ƯỚC MƠ CỦA CHÚA

ƯỚC MƠ CỦA CHÚA

“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17:24).

Trong tình yêu, gần là thương, xa là nhớ.  Những người yêu nhau, họ không chấp nhận ngăn cách của không gian.  Họ mơ ước người yêu ở đâu thì họ ở đấy.  Như cánh bướm, họ đi tìm.  Ngay lá rừng, không cất cánh đi tìm mùa thu được, thì lúc thu đến, rừng lá cũng chuyển màu như í thầm nói lên nỗi mong, nỗi muốn bỏ quê cũ của mình mà đi tìm thu.  Vũ trụ đi tìm vũ trụ.  Con người đi tìm con người.  Tình yêu thúc đẩy họ tìm nhau.  Sao Đức Kitô không nói: “Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha ban cho con ở đâu thì con cũng ở đấy.”  Tại sao Ngài lại mơ ước ngược chiều là Ngài ở đâu thì tôi ở đấy, chứ không là tôi ở đâu thì Ngài theo đến đó với tôi.

Lạy Chúa, khi mến thương ai thì hay mang hình ảnh người ấy.  Không phải ấp ủ trong giấc mơ mà thôi mà trong cuộc sống thực.  Người hạnh phúc là người có nhiều kẻ thương mến, có hình bóng trong nhiều ước mơ.  Con hạnh phúc vì trong ước mơ của Chúa có bóng hình con.  Khi con nghĩ về một người thì trong mơ ước, con có cả một đường dài, một khung trời, một lối đi cho người ấy, chứ không phải chỉ là một hình ảnh có thể tan trong sương, bay theo nhẹ của khói.  Vậy, khi Chúa mơ về con, Chúa có một khung trời cho con không?  Chúa dùng ngôn ngữ rung cảm của xác thân là đau khổ, là tiếng khóc, là niềm vui, là hi vọng, là ước mơ mà nói với con, thì con cũng lấy ngôn ngữ tự nhiên ấy để cố hiểu về Chúa.  Và, lạy Chúa, chiều nay, con muốn hiểu về ước mơ của Chúa cho con như thế nào.

Rẽ nhánh đôi bờ, trong tình yêu của con, tình yêu có cả hai, một bờ mong rằng mình ở đâu thì người mình thương ở đó.  Và ngược lại, một bờ mong rằng người tôi thương ở đâu, tôi sẽ sẵn sàng đi tới nơi ấy.  Trong mơ ước của Chúa có bóng dáng con.  Chúa có khung trời nào  cho con khi nói rằng Chúa ở đâu thì con ở đấy?

Trên thập giá, con thấy  trong mơ ước của Chúa, Chúa đem con đi trong cả hai bến bờ của ước mơ.  Ước mơ thứ nhất là con ở đâu thì Chúa tìm đến nơi ấy với con.  Đó là Chúa đã sinh ra và ngồi chung ngưỡng cửa căn nhà nhân loại với con.  Trong căn nhà nhân loại, Chúa đến bằng bước chân trần đi trên đường bụi cát.  Có gió lạnh ở biển hồ đêm khuya.  Có trưa mỏi bên giếng nước Samaria. Trong căn nhà nhân loại, Chúa ghé thăm những cánh buồm rất mệt trên dòng đời.  Chúa an ủi những mảnh hồn rất lạnh, rất đơn côi trong cuộc sống, như Mađalêna, như người thiếu nữ bị kết tội phải ném đá cho chết.  Trong căn nhà nhân loại, Chúa dẫn người mù lên đường, Chúa nâng người què đứng dậy, Chúa bào chữa cho những người nghèo khổ rằng “lề luật được dựng nên cho con người chứ không phải con người cho lề luật” (Mc. 2:37).  Lời ca đêm Giáng Sinh nói cho con rất rõ về mơ ước này của Chúa: Một Con Trẻ sẽ sinh ra, tên gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi (Mt. 1:23).

Trong căn nhà nhân loại ấy, Chúa đã đến với con.  Cả cuộc đời Chúa trong Tin Mừng là hình ảnh của một người đi tìm người mình thương mến.  Có thể là rưng màu gai, có thể mệt ở một chân đồi, người chăn chiên vẫn đi tìm chiên cuả mình (Lc. 15:4-6).  Chúa đi tìm con như tìm mảnh hồn của chính Chúa.  Bỏ trời cao xuống căn nhà của con, gõ cửa linh hồn khi con đau ốm, đấy không phải là con ở đâu thì Chúa ở đó hay sao.  Vậy mà lời nguyện của Chúa hôm nay sao lại khác thế.  Chúa mơ ước rằng Chúa ở đâu thì con ở đấy.

Lạy Chúa, cũng nhìn lên thập giá, con suy niệm về ước mơ của Chúa.  Chúa nói Chúa ở đâu thì mong con ở đấy là lúc Chúa sắp bước vào cuộc thương khó.  Chúa sắp bị căn nhà nhân loại lên án tử hình.  Cánh cửa đó sắp công bố một chối từ. Và trong xa cách ấy, Chúa vẫn muốn gần con.  Rồi sẽ xa. Thập giá sẽ dựng nên.  Căn nhà nhân loại sẽ đóng cửa.

Những gì chưa có thì mới là mơ ước.  Đã mơ ước thì lúc nào cũng nghĩ tới điều mình mong.  Khi Chúa mơ ước Chúa ở trên trời thì con cũng ở đó, có nghĩa là ngày nào con chưa về trời với Chúa thì trong hồn Chúa luôn có bóng hình con.  Chúa không muôn mất con.  Lạy Chúa, xin cho con suy niệm lời ước mơ này của để con thấy mình hạnh phúc.

Trong hai bến đỗ của liên hệ yêu thương, đến với người mình thương và ước ao người mình thương đến với mình, thì Chúa đã đến với con rồi.  Đấy không còn là ước mơ của Chúa nữa.  Bến đỗ ấy Chúa đã đi qua.  Bến còn lại, Chúa chỉ biết ước mơ thôi, căn nhà nhân loại của con đóng cửa không cho Chúa ở.  Con có đến với Chúa hay không là tuỳ con.

Người ta có thể giữ mơ ước trong hồn thinh lặng.  Người ta có thể kín đáo nuôi ước mơ.  Trong ước mơ này, Chúa không giữ bóng hình con im lặng, Chúa dâng lời nói với Chúa Cha.  Trong tâm hồn Chúa, hình ảnh con được Chúa gìn giữ rất quý, rất thương.  Khi nói với ai về một ước mơ, có thể là mình sung sướng nhiều về mơ ước ấy, cũng có thể là mình muốn người khác giúp mình đạt được ước mơ.  Đó là trường hợp của con trong ước mong của Chúa.

Có những mùa lá rụng rơi bên ngõ, hoàng hôn xuống dần, đưa đêm đến.  Tự nhiên trong im lặng, con nghĩ tới ngày biệt ly.  Rồi cũng như cuống lá xuôi đất về cội nguồn.  Con sẽ đi về đâu khi tắt nắng trên dòng đời?  Băn khoăn hỏi mình, con không khỏi những suy tư mà có lúc sợ đối diện.  Sự Chết.  Những bóng tối của tội lỗi, những lầm lỡ của yếu đuối, những xám hối không trọn vẹn, còn có tất cả những tiếng nói ấy trong lương tâm.  Có những giây phút trăn trở, lương tâm lên tiếng hỏi linh hồn,  nhất là trong những lúc đơn côi, nhìn hoàng hôn tắt dần.  Rồi bên kia cuộc đời?

Không ai có kinh nghiệm về sự chết.  Có những biệt ly không ngờ.  Có những ra đi không sửa soạn.  Chiếc lá không có hơi thở thế mà khi ngọn gió vẫy nó lìa đời, con vẫn cảm thấy một  nỗi tiếc. Huống chi một cuộc sống, bởi đó, nhìn ngày mình ra đi, con thấy bâng khuâng.

Lòng Chúa tha thiết con về trời với Chúa nói cho con biết trước một hạnh phúc đang chờ.  Ước mơ của Chúa như dòng suối mát, rất dịu và rất êm trong hồn con, cho con một niềm vui như những chồi non tiềm ẩn nhắc cành cây khô về nắng xuân đang tới.  Trong ước mơ ấy, con thấy tình thương của Chúa rộng lắm, nó trải dài kín trong cuộc đời của Chúa, gìn giữ kín cuộc đời của con.  Trong ước mơ ấy, Chúa cho con một đường dài vững chắc, một khung trời bảo đảm, một lối đi sẽ tới.  Lúc nào Chúa cũng mong con có mặt ở nơi Chúa ở thì không một lẽ gì con lại không có mặt ở đó, lạy Chúa, con nguyện xin cho ước mơ ấy thấm sâu trong hồn con.

Con muốn suy niệm về ước mơ của Chúa để con không còn bâng khuâng về màu hoàng hôn, để con tin vui đi trong cõi đời vì con biết con luôn luôn là hình ảnh trong ước mơ thánh của Chúa.

Nguyễn Tầm Thường, SJ

Giải phóng đấy, phỏng?

Giải phóng đấy, phỏng?

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Hoan hô giải phóng, hoan hô phỏng..!
Ruột héo gan bầm có biết không?”
(PĐ.)

30 tháng 4, ngày mà Võ Văn Kiệt, một người của “bên thắng cuộc”đã cho rằng đó là: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn!” Hôm nay, nhìn lại đất nước, chắc là số triệu người buồn nhiều hơn số triệu người vui.

Trang báo New York Times ngày 30 tháng 4, 1975.

Đó là ngày mà, người dân miền Nam có nhiều tên gọi: “Ngày Quốc Hận – Ngày Mất Nước – Ngày Đứt Phim – Ngày Tan Hàng – Ngày Miền Nam Sụp Đổ – Ngày Sài Gòn Thất Thủ – Tháng Tư Đen…” “Ngày Đại Hồng Thủy,” “Ngày Đại Họa” và tiếp theo là “Tị nạn và hội nhập,” “Hành Trình Đến Tự Do…” để ngậm ngùi tưởng nhớ.

