CÁCH HIỆN DIỆN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

CÁCH HIỆN DIỆN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

GM Vũ Duy Thống

Một trong những địa danh được nhắc đến nhiều nhất vào Mùa Phục Sinh, đó là ngôi làng Emmaus.  Mặc kệ các nhà khảo cổ với những công trình tìm kiếm xem ngôi làng đó nằm ở đâu trên thực tế địa lý.  Mặc kệ các nhà chú giải với những phân tích chi li xem địa danh Emmaus hợp bởi chữ gì và có nghĩa gì.  Mặc kệ các nhà hội họa với những cảm hứng khơi nguồn đã khéo tô điểm Emmaus nên một kiệt tác như bức họa nổi tiếng của Rembrandt.  Mặc kệ tất cả.  Người tín hữu chỉ có một cảm tình tốt đẹp là xem Emmaus như một địa chỉ tinh thần không thể quên được.  Bởi lẽ khởi đi từ đó, Đấng Phục sinh đã ưu ái cho thấy Ngài luôn có mặt bên cạnh con người và vẫn muốn hiện diện thường xuyên cho cuộc sống con người.  Khởi đi từ địa chỉ tinh thần ấy, người ta thấy ít ra có ba cách hiện diện của Đấng Phục sinh:

1) Đấng phục sinh có mặt trong những bước đồng hành chia sẻ

Bối cảnh của bài Phúc Âm là những ngày tiếp theo biến cố Phục sinh.  Hoàn cảnh của các môn đệ thật là bi đát.  Họ là người theo Chúa từ những ngày đầu cuộc sống công khai, những mong được tả hữu vinh quang khi Đấng Messia chinh phạt thế giới.  Nào ngờ Thầy mình lại chọn lấy con đường khác để cứu độ.  Ngài đã bị giết, bị chôn vùi trong huyệt đá.  Và lưu ảnh cuối cùng họ có về Thầy mình, đó chính là ngôi mộ hoàn toàn trống rỗng.  Vỡ mộng, thất vọng, cô đơn, họ như những môn sinh “chữ thầy lại trả cho thầy, trở về làng cũ học cầy cho xong”.

Mà đâu có xong.  Chính lúc tưởng chừng trống vắng không gì có thể lấp đầy được, Đấng Phục sinh đã âm thầm hiện diện bên họ, trong dáng dấp của một người khách lạ, trong thân quen của những bước đồng hành và trong ân cần của những lời thăm hỏi rất đỗi bình thường.  Ngay trong Phúc Âm hôm nay, liền sau biến cố Emmaus, khi hai môn đệ đang kể lại Chúa Giêsu ở ngôi thứ ba, thì Ngài đã tự bao giờ “đứng giữa” câu chuyện ở ngôi thứ hai để chào hỏi đối thoại ủi an.

Vâng, Đấng Phục sinh là như thế.  Tưởng vào trong vinh quang là bắt đầu nẻo đời xa cách, nào ngờ lại là lúc Ngài la cà thân thiện với con người hơn cả bao giờ.  Thiên Chúa đã gần gũi với đời người, cho con người trở nên phần đời của Thiên Chúa.  Chính khi đời người xem ra trống vắng nhất, Đức Kitô vẫn hiện diện đồng hành chia sẻ, để rồi khi con người biết chia sẻ cuộc sống cho nhau thì Ngài vẫn có đó trong sức mạnh đồng hành.

2) Đấng phục sinh có mặt bằng những lời củng cố tin yêu

Tâm trạng của các môn đệ hôm nay trong Phúc Âm cũng vẫn là thất vọng ê chề.  Sau lưng họ là Giêrusalem đen tối, trước mặt họ là những nơi xa cũng chẳng sáng sủa gì.  Quá khứ vừa mới khép lại, tương lai chưa kịp mở ra.  Chới với, chao nghiêng.  Nhưng chính lúc ấy, Đấng Phục sinh có mặt, bằng lời Thánh Kinh sống động và hóa giải, Ngài thanh luyện các môn đệ khỏi những tình cảnh thất vọng sợ sệt và đặt họ vào một đà sống mới.

Lời Chúa chính là lời hiện diện của Đấng Phục sinh.  Nhưng tất cả còn tùy thuộc vào cách đón nhận của ta.  Sẽ không có mặt của Đấng Phục sinh nếu ta chỉ coi lời Chúa như vật phẩm điểm trang, dẫu có kính cẩn ghi chép, trân trọng giữ gìn, đeo chặt trên trán như thói quen của mấy ông biệt phái.  Sẽ không có mặt của Đấng Phục sinh nếu ta chỉ xem lời Chúa như thứ lá chắn bung xung cho một mưu đồ, nghĩa là coi lời Chúa như phương tiện để tô vẽ lên mưu lợi riêng tư.  Nhưng sẽ là một hiện diện thường xuyên ở bất cứ đâu cho bất cứ ai, nếu lời Chúa được thực thi chân thành trong đời sống.

Hai môn đệ đi làng Emmaus đã thấy ấm lòng khi nghe lời Chúa.  Các môn đệ ở lại Giêrusalem trong Phúc Âm hôm nay cũng thấy phấn khởi khi được Chúa soi sáng củng cố và đặt vào tin yêu hy vọng của đời chứng nhân.  Nếu mỗi tín hữu hiểu và sống lời Kinh Thánh, họ cũng sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Đấng Phục sinh như những ý lực trong ngày sống, như một sức mạnh để vươn lên, cho dẫu sống chứng nhân cũng là sống với Đức Kitô trên đường thương khó.

3) Đấng phục sinh có mặt giữa những tấm bánh bẻ ra cho đời

Nếu có phút giây nào để lại ấn tượng mạnh nhất trong bài Phúc Âm, đó phải là lúc Chúa Giêsu hỏi các môn đệ xem có gì ăn không, rồi Ngài lại tự nhiên ăn cá và mật ong trước bao cặp mắt sững sờ của họ.  Ngài hỏi thức ăn không phải vì Ngài đói và Ngài ăn không phải vì cơ thể Ngài cần.  Đấng Phục sinh mà không một định luật vật lý nào có thể ngăn cản được như trong việc Ngài thoắt hiện thoắt đi đâu cần phải có thực phẩm nhân gian để mà tồn tại.  Đấng Phục sinh có mặt giữa con người không giống như kẻ hồi sinh sau tai nạn để cần phải bổ dưỡng bù trừ theo kiểu “ăn giả bữa.”  Nhưng, nếu qua việc Chúa Giêsu bẻ bánh, hai môn đệ đi làng Emmaus đã nhận ra Thầy mình, thì qua việc ăn uống này Đấng Phục sinh đã củng cố lòng tin vốn đang chao đảo hoang mang của họ.

Đấng Phục sinh ăn trước mặt các môn đệ.  Đó là một khoảnh khắc đầy ấn tượng, nhưng đã làm nên lý chứng phục sinh và ý nghĩa cuộc đời, bởi có Ngài hiện diện, nên thôi hết buồn sầu để mở ra một lối sống mới trong niềm vui.  Thảo nào các môn đệ hôm đó đã nhận lệnh lên đường làm chứng về những gì các ông đã thấy đã hiểu đã tin.

Nếu có lần nào ta chiêm ngắm Chúa Kitô như tấm bánh bẻ ra để xây dựng một thế giới mới, thì có lẽ một cách vô thức ta đã quy chiếu vào khoảnh khắc bất ngờ này.  Và nếu đúng như thế thì qua việc rước Mình và Máu Đức Kitô hôm nay, ta cũng được mời gọi để trở nên những tấm bánh, những mẩu cá, những tảng mật ong sống động biết chia sẻ nâng đỡ, vun đắp chung xây cuộc sống tốt lành tại địa bàn dân cư nơi mình sinh sống.

Ba cách hiện diện nghe như quen mà vẫn cứ lạ, nghe như gần gũi mà vẫn cứ rời xa.  Cảm tưởng quen quen lạ lạ gần gần xa xa ấy có là vì Đức Kitô Phục sinh có mặt, nhưng không hữu hình như xưa để dễ dàng mắt thấy tai nghe nữa, mà đã hiện diện vô hình chỉ gặp được bằng tin yêu hy vọng.  Và thường thì vì ta quá vô tình không nhận ra Ngài trong những khuôn mặt cuộc đời, tình huống của ta và của những người quanh ta.  Nhưng hiện diện của Đấng Phục sinh không phải là một hiện diện thụ động chỉ để ta tìm gặp, mà còn là một hiện diện chủ động khi ta biết tích cực đồng hành chia sẻ, cũng như gieo lời Chúa vào môi trường sống, rồi từng ngày nỗ lực âm thầm trở nên những tấm bánh “ăn được” cho người lân cận.

Qua thánh lễ này, ta được đồng hành bên nhau, được chia sẻ lời Chúa và được rước lấy Thánh Thể. Xin cho đời ta được đổi mới nơi địa chỉ Emmaus tinh thần này, để tới phiên ta cũng sẽ trở thành địa chỉ tinh thần mới cho cuộc sống hôm nay.

GM Vũ Duy Thống

HAI SẮC HOA TI GÔN

HAI SẮC HOA TI GÔN
T.T.Kh

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người ấy với yêu thương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng lạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Bảo rằng “Hoa dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng thế thôi.”

Thuở đó nào tôi có hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm
Trong một ngày vui, pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
“Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhung hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm phai

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu…
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

********************************

Huyền thoại thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1937-38 bỗng nổi cơn ba đào với bốn bài thơ ký tên T.T.Kh rồi sau đó lặng lẽ tan vào cõi hư không mặc cho dư luận ồn ào xôn xao.  Chất hưng phấn làm hoa ti gôn nở rộ một thời được khai hoa nở nhụy bằng một câu chuyện “Hoa ti gôn” của ký giả Thanh Châu đăng trên báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội.  Là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng, “Hoa ti gôn” kể về một chuyện tình buồn giữa một chàng họa sĩ và một thiếu nữ gia đình thượng lưu.

Sau đó không lâu, tòa soạn nhận được một bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”, ký tên T.T.Kh do một người thiếu phụ trạc hai mươi, dáng bé nhỏ thùy mị, nét mặt u buồn mang đến.  Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.  Câu chuyện “Hoa ti gôn” đã khơi lại mối tình xưa của người thiếu phụ (T.T.Kh.) với một chàng nghệ sĩ, cả hai đã qua một thời yêu thương hẹn hò dưới giàn hoa ti gôn.  Rồi chàng ra đi biền biệt không hẹn ngày về.  Nàng ở lại vâng lời mẹ cha gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một người chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của thời quá khứ.  Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết.  Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu điện ba tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh.  Đó là các bài “Bài thơ thứ nhất”, “Bài thơ đan áo” (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và “Bài thơ cuối cùng”.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh nữa.  Không ai hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất” và cũng không hiểu tại sao tác giả lại lặng lẽ rời bỏ văn đàn không lời từ biệt để lại trong lòng người yêu thơ bao nỗi niềm thương nhớ luyến tiếc.

********************************

Bảy mươi năm trôi qua, nhân gian tốn bao giấy mực để tìm hiểu T.T.Kh là ai.  Người thì đoán Trần Thị Khánh, một nữ sinh Hà nội, người yêu của Thâm Tâm, một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với bài Tống Biệt Hành.  Kẻ lại bảo là Nguyễn Bính, rồi em gái họ nhà thơ Tế Hanh.  Người khác đoan chắc đó là Trần Thị Vân Chung, người yêu nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn.  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi tác giả tiếp tục thinh lặng “sống hờ hết kiếp, trong duyên trái đời”.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình buồn nếu chỉ có một người?  Thế là dư luận đổ xô đi tìm “người ấy” của T.T.Kh để hỏi xem “người ấy có buồn không?  Có còn nghĩ tới loài hoa vỡ”. Kẻ xầm xì nói đó là nhà thơ Thâm Tâm, người lại bảo là nhà văn Thanh Châu.  Nguyễn Bính, J. Leiba và bao nhiêu anh hùng thiên hạ khác nữa cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình!  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi loài hoa ti gôn chỉ nở một lần, hoa rụng mang theo niềm bí mật của người yêu hoa.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình ngang trái nếu không có người thứ ba, là kẻ có nợ nhưng không duyên, có nghĩa nhưng không tình?  Thế mà thiên hạ chẳng ai buồn tìm hiểu người chồng “nghiêm luống tuổi” là ai?  Báo chí chẳng tốn một giọt mực, không một lời phân ưu.  Chẳng ai buồn thắc mắc đến danh tính của kẻ chiến thắng nhưng lại là chiến bại, kẻ “được” nhưng là “mất”.  Cũng như vợ mình, chân dung của ông vẫn là một ẩn số phụ bé nhỏ không lối đáp trong nghi án văn học T.T.Kh.

Bài thơ tình lãng mạn thời tiền chiến này đã đi sâu vào lòng tôi một thời.  Ngắm hoa ti gôn “sắc hồng tựa trái tim tan vỡ, và đỏ như màu máu thắm pha”, tôi ngậm ngùi xót thương người con gái bạc phận ôm mối tình dang dở lên xe hoa, theo lời mẹ cha nhắm mắt đưa chân sống “quang cảnh lạ, tháng năm dài.  Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.” Tôi cảm thông tâm tình cay đắng người thiếu phụ buồn ngồi bên song cửa sổ miễn cưỡng “đan đi đan lại áo len cho chồng” mà mắt cứ dõi nhìn phương xa.  Tôi thầm trách “người ấy” đã làm tan nát thêm cõi lòng người yêu khi mang “bài thơ đan áo nay rao bán, cho khắp người đời thóc mách xem”. Xót xa, tiếc nuối…. là những tình cảm lưu luyến dành cho hai nhân vật trai thanh gái tú có duyên gặp gỡ nhưng không phận phu thê đã dệt nên những áng thơ tình bất hủ cho nền văn chương Việt Nam!

