The Greatest Speech- Bài diễn thuyết hay nhất từ Charlie Chaplin gửi tới nhân loại

The Greatest Speech- Bài diễn thuyết hay nhất từ Charlie Chaplin gửi tới nhân loại

httpv://www.youtube.com/watch?v=4nCfzblfjOc&feature=player_embedded

“Nhà độc tài vĩ đại” (The Great Dictator – công chiếu năm 1940) đã trở thành một trong những phim hay nhất mọi thời đại. Và bài diễn văn trong phim đã trở thành một trong những diễn văn hay nhất mọi thời đại.

The Great Dictator là bộ phim đầu tiên dám thẳng thắn cười nhạo, chế giễu Hitler cùng chế độ của tên tướng người Đức tàn bạo này. Qua bộ phim Chaplin cũng bày tỏ tình cảm của mình đối với người dân Do Thái – những người đã chịu rất nhiều khổ cực dưới chế độ chuyên quyền của Hitler trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai. Vốn là một nghệ sĩ đa tài, trong The Great Dictator Chaplin giữ tới 5 vai trò chính bao gồm Đạo diễn, Biên kịch, Diễn viên chính, Nhà sản xuất và Nhà soạn nhạc, đồng thời đây cũng là một trong những bộ phim được sản xuất tại chính studio của Chaplin.

Bộ phim có năm đề cử Oscar và từng được gửi tới tận tay cho Hitler thưởng thức, sau khi biết tin ông ta có xem bộ phim này thì Chaplin nói rằng “Tôi sẽ đánh đổi mọi thứ để biết được ông ta đang nghĩ gì.”. Dường như hai con người này có một mối quan hệ kỳ lạ, phải không?

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Quan chức hải quan Pháp hôm 11/6 cho biết đã chặn đứng việc vận chuyển 136 kg ngà voi từ Cộng hòa Dân chủ Congo trên đường tới Việt Nam.

Đây là lần ngăn chặn vụ vận chuyển ngà voi lậu lớn nhất ở Pháp trong gần một thập kỷ. Hồi tháng 12 năm 2006, giới hữu trách nước này cũng đã phát hiện 600 kg “vàng trắng”

Hơn một chục ngà voi được cưa thành 37 miếng nhỏ, và  được giấu trong các thùng phía dưới các đĩa nhôm nhằm tránh bị máy soi phát hiện.

Đồ thủ công mỹ nghệ chế biến từ ngà voi vẫn là những mặt hàng “ăn khách” ở các quốc gia châu Á như Việt Nam, Thái Lan, và Trung Quốc.

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Các nhà hoạt động cho rằng việc mua bán lậu ngà voi đã đẩy đàn voi hoang ở châu Phi tới cảnh tuyệt chủng.

Điểm mặt

Ngoài việc nhiều gia đình người Việt sử dụng ngà voi để trang trí trong nhà, Việt Nam thời gian qua đã bị nhắc tên nhiều trên truyền thông quốc tế vì tình trạng mua bán sừng tên giác và các loại động vật hoang dã khác để làm thuốc.

Các nhân vật tranh đấu bảo vệ môi trường đề nghị áp dụng các biện pháp chế tài thương mại đối với Việt Nam vì Hà Nội đã không hành động để chống lại nạn mua bán sừng tê giác.

Báo cáo của các tổ chức bảo vệ môi trường nói rằng có “các bằng chứng  cho thấy Việt Nam và các nhân viên ngoại giao Việt Nam nằm ở trung tâm của một hoạt động mua bán sừng tê giác bất hợp pháp qui mô lớn, góp phần gây ra vụ khủng hoảng săn bắt tê giác trái phép lớn nhất trong vòng hơn 30 năm.”

Tuy nhiên, các giới chức Việt Nam đã phủ nhận tố cáo cho rằng Việt Nam là động lực thúc đẩy các hoạt động mua bán sừng tê giác trái phép.

Theo AFP, VOA

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Lang Thang Internet


Linh Tiến Khải

Từ mấy tuần qua tin tức về tình hình tại Biển Đông xem ra dồn dập và nóng bỏng, lôi kéo sự chú ý của các phương tiện truyền thông quốc tế.

Hôm mùng 2 tháng 6 vừa qua nhật báo Shimbun của Nhật Bản có đăng bài bình luận bàn về tình hình Biển Đông, và đưa ra ra câu hỏi: liệu tổng thống Barack Obama có thực sự muốn cản ngăn hành động cướp biển phi pháp của nhà nước Bắc Kinh hay không, và nếu có thì tới mức độ nào. Trong các tháng qua toàn thế giới đều chứng kiến thái độ ngoan cố, lì lợm, vô liêm sỉ của Nhà nước cộng sản Trung Quốc, ngang nhiên ngồi xổm trên luật pháp quốc tế, và công khai ăn cướp biển đảo của các nước vùng Đông Nam Á. Nó cho thấy Nhà nước Bắc Kinh càng ngày càng cương quyết nhận vơ Biển Đông là của mình, và đặt chủ quyền trên Biển Đông, bằng cách gấp rút xây các căn cứ và sân bay quân sự trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khác đã cướp được của Việt Nam, với sự đồng loã phản quốc bán nước của Nhà nước cộng sản Hà Nội. Với các hoạt động gấp rút ấy quân cướp Trung Cộng muốn đặt thế giới trước những sự kiện đã rồi. Nhưng việc xây 7 đảo nhân tạo trái phép ấy trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã gây ra làn sóng tranh luận trên chính trường Hoa Kỳ cũng như trong nội bộ quân đội nước này. Ngay từ năm ngoái Hải quân Mỹ đã kêu gọi chính quyền Washington nhanh chóng đưa máy bay và tầu chiến vào khu vực các đảo bị Bắc Kinh chiếm đoạt phi pháp.

Từ tháng 5 vừa qua quân đội Hoa Kỳ đã bắt đầu cho máy bay do thám và tàu chiến hiện đại thực hiện các vụ trinh sát, giữ gìn tự do hàng hải ở Biển Đông. Và trong các ngày từ 17 đến 21 tháng 5 vùa qua Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương đã tổ chức một cuộc diễn tập tác chiến đổ bộ tại Hawaii với sự tham dự quan sát của các giới chức quân đội cao cấp của 20 quốc gia. Ngày 27 tháng 5 Tân chỉ huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, đô đốc Harry Harris gọi các yêu sách của Trung Quốc là “lố bịch”. Phát biểu trong buổi lễ nhận chức ngày 27 tháng 5 đô đốc Harris nói: “Hoa Kỳ sẽ tái lập thế cân bằng ở Thái Bình Dương. Lực luợng kết hợp của chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ với các đồng minh và bạn bè ở khu vực. Nếu được yêu cầu chúng tôi sẽ chiến đấu ngay buổi tối hôm nay để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện diện và phát biểu trong buổi lễ ông Ashton Carter, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, nhắc lại lập trường của Mỹ là phản đối bất kỳ hành động quân sự nào của Trung Quốc trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ông nói: trước tiên chúng tôi muốn giải quyết các tranh chấp trong hòa bình và yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay việc cải tạo đất ở Biển Đông dựa trên các yêu sách của họ. Thứ hai, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay, di chuyển và khai triển hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như đã từng làm trên toàn thế giới này. Cuối cùng, với các hành động của mình Trung Quốc đang đứng ngoài hai tiêu chuẩn quốc tế, đó là đe đọa an ninh khu vực Á châu Thái Bình Dương và vi phạm nguyên tắc “tiếp cận không cưỡng chế” mà các nước trong khu vực đang theo đuổi.”

Hoa Kỳ cũng tuyên bố rằng nếu Trung Cộng không dừng hoạt động xây đảo nhân tạo phi pháp, thì chính quyền Mỹ sẽ đưa tầu chiến vào khu vực 12 hải lý của các đảo đá, mà Trung Quốc chiếm đoạt trái phép.

Mới đây nhất ngày mùng 2 tháng 6 vừa qua trong buổi đón tiếp và trao đổi với các đại diện giới trẻ hoạt động xã hội Đông Nam Á thuộc tổ chức “Chương trình thân hữu các sáng kiến của giới trẻ lãnh đạo Đông Nam Á” tại tòa Bạch Ốc, tổng thống Barack Obama kêu gọi Nhà nước cộng sản Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, và ngưng ngay các hành động “thúc cùi chỏ”, ăn hiếp các quốc gia láng giềng để bành trướng thế lực tại Biển Đông. Nếu Trung Quốc không từ bỏ kiểu hành động này, dùng sức mạnh của một nước lớn để tranh giành chủ quyền và dựa vào lực lượng hải quân thay vì pháp luật, thì nền kinh tế Á châu sẽ không còn thịnh vượng nữa.

Trước mắt, Hoa Kỳ đưa ra chiến lược “Cost Imposing” kết hợp các biện pháp ngoại giao, quân sự và tuyên truyền tạo dư luận quốc tế bằng cách liên tục công bố các hình ảnh Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở Biền Đông để buộc Trung Quốc phải trả giá mắc mỏ cho các tham vọng của mình. Đồng thời chính quyền Whasington cũng thắt chặt các mối quan hệ với các đồng minh châu Á Thái Bình Dương và các nước Đông Nam Á, gia tăng năng lực phòng vệ biển đảo, và mong Lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia nhiệm vụ tuần tra ở Biển Đông.

Dọc dài lịch sử suốt 70 năm của mình Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ biết xung phong làm “quân tốt thí” cho Liên Xô và Trung Cộng, hết hy sinh xương máu của nhân dân, rồi lại ký kết các công hàm bán nước cho Trung Quốc. Năm 1975 tập đoàn cộng sản Hà Nội đã rước 10 sư đoàn tầu cộng vào Bắc Việt để dồn quân tiến chiếm miền Nam. Sau đó vơ vét tất cả nhũng gì có thể vơ vét được để trả nợ cho Bắc Kinh. Giờ đây, bốn mươi năm sau khi đặt ách thống trị độc tài sắt máu trên cả nước, và để vuột mất bao nhiêu dịp may thoát ách nô lệ, chẳng lẽ đảng cộng sản Viêt Nam cứ luôn mãi ngu đần cúi đầu làm “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới hay sao?

http://vi.radiovaticana.va/news/2015/06/05/chẳng_lẽ_cứ_luôn_mãi_là_quân_tốt_thí_trên_bàn_cờ_thế_giới/1149347

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-14

06142015-polit-pris-ta-p-tan-stop-hunger.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

File photo

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được gia đình cho biết tuyệt thực trong trại giam từ ngày 13 tháng 5. Hôm nay 14 tháng 6, thân nhân đến Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa để tìm hiểu tình hình thực tế của cô và được biết cuộc tuyệt thực đã ngưng cách đây 10 hôm.

Tuy nhiên tình trạng giam giữ đối với những tù nhân chính trị ở Việt Nam vẫn đáng quan ngại; và biện pháp tuyệt thực để đấu tranh trong nhà tù như của cô Tạ Phong Tần vừa qua luôn được nhiều người quan tâm đồng hành.

Tin mới nhất

Những người quan tâm đến tình hình của tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong suốt tháng qua tỏ ra lo lắng về sức khỏe của cô. Trong chuyến đi thăm cô lần này ngoài hai người em là anh Tạ Minh Tuấn và chị Tạ Minh Tú còn có một số nhà hoạt động khác ở Việt Nam cùng đi.

Người trực tiếp được gặp tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần là cô em Tạ Minh Tú. Sau khi thăm gặp chị từ trại giam ra, chị Tạ Minh Tú cho biết thông tin mới nhất:

“Tình hình ổn rồi, chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm  nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực.

Trong đó khi gặp tôi cũng báo cho chị là các anh chị 3 miền tụ về để ủng hộ cho chị và bên ngoài người ta đang có cuộc vận động từ trong và ngoài nước ( yêu cầu) nhà cầm quyền phải trả tự do cho chị Tần. Chị gửi lời cám ơn.

” Chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực

chị Tạ Minh Tú”

Nói với chị chỉ được 10 phút thôi và chị cho biết những ngược đãi đối với chị vẫn không có gì thay đổi. Sức khỏe của chị vì vừa mới tuyệt thực nên không có gì khả quan lắm!”

Quan ngại

Cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên hiện đang bị quản chế tại nhà ở Hải Phòng vào ngày 12 tháng 6 vừa qua cũng tuyệt thực một ngày để bày tỏ sự đồng hành cùng tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong nhà tù. Vào ngày 13 tháng 6 chị Phạm Thanh Nghiên chia sẻ sự quan tâm đối với người đang phải đấu tranh trong tù:

Có một người vừa trở về được vài tháng và họ cho biết khi chị Tần, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và một số người khác vào thì họ sửa lại khu buồng giam kỷ luật; tức trong trại tù có khu kỷ luật và những tù nhân bị cho vi phạm kỷ luật thì bị nhốt vào đó 7 ngày, 10 ngày hoặc hằng tháng với những điều kiện rất khắc nghiệt. Tôi chưa bao giờ bị giam giữ trong những khu đó cả; nhưng những người tù từng ở với tôi nói lại rằng khi họ xây những trại giam đó thì những phần bệ nằm ( phần đủ cho một người tù nằm) được cho muối vào. Tôi không biết trong ngành xây dựng khi cho muối trộn vào xi măng để làm gì; nhưng những người kia nói lại với tôi là để khi vào mùa hè thì vào mùa hè như ở Thanh Hóa đã nóng rồi thì với kỹ thuật đó lại càng nóng hơn; vào mùa đông đã lạnh thì càng lạnh hơn.

