Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

– Tin nổi bật, Tin Công Giáo Thế Giới

150412_khumothanh

VRNs (12.04.2015) – Sài gòn – CBN giới thiệu, hàng triệu Kitô hữu trên thế giới đã tổ chức mừng Phục Sinh, Chúa Giêsu Kitô sống lại vào Chúa Nhật 5 tháng 4. Ở Jerusalem, hàng ngàn Kitô hữu hành hương đã viếng thăm Khu Vườn Mộ (The Garden Tomb) mà nhiều người cho rằng đó chính là khu vườn của Joseph Arimathea nơi đã chôn cất Đức Giêsu Kitô và sau đó ngài đã phục sinh.

Tuy nhiên, một số người tin rằng Nhà thờ Mồ Thánh ở Jerusalem mới là nơi thật sự diễn ra cuộc tử nạn và phục sinh, không phải ở Khu Vườn Mộ. Hoàng Thái hậu Helena của Constantine đã giúp xây dựng đền thờ này vào năm 326 A.D (sau Công nguyên).

Richard Meryon, giám đốc Khu Vườn Mộ giải thích rằng ‘Những gì chúng tôi có ở đây nơi Khu Vườn này là một sự diễn tả hoàn hảo của Kinh Thánh trong đoạn cuối của 4 sách Tin Mừng”. Ngày nay, cứ mỗi năm có khoảng gần một phần tư trong một triệu người du lịch đến Jerusalem ghé thăm Khu Vườn Mộ này.

Nói với CBN News, Steve Bridge người hướng dẫn của khu vực cho biết, họ đã xây dựng mảnh đất giống như những bằng chứng địa lý được nói đến trong Kinh Thánh. Bridge hướng dẫn viên nói, “Đức Giêsu đã bị đóng đinh ngoài tường thành thành phố nơi được gọi là Golgotha. Và chính tại nơi ngài bị đóng đinh là khu vườn thuộc về một người đàn ông khá giả có tên là Joshep Arimathea”.

Theo ông Bridge, những nghiên cứu khảo cổ đã là những chứng cứ chủ chốt ủng hộ tuyên bố này của đền thờ, nhưng chứng cứ của Khu Vườn Mộ cũng có thể thuyết phục. Trong sách Tin Mừng của thánh Gioan có viết “…nơi mà Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn…” (Ga 19, 41), ông nói, nếu bạn có một khu vườn thì phải cần rất nhiều nước, điều này sẽ còn cần hơn nữa đối với khu vực khô hạn Trung Đông này.

Khu Vườn Mộ chứa một trong các hồ nước lâu đời nhất và lớn nhất ở Jerusalem. Nó được khoảng 2.000 năm tuổi và giữ khoảng 200.000 gallon nước.

Vì vậy, theo Bridge ngôi mộ họ có ở đây là một điển hình của một ngôi mộ đá lăn của người Do Thái, ở thế kỷ đầu tiên. Nó có niên đại ít nhất 2.000 năm”.

Khu Vườn Mộ hay Nhà Thờ Mồ Thánh đều là nơi Chúa Giêsu Phục Sinh, những Kitô hữu hành hương đến đây và mang theo họ sự khẳng định về niềm tin. Và với Mùa Phục Sinh này Khu Vườn Mộ cũng muốn nhấn mạnh đến việc con người phục sinh chứ không phải nơi chốn. Hiện tại Khu Vườn đang thuộc quyền quản lý của Hiệp hội Khu Vườn Mộ (Jerusalem) thuộc Anh giáo.

Pv. VRNs

Các dự án nghi ăn hối lộ của nhà thầu Hàn Quốc bị thanh tra

Các dự án nghi ăn hối lộ của nhà thầu Hàn Quốc bị thanh tra

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN loan báo ra lệnh “thanh tra đột xuất” một số dự án xây dựng hạ tầng có sự tham dự của nhà thầu Hàn Quốc Posco, đang bị điều tra hối lộ.

Cao tốc Nội Bài – Lào Cai được POSCO E&C thi công gói thầu số A1, A2, A3. (Hình: VNExpress)

Chuyện thanh tra của Bộ GTVT, theo tin tức, gồm đại diện của 6 cơ quan của bộ này như thanh tra của Bộ, Vụ Tài chính, Vụ Khoa học công nghệ, Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông do một ông Phó chánh Thanh tra Bộ GTVN tên Lê Văn Doãn làm trưởng đoàn.

Tất cả các bộ ngành, các tỉnh thị trên cả nước đều có cơ quan thanh tra nhưng những vụ án tham nhũng hối lộ lớn tại Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay, dù tham nhũng hối lộ được mô tả là tràn lan từ trên xuống dưới. Các vụ án tham nhũng tại Việt Nam thường do nội bộ đấu đá nhau và do dân tố cáo, không phải do các cơ quan thanh tra khui ra.

Riêng trong ngành xây dựng hạ tầng cơ sở như cầu, đường, trường học, nhà thương v.v…chỉ thấy các nước cấp viện điều tra và truy tố nhà thầu của nước họ, rồi chế độ Hà Nội bị áp lực phải bỏ tù một vài viên chức. Hà Nội chưa hề tự “thanh tra” thấy một quan tham nào ăn bẩn suốt bao năm qua từ các dự án nhận viện trợ giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo thường biết dưới tên tắt là ODA.

Cuối Tháng Hai vừa qua, báo chí Hàn Quốc cho hay, cuộc kiểm toán nội bộ của tập đoàn POSCO đã thấy chi nhánh POSCO E&C tham gia thầu xây dựng tại Việt Nam đã lập quỹ đen số tiền khoảng 10 tỉ won, hay khoảng $8.9 triệu mà họ tình nghi số tiền dùng để “lại quả” hay hối lộ cho các quan chức Việt Nam trong giai đoạn từ 2009 đến 2012.

Ngày 3 tháng Tư, 2015 vừa qua, báo chí Hàn Quốc nói, chính phủ nước này đang điều tra một loạt lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn POSCO cùng công ty con – Công ty Xây dựng POSCO (POSCO E&C) để điều tra về những khoản quỹ đen bí ẩn trong hoạt động của công ty tại Việt Nam. Cái số tiền “quỹ đen” nói trên được một số viên chức bị kỷ luật khai là “lại quả cho một số nhà thầu”.

Rất có thể các số tiền “lại quả” đó khi đến tay “các nhà thầu phụ” ở Việt Nam thì lại được nộp cho các quan chức Bộ Giao Thông Vận tải CSVN. Chính phủ Hàn Quốc tình nghi giá trúng thầu đã bị đội lên để có tiền hối lộ.

Hai dự án ODA lớn mà POSCO E&C trúng thầu giai đoạn đó là đường cao tốc Long Thành – Dầu Giây và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Cả hai dự án xây dựng vừa kẻ do “Tổng công ty đường cao tốc Việt Nam” của Bộ GTVT làm chủ đầu tư.

Ông Nguyễn Hồng Trường, Thứ trưởng GTVT họp báo khoe rằng các dự án vừa kể được tổ chức đấu thầu quốc tế “theo đúng những quy định đề ra”.

Ông Trường gần đây bị tai tiếng ăn hối lộ của một nhà thầu hàng trăm triệu đồng rồi lại không để cho người ta trúng thầu. Người chủ tốn tiền mà “hụt thầu” là một phụ nữ đã công bố trên internet các tin nhắn qua lại giữa ông Nguyễn Hồng Trường và bà ta đòi tiền. Dù vậy, vụ việc được Bộ GTVT cho chìm xuồng.

Hiện chính phủ Nhật đang đòi chế độ Hà Nội trả lại số tiền đã giải ngân tư vấn thiết kế cho dự án đường sắt trên cao tại Hà Nội. Chính phủ Nhật đã kết tội một số viên chức nhà thầu JTC hối lộ cho quan chức Cục Đường Sắt CSVN số tiền khoảng $800,000. Nhưng hiện mới chỉ có một số ông của Cục vừa kể đang “bị điều tra”, chưa thấy kết luận ra sao. (TN)

Lời nguyện trôi theo mái tóc dài

“Lời nguyện trôi theo mái tóc dài,”

Cầu cho hoa lá thoát phàm thai.

Hồn lên vầng trán mây kềm toả,

Hình tượng nào đây? Thể xác ai?”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch

Nhiều lúc, người đọc sách thánh đã cắt ngắn truyện Tin Mừng một cách quá sớm, để rồi không định ra được ý-tứ của người viết nói thế nào? Về ai? Có ý gì?

Trình thuật hôm nay ta nghe được, lại là chương cuối của Tin Mừng Luca với 4 trích đoạn kể lại việc tông đồ Chúa đạt niềm tin về sự Sống lại. Ở hai đoạn đầu, Maria Magđala và Phêrô, đã đến mộ phần Đức Kitô, phát hiện ra Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết.

Ở đoạn trích thứ 3 -“Đoạn Đường Emmaus”- Luca lại nói đến trường hợp Đức Kitô hiện ra với các đồ đệ đang tụ họp. Ở đây, trình thuật kết thúc ngay câu 48, khi Đức Kitô dặn các tông đồ phải trở nên chứng nhân cho việc Ngài sống lại. Trong khi đó, nếu đưa thêm hai câu tiếp, ta sẽ thấy: Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ hãy ra đi loan truyền Tình yêu cứu độ cho thế giới, bên ngoài.

Sở dĩ, Hội thánh kết thúc trình thuật hơi sớm là vì không muốn gộp chung báo trước việc Đức Kitô Thăng Thiên, tức Ngài về với “Cha” đang mong. Và làm thế, người đọc Tin Mừng thấy kết cục hơi đột ngột, không thông như giòng chảy ngọt ngào như toàn bộ chương cuối. Truyện kể “Đoạn Đường Emmaus” phản ánh điều mà mỗi người chúng ta vẫn thường làm trong buổi Tiệc thánh, mỗi Chúa Nhật.

Thật thế, nếu đưa câu 49 và 50 của chương 24 vào chung với đọan Tin Mừng hôm nay, ta sẽ nhận ra tình huống tương tự khi Ngài mới sống lại. Đặc biệt, các động từ trong truyện cho thấy Đức Kitô như  hiện diện với đồ đệ đang tụ họp vào mỗi buổi dự tiệc. Ngài trao ban chính mình Ngài cho các đồ đệ để mọi người nhận ra Ngài, ôm Ngài vào lòng.

Trong khuôn khổ buổi tiệc, Đức Kitô vẫn cùng ăn cùng uống với các đồ đệ. Ngài vẫn dạy mọi người hiểu thêm ý nghĩa thánh kinh; và, Ngài uỷ nhiệm mọi người hãy ra đi loan báo Tin Mừng Yêu thương cứu độ, coi đây như sứ mệnh cao cả gửi đến mỗi người.

Tiệc Phục sinh ban đầu đem lại kết quả cho mọi người cũng hệt như tiệc của lòng mến mỗi Chúa nhật. Chúng ta tụ tập đông đủ, ở đây và lúc này, là để tưởng nhớ; và, một lần nữa, chuyển biến sự kiện quan trọng này thành sứ mệnh sống còn. Đây là lý do Hội thánh luôn đề cập đến con số 40 ngày Chay tịnh, từ Lễ Tro đến lễ Vọng Phục sinh.