Cũng như người đời, tôi chưa một lần thắc mắc tâm tư người chồng đi bên lề cuộc đời vợ mình ra sao.  Ông buồn hay vui khi đêm đêm nằm ôm cái xác không hồn với cặp mắt ngơ ngác thất thần?  Ông nghĩ gì khi môi đụng làn môi băng giá?  Ông cảm thấy gì khi được vợ nhưng không được trái tim của nàng?  Cho đến một ngày tình cờ đọc Kinh Thánh, tôi ngờ ngợ như đọc được nỗi niềm cay đắng của ông, một người đứng bên lề cuộc đời người yêu qua những dòng chữ chua chát “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b). Ôi, Thiên Chúa của tôi, Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, giàu sang và uy quyền, lại chia sẻ chung số phận hẩm hiu với người chồng già bạc phận trong “Hai sắc hoa ti gôn” hay sao?  Tôi đã sống ra sao để Ngài phải thốt lên những lời ai oán ấy?

Từ “ngày vui pháo nhuộm đường” đó, cuộc sống tuy nhiều sầu muộn, tháng ngày đong đầy những chua cay nhưng T.T.Kh. không hề có ý định chạy trốn cuộc sống, cũng chẳng dự định trốn theo người yêu.  Nàng” vẫn đi bên cạnh cuộc đời” trong sự “ái ân lạt lẽo” của chồng với một thái độ lạnh lùng dửng dưng chấp nhận sự thật dù phũ phàng.  Tôi cũng thế, vẫn đi bên Thiên Chúa, vẫn thờ phượng Ngài, không có ý định bỏ đạo, càng không muốn chống đối Ngài.  Chỉ là một thái độ lạnh nhạt chấp nhận sự việc có Chúa bên đời như một tình cờ, như một sự ép đặt của mẹ cha.  Còn lòng tôi ư?  Người thiếu phụ có chồng “vẫn giấu trong tim bóng một người”, chỉ một người thôi!  Còn tôi, thờ phượng Ngài đó nhưng che giấu trong tim biết bao bóng hình, những mộng mơ với thế gian phù phiếm, những toan tính cho tương lai dù tương lai không thuộc về tôi và bao dự định dang dở….  Những bóng hình đó không ngừng đeo đuổi tôi đến nhà thờ những ngày Chúa nhật dù chỉ một tiếng, vẫn hiện diện trong những lời kinh ro ro thuộc lòng dù chỉ vài phút.  Như một thiếu phụ đoan trang khép mình trong lễ giáo, tôi tuân giữ những luật buộc một cách máy móc, dâng Ngài những của lễ dư thừa trong nhăn nhó.  Nhưng linh hồn tôi, trái tim tôi, tâm trí tôi… dật dờ đâu rồi trong một cõi xa xăm nào đó!

Đi bên chồng nhưng lại hỏi “người ấy” có buồn không, đó là tâm trạng của người xưa.  Còn tôi hôm nay đi bên Ngài đó nhưng vất vả lo toan cho những việc ở trần gian.  Miệng nói tôn kính Thiên Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự.  Nhưng bao sức lực, trí lực, tài năng, máu huyết của tuổi thanh xuân…. tôi đã dâng hiến cho thế gian hết rồi để mong tìm một chỗ đứng trong xã hội, một cuộc sống tiện nghi…..  Còn chăng chỉ là cái xác mệt mỏi vô hồn trong lòng nhà thờ mỗi ngày Chúa nhật buồn.  Xa thật hai cõi lòng của tôi và Ngài!  Phải chăng những lời trách móc “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b) là để chỉ tôi sao?

“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời…, vẫn giấu trong tim…”,  “Vẫn đi”“vẫn giấu”, một sự ngoan cố đến lạ lùng của một phụ nữ yếu đuối.  Không có ý định từ chối cuộc sống và gia đình nhưng cũng không có ý định chôn hình ảnh xưa cố quên để sống, nàng đã cố bám víu lấy nó như một thứ lương thực nuôi sống hiện tại.  Tôi thấy thấp thoáng hình ảnh mình trong sự cố chấp bám dính quá khứ của người thiếu phụ.  Vẫn biết một ngày nào đó tôi sẽ phải rũ áo ra đi không mang theo được gì nhưng tôi vẫn ngoan cố xây đắp cho thật nhiều.  Vẫn biết đời sau mới là thiên thu vĩnh cửu nhưng tôi chỉ chăm lo hạnh phúc hời hợt của vài thu chóng qua.  Phải chăng đó là oan trái của kiếp người?  Phải chăng con rắn ngày xưa vẫn tiếp tục cám dỗ trong lòng mỗi người mãi không thôi?  Người thiếu phụ đã bám lấy cả hai và nàng đã phản bội cả hai: người yêu và chồng mà cuộc sống chỉ là “từng thu chết, từng thu chết”. Kết quả cuộc sống của tôi có khá hơn không khi tôi cùng bám vào cả hai:  Thiên Chúa và thế gian?

Còn gì xót xa não nùng cho bằng khi nghe những lời thở than của người vợ hiền “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời.  Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.” Phải chăng đó cũng là những tiếng trách móc của tôi về sự “ái ân lạt lẽo” của Thiên Chúa?  Như một ông chồng già giàu có nhưng keo kiệt, uy quyền nhưng bủn xỉn, Ngài quay mặt làm ngơ trước những lời van xin thống thiết của tôi: cái xin không được, cái không xin lại cho, cái muốn được thì mất, cái mất lại được.  Ngài đã bỏ tôi chới với một mình trong khổ đau, mặc tôi ngụp lặn trong cô quạnh không lời ủi an.  Trong nỗi đau không tình cờ đó, Ngài tiếp tục thinh lặng, bí mật và khó hiểu….. không một lời đáp trả.  Quả là lạt lẽo và vô tình làm sao!

Dù lời thơ ai oán, hồn thơ chất chứa niềm trách móc cam chịu của người vợ bị chồng “lạt lẽo, hờ hững”, nhưng tôi vẫn bắt gặp đâu đó một sự quảng đại nơi người chồng “nghiêm luống tuổi” môn đăng hộ đối.  “Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ, “Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.” Chỉ là hững hờ thôi sao?  “Vẫn biết”, một sự khẳng định chắc chắn đến thế nhưng không có cảnh đòi li dị, không đuổi về nhà người vợ ngày qua đêm lại chỉ“thờ thẫn hồn eo hẹp” nhớ người xưa, không cưới năm thê bảy thiếp, không đánh đập hành hạ, mà cũng chẳng có chuyện “ông ăn chả bà ăn nem”, … không một hành động cụ thể nào cho sự trả thù.  Chỉ là một thái độ “hững hờ” của người quân tử!  Thái độ “hững hờ” hay nồng nàn, “lạt lẽo” hay sốt mến còn do thái độ cảm nhận của đối tượng nữa.  Tôi không thể nhìn thấy cuộc đời màu hồng khi đeo cặp kiếng đen.  Làm sao có thể tìm thấy một sự yêu đương nồng cháy khi “từ đấy thu rồi, thu lại thu.  Lòng tôi còn giá đến bao giờ?”   Ai có thể làm tan tảng băng nếu lối vô bị bít kín?  Ly nước đã đầy làm sao có thể rót thêm?  Làm sao có thể tìm được lòng sốt sắng yêu mến khi tôi đến với Thiên Chúa với tấm lòng giá băng qua những nghi thức thờ phượng hời hợt bên ngoài, với trái tim đầy ắp những tham vọng thế gian và cái đầu tính toán đầy những thành kiến.

Có đúng chăng sự “hững hờ”“lạt lẽo” của người chồng trong “Hai sắc hoa ti gôn” là kết quả cách sống thờ ơ của người vợ?  Có sai không thái độ giận dữ của Thiên Chúa “Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!  Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:15-16) là kết quả cách sống dở dở ương ương của tôi?  Tôi còn có sự tự do lựa chọn cho mình một lối sống, nhưng người con gái đất Việt bảy mươi năm về trước thì không.  Vậy tôi và nàng ai đáng thương và đáng trách hơn?

Xuyên suốt bốn bài thơ của T.T.Kh, ngoài thái độ “hững hờ”“lạt lẽo” của người chồng, còn một thái độ tế nhị khác nữa, đó là sự chờ đợi!  Ông đã âm thầm đi bên cạnh cuộc đời vợ mình để chờ đợi sự quay về của người vợ hiền, nếu không quay về vì yêu thương thì cũng xin vì bổn phận.  Qua ông, tôi bắt gặp hình ảnh chờ đợi của Thiên Chúa, Ngài đã kiên nhẫn đứng bên lề cuộc đời của những người đã chọn Ngài là Chúa nhưng chỉ là môi miệng để ngày qua tháng lại tiếp tục mòn mỏi trông chờ.  Một Thiên Chúa đầy quyền uy nhưng thật tội nghiệp vẫn lặng lẽ đứng đó, không một lời giải thích cho thái độ tưởng như hờ hững, lạt lẽo của mình, với đôi cánh tay giang rộng để chờ đợi không chỉ thân xác, không chỉ hình thức, không chỉ môi miệng nhưng là một tình yêu đích thực từ trái tim, một cái xác có hồn, một sự dâng hiến trọn vẹn tuyệt vời của người yêu.

Ngược lại với sự quảng đại chờ đợi trong âm thầm nhẫn nhục của người chồng là một sự phản bội tế nhị của “người ấy”:

“Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ đan áo của chồng em

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem.”

Là giết đời nhau đấy biết không? (Bài thơ cuối cùng)

Bây giờ thì nàng đã rõ rồi tấm lòng yêu thương của người mà nàng hằng ấp ủ trong tim.  Trong khi người con gái “vườn Thanh” lo lắng “nếu biết ngày mai tôi lấy chồng.  Trời ơi! Người ấy có buồn không? với một niềm tin mạnh mẽ vào người yêu “nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ.  Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em” và nỗi khắc khoải mong chờ được tái ngộ dù chỉ trong mơ “tiếng lá thu khô xiết mặt hè.  Như tiếng chân người len lén đến”. Thế mà người ấy lại nhẹ nhàng đem tình nàng “rao bán” trên mặt báo.  “Bài thơ đan áo” chỉ viết riêng cho chị chia sẻ nỗi lòng u uất của người con gái lấy chồng phương xa, giờ còn đâu nữa những tâm tư thầm kín của người thiếu phụ khuê các.  Người ta đã quên rồi lời hẹn xưa: “Cố quên đi nhé câm mà nín.  Đừng thở than bằng những giọng thơ”. Người ta thương gì “một mảnh lòng tan vỡ”, xót xa gì “một tâm hồn héo”, tiếc gì một đóa “hoa tàn dấu xác xơ”. Không ăn được thì đạp đổ!  Hạnh phúc của người yêu nào có nghĩa lý gì!  Thẳng tay, phũ phàng và dứt khoát “lại chính là anh, anh của em” đó!  Đâu rồi một tâm hồn nghệ sĩ cao thượng?  Đâu rồi nét quân tử của người yêu hoa?  Chả trách nào tiếng chim trong lồng tắt lịm từ đó!

Hình ảnh “người ấy” phải chăng là hình ảnh của thế gian: đẹp đẽ, lãng mạn, nên thơ… khi tình đang mặn nồng, thưở “nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn”. Nhưng khi lòng tôi thao thức với lời mời gọi thiêng liêng từ trong đáy tim thì thế gian cố níu kéo bằng những dụ dỗ ngon ngọt, những hình ảnh phù phiếm, sự hưởng thụ thân xác.  Và khi tôi nhất quyết quay gót trở về với Thiên Chúa thì bộ mặt thế gian biến đổi với những gian trá mưu mô xảo quyệt, với hành động trả thù bỉ ổi nhằm phơi bày tội lỗi thầm kín của tôi cho dù làm thế “là giết đời nhau”. “Đời chỉ đẹp khi tình còn dang dở!” Tình đã dang dở rồi đây nhưng người trong cuộc có thấy đẹp hơn, thơ mộng hơn không hay chỉ toàn cay đắng phũ phàng?

Thế gian là thế đấy!  Người tình là thế đó!  Mặc dù “oán hờn anh mỗi phút giây” nhưng lòng thì “giận anh không nỡ nhớ không thôi”! Thiên Chúa có lẽ quá thấu hiểu sự yếu đuối mù quáng của con người nên hai chữ TỈNH THỨC được lập đi lập lại nhiều lần trong giáo huấn của Ngài và ân sủng từ trời cao không ngừng tuôn đổ để giúp con người biết lựa chọn và sống với sự chọn lựa của mình một cách sáng suốt.

Chuyện tình nào rồi cũng có đoạn kết, mối tình tay ba nào cũng phải kết thúc bằng sự lựa chọn.  Như “Người chồng – Người tình” không thể cùng song hành với nhau trong cuộc sống “Người vợ“, thì Thiên Chúa cũng không thể cùng đồng hành với thế gian trong trái tim và linh hồn một người.  Tôi đang ở đâu trong mối tình tay ba giữa “Thiên Chúa – Thế gian –  và Tôi”?  Tôi sẽ chọn lựa ai, chỉ một trong hai?  Và sẽ sống với thái độ nào trong sự tự do lựa chọn đó?

Lang Thang Chiều Tím

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

Lời mẹ dặn

Lời mẹ dặn

Phùng Quán

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
– Con ơi
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.
– Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
– Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi giây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Trung Quốc đang mở rộng hai đảo ở Hoàng Sa

Trung Quốc đang mở rộng hai đảo ở Hoàng Sa

– Tin nổi bật, Tin Việt Nam

VRNs (16.4.2015) – Sài Gòn – Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang mở rộng hai đảo Phú Lâm và Quang Hòa, thuộc quần đảo tranh chấp Hoàng Sa mà họ cưỡng chiếm của Việt Nam trong quá khứ.

Theo Reuters, hiện TQ cũng đang gấp rút cải tạo và bồi đắp 7 bãi đá khác ở khu vực tranh chấp Trường Sa.

Tờ Diplomat, trang tin về các vấn đề châu Á, vừa cho công bố ảnh chụp hồi tháng Ba của công ty hình ảnh vệ tinh DigitalGlobe.

Các ảnh này cho thấy đảo Phú Lâm, bị TQ chiếm đóng từ năm 1956, đang mở rộng đường băng.