Bắc Việt gọi ngày này là “Ngày Giải Phóng Miền Nam,” ngày “Thống Nhất Đất Nước” “Đại Thắng Mùa Xuân,” tổ chức ăn mừng, diễn binh, đốt pháo hoa… nhưng không bao giờ tự hỏi, chúng đã đưa đất nước này đi về đâu? Trong những cái tên, tên “Giải Phóng” phải được coi là trơ trẽn nhất, mà một số nhỏ người Việt tị nạn Cộng Sản không ở lại với “giải phóng” chạy sang đây, mà đầu còn đặc, trí chưa thông vẫn còn dùng một cách vô ý thức những câu “trước giải phóng,” “sau giải phóng!” Những người “lính cụ Hồ” luôn luôn mang theo hai chữ “giải phóng” bên mình, họ tự nhận là “giải phóng quân,” “quân đội giải phóng.”

Giải phóng được coi như là làm cho thoát khỏi sự áp bức, giam hãm, như chuyện nước Pháp và Paris bị Đức Quốc Xã chiếm đóng trong 4 năm và thế giới vẫn dùng danh từ “giải phóng Paris,” để nói đến việc De Gaulle tiến vào Paris trong những ngày cuối tháng 8, 1944. Giải phóng như chuyện Tết Mậu Thân ở Huế, quân đội VNCH chiếm lại Huế sau 23 ngày, dân chạy về phía “lính mình,” nơi có ngọn cờ vàng, mừng rỡ ứa nước mắt. Bắc Việt không thể cắt nghĩa hai tiếng “giải phóng” khi lính Việt Cộng vào đến đâu, dân chúng ùn ùn bỏ nhà chạy “giặc” ở đó. Tiếng “giặc” mà người miền Nam dùng ở đây chính là để chỉ những người mang danh “bộ đội giải phóng.”

Sau khi Hiệp Định Geneve 1954 giao miền Bắc cho Cộng Sản, đã có gần một triệu người dân Bắc di cư vào Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV) đã khiếu nại cho rằng việc di cư là do cưỡng bách. Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra, trong số 25,000 người ủy hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả. Sau đó, theo những ghi chép của học giả Đoàn Thêm (*):

– 4 tháng 10, 1956: 3 người liều chết bơi qua sông Bến Hải vào Nam tìm tự do.

– 19 tháng 11, 1956: 19 người dân Nghệ An dùng ghe vượt biển vào Nam.

– 8 tháng 4, 1957: 41 người dùng thuyền vượt tuyến vào Nam.

– 28 tháng 10, 1957: 2 sinh viên vượt tuyến vào Nam.

– 11 tháng 2, 1958: 14 người xuyên qua Lào đến được miền Nam.

Tiêu biểu là câu chuyện một người đã tập kết ra Bắc là nhà văn Vũ Anh Khanh, nhưng ba năm sau, ông thấy rõ bộ mặt của Cộng Sản, muốn trở lại miền Nam, ông bơi qua sông Bến Hải và bị bắn chết giữa dòng. Chúng ta chưa nói đến những người mất xác trên con sông chia cắt hai miền hay chết trước khi qua sông đến được bờ Nam. Chưa thấy có ai khùng điên bơi qua sông Bến Hải qua bờ Bắc để được hưởng độc lập – tự do – hạnh phúc!

Từ tháng 3, 1975, khi nghe tin Bắc Việt sắp giải phóng Huế rồi Đà Nẵng hàng chục nghìn người dân miền Nam đã liều chết lên tàu, ghe, thuyền, và những chiếc “sà lan” không thức ăn, nước uống, chấp nhận cái chết để tránh xa “quân đội giải phóng!” Nhưng tiếc thay, vì quân “giải phóng” lại đuổi kịp, nên không phải ai khi đến được Cam Ranh, Phú Quốc hay Sài Gòn cũng đều có cơ hội được ra đi!

Từ ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm Đội Số 7 ngoài khơi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dùng trực thăng di tản một số người Việt, trong đó có chiến dịch Babylift. Trong tình trạng này ai cũng muốn ra đi, nên cảnh hỗn loạn xảy ra trên những bến tàu, sân bay vì không có đủ phương tiện cho những người đang chen chúc để tìm một chỗ “đứng” để ra đi. Hơn 50,000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn ra đi an toàn trước khi Việt Cộng vào thành phố. Lần này không nghe Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khiếu nại cho rằng việc di tản là do cưỡng bách.

Sau khi Việt Cộng lập chính quyền ở miền Nam, và những biện pháp trả thù, vơ vét xảy ra như chính sách tập trung quân-cán-chính vào trại tù, chính sách đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng “kinh tế mới,” bần cùng hóa nhân dân, kỳ thị, phân biệt “cách mạng” với “phản động” đã xô đẩy người dân miền Nam vượt biên, vượt biển tìm đến các đất nước tự do. Đây là cuộc “bỏ nước” vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849, 228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ. Nhưng sự thật con số này là con số ước tính còn xa sự thật.

“Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3 triệu người).” (Theo Trần Gia Phụng)

Giải thích việc dân chúng miền Nam chạy trốn Cộng Sản trong những ngày Sài Gòn thất thủ, phe chống miền Nam giải thích rằng đó là sự “hoảng loạn” nhưng sao mãi đến 38 năm sau, chỉ riêng năm 2013, đã có gần 800 người Việt vượt biển đến Úc, và trong số này phần lớn là xuất phát từ Nghệ An-Hà Tĩnh, đất “cách mạng,” quê hương của Nguyễn Tất Thành. Mới tuần trước đây hải quân Úc đã đưa trả gần 50 thuyền nhân Việt Nam về nước sau khi chặn bắt được nhóm này ngoài khơi vùng biển phía bắc Úc hồi đầu tháng 4.

Tại sao đất nước đã “được giải phóng” gần 40 năm mà vẫn còn người liều chết ra đi tìm một nơi có tự do và cơm áo.

Trong thời gian bức tường Berlin, được Đông Đức (Cộng Sản) dựng lên từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989, khoảng 5000 người đã tìm cách vượt qua bức tường này để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt khoảng từ 86 đến 200 người.

Từ ngày Nam Bắc Triều Tiên bị chia cắt ở vĩ tuyến 38, đã có hơn 23,000 dân Bắc Hàn đã vượt biên giới đến được Nam Hàn. Những người kém may mắn nếu không bị bắn chết trên đường di tìm tự do thì cũng đang bị giam cầm trong số 200,000 tù nhân ở các trại tù “lao cải.”

Khi Cuba ngã theo Liên Xô, thoạt đầu, từ năm 1980, nước này đã mở cửa, để cho bất cứ ai cũng có thể ra đi với giấy thông hành, gần 125,000 người Cuba đã chạy sang Mỹ. Sau khi Fidel Castro cấm cửa, đã có hàng nghìn người Cuba bằng mọi cách, vượt biển sang Hoa Kỳ, mà con dường ngắn nhất là tới Florida. Chỉ mới năm ngoái, 2014, tuần duyên Hoa Kỳ đã chặn bắt được hơn 2,000 di dân Cuba liều chết mạo hiểm tìm đường vượt biển chạy khỏi chế độ Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản chưa bao giờ là thiên đàng, đem tự do và hạnh phúc lại cho con người, “sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!” Nhà văn Nguyễn Khải trong bài viết “Đi tìm cái tôi đã mất” đã miêu tả rất đúng dân tình miền Bắc sau khi “bộ đội giải phóng” vào Hà Nội tháng 10, 1954:

“Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do thì cái đầu cũng được trưng thu luôn, từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối…”

“Một nửa nước” năm 1954 được đổi lại là “cả nước” năm 1975!

Vậy thì, nói chuyện, ngày 30  tháng 4, 1975 là ngày miền Bắc Cộng Sản “giải phóng miền Nam” là một chuyện hoang tưởng, trơ trẽn. Ai cần ai “giải phóng?”

Tôi xin mượn lời dân gian, nôm na, mách qué để kết luận bài này:

– “Giải phóng gì ông, phỏng giái tôi!”


(*) Ghi lại tài liệu của Viên Linh

Trung Quốc xây 3 phi trường lớn ở Trường Sa

Trung Quốc xây 3 phi trường lớn ở Trường Sa

Nguoi-viet.com

MANILA 26-4 (NV) – Trung Quốc không phải xây một mà tới ba phi trường kích thước đủ cho phi cơ quân sự cỡ lớn lên xuống tại các đảo nhân tạo đang xây dựng ở quần đảo Trường Sa.

Không ảnh chụp ngày 17/4/2015 bãi đá Xu Bi đang được xây dựng một phi trường, so sánh với tấm hình chụp ngày 6/2/2015 hoàn toàn khác hẳn. (Hình: DigitalGlobe)

Theo các tấm không ảnh được tạp chí thời sự chính trị The Diplomat ngày 25/4/2015 phân tích, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ năm ngoái đến nay, Trung Quốc ráo riết tiến hành các kế hoạch xây dựng các căn cứ, doanh trại, cảng biển và cả phi trường tại 7 bãi đá ngầm cướp của Việt Nam năm 1988 hiện đã trở thành các đảo nhân tạo.

Đối chiếu những không ảnh mới nhất của tổ chức Digital Globe chụp từ đầu Tháng Hai đến giữa Tháng Tư 2015, người ta thấy chúng đang biến đổi vô cùng nhanh chóng. Điều này chứng tỏ Bắc Kinh ráo riết thực hiện mưu đồ khống chế nuốt trọn Biển Đông qua các căn cứ hải quân và không quân tầm cỡ lớn đặt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phần phía bắc của đảo nhân tạo Vành Khăn đang tiếp tục được bồi đắp thêm. Hình chụp ngày 13/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Trước các sự phản đối suông của Việt Nam, Phi Luật Tân và các nước khác liên quan tới vấn đề Biển Đông, chế độ Bắc Kinh có dấu hiệu tiến hành thật nhanh việc xây dựng ở các bãi đá ngầm nay là các đảo nhân tạo, đặt các nước khác ở tình trạng đã rồi.

Một số nhà phân tích thời sự quốc tế từng dự báo Trung Quốc sẽ thiết lập vùng nhận diện phòng không tại Biển Đông khi các căn cứ quân sự tại Trường Sa đã hoàn tất.

