Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-04-28

Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Hoa-Ai-620.jpg

Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và phóng viên Hòa Ái chụp tại RFA tháng 4/2015

RFA photo

Your browser does not support the audio element.

Trong số gần 3000 quân nhân Mỹ gốc Việt hiện nay thì có khoảng 300-400 người trong số họ thuộc thế hệ 1.5, là những người được sinh ra ở VN trong thời gian chiến tranh nhưng lại sinh trưởng ở Hoa Kỳ. Nhân 40 năm ngày chiến tranh VN kết thúc, Hòa Ái có cuộc trao đổi với cựu Trung tá Bộ binh Ross Nguyễn Cao Nguyên để nghe chia sẻ về cuộc đời của ông luôn gắn liền với 2 chữ “chiến tranh”.

Hòa Ái: Hòa Ái xin phép được chào cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên.

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cám ơn cô Hòa Ái. Nhân dịp này Cao Nguyên xin kính chào quý khán thính giả đài ACTD.

Hòa Ái: Xin phép được hỏi cựu Trung tá vào thời điểm hiện nay tưởng niệm biến cố 30/4, hồi ức của ông về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN thì là ông nhớ lại là những hình ảnh gì?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Thời gian thấm thoát đi quá mau. Cô Hòa Ái cũng biết, thấm thoát thế mà đã 40 năm rồi. Gia đình của Nguyên được may mắn đi vào ngày 27/4/1975 trên chiếc C141, tàu bay cuối cùng của Mỹ. Ngày hôm đó, một điều mà Nguyên nhớ mãi đến nay là khi gia đình đã được xong giấy tờ của Quân lực Hoa Kỳ, ngồi trong xe buýt chạy ra cuối phi đạo Tân Sơn Nhất đợi tàu bay C141 tới.

Nguyên còn nhớ ngày Chủ Nhật, 27/4 này, lúc đó Nguyên được 16 tuổi. Nguyên thấy một số binh sĩ nhảy dù của Quân lực VNCH, có thể kêu là một đại đội Nhảy dù trấn đóng để bảo vệ Tân Sơn Nhất. Họ đứng nhìn từ phía sau hàng rào (fence) nhưng không ai la hét hay chửi bới gì hết. Tất cả những người đứng đó với một cặp mắt mà đối với Nguyên là một cặp mắt vừa buồn, vừa giận và có một vẻ gì đó hơi khinh bỉ.

Đó là niềm nhớ mãi mãi ở trong lòng của Nguyên. Đối với Nguyên, Nhảy dù là một binh chủng rất là dữ dội của Quân lực VNCH, hãy còn trật tự, hãy còn giữ đầy đủ cái tư cách của một người lính đứng nhìn những người đã bỏ nước mà đi.

Đối với Nguyên đó là điều rất là buồn trong lòng của mình tại mình biết mình bỏ người ta đi nhưng đó là một cái chuyện không thể nào đoán được.

Hòa Ái: Thưa ông, theo những chia sẻ của ông thì những hình ảnh trong ký ức đọng lại trong lòng ông có ít nhiều tác động đến quyết định trong việc chọn lựa cuộc đời binh nghiệp cho mình hay không?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cô Hòa Ái phải biết, càng lớn tuổi chừng nào thì Cao Nguyên càng tin vào số mệnh chừng đó. Khi tôi khoảng chừng 12 tuổi thì đã nhất định đi theo bước chân của ba.

Ba của tôi là ông Nguyễn Đình Bản, Đại tá khóa 5 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1974, Nguyên nói với bố là “khi con thi xong tú tài thì con sẽ xin vào trường Võ Bị”. Năm 1975 mất nước mà khi mất nước rồi mình qua bên Mỹ thì ai cũng biết mình phải lo cuộc sống ở Hoa Kỳ nên chuyện vào trong quân đội bị chìm vào dĩ vãng. Nhưng đến năm 1983, khi Nguyên ra trường đại học rồi thì cảm thấy những điều mình đã trải qua từ năm 75 đến năm 83 có vẻ không đúng cái mộng mà mình muốn làm.

11025647_10203103439741974_9177133296691183971_n-400.jpg

Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và con trai.

Một hôm (trong công việc làm) được gửi đến Fort Sill, một căn cứ pháo binh của Hoa Kỳ ở Oklahoma thì Nguyên thấy mấy anh Thiếu úy đi qua đi lại rồi Nguyên tự hỏi là “không biết đời lính như thế nào”. Nguyên mới về kí giấy xin đi vào trong quân đội thì được Bộ binh nhận. Thấm thoát 28 năm sau, bây giờ con trai cũng ở trong quân đội Mỹ nên gia đình của Nguyên được 3 đời trong quân đội, rất là hãnh diện.

Hòa Ái: Ký ức tuổi thơ ở VN của ông gắn liền với chiến tranh dưới lăng kính của một cậu thanh niên vừa mới lớn; và trong cuộc đời binh nghiệp, ông từng có mặt ở nhiều chiến trường trên thế giới, nhân sinh quan của ông về chiến tranh có khác biệt so với hồi xưa không?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Rất là khác biệt. Cô nói rất đúng! Sau 1 năm đóng ở Iraq, phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ thì Nguyên đã thấy được rằng chiến tranh đối với Nguyên là một phương tiện cuối cùng. Khi mình không còn phương tiện nào khác nữa mà khi đi đến chiến tranh rồi thì cô biết chiến tranh rất là tàn khốc, người chết, người bị thương, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán…

Cho nên đối với Nguyên nếu có cuộc cách mạng nào (revolution) hay việc gì đó thì trước nhất là phải hòa bình (peaceful). Muốn thay đổi thì tự thay đổi chứ không cần đụng đến chiến tranh. Khi đưa đến chiến tranh rồi thì khó lắm, cũng như trường hợp bên nước Syria bây giờ, hơn 4 triệu người dân Syria bị tan nát cho nên những người mặc quân phục rất sợ chiến tranh.

Không phải sợ là vì không đủ sức làm mà sợ là vì khi đưa đến chiến tranh rồi thì phải có đánh nhau và giết nhau. Vì đánh nhau, giết nhau và ghét nhau phải đến 3-4 đời người mới trở lại được hòa ái và thương yêu nhau nên Nguyên sợ chiến tranh lắm.

Hòa Ái: Có vẻ như mâu thuẫn khi ông chia sẻ chọn cuộc đời binh nghiệp nhưng lại sợ chiến tranh. Hiện nay, Hòa Ái cũng ghi nhận được một số những người trẻ ở VN thì họ vẫn không có thiện cảm với quân nhân Mỹ. Theo như lịch sử họ học ngày xưa “Mỹ là kẻ thù của VN”. Bây giờ vẫn còn một số người vẫn cho rằng lính Mỹ là lính đánh thuê. Nếu như có cơ hội nói chuyện với họ thì ông sẽ nói gì?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Nguyên sẽ nói rằng lính Mỹ thật ra không phải là những người lính đánh thuê. Các bạn phải hiểu rằng nước Mỹ bây giờ vẫn là một cường quốc, vẫn là một nước giàu nhất trên thế giới mà khi mình đã giàu như vậy thì mình phải bằng mọi cách chia sẻ sự văn minh, sự tiến bộ, sự tự do dân chủ cho tất cả các nước mà mình có thể tiếp xúc được.

