghèo, nhưng vẫn giúp, vẫn giùm, vẫn thương. Đó chính là thực chất của nền thần học. Học về thần yêu thương, thần giùm giúp.

Không chỉ riêng cho người Công Giáo, hay Do Thái, mà là: lòng yêu thương giùm giúp của chung nhà Đạo. Đạo của Chúa. Đạo tình thương yêu.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 12: 38-44)

Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma.

Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

LỜI CHÚA

Đức Giê-su nói: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời.” (Ga 6,40)

“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16,10)

“Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?” (Lc 18,7)

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

DAM CHAY

Một vụ nổ xảy ra tại Donetsk, Ukraine, ngày 20/10/2014

Căn nhà bốc cháy, người chủ trước lúc chạy thoát thân đã nhớ và tháo bỏ dây xích của chú chó trong nhà, hy vọng nó cũng mau theo chủ bỏ chạy ra ngoài. Nhưng không …. con chó này đã không làm như thế mà quay đầu xông vào căn nhđ đang cháy.

Đây là điều người chủ không ngờ tới, nhưng lửa mỗi lúc một lớn, họ không tài nào quay trở lại để cứu con chó của mình. Khi người chủ còn đang lo âu nôn nóng, thì con chó từ trong biển lửa xông ra, miệng đang ngậm một chú mèo con.

Con mèo này cũng là thú nuôi của gia đình, cả hai vẫn đùa giỡn với nhau, vậy nên khi ngọn lửa bùng cháy, phản ứng đầu tiên của chú chó chính là đi cứu bạn.

Hành động dũng cảm của chú chó này đã khiến người chung quanh cảm động. Con mèo con thân thể gầy yếu, bị mắc kẹt trong biển lửa, không biết lối nao mà chạy; nếu chú chó không quay lại cứu, mèo con chắc hẳn sẽ chết trong biển lửa.

CHU CHO CUU MEO

Trong lúc nguy cấp đó, chú chó không một chút do dự, lao vào biển lửa để cứu người bạn thân. Tình bạn có hậu của nó rất đáng cho chúng ta thán phục.

Chính chúng ta đây, ngay tại thời khắc giữa sự sống và sự chết, sẽ có người chỉ lo cho mạng sống của riêng mình, nhưng chú chó này hoàn toàn ngược lại. Chú không ngại tình huống sống hay chết.

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng hãy trân quý cuộc sống, ngay cả của những con vật, và tất cả mọi thứ xung quanh bạn, bởi chúng đều có linh tính và tình cảm.

Xin chuyển cho mọi người để càng nhiều người hơn nữa biết được câu chuyện cảm động này.

7 tín hiệu cảnh báo ung thư

http://4.bp.blogspot.com/-QZAP8TCKXnA/U7zbJv7MN1I/AAAAAAAAH28/ItE1uEllGkc/s1600/images198PLFCQ.jpg


7 tín hiệu cảnh báo ung thư
Bất kỳ cơn đau nào kéo dài, hay không rõ nguyên nhân đều là dấu hiệu của một tình trạng sức khỏe cần quan tâm.
Trên trang WebMD, Hiệp hội Ung thư Mỹ đã đưa ra khuyến cáo về một số biểu hiện cảnh báo khả năng ung thư. Để cho dễ nhớ, các nhà khoa học sử dụng các chữ cái ở đầu mỗi dấu hiệu bằng tiếng Anh viết tắt thành từ C-A-U-T-I-O-N
(cảnh báo), bao gồm: 
– C (Change in bowel or bladder habits): Thay đổi thói quen đi tiêu, tiểu tiện. Có thể hiểu rộng rằng, bạn thay đổi về số lần đi tiêu tiểu như đi cầu bón, tiêu chảy, tiêu chảy kèm táo bón xen kẽ, tiểu nhiều lần…
– A (A sore that does not heal): Đau nhức kéo dài không khỏi. Bất kỳ cơn đau nào mang tính mạn tính, tức kéo dài, hay không rõ nguyên nhân đều là dấu hiệu của một tình trạng sức khỏe cần quan tâm.
– U (Unusual bleeding or discharge): Chảy máu bất thường, từ bất cứ đường nào như mũi, miệng (ho hay khạc ra máu), đường tiêu tiểu, âm đạo…
– T (Thickening or lump in the breasts, testicles, or elsewhere): Khối u ở bất cứ vị trí nào: vú, tinh hoàn, bụng, các nhóm hạch…
– I (Indigestion or difficulty swallowing): Ăn khó tiêu hay khó nuốt.
-O (Obvious change in the size, color, shape, or thickness of a wart, mole, or mouth sore): Thay đổi rõ ràng trong kích thước, màu sắc, hình dạng, hay độ dày của một mụn cóc, nốt ruồi, vết thương hay lở loét trong khoang miệng.
– N (Nagging cough or hoarseness): Ho dai dẳng hay khan tiếng kéo dài.
Ngoài ra, các triệu chứng sau đây cũng có thể báo hiệu sự hiện diện của một số loại bệnh ung thư:
– Đau đầu dai dẳng.
– Giảm cân không rõ nguyên nhân.
– Mất cảm giác ngon miệng.
– Đau mạn tính trong xương hoặc bất kỳ vị trí nào trên cơ thể.
– Mệt mỏi dai dẳng, buồn nôn, hoặc nôn mửa.
– Liên tục sốt nhẹ.
– Nhiễm trùng lặp đi lặp lại.
 