Phân tích các tấm không ảnh chụp từ vệ tinh vào ngày 17/4/2015 cho thấy chỉ trong khoảng 10 tuần lễ, Trung Quốc đã biến bãi đá Xu Bi (một rạn san hô thuộc cụm đảo Thị Tứ của quần đảo Trường Sa) mà Trung Quốc gọi là Zhubi Jiao (Chử Bích Tiêu) thành một đảo nhân tạo.

Đảo nhân tạo Vành Khăn qua so sánh không ảnh chụp ở các thời điểm 17/2/2015 và 13/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Dựa trên diện tích và hình thể và chiều dài của đảo nhân tạo này đang tiến hành, người ta có thể phỏng định dấu hiệu Trung Quốc xây dựng một phi đạo dài đến 3,300 mét. Nó tương ứng với chiều dài của phi đạo mà Trung Quốc đang xây dựng tại đảo nhân tạo Đá Thập của quần đảo Trường Sa.

Giới chuyên viên quân sự cho rằng một phi đạo dài tới 3,300 mét có thể đủ để cho các phi cơ quân sự chiến đấu cũng như tiếp liệu của không quân và hải quân Trung Quốc lên xuống.

Không ảnh chụp ngày 6/2/2015 chỉ thấy các hoạt động nạo hút cát đá lòng biển bồi đắp ở đá Xu Bi. Nhưng đến ngày 17/4/2015 chụp lại thì thấy diện tích mặt đất của đảo nhân tạo đã lên thành 2.27 km2. Nó chỉ nhỏ hơn đảo nhân tạo Đá Thập phần nào, được xác định khoảng 2.65 km2.

Theo tạp chí The Diplomat, sự khác biệt hoạt động giữa hai đảo nhân tạo vừa nói là đảo nhân tạo Đá Thập có cảng biển khá lớn và phi đạo đang được xây dựng. Chưa thấy cảng biển quân sự nào hiện diện ở đá Xu Bi, nhưng các hoạt động của đoàn tàu nạo hút cá đá ở khu vực phía nam của đảo này gần hoàn tất việc tạo lập một vòng quây kín từ các bãi đá ngầm thiên nhiên. Điều này cho hiểu khu này hình thành dần một cảng biển được bảo vệ bởi rạn đá ngầm thiên nhiên mà hoạt động hút cát đá bồi lấp ở cực nam sẽ tạo ra cầu cảng.

Các không ảnh hoạt động của Trung Quốc tại bãi đá ngầm Vành Khăn (Mischief reef, Trung Quốc gọi là Meiji Jiao hay Mỹ Tế Tiêu) từng được tạp chí an ninh quốc phòng Jane’s Defense đưa tin mấy tuần trước, nay đang là đảo nhân tạo diện tích khoảng 2.42 Km2 dựa trên sự do đạc không ảnh chụp ngày 13/4/2015.

Đảo nhân tạo Đá Thập thay đổi nhanh chóng khi so sánh hai tấm hình chụp ngày 14/2/2015 và ngày 17/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Vài tháng trước đó chỉ là bãi đá ngầm nay hoàn toàn là đảo nhân tạo với sự hoạt động ngày đêm của đoàn tàu hút cát đá. Không ảnh mới nhất cho thấy sự hiện diện của 28 chiếc xe tải, trộn xi măng hoạt động tại đây bên cạnh hàng chục chiếc xe tải chuyên ngành xây dựng khác cũng có mặt.

Với những gì nhìn thấy, giới chuyên viên cũng cho rằng một phi đạo dài hơn 3,000 mét cũng có thể được xây dựng tại Vành Khăn trong những ngày sắp tới. Các đảo nhân tạo Xu Bi, Vành Khăn, Chữ Thập là ba trong số 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa được Bắc Kinh làm thành đảo nhân tạo mà không ai tin rằng chúng không phải là các căn cứ quân sự.

Cướp của người làm của mình, Bắc Kinh khi bị đả kích đều ngang ngược tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” và muốn làm gì thì làm.

Khi tham dự cuộc họp ASEAN ở thủ đô Mã Lai đang diễn ra, Ngoại trưởng Phi Luật Tân Albert del Rosario báo động với các người đồng cấp của hiệp hội khu vực rằng Trung Quốc “đang củng cố sự kiểm soát thực tế tại Biển Đông.” (TN)

Ngày 30/4 gây điêu đứng cho Phật giáo VN’

Ngày 30/4 gây điêu đứng cho Phật giáo VN

Biến cố ngày 30/4 năm 1975 không chỉ là ‘bước ngoặt đau thương cho dân tộc’ mà còn ‘gây điêu đứng cho Phật giáo’, một tôn giáo đã đồng hành cùng lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, một vị chức sắc của cao cấp của Phật giáo tại hải ngoại nói với BBC.

‘Không phát triển được’

Trao đổi với BBC Việt ngữ tại chùa Bát Nhã tại miền Nam California, Hòa thượng Thích Nguyên Trí, viện chủ chùa cho biết chính ông đã ‘chịu đựng những đau thương từ sau năm 1975 cho đến năm 1981’.

“Vì quá đau thương không thể xây dựng được Phật giáo trong nước nên tôi phải tìm đủ mọi cách ra hải ngoại làm việc để duy trì Phật giáo cho đến ngày hôm nay,”

Hòa thượng Thích Nguyên Trí nói.

Chùa Bát Nhã cũng là văn phòng thường trực của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một giáo hội bị chính quyền trong nước cấm, tại Hoa Kỳ. Hòa thượng Thích Nguyên Trí là phó chủ tịch điều hành của văn phòng này.

“Cộng sản không bao giờ có tín ngưỡng cho nên khi họ đi vào đánh chiếm miềm Nam thì hầu hết các tôn giáo bị tê liệt, trong đó có tôn giáo gắn liền với lịch sử dân tộc là Phật giáo,” ông nói.

Theo lời ông kể lại thì chính quyền của Đảng Cộng sản chiếm được miền Nam họ đã ‘thanh lọc những vị nào thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra một bên’ và ‘đưa vào danh sách cần phải lưu ý’.

“Tất cả những hành động từ cử chỉ đi đứng tới lui sinh hoạt trong chùa chiền gần như bế tắc,” ông nói.

Vì quá đau thương không thể xây dựng được Phật giáo trong nước nên tôi phải tìm đủ mọi cách ra hải ngoại làm việc để duy trì Phật giáo cho đến ngày hôm nay,” Hòa thượng Thích Nguyên Trí Hòa thượng Thích Nguyên Trí

“Họ không cho hoạt động bất cứ điều gì. Ngay các buổi lễ cũng không cho hành lễ. Những gia đình Phật tử hồi giờ sinh hoạt tại chùa cũng bị ngăn cấm. Tất cả những ban hộ niệm, những tổ chức Phật giáo bị tê liệt toàn bộ,” ông nói thêm.

“Ngay cả các vị lãnh đạo, các vị thầy của chúng tôi như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng không còn cách nào phát huy tinh thần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”

“Chính vì vậy khi chúng tôi đặt chân lên bến bờ tự do thì điều trước hết là mở Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở hải ngoại và ngày nay có mặt ở khắp nơi,” ông nói và cho biết từ ngày ông đặt chân đến Mỹ ông đã quyên góp được hơn một triệu Mỹ kim chuyển về trong nước làm từ thiện và xây dựng chùa chiền.

‘Chỉ có hình thức’

Nhận định về tình hình Phật giáo trong nước, Hòa thượng Thích Nguyên Trí nói ‘làm theo chiều hướng của Đảng Cộng sản chứ không theo tinh thần của Phật giáo’.

Theo lời ông giải thích thì trong thành phần lãnh đạo của giáo hội Phật giáo trong nước đều ‘đặt dưới sự chỉ đạo của Nhà nước chứ không được quyền tự bầu cử và ứng cử’.

“Vấn đề thọ giới thì là những người trong tôn giáo tự sắp xếp với nhau đưa lên hàng giáo phẩm: vị nào lên hòa thượng, thượng tọa, đại đức hoàn toàn do giáo hội bổ nhiệm và suy cử chứ Nhà nước không có quyền nhúng vô,” ông nói.

“Những ngày lễ như Lễ Phật đản, Lễ Vu Lan phải xin phép chính quyền và người họ đưa ra mới được quyền đứng ra trước quần chúng làm lễ,” ông nói thêm.

Ngay cả các Phật viện trong nước, theo lời Hòa thượng Thích Nguyên Trí, thì các tăng ni sinh đến tu học cũng bị ‘xét lý lịch cá nhân’ chứ ‘không xét theo đạo đức thế nào’.

Về đời sống của các tôn giáo trong nước hiện nay, ông nhận xét rằng ‘có phát triển’ nhưng ‘chỉ là hình thức’ vì ‘tự do không có’.

“Chẳng hạn như đối với Phật giáo Hòa hảo, vị tối tôn trọng của họ là Ngài Huỳnh Giáo chủ thì ngày lễ lộc tưởng niệm hết sức khó khăn,” ông nói thêm và cho biết Nhà nước ‘theo dõi các vị chức sắc chức sắc tôn giáo xem họ phát ngôn thế nào nếu nói trật đường lối là khó sống’.

Về phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam do chính quyền kiểm soát là ‘Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội’, ông cho rằng do Đảng Cộng sản ‘ép buộc phải đưa chủ nghĩa cộng sản vào’ chứ ‘Đạo pháp không thể đi cùng chủ nghĩa xã hội’.

“Việc này làm thành phần trí thức hiểu biết rất đau lòng,” ông nói.

Cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ với Hòa thượng Thích Nguyên Trí được thực hiện trong tháng Tư, 2015 tại Nam California.

Bị ăn quỵt tiền bôi trơn, ‘đau nhưng không dám kêu’

Bị ăn quỵt tiền bôi trơn, ‘đau nhưng không dám kêu’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- “Bị ăn quỵt tiền bôi trơn: Đau lắm nhưng không dám kêu.”  ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế, VCCI, bình luận, văn hóa “bôi trơn” và tỷ lệ “ăn quỵt” năm qua “đã giảm bớt”.

Thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN Nguyễn Hồng Trường bị tố ăn quỵt tiền bôi trơn của doanh nghiệp. (Hình: GDVN)

Hôm Thứ Sáu 24 tháng 4, 2015, báo điện tử Vietnamnet mở đầu bản tin tường thuật “Lễ công bố kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” mà ông Đậu Anh Tuấn, trưởng ban pháp chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) , phát biểu về tình trạng nhũng nhiễu của quan chức CSVN.

Ông Đậu Anh Tuấn có thái độ lạc quan khi cho rằng nạn nhũng nhiễu vòi vĩnh ăn hối lộ của doanh nghiệp đã giảm, khác với nhận xét của một ông quan thanh tra cao cấp nói “tham nhũng ở Việt Nam ba năm qua ổn định”, nghĩa là không tăng không giảm, vẫn nghiêm trọng.

Theo chi tiết thấy nêu trong bản tin Vietnamnet nhân dịp “Lễ công bố kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” thì tình trạng nhũng nhiễu không biết có  “giảm bớt” như lời ông Tuấn nói không. Chỉ thấy tờ báo mô tả là “Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra”.

Nêu ra các con số thống kê không biết ông dựa vào đâu, mức độ khả tín đến đâu, ông Đậu Anh Tuấn được thuật lại cho hay “năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%.”

Theo ông này “Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị “mất trắng” (đưa hối lộ) với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).”

Nạn doanh nghiệp bị quan chức của chế độ “quỵt tiền bôi trơn” có vẻ ngày càng khá phổ biến. Giữa nhiều kẻ cùng bôi trơn, đám quan chức có thể cầm hết rồi không trả lại tiền hối lộ cho ai dù người ta không được việc.

Ngày 9/11 năm ngoái, tờ Sài Gòn Times đưa ra một số trường hợp doanh nghiệp hối lộ để được thắng thầu, nhưng các số tiền “đi cửa sau” đã mất mà vẫn thua thầu đau đớn, hợp đồng không có.

Những vụ việc như thế “công khai hay không, chỉ là những câu chuyện kéo dài hàng ngày trên báo chí về nỗi khổ của các doanh nghiệp trong quá trình làm ăn. Việc doanh nghiệp bị hành bởi các cán bộ nhà nước biến chất có muôn hình vạn trạng”, Sài Gòn Times viết.

Tại sao cộng sản không dạy được con?

Tại sao cộng sản không dạy được con?

Ngô Nhân Dụng

Nguoi-viet.com

Đầu tuần này, các mạng Internet bên Trung Quốc bàn tán ồn ào về một tai nạn xe hơi. Một chiếc xe Lamborghini và một chiếc Ferrari tan nát trong con đường hầm gần vận động trường Olympic tại thành phố Bắc Kinh.

Cảnh sát cho biết một thanh niên họ Uất (Yu), 20 tuổi, người thành phố Trường Xuân (Changchun) tỉnh Cát Lâm (Jilin), lái chiếc Ferrari. Người kia họ Đường (Tang), 21 tuổi, người Bắc Kinh. Và cả hai đều “thất nghiệp” hoặc “không làm việc.” Một công dân mạng ngỏ lời ca ngợi: “Chủ nghĩa xã hội ưu việt quá, cho nên mấy người không làm việc mà cũng lái những chiếc ‘xe khủng!’ Một công dân mạng cho biết giá một chiếc Lamborghini trong thị trường Trung Quốc khoảng 800,000 Mỹ kim; chiếc Ferrari rẻ hơn, chỉ có nửa triệu đô la.

Nếu quý vị tò mò, xin ghi chú thêm rằng người Tầu gọi xe Ferrari là 法拉利 (người Việt mình đọc là Pháp Lạp Lợi) và xe Lamborghini gọi là兰博基尼 (Lan Bác Cơ Ni, đọc theo lối người mình). Ngoài hai chiếc xe sang trên, còn nhiều chiếc xe khác đắt tiền cũng dính trong tai nạn. Bọn này vẫn quen tới trên đoạn đường hầm này đua xe, theo lời dân chúng kêu than. Một công dân mạng hỏi: “Có phải họ chạy đua cho kịp đến coi phim Furious 7 hay không?” Tai nạn xẩy ra vào 10 giờ đêm Thứ Bảy, bữa đó cuốn phim Fast and Furious (Vừa Nhanh vừa Hung) của Hollywood được trình chiếu lần đầu ở Bắc Kinh. Trên các mạng xã hội, mọi người chửi cảnh sát Bắc Kinh. Vì họ không hề nói đến nhãn hiệu hai chiếc xe mà chỉ báo cáo: hai chiếc xe nhỏ màu xanh lá cây và mầu đỏ. Một người viết trên mạng Sina Weibo hỏi: “Tên chúng là gì vậy? Con các ông lớn nào vậy?”

Người ta đặt câu hỏi này, vì mới Tháng Hai năm ngoái cũng có một chiếc xe Ferrari chạy quá nhanh gây tai nạn ở Bắc Kinh. Nhưng vụ tai nạn nổi tiếng nhất xẩy ra vào Tháng Ba năm 2012. Một thanh niên 23 tuổi chết vì lái xe quá nhanh ở Bắc Kinh, khiến cho ông bố mất cơ hội vào Bộ Chính Trị. Người tài xế chiếc xe Ferrari 458 Spider khi chết còn khỏa thân là con trai duy nhất của Lệnh Kế Hoạch, thư ký riêng của Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào. Hai cô gái bị thương trong xe với Lệnh Cốc, một cô cũng không mặc quần áo.

Khi được mời đến nhận thi hài, Lệnh Kế Hoạch (Ling Jihua, 令计划) không nhận cái xác là con mình. Ông gọi ngay cho Chu Vĩnh Khang nhờ vận động che đậy vụ tai nạn. Họ Chu cầm đầu cả guồng máy cảnh sát, công an, mật vụ, gián điệp khổng lồ, lại đứng trùm tất cả ngành dầu khí. Ban Bảo vệ Trung Ương Đảng dùng áp lực bắt tờ Bắc Kinh Vãn Báo phải cắt bỏ bản tin về tai nạn; rồi cấm không cho một báo, đài nào loan tin. Hai cô gái bị thương nhận được một số tiền lớn, đưa đi xa, không ai thấy nữa. Món tiền này do công ty Dầu Lửa Quốc Gia cung cấp. Công an cấm các chữ như “Ferrari” hay “Thái tử đảng,” trên các mạng tìm kiếm. Nhưng sau cùng ai ai cũng biết. Cuối năm đó, Tập Cận Bình lên thay Hồ Cẩm Đào; bắt đầu chiến dịch trừ tham nhũng. Chu Vĩnh Khang đã chính thức bị điều tra. Tháng 12 năm 2014, Lệnh Kế Hoạch bị bắt. Tháng Chín năm 2013 Tưởng Cát Mẫn (蒋洁敏,Jiang Jiemin), tổng giám đốc công ty Dầu Lửa Quốc Gia cũng bị bắt, mới chính thức bị truy tố các tội tham nhũng vào ngày Thứ Hai, 13 Tháng Tư vừa rồi.

Các lãnh tụ cộng sản dạy con khó quá; ở nước ta cũng như bên Tàu. Trước đây mươi năm, một người cán bộ làm trong guồng máy nhà nước thị xã Bắc Ninh đã nói với tôi rằng hầu hết con cháu đám ông lớn trong tỉnh dính vào ma túy. Tôi không biết ở các tỉnh và thành phố khác ra sao. Tại sao các cán bộ cộng sản cao cấp không dạy nổi đám con hư?

Nếu bảo con cái dễ hư hỏng vì bố mẹ nhiều tiền bạc thì không chắc lắm. Những người cầm đầu các xí nghiệp lớn ở Anh, ở Canada hay ở Mỹ, lợi tức mỗi năm hàng trăm triệu, không thấy đám con cái họ ghiền ma túy hoặc lái xe Lamborghini và Ferrari chạy đua ngoài đường – mà mấy đứa được lái một chiếc Lamborghini trước khi đi làm? Bà Melinda Gates chẳng hạn, thường dẫn các con đi cùng trong những chuyến viếng thăm các địa điểm được vợ chồng Gates làm việc thiện. Bà cho con chứng kiến cảnh những gia đình nghèo khó ở Ấn Độ hay Phi Châu, để “chúng thấy một gia đình nghèo có được đàn gà để nuôi là cuộc sống họ hoàn toàn thay đổi,” bà kể với báo TIME. Melinda Gates bắt các con phải đi làm việc thiện nguyện, phải dành một phần ba số tiền bố mẹ cho hàng tuần đem cúng cho các hội thiện, nếu đem cho bố mẹ sẽ bù vào cho đủ.

Con cháu nhiều lãnh tụ cộng sản hư hỏng không phải vì tiền mà vì quyền. Quyền hành làm hư thối, Lord Acton nói vậy. Hư đến cả con cháu.

Thứ nhất, cuộc tranh đấu giành quyền lực trong đảng cộng sản rất gay go, gay go hơn cả cuộc cạnh tranh trên thương trường. Cho nên họ dành hết thời giờ, hết cả cuộc đời cho các mưu mẹo, thủ đoạn, các cuộc đấm đá, chém giết giữa các đồng chí với nhau. Mỗi một bước thăng quan tiến chức đều là một cuộc đấu tranh. Không ai còn thời giờ lo đến gia đình. Mà nền luân lý cộng sản không coi trọng giáo dục gia đình. Mao Trạch Đông lùa toàn dân vào công xã, tìm cách xóa bỏ cả hệ thống gia đình vì mọi người được chia ra ở từng khu nhà tập thể, tùy theo tuổi tác và tính giới; già, trẻ, nam, nữ đều ở riêng. Việc giáo dục trẻ em là công tác của đảng.