Không phải là mình đàn áp hoặc bắt người ta phải theo mình nhưng mà vì tự do và dân chủ, nước Mỹ đã trở thành một cường quốc như thế này. Một con người không thể nào bị đàn áp bởi tất cả chế độ nào hết. Chuyện Mỹ đi đánh là tại vì Mỹ đã thấy những người dân ở những nước bị đàn áp thật là khổ và thật là vô nhân đạo thì họ sẽ bằng mọi cách cố gắng để giúp những người dân đó. Như Nguyên đã nói, khi đã đụng đến chiến tranh thì Mỹ đánh là phải đánh cho cùng. Vì thế hiện giờ có nhiều chuyện rất là lủng củng trong chính quyền của Mỹ, nhưng tấm lòng của người Mỹ lúc nào cũng là tốt.

Hòa Ái: Câu hỏi cuối cùng là hiện nay có lẽ ông cũng biết VN có tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Tình hình càng ngày càng leo thang. Mặc dù VN luôn chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, trước những hành động hung hăng của Trung Quốc bây giờ, nhiều chuyên gia phân tích rằng biện pháp quân sự cũng không loại trừ. Ông nghĩ sao nếu trong trường hợp xấu nhất có xảy ra chiến tranh ở Biển Đông, liệu những cựu quân nhân Mỹ gốc Việt như ông sẽ có những đóng góp nào để bảo toàn lãnh thổ cho đất mẹ?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Chuyện đó thì những người quân nhân Mỹ gốc Việt chúng tôi đã giơ tay tuyên thệ là phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ. Cô cũng biết Hoa Kỳ hiện giờ đã bằng mọi cách trở về VN, không những về sinh hoạt kinh tế mà đến cả quân sự nữa. Không dám nói là vì sự đàn áp của Trung cộng nhưng mà ảnh hưởng của Trung cộng hiện giờ rất là mạnh trong vùng ĐNA, nhất là vùng của VN.

Sớm muộn gì nếu Trung cộng muốn bành trướng áp lực của họ bằng mọi cách chính trị hoặc là quân sự xuống ĐNA thì dĩ nhiên Hoa Kỳ không thể nào để chuyện đó xảy ra vì vùng đó rất là quan trọng về đường hải lộ. Nếu có chiến tranh xảy ra với Trung cộng thì chúng tôi, những quân nhân Mỹ gốc Việt, cũng phải tình nguyện hoặc bổ nhiệm đi vào những đơn vị đó và phải đánh. Nhưng theo cái kinh nghiệm của Nguyên với sự học hỏi của Nguyên là chiến tranh ở vùng ĐNA sẽ không đi tới tại vì ảnh hưởng về kinh tế, về xã hội của Trung cộng và nước Mỹ đã dính liền với nhau rất là nhiều, đưa đến chiến tranh thì rất là khó. Thể nào cũng đưa ra giải pháp yên ổn (tiếng Mỹ gọi là “peaceful solution”) nhưng với một điều kiện là quân đội Hoa Kỳ phải có mặt ở đó. Bây giờ Nguyên cũng thấy chính phủ VN và chính phủ Hoa Kỳ đã từ từ bắt tay lại, hợp tác với nhau rất là nhiều.

Hòa Ái: Xin được cảm ơn ông dành thời gian chia sẻ với quý khán thính giả của đài.

Thượng tá và lính trơn quân lực VNCH

Thượng tá và lính trơn quân lực VNCH

Người Buôn Gió

Thực ra ông là trung tá thì phải, nhưng khi người ta cho ông đi học tập cải tạo họ phong cho thêm một chức để tù cho lâu. Lý do họ muốn ông tù lâu vì ông là sĩ quan giảng dạy môn lịch sử trong trường võ bị.

Ông bị tù gần 10 năm, mặc dù xét ra thì ông chẳng hề cầm súng ngày nào. Ông cũng chẳng dạy cách bắn giết , hành quân, tác chiến gì. Nhưng với những người cộng sản thì một sĩ quan có văn hoá lịch sử nguy hại hơn nhiều một sĩ quan biết tác chiến.

Lúc tôi gặp, ông đã ngoài 70. Tôi chỉ gặp ông một chút buổi tối, ban ngày ông đi làm sớm. Khi tôi đến, ông dẫn tôi đến căn phòng dành cho khách, khăn mặt, bàn chải, nước mọi thứ tươm tất như trong một khách sạn nhỏ.

Ông có mấy người con, họ đều có công việc tươm tất và có gia đình và ở riêng. Hai ông bà già ở với nhau trong một căn nhà gỗ rất đẹp. Cả hai ông bà đều đi làm. Sáng thức dậy tôi thấy tờ giấy trên bàn bà ghi lại những món ăn, cách sử dụng đồ đạc trong nhà. Cách khoá cửa khi đi, chìa khoá để chỗ nào.

Tối hôm thứ nhất, chúng tôi ngồi trò chuyện. Tôi hỏi ông trước kia sao không chạy luôn vào những ngày tháng 4. Ông trả lời nhẹ như không.

– Ừ thì mình nghĩ đất nước thống nhất rồi, cùng là người Việt cả. Việc gì phải chạy đi đâu, đất nước của mình mà. Cùng là anh em dân tộc sao phải bỏ đi đâu.

Tôi bật cười thành tiếng, ít khi tôi thái độ bất nhã thế. Nhưng quả thật câu trả lời của ông thành thật đến mức tôi bất ngờ.

Bà vợ ông lắc đầu ngao ngán nhìn tôi và đưa mắt nhìn ông như có vẻ trách thầm cái ý nghĩ ông lúc đó. Tôi hiểu vì sao bà vây, cái lắc đầu đó là 9 năm ròng rã nuôi con, 9 năm tần tảo đi tiếp tế cho chồng. 9 năm là vợ của một tên sĩ quan nguỵ giữa một xã hội luôn sục sôi sự dè bỉu, nhòm ngó áp chế.

Tôi hỏi sau này sao ông lại đi.

Ông nói.

Khi tù về, vợ con nheo nhóc. Không thể kiếm việc gì để sống, nay trình diện, mai lại kiểm điểm. Muốn xin việc gì cũng chả có nơi nhận. Người ta không nhận mình vì lý lịch đã đành, nhưng còn ác chỗ là xã hội ngày ấy còn chả có việc để mà nhận người.

Vậy là ông xuống thuyền đi một mình, bỏ lại vợ con sau gần 10 năm xa cách, may mắn ra khỏi nhà tù rừng thiêng, nước độc. Nơi mà bao bạn tù của ông đã ngã chết, ông lại dấn mình vào biển cả mông mênh chứa đầy bất trắc. Nhờ may mắn ông được tàu nước ngoài vớt, được định cư tại Bắc Âu rồi miệt mài làm việc đưa vợ con sang đoàn tụ.

Lẽ ra người từng trải như vậy, cá tính phải dữ dội hay chí ít cũng manh mẽ. Đằng này nhìn ông vẫn cứ nhẹ nhàng đến mức nhu mì, đúng ông là một nhà giáo dạy văn hóa chứ chả phải sĩ quan quân đội gì cả.

Tôi ở nhà ông bà hai hôm, tối hôm chia tay, ông sắp cho tôi một lô đồ ăn, áo và ông đưa 200 usd.

Tôi không muốn nhận tiền của ông bà, nghĩ hai ông bà già dậy từ sớm tinh mơ khi tôi còn chưa dậy , chuẩn bị đồ ăn gói gém mang đi làm. Tối mịt mới về, cầm tiền không nỡ mặc dù tiền thì bao giờ cũng cần cả. Ông ” thượng tá ” nói nhỏ chân thành.

– Anh cứ cầm đi, giữ lấy nếu thấy người nào trong nước khổ thì anh cho họ giúp tôi. Tôi già rồi, chẳng làm được gì, nghe tin tức thấy nhiều người bị tù tội, đánh đập thương quá mà không biết làm gì. Anh cầm giúp cho tôi được thấy mình còn có chút ích với đời.

