Cuộc công du di tích Thánh Maria Goretti sẽ đi đến tiểu bang đông người Viêt ở Hoa Kỳ

Cuộc công du di tích Thánh Maria Goretti sẽ đi đến tiểu bang đông người Viêt ở Hoa Kỳ

 

Cuộc công du cuả vị đại sứ lòng Thương Xót.

Cuộc công du của di tích thánh Maria Goretti, vị thánh được phong thánh trẻ nhất cuả đạo Công Giáo và là vị đại sứ đặc biệt của Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho năm Thánh Thương Xót, đã sắp hoàn tất chương trình công du qua miền Đông Hoa Kỳ, sẽ kết thúc với ba tiểu bang Louisiana, Texas và Oklahoma, là những tiểu bang đông dân VN. Sau Oklahoma, linh cữu cuả thánh Goretti sẽ bay trở về Ý.

Đây là di hài đầy đủ cuả thành Maria Goretti, toàn thể bộ xương được giữ trong một hình sáp trông như người sống và bảo quản trong một linh cửu bằng kính.

Đã có nhiều đề nghị cho một cuộc công du thứ hai dành cho các tiểu bang miền Tây cuả Hoa Kỳ, nhưng cho tới nay thì hình như chương trình công du đã đầy. Những người Việt tại Hoa Kỳ có lòng mong muốn được kính viếng xác thánh, có lẽ phải bay qua 3 tiểu bang nói trên theo lịch trình đính kèm ở cuối bài.

Mặc dù Hoa Kỳ là nơi mà nhiều cháu chắt (con cháu cuả các em trai) cuả thánh nữ đang sinh sống, nhưng đây là lần đầu tiên Ngài được nghinh tiếp tại Hoa Kỳ (từ tháng 9 cho đến tháng 11, 2015. )

Thánh Nữ Maria Goretti được nhiều người biết đến qua tước hiệu Trinh Nữ Tử Đạo, tuy nhiên điểm nổi bật nhất là, trong cơn đau khủng khiếp trước khi chết, đã có lòng thương xót và tha thứ vô điều kiện cho kẻ giết hại mình. Nhờ vào lòng nhân hậu, thương xót, tha thứ, và khẩn cầu của Thánh nữ, kẻ tội nhân sau này cũng đã được ơn hóan cải.

Thánh Nữ Maria Goretti còn có một biệt danh nữa là “Hay làm phép lạ” (“wonder worker”). Theo lời linh mục Carlos Martins, Gíam đốc Cơ quan Bảo quản Kho Báu Di-Tích các Thánh của Tòa Thánh, thì với trên 160 thánh tích đang được Vatican lưu giữ, di tích cuả Thánh Maria Goretti có thành tích làm nhiều phép lạ nhất.

Tháng 3 năm 2015, Ðức Thánh Cha Phanxicô đã công bố một năm thánh bất thường của lòng Thương Xót, sẽ bắt đầu từ ngày 08 tháng 12 năm 2015, và di tích của Thánh Maria Goretti đựơc xử dụng như là một nỗ lực của Tòa Thánh để chuẩn bị và cổ động cho năm thánh tuyệt vời này trong đời sống cuả Giáo Hội.

Vì là một vị đại sứ cuả Đức Giáo Hoàng, cho nên người ta thấy có nhiều cấp chính quyền đã tổ chức nghênh tiếp trọng thể. Bộ Nội An Hoa Kỳ (the U.S. Department of Homeland Security) cắt cử 6 nhân viên bảo vệ và ở nhiều thành phố như tại Chicago đã xếp đặt một toán cảnh vệ đứng dàn chào.

Linh mục Martins cho biết cuộc hành hương nhằm nêu cao đức Tha Thứ.

Trong bài giảng lễ khai mạc cuộc hành hương tại Chicago, Cha Martins đã chia sẻ câu chuyện về đức Tha Thứ đó: Ngài mô tả nàng trinh nữ Maria mới 11 tuổi đã bị anh hàng xóm 19 tuổi Alessandro Serenelli đâm dã man tới 14 nhát dao như thế nào, mà Maria vẫn kiên cường không từ bỏ trinh tiết của mình; và rồi một ngày sau đó trong cơn hấp hối vì triệu chứng viêm phúc mạc (peritonitis, màng bụng bị rách), phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật không có thuốc mê để cầm máu trong nội tạng, và dù như thế, Maria đã nói trên giường bệnh, “Tôi tha thứ cho Alessandro Serenelli và muốn anh ấy ở với tôi trên thiên đường mãi mãi.”

Anh Serenelli, tuy nhiên, từ chối sự tha thứ và bị bỏ tù. Sáu năm sau, Maria xuất hiện với anh trong một giấc mơ và đưa cho anh 14 bông hoa kèn trắng, cho 14 vết đâm, và anh ta đã bắt đầu ăn năn.

Bây giờ, Cha Martins cho biết, anh Serenelli một ngày nào đó cũng rất có thể sẽ được công nhận là một vị thánh, vì hành động anh hùng đã chấp nhận sự tha thứ của Maria Goretti và của Thiên Chúa, và tha thứ cho chính mình.

“Anh đã phải sống 62 năm sau khi phạm tội ác khủng khiếp đó, và thế giới đã không bao giờ cho phép anh ta quên nó,” Cha Martins nói.

Serenelli đã kết thúc những ngày cuối cùng của mình làm một tu sĩ khó khăn dòng Phanxicô.

Vì là một đứa con cột trụ cuả gia đình cho nên sau khi Maria qua đời, mẹ cô đã không thể làm ruộng mà chăm sóc cho năm người con trai còn bé, vì vậy ba em trai cuả thánh Maria Goretti đã được cho đi làm con nuôi tại Hoa Kỳ. Hai người đã sống đến tuổi trưởng thành và con cháu của họ đang sống ở nhiều nơi trên nước Mỹ.

Thánh Maria Goretti qua đời năm 1902 cho nên được coi là một vị thánh hiện đại. Cho tới nay thì Ngài giữ danh dự là vị thánh Công Giáo được phong thánh trẻ tuổi nhất, là vị thánh duy nhất có mẹ còn sống để tham dự lễ phong thánh cuả mình. Lúc Ngài được phong thánh năm 1950, thì lòng sùng kính đã lan rộng đến nỗi Thánh lễ phong thánh không thể tổ chức trong thánh đường thánh Phêrô như trước mà phải tổ chức tại quảng trường Thánh Phêrô cho có đủ chỗ đứng.

Tiểu sử Thánh Maria Goretti.

Maria là một cô gái ‘lọ lem’ sinh ra trong cảnh bần cùng. Khi cô được 6 tuổi thì người cha phải bỏ vùng Ancona nghèo khó (phía đông nước Ý) để di chuyển qua Nettuno hấp dẫn hơn ở phía tây. Vùng Nettuno cách Roma khoảng 40 dặm về phía nam.

Khi Maria mới lên chín thì cha cô đã đột ngột chết một cách bi thảm. Lúc này là đứa con gái lớn, Maria phải thay mẹ chăm sóc cho 5 đứa em trong khi bà đi làm việc ở ngoài đồng, và cô cũng phải phụ vào công việc đồng áng với bà thì mới có thể trang trải chi phí tiền ăn tiền ở.

Đây là một thời gian khủng khiếp và đau khổ cho cả gia đình. Đối với Maria thì đặc biệt còn khó khăn hơn nữa bởi vì ngoài những trách nhiệm chăm sóc cho gia đình nói trên, cô còn phải mang thêm gánh nặng nấu ăn và dọn dẹp cho hai người hàng xóm thô lỗ là Giovanni Serenelli và con trai cuả ông là Alessandro. Anh Alessandro là người phụ việc đồng áng cuả mẹ cô.

Cũng trong thời gian này, Alessandro bắt đầu nảy sinh ra những ý nghĩ bất chính về Maria. Anh thường nói ra nhiều điều thô lỗ với cô, làm cho cô phải bỏ chạy. Thế rồi tới giai đoạn anh ước ao tình dục đối với cô, cho dù phải dùng bạo lực.

Sau nhiều tháng rình rập, Alessandro đã tìm được cơ hội bắt gặp Maria ở một mình và anh đã nỗ lực cưỡng hiếp cô. Maria đã chống cự không cho anh vi phạm mình, đến nỗi Alessandro đã tức giận mà dã man đâm cô nhiều nhát dao. Maria qua đời vào ngày hôm sau, đau đớn một cách khủng khiếp vì bị nhiễm trùng ở các vết rách trên màng bụng. Những lời cuối cùng của cô, “Tôi tha thứ cho Alessandro Serenelli … và tôi muốn anh ấy ở với tôi trên thiên đường mãi mãi.”

Trong thời gian ngồi tù, Alessandro đã được Maria hiện ra và tha thứ cho anh. Đó là một hành động của lòng thương xót và tha thứ, hành động đầy tình yêu này đánh động Alessandro và anh bắt đầu ăn năn. Đây là một bước ngoặt cuả đời anh, ân sủng đã thay đổi trái tim anh. Từ thời điểm đó, anh sống một cuộc sống tươi đẹp hơn , chuyển đổi qua sự thánh thiện, cuối cùng đã trở thành một tu sĩ dòng khó nghèo Phanxicô.

