Việt Nam trong 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới

Việt Nam trong 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới

Tổ chức CPJ cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

Tổ chức CPJ cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

21.04.2015

Việt Nam vừa bị tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) đưa tên vào danh sách 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới, nơi truyền thông bị hạn chế nhiều nhất.

Theo CPJ, nhiều chủ đề bị cấm đề cập trên báo chí chính thống như “hoạt động của các nhà bất đồng chính kiến, sự chia rẽ trong nội bộ Đảng Cộng sản hay vấn đề nhân quyền”.

Ngoài ra, tổ chức có trụ sở ở New York còn cho rằng các blogger độc lập viết về các vấn đề nhạy cảm “đối mặt với tình trạng bị sách nhiễu qua các vụ hành hung theo kiểu đường phố, bị bắt bớ bừa bãi, bị theo dõi và bị tống giam”.

Tổ chức thúc đẩy tự do báo chí trên thế giới còn cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

Trong danh sách công bố hôm nay, ngoài Việt Nam (ở vị trí thứ 6) còn có Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Hàn và Cuba.

Trước đây, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bỏ tù nhiều ký giả nhất trên thế giới của CPJ với ít nhất 16 người còn bị giam giữ.

Việt Nam chưa lên tiếng bình luận về phúc trình mới nhất của CPJ, nhưng Hà Nội từng phản bác các báo cáo tương tự là “thiếu khách quan”, và “không phản ánh đúng thực tế ở Việt Nam”.

Nguồn: CPJ, MOFA

Xem thêm: Việt Nam là một trong 10 nước kiểm duyệt báo chí nhiều nhất thế giới (RFA)

Việt Nam là một trong 10 nước có tên trong danh sách bị coi là kiểm duyệt nhiều nhất thế giới.

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.

VOA Tiếng Việt

21.04.2015

Sau khi phải hủy bỏ kế hoạch kỷ niệm ngày 30/4 tại một căn cứ thuỷ quân lục chiến ở Nam California, người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang California giờ đã tìm được một địa điểm mới, nơi họ có thể treo cờ và hát quốc ca Việt Nam Cộng hòa.

Hàng nghìn người đã bỏ chạy khỏi tổ quốc để tới Mỹ, và nhiều người trong số đó ban đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thuỷ quân lục chiến gọi là Camp Pendleton ở miền nam California.

Ông Jason Johnston, phát ngôn viên của căn cứ này, cho biết các quan chức tai trụ sở của lực lượng thuỷ quân lục chiến Mỹ nói rằng lá cờ của miền nam Việt Nam trước đây không thể được treo lên tại các cơ quan liên bang vì chính phủ Mỹ chỉ công nhận chính quyền Việt Nam hiện thời.

Trong chương trình buổi lễ tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên ban tổ chức lễ kỷ niệm 30/4.

Nay thì buổi lễ sẽ được tiến hành tại một trường trung học ở thành phố Garden Grove vào ngày 25/4 tới đây.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của Ban tổ chức sự kiện này cho VOA Việt Ngữ biết thêm chi tiết:

“Ban tổ chức dời địa điểm về trường trung học Bolsa Grande ở thành phố Garden Grove. Đề tài của chương trình đã đổi từ “Hành trình đến tự do và vươn tới” thành “Ngày tưởng niệm quốc hận năm thứ 40”, năm thứ 40 sau chiến tranh Việt Nam, miền nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản và hàng trăm người tị nạn Việt Nam đã rời Việt Nam để tìm đến bến bờ tự do. Chắn chắn trong chương trình buổi lễ đó tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Ban tổ chức cho biết, dự trù sẽ có từ 5.000 tới 10.000 người tham gia lễ kỷ niệm đánh dấu sự kiện mà nhiều người ở Mỹ gốc Việt hiện gọi là “ngày quốc hận”.

Trong khi đó tại Việt Nam, chính quyền sẽ tổ chức diễu binh và diễu hành với sự tham gia của hàng nghìn người tại TP HCM để đánh dấu ngày được gọi là “thống nhất đất nước”.

Ngoài ra, kế hoạch kỷ niệm được đích thân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt còn bao gồm các hoạt động văn hóa và bắn pháo hoa tại nhiều địa điểm ở nơi từng được gọi là ‘Hòn ngọc Viễn Đông”.

Bình luận về các hoạt động rầm rộ này, luật sư Lê Công Định viết trên trang Facebook cá nhân: “Chiến thắng đồng bào ruột thịt mà diễu binh lớn để làm gì, hoà giải dân tộc kiểu này ư? Nói và làm khác xa nhau bởi suy nghĩ không đúng như lời, nó thể hiện ở hành động”.

Nhà bất đồng chính kiến này viết tiếp: “Cứ gợi nhớ quá khứ đau thương bằng những buổi lễ hống hách như vậy, thì trách chi bên kia luôn nhắc đến ngày ấy như ngày quốc hận. Muốn người khác quên thù hận và gác lại quá khứ, thì chính mình phải vượt qua sự cao ngạo của kẻ chiến thắng”.

Chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được,

Blogger Điếu Cày.

​Trong khi đó, nhận định về tiến trình hòa giải dân tộc, blogger Điếu Cày nói với VOA Việt Ngữ từ Mỹ:

“Cái chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy nó đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được, bởi vì hiện nay họ vẫn cho rằng chỉ có họ mới có quyền lãnh đạo đất nước. Như ông Võ Văn Kiệt đã nói, nước Việt Nam là của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều có quyền đóng góp và tham gia điều hành đất nước. Nước Việt Nam không phải của riêng một cá nhân hay tổ chức chính trị nào.”

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm ngoái, tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao vai trò của Việt Kiều tại Mỹ trong mối quan hệ song phương.

Tổng thống Obama nói cộng đồng này là ‘một trong những nguồn sức mạnh lớn giữa hai nước’ và là ‘chất keo dính bền chặt cho quan hệ của bất kỳ hai quốc gia nào’.

Đáp lại, ông Sang cũng ngỏ lời cảm tạ chính phủ Hoa Kỳ về ‘sự chăm sóc hết sức chu đáo’ đối với người Mỹ gốc Việt hàng chục năm qua.

Trong khi hai nhà lãnh đạo phát biểu, bên ngoài Tòa Bạch Ốc, hàng trăm người gốc Việt hô to các khẩu hiệu phản đối tình trạng vi phạm nhân quyền ở trong nước – một vấn đề ông Sang thừa nhận rằng Hà Nội và Washington vẫn còn nhiều điểm khác biệt.

Trả lời VOA Việt Ngữ khi ấy, nhà lãnh đạo Việt Nam bày tỏ mong muốn rằng người Mỹ gốc Việt sẽ làm “cầu nối” nhằm thúc đẩy mối quan hệ Hà Nội – Washington.

LƯƠNG Y NHƯ… TỪ MẪU

LƯƠNG Y NHƯ… TỪ MẪU

image

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhân dân Miền Nam Việt Nam lâm vào một tâm trạng hoang mang tột độ, mịt mù trước tương lai, lo âu cho cuộc sống hằng ngày. Tại Bệnh viện Vĩnh Long, mặc dầu tôi đã không còn trách nhiệm gì nữa mà anh chị em nhân viên cứ bám lấy tôi để dò hỏi, làm như tôi có phép mầu nhiệm gì để giải tỏa được những thắc mắc đang quay cuồng trong trí óc mọi người.

Những người thay thế tôi cố sửa đổi bộ mặt của bệnh viện bằng cách cho sơn vẽ khắp nơi những khẩu hiệu cách mạng mới, mà đắc ý nhất là câu “Lương Y như Từ Mẫu”, không biết lượm được ở đâu, mà cứ nhan nhản khắp nơi, từ ngoài cổng, cầu thang, hành lang cho đến phòng thay áo, nhà tắm…như cố nhét vào đầu óc mọi người để tranh thủ cái độc quyền đạo đức nhân từ mà chỉ riêng người thầy thuốc cách mạng mới xứng đáng với hai chữ lương y.

image

Một hôm, tôi bước vào phòng trực y tá để thăm hỏi, thì thấy anh chị em đang quây quần tán gẫu, lẽ tất nhiên cũng không ngoài đề tài số một là gạo cơm lương bổng sẽ ra sao. Bên cạnh là bàn thờ tổ quốc, một thứ trang trí mới trong tất cả các phòng, bất luận là chuyên môn hay hành chánh, bên trên vẫn là cái câu nhân từ bất hủ đó. Một nữ hộ sinh chỉ vào khẩu hiệu, ngao ngán bảo với tôi: ” Ông Thầy biết không, chúng em bị một phen mừng hụt vì nó đấy “, rồi lấm lét nhìn ra cửa, nói tiếp: “Chiều nay khi mấy chú cán bộ vào kẻ khẩu hiệu, khi ngang tới chữ “Lương y như…” chúng em mừng quá reo lên vì cứ tưởng là lương y như tháng trước, không ngờ nó lại là như…từ mẫu!”.

Thế rồi vì không hiểu duyên nợ nghề nghiệp gắn liền hay đạo đức cách mạng chu đáo lo cho chúng tôi mà các bậc từ mẫu đó, tuy khoác áo lương y nhưng lại cư xử theo tư cách một… cai ngục, đã đeo đẳng mãi chúng tôi trên suốt đoạn đường dài “cải tạo”.