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Và cũng xin nói thêm là khi bị kỷ luật thì không được đắp chiếu mà chỉ có một bộ quần áo tù, không có đồ lót bên trong. Đến kỳ kinh nguyệt thì phải xin cán bộ trại giam mới có quần lót và băng vệ sinh. Đó là sự tra tấn vô cùng man rợ và trong thời gian tuyệt thực hằng ngày cán bộ trại giam vào hành hạ rất ghê gớm vì tôi chứng kiến trường hợp của chị Trần Ngọc Anh cũng như của tôi là mỗi ngày hai lần họ mang biên bản vào và bắt minh ký. Họ còn dùng nhiều hình thức khác để tra tấn tinh thần của mình. Vì chính là người từng ở trong đó nên tôi rất đồng cảm, tôi hiểu. Tôi cho rằng chị Tần là người phụ nữ phi thường.

Cô Phạm Thanh Nghiên cũng cho biết thông điệp của hành động tuyệt thực cùng với tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần:

“ Tôi muốn bằng khả năng hạn hẹp của mình do sức khỏe không tốt và đang bị quản chế là chỉ góp một chút tình cảm, tiếng nói để đồng hành với những đau khổ, khốn khó của chị Tạ Phong Tần người mà tôi rất yêu quí đang phải chịu trong nhà tù.

” Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5″

Tôi cũng xin gửi đến thông điệp mà thông điệp này tôi cũng gửi đi cách đây 2 năm khi mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực. Lúc đó mở đầu là bác sĩ Phạm Hồng Sơn sau đó đến tôi và nhiều người khác đồng hành với cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Thông điệp của tôi là không ai phải chịu cô đơn trên con đường tìm kiếm tự do và công bằng cho dù người đó đang ở trong chốn lao tù.”

Ủng hộ

Sau khi có tuyên bố tuyệt thực của cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên nhằm đồng hành cùng Tạ Phong Tần, blogger Mẹ Nấm từ Nha Trang cũng công khai trên trang Dân Làm Báo là sẽ tuyệt thực ba ngày để chia sẽ cùng các tù nhân Tạ Phong Tần, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương…

Từ khi có tin tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần tuyệt thực trong tù để phản đối sự ngược đãi tù chính trị của trại giam, nhiều người hiện ở nước ngoài cũng bày tỏ quan ngại và lên tiếng cho tình trạng của cô Tạ Phong Tần.

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua  phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5.

Xin được nhắc lại cô Tạ Phong Tần năm nay 46 tuổi. Cô bị bắt từ tháng 9 năm 2011 và tháng 9 năm 2012 bị kết án 10 năm tù với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong phiên xử cùng với hai người cùng sáng lập Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và AnhbaSaigon PhanThanh Hải.

Từ khi bị kết án tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đạ bị đưa qua ba nhà tù khác nhau ở Bình Dương, Đồng Nai và Thanh Hóa. Tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa hiện có những nữ tù nhân lương tâm khác là Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Cấn Thị Thêu…

Cô Tạ Phong Tần vào dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2013 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh là một trong 10 phụ nữ can đảm trên thế giới.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại nêu tên tù nhân Tạ Phong Tần cho rằng cô bị chính quyền Hà Nội bỏ tù một cách sai trái chỉ vì dán vạch trần tình trạng tham nhũng của chính phủ Hà Nội. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam hiện nay trả tự do cho tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần.

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,
“em ra đi mùa thu sương mờ giăng âm u

em ra đi mùa thu mùa thu không còn nữa
đếm lá úa mùa thu đo sầu ngập tim tôi.”

(Phạm Trọng Cầu – Mùa Thu Không Trở Lại)

Trần Ngọc Mười Hai

(Rm 12: 9-13)

Có trở lại hay không, thì thu mùa vẫn luôn là Mùa Thu, mùa của những úa vàng màu lá rất tình-tự. Tình-tự của thu mùa/mùa Thu lại dễ thấy, dễ bắt gặp ở câu ca tiếp theo đó, hát thế này:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ
buồn này ai có mua?
Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,
ngập giòng nước sông Seine,
mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Ấy chết! sao lại “nghe chơi vơi não-nề”, rồi lại thấy những là “sương rơi che phố mờ”, “chia-ly”, “nghe rơi bao lá vàng”, “ngập giòng nước song Seine.” Ôi thôi! Là, thi-ca ngập tràn giòng chảy rất êm đềm để tôi, để bạn, để chúng ta không còn quên lãng những ngày “mùa Thu không trở lại”, được nữa rồi.

Thế đó, là những cảm-xúc, cảm-quan và cảm-nhận ở đời người, nơi thi-ca giòng chảy rất đời thường. Và dưới đây, lại là những xúc-cảm, xúc-động cùng chất xúc-tác ở giòng đời người đi Đạo, nay đã thấy. Thấy, như người viết trên truyền-thông/báo-chí, rất như sau:

“Rất ư là thường tình, chuyện bảo rằng: tôi hay có cái cảm-giác cần chuyển-tải khắp chốn/miền lời xin lỗi gửi đến với mọi người, cả khi lý-lẽ tôi đưa ra vẫn rất thừa, tuy đúng đắn. Đôi lúc, tôi cũng tỏ ra cứng-rắn với chính mình sau nhiều khoảnh-khắc thấy mình quá nhạy-cảm. Nên, tôi thích để lại một số ấn-tượng để mọi người thấy tôi là người có lý-trí chứ không chỉ mỗi xúc cảm tràn đầy mà thôi… Tuy thế, tôi vẫn thấy cảm-xúc vẫn là điều tốt đẹp cho mọi người. Nay, xin có đôi phút để ‘sáng-tỏ’ vấn-đề.

Trước nhất, chả khi nào tôi coi cảm-xúc là những gì bết bát, dù lý-lẽ hay lý-sự bao giờ cũng chễm-chệ ở trên. Thứ đến, đây không là cảm-tưởng của giới phụ-nữ khi nghĩ rằng nam-giới vẫn hay làm bọn tôi cảm thấy xấu-xa tệ-bạc đầy xúc-động và vì thế mới thấy rằng “đàn ông thường ở trên cơ bọn nữ tớ phận hèn này!” Điều đó không có nghĩa vơ đũa cả nắm bảo rằng: vốn dĩ là nữ-giới nên chúng tôi có làm thế nào đi nữa cũng vẫn bị mang tiếng là tạo vật lằng-nhằng đầy cảm-xúc. Nhưng, dù sao bọn tôi cũng nhận ra rằng: khi ta kiểm-soát được mọi cảm-xúc không để chúng khống-chế trên ta, thì khi đó ta sẽ hoàn toàn mạnh-khoẻ, bình thường dễ tạo cuộc sống cho chính mình. Và, đó cũng là thành-phần cấu-tạo nữ-tính theo sinh-lý với tất cả mọi chi-tiết về sinh-lý làm mục-tiêu….

Nói tóm lại, xúc-cảm dù mang tính nhiều xúc-động đi nữa, vẫn là dấu-hiệu của sự mạnh-khoẻ chứ không phải đau/yếu bao giờ hết…” (x. Tamara Rajakariar, Women and their feelings, MercatorNet 4/3/2015)

Vâng. Thế đó, là một quan-niệm ở đời. Với mọi người trong đời. Một đời người lại vẫn có những câu ca được người nghệ-sĩ diễn-tả bằng giòng chảy thi-tứ rất tiếp-tục, rằng:

“Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Cả thi-nhân lẫn nhạc-sĩ, có thể “không bao giờ quên” được những cảm xúc lê thê, sầu buồn nhất là vào lúc thấy rõ rằng: “Hôm em ra đi mùa thu”, thì đó là lúc tôi và anh đều sẽ “đếm lá úa sầu lên”, để rồi “bao giờ cho tôi quên.”

Ở nhà Đạo, đôi lúc cũng thấy rằàng: người đi Đạo và giữ Đạo đôi lúc cũng hay quên rất nhiều chuyện, như chuyện chính-yếu trong đời, được Đức Giáo Tông nhắc nhở ở lời nhắn nhủ vào hôm ấy, như sau:

 

“Gặp gỡ người cao niên, ốm yếu, bệnh-tật, Đức Giáo Tông có nhắc nhở rằng: người đau/yếu vẫn cứ theo chân Đức Giêsu Kitô khi Ngài vác thập-giá nặng, không như giới chức và giáo-dân ở một số cộng-đoàn giáo-xứ thường hay quên lãng, chẳng ai biết đến.

Hướng về những người trẻ có mặt hôm ấy, Đức Giáo Tông Phanxicô có nói rằng: tất cả chúng ta là tội-nhân vẫn được gọi mời “hãy vùng đứng lên với ân-huệ Chúa ban cho” cả sau khi ta gục ngã trong lỗi phạm. Và, điều quan-trọng là: Niềm vui, không thể mua bán ngoài phố chợ, nhưng là quà tặng từ Chúa Thánh Thần mình nhận được khi nguyện-cầu trong thinh-lặng….” (x. Bản tin trên The Catholic Weekley ngày 10/5/2015, tr. 7 có đầu đề là: Joy is a Gift of the Holy Spirit: Pope)

Thế đó, còn là cảm-xúc, cảm-tính lẫn cảm-tình cần có đối với mọi người, già/trẻ, lớn/bé, gái/trai cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Một đời người, vẫn có đủ hỷ nộ ái ố, rất thất tình. Nhưng, cảm gì thì cảm, vẫn là những cảm-thông ta có với dân-gian mọi thời.

Với con dân trong Đạo, có thứ cảm-nhận mà người thường ở huyện hay lẫn lộn, chí ít khi đọc truyện kể hoặc suy-tư/nhận-định về các sự-kiện Đức Giêsu từng diễn-lộ với mọi người. Một cảm-nhận thường sai sót nhiều nhất, là khi người đọc trình-thuật, lại hiểu theo ý rất khác hẳn. Đó là điều, được đấng bậc thày dạy ở đại-học De Paul bên Mỹ, lại đã phân-định, như sau:

“Nên nhớ rằng: những điều ta định ra được ở một số trình-thuật Tin Mừng, thường có sự khác-biệt khi nhận-định về lòng tin. Những điều như thế lại thấy áp-dụng ở đây, ngang qua xác-định về sự khác-biệt giữa tính huyền-diệu và phép lạ hoặc sự lạ. Tính huyền-diệu/tuyệt vời, là điều gì đó tôi hoặc chúng ta không có giải-thích thoả-đáng nào, vào lúc ấy.

Trên thế-gian, vẫn có muôn vàn huyền-diệu/tuyệt-vời xảy ra ở quanh ta, khiến ta dễ dàng chấp-nhận mà không thắc-mắc gì hết.

Tôi không tin, là ta sống trong vũ-trụ khép kín trong đó ta hiểu hết mọi sự/mọi việc cách trọn-vẹn. Cả khi ta hiểu hoặc biết thế-giới, cách trọn-hảo thế nào đi nữa, đó vẫn là hiểu hoặc biết của riêng ta mà thôi. Bởi thế nên, tôi kỳ vọng sẽ tìm ra được muôn vàn sự việc mà tôi không hiểu rõ hoặc giải-thích được. Nhiều chương-trình truyền-hình vẫn thích gọi đó là bí-nhiệm hoặc bí-ẩn. Và, những gì tôi gọi là huyền-diệu/tuyệt-vời hoặc khúc-mắc/rắc rối, có những hiện-hữu trên đời theo cách khách-quan, chính là sự huyền-diệu, tức sự-việc đưa ta cảm-kích đến độ ưa-thích, là bởi vì ta không có giải-thích nào thoả-đáng về nó hết.

Khi mọi người tuyên-bố gọi sự huyền-diệu là sự lạ hay ‘phép lạ’, là họ đã có động-thái xuất tự lòng tin của họ mà ra. Và, họ tuyên-bố điều đó là cho chính họ, mà thôi. Thiên-Chúa vẫn hành-động cách trực-tiếp, ngay tức khắc trong hoàn-cảnh này, Ngài vẫn can-thiệp chuyện bình-thường ở ngoài đời cách đều-đặn, hoặc theo tiến-trình tự-nhiên để tạo sự huyền-diệu/lạ lùng ấy. Thế thì, bằng vào định-nghĩa về động-thái của lòng tin, tức động-tác diễn-giải cách cơ-bản vượt mọi bằng-chứng hoặc chẳng có chứng-cớ gì hết, cũng vậy.

Thành ra, không thể có cái-gọi-là ‘sự lạ’ hay ‘phép lạ’ một cách khách-quan được, trừ phi ta sống trong một thứ vũ-trụ tuyệt-đối khép kín, mà tất cả mọi tiến-trình và luật-lệ ta đều nắm vững. Khi ấy, mọi chuyện ta không thể giải-thích nổi sẽ là ‘phép lạ’ hoặc ‘sự lạ’, tức thứ xâm nhập của thế-lực siêu-nhiêu đi vào hệ-thống khép kín của thế-giới tự-nhiên. (xem John Dominic Crossan, Who is Jesus, Westminster John Knox Press 1996 p. 74-77)

Hiểu thế rồi, nay ta hãy mạnh-dạn đi vào vườn trình-thuật Tân Ước, để rồi sẽ bắt gặp giòng tư-tưởng chính-đáng những dặn rằng:

“Anh em hãy gớm ghét điều dữ,

tha thiết với điều lành;

thương mến nhau với tình huynh đệ,

coi người khác trọng hơn mình;

nhiệt thành, không trễ nải;

lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.

Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng,

cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,

và chuyên cần cầu nguyện.

Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh

đang lâm cảnh thiếu thốn,

và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”

(Rm 12: 9-13)

Suy thế rồi, nay ta hãy cùng nhau đi vào vùng trời truyện kể để thư-giãn. Thư và giãn,  bằng những lời lẽ rất “buông lỏng” để thể-hiện như lời dặn dò của ai đó, trong đời rằng:

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật: “CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

Đúng thế. Sống trong đời, với mọi người, chỉ để yêu và để thương hết mọi người. Dù, người ấy đã ra đi như người nghệ-sĩ từng hát nhiều vào hôm trước, bằng những câu như:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề

qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ

buồn này ai có mua?

Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,

ngập giòng nước sông Seine,

mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.

Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Vâng. Đúng là như vậy. Như vậy, tức: ngày hôm nay, nếu em hoặc anh có “ra đi mùa thu” đi nữa, thì tôi đây vẫn vui tươi chứ không sầu buồn, dù hay quên.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã ra đi

Và còn đi, đi mãi

Vào nhiều mùa thu hơn nữa.

“Em đừng khóc làm gì”,

Tin Mừng (Mc 4: 35-41)

Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giêsu nói với các môn đệ:

Chúng ta sang bờ bên kia đi!

Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng theo Người. Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói:

“Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”

Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển:

“Im đi! Câm đi!”

Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. Rồi Người bảo các ông:

“Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?

Các ông hoảng sợ và nói với nhau:

“Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Em đừng khóc làm gì”,

Cho nước mắt vu vơ

Dù đôi tay buông xuống

Chúng mình vẫn tin tưởng,

Chúng mình vẫn say sưa…”

(dẫn từ thơ Nguyên Sa)

Mai Tá lược dịch

Tin tưởng hay say sưa, vẫn là những tình-tự của con người nơi thế-giới nhà Đạo rất say sưa, nhiều tin tưởng. Hệt như truyện kể ở trình-thuật rất hôm nay.

Trình-thuật hôm nay, Đức Giêsu đã chứng-tỏ cho các vị gần cận, đi theo Ngài để thực-hiện một sứ-vụ rất tin-tưởng, đầy say sưa. Tin, đến độ không còn hãi sợ bất cứ thứ gì, kể cả chết đuối chết chìm giữa cơn phong-ba/bão táp của đời người.

Những tháng ngày đã qua, ai trong chúng ta hầu như cũng đã hơn một lần tiếp xúc với đủ mọi truyền thông đại chúng, rồi sau đó có tỏ-bày một tin-tưởng vào chuyện truyền-thông/vi-tính từng loan-báo. Truyền-thông hôm nay có đủ thứ để hấp dẫn người nghe, người đọc kéo về mà tin tưởng bằng đủ mọi cách. Có những cách, như: hội thoại ba chiều, điện đàm với truyền hình còn gọi là “face time”, hoặc “điện thư phát tiếng”, như Viber.

Đây là thành phần không thể thiếu trong cuộc sống đương đại. Cần thiết đến độ: nhiều lúc, ta không thể bỏ qua những tình huống vật vã khi phải giao tiếp với người đang ở bên kia đường giây điện thọai; cứ phải hét to những điều đã nói đi nói lại trong suốt cuộc điện đàm. Cuộc sống hiện thời là thế đó.

Cứ tưởng tượng, vào một ngày đẹp trời, Đức Chúa cài đặt  “điện thư phát tiếng” vào hệ thống giao lưu chốn Thiên đường, không hiểu mọi việc sẽ ra sao? Chẳng hạn như, ta đang tập trung cầu nguyện mà lại nghe có tiếng từ trời cao: “Cảm ơn con đã gọi, Ta là Thân Phụ Đức Chúa đây. Con hãy nhấn một trong các nút số sau đây: -Muốn xin điều gì, con hãy nhấn số “1”. -Muốn nói đôi lời cảm tạ, con nhấn số 2. –Nếu chỉ cần tả oán, than phiền một ai, con nhấn số “3”. -Về các chuyện khác, hãy nhấn số “4” cho Cha. Đơn giản, chỉ có thế”.

Có trường hợp, Đức Chúa hành xử theo lối xã giao thông thường, như: “Xin lỗi con, Cha đang bận giải quyết đôi chuyện cho người anh em của con. Tuy nhiên, lời cầu của con rất cần đối với Cha, nên con hãy chờ đấy, Cha sẽ trở lại nói chuyện với con trong vài phút nữa,”… thì ta sẽ hành xử ra sao?

Trường hợp tệ hơn, đang điện đàm mà lại thấy có tiếng nhắn, đối đáp như thế này: “Vi tính của Cha cho biết: con đã thầm cầu nguyện như thế đến 3 lần trong suốt ngày hôm nay. Gác máy lên đi con và trở lại gặp Cha ngày mai nhé” … hoặc “Văn phòng của Cha hôm nay đóng cửa vì là ngày Sabát, con hãy trở lại với Cha vào lúc  “Không” giờ từ Thứ Hai tuần tới, nhé. Hoặc giả, có chuyện gì khẩn cấp cần giải quyết ngay, con cứ đến gặp Linh mục chánh xứ, thầy Imam hoặc các vị Thượng tế trong vùng, cũng được…” Trường hợp nào ở đây cũng đều là gọi-đáp. Khi xưa, xảy ra trong giấc mộng. Hôm nay, qua kỹ thuật viễn thông, vi tính.

Bài đọc I và Phúc âm hôm nay cũng đều nói đến gọi và đáp, tương tự như chuyện ở trên. Nhưng được viết theo cung cách giản đơn, thích hợp với hiểu biết của người đương thời lúc ấy. Bài đọc I cho thấy: nhiều người vẫn nghĩ Lời Chúa gọi-mời nói chuyện với chúng ta cũng cùng một cách thức tương tự. Lúc nãy là giọng oang oang, lanh lảnh nhắn ta làm điều giản đơn, nhanh gọn.

Thánh Yoan ghi lại trình thuật theo phong thái giản đơn, tế nhị. Đọc bài ngài viết, hẳn ta đã rõ là các môn đệ tiên khởi cũng được gọi-đáp hỗ tương, hai chiều. Hai bên đối đáp không tỏ dấu bồn chồn, hối hả. Như thánh An-rê tông đồ chẳng hạn. Sở dĩ thánh nhân thuận theo chân Yêsu Đức Chúa là do nghe được lời khuyên của thánh Gioan Tẩy giả. Còn, Simôn Phêrô đến với Đức Kitô lại ngang qua lời truyền miệng của người anh em ruột thịt. Tức, nghe được đề nghị của An-rê, em mình.

Nói chung, điều mà tác giả các bài đọc muốn gửi đến người nghe hôm nay, chính là: Đức Chúa mời gọi tất cả chúng ta hãy đến mà sống và phục vụ Chúa bằng nhiều kiểu cách và phương tiện. Có thể, vì muốn nắm bắt điều gì xác thực nên chúng ta vẫn mải mê, hy vọng. Vẫn cứ chờ đợi đường lối, chỉ đạo của bậc trên. Những chỉ đạo mang nặng sắc thái bi ai, kịch tính về thánh ý của Đức Chúa. Có người đạt sở nguyện. Người khác thảy đều như Anrê hoặc Simôn Phêrô. Nghĩa là, phần đông đều cảm nhận lời Chúa bằng nhiều cách nối kết hoặc ứng đáp khác thường.

Tựu trung, chúng ta thường hay chiều theo sở thích, ưa những chuyện ly kỳ, khúc mắc hơn là giản đơn. Nhưng, hãy nên để thời thời gian phụ giúp, kinh nghiệm cuộc đời sẽ tạo đường, chỉ lối dẫn đưa ta đến với phương cách chọn lựa mang nhiều hy vọng, tin tưởng và dễ thực hiện nhất.

Phúc âm hôm nay đặc biệt đưa ra một khía cạnh thật đáng khích lệ. Đó là: trường hợp của thánh An-rê tông đồ. Thánh nhân nhất quyết tuân theo những gì Yêsu Đức Chúa mời gọi. Thánh nhân đã sống trung thành với quyết định của mình. Ông nhận ra rằng đồng hành với Đức Yêsu là hành trình trải dài theo năm tháng. Để rồi chung cuộc, nhờ biết đáp ứng một cách tích cực, nên thánh nhân đã trở thành vị tông đồ rất chăm; chuyên lãnh vai trò tuyển mộ đồ đệ của Đức Chúa một cách kiên trì, bền bỉ.

Ngày nay, lời kêu gọi đối đáp mà Đức Chúa gửi đến chúng ta mang dáng dấp hơi khác thường. Thay vì mải mê tìm kiếm nơi chốn Đức Chúa ẩn mình trú ngụ, ta lại có nhiều cơ may hơn để cảm nghiệm cuộc sống “rất riêng“ của Ngài. Cảm nghiệm được như thế, tức là ta đã mời Ngài thiết lập cơ ngơi đến thường trú với ta trong cuộc sống miên trường. Dù cho, sự thể có biến đổi đến thế nào đi nữa, rồi ra mọi việc sẽ diễn tiến theo cùng kiểu cách; nghĩa là, cũng có gọi-đáp, không khác khi trước là bao.

Tựa như Samuel, An-rê và Simôn Phêrô lúc xưa, chắc chắn lời ứng đáp của ta với điều Chúa kêu mời phải dẫn đưa ta đến được mục tiêu Ngài muốn. Thái độ của ta chắc cũng không khác gì các đồ đệ của Đức Chúa hôm trước. Thực tế cuộc đời cho thấy: tất cả các lời mời gọi và ứng đáp đều kéo theo cái giá của nó. Và, cho dù với giá nào đi nữa, chúng ta cũng đều phải trả. Có thể chỉ là việc cỏn con, đột xuất. Cũng có thể bằng một giá phải trả, rất đắt.

Ứng đáp lời mời gọi của Chúa qua Đức Kitô không phải tất cả mọi người, dù thờ ơ hay sốt sắng, ai cũng có thể thực hiện được. Không phải ai cũng cậy sức mình, những tưởng sẽ hoàn thành việc ứng đáp lời mời của Đức Chúa trong nháy mắt.

Ứng đáp là việc nhiều khi không đơn giản. Nó đòi hỏi nhiều quyết tâm nơi người đáp ứng. Quyết yêu kẻ thù của mình; quyết lo cho nền hòa bình chân chính; quyết thứ tha những ai sai phạm điều gì với chính mình, gia đình mình. Đặc biệt hơn, quyết biến cải thế giới này thành nơi tốt đẹp cho mọi người cùng sống. Sống trong công bằng. Sống hạnh phúc.

Trong cuộc sống thường nhật, muốn ứng đáp cho phải Đạo, thường vẫn buộc ta phải trả một giá khá đắt. Đắt vì quanh ta có nhiều thứ mời mọc hấp dẫn hơn, ở nơi nào đó… khiến ta cứ mải mê săn tìm. Ứng đáp lời mời gọi của Đức Chúa là việc cần làm. Ta chỉ việc nối đường giây rất gọn với cội nguồn của sự sống, rất hấp dẫn. Bởi,  nguồn cội này sẽ đem cho ta nhiều ý nghĩa lớn lao hơn. Có đáp ứng với lời mời gọi từ nguồn sống như thế, sẽ nối kết chúng ta vào với thế giới hôm nay. Nối kết với vương quốc của Đức Chúa trong mai ngày.

Suy cho cùng, cuộc sống bao giờ cũng dẫy đầy những cuốn hút, mời mọc. Vấn đề là: ta có đủ tỉnh trí để nhận ra được lời mời gọi nào là chính đáng, lời nào viển vông. Khi đã nhận ra lời mời chính đáng rồi, việc còn lại phải là: ta có đủ tỉnh táo để đáp ứng cho phải phép không? Hoặc vẫn cứ lơn tơn như người tiền sử, chẳng bận tâm gì đến thông số, điện toán. Chẳng thiết tha đến việc bấm số trả lời khi Đức Chúa vẫn gửi “điện thư phát tiếng” cho mỗi người và mọi người. Trong từng cộng đoàn lớn nhỏ.