Alessandro Serenelli đã qua đời vào ngày 6 tháng 5 năm 1970 tại tu viện Macerata. ‘Thày’ để lại một lời khai như sau, đề ngày 05 tháng 5 1961, như là một di sản tinh thần của chính mình:

“Tôi đã gần 80 tuổi. Tôi sắp kề đất rồi.
“Nhìn lại quá khứ, tôi có thể thấy rằng trong cái đầu cuả tuổi thanh niên, tôi đã chọn một con đường xấu dẫn tới sự hủy hoại chính bản thân mình.
“Hành vi của tôi đã bị ảnh hưởng bởi sách báo, bởi phương tiện truyền thông và bởi các gương mù gương xấu mà phần lớn những người trẻ tuổi đã nương theo mà không hề suy nghĩ. Và tôi đã làm như vậy. Tôi không quá lo lắng.
“Đã có rất nhiều gương quảng đại và tận tình cuả những người ở chung quanh tôi, nhưng tôi không quan tâm đến họ, vì một lực lượng bạo lực mù quáng đã đẩy tôi đi về phía sai trái của cuộc sống.
“Khi tôi 20 tuổi, tôi đã phạm một tội ác đam mê. Bây giờ, chỉ nhớ lại thôi cũng đủ là một cái gì đó khủng khiếp đối với tôi. Maria Goretti, bây giờ là một vị Thánh, là Thiên thần tốt của tôi, đã được đấng Quan Phòng gửi đến cho tôi để hướng dẫn và cứu thoát tôi. Tôi vẫn còn giữ trong lòng những lời quở trách của cô và những lời tha thứ của cô. Cô cầu nguyện cho tôi, cô ấy đã can thiệp cho kẻ giết mình. Qua 30 năm tù.
“Công bình mà nói, tôi đáng phải trải qua tất cả cuộc sống của mình trong tù. Tôi chấp nhận sự kết án vì đó là lỗi của tôi.
“Cô Maria bé nhỏ đã thực sự là ánh sáng của tôi, người bảo vệ tôi;. Với sự giúp đỡ của cô, tôi cư xử tốt trong thời gian 27 năm tù và cố gắng sống một cách trung thực khi một lần nữa tôi được chấp nhận ở giữa các thành viên của các Anh Em của Thánh Phanxicô, các tu sĩ khó nghèo ở vùng Marche đã chào đón tôi với một lòng bác ái cuả các thiên thần vào tu viện của họ như là một người anh em, chứ không phải là một người đầy tớ. Tôi đã sống trong cộng đồng được 24 năm, và bây giờ thì tôi đang bình thản chờ đợi để dự kiến Thiên Chúa, để được ôm lấy những người thân yêu một lần nữa, và để được ở bên cạnh vị Thiên Thần Bản Mệnh của tôi và bà mẹ thân yêu của cô, bà Assunta.
“Tôi hy vọng bức thư này có thể dạy cho những người khác bài học hạnh phúc của những đứa trẻ thơ, cuả việc tránh ác và luôn luôn nương theo con đường chính trực. Tôi cảm thấy rằng tôn giáo với những giới luật của nó không phải chỉ là một cái gì đó mà chúng ta không thể sống mà không có, nhưng đúng hơn là một thực tế thoải mái, một sức mạnh thực sự trong cuộc sống và là sự an toàn duy nhất trong mọi hoàn cảnh, thậm chí kể cả hoàn cảnh cuả những người đau đớn nhất trong đời.”

Ký tên, Alessandro Serenelli.

Thương tiếc Bác Chín

  Thương tiếc Bác Chín

       (1920 – 2012)

 Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Bác Chín là tên gọi thân thiết riêng tư trong nhóm bạn hữu chúng tôi ở Sài gòn sau năm 1975 để gọi Bác Chín Tân (Chân Tín) – nhằm tránh sự theo dõi của mấy người công an mật vụ vốn thường bám sát những “đối tượng khả nghi”. Còn thông thường, thì mọi người đều gọi ông là Cha Chân Tín – nguời Mỹ thì gọi ông là Father Chân Tín.

Ở vào tuổi 92 (1920 – 2012), theo đúng với quy luật “Sinh Lão Bệnh Tử”, thì sự ra đi của ông vào ngày 1 tháng 12 năm 2012 tại Saigon là điều không mấy ai ngạc nhiên. Mặc dầu vậy, tôi cũng đã nhận được điện thư của mấy người bạn – họ bày tỏ “sự bàng hòang” (anh Nguyễn Xuân Sơn ở New York, bào đệ của họa sĩ Thái Tuấn) hay : “đó là sự mất mát lớn cho Việt nam” (chị Sophie Quinn-Judge ở Philadelphia).

Là người có duyên được quen biết gần gũi với ông từ trên 45 năm nay, tôi xin được ghi lại một số kỷ niệm thân thương với ông qua một số bạn hữu và một số chuyện ngộ nghĩnh khác – đặc biệt là sau năm 1975.

1 – Trước hết là nhóm người cùng bị bắt với Bác Chín vào tháng 4 & 5 năm 1990.

Trong đó có những người đã ra người thiên cổ như Tạ Bá Tòng, Nguyễn Hộ, Nguyễn Ngọc Lan, Đỗ Trung Hiếu, Nguyễn Văn Tấn và Roxanna Brown v.v…

Còn anh Đỗ Ngọc Long, Lê Văn Trinh, Nguyễn Trọng Liêm và tôi, thì hiện đang sinh sống trên đất Mỹ. Mike Morrow hiện còn làm ăn ở Hongkong. Nhóm chúng tôi bị bắt giữ trong đợt này là do chính ông Mai Chí Thọ Bộ trưởng Nội vụ hồi đó là người đứng ra chỉ đạo chiến dịch mẻ lưới lớn “bắt giữ để phòng ngừa” (preventive arrests).

2 – Kỷ niệm với Mục sư Tullio Vinay (1909 – 1996) ở Italia.

Vào năm 1989, mục sư TullioVinay ở thành phố Turin Italia đã chuyển tòan bộ số hiện kim của giải thưởng ông nhận được từ bên nước Đức cho cha Chân Tín – số tiền lên đến trên 11,000 US dollar. Và dĩ nhiên là cha đã chia hết số tiền này cho những dự án xã hội và giáo dục ở Saigon và ở Cần Giờ. Bây giờ, thì ông cha có thể đi gặp lại người bạn mục sư Tin Lành rất mực thân thương và tốt bụng đó rồi.

3 – Chuyến viếng thăm của Nghị sĩ George McGovern năm 1972.

Thượng Nghị sĩ McGovern là ứng cử viên đại diện đảng Dân chủ trong cuộc bàu cử Tổng thống ở Mỹ năm 1972. Trong chuyến viếng thăm Sài gòn vào giữa năm đó, ông dành thời gian để đến thăm Linh mục Chân Tín. Nhưng ông lại bị lực lượng an ninh tìm cách cản trở, nên cuộc thăm viếng đã không thể thực hiện được. Sự kiện này đã gây sôi nổi trong công luận ở Mỹ lúc đó. Vài tháng trước đây, thì Nghị sĩ McGovern cũng vừa mới qua đời cũng trong năm 2012 – như thế thì hai nhân vật danh tiếng lần này sẽ dễ dàng gặp lại nhau, khỏi bị ai đó làm phiền hà ngăn cản nữa.

4 – Câu chuyện xung quanh vụ Phong Thánh Tử Đạo năm 1988.

Suốt trong hai năm 1987 – 88, Nhà nước cộng sản mở chiến dịch chống phá việc Giáo hội Công giáo tổ chức Phong Thánh Tử Đạo cho những vị bị sát hại trong thời cấm đạo ở Việt nam thời trước. Trong hàng ngũ tu sĩ và giáo dân có can đảm đứng ra bênh vực lập trường của Giáo hội, thì có Linh mục Chân Tín và Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan là hai vị viết những bài có sức thuyết phục cao đối với quần chúng giáo dân, nên được phổ biến cùng khắp cả nước – khiến gây e ngại cho giới cầm quyền, vì họ sợ chuyện “già néo bứt giây”.

Vì thế, mà trong dân gian bà con đã ví von gọi hai ông là “cặp kiện tướng Gullitt/Van Basten” của đội bóng tròn Hòà Lan là vô địch Âu châu năm 1988.

5 – Cuộc thẩm vấn của Đại tá Quang Minh tại trại giam B34 ở Saigon.

Trong suốt 3 tháng 5,6 và 7 năm 1990, tôi bị Đại tá Quang Minh Ngô Văn Dần thẩm vấn liên tục. Ông này là thủ trưởng của bộ phận Phản gián ở miền Nam. Ông tra hỏi tôi rất kỹ về mối liên hệ giữa tôi với linh mục Chân Tín và ông Tám Cần Tạ Bá Tòng. Ông còn nói với tôi : Ông Chân Tín là “người bạn lớn” của ông mà ! (Ông Minh hay chêm tiếng Pháp trong khi nói chuyện với tôi – cụ thể nguyên văn tiếng Pháp : “votre grand ami”). Trong thời gian thẩm vấn dài ngày đó, cũng ông Quang Minh này đã tặng cho tôi một danh hiệu dữ dằn khác nữa, đó là : “ kẻ sát nhân ngọai hạng “ (nguyên văn: “assassin de génie”).

6 – Tôi còn rất nhiều kỷ niệm vui buồn khác nữa với Bác Chín. Xin lần lượt ghi ngắn gọn mấy vụ điển hình như sau:

A – Đại khái như lúc bác rưng rưng nước mắt xác nhân với anh em chúng tôi là cháu Thiên Hương ái nữ của nhà văn Duyên Anh và chồng là David người quốc tịch Anh đều đã tử nạn máy bay ở Bangkok năm 1988.

B – Từ cuối thập niên 1980, Ông Tám Cần Tạ Bá Tòng và Linh mục Chân Tín là hai vị Cố vấn mà thường đến tham dự các buổi họp với chúng tôi trong Xí nghiệp Ứng dụng Khoa học Kỹ thuật có trụ sở đặt tại Bến Chương Dương Sài gòn. Cả hai vị đều được anh em trong Xí nghiệp chúng tôi rất quý mến yêu chuộng. Và sau này cả hai đều bị bắt giữ, bị quản chế vào năm 1990 như đã ghi ở trên.