Sau những năm dài da diết trong rừng sâu Sơn La, trên biên giới Hoa Việt, cuối cùng, vì có chiến tranh với Trung cộng, chúng tôi được áp tải về một trại giam gần Hà Nội, một trại giam “kiểu mẫu”, một thứ “cây kiểng” để chế độ trình diễn chính sách khoan hồng nhân đạo với thế giới bên ngoài. Trong cái tủ kính bày hàng đó, lẽ tất nhiên săn sóc sức khỏe cho tù là “ưu tư hàng đầu” của Ban Giám thị và vị lương y phải được đóng vai kép chính.

image

Trại Nam Hà, cách Chùa Hương không xa, được thời cuộc nâng lên hàng danh lam thắng cảnh để cho quan khách ngoại quốc lui tới viếng thăm, từ Hội Ân Xá Quốc Tế, báo chí Tây phương, các nghiệp đoàn cộng sản Pháp cho tới cả “đồng chí” Chandra Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới v.v… Từ trại nhìn ra, cảnh đẹp như tranh, xa xa những núi đá vôi nho nhỏ, đủ hình đủ dạng, nổi lên trên một mặt nước phẳng lì thơ mộng trông như Vịnh Hạ Long. Cái mặt nước phẳng lì hiền hòa đó, không ai ngờ là một thứ hàng rào thiên nhiên vô cùng độc hại, là những đầm sình lầy cát lở đã nuốt sống biết bao là tù nhân trốn trại.

Bệnh xá nằm dưới chân đồi, trước sân có hòn non bộ với Lã Vọng ngồi câu, bên dưới là bể cá vàng lừ đừ lội nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thờ ơ chán ngán, trên mái hiên treo đầy lồng chim đủ màu đủ loại, suốt ngày hót líu lo như để mỉa mai tâm trạng héo hắt tơi bời của chúng tôi.

Tất cả cái thú xa xỉ trưởng giả đó đã được đánh đổi bằng xương thịt của chúng tôi qua sự cắt xén tiền thực phẩm vốn đã vô cùng đói rách. Cá thia vàng, chim hoàng yến, chim họa mi tung tăng bay nhảy, đã được mấy ngàn cặp mắt tù sâu hoắc và phờ phạt vì thiếu ăn, thèm thuồng nhìn qua giá trị của mấy chục gờ ram prôtêin mà vô cùng tiếc rẻ, vì nó đang nằm trong tầm tay mà lại ngoài tầm… bao tử. Cây kiểng trước sân được chăm sóc tỉ mỉ mà mỗi lần gọt tỉa là một dịp cho chúng tôi lượm lá rụng nấu thành một bữa rau để dành giựt nhau, tuy vừa dai vừa đắng nhưng màu đỏ của nước lá dền cũng cho chúng tôi ảo tưởng bổ dưỡng của chất sinh tố B12. Cái quang cảnh thần tiên của bệnh xá đó đã được lên hình trên báo Liên Xô và được tô điểm đến độ mỗi lần thuyết trình cho phái đoàn ngoại quốc, viên giám đốc trại cũng không bao giờ quên luyện giọng một cách thành thực: “Tôi chỉ mơ ước được sống như những trại viên (ý nói từ chúng tôi)”. Tiếc thay!!!

Đến đây tôi mới hiểu tại sao anh em tù Nam Hà gọi cán bộ bằng “Chèo” (phường chèo), trắng trợn đến độ ban giám thị phải gọi lên chỉnh: “Cán bộ thì có nam có nữ, cớ sao các anh lại gọi bằng “chèo đực, chèo cái”, nghe chẳng “văn hóa” tý nào”.

image

Trại có một mật độ chuyên viên y khoa cao nhất thế giới, trong số hai ngàn người (tù) thì có đến hai mươi bác sĩ (cũng tù). Tất cả đều phải lao động khổ sai như nhau, đập đá, đốn củi, ngâm mình dưới nước để kéo cày thay trâu…, trong khi trên bờ đê, cán bộ cầm cái roi dài quất qua quất lại khiến cho tù ở dưới ruộng không hiểu là mình đang còn ở kiếp người hay đã đầu thay qua kiếp khác làm trâu bò.

Phần điều trị được nhường lại cho những người ngoài ngành y tế được lựa chọn theo tiêu chuẩn hạnh kiểm và mức độ hợp tác. Tuy nhiên, bất đắc dĩ bệnh xá phải giữ lại một vài bác sĩ tù để vừa giúp đỡ trong việc chuyên môn, để đọc các tên thuốc bằng ngoại ngữ, vừa để làm kiểng cho phái đoàn ngoại quốc xem, vừa để dạy cho các bác sĩ (không phải y khoa) cách mạng ống nghe, cách bắt mạch v.v…

Người được chọn ở lại bệnh xá là một đồng nghiệp đàn anh, từng tốt nghiệp đại học Paris khi tôi chưa vào trường y khoa, từng giữ nhiều chức vụ điều khiển trong ngành y tế miền Nam, nay đã lớn tuổi được anh em rất nể nang nên tôn làm “đại ca”. Đại ca còn có thêm biệt hiệu nữa là “Vua cháo heo” vì thỉnh thoảng được anh em nuôi heo cho cán bộ, thương tình làm ngơ để cho múc một lon cháo heo (dĩ nhiên là béo bổ hơn cơm tù ) rồi vụt chạy cho cán bộ khỏi thấy. Thế là tối hôm đó được một đêm huy hoàng. Sau khi chiếc khóa sắt nặng nề rột rạt khóa kín cửa chuồng lại, chúng tôi bao quanh đại ca, bên cạnh lon cháo heo bốc khói thơm phức, vừa xem đại ca lim dim đôi mắt thưởng thức từng hạt bo bo cháy khét mà tưởng chừng như ăn trứng caviar, vừa để đại ca kể lại cho đàn em nghe những ngày vàng son còn du học trên đất Pháp, những đêm liên hoan trên đường phố Montmartre Paris…

image

Chỉ huy bệnh xá là một bác sĩ ngành công an, luôn luôn nhìn chúng tôi bằng cặp mắt nghi ngờ đầy mặc cảm, có lẽ đã đọc được trong phiếu lý lịch của chúng tôi một tội danh lạ đời: “Can tội: bác sĩ”. Một hôm tịch thu được hộp dụng cụ tiểu phẫu trong đó có cây kềm Michel giống cái kéo, dùng để gỡ các móc da, bác sĩ loay hoay mãi không biết làm sao, cuối cùng chê: “Kéo với kiết, thế này thì làm sao cắt được, dốt thế!”. Mắt bác sĩ đã quen nhìn những lọ Pénicilline Trung cộng làm bằng một thứ chai đục ngầu, bọt lỗ đỗ, nút lọ được khằn kín bằng sáp như thuốc “cao đơn hoàn tán”, nên khi gặp một lọ Pénicilline bào chế ở miền Nam, rất kinh ngạc vì kỹ thuật sai biệt, và khi thấy trên lọ mấy chữ: “Laboratoires Ténamyd Thủ Đức”, bèn mừng rỡ khoe với chúng tôi: “Thuốc của Đức đấy, xã hội chủ nghĩa anh em ta đấy”.

image

Dưới trướng của vị luơng y này là một ban chuyên môn (không phải y khoa) gồm đủ thành phần. Một anh có hoa tay đục đẽo, chạm trỗ, biến các lon sữa Guigoz thành những hộp thuốc lá, cái lược, cái vòng, tinh vi như những nữ trang thứ thiệt để lương y đem về tặng thân nhân hoặc… đổi chác. Một anh ngành quân cụ lo bảo trì chiếc xe đạp “hữu nghị” mà người cỡi cũng hãnh diện như lái chiếc xe Mercedes vậy. Một họa sĩ có biệt tài biến hóa những gương mặt trong gia đình lương y từ một tấm ảnh nhăn nheo vàng khè thành những chân dung sạch sẽ khôi ngô, và lương y cũng không dấu được sự hài lòng khi thấy khoác lên ông cụ thân sinh chiếc khăn nhiễu, cái áo gấm, trông rất “quan “, còn phu nhân và ái nữ cũng được mặc chiếc áo dài mà ngoài đời họ chưa bao giờ sờ tới. Riêng bản thân lương y, khi đề nghị mặc bộ âu phục cho oai thì lưỡng lự hồi lâu rồi buồn rầu trả lời: “Chớ! không nên, nhỡ trên biết được thì khốn”, nên đành chấp nhận bộ đồng phục công an vậy.

Về phần điều trị, có lẽ Đảng đã sáng suốt thấy rõ sự lúng túng của lương y, nên chỉ thị cho quốc doanh cung cấp dược phẩm dưới hình thức “viên” hết sức đơn giản, hễ đau ở bộ phận nào thì đã có những viên tương ứng: viên gan, viên dạ dày, viên phổi, viên tim, viên xương, viên khớp v.v… Ban đêm nếu có tiếng kêu cứu từ các phòng vọng ra, thê thảm xé nát sự im lặng nặng nề của trại tù về đêm, rồi cứ lặp đi lặp lại mãi như dội qua vách núi, cho đến khi lương y khệnh khạng đến, cho ống nghe qua một khe nhỏ để khám bệnh nhân ở trong phòng rồi hoặc phát cho vài “viên”, hoặc bắt bệnh nhân dán mông đít vào song cửa sắt chích cho một mũi thuốc để chờ tới sáng. Cũng trong hoàn cảnh đó, một Thượng Nghị Sĩ nổi tiếng ở Sài gòn, bị trúng độc vì ăn sắn sống, trộm được lúc ban chiều khi đi lao động, đã phải chờ mãi cho tới sáng hôm sau, khi được đưa ra khỏi phòng thì đã quá trễ.

image

Một buổi chiều nọ, khi đi lao động về, anh em ngạc nhiên chứng kiến một hiện tượng lạ thường: trại được sơn phết lại trắng xóa, trên vách tường lại vẽ thêm những bông hoa màu mè sặc sỡ, có lẽ vì cây cảnh thật đã bị tù bứt lá bẻ hoa không đủ đem lại vẻ vui tươi cho nhà tù. Giữa sân lại có cảnh nhóm chợ trời, cán bộ bày bán thịt tươi, rau sống cho anh em tù nào còn dấu đút được chút tiền còm tung ra mua ăn bồi dưỡng. Những người giàu tưởng tượng cho truyền ngay một câu sấm, không biết có phải của Trạng Trình không:

“Bao giờ tường đá nở hoa,
Nhà tù nhóm chợ thì ta…ra về”

Về đâu chẳng thấy nhưng truớc mắt là phải ráo riết chuẩn bị doanh trại để đón tiếp một phái đoàn ngoại quốc quan trọng, một công tác làm đảo lộn hẳn nếp sống hằng ngày, để được đền bù bằng một chút an ủi mơ hồ là còn được người đời biết tới.