Trong vòng năm tháng qua, một đường băng bê tông mới gần 2.920m đã thay thế đường băng cũ dài 2.400m, kèm theo đó là một đường lăn mới, thềm để máy bay được mở rộng và các tòa nhà lớn liền kề cũng đang được xây dựng.

Hình ảnh vệ tinh cũng thấy đảo Quang Hòa, cách đảo Phú Lâm 80 km về phía tây nam, đã tăng gần 50% kích thước so với tháng 4/2014

Trung Quốc mở rộng đường băng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh thediplomat

Trung Quốc mở rộng đường băng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh thediplomat

Hòn đảo – bị TQ chiếm của VN năm 1974 – còn có một đơn vị đồn trú quân sự, bốn mái vòm radar, một nhà máy sản xuất bê tông, và một cảng biển được mở rộng do việc nạo vét và cắt san hô. Một đê chắn tăng cường cũng đang được xây dựng xung quanh phần đất cải tạo gần đây.

Đảo Duy Mộng do TQ chiếm đóng gần đó cũng xuấgt hiện các tòa nhà mới.

Theo tờ Wall Street Journal, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ Hoa Xuân Oánh cho biết hồi đầu tháng, các đảo nhân tạo mà nước này đang xây dựng ở biển Đông sẽ sử dụng cho mục đích “phòng thủ quân sự” và một loạt các mục đích dân sự.

Hồng Lỗi, một phát ngôn viên khác của Bộ Ngoại giao, nói hôm thứ Ba rằng “quần đảo Hoàng Sa là một phần cố hữu của Trung Quốc”, khi được hỏi về dự án cải tạo ở đó.

Mỹ hôm thứ Ba cũng kêu gọi TQ theo đuổi các giải pháp hòa bình trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nói: “Chúng tôi không tin rằng việc cải tạo đất và quân sự hóa hóa các tiền đồn với qui mô lớn trên vùng tranh chấp là phù hợp với mong muốn hòa bình và ổn định của khu vực”.

Tổng thống Barack Obama hồi tuần qua cũng tuyên bố Mỹ quan ngại việc Trung Quốc dùng “sức mạnh và cơ bắp” để o ép các nước nhỏ hơn trong khu vực Biển Đông.

Phát biểu hôm 9/4 tại một sự kiện ở Jamaica, ông Obama cho biết: “Chúng tôi quan ngại việc TQ không tuân thủ các chuẩn mực, luật lệ quốc tế, và đang dùng sức mạch cơ bắp để buộc các nước khác phục tùng.”

“Chúng tôi nghĩ vấn đề này có thể được giải quyết bằng ngoại giao, việc Philippines hay Việt Nam không lớn mạnh như Trung Quốc không có nghĩa rằng các nước này có thể bị hất sang một bên.”

Pv.VRNs lược dịch

CẢM NGHIỆM VÀ SẺ CHIA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

CẢM NGHIỆM VÀ SẺ CHIA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Tác giả: Huệ Minh

Cuộc sống của chúng tôi không dư và cũng không đến độ gọi là thiếu. Chính từ những cảm nhận rất thật đó để rồi chúng tôi mỗi người một chút kẻ có công người có của cùng hẹn nhau đến những nơi cưu mang những người bất hạnh trong hoàn cảnh cho phép của mình.

Rời xa Sài Thành phồn hoa đô thị, nhóm chúng tôi đến cái nơi mà thật sự chẳng ai muốn đến bởi lẽ đó là nơi cưu mang những con người bị xã hội loại trừ. Những mảnh đời kém may mắn đó phải sống sau song cửa sắt dường như luôn khép kín bởi vì họ muốn hội nhập cộng đồng nhưng hoàn cảnh không cho phép.

Chờ một lát bởi sinh hoạt buổi sáng của trung tâm bảo trợ TBXH Tâm Thần – Trọng Đức – là vệ sinh cá nhân của những bệnh nhân ở đây. Cũng không mất thời gian vì chúng tôi chia nhau người thì lo dọn bữa ăn, người thì lo chuyển quà, nhóm thì lo sinh hoạt văn nghệ …

Buổi sinh hoạt văn nghệ cây nhà lá vườn sôi động hơn hẳn khi có sự góp mặt của “ca sĩ Lệ Quyên”, “ca sĩ La Lan” … Những ca sĩ dù không chuyên nhưng rất nhập tâm bởi lòng luôn muốn gửi đến khán giả nỗi lòng của họ.

Chương trình văn nghệ kết thúc, chúng tôi chia nhau mỗi người sẻ chia cho những bệnh nhân ở đây mỗi người một bộ đồ, một gói bánh và kẹo … Có những người cứ khư khư trong người món quà mới nhận bởi họ cứ sợ người khác lấy phần của mình … Ở góc phòng đâu đó lại có những người ủ rũ nhìn đời … Tất cả họ là những người không kiểm soát được bản năng cũng như suy nghĩ của mình.

10 g 00, chúng tôi bước vào Thánh lễ Chúa nhật 2 Phục Sinh còn gọi là Chúa Nhật kính nhớ lòng Chúa Thương Xót.

Trước khi vào Thánh Lễ, Cha chủ tế mời gọi cộng đoàn cùng tạ ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho mỗi người, ban cho trung tâm nuôi dưỡng bệnh nhân tâm thần Trọng Đức này. Cha cũng mời cộng đoàn cùng cầu nguyện cho Trung Tâm trong việc trùng tu ngôi nguyện đường của Trung Tâm, xin Chúa quan phòng mọi sự ở trung tâm này từ khởi sự cho đến hoàn thành đều trao phó trong bàn tay Chúa.

Trong bài chia sẻ, linh mục chủ tế mời gọi cộng đoàn nhìn lên lòng thương xót bao la mà Chúa dành cho các môn đệ, đặc biệt cho ông Tôma – kẻ cứng lòng tin vào Chúa Phục Sinh. Cha cũng mời gọi mỗi người nhìn đến những bệnh nhân ở trung tâm Tâm Thần Trọng Đức này để cảm nhận được tình Chúa xót thương mỗi người đến dường nào … Cha mời gọi mỗi người chia sẻ trong khả năng cho phép của mình với những người kém may mắn.

Thánh Lễ kết thúc, mỗi người một tay phụ dọn bữa trưa cho bệnh nhân ở Trung Tâm.

Trưa nay, các bệnh nhân được dùng bánh cuốn chả. Kèm theo đó là một chai C2 trà chanh …

Bữa trưa kết thúc nhanh gọn bởi thức ăn cũng giản đơn mà người ăn cũng đơn giản.

Sau đó, tất cả quy tụ lại góc trung tâm tạm gọi là “hội trường” để cùng nhau giao lưu văn nghệ. Những giọng ca oanh vàng được các bạn ở Trung Tâm này cất lên thật sôi động giữa trưa nóng bức. Niềm vui gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh này làm xua tan nỗi mệt nhọc của mọi người hiện diện nơi đây.

Quá trưa, chương trình văn nghệ khép lại cũng như lời chia tay tạm biệt được mọi người chung chia với nhau.

Rời xa hơn 400 con người (nam và nữ) ở trung tâm tâm thần Trọng Đức này nhưng lòng mỗi người chúng tôi vẫn nhớ họ. Nhớ họ để cảm nhận được mình còn may mắn hơn họ và mình được Chúa thương thật nhiều.

Có những chuyến đi như thế, có những lần gặp gỡ như thế mới thấy được Chúa thương mình nhiều.

Tạ ơn Chúa, cảm ơn những ân nhân đã góp công góp của để chúng tôi có cơ hội cảm nhận được lòng Chúa thương xót thật nhiều trên cuộc đời chúng tôi.

Huệ Minh

BACH NIÊN GIAI LÃO

BACH NIÊN GIAI LÃO

Nữ 70 chưa phải là già !

Đến 80 tuổi vẫn là còn xuân !

Càng già càng dẻo, càng dai….bái phục, bái phục!?

Cụ bà MIEKO NAGAOKA 101 tuổi

với những thành tích bơi lội Thế Giới

đang nắm giữ 24 kỷ lục …

Cụ bà Mieko Nagaoka bắt đầu tự học bơi năm 82 tuổi để chữa chứng đau đầu gối của mình, đến nay cụ 101 tuổi và có một bảng thành tích đáng nể trong sự nghiệp bơi lội.

Cụ bà hơn 100 tuổi với thành tích bơi lội đáng nể - ảnh 1

Cụ bà Mieko Nagaoka – Ảnh: chụp màn hình pantip.com

Cụ bà Mieko Nagaoka sinh năm 1914, sống ở miền nam Nhật Bản, bắt đầu tự học bơi vào năm 82 tuổi với mục đích chữa chứng đau đầu gối của mình. Khi đó, cụ không hề biết phải bơi như thế nào mà chỉ đến bể bơi để thực hiện những bài tập cho đầu gối.

Năm nay, cụ bà Nagaoka đã 101 tuổi, được biết đến là vận động viên bơi lội lớn tuổi nhất ở Nhật Bản và còn tiếp tục tranh tài ở giải vô địch bơi thế giới của Liên đoàn bơi lội thế giới (FINA). Ngày 4.4 vừa qua, cụ đã hoàn thành phần thi bơi tự do nữ cự ly 1.500 mét trong thời gian 1 giờ 15 phút tại Nhật Bản.

Theo Hiệp hội bơi lội Nhật Bản, với kết quả trên, cụ trở thành người đầu tiên trên thế giới thực hiện chặng bơi 1.500 mét ở độ tuổi 100-104. Nhiều khả năng cụ sẽ được Tổ chức Kỷ lục Guinness thế giới chính thức công nhận kỷ lục, theo Kyodo News.

Từ mục đích chữa bệnh đến bảng thành tích đáng nể trên là câu chuyện bắt đầu từ lúc cụ đã hơn 80 tuổi. Năm 84 tuổi, cụ bà bắt đầu tham gia giải bơi Masters ở Nhật Bản. Bốn năm sau, lần đầu tiên cụ góp mặt tại giải bơi Masters thế giới tổ chức tại New Zealand năm 2002 rồi giành giải đồng nội dung bơi ngửa 50 mét. Đến năm 2004, bà Nagaoka lại tới Ý dự giải và giành 3 huy chương bạc ở nội dung bơi ngửa 50 mét, 100 mét và 200 mét, theo Tân Hoa xã.

Cụ bà hơn 100 tuổi với thành tích bơi lội đáng nể - ảnh 2

Cụ bà Nagaoka bắt đầu bơi khi đã ngoài 80 tuổi – Ảnh: chụp màn hình Tân Hoa xã

Cụ bà nhận được chứng nhận quốc gia năm 90 tuổi khi lập kỷ lục quốc gia tại cuộc thi ưa thích của mình ở nội dung bơi tự do 800 mét. Ở tuổi già như vậy nhưng cụ vẫn không ngừng luyện tập để cải thiện bảng thành tích cá nhân.

Nỗ lực của cụ đã được đền đáp vào năm 95 tuổi, lúc này cụ lập kỷ lục thế giới đầu tiên ở nội dung bơi ngửa 50 mét giải Masters. Hiện tại cụ đang nắm giữ 24 kỷ lục thế giới và vẫn có kế hoạch giành thêm nhiều huy chương nữa ở cả cự ly ngắn và dài.

Tạp chí bơi lội thế giới Swimming World Magazine mới đây công bố cụ Nagaoka lọt vào top 12 vận động viên bơi lội giải Masters thế giới của năm 2014, đại diện của các vận động viên ở độ tuổi từ 100-104.

“Tôi muốn bơi cho đến khi mình bước sang tuổi 105 nếu như tôi có thể sống thọ đến thế”, cụ Nagaoka nói.

Câu chuyện về cụ bà Nagaoka có lẽ là một minh chứng cụ thể cho câu nói “không bao giờ là muộn để bắt đầu một điều gì đó”.

Ngọc Ma

Sướng và Khổ

Sướng và Khổ

Có một đề thi dành cho các thí sinh thuộc mọi lứa tuổi như sau: “Bạn hãy chứng minh bạn khổ.”

Thí sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh: “Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng cho trời’. Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh. Nghĩ mà tủi thân!…”

Thí sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: “Tôi là người kém sức khoẻ. Từ nhỏ đã hay đau yếu. Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt. Rất khó chịu!…”

Thí sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: “Tôi chẳng có tài cán gì. Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát. Mấy đứa bạn cứ trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò. Bực tức và chán ghê!…”

Thí sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại. Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất căng thẳng. Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.

Kết quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết. Còn thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy trắng.

Trong giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung:

– Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được tư duy sâu sắc. Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời. Ai cũng làm được như thế. Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó quá hẹp.

Rồi giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:

– Tại sao bạn để giấy trắng?

– Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn kia. Nhưng tôi chợt giật mình…

– Sao bạn lại giật mình?

– Dạ, xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.

Thế rồi cậu khập khiễng bước lên trên. Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen. Cậu nói:

– Hồi tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà. Một hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà. Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt. Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời. Một buổi tôi đi học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ. Cách đây ít năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến chân tôi bị tật từ hồi đó. Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá đau. Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì làm sao xứng với người ta được!

Trong phòng lúc ấy có nhiều người. Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí lặng im đến lạ thường.

– Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi?

– Dạ không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi trong nhà thờ hôm Chúa Nhật. Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ.

Rồi tôi nhận ra: để chứng minh tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh phúc.

Mọi người càng chăm chú. Vị giáo sư lên tiếng:

– Hay! Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?

– Dạ thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu. Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang nghe. Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17).

Thưa giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống của tôi.

Tôi có mẹ, có chị. Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm bọc nhau ấm áp. Tôi có trái tim biết rung động. Tôi có lòng quảng đại. Tôi có lương tâm. Tôi có bạn bè nói chuyện. Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi. Tôi được đi học. Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong nghịch cảnh có ân sủng.

Ví dụ, vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết cảm thương với người nghèo hơn. Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi đau của tha nhân. Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn. À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe Lời Chúa.