Thật ra, con số 40 ngày –(hoặc 45 nếu tính cho đúng)—có rơi đúng hôm nay hay sau ngày Đại lễ, thì mỗi Chúa nhật đều là ngày để ta trỗi dậy mà Sống lại và nhớ bài sai ra đi rao truyền Tình thương cứu độ của Đức Chúa. Và, điều này hợp với ý định của Hội thánh.

Cũng tựa như tiệc Phục sinh ban đầu có Chúa hiện diện, mỗi Chúa nhật đều là ngày Phục sinh ta cũng có Đức Kitô mời đến tham dự Tiệc rượu Lòng Mến.

Tham dự Tiệc Thánh, ta tiếp tục được hướng dẫn hiểu rõ thánh kinh. Tiếp tục sống tinh thần Tin Mừng trong cuộc sống đời thường. Có sống thương yêu đùm bọc theo tinh thần của Tin Mừng, ta mới tiếp tục có Chúa hiện diện. Ngài hiện diện với các thánh tông đồ, ngày Phục sinh. Ngài cũng còn hiện diện với chúng ta.

Và, Ngài vẫn thương yêu, đùm bọc mọi cộng đoàn kẻ tin, lớn nhỏ. Đặc biệt hơn, Ngài vừa chủ toạ vừa đồng bàn với ta trong tiệc lòng mến, mỗi khi ta ngồi lại với nhau, tụ họp và tưởng niệm. Ngài dặn dò, khích lệ ta vui vẻ ra đi loan truyền tình Thương yêu cứu độ. Ra đi, với niềm hăng say, quả cảm. Ra đi, với quyết tâm thực hiện tình thương yêu trong đời sống thường nhật.

Để giúp ta thành công, hãy vui nhận sứ mệnh này như món quà cao quý Đức Kitô trao cho ta qua các môn đồ, ngay từ đầu. Đó là: sự an bình và vui sống với người đời trần thế như chứng nhân của Tình yêu cứu độ. Có lẽ, đôi lúc ta cũng cần đến óc sáng tạo để cho sứ mệnh cao trọng này thêm sinh khí. Có sáng tạo và thêm sinh khí, ta mới vui sống, phấn khởi thực hiện điều Ngài giao phó trong xã hội đương đại đầy nhiễu nhương, ác cảm. Câu truyện của vị cao niên dưới đây sẽ minh hoạ cho óc sáng tạo, phấn khởi:

Chiều hôm ấy, vị cao niên nọ quyết định ở nhà để vui hưởng sự yên tĩnh. Nhà cụ ở, nằm sát cạnh trường học, nên thường xảy ra nhiều chuyện ồn ào, bất ưng. Chiều chiều, cứ thấy có 3 người trẻ lảng vảng, đập gõ inh ỏi vào các thùng tôn đựng rác. Không ai khuyên bảo, can ngăn bọn trẻ bỏ cái trò tinh quái, khó chịu ấy.

Vị cao niên nhà ta bèn nảy ra một ý kiến. Cụ gọi bọn trẻ đến và bảo: “Này, bác có ý kiến này: các cháu xem có làm được không, nhé. Nếu chiều nào các cháu cũng đến đây, lấy gậy đập mạnh vào các thùng rác cho thật to, để mọi người thưởng thức được loại nhạc Tếch-nô. Gõ xong, hết giờ, đến đây bác tặng cho mỗi đứa một chục đô. Các cháu nghĩ sao? Bọn trẻ nhận lời, chẳng bỏ lỡ cơ hội. Tiếng gõ đập của chúng càng lúc càng đinh tai, nhức óc.

Vị cao niên cứ để bọn trẻ gõ cho đến lúc trời nhá nhem mới gọi đến, bảo: “Tiếc quá, hôm nay bác đi lãnh mà tiền cấp dưỡng chưa vào sổ. Thôi, các cháu cầm đỡ mỗi đứa 25 cents, bác đưa thêm sau”. Tên đầu xỏ, tức giận trả lời: “Bộ, ông tưởng tụi tôi bỏ bao nhiêu thì giờ làm chuyện này để được có 25 cents thôi sao? Đúng, ông thuộc loại dở khùng dở điên. Này, ông cúi xuống mà nhặt lấy 75 cents đi, bọn này không thèm thứ tiền ấy đâu.

Và, ngày mai đừng có mong bọn này trở lại gõ tiếp đâu nhé…” Thế là vị cao niên thắng lớn. Ông tìm được sự yên tĩnh cần có, để an hưởng tuổi già.

Hôm nay, Đức Kitô cũng dạy ta hãy ra đi làm việc gì hữu ích cho mọi người. Đem tình yêu hài hòa đến với mọi người. Hãy sáng tạo đổi mới cách thực hiện, hầu mọi người hưởng an bình, vui sống. Vui, vì được nghe lời Chúa. An bình, vì đã có Tin Mừng Chúa bảo bọc.

Đó là sứ mệnh gửi đến mọi người. Cầu mong sao, ta sẽ khôn ngoan để biết cách tạo hạnh phúc và hoà bình, đến muôn người. Những người đang sống quanh ta. Bây giờ và mai hậu.

Trong tâm tình cảm-nghiệm ý-tứ của người viết truyện Tin Mừng, có lẽ cũng nên ngâm thêm lời thi-ca vẫn ca tụng một gặp gở nào đó, ở đời người:

“Còn mảnh hồn thương dạt bến nào?

Vành môi vực thẳm máu dâng cao.

Mùa trăng thủy thảo hoa đầy gối,

Ánh mắt không lời đọng biển sao.

(Đinh Hùng – Giọt Máu Sao Trời)

Mảnh hồn hay vành môi thương dạt bến nào” đi nữa, vẫn cứ là những “ánh mắt không lời” còn đọng ở biển sao cuộc đời người nhiều luyến tiếc. Tiếc rằng, sao Người không ở lại với ta cho thoả lòng cảm kích rất biết ơn. Ơn trời biển, nhờ đó mới nhận ra rằng Người vẫn ở với ta, hết mọi ngày cuộc đời, của con người.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Đôi khi ta muốn thoát ly,

“Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi khung trời này,
Lên rừng làm bạn vui với hươu nai
Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi cuộc đời này,
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai”.

(Lê Hựu Hà – Đôi khi Ta Muốn Khóc)

(Mt 5: 46-47)

Trần Ngọc Mười Hai

Có nhiều lúc ngồi buồn nghĩ rất nhiều thứ chuyện. Chuyện vui cũng có. Chuyện buồn còn nhiều hơn. Buồn vui cuộc đời, là chuyện thường ngày ở huyện nhà, trọn đời người. Một trong các chuyện buồn chán ấy, lại đã thấy, ở câu hát bên dưới hôm nay:

“Đôi khi ta muốn khóc khi thấy
Con người không biết thương đồng loại
Con người thường khoe khoang rất khôn ngoan
Đôi khi ta muốn khóc,
Khi thấy nhân loại tranh miếng ăn từng ngày,
Vui lòng chịu luồn cúi dưới chân ai.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Nói gì thì nói. Hát gì thì hát. Nếu nghệ sĩ mình chỉ hát những điệu buồn dân-gian của cuộc đời, thật cũng chán. Cũng may là, trong cái chán của bài hát, ngoài ý lời ra, còn giòng chảy tiết-điệu làm người nghe nhạc bản đáng chán nào đó cũng bớt được những tâm tình chán nản đến quên đời. Quên cả những ngày đời mà người hát cứ phải giáp mặt, chạy đâu thoát.

Đó còn là ý/lời của câu hát tiếp theo sau:

“Trong mơ ta luôn khát khao,
Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người.
Với bao con tim chân thành và nhân ái.
Trong mơ ta luôn khát khao,
Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa
Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa.
Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.

Đôi khi ta thấy chán chê,
Khi tình thương đã không tồn tại,
Nhân tình tựa như gió thoảng mây bay
Đôi khi ta thấy xót xa,
Khi nhìn anh chiến binh mù loà
Nghe cuộc đời khoe khoang với ba hoa
(Lê Hựu Hà – bđd)

Thế mới biết, hết chán rồi lại ngán. Chán ngán đến mê mệt. Chán đến độ buồn đời rồi chán sống. Thế đó là cuộc đời. Thế nhưng, lại có những buồn/chán đến độ rất nản, khiần nhiều người lại tìm thấy ở đâu đó có giòng chảy khiến người và mình, bớt đi nỗi buồn/chán phát khiếp. Đó, còn là tâm trạng của người nghệ sĩ cứ hát mãi câu sau làm đoạn kết cho bài ca rất đáng chán như:

“Trong mơ ta luôn khát khao một thế giới yên vui
Nghe cuộc đởi khoe khoang với ba hoa
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi khung trời này
Lên rừng làm bạn thân với hươu nai
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai
La là là la lá lá la la………..”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Thôi thì, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta nghe câu truyện kể ở đoạn tiếp trước khi đi vào những chuyện thần sầu rất đáng chán, như chuyện triết-thần nhà Đạo mình. Kể những truyện là kể như sau:

Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi bái kiến vị thiền sư nọ
-Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không?
-Có.
– Nhưng, vận mệnh của con ở đâu?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra, chỉ anh ta xem và nói:
-Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm, đường này là đường sự nghiệp, còn đường kia là đường sinh-mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, cho thật chặt. Thiền sư hỏi:

-Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?
Anh ta mơ hồ bảo:
-Trong tay con này.
-Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Anh ta mỉm cười nhận ra, thì ra vận mệnh nằm trong tay mình.”
(trích truyện do bạn bè gửi)

Có thể là, bạn và tôi, ta chẳng tin chuyện “vận mệnh” với “số phận” như các bạn đạo thuộc tôn-giáo khác vẫn lấy đó làm lý-tưởng sống. Cũng có thể, tôi và bạn lại suy-nghĩ rất “lung” về đời người và người đời, nhiều lúc thấy đầu óc không mang mặc một tư-tưởng nào hết.

Cũng có thể, tôi và bạn, ta từng đa nghi hết tất cả. Và không còn tin vào những chuyện cao-siêu/nhiệm-mầu, rất khác lạ. Khác và lạ, là ở chỗ: cứ nghe mãi mà tai mình vẫn không thấy quen. Và cũng có thể, là tai tôi và tai bạn, nay có vấn-đề cần chỉnh-sửa để ta có thể nghe đủ mọi chuyện và mọi thứ. Cả những thứ lâu rày mình chẳng thích nghe.

Và đây, là một trong những thứ, mà bày tôi đây thường chẳng muốn nghe bao giờ hết. Đó, là truyện kể rất tinh mơ nhưng lại cũng xưa/cũ như bao giờ, vì cái ông có tên gọi là “Vũ Như Cẫn” rất quen thuộc ở đâu đó, trong đời thường. Tỉ như câu truyện kể rất khó nghe sau đây:

“Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

-Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người độc ác lại cứ sống tốt như vậy?

Thầy thông-thái hiền hòa nhìn tôi rồi trả lời:

-Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương-ứng. Nếu một người trong nội-tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm-giác thống-khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo-lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội-tâm của con vẫn tồn-tại điều ác, con không phải là người lương-thiện thật sự. Và, những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm-giác như bị xúc-phạm, tôi không phục, liền nói:

-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương-thiện mà!

Thầy trả lời:

-Nội-tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn-tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn-tại trong con.

Tôi nói:

-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải-mái, cũng hy-vọng mau chóng có thể cải-biến tình-trạng này; trong xã-hội, không ít người căn-bản không có văn-hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí-thức văn-hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu-nhập, thật sự là không công-bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải-mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống-khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân-từ, đôn-hậu, người từ-tốn nói với tôi:

-Thu-nhập hiện-tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia-đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn-bản là đã không phải lưu-lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện-tích hơi nhỏ một chút, con hoàn-toàn có thể không phải chịu những khổ-tâm ấy.