Ngay tối hôm đó, một số nhạc cụ kể cả cây dương cầm nặng nề được hì hục chở về từ Hà Nội để cho ban nhạc tha hồ tập dượt mãi tới khuya . Tiếng nhạc vang lên từ một góc núi làm khuây khỏa trong chốc lát những u uẩn của tù nhân. Thỉnh thoảng một vài bản “nhạc vàng” được chơi lén, tiếng réo rắc của “Diễm Xưa”, “Nắng chiều” gợi lên một nỗi nhớ nhà vô biên, mà lỡ cán bộ có hỏi tới thì anh em đã sẵn câu trả lời: “Nhạc Cuba đấy”, thế là yên.

Căn phòng chật chội hôi hám trong đó hằng mấy trăm mạng người chen lấn giành giựt từng ly, từng phân trên cái tiêu chuẩn hai bàn tay cho mỗi người, nay được thu dọn thành ba mươi chỗ nằm rộng rãi tươm tất, với chiếu hoa mới toanh, chăn len thơm phức, sắp xếp thẳng tắp như trong một quân trường.

image

Một cảnh trong phim Ride The Thunder về trại tù cải tạo Nam Hà.

Từ mờ sáng, ngoài thành phần ở lại để trình diễn, còn tất cả phải lũ lượt kéo nhau thành từng đàn qua các đường mòn khúc khuỷu để vào trốn sâu trong núi. Các anh em bệnh nặng thì được cõng, gánh hoặc khấp khểnh lết đi thật xa để khuất khỏi tầm mắt trong sáng của người ngoại quốc cái hình ảnh vẩn đục thê thảm đó.

Bệnh xá này nhường lại cho những con bệnh mới, không có bệnh nhưng có một thể xác chưa tàn tạ nhờ có thăm nuôi, lúng túng học thuộc lòng những căn bệnh thời đại do “tàn dư Mỹ Ngụy để lại”: sơ gan vì rượu chè, lên máu vì nhậu nhẹt, nghẽn mạch máu vì xì ke, ma túy… Gọn gàng sạch sẽ trong những bộ đồ ngủ mới toanh, trên mỗi đầu giường có chưng thêm một hộp sữa cũng “kiểng” như bệnh nhân, nghĩa là sẽ được thu hồi ngay sau khi phái đoàn ra về.

Ban thể thao, bóng chuyền, bóng bàn, trong đồng phục gọn ghẽ vui mắt, ra sức “tranh thủ” để được bồi dưỡng thêm mấy củ khoai. Từ sáng sớm ban nhạc đã inh ỏi trổi lên những bản nhạc hùng khối cộng sản, gây không khí vui nhộn làm cho quan khách có cảm giác là đi chơi chợ phiên hơn là đi thăm nhà tù.

image

“Ride the Thunder”: Communist re-education camp

Không hiểu là một phần thưởng hay là một cực hình tủi nhục cho những ai được chọn để ngồi ăn một bữa cơm “xoàng” mà trong suốt cuộc hành trình cải tạo họ chưa bao giờ được nếm. Thực đơn, được dán ở cửa, gồm có cơm trắng (một hiếm hoi trên đất Bắc) và thịt lợn, rau muống (một điều lạ trong nhà tù). Bữa cỗ được diễn tiến theo một lịch trình khắt khe: ngồi vào bàn khi phái đoàn rời Hà Nội (8 giờ sáng), cầm đũa khi họ đến cổng trại (10 giờ sáng) để cho bao tử cồn cào tiết chất chua, nước mắt nước mũi chảy dài vì ngỡ ngàng trước mấy món ăn thơm phức béo bổ, cứ thế mà chịu đựng cái cực hình sinh lý đó suốt mấy tiếng đồng hồ, hai tay thì cứ tuyệt vọng vùng vẫy trong một thứ còng vô hình cho đến khi bóng dáng của phái đoàn cứu tinh xuất hiện ở ngưỡng cửa mới được lệnh cho thức ăn vào miệng (1 hoặc 2 giờ trưa).

Phần trình diễn của bệnh xá được mở màn khi phái đoàn đặt chân vào trại. Bác sĩ trưởng, trong bộ áo bờ lu lụng thụng, chiếc nón vải che khuất chân mày, trịnh trọng đặt ống nghe vào bệnh nhân ngồi trước mặt, rồi cứ giữ tư thế đó như một pho tượng sáp cho tới khi phái đoàn đi qua. Lẽ cố nhiên “đại ca” của chúng tôi cũng có mặt tại bệnh xá với một chỉ thị nghiêm khắc: không được nói tiếng ngoại ngữ và cố tránh mặt phái đoàn chừng nào hay chừng đó. Một nhà báo Pháp hỏi đại ca: “Anh biết tiếng Pháp không?”. Vì đã được dặn trước, đại ca phải chờ cho thông dịch viên Bộ Nội vụ dịch xong để chứng tỏ rằng mình không hiểu được câu hỏi, rồi mới trả lời “Không”. Nhà báo hỏi tiếp: “Anh tốt nghiệp ở đâu?”. Câu hỏi bất ngờ này không được ban giám thị cho học tập trước, nhưng cũng vẫn chờ được dịch xong như thường lệ, đại ca mới trả lời: “Y khoa Đại học Paris”. Nhà báo bàng hoàng, ngạc nhiên như khám phá được một điều gì bí ẩn, một cái gì bất thường, tò mò hỏi tiếp thì được biết vợ anh là người Pháp, hiện sinh sống ở Paris, nên mừng rỡ chụp cho một tấm hình rồi ân cần thêm: “Tuần sau vợ con anh sẽ nhận được”, lòng hân hoan phấn khởi vì vừa làm được một nghĩa cử trọng đại.

image

Chưa kịp mừng thì tai họa đến ngay. Sau khi phái đoàn ra về, thì ông bạn già của chúng ta, nạn nhân của lòng vị tha nhân đạo kiểu Tây phương, bị bác sĩ trưởng bệnh xá và ban giám thị gọi lên mắng nhiếc thậm tệ, bắt kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, để rồi, bắt đầu từ hôm sau, hằng ngày phải ra lao động, đập đá, kéo cày, ngâm mình dưới ruộng như hàng ngàn, hàng vạn anh em tù khác. Ngày tôi về, đại ca còn ở lại, tiễn đưa tôi bằng cặp mắt đã hết nước mắt và hẹn tôi ở… kiếp sau!

Dư âm nặng nề của cuộc viếng thăm và vì tấn tuồng đóng vụn, làm cho cơn lôi đình của lương y đã trút hết lên đầu chúng tôi, nay không còn khoác áo Từ Mẫu nữa mà lại đội lốt… Ác Mẫu.

Phương Vũ Võ Tam Anh

Mặc quân phục VNCH đi tuần hành bị cáo buộc “gây rối”

Mặc quân phục VNCH đi tuần hành bị cáo buộc “gây rối”

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Một thanh niên mặc quân phục VNCH đi tuần hành cùng với hàng trăm người vì cây xanh ở Hà Nội bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam với cáo buộc “Gây rối trật tự công cộng”.

Nguyễn Việt Dũng, tức facebooker Dũng Phi Hổ (bên trái, mặc quân phục VNCH) cùng nhóm bạn đi tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội hôm 12/4/2015. (Hình: FB Nguyễn Lân Thắng)

Theo một số trang facebook, gia đình của thanh niên tên Nguyễn Việt Dũng, sinh ngày 19/6/1986, có bút hiệu và trang Facebook là “Dũng Phi Hổ” đã nhận được hôm Thứ Hai 20/4/2015 giấy thông báo “bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự”. Anh bị cáo buộc là “đã có hành vi gây rối trật tự công cộng tại khu vực Hồ Hoàn Kiếm”.

Bản thông báo được công an quận Hoàn Kiếm đề ngày 13/4/2015 gửi cho công an xã Hậu Thành huyện Yên Thành Nghệ An, tức nơi Nguyễn Việt Dũng sống với gia đình cha mẹ, nhưng đến ngày 20/4/2015 gia đình tới công an xã hỏi mới được cho biết.

Ngày Chủ Nhật 12/4/2015, Nguyễn Việt Dũng cùng với 4 bạn khác mặc bộ quần áo đen  trên lưng có hàng chữ viết bằng Anh ngữ “People should not be afraid of their governments. Governments should be afraid of their people” được dịch lại là “Nhân dân đừng sợ nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền phải sợ Nhân dân”. Phía trên ngực áo có logo của quân đội VNCH.

Riêng Nguyễn Việt Dũng thì còn mặc bộ quân phục có gắn các phù hiệu giống như của Lực Lượng Đặc Biệt thuộc quân đội VNCH. Khi cuộc tuần hành chấm dứt, Dũng và nhóm bạn chuẩn bị về thì bị bắt.

Cả nhóm 5 người của Nguyễn Việt Dũng đi biểu tình tuần hành vì cây xanh rất ôn hòa như tất cả những người khác, không thấy có hành động gì gọi là “gây rối trật tự công cộng” như các video clip và hình ảnh phổ biến trên internet qua youtube và các trang mạng xã hội chứng tỏ, khác với sự quy chụp của công an tại quận Hoàn Kiếm.