C – Vào cuối năm 1974, nhân dịp đến thăm các tù nhân chính trị từ Côn Đảo mới được trả tự do và đang tá túc tại chùa Ấn Quang trong thời gian chờ đợi tìm phương tiện chuyên chở để về lại nguyên quán tại miền Trung, thì tôi còn dẫn Bác Chín đến thăm Thày Trí Quang tại đây nữa. Đây có thể là lần duy nhất mà Bác Chín trực tiếp chuyện trò trao đổi với Thày Trí Quang. Hai vị chuyện trò với nhau thật thân tình cởi mở, biểu lộ sự thông cảm và tương kính giữa những bậc tu hành với nhau.

D – Và vào năm 1989, một số anh chị em giáo dân chúng tôi cũng đã rủ nhau đến hội họp tại văn phòng của Bác Chín để cùng nhau bàn luận về việc sọan thảo Búc Thư Ngỏ gửi đến Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và cả đến Tổng Giám Mục Sài gòn Nguyễn Văn Bình nữa.

Những chuyện vui buồn giữa Bác Chín và anh chị em chúng tôi ngộ nghĩnh đại lọai như vậy, thì rất là nhiều. Nhưng vì khuôn khổ của bài báo có giới hạn, nên tôi xin tạm ngưng bài viết này tại đây vậy.

Nay thì Bác Chín đã lìa xa cõi tạm này để đi gặp lại, quây quần xum họp với bao nhiêu người thân thiết yêu thương của Bác.

Xin vĩnh biệt Bác Chín với lòng quý mến muôn vàn

Và xin cầu chúc Bác luôn thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng.

Bài viết lần đầu tại Westminster California, tháng 12 năm 2012

Và được bổ túc cũng tại California vào tháng 11 năm 2015 – nhân dịp chuẩn bị Lễ Giỗ Đoạn Tang Ba Năm của Bác Chín (2012 – 2015)

Đoàn Thanh Liêm

Câu chuyện cậu bé đi tìm mẹ khiến cả nước Đức cảm động

       Câu chuyện cậu bé đi tìm mẹ khiến cả nước Đức cảm động

Bé trai Derby hơn 9 tuổi là một cậu bé bị bỏ rơi và lớn lên ở cô nhi viện. Cậu bé mong muốn được tìm thấy mẹ. Tình yêu của Derby đối với người mẹ trong mơ của mình và con đường tìm mẹ đặc biệt của em đã làm cảm động người dân nước Đức.

ME OI

 

 

 

 

 

 

 

“Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”. (Ảnh: Internet)

Con đường tìm mẹ đặc biệt của Derby

Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền tìm theo tiếng khóc thì phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đã đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.

Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Cậu bé có tấm lòng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: “Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”

Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.

Nữ tu sĩ nghe xong giật mình hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”

Derby trả lời: “Tại vì con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”

Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: “Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi”.

Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Cậu hy vọng những dòng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem tình cảm của cậu đến với mẹ.
DERBY TIM ME

Derby thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Ánh mắt của em không khỏi mong mỏi, khát khao tìm thấy mẹ. (Ảnh: Internet)

Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mãnh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các kênh truyền hình đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những hình ảnh về tình mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đìa trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nhìn cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới hình ảnh này đã nói với nữ tu sĩ: “Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”

Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi vì suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức gì của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.

Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: “Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, vì vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra trò chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ thì số hạt gạo đã là 18 triệu tỷ hạt”.

Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ý nghĩ này đã khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: “Xin cô (chú…) hãy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”. Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm lòng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của mình, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của mình.

Sức mạnh của “10 việc tốt”

Derby không thể ngờ mình lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức.

Rick là một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đã 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của mình, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương trình của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hãng truyền hình và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xã hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.

Tháng 10/2003, ông đã xin đài truyền hình cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đã tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đã bị vẻ đẹp của dòng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đã gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.

Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.

Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cảm ơn cháu rồi ạ!”.

Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái gì cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.

Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đã để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn dò ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hãy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nhìn qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong lòng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.

Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân mình có giá trị hơn rất nhiều.

Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đã trở lại đài truyền hình làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và hòa đồng với mọi người hơn.

Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền hình sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đã nói với khán giả: “Trước đây, tôi đã nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính mình”. Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong vòng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: “Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đã tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!”

Thông qua truyền hình, chương trình của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đã có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm “10 việc tốt” này. Thậm chí còn rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền hình bởi vì họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.

Tháng 1/2004, Derby đã đến đài truyền hình chia sẻ về câu chuyện của mình. Tại hiện trường, có người đã hỏi cậu: “Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rõ chuyện đời mình. Rất nhiều người đã vô cùng xúc động và bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ mình.

Ông Rick đã ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: “Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ tìm được mẹ!”

Tình yêu của hàng ngàn người mẹ

Sau sự tình ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đã đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng thì giờ đây lại đối xử với nhau rất có tình. Mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.

Derby đã trở nên rất nổi tiếng và đài truyền hình cũng giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi vẫn không thấy xuất hiện…

Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không tìm thấy tiền trên người cậu bé, nên đã đâm trọng thương cậu bé.

Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu mãi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” mãi không thôi.

Đài truyền hình tiếp sóng trực tiếp tình trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…” Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành hình trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.

Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: “Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: “Tôi từ nhỏ đã không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm tình của Derby”.

Có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby thì chỉ có một. Cho nên, đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi vì cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.

Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt. Cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: “Con trai Derby yêu quý! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. Derby dường như nhìn thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đã rất ngạc nhiên và hỏi:“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”. Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nhìn Derby và gật đầu. Hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: “Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”

Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu còn muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đã không còn sức lực nữa rồi…

Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại vì muốn được nhìn thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều òa khóc, cảm thấy như trái tim mình đang vỡ tan ra.

Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đã nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.
Theo Daikynguyenvn / 

Chủ tịch Trung Quốc sẽ được tiếp đón bằng nhiều cuộc biểu tình ở VN?

Chủ tịch Trung Quốc sẽ được tiếp đón bằng nhiều cuộc biểu tình ở VN?

15h00 hôm nay, Thứ Tư (4.11.2015), trước ngày ông Tập Cận Bình chủ tịch nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam , dân Sài Gòn đã biểu tình phản đối tại trung tâm thành phố.

15h00 hôm nay, Thứ Tư (4.11.2015), trước ngày ông Tập Cận Bình chủ tịch nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam , dân Sài Gòn đã biểu tình phản đối tại trung tâm thành phố.

Blog ptlambao
 Ngay trước chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tại Hà Nội và Sài Gòn diễn ra một số hoạt động với nội dung phản đối người đứng đầu đảng và chính phủ Trung Quốc sang thăm Việt Nam khi mà Bắc Kinh có những hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh hải của Việt Nam.

Mít tinh- hội thảo tại Hà Nội

Ba đơn vị gồm Chương trình Minh Triết Làm chủ Biển Đông, Viện Nghiên Cứu Văn Hóa Biển, Viện Nghiên cứu Lý Luận và Phát Triển đồng tiến hành buổi mítting- hội thảo vể ‘Lịch sử Chủ quyền Biển đảo Việt Nam’ vào sáng ngày 4 tháng 11 tại Hà Nội.

Theo kế hoạch sinh hoạt diễn ra từ 8 giờ 30 sáng thế nhưng trước đó nơi tổ chức sự kiện bị mất điện một cách bất thường. Ngoài ra bên ngoài khu vực còn có xe của cảnh sát, xe buýt chuẩn bị bắt người…

Tuy vậy buổi mít tinh- hội thảo cuối cùng cũng được tiến hành. Giám đốc Chương trình Minh triết Làm chủ Biển Đông, ông Nguyễn Khắc Mai, cho biết lại:

“ Có khoảng ngót 100 người dự gồm nhiều nhà trí thức, có cả những quan chức ví dụ như giáo sư Đặng Hữu- nguyên ủy viên trung ương trưởng Ban Khoa giáo, tiến sĩ Thanh Giang, tiến sĩ Nguyễn Quang A, giáo sư Trần Ngọc Vương, phó giáo sư Trần thị Đoan Thanh, có rất nhiều nhà khoa học về các lĩnh vực, có nhiều cựu quan chức kể cả thành viên trong Ban tư vấn chính phủ cũng tham dự. Đặc biệt có những thành viên No-U, dân oan, những anh chị ở ngoại thành, cả dư luận viên, sinh viên, đoàn viên thanh niên cộng sản mặc áo xanh, đeo huy hiệu …

Như thế là cuộc họp mà chúng tôi gọi là một ‘tiểu Diên Hồng’ để bàn vấn đề chủ quyền biển đảo.

Chúng tôi cũng nói rằng ngày mai ông Tập Cận Bình đến Hà Nội, hôm nay anh tập hợp đây đã truyền một tinh thần mạnh tại khu vực Ba Đình để thấy thái độ của nhân dân Hà Nội không đồng tình và phản đối chính sách bá quyền, đại Hán, đế quốc chủ nghĩa theo kiểu Trung Hoa, thao màu sắc Trung Hoa hiện nay chứ không chỉ có vấn đề Biển Đông. Mà còn nhiều vấn đề trong các mối quan hệ với các dân tộc trên thế giới này ở Châu Á, Châu Phi… đặc biệt với Việt Nam.”

Một người tham dự và cũng là diễn giả tại buổi mít tinh- hội thảo, nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc từ Sài Gòn, có đánh giá về buổi mít tinh- hội thảo tại Hà Nội mà ông tham dự trong ngày 4 tháng 11  như sau:

” Chúng tôi cũng nói rằng ngày mai ông Tập Cận Bình đến Hà Nội, hôm nay anh tập hợp đây đã truyền một tinh thần mạnh tại khu vực Ba Đình để thấy thái độ của nhân dân Hà Nội không đồng tình và phản đối chính sách bá quyền, đại Hán, đế quốc chủ nghĩa theo kiểu Trung Hoa, thao màu sắc Trung Hoa hiện nay chứ không chỉ có vấn đề Biển Đông

ông Nguyễn Khắc Mai”

“ Mở đầu cuộc hội thảo, giáo sư Trần Ngọc Vương của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có bài tổng kết rất hay chỉ ra lịch sử của Trung Quốc là lịch sử của một nhà nước nội địa, nhà nước thảo nguyên không hề có văn hóa biển. Đó là điểm rất hay để phán bác lại lời nhận vu vơ chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa  của Việt Nam là của Trung Quốc từ rất lâu đời. Và giáo sư Trần Ngọc Vương cũng chỉ ra bản chất của nhà nước Trung Quốc là một đối kháng giữa Nho giáo và pháp gia từ trước đến giờ mà gây ra nhiễu loạn trên thế giới dẫn đến chủ nghĩa bành trướng bá quyền, sô vanh đại Hán.