Vì thế tôi không thể chứng minh là tôi khổ.

Sưu tầm

KHIÊM TỐN : CHÌA KHÓA CỦA HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG

KHIÊM TỐN : CHÌA KHÓA CỦA HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG

( GS HỒ CÔNG HƯNG )

thay hung

Khiêm tốn là đức tính thiết yếu trong đời sống gia đình cũng như xã hội, nhưng dường như ít được lưu tâm.
Con người vốn là con vật xã hội, nghĩa là chỉ có thể thành người giữa những người khác. Vì thế cuộc đời mỗi người được dệt nên bằng những mối quan hệ rất đa dạng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Các mối tương giao này nếu được xây dựng hài hòa sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho người khác chung quanh. Tuy nhiên, bạo lực dưới mọi hình thức, như một căn bệnh xã hội đang lây nhiễm khắp nơi và trong mọi giới, làm cho môi trường sống mất an vui. .
Bạo lực còn là nguyên nhân chính làm cho rất nhiều gia đình mất hạnh phúc và đổ vở, đặc biệt nơi giới trẻ. Theo Trung tâm Tư vấn Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình, Hội Liên hiệp Thanh niên VN, thực trạng ly hôn ở các gia đình 8X (sinh 198..) đã đến mức báo động. Khảo sát hồ sơ ly hôn ở các tòa án quận huyện trong hai năm trở lại đây, người ta thấy tuổi thọ hôn nhân bình quân của thế hệ này dao động trong khoảng chỉ… 30 tháng. (1)
Các nhà tư vấn tâm lý cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên là do giới trẻ hôm nay không biết rèn luyện cho mình những kỹ năng ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Tháng 12 vừa qua, báo Tuổi Trẻ mở mục diễn đàn “Đâu rồi, chuyện tử tế?”, với tiêu chí hướng tới việc xây dựng thói quen ứng xử có văn hóa trong thanh thiếu niên. Người đọc không khỏi liên tưởng đến bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế”, nổi tiếng một thời (1985) của NSND Trần Văn Thủy. Theo nhà đạo diễn này, tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc nên con người trước tiên phải biết sống tử tế với nhau. Nhưng thiết nghĩ, kỹ năng ứng xử hay chuyện tử tế thật ra phải phát xuất từ một đức tính căn bản và thiết yếu hơn mà dường như gia đình và học đường ngày nay ít quan tâm trong việc giáo dục con người: lòng khiêm tốn. Nếu thói kiêu căng tiềm ẩn nơi bản tính con người từ lúc sinh ra như một nhu cầu sinh tồn, thì lòng khiêm tốn lại là một đức tính cần được rèn luyện từ khi nhỏ đến suốt đời người. Bởi vì khiêm tốn là chìa khóa đem lại hạnh phúc và thành công trong cuộc sống của mỗi người (và của cả xã hội).

1. Bạo lực tràn lan trong xã hội ngày nay là một thực trạng gây nhức nhối đối với các bậc phụ huynh và những nhà giáo dục.

Mỗi ngày chỉ cần giở tờ báo ra là có thể đọc thấy tin vài vụ bạo lực đưa đến gây thương thích, thậm chí đổ máu chết người mà nguyên nhân nhiều khi chỉ là “chuyện rất nhỏ”. Hai chiếc xe máy va quẹt nhau, một câu nói hay dáng đi gây khó chịu, một cái nhìn bị cho là “đểu”, một vụ giành gái trong quán Kaoraoke v.v… thế là một người có thể bị đâm mất mạng và một kẻ phải vào tù hỏng cả cuộc đời. Xin đơn cử trong ngày 26.11.2014, trên báo điện tử vnExpress.net, có các tin sau: “Hai gia đình hổn chiến vì tiếng đài (radio) mở to”, “Phó công an đánh hàng xóm vì bênh vợ”, “Hai chú tiểu (10 và 8 tuổi) bị đánh đập dã man trong chùa ở Phan Rang”, “Người đàn ông bị đâm chết sau va quẹt xe, gần bến xe Miền Đông”…

Cũng trong ngày hôm đó, ở Hà Nội diễn ra cuộc hội thảo “Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng – Thực trạng và giải pháp”. Trong buổi hội thảo này, Viện nghiên cứu Y – Xã hội phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới từ tháng 3 đến tháng 9.2014 với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội. Kết quả, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua…

Một tháng sau, ngày 25.12, báo Thanh Niên có bài “Dửng dưng với bạo lực học đường”, nhắc đến nhiều vụ nữ sinh đánh nhau mà chỉ cần lên google.com gõ “nữ sinh đánh nhau” thì “trong 0,26 giây đã có 761.000 kết quả liên quan đến thông tin, hình ảnh, clip nữ sinh đánh nhau”. Các chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính là do trường phổ thông hiện nay quên dạy làm người. Và tờTuổi Trẻ hôm đó viết bài “Học sinh THCS đánh nhau nhiểu hơn”. Rồi tuần báo Khoa Học Phổ Thông cũng lên tiếng “Bạo lực học đường đang có chiều hướng phức tạp”.Tiếp sau, nhiều phụ huynh phản ánh chính con cái họ là nạn nhân, dẫn đến tổn thương tâm lý, có người còn đưa trường hợp lạ đời: Con bị đánh chỉ vì… học giỏi!

Theo nghiên cứu của Ts Nguyễn Minh Hoà (Đại học KHXH&NV Tp HCM), dựa trên số liệu của tòa án các quận huyện ở thành phố, 63% số người đứng đơn ly hôn là các bà vợ, mà hầu hết vì không chịu được bạo hành gia đình (2). Báo Phụ Nữ còn nêu nhiều vụ chồng “đánh đập vợ như thởi Trung Cổ” (12.1.2015). Tình trạng ly hôn nơi giới trẻ trong những năm gần đây cũng tăng rất nhanh. Theo Cục Thống Kê thành phố, tỷ lệ ly hôn ở độ tuổi dưới 35, năm 2008, 2009, 2010 và 2011 lần lượt như sau: 46,8, 58,5, 59,7 và 49,2%. Các nhà tư vấn tâm lý cho rằng đa số các đôi tân hôn này từng được nuông chiều trong gia đình và đã tự coi mình như “trung tâm vũ trụ” lúc còn độc thân. Và, sau khi kết hôn, tính vị kỷ đó đã khiến họ có thái độ thiếu quan tâm và khoan dung đối với người khác.

Chưa hết. Cũng trên mục “Đâu rồi, chuyện tử tế?” của báo Tuổi Trẻ, nhiều đọc giả nữ còn nhắc đến tệ nạn những kẻ núp sau bàn phím máy tính để “ném đá”, nói theo ngôn từ dân mạng, có khi “hùa nhau ném đá”. Họ tự tiện vào Facebook của khổ chủ, lấy ảnh đưa lên mạng làm trò đùa với những lời bình luận thô tục đầy ác ý, xúc phạm đến người khác, mà nạn nhân là phái yếu rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương, đáng được tôn trọng hơn hết. Đây là trò vô văn hóa, nếu không muốn nói là mất dạy, dường như đang được xã hội coi như “chuyện bình thường”.
Đó là chưa kể những vụ cướp của giết người, diễn ra ngày càng táo tợn và dã man với thái độ rất bình thản và lạnh lùng. Nhiều học giả đã đặt câu hỏi không biết trong lịch sử dân tộc ta vốn “dĩ hòa vi quý”, có thời nào mà con người lại độc ác với nhau như hôm nay.

2. Thói kiêu ngạo phát sinh từ một nhu cầu sinh tồn nên tiềm ẩn suốt đời nơi mỗi người và thể hiện dưới nhiều hình thức.

Trẻ sơ sinh vừa ra khỏi lòng mẹ, cất tiếng khóc chào đời. Theo y học, tiếng khóc đầu tiên là dấu hiệu an toàn làm bé nở phổi, có ích cho sự phát triển sau này. Đồng thời cũng là phản xạ tự nhiên của bản năng, là tin hiệu nhắc nhở “có tui đây” trên cõi đời này. Mà thật vậy, một trẻ thơ ra đời là trung tâm đem lại niềm vui cho cha mẹ và cả đại gia đình nội ngoại.

Trong quá trình phát triển, đứa trẻ cảm thấy mình được thừa nhân một cách rõ rệt nhờ tình thương và sự chăm sóc của người thân, đặc biệt của bà mẹ. Vì thế, để chu toàn thiên chức làm mẹ, người nữ được Trời phú một bộ não bén nhạy hơn nam giới trong việc nhận biết tiếng khóc của con mình. Nhưng đến một độ tuổi nào đó, nếu mọi đòi hỏi của bé được đáp ứng dễ dàng thì cái tôi nơi trẻ cũng bắt đầu phát triển. Từ đó, việc dạy dỗ dần trở trên khó khăn, đưa đến những biểu hiện của thói tự tôn và kiêu căng. Theo nhà giáo dục nổi tiếng thế giới người Ý, nữ bác sĩ Maria Montessori, 6 năm đầu là thời kỳ quan trọng nhất của đời người, vì trong thời kỳ này diễn ra quá trình phát triển nhân cách và trí tuệ một cách mạnh mẽ nhất. Đến năm sáu tuổi, một đứa trẻ luôn được nuông chiều, lớn lên sẽ dễ hư hỏng và ra đời thành người gàn bướng cố chấp, tự ái vặt, không làm chủ cuộc đời mình. Đa số thanh thiếu niên phạm pháp và nghiện ngập hút sách đều thuộc diện này. Có thể nói, như một qui luật, cha mẹ nào quá e ngại vì con mình khóc khi còn nhỏ thì mai sau sẽ khóc nhiều vì con.

Đặc biệt, nếu đứa trẻ chẳng may sinh ra và lớn lên trong một gia đình mang nặng não trạng hơn thua, chỉ coi con mình là số một, quen che đậy và dung dưỡng hành động xấu của con, thói tự tôn huynh hoang nơi trẻ không được cha mẹ lưu tâm uốn nắn mà còn khích lệ, thì tính kiêu căng lại càng tăng trưởng, thể hiện dưới nhiều hình thức: bệnh nổ, chảnh, phách lối, xấc láo, vô ơn, đua đòi, khoe khoang, chơi ngông, háo thắng v.v..

Vì thế kiêu căng trước tiên là thói hư tật xấu của những “ông bà trời con” muốn gì được nấy trong gia đình, có thể gọi là một thứ bệnh ấu trĩ, rồi tiếp tục tiềm ẩn nơi con người trưởng thành, dù thuộc giới nào (3), như căn bệnh mãn tính, cho đến suốt đời. Đặc biệt nơi người có nhiều tiền của, nổi tiếng hay có quyền lực, phát sinh nhiều biến tướng đa dạng như áp đặt quan điểm chủ quan một cách độc đoán bất chấp sự thật, phát ngôn những lời tự mãn dao to búa lớn, phô trương sự xa hoa phù phiếm, chức danh hay bằng cấp (kể cả bằng giả, bằng dởm và bằng ma), bệnh chạy theo thành tích ảo, thi đua thực hiện các công trình hoành tráng nhất nước, thậm chí nhất châu lục và thế giới, trong khi đất nước còn nghèo v.v… Suy cho cùng, âu đó cũng là những cách lên tiếng “có tui đây” của căn bệnh ấu trĩ mà thôi!

3. Lòng khiêm tốn là một đức tính tập thành và phải tập từ khi nhỏ cho đến suốt đời

Trước tiên, khiêm tốn không phải là tự hạ mình xuống hay cho mình kém cỏi hơn người, theo định nghĩa thường gặp trong nhiều sách tự điển. Thật ra đó chỉ là biểu hiện của mặc cảm tự ti. Khiêm tôn chủ yếu là thái độ sống phù hợp với sự thật. Mà sự thật là “vô nhân thập toàn”, ai cũng có khuyết điểm và sai lầm. Sự thật là khả năng và sự hiểu biết của mỗi người đều có giới hạn, nên cần phải thường xuyên học hỏi. Sự thật là mọi người sinh ra đều có quyền sống như nhau và có phẩm giá cần phải được tôn trọng. Vì thế giáo dục lòng khiêm tốn trước tiên cũng là giáo dục lòng yêu quí và tôn trọng sự thật, bắt đầu từ trong gia đình.

Thói kiêu căng làm cho trẻ luôn cố gắng gây ấn tượng về những giá trị mà thật ra mình không hề có. Từ đó, dần dần nảy sinh tình trạng mà triết học gọi là “ngụy tín” (mauvaise foi), nghĩa là tự lừa dối mà mình không biết. Vì thế người thiếu lòng khiêm tốn chẳng những khó nhận biết sự thật mà còn rất sợ sự thật.

Giáo dục trong từ Education của phương Tây có nguyên ngữ La-tinh là ex-ducere, (làm cho xuất ra) có nghĩa giúp trẻ phát huy những giá trị tiềm ẩn nơi mình. Triết lý phương Đông cũng quan niệm như vậy trong câu “xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo”. Tính ở đây là toàn thể tiềm năng do Trời phú cho một người (thiên mệnh chị vị tính). Như vậy, “bá nhân bá tính”, mỗi người nhận lấy cái tính khác nhau, thì không thể có việc so sánh hơn thua, mà chỉ nổ lực phát huy cái tính đó.

Đối với con cái chẳng may bị khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần, cha mẹ cần tạo nơi nó lòng tự tin để vượt khó, không chút mặc cảm, đặc biệt dạy cho con biết rằng kẻ có lòng nhân xứng đáng làm người và đáng đươc quí trọng hơn hết. Hay nói theo đạo diễn Trần Văn Thủy, “hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người – người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang hoặc siêu phàm…”. Bởi vì thiếu sự tử tế, “một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn”.