-Nhưng, bởi vì nội-tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã-hội có nhiều người thiếu văn-hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố-kị. Tâm đố-kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn-hóa, nên cần phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngạo-mạn. Tâm ngạo-mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn-hóa thì phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn-hóa không phải là căn-nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên-nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư-tưởng và quan-điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư-tưởng và quan-điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng-lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp-hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

-Lòng tham, tâm đố-kỵ, ngạo-mạn, ngu-si, hẹp-hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội-tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống-khổ mới tồn-tại trong con. Nếu con có thể loại-trừ những ác tâm đó, những thống-khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa-mãn của mình đặt lên tiền thu-nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn-bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh-phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái-độ sống của con mới là quyết-định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái-độ lạc-quan, hòa-ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

-Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng. Ngồi im lặng hồi lâu… xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

-Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!” (Theo VNE)

Suy cho cùng, thì cuộc đời người cũng có lắm chuyện khiến người đời cần suy nghĩ cho chín trước khi có quyết-định làm điều gì gây ảnh hưởng cho toàn-bộ cuộc sống của mình.

Nói khác đi, đời người bao giờ cũng có triết-lý của nó. Tin hay không tin. Chấp-nhận triết lý ấy hay không, vẫn là việc của mỗi người, từng giai-đoạn. Cũng có thể hôm nay, bạn và tôi không thấy có gì cần suy nghĩ hoặc đổi thay đời mình chú gì hết. Thế nhưng, triết-lý cuộc cuộc đời vẫn có đó, như một số vị từng nhận-định như sau:

Có những khoảnh-khắc cuộc đời khiến bạn nhớ người ta thật nhiều, đến nỗi bạn chỉ muốn chạy đến và ôm họ thật chặt. Hãy cho người đó biết bạn đã có suy nghĩ như thế!

Trao cho ai đó cả con tim mình không bao giờ là một sự đảm bảo rằng họ cũng yêu bạn, đừng chờ đợi điều ngược lại. Hãy để tình yêu lớn dần trong tim họ, nhưng nếu điều đó không xảy ra thì hãy hài lòng vì ít ra nó cũng đã lớn lên trong bạn.

Tương lai tươi sáng thường dựa trên quá khứ đã quên lãng, bạn không thể sống thanh thản nếu bạn không vứt bỏ mọi nỗi buồn đã qua.

Một điều đáng buồn trong cuộc sống là khi bạn gặp một người có nghĩa đối với bạn,để rồi cuối cùng nhận ra rằng họ sinh ra không phải để cho bạn và chỉ có thể để họ đi ….

Nhưng khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác lại mở ra. Ðiều bạn cần làm là thôi không chờ đợi nơi cánh cửa đã đóng, hãy tìm một cánh cửa khác đang mở ra cho mình.

Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

Hãy mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

Đừng bao giờ nói không còn yêu nữa nếu nước mắt của người kia vẫn có thể giữ chân bạn.

Ðừng khóc vì mọi việc đã qua, hãy cười vì mọi việc đang chờ phía trước.

Đừng chạy theo vẻ bề ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian.

Đừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi.

Hãy chạy theo người nào đó có thể làm bạn luôn mỉm cười bởi vì chỉ có nụ cười xua tan màn đêm u tối trong bạn.

Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác.

Người hạnh phúc nhất không cần phải có mọi thứ tốt nhất, họ chỉ là người làm cho mọi việc, mọi chuyện đều diễn ra theo ý họ.

Hạnh phúc thường đánh lừa những ai khóc lóc, những ai bị tổn thương, những ai đã tìm kiếm và đã thử. Nhưng nhờ vậy, họ mới biết được giá trị của những người chung quanh họ.

Tình yêu bắt đầu bằng nụ cười, lớn lên bằng nụ hôn và thường kết thúc bằng nước mắt.

Khi sinh ra, bạn khóc còn người xung quanh lại cứ cười. Hãy sống sao để khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn lại cứ cười.

Hãy giữ những vật dù nhỏ nhất của bạn thân mình; bởi, biết đâu sau này nó sẽ là kỷ-niệm của bạn mình.

Hãy nói những lời yêu thưong nhất đến người mà bạn yêu thương ….

Bạn chưa cần đến 3 giây để nói “I love you”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ.

Cũng vậy: Chỉ cần thời gian một phút thì bạn đã có thể cảm thấy thích một người. Một giờ để mà thương một người. Một ngày để mà yêu một người. Nhưng mà bạn sẽ mất cả đời để quên một người.

Không ai đáng giá bằng những giọt nước mắt của bạn. Và những người đáng giá sẽ không bao giờ làm bạn khóc.

Chỉ khi bạn thật sự mong muốn ai đó được hạnh phúc, thậm chí hạnh phúc đó không phải dành cho bạn, bạn mới hiểu rằng bạn đã yêu người đó thật sự mất rồi.

Có một sự thật là bạn sẽ không biết bạn có gì cho đến khi đánh mất nó, nhưng cũng có một sự thật khác là bạn cũng sẽ không biết mình đang tìm kiếm cái gì cho đến khi có nó.

Hãy làm những gì bạn muốn làm, mơ những gì bạn muốn mơ , tới đâu bạn muốn tới, trở thành những gì bạn muốn, bởi bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả những gì bạn muốn.

Hãy Gạt Những Âu Lo Cuộc Sống !

Yêu là mạo hiểm vì có thể bị từ chối. Nhưng không mạo hiểm thì đã là thất bại rồi vì trong cuộc sống điều nguy hiểm nhất là không thử thách điều gì .

Tình yêu là con dao. Nó đâm nát con tim hay có khi nó khắc sâu vào tim ta những vết khắc diệu kỳ và sẽ theo ta đến cuối đời.

Người ta vá áo bằng kim, còn bạn sẽ vá con tim bằng gì?

Tình yêu là một món quà – mà chỉ có thể đâm chồi nảy lộc khi được trao tặng đi.

Thế đó, là lập-trường/quan-điểm của người đời, trong đời. Thế còn, lập-trường của đấng bậc thày dạy nơi nhà Đạo thì sao? Để trả lời, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đọc thêm một lần nữa, ý-kiến của bậc thày dạy bần đạo ở Úc vẫn còn dạy-dỗ những điều về tình thương yêu cứu-độ chan-chứa nơi Đức Giêsu Kitô là bậc thày tối-cao của mọi người, trong Đạo.

Và đây là đôi ba ý chính rất sâu-sắc ở bài viết hôm nào mà bần đạo được hấp-thụ trong một buổi học hỏi về thần-học cao-siêu về Tình Thương cứu-độ, rất như sau:

“Nếu có ai hỏi: “Tình thương-yêu thật ra có nghĩa gì?” “Sự Công-chính từ đâu đến?”

thì câu trả lời, hẳn sẽ bao-gồm cả tình Thương-yêu thần-thánh, tức: sự Công-chính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Thành thử, ta nên dừng lại một chút, trước khi đặt mình vào với dữ-kiện của Kinh Sách và Thánh-truyền, để rồi sẽ suy thêm về Chúa với câu hỏi đặt ra từ bao giờ:

“Thiên-Chúa, Ngài là Đấng nào?”

“Ngài yêu-thương ta đến mức độ nào?”

“Ngài có công-bằng chính-trực đích-thực không?”

Vấn-đề đây, lại đề ra một số phương-án để ta theo, tức: những phương-án tương-tự như ở Kinh-Thánh, tâm-lý-học và kinh-tế/tài chánh của nhiều người….

Quan-điểm mà quý vị đây đưa ra, lại mang ý-niệm về sự công-chính vốn duy-trì quan-hệ giữa Thiên-Chúa và loài người; nhưng đúng thực lại là: giữa Đức Giêsu và dân con từng phạm lỗi ở trong Đạo. Thật ra thì, đây không là sự công-minh/chính-trực theo kiểu người phàm, như ta hiểu.

Từ nơi đây, ta cần nhận-chân ra rằng: Thiên-Chúa, với tư-cách là Chúa, Ngài chẳng cần sự gì hết. Nhận-định này, đã kéo theo hệ-quả là: không gì khả dĩ thúc-ép từ bên trong hoặc đè nặng lên Chúa, để Ngài làm bất cứ điều gì đặc-biệt, hòng cứu-chuộc ta ra khỏi trạng-huống những lỗi và tội. Chúa có tự-do làm bất cứ thứ gì Ngài muốn, như tạo-dựng hoặc cứu-chuộc mọi sự. Ngài hành-xử theo cách rất “hào-phóng”. Hào-phóng đây, có nghĩa: tạo lợi-ích cho mọi người. Hào-phóng -ngay chính từ-vựng này từng diễn-tả- đã liên-kết mọi sự tốt-lành mà bên tiếng La-tinh, thiên-hạ có thói quen gọi đó là “Bonitas”, tức: Sự Tốt-lành của Chúa, ở tầm-kích rất siêu-phàm.

Bản-chất của Chúa, lại có nghĩa: Ngài rất “tốt lành và siêu-việt”, nên từ phần thâm-sâu của từ-vựng, tính “hào-phóng” của Chúa, ta không thể cắt-nghĩa bằng ngôn-từ mà người phàm thường sử-dụng được. Bởi, đó là bí-nhiệm của Chúa và về Chúa. Là, thứ gì đó mà loài người, thật ra, không thể nắm bắt được điều gì thuộc về Chúa.

Từ-vựng “hào-phóng” -dù là ngôn-từ thuần-tuý của con người- vẫn có thể nối-kết với các dự-phóng đưa về phía trước, hầu đưa ta đến được với nó. Thành ra, ta bảo là: Chúa tự đặt Ngài vào vị-thế đầy hào-phóng, tức Ngài khấng-mang điều gì đó ngay nơi bản-chất của Ngài, để Ngài hành-xử một cách hào-phóng, tốt lành. Thiên-Chúa nối-kết một cách công-minh với chính Ngài, để mọi sự được ra như thế. Điều đó, ta gọi là sự Công-chính, tức bản-chất rất công-minh của Đức Chúa. Bởi, theo nghĩa thâm-sâu nơi bản-chất Ngài, Chúa có khuynh-hướng làm thế, nên sở dĩ Ngài mang tính hào-phóng là do bởi chính sự hào-phóng của Ngài, mà ra. Ở đây, tiếng La-tinh thường diễn-tả rất rõ bằng thành-ngữ “bonum diffusivum suis”, tức: từ-vựng mang cùng một ý-niệm.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Ơn Cứ Chuộc Nơi Ngài Chan Chứa, nxb Hồng Đức 2015, chương 4 phàn 3)

Tựu- trung, câu chuyện về tình thương-yêu của Thiên-Chúa đối với con người, lại dọi về đoạn Kinh Sách qua đó bậc thánh hiền từng diễn-tả bằng nhửng lời vàng như sau:

“Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình,

thì anh em nào có công chi?

Ngay cả những người thu thuế

cũng chẳng làm như thế sao?

Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi,

thì anh em có làm gì lạ thường đâu?

Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?