Khi bạn có một trong những triệu chứng kể trên mà không có một nguyên nhân rõ ràng, kéo dài trên 2 tuần, thì rất có thể là dấu hiệu của một chứng ung thư nào đó. Việc tìm đến với bác sĩ để được chẩn đoán và tầm soát ung thư sẽ giúp bạn phát hiện sớm. Cần nhớ rằng, chẩn đoán sớm ung thư là chìa khóa quan trọng quyết định hiệu quả của điều trị.
 
Thúy Ngọc (WebMD)

 

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP CỦA HAI VỊ TIÊN SINH HỌ NGÔ

Ngày 2/11/1963, trước khi một người sĩ quan bị mua chuộc và hèn nhát ra tay hạ sát cả hai anh em mình, ông Ngô Đình Diệm đã đến nhà thờ Cha Tam, Quận 5 để cầu nguyện.

Ít ai biết được lúc đó ông Diệm và em mình, ông Ngô Đình Nhu, đã im lặng cầu nguyện điều gì.

Không lâu sau đó, hai anh em lãnh đạo nền Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam bị hạ sát. Dân tộc Việt mất đi những nhà chính trị kiệt xuất mà có thể nhiều thế kỷ sau vẫn không thể có người sánh bằng.

Sự xuất sắc của anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được thấy, qua việc hai ông nhận ra rất sớm, âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh, thông qua ngõ Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi lại từ 1952, cho thấy ông Ngô Đình Nhu đã lập nên một mạng lưới thu thập thông tin về việc can thiệp của Trung Cộng ở miền Bắc. Sự kiện cải cách ruộng đất đẫm máu mà ông Hồ Chí Minh thực hiện theo yêu cầu của cố vấn Trung Cộng vào năm 1953-1954 đã khiến cho hai vị lãnh đạo miền Nam càng quyết tâm hơn nữa trong việc ngăn không cho chủ nghĩa cộng sản tràn vào miền Nam.

Sau khi ông Ngô Đình Nhu mất, năm 1964, nhà xuất bản Đồng Nai, Saigon, cho ra mắt tập Chính đề Việt Nam của ông với bút danh Tùng Phong. Tất cả những gì viết trong đó, là máu và nước mắt, là tương lai đầy uẩn khúc của dân tộc Việt được dự đoán – xác đáng trong từng con chữ.

“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô”. (trích)

Sự kiên quyết với tự do và độc lập, sự thành kính và quyết liệt với di sản của tổ tiên người Việt trao lại của hai ông vị lãnh đạo ấy, đã khiến cho hai ông vẫn được nhắc nhở, kính trọng sau khi qua đời. Đặc biệt, với những xung đột xã hội trước khi bị lật đổ – như với phía Phật Giáo – người Việt ngày càng nhận ra bên trong có sự dàn dựng và can thiệp từ phía Bắc.

Rất nhiều thông tin tuyên truyền cho rằng hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là căn cơ Công giáo nên ghét bỏ Phật giáo. Nhưng cũng ít ai biết rằng năm 1959, khi ông Ngô Đình Diệm được giải thưởng Leadership Magsaysay (dành cho các nhà lãnh đạo xuất sắc) với ngân phiếu 15,000 USD, ông đã gởi sang cho ông Đỗ Vạn Lý, Tổng Lãnh Sự VN tại New Delhi, Ấn Độ, để biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc đó đang rất khó khăn vì bị Mao Trạch Đông cho quân đội truy đuổi. Chính Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận điều này trong một bài nói chuyện trước cộng đồng Việt Nam – Mỹ, tại California.

Ý nguyện về một Việt Nam độc lập của hai vị Ngô tiên sinh cũng rất rõ. Năm 1961, khi đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Phía đón tiếp chuẩn bị rất nhiều cờ hai màu vàng trắng của Vatican. Thấy thiếu cờ quốc gia, Ngô tổng thống đã gọi viên thiếu tá tỉnh trưởng đến để chất vấn ”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.

Thật khó mà biết được hai vị đã cầu nguyện điều gì với Đức Jesus trong những giây ngặt nghèo ấy của đời mình. Nhưng có thể không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà sự sợ hãi cho một nền độc lập, một nền tự do non trẻ của nhân dân Việt Nam sẽ mai một.

Sinh thời,  câu nói nổi tiếng của Ngô tổng thống vẫn hay được nhắc đến:

“Tôi tiến. Hãy tiến

Tôi lui. Hãy giết tôi

Tôi chết. Hãy nối chí tôi!”