Lưng áo có hàng chữ với nội dung nói “Nhân dân đừng sợ nhà cầm quyền quyền. Nhà cầm quyền phải sợ Nhân dân”. (Hình: FB)

Theo tin tức trên Facebook Mộc Lan, trừ Nguyễn Việt Dũng bị giam giữ và truy tố, 4 thanh niên khác đã được thả ra vào đêm 14/4/2015. Hiện trang Facebook “Dũng Phi Hổ” đã bị khóa lại, không thể truy cập.

Theo Facebooker Mộc Lan, Nguyễn Việt Dũng là một người học rất giỏi thời trung học, từng đoạt giải ba cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” năm 2004 và năm này đậu vào Đại học Bách Khoa Hà Nội với điểm số 29/30, đứng đầu tỉnh Nghệ An lúc đó.

“Trong thời gian học tập tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, Dũng đã nhìn thấy và tiếp xúc với rất nhiều mặt trái của cuộc sống, cũng như những bất công thối nát của xã hội cộng sản. Qua đó, Dũng cảm nhận sâu sắc được nỗi thống khổ của người dân Việt Nam. Chính những trăn trở về nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản, đã trở thành động lực để Dũng tìm hiểu những lối thoát giúp cho dân bớt khổ.”

Hàng trăm người dân Hà Nội biểu tình tuần hành quan Hồ Gươm ở Hà Nội ngày 12/4/2015. (Hình: FB 6700 người vì 6700 cây xanh)

Facebooker Mộc Lan viết như vậy và cho hay “Sau một thời gian tìm hiểu về các thể chế và pháp luật trên thế giới cũng như trong nước, cách đây hơn 4 năm Dũng chính thức dấn thân vào con đường đấu tranh, và tranh đấu mạnh mẽ hơn trong khoảng thời gian từ 2 năm trở lại đây. Trong hành trình tham gia cùng nhiều người thúc đẩy tự do, dân chủ cho Việt Nam, Nguyễn Viết Dũng đã tìm hiểu về nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, và nhanh chóng nhận ra những ưu điểm, sự văn minh, nhân bản của thể chế Cộng Hòa. Từ đó Dũng khát khao xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng văn minh, nhân bản theo thể chế Cộng Hòa. Để đạt được mục tiêu này, Dũng tập trung đấu tranh đòi Đa đảng, Tam quyền phân lập tại Việt Nam.”

Chính vì thế “Ngày 30/4/2014 lá cờ Việt Nam Cộng Hòa (cờ vàng ba sọc đỏ) lần đầu tiên được treo trên nóc nhà Dũng tại Nghệ An. Ngay sau đó Dũng bị 5 công an đến bắt về đồn. Từ lúc đó trở đi Dũng và gia đình thường xuyên bị sách nhiễu, nhưng Dũng vẫn kiên trì với lí tưởng của mình… Ngày 2/4/2015: Dũng chính thức thông báo trên Facebook về việc thành lập Đảng Cộng Hòa và nhóm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời, Dũng tạm đảm đương trách vụ Chủ tịch lâm thời của Đảng Cộng Hòa. Bên cạnh đó, Dũng cũng là Admin của 2 hai trang Facebook “Đảng Cộng Hòa” và “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”.

Khi có sự tham dự của nhóm Nguyễn Việt Dũng trong cuộc tuần hành vì cây xanh, trên một số trang Facebook  và mạng xã hội đã có nhiều tranh luận với ý kiến khác nhau về sự tham dự của họ.

“Nếu họ cố tình đưa Dũng ra tòa theo điều 245, thì sẽ có hàng chục người có mặt tại hồ Hoàn Kiếm hôm đó ra làm chứng rằng Dũng không có hành vi gây rối trật tự công cộng.” Theo luật sư Nguyễn Văn Đài. (TN)

CỐ ĐÔ HUẾ

CỐ ĐÔ HUẾ

VBS Television Canada đã post một chương trình nói về lich sử và mọi sinh hoạt của Huế.Cố đô Huế rất phong phú.Huế trải qua bao thăng trầm của lịch sử     vẫn bình lặng ít đổi thay như các thành phố khác. Tuy nhiên có một điểm nhỏ làm giảm cái hay của thiên phóng sự, là người dẫn chương trình không phải người Huế nên khán thính giả mất một dịp được nghe lối nói truyền cảm, nhỏ nhẹ và rất dễ thương của giọng Huế chính thống…

Cố Đô Huế 1 http://www.youtube.com/embed/dO_xfFjh4iE

Cố Đô Huế 2 http://www.youtube.com/embed/yYgSr1RIOtA

Cố Đô Huế 3 http://www.youtube.com/embed/-ZTWHpurTeE

Cố Đô Huế 4 http://www.youtube.com/embed/Oz1Z04iN17k

Cảm tưởng của anh chị em Homeless được vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican

Cảm tưởng của anh chị em Homeless được vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican

Balan cư trú ở cái lườn của con đường chính dẫn vào Quảng Trường Thánh Phêrô (Via della Conciliazione). Ông đã sống 20 năm trên hè phố và đang ở vào tuổi 51. Ông sống ở đây khoảng 7 tháng rồi. Hôm Thứ Năm, 26/3/2015, ông cũng thuộc về 150 khách vô gia cư được mời vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican lần đầu tiên, nhất là nhờ đó còn được trực diện với Đức Thánh Cha và bắt tay ngài nữa: “Đó là một kinh nghiệm mà tôi sẽ mang trong mình cho đến ngày cuối đời của tôi… Tôi cảm thấy sung sướng suốt đêm hôm qua”.

Ngày hôm sau, nhóm vô gia cư của ông chẳng làm gì ngoài việc nói chuyện với nhau về ngày đặc biệt hôm qua. Đại diện cho họ là chính ông vì kiến thức của ông về người Ý. Ông cho biết:

“Chúng tôi được trong các nơi Bảo Tàng Viện rất lâu… Những nơi ấy rất ư là đẹp! Sau cùng chúng tôi đến Nguyện Đường Sistine rồi chúng tôi được bảo ngồi xuống. Chúng tôi nghĩ rằng sẽ có Lễ lậy, cầu nguyện gì chứ, một việc gì đó giống như vậy…. Thế nhưng, từ bên trong cánh cửa, vị phát chẩn Don Corrado (Đức Tổng Giám Mục Konrad Krajewski) xuất hiện và bên cạnh vị này là Đức Giáo Hoàng. Trời đất ơi – My goodness!”

“Chúng tôi đã vỗ tay vang lừng. Ngài đã chào chúng tôi; chúng tôi đã cám ơn ngài. Sau đó chúng tôi cùng nhau đọc ‘Kinh Lạy Cha’. Đức Giáo Hoàng thậm chí còn cho chúng tôi được chụp hình với ngài. Do đó có nhiều tấm hình chụp và Đức Don Corrado đã hứa mang lại cho chúng tôi. Thế rồi Đức Giáo Hoàng đã chào từng người chúng tôi. Ngài đã bắt tay tất cả 150 người bạn có biết không? Trời ơi là trời – My goodness…”

Khi được bắt tay Đức Giáo Hoàng, “tôi đã nói cùng ngài rằng: Xin cám ơn Đức Giáo Hoàng. Con chúc Đức Giáo Hoàng rất nhiều điều tốt đẹp, nhất là được mạnh khỏe. Ngài đã mỉm cười và nói ‘cám ơn anh, cám ơn anh…'”

Được mạng điện toán toàn cầu Zenit hỏi “bạn có cảm động hay chăng?”, câu trả lời lập tức được phát biểu rằng “làm sao lại không cảm động chứ. Tôi cũng đã chảy nước mắt ra. Các bạn của tôi cũng khóc, cho dù bấy giờ họ có vẻ khô cằn cứng cỏi… Tôi đã khóc vì tôi biết tôi được may mắn, ở chỗ không phải hết mọi người đều có thể gặp được Đức Giáo Hoàng sát ngay bên, được hôn tay của ngài, được ôm lấy ngài…”

“Tôi liền gửi một lời nhắn cho đứa con trai 23 tuổi của tôi  đang sống và làm việc ở Balan, và tôi nói với cháu rằng: ‘Eric ơi, bố đã được gặp Đức Giáo Hoàng! Bố đã sung sướng khóc … Có ngày bố sẽ gửi cho con các tấm ảnh chụp nhé!”

“Tôi còn rất nhiều điều phải nói, phải nhớ…”. Người đại diện nhóm anh chị em vô gia cư phát ngôn này cho biết ông vẫn còn giữ tấm vé mời thăm Bảo Tàng Viện Vatican ở trong túi: “Tôi muốn giữ nó như là một kỷ niệm…” Thậm chí ông xin lỗi không dám mang nó ra khoe với người phỏng vấn: “Tôi sợ rằng nó bị hư hại”.

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu thương chúng tôi. Ngài đang thực hiện nhiều sự cho chúng tôi: nào là phòng tắm, nào là hớt tóc, nào là dù che mưa, nào là thăm bảo tàng viện v.v. Tôi cũng nghe thấy rằng ngài đang muốn có một chiếc xe chuyên chở nhỏ để lo cho những ai cần chăm sóc sức khỏe. Chúng tôi thực sự là sung sướng về hết mọi sự”.

Liên quan đến phòng tắm: “Chúng tôi may mắn có được những phòng tắm này. Hằng ngày chúng tôi được tắm rửa và đi đây đó một cách lịch sự. Chúng tôi không còn cảm thấy xấu hổ bởi người ngợm xông mùi nữa”.

Về vấn đề hớt tóc: “Thật vậy, tôi đã đến hớt tóc Thứ Hai vừa rồi. Giờ đây tôi sẽ đến đó một lần nữa, vì tôi muốn tóc tôi trọc lóc. Chẳng bao lâu nữa sẽ bắt đầu nóng rồi… Thế nên tôi sẽ cạo trọc vì tôi không cần mua lược chải”.