Vậy anh em hãy nên hoàn thiện,

như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

(Mt 5: 46-47)

Xem thế thì, mấu chốt quan-trọng tạo hạnh-phúc của cuộc đời là chính là “nên toàn-thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng toàn-thiện”. Xem thế thì, trở nên hoàn-thiện như Cha trên trời là Tình-yêu, tức bậc con cái phải có lòng yêu-thương hết mọi người. Có thế mới nên hoàn thiện như Cha mình. Xem thế thì, hẳn bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang hát lên cả những bài tưởng-chừng-như-buồn, hoặc sầu não, vẫn không sao. Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cất tiếng, hát rằng:

“Trong mơ ta luôn khát khao

Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người

Với bao con tim chân thành và nhân ái

Trong mơ ta luôn khát khao

Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa

Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa

Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.” (Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta sẽ thấy không buồn/phiền nữa. Nhưng vẫn dũng-cảm ra đi mà phổ-biến những gì mình học được từ đấng thánh-hiền, để cuộc đời mình sẽ tươi vui, rất mãn- đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Đã quyết tâm như thế

Và sẽ quyết như thế, đến cuối đời.

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

FB Trần Trung Đạo

09-04-2015

Tháng 5 năm ngoái, khi Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 đến sát bờ biển Việt Nam, lãnh đạo CSVN phản đối. Không chỉ phản đối riêng tại Việt Nam mà họ còn xúi giục du học sinh VN tại các nước mang cờ CS biểu tình chống Trung Cộng.

Nhiều người nghĩ rằng CSVN phản đối vì Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam.

Không phải. Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam hàng trăm lần trước đó nhưng CSVN im lặng. CSVN phản đối chỉ vì lãnh đạo Trung Cộng đã làm nhục lãnh đạo CSVN một cách công khai, lộ liễu trước dư luận Việt Nam và quốc tế, vượt qua giới hạn của những thỏa thuận ngầm giữa hai đảng. Trung Cộng rút giàn khoan và sóng gió tạm ngưng.

Trong bài “Để thắng được Trung Cộng” viết ngày 18 tháng 5, 2014, khi sự kiện HDD-981 còn nóng bỏng, tôi có viết:

“Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua.”

Thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Tuần này, TBT Nguyễn Phú Trọng dẫn một phái đoàn đông đảo sang triều cống Trung Cộng và lập lại lời thề trung thành với đảng mẹ.

Nhưng không phải hôm nay thôi, mà từ 1990 (Hội nghị Thành Đô), 1958 (Công hàm Phạm Văn Đồng), 1954 (Hội nghị Geneva), 1950 (Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận VNDCCH), 1946 (Liên Xô và Trung Cộng tổ chức huấn luyện cán bộ CSVN), và nhục nhã nhất, vào ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh, sau khi đi bộ 17 ngày, đến chính thức triều cống Trung Cộng và tháng Tư năm đó y cũng đã dâng cho Trung Cộng bốn yêu cầu trong đó có yêu cầu Trung Cộng gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam.

Từ phái đoàn cố vấn chính trị đầu tiên do La Quý Ba cầm đầu cho đến 1973 có đến 320 ngàn quân Trung Cộng tham chiến tại Việt Nam dưới nhiều hình thức.

Quan hệ giữa Trung Cộng và CSVN được Chu Ân Lai ví như “cùng chung máu thịt”.

Máu thịt đây dĩ nhiên không phải là máu thịt của 74 anh hùng Hải Quân VNCH bảo vệ Hoàng Sa, không phải là máu thịt của 64 thanh niên Việt Nam bị thảm sát ở Trường Sa, không phải là máu thịt của hàng ngàn ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay hải quân Trung Cộng suốt mấy chục năm qua, không phải là máu thịt của ba ngàn thanh niên Việt Nam bị thiêu xác ở Lão Sơn, không phải là máu thịt của nhiều chục ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trong chiến tranh biên giới 1979, và không phải là máu thịt của một phần mười dân tộc Việt khắp ba miền đã chết vì tham vọng CS hóa Việt Nam của đảng CSVN và CS Quốc Tế.

“Cáo chết ba năm quay đầu về núi” nhưng lãnh đạo CSVN thì không. Lãnh đạo CSVN sẽ quay đầu về Trung Nam Hải, Bắc Kinh, vì chúng không phải là người Việt.

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

Nam Phong Gửi tới BBC từ Huế

  • 11 tháng 4 2015

Tôi sinh ra và lớn lên sau ngày 30/04. Trong khi phần lớn đất nước chìm trong khó khăn, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, trong khi phần lớn người dân thiếu ăn, thiếu mặc, đói khổ trong giai đoạn 1980-1990, thì tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ và sung túc, vì ông bà tôi là những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông tôi là một người chân thành và có niềm tin sâu sắc với lý tưởng cộng sản. Ông có một người chị ở phía bên kia, và sau này di tản sang Mỹ. Ông không bao giờ liên lạc với bà, và đó là nỗi ân hận lớn nhất trong những ngày cuối đời của ông.

Là một ‘hạt giống đỏ” tôi lớn lên với niềm tin chân thành về những gì được dạy dỗ, về lý tưởng cộng sản với hình mẫu Pavel Korchagin – Hình mẫu chuẩn mực cho mọi thiếu niên lớn lên dưới mái trường XHCN khi đó.

40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước..vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Vì vậy, sự kiện 30/04 đối với tôi và các bạn tôi khi đó là một cái gì đó rất đẹp, rất anh hùng, cũng rất vẻ vang. Với thế hệ chúng tôi, Việt Nam đã đánh bại siêu cường số 1 thế giới làm “chấn động năm châu. rung chuyển địa cầu”.

Nhưng sau sự kiện bức tường Berlin, mẹ tôi trở về Việt Nam (vì là con của cán bộ cao cấp, mẹ tôi và các bác, cậu của tôi đều lần lượt học ở Đông Đức, Liên Xô, Bungari…).

Với những gì đã được chứng kiến ở nước Đức và Đông Âu, mẹ tôi không tán đồng quan điểm với ông tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi rằng, những người bạn Đức của bà nói rằng ”Mỹ là những người bạn tốt, cả thế giới muốn chơi với nó mà người Việt Nam mày lại đuổi nó đi.”

Bà kể cho tôi về những người Đức cộng sản và không cộng sản khi thống nhất đất nước đã ôm hôn nhau như thế nào. Bà kể về những người lính biên phòng Đông Đức đã tự sát chứ nhất định không bắn vào những người phía Đông muốn chạy sang phái Tây như thế nào.

Đó là bước ngoặt trong suy nghĩ của tôi! Mỹ mà tốt à? Tại sao người ở phía Đông lại chạy sang phía Tây chứ không phải ngược lại? Thế giới của tôi bắt đầu có nhiều màu sắc hơn, không còn chỉ có hai màu, cộng sản và phản động nữa.

Những ngày tháng cuối cùng của chiến tranh chỉ là giao tranh giữa những người Việt (Trong ảnh là lính VNCH trong trận Xuân Lộc)

Tôi bắt đầu tìm đọc những tác phẩm viết về ngày 30/04/1975. Đọc những tác phẩm bị coi là “phản động” ở Việt Nam. Các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Độ, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Gia Kiểng…

Thông tin từ những tác phẩm này đã khiến tôi mở to mắt. Ngày 30/04 làm gì còn người lĩnh Mỹ nào ở Sài Gòn. Vậy sao còn gọi là kháng chiến chống Mỹ? Sao có thể gọi là “giải phóng”?

Và tôi khóc thương cho số phận dân tộc Việt. Khóc thương cho hàng triệu người Việt ở cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Khóc thương cho cả triệu người Việt vĩnh viễn nằm lại gữa biển khơi.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Và tôi khóc thương cho lòng yêu nước nhiệt tình nhưng ngây thơ của người Việt đã bị các cường quốc lợi dụng. Đất nước trở thành bãi chiến trường. Người Việt trở thành sỹ tốt xung phong. Việt Nam thành bàn cờ, nhưng người chơi là người Nga, người Trung Quốc và người Mỹ không phải là người Việt. Một bên chiến đấu để “giải phóng” và “nhuộm đỏ thế giới”. Một bên chiến đấu để bảo vệ “thế giới tự do”.

“Đại thắng mùa xuân” và “giải phóng miền Nam”. Đât nước thành một đống đổ nát, hoang tàn. Trường Sơn thành một nghĩa trang khổng lồ.

Những người mẹ mất con. Khăn trắng trên đầu trẻ thơ. Và một hết thương hằn sâu trong lòng dân tộc. 40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước… vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Một tượng đài nhỏ thôi, giản dị thôi nhưng tinh xảo. Và một nghĩa trang của những người lính ở cả hai phía cho thế hệ trẻ có thể tỏ lòng thành kính cho những người đã ngã xuống vì dân tộc. Hy vọng là như thế!

Còn thống nhất lãnh thổ mà không thống nhất được lòng người thì có ích gì? Nhất là khi phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp đang trỗi dậy. Bài học mất nước của Hồ Quý Ly còn đó.

‘Con bà phước, cái bang’ Galang

‘Con bà phước, cái bang’ Galang

Nguoi-viet.com

Sông Tiền
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Galang vào trưa ngày 1 Tháng Sáu năm 1990 sau đúng 2 tháng rời Việt Nam.

Ðoàn tàu chúng tôi đến trại với 655 thuyền nhân trên hai chuyến tàu định mệnh được nhập chung từ nhiều chiếc ghe vượt biển khác nhau đã đến được đất liền Mã Lai nhưng bị hải quân nước này gom lại và xua đuổi sang Nam Dương.

Hồi tưởng lại chuyến hải trình gian khổ và những ngày tháng bất ổn trong quá trình thanh lọc ở trại tỵ nạn mà cảm thấy thật thấm thía cho hai chữ thuyền nhân.


Cổng vào trại tị nạn Galang. Nơi đây nay đã thành di tích. (Hình: VOA)

Như bao thuyền nhân khác đến trại tỵ nạn sau ngày đóng cửa đảo định mệnh 17 Tháng Ba năm 1989, tất cả chúng tôi đều phải trải qua một quá trình ‘thanh lọc’ để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của mình.

Chúng tôi đến Galang vào thời điểm thuyền nhân trôi tấp vào Mã Lai Á bị dồn đẩy sang Nam Dương ồ ạt nên số lượng thuyền nhân trên đảo từ năm 1989 không quá 3,000 người đã tăng đột biến lên hơn 14,000 trong vòng chưa đầy một năm. Tình trạng quá tải không có chỗ ở cho người tỵ nạn là một chuyện khá nhức đầu cho các nhân viên Cao Ủy và phòng kỹ thuật.

365 người chúng tôi được đưa thẳng vào Galang 2 và sống lây lất vật vạ tạm thời bên trong hội trường của văn phòng Cao Ủy và dọc theo hành lang của phòng xã hội. Nhìn cảnh những người “say sóng” nằm ngồi dọc theo hành lang các văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn và toán JVA được các anh chị thiện nguyện viên của phòng xã hội và gia đình Phật Tử Long Hoa cũng như thanh niên Công Giáo trợ giúp nấu và chia nhau những tô mì gói nóng để đỡ đói qua ngày trong thời gian chờ đợi những nhân viên của phòng kỹ thuật dựng lên các barrack bằng plastic trên các nền barrack cũ của Zone F nó ám ảnh và theo tôi mãi trong những giấc mơ cho đến ngày hôm nay.