Suy thế rồi, ta ngâm lại những lời thơ còn-đó-nỗi-buồn, rằng:

“Dù quanh chúng mình chỉ là những hàng rào đố kỵ

Giữa một đêm không trăng,

Giữa một lòng chiều không đáy,

Em đừng khóc làm gì

Cho nước mắt vu vơ…”

(Nguyên Sa – Bài Thơ Ngắn)

Thơ có ngắn, cũng nói lên được những điều mà truyền-thông/vi-tính lâu nay vẫn muốn nói bằng đủ mọi phương-tiện. Phương-tiện ấy có là điện-thư phát tiếng hoặc điện đàm có truyền hình, nhất nhất đều bảo nhau:

“Dù đôi tay buông xuống

Chúng mình vẫn tin tưởng,

Chúng mình vẫn say sưa

Chúng mình vẫn nhìn vào mắt nhau

Để mở chân trời rất rộng…”

Chân trời ấy, hôm nay, lại là niềm tin không vu vơ. Không hàng rào đố kỵ. Nhưng vẫn tin nhau như từng tin vào Đức Chúa, rất Giêsu là Thầy mình.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-06-12

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg4466727.jpg

Hình minh họa chụp năm 2011 tại Hà Nội.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Nhóm chuyên gia của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Saigon vừa có đề xuất khá đặc biệt gọi là “liên minh cải cách và phát triển cho Việt Nam gồm: Đảng, cơ quan dân cử, tư pháp, hành chính công vụ, kinh tế tư nhân.” Sự cải cách tập hợp này được xem như là điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt Nam có thể trở lại mức phát triển cao 7,5%-8%  trong mười năm tới.

“Không chịu uống thuốc đủ liều”

Theo Thời báo Kinh tế Saigon Online, tại cuộc tọa đàm về “Cải cách thể chế: từ tầm nhìn tới thực tiễn” do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tổ chức ở Saigon sáng 10/6/2015, PGSTS Phạm Duy Nghĩa một thành viên của Chương trình đã nhận định rằng, thể chế của Việt Nam hiện nay không theo kịp yêu cầu cuộc sống. Học giả này ví von  nền kinh tế Việt Nam hiện nay như một người bệnh đã được định bệnh, kê toa cho thuốc nhưng lại không chịu uống đủ liều.

” Vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.
-LS Trần Quốc Thuận”

Đặt ra liên minh cải cách để hình thành mô hình phát triển mới, nhóm nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đặt nặng tư duy cải cách cần thiết đối với Đảng Cộng sản. Vẫn theo SaigonTimes Online, một thành viên của nhóm, TS Huỳnh Thế Du đề xuất cải cách ba điểm mà Đảng trong vai trò lãnh đạo và dẫn đắt cần tập trung. Thứ nhất để định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, để có chính sách tốt hợp lòng dân thì thảo luận chính sách phải công khai và để đạt mục đích này Đảng phải chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn.

Thứ hai là Đảng cần thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, tìm ra nhân lực lãnh đạo có thực tài. Như vậy phải có một quá trình lựa chọn dân chủ, cởi mở, đựa trên nền tảng cạnh tranh.

Thứ ba là cần luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật.

Những đề xuất cải cách được cho là thẳng thắn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có tính khả thi hay không trong cơ chế một đảng độc quyền ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy ý kiến chuyên gia theo từng điểm một.   Đối với điểm thứ nhất, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận xét:

“Câu chuyện kêu gọi khuyến khích phản biện và giám sát thì Bộ Chính trị đã có có hai Nghị quyết 217, 218 để mà đặt vấn đề và tôi cho những việc đó cũng phù hợp với Hiến pháp 2013 là phát huy dân chủ, phát huy nhân quyền, tôi cho rằng điều đó không có gì trái. Nhưng vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.”

Đi đường vòng về tự do ngôn luận?

024_138495-250.jpg

Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.

Việc kêu gọi Đảng chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn có thể hiểu là một cách nói khác đi đường vòng về tự do ngôn luận, tự do lập hội. TS Phạm Chí Dũng, nhà phản biện độc lập từ TP.HCM đưa ra nhận định:

“Vấn đề là cần phải có đề xuất cụ thể hơn nữa, chứ bây giờ chỉ đưa ra vấn đề xã hội cởi mở thì Đảng trước giờ vẫn nói xã hội cởi mở, vẫn có chủ trương phản biện, dân chủ từ trên xuống từ dưới lên và mới đây thì ông Trọng lại đưa ra lời kêu gọi trí thức đóng góp phản biện và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng có Quyết định 501 xây dựng diễn đàn trí thức phản biện chuyên nghiệp giao cho Liên hiệp Hội Khoa học Kỹ thuật thí điểm xây dựng. Như vậy nếu như nhóm Chương trình Fulbright hay tổ chức nào khác không có đề xuất cụ thể hơn mà chỉ nói chung chung như vậy thì sẽ khó có thể thuyết phục được ai, đặc biệt là khó thuyết phục được đối tượng đang đề cập là Đảng và Nhà nước.”

Điểm thứ hai trong đề xuất cải cách của Chương trình Fulbright liên quan tới việc gọi là cơ chế cạnh tranh tìm nhà lãnh đạo thực tài, thông qua quá trình lựa chọn dân chủ. Luật sư Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu chuyện cạnh tranh thi để giữ các chức vụ thì hiện nay có Bộ Giao thông Vận tải thực hiện rất mạnh mẽ. Nhưng cũng chỉ là cấp dưới Bộ còn thực hiện cạnh tranh rộng rãi thì cũng có đặt ra cho bầu cử ở cấp cơ sở phường xã chứ chưa đặt ra ở cấp cao hơn. Cho nên việc đặt ra là có bầu cử tranh cử tự do hay không thì có lẽ Đại hội Đảng 12 này chưa đặt ra được,”

Cùng một câu hỏi được nêu ra về tính khả thi của đề xuất: Đảng thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, bầu cử dân chủ để lựa chọn nhân sự lãnh đạo. Ghi nhận một vài thí điểm thi tuyển ở cấp Vụ Cục Bộ GTVT hoặc ở cấp địa phương như Đà Nẵng, TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.  Bởi vì muốn cạnh tranh được phải có con người cạnh tranh, muốn xây dựng được con người cạnh tranh phải xây dựng được cơ chế tổ chức cạnh tranh. Như đã thấy ở trong Đảng, trong nhà nước, trong bộ máy chính quyền gần như chưa có yếu tố cạnh tranh vẫn chỉ chủ yếu là cán bộ con ông cháu cha, hay mua quan bán chức là nhiều. Chưa có yếu tố thực tài nhân tài, chưa trải thảm đỏ chưa thu hút người tài mà tất cả chỉ là lời nói miệng mị dân mà thôi.”

Điểm thứ ba trong đề xuất cải cách ba điểm đối với Đảng Cộng sản, nhóm nghiên cứu Chương trình Fulbright TP. HCM cho rằng cần luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng. Vì hơn ai hết Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đối với điểm này, LS Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu đó người ta đã đặt ra và bàn nhiều trong khi làm Hiến pháp 2013 và Điều 4 vẫn tiếp tục ghi vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng trong đó cũng ghi là Đảng chịu trách nhiệm về quyết định của mình, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều này là tốt, cho nên Luật Mặt trận Tổ quốc vừa qua có người cũng đặt vấn đề này. Tuy nhiên Luật Mặt trận Tổ quốc cũng chưa đi thẳng vào là có nên giám sát Đảng hay không. Trên nguyên tắc Đảng là toàn quyền lãnh đạo và có giám sát triệt để các cơ quan chấp hành của Đảng. Ở Việt Nam cũng được hiểu như thế là gián tiếp giám sát Đảng, nhưng trực tiếp giám sát cá nhân Đảng Cộng sản giao cho xã hội, cho đoàn thể khác thì vấn đề đó Việt Nam chưa đặt ra.”

Cùng về vấn đề luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nội dung ba điểm cải cách của nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright TP.HCM. Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng nhận định:

“Vấn đề này không mới, người ta thường nói là có một tổ chức hoạt động trái pháp luật từ trước tới giờ, ai cũng thấy nhưng không ai dám nói, đó là tổ chức Đảng vì không có một luật nào cho Đảng cả. Tôi nghĩ đây là đề nghị đáng chú nhất của nhóm Chương trình Fulbright mặc dù đã có nhiều người nêu rồi. Đảng cần được luật hóa và đưa vào trong Hiến pháp và xây dựng nguyên một bộ luật về những điều kiện hoạt động riêng cho đảng cầm quyền. Tôi muốn nói là luật đó không chỉ áp dụng cho đảng cầm quyền hiện nay mà còn áp dụng cho những đảng cầm quyền cho những thế hệ sau này trong những năm sắp tới trong điều kiện có nhiều đảng hơn một đảng hiện nay.”

Theo tường thuật của SaigonTimes Online, diễn giả TS Huỳnh Thế Du thuộc nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright TPHCM còn làm rõ hơn những góp ý cải cách với Đảng. Theo đó song song với những vấn đề mà Đảng cần tập trung cải cách vì là người định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, Đảng cần tập trung một cách chủ động vào năm vấn đề mà ông gọi là năm cấu phần quan trọng của việc hình thành một liên minh cải cách và phát triển đúng nghĩa.

Đó là chuyên nghiệp hóa hoạt động của cơ quan dân cử và dân biểu; tạo dựng một nền hành chính công vụ chuyên nghiệp đủ năng lực quản lý và điều hành quốc gia; tạo dựng hệ thống tư pháp đủ quyền lực để bảo vệ công lý; xem kinh tế tư nhân trong nước như một đối tác liên minh của chính quyền trong việc tạo ra một Việt Nam thịnh vượng; thừa nhận sự tồn tại và vai trò tất yếu của các tổ chức xã hội; chấp nhận quyền giám sát nhà nước và thị trường của các các tầng lớp trong xã hội và giới truyền thông.

Vẫn theo tường thuật của Saigon Times Online, các chuyên gia khách mời tham dự Tọa đàm do Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright tổ chức trong đó có TS Trần Đình Thiên thuộc Viện Kinh tế Việt nam, LS Trần Hữu Huỳnh thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đều có chung nhận định là bộ máy hành pháp của Việt Nam hiện nay quá mạnh, trong khi tiếng nói của lập pháp và tư pháp quá yếu ớt nên cần phải có cơ chế mới để cân bằng.

Người đọc báo cảm nhận là đề xuất ba cải cách dành cho Đảng, cũng như thực hiện liên minh cải cách với năm cấu phần, với mục đích tối thượng để Việt nam chuyển đổi sang mô hình phát triển mới sẽ khó có khả năng thực hiện toàn phần, hay nói cách khác đó là một đề xuất ước mơ của giới học thuật. Các chuyên gia mà chúng tôi trao đổi nói rằng, cải cách như thế chẳng khác nào đổi tên chế độ chính trị hiện tại của Việt Nam, thực hiện tam quyền phân lập, bầu cử tự do dân chủ và người dân có đầy đủ dân quyền cũng như nhân quyền.

Ba kịch bản trên Biển Đông

Ba kịch bản trên Biển Đông

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Nguyễn Hưng Quốc

Mấy tuần vừa qua, Mỹ liên tục lên án gay gắt việc Trung Quốc bồi đắp và xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và kêu gọi Trung Quốc ngừng ngay tức khắc những hành động mà họ cho là phi pháp, khiêu khích và nguy hiểm ấy. Mặc kệ, Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng, thậm chí còn đặt cả mấy khẩu pháo trên những hòn đảo nhân tạo ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra trên Biển Đông?

Theo tôi, sẽ có một trong ba kịch bản sau đây:

Thứ nhất, Biển Đông sẽ châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Điều này, thật ra, đã có nhiều người nói đến từ lâu. Một số học giả đưa ra các lý do khiến Trung Quốc sẵn sàng mở một cuộc chiến tranh với Mỹ, trong đó, có ba lý do chính: Một, là một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc cần khẳng định vị thế siêu cường của mình, ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và sự khẳng định ấy chỉ có thể thực hiện được qua chiến tranh. Hai, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiện nay đã bắt đầu khựng lại, sự phân hoá giàu nghèo càng ngày càng trở nên to lớn, sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng sâu sắc, xu hướng đòi hỏi dân chủ càng ngày càng mạnh mẽ, Trung Quốc cần một cuộc chiến tranh để nâng cao chủ nghĩa quốc gia, thống nhất lòng dân và dập tắt mọi ngọn lửa phản kháng, từ đó, duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản. Ba, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc rất cần nhiên liệu mà Biển Đông, theo họ, là nguồn chứa dầu khí thuộc loại lớn nhất thế giới, do đó, họ xem việc chiếm cứ Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”, không thể nhân nhượng, ngay cả khi họ phải trực tiếp đối đầu với Mỹ.

Về phía Mỹ, có nhiều lý do để họ ngại một cuộc đối đầu quân sự như vậy. Chiến tranh ở Afghanistan và Iraq chưa chấm dứt. Tình hình chính sự ở Trung Đông vẫn còn ngổn ngang. Dân chúng Mỹ đã bắt đầu mệt mỏi với việc can thiệp ở nước ngoài. Tổng thống Barack Obama chỉ còn một năm rưỡi nữa là hết nhiệm kỳ, chắc chắn ông không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu mới đầy bất trắc. Tổng thống kế tiếp cũng chắc không muốn mở đầu một nhiệm kỳ bằng chiến tranh. Đó là chưa kể kinh tế Mỹ, một mặt, vẫn chưa hồi phục hẳn; mặt khác, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc. Chỉ có hai lý do có thể khiến Mỹ vượt qua tất cả những sự khó khăn và trở ngại ấy: Một, Trung Quốc quyết định khống chế hoàn toàn con đường hàng hải đi ngang qua Biển Đông; và hai, Trung Quốc nổ súng trước vào máy bay hay chiến hạm của Mỹ.