Có lẽ cũng trong tinh thần đó, bắt đầu năm học 2014-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định không cho điểm và xếp hạng ở bậc tiểu học, giáo viên chỉ có nhận xét để phát hiện những cố gắng của học sinh và động viên khích lệ các em phát triển năng lực và phẩm chất đạo đức một cách tự nhiên, tránh được áp lực về điểm số và thành tích. Có người cho đây là một bước đột phá trong phương pháp giáo dục mà thật ra đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước.
Giáo dục trong gia đình vừa là một khoa học và một nghệ thuật để giữ sự cân bằng giữa yêu thương và uy quyền. Cha mẹ theo dỏi thái độ của con đối với trẻ cùng trang lứa, đặc biệt trẻ nghèo để kịp uốn nắn sửa đổi. Nhất là dạy cho con tránh thói ba hoa và tự đồng hóa giá trị mình với các vật dụng mình có, đồng thời biết chia sẻ niềm vui với bạn giỏi giang hơn mình và đồng cảm với bạn kém may mắn. Tuy nhiên, những lời khuyên răn đó chỉ có tác dụng giáo dục thật sự khi đi kèm với gương sáng của cha mẹ. Cha mẹ có lỗi với nhau hay với con cái, cần biết chân thành nói lời xin lỗi.

4. Lòng khiêm tốn là chìa khóa của hạnh phúc

Cuộc sống của mỗi người, dù ở lứa tuổi nào, đều nhằm mục đích mưu cầu hạnh phúc cho bản thân. Và để đạt được mục đích này, sức khỏe, sắc đẹp, bằng cấp, tiền tài, quyền lực và danh vọng chỉ là phương tiện, nghĩa điều kiện cần chứ chưa đủ, bởi vì hạnh phúc xuất phát từ cái tâm con người.
Hạnh phúc là thái độ tâm lý thoải mái trước những sự việc xảy ra cho mình, là cảm nhận bằng lòng với những gì mình đang có. Theo các nhà tâm lý, trong suốt cuộc đời mỗi người, hầu hết các sự việc (90%) không phải do bản thân mình chủ động gây nên, mà chỉ đón nhận. Vì thế thái độ đón nhận mới quan trọng để đem lại đau khổ hay hạnh phúc..
Thời bao cấp, lương thực còn khó khăn, vào dịp trước Tết, người viết đặt mua từ Chợ Đào, gạo nàng thơm đặc sản để làm quà cho bạn bè và người thân. Có người nhận quà đã mắng vốn thẳng thừng: Bộ nó tưởng tui đói sao cho gạo? Một biểu hiện rõ ràng của mặc cảm tự ti. Thay vì vui vẻ với món quà tình nghĩa để gia đình có nồi cơm trắng bốc thơm trong ngày đầu năm mới, người đó đã tự gây đau khổ cho mình và làm cho người khác mất vui, khi suy diễn kẻ cho có ý khinh khi mình.

Nhờ nhận thức đúng về giá trị thật của mình, người khiêm tốn thoát được mặc cảm tự tôn và tự ti vốn là nguyên nhân gây nên dằn vặt, đau khổ, vở mộng nơi người cao ngạo vì mình không được thừa nhận như mình tưởng. Nếu kẻ kiêu căng thường than phiền vì những điều không vừa ý thì người khiêm tốn, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng thấy được ơn nghĩa hay cơ hội để học hỏi. Vì thế lòng khiêm tốn giúp con người biết sống giản dị và chan hòa nên luôn cảm nhận được hạnh phúc trong tầm tay, ở từng giây phút hiện tại của cuộc đời. Chỉ cần biết mình mạnh khỏe cũng đủ hạnh phúc rồi, như dân gian thường nói “Ăn được ngủ được là tiên”. Trong tình yêu và hôn nhân cũng vậy, người khiêm tốn biết bao dung và tôn trọng lẫn nhau làm cho mối giao ước giữa hai người được bền vững, bởi vì sự khinh thường là kẻ thù số một giết chết tình yêu. Và trong gia đình hạnh phúc, không có lý lẽ hơn thua mà chỉ có sự nhường nhịn và yêu thương.

Chứng kiến sự thành đạt của bạn bè, người thân, hàng xóm…, thay vì đố kỵ ganh ghét, người khiêm tốn biết chia sẻ niềm vui, để cùng vui với kẻ vui. Và chi có lòng khiêm tốn mới giúp con người biết đồng cảm với nổi đau của đồng loại trong thân phận làm người. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa hứa đem lại hạnh phúc cho người biết đồng cảm: “Phúc cho kẻ có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương” (Mt, 5, 2-12).

Thử so sánh thái độ của người kiêu ngạo và kẻ khiêm tốn trước bệnh hoạn. Người kiêu căng che giấu bệnh của mình, thậm chí không muốn người thân gọi điện hay đến thăm hỏi. Trái lại người khiêm tốn đón nhận bệnh tật, kể cả cái chết với thái độ bằng lòng, thanh thản, hay nói theo Nhà Phật, coi Sinh, Lão, Bệnh, Tử như qui luật tất yếu của cuộc sống (4).

Tóm lại, có thể nói hạnh phúc trên cõi đời này dường như chỉ dành cho người có lòng khiêm tốn.

5. Lòng khiêm tốn là điều kiện để thành công, trong phạm vi cá nhân cũng như trên bình diện xã hội

Dân gian có câu “thất bại là mẹ thành công”, vì nhờ rút được bài học kinh nghiệm để có thể thành công trong lần sau. Nhưng chỉ có người khiêm tốn mới nhìn nhận mình thất bại, còn kẻ kiêu ngạo thường cố chấp, đổ thừa cho người khác hay cho những điều kiện khách quan, chứ không chịu thừa nhận sự yếu kém của mình. Vì thế sự thất bại là hậu quả tất yếu của tính kiêu ngạo và khiêm tốn là đức tính không thể thiếu để thành công trên đường đời
Người viết có anh bà con mở tiệm sửa xe và máy nổ ở một thị trấn nhỏ đìu hiu trên QL27. Người chủ luôn nghĩ bà con phải cần đến mình, mỗi lần sửa xe là như ban ơn cho khách. Hậu quả khách giảm dần và tiệm phải đóng cửa. Sau đó ít lâu, một đứa cháu cũng mở ở đó một tiệm sửa xe như thế mà lại rất thành công, chỉ vì nghĩ một cách đơn giản khách hàng nuôi sống mình. Ông chủ mới này còn cất công đến từng nhà có xe, xin đến ủng hộ. Sự thành công là kết quả của một thái độ biết người biết ta, vừa khôn ngoan và khiêm tốn.
Khiêm tốn cũng là đức tính của các bậc vĩ nhân từng cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại, Nhân trận đại dịch hạch ở Hong Kong năm 1894, bác sĩ Alexandre Yersin (1863-1943) được cử từ Việt Nam sang và ở đây ông khám phá trực khuẩn dịch hạch trong điều kiện khó khăn, phải lén dựng lều tranh trong nghĩa trang để nghiên cứu. Sau đó, một nhà bác học khác đã.cướp công kết quả của ông. Yersin không màng danh vọng nên không hề lên tiếng đòi công lý, nhưng cuối cùng giới khoa học thế giới đã thừa nhận công trình của ông và trực khuẩn gây dịch hạch mang tên ông “Yersinia pestis”. Đúng như lời người xưa: “Chí nhân vô kỷ, Thần nhân vô công, Thánh nhân vô danh” (Trang Tử) (Chí nhân không xá mình, thần nhân không kể đến công mình, thánh nhân không màng đến tiếng tăm, tên tuổi)

Trên tạp chí Nghiên Cứu & Phát Triển sô 3-4 (110-111) tháng 7.2014 của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên-Huế, trong bài “Tổng thuật thói hư tật xấu người Việt”, tác giả Trần Văn Chánh nhắc đến câu nói của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình”. Sau đó, ông nhận xét từ 60 năm nay, đọc khắp các sách biên khảo và giáo khoa, không đâu thấy có một chữ nào nêu tính xấu của người Việt, nước Việt. Ngay cả khi tái bản các tác phẩm cũ, nhà xuất bản cũng cắt bỏ hết những đoạn “nói xấu” về người Việt. (5). Trái lại, chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng… (6) Thậm chí có nhà văn còn bịa tên tác giả nước ngoài viết cả cuốn sách ca ngợi hết lời “Người Việt cao quý”. Một hiện tượng văn hóa dường như chưa từng có trên thế giới (7).

Thiết nghĩ giấu diếm, che đậy những thói hư tật xấu và sự yếu kém của mình là “chuyện không tử tế”, thể hiện tính cao ngạo. Ngược lại cần khiêm tốn và trung thực nhận ra, rồi quyết tâm khắc phục chúng mới là điều kiện tiên quyết và thiết yếu để một dân tộc tiên bộ, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

Kết luận; Lòng khiêm tôn cần được giáo dục từ trong gia đình và học đường

Khi bạo lực xảy ra thường xuyên và tràn lan trong xã hội nhiều hơn lúc nào khác, thì chắc chắn phải có những nguyên nhân sâu xa mà những người có trách nhiệm điều hành đất nước không thể làm ngơ hay phân bua lấp liếm. Việc truy tìm nguyên nhân của hiện tượng bạo lực trên, xin nhường cho các nhà nghiên cứu tâm lý xã hội và lịch sử (8).
Ở đây chỉ xin đề cập đến phạm vi hạn hẹp mà vinh quang của công việc giáo dục con người trong gia đình và nhà trường.
Bạo lực dù dưới hình thức nào cũng đều xúc phạm đến phẩm giá con người, phát sinh từ thói cao ngạo đưa đến lòng tự ái, thù hận, đố kỵ, ganh ghét … Đặc biệt người sử dụng vũ lực gây tác hại đến thân thể người khác thật ra là kẻ yếu thế, không còn biết lý lẽ và trở về với bản năng thú tính. Vì thế kiêu ngạo dù ở Đông phương hay Tây phương hay trong bất cứ tôn giáo chân chính nào, đều được coi như đầu mọi tội lỗi và là nguyên nhân khiến con người không thể hạnh phúc và thành công trên đường đời. Trái lại người khiêm tốn chẳng những biết tôn trọng đồng loại mà còn nổ lực đem lại hạnh phúc cho người chung quanh, nhất là những người kém may mắn. Thái độ tôn trọng trẻ con, phụ nữ, kẻ già, người khuyết tật luôn được đánh giá như thước đo trình độ văn minh của một xã hội
Điều đáng mừng là trong xã hội chúng ta ngày nay, hơn bao giờ hết cha mẹ lo cho con cái rất nhiều. Tiếc rằng các lo toan đó chỉ nhắm đến những điều phụ, kể cả mộng ước (hảo huyền?) con mình trở thành một Đặng Thái Sơn hay một Ngô Bảo Châu, mà quên đi cái chính yếu là làm sao cho con cái được sống hạnh phúc trên cõi đời này. Muốn được như vậy, trên hết mọi việc, cha mẹ trong gia đình và thầy cô ở nhà trường cần chú tâm dạy cho trẻ thành “người tử tế”, nghĩa là có lòng nhân hậu và khiêm tốn.
Bước đầu xin mạo muội đề nghị một giải pháp thật dễ dàng. Trong các giao tiếp, trước tiên ở gia đình và học đường, tập cho con em chúng ta thói quen nói với nhau, tùy hoàn cảnh tương ứng, ba từ đơn giản: Xin lỗi (Sorry, Pardon), Cảm ơn (Thank you, Merci) và Xin vui lòng (Please, S’il vous plait).
Mong lắm thay!

Hồ Công Hưng

(tháng 1.2015)
___________________________________
(1) Báo động tình trạng 8X ly hôn, Báo Phụ Nữ 6.2008
(2) “Hôn nhân – Gia đình trong xã hội hiện đại” (Nhà xuất bản Trẻ, 2000, tr. 80)
(3) Ngay trong giới cái bang (ăn xin) là thành phần thấp nhất trong xã hội, cũng phân chia cao thấp, cái bang nhiều túi phải hơn cái bang ít túi. Và trong chuyện nhậu nhẹt, điều chả hay ho gì, các lưu linh thời nay cũng tranh hơn thua về tửu lượng, nên không ít người “ra đi” giả từ bạn nhậu sớm.
(4) Theo nguyên ngữ, khiêm tốn trong tiếng Anh (humility) hay tiếng Pháp (humilité) bắt nguồn từ humus của tiếng La Tinh có nghĩa là đất cát, nhắc nhỡ con người từ cát bụi rồi sẽ trở về cát bụi như lời bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, Để một mai tôi về làm cát bụi”. Hay trong ca khúc “Trở về cát bụi” của Lê Dinh: “Người nhớ cho, ta là cát bụi, trở về cát bụi. Xin người nhớ cho!”.
(5) Trong quyển Việt Nam sử lược, xuất bản năm 1919, ở phần đầu sách, tác giả Trần Trọng Kim đã đưa ra những nhận xét về tính tốt, xấu của người Việt, nhưng trong bản in tái bản năm 1999, NXB Văn Hóa Thông Tin đã cắt bỏ hết những đoạn “nói xấu” về người Việt.
Có thông tin Gs Trần Quốc Vượng và Gs Cao Xuân Hạo khi còn sống từng có ý định viết một cuốn sách về “Người Việt xấu xa” tương tự như nhà văn Bá Dương viết tác phẩm “Người Trung quốc xấu xí”, xuất bản tại Đài Loan và được tái bản tại Trung Quốc trong thập niên 80 thế kỷ trước. Nhưng cả hai đã qua đời trước khi thực hiện ý định trên.
(6) Trong bộ phim “Chuyện tử tế” nêu trên, đạo diễn Trần Văn Thủy kể chuyện ông đi quay phim về công việc lao động nặng nhọc của một ông thợ làm gạch. Ông thợ chạy ra quát tháo và đuổi đoàn làm phim đi. Ông ta nói “Tại sao các ông không quay cảnh thực xem chúng tôi đang sống như thế nào? Các ông chỉ tô vẽ những điều không có thật, còn chúng tôi sống như thế nào thì mặc kệ”. Đó là dấu ấn của nền văn nghệ minh họa, khi người nghệ sỹ sáng tác theo đơn đặt hàng, theo những gì mà “người ta” muốn. Để làm mặt này sáng đẹp hơn, họ phải tạm lờ tịt cái mặt kia của đời sống đi, coi như không thấy. Nhưng như thế là không tử tế.
(7) Ai cũng biết Do Thái là dân tộc thông minh, từng sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng trong mọi lãnh vực. Với số dân khoảng 15 triệu (trên khắp thế giới), chỉ bằng 0,2 – 0,3 % dân số toàn cầu, nhưng lại chiếm 32% giải Nobel. Ở nước Mỹ hiện nay, 1/3 triệu phú, 20% giáo sư tại các trường đại học hàng đầu là người Do Thái. Đầu xuân 2014, người viết có dịp tham quan Do Thái một tuần lễ, đi khắp đất nước nhỏ bé này, để chứng kiến nhiều điều kỳ diệu. Đi theo đoàn là một anh chàng Do Thái gốc Đức, tên là Roni, nói trôi chảy 7 thứ tiếng, từng dạy đại học, nhưng thích nghề hướng dẫn du lịch hơn. Trong một lần trao đổi về sự thành công của người Do Thái, giải đáp một câu hỏi của người viết, ông quả quyết chưa hề có một văn bản hay tài liệu nào nhắc đến việc dân tộc ông tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Trong phương pháp dạy con của người Do Thái, việc giáo dục lòng khiêm tốn, từ trong gia đình, được đặt lên hàng đầu như điều kiện để học hỏi và tiến bộ. Người Do Thái thường tự nhủ: Thất bại không phải vì mình nhỏ yếu mà vì tự cho mình lớn mạnh
(8) Chỉ xin nhắc quan điểm của nhà văn Nga Maxim Gorki (1868-1936), ông tổ của trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong cuốn “Những suy tư không hợp thời” (Untimely Thoughts, Pensées Intempestives) viết năm1918, nhưng mãi đến năm 1988, tức 70 năm sau, mới được xuất bản ở Liên Xô cũ. Mặc dù là bạn của Lênin và Stalin, tác giả đã can đảm phê phán cuộc “Cách mạng nửa với”, “đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”, tạo nên môi trường đấu tranh chính trị làm nảy sinh rất nhanh “các loại cây gai của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẽn, vu khống, các thói háo danh bệnh hoạn và sự khinh thường nhân cách…”. Gorki còn viết thêm: “Đối với tôi, lời kêu gọi “Tổ quốc bị lâm nguy” không đáng sợ bằng lời kêu gọi “Hởi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”