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước ấy. Xin được nhắc lại vài lời của họ với sự kính trọng. Người Việt đã từng có người dẫn đầu cho cuộc trường chinh vào tự do, thoát khỏi bóng ma xâm lược của Trung Cộng. Người Việt cũng đã có người chết, có người tù đày vì hào khí anh linh của giống nòi. Người Việt cũng đang kêu gọi, chờ đợi một thế hệ sẽ nối chí để đưa đất nước này ra khỏi gọng kìm phương Bắc.

Sĩ khí của hai con người yêu nước, đã nhắc chúng ta rất nhiều điều vào lúc này.

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Trăm voi không được bát nước xáo.

Thành ngữ Việt Nam

Bằng giờ này hai năm trước, báo Pháp Luật nghiêm nghị loan tin:

Tối qua (8/11), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng công bố ngày 9/11 là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam… Phát biểu tại buổi Lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là hình thức pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng, đường lối, cương lĩnh của Đảng, ý chí, nguyện vọng và những lợi ích cơ bản của nhân dân. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật. 

Sau lời “khẳng định” này, cả nước đã nô nức thi đua học tập về ý nghĩa của Ngày Pháp Luật. Khắp nơi đều tràn ngập bích chương hay tranh cổ động toàn dân sống & làm việc theo luật pháp.

Cũng trong ngày này, khi trao đổi với phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân bên hành lang Quốc Hội, đại biểu Lê Thanh Vân nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải làm sao để mỗi người dân thấm đẫm tinh thần thượng tôn pháp luật.” Trung tướng Trần Văn Độ, Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân, cũng nói thêm: “Phải thường xuyên giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho người dân.”

Một trong những địa phương có thể được nêu ra làm gương cho tinh thần “thấm đẫm thượng tôn pháp luật” là tỉnh Bến Tre, nơi mà năm thanh niên đã bị kết án 20 năm tù vê tội … trộm gà – như tin của báo Thanh Niên:

“Ngày 31.7, TAND huyện Ba Tri (Bến Tre) xử lưu động, tuyên phạt các bị cáo Đoàn Văn Tích 4 năm 6 tháng tù, Nguyễn Thanh Sơn 5 năm 6 tháng tù, Hồ Văn Nhi 7 năm tù; Phan Văn Lượn và Lê Văn Lộc 5 năm 3 tháng tù cùng về tội cướp tài sản. Khoảng 2 giờ sáng ngày 30.1, sau khi uống rượu, Tích rủ Sơn, Nhi, Lượn và Lộc cầm dao đến quán Ngọc Trâm để uy hiếp chủ quán là ông Lê Văn Tươi ở ấp An Lợi, xã An Thủy, Ba Tri; sau đó, bắt gà bán lấy tiền tiêu xài.”

Thanh Hoá cũng là một nơi rất đáng được biểu dương vì  cách “xử lý nghiêm” của chính quyền địa phương – theo VnExpress:

“Ngày 5/7, ông Hoàng Sỹ Quang, Đội trưởng Quản lý thị trường số 2 (Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa) cho biết, chính quyền thị xã Sầm Sơn vừa ra quyết định xử phạt nhà hàng Duy Anh (ở đường Hồ Xuân Hương, phường Bắc Sơn, thị xã Sầm Sơn) số tiền 20 triệu đồng về hành vi gian lận trong kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Khi tính tiền bữa ăn của đoàn khách du lịch, một nhà hàng ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) đã ghi khống 2 tô cơm để lấy thêm 60.000 đồng.”

Ảnh S.S: VnExpress

Không riêng gì VnExress, vụ việc “ghi khống 2 tô cơm bị xử phạt 20 triệu đồng ”đã được tất cả các cơ quan truyền thông nhà nước (kể cả T.V.) đồng loạt thông tin, cứ y như là  một “tin vui” để cổ vũ cho Ngày Pháp Luật Việt Nam vậy.

Chính quyền tỉnh Thanh Hoá, rõ ràng, đã thực thi luật pháp một cách hết sức nghiêm minh và nhanh chóng. Tỉnh Quảng Trị, tiếc thay, “chưa thấm đẫm tinh thần pháp luật” gì cho lắm nên dù cũng có chuyện “ghi khống” xẩy ra mà chả có ai bị xử lý ráo trọi. Báo Lao Động số ra ngày 06 tháng 7 năm 2015 cho hay:

Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.

Nguyên văn bài báo thượng dẫn (“Quảng Trị: Tuần Tra Biển Khống, ‘Rút Ruột’ Nhà Nước Hàng Tỉ Đồng”) gồm 1.000 từ. Không một chữ nào nói đến chuyện kỷ luật hay xử phạt ai cả. Những hạn từ thường thấy như “kiểm điểm,” “rút kinh nghiệm,” hay “khắc phục” cũng khỏi có luôn.

Vài tháng sau, ông ông Lê Hữu Thọ – Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Uy Quảng Trị – cho phóng viên báo Lao Động biết thêm rằng “Vụ tuần tra biển khống rút ruột Nhà nước hàng tỉ đồng chưa xử lý vì… quá nhiều việc, không có thời gian.”