Chuyện Trung Quốc nổ súng trước không phải không có khả năng xảy ra. Nó có thể xảy ra một cách cố ý với một sự tính toán rõ rệt từ nhà cầm quyền Trung Quốc nhưng cũng có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ, hay nói theo giáo sư Michael Auslin, như “một tai nạn” khi máy bay hoặc chiến hạm hai bên đụng vào nhau gây ra thương vong, từ đó, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ cả hai phía và hậu quả là chiến tranh sẽ bùng nổ.

Một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và rất dễ dẫn đến nguy cơ lan rộng thành chiến tranh thế giới, và đặc biệt, chiến tranh hạt nhân. Viễn cảnh ấy chắc chắn sẽ làm chột dạ mọi người. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có thể khẳng định vị thế siêu cường trong khu vực của mình bằng một cuộc chiến tranh khác, ví dụ, chiến tranh với một nước đang tranh chấp nào đó. Đó là những nước nào? Có ba nước tranh chấp biển và đảo quyết liệt nhất với Trung Quốc: Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Trong ba nước ấy, mạnh nhất là Nhật Bản. Về quân sự, trừ vũ khí hạt nhân, có khi Nhật Bản còn mạnh hơn cả Trung Quốc. Hơn nữa, sau Nhật Bản là Mỹ. Có lẽ Trung Quốc sẽ không phiêu lưu vào cái nơi nguy hiểm và không nắm chắc phần thắng ấy. Nước yếu nhất là Philippines. Nhưng Philippines lại có liên minh về quốc phòng với Mỹ. Nếu Trung Quốc muốn tránh đương đầu với Mỹ, họ cũng sẽ không gây chiến với Philippines. Chỉ còn lại Việt Nam là vừa yếu vừa thân cô thế cô, dễ đánh nhất. Bởi vậy, chúng ta có kịch bản thứ hai: Chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài “Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable” đăng trên tờ Business Insider vào tháng 7 năm 2011, Dee Woo cho chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam là chuyện không thể tránh khỏi. Ông cho cuộc chiến tranh ấy phục vụ lợi ích của chính quyền ở cả hai nước: Trung Quốc thì muốn chiếm trọn Trường Sa và, từ đó, Biển Đông, còn Việt Nam thì muốn làm lệch hướng sự quan tâm của dân chúng để không ai còn lên án những thất bại thảm hại về phương diện kinh tế và xã hội của nhà cầm quyền. Nhưng Dee Woo lại vẽ nên một viễn cảnh thê thảm của Việt Nam: sau khi tấn công cả trên biển lẫn trên đất liền, Trung Quốc sẽ phá huỷ toàn bộ các cơ sở hạ tầng của Việt Nam rồi rút về, để lại ở Việt Nam một cảnh tan hoang và thậm chí, nội chiến triền miên cả nửa thế kỷ sau cũng chưa chắc đã hồi phục được.

Viễn cảnh ấy, tuy bi quan, nhưng không có gì quá đáng. Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác xa với thời chiến tranh biên giới vào năm 1979. Trung Quốc không những giàu hơn về kinh tế mà còn có kho vũ khí, khi tài cũng như các phương tiện phục vụ chiến tranh dồi dào và tối tân hơn Việt Nam cả mấy chục lần.  Việt Nam có đổ thêm bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí thì cũng không thể nào bắt kịp được Trung Quốc. Hơn nữa, cần lưu ý: Đánh nhau trên bộ người ta còn có thể sử dụng chiến thuật du kích và huy động chiến tranh nhân dân nhưng trên mặt biển, yếu tố quyết định nhất vẫn là vũ khí và kỹ thuật. Thua vũ khí và thua kỹ thuật là thua hẳn cuộc chiến. Chắc chắn chính quyền Việt Nam biết rõ điều đó nên họ vẫn tiếp tục chịu đựng và nhân nhượng. Nếu sách lược này kéo dài mãi, chúng ta sẽ có kịch bản thứ ba: Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Nên nhớ một trong những sách lược chính của Trung Quốc ở Biển Đông là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing). Họ cứ lấn dần dần. Lấn đến cỡ nào Việt Nam cũng nhịn, đến một lúc nào đó, tất cả những gì họ muốn đều biến thành hiện thực. Họ tuyên bố về đường lưỡi bò bao trùm lên 80% diện tích Biển Đông của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ đem giàn khoan đến thềm lục địa Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ tái tạo bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo: Việt Nam nhịn. Một lúc nào đó, họ tuyên bố thành lập vùng nhận dạng hàng không: Việt Nam lại nhịn. Thậm chí, họ có thể chiếm nốt các hòn đảo khác ở Trường Sa: Việt Nam cũng vẫn tiếp tục nhịn. Đến lúc đó, thực tình họ chả cần đánh nhau với Việt Nam làm gì: Họ đã có tất cả những gì họ muốn. Và đến lúc ấy, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn nữa. Chỉ còn mâu thuẫn trong nội bộ Việt Nam: giữa nhân dân và một chính quyền bất lực, nhu nhược và đớn hèn.

Thương Người Độ Lượng

Thương Người Độ Lượng

Tác giả: Vĩnh Chánh

Tác giả là một y sĩ thuộc hội Ái Hữu Y Khoa Huế Hải Ngoại, hiện là cư dân Mission Viejo, CA. Tốt nghiệp Y Khoa Huế năm 1973, thời chiến tranh, ông là Y Sĩ Trưởng binh chủng Nhảy Dù cấp tiểu đoàn và gắn bó với đơn vị chiến đấu cho tới giờ phút cuối tại vành đai Sàigon ngày 30 tháng Tư. Với bài “Không Bỏ anh em, không bỏ bạn bè” ông viết Tháng Tư 2013,  Bác sĩ Vĩnh Chánh đã nhận giải danh dự Viết về nước Mỹ cùng năm. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

* * *
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên

Viết tặng các phụ nữ sống trong thử thách và nghịch cảnh

Khi gia đình chúng tôi dời chuyển đến xóm, Anh đang học Đệ Ngũ cùng một lứa với người anh thứ hai của tôi. Sau hiệp Định Genève, di cư từ Thanh Hóa vào, chỉ có cha và Anh, rất đơn chiếc.

Cùng với các đứa trẻ trong xóm, chúng tôi hay chạy theo chơi với Anh, để được nghe Anh kể chuyện ngoài nớ. Anh cũng thường đến nhà tôi chơi với anh trai và 2 chị của tôi. Đó là một người rất dễ mến, hiền hòa và đơn sơ. Lúc cha Anh tục huyền và có một bé gái, Anh tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt sau khi đậu Tú Tài. Vài năm sau cha Anh dọn nhà khỏi xóm.

Bẳng đi gần cả mươi năm, bất ngờ tôi gặp lại Anh trong bộ áo quần màu Olive Bộ Binh với cấp bực Đại Uý khi Anh về dự đám tang của cha mình năm 1972. Vẫn một vẽ trầm lặng, dáng người cao ốm. Vẫn một cách ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng thân tình. Anh hiện đang phục vụ cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và vừa lấy vợ vài tháng trước. Đám cưới rất đơn giản vì cha Anh già yếu không tham dự, nên Quân Đội đại diện nhà trai đi cưới vợ cho Anh. Bố vợ của Anh là một Thượng Sĩ già của Tiểu Đoàn, người thân thuộc với Anh từ bao năm qua. Tôi mừng Anh, khi Anh rút ví cho xem tấm hình người vợ xinh đẹp, một nữ sinh Trung Học.

20 năm sau, tình cờ gặp lại Anh tại California ở nhà một người bạn hàng xóm chung với nhau trước đây, chúng tôi mừng rở chào hỏi nhau trên đất Mỹ. Anh đã thay đổi nhiều và đi một mình. Khó nhận biết được nếu không được giới thiệu trước. Hình ảnh hiên ngang và oai vệ của một chiến sĩ năm nào tôi hằng ngưỡng mộ không còn nữa. Anh già hẳn đi, nét mặt cằn cổi, chín mùi với khổ đau, ánh mắt mệt nhọc. Lưng hơi còng và đôi vai co rút. Bước đi với những bước chân như ngần ngừ khập khỉnh. Anh và gia đình, 1 vợ 4 con được qua Mỹ theo diện HO trên một năm nay. Tôi mừng Anh đến bến bờ tự do. Sau đó Anh kéo tôi ra sân, trầm ngâm tâm sự.

Binh nghiệp Anh thăng tiến theo thời gian. Từ Trưởng Ban 3 Tiểu đoàn Địa Phương Quân, anh lên làm Tiểu Đoàn Phó, rồi Tiểu Đoàn Trưởng với cấp bậc Thiếu Tá giữa năm 1974. Theo con sóng di tản của Miền Trung vào cuối tháng 3, 1975, gia đình Anh đến Saigon cùng một nhóm sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền. Lúc ấy Anh có 2 con gái, đứa lớn 3 tuổi và đứa nhỏ gần 1 tuổi. Khi Anh vừa kịp tìm ra một nơi cho gia đình Anh cùng gia đình bên vợ tạm trú ở khu Bàn Cờ, là lúc Miền Nam Việt Nam đang trên đà tan rả. Rồi tập trung cải tạo sau vụ cưởng chiếm Miền Nam. Trời đất đen tối. Người người thống khổ dưới chế độ mới, sát máu, bạo tàn.

Trong suốt 10 năm tù cải tạo, qua bao nhiêu lần chuyễn trại, từ Nam đến Bắc rồi Bắc trở lại Miền Nam, Anh chỉ được gia đình liên lạc 1 lần trước khi bị đưa ra Bắc và sau đó là biệt tăm. Anh không muốn nhắc nhiều đến những năm tháng sống trong các trại tập trung ở những núi rừng xa xôi lạnh lẻo, cơ cực đói khát. “Bên ngoài thì bị chúng chửi rủa mạc sát, hành hạ thể xác. Bên trông ê chề với đau đớn tuyệt vọng, niềm tin yêu cuối cùng cũng rạn nứt với cảm giác bị bỏ rơi, không một tin tức của vợ con”. Nhiều lần Anh nghĩ đến cái chết, nhưng vì bao ray rức dằn vặt, bao câu hỏi chưa có câu trả lời, rồi lòng thù hận và tự trách từ từ biến Anh thành câm lặng và chai đá.

Ngày được cho về tại địa chỉ cũ “Bàn Cờ” trên tờ giấy thả tù, lòng Anh xôn xao, nhưng căng thẳng chờ đợi một bất hạnh. Anh e dè, ngở ngàng bước vào nhà lúc xế trưa. Hai con gái Anh, nay 13 và 11 tuổi nhìn Anh xa lạ, hoàn toàn không biết Anh là cha ngay cả khi Anh nói rỏ tên họ và kêu tên chúng. Còn nàng ở đâu? Mẹ vợ cho biết nàng mang 2 đứa con nhỏ sau này về chơi bên gia đình chồng mới, sau khi nhận giấy báo Anh sẽ được thả về trong mấy ngày gần đây. Anh chết đứng như trời trồng giữa căn nhà, tê tái bên cạnh chiếc bị cũ chứa vài bộ quần áo rách do anh em bạn tù cho, lặng người nhìn 2 con gái của mình, trong khi nghe những lời phân bua của mẹ nàng.

Em nó và cả nhà đều nghĩ Anh đã chết trong tù. Hoặc giả, nếu còn sống, cũng chẳng biết khi nào được cho về. Nhà ta càng lúc càng túng thiếu, tình trạng rất bi đát, chạy đâu cho ra tiền. Ông già chẳng làm được gì nên thân ngoài chuyện nghiện ngập suốt ngày. Anh đi tù có để lại tiền bạc gì đâu! Vợ con Anh cần tiền để sống, đó là chưa kể chuyện bị thôi thúc đi kinh tế mới. Cuối cùng em nó phải nghĩ đến chuyện sống còn và nuôi con. Nó mới đành phải lấy cái thằng yêu nó lúc 2 đứa cùng chung trường trung học với nhau. Anh cứ tạm ở đây đi. Nhưng xin Anh xữ đẹp và hiểu là chúng đã có 2 con với nhau và nuôi luôn cả 2 con của Anh nữa…

Sét đánh ngang tai. Đất trời sụp đổ. Điều lo âu sợ hải nhất của người cải tạo trong những ngày tháng tù đày vô vọng đã phơi bày. Nổi tủi nhục bị phản bội ê chề. Không một đắn đo và trong một thôi thúc nghịch lý, Anh quyết định rời nhà dù chưa biết mình sẽ đi đâu. Một quyết định nhanh chóng và sắc bén, như Anh đã từng làm nhiều lần trong lâm nguy khi Anh còn chỉ huy cả trăm quân trong trận mạc. Anh ngập ngừng đến bàn vuốt đầu 2 con rồi lặng lẻ bước ra. Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải.