Tôi nắm chặt 200 usd trong lòng bàn tay, quay đi nhìn tivi đang chiếu gì đó với thứ ngôn ngữ lạ hoắc với tôi, cốt để không trào lệ.

Tôi đã từng cố tìm một tên nguỵ ác ôn nào đó trong những cuốn sách mà tôi từng học. Nhưng chưa được. Hầu hết quân nguỵ tôi gặp cứ hiền lành, cả tin, thậm chí là ngây thơ đến mức không nhịn được cười. Năm 2001 tôi đi xe máy qua Phan Thiết, một chuyến đi dọc đất nước bằng xe máy một mình. Khi đến Phan Thiết có một quán lá bên đường quốc lộ, chỗ thưa thớt dân cư. Cái quán lá, vách gỗ xung quanh có vài cây xoài, dưới cây xoài to có một cái phản. Tôi dựng xe, nhảy lên phản nằm ngủ một giấc, cũng chả hỏi han chủ quán câu nào.

Lát sau tỉnh dậy, thấy mấy người đàn ông ngồi ở bàn ghế kế bên nhìn tôi. Một người có vẻ chủ quán gọi tôi ra bàn, rót cho cốc nước đặt trước mặt tôi, ông ta nhìn tôi nói.

Tôi thấy anh đi xe biển 29, biết anh là người Hà Nội. Anh nói xem không nào.?

Tôi trả lời vâng đúng, ông hỏi tôi đi công tác gì vậy.

Tôi trả lời trả công tác gì, tôi đi lang thang. Tôi hỏi ông có chỗ tắm không, ông chỉ cho tôi vòng đằng sau có một chỗ quây liếp, có vại nước Tôi tháo túi buộc sau xe, lấy đồ đi tắm. Nghe loáng thoáng đằng sau tiếng mầy người nói.

– Cha này nhìn tướng dữ, chắc dân giang hồ chi đây.

Tắm xong , tôi ăn bát mỳ và hai quả trứng vịt, quán đơn sơ chỉ có thế. Tôi hỏi ông trước năm 75 làm gì. Ông bảo là lính dù. Hỏi ông có phải đi học tập cải tạo không. Ông bảo đi một năm rưỡi thôi, vì là lính lên đảng và nhà nước khoan hồng cho học ngắn hơn sĩ quan. Khi trả tiền, bất chợt ông hỏi tôi.

– Anh có biết tôi ước mơ gì nhất không.?

Tôi nhìn ông, lắc đầu.

Ông nói vẻ mặt đầy xúc cảm thiết tha.

– Tôi chỉ ước một điều, là tôi có tiền để ra Hà Nội thăm lăng bác được một lần. Tôi là người Việt Nam mà từng này tuổi tôi chưa bao giờ được đi thăm lăng bác. Anh ở ngoài dấy có hay vào thăm bác không.?

Lúc ông nói câu từng này tuổi, ông đập ngực mình thình thịch như rất xót xa.

Tôi bật cười, tôi bảo ông.

– Nếu như ngày ấy, các chú mà cố đánh ra Bắc, có phải bây giờ tha hồ mà thăm lúc nào cũng được không. Cháu chỉ đi thăm một lần, đó là hồi cháu đi bộ đội, đơn vị bắt phải vào thăm. Vì đợt đó trung đội cháu được chọn vào hội trường Ba Đình làm đại diện cho lực lượng quân đội nhân ngày kỷ niệm 15 năm giải phóng đất nước, ngày 30- 4 đấy. Lúc ấy cháu chỉ muốn tranh thủ tạt vào nhà chị cháu ở Ngọc Hà để xin tiền đi xích lô về nhà chơi, nhưng chỉ huy không cho vì bảo thời gian không có.

Ông cựu lính dù lắc đầu chê trách.

Tại sao anh ở ngoài đó mà chỉ đi thăm bác có một lần, tôi ước mơ năm nào tôi cũng đi thăm bác một lần.

Tôi ngạc nhiên trước tấm lòng yêu bác của ông, tôi nhìn kỹ các cơ mặt, ánh mắt của ông đến khi biết chắc rằng ông nói thật lòng. Tôi mới đi.

Cuối cùng tôi cũng gặp được một lính VNCH tay dính đầy máu ở Nam Ca Li. Nguyên nhân tôi lọ mọ tìm nơi bán quần áo lính Mỹ, người ta giới thiệu anh ta cho tôi. Anh ta sành và sưu tầm đồ lính nhiều đến nỗi thỉnh thoảng trung tâm Asia làm chương trình ca nhạc còn mượn đồ anh. Ngoài 60 tuổi, nhưng tóc anh ta dày và đen hơn tôi, cao ráo, nhanh nhẹn, lưng thẳng. Nếu không có tí nếp nhăn trên mặt thì nhìn bề ngoài anh ta chả già hơn được tôi. Nhìn tướng anh ta đi lại, đứng ngồi tôi hỏi anh có phải lính dạng đặc công không, vì dáng của anh là dáng của người có võ thuật.

Anh gật đầu, thì ra anh là lính biệt kích đặc nhiệm, anh chiến đấu cùng luôn với lính Mỹ chứ không phải ở những đơn vị quân VNCH khác. Tôi hỏi anh lúc trước đánh nhau giết nhiều người không. Anh bảo nhiều lắm không nhớ hết. Người ta cứ xông ào ào, mình cứ bắn ào ào, chỉ nhác thấy người gục xuống liên tục, lúc đó ai mà còn đếm được, nhất là ban đêm nữa.

Tôi hỏi anh có áy náy không khi giết nhiều người thế.

Người biệt kích đặc nhiệm mặt thiểu não, nét mặt anh thê thảm, buồn bã, anh lắc đầu như muốn xua đi những hình ảnh cũ trong đầu. Anh nói.

Buồn, đau chứ, họ là con người mà. Sao họ cứ xông thẳng vào súng đang bắn liên thanh thế chứ.

Tôi không hỏi, ngồi hút thuốc nhìn anh đang tự ngắm đôi bàn tay anh, bàn tay có những ngón tay mảnh dẻ. Anh kể tiếp.

– Sáng hôm sau chúng tôi bắt sống được hết, toàn trẻ con mười lăm, mười sáu thôi. Tôi hỏi chúng sao đạn bắn nhiều thế mà cứ lao vào làm gì. Họ bảo tại vì chỉ huy họ nói bọn Mỹ mắt xanh, ban đêm không nhìn thấy gì mà bắn đâu. Mà lúc đó chỉ huy đi đằng sau, quay lại cũng bị chỉ huy bắn chết.

Anh gục đầu một lát, ngẩng lên mắt đỏ hoe.

– Tôi giết toàn trẻ con anh ạ, ngày hôm sau xong rồi đi xem lại, mới biết mình giết toàn trẻ con, có đứa có khi chỉ 14 tuổi thôi, có đứa đã mang AK, dắt lưụ đạn quanh mình, thêm mấy băng đạn lại còn đeo cả mã tấu ở lưng làm gì cơ chứ, người bé tí thế chạy sao nổi mà vác cả đống đồ đi đánh nhau. Nhìn thương lắm, lau nước mắt mà chôn chúng . Toàn trẻ con cũng người Việt, người dân tộc mình cả.