Thời gian (buồn thay) không chịu đứng về phía công lý nên trên trang Anh Ba Sàm lại có thêm tin rằng bài báo (“Bỏ Mặc Ngư Dân Là Vô Trách Nhiệm, Vô Cảm và Không Thể Tha Thứ”) đề cập đến việc tuần tra giả và khống tiền nhà nước của lực lượng Biên Phòng tỉnh Quảng Trị – trên trang GDVN – đã “được”… gỡ bỏ rồi!

Bỏ cũng … đúng thôi. Ghi khống vài tỉ đồng tiền Việt, nói nào ngay, chỉ là chuyện nhỏ. Số tiền này chả đáng kể gì nếu nếu  so với hàng triệu (hay hàng tỉ Mỹ Kim) bị “khống” trong vụ Vinashin – theo như lời than phiền của nhà báo Bùi Hoàng Tám, đọc được vào hôm 27 tháng 07 năm 2015:

Cứ nghĩ tham nhũng nó chỉ như kiểu bà đi chợ, mua 10 đồng nói 11 hay 12 đồng. Nhưng không. Bọn chúng mua một đồng nhưng khai lên 3 – 4 đồng thậm chí 5-6 đồng. Ví dụ như cái ụ nổi của Dương Chí Dũng, giá mua chỉ có 2triệu USD nhưng được khai khống lên đến 9 triệu USD (cao hơn khoảng 150 tỉ VND). Một trạm biến áp tại Quy Nhơn nhà thầu trúng thầu với giá 30 tỉ đồng, khi đấu giá lại, số tiền cuối cùng chỉ là 7 tỉ, chênh lệch tới 23 tỉ đồng.

Và một chuyện cũng không mới, đó là hơn 1.000 tỉ đồng trong vụ Vinashin gần như chắc chắn mất tiêu.

Còn “gần như” gì nữa, cha nội. Mất trắng rồi, và mất từ mấy bữa trước lận – theo tường thuật của nhà báo Lê Chân Nhân (Dân Trí) vào hôm 22 tháng 7 năm 2015:

Cơ quan thi hành án dân sự vừa ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số tiền hơn 1.000 tỉ đồng vì xác nhận người phải thi hành án trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin không còn điều kiện thi hành án.

Minh họa: Ngọc Diệp

Trong hơn 1.000 tỉ đồng đó, cựu Chủ tịch Vinashin có 500 tỉ đồng nhưng chưa thi hành án được đồng nào. Xác minh tài sản thì coi như tay trắng, muốn thu hồi cũng không biết lấy gì để thu hồi...

Bắt được tham nhũng mà không thu được tiền tham nhũng về cho nhà nước thì coi như thất bại. Tuyên án, bắt bồi thường hàng trăm tỉ đồng, nhưng bị án không đền một xu. Người ta nghĩ rằng, đã vào tù rồi coi như bỏ, dại gì ôm tiền đem nộp, thà để cho vợ con hưởng. Hy sinh đời bố, củng cố đời con là vậy...

Cơ quan thi hành án dân sự đưa ra biện pháp thu hồi bằng cách động viên người thân các lãnh đạo Tập đoàn Vinashin và chính những người này thực hiện nghĩa vụ thi hành án, nộp tiền hoặc cung cấp thông tin về tiền, tài sản đang ở đâu. Cách này xem ra phiêu lưu, bởi vì nếu như gia đình họ có ý định nộp tiền thi hành án thì họ đã thực hiện, một biện pháp không chắc ăn thành công. Đã là động viên thi làm cũng được không làm cũng chẳng sao.

Từ chuyện này mới thấy kẻ hở của việc kê khai tài sản cán bộ. Mới đây, cả triệu người kê khai tài sản, chỉ có vài trường hợp không trung thực. Đến khi trong số những người kê khai trung thực bị phát hiện tham nhũng tương tự như những cán bộ của Vinashin, thì cơ quan thi hành án bó tay. Tài sản đứng tên của họ chỉ có căn hộ trị giá vài tỉ đồng, lấy gì để thi hành án?

Nói vắn tắt là ở Việt Nam cơ quan chức năng chỉ “thi hành án” (và xử lý nghiêm) khi đám dân đen bắt trộm mấy con gà, hay ghi khống vài tô cơm trắng thôi, chớ còn mấy vụ lùm xùm khác thì khỏi vì “quá nhiều việc, không có thời gian” – theo như nguyên văn lời của ông Lê Hữu Thọ,  Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy Quảng Trị.

Đồng chí T.B.T cũng đã nói trước rồi mà: “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng.” Nhà Nước mới “đẻ” ra cái Ngày Pháp Luật cho nó (thêm) vui thôi. Có thể, nó cũng sẽ vui y như ngày Thương Binh Liệt Sĩ vậy:

… tôi được đi dự rất nhiều ngày lễ “trọng đại “này, gọi là ngày “thương binh, liệt sỹ”nhưng tôi chẳng thấy thương binh, gia đình liệt sỹ đâu, chỉ thấy nhẵn mặt đại diện các ban ngành mà bất cứ hội nghị nào cũng có mặt, có chăng lúc nhiều nhất tôi đếm được 4 người thương binh và 3gia đình liệt sỹ trên tổng số hơn 6 chục người đại biểu và khi sếp mâm thì đến trên 8 chục người.