Tất cả những điều ấy “thực sự là những gì quan trọng đối với chúng tôi, chúng đều hữu ích. Đức Giáo Hoàng hiểu được điều ấy. Ngài yêu thương chúng tôi”.

“Mỗi một buổi sáng chúng tôi giục nhau rằng ‘chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Vào lúc 9 giờ sáng, các nữ tu đến với chúng tôi, đôi khi có cả 1 vị linh mục nữa, và họ giúp chúng tôi cùng nhau cầu nguyện. Chúng tôi bao giờ cũng cầu cho Đức Giáo Hoàng, cho sức khỏe của ngài, vì chúng tôi muốn ngài sống lâu dài. Dù sao chúng tôi cũng cầu cho tất cả mọi vị linh mục cũng như cho dân chúng… cho người tốt lành, những người làm lành cho chúng tôi. Nhiều lắm…”

Xin xem một đoạn video clip về cuộc viếng thăm của 150 anh chị em homeless ở Rôma vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican Thứ Năm 26/3/2015: http://www.romereports.com/pg160864-150-homeless-get-exclusive-tour-of-the-sistine-chapel-en

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp

Cảm tưởng Homeless thăm Bảo Tàng Vatican

“Đó là một kinh nghiệm mà tôi sẽ mang trong mình cho đến ngày cuối đời của tôi… Tôi cảm thấy sung sướng suốt đêm hôm qua”.

Theo nhau leo rào vào công viên nước tắm “chùa”

Theo nhau leo rào vào công viên nước tắm “chùa”

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Hàng ngàn người đã chen nhau vào tắm “chùa” tại một công viên nước ở Hà Nội, thậm chí còn leo hàng rào sắt, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng cho bản thân.

Thanh niên nam nữ theo nhau trèo hàng rào sắt để vào tắm “chùa”. (Hình: VNExpress)

Nhiều báo ở Việt Nam cho hay buổi sáng ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Tư, 2015, Công viên nước Hồ Tây thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã “mở cửa miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ sáng để tri ân khách hàng nhân kỷ niệm 15 năm thành lập.”

Vì người đến tắm “chùa” quá đông, đến khoảng 9 giờ sáng thì hàng ngàn người đã phải xếp hàng dài đợi tới phiên mình được vào hồ bơi. Thay vì xếp hàng, rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, đã leo hàng rào sắt để vào bên trong, khi thời gian miễn phí đã hết, dù hàng rào sắt có nhiều móc nhọn.

Vì số lượng người quá đông quá sức chứa của hồ, người ta thấy hồ tắm đầy những người đứng san sát với nhau trong nước, không còn chỗ để bơi.

“Đoán trước tình hình, công viên đã nhờ gần 100 người thuộc trật tự phường, dân quân tự vệ để đảm bảo trật tự. Lực lượng bảo vệ của công viên gồm 70 người đã bắc loa thông báo với người dân không trèo rào nguy hiểm, hướng dẫn cho người dân đi theo trật tự. Tuy nhiên, do lượng người quá đông nên tình trạng lộn xộn vẫn diễn ra,” VnExpress kể.

Hàng ngàn người chờ phía ngoài công viên nước Hồ Tây vì cái tin cho tắm miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ ngày Chủ Nhật 19/4/2015. (Hình: VnExpress)

Bất cứ cái gì miễn phí ở Việt Nam cũng dễ dẫn đến cảnh xô đẩy, chen lấn, tranh cướp mà người ta thấy xảy ra hàng năm khi diễn ra các lễ hội theo tin các báo trong nước vẫn đưa. Thậm chí dẫn đến đánh nhau vỡ đầu sứt trán.

Cuối Tháng Mười, 2013, một nhà hàng Nhật Bản ở phố Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, quảng cáo mời ăn sushi miễn phí ngày khai trương 24 Tháng Mười. Họ chỉ mời ăn giới hạn buổi sáng và chiều là 180 người, buổi tối là 280 người nhưng hàng ngàn người đã đến đây, đứng tràn cả xuồng lòng đường.

Những người vào được phía trong thì “chen lấn, xô đẩy chỉ mong giành được phần ăn cho mình. Thậm chí, một số khách sẵn sàng nhảy vào bếp lấy thức ăn trong đó, rồi đứng ăn luôn, không cần phục vụ,” theo bản tin VietNamNet.

VietNamNet nói rằng, “Nhiều người lấy cả khay đồ ăn nhưng chỉ ăn một miếng rồi bỏ, trong khi nhân viên cửa hàng phải ra chợ mua gấp để phục vụ khách. Sự việc đã gây xôn xao trong dư luận. Hành động chen lấn, xô đẩy của những người tham gia sự kiện được xem là thiếu văn hóa và rất đáng xấu hổ.”

Buổi chiều ngày 12 Tháng Chín, 2013, tòa đại sứ Hòa Lan tổ chức phát miễn phí 3,000 áo mưa cho người qua đường tại cửa của UBND quận Ba Đình, Hà nội.

Tuy nhiên, theo báo chí tường thuật “chỉ vài phút sau khi đại diện người Hà Lan có những lời chúc tốt đẹp tới người dân xung quanh, không khí thay đổi nhanh chóng và trở nên hỗn loạn. Mọi người tranh giành nhau, ai cũng cố gắng lấy nhiều nhất những món quà thiện chí về tay mình. Có người còn trèo lên cả sân khấu để cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.”

Hồ tắm nghẹt người, không còn chỗ bơi. (Hình: VnExpress)

Theo VietNamNet, “Có những lúc, diễn giả gần như phải ‘hét’ lên: ‘Đề nghị mọi người không tranh giành, nếu không, chúng tôi sẽ dừng chương trình ngay lập tức!’ Chỉ 35 phút sau khi chương trình bắt đầu, 3,000 chiếc áo mưa đã được lấy sạch. Sự kiện này đã để lại những hình ảnh rất xấu của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.”

Chỉ ít ngày trước đó tức ngày 16 Tháng Mười, 2013, “Anh Vũ Trường Chính (42 tuổi, ngụ quận Phú Nhuận, Sài Gòn – là giám đốc chi nhánh tổng công ty Xây Dựng Miền Nam). Khoảng 9 giờ 15 sáng 16 Tháng Mười, anh đi xe máy về hướng quận 1, mang theo 50 triệu đồng (tiền mệnh giá 500.000 đồng) bỏ vào túi quần bên phải cùng với chiếc ĐTDĐ iPhone 5, đến ngân hàng để nộp vào tài khoản.”

“Trong lúc anh đang chờ đèn đỏ ở giao lộ Bà Huyện Thanh Quan-Võ Văn Tần thì bất ngờ từ phía sau, anh bị 4 thanh niên thò tay móc cọc tiền. Mặc dù vậy, anh Chính vẫn cố gắng quăng xe chạy theo giằng co bọc tiền với tên cướp. Trong lúc hỗn loạn, bọc tiền rớt xuống đường bay tung tóe. Thấy vậy, nhiều người đi đường không giúp đỡ anh còn dừng lại nhặt tiền, lên xe chạy mất. Nạn nhân chỉ gom được 30.5 triệu, còn 19.5 triệu đồng bị người đi đường lấy mất,” theo VietNamNet. (TN)

Về phát biểu của PGS TS Vũ Quang Hiển: Một “truth denier” của Việt Nam

Về phát biểu của PGS TS Vũ Quang Hiển: Một “truth denier” của Việt Nam

Nguyễn Văn Tuấn

Các bạn phải chuẩn bị tinh thần! Phải bình tĩnh để đọc phát ngôn sau đây: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. […]Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. […] Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy” (1). Nếu có thì giờ, nên nghe cái tape phỏng vấn và những phát biểu của ông thì sẽ rõ hơn, nhưng ý chính là như trích dẫn trên. Ai nói thế? Xin thưa, đó là Tiến sĩ Vũ Quang Hiển, phó giáo sư, sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội (2). Xin nhắc lại để khỏi nhầm lẫn: sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhìn qua lí lịch khoa học (2) thì thấy đây là một sử gia rất tiêu biểu của “triều đình” (còn gọi là sử gia cung đình). Tôi nghĩ chỉ riêng câu nói đó đã đủ để ông có thêm một chức danh nói theo tiếng Anh là “truth denier”, tức là kẻ phủ nhận sự thật. Rất nhiều người, không phải là sử gia, có thể thấy ngay rằng ông đã sai lầm. Tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Nhục hình, có khi tra tấn đã xảy ra. Có nhiều người chết trong các trại tù cải tạo. Tất cả những điều đó là sự thật. Ấy thế mà ông phó giáo sư sử học lại phủ nhận thì chúng ta có lí do để chất vấn tính trung thực của ông ấy, dù là tính trung thực của người làm khoa học xã hội.

Có bao nhiêu người đi tù cải tạo?

Con số tù cải tạo chính xác thì rất khó có được vì phía chính quyền nắm giữ và họ chưa tiết lộ. Nhưng trang wikipedia có hẳn một entry dành cho tù cải tạo (3). Dò theo nguồn này, chúng ta sẽ thấy một số nguồn ước tính, và con số tù cải tạo rất lớn. Đáng chú ý là một bài trên thuvienhoasen.info thấy tác giả trích dẫn tài liệu mang bí số TN/QP-14 ngày 14/2/1977 tại Cục lưu trữ Quốc phòng thì: “Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, bộ quốc phòng giao lại cho bộ nội vụ quản lý là 1.236.569 người” (4). Rất tiếc là tác giả không cho thấy hình ảnh, nhưng hãy tạm xem đó là một nghi vấn. Tài liệu đó (4) cũng có trích dẫn tài liệu từ Viện bảo tàng VN tại San Jose với vài thống kê từ phía VNCH như sau:

  • Năm 1975, miền Nam VN có 980 ngàn quân nhân; trong số này có khoảng 9600 cấp tá + tướng, 80000 là cấp uý.
  • Cấp tướng tính đến này 30/4/1975 là 112 người, trong số này bị bắt làm tù cải tạo là 32 người, còn 80 thì di tản ra nước ngoài.
  • Cấp đại tá có 600, trong số này bị bắt cải tạo là 366 người.
  • Cấp trung tá có 2500 người, tù cải tạo là 1700 người.
  • Thiếu tá có 6500 người, tù cải tạo là 5500 người.
  • Cấp uý có 80000 người, bị bắt đi tù cải tạo là 72000 người.