Phát biểu của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng trên tinh thần của một nhà khoa học chỉ ra những sai lầm trong chính sách đối ngoại của nhà nước Trung Quốc hiện nay với chính sách bá quyền của họ. Giáo sư Hưng đặc biệt nhất mạnh Philippines là một nước nhỏ nhưng nhân dân, trí thức Philippines đã ngẩng đầu trước toàn thế giới. Mặc dầu phiên xử kiện của Tòa Trọng tài ở La Haye chưa tiến hành, nhưng Philippines ngẩng đầu vì đã đối đầu với một siêu cường như Trung Quốc.

Tôi thấy rằng hội thảo ngày hôm nay có một tiếng nói rất thống nhất yêu cầu lãnh đạo nhà nước Việt Nam khi tiếp Tập Cận Bình phải đặt vấn đề làm sáng tỏ chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam. Còn nếu Trung Quốc không chấp nhận phải đưa ra Tòa án Công lý quốc tế.”

Thanh niên Từ Anh Tú tham gia mít tinh- hội thảo bày tỏ cảm tưởng và ý kiến sau buổi mít tinh- hội thảo:

“ Nói chung buổi hôm nay rất tuyệt vời vì được thêm những thông tin quí về chủ quyền biển đảo của mình tại Hoàng Sa, Trường Sa; những đòi hỏi rất phi lý của Trung Quốc về hai quần đảo này.

Cần phải làm nhiều việc: trước hết phải tuyên truyền ra cho người dân biết về thông tin này, thứ hai về phía chính phủ cần phải có những động thái mạnh mẽ hơn chẳng hạn kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế. Tức là cần phải làm gì đó hơn là cứ im lặng, chính phủ không lên tiếng thì dần dần mặc nhiên Trung Quốc sẽ chiếm hai quần đảo này.”

” Trong những ngày qua trên mạng cũng xuất hiện lời kêu gọi của hơn 20 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam về việc đón Tập Cận Bình tại VN. Theo đó vào ngày 5/11 mọi người tập trung biểu tình để đưa ra thông điệp yêu cầu TQ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông; chấm dứt hành động bắn giết ngư dân VN”

Biểu tình- kiến nghị tại Sài Gòn

Cũng trong ngày 4 tháng 11, vào lúc 2 giờ chiều tại chân Tượng đài Trần Hưng Đạo ở Bến Bạch Đằng, thành phố Sài Gòn, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng tiến hành cuộc biểu tình theo như kế hoạch thông báo trước đó.

Ông Đinh Quang Tuyến, một nhà hoạt động tham gia cuộc biểu tình ở Sài Gòn vào chiều 4 tháng 11 cho biết lại hoạt động đó:

“ Được khoảng 100 người, hôm nay tinh thần rất mạnh mẽ. Tổ chức rất bài bản mà công an không quấy phá và cho đến lúc này anh em đang đi taxi về vẫn không có quấy phá. Người quan trọng nhất là giáo sư Tương Lai và tất cả những vị bô lão của CLB Lê Hiếu Đằng làm nòng cốt. Còn lại có nhiều bạn trẻ Thanh niên Dân chủ, Con Đường Việt Nam…

Tôi cầm cái dù vàng ( viết chữ) ‘Tôi yêu Việt Nam, tôi yêu Hoàng Sa, tôi yêu Trường Sa’. Còn của những người khác mỗi người một kiểu viết tiếng Hoa, tiếng Việt, tiếng Anh. Anh em viết sao cho công chúng nhận ra được thôi. Vô số biểu ngữ với nội dung ‘Đả đảo Tập Cận Bình’, ‘Không tiếp Tập Cận Bình ở Việt Nam’…

Hôm nay người dân được thỏa mãn khi được xem một cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra hoàn hảo. Tổng thời gian chừng 1 tiếng 10 phút: ở Tượng đài nửa tiếng và ở khu phố đi bộ nửa tiếng. Đại khái thế.”

Kêu gọi biểu tình

Trong những ngày qua trên mạng cũng xuất hiện lời kêu gọi của hơn 20 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam về việc đón Tập Cận Bình tại Việt Nam. Theo đó vào ngày 5 tháng 11 mọi người tập trung biểu tình để đưa ra thông điệp yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông; chấm dứt hành động bắn giết ngư dân Việt Nam; nhà cầm quyền Trung Quốc phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Biểu tình sẽ diễn ra từ 9 giờ sáng trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn.

Vào ngày 3 tháng 11 tại Hà Nội, một số nhà hoạt động cũng xuống đường mang theo biểu ngữ phản đối chuyến thăm Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình theo thông báo diễn ra trong hai ngày 5 và 6 tháng 11 này.

QUẢNG ĐẠI VÀ TỰ DO

QUẢNG ĐẠI VÀ TỰ DO  

 LM Giuse Phạm Thanh Liêm

Người nghèo thường quảng đại và sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người khác.  Họ tự do với bạc tiền danh lợi, nên có thể tin vào con người và sẵn sàng yêu thương phục vụ hơn.

Hãy coi chừng

Chúa Yêsu nói với mọi người: “hãy coi chừng” những ông kinh sư, họ thích mặc áo thụng xúng xính khác người, thích được chào hỏi, thích ngồi chỗ nhất, nhưng lại “nuốt” hết tài sản của các bà góa, lại còn giả bộ đọc kinh lâu giờ.

Không phải chỉ những ông kinh sư thời Đức Yêsu thích rồi làm như vậy, mà con người ngày nay cũng vậy nữa: cũng tham của người, ham danh hám lợi, và hay giả bộ “đạo đức”.  Nếu đạo đức thật, mà người ta thấy thì cũng tốt vì làm gương sáng; còn nếu không đạo đức mà lại làm như thể đạo đức, là giả hình.  Hãy coi chừng.

Nếu ai thích khen, người đó có thể bị điều khiển bằng lời khen; nếu ai tham của, người đó có thể bị mua chuộc bằng tiền của.  Người đó đang bị nô lệ, bị sai khiến bởi tiền bạc danh vọng chức quyền.  Người đó tưởng họ đang tự do, nhưng thực sự họ đang nô lệ và bị điều khiển mà họ không biết.  Hãy coi chừng.

Nếu bạn không nô lệ những điều đó, thì hạnh phúc biết bao!

QUANG DAINgười nghèo quảng đại

Tiên tri Elia trên đường lánh nạn đã được Chúa truyền đến sống nhờ một bà goá nghèo.  Cũng có thể nói bà goá nghèo và con bà sống nhờ tiên tri, vì chính nhờ tiên tri mà hũ bột không cạn và hũ dầu không vơi.   Đúng hơn Thiên Chúa thương cả tiên tri lẫn bà goá nghèo nên đã nuôi sống tất cả.

Bà goá chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu, lượm củi làm cái bánh cuối cùng để “ăn rồi chết”, thế mà bà vẫn tin lời tiên tri, làm cho ông một cái bánh trước khi làm cho con bà và chính bà.  Cách hành xử của bà goá này rất đẹp.  Tôi có đơn sơ tin người và sẵn sàng giúp người như bà goá nghèo này không?  Thiên Chúa quá tuyệt.

Bà goá trong Tin Mừng được Đức Yêsu khen là quảng đại, dám dâng cúng tất cả những gì mình có.  Có người nói rằng: “vì bà goá chỉ có mấy xu nên dễ dàng để dâng cúng tất cả, còn nếu bà goá này thật giầu thì chắc bà chẳng dám bỏ tất cả đâu”!  Cũng có thể như vậy, nhưng “những người quảng đại” thường nghèo; có lẽ họ “hay cho” nên mới không giầu.  Bà goá đó không giầu được vì bà luôn cho tất cả, dù khi bà có hai xu hay có nhiều hơn hai xu, có lẽ chưa khi nào bà giữ cho mình được mười đồng vì bà vẫn cho những gì bà có.  Thiên Chúa cũng cho con người tất cả, ngay cả điều qúy nhất là Chúa Con và Thánh Thần.

Những người “ham tiền” thường ky cóp và không bỏ ra ngay cả một xu!

Người nghèo dễ tự do để chọn theo Thiên Chúa hơn

Có mấy người hiểu được hạnh phúc của người nghèo?  Có mấy người hiểu được người nghèo tự do đến mức nào?  Trong cuộc sống, bao nhiêu quyết định bị chi phối bởi sợ người này hay không dám làm mất lòng người kia, sợ người khác hiểu lầm mình, sợ người khác không còn đánh giá mình cao nữa, sợ người khác biết sự thật về mình.  Vì sợ nên không được tự do.

Xin Chúa cho con nghèo, để con không còn gì để phải sợ, để con chỉ còn biết sống theo Chúa theo sự thật, để chỉ bị tình yêu thương chi phối mà thôi.

 LM Giuse Phạm Thanh Liêm

Mất đảng có mất nước?

Mất đảng có mất nước?

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

H1Theo báo chí trong nước, chiều ngày 22 tháng 10 vừa qua, trong một phiên họp tại Quốc hội, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có bài nói chuyện về tình hình quốc phòng và an ninh của đất nước, trong đó, ông liệt kê những thắng lợi của Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như biện hộ cho vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giữ nước. Ông nhấn mạnh: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất”.