Điều đáng nói là nhiều thôn, xã cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ chức huy động quyên góp quỹ “đền ơn, đáp nghĩa”chỉ đủ hoặc không đủ chi bữa cơm để tổ chức tọa đàm kỷ niệm ngày lễ thiêng liêng này. những đối tượng thương binh, gia đình liệt sỹ chỉ nhận được món qùa của nhà nước gửi đến, ngoài ra họ chẳng nhận được gì thêm.

Hình ảnh một người có quyền chức khá cao, trong không khí vui mừng, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”ông nói với giọng điệu giễu cợt, ông nói: theo tôi nên đề nghị đảng, nhà nước tách ra ngày thương binh riêng, ngày liệt sỹ riêng để anh em mình có dịp bù khú hơn, rồi ông cười khà khà chẳng cần giữ ý tứ gì với mọi người xung quanh. Mọi người đồng thanh tán thưởng, cùng nhau nâng chén hô to rô. . . rô. (Hồi Ký Vi Đức Hồi – Đối Mặt).

Tôi chưa hình dung ra những “dịp bù khú” nhân Ngày Pháp Luật sẽ rôm rả ra sao nhưng chắc chắn qúi vị cán bộ nhà nước (thuộc những cơ quan chức năng liên hệ) đã tìm tìm được cách rồi.

Thu hồi đất để thực hiện dự án

Thu hồi đất để thực hiện dự án

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2015-11-01

 

Thu hồi đất để thực hiện dự ánHình ảnh Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh tại Đan Viện Thiên An, ảnh chụp ngày 11 tháng 6 năm 2010

Courtesy Ban Truyền Thông TGP Huế

Your browser does not support the audio element.

Thu hồi đất để thực hiện dự án là một hoạt động mà cơ quan chức năng tại nhiều tỉnh/thành Việt Nam tiến hành lâu nay. Hiện một vụ việc tương tự đang xảy ra tại Huế là đất thuộc Đan Viện Thiên An được nhiều người biết đến.

Đan viện Thiên An nơi được nhiều giáo dân viếng thăm

Căng thẳng mới nhất tại khu đồi Thiên An xảy ra vào ngày 8 tháng 10, khi một lực lượng chức năng đông đúc đến ngăn chặn không cho người của Đan Viện lợp mái Đền Đức Mẹ từng tồn tại lâu nay trong khu đất do Đan Viện này quản lý.

Tu sĩ Trần Minh Vận, 80 tuổi người từng tu tại Đan Viện Thiên An từ năm 1952 đến nay cho biết lại sự việc:

“Có mấy anh thợ trẻ đến lợp mái trên Đồi Đức Mẹ vì có những lần linh mục và giáo dân đến làm lễ thị bị nước mưa; nên chúng tôi lợp mấy tấm tôn để linh mục làm lễ và ca đoàn hát cho được thôi. Nhưng xảy ra xô xát dữ lắm, khoảng chừng 100 người (phía họ).”

Đối với nhiều người ở Huế, dù là người Công giáo hay ngoài Công giáo, đều biết đến khu đồi Thiên An với Đan viện Công giáo trên đỉnh đồi. Nhiều người đến thăm vì không khí tĩnh lặng của Đan Viện cũng như cảnh rừng thông, vườn cam, ao hồ trong lành tại đó. Trước năm 1975, cơ sở tôn giáo này quản lý đến 107 héc ta; tuy nhiên sau năm 1975 Đan Viện cho biết phần lớn đất đai được cơ quan chức năng mượn nhưng đến nay vẫn không trả mà còn mỗi ngày muốn hạn chế khu vực mà Đan Viện sử dụng bấy lâu nay.

Dự án thất bại và dự án phác thảo

Một phần đất của Đan Viện bị lấy để làm dự án du lịch Hồ Thủy Tiên với kinh phí đầu tư hơn 70 tỷ đồng và bắt đầu hoạt động từ năm 2004. Tuy nhiên dự án tiền tỷ đó trở thành một khu hoang phế vì không thu hút được khách đến vui chơi. Trong khi ấy nhiều giáo dân và cả những người không phải Công Giáo thường lên đến Đan Viện và đồi thông để vãn cảnh.

Tạp chí Tiếng Sông Hương vào ngày 7 tháng 10 năm ngoái có bài viết nêu rõ tình trạng hoang phế của khu du lịch Thủy Tiên, xin trích nguyên văn một đoạn trong bài viết này “Lối vào khu du lịch sinh thái hồ Thủy Tiên cỏ mọc kín, chỉ có 1 người bảo vệ vừa bán vè, vừa làm nhiệm vụ đóng mở cổng. Càng đi sâu vào bên trong khu du lịch càng hoang tàn và xuống cấp nghiêm trọng…”

Một viên chức thuộc phòng kế hoạch- đầu tư của Sở Văn Hóa- Thể Thao- Du lịch thừa nhận về sự thất bại của dự án như sau:

“Dự án Hồ Thủy Tiên hiện nay đang giao cho Công ty Du Lịch Cố Đô Huế quản lý và khai thác các dịch vụ tại đó. Cơ bản dịch vụ tại đó cũng chưa được đa dạng nên khách cũng ít.”