Mấy người lính VNCH tôi gặp làm tôi thấy quân lính VNCH thật kỳ lạ. Ông sĩ quan thì tin là thống nhất đất nước rồi, tất cả đều là anh em, kết cục tù 9 năm cải tạo. Ông lính trơn đi tù về thì ước mơ được ra Hà Nội một lần thăm lăng bác. Còn ông tay đẫm máu nhất té được sang Hoa Kỳ, lẽ ra phải kể lể chiến công của mình thật oai hùng, giết được nhiều tên địch tinh nhuệ thì ông ta lại khóc, thú nhận đau đớn về những người bị mình giết, xót thương cho họ và cho cả ông vì buộc phải xả đạn.

Tôi nhờ người tìm Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Phương Hùng. Nhờ mãi chả ai tìm được, người ta bảo mấy ông đó vợ bỏ, thất nghiệp, không nhà cứ ở lang thang nay chỗ này, mai chỗ khác. Chả biết đâu mà tìm. Muốn gặp mấy vị ấy xem chừng lại khó.

Sai lầm khi “coi thường” thành quả VNCH

Sai lầm khi “coi thường” thành quả VNCH

Việt Nam đã để lỡ mất cơ hội phát huy những thành quả của miền Nam để lại do chìm đắm trong tư tưởng của bên thắng cuộc, theo Tiến sỹ Vũ Minh Khương

Việt Nam đã để mất cơ hội trở thành một cường quốc sau năm 1975 do coi thường các thành quả trong chính sách của Việt Nam Cộng hòa.

Nhận định trên được Tiến sỹ Vũ Minh Khương, từ Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 25/4.

Cũng theo ông Khương, chính thái độ này đã khiến cho Việt Nam “tổn thất một nguồn lực rất lớn”, không khai thác được ý chí dân tộc và “tình cảm giữa người dân hai miền”.

BBC: Ông đánh giá thế nào về các chính sách kinh tế của miền Nam trước năm 1975?

Ông Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ chính quyền miền Nam trước đây đã có những nỗ lực rất lớn trong phát triển kinh tế, dù trong hoàn cảnh chiến tranh rất ác liệt và tâm trí của họ không dành được nhiều cho vấn đề này.

Việc hỗ trợ cho kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và hỗ trợ kinh tế nội địa, theo tôi là những điểm sáng.

Tôi thì không được chứng kiến trực tiếp việc họ thực thi chính sách như thế nào, nhưng sau năm 75, tôi vào làm việc ở TP.HCM thì thấy trình độ quản lý của các cơ sở tiếp quản từ doanh nghiệp miền Nam rất tốt, kể cả từ mặt thiết bị, tính chuyên nghiệp, sổ sách, tính quy hoạch.

Rõ ràng là có dấu ấn của nỗ lực khá tốt trong việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có hiệu quả.

BBC: Sau năm 1975 thì thái độ học hỏi những chính sách, thành quả kinh tế của miền Nam thời bấy giờ từ phía ‘thắng cuộc’ là thế nào, thưa ông?

Ông Vũ Minh Khương: Tôi thấy trong bối cảnh của miền Nam mới giải phóng thì ý thức học hỏi của Việt Nam rất hạn chế vì tâm lý là người chiến thắng. Khi đó miền Bắc nhìn nhận mọi vấn đề ở miền Nam một cách rất coi thường, đánh giá thấp, không trân trọng những gì họ đã làm được.

Đó là một não trạng mà đến nay chúng ta phải rút kinh nghiệm rất là nhiều.

Cái thứ hai là lòng thôi thúc để xây dựng một đất nước hùng cường chưa rõ, vẫn còn bị ảnh hưởng vì chiến thắng.

Bên cạnh đó, chúng ta còn nghĩ rằng vì mình là đồng minh của Liên Xô, cứ học hỏi Liên Xô, là có thể trở thành một quốc gia XHCN thành công rồi. Nỗ lực học hỏi tinh hoa của thế giới còn rất hạn chế.

BBC: Nếu như những người tiếp quản miền Nam nghiêm túc nghiên cứu về những chính sách cũ để từ đó chắt lọc và tiếp tục áp dụng thì theo ông điều đó sẽ tạo ra sự khác biệt gì?

” Tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.

Tiến sỹ Vũ Minh Khương”

Ông Vũ Minh Khương: Tôi cho rằng điều đó sẽ tạo nên sự thần kỳ. Tất cả chúng ta phải thấy xót xa, khắc khoải vì mất đi một thời cơ quý giá vô cùng như thế.

Giá như với ý thức cao, chúng ta có thể tiếp thu những gì ở miền Nam, cái gì dở thì sửa chữa, cái gì tốt thì học hỏi và đặt câu hỏi vì sao họ làm được như thế.

Tôi từng làm việc ở một trung tâm tính toán và thấy tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ ở đó rất cao. Họ tận tình chỉ bảo nhau rất kĩ càng mà tôi là người mới vào, được chỉ dẫn rất rõ.

Hệ thống IBM hiện đại lúc đó còn để lại, duy trì hàng chục năm mà vẫn còn giúp cho miền Bắc rất nhiều, từ xây dựng Thủy điện Sông Đà, tới tuyển sinh và quản lý hoàn toàn hệ thống điện lực ở miền Nam, rất hiệu quả.

Cũng không hề có tham nhũng tiêu cực ở đó, tính chuyên nghiệp rất cao. Đồng lương thì khiêm nhường thôi, nhưng anh em làm việc ở đó gắn bó tình cảm lắm. Sau này thì mọi người ly tán, mỗi người đi một nơi, xuất cảnh ra nước ngoài.

Sau này nghĩ lại tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.

BBC: Từ góc độ của một nhà quan sát, ông có cho rằng đã có sự thay đổi từ phía các nhà làm chính sách trong cách nhìn nhận, nghiên cứu những kinh nghiệm của miền Nam ngày trước chưa?

Ông Vũ Minh Khương: Khi nói về năng lực học hỏi thì thường người ta nhìn ở ba khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là khả năng tiếp thu có tốt hay không, thứ hai là sự khát khao để học hỏi cái mới, và thứ ba là cơ chế khuyến khích, tức là người chịu khó học hỏi vươn lên có được tưởng thưởng hay không.

Ở Việt Nam thì tôi thấy hạn chế nhất là lòng thôi thúc chưa được cao. Thứ hai là cơ chế tưởng thưởng người khát khao học hỏi cũng hạn chế.

Học ở chế độ cũ là một việc, học từ toàn thế giới lại càng quan trọng hơn.

Cán bộ của mình khả năng tiếp thu không yếu. Những anh em cán bộ từ Bắc chuyển vào Nam làm quản lý sau 75 thì cũng cố gắng tiếp thu những cái cũ khá nhiều.

Nếu có cơ chế khuyến khích họ mạnh mẽ khai thác những cái hay của chế độ cũ, bên cạnh đó có những nỗ lực vươn lên, thì tôi cho rằng Việt Nam có thể đạt dược những thành quả lớn hơn nhiều.

Viết cho ngày 30/4: nỗi đau nào lớn hơn?

Viết cho ngày 30/4: nỗi đau nào lớn hơn?

RFA

Nguyễn Vũ Bình, viết từ Hà Nội

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh. Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên. Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi. Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù. Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương. Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác. Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm. Sau 30/4/75, đất nước sạch bóng quân thù, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội….một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 40 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản: Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán; đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng: Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền; kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách ruộng đất diễn ra (sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và không chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam. Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm; cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc….một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau: cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân, đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Vậy thì, nỗi đau nào lớn hơn?

Học tập cải tạo’ hay khổ sai, lưu đày?

Học tập cải tạo’ hay khổ sai, lưu đày?

Việt-Long, RFA
2015-04-27

re-education-camp

Khung cảnh một trại tù ‘cải tạo’ dựng lại trong phim “Vượt Sóng” được nhiều người tù ‘cải tạo’ nhìn nhận là trung thực 80%.