Để khẳng định như vậy, ông Phùng Quang Thanh đưa ra hai lập luận chính:

Thứ nhất, sự lãnh đạo độc tôn của đảng sẽ mang lại ổn định trong xã hội và sự độc lập của đất nước. Ông lập luận: “Nếu mà trong nội bộ đất nước để xảy ra bạo loạn, biểu tình, ly khai, xảy ra tổ chức đối lập, để xảy ra lực lượng vũ trang đối lập (như một số nước đã có), mà lại phải dùng lực lượng chức năng trấn áp, để xảy ra thương vong, đổ máu thì bên ngoài sẽ lấy cớ vi phạm dân chủ, nhân quyền, dùng biện pháp này, biện pháp khác để bao vây, cấm vận, cô lập chính trị, chia rẽ nội bộ, thừa cơ đó lật đổ chế độ.”

Thứ hai, ông cho chính nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng sản nên cho đến nay, Việt Nam mới vừa giữ được chủ quyền trên Biển Đông vừa duy trì được hoà bình cho đất nước. Ông cho biết trong mấy chục ngày Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, Bộ Chính trị đã có 12 phiên họp để bàn về kế sách đối phó. Kết quả là, sau đó, Trung Quốc cho kéo giàn khoan về nước và Biển Đông đã lặng sóng. Ông cũng nói thêm là các hòn đảo ở Trường Sa do bộ đội Việt Nam trấn giữ vẫn thuộc Việt Nam; các giếng khoan dầu ngoài khơi vẫn tiếp tục hoạt động và ngư dân vẫn tiếp tục đánh cá an toàn.

Những lập luận ấy, thật ra, hoàn toàn nguỵ biện.

Thứ nhất, liệu dân chủ hoá có dẫn đến hỗn loạn, từ đó, sự can thiệp của nước ngoài hay không? Câu trả lời rất rõ: Không. Cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sụp đổ, không có nước nào lâm vào cảnh bạo loạn cả. Trừ Nga, tất cả các nước khác đều ngày một trở thành dân chủ hơn, và cùng với dân chủ, thịnh vượng hơn. Trong hai năm 2011 và 2012, các chế độ độc tài ở một số quốc gia Trung Đông và Bắc Phi lần lượt sụp đổ và dù gặp rất nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu, con đường dân chủ hoá cũng càng lúc càng mạnh mẽ. Sự hỗn loạn chỉ có ở Syria và Libya nhưng ở cả hai nước này, sự hỗn loạn đến từ những nguyên nhân khác: sự phân hoá về chủng tộc và, đặc biệt, tôn giáo với sự tham gia của các lực lượng Hồi giáo cực đoan. Ngay ở Á châu, từ mấy năm nay, Miến Điện cũng dần dần dân chủ hoá nhưng không gây nên bất cứ sự bất ổn nào. Bởi vậy, không có lý do gì để sợ khi chế độ Cộng sản sụp đổ, Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng. Hơn nữa, khi sự thay đổi ấy xuất phát từ chính đảng Cộng sản với một lộ trình dân chủ hoá mạnh mẽ và rõ ràng, nguy cơ khủng hoảng càng giảm thiểu.

Thứ hai, liệu không còn đảng Cộng sản, biển đảo Việt Nam có bị mất? Câu trả lời cũng không.

Có hai lý do chính.

Một là, sự thật lịch sử trong mấy chục năm vừa qua chứng minh một điều ngược lại: chính chế độ cộng sản tại Việt Nam mới làm cho Việt Nam mất biển đảo vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết công hàm Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958, trong đó, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Ai cũng biết năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, chính những người lính Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam đã liều mình để bảo vệ đảo trong khi đó, ở miền Bắc, chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo thì hoàn toàn im lặng. Ai cũng biết năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm mấy bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam chỉ phản ứng lấy lệ và cuối cùng, các bãi đá ấy đều lọt vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết từ mấy năm nay, trước các hành động lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, kể cả việc bắt bớ, thậm chí giết hại ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, Việt Nam cũng chỉ phản ứng một cách rất “ngoại giao”. Phản ứng cho có để dân chúng khỏi lên án, vậy thôi. Nói chung, trước dã tâm xâm lấn biển đảo của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam chưa hề chứng tỏ có một chiến lược đối phó nào cho thật rõ ràng trừ sự nhường nhịn. Hơn nữa, với những khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng”, dường như họ cũng không thấy hết nguy cơ đến từ Trung Quốc.

Hai là, tuyệt đối không có bằng chứng nào cho thấy một chế độ dân chủ sẽ trở thành yếu ớt hơn trong việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Nếu không muốn nói, ngược lại. Chế độ dân chủ có hai mặt mạnh mà một chế độ độc tài không có: Thứ nhất là dễ có liên minh rộng rãi và vững chắc với các nước khác trên thế giới; và thứ hai là dễ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng.

Nói tóm lại, lập luận “mất đảng, mất chế độ thì mất biển đảo” chỉ là một sự nguỵ biện. Nó không đúng. Nó chỉ biện hộ cho việc duy trì chế độ độc tài tại Việt Nam mà thôi.

No U No XI

No U No XI
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Hà Nội sáng ngày 3 tháng 11 năm 2015 diễn ra được là điều thật bất ngờ. Vì lực lượng an ninh Cộng Sản đã có kế hoạch đàn áp từ nhiều ngày trước, khi 21 tổ chức cùng ký tên kêu gọi đồng bào tập họp phản đối chuyến đi của Tập Cận Bình. Ngoài những biểu ngữ quen thuộc như: Ðả đảo Trung Quốc xâm lược, hoặc Hoàng Sa-Việt Nam, Trường Sa-Việt Nam, bà con còn trương lên một khẩu hiệu mới: “Phản đối lệ thuộc Trung Cộng.” Bốn chữ “Lệ thuộc Trung Cộng” có thể coi như một danh từ, gọi đích danh thủ phạm, tên của một đảng và một chính quyền!

Những người dự cuộc biểu tình đều mang nét mặt đăm chiêu cương nghị chứ không tươi cười như mọi lần trước, bởi vì họ biết công an đang chụp hình, sẽ theo dõi, và sẽ bắt bớ, giam cầm, hành hạ. Nhưng họ vẫn bất chấp mọi thử thách, hiên ngang tiến bước, vì quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Nhiều người, nam, nữ, người lớn tuổi và thanh thiếu niên, mặc áo thung chữ T với khẩu hiệu NO U và NO XI!

Hai chữ NO XI, viết tiếng Anh cho cả thế giới hiểu, nghĩa là không đồng ý đón tiếp Tập Cận Bình (tên là Xi Jin Ping, phiên âm lối Bắc Kinh). NO U nghĩa là không chấp nhận vùng biển hình chữ U của Cộng Sản Trung Quốc bao gồm tất cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa coi là lãnh hải Trung Hoa, người Việt còn gọi là “đường lưỡi bò,” Trung Cộng gọi là “Cửu Ðoạn Tuyến.” Ngực áo NO U có vẽ bản đồ biển Ðông Nam Á, tô đậm vùng chữ U này với hai nét gạch chéo xóa bỏ.

Phong trào NO U mới tổ chức cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm kể từ ngày phát động phong trào. Từ mấy tuần qua trên Facebook khắp thế giới cũng được coi hình ảnh bốn người Việt yêu nước đeo tấm bảng NO XI trên ngực, đứng giữa đường với những khuôn mặt tự tin rạng rỡ. Họ đã biểu tình trên mạng trước khi thực hiện trên đường phố Hà Nội.

Những người dự cuộc biểu tình ngày hôm qua biết chắc sẽ bị đàn áp, vì trong tuần trước cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm hoạt động của anh chị em NO U đã bị công an trấn áp từ trước khi bắt đầu. Khi các thành viên NO U mới tề tựu, đã có mấy người vào trong quán, chiếc xe của họ bị chụp hình cho thấy cái mũ sĩ quan công an. Anh chị em NO U đang họp mặt thì đèn trong quán tắt ngúm, trong cả khu vực chỉ có một nhà hàng này bị cúp điện. Sau đó, một nhóm côn đồ chạy vào quán phá phách, đánh đập nhiều người rồi biến đi rất nhanh. Trong lúc điện tắt, mấy tay công an ngồi nhậu từ trước cũng biến luôn, cũng không trả tiền thức ăn và tiền rượu! Công an Cộng Sản không bỏ được thói ăn quỵt trong lúc làm nhiệm vụ trấn áp người Việt yêu nước!

Trước khi Hà Nội trải thảm đó đón rước Tập Cận Bình, báo chí quốc tế đã nghe nhiều người Việt lên tiếng và đăng lại. Ông Lã Việt Dũng nói với đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA rằng khi nào Trung Quốc vẫn còn tiếp tục chính sách bành trướng ở Biển Ðông thì dân Việt không muốn tiếp ông Tập Cận Bình. Blogger Lê Anh Hùng nhận xét rằng nhân dân Việt Nam lo cho chủ quyền đất nước hơn là giới lãnh đạo chính quyền. Ông yêu cầu họ phải lắng nghe tiếng nói của người dân.

Chính quyền Cộng Sản không nghe mà còn đàn áp không cho dân Việt được phát biểu ý kiến. Họ cấm các báo, các đài không được cho những người dân khác nghe những ý kiến chống Trung Cộng. Chắc phải rất hài lòng về hiệu quả đàn áp dân của đám đàn em, cho nên trước khi Tập Cận Bình qua nước ta tờ Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh đã khen ngợi, viết rằng: “…vấn đề Biển Ðông trong năm nay có xu hướng hạ nhiệt rõ rệt trong dư luận Việt Nam!”