Li hôn!

Li hôn!

(đọc lần nào cũng khóc)

Phải đối xử với bản thân mình tốt một chút vì một đời người đâu có dài. Phải đối xử tốt với những người bên cạnh ta, vì kiếp sau đâu ai biết là còn có thể gặp nhau nữa hay không! Người ta nói: “Tu 100 năm được ngồi chung thuyền, tu 1000 năm mới cùng chăn gối.” Vậy nên,  hãy biết trân trọng những hạnh phúc nhỏ nhoi và bình thường bên cạnh bạn.

Một căp vợ chồng đã lấy nhau được 20 năm thì quyết định li hôn. Nguyên nhân là từ khi kết hôn hai người luôn cãi vã, bất đồng ý kiến, tính cách không hợp. Nếu không phải lo cho con thì hai người đã đường ai nấy đi rồi. Dường như chỉ cần đợi con trưởng thành, không để cha mẹ phải lo lắng thì 2 người sẽ sống cuộc sống tự do của mình, không cần phải nhẫn nhịn những cuộc cãi vã vô nghĩa nữa.

Họ quyết định li hôn.

Sau khi kí đơn li hôn, 2 người đi ra từ văn phòng luật sư, người chồng đề nghị: “Ăn cơm cùng nhau một bữa nữa nhé!” Người vợ nghĩ rằng, tuy đã li hôn rồi, nhưng hai người cũng không phải là kẻ thù, ăn bữa cơm cũng chẳng có gì không được cả.

Vào nhà hàng ăn, người phục vụ mang lên một đĩa cá chua ngọt, người chồng liền gắp một miếng cá cho người vợ và nói: “Em ăn đi! Đây là món ăn em thích nhất mà.”

Người vợ lúc ấy đỏ hoe 2 mắt, nói: Em thất vọng quá, tại sao anh cứ luôn khăng khăng làm theo ý mình, cái gì cũng tự mình đưa ra rồi quyết định, không quan tâm đến cảm nhận của em vậy. Kết hôn lâu như vậy rồi, lẽ nào anh không biết cả đời này món em ghét nhất chính là cá sao?”. Lúc này người chồng cũng nghẹn ngào nói: “Em luôn không hiểu tình cảm của anh dành cho em, lúc nào anh cũng nghĩ phải khiến em vui thế nào, luôn dành cho em những gì tốt nhất. Em biết không, cả đời này món mà anh thích nhất chính là————cá chua ngọt.”

Hai người yêu thương nhau như thế, lại vì những vấn đề không hợp nhau mà chia cách. Đây là vấn đề tình yêu, hay là vấn đề về hôn nhân?Sau bữa ăn ấy mỗi người một ngả, anh đi đằng đông thì cô đi đằng tây, 2 người đều sợ mình sẽ hối hận, nên giao ước là trong 1 tháng sẽ không gọi điện cho nhau.

l

Người chồng đi được 2 bước thì có điện thoại gọi đến, là điện thoại của người vợ. Anh do sự rất lâu, cuối cùng cũng  không nghe. Anh trở về nhà, cả đêm cứ trằn trọc không ngủ được, trong lòng nóng như lửa đốt, dằn vặt vô cùng. Anh suy nghĩ rất lâu, cuối cùng đã gọi điện cho vợ thể hiện sự hối hận của mình.

Lại không có ai bắt máy cả. Sau khi gọi rất nhiều lần rồi, cuối cùng có người nhận, lại là giọng của 1 người đàn ông lạ: “Alo, xin chào!” Trong lòng người chồng như có dao cắt, không cách nào giải thích được.

Đang lúc giận dỗi tuan cúp máy thì đầu dây bên kia lại nói: “Cho hỏi anh là ai vậy?Trong điện thoại rõ ràng hiện lên 2 chữ: “ông xã.”

“Alo, tôi là chồng cô ấy, anh là ai?” Trong câu nói biểu lộ  rõ ý thách thức. “À, tôi là bác sĩ, mời anh nhanh chóng đến bện viện XXX ngay, vợ của anh bị tai nạn, hiện đang cấp cứu!” Lời bác sĩ như sấm đánh ngang tai anh, anh lao nhanh đến bệnh viện. Hóa ra sau khi 2 người chia tay ngày hôm đó, tinh thần cô ấy không ổn, lúc qua đường bị xe ô tô đâm vào. Người vợ trước khi bất tỉnh đã gọi điện cho chồng, nhưng anh lại không bắt máy.

“Bác sĩ, vợ tôi thế nào rồi, ông nhất định phải cứu cô ấy! Tôi năn nỉ ông!” Nói rồi, anh quỳ gối trước bác sĩ. Bác sĩ liền đỡ anh ta đứng lên, “ Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức cứu cô ấy, bây giờ đang phẫu thuật, đầu cô ấy bị va đập nghiêm trọng, cho dù có tỉnh lại cũng trở thành người thực vật. Anh phải chuẩn bị tinh thần!”

Người chồng hoảng hốt, bất an, anh cứ đi đi lại lại ở hành lang, “Nếu như cô ấy chết đi, tôi phải làm sao đây?Tôi làm thế nào mới đối diện được với chính mình?”

Đèn phòng cấp cứu đã tắt.

Các bác sĩ đẩy cửa bước ra, 1 vị bác sĩ già nhất  đến trước mặt anh, “Chúng tôi đã cố hết sức, cô ấy có lẽ không sống được đến sáng mai. Anh vào thăm cô ấy đi, chuẩn bị hậu sự đi! Cô ấy đã không thể nói được nữa rồi!”

Anh dường như sụp đổ, đẩy cửa bước vào phòng.
Người vợ nằm trên giường đã không còn nhìn ra diện mạo, băng quấn quanh đầu chỉ chừa ra mắt và mũi. Người chồng đau như cắt, đến trước giường vợ nói: “Anh đến muộn mất rồi!” Nói chưa dứt lời, nước mắt anh đã trào ra!

Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay vợ, ngạc nhiên thấy khóe mắt cô ấy đỏ hoe ướt ướt, hai hàng nước mắt làm ướt vải gạc, miệng cô khẽ mấp máy, hình như muốn nói gì đó.

Anh vội ghé tai sát vợ, giọng cô yếu ớt, ngắt quãng: “Em….đã điện thoại cho anh, chỉ là…….muốn…….nói với anh, trong tủ lạnh có sủi cảo, còn giấy bảo hiểm và sổ tiết kiệm trong ngăn kéo, mật khẩu là ngày sinh của anh, còn có mì sợi mà anh thích nhất, còn có………….em…………….yêu………”. Chưa nói dứt lời, cô không còn nói được nữa. Cô cũng không thở được nữa rồi.

Anh bật khóc nức nở. Đến lúc này đây cô vẫn nhớ căn dặn anh, nhớ tới món mì sợi! Kết hôn bao nhiêu năm, anh chỉ thấy cô ốm có 1 lần, mà món mì cô làm thì rất khó ăn!

1 tháng sau, người chồng mở giấy bảo hiểm trong ngăn kéo, ngày làm thủ tục bảo hiểm là ngày đăng kí kết hôn, người thừa hưởng tất nhiên là tên anh. Số tiền không lớn, chỉ có hơn 30 triệu, nhưng ở giữa có kẹp 1 giấy ghi chú, “Chồng yêu à, lúc anh thấy tờ phiếu này có lẽ em đang ở thế giới bên kia rồi. Cho dù chúng ta sau này có thế nào, nếu có lí hôn thì em vẫn muốn anh biết, tình yêu của em với  anh trước sau không đổi, thiên chức làm vợ em không tiếp tục được nữa, cho dù em đi rồi, nhưng số tiền bảo hiểm này sẽ thay em, phần nào tiếp tục chăm sóc anh, giống như là em vẫn ở bên anh. Trên thiên đường em sẽ cầu chúc cho anh, yêu anh!”

Đọc những dòng này, anh nấc lên, khóc không thành tiếng. Cô ấy trước khi chết vẫn muốn nói “Em yêu anh”!

Sinh mệnh mong manh như thế, ngắn ngủi như thế, vậy thì chúng ta có nói được bao nhiêu lần “em yêu anh”? Thể diện cái gì, giận dỗi cái gì, trong tình yêu không nên quá cố chấp. Khoan dung một chút! Cảm thông một chút! Hiểu nhau một chút! Đừng để trong cuộc sống có những điều đáng tiếc như vậy! Nếu không thì bạn sẽ bỏ lỡ một người cả đời yêu bạn, cuối cùng chỉ nói được một lần câu “anh yêu em.” Lúc ấy thì có hối hận bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nghe được lời bày tỏ yêu thương như vậy nữa! Chúng ta cũng chẳng có lí do gì để mà không nói với người mình yêu câu “anh yêu em” cả. Nói với cô ấy, để cô ấy biết tình cảm của bạn, cô ấy là bầu trời của bạn, là sự sống của bạn!

Phải đối xử với bản thân mình tốt một chút vì một đời người đâu có dài. Phải đối xử tốt với những người bên cạnh ta, vì kiếp sau đâu ai biết là còn có thể gặp nhau nữa hay không! Người ta nói: “Tu 100 năm được ngồi chung thuyền, tu 1000 năm mới cùng chăn gối.” Vậy nên,  hãy biết trân trọng những hạnh phúc nhỏ nhoi và bình thường bên cạnh bạn.

Sandy Nhung--Blogtamsu.vn

Thầy Uông Đại Bằng gởi

Cộng sản và tôi

Cộng sản và tôi

– Tin nổi bật, Buôn chuyện

VRNs (15.04.2015) – Thanh Hóa – Tôi là một trong số hàng chục triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam. Câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây chưa thể nào vạch trần hết tội ác của chủ nghĩa rừng rú này; nhưng cũng sẽ góp một phần nhỏ để những ai còn ngây thơ mù quáng đi theo nó sớm nhận ra và từ bỏ còn đường tăm tối được thêu dệt nên bằng những dối trá và tội ác.

Tôi sinh năm 1971, năm nay bước vào tuổi 44. Tuy chỉ mới độ tuổi này nhưng tôi đã từng nghe bố tôi kể lại và cũng đã phải trực tiếp chứng kiến cảnh gia đình tôi suốt 4 đời là nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản.

Bắt đầu là bà nội của tôi: Bà tôi sinh năm 1890. (Không biết ông nội tôi mất từ bao giờ). Một tay bà phải vất vả nuôi một đàn con. Trong nạn đói năm 1945 các con của bà tôi nhiều người đã phải chết vì đói. Đến năm 1949 người con trai lớn của bà đã hăng hái gia nhập vào quân đội và tử trận tại Điện Biên Phủ năm 1954. Sau nhiều năm không nhận được tin tức gì của bác tôi nên bà tôi buồn đau héo hon khổ sở. Mãi tới khoảng năm 1973 gia mới nhận được một mãnh giấy thông báo rằng bác tôi đã hy sinh.

150411003

Trong khoảng thời từ năm 1954-1975, giai đoạn xảy ra cuộc nội chiến tại Việt Nam, dưới sự tuyên truyền của Cộng Sản những người thân của tôi lại tiếp tục như con thiêu thân lao vào cuộc chiến “xâm lược miền Nam” và làm công cụ cho việc bành trướng chủ nghĩa hung tàn cộng sản một cách vô điều kiện. Năm 1967, khi mà máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. Quê tôi nằm ngay cạnh một nhà máy xay là nơi tập trung một lượng thóc gạo khá lớn để cung ứng cho chiến trường miền Nam, nơi đây có một cây cầu là nút giao thông quan trọng; vậy nên đã phải hứng chịu không biết bao nhiêu là bom đạn. Lúc đó tôi chưa được sinh ra, nhưng khi lớn lên chỉ nhìn những dãy hố bom chi chít và những hầm pháo còn lại trên đồng làng; tôi cũng nhận ra được một phần nào những đau thương trong quá khứ.