Thứ hai, muốn thành công, leo lên đến các chức vụ trong Trung Ương Đảng, trong Bộ Chính Trị, người ta phải bỏ qua tất cả các giá trị luân lý bình thường. Mao Trạch Đông xóa bỏ cả nền luân lý cũ, dạy dân Trung Hoa một nền đạo đức mới. Khi viết về Đạo Đức Cách Mạng, Hồ Chí Minh kết luận rằng đạo đức quan rọng nhất là tuân hành lệnh Đảng. Ông viết: “Nói tóm tắt thì Đạo Đức Cách Mạng là: …Ra sức làm việc cho đảng, giữ kỷ luật đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của đảng.” Ông nhắc lại lần nữa, giống Mao Trạch Đông hơn: “Đạo Đức Cách Mạng là tuyệt đối trung thành với đảng.”

Những người bất chấp các quy tắc đạo đức, nhân nghĩa bình thường của nhân loại thì không thể nào dạy cho con cái mình sống đạo đức được. Cho nên các lãnh tụ cộng sản muốn dạy con cũng khó.

Người Việt Nam thường đặt tên con là Nhân, là Đức, là Hiền hay thảo, là Hiếu hoặc Trung. Đó là những giá trị luân lý cha mẹ muốn các con noi theo.

Xem cách đặt tên con của gia đình ông Lệnh Kế Hoạch. Anh lớn của ông tên là Lệnh Phương Châm (Ling Fangzhen, 令方针), anh thứ nhì là Lệnh Chính Sách (Ling Zhengce, 令政策), em gái Lệnh Hồ Lộ Tuyến (Linghu Luxian, 令狐路线), em út Lệnh Hoàn Thành (Ling Wancheng, 令运城). Tất cả những cái tên này đều nằm trong ngôn ngữ trong văn kiện chính thức của đảng cộng sản hoặc các tài liệu học tập, tuyên truyền. Đặt tên con như vậy mới thấm nhuần Đạo Đức Cách Mạng của Mao chủ tịch.

Các lãnh tụ cộng sản dạy con khó hơn nữa vì không những bất chấp đạo lý họ còn bất chấp cả pháp luật. Người ta không thể dạy con sống lương thiện nếu chính mình luôn luôn bẻ gẫy cán cân công lý, tiêu biểu là lập tức can thiệp để che giấu các tội lỗi của con cái. Đứa con đã biết cha mẹ như vậy thì tự chúng cũng thấy mình thuộc một tầng lớp ưu tú, cả đời ngồi trên đầu thiên hạ!

Ở các nước dân chủ tự do chúng ta thấy một đại gia lái xe “xịn” khi gây tai nạn cũng bị bắt. Ngày 31 Tháng Ba vừa rồi, cảnh sát thành phố Mumbai (Bombay) đã bắt Samvit Ramesh Tara, 39 tuổi vì anh ta lái một chiếc xe Lamborghini chạy rất nhanh trên đường phố, có người thấy và tố cáo. Không biết ông Tara này làm gì, nhưng người lái xe Lamborghini chắc phải là một thứ đại gia. Bản tin được đăng trên tất cả các nhật báo mà không ai dám ra lệnh cấm.

Xứ Ấn Độ không có loại người ở Trung Quốc gọi là “Đảng của thái tử” (太子党), tiếng Anh dịch là Princeling.

Chữ này xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, đặt tên cho đám bè bạn người con trưởng của Viên Thế Khải. Viên Thế Khải được đưa lên làm tổng thống dân quốc, rồi tự xưng hoàng đế, cho nên con ông trở thành “thái tử.” Ba chữ Thái Tử Đảng tiếp tục được dùng để gọi bọn con nhà quyền thế dưới mọi chế độ, bây giờ là con cháu các lãnh tụ đảng cộng sản.

Ngẫm nghĩ về cuộc đời

Ngẫm nghĩ về cuộc đời

Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc.  Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm.  Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài học,. và  người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang vui! Đừng trả lời khi đang nóng  giận! Đừng quyết đinh khi đang buồn! Đừng cười khi người khác không vui!

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ
phút dài thăm thẳm!).  Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ  tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.  Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn. Các con vô tình thì có thể sẽ tranh giành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và có khi còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của  bạn. Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần  một  chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền  riêng.  Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh  về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn  mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình. Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.(Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn đã trên 60 tuổi hay những người không bao lâu nữa cũng sẽ trên 60)/.

KHÔNG TÊN

Hành động độc ác của người Bất Lương không tàn nhẫn bằng sự thờ ơ, vô cảm của kẻ Lương Thiện.

Không ai chọn được cho riêng mình cách sinh ra như thế nào, nhưng có thể chọn được cách Chết….

Việt Nam có tự do báo chí hơn nhiều nước khác?

Việt Nam có tự do báo chí hơn nhiều nước khác?

Blogger Phạm Đoan Trang

Blogger Phạm Đoan Trang

Trà Mi-VOA

24.04.2015

Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông Nguyễn Bắc Son ngày 24/4 tuyên bố Việt Nam có nhân quyền và tự do báo chí hơn nhiều nước khác.

Truyền thông nhà nước dẫn phát biểu của ông Nguyễn Bắc Son trước cử tri xã Đại Đồng, (Thạch Thất, Hà Nội) bác bỏ những cáo giác của các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí.

Ông Son nói ‘Đó là họ nói không đúng và nhìn nhận không đầy đủ.’

Người đứng đầu ngành thông tin-truyền thông của Việt Nam khẳng định ‘Thực ra ta có nhân quyền và báo chí ở ta tự do hơn họ rất nhiều.’

Ông Son dẫn chứng ‘hiếm có nước nào có nhiều tờ báo và truyền hình như Việt Nam hiện nay’, ‘các hội, các ngành đều có một tờ báo riêng’ ‘phục vụ nhu cầu độc giả mọi lứa tuổi’ tuy ông thừa nhận ‘báo chí là phương tiện truyền thông của đảng, nhà nước.’

Bình luận của Bộ trưởng Son gây chú ý công luận giữa bối cảnh Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế liệt kê vào danh sách các nước đàn áp tự do báo chí-tự do ngôn luận nghiêm trọng nhất trên thế giới.

Blogger-nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang từng là phóng viên và biên tập viên chuyên trang Tuần Việt Nam của Vietnamnet nay là nhà hoạt động cổ võ cho nhân quyền Việt Nam, phản hồi trước tuyên bố của Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông:

“ Bộ trưởng nói vậy em bật cười, và em nghĩ nhiều nhà báo khác cũng bật cười. Câu nói rằng Việt Nam có tự do báo chí vì Việt Nam có nhiều báo là phép ngụy biện mà nhiều quan chức của chính quyền cộng sản dùng nhiều năm nay rồi. Vấn đề là các tờ báo đó chất lượng thế nào và bản chất hoạt động của báo chí Việt Nam thế nào thì không bao giờ các ông ấy nói đến cả. Có cả ngàn tờ báo mà chỉ có một tổng biên tập. Sự lố bịch và dối trá ấy công khai tồn tại nhiều năm nay rồi.”

Giới hữu trách Việt Nam giải thích do số lượng báo đài trong nước nhiều nên nhà nước cần phải quản lý để hoạt động hiệu quả, ‘đúng tôn chỉ, mục đích.’

Blogger Đoan Trang phản bác quan điểm này:

“Điều này thể hiện một tư duy rất kém về chính sách công, về quản trị đất nước, về chính trị và luật pháp. Em muốn nói họ dốt về chuyện quản lý đất nước, quản trị điều hành. Còn chuyện trấn áp kiểm soát thì họ khá lắm. Quản lý báo chí nên là việc của xã hội, chứ không phải việc của nhà nước. Bao lâu nay báo chí Việt Nam chỉ được kiểm soát bằng nghị quyết, nghị định của đảng. Những chuyện đụng đến chính trị thì bị xử lý, còn chuyện xâm phạm đời tư-vu khống bôi nhọ tràn lan trên mặt báo đâu thấy ai nói gì. Ở đây rõ ràng có vấn đề rất nặng về chuyện luật pháp, hành pháp, cũng như lập pháp.”

Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông Việt Nam chỉ ra Việt Nam nằm trong 20 nước trên thế giới có luật về báo chí để nói rằng Việt Nam ‘tự do báo chí hơn nhiều nước khác.’ Tuy nhiên, giới hoạt động cho rằng các luật báo chí của Việt Nam không nhằm bảo vệ quyền tự do báo chí.

Nhà báo độc lập Đoan Trang:

“Cái họ dùng không phải là luật pháp. Nó là luật rừng thì đúng hơn, đầy mơ hồ. Ở Việt Nam thừa luật về quản lý và siết chặt tự do nhưng thiếu luật tốt để xã hội vận hành được. Những luật họ dùng hoàn toàn nhằm bảo vệ lợi ích của đảng và của công an. Luật về báo chí không bảo vệ tự do báo chí hoặc giúp nhà báo vận hành một cách chuyên nghiệp.”

Tháng 10 năm nay, chính phủ Việt Nam dự kiến trình Quốc hội dự thảo Luật báo chí sửa đổi.

Theo lời Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông, Luật báo chí sửa đổi ‘sẽ là công cụ để công tác quản lý báo chí được thực hiện hiệu quả hơn.’

Ông Son cũng kêu gọi cử tri đóng góp ý kiến thêm ‘để công tác quản lý báo chí được làm tốt hơn.’

Giới hoạt động cho rằng Luật báo chí Việt Nam cần sửa đổi để bảo vệ quyền tự do ngôn luận-tự do báo chí của người dân hơn là bảo vệ ‘công tác quản lý báo chí’ của nhà nước.

Thành viên nồng cốt của Mạng lưới Blogger Việt Nam, Phạm Đoan Trang:

“Thấy một cảm giác rất là khó chịu. Những người với trình độ như vậy vẫn cứ giữ các vị trí như vậy, vẫn cứ phát ngôn các câu nói rất tệ hại thể hiện sự thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng các nhà báo như thế. Cảm thấy bực bội thôi chứ không lo ngại. Kể cả Luật báo chí có siết chặt hơn nữa thì cũng không sao vì thật ra các nhà báo Việt Nam cũng quen với việc đó rồi. Bao lâu nay  họ vẫn bị siết chặt như thế rồi. Để nói Luật báo chí cần phải sửa đổi thế nào cho phù hợp thì họ phải hiểu về báo chí và hiểu về nhân quyền. Trong lực lượng lập pháp của đảng, không có những người như vậy. Họ không có tư duy về nhân quyền hay tự do báo chí.”