Tại sao họ có thể nói phong trào phản kháng của dân Việt “hạ nhiệt rõ rệt?” Ký giả tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một cơ quan chính thức của Cộng Sản Trung Quốc, viết rằng: “Mở một trang báo Việt Nam bằng tiếng Anh hôm 29 tháng 10, chỉ thấy tin tức về các vấn đề kinh tế, dân sinh (mà không thấy tin dân chúng biểu tình chống Trung Cộng). Nhưng ngay người dân Trung Hoa cũng hiểu lý do: Cộng Sản Trung Quốc vẫn kiểm soát tất cả các cơ quan truyền thông. Ðám tay sai của chúng ở Việt Nam không bao giờ dám loan tin dân phản đối Trung Cộng!

Cũng vì bộ máy tuyên truyền ở nước ta phải làm tay sai cho cả Cộng Sản Trung Quốc, cho nên không một báo, một đài nào loan tin về bản tuyên bố của các nhà trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, phản đối cuộc công du sang Hà Nội của Tập Cận Bình. Nhưng bản tuyên bố này, được đưa lên mạng lấy chữ ký, đã trình bày những ý kiến thâm sâu, tha thiết của tất cả mọi người Việt, trước cảnh đất nước bị ngoại bang xâm lấn và đè nén.

Bản tuyên bố mở đầu với những lời khẳng định dân Việt Nam không thù nghịch mà biết xem trọng mối quan hệ hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai nước. Nhưng những người ký tên phải nêu lên những yêu cầu đối với giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Những lời yêu cầu tóm tắt như sau:

Thứ nhất, Cộng Sản Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động đe dọa tính mạng, tài sản và quyền tự do đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của dân Việt, cụ thể là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ nhì, bản tuyên bố “khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam mà nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực cưỡng chiếm năm 1974.” Vì vậy, cũng cảnh cáo: “Quyết tâm và nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam chúng tôi trong lịch sử ngàn năm chống xâm lược” là “không bao giờ quên mục tiêu giành lại từng tấc đất của tổ quốc!”

Bản tuyên bố nhấn mạnh thêm: “Chúng tôi cực lực phản đối việc nhà nước và đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và bãi đá thuộc chủ quyền Việt Nam trong quần đảo Trường Sa và đang bồi đắp thành những cứ điểm quân sự ngăn chặn tự do hàng hải trên Biển Ðông.” Sau đó còn khẳng định: “Mọi âm mưu kìm hãm sự phát triển của đất nước chúng tôi để buộc đất nước này mãi mãi ở thế chư hầu là bất xứng với trí tuệ loài người, sẽ bị lịch sử nguyền rủa, và chắc chắn sẽ thảm bại!”

Sau những ý kiến nhắn cho ông Tập Cận Bình và Cộng Sản Trung Quốc, hai điểm còn lại của bản tuyên bố vạch rõ, dù không gọi đích danh, thái độ nhu nhược, hèn yếu của chính quyền Việt Nam hiện tại đóng vai trò tay sai nước ngoài.

Trước hết, bản tuyên bố minh định rằng “tình hữu nghị với bất cứ quốc gia nào” chỉ bền vững nếu hai bên tôn trọng lẫn nhau, khi một nước “luôn ở thế yếu hèn, không xứng tầm với đối tác” thì không thể nào kéo dài được.

Tiếp theo, những nhà soạn thảo bản tuyên bố nhắc đến giai đoạn “nước Trung Hoa bị đế quốc Nhật đô hộ từ năm 1937 đến năm 1945” để nhớ lại rằng “đã có một chính phủ tay sai Nhật được thành lập năm 1940 tại Nam Kinh” trong thời gian bốn năm (mà người Trung Hoa vẫn gọi là bọn Hán gian). Dùng thí dụ đó bản tuyên bố nói thẳng rằng hiện nay “chúng tôi chắc chắn rằng một số người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền, mà trong lịch sử chúng tôi đã có những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc,…” Những người đó “sớm muộn sẽ bị nhân dân Việt Nam chúng tôi vạch mặt.”

Cuối cùng, bản tuyên bố xác nhận, “Tình hữu nghị thật sự giữa nhân dân Trung Hoa và Việt Nam không thể dựa trên những phần tử phản bội dân tộc” và khẳng định rằng “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ trong tương lai” bọn phản bội này.

Từ khi phong trào phản kháng Trung Cộng cướp chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và bắn giết ngư dân Việt Nam, những người Việt viết kiến nghị hoặc đi biểu tình chưa hề công khai lên án những người Việt có trách nhiệm làm cho dân Việt thành nạn nhân của kế hoạch bành trướng của Cộng Sản Trung Quốc. Ngay trong các lễ tưởng niệm và các cuộc biểu tình nhân ngày giỗ các tử sĩ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và đảo Gạc Ma năm 1988, ban tổ chức cũng tránh không nói thẳng đến thái độ nhu nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam về những biến cố này.

Cho nên bản tuyên bố phản đối chuyến công du của Tập Cận Bình, và cuộc biểu tình nêu đích danh bọn người “lệ thuộc Trung Cộng” cho thấy phong trào chống bành trướng đang thay đổi. Lịch sử sẽ ghi nhận biến chuyển này: Lần đầu tiên người dân đã công khai lên án “những người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền” và gọi đích danh đó là “những phần tử phản bội dân tộc,” là bọn “lệ thuộc Trung Cộng”

Chính “những phần tử lệ thuộc và phản bội” này đã âm mưu phá đám cuộc họp mặt của nhóm phát động phong trào NO U trong tuần trước. Ðó là một âm mưu được bí mật hoạch định và dàn dựng từ lâu, vì chúng đã ngăn cản cả những người biết rằng sẽ tham dự buổi họp này. Trong buổi chiều ngày 30 tháng 10, cô Ðoan Trang đã bị bắt vào công an phường Cát Linh trên đường đi tham gia kỷ niệm sinh nhật NO U. Nhà báo Gió Lang Thang (Nguyễn Anh Tuấn) bị 10 tên cảnh sát, an ninh và côn đồ canh giữ trước nhà. Khi Tuấn vẫn quyết tâm ra khỏi nhà thì bị chúng tấn công, phải quay vào.

Nhóm NO U nhận định: “Những kẻ tấn công NO U phải có lòng căm ghét chủ quyền của Việt Nam lắm, phải căm thù những người chống Trung Cộng lắm.” Và họ đặt câu hỏi: “Những kẻ này là ai? Ít nhất, chúng đã một lần lộ mặt khi phá đám lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh ở Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm nay mà báo chí trong nước cũng loan tin. Tiến Sĩ Nguyễn Quang lên án: “Những kẻ nào phá NO U là chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân Việt Nam!”

Nhưng chúng ta có thể tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ” những kẻ phản bội này. Bản tuyên bố gửi cho Tập Cận Bình cũng như cuộc biểu tình ngày hôm qua phát xuất từ Hà Nội, đánh dấu một chuyển hướng. Người Việt Nam đã nhận thức rõ ràng là muốn thoát khỏi âm mưu bành trướng của Trung Cộng thì Việt Nam phải thay đổi những người lãnh đạo đất nước. Không thể nào “Thoát Trung” nếu chưa “Thoát Cộng!” Không U, Không XI cũng có nghĩa là Không Cộng Sản!

‘Bước tiến vĩ đại’: FDA chấp thuận cách trị ung thư mới

‘Bước tiến vĩ đại’: FDA chấp thuận cách trị ung thư mới
Nguoi-viet.com

WASHINGTON DC (NV) – Cơ quan Quản Trị Thuốc và Thực Phẩm (FDA) tuần qua lần đầu tiên chấp thuận cách chữa trị ung thư mới, chỉ tiêu diệt tế bào ung thư mà không đụng đến tế bào bình thường.

(Hình minh họa: Getty Images/Dan Kitwood)

Theo báo Guardian, chiến lược chữa ung thư mới mà theo các nhà chuyên môn, giúp bệnh nhân tránh khỏi sự hành hạ cơ thể của phản ứng phụ do việc hóa trị hay xạ trị.

Hóa trị và các phương pháp chữa trị ung thư hiện nay là tàn bạo, trong khi không ảnh hưởng mấy đến tế bào ung thư mà lại làm kiệt quệ cơ thể của bệnh nhân.

Phản ứng phụ do các lối chữa trị hiện nay nhiều trường hợp mang lại hậu quả thật kinh hoàng như rụng tóc, xuất huyết nội, nôn mửa và ngay cả gây thiệt mạng.

Phương pháp chữa trị mới chỉ tập trung vào việc tấn công tế bào ung thư, đồng thời kích thích hệ thống miễn nhiễm tự chống lại tế bào ung thư.

Sự chữa trị với tên gọi T-VEC (viết tắt từ talimogene laherparepvec) được bán với tên thương mại là Imlygic, sử dụng một vi rút đã được cải biến, được chích thẳng vào khối u để săn tìm và tiêu diệt tế bào ung thư, điều mà giới chuyên gia cho là bước tiến quan trọng trong việc chống lại căn bệnh gây chết người này.

Phương pháp chữa trị được phát triển bởi công ty kỹ thuật sinh học BioVex có trụ sở đặt tại Massachusetts. Năm 2011, tập đoàn dược phòng Amgen mua lại với giá $1 tỉ.

Vi rút tìm diệt ung thư từ lâu được xem như là nguồn chữa trị đầy nhân đạo.

Khác với lối chữa trị hiện nay như hóa trị và xạ trị, vốn tiêu diệt tế bào ung thư nhưng đồng thời hủy hoại luôn phần còn lại của cơ thể, vi rút được lập trình để chỉ tấn công tế bào ung thư, khiến bệnh nhân chỉ chịu một hai ngày với triệu chứng giống như bị cảm cúm.

Bác Sĩ Stephen Russell, nghiên cứu gia của Mayo Clinic, nói rằng việc FDA cho phép chữa trị ung thư bằng phương pháp Imlygic tượng trưng cho “một bước tiến vĩ đại” trong sự chữa trị ung thư. (TP)

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Hà Nội, ngày 3 tháng 11 năm 2015.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

(Luật Lê Luân và Trần Thu Nam sau khi bị đánh và bị cướp)

Luật sư Trần Thu Nam và luật sư Lê Luân là hai trong số 5 luật sư nhận bào chữa miễn phí cho gia đình em Đỗ Đăng Dư.