‘Journey from the fall’ trailer.

Sau ngày 30 tháng Tư 1975 chỉ trong vòng hai tháng hằng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đưa vào các trại tập trung cài tạo, nói là  để học tập tư tưởng tiến bộ theo chủ nghĩa xã hội rồi trở về sinh sống hài hòa trong xã hội mới. Sĩ quan cấp úy được dặn đem theo 10 ngày tiền ăn, và 1 tháng cho cấp tá trở lên. Điều gì xảy đến với họ sau đó? Chính sách tập trung cải tạo được thực hiện thế nào?

Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn hai cựu sĩ quan  và một nhân viên dân chính trung cấp của Việt Nam Cộng Hòa về đề tài này. Vào tháng tư 1975 họ là Trung úy Nguyễn Ngọc Tiên, 8 năm tù ‘cải tạo’, đại úy Hồ Công Bình, 9 năm, và ông Đỗ Mạnh Trường, sĩ quan quân đội biệt phái sang một nhiệm sở dân sự, 8 năm tù.

Nhẹ dạ, cả tin?

Trả lời câu hỏi vì sao trong tháng 5 và tháng 6-1975 cả quân đội miền Nam đã trình diện đúng theo lệnh gọi để vào các trại tập trung, ông Nguyễn Ngọc Tiên nói:

Ông Nguyễn Ngọc Tiên: Khi mà họ chiếm hết cả miền Nam rồi thì tất cả các sĩ quan, binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở trong tay họ. Chúng tôi, một số những người , theo tin tức thì còn những tàn quân ở trong rừng, cũng có một số người cố gắng kiếm đường để vào. Cá nhân chúng tôi cũng kiếm đường để đi vào bưng nhưng cho tới giờ chót thì không còn cách nào khác hơn là đi trình diện để rồi nhận cái án tập trung của họ thôi. Nếu không thì cũng nằm trong tay họ vì sau đó bị bắt thì cũng nằm trong tay họ thôi.

Việt Long: Thưa, lúc đó ông có tin là học tập cải tạo 10 ngày hay 1 tháng rồi sẽ được trở về hay không?

Ông Nguyễn Ngọc Tiên: Tôi hoàn toàn không tin vào điều đó bởi vì có kinh nghiệm của gia đình chúng tôi. Khi ở ngoài Bắc, việc Cộng sản kêu gọi đi tập trung vào để gọi là cải tạo hay học tập thì chúng tôi không biết chắc được rằng là đi như thế nào. Tôi không tin vào thời hạn 1 tuần, 10 ngày hay 1 tháng, hay là bao lâu. Chúng tôi cũng không nghĩ rằng là họ có thể kéo dài như là họ đã làm.

Việt Long: Và ông Hồ Công Bình, cựu đại úy Biệt động quân tiếp lời:

Ông Hồ Công Bình: Lúc đó chúng tôi là Liên đoàn 4 Biệt động quân và tôi là Tiểu đoàn phó 43, Biệt động quân. Liên đoàn 4 Biệt động quân tổng trừ bị của chúng tôi được lệnh rút về Sài Gòn để phòng thủ phía Đông của Sài Gòn. Miền Nam thất thủ rồi, thì có những đường lối của họ mà mình cũng không ngờ tới. Thứ nhất họ cho binh sĩ và hạ sĩ quan học tập 7 ngày. Họ chỉ cho học có 7 ngày đó và xong xuôi thì thấy binh sĩ và hạ sĩ quan phơi phới đi ra về. Mình thấy họ nói là họ đã thống nhất và họ nói đi học tập đi rồi sẽ trở về trong 1 tháng. Như vậy, mình cũng tạm yên chí để đi vô coi như thế nào. Đến khi vào rồi mới biết rằng đó là cả một sự việc mà mình không ngờ đến.

Cải tạo hay tù khổ sai?

Việt Long: Thưa, sau đó thì ông bị đưa đi những trại tập trung nào, ở đâu?

Ông Hồ Công Bình: Họ chuyển tôi về Long Giao. Khi ở đó 8 tháng thì chúng tôi đã biết rằng đây là trại tù đầu tiên mà chúng tôi đến. Bắt đầu thấy những cơn đói đến hành hạ. Gạo tồn trữ trong rừng từ lâu đã thành mối mọt, họ cho mình ăn. Có một số anh em đã bị phù thủng rồi. Sau 8 tháng đó rồi thì xuống tàu Sông Hương. Khi xuống tàu Sông Hương rồi thì lúc đầu chúng tôi vẫn tưởng là đi ra Phú Quốc hoặc là Côn Sơn.

Không ngờ rằng trên đường thẳng đi ra lộ trình hướng Bắc. Ghé đến Hải Phòng, khi lên xe lửa thì nhốt chúng tôi vào wa-goong chở toàn súc vật. Khi tới phà Ô Lâu để qua Yên Bái thì xuống tàu để bắt đầu qua phà, chúng tôi đã bị dân ở nơi đó ném đá.

” Trên đường ra Bắc, ghé đến Hải Phòng, khi lên xe lửa họ nhốt chúng tôi vào wa-goong chở toàn súc vật. Khi tới phà Ô Lâu để qua Yên Bái thì xuống tàu để qua phà, chúng tôi đã bị dân ở nơi đó ném đá.
Ô. Hồ Công Bình”

Sau này, chúng tôi mới được những người đó họ nói với chúng tôi rằng đã được học tập là có tù đi qua đây và những đám này là có nợ máu với nhân dân và học tập nói là phải hành động, cư xử với họ như thế nào. Sau đó thì tụi tôi vào tới trại Sơn la, Yên Bái…nhiều trại lắm.

Ở Yên Bái gồm có những đoàn 776, hồi đó do quân đội quản lý, bắt phải đi rừng leo lên chặt nứa, chặt cây để về làm trại để nhốt mình ở trong đó.

Trong rừng thì làm sao có gạo được. Chúng tôi chỉ duy nhất có ăn khoai, ăn sắn (khoai mì) và bo bo. Buổi sáng họ chỉ phát 3 củ khoai mà leo lên rừng mà chặt cây. Tụi tôi phải đi ra ngoài, tìm kiếm rau.

May là tụi tôi là Biệt động quân đã được huấn luyện về “mưu sinh, thoát hiểm” nên có thể tìm ra được những rau quả để mà đỡ đói; Còn hơn là những ông sĩ quan phục vụ văn phòng thì rất là tội cho họ trong vấn đề đó.

Việt Long: Sau một thời gian dài như vậy thì tỉ lệ tử vong có nhiều không? Có người nào trốn trại thoát hay không?

Ông Hồ Công Bình: Thứ nhất là ăn uống thiếu thốn vệ sinh. Thứ hai là sốt rét. Có những người bị như thế này, thế kia. Con số tử vong có thể nói là khá. Tụi tôi ở trong rừng như vậy nên khi mà (có ai) chết  thì đưa từ trại này lên trên đoàn của họ rồi phải chôn tại chỗ của họ. Cho đến bây giờ cái sĩ số đếm được người chết ở ngoài Sơn La với lại Yên Bái rất nhiều.

Tôi không thể ước lượng được khoảng bao nhiêu, tại có rất nhiều trại nằm trong đoàn 776. Do đó chỉ biết rằng một cái trại của tôi là đã chết khoảng mười mấy, hai chục người với trong số độ khoảng hai trăm mấy tù nhân.