Theo tác giả cuốn “Le Livre Noir du Communisme: Crimes, Terreur, Repression” của Robert Laffront thì “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo đó Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo bắt giữ con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên 1 số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam” (trích từ #4). Một tài liệu tổng hợp khá công phu từ những chứng nhân và học giả từ Đông Nam Á, nhóm tác giả đi đến những ước tính là có khoảng 1 triệu người bị giam giữ không được xét xử; trong số này có đến 165 ngàn người chết trong các trại tù cải tạo (5). Theo báo cáo của Quĩ Aurora thì năm 1983 có hơn 1 triệu người miền Nam đã bị bắt đi “cải tạo”. Lúc đó, Việt Nam có trên 150 trại cải tạo. Trong số trên 1 triệu đó, có khoảng 500 ngàn người được trả tự do trong vòng 3 tháng; 200 ngàn bị tù từ 2-4 năm; và 240 ngàn bị tù trên 4 năm; và vài chục ngàn tù trên 10 năm. Có thể nói thời đó, gia đình nào ở miền Nam cũng có người bị bắt đi tù cải tạo.

Địa ngục trần gian

Trại cải tạo thường được các trại viên mô tả là “địa ngục trần gian”. Có người còn nói rằng những trại ở Siberia của Stalin chưa chắc thấm gì so với trại tù cải tạo ở Việt Nam, vì thiếu thốn đủ thứ. (Thời đó thì cả nước thiếu thốn lương thực, thực phẩm và thuốc men & thiết bị y tế, chứ chẳng riêng gì trại tù.) Đã có hàng ngàn tài liệu viết về tù cải tạo, và thông tin thường rất nhất quán với nhau. Tôi không thể nào kể hết, nhưng những cuốn sách nổi bậc nhất mà tôi từng đọc qua là “Đại học máu” của Hà Thúc Sinh, “Đáy địa ngục” của Tạ Tỵ, “AK và Thập giá” của Phan Phát Huồn, sách của Duyên Anh, những bài viết của sử gia Tạ Chí Đại Trường, và các cựu sĩ quan VNCH. Riêng cuốn “Trại cải tạo” của Phạm Quang Giai có phác hoạ bằng tay những nhục hình được các nhà tù sử dụng thời đó. Những gì mà các cựu tù nhân kể qua thì thấy họ bị hành hạ về thể xác lẫn tinh thần. Như tôi nói trên, họ kể một cách rất nhất quán. Rất nhiều hồi kí kể rằng trong tù quản giáo ít khi tra tấn tù nhân, nhưng họ có cách làm cho tù nhân chết dần chết mòn: đày đoạ và bỏ đói. Như tác giả Phạm Quang Giai mô tả (có lẽ hơi quá), “Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” Trong thực tế, đi tù cải tạo cũng là một cuộc tẩy não. Các tù nhân bị bắt buộc phải viết kiểm điểm liên tục, và lần nào cũng phải viết “Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mĩ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mĩ; Ðế quốc Mĩ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.” Theo Hà Thúc Sinh, trong cuốn “Đại học Máu” nổi tiếng, thì khi tù nhân nhập trại họ được đưa “chỉ tiêu” như sau: ”Tôi không bao giờ quên rằng tôi là kẻ có tội với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Tôi cũng không quên rằng Đảng đã khoan hồng tha tội chết cho tôi, lại tập trung tôi lại, tạo điều kiện cho tôi học tập cải tạo để trở nên người công dân lương thiện. Để đền ơn Đảng, tôi nhất trí:1. Tích cực học tập cải tạo lao động tốt.

  1. Giải phóng mọi tình cảm gia đình yếu đuối và tình nguyện ở lại trại học tập lao động cho dến khi nào được cách mạng công nhận tiến bộ cho về phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân. 3. Trong thời gian học tập tại trại, tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy quy định. Khắc phục mọi khuyết điểm tồn tại. Đấu tranh sai trái để thủ tiêu mọi mặt yếu của các bạn cải tạo khác hầu biến trại ta trở thành trại cải tao tiên tiến về mọi mặt. 4. Tố giác kịp thời với Cách mạng bọn xấu trong và ngoài trại đang còn ý đồ chống phá cách mạng. 5. Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng trước sau như một của cách mạng.” (6)

Có khá nhiều trường hợp bị hành hạ đến chết ở trong trại tù, nhưng không ai biết con số chính xác là bao nhiêu. Một trong những người bị chết trong tù là đồng nghiệp và đàn anh của ông Vũ Quang Hiển: sử gia Phạm Văn Sơn, người nổi tiếng với bộ Việt Sử Tân Biên. Một số thì sau khi ra tù một thời gian ngắn cũng chết do những di chứng từ thời còn bị giam trong tù. Ông Hồ Hữu Tường (một học giả nổi tiếng ở miền Nam) chết sau khi bị thả ra khỏi tù. Tạ Tỵ, một nhà văn và hoạ sĩ có tiếng là điềm đạm, mà cũng viết trong sách là “Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xẩy ra, đã khắc xâu vào tâm khảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận!” (7) Có những chuyện cười ra nước mắt. Chẳng hạn như những mẫu đối thoại sau đây cho thấy cán bộ quản giáo rất ngô nghê như thế nào. [trích] Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”. Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét: “Mẹ bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.” Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”. Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh: “Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù. Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”. Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của – Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau: “Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh – Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.” Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ! [hết trích]

Người phủ nhận sự thật

Câu nói của ông sử gia, phó giáo sư Vũ Quang Hiển làm tôi nhớ đến một sử gia người Anh tên là David Irving. Tôi nhớ đến ông này vì vào đầu thập niên 1990s báo chí Úc làm ồn ào khi Chính phủ Úc không cho ông nhập cảnh Úc. Rất rất hiếm khi nào Úc không cho người Anh nhập cảnh, nhưng họ cấm cảng ông Irving thì đủ biết sự việc nghiêm trọng như thế nào. Ông Irving nhiều lần kiện Chính phủ Úc về việc cấm cảng, nhưng ông không thành công. Ông Irving nổi tiếng là một người mà tiếng Anh gọi là “Holocaust Denier”, tức là không chịu tin rằng cuộc tàn sát Holocaust đã xảy ra. Ông viết nhiều sách để lí giải rằng không có những cái gọi là hầm ga mà Hitler dùng để giết người Do Thái. Sau này, ông bị toà án Áo phạt tù 3 năm vì hành vi phủ nhận cuộc tàn sát Holocaust, và xuyên tạc lịch sử. Tôi chỉ kể chuyện xưa để biết rằng ở nước ngoài sử gia mà phát ngôn theo kiểu phủ nhận sự thật lịch sử được xem là một trọng tội và có thể đi tù. Dĩ nhiên, luật ở nước ngoài không giống như luật ở Việt Nam, và đó là một điều may mắn của ngài phó giáo sư vậy. Nhưng nhìn một cách tích cực, tôi vẫn tin vào lòng tốt của ông, và hi vọng rằng một ngày nào đó ông sẽ tịnh tâm và nhìn nhận sự thật. Tuy số người bị giam giữ và chết trong tù cải tạo sau 1975 không bằng số người Do Thái bị Hitler tàn sát, nhưng nếu người Đức đủ can đảm để nhìn nhận sự thật, thì Việt Nam không nên tỏ ra can đảm nhìn nhận rằng tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Chứ như hiện nay thì sự phủ nhận sự thật của ông rất bất lợi cho chính sách hoà hợp – hoà giải dân tộc của Nhà nước. ====

(1) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2015/04/150418_vuquanghien_vietnamwar?SThisFB

(2) http://ussh.vnu.edu.vn/profile/vu-quang-hien

(3) http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_t%E1%BA%ADp_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o

(4) http://www.thuvienhoasen.info/tvhsvn_tintucthoisuvn/ttts_vn-giam-giu-tu-chinh-tri-nhieu-nhat-tren-the-gioi.htm

(5) http://dartcenter.org/content/camp-z30-d-survivors#.VTNIUZSUcmc

(6) Hà Thúc Sinh, Đại Học Máu trang 100. (7) Tạ Tỵ, Đáy Địa Ngục, trang 152. Một số hình được vẽ lại trong tù cải tạo (trích từ sách của tác giả Phạm Quang Giai):

H1

Xin xem thêm:

Thư gửi ông giáo Vũ Quang Hiển (Danlambao)

Hàng loạt nhà tù trắng trợn, nhà tù trá hình được dựng lên để cùm kẹp, để cải tạo, để giáo dục, để chỉnh huấn…với đằng đẵng thời gian và muôn vàn phương thức đày ải. Cho đến con cháu, họ hàng của những người tù, những ‘cải tạo viên’ cũng bị phân biệt đối xử, bị tước bỏ bớt nhân quyền so với cái nhân quyền chung của dân tộc Việt Nam vốn đã như ‘miếng da lừa’. Đến nỗi hàng vạn, hàng triệu người phải cắn môi, gạt nước mắt giã từ bè bạn, chia tay họ hàng, từ bỏ tài sản, rời bỏ quê hương đi biệt xứ”. (Thông Luận online ngày 14-11-2007)

Lời Hay Ý Đẹp

Chúng ta không thể điều chỉnh hoàn cảnh một cách hoàn mỹ để phù hợp với cuộc sống của chúng ta, nhưng  chúng ta có thể điều chỉnh thái độ đối với cuộc sống cùng với tâm linh để phù hợp với tất cả mọi hoàn cảnh chung quanh ta.