Trong tuần này, Ủy ban Bảo vệ Ký giả CPJ công bố phúc trình thường niên tiếp tục liệt kê Việt Nam trong danh sách 10 nước kiểm duyệt báo chí gắt gao nhất trên thế giới.

CPJ nói  Việt Nam là một trong những nhà tù lớn nhất cho giới ký giả, với ít nhất 16 phóng viên đang bị cầm tù.

Ngày mất tự do cũng là Ngày Tìm Tự Do

Ngày mất tự do cũng là Ngày Tìm Tự Do

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Quốc Hội Canada đã thông qua dự luật (Bill S-219) quy định ngày 30 Tháng Tư mỗi năm là ngày “Tìm Tự Do” (Journey to Freedom), và đạo luật đã được ban hành một tuần trước ngày kỷ niệm 40 năm dân miền Nam bị Cộng Sản cướp mất tự do.

Năm ngoái, Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đề nghị dự luật này với tên là “Ngày Tháng Tư Ðen” (Black April Day). Khi thảo luận tại Thượng Viện, nhiều nghị sĩ đề nghị đổi tên để mang một ý nghĩa tích cực hơn và dễ được người Canada thuộc các sắc dân khác ủng hộ; do đó đề nghị đổi tên thành luật Hành Trình Tìm Tự Do. Nhiều người Việt không thỏa mãn với tên gọi không phản ảnh nỗi đau buồn và uất hận vì mất tự do. Nhưng đổi tên là một thỏa hiệp khôn ngoan để đạt mục đích muốn cả nước Canada ghi nhận phong trào vượt biển tị nạn của người Việt sau ngày 30 Tháng Tư 1975 là một biểu tượng cho khát vọng tự do của con người. Chưa một sắc dân nào ở Canada được Quốc Hội đối xử đặc biệt như vậy.

Tại các nước khác, do yêu cầu của các công dân người Việt tị nạn, nhiều thành phố hoặc tiểu bang đã biểu quyết về ngày 30 Tháng Tư, hoặc đã ghi nhận giá trị biểu tượng của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tại các nơi đó nhiều cử tri gốc Việt tham dự trong các cuộc bầu cử. Canada là nước đầu tiên ban hành một đạo luật hiệu lực trên toàn quốc, ghi nhớ ngày 30 Tháng Tư tượng trưng cho khát vọng tự do của loài người, dù các công dân gốc Việt chiếm khoảng 1% dân số. Người Việt ở các nước khác có thể nêu trường hợp Canada như một tiền lệ khi yêu cầu các đại biểu quốc hội noi theo gương Canada.

Cho nên việc ban hành đạo luật Hành Trình Tìm Tự Do là một thắng lợi của người Việt tị nạn khắp thế giới, không riêng ở Canada. Thắng lợi này càng nổi bật lên vì chính quyền Cộng Sản đã phản đối và ngăn cản bằng nhiều cách trước khi dự luật được đem ra thảo luận. Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã gửi thư cho Bộ Ngoại Giao Canada yêu cầu Quốc Hội không thảo luận bản dự luật S-219. Nguyễn Tấn Dũng chính thức gửi thư phản đối với Thủ Tướng Stephen Harper, còn đe dọa rằng dự luật này có thể làm phương hại quyền lợi thương mại và đầu tư của Canada ở Việt Nam.

Những lời phản đối này được báo chí loan tải, các công dân Canada biết tin và theo dõi. Vì thế việc hai viện Quốc Hội Canada lần lượt biểu quyết chấp thuận bản dự luật ghi nhận ngày 30 Tháng Tư càng có ý nghĩa mạnh hơn! Một luật sư người Việt tại Canada, ông Vũ Ðức Khanh nhận xét: “Tôi nghĩ Hà Nội đang làm trò hề vì họ không hiểu luật chơi, không biết ở một nước dân chủ như Canada vận động ai.” Ở một nước tự do dân chủ ông thủ tướng không thể ra lệnh cho quốc hội như một nước độc tài đảng trị. Dù Nghị Sĩ
Ngô Thanh Hải thuộc cùng đảng với Thủ Tướng Harper nhưng trong Quốc Hội còn hai đảng lớn khác. Ðối với các vấn đề có tính cách nhân bản và lịch sử vượt trên các quyền lợi phe phái, các đại biểu chỉ bỏ phiếu theo lương tâm. Bộ Trưởng Jason Kenney, phụ trách đa văn hóa nói ông ủng hộ dự luật bởi đó là cách ghi nhớ thành tích của 60 ngàn người Việt “đã dám đánh đổi mạng sống để đi tìm tự do, và đã tìm được tự do tại Canada.”

Nhiều công dân Canada gốc Việt đã điều trần trước Quốc Hội giải thích lý do tại sao nên ghi nhận ngày 30 Tháng Tư như một ngày tưởng niệm hàng năm. Ông Lê Duy Cấn, từng là hội trưởng Liên Hội Người Việt ở Canada nhiều năm và đề xướng lập Tượng Ðài Thuyền Nhân ở thủ đô Ottawa. Ông Cấn giải thích: Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, bỏ tù mấy trăm ngàn người và đầy ải những người khác lên các “vùng kinh tế mới” dân miền Nam quyết định phải chạy thoát chế độ cộng sản; một nhà báo Pháp đã nhận xét: Nếu cái cột đèn biết đi nó cũng chạy. Ðặc biệt, các người Việt gốc Hoa bị tống xuất ra biển, sống chết không cần biết. Ông nhắc tới thảm cảnh của các thuyền nhân vào năm 1978, 79 khi các nước Ðông Nam Á không chấp nhận cho họ cập bến. Tình trạng này gây xúc động cho mọi người dân Canada.

Ông Cấn kể lại, lúc đó chủ tịch Công Ðoàn Canada là ông Dennis McDermott đã nói, “Rõ ràng là vấn đề thuyền nhân Việt Nam đã lớn lên thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo của cả thế giới. Các phản ứng duy nhất là phải hành động quyết liệt ngay lập tức. Một phong trào phát xuất từ phía người dân đã kêu gọi hành động, riêng tại thủ đô Ottawa đã có 3,000 người biểu tình thỉnh nguyện; trong một tháng có 347 nhóm đứng ra bảo trợ. Thị trưởng Ottawa lập “Dự án 4,000” để tiếp nhận bốn ngàn người tị nạn. Giáo Sư Howard Adelman ở Toronto đã sáng lập “Chiến Dịch Cứu Nạn” (Operation Lifeline). Trước làn sóng nhân đạo đó, Thủ Tướng Joe Clark quyết định nhận 50,000 người tị nạn, sau tăng lên 60,000.

Một phụ nữ Việt Nam ở Quebec, cô Anne Quách Minh-Thu đã điều trần về chuyến vượt biển tìm tự do của gia đình cô, với hai đứa con mới hai, ba tuổi. Cô nói: “Hôm nay tôi được đứng nói ở Quốc Hội này là vì cha mẹ tôi đã trốn thoát và được tị nạn ở Canada, bắt đầu một cuộc đời mới trong hòa bình, tự lực lao động để sống còn. Tôi sinh ra và lớn lên ở Canada vì lòng can trường của cha mẹ tôi và vì lòng hào hiệp của dân Canada, để hôm nay tôi được tham dự vào cuộc sống dân chủ của xứ sở này.”

Sứ quán Việt Cộng cũng tìm được người ủng hộ họ ra điều trần trước Quốc Hội. Mai Thu ở Ottawa đã phê bình rằng nước Canada có bao nhiêu nhóm người tị nạn từ khắp thế giới đến, không nên chọn một ngày riêng cho dân Việt Nam. Ông còn nghi ngờ dự luật này có thể gây chia rẽ vì chỉ có một nửa trong số 220,000 người Việt ở Canada là dân tị nạn, những người khác thì không chống chính quyền hiện nay. Giáo Sư Nguyễn Duy Vinh ở Ottawa đã phản bác, nói rằng 90% những người “không tị nạn” là những thân nhân đã được người tị nạn bảo trợ. Mai Thu cũng biện hộ rằng chính quyền Việt Nam hiện nay không còn là Cộng Sản nữa mà theo kinh tế tư bản với khuynh hướng xã hội; nhưng ông Vinh đã vạch rõ chế độ độc tài tàn bạo hiện nay vẫn còn, mà điều số 4 trong Hiến Pháp vẫn cho đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quyền chuyên chế.

Trong bài điều trần của ông Lê Duy Cấn tại Quốc Hội Canada, ông kết luận rằng việc đưa tay đón nhận người Việt tị nạn là một chương sách sáng chói trong lịch sử Canada. Nó cho thấy tấm lòng từ bi và hào hiệp của dân tộc Canada trước những thảm cảnh của loài người khắp thế giới, trong đó có những người chạy trốn khỏi ách độc tài tàn bạo. Chương sách chói lọi này đáng được vinh danh, ghi vào lịch sử, bằng dự luật S-219.

Nhờ các cuộc điều trần trước Quốc Hội Canada, các đại biểu được nhắc nhở tới thảm cảnh của các thuyền nhân chạy trốn Cộng Sản. Một điều không ai muốn nhắc tới vì nó quá bỉ ổi, là dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng cả phong trào chạy trốn chế độ tàn ác của họ để trục lợi. Vào những năm 1978, 79, cả thế giới xúc động trước làn sóng người Việt tị nạn; trong khi đó các lãnh tụ và cán bộ cộng sản đã nhân cơ hội kiếm tiền, bằng cách bán chứng chỉ công nhận là Hoa kiều, và tiền “bán bến.” Một cán bộ cấp tỉnh kiếm nhiều tiền nhất chính là Nguyễn Tấn Dũng. Thái độ tính toán lạnh lùng của Việt Cộng không qua mắt được những quan sát viên ở ngoài, như Lý Quang Diệu.