Trôi theo dòng đời của một con người không còn gì đế mất thêm, Anh làm tất cả công việc lớn nhỏ, nặng nhẹ, để sống còn. Từ làm thuê ở chợ, khuân vác ở cảng, đạp xe xích lô, xe ba bánh chở hàng chở than…Rồi cũng như bao chiến hữu xưa cũ, bao bạn tù, Anh gia nhập dần vào cuộc sống bên lề xả hội, luôn mang nặng ưu tư của một thân phận thua thiệt với vết thương lòng sâu kín. Vài năm sau, Anh lấy vợ, là em gái của một bạn cùng khóa VBQG với Anh, có chồng thiếu úy bị chết ở vùng Cao Nguyên trong những tháng trước khi mất nước nay đang sống với 2 đứa con trai gần bằng tuổi con Anh. Người vợ thứ hai của Anh có một cửa hàng nhỏ nên tài chánh trong gia đình không mấy chật vật. Mổi tháng, đôi ba lần, Anh không quên ghé thăm 2 đứa con gái, đem theo chút quà cho chúng và tiếp tục làm thân. Có lúc không tránh được, Anh phải chạm mặt người vợ trước cùng người chồng trẻ hiện tại và 2 đứa con chung còn nhỏ, một trai một gái. Trong những lần đối diện hiếm hoi ấy, sự thù hận, đau đớn và chua chát làm người Anh cứng lại và giọng nói hằn học, cộc lốc.

Rồi chương trình HO xuất hiện. Lúc đầu chẳng mấy ai tin, nhưng rồi phường khóm tiếp tục gởi giấy thông báo, thúc giục. Sau đợt đầu tiên chính thức ra đi năm 1990, những tù cải tạo còn lại trong nước, xa gần thành phố hay bên trong các trại tù, nhìn thấy chính phủ Hoa Kỳ đang thi hành một chính sách nhân đạo để giúp đở những tù nhân chiến tranh bị giam cầm trên 3 năm. Anh bàn tính với vợ mới, rồi với vợ cũ. 2 con gái của Anh ráp vào hồ sơ đi chung với gia đình vợ mới của Anh. Hai con gái của Anh kêu Anh là Bố. Hai con trai của vợ sau kêu Anh bằng Tía. Tháng 4 năm 1991, Anh cùng vợ thứ hai và 4 con đến TB Wisconsin, định cư tại đó cho đến bây giờ.

Tôi ngỡ ngàng, xót xa giữ im lặng, ngồi nghe anh tâm sự. Tặng chút tiền làm quà cho các cháu, tôi cầu mong Anh được sức khỏe, gia đình hạnh phúc. Đời sống sớm ổn định, các cháu ngoan và học hành giỏi, chóng thích hợp với xả hội mới.

Tháng 10 năm 1999, Anh điện thoại hẹn dẫn Chị đến thăm chúng tôi tại nhà. Khác hẳn với 7 năm trước, Anh trông phương phi với nét mặt hồng hào, ánh mắt tinh anh trở lại. Anh thật sự nhìn trẻ hơn trước, với cách ăn nói và dáng điệu của một con người có tự tin, đầy sức sống. Như muốn tôi vừa là nhân chứng vừa là thân quen để Anh chia xẻ tâm tình, Anh đi ngay vào câu chuyện.

Đến Hoa Kỳ khi gần 50 tuổi, Anh bắt đầu cuộc sống mới bằng cách đi học lại trong 2 năm, và nay Anh là nhân viên sở công chánh nơi thành phố Anh ở. Chị làm tá viên điều dưỡng cho một viện dưỡng lảo gần nhà. Cô con gái đầu thành công trong nghề nail, vừa sang lại một tiệm riêng, có chồng và một đứa con trai. Cô con gái út đang còn học năm cuối chương trình Nursing. Con trai đầu của vợ sau là một kỷ sư Điện, còn độc thân. Con trai thứ hai hiện học ngành Physical Therapy. Anh chị mua được cái nhà, ở chung với cô con gái út và 2 cậu con trai.

Tôi lên tiếng chung vui, hãnh diện với Anh về những gặt hái tốt đẹp của gia đình Anh trong thời gian ngắn chỉ 7 năm trên quê hương thứ hai này. Tôi nói ra sự nhận xét của mình khi nhìn thấy Anh măt mày rạn rở và hạnh phúc, miệng cười tươi thắm, thật khác hẳn khi gặp Anh lần đầu tại đất Mỹ. Hẳn phải có một điều gì huyền diệu đã xẩy ra!

Một buổi chiều cách đây vài năm, theo một người bạn đến nhà thờ Tin Lành, Anh nghe vị Mục Sư rao giảng đề tài “Tha Thứ và Độ Lượng”. Tha thứ người để người tha thứ ta! Độ lượng với người cũng như độ lượng với chính mình trong mưu tìm hạnh phúc! Bài giảng như ánh sáng nhiệm mầu chiếu thẳng vào tâm hồn. Vựt Anh dậy và Anh bổng nhìn ra chân lý. Sự cảm thông sẽ dễ dàng dẫn đưa đến lòng tha thứ. Thời gian giúp xoa dịu và chữa lành bao vết thương lòng. Những lời giáo huấn đưa Anh ra khỏi hận thù uất ức. Nâng tâm hồn Anh lên khỏi sự khinh ghét, dẫn đến tình thương độ lượng. Anh may mắn tìm được niềm tin mới và sự bình an trong tâm hồn.

Qua bao nhiêu năm, Anh cũng đã từng ân hận, dằn vặt về những lổi lầm trong đời binh nghiệp của mình. Càng nhớ đến những chiến trận, Anh càng thấy được những sai trái lớn nhỏ trong chỉ huy, những thiếu sót tham mưu, những hy sinh đáng tiếc hoặc không cần thiết của binh sĩ thuộc quyền. Có hay không Anh thực sự một vị chỉ huy giỏi, kinh nghiệm và trách nhiệm như Anh vẫn thường nghĩ?! Có hay không Anh thực sự được thương mến, kính nể mà không phải vì chức vụ thượng cấp của Anh?! Và có hay không Anh đối xử công bình, có trên có dưới, thương yêu đùm bọc thuộc cấp của mình?!

Anh chẳng thể quên tiếng khóc của cha mẹ những binh sĩ tử trận, những ai oán của cô nhi quả phụ. Như trường hợp thằng đệ tử thân tín từng theo Anh bao nhiêu năm, lo cho Anh từng bửa ăn, pha cho Anh từng ly cà phê, đào hầm ngồi canh cho Anh trong đêm, mang áo quần treo mùng cho Anh…Thế mà vì nó trình diện đơn vị trể 15 ngày sau khi đã được nghỉ phép 1 tuần về thăm nhà, Anh nổi giận, đưa nó ra bên ngoài với trung đội tác chiến, để chưa đến 5 ngày sau thì nó bị chết vì đạp mìn.

Câu chuyện về cái chết của thằng đệ tử luôn ám ảnh và dày vò lương tâm Anh. Rồi bao nhiêu thương binh, bao nhiêu tử sĩ khác, mà Anh vẫn mãi nhớ mặt nhớ tên, nhớ luôn cả từng địa điểm đụng nặng hay đụng nhẹ, trong làng mạc, trên cánh đồng lúa, trên con đường ruộng hay cạnh bìa rừng…Chính những vui buồn đời quân ngũ đó, những hình ảnh chiến đấu đó đã đóng khung trong đầu Anh và vẫn tồn tại trong tim óc Anh qua bao năm trong tù, nhiều và nhiều gấp bội so với những kỷ niệm Anh có với vợ con.

Rồi còn chuyện Anh lấy vợ nữa. “Ông thầy” lấy con gái “đệ tử”, đâu giống mấy chuyện tình bình thường.

Từ thủa mới về đơn vị, vì Anh độc thân và không có gia đình tại chỗ nên một người Trung Sĩ thường xuyên mời “Ông Thầy” về nhà chơi. Ròng rả mấy năm, mối quan hệ Thầy Trò càng khắng khít, nhất là khi Anh thăng cấp dần và người Trung Sĩ được gắn lon Thượng Sĩ. Chuyện lấy con gái cưng của vợ chồng ông Thượng Sĩ thuộc cấp này tự nhiên đến mà ngay chính Anh cũng ngạc nhiên khi nhận lời.

Không hẳn như tiền định, nhưng như một sắp đặt khó từ chối khi cha nàng ướm lời trong một bửa tiệc của đơn vị. Bấy giờ nàng chỉ là một cô bé 18 tuổi đang học lớp 12. Đối với Anh, lấy vợ trong lứa tuổi cần lấy vợ, vào giai đoạn mà đàn ông, nhất là trong giới võ biền, thường nghĩ đến sau khi đã có một chút danh phận. Anh biết đây không phải là một mối tình say đắm vì Anh không còn ở lứa tuổi bồng bột đam mê. Chính vì vậy Anh không có những rung động thật sự bên nàng, chưa có những câu nói tình tứ với nàng. Không phải chầu chực săn đón nàng. Không có những kỷ niệm hữu tình, những khung cảnh lãng mạn bên nhau. Không luôn những phút lưu luyến, những cử chỉ gắn bó. Có một cái gì đó khiến cuộc sống vợ chồng có phần lổi nhịp. Anh thường tự hỏi có thể số tuổi 12 năm cách nhau giữa vợ chồng khiến Anh thầm xem nàng như một người vợ bé bỏng cần nơi nương tựa vững vàng, và Anh quả là một ông chồng quyền uy, vì nếu cần liên lạc với nàng, đôi khi anh chỉ nhắn qua cha nàng, thế là xong.

Còn về phía nàng?

Nàng lớn lên trong một gia đình có khuôn khổ nề nếp quân đội, với người cha cứng rắn trong phong cách. Khi cha mẹ nàng quyết định nàng nên lấy Anh, vừa là một ông Đại Úy vừa là một Ông Thầy, ông xếp của cha, nàng không có lý do từ chối và cải lời cha mẹ. Có thể nàng cũng bị choáng ngợp vì Anh là thượng cấp của chính cha mình, vì Anh được cả trăm binh sĩ chào kính, vì Anh có chức vị đem đến sự ổn định cho cuộc sống tương lai… Yêu chồng hẳn là chưa yêu nhưng kính phục và thỏa mãn hãnh diện với chúng bạn là điều đương nhiên. Một vài người bạn cùng trường cũng có người yêu là lính, nhưng cùng lắm chỉ là chuẩn úy hay thiếu úy gì đó chứ làm gì tới chức Đại Úy như Anh. Nhìn Anh trong quân phục nàng thấy Anh hiên ngang và oai dũng, giống như cha mình vậy. Có được tấm chồng như Anh cũng được rồi, kén chọn chi nữa! Mẹ nàng đã chẳng từng nói như vậy, thêm rằng cha nàng nay là Thượng Sĩ và sẽ mãi mãi là Thượng Sĩ. Nhưng chồng tương lai của nàng nay là Đại Úy, mai đây lên lon, sẽ là Thiếu Tá, Đại Tá hoặc ngay cả Tướng cũng không chừng! Cả nhà ta sẽ thơm lây…

Khi vận nước thay đổi, chồng ở tù cải tạo, số tiền nhỏ nhoi dành dụm từ lương hàng tháng của chồng cạn mau. Gia đình nàng sa sút theo thời gian, bán dần đồ đạc của cải trong nhà cũng chẳng thể cứu vãn. 22 tuổi với 2 đứa con dại trong tay, chưa một lần đụng chạm với đời ngoài bổn phận làm vợ, làm mẹ, nay nàng đành bung ra thế giới bên ngoài tìm cách mua bán làm ăn, bôn ba hùn hạp với các bạn hàng khác và đơn độc chống trả nhiều cạm bẩy. Quá mệt mỏi và tinh thần căng thẳng, nàng chẳng có mấy thì giờ nghĩ đến chồng. Nhưng ông trời không có mắt, mớ vốn liếng ít ỏi cũng mất sạch. Cha nàng, người từng dạy khôn nàng phải lấy ông Thầy Đại úy của mình, nay lãi nhãi muốn nàng bỏ chồng- vì trước sau gì nó cũng không có ngày về và sẽ chết trong tù- để lấy người bạn học trước đây với nàng. Người đó chạy mối bán thuốc tây và hàng ngoại rất khấm khá và tháo vát. Đến đường cùng và để tránh bị đuổi đi kinh tế mới, nàng đành buông theo số phận, yên lặng bỏ người chồng trước. Biết làm như vậy là có lổi nặng với chồng trước, nhưng thà nàng về làm vợ với một người đứng đắn, từng quen biết và thầm kín yêu nàng qua bao nhiêu năm còn hơn là phải nhắm mắt chung chạ với cả trăm người để mưu sinh. Có trời mới hiểu được cái khổ của nàng trong quyết định mà bên nào cũng chỉ là phần thua thiệt.

Từ khi định cư, qua thời gian sống chung với các con, nghe các con gái kể chuyện về Mẹ, nhắc Mẹ từng yêu thương chăm sóc cho chúng, bảo vệ chúng khi bị bạn hàng xóm ăn hiếp; và Ba Dượng cưu mang đùm bọc cả gia đình, yêu thương chúng như con ruột của mình, y như 2 đứa nhỏ sau này. Chúng ghi nhận từ ngày có Ba Dượng, cuộc sống gia đình có phần ổn định hơn. Các con Anh chẳng được biết nhiều về Bố của mình cho đến ngày Anh xuất hiện. Bà Ngoại có giải thích đôi chút, nhưng Mẹ vẫn giữ im lặng. Chúng luôn bênh vực Mẹ và bày tỏ uớc mong Bố thấu hiểu cảnh khổ của Mẹ và gia đình nhất là trong những năm đầu sau khi Bố đi tù. Tâm sự của các con và lời rao giảng của vị Mục Sư giúp lòng Anh nhẹ hẳn từ đó. Không còn thắc mắc về những bất hạnh xẩy ra cho đời mình trước đây, Anh dần dần thấy cuộc đời trong sáng hơn và có lại niềm tin vui.