Số lượng bịnh tật nặng nề rất là nhiều; Mà đã bịnh tật thì chỉ có ‘xuyên tâm liên’ không chứ đâu có thuốc gì nữa đâu để mà chữa. Do đó số còn sống được đây là cả một điều may.

Việt Long: Trong thời gian đó thì gia đình của quí vị, vợ con… sinh sống như thế nào, được đối xử ra sao, ông Đỗ Mạnh Trường nói:

Ông Đỗ Mạnh Trường: Khi tôi về, tôi nghĩ là cò lẽ đời sống của tù là khốn nạn nhất nhưng qua câu chuyện của gia đình thì tôi thấy hóa ra là mình còn may mắn hơn người ở nhà. Người ở nhà đã phải nhịn ăn, nhịn mặc để lo kiếm sống cho chính mình và cho con cái, mà còn phải nhịn ăn để dành để thăm nuôi chống con ở ngoài trại nữa.

Đời sống của người dân miền Nam trong giai đoạn đó, ít nhất là cho đến năm 1980, những người có gia đình đi cải tạo, đời sống của gia đình rất là khó khăn và bi thảm- phải dùng chữ bi thảm.

Đời sống của người dân miền Nam trong giai đoạn đó, những gia đình có người đi cải tạo, rất là khó khăn và bi thảm- phải dùng chữ bi thảm.
Ô. Đỗ Mạnh Trường

Mưu đồ chính sách lưu đày?

Việt Long: Ông có nghĩ đến lý do vì sao mà chính quyền Cộng sản lại giam nhốt các vị lâu như vậy không?

Ông Đỗ Mạnh Trường: Tôi có thể nhìn thấy chứ. Đó là chính sách: một là muốn giam để vô hiệu hóa những thành phần có thể chống đối sau này.

Thứ hai chính là làm tê liệt, hủy hoại nguyên cả một thế hệ-đó là những thế hệ của miền Nam. Nên nếu mà họ có khả năng giam càng lâu thì càng tốt.

Việt Long: Thưa ông, có một sử gia trong nước mới đây nói rằng chính sách cải tạo đó không phải là ngượi đãi hay là tù tội mà chỉ là cải tạo cho tốt rồi cho về thôi. Nói rằng ngược đãi là không đúng sự thật.

Ông Đỗ Mạnh Trường: Hỏi anh chàng đó là có người nhà đi tù cải tạo hay không. Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện. Những người miền Nam mà có gia đình ở miền Bắc vào thăm. Họ cũng khuyên câu đầu tiên là các bác, các chú ráng cải tạo cho tốt để được về với gia đình; Nhưng sau đó một thời gian thì những người đó họ không dám nói những điều đó nữa.

Đó là sự ngụy biện hoàn toàn. Bỏi vì đã quá rõ ràng, nếu không có áp lực của thế giới thì chắc chắn là tất cả những cựu quân nhân, với danh nghĩa là đi tù cải tạo, sẽ chẳng còn mấy người về.

Xin nhấn mạnh rằng, cho đến năm 1979, khi đã có một số người được chở vào Thanh Phong, Thanh Hóa để biến thành trại viên thay vì phạm nhân, theo danh nghĩa họ nói. Họ đã được trả lại đồng hồ, được phép đi ra khỏi trại mà không phải có tụi nó dẫn theo, thì họ lại được khuyến khích là chỉ trong một thời gian ngắn nữa các anh sẽ đưa vợ con các anh ra ngoài này.

Thế hỏi anh, giả sử chính sách tiếp tục, những thế hệ, giai cấp đó có còn hay không hay là tất cả con cái chúng ta đã trở thành người Thượng hết rồi, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Ông Hồ Công Bình: Cái cha đó chưa bao giờ ổng ở trong tù hết. Khi nào chính những người ở bên Mỹ này họ có cần diet, tức là họ cần làm cho con người của họ nhỏ bớt đi, ốm bớt đi thì nhiều khi tôi cũng nói đùa với họ ‘Anh cần chi uống thuốc.

Anh chỉ cần về Việt Nam, chỉ cần xin Cộng sản cho anh vô ở tù thì 1 tháng anh có thể xuống 30 lbs rồi”. Tôi nghĩ tôi không cần nói nhiều. Sử gia đó cứ vô trong tù ở đi sẽ biết nó như thế nào, thưa anh.

Đâu là hoà giải, đoàn kết?

Việt Long: Thưa ông, câu hỏi cuối là ngày đó, thời gian đó, các ông nghĩ chính quyền Cộng sản Việt Nam có thể làm điều gì tốt hơn thế đối với các sĩ quan, viên chức Việt Nam Công hòa để thực hiên điều họ nói là hòa hợp và đoàn kết toàn dân xây dựng  đất nước?

Ông Hồ Công Bình: (nói đến) Người Cộng sản thì tôi không biết sẽ nói như thế nào. Tôi cũng đọc sách sử nhiều. Tôi cũng thấy được Civil War của Mỹ, cuộc nội chiến của Mỹ. Sau khi Bắc quân đã thắng rồi và Nam quân đã đầu hàng rồi, những người thuộc Nam quân đầu hàng vẫn được giữ vũ khí, trở về địa phương của họ sinh sống. Ngay cả những nghĩa trang của họ tất cả đều được giữ nguyên như vậy.

Ngay cả bên Thổ Nhĩ Kỳ cũng có những gương như vậy. Nếu những cấp lãnh đạo của Cộng sản, ít ra họ có hiểu được sử, và hiểu và áp dụng những cái như vậy để cho nhân dân có tự do. Họ biết trọng dụng lại những người như vậy để xây đắp lại. Họ cởi mở hơn. Và họ làm như vậy, tôi nghĩ là không có cảnh người ta bỏ đi ra vượt biên “cho đến cột đèn cũng bỏ đi nữa”.

“Họ sử dụng một chính sách thù địch đối tất cả những người còn lại, họ đã cắt đứt con đường gọi là hòa hợp, hòa giải dân tộc ngay từ những ngày đầu tiên.
Ô. Nguyễn Ngọc Tiên”

Cho đến bây giờ, báo chí hay truyền thông vần còn nói có một số người họ vẫn còn đi tới bên Úc và bị Úc phân loại ngay trên biển để trả về. Như vậy anh tính nó như thế nào. Họ vẫn chưa có một sự chuẩn bị ở trong đó.

Ông Nguyễn Ngọc Tiên: Thưa ông, ở trên thế giới này, rất là nhiều bài học mà bài học tốt nhất là sau khi Hoa Kỳ chấm dứt cuộc chiến tranh Nam Bắc.

Đó là nếu quả thực họ có ý hướng hòa hợp, hòa giải dân tộc thì (lúc đó) họ đã chiếm toàn thể đất nước rồi, những người ở miền Nam gọi là đối nghịch với họ không có vũ khí trong tay và họ đang nắm giữ quyền lực thì tôi nghĩ rằng họ phải tận dụng tất cả những nguồn nhân lực, tài lực ở miền Nam mà khi họ vào họ đã thấy được để sử dụng.

Tôi nghĩ không phải tất cả những người ở miền Nam đều là thù địch với chính sách muốn thay đổi để mà cải tiến dân tộc như vậy. Bởi vì họ sử dụng một chính sách thù địch đối tất cả những người còn lại, họ đã cắt đứt con đường gọi là hòa hợp, hòa giải dân tộc ngay từ những ngày đầu tiên.