Galang, quán trọ trước cổng thiên đường đã không thật sự đến với chúng tôi, những thuyền nhân kém may mắn đã chậm chân đến trại sau cái ngày oan khiên mà Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại áp dụng để ngăn chặn làn sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản ngày càng dâng cao. Sau những ngày dài chờ đợi và mất ngủ chúng tôi được đưa vào sống trong những barrack được lợp bằng plastic mới được dựng lên trong khu Zone F bốn bề gió lộng theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của nó.

Trải tấm chiếu Cao Ủy trên nền xi măng lòi lõm của barrack để xí chỗ xong là chúng tôi phải nghĩ đến việc sinh tồn trong những ngày dài sắp tới. Mỗi thuyền nhân được phát một đôi dép Cao Ủy, một cái mền và một chiếc chiếu, một cái tô, một cái chén và một cái ly bằng nhựa, mỗi 5 người được phát một cái lò xô nấu ăn bằng dầu, một cái can 5 lít đựng dầu hôi. Khẩu phần lương thực nghe đâu đã bị cắt giảm nên hàng tuần chúng tôi mỗi người chỉ được phát 3 gói mì, 2.8 kg gạo, 100 gram đậu xanh, 100 gram đậu nành, 100 gram đường và 100 gram đồ tươi có thể là bí rợ hay rau cải. Mỗi đầu tháng chúng tôi được cấp 9 lon cá mòi loại nhỏ, và 4 lít dầu ăn, có tháng Cao Ủy thay thế bằng ba hộp thịt hộp mà chúng tôi gọi là pa tê, khi thì 3 lon cá mòi loại lớn. Ăn cá mòi và tắm nước suối từ trên rừng chảy xuống được chứa trong những cái hộc được đào sẵn ở dưới hạ nguồn nên đã có rất nhiều người bị ghẻ ngứa, chúng tôi đã phải thức dậy thật sớm để sắp hàng lấy số ở bệnh viện Galang 2 chờ được chích thuốc vào mỗi sáng.

Với sức trẻ của tuổi minor vị thành niên, nhóm con “bà phước” không có thân nhân ở nước ngoài không cách gì chúng tôi có thể tồn tại và sống nổi với khẩu phần lương thực hạn hẹp mà Cao Ủy đã cấp phát thông qua nhà cầm quyền Indo, những người bạn của chúng tôi phải gom lại tìm cách mưu sinh để sống còn trong những ngày dài ở trại.

Có một câu chuyện làm cho tôi còn nhớ mãi là trong những ngày còn say sóng khi mới đến đảo. Tôi có theo chân mấy người bạn đi dạo ngoài chợ Galang 2 tình cờ được gặp lại dì Hai Ngọc Châu là bạn rất thân của mẹ tôi đã vượt biên và đến đảo vào năm 1987. Dì dượng và gia đình các anh chị lẽ ra đã đi định cư từ rất lâu nhưng vì dượng Hai bị bệnh phổi khá nặng nên đã bị các phái đoàn từ chối khi phỏng vấn và còn kẹt lại và đang chờ đi Pháp vào Tháng Tám năm 1990.

Mặc dù gia đình của dì lẽ ra phải đi Mỹ vì dượng Hai là cựu quân nhân của QLVNCH. Dì Hai và các anh chị đã rất thương và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong khoảng thời gian này. Thấy chúng tôi tơi tả không có quần áo mặc dì mua vải nhờ chị Một và chị Bưởi là người con dâu và người quen của dì may đồ cho chúng tôi, lâu lâu dì mua thịt heo rừng và đồ ăn ngoài chợ đem vào tiếp tế cho chúng tôi.

Mặc dù đã sắp đi định cư và đã hứa cho người khác cái thùng phi đựng nước cũng như cái tủ đựng đồ, nhưng vì thấy hoàn cảnh quá thê thảm của chúng tôi mà dì Hai đã trả tiền lại cho người ta để xin lại cho chúng tôi có cái thùng phi đựng nước uống và có tủ để đựng đồ. Thật quý vô cùng những tấm lòng vàng.

“Bún, bún đây, ai ăn bún đổi cá, đổi gạo không? Num bờ chốc tê, Num bờ chốc đo ko tê,” những tiếng rao lanh lảnh ở Galang 1 và Xóm Miên ngày nào vẫn còn âm vang và là động lực mạnh mẽ giúp cho tôi vượt qua hết những khó khăn và vấp ngã sau này khi đã được định cư tại Hoa Kỳ.

Tôi đến với cái nghề bán bún và biết làm ra tiền đầu tiên trong đời từ trại tỵ nạn Galang qua chú Trung và anh Hùng cùng tàu của tôi. Cuộc sống ở trại khổ quá mà không có liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để viện trợ cứu đói, chú Trung và anh Hùng con của chú Tư Xị đã đột phá tìm cách làm quen với anh Nhân chủ lò bún ở gần Suối Zone F Galang 2 để xin lãnh bún đem đi bán dạo vòng quanh các barrack ở Galang 2.

Chú Trung thấy hoàn cảnh anh em con bà phước của chúng tôi thê thảm quá nên chú kêu lại hỏi thăm tụi tôi có chịu đi bán bún không rồi chú hỏi xin ông chủ lò bún cho chúng tôi lãnh bún đi bán ngoài Galang 1. Tôi, Ðức và 3 anh em Ðành, Ðạt và Chín nhận lời, thế là mấy anh em chúng tôi hàng ngày vào sáng sớm thay nhau gánh bún từ Galang 2 đem ra Galang 1 bán và đổi cá, gạo kiếm tiền mưu sinh trên đảo.

Là những công tử bột chưa nếm bụi trần gian, trại tỵ nạn Galang đã nhào nặn cho chúng tôi trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn. Có những ngày mưa gió mà gánh bún thì còn nặng trĩu trên vai, chúng tôi len lỏi qua khỏi khu vực bệnh viện Galang 1 (lúc này đã được trưng dụng làm chỗ ở cho thuyền nhân) đi hoài mà gánh bún thì vẫn chưa vơi chúng tôi bạo gan tìm ra khu xóm Miên (vào cuối năm 1990 đã có gần 1,500 người Cambodia vượt biển đi tỵ nạn) lần đầu tiên món Num Bờ Chốc xuất hiện ở Làng Miên gánh bún ngày hôm đó được mua hết trong vòng 30. Thừa thắng xông lên sau đó anh em chúng tôi tăng số lượng bún lên gấp đôi, hàng ngày gánh ra bán thêm ngoài xóm Miên.

Chúng tôi học thêm tiếng Miên qua chị Hồng đi chung tàu. Chị Hồng là em vợ của chú Y Giang NiekDam là ‘leader’ tàu của chúng tôi, từ đó việc giao tiếp với bà con người Miên được dễ dàng hơn.

Có một câu chuyện bây giờ nghĩ lại rất là tức cười cho sự khờ khạo của tuổi trẻ chúng tôi, vì không quen ai ở ngoài Galang 1 nên chúng tôi cứ gánh hai thùng bún thật nặng đi thẳng ra xóm Miên bán trước, khi qua khỏi Cổng Chùa Quan Âm Tự đến gần khu vực Suối Miên, phần vì hai gánh bún quá nặng phần mệt nên chúng tôi quyết định chui vào một bụi cây ở gần đó giấu một thùng bún và gánh thùng bún còn lại trực chỉ xóm Miên. Trên đường về lại Galang 1 chúng tôi tấp vào lấy cái thùng bún giấu trong bụi cây, cả hai chúng tôi đã cười thật giòn và thật lâu khi nghĩ đến cảnh trở lại chỗ giấu thùng bún mà kiếm không ra vì cắc cớ có ông nào đi ngang tấp vào tè bậy mà thấy thùng bún và vác luôn về thì anh em chúng tôi chắc sẽ khóc bằng tiếng Miên luôn.

Có những người Miên thật tốt bụng khi thấy anh em chúng tôi bận quần áo tả tơi trong lúc vất vả mưu sinh đã kêu lại cho quần áo lành lặn để bận, buôn bán một thời gian thì chúng tôi bắt đầu có những mối tốt, họ đặt bún của chúng tôi hàng ngày để nấu món Bún Cá bán trong làng Miên. Anh em chúng tôi thay nhau mỗi ngày vào buổi chiều gánh bún đi bỏ mối ngoài làng Miên, khi thì 15 kg khi thì 10 kg tùy theo ngày. Thấy chúng tôi làm ăn được người chủ lò bún sinh lòng tham, anh ta tăng giá bún lên và sắm xe đạp chở bún ra ngoài làng Miên giành mối và bán sỉ với giá rẻ hơn. Bất mãn anh em chúng tôi không tiếp tục đi bán bún nữa. Sau này một số anh em trong nhóm con bà phước đã phải đi đánh bắt cá ngoài biển, bán bánh mì, bán cà rem, đào giếng mướn và một vài đứa thì làm nghề báo thư mà chúng tôi gọi đùa là những tay chuyên Bóp Cổ Thiên Hạ.

Galang là một trường đời đầy thử thách đã rèn luyện và huấn nhục chúng tôi được cứng cáp và trưởng thành hơn, từ cách đối nhân xử thế đầy tình người cho đến nhân tình thế thái bạc bẽo của cuộc đời chúng tôi đều được học từ trại Galang, có những bài học rất đắt giá và có những bài học không phải trả tiền mà chúng tôi may mắn được học qua những kinh nghiệm đau thương của bạn bè và chính cá nhân mình.

Trong những năm tháng đầu tiên ở trại tỵ nạn, chúng tôi lam lũ cực nhọc mưu sinh nhưng tinh thần thì rất vui và không có nhiều lo nghĩ cho đến khi bắt đầu có kết quả thanh lọc vào những đợt đầu tiên cho những đồng bào đến trại vào những ngày đầu tiên kể từ sau ngày đóng cửa đảo, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại vì muốn chặn đứng làn sóng thuyền nhân vượt biển tìm tự do nên đã tạo ra rất nhiều chuyện bất công trong vấn đề xác định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân.

Thảm cảnh chèn ép buộc những cô gái Việt phải hiến thân để đánh đổi tấm vé công nhận là tỵ nạn chính trị xảy ra ngày càng nhiều. Nhà cầm quyền Nam Dương có toàn quyền quyết định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân nên vô tình đã tiếp tay cho những nhân vật đang nắm vai trò sinh sát trên đảo lộng hành mặc sức chà đạp nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong khoảng thời gian khủng hoảng này.

Ðã có rất nhiều trường hợp cả gia đình phải tốn rất nhiều tiền để hối lộ các giới chức cầm quyền và họ còn bị bắt ép phải hiến dâng con gái dưới tuổi vị thành niên của họ cho những tên phó hay trưởng đảo cũng như những nhân vật coi về phần an ninh và thanh lọc.

Ðã có nhiều trường hợp lường gạt để lấy tiền của thuyền nhân khi hối lộ với chính quyền địa phương dẫn đến giết người để bịt miệng, vụ án ở Suối Chùa Kim Quang mà hai anh Sáu Koler và Nguyễn Văn Viễn là nạn nhân của những tên sát nhân này.

Bất công và đau khổ dày xéo tâm can của những thuyền nhân Galang, sau khi nhận kết quả rớt thanh lọc, anh Diệp Quang Huy đã gặp luật sư người Phi để tư vấn cho vấn đề khiếu nại của mình, bị tên Phi lùn xúc phạm, anh Diệp Quang Huy đã tẩm dầu tự thiêu ngay trước văn phòng Sơ Vấn Galang 2.