“ Từ xưa đến nay có 107 héc ta đất thuộc Đan viện. Chúng tôi không cúng, dâng gì cả; chỉ có trường quân sự họ xin thì Cha Bề trên có ký giấy nhượng cho họ trường quân sự và có trạm xá nữa.
-Tu sĩ Trần Minh Vận”

Truyền thông tỉnh Thừa Thiên-Huế loan tin vào tháng 11 năm ngoái Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên- Huế tiếp tục phê duyệt qui hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch Hồ Thủy Tiên với diện tích trên 63 hecta.

Trong khi ấy thị viên chức phòng kế hoạch- đầu tư của Sở Văn Hóa- Thể Thao- Du Lịch tỉnh Thừa Thiên- Huế còn cho biết có một dự án khác được qui hoạch tại khu vực đồi Thiên An:

“Đồi Thiên An hiện nay trong quy hoạch du lịch của tỉnh dự kiến biến đồi Thiên An thành một khu trung tâm hội nghị quốc tế. Còn lại khai thác các dịch vụ du lịch chung quanh đó.”

Đất đai bị mượn không trả và khiếu kiện

Tu sĩ Trần Minh Vận trình bày lại việc đất đai của Đan viện bị mượn thế nào từ sau năm 1975 và quá trình khiếu kiện của dòng tu này đến các cơ quan trung ương:

“Từ xưa đến nay có 107 héc ta đất thuộc Đan viện. Chúng tôi không cúng, dâng gì cả; chỉ có trường quân sự họ xin thì Cha Bề trên có ký giấy nhượng cho họ trường quân sự và có trạm xá nữa. Họ lấy lâm trường, hồ Thủy Tiên, còn chúng tôi không nhường, không bán, không cho ai cả; vì đời sống của chúng tôi là chiêm nghiệm, phải giữ một môi trường thinh lặng để cầu nguyện.

Ra ngoài trung ương thì họ nói về Huế để tỉnh ra nghị quyết cho mình được sử dụng bao nhiêu; chứ họ không giải quyết ngoài đó được.”

Vụ việc đất đai của Đan Viện Thiên An không phải đến nay mới ‘nóng’ mà đã từng căng thẳng nhiều năm trước. Linh mục Nguyễn Hữu Giải từng có thư hiệp thông với vụ việc Đan Viện Thiên An nói về việc khiếu kiện về đất đai, cơ sở của dòng tu Thiên An cũng như một số vụ việc khác tại Việt Nam:

“Tôi được biết Tòa Giám mục cũng như các cha có trách nhiệm đã gặp gỡ nhà nước cấp tỉnh, cấp thành phố hoặc chỗ ngày, chỗ kia rất nhiều; hoặc bên hành chánh cũng như bên cơ quan an ninh- tất cả. Rồi cũng góp ý làm sao để tôn trọng. Nhưng tôi thấy khi ý đồ của người ta đã có rồi thì gặp cho vui; chứ đối thoại như với người điếc mà! Vẫn lên tiếng… nhưng không kết quả đâu.

Chúng tôi nhớ lại ở Hà Nội, vụ Tòa Khâm Sứ rồi Thái Hà. Lên tiếng biết bao nhiêu giữa thủ đô Hà Nội- ‘ban ngày, ban mặt; thế mạ họ vẫn biến nhà Khâm sứ, bao nhiêu đất đai, nhà cửa của giáo xứ Thái Hà, của các cha Dòng Chúa Cứu Thế trở thành công viên, việc này- việc kia…

Nhà nước này không kể gì; nhất là vừa rồi họ thành công trong ngoại giao chỗ này, chỗ kia nữa. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn qua được Hoa Kỳ, vào ngồi trong Phòng Bầu dục nên họ ‘lên mặt, lên mũi’ ghê lắm. Họ có kể dân là gì đâu. Dân càng ngày càng bị áp bức; họ chỉ lo cho họ thôi, lo cho đảng, cho cán bộ thôi! Còn dân rất khổ, đau khổ lắm. Thậm chí như vùng chúng tôi ở, vùng biển này, dân nghèo đua nhau qua Lào làm ăn; không phải người trung niên mà thanh niên nam, nữ phải sang Lào làm ăn vì ở Việt Nam không có chỗ để làm ăn. Quá khổ!”