Tháng Năm năm 1979, một chiếc Anh quốc là Roach Bank cứu nhiều người tị nạn, nhưng tới Ðài Loan thì bị đó từ chối không cho lên bờ. Bà Margaret Thatcher, thủ tướng Anh đã viết thư nhờ ông Lý Quang Diệu ở Singapore can thiệp giúp, để chiếc tàu này không phải qua Hồng Kông, thuộc địa của Anh. Các nước cứ đổ lẫn cho nhau xem nước nào có bổn phận đón nhận người Việt tị nạn, ông Lý Quang Diệu đã viết trong thư trả lời: “Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn qua truyền thông và qua phát ngôn viên các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam.” Cho nên, ông đề nghị: “Các nước này… nên tập trung vào việc vạch trần tính bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại cho nhân dân và các nhà lãnh đạo toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chính là những kẻ tích cực thúc đẩy cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng cho các nước Ðông Nam Á.”

Nội dung bức thư này đã được nhà văn Phạm Thị Hoài dịch và công bố trên mạng. Ông Lý Quang Diệu nói với bà Thatcher rằng, “Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các người lãnh đạo Việt Nam không phải là những thằng điên… Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề động lòng trắc ẩn với chính đồng bào của họ, nhưng làm con tính so sánh chi phí với lời lãi thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.”

Những con người “bỉ ổi, lạnh lùng, chỉ tính toán lời lỗ” sau đó quả nhiên đã “bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ.” Cho đến khi đất nước cùng kiệt và chế độ sắp tan rã vì cả khối cộng sản ở Châu Âu sụp đổ, họ mới thay đổi. Giờ này họ vẫn còn ngự trị trên quê hương chúng ta. Vì vậy, mỗi năm đến ngày 30 Tháng Tư người Việt Nam vẫn thấy là một ngày tang tóc. Nhưng từ năm nay, ngày 30 Tháng Tư còn có thể mang thêm một ý nghĩa mới: Ngày quyết tâm xây dựng tự do dân chủ.

Nhờ các dân biểu và nghị sĩ Canada đã lắng nghe lương tâm và lẽ phải, Dự luật S-219 đã chính thức thành đạo luật “Hành Trình Tìm Tự Do,” có giá trị tích cực với 35 triệu dân Canada, và tất cả mọi con người yêu tự do trên thế giới. Chúng ta tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư bằng những nỗ lực cùng tất cả mọi người Việt Nam tranh đấu đòi dân chủ, cuộc Hành Trình Tìm Tự Do cho dân tộc sẽ tiến nhanh hơn.

CSVN thất bại khi chặn một đạo luật về ngày 30 tháng 4

CSVN thất bại khi chặn một đạo luật về ngày 30 tháng 4

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Bộ Ngoại Giao CSVN đã triệu đại sứ Canada tại Hà Nội để phản đối về đạo luật S-219. Đạo luật này xác định, 30 tháng 4 hàng năm là “Ngày hành trình tìm tự do.”

Thủ tướng Canada và Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải chúc Tết cộng đồng Việt Nam tại Toronto. (Hình: Radio LMDCVN)

Đạo luật S-219 vừa được chính phủ Canada ban hành vào ngày 22 tháng 4, 2015.

Hai ngày sau đó, hôm 24 tháng 4, Bộ Ngoại Giao CSVN tuyên bố S-219 là “một đạo luật hoàn toàn sai trái, chứa đựng nhiều nội dung xuyên tạc lịch sử.”

Ông Lê Hải Bình, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, tuyên bố, việc ban hành đạo luật S-219 là “một bước lùi trong quan hệ giữa Việt Nam và Canada” và “ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Canada, xúc phạm tình cảm của nhân dân Việt Nam cũng như một bộ phận lớn cộng đồng người Việt tại Canada.”

Việt Nam đã tìm nhiều cách để ngăn cản S-219 từ một dự luật trở thành đạo luật nhưng không thành công. Hồi đầu tháng 2 năm nay, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt Nam từng gửi thư cho ông Stephen Harper, thủ tướng Canada, nhấn mạnh, S-219 có thể “gây tổn hại cho quan hệ Việt Nam-Canada.”

Đạo luật S-219 do ông Ngô Thanh Hải, một thượng nghị sĩ Canada gốc Việt, đề nghị và đã được thượng viện Canada thông qua hồi đầu tháng 12 năm ngoái và được Hạ Viện Canada đưa ra thảo luận hồi thượng tuần tháng 2 năm nay.

Dự luật S-219 chọn 30 tháng 4 hàng năm là ngày kỷ niệm chính thức cho sự kiện người Việt phải bỏ xứ để tìm đường tị nạn Cộng Sản và cũng là dịp để Canada kỷ niệm việc đón nhận hàng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam đến Canada sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trong thư gửi thủ tướng Canada, thủ tướng CSVN trình bày rằng, dự luật S-219 tạo ra một “cái nhìn méo mó về lịch sử Việt Nam.”

Trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng gửi thư cho thủ tướng Canada, hồi thượng tuần tháng 12, sau khi Thượng Viện Canada thông qua dự luật S-219, ông Vũ Việt Dũng, một viên chức ngoại giao làm việc tại đại sứ quán Việt Nam ở Canada, từng tuyên bố với báo giới Canada rằng, dự luật S-219 sẽ “ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa Việt Nam và Canada, cũng như nỗ lực mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư.”

Lúc đó, ông Vũ Việt Dũng nói thêm rằng ông Tô Anh Dũng, đại sứ Việt Nam tại Canada đã trình bày điều đó với ông John Baird, ngoại trưởng Canada bởi dự luật S-219 là một “thông điệp không đúng” gửi tới dân chúng Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

Vào thời điểm vừa kể, ông Lê Thanh Hải, phát ngôn Bộ Ngoại Giao, tuyên bố dự luật S-219 “có những nội dung sai trái, xuyên tạc lịch sử, khơi lại quá khứ đau buồn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, nhằm phục vụ những mục đích chính trị cá nhân.”

Trang web globeandmail.com của Canada cho biết thêm rằng, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng CSVN cũng từng gửi thư phản đối dự luật S-219 cho ngoại trưởng Canada. Tuy là một bên trong TPP và vẫn nỗ lực phát triển quan hệ thương mại với Việt Nam và các quốc gia Châu Á song dường như Canada không bận tâm tới những phản ứng vừa kể của Việt Nam.

Ông Jason Kenney, bộ trưởng Lao Động Canada, nhấn mạnh rằng, tuy tôn trọng quan hệ với “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” nhưng ông ủng hộ dự luật S-219 vì dự luật này nhằm kỷ niệm việc 60 ngàn người đã dám đánh đổi mạng sống để đi tìm tự do và đã tìm được tự do tại Canada.

Hồi Tết Âm lịch vừa qua, ông Stephen Harper, thủ tướng Canada đã đến tham dự Hội Chợ Tết 2015 của cộng đồng người Việt tại Toronto. Ngay sau đó, đại sứ quán Việt Nam tại Canada bày tỏ “sự ngạc nhiên và lo ngại về việc nhiều lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa trước đây đã được treo cạnh các lá cờ Canada tại các địa điểm công cộng ở Toronto.”

Ông Jason Kenney, bộ trưởng Lao Động Canada, người có trách nhiệm bảo vệ yếu tố đa văn hóa ở Canada, đáp lại, cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng mà người Canada gốc Việt đã lựa chọn.

Trò chuyện với globeandmail.com, ông Ngô Thanh Hải, thượng nghị sĩ Canada, người đề nghị dự luật S-219 từng bảo rằng, dự luật S-219 không liên quan tới chính phủ hiện tại của Việt Nam, không đụng tới các quan hệ thương mại.

Khi được BBC mời bình luận về sự kiện vừa kể, ông Vũ Đức Khanh, một luật sư Canada nhận định rằng, chính quyền Việt Nam đang làm “trò hề” vì không hiểu “luật chơi,” không biết đâu là chỗ cần tác động và không thực tâm hòa giải dân tộc. (G.Đ)

‘ Ý thức về tự do đã ăn sâu vào miền Nam’

‘ Ý thức về tự do đã ăn sâu vào miền Nam’

Tổng tuyển cử tại miền Nam Việt Nam năm 1967

Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới.

Nhận định trên được một người làm việc ở Sài Gòn trước 1975 nói với BBC trong dịp đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là phụ tá Tổng trưởng Tài chính thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trao đổi với BBC từ California, Hoa Kỳ. Ông cho rằng chính sách viện trợ của Hoa Kỳ không những không giải quyết được các vấn đề của miền Nam thời bấy giờ, mà còn gây thêm nhiều khó khăn.

BBC:Ông đánh giá thế nào về tính tự do, mở cửa của nền kinh tế miền Nam thời bấy giờ, thưa ông?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Có lẽ nên đặt trong hoàn cảnh của thập niên 60 của thế giới lúc đó và cái thứ nhì là hoàn cảnh riêng của Việt Nam.

Lần đầu tiên sau năm 1883 đến 1955 mới có một nước Việt Nam độc lập và bắt đầu bước qua chuyện thế nào là dân chủ, thế nào là kinh tế thị trường.

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ miền Nam, nhất là nền Đệ nhất Cộng hòa, đã có những thành quả lớn, so với thời thực dân Pháp cai trị đất nước ta với nền kinh tế chỉ huy của họ.

Nền kinh tế với dân số 15 triệu đã phải tiếp nhận gần 2 triệu người dân di cư từ miền Bắc vào, phải xây dựng lại một hệ thống kinh tế và hành chính khác hẳn những gì nước Pháp để lại.

Trong giai đoạn đó, mức độ tự do kinh tế so với miền Bắc, chứ tôi chưa nói là các nước khác, thì những cải cách như đạo luật cải cách ruộng đất ban hành năm 1956 đã là một bước tiến đáng kể.

Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa thì một nửa đất nước lâm vào cảnh chiến tranh toàn diện, do những người cộng sản tổ chức ngay trong ruột của miền Nam.

Tình trạng chiến tranh ngày càng rộng mở từ năm 1965 trở đi thì miền Nam càng mất khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế của mình, từ chuyện ruộng đất, canh tác để nuôi sống khoảng 18 triệu người.

Nhưng trong giai đoạn đó thì chính quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn cố gắng làm được chuyện rất lạ, là xây dựng nền kinh tế thị trường, và thúc đẩy điều lớn lao hơn nền Đệ nhất Cộng hòa là đạo luật cải cách ruộng đất ngày 26/3 năm 1970, với tên gọi “Người cày có ruộng”.