Minor Lưu Thị Hồng Hạnh đã đậu thanh lọc nhưng bị rút giấy đậu vì là minor đã phẫn uất tự thiêu ngay trong barrack của mình. Những thảm trạng của thuyền nhân thật là bi thương đã xảy ra rất nhiều vào thời điểm 1991-1996.

Giá trị của hai chữ tự do đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng đói khát của những ngày lênh đênh trên biển, bằng sự tủi nhục của thân xác phụ nữ Việt trên biển và trong đất liền, bằng sự rẻ khinh và xua đuổi của các quốc gia tạm trú, bằng những nấm mồ hoang lạnh trên các trại tỵ nạn của không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân đã bỏ mình nơi rừng sâu, đảo vắng.

Và hơn hết là bằng sự đấu tranh tuyệt thực biểu tình của hơn 4,500 thuyền nhân tại Galang, hơn 2,000 thuyền nhân tuyệt thực ngất xỉu phài vào cấp cứu tại bệnh viện Galang 2, hơn 20 thanh niên đã đâm bụng tự sát không thành. Anh Phạm Văn Châu đã tự thiêu trong buổi sáng biểu tình và được đưa sang Pinang chết mất xác. Anh Lê Xuân Thọ đã tẩm dầu tự thiêu và đâm bụng chết tại chỗ biểu tình được đồng bào quàn và giữ xác trong quan tài tại chỗ biểu tình cho đến ngày cuối cùng sau khi bị cảnh sát đặc nhiệm của Indo trấn áp.

Cuộc biểu tình suốt 179 ngày đêm của thuyền nhân Galang chống cưỡng bức hồi hương và đòi hỏi công bằng cũng như quyền tự do tỵ nạn chính trị của mình là cuộc biểu tình dài nhất và bi thương nhất trong lịch sử của thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam. Là thuyền nhân vượt biển tìm tự do chúng ta không được phép quên chúng ta là ai và tại sao chúng ta đang ở khắp nơi trên thế giới này.

Galang một trời tâm sự…

Trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín

Trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín

Nguoi-viet.com

Nguyễn Ngọc Dung
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Mùa Xuân đang về, thời tiết lý tưởng, với chồi non, nụ thắm… dễ làm người ta yêu đời hơn.

Ngày dài hơn, nắng vàng của những ngày đầu mùa Xuân làm cho tôi ngồi vào bàn, viết lại một quãng thời gian đầy biến động và thay đổi cho cả gia đình mình. Một công việc đã âm ỉ trong lòng, chưa được viết ra, như một gửi gấm đến các con cháu mình những gì đến với cuộc đời của tôi, và phần nào muốn chia sẻ với các bạn, như một lời tâm tình của một thành viên bé nhỏ trong cái tập thể “vợ những người tù cải tạo” quanh đây.

Phú Quốc – 1970. (Hình: Tác giả cung cấp)

30 Tháng Tư, 1975, lịch sử Việt Nam sang một trang mới. Tôi lấy chồng trong những ngày cuộc chiến cao độ (1970), chàng là một người lính Hải Quân, nay đây mai đó, lúc ở căn cứ hải quân mãi tận Phú Quốc, lúc đi tàu biển, rồi có khi về ngay bộ tư lệnh Hải Quân Sài Gòn và đơn vị cuối cùng, là giang đoàn ở Đồng Tâm, Mỹ Tho.

Tôi đi học, đi làm và không theo chân anh đi các vùng xa xôi như thế. Ngày 27 Tháng Tư, 1975, anh về thăm tôi 1 chút rồi trở về Long An, lúc đó là nơi anh được huy động về tiếp tay với các bạn giữ vùng 4 sông ngòi. Anh và tôi xa nhau, gặp nhau như chuyện thường ngày của các gia đình quân đội – nhất là hải quân – trong thời chiến, nào có biết rằng cũng là lần cuối gặp nhau mang hình ảnh anh trong bộ quần áo tác chiến hải quân.

Chúng tôi mất liên lạc từ đó, vài ngày sau, với lời tuyên bố đầu hàng sáng 30 Tháng Tư, 1975, tôi biết cuộc đời mình sẽ có những thay đổi rất lớn, mà chẳng biết nó sẽ như thế nào. Tôi chờ anh trở về Sài Gòn, chờ anh về nhà, tuy biết là không thể trở về với chiếc tàu, để đón gia đình hai bên và tôi. Về sau này, tôi mới biết, giang đoàn của anh được biệt phái từ Đồng Tâm, tới Nhà Bè, rồi về Long An, nằm trong Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, gồm rất nhiều tàu bè, một mũi nhọn xung kích mạnh mẽ nhất của Hải Quân miền Nam lúc bấy giờ.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 được thành lập để bảo vệ an ninh thủy trình sông Soài Rạp và sông Lòng Tào, và bảo vệ chính phủ rút về miền Tây, khi tình thế xấu.

Bến Bạch Đằng quen thuộc, gần nhà bố mẹ tôi, nay đã chẳng còn một chiếc tàu nào mang lá cờ xưa.

Chiều tối hôm 29 Tháng Tư, 1975, tôi cùng đoàn người gần nhà ra bến Bạch Đằng, mong có một cơ may nào lên được sà lan, tàu buôn hay cả ghe nhỏ để cứ đi vào một bến bờ vô định. Đi như trong giấc ngủ vật vờ, đêm xuống, bờ sông hỗn loạn, hàng kẽm gai kéo ngang, họng súng gờm sẵn sàng nhả đạn. Tên anh cũng chẳng ích gì trong việc xin 1 chỗ cho mình tôi lên tàu hải quân, ai thoát được, cứ lạnh lùng bỏ đi.

Thôi rồi, số phận mình ra sao, anh ở đâu và có an toàn?

Phi trường Tân Sơn Nhất, 4 Tháng Bảy, 1991. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một đêm không ngủ nghe tiếng trực thăng bay liên tục, nhìn những chiến hạm không đèn trên sông Sài Gòn, tôi biết mọi hi vọng ra đi đã bị cắt đứt. Đi qua bộ tư lệnh Hải Quân, qua cầu tàu nơi có khi anh chỉ cho tôi, kia là con tàu anh đang làm việc trên đó, nay chỉ là một quãng sông đen ngòm, đe dọa và nhận chìm mọi hi vọng của chúng tôi.

Ngày qua ngày, qua lời 1 anh lính cận kề với anh ở giang đoàn, anh ta về nhà nhưng không muốn gặp mặt tôi, tôi biết anh đã dẫn đoàn ghe ra cửa biển, đón tàu khác để di tản.

Tôi vẫn phải đi làm, sáng ra phải dự các buổi gọi là “giao ban,” gặp tất cả các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ và ban quân quản bệnh viện. Không khí căm thù bàng bạc suốt buổi, nhiều đe dọa, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, im lặng, vì quanh mình chẳng biết ai là bạn ai là thù.

Bên cạnh đó, những buổi học tập tại chỗ, những bài tự khai thật nặng nề, những câu hỏi mơ hồ khiến câu trả lời nào của chúng tôi cũng không thỏa mãn được họ. Nhất là với tôi, khi tôi khai ông chồng tôi…mất tích… Thì đúng là mất tích chứ sao bây giờ, khi Tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám 1975 không biết anh ở đâu. Họ đâu có chịu cho tôi yên với hai chữ mất tích kia, cái mất tích hàm nhiều ý nghĩa…có thể là đã chết, di tản, vô bưng hoạt động chống lại họ, hay trốn ở đâu. Họ bắt tôi lên họp, chỉ một với một, họ hạch hỏi quanh chữ “mất tích.” Tôi cũng hoang mang lắm, không biết anh sống chết thế nào.

Bức màn sắt đã trùm xuống toàn miền Nam, toàn vùng chỉ là đêm đen giữa ban ngày. Chỉ có một đường radio VOA, BBC để biết tin nước ngoài, được nghe trong sự trốn tránh che giấu. Sáng đi làm, nhìn những lá cờ đỏ trên đường, rùng mình như màu máu đang rút dần ra khỏi cơ thể tôi, ngủ dậy mới thấy đã qua được 1 ngày yên ấm, chưa bị bắt như các người lớn trong bệnh viện, nay ông bác sĩ bệnh viện trưởng, mai ông phụ tá hành chánh, mốt ông điều dưỡng trưởng.

Không khí trong bệnh viện đầy đe dọa, dò xét, ngay cả hộp đồ ăn trưa cũng được bà trưởng phòng về tiếp quản, đổ ra ngoài xem có dấu gì trong đó, hay xem bọn “ngụy” ăn uống cao lương mỹ vị gì.

Đến khoảng Tháng Tám 1975, tôi nhận được 1 điện tín gửi từ Pháp, như sau: sẽ hồi hương, cho biết ý kiến.

Bức điện tín ngắn gọn, mà thật là khó giải quyết. Tôi xin ý hai bên cha mẹ. Bố mẹ anh không biết nên bảo anh về lại Việt Nam hay bảo anh qua Mỹ, được sung sướng cho anh, thì lại khổ cho con dâu mà ông bà rất yêu quý. Bố mẹ tôi bảo anh trở về, thì thương anh bị ở tù khổ cực lắm. Ngay bản thân tôi, cũng chẳng biết sao là đúng. Biết là anh đang rất cần câu trả lời để có quyết định, về hay ở?

Sau cùng, chúng tôi đành đánh điện tín qua: “Tùy ý quyết định.” Những ngày tháng sau đó, tôi sống như một người có tội, tội đẩy anh vào nơi lao lý, biết có ngày về ?

Sau đó các đài phát thanh, VOA, BBC báo tin cho biết sẽ có một chuyến tàu mang tên Việt Nam Thương Tín sẽ đưa một số người muốn hồi hương, khoảng Tháng Mười sẽ trở về. Thuở ấy, sau bức màn sắt là một thế giới khác, bít bùng, mọi tin tức đều không thể đến với người dân. Tôi đi làm, lòng đầy hoang mang, anh có về, nếu anh về, thì có phải ở tù không? Người ở đây, còn vào tù, huống gì người đã đi, nay trở lại, mang theo những câu nghi ngờ về các anh, có phải đã mang về những công việc dọ thám, đánh phá chế độ…

Rồi được tin nghe lén, chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín (VNTT) đã chở người di tản dạo 30 Tháng Tư, 1975, nay được dùng để đưa đoàn người hồi hương. Tôi tự hỏi, liệu có anh trong đó, nếu có thì anh sẽ ra sao. Ngay bản thân tôi ở Sài Gòn, còn bị đe dọa đi kinh tế mới, vì đã được đặt tên là vợ của ngụy quân, tội ác đầy mình, cần phải cải tạo cái đầu tư sản bằng con đường lao động.

Hai bàn tay một Nha Sĩ như tôi, thay vì điêu khắc lên miếng trám cho thật đẹp, thật giống những hình dáng thật của răng, nay có lúc phải cầm cuốc đi trồng dứa (thơm) ở nông trường, cầm cuốc trồng khoai mì sau khi đã cuốc hết sân cỏ xanh mướt tốn công biết bao, ở sân trước bệnh viện Chợ Rẫy nổi tiếng ở Sài Gòn.

Có lần chúng tôi phải đi đào kinh, giẫm chân trên dòng kinh lúp xúp nước, chuyền những miếng đất được các vị bác sĩ, các giáo sư đại học Y Khoa Sài Gòn trao cho, để tạo con kênh dẫn nước phèn vào ruộng. Dòng nước váng lên những phèn, cây nào sống nổi. Sau những lần khổ cực như thế, số bác sĩ quyết chí rời bỏ nước lại càng tăng lên. Họ đã không trọng vọng nhân tài, yêu quí những vị “cứu nhân, độ thế.”