Lâu nay tại Việt Nam, không chỉ đất đai, cơ sở của các tôn giáo mà đất nông nghiệp của dân cũng bị thu hồi để giao cho tư nhân triển khai dự án kinh tế. Việc làm này bị người dân phản đối và khiếu kiện khi chưa có sự thỏa thuận và bồi thường thỏa đáng giữa đôi biên theo như luật định. Tuy nhiên người dân vẫn bị mất đất khi đơn thư khiếu kiện mà họ cho là đúng qui định của luật phát Việt Nam vẫn không được giải quyết. Thực tế dẫn đến việc rất nhiều người cho rằng bị oan ức tiếp tục đến các cơ quan trung ương đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi luật pháp phải được thự thi, chứ không thể để tình trạng địa phương lập ra dự án lấy những mảnh đất vàng như đồi Thiên An tại Huế để trục lợi- tư túi,  chứ hoàn toàn không phải vì lợi ích chung.

EM VỢ THỦ TƯỚNG & “SIÊU LỪA” DƯƠNG THANH CƯỜNG

EM VỢ THỦ TƯỚNG & “SIÊU LỪA” DƯƠNG THANH CƯỜNG

Huy Đức

Vợ chồng tướng công an Trần Quốc Liêm – em vợ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – là “mắt xích” quan trọng nhất trong vụ án Dương Thanh Cường (lừa đảo ngân hàng Agribank 966 tỷ đồng). Thế nhưng, khi tường thuật phiên tòa diễn từ 22-10-2015 và kéo dài suốt tuần, các nhà báo (lại) đều làm như không nhìn thấy “cặp voi này trong phòng khách”.

Không một lần, cái tên Trần Quốc Liêm và vợ ông, Trần Hoa Mai, xuất hiện trong các bài tường thuật. Vụ án, vốn được xếp trong “tám Đại án tham nhũng”, nếu vẫn được tuyên vào thứ Tư, 4-11-2015, sẽ đi qua như một vụ hình sự thường.

Dương Thanh Cường, sinh năm 1965, vào giữa thập niên 1990 đã từng đối diện án tử hình với 5 tội danh trong đó có tội lừa đảo và đưa hối lộ; sau đó được giảm xuống chung thân rồi 20 năm. Cường ở tù tới năm 2005 thì được tha.

Năm 2007, nhờ mối quan hệ riêng và trên cơ sở 5 ha đất của ông bà Trần Quốc Liêm – Trần Hoa Mai tại xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Cường lập dự án “cao ốc căn hộ và khu biệt thự vườn Thanh Phát”. Ngoài việc “chuyển nhượng” đất cho Dương Thanh Cường, bà Trần Hoa Mai còn nhận đứng ra “mua gom đất đai” cho Cường làm dự án.

Theo lời khai ban đầu của Cường, anh ta có nhờ tướng Trần Quốc Liêm “trao đổi với ông Nguyễn Thế Bình, Tổng giám đốc Agribank” để ngân hàng cho Cường vay tiền. Cho dù khi bị tạm giam, Cường đã “rút lại lời khai” này, nhưng các diễn tiến của vụ án cho thấy, trong lịch sử làm ăn rất “liều” của mình, nếu không có sức ép đủ lớn, chưa bao giờ Agribank “giải ngân” theo kiểu “ném tiền” như thế.

Chỉ với 23 “sổ đỏ” đất nông nghiệp, “Dự án” chưa hề có một “bút phê” nào của cấp có thẩm quyền, vậy mà Dương Thanh Cường “xin vay 700 tỷ đồng”, Agribank “duyệt ngay cho vay 700 tỷ đồng”. Và, chỉ trong một thời gian mấy tháng, Agribank đã giải ngân 628 tỷ đồng cho dù “dự án” của Cường không hề có bất cứ dấu hiệu nào khởi động.

Theo Cáo trạng (liệt kê), có tới 566 tỷ đồng (một con số khác là 386,36 tỷ đồng – trong số 628 tỷ đồng này) ngân hàng Agribank chuyển cho Cường thông qua tài khoản cá nhân của bà Trần Hoa Mai.

“Giải ngân” xong, Agribank liền cho Cường “mượn” những cuốn “sổ đỏ” đang được thế chấp này đi làm thủ tục sang tên. Trưởng phòng tín dụng Agribank, chi nhánh 6, Hồ Văn Long khai, lẽ ra Agribank phải cử cán bộ “áp tải” những cuốn sổ đỏ này đến cơ quan chức năng, nhưng Long tin lời Dương Thanh Cường, “nếu để Cường trực tiếp cùng bà Trần Hoa Mai và ông Trần Quốc Liêm đi làm sẽ nhanh hơn”.

Cường mang khối tài sản đã thế chấp này đi gặp ông Trầm Bê, ông Trầm Bê cho vay tiếp 1.500 lượng vàng (từ ngân hàng Phương Nam – chúng ta còn có cơ hội “gặp” lại ông Trầm Bê khi nói về gia đình này).

Những hành động tiếp tay khá đắc lực cho Dương Thanh Cường lừa đảo đã không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các cơ quan tố tụng cho rằng, mối quan hệ giữa vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm và Cường là “quan hệ dân sự”.

Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao vừa đặt vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tham khảo án lệ trong trường hợp này không có ví dụ nào tốt hơn là đối chiếu với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa công ty Bình Giã và Tamexco hồi 1994.