Việt Long: Và cuối cùng, kết thúc cuộc phỏng vấn này ông Đỗ Mạnh Trường cho rằng:

Ông Đỗ Mạnh Trường: Làm gì có hòa giải, hòa hợp dân tộc. Đó là lời “ranh” để dụ dỗ những người nhẹ dạ. Mục tiêu của Cộng sản là tiêu diệt nguyên cả chế độ của miền Nam Việt Nam hay nói chung của cả dân tộc Việt Nam. Không hề có hoà giải, hòa hợp dân tộc đâu. Người nào tin vào cái chuyện đó là điều rất là khôi hài và ngu xuẩn.

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Nguyễn Hưng Quốc

28.04.2015

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính:  Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

Đánh dấu ngày 30/4: Kẻ khóc, người cười

Đánh dấu ngày 30/4: Kẻ khóc, người cười

Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.

Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.

 

VOA Tiếng Việt

28.04.2015

Hai ngày trước ngày kết thúc Chiến tranh Việt Nam, cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và ở trong nước đón chờ ngày này với hai tâm trạng trái ngược hẳn nhau.

Tại sân vận động của trường trung học Bolsa Grande ở Little Saigon, nơi được coi là thủ đô của người Việt tị nạn, hàng nghìn người hôm 25/4 đã tới dự ngày được đặt tên là Quốc hận.

Trong buổi lễ này, những người tham dự đã đứng chào cờ quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa và hòa giọng vào bản quốc ca của chính quyền Sài Gòn cũ.

Một ngày sau đó, tại San Diego cũng tại California, nhiều người Việt đã tới Viện bảo tàng hàng không mẫu hạm USS Midway ở San Diego để tưởng niệm ngày họ gọi là “Tháng tư đen”.

Mỗi lần 30/4 về, tôi nghĩ lại cái ngày chót, tức là ngày 29/4. Coi như là ngày chót rời khỏi Việt Nam. Buồn là tại vì mình không phải như hồi xưa nữa, cảm giác giống như hồi xưa nữa, coi như mình bị mất nước. Trong lòng tôi cái ngày đó là ngày mất nước, mất chính thể”

Bà Nguyễn Kim Hoa ở California.

Bà Đỗ Thái Kiều, một người Mỹ gốc Việt sang Hoa Kỳ từ năm 16 tuổi đã tham dự sự kiện này. Bà cho biết khi ngày 30/4 đến gần, không khí trong cộng đồng “rất là xúc động và buồn tủi vì có rất nhiều kỷ niệm, nhiều người đã mất bà con họ hàng, bạn bè”.

“Chúng tôi không thích chính quyền cộng sản vì thế chúng tôi phải rời xứ sở để ra đi. Chữ hận, theo tôi nghĩ, không những tôi mà nhiều người ở đây thì thời gian trôi qua thì chữ hận bớt đi. Nhưng mà chúng tôi không bao giờ quên rằng chúng tôi đã mất xứ sở của chúng tôi, và chúng tôi mong một ngày nào đó xứ sở sẽ trở về là một xứ sở dân chủ để giúp cho dân Việt Nam ở Việt Nam có một đời sống khá hơn, độc lập và tự do hơn.”

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của ban tổ chức sự kiện trên, nói với VOA Việt Ngữ rằng lễ tưởng niệm muốn “cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Trong khi đó, cùng chung tâm trạng với bà Kiều, bà Nguyễn Kim Hoa ở California, nói mỗi dịp 30/4 tới, bà cảm thấy “rất là buồn”.

Bà cũng không nghĩ nên coi đó là ngày “thống nhất đất nước” như chính quyền Hà Nội đã nói.

Một cựu quân nhân chào cờ VNCH trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm thứ 40, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, chiều Thứ Bảy, ngày 25 Tháng Tư. (Ảnh: Người Việt)

Một cựu quân nhân chào cờ VNCH trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm thứ 40, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, chiều Thứ Bảy, ngày 25 Tháng Tư. (Ảnh: Người Việt)

“Mỗi lần 30/4 về, tôi nghĩ lại cái ngày chót, tức là ngày 29/4. Coi như là ngày chót rời khỏi Việt Nam. Lúc đó coi như không có còn ai đi nữa ngoài những chiếc trực thăng thôi. Và tôi cùng với mấy người bạn coi như chót nhất rời khỏi Việt Nam. Buồn là tại vì mình không phải như hồi xưa nữa, cảm giác giống như hồi xưa nữa, coi như mình bị mất nước. Trong lòng tôi cái ngày đó là ngày mất nước, mất chính thể”.

Trong khi tại các nước, nhiều người Việt đánh dấu ngày 30/4 trong không khí u buồn thì nhiều buổi lễ tưng bừng với những màn bắn pháo hoa và diễu binh hoành tráng sắp diễn ra tại Việt Nam.

6.000 người sẽ tham gia diễu hành trong lễ kỷ niệm 40 năm mà chính quyền trong nước gọi là thống nhất đất nước tại TP HCM.

Ngoài việc bắn pháo hoa tại nhiều điểm, tối 30/4, chương trình văn hóa nghệ thuật đặc biệt chào mừng lễ với chủ đề “Đất nước trọn niềm vui” sẽ được tổ chức trên trục đường Lê Duẩn, trước cửa Hội trường Thống Nhất với sự tham gia của hơn 4.000 văn nghệ sỹ.

Bà Kiều nói rằng đối với người Mỹ gốc Việt cũng như người Việt ở các xứ sở tự do khác, ngày 30/4 “không phải là ngày chiến thắng, và đó chỉ là quan điểm của chính quyền Việt Nam”.

Bà cũng nói rằng những khác biệt về quan điểm như vậy sẽ “làm cho dân Việt Nam ở hải ngoại và trong nước không gần nhau được”.

Con cái thời nay

Con cái thời nay

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Người nào cũng yêu con, nhưng người có văn hóa mới biết thương yêu cha mẹ!”
(Lâm Ngữ Đường)

Xem tin tức ở Việt Nam chúng ta thường nghĩ đến lúc đạo lý đã suy đồi. Thời gian qua, số vụ án con cái giết cha mẹ đang có chiều hướng gia tăng. Trên báo chí, không thiếu tin tường thuật những vụ án mạng tàn bạo do những đứa con bất hiếu thẳng tay đâm chém cha mẹ dù chỉ với những bất bình nhỏ.

(Hình minh họa: Greg Baker/AFP/Getty Images)

Nếu kể chuyện nghịch nữ hoặc nghịch tử ở Việt Nam, hẳn phải mất hàng nghìn trang giấy: Tơ Đênh Triệu (Quảng Nam) say rượu giết cha. Đặng Hùng Phương (Vĩnh Long) giết cha rồi đem lên Sài Gòn phi tang. Trần Văn Kiệt (Tây Ninh) đâm cha sau một lần cãi vã. Lê Văn Lực (Thanh Hóa) chỉ vì lời mắng “đồ ăn hại” đã đoạt mạng cha mình. Nguyễn Xuân Hậu (Lào Cai) chỉ vì bị la không chịu lo sửa soạn Tết đã đâm chết cha. Nguyễn Khả Đ. (Rạch Giá) giết mẹ rồi giấu xác trong lu nước. Nguyễn Thị Phin (Tây Ninh) giết mẹ chiều 30 Tết để lấy tiền, vàng. Nông Văn Thùy (Bắc Giang) xin tiền không được, đã vung chày sát hại mẹ. Bùi Minh Đạt (Hà Nội) vì mâu thuẫn đất đai, đã dùng dao chém nhiều nhát vào cổ, đầu, tay mẹ khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Lê Văn Phước (Đồng Nai) trong lúc tắm rửa, vệ sinh cho người mẹ 82 tuổi bị tai biến, đã liên tục chửi bới và đánh đập khiến bà cụ tử vong…

Chúng ta những người Việt đang sinh sống ngoài Việt Nam, ở Hoa Kỳ hay các nước khác thường cho là mình may mắn không phải sống ở cái đất nước đạo lý suy đồi, luân thường bại hoại. Nước Mỹ có 320 triệu dân, nửa năm chưa xảy ra một vụ án mạng con giết cha mẹ, đất nước Việt Nam chỉ có 90 triệu dân, tuần nào cũng có chuyện cha mẹ bị con đâm chém. Nhưng như thế có phải cha mẹ người Việt sống ở Mỹ, đời sống được bảo vệ và có hạnh phúc hơn không? Sở dĩ chúng tôi trình bày như vậy, vì giữa văn hóa Việt và Mỹ có những phần khác biệt.