Qua những sự việc hàng ngày như thế, tôi đã có thể hình dung cuộc sống trong tù “cải tạo” của các quân nhân chế độ cũ, và nhất là các anh đã về theo chuyến tàu VNTT sẽ khổ như thế nào.

Lá thư anh gửi từ trại tù Tuy Hòa đã xác định, anh đã trở về.

Tết đầu tiên ở Hoa Kỳ, 1992. (Hình: Tác giả cung cấp)

Tôi lên phòng nhân viên của bệnh viện tôi làm việc, xin điều chỉnh tình trạng chồng mình. Chữ “mất tích” nay đổi thành một địa chỉ lạ hoắc, ở một nơi rừng sâu núi thẳm nào đó miền Trung. Tưởng rằng đã yên cho mình, tưởng rằng không còn cái cảnh gọi lên làm lại lý lịch tôi đã thuộc lòng, với lời nghi ngờ là ông chồng tôi đang ở một nơi nào, đe dọa đến an ninh của chế độ mới.

Bây giờ họ đem chồng tôi để “dụ” tôi vào một công tác mới. Họ hỏi, tôi có muốn đi thăm nuôi anh, có muốn gặp anh? Dĩ nhiên là tôi muốn lắm chứ, nhưng tôi cũng biết dè chừng cái thâm ý của họ.

Đằng sau cái đề nghị ngọt ngào đó, hẳn là sẽ có điều kiện gì đây?

Thì ra, họ muốn tôi làm một thứ “ăng ten” để tìm hiểu về một nhân vật trong bệnh viện mà họ muốn bắt. Tôi tuy còn non trẻ, nhưng cũng đã biết lưu ý kịp thời, để không mắc mưu họ, giữ an toàn cho người ấy và cả cho mình. Cuộc sống bấy giờ, là một sự đối phó, là những cẩn thận và căng thẳng. Rồi cũng qua ngày, tôi tìm quên trong công việc. Trong bệnh viện, ngày ngày có tin người này đi thoát, bạn khác bị bắt. Tôi đã tìm cho mình một hướng đi, dứt khoát ở lại với anh. Chúng tôi chưa có con, tưởng như không có điều chi ràng buộc, nhưng tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, nhất là sự trở về của anh, thì sự dứt khoát kia trở thành một điều không lay chuyển.

Chuyến tàu VNTT về đến hải phận Vũng Tàu từ Tháng Mười, 1975, thế mà chúng tôi chỉ biết đến tin nhau qua vài lá thư, thư đầu tiên từ Tuy Hòa, ngày gửi là Tháng Hai, 1976, thư thứ hai từ Nghệ Tĩnh. Anh đã bị còng tay, giải đi thật xa, đến một nơi nghèo nhất nước, để đói khát, bệnh tật sẽ giết lần mòn nhóm sĩ quan ưu tú của quân đội. Những lá thư được rập khuôn, vài ba chữ hỏi thăm là đã hết, anh chẳng đả động gì đến chuyện đi thăm, sự cô lập trong rừng sâu, sự cô lập với dân quanh vùng và ghê sợ hơn cả là sự cách chia với gia đình.

Anh sống thế nào nhỉ?

Sự chờ đợi mỏi mòn cho đến cuối năm 1978, anh mới báo tin cho tôi đi thăm nuôi. Hai chữ “thăm nuôi” thật giản dị mà đầy ý nghĩa.

Nghĩa là có hai việc trong lần được gặp này: thăm và nuôi. Anh viết thư về, danh sách các thứ “nuôi” dài thậm thượt, với một người gọi là “khảnh ăn” như anh, mà phải liệt kê bao nhiêu món như thế, chắc chắn anh thiếu thốn ghê gớm.

Quãng đường Hà Nội vào Vinh bằng tàu chợ đã là một ám ảnh tôi cho đến bây giờ, xe lửa cho những con buôn đanh đá, cảnh hỗn loạn cho những tay cướp hoạt động, nơi những tay anh chị và đồng bọn hoành hành với những luật chơi riêng của họ. Những chị đi thăm nuôi cứ chết dí, né tránh và chịu đựng. Nói sao cho hết những nhục nhằn chịu đựng trên đường thăm nuôi.

Gia đình, năm 2015. (Hình: Tác giả cung cấp)

Lần đầu tiên gặp lại sau 3 năm xa cách, anh đã trở thành một người khác, cả người sưng phù, khuôn mặt giữ nước trông như mập ra, anh như một người khác trong bộ bà ba đen có lần tôi gửi vào theo đường bưu điện.

Vợ chồng nhìn nhau qua 1 chiếc bàn lớn, xa cách như tội nhân. Chúng tôi tội tình gì nhỉ, muốn nói bao điều, mà chỉ nói bằng ánh mắt. Giờ được thăm loáng cái đã hết, chúng tôi bịn rịn, anh ngay đây mà như một người xa lạ, gặp nhau và chia tay, chỉ yên tâm là chúng tôi vẫn còn sống, ngày mai sẽ ra sao, chẳng ai biết.

Anh quay vào trại, sống kiếp tù đày, tôi trở về lại Hà Nội đợi máy bay vào Sài Gòn. Ra đến Hà Nội mới biết các chuyến bay tạm ngưng vì chiến tranh Tháng Mười Hai, 1978 giữa Việt Nam và Cambodia, tôi kẹt ở lại, tôi đánh điện tín về bệnh viện xin nghỉ, họ không tin, cứ nghĩ tôi đã vượt biên. Sau khi có máy bay trở lại, tôi đi làm và đã bị làm khó dễ không ít với sự việc này. Đất nước đã được rêu rao là “thống nhất,” là hạnh phúc, mà sao vẫn sợ dân mình bỏ nước ra đi?

Cuộc sống ngay cả ngoài tù còn đầy rẫy khó khăn, đói ăn, thiếu mặc, thiếu tự do. Thử hỏi trong tù, nhất là người tù luôn kèm theo bốn chữ Việt Nam Thương Tín, thì khổ thế nào. Bốn chữ ấy có nghĩa là luôn nằm trong sự nghi ngờ của chính quyền, sự thương cảm của bạn bè, sự tiếc nuối có khi tức giận của những người đang tìm đường vượt biên. Riêng tôi, bị nhìn như nguyên nhân chính của sự trở về của anh.

Tôi tự giận mình, quyết định để anh trở về, như đang ở thiên đường mà lại xuống địa ngục. Nhiều khi tôi phải tự tìm ra câu trả lời, là, quyết định lúc nào, là đúng nhất vào lúc ấy, không ân hận và không tiếc gì. Hỏi rằng có ai can đảm như anh, biết trở về là tù đày mà chỉ nghĩ đến một ngày sẽ trở về với gia đình và tôi.

Nhiều bạn anh lúc còn ở Guam, đã ngăn anh trở về, nhưng các bạn mạnh miệng vì họ đang ở trong sự đầy đủ của vợ, con, cha mẹ. Anh tâm sự, có những buổi chiều ở Guam, ngồi ở bãi biển, nhìn đôi chim bay cùng nhau trong nắng xế, nhìn người ta bên cạnh vợ con, tuy chưa biết ngày mai nhưng vẫn ánh lên hạnh phúc vui vầy. Anh đã về vì chẳng có ai trong gia đình anh, gia đình tôi di tản được.

Mãi đến bây giờ, 40 năm sau ngày đau thương ấy, chúng tôi vẫn thấy quyết định quay về là đúng. Chúng tôi hãnh diện khi có người hỏi, có phải anh đã trở về trên chuyến tàu định mệnh, VNTT. Chúng tôi ngẩng cao đầu với niềm tự hào, với sự can đảm khó có của anh, vui với một kết thúc “có hậu” như bây giờ.

Anh ra khỏi tù Tháng Mười, 1982, từ xứ Nghệ Tĩnh rất xa, vào đến miền Nam là cả một lòng thương yêu của dân chúng, họ giúp đỡ, trên đường di chuyển về Sài Gòn. Hai năm sau, chúng tôi có đứa con trai đầu tiên và 3 năm sau, một đứa con trai thứ ra đời khi tôi đã ở tuổi 40. Bạn bè của anh thường lui tới thăm hỏi, nựng nịu hai cháu nhỏ nhất khóa. Chúng tôi muốn sống yên bình, nhưng thấy luôn luôn có những phân biệt, ngăn cản bước tiến của con mình từ phía chính quyền mới. Và năm 1991 bốn người chúng tôi ra đi định cư ở Mỹ trong chương trình H.O., chúng tôi phải làm lại từ đầu, bắt đầu một cuộc đời mới ở một xứ sở mới đã dang tay đón nhận chúng tôi.

Chúng tôi với tuổi thanh xuân, với thời điểm đẹp nhất cho việc tạo dựng một cuộc đời tốt đẹp, lúc ấy, đã bị cướp đi, phải bắt đầu một cuộc đời mới bằng hai bàn tay trắng. Những mất mát ấy, chẳng cách gì lấy lại được. Thật là nhiều thua thiệt, chỉ còn những an ủi là những ngày tháng cuối đời được sống bình an nơi xứ sở này, nơi chúng tôi xin nhận làm quê hương.

Anh đã từ Mỹ, trở về Việt Nam, trải qua 7 năm gian khổ, và 9 năm sau gia đình chúng tôi đã cùng nhau trở lại “thiên đường” tưởng đã đánh mất, sau 19 năm tuổi trẻ, đã qua đi vô ích, tuổi đẹp nhất của một đời người.

Qua những gian khó ban đầu ai cũng phải sống như thế, chúng tôi đã hội nhập được với “dòng chính,” các cháu học hành nên người, cuộc sống không đến nỗi kham khổ.

Để đến bây giờ, chúng tôi vẫn hãnh diện trả lời, “Vâng, chúng tôi là người của chuyến tàu VNTT, con tàu mang tên Định Mệnh, từ Guam trở về Việt Nam Tháng Mười, 1975.”

Jennifer Lopez: “Feel the Light” – AMERICAN IDOL XIV

Ban đầu bạn cho rằng đây chỉ là chiếc váy trắng bình thường, hãy chờ đến khi Jennifer Lopez cất tiếng hát…

httpv://www.youtube.com/watch?t=51&v=N0v6ITyTWv4

Jennifer Lopez: “Feel the Light” – AMERICAN IDOL XIV

Trong chương trình American Idol XIV, Jennifer Lopez xuất hiện trên sân khấu cùng chiếc váy trắng tinh khôi. Điều đặc biệt là nó rộng đến 6m, che phủ phần lớn sân khấu. Còn điều bất thường là… nó chỉ có một màu trắng chứ không có hoa văn gì khác, giới showbiz Mỹ đâu có thiếu sáng tạo đến vậy?

Sự tò mò chỉ được trả lời bằng những lời thán phục “wow” khi cô ca sĩ cất tiếng hát và màn trình chiếu ánh sáng bắt đầu.

Ai có thể nghĩ rằng chiếc váy trắng xinh đẹp lại ẩn chứa điều kỳ diệu như thế. Trở thành màn trình chiếu cực đẹp.

Nghe nói chiếc váy được thiết kế bởi Mariel Haenn. Ông đã không làm khán giả thất vọng, dưới ánh đèn sân khấu chiếc váy bỗng trở thành một màn ảnh hình tròn đầy ấn tượng, hòa hợp với bài hát “Feel the light” mà Jennifer biểu diễn.