Theo bố tôi kể lại thì vào giai đoạn đó ở nông thôn miền Bắc mọi sinh hoạt của đời sống đều nằm dưới sự điều hành của hợp tác xã (HTX). Vào năm 1967 người vợ đầu của bố tôi bị HTX điều vào khu vực máy bay Mỹ thường ném bom, để vừa lao động sản xuất vừa phụ giúp bộ đội đắp hầm pháo và tiếp đạn. Rồi một mảnh bom đã cắt ngang cuộc đời bà ở độ tuổi 35, để lại sau lưng 2 đứa con thơ cho chồng. Bố tôi cui cút một tay nuôi 2 con nhỏ một bà mẹ già. Vừa đau buồn bởi cảnh chia ly bất ngờ vừa lam lũ với cảnh “đùm cơm vạt áo, đùm cháo lá khoai”. Bố tôi lâm bệnh hen suyễn từ đó. Rồi tình cờ ông gặp mẹ tôi.

Mẹ tôi là một người phụ nữ cũng gặp nhiều đắng cay trong cuộc sống, bà đã 3 lần tiễn đưa người thân vào quân ngũ mà không còn gặp lại. Hai người em trai của bà và một người chồng mới cưới. Cả 3 đều ngã xuống trong mặt trận phía Nam. Mười năm trông ngóng tin chồng trong vô vọng. Ai cũng tin rằng chồng bà đã chết tại chiến trường; nhưng mãi vẫn không có giấy báo tử. Họ hàng bên chồng bà khuyên bà nên đi bước nữa. Bà nấn ná mãi rồi mới quyết định khăn gói về sống chung với bố tôi. Cảnh “rổ rá cạp lại”, tưởng rằng sẽ san sẻ gánh nặng cho nhau, nào ngờ giông bão cuộc đời lại ập xuống những mãnh đời rách nát như họ.

Bố tôi kể lại: Ngay sau khi mẹ tôi khăn gói về sống cùng ông vào năm 1970, đêm nào cũng vậy, cứ 8 giờ tối là dân quân xã lại khua trống tập trung lực lượng kéo tới túp lều tranh nho nhỏ mà bà và bố mẹ cùng các anh chị tôi đang sống. Dân quân trói mẹ tôi đưa ra điếm làng xét tội vì lý do “không chung thủy với chồng là bộ đội”. Có hôm thì họ lại trói bố tôi thay vì mẹ tôi. Họ đưa ông ra điếm làng xét xử tội “cướp vợ bộ đội”. Cảnh tượng kinh hoàng đó đập vào mắt bà nội và các anh chị tôi làm họ vô cùng sợ hãi. Không phải chỉ một hai lần mà kéo dài hàng tháng. Nhưng không thế lực nào chia cắt được tình cảm của hai người. Cũng có lúc mẹ tôi phải tạm lánh về quê ngoại. Rồi tin vui đã tới với cả gia đình. Mẹ tôi có mang tôi sau nhiều thử thách. Lúc này mẹ tôi tiếp tục về sống chung với bố tôi. Biết bà đang mang thai nên bọn người man rợ kia cũng đỡ bớt phần nào những hành động côn đồ ác thú. Nhưng nhà cầmquyền Cộng Sản không cấp khẩu cho mẹ tôi và không cho gia đình tôi vào HTX. Nhà 5 miệng ăn, không nguồn thu nhập, Mẹ tôi phải băng rừng vượt núi kiếm miếng ăn. Cuộc sống vất vả là vậy.

Những tưởng rằng Cộng Sản sẽ buông tha, nào ngờ năm 1974 khi anh trai tôi mới 17 tuổi, cộng sản lại bắt anh tôi làm đơn “tình nguyện” đi bộ đội và rồi anh tôi đi mãi chẳng trở về. Khi gia đình tôi nhận được tin báo tử anh tôi; một lần nữa nước mắt bố mẹ tôi lại lăn dài trên gò má, những giọt nước mắt khổ đau chảy trên đầu tôi thấm sâu vào trong trái tim bé bỏng của tôi, khi tôi mới lên 4 tuổi.

Vào thời gian đó bên nhà chồng cũ của mẹ tôi cũng nhận được tờ giấy báo tử muộn màng về người chồng của mẹ tôi đã tử trận từ năm 1968. Bao năm chắt chiu vất vả dành dụm bố mẹ tôi mua được một con bê nhỏ, lúc này nhà nước quyết định nhập khẩu cho mẹ tôi và cho gia đình tôi vào HTX với điều kiện phải công hữu con bê cho họ.

Trải qua nhiều sóng gió, cuộc sống tuy không đầy đủ nhưng cũng đã tạm yên thân, bố mẹ tôi sinh thêm cho tôi một cô em gái. Những tưởng rồi cuộc sống sẽ êm trôi theo năm tháng, với những gì người Cộng Sản đã tuyên truyền, nào ngờ sự thật không hề như vậy. Với một hoàn cảnh xuất thân nhiều bất hạnh nên cuộc đời tôi dường như không lối thoát bởi những gánh nặng nợ nần. Tôi còn nhớ vào khoảng những năm từ 1980 tới 1988, vì bố tôi bệnh tật không thể lao động được, gánh nặng gia đình chất chồng hết trên vai mẹ tôi. Mẹ vừa lo thuốc men cho chồng vừa nuôi hai anh em chúng tôi ăn học (lúc này chị gái tôi đã lấy chồng). Những sào ruộng nhận khoán của HTX không thể đủ ăn, Mẹ phải chạy vạy buôn bán bằng quang gánh, đi bộ tới các cửa hàng mua dầu hỏa và muối (do các nhân viên cửa hàng bán lậu), rồi gánh bộ hàng trăm km lên các vùng cao để bán hoặc đổi lấy sắn về nuôi chúng tôi. Cũng nhiều lần mẹ bị đại diện nhà nước thu trắng gánh hàng vì lý do buôn lậu. Đã khó lại càng khó thêm. Hàng vụ thu hoạch lượng thóc không đủ để trả nợ lại (vì lúc đó muốn vay được 10 kg thóc thì tới mùa phải trả gấp đôi, thậm chí gấp ba). Vì thế gia đình tôi không đủ thóc giao nạp cho HTX. Vụ này sang vụ khác, HTX tính lãi mẹ đẻ lãi con với lãi xuất 50% /vụ; không những thế mỗi năm lại còn phải nuôi lợn nộp nghĩa vụ 50 kg lợn hơi. Người còn không có để ăn thì lấy gì nuôi được 50 kg lợn?! Vậy nên gia đình tôi lại còn phải mắc nợ thêm khoản kg lợn hơi quy thành thóc. Cứ 1 kg lợn hơi quy thành 10 kg thóc. Như vậy hàng năm gia đình tôi phải mắc nợ 500 kg thóc. Có lần đoàn thu sản vào xiết nợ. Họ thấy trong nhà không có gì đáng giá, phát hiện trong chuồng có một con lợn khoảng 8 kg họ nhảy vào bắt bỏ bì và xách đi. Cả gia đình tôi chỉ biết nhìn theo trong nước mắt.

Tôi vẫn cứ thế lớn lên theo quy luật của Đấng tạo hóa. Tháng 9 năm 1990 tôi nhập ngũ hết 2 năm 6 tháng nghĩa vụ quân sự. Tháng 3 năm 1993 tôi trở về địa phương và kết hôn khi tuổi mới 22. Khi lập gia đình, đương nhiên tôi phải kế thừa một món nợ khổng lồ là 10 tấn thóc. Một số lượng mà khiến tôi không khả năng thanh toán. Sau khi đã chuyển đổi mô hình quản lý ruộng đất từ HTX sang cho Ủy Ban Nhân Dân, và giao ruộng xuống từng hộ gia đình tính theo đầu người tại thời điểm, gia đình tôi có 4 khẩu lẽ ra phải được giao 4 suất ruộng, nhưng vì còn mắc nợ cũ nên chỉ được nhận 1/2 diện tích theo tiêu chuẩn. 1/2 diện tích còn lại phải làm dưới dạng thuê đất với đóng góp cao hơn. Vì thấy quá thiệt thòi nên gia đình cố gắng vay mượn khắp nơi với lãi xuất 5%/tháng trả nợ 10 tấn thóc với giá 3000 đ/10 kg để được nhận ruộng bình thường.

Kể từ đó gia đình tôi không còn mắc nợ nhà nước, nhưng nợ tư nhân lại quá nhiều. Chúng tôi dốc hết sức để kéo cày trả nợ. Vào độ tuổi 35 tôi đã mắc nhiều bệnh tật do lao động quá sức. Tôi không làm lụng được như trước, nợ nần vẫn chồng chất, nên sinh ra rượu chè. Tôi mở một lớp học nho nhỏ phụ đạo cho mấy cháu học sinh lớp 9 trong làng để lấy tiền uống rượu.

Rồi một hôm như là định mệnh, tôi gặp một tín hữu của đạo Tin Lành; người đó tặng tôi vài cuốn sách nhỏ trong lúc tôi vẫn còn say. Tôi cầm sách trên tay mà chẳng biết sách gì. Khi tỉnh rượu tôi mang ra đọc và thấy những gì viết trong sách như đang nhảy múa mời gọi tôi theo Chúa Jesus. Tôi tìm tới gặp người đã tặng sách cho tôi. Từ đó tôi trở thành một tín hữu Tin Lành. Tôi từ bỏ rượu và sốt sắng ra đi nói về Chúa cho những người xung quanh. Nhờ vậy qua tôi cả gia đình tôi và nhiều người trong vùng đã tự nguyện đi theo Thiên Chúa.

Thình lình vào năm 2003 lực lượng nhà nước thông qua Mặt trận tổ quốc và công an ra tay đàn áp những người theo đạo Tin Lành ở quê tôi. Họ ép buộc người dân phải viết cam kết không theo đạo, nếu ai đã theo thì nhà nước bắt viết giấy bỏ đạo, chỉ còn lại gia đình tôi quyết giữ đức tin tới cùng. Thế là cứ mỗi ngày Chủ nhật các đầy tớ của dân lại tới canh cổng nhà tôi không cho ai ra vào, quyết ngăn không cho tôi đi thờ phượng Chúa. Nhiều lần họ bắt tôi ra hội trường thôn để tập trung đấu tố. Họ xuyên tạc vu cáo tôi là phản động. Những người “bạn của dân” không cho tôi quyền giải thích. Mỗi khi tôi đứng lên xin ý kiến phản biện thì liền có những bàn tay “nhân ái” tặng cho tôi một cái vả rồi nhấn đầu tôi xuống. Cả bố mẹ và vợ con tôi cũng không ngoại lệ. Họ liên tục bị nhà cầm quyền sách nhiễu đánh đập. Nhà nước tẩy chay hàng hóa mà vợ tôi buôn bán, cấm đoán không cho người mua bán quan hệ với gia đình tôi.

Vào đêm 30/4 năm 2004 khi mà dân làng tập trung tham gia buổi lễ ăn mừng 29 năm cướp trọn miền Nam, lúc mọi người đang ngất ngây trong chiến thắng, cán bộ cấp xã và công an huyện bỗng dưng đưa đề tài gia đình tôi theo đạo Tin Lành tức là theo Mỹ làm phản động ra để kích động quần chúng. Vậy là thình lình gia đình tôi bị cắt điện và nhận hàng loạt những gạch đá ném vào, rồi sau đó là một đoàn quân ô hợp hàng 100 người kéo vào. Họ đánh đập mọi thành viên trong gia đình, đập phá tài sản, bẻ gãy thánh giá, tháo gỡ bảng 10 điều răn rồi đập nát, đổ phân lợn xuông giếng nước, lấy hết thiết bị điện trong nhà. Sau khi họ bỏ đi để lại cho gia đình tôi một cảnh tan hoang với những con người đầy thương tích. Đêm đó vợ tôi phải đưa tôi đi lánh nạn. Ngày hôm sau ở nhà: Mặt trận tổ quốc lại lập đoàn tới “hỏi thăm” rồi yêu cầu bố tôi làm cam kết bỏ đạo thì họ sẽ cho người tới mắc lại điện và thôi không tấn công gia đình tôi nữa. Bố tôi không đồng ý nên họ uy hiếp rằng tôi sẽ bị đánh chết bất cứ khi nào và ở đâu, còn bố mẹ tôi sẽ chết mà không có chỗ chôn, các con tôi sẽ thất học…

Mặc những lời hăm dọa của những con người thất đức. Bố tôi vẫn không chấp nhận hợp tác. Trong thời gian lánh nạn tạm thời, tôi đã viết một lá đơn gửi tới các cấp cầm quyền từ địa phương, tới trung ương. Sau một tuần tôi mới trở về, đêm hôm đó là đêm 7/5/2004. Vẫn như lần trước đoàn quân vô đạo lại kéo tới đánh đập tôi tơi tả, máu me đầm đìa. Tôi lại phải tạm thời lánh nạn. Mấy ngày sau, Công an tỉnh Thanh hóa thông qua công an xã Quảng Yên, triệu tập tôi tới hội trường UBND xã để “làm việc”. Một mình tôi ngồi giữa hàng trăm công an các cấp và nhiều ban ngành trong xã, bên ngoài cổng UB có khoảng 20 tên đầu gấu cởi trần tay cầm gậy lăm lăm uy hiếp. Tại đây họ bắt tôi phải ký vào một biên bản thừa nhận rằng sự việc xảy ra tại gia đình tôi chỉ là do mâu thuẫn cá nhân không liên quan tới nhà nước. Ngay lập tức tôi phản ứng lại, tay công an làm việc với tôi chỉ tay ra phía cổng nói: Ký hay không tùy anh thôi, nhưng chúng tôi không dám bảo đảm an toàn cho anh khi ra khỏi đây! (Thú thật rằng tôi cũng thấy sợ hãi nên tặc lưỡi ký đại cho xong). Sau khi tôi đã ký vào biên bản đó thì buổi làm việc kết thúc với một lời đe dọa của trưởng công an xã rằng: Nếu mày không bỏ đạo thì con mày đi học chỉ cần tắm trong nước miếng của con thiên hạ cũng đủ chết. Tôi trả lời rằng: Tùy các anh thôi, cuộc sống gia đình tôi nằm trong tay Chúa, Ngài sẽ bảo vệ chúng tôi theo cách của Ngài.