Sưu Tầm

Con Cọp Yêu Quý Của Tôi..

Con Cọp Yêu Quý Của Tôi..

Hưng Yên

Tôi nhất định đòi Thày Bu tôi phải cưới Hương cho tôi. Tôi thích nàng, tôi yêu nàng và tôi phải lấy nàng cho bằng được. Nếu Thày Bu tôi không hỏi cưới nàng cho tôi thì tôi sẽ bỏ nhà ra đi, đi giang hồ hay đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn tôi lòi ruột ra. Chẳng thà thế chứ sống mà thiếu Hương tôi sống không được. Tôi cũng đã ngỏ ý ấy với nàng và nàng bảo hễ cứ có mai mối bên nhà tôi tới là bên nhà nàng bằng lòng ngay. Tình yêu của tôi đối với Hương nó vĩ đại và mãnh liệt như thế có lẽ cả làng ai cũng biết. Biết nhưng có ai giúp gì được cho tôi đâu, có khi họ còn nói ra nói vô khiến Bu tôi càng quyết liệt không cho tôi lấy Hương, và khi nghe tôi doạ đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn tôi lòi ruột ra, Bu tôi còn bảo :

– Chẳng thà Tây nó bắn mày chứ Bu giết mày không được con ạ – Bu tôi rơm rớm nước mắt – Ðẻ mày ra, nuôi mày tới bây lớn sao tự dưng mày lại không muốn sống nữa hở con ? Gái làng này thiếu gì sao mày không lấy mà mày lại đòi lấy cái con tuổi Cọp ấy ? Mày tuổi Lợn mà Bu lại cưới vợ tuổi Cọp cho mày thì có khác nào Bu giết mày không ? !

Thày Bu tôi hiếm muộn chỉ sanh được có 8 người con, 5 trai 3 gái. Các chú các bác tôi người nào cũng từ 10 đến 12 con cơ. Chỉ cái việc có 5 thằng con trai thôi mà đã gây ra một sự xì xèo rồi. Người ta bảo sanh 5 đứa con gái là sanh được “Ngũ Long Công Chúa” quý lắm, cha mẹ thế nào cũng được nhờ, tha hồ ngồi rung đùi mà hưởng. Chả thế mà ca dao Việt Nam ta đã có những câu :

Mẹ sinh con trai làm chi

Ðầu gà má lợn đem đi cho người !

Mẹ sinh con gái như tôi

Ðầu gà má lợn mẹ ngồi mẹ sơi !

Lúc đầu Bu tôi làm liền tù tì một lèo 3 đứa con gái, thày tôi khoái chí bảo : “Bu mày ráng thêm 2 con tèo nữa cho đủ Ngũ Long Công Chúa, sau đó làm thêm vài thằng cu tí nữa là tha hồ mà sướng !” Nhưng Bu tôi chỉ sanh có 3 đứa con gái, kế đó lại làm một lèo 5 thằng con trai rồi thôi luôn.

Chơi tam cúc có 4 con tốt cùng loại đỏ hay đen thì gọi là tứ tử, có 5 tốt là ngũ tử. Tứ tử trình làng, ngũ tử cướp cái, khéo chơi một chút là ăn trùm làng. Còn đẻ mà 5 thằng con trai thì người ta lại bảo là ngũ quỷ, thế nào trong 5 thằng cũng có một, hai thằng chẳng ra gì. Trong 5 anh em trai thì tôi là thằng thứ 3, nếu tính cả 3 người con gái thì tôi là thằng thứ 6. Hai ông anh trước tôi đã lập gia đình rồi, các ông ấy củ mỉ cù mì, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Lấy vợ xong là chí thú làm ăn, chỉ mong sao nói được nghiệp nhà, cầy ruộng cấy lúa. Nói một cách giản dị là làm một anh nông dân chứ không có cao vọng gì cả. Hai đứa em trai thì còn đi học, chúng chưa biết gì, có muốn vợ cũng phải chờ vài năm nữa.

“Nữ thập tam, nam thập lục” các cụ ta đã bảo như thế nên dù tôi mới 16 tuổi đã đòi vợ cũng không ai nói gì được. Cái điều ồn ào nhất là tôi tuổi Heo mà lại đòi lấy vợ tuổi Cọp. Hương kém tôi 3 tuổi, mới 13 thôi mà trông cứ mơn mởn ra, mỗi lần gặp nàng là tôi chỉ muốn cắn cho một cái. Trai làng tôi nhiều thằng nhìn nàng đôi mắt cứ hau háu, thèm nhỏ dãi, nhưng chúng chỉ dám đứng xa xa mà nhìn thôi chứ không dám xáp lại gần. Lấy vợ tuổi Cọp để về chầu ông bà ông vải sớm à ? ! Con gái tuổi Dần khó lấy chồng lắm, chả biết đã có bao nhiêu bà bị ở giá suốt đời vì sanh nhằm năm Dần và đã có bao nhiêu ông sớm ngỏm củ tỏi vì lấy phải vợ tuổi Cọp, thế nên người ta vẫn cứ kiêng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” mà lị !

Thày tôi ngày trước có đi lính Pháp, dù gì thì cũng đã có tiếp xúc với Tây học một tí nên không đến nỗi nào. Thấy tôi tuyên bố nhất định phải lấy Hương, dù hôm trước cưới, hôm sau có đi ngủ với giun ngay cũng cứ lấy, thày tôi bảo :

– Nó đã nhất định như thế thì mình cứ đi nói con đó cho nó. Biết đâu thằng này chẳng đặc biệt hơn người ta, tôi nghe kể heo rừng mà thuộc loại “lăn chai” thì Cọp cũng chả làm gì được !

Nghe thày tôi nói, tôi đã mừng mừng nhưng Bu tôi lại gắt lên :

– Ông có đẻ đâu mà ông đau, đã không cản nó thì chớ lại còn “nối giáo cho giặc”, không nghe cụ Lý Ngọ bảo “Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung” đấy à ? Ai lại đi cưới con gái tuổi Dần về cho con mình, có mà điên !

Thày tôi cười khà khà :

– Gớm, cái lão Lý Ngọ ấy nói đã chắc gì đúng. Lão để mồ, để mả, coi hướng nhà hướng cửa, bói toán cho người khác thì được thế mà chính lão lại nghèo rớt mồng tơi !

Cụ Lý Ngọ người làng bên, làm thày địa lý và coi bói, cũng phét lác khiếp lắm. Nhờ cụ coi thế đất hoặc sửa hướng cửa, hướng nhà cho thì chỉ một bữa rượu với vài đồng bạc. Cụ khoe là đã để mồ để mả cho nhiều người, có người nhờ Cụ mà ăn nên làm ra hoặc con cái học hành đỗ đạt làm đến tri phủ, tri huyện, còn những hạng như lý trưởng, chánh tổng thì khối. Có điều Cụ làm cho người ta được, còn làm cho chính mình lại không được, hoặc giả là Cụ quên chưa làm cho mình nên lúc nào Cụ cũng chỉ có một cái quần cháo lòng với cái áo the thâm rách và cái khăn xếp dán nhấm tứ tung. Một hôm đi qua trước cửa nhà tôi, cụ đứng ngắm nghía một lát rồi lững thững bước vào. Nghe chó sủa, thày tôi chạy ra, may mà đúng lúc, nếu không thì Cụ đã bị mấy con chó cắn cho te tua rồi, “chó cắn áo rách” mà lị !

Sau một tuần trà nước, Cụ bảo :

– Tại căn nhà này quay về hướng Nam , chứ nếu mà hướng Bắc thì ông đã có 5 đứa con gái thay vì 5 thằng con trai rồi !

Chắc ý Cụ muốn nói thay vì “Ngũ Quỷ” là “Ngũ Long” chứ gì. Thấy tôi ngồi học ở bàn, Cụ gọi đến cho Cụ coi, ngắm nghía một lát, Cụ phán :

– Thằng này tướng mạo coi cũng tạm được, nhưng mặt này là mặt “bán Trời không mời Thiên Lôi” đây!

Khi Cụ đi rồi, tôi nghe thày tôi lẩm bẩm :

– Làm cửa về hướng Bắc để mùa Ðông gió Bấc thổi vào cho mà chết rét, còn nhà có nhiều con gái chỉ tổ lo ngay ngáy chứ nước mẹ gì, dốt thế mà cũng bàn !

Riêng tôi, chỉ nhìn hình dáng cụ là đã chán rồi, tôi hỏi Thày tôi :

– Chắc nhà ông thày Ðịa Lý này ngon lành lắm hở Thày ?

– Không bằng cái bếp nhà mình !

Có tin vào thày bói cũng chỉ nên tin một phần nào cho nó vui thôi chứ chẳng nên tin nhiều làm gì. Những vị có chân tài, đọc nhiều, hiểu rộng và có nhiều kinh nghiệm chả nói làm gì, còn phần đông là những tay ấm ớ, nghèo rớt mồng tơi lại chỉ cách cho người khác làm giầu mới tiếu lâm chứ ? ! Cứ tin vào những điều các vị ấy tán hiêu tán vượn thì có ngày đổ thóc giống ra mà ăn ! Làm cái gì cũng phải coi ngày, coi giờ, hạp với không hạp, kiêng cái này cữ cái kia … Cứ như việc lấy vợ của hai ông anh tôi thì rõ. Trước khi cưới dâu, Bu tôi đã nhờ thày so tuổi, coi ngày đủ thứ, thế nên 2 ông anh tôi mới dinh về được hai bà vợ, một bà thì như cái hột mít, còn một bà lại gầy đét như con cá hố ! Hai người con dâu này đều do Bu tôi chọn cả. Tôi ấy à, nếu không lấy được người tôi yêu chẳng thà tôi ở giá cho đến già hoặc đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn lòi phèo ra chứ nhất định không chịu bắt chước mấy ông anh tôi.