Trong nhiều năm qua, luật sư Trần Thu Nam là một trong rất ít các luật sư của Việt Nam nhận bào chữa trong các vụ án của những người hoạt động nhân quyền và dân chủ.

Những nỗ lực của luật sư Nam trong những năm qua đã được đền đáp khi gần đây đã có thêm rất nhiều luật sư bắt đầu hợp tác với nhau để bảo vệ cho các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Trong số đó, luật sư Lê Luân đã tham gia rất tích cực.

Có lẽ điều này đã làm cho những yêu độc tài tức giận và dẫn đến vụ tấn công bạo lực ngày hôm nay.

Phần thứ hai, có thể là lúc này mọi sự chú ý trên cộng đồng mạng đều tập chung vào chuyến thăm VN của Tập Cận Bình. Những kẻ thân TQ muốn chia sẻ bớt sự chú ý của cộng đồng mạng.

Do vậy, một vụ tấn công nhằm nhiều mục đích: thỏa mãn sự bức xúc của những kẻ yêu độc tài; dằn mặt những luật sư mới tham gia bảo vệ công lý; kéo bớt sự chú ý của cộng mạng ra khỏi chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Họ có thể thỏa mãn.

Nhưng họ đã nhầm!

Nhưng tôi tin là cả hai luật sư bị đánh, bị cướp sẽ không bỏ cuộc. Các luật sư khác cũng sẽ không bỏ cuộc. Đồng thời còn thu hút sự quan tâm ủng hộ lớn lao hơn của cả giới luật sư và dư luận. Chắc chắn Đoàn luật sư Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ không bỏ qua vụ này. Những kẻ tấn công bạo lực và cướp tài sản sẽ phải bị điều tra và đưa ra xét xử.

Cho dù có thêm những chuyện gì xảy ra thêm nữa thì Nhân dân Việt nam vẫn sẽ tiếp tục phản đối mạnh mẽ chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Dư luận quốc tế và cộng đồng mạng sẽ lên án mạnh mẽ vụ tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế, Liên hiệp quốc chắc chắn không bỏ qua vụ này.

Rất rõ ràng, họ đã sai lầm khi tổ chức tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Ảnh Facebook
 Ngày 3/11 Luật sư Trần Thu Nam của đoàn luật sư Hà nội đã bị tấn công gây thương tích, khi đến gia đình Đỗ Đăng Dư, một thiếu niên bị đánh chết trong trại tạm giam của công an. Luật sư Nam là người đại diện cho gia đình Đỗ Đăng Dư trong vụ án này. Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của một số luật sư, trí thức Việt nam về chuyện luật sư Việt nam liên tục bị hành hung trong nhiều năm nay.

Đài Á châu tự do liên lạc được với Luật sư Trần Thu Nam vào buổi chiều ngày 3 tháng 11 khi ông đang chuẩn bị vào bệnh viện để chữa trị vết thương. Ông nêu lên giả thuyết của ông về nguyên nhân tại sao ông bị đánh:

“Tôi đang khiếu nại công an Hà nội là không cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi người bị hại cho tôi. Tôi đang khiếu nại họ lên Viện kiểm sát và Liên đoàn luật sư, và Liên đoàn luật sư đã lên tiếng. Tôi không biết chắc chắn là tại sao họ lại đánh tôi vì tôi không có thù oán với ai cả. Nhưng trong quá trình bảo vệ vụ Đỗ Đăng Dư, tôi có khiếu nại công an thành phố Hà nội về việc gây khó khăn cho luật sư, và tôi đang làm một báo cáo gửi lên Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc.”

Quyền lực của bộ máy công an

Trong nhiều năm qua, những luật sư đứng ra đại diện cho các tù nhân chính trị thường hay bị tấn công gây thương tích, thậm chí bị tù đày như các luật sư Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,… Nhưng vụ án Đỗ Đăng Dư hoàn toàn không mang tính chính trị, vì nạn nhân phạm tội trộm cắp và bị đánh chết trong tù. Luật sư Võ An Đôn ở Tuy Hòa, người đưa tin rất sớm về vụ hành hung luật sư Nam nói với chúng tôi rằng:

“Nguyên nhân theo tôi nghĩ là có thể người ta trả thù cái việc mà luật sư Trần Thu Nam bảo vệ cho gia đình bị hại (Đỗ Đăng Dư). Những vụ án không liên quan đến chính trị nhưng lại liên quan đến ngành công an, công an thì liên quan đến chính quyền, người ta cầm bộ máy hành pháp, lực lượng rất là đông, và người ta trả thù.”

Luật sư Đôn cũng từng bị các viên chức cao cấp ở tỉnh Tuy Hòa đe dọa xóa tên ông ra khỏi luật sư đoàn của tỉnh. Các vụ án mà luật sư Đôn tranh biện ở tòa cho đến nay cũng không dính dáng đến chính trị.

Một luật sư từng bị tù vì có liên quan đến các vụ án chính trị là Luật sư Nguyễn Văn Đài ở Hà nội còn nêu một lý do khác đằng sau vụ hành hung luật sư Nam là ý muốn đánh lạc hướng của nhà cầm quyền. Ông cũng nói là hiện nay có nhiều luật sư đứng ra nhận lãnh những vụ án liên quan đến sự lạm dụng quyền lực của cơ quan công quyền.

“Gần đây có vụ án Đỗ Đăng Dư đã xuất hiện nhiều luật sư cảm mến tinh thần dấn thân của luật sư Nam mà tham gia cùng luật sư Nam trong các vụ án như vậy. Thì có thể đây là một điều làm cho chính quyền họ tức tối, và có thể dẫn đến vụ hành hung này. Lý do thứ hai mà tôi dự đoán là trên dư luận mạng người ta đang chú ý đến chuyến thăm của Tập Cận Bình vào ngày mùng năm mùng sáu tới đây. Thành ra vụ tấn công này là để làm giảm sự chú ý của mọi người trên cộng đồng mạng về Tập Cận Bình. Lý do thứ nhất thì có lý hơn nhưng tôi cũng nghĩ đến lý do thứ hai.”

Chính trị hay không chính trị? Đảng trị hay pháp trị?

Một trí thức đối lập nổi tiếng của Việt nam là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, hiện sống ở Đà Lạt, khi được hỏi tại sao vụ án mà luật sư Nam đang làm đại diện không có tính chính trị nhưng ông cũng bị quấy nhiễu, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không đồng ý:

“Chuyện đó cũng là chính trị đấy anh ạ, vì công an hiện nay lộng hành như là một đội kiêu binh của đảng. Cho nên chạm vào nó cũng là chính trị đấy. Nó giết người như không đấy, chửi nó thì cũng như là chửi đảng vậy, mặc dù nạn nhân (vụ án) không liên quan đến chính trị.”

Sau khi Việt nam quyết định cải cách kinh tế vào năm 1986, qui chế luật sư đoàn cũng được thành lập thay cho chế độ bồi thẩm đoàn nhân dân do nhà nước chỉ định trong các phiên xử án trước kia. Tiếng nói của các luật sư đã ít nhiều mang tính độc lập, các phiên tòa đã có sự tranh luận với sự hiện diện của các luật sư.

Đồng thời các luật sư lại thường hay bị bắt bỏ tù hay bị hành hung.

Ông Hà Sĩ Phu nhắc lại rằng trong nguyên tắc cầm quyền của các đảng cộng sản, thì lực lượng công an dùng để trấn áp là vô cùng quan trọng, hơn nữa các chế độ này lại không xem trọng luật pháp.

“Anh có nhớ ngày xưa ông Phạm Văn Đồng có nói gì đấy không? Ông ấy nói rằng làm luật để nó trói tay mình à! Độc tài họ ghét luật lắm, vì luật là để bảo vệ dân quyền mà. Có hai giới mà họ ghét lắm, đó là giới luật sư và giới nhà báo.”

Tính đối kháng giữa đảng cầm quyền và giới luật sư thể hiện rõ nhất trong vụ luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng cộng sản vào tháng chín năm 2014, với lý do được báo chí nhà nước Việt nam nêu rõ là cản trở sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều thú vị là luật sư Trừng cũng là một người tham gia đảng cộng sản và góp phần làm cho cuộc cách mạng cộng sản thành công ở Việt nam.

Xã hội dân sự và công lý

Theo dòng diễn biến chính trị xã hội gần đây, nhiều người hy vọng là một xã hội dân sự ở Việt nam sẽ được cho phép hình thành. Và trong xã hội dân sự đó vai trò của giới luật sư sẽ ngày càng quan trọng hơn.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không chia sẻ cái nhìn này. Ông liên hệ vụ hành hung luật sư Nam và vụ quấy nhiễu, hành hùng blogger Nguyễn Lân Thắng trong thời gian gần đây.

“Họ sẽ dùng cái xã hội dân sự láo của họ. Cái kiểu Trần Nhật Quang đấy. Kiểu dùng côn đồ không liên quan đến chính quyền. Đây là bọn côn đồ nhân danh quần chúng. Thế thì muốn cái đội ngũ đó công khai thì họ phải làm ra vẻ chấp nhận xã hội dân sự. Để cho xã hội dân sự láo của họ ra đời, chứ không phải xã hội dân sự thực sự tử tế và dân chủ! Cũng còn khó khăn lắm chứ không nên tưởng là họ cho ra là được đâu.”

Ông Trần Nhật Quang là nhân vật đứng đầu nhóm người đến quấy nhiễu gia đình blogger Nguyễn Lân Thắng.