Đạo luật này đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và hữu sản hóa cho 1 triệu rưỡi người nông dân miền Nam lúc đó.

Trong hoàn cảnh đó, nhất là sự ngu xuẩn trong chính sách viện trợ của Mỹ, mà miền Nam vẫn làm được những điều đó.

Nếu nền Đệ nhất cộng hòa gặp áp lực từ người Bắc di dân vào thì Đệ nhị Cộng hòa cũng phải đón nhận hoàn cảnh tương tự.

” Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa”

Năm 1972, quân đội miền Bắc đánh vào phía nam của vĩ tuyến 17, khiến bao người trôi dạt vào phía trong nam mà miền nam vẫn phải trợ cấp, tạo công ăn việc làm cho họ, trong bối cảnh Mỹ đã tháo chạy.

Trong hoàn cảnh đó mà vẫn còn giữ được mấy năm nữa thì tôi nghĩ thuần về kinh tế mà nói là cả nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đã giải được những bài toán kinh tế mà tôi cho là nhiều quốc gia như Nam Hàn, Thái Lan, Philippines nếu rơi vào trong hoàn cảnh tương tư chưa chắc đã giải quyết được.

Người ta cứ nói là do viện trợ Mỹ nhưng không phải. Chính viện trợ Mỹ là yếu tố khiến miền Nam không đương cự nổi với tình thế chiến tranh.

BBC:Theo ông thì những chính sách tiến bộ nào của miền Nam thời đó có thể so sánh được với Nam Hàn hay Nhật Bản trong thời kỳ các nước này mới trỗi dậy?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cái khá cụ thể là nói đến mức sống của người dân thực sự thời đó khá tương đối, nếu so sánh với trường hợp của Nam Hàn, Philippines hay Đài Loan.

Miền Nam lúc đó cũng đã có một số công ty quốc doanh bị buộc phải giải tư, hệ thống kinh tế do chính quyền kiểm soát phải bước sang nền kinh tế cho tư nhân.

Trong lĩnh vực của tôi khi tiếp xúc làm việc với đối tác Đài Loan, Nam Hàn thì họ theo dõi các chính sách của miền Nam có sự tôn kính, khâm phục. Hai bên đều xem nhau là đang trước áp lực của cộng sản mà phải giải quyết các vấn đề kinh tế.

Tuy nhiên chiến sự tại nam Việt nam ngày càng bùng phát dữ dội, không như hai nơi cũng bị áp lực của chiến tranh là hai Nam Hàn, Đài Loan.

Điều đó không chỉ bắt đầu từ việc chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, mà còn do tướng tá bắt đầu làm loạn từ năm 1963, khiến nền kinh tế không thể sinh hoạt bình thường như Nam Hàn hay Đài Loan, khiến miền Nam dựa vào hệ thống viện trợ của Hoa Kỳ.

Chúng ta thấy như ở Iraq hay Afghanistan là viện trợ không giúp cho quốc gia cầu viện giải quyết những vấn đề của mình, vì nó tùy thuộc vào chính sách quốc gia cấp viện khi đó. Viện trợ để giải quyết vấn đề của nước Mỹ, chứ không giải quyết vấn đề của nước nhận viện trợ.

Vận động đi bầu cử ở Sài Gòn năm 1967

BBC:Ông có tin rằng nếu có cơ hội tồn tại, Việt Nam Cộng hòa có thể sánh ngang với các cường quốc châu Á ngày nay?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đó là vấn đề giả định về lịch sử mà không xảy ra được. Thực tế ra lúc đó các quốc gia đều nghĩ rằng miền Nam là trù phú. Miền Nam có những tài nguyên, điều kiện khá hơn các nước khác như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines.

Nếu chiến sự lắng đọng trong 6 tháng thì miền Nam đã có thể tự túc về lúa gạo và lắng đọng 1 năm thì có thể trở về vị trí xuất cảng về gạo.

‎Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội ở miền nam.

Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.

Bây giờ cũng vậy, những người ưu tú nhất của miền bắc cũng đi vào trong nam và tìm đến không khí tự do, cởi mở, thông thoáng, rộng rãi. Đó là di sản mà người ta cứ tưởng đã mất, nhưng vẫn còn đó.

Đó là đóng góp của miền Nam, vùng đất nhiều vấn đề, tai ương, nhưng cũng là nơi cho nhiều cơ sở để có thể bùng lên sau thời kỳ Đổi Mới.

Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

Phía ngoài Nhà hát lớn Sài Gòn trước năm 1975

Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài.

Nhận định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt kiều Mỹ nay đang sống ở Việt Nam, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 23/4.

Ông Thành cũng cho rằng “dư âm của nền kinh tế tập trung” đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai.

BBC: Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975?

Ông Bùi Kiến Thành: Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.

Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.

Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ‎ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt.

Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý‎ nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng, vẫn có những nhũng nhiễu của các nhóm lợi ích.

Trước 75 thì kinh tế miền Nam sống nhờ viện trợ hoa kỳ. Mỹ cung cấp cho miền Nam một tài khoản lớn, mỗi năm mấy trăm triệu đôla, mỗi năm nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam rồi chi cho chính phủ, chi cho phát triển.

Với nền Đệ nhị Cộng hòa thì chiến tranh mở rộng và chi phí của bộ máy quân sự Mỹ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế. Nền kinh tế phát triển ảo, phát triển về hạ tầng chứ không phải phát triển doanh nghiêp để tạo ra công nghệ mới.

Nó có định hướng tốt là nền kinh tế thị trường nhưng không vững chắc, không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính.

Cả Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đều không có điều kiện để phát triển hết tiềm năng của một nền kinh tế thị trường, do chiến tranh và việc chuyển đổi qua nền kinh tế kế hoạch tập trung rất là khắc nghiệt.

Nếu so sánh với các nước khác thì Đại Hàn bắt đầu dưới thời Park Chung Hee mới bắt đầu phát triển tốt và đến 70 mới phát triển xa hơn Việt Nam Cộng Hòa.

Không thể so sánh với những nước như Nhật được. Nhật đến năm 70 đã phát triển thành nền kinh tế tiến bộ rồi.

Singapore thời đó cũng chỉ mới bắt đầu có tiến triển dưới thời L‎ý Quang Diệu và đến 70 thì phát triển xa hơn miền Nam nhiều, vì cả ba nước này không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành

BBC: Xu hướng phát triển của Việt Nam Cộng Hòa sẽ như thế nào nếu được phát triển trong hòa bình, thưa ông?

Ông Bùi Kiến Thành: Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.

Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.

Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.

Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.

Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế ‘nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý‎ của nhà nước”.

Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản l‎ý của nhà nước.

Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.

Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.

Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản l‎ý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.

Nền kinh tế thị trường của miền Nam đã bị phá vỡ sau năm 1975

BBC: Liệu chính phủ ngày nay có thể học được gì từ chính sách kinh tế miền nam trước 1975 thưa ông?

Ông Bùi Kiến Thành: Thứ nhất là kinh tế là việc của nhân dân chứ không phải của chính phủ, chính phủ không làm kinh tế. Đó là bài học lớn nhất.

Phải bỏ tập quán chính phủ đi làm kinh tế. Đã có định hướng như thế rồi nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vấn đề tư duy kinh tế nhà nước.

Thứ hai là các nhóm lợi ích của thành phần cầm quyền có ảnh hưởng rất lớn về vấn đề lợi ích trong nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị khống chế bởi một nhóm lợi ích, khó mà phát triển được.

Kinh tế làm sao phải lan tỏa được để mọi người có thể tham gia, làm sao để tổ chức mà cả hệ thống chính trị, hệ thống hành chính tạo điều kiện cho người dân tham gia bình đẳng vào vấn đề kinh tế.

Ở miền Nam khi đó không có vấn đề là đảng viên thì hay ở trong hệ thống tổ chức nào mới được trọng dụng.

Đến bây giờ chúng ta thấy rằng về vấn đề quản lý nhà nước, toàn thể Việt Nam vẫn ở trong hệ thống Đảng Cộng sản, không phải đảng viên thì không được gì, mà chưa hẳn là 4 triệu đảng viên cộng sản đã là tinh túy nhất của toàn dân Việt Nam, nên nó hạn chế việc đào tạo lãnh đạo quản lý‎ nhà nước.

Chúng ta chưa thực sự mở cửa đào tạo, có hệ thống giáo dục tân tiến.

Đi vào đại học thì học những chuyện đã cũ rích rồi, từ những sách tiếng Anh dịch ra cho học sinh học mà thầy giáo đọc còn chưa hiểu, trong khi ở những nước khác, sinh viên học trên internet các dữ liệu, kiến thức mới.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa thể đưa những kinh nghiệm hay kiến thức mới vào nền giáo dục kịp thời, nên chúng ta đào tạo ra các sinh viên không đủ năng lực đi vào thực tế, đi vào xã hội.

Các doanh nghiệp khi thuê từ đại học ra phải đào tạo lại cho phù hợp với doanh nghiệp mình, nên tốn gấp đôi thời gian và tiền.

Bên cạnh đó, Việt Nam bây giờ còn có cái đại nạn là phải đi mua việc. Điều đó tạo ra vấn đề là những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước không phải do năng lực. Những chuyện đó hạn chế chất lượng quản lý nhà nước của Việt Nam.

Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.

Giáo dục miền Bắc khi đó chỉ có Marxist thôi, không được đọc sách báo, không nghe về tư bản chủ nghĩa, không nghe BBC, radio thì bị khóa không được mở các tần số đấy.

Giờ thì trong trường đại học mở ra nhiều hướng để sinh viên tiếp cận, ví dụ như Internet. Nhưng giáo trình thì không bao nhiêu, vì các thầy cũng có được học đâu, các thầy cũng học trong cơ chế xã hội chủ nghĩa bao năm nay rồi, nên việc đào tạo các thầy trước rồi đào tạo sinh viên sau khiến nền giáo dục bị chậm trễ.

Dư âm của một nền văn hóa tập trung vẫn khiến Việt Nam bị hạn chế cho đến nay.