Các con Anh đã làm giấy tờ bảo lãnh Mẹ, Ba Dượng và 2 em qua Mỹ. Chính Anh là người thúc đầy làm giấy tờ, và theo dỏi tình trạng cứu xét đơn. Anh thường nhắc nhở 2 con gái dành dụm tiền gởi về cho Mẹ và Ba Dượng. Chính Anh cũng thường xuyên đóng góp phần mình. Thỉnh thoảnh Anh có nhận một vài lời gởi thăm của nàng qua thư con gái. Trong một thư gần đây nhất, nàng viết “Xin hảy tha thứ cho em và tha thứ cho nhau”. Như một trả lời cho lá thư dài Anh gởi nàng kèm theo trong cùng lá thư của con mà trong đó Anh đã viết, lần đầu tiên, lời cám ơn nàng đã thay Anh nuôi 2 con gái từ nhỏ cho đến khôn lớn, trong suốt thời gian Anh không có mặt và cả 7-8 năm sau khi Anh ở tù về. Nay đến phiên Anh sẽ tiếp tục chăm sóc các con cho nên người tốt. Anh không quên nhấn mạnh lòng biết ơn của mình đối với nước Mỹ đầy tình người. Nhờ đó Anh mới giác ngộ và tìm thấy mùa xuân đang từ từ nở muộn trong tuổi già.

Hè 2009, chúng tôi lại gặp nhau, lần này được giới thiệu với một cặp vợ chồng trẻ tuổi hơn. Họ là Mẹ và Ba Dượng của 2 con gái, vừa đuợc bảo lãnh qua Mỹ khoảng 6 tháng. Xum họp nào cũng vang dậy những tiếng cười, tiếng vổ tay, tiếng cụng ly và những lời chúc tụng. Đó là âm thanh của vui mừng hội ngộ, của hạnh phúc, của tình thân lẫn trong giọng nói của Anh, sảng khoái và nồng ấm.

Mẹ và Ba Dượng cùng một con trai và một con gái tạm thời ở chung với gia đình con gái đầu của Anh. Con gái đầu nay làm chủ 2 tiệm nail và có 3 con. Chồng nguời Việt và làm về bảo hiểm. Con gái thứ hai của Anh là một Registered Nurse từ nhiều năm qua, hiện làm cho một bệnh viện trong thành phố; lập gia đình với chồng người Mỹ chuyên viên về Siêu Âm và có 2 con. Con trai lớn kêu Anh bằng Tía, một kỷ sư điện, có vợ người Mỹ gốc Mễ và 2 con. Con trai thứ hai cũng kêu Anh bằng Tía, hành nghề Physical Therapist, lấy vợ Mỹ gốc Trung Hoa, cùng nghề với chồng và cũng có 2 con. Mẹ đang theo học nghề nail với con gái lớn. Ba Dượng đang lấy lớp học Anh Văn ở Đại Học Cộng Đồng. Con trai đầu của Mẹ và Ba Dượng có ý muốn theo học nghành cơ khí sửa xe hơi, và con gái út dự định học Medical Assistant.

Đại gia đình họ ở trong cùng một thành phố với nhau, nhà này cách nhà kia không quá 15 phút lái xe. Tôi chọc Anh mổi khi họp mặt gia đình kiểu Hiệp Chủng Quốc này, làm sao biết tên để gọi nhau cho đúng mà không sợ lộn xộn. Anh nhanh chóng trả lời dể ẹt. Nếu kêu Bố hay Tiá thì đó là Anh, kêu Má tức là vợ sau của Anh, kêu Mẹ tức là vợ của Dượng đồng thời mẹ của 2 con gái Anh và của 2 đứa con trai và con gái sau này. Nếu nghe gọi Ba hay Ba Dượng thì đó là dượng sau của mấy đứa con gái Anh. Còn 9 đứa cháu, chỉ cần kêu Grand Pa và Grand Ma là đủ. Và chúng có đầy đủ 2 sets Grand Pa và Grand Ma.

Chuyến đi chơi liên tiểu bang đầu tiên của đại gia đình Anh, với tất cả con trai gái, dâu rể và cháu nội ngoại. Lớn nhỏ tất cả gồm 23 người, trong một đoàn convoi nhiều xe do Anh lên chương trình kế hoạch, chỉ huy và dẫn đầu. Cuộc đi chơi này là một món quà đón mừng Mẹ và Ba Dượng được đoàn tụ. Chốc nữa, Anh sẽ lái xuống San Diego đến chổ hẹn với các xe kia. Mọi người cười lớn khi nghe tôi nói Anh bây giờ xệ hơn trước nhiều vì bị giáng cấp, từ một Tiểu Đoàn Trưởng nay chỉ là một Trung Đội Trưởng, lúc xưa hét ra lửa và oai biết bao nhiêu, bây giờ con cháu sai đâu chạy đó. Anh thành thật trả lời Anh may mắn nhiều và rất hạnh phúc mới còn có trung đội để chăm lo.

Phải chăng sự cởi mở về tư tưởng, sự bao dung và quảng đại của xả hội Mỹ đã khiến con người dễ hướng thiện và vị tha. Rỏ ràng nhất, nước Mỹ luôn mở rộng tấm lòng đón nhận các nạn nhân chiến tranh, tạo cho họ mọi cơ hội để vươn lên, làm lại cuộc đời. Ở đâu trên thế giới có thiên tai là ở đó có sự hiện diện và giúp đở của nước Mỹ. Ngoài đường phố, trong hội quán, đâu đâu cũng nghe những chào hỏi thân mật và tiếng cám ơn. Từ trường học cho đến cơ sở công tư, nhà thờ, đâu đâu cũng kêu gọi làm việc thiện nguyện, thăm viếng người già cô đơn, giúp đở kẻ bất hạnh, nghèo khó, tàn tật. Đâu đâu cũng đóng góp cho quỹ cứu trợ, cứu đói, cứu giúp người vô gia cư… Và đâu đâu cũng có những câu chuyện, dĩ nhiên, tương tự như câu chuyện của Anh. Những câu chuyện muôn thủa của tình thương và tha thứ, của khoan hồng độ lượng.

Tin giờ chót, vợ chồng người Thượng Sĩ già cũng vừa xum họp với đại gia đình, qua sự bảo trợ của chính con gái mình. Chúng tôi hẹn sẽ đến thăm Anh vào dịp lể Thanksgiving năm nay. Trước là để chung vui, kế để xem thử ai là người trung đội trưởng của clan. Vẫn là Anh hay Anh đã truyền chức lại cho người thuộc hạ thân tình ngày xưa.

May 2015. Mission Viejo, CA

Vĩnh Chánh

Lời Hay Ý Đẹp

Lời Hay Ý Đẹp

1. Nổi giận là trạng thái cái lưỡi làm việc nhanh hơn cái đầu.

2. Con người sinh ra không phải để tan biến như một hạt cát vô danh. Con người sinh ra để in dấu trên mặt đất, in dấu lại trong tim người khác.

3. Hãy yêu thương đi…, rồi bạn chắc chắn sẽ được đáp lại !

4. Cuộc sống luôn ban tặng những điều tốt đẹp nhất cho những ai biết nhẫn nhịn.

5. Tất cả nụ cười đều có chung một ngôn ngữ.

6. Cái ôm là món quà lớn… ta có thể cho đi bất cứ lúc nào và dễ dàng được đáp lại.

7. Mọi người cần được yêu thương…, nhất là khi họ không xứng đáng với điều đó.

8. Con chim đậu trên cành không bao giờ sợ gãy cánh bất chợt, bởi niềm tin của nó không đặt vào nhánh cây nhỏ bé đó mà đặt vào đôi cánh của chính nó.

9. Tiếng cười là mặt trời của cuộc sống.

10. Ai ai cũng đẹp, có điều không phải ai cũng nhận ra nó.

11. Điều quan trọng cho bậc cha mẹ là sống theo những gì họ dạy.

12. Cảm ơn cuộc sống về những gì bạn có, tin cuộc sống về những gì bạn cần.

13. Đừng đi trước tôi, tôi có thể sẽ không theo. Đừng đi sau tôi, tôi có thể sẽ không dẫn lối. Hãy đi bên cạnh và trở thành bạn của tôi.

14. Điều làm nên hạnh phúc, không phải là chúng ta có bao nhiêu mà là chúng ta vui sống bao nhiêu .

15. Sự lựa chọn của bạn ngày hôm nay sẽ có tác động đến ngày mai.

16. Dành thời gian để cười, bởi đó chính là điệu nhạc của tâm hồn.

17. Nếu có ai nói xấu bạn, hãy sống làm sao để không ai tin điều đó !

18. Kiên nhẫn là khả năng bạn hãm phanh, khi bạn có cảm giác như đang tăng tốc.

19. Tình yêu thương sẽ vững chắc, sau khi trải qua những xung đột.

20. Điều tốt nhất cha mẹ có thể làm cho con cái là yêu thương nhau.

21. Những lời nói không tốt không làm gãy xương, nhưng có thể làm vỡ trái tim ta.

22. Để thoát khỏi gian nan, chỉ có cách đi xuyên qua nó.

23. Yêu thương là từ duy nhất có thể chia mà không bị giảm.

24. Hạnh phúc được tăng lên nhờ những người xung quanh, nhưng không phụ thuộc vào họ.

25. Với mỗi phút bạn nổi giận, bạn mất đi 60 giây hạnh phúc mà không thể nào lấy lại được.

26. Làm bất cứ việc gì với hết khả năng, cho những ai bạn có thể, với những gì bạn có, và ở nơi nào bạn đang đứng.

27. Đừng nên cười nhạo ước mơ của bất cứ ai!

28. Những người không có ước mơ chẳng có nhiều đâu!

29. Trên bước đường công tác, hành lý của con người cần mang theo đó là lòng kiên nhẫn, tính chịu đựng.

30. Đừng bao giờ mất kiên nhẫn! Đó là chiếc chìa khóa cuối cùng mở được cánh cửa!

31. Biết yêu thương vạn vật là biết tô điểm tâm hồn mình.

32. Không có tình thương nào ấm áp, an bình như tình mẹ thương con.

33. Ta chiêm ngưỡng ánh trăng vì hai lẽ: một là vì nó sáng, hai là vì ta không thấu hiểu nó.

34. Sa mạc có thể đổi thành rừng xanh, nhưng cá tính con người thì không.

35. Sự im lặng có sức “vang” hơn cả sấm sét.

36. Kẻ nào gieo nỗi đau cho người khác thì sẽ nhận lấy sự lo sợ không cùng.

37.Người tìm thấy sự an bình trong gia đình là người hạnh phúc nhất.

38. Bước chân của người hiền trí sẽ không mất dấu bởi thời gian.

39. Sống mà thiếu tình bạn chẳng khác gì cỏ cây thiếu ánh mặt trời.

40. Một trong những hạnh phúc lớn của đời sống là tình bạn. Và một trong những hạnh phúc lớn của tình bạn là có người để gửi gắm một bí mật, một tâm tư.

41. Tình yêu trong xa cách ví như ngọn lửa trong gió. Gió thổi tắt ngọn lửa nhỏ và thổi bùng ngọn lửa lớn.

42. Có ba điều khó làm: – giữ được một điều bí mật – quên đi một sự xúc phạm – biết dùng thời gian rỗi một cách có ích.

Sưu tầm

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Nghị trường của Quốc Hội VN đang nổi lên những cuộc tranh luận gay gắt về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Có hai vấn đề đáng chú ý nhất, trong bài trước tôi đã tường thuật cùng độc giả là “quyền im lặng” của một can phạm khi bị cơ quan điều tra tạm giữ. Vấn đề thứ hai là “nên hay không nên bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng.” Tuần này tôi đề cập đến vấn đề thứ hai. Cũng trong buổi thảo luận ấy đã có nhiều ý kiến trái ngược nhau, hầu hết ý kiến đều đồng tình là không bỏ án tử hình với các tội tham ô tài sản, nhận hối lộ nhằm trừng trị nạn tham nhũng. Tuy nhiên, nguyên Phó Chánh Án Tòa án Nhân Dân (TAND) Tối cao Trần Văn Độ, thành viên Hội Đồng Thẩm Định các dự án luật của chính phủ, lại có quan điểm khác hẳn.

Tử hình quan tham không giải quyết được gì?

Ông Độ ủng hộ bỏ án tử hình trong hai tội tham ô tài sản và nhận hối lộ. Trên số báo ngày 4-5, Pháp Luật đã đăng bài phỏng vấn ông Trần Văn Độ. Ông nói: “Tội tham ô, nhận hối lộ là các tội tham nhũng mang tính kinh tế. Hiện hầu hết các nước đã bỏ án tử hình đối với những tội danh này. Ở Trung Quốc cũng có tuyên án tử hình với hành vi tham nhũng nhưng là tử hình treo, tức hoãn thi hành, sau hai năm chuyển sang tù chung thân. Chỉ có Việt Nam là còn áp dụng án tử hình đối với tội tham ô, nhận hối lộ và hiện nay vẫn đang muốn giữ lại án tử hình trong dự thảo BLHS (sửa đổi).” Ông cho rằng cách hành xử “không được bao nhiêu” đối với tham nhũng càng làm mất lòng tin của người dân.