Luật sư Trần Thu Nam vốn được nhiều đồng nghiệp nhận xét là một người thận trọng. Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông có nói rằng nghề luật sư của ông là một nghề nhiều rủi ro. Luật sư Võ An Đôn cũng chia sẻ lo ngại này của luật sư Nam, và ông cho rằng muốn chấm dứt tình trạng này thì không có cách gì khác là phải để cho nền tư pháp của quốc gia được độc lập.

Sau khi vụ hành hung luật sư Nam xảy ra, luật sư Lê Công Định, người từng bị ở tù vì bảo vệ các bị cáo trong những vụ án chính trị, viết trên trang FB của ông rằng công tố và luật sư là hai trụ cột của nền công lý, việc tấn công luật sư sẽ đánh đổ một trong hai trụ cột đó, khiến cho nền công lý bị què quặt. Cũng qua FB, ông trao đổi với chúng tôi rằng Liên đoàn Luật Sư Việt Nam phải phản ứng mạnh mẽ, không đơn thuần vì hai đồng nghiệp bị đánh, mà còn vì nền công lý của Việt Nam.

NAY ANH MAI TÔI

NAY ANH MAI TÔI

LỄ CÁC LINH HỒN

Kn 3, 1-9; Rm 5, 5-11; Ga 6, 37-40

Tác giả:  Huệ Minh

Ngôi thánh đường nhỏ bé của giáo xứ tôi nằm cạnh nghĩa trang bé nhỏ của giáo xứ. Đứng bên đây thánh đường ngó bên kia thánh đường là những người thân thương trong giáo xứ đã ra đi trước chúng tôi. Không chỉ có nghĩa trang nhỏ bé này nhưng đâu đó ở các nghĩa trang và thậm chí đâu đó và tro cốt của ông bà cha mẹ của chúng ta vì có thể có những người xưa đã khuất nhưng không tìm thấy dấu vết bởi chiến chinh.

Nhìn những nấm mộ đó, nơi những người thân của ta nằm đó, ta lại nhớ đến phận người. Phận người vẫn không thể nào thoát khỏi cái định mệnh của kiếp người : sinh – lão – bệnh – tử. Phận người là thế đó như theo kiểu cách nói của cố nhạc sĩ họ Trịnh :

Con chim ở đậu cành tre,

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn.

Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về trốn xa xăm cuối trời

Sương kia ở đậu miền xa

Con sáo ở trọ bao la đất trời

Nhân gian về trọ nhiều nơi

Bâng khuâng vì những đôi môi rất hồng

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Tim em người trọ là tôi

Mai kia về trốn xa xôi cũng…gần

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Môi xinh nở đậu người xinh

Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều

Xin cho về trọ gần nhau

Mai kia dù có ra sao cũng đành

Trăm năm ở đậu ngàn năm

Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Ơ hay là một vòng sinh

Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời

Phận người là thế, ở trọ để rồi cuộc đời khép lại sau cái chết.

Sau cái chết, tùy niềm tin của tôn giáo và gần hơn nữa là niềm tin của mỗi người khác nhau. Với niềm tin Kitô giáo thì cái chết chỉ là khép lại cuộc sống trần gian để bước vào vương quốc vĩnh cửu.

Với Trịnh Công Sơn thì : “Người chết nối linh thiêng vào đời”.

Không biết rõ tác giả định nói gì ? Chắc chắn phải có một ý nghĩa thâm sâu . Tuy không hiểu hết ý nghĩa của nó, nhưng nó giúp ta suy nghĩ : người chết nối linh thiêng vào đời vì thực tại cái chết là một thực tế đặt con người đứng trước một cái gì huyền bí, đáng sợ, và khi đứng trước thi hài người chết, ai ai cũng phải đối diện với cái ý nghĩ này : nay người, mai ta.  Và: nay tôi, mai anh.  Tôi chết, anh còn sống, nhưng còn sống đối với anh chỉ là “chưa chết”. Anh chỉ được “triển hạn”, chứ không bao giờ được “miễn trừ”.

Với những ý nghĩ như vậy mà chúng ta thường im lặng, trầm mặc đứng trước người chết, nhất là đứng trước thi hài một người thân yêu của mình.  Chúng ta im lặng, trầm mặc và buồn sầu, không chỉ vì người thân yêu không còn nữa, mà còn vì nghĩ đến cái chết  sẽ xẩy ra cho mình.  Người chết như mang theo phần nào chính chúng ta.  Trong người chết, nhất là những người ruột thịt máu mủ của chúng ta, một phần ruột thịt máu mủ của chúng ta đã ra đi.

“Người chết nối linh thiêng vào đời” là như vậy. Nghĩa là người chết đặt chúng ta đối diện với một thực tại khác, một thế giới của sự im lặng, huyền bí, một thế giới của sự tôn nghiêm, đáng kính, đáng sợ…  Vì sợ người chết,  sợ sự chết, nên người ta dù muốn hay không cũng phải nghĩ đến cái chết của mình, phải chuẩn bị cho cái chết không thể tránh được.

Có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già và sau lưng người trẻ”.  Đây là tâm lý chung cho mọi người vì người già dễ cảm thấy mình gần đất xa trời hơn người trẻ.

Tuy thế, nhiều khi người già cũng như người trẻ đều “tham sinh úy tử” nên ít khi nghĩ đến cái chết, nhưng khi thần chết đến thì người ta cảm thấy đã quá muộn. Vì thế, ông Henri Bordeaux nói : “Phần đông người ta chỉ mở mắt một lần, mà lần ấy lại là chính lúc tắt thở, nhưng người ta vội bóp mắt lại ngay”.

Đồng quan điểm với ông  Henri Bordeaux, ông John C. Collins nói : “Người chết mở mắt cho người sống”,  cũng có nghĩa là người sống bóp mắt người chết.

Ông Stephen Leacock nói : “Lạ lùng thay cái chuỗi đời người : còn nhỏ thì ước được lớn lên. Lớn lên rồi, ước đến tuổi trưởng thành. Đến tuổi trưởng thành rồi, ước được một tổ ấm.  Được tổ ấm rồi, ước làm ông nội nghỉ ngơi.  Được nghỉ ngơi rồi lại nuối tiếc  quãng đời quá khứ và cảm thấy một luồng gió lạnh đang rì rầm thổi tới.  Nhưng khi ý thức được rằng đời sống chính là ở hiện tại, ở trong ngày hôm nay, thì đã quá muộn rồi”.

Khi ta nhìn thấy những nấm mồ ở nghĩa trang như muốn nhắc nhở ta : hôm nay phiên tôi, ngày mai đến phiên anh.  “Hôm nay” là một ngày nhất định, rõ ràng, tại đây và lúc này, ai cũng phải công nhận rằng người thân yêu của chúng ta đã ra đi về đời sau, và lát nữa sẽ được chôn vùi trong lòng đất.

Nhưng còn chữ “Ngày mai” là một ngày bất định, mông lung, mờ mịt không biết bao giờ mới đến như người ta nói : “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” (Tục ngữ).  Đây là điều bắt buộc chúng ta phải động não vì nó liên quan đến số phận đời đời của chúng ta.

Theo tâm lý chung, người đời ai cũng “tham sinh úy tử” (ham sống sợ chết).  Người ta cũng nhận xét rằng : các cụ già thường sợ chết hơn các thanh thiếu niên.  Nhưng có một điều thực tế : không bao giờ người ta thấy mình sống lâu cả.  Dẫu đã tóc bạc da đồi mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy  như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy :

Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây,

Thoát chốc mà già đã tới ngay

(Nguyễn Khuyến)

Dù cuộc sống cứ mãi trôi nhưng rồi thi thoảng ta phải  dừng lại lại để bình tĩnh đứng ra ngoài cuộc đời bề bộn, ra ngoài cái Tôi chủ quan, mà quan sát và ý thức  nhận định một cách khách quan :

Tại sao tôi sống ?

Sống để làm gì ?

Chết rồi, ra sao ?

Phải tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Có người không biết tại sao mình sống, rồi sẽ ra sao !  Cho nên họ có cái nhìn bi quan về cuộc sống bởi vì họ không tìm ra được lẽ sống.

Lẽ sống của người Ki tô hữu ngày hôm nay được làm rõ trong tất cả các bài đọc. Với tất cả lẽ sống đó, niềm tin đó ta lại hân hoan sống trong trần gian này với niềm vui, với niềm tin và hy vọng một ngày kia ta cũng sẽ đoàn tụ với cha ông chúng ta trên thiên đàng nơi mà Chúa đã dọn sẵn cho những ai mà Thiên Chúa Cha trao cho Chúa Giêsu.

Cuộc đời này rất ngắn và rất vội, Giáo Hội dành ra tháng 11 này cách đặc biệt để ta có dịp báo hiếu, cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, những người đã khuất trước chúng ta. Và, cũng nhắc nhớ phận người của mỗi người chúng ta. Ngày nào đó, ta cũng phải trở về với tro bụi trong quy luật hạn hữu của con người nhưng chuyện cần thiết và quan trọng nhất là sống làm sao để mai ngày được ơn cứu độ.

Sống ở đời, giàu hay nghèo, sang hay hèn, đại gia hay tiểu gia không phải là vấn đề. Không phải là vấn đề bởi lẽ ta thấy dù giàu hay nghèo, sang hay hèn đó khi nhắm mắt lìa đời chỉ có vài mét đất như nhau mà thôi. Vì thế, chuyện cần và đủ cho cuộc đời của mỗi người đó là sau khi chết ta có được một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay không ?

Với phận con người mỏng dòn và yếu đuối để rồi ta lại cứ tiếp tục cầu nguyện. Cầu nguyện cho những người đã khuất và cầu nguyện cho chính bản thân chúng ta để ngày mỗi ngày ta biết trút bỏ những gì không là cần thiết, những gì làm vướng víu không để ta thanh thoát về với Chúa. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta tiếp tục tin tưởng, cầu nguyện và tín thác những người thân của ta trong tay Chúa cũng như cuộc đời của ta trong tay Chúa vậy.

Tác giả:  Huệ Minh