Thày tôi xem chừng đã ngả hẳn về phía tôi, chỉ riêng Bu tôi là còn găng lắm, có lúc bà nổi cơn tam bành chửi tôi thậm tệ, bà nhiếc :

– Cho mày đi học ngậm bút sắt hay ngậm cái gì mà mày ngu thế ? Tử tế không muốn lại muốn rước cái của nợ vào mình.

Có lần Bu tôi lại dùng tình cảm để lung lạc tôi, bà mếu máo :

– Mày có chọc phá đền miếu nào không hở con, để đến nỗi những người khuất mày khuất mặt nổi giận mà phạt mày trở nên dở dở ương ương thế ? Có thì bảo cho Bu biết để Bu sửa lễ tạ lỗi cho, kẻo càng ngày nó càng lậm vào thì khổ đấy con ạ, chứ cưới vợ đẹp về rồi lăn đùng ra chết thì cưới làm gì ? ! Mày nghe lời Bu đi, chọn con khác, hễ Bu nhờ thày coi tuổi mà thấy hạp là Bu cưới ngay cho!
Mặc Bu tôi nói gì thì nói, tôi vẫn khăng khăng chỉ lấy Hương của tôi thôi. Nói mãi mỏi mồm, Bu tôi bèn đổi chiến thuật là không thèm nói gì đến tôi nữa. Trong làng tôi lại có tiếng xì xèo : “Ðã bảo là đẻ 5 thằng con trai, Ngũ Quỷ thì thế nào chả có một, hai thằng chẳng ra gì mà” ! Ngoài ra họ còn đồn tôi là thằng dở hơi hoặc điên điên khùng khùng … Một lần Dì Năm, em gái của Bu tôi tới chơi, lấy tay sờ trán tôi như mấy bà mẹ thường khám xem con mình có ấm đầu không, rồi Dì hỏi :

– Mày có bị làm sao không thế hở con ?

Tôi hỏi lại :

– Làm sao là làm sao hả Dì ?

– Nghĩa là mày có ốm đau, bệnh tật gì không mà mày lại kỳ cục thế?

– Con có làm gì đâu mà Dì bảo là kỳ cục ?

– Không kỳ cục làm sao mày tuổi Hợi lại đòi cưới con vợ tuổi Dần ?

– Thế tuổi nào mới lấy vợ tuổi Dần được ?

– Không tuổi nào lấy vợ tuổi Dần được !

Tôi ngập ngừng :

-Thế nếu Dì cũng tuổi Dần thì Dì có bảo là không tuổi nào lấy vợ tuổi Dần được không ?

Bu tôi đứng bên cạnh, cho là tôi hỗn với Dì, sẵn tay cầm cái chổi, bà đập lên đầu tôi cái cốp làm tôi giật mình bỏ chạy.

Thế mới biết ở đời làm chuyện gì cũng phải có quyết tâm mới được. Việc càng khó thì quyết tâm càng phải cao, chứ nếu cứ xìu xìu ển ển, đến đâu hay đến đó thì còn lâu mới thành công được. Thày tôi tuy đã ngả hẳn về phía tôi nhưng là theo kiểu thụ động thôi, chứ Thày tôi cũng không thể bênh vực tôi một cách tích cực được, dù gì thì cụ ông cũng phải nể cụ bà chứ ! Riêng tôi, đã “chót đành phải chết”, làm một phát tháu cáy. Nếu Bu tôi theo ván bài này tới cùng có lẽ tôi phải đổi chiến thuật khác. Thú thật, bỏ Hương để lấy người khác thì tôi không bỏ được, còn bỏ nhà đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn lòi phèo ra tôi cũng teo lắm, thế nhưng tôi vẫn phải tố một cú chót xem sao.

Một hôm tôi giả vờ sắp xếp quần áo bỏ vào một cái rương nhỏ, như đang chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Tôi cố làm dềnh dang cho Bu tôi thấy. Quả nhiên, tưởng tôi sắp bỏ nhà đi xa thật, Bu tôi khóc bù lu bù loa :

– Ối giời ơi, con ơi ! Mày tính bỏ Thày bỏ Bu mày đi thật đấy à ? Mày muốn lấy vợ thì Bu lấy cho mày chứ Bu có cấm cản gì mày đâu ? Chẳng qua là Bu chỉ không bằng lòng cho mày lấy cái con tuổi Dần ấy thôi. Ðẻ mày ra, nuôi mày từ lúc một bàn tay không hết, hai bàn tay không đầy cho tới bây lớn để mày giả nghĩa Thày, nghĩa Bu như thế đấy hở con ?!

Dù chỉ mới dàn giáo thế thôi chứ tôi đã định đi ngay đâu, nhưng thấy Bu tôi khóc thảm thiết quá, tôi cũng mủi lòng nước mắt, nước mũi chẩy lã chã, nói không nên lời :

– Bu không thương con thì Bu cứ để con đi chết trận chết mạc, chết Đông chết Tây cho rồi ! …

Quả thật là tiến thoái lưỡng nan. Làm cho Bu tôi tưởng là tôi sắp đi, bây giờ không đi cũng kỳ, còn đi thật thì biết đi đâu ? Ðang lúng túng không biết phải làm sao, thì may quá, cậu Út tôi tới. Bên Ngoại tôi chỉ có cậu Út là người danh giá và có uy tín với chúng tôi hơn cả. Chẳng những cậu có uy tín với đám trẻ mà còn uy tín cả với người lớn nữa. Cậu có bằng “Ðíp lôm” lại đang làm Nhật Trình ở trên Hà Nội. Ngày đó ở quê tôi, các vị làm văn, làm báo được coi là danh giá lắm. Cậu Út làm Nhật Trình tức là làm báo. Thỉnh thoảng cậu mới về thăm nhà một lần, đầu cậu chải “bi-dăng-tin” bóng loáng, tóc để cánh gà úp sát vào tai, chân đi giầy “đơ-cu-lơ,” quần tây trắng, áo sơ mi trắng bỏ trong quần, túi áo cài chiếc bút máy hiệu “Kaolo,” thứ bút mà mỗi khi viết phải mở nắp rồi xoay xoay cho cái ngòi bút trồi lên, viết xong lại vặn cho cái ngòi bút tụt xuống rồi đậy nắp lại. Ngày ấy bọn trẻ chúng tôi thì thào chỉ mấy ông làm Nhật trình mới có loại bút đó. Mỗi lần cậu Út về, cậu kể chuyện Hà Nội tưng bừng, cậu nói gì người lớn cũng như đám trẻ chúng tôi đều tin hết.

Bước vào nhà, thấy Bu tôi đang bù lu bù loa, còn tôi thì mếu máo, cậu mới hỏi đầu đuôi sự việc. Bu tôi kể câu chuyện tôi đòi lấy vợ tuổi Dần cho cậu nghe. Ðợi Bu tôi nói xong, tôi cũng bầy tỏ nỗi lòng để cậu hiểu.

Nghe xong, Cậu cười cười hỏi tôi :

– Cháu định lấy cái con Hương, con ông Chánh Ðoàn ở xóm Giữa chứ gì ? Vừa rồi đi đường cậu cũng có gặp nó, con này được, đã thắt đáy lưng ong lại mảnh mày hay hạt …

Quay về phía Bu tôi, cậu tiếp :

– Chị mà được đứa con dâu như thế là quý lắm rồi còn đòi chi nữa. Còn cái vụ tuổi tác, hạp với không hạp, nó xưa quá rồi chị ơi. Cứ tin vào mấy ông thày bói thì có ngày đổ thóc giống ra mà ăn rồi hoa hồng không trưng đi trưng hoa cứt lợn ! …

Thật cậu là người ăn học có khác, Cậu nói câu nào cứ chắc nình nịch câu ấy. Chiều hôm đó, Cậu ở lại dùng cơm với gia đình tôi và cũng nhờ sự dẫn giải của Cậu mà Bu tôi nghe ra.

Cuối năm đó, tôi rước được con Cọp yêu quý của tôi về nhà. Cậu Út tôi lại còn bảo :

– Cưới vợ rồi, nếu mày không muốn ở nhà quê thì lên Hà Nội làm Nhật Trình với Cậu. Cũng phải ra ngoài để mở mắt ra với người ta, chứ cứ lúi húi thế này mãi đến bao giờ mới khôn được ? !

Người xưa có câu “Không vào hang hùm sao bắt được Cọp con” thật đúng quá sức. Tôi không chỉ vào “hang hùm” một lần, mà đã mò mẫm vào nhiều lần, có thể nói là rất nhiều lần … Cứ thế rỉ rả tôi đã khều ra được gần một tá Cọp con, con nào con nấy đều rất dễ thương, còn con Cọp mẹ thì càng ngày càng hiền khô à. Nghe đến đây có lẽ quý vị thày bói cảm thấy ngứa tai, “nghịch nhĩ” lắm đấy : “Ừ, ba hoa cho lắm vào, đến khi lăn đùng ra chết nhăn răng mới không kịp hối !” Quý vị rủa tôi như thế cũng chẳng sao.

Tôi sinh năm 1935, tuổi Ất Hợi, còn con Cọp cưng của tôi sinh năm 1938, tuổi Mậu Dần. Con Heo 74, con Cọp 71 … Hai con ôm nhau ngủ đã gần 60 năm nay mà chẳng có chuyện gì xẩy ra cả. Giả như bây giờ tôi có nhắm mắt xuôi tay mà về chầu ông bà ông vải đi chăng nữa thì cái câu “Tứ Hành Xung” của quý vị thày bói cũng là sai rồi ! …

Hưng Yên 2009