Ông Trần Quang Vinh, chủ công ty Bình Giã, vì bán đất cho Tamexco và sau đó số đất này được “định giá cao lên” để Tamexco đi thế chấp mà cả ông, ông giám đốc Tamexco và ông trưởng phòng công chứng Vũng Tàu đều bị tử hình.

Hội đồng thẩm định giá TP HCM định giá “23 sổ đỏ của Cường” chỉ tương đương 126 tỷ đồng – giá tại thời điểm thế chấp – vậy mà Agribank vẫn cho vay 628 tỷ. Và, chỉ riêng 5 hecta của vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm, đã “bán” được cho Dương Thanh Cường 347,9 tỷ đồng (giá 7 triệu đồng/m2 đất ruộng). Vợ chồng ông Liêm bà Mai đã nhận 171,2 tỷ đồng (119 tỷ chuyển khoản; 52,2 tỷ do Cường nhiều lần mang tới tận nhà).

So sánh vụ này với Tamexco là xúc phạm vong linh các bị án trong vụ Tamexco, đặc biệt là xúc phạm ông Trần Quang Vinh. Ông Vinh là một nhà doanh nghiệp nghiêm túc. Ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để làm “cơ sở hạ tầng đổi đất”, góp phần làm thay đổi bộ mặt Bãi Trước Vũng Tàu. Cho đến khi ông bị hành quyết, Chính quyền Vũng Tàu vẫn còn nợ ông Trần Quang Vinh 17 tỷ.

Khoản tiền “thất thoát” trong vụ án Dương Thanh Cường chủ yếu nằm ở “Dự án Thanh Phát”. Một “Dự án ma” – có sự tham gia rất trực tiếp của ông bà Trần Quốc Liêm, Trần Hoa Mai – đã giúp Cường chiếm đoạt của Agribank 966 tỷ đồng (con số thiệt hại trên thực tế theo luật sư Trương Thị Hòa là 1.500 tỷ đồng). Vậy nhưng, trong mấy ngày xử án vừa qua, cho dù được các luật sư yêu cầu, Tòa cũng không triệu tập ông bà Liêm – Mai.

Đất nông nghiệp, chưa được chuyển mục đích sử dụng, không được chấp thuận làm dự án, được mua bán với giá 7 triệu/m2, có thể coi là một “giao dịch dân sự ngay tình” không.

Nếu đã xác định khoản tiền 171,2 tỷ đồng mà Dương Thanh Cường trả cho vợ chồng tướng Trần Quốc Liêm được lấy từ Agribank thì nên coi đó là những đồng tiền “do Cường phạm tội mà có” chứ không thể coi đó là tiền của Cường để xác nhận thương vụ này là bình thường.

Có một câu hỏi mà các “đồng chí trong Đảng” của ông Liêm cũng cần đối chiếu với Nghị quyết TW 4 để đặt ra là, khối tài sản khổng lồ mà tướng công an Trần Quốc Liêm có, liệu đã được kê khai trung thực.

Không phải tự nhiên mà vài bị cáo từ Agribank đã “đấm ngực” trước tòa. Những cán bộ ngân hàng ấy, nếu không có sức ép như các lời khai ban đầu, liệu họ có dám giải ngân một khoản tiền khổng lồ cho một người có nhân thân như Dương Thanh Cường với các điều kiện thế chấp vu vơ như thế.

Tòa án nhân dân TP HCM nên hoãn tuyên án; trả hồ sơ để cơ quan điều tra điều tra lại từ đầu như đề nghị của một số luật sư. Và, theo tinh thần mà các vị đại biểu đang đề nghị ở Quốc hội: Với những vụ án liên quan đến những người quyền lực như thế này, nên trao cho một cơ quan điều tra đủ quyền độc lập.

Ông Trần Quốc Liêm không những là em của bà Trần Thanh Kiệm – phu nhân đương kim Thủ tướng – mà còn đang là một viên tướng quyền thế.

Năm 2010, Công an TP HCM (PC46) đã phát hiện, điều tra vụ án này và đã lên kế hoạch bắt “siêu lừa Dương Thanh Cường”. Thiếu tướng Phan Anh Minh đích thân chỉ đạo. Nhưng ông Minh – một người được tiếng cương trực – cũng đã không vượt qua được những áp lực. Phải mất hơn hai năm sau, Cơ quan cảnh sát điều tra C48 của Bộ mới khởi tố được một vụ án “lừa đảo hai năm rõ mười”.

Nếu phiên tòa xử “đại án tham nhũng” này khép lại vào thứ Tư, 4-11-2015. Và báo chí vẫn vờ như không có hai cái tên Trần Quốc Liêm – Trần Hoa Mai. Thì, cho dù Nghị quyết “Bốn, Năm” của TW có lấy chức Trưởng ban chống tham nhũng ra khỏi tay Thủ tướng. Trưởng ban chống tham nhũng mới, có vẻ như, vẫn chưa nắm được “thượng phương bảo kiếm”.