Căn dinh thự của ông Truyền được mệnh danh là hoa hậu xứ Dừa.

Ông chỉ ra một thực tế: “Tội tham ô, nhận hối lộ chúng ta quy định hình phạt tử hình nhưng thực tế không xử lý được bao nhiêu cả. Dân bảo các ông hô hào thôi chứ có làm được đâu? Nghiêm minh tức là tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình, nhưng chúng ta có làm được đâu. Thậm chí có những người tham ô nhưng về mặt đảng chỉ cảnh cáo thôi. Tức là có độ chênh giữa quy định và thực thi trên thực tiễn. Chúng ta chỉ xử lý những vụ tham nhũng vặt, dăm ba chục triệu, vài ba trăm triệu. Quy định thật nặng, thật to nhưng không thực hiện được thì càng làm mất lòng tin của người dân.”
Ý kiến này lập tức bị phản đối ngay trong nghị trường, nhất là làn sóng phản kháng dữ dội của người dân.

Duy trì án tử để chống quan tham

Theo Viện Trưởng Đinh Xuân Thảo của Viện Nghiên Cứu Lập Pháp, việc thu hẹp án tử hình là phù hợp với xu hướng thế giới. Tuy nhiên việc Dự thảo luật đề xuất bỏ hình phạt tử hình với một số tội danh như cướp tài sản, phá hủy công trình quan trọng quốc gia là chưa phù hợp, cần cân nhắc lại.
Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ thì cho rằng, đối với tội phạm tham nhũng, khi sửa luật, điều quan trọng vẫn phải bảo đảm tính răn đe của pháp luật. “Tội tham nhũng nếu bảo bỏ người ta lại bảo không đấu tranh chống tham nhũng nữa. Điều này chưa thuyết phục.” ĐB Trần Du Lịch (TP Sài Gòn) cũng cho rằng, đối với tội tham nhũng là không thời hiệu, do vậy cần phải truy tới cùng, phát hiện đến cùng mới có thể trừng trị được.
Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền cũng đề nghị không nên bỏ án tử hình bằng mọi giá để phúc đáp yêu cầu của thế giới. Đại biểu Quyền cũng không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”

Căn nhà lụp xụp, rách nát của một người dân nghèo ngay bên cạnh dinh thự của ông Truyền. Và ở rất nhiều địa phương khác, ai cũng thấy nghịch cảnh này.

Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?

Đó là lời nhận xét của ông Nguyễn Xuân Tỷ, Phó Giám Đốc Học Viện Quốc Phòng, Đoàn đại biểu Quốc Hội tỉnh Bến Tre. Ông Tỷ nói nguyên văn như sau: “Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa.”
Có lẽ đây là lời nhận xét thẳng thắn nhất của một đại biểu Quốc Hội về việc giàu lên nhanh chóng của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, công chức. Ông Nguyễn Xuân Tỷ đã nói ra một điều tưởng như vô lý, đó là có hẳn một “đội ngũ” làm cán bộ có “mấy năm” mà trong nhà có “vài ba trăm tỉ” đồng, thậm chí cả “ngàn tỉ đồng” thì quả là khủng khiếp. Chuyện vô lý đã nghiễm nhiên trở thành một sự thật tràn lan không thể chối cãi ở VN ngày nay.
Trên báo Tiền phong, Giám Đốc Công An thành phố Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Chung bày tỏ: “Người nghèo đi buôn ma túy bị lĩnh án tử hình, không cớ gì người có chức vụ, kiến thức mà tham ô, tham nhũng lại không bị tử hình.”
Về phía người dân, đã có rất nhiều lời phẫn nộ, tôi chỉ nêu một ý kiến trên báo Kiến Thức của bạn Nguyễn Duy Xuân:
“Bỏ tử hình là nương tay với quan tham nhũng! Chỉ có những kẻ tham nhũng chưa lộ mặt là hả hê chuẩn bị một quy trình đục khoét mới… Cách đây khoảng vài năm, ở quê tôi có một vị cán bộ chức tước cũng cỡ trưởng phòng cấp huyện, được dân tặng cho cái biệt danh cá rô phi. Hôm nghe ông tổ trưởng dân phố gọi thế, tôi ngạc nhiên hỏi lại nguyên do. Ông tổ trưởng giải thích ngắn gọn: Vì lão ta ăn tạp, không từ một thứ gì.
“À ra thế! Cứ nghĩ dân không biết gì, ai dè họ tinh đời lắm! Chuyện ông trưởng phòng tham lam ăn tạp, dư luận ai cũng tường, nhưng tặng cho cái biệt danh là cá rô phi thì chỉ có dân mới thâm thúy đến thế. Bây giờ nghĩ lại, bỗng thấy rùng mình. Giờ không chỉ một con rô phi mà cả một bầy rô phi nhung nhúc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì gọi là một bầy sâu. Một bầy sâu hay một bầy rô phi – đều là lũ ăn tàn phá hại – núi non cũng sạt chứ nói gì đến tài sản quốc gia. Những con sâu bự, những con cá rô phi tổ chảng ấy được che chắn bằng những chiếc bình phong liêm khiết trong sạch, thấy đó nhưng không dễ gì lột mặt nạ chúng được.”

Không tham nhũng thì là tội gì?

Cũng trên báo Kiến Thức, nhân dịp ồn ào này, Luật sư (LS) Phan Xuân Xiểm nêu quan điểm về những sai phạm của quan Phó Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền mà LS xác định đây là tham nhũng. Tôi tóm tắt những điểm chính của ông LS này:
– “Ông Trần Văn Truyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nói dối cấp trên chưa có nhà để được cấp nhà, có nhà rồi vẫn cố tình xin nhà ở các nơi khác nhau, thế không gọi là tham nhũng thì là gì? Nếu chỉ thu hồi tài sản và xử lý kiểm điểm thì không thỏa đáng.”
– “Ngay từ lúc ông Truyền mới ra Hà Nội công tác đã có những đơn tố cáo về lối sống, đạo đức, không xứng đáng làm cán bộ lãnh đạo, gửi về Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương. Khi đó tôi còn đang làm, quá trình xác minh cũng được tiến hành nhưng rồi không hiểu sao không thấy phát hiện vấn đề gì. Nói thế để thấy những sai phạm của ông ấy không phải mãi đến gần lúc nghỉ hưu mới có mà có tính quá trình. Lợi dụng quyền hạn để có những đặc quyền đặc lợi cho bản thân, cho gia đình. Có nhà bảo chưa có, có đất bảo chưa, xây những dinh thự nguy nga hoành tráng, sống xa hoa gây ra sự phẫn nộ của người dân.”
LS phân tích tiếp: “Nếu kết luận có tội tham nhũng thì phải xử lý hình sự. Vấn đề là phải làm rõ tham nhũng như thế nào. Còn tôi khẳng định không tự nhiên cán bộ có tài sản nhiều như vậy được. Chỉ có thể là do tham nhũng, móc ngoặc thì mới có. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Trần Nam từng phát biểu trong một cuộc hội thảo rằng, cỡ lương thứ trưởng thì phải 40 năm mới mua được nhà thu nhập thấp cơ mà. Thế nên nói ông Truyền không tham nhũng là vô lý.”
Khi được PV hỏi: Từ câu chuyện này, có ý kiến cho rằng có thêm một bài học về phòng chống tham nhũng là kiểm soát chặt những cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo sắp nghỉ hưu để tránh tình trạng “hốt mẻ lưới, hạ cánh an toàn,” ý kiến của ông thế nào?
– Tôi nghĩ sai phạm của ông Truyền có tính quá trình, phải rất lâu mới tích tụ được khối tài sản lớn như vậy, không phải gần đến lúc nghỉ hưu ông ấy mới sai. Thế nên phải kiểm tra, giám sát chặt cả quá trình công tác, nhất là ở những vị trí, lĩnh vực nhạy cảm chứ không riêng là người sắp về hưu hay mới được bổ nhiệm.
Tóm lại vị LS này cho rằng cần phải tịch thu toàn bộ tài sản của ông Truyền đồng thời tịch thu tài sản của các con cháu do quan tham để lại hoặc cho đứng tên.
Chúng ta hãy thử phân tích trường hợp này.

Tâm lý hy sinh đời bố cũng cố đời con

Đó là một “khẩu hiệu” của những ông quan già đời, sắp về hưu. Trước khi “hạ cánh” cố gắng làm một vài vụ lớn và bất chấp luật lệ, sẵn sàng nhận lãnh án tù. Bởi ông già rồi, có sống thêm cũng chỉ vài năm nên làm vài quả thật lớn chừng vài ba trăm tỷ để lại cho con cháu.
Như trên tôi đã đề cập đến lời của Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”
Bạn Nguyễn Hùng (e-mail: thehung191073@gmail.com) viết: “Kiếm vài ba trăm tỉ, chấp nhận án tù vài chục năm, vào tù chỉ cần ngoan ngoãn chấp hành tốt, án sẽ được giảm còn dăm ba năm. Sướng thật. Đời cứ thế mà ung dung hưởng thụ bởi có tịch thu tài sản thì giỏi lắm nhà nước cũng chỉ lấy lại được phần nào bởi tất cả đều đã được tẩu tán, hợp thức hóa bằng cách cho vợ con cháu chắt đứng tên hết rồi.”
Đây là một thực trạng diễn ra từ lâu ở VN, đến bây giờ vẫn chưa có quan nào bị tịch thu tài sản, con cháu cứ việc ung dung thụ hưởng khối tài sản vĩ đại của ông cha để lại. Cần phải truy tận gốc những tài sản đó do đâu mà có. Không thể tin vào việc kê khai tài sản của các quan chức. Cần phải có những cuộc điều tra trung thực, quy mô hơn. Đừng để họ hàng hang hốc các quan tham cưỡi mãi lên đầu người dân nữa. Và không thể bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng. Nếu pháp luật đã quy định “tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình” thì cứ thế mà thi hành, còn bàn đi tán lại làm chi nữa cho dân nghi ngờ: Chắc có ông nào sợ chết nên mới khơi ra vụ bỏ án tử hình?

Văn Quang

(12-6-2015)

Ba người Việt bị bắt trong kho trồng cần sa trị giá $15 triệu

Ba người Việt bị bắt trong kho trồng cần sa trị giá $15 triệu

Bị bắt từ bên trái là Mạnh Trần, Troy Tam và Tony Hoàng tại xưởng cần sa ở Hayward ngày 4 tháng Sáu, 2015. (Hình: KGO-TV)

HAYWARD, Bắc Califfornia – Những kẻ trồng cây ma túy đang mỗi ngày một liều lĩnh hơn. Trước đây nhà chức trách tại Mỹ, Anh và Canada từng khám phá những ngôi nhà trồng cần sa trong những khu gia cư yên tịnh. Trong thời gian gần đây, cảnh sát tìm thấy những vườn cây cần sa được trồng trong những kho hàng hoặc xưởng sản xuất, lớn gấp mấy lần một ngôi nhà.
Trong vụ bắt mới nhất xảy ra tại Hayward, một thành phố nằm trong vùng San Francisco-San Jose nơi có đông người Việt sinh sống, cảnh sát tìm thấy cây cần sa được trồng trong một kho hàng rộng 44,000-square-foot, tức là rộng gần bằng 4,100 mét vuông. Họ nói xưởng cần sa này đã có đến 13,000 cầy cần sa tươi tốt với trị giá lên tới $15 triệu Mỹ kim. Họ cũng tin rằng đây là vụ trồng cần sa lớn nhất từng bị phá vỡ trong lịch sử thành phố Hayward.
Nhằm cung cấp điện cho các giàn đèn chiếu năng lượng mặt trời xuống các chậu cây và trồng cây theo phương pháp thủy canh, hệ thống dây điện đã bị “câu” bất hợp pháp, giao nối rất nguy hiểm từ bên ngoài đến bên trong kho hàng.
Sở cảnh sát Hayward cho biết xưởng trồng cây này còn có phòng gặt hái, phơi khô, đóng bao bì, phòng ngủ cho ba “nông gia” và một hệ thống theo dõi bằng truyền hình rất tinh vi.
Cảnh sát nói rằng xưởng trồng cây này hoạt động 24 trên 24, bảy ngày trong tuần, và tốn hơn $100,000 để thành lập.
Vào ngày thứ Tư tuần này, nhà chức trách mới cho biết vụ bắt xảy ra trong tuần qua, vào ngày thứ Năm, 4 tháng Sáu, 2015. Cảnh sát không cho biết lý do nào giúp họ khám phá vườn cần sa lớn lịch sử này, nằm ở khu phố số 3100 đường Diablo Avenue.
Tại kho hàng, họ đã bắt ba thanh niên Trần Mạnh, 28 tuổi, Troy Tam, 21 tuổi, và Tony Hoàng, 27 tuổi. Phòng Biện Lý Hạt Alameda đang lập hồ sơ truy tố ba người trẻ tuổi với các tội danh trồng và bán cần sa.
Nhà chức trách cũng kêu gọi những ai có thể cung cấp thêm tin tức về vụ này thì hãy gọi số (510) 293-7047 của sở cảnh sát Hayward.