Đúng như lời của trưởng công an xã Nguyễn Viết Đồng đã nói. Kể từ hôm đó đứa con trai lớn của tôi mới 10 tuổi đang học lớp 5, tới trường học liên tục bị bạn bè chế nhiễu, đánh đập và nhổ nước miếng vào người, vào mặt mà giáo viên vẫn làm ngơ.

Tuy vậy cháu vẫn cố gắng chịu đựng để vượt qua, vì cháu đã có chút nhận thức về hoàn cảnh thực tại của gia đình nên chấp nhận lặng yên. Đứa con gái nhỏ của tôi mới 6 tuổi còn đang học lớp 1 cùng phải chịu cùng hoàn cảnh như anh nó.

Nó tới trường học mà khi nào về cũng khóc vì bị các bạn véo, đánh, không ai thèm chơi với nó. Vậy là nó cứ thui thủi một mình một xó.

Và cũng vì vậy mà nó trở nên một đứa trẻ tự kỷ. Cũng từ năm đó con bé không lớn thêm được chút nào. Thương các con nhưng chẳng biết phải làm sao. Gia đình tôi cắn răng chịu đựng và phó mặc cho Thiên Chúa. Cũng có vài lần đưa con bé đi khám bệnh nhưng do không có tiền đi tuyến trên, gia đình tôi chỉ đưa bé tới bệnh viện huyện khám qua loa và nhận được câu trả lời là cháu vẫn bình thường.

(Nào ngờ mãi tới năm 2014 thấy con đã 16 tuổi mà vẫn chỉ như đưa trẻ lên 5, tôi quyết định đưa cháu ra Hà Nội khám lần nữa; thì than ôi tôi choáng váng khi bác sĩ cho biết rằng con bé bị liệt tuyến yên đã 10 năm nên không còn khả năng chữa trị). Mặc dù sống giữa chông gai và gông xiềng Cộng sản nhưng tôi luôn vững tin vào Thiên Chúa. Tôi tiếp tục bước đi giữa những gian nan và thử thách. Tôi tiếp tục đi nhiều nơi để chia sẻ niềm tin về Thiên Chúa. Không ít lần tôi bị đón đường và bị công an Cộng Sản bắt bớ đánh đập. Rồi tôi được Chúa thương nên cho tôi cơ hội được tham gia vào các khóa học thần học.

Tôi trở thành mục sư của một hội thánh nhỏ ở quê hương Thanh Hóa. Chỉ đơn thuần vì lý do tín ngưỡng mà tôi liên tiếp bị những người “bạn của dân” tìm mọi cách đàn áp. Rồi ngày 15/1/2011 tôi bị bắt và bị kết án 2 năm tù giam và 2 năm quản chế theo điều 88 quái gở. (Khi kết án tôi, tay chủ tọa phiên tòa còn lớn tiếng nói rằng: Những thân nhân của tôi đã ngã xuống vì chế độ nay sẽ rất xấu hổ vì tôi). Tuy nhiên tôi tin rằng những người thân của tôi đã đổ máu xương cho chế độ này nếu thực sự có linh thiêng thì họ sẽ rất tự hào về tôi.

Bởi tôi đã tiếp tục bước đi trên con đường tranh đấu cho một nền tụ do dân chủ thật sự.

Tôi tin chắc một điều, vong linh của những người đã ngã xuống sẽ vô cùng đau đớn khi mà những kẻ ngồi trên những chiếc ngai được xây bằng máu xương đồng bào lại tráo trở đảo lộn trắng đen.

Tôi bỏ lại phía sau lưng mình ba đứa con thơ, cùng bố mẹ già và hội thánh thân thương cho người vợ hiền gánh vác.

Hết 2 năm tù oan nghiệt, tôi trở lại gia đình cùng với vợ con bước tiếp chặng đường đầy những chông gai nhưng tràn đầy hy vọng. Tôi vừa phải chia tay người chị gái thân kính và người cha già mẫu mực. Họ đã vĩnh viễn ra đi về nước Chúa. Trước lúc xuôi tay bố tôi còn gắng dặn dò tôi thêm lần nữa: Con hãy cố lên đừng bao giờ bỏ cuộc, ngày cáo chung của Cộng sản đã gần rồi.

Mục sư Nguyễn Trung Tôn

ĐT: 01628387716
Email: nguyentrungtonth@gmail.com

Lời Chúa để suy ngẫm

Khi ấy, Đức Giê-su nó với ông Ni-cô-dê-mô rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. “(Gioan 3, câu 16)

Thạnh Hóa, một Tiên Lãng thứ hai tại miền Nam

Thạnh Hóa, một Tiên Lãng thứ hai tại miền Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-04-15

04152015-thanh-hoa-duplica-of-tienlang.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can

Gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can

RFA screen cap.

Your browser does not support the audio element.

Một vụ cưỡng chế dẫn tới bạo động đã xảy ra vào ngày 14 tháng 4 tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An khiến người ta liên tưởng đến trường hợp của gia đình Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng Hải Phòng.

Khi bị dồn đến đường cùng

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 14 tháng 4 hàng trăm cán bộ thuộc lực lượng cưỡng chế của Công an Huyện Thạnh Hóa đã tập trung bao vây gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can, gia đình bà Phùng Thị Ly cùng một số hộ dân khác để thi hành quyết định cưỡng chế lấy đất xây dựng bờ kè thị trấn Thạnh Hóa. Đây là lần thứ hai chính quyền Huyện Thạnh Hóa trưng thu đất của người dân trong cùng khu vực. Lần thứ nhất diễn ra vào năm 1999 lấy đất xây dựng khu thương mại đã giải tỏa hàng trăm hộ dân và lần này lại xảy ra khiến người dân chống đối quyết liệt với vũ khí tự tạo của mình.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn con của ông bà Nguyễn Trung Can và Mai Thị Kim Hương vừa được thả ra vào sáng hôm nay kể lại:

-Cháu tên là Nguyễn Mai Trung Tuấn, cháu nay 15 tuổi học lớp 9. Cháu nghỉ học ngày hôm qua để cùng với gia đình bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia đình. Cháu xin nghỉ học bữa nay là để trả lời phần truyền thông cho mọi người biết là Việt Nam không có nhân quyền và hiện tại Việt Nam đang đàn áp và đánh đập người dân.

Khi mà nó ập vào nhà cháu thì nhà cháu đã tuyên bố với lực lượng là hãy dừng lại cưỡng chế nếu không thì gia đình cháu sẽ dùng biện pháp bom gas và bom xăng để chống lại lực lượng cưỡng chế bảo vệ phần đất và quyền lợi chính đáng của mình.

” Trong quá trình bắt tụi nó đấm đá rất là dã man. Khi đưa về đồn nó đánh đến nỗi bà ngoại cháu trọng thương và ông ngoại cháu bị dập phổi hiện thời còn phải nằm trong bệnh viện.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn”

Khi nó ập vào thì cháu dùng chai xăng cháu đập xuống đất cho nó phựt lửa để tự vệ cho gia đình và để cho lực lượng lui ra không tiến sâu vào phần đất của gia đình khi đó hoảng loạn và nó ập vào bắt gia đình cháu luôn. Trong quá trình bắt tụi nó đấm đá rất là dã man. Khi đưa về đồn nó đánh đến nỗi bà ngoại cháu trọng thương và ông ngoại cháu bị dập phổi hiện thời còn phải nằm trong bệnh viện.

Theo nhiều tờ báo trong nước tường thuật thì ít nhất 20 người trong lực lượng cưỡng chế đã bị thương do bom xăng và axit, trong đó nghiêm trọng nhất là Trung tá Nguyễn Văn Thủy, trưởng công an huyện Thạnh Hóa bị tạt axit vào lưng phải cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy. Phía người dân đã có hơn 10 người bị bắt giữ và tình trạng các gia đình khác sáng ngày hôm nay, 15 tháng 4 kéo tới Công an huyện Thạnh Hóa đòi thả người đã diễn ra.

Theo nguồn tin của báo chí thì công trình bờ kè thị trấn Thạnh Hóa do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trương và giao cho tỉnh Long An thực hiện việc thương lượng bồi thường giải phóng mặt bằng. Khi được hỏi việc di dời và đền bù giải tỏa có hợp lý hay không, cô Dương Thị Bích Thủy con của bà Phùng Thị Ly cho biết:

Công an và an ninh bao vây khu nhà bà Mai Thị Kim Hương

Công an và an ninh bao vây khu nhà bà Mai Thị Kim Hương

-Vào năm 1999 là giai đoạn đầu giải tỏa cho khu thương mại cho tới năm 2009 là giai đoạn II giải tỏa để xây bờ kè. Hồi trước nhà con cũng bị mấy ông này cưỡng chế một lần trong giai đoạn I rồi gia đình con dọn về gần nhà của ông ngoại con là ông Phùng Văn Lâm rồi bây giờ lại bị giai đoạn II nữa, nói chung là bị hai lần.

” Vào năm 1999 là giai đoạn đầu giải tỏa cho khu thương mại cho tới năm 2009 là giai đoạn II giải tỏa để xây bờ kè. Hồi trước nhà con cũng bị mấy ông này cưỡng chế một lần trong giai đoạn I rồi gia đình con dọn về gần nhà của ông ngoại con là ông Phùng Văn Lâm rồi bây giờ lại bị giai đoạn II nữa

cô Dương Thị Bích Thủy”

Trong một thời gian ngắn phải di dời hai lần đã gây bức xúc cho các hộ dân thiếu may mắn. Bên cạnh sự khó khăn ấy là giá cả đền bù không cân xứng đã dẫn tới những chống đối quyết liệt từ người dân bị cưỡng chế.

Đền bù kiểu bóc lột

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Trung Can không đồng ý với giá đền bù bất hợp lý được con ông là Nguyễn Mai Trung Tuấn kể lại:

-Hiện tại giá đất tại chợ là 23 triệu mét vuông, gia đình cháu là trước mặt chợ nhưng họ chỉ đền 300 ngàn một mét vuông thôi, tổng cộng số đất gia đình cháu có là 120 mét vuông, đó là cái thứ nhứt còn cái thứ hai là gia đình cháu 50 mét đầu phần đất của gia đình cháu tiếp giáp vào khu thương mãi chợ chứ không phải tiếp giáp vào đê bao chống lũ trên cơ sở đó nên gia đình cháu mới chống trả lại lực lượng cưỡng chế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Chị Dương Thị Bích Thủy con của bà Phùng  Thị  Ly hiện vẫn còn bị giam giữ cho biết gia đình đang rất nóng lòng về tình trạng của mẹ:

-Tại vì nó nhốt mỗi người một phòng riêng biệt cho nên bây giờ cũng không biết như thế nào. Tối hôm qua cả gia đình con có tới đồn để mà yêu cầu thả người vì một số người đã được thả tại sao mẹ con không phạm tội gì hết lại không được thả? Mấy ông đó không trả lời được lý do rồi mấy ổng cũng không nói cho biết tình trạng sức khỏe người nhà của cháu trong đó như thế nào, mấy ổng không trả lời được, họ nói theo quy định họ không trả lời được cho nên gia đình rất là rối rắm không biết trong đó như thế nào. Cả đêm qua gia đình ngủ trước cổng công an huyện

” Hiện tại giá đất tại chợ là 23 triệu mét vuông, gia đình cháu là trước mặt chợ nhưng họ chỉ đền 300 ngàn một mét vuông thôi, tổng cộng số đất gia đình cháu có là 120 mét vuông

Nguyễn Mai Trung Tuấn”

Cha của bà Ly nay đã lớn tuổi cũng lo lắng cho con mình qua lời nhắn cảm động:

-Bây giờ trường hợp mấy chú giúp đỡ cho gia đình chúng tôi. Nó đuổi mà không bồi thường nhà cửa từ năm rưỡi nay sống màn trời chiếu đất vì vậy nhờ mấy chú can thiệp giúp đỡ cho chúng tôi.

Khi được hỏi nhà cửa đã bị phá nát mẹ và cậu bị giam, những người trong gia đình không còn chỗ trú thân thì phải làm sao, Chị Thủy cho biết:

-Đêm hôm tụi con ngủ trước cổng công an huyện Thạnh Hóa thì bây giờ cứ vậy ở đó chừng nào thả người thôi. Bây giờ mọi người tự túc ở đậu nhà của dì chứ đâu có nhà cửa gì đâu mà ở chú!

Ông Nguyễn Văn Tạo, chủ tịch UBND Huyện Thanh Hóa cho biết sáng hôm nay 15 tháng 4 Tỉnh Long An sẽ họp báo thông tin cụ thể cho người dân biết sự việc xảy ra. Tuy nhiên cuộc họp báo ấy chưa thấy diễn ra mà người thân của những gia đình bị bắt đã tập trung trước cổng Công an Huyện Thạnh Hóa đòi thả người với những tiếng hô liên tục gây chú ý cho hàng ngàn người dân trong khu vực.

Trước bản án nặng nể do chống người thi hành công vụ gây thương tích nghiêm trọng ba gia đình nạn nhân mất đất sẽ lâm vào cảnh khốn cùng và có thể kết thúc trong vòng tù tội. Dư luận đặt câu hỏi về giải pháp công bằng cho người dân trong các dự án của nhà nước đã và đang gây ly tán cho hàng ngàn gia đình trên khắp nước vẫn không có câu trả lời thỏa đáng. Vụ án Tiên Lãng của ngày hôm qua không làm cho người dân sợ hãi và Thạnh Hóa hôm nay cũng vậy, nó sẽ kéo theo những vụ tương tự khác nếu nhà nước không có một quyết sách công bằng hơn trong việc định mức đền bù giải tỏa.