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Huy Phương/Người Việt

Nhân cuộc phỏng vấn tác giả Trần Văn nhân cuốn sách viết về cựu Trung Tướng Ðặng Văn Quang trên đài SBTN, chúng tôi đã nhận được điện thoại của ông Trần Văn Ðính, thứ nam của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, nhờ chúng tôi viết lại nhiều thông tin trên báo chí chưa rõ hay nói sai, kể lại những ngày cuối cùng của Cụ Trần Văn Hương tại Saigon cũng như câu chuyện liên quan đến Tướng Ðặng Văn Quang. Ông Trần Văn Ðính năm nay đã 87 tuổi, hiện sống tại Nam California, đã là phụ tá đặc biệt cho thân phụ ông trong nhiều năm, từ 1965-1975.

Cụ Trần văn Hương và cháu nội Trần Thủy Vân (1967- 1997)
con gái ông bà Trần Văn Ðính. (Hình gia đình chụp năm 1968)

Hai người con, hai chí hướng

Theo sự trình bày của ông Trần Văn Ðính, ông bà Trần Văn Hương chỉ có hai người con trai.

1. Người con lớn là Trần Văn Dõi, sinh năm 1924 (nhiều người như các ông Hứa Hoành, Huỳnh Văn Lang đã ghi lầm là Trần văn Giỏi – vì Cụ Hương đã có một người em ruột tên Giỏi (1), và nhiều bài khảo cứu dựa theo tài liệu của Mỹ lại không bỏ dấu, mà chỉ ghi là Doi). Khi phong trào kháng chiến nổi lên, đang theo học tại trường “College de Can Tho.” ông Dõi bỏ học theo Việt Minh. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Dõi theo ra Bắc. Năm 1948, ông được gửi theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn và đổi tên là Lưu Vĩnh Châu (lấy họ mẹ), sau này tham gia trận Ðiện Biên Phủ với cấp bậc đại úy Công Binh, là đảng viên cộng sản.

Theo tài liệu, ông Dõi sau khi biết thân phụ mình là phó tổng thống VNCH, đã trình sự việc lên ông Ung Văn Khiêm là tổng trưởng Nội Vụ miền Bắc thời đó. Về phần Cụ Hương cũng đã xác nhận với tình báo Hoa Kỳ về chuyện cụ có một đứa con trai bên kia giới tuyến.

Một thời gian lâu sau khi CS vào Saigon, ông mới được phép đem gia đình (vợ tập kết và hai con, một trai một gái) vào gặp cha, và ít lâu sau dọn về ở với Cụ Trần Văn Hương tại số nhà 216 Phan Thanh Giản (sau này đổi lại Ðiện Biên Phủ). Con trai ông Dõi hiện làm việc tại Saigon và cô con gái hiện sống ở Hungary.

Sau khi Cụ Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ngôi nhà này được chính quyền “cho phép” bán, chia cho gia đình em gái út Cụ Hương và gia đình ông Dõi. Ông Trần Văn Dõi đã qua đời năm 2011 tại quận Tân Bình, Saigon.

2. Người con thứ nhì, là Trần Văn Ðính, sinh năm 1925, chính là người sống với Cụ Trần Văn Hương, làm phụ tá đặc biệt cho Cụ từ năm 1965 cho đến trước ngày bàn giao chức vụ tổng thống cho ông Dương Văn Minh vào ngày 28 tháng 4, 1975.

Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, năm 1955, trước khi Cụ Trần văn Hương theo lời mời của TT Ngô Ðình Diệm ra làm Ðô Trưởng Saigon-Chợ Lớn thì ông Trần Văn Ðính đã tự túc xuất ngoại sang Anh Quốc. Ông đã học và làm việc tại Londre 3 năm, Paris (Pháp) 2 năm và Francfurt (Tây Ðức) 5 năm. Cuối năm 1964, khi Cụ Trần Văn Hương lên làm thủ tướng lần thứ nhất, ông đã được gọi về, như một người thân tín, sống gần gũi, giúp thân phụ làm phụ tá đặc biệt. Ông lập gia đình tại Saigon với một người mà ông đã từng gặp tại Paris 6 năm về trước, ông bà có hai người con, trai là Trần Bảo Danh hiện sống tại Oregon và gái là Trần Thủy Vân trong tấm hình chụp với ông nội trên trang báo này.

Ngày 21 tháng 4, 1975, sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu bàn giao chức vụ tổng thống lại cho Cụ Trần Văn Hương, trước tình hình căng thẳng tại Saigon, Ông Trần Văn Ðính muốn thu xếp cho vợ con rời Việt Nam và ở lại bên cạnh cha, nhưng cuối cùng Cụ Hương không đồng ý đã hối thúc con trai rời Việt Nam cùng với gia đình.

Năm 2005, ông Trần Văn Ðính có về Việt Nam và có gặp anh là Trần Văn Dõi, nhưng ông cho biết anh em xa nhau đã lâu ngày, lại khác chí hướng, không mấy hứng thú để trò chuyện. Hiện nay ông bà Trần Văn Ðính đều đã già, đang sống cô đơn trong một khu mobil home thuộc thành phố Huntington Beach, vì con trai ở xa và cô con gái đã mất năm 1997 vì chứng ung thư máu.

Ông Trần Văn Ðính, 87 tuổi, thứ nam Cụ Trần văn Hương, chụp tại nhà riêng ở Huntington Beach, California. (Hình: Huy Phương)

Túng quẫn nhưng giữ trọn chí khí

Trong tiểu sử của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, không ai nghe nói đến cụ bà đệ nhất phu nhân cũng như trong suốt thời gian Cụ Hương làm việc trong chính phủ VNCH, không ai biết đến bà Trần Văn Hương làm gì ở đâu? Ông Trần Văn Ðính cho chúng tôi biết hai ông bà sống riêng đã nhiều năm một cách tự nhiên, vì không hợp tính, và phần Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không muốn có đàn bà xen vào việc nước. Chỉ trong thời gian cuối cùng ốm đau, bà Trần Văn Hương mới dọn về ở đường Công Lý và mất vào đầu năm 1975.

Chúng ta cũng đã biết trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống cộng sản, Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời tổng thống rời khỏi nước, nhưng Tổng Thống Trần Văn Hương đã khẳng khái trả lời: “Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với dân chúng một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.”

Cụ Trần Văn Hương đã lui về căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây cụ sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời. Theo ông Trần Văn Ðính, đây là căn nhà mà năm 1969, khi rời chức thủ tướng để trao chức vụ này cho ông Trần Thiện Khiêm, không có nhà ở, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cấp cho ông. Tuy mang số 216, đây là một căn nhà nhỏ hẹp, nằm sâu trong hẻm, sau lưng nhà của ông Trần Ngọc Liễng, loại nhà cấp cho các bộ trưởng nhưng vì nhà đã lâu năm, cũ kỹ, xuống cấp, không ở mặt tiền, bị mọi người chê nên mới còn lại. Chính Cụ Hương đã từ chối lời đề nghị cho sửa sang lại vì sợ tốn công quỹ, do đó, ngôi nhà còn yên, sau 1975, không bị CS chiếm như nhưng căn khác, nhưng báo chí CS cho rằng vì lý do nhân đạo nên ngôi nhà này không bị tịch thu.

Theo nguồn tin của CS thì sau năm 1975, Cụ Trần Văn Hương được trợ cấp tem phiếu hạng E dành cho một “cựu tổng thống Ngụy,” nhưng theo lời ông Trần Văn Ðính thì Cụ Hương không có hộ khẩu vì không làm đơn xin “phục hồi” quyền công dân như cụ đã nói: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”

Chính vì thái độ này, mà Cụ bị CS quản chế, không hộ khẩu, làm sao có tem phiếu, ông Ðính nói. Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không bao giờ ra khỏi nhà, ốm đau, không những sống đạm bạc mà còn thiếu thốn. Người chăm sóc tận tình cho Cụ chính là người em rể sống với Cụ. Theo lời một người cháu Cụ kể chuyện với nhà văn Hứa Hoành, đã có lúc Cụ giao cho bà em ra chợ bán một củ sâm Ðại Hàn Cụ còn cất giữ và những bộ đồ vest để lấy tiền mua thức ăn cho cả gia đình. Cụ qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu.

Cụ Trần Văn Hương và một con người khí tiết, yêu nước đã hai lần làm Thủ tướng, phó tổng rồi tổng thống VNCH, đã mất đi trong một hoàn cảnh, gần như bị quên lãng.

*Kỳ Sau: Trần Văn Hương vs. Ðặng Văn Quang

Chú thích:

(1) Người em thứ sáu của Cụ Trần Văn Hương mang họ Lâm, là Lâm Văn Giỏi. Theo lời ông Trần Văn Ðính thì “ông chú này không có khai sinh, nên ông nội lấy khai sinh của người khác cho chú Giỏi đi học.”

Ủy viên BCT VN nghiên cứu cải cách ở Harvard

Ủy viên BCT VN nghiên cứu cải cách ở Harvard

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân từng là Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội (ảnh năm 2006)

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn phái đoàn đến Đại học Harvard tìm hiểu cải cách thể chế.

Bà Kim Ngân dẫn đầu đoàn gồm 15 lãnh đạo cấp trung ương và địa phương, trải qua năm ngày ở Chương trình Lãnh đạo Quản lý cao cấp của Việt Nam (VELP) tại Đại học Harvard.

Chuyến thăm Mỹ của bà kéo dài từ 11 đến 21/4, ngay sau khi bà vừa tháp tùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc.

Chương trình VELP được Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chương trình Việt Nam ở Trường Harvard Kennedy và cơ quan Liên Hiệp Quốc UNDP đồng tổ chức.

Đây là diễn đàn để các lãnh đạo Việt Nam trao đổi với các học giả, doanh nhân quốc tế.

Đề cương chương trình năm nay của VELP nói trong lúc Việt Nam sắp tiến hành Đại hội Đảng, nước này đối diện nhiều thách thức gần và dài hạn.

“Các nhà hoạch định chính sách chịu sức ép thúc đẩy tăng trưởng và duy trì bình đẳng,” đề cương nói.

“Trong kinh tế, chính phủ xác định nhu cầu tăng tính cạnh tranh cho khu vực tư nhân và tái khẳng định sự cấp thiết cải cách doanh nghiệp nhà nước.”

“Cũng có nhận thức về tầm quan trọng của cải cách tư pháp đối với sự phát triển của Việt Nam.”

“Về chính trị, cả Đảng và Chính phủ đã khẳng định cơ quan lập pháp ở mọi cấp cần tăng cường tính đại diện. Ngoài ra, kinh nghiệm các nước cho thấy quốc hội đóng vai trò quan trọng để phân bổ nguồn lực hiệu quả.”

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân từng là Bí thư tỉnh Hải Dương, Thứ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội.

Theo tiểu sử chính thức, bà có bằng Thạc sĩ Kinh tế và Cử nhân Chính trị.

Tại khóa học năm ngày, bà cùng phái đoàn sẽ nghiên cứu các câu hỏi như làm thế nào có hệ thống quản trị hiện đại, làm sao chuyển đổi mà vẫn duy trì ổn định chính trị và xã hội.

Bộ Ngoại giao Việt Nam nói chuyến thăm Mỹ của phó chủ tịch Quốc hội nhằm thúc đẩy mối quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1995-2015).