Nhà văn Lâm Ngữ Đường trong “Một Quan Niệm Về Sống Đẹp” (Nguyễn Hiến Lê dịch) đã cho rằng người cao niên ở Mỹ về già vẫn làm việc hăng hái, vì họ theo chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá, tự đắc, muốn độc lập, cho sự nhờ vả con cái là tủi nhục. Trong các quyền của công dân không có cái quyền của cha mẹ được con cái phụng dưỡng. Tại phương Tây, ông già bà lão không muốn xen vào đời sống của con, lánh mặt trong một nơi nào đó, tự lo cho cái ăn ngủ của mình. Người Trung Hoa (và người Á Đông?) không có cái quan niệm cá nhân độc lập, mà cho rằng những người trong gia đình có bổn phận giúp nhau, nếu về già mà phải nhờ cậy con, có điều chi mà xấu hổ!

Bản năng của muôn loài là thương yêu và bảo vệ con. Con gà mẹ dùng đôi cánh che chở cho bầy gà con trước sự hung hiểm của diều hâu. Con chim bay xa tha mồi về mớm cho con non nớt yếu đuối bên bờ tổ. Hung dữ như cọp beo cũng không có loài nào ăn thịt con. Nhưng muôn loài cũng không có cái cảnh nào có đàn con đi kiếm thức ăn cho những người sinh nở ra chúng lúc họ về già, không còn khả năng săn nhặt, nằm chờ chết trong hang ổ. Nhà văn Lâm Ngữ Đường cho rằng, “Người nào cũng yêu con, nhưng người có văn hóa mới biết thương yêu cha mẹ!”

Ở Mỹ, trong giờ hành chánh mà một đứa con lang thang ngoài đường, thì cảnh sát lập tức kết tội cha mẹ của chúng, nhưng một cụ già bị bỏ ngoài đường thì người ta tìm đến sở xã hội, liệu có ai truy tìm và lên án những đứa con.

Chúng ta phải chờ vài ba thế hệ nữa may ra, chứ hiện nay, các bậc cha mẹ người Việt ở Mỹ, tâm lý vẫn chưa sẵn sàng, còn cảm thấy tổn thương và đau khổ, than trách khi bị con cái đẩy ra khỏi nhà. Những vị cao niên Mỹ không ai than phiền vì con cái không quan tâm hay “bỏ rơi” mình. Đối với họ, con trên 18 tuổi đã ra khỏi gia đình, vì muốn cho con tự lập, có khi muốn con đi học xa, thăm hỏi, quan tâm là điều tốt, nhưng cha mẹ không bao giờ kỳ vọng nơi con cái khi mình về già, trông đợi sự giúp đỡ của con. Cha mẹ và con cái từ đây hết còn bổn phận với nhau. Do đó, họ chuẩn bị để dành tiền, đầu tư, mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm “sức khỏe lâu dài,” chuẩn bị “hậu sự” cho mình.

Như vậy các bậc cha mẹ này không còn cảm thấy đau khổ vì những lý do về con cái.

Trái lại người Việt hay Á Đông luôn cho rằng trong trăm nết thì chữ hiếu đứng đầu (Bách hạnh hiếu vi tiên). Theo Phật Giáo thì “tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.” Khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc thì đem lòng ai oán, nhất là vào buổi giao thời, vẫn thường so sánh lối sống của gia đình ngày xưa, với lối sống “Mỹ hóa” bây giờ của con cái, và cũng vì chính sự đổi thay quá nhanh chóng của con cái, sinh ra ở Mỹ, hay chịu lối sống Mỹ quá sớm, hoặc là dùng chữ gia đình “vô phước” như cách than phiền của nhiều vị.

Quí vị đã có dịp lui tới chuyện trò với các vị cao niên người Việt trong các nhà dưỡng lão, đã thường biết đến nỗi buồn của họ, không phải vì tiền, vì danh mà vì một nỗi cô đơn, chỉ vì con cái không ngó ngàng đến họ. Khi tôi muốn kể nỗi lòng của một vị cao niên buồn bã, cô đơn trong một nhà dưỡng lão, trên trang báo, thì ông cụ chấp tay vái tôi, “Thôi xin ông, con tôi mà biết tôi kể lể với ông thì chúng hành tôi đến chết mất!”

– Một gia đình, khi người cha qua đời, những đứa con thấy mẹ thui thủi một mình, khuyên mẹ bán ngôi nhà rồi về ở với chúng nó. Như một trái bóng, bà bị đưa qua đưa lại giữa những đứa con, và chỗ ở cuối cùng của bà bây giờ là nhà dưỡng lão!

– Một bà cụ khi bị đưa vào bệnh viện, rồi nhà hưu dưỡng, vì lo xa, bà làm thủ tục trao cho cô con gái duy nhất, ngôi mobile home của bà, nhưng chỉ ít lâu sau, cô này bán ngôi nhà lấy tiền bỏ túi. Khi khỏe mạnh được trở về nhà, bà phải đi “share” phòng cho đến lúc qua đời.

– Một gia đình lúc người cha mất, bà mẹ vội vã sang tên ngôi nhà cho hai cô con con gái. Cô chị trả cho em một nửa số tiền để lấy hẳn ngôi nhà, và mời bà mẹ ra khỏi nhà. Lý do: Hạnh phúc gia đình của riêng cô. Người mà cô chọn là chồng, chứ không phải mẹ!

– Nếu bạn đọc thấy một người phụ nữ luống tuổi thường đi xe đạp trong khu Little Saigon, đó là người mẹ có bốn đứa con, bà đang ở nhà “share” vì không đứa con nào chịu “nuôi” mẹ.

Hầu hết những nhân vật trong câu chuyện này là quý bà, vì trong buổi giao thời này, còn mang tâm lý “nội trợ,” không biết lái xe, không biết Anh ngữ, và tình thương con cái còn nhiều như thuở còn ở Việt Nam, còn các ông thì dễ sống hơn. Mặt khác là bậc cha mẹ người Việt ở Mỹ không biết là các con đổi thay quá nhanh.

Phần đông những bậc cha mẹ ở Mỹ lâm vào cảnh ngộ trên vì có con cái sinh ra ở Mỹ hay được đem đến Mỹ quá sớm, và con cái có bằng cấp càng cao, giàu có càng nhiều thì hình như càng không nghĩ đến chuyện mình phải có bổn phận phụng dưỡng cha mẹ già. Không những phụng dưỡng cha mẹ già mà còn như lường gạt, lừa đảo các bậc sinh thành như những câu chuyện thường xảy ra trong cộng đồng Việt Nam mà chúng tôi trình bày ở trên. Cái cảnh trong gia đình nghèo, anh chị em thương nhau, con cái hiếu với cha mẹ, hình như chúng ta vẫn thường thấy trong đời. Những đứa con lớn lên ở Việt Nam, đã qua cái cảnh thiếu ăn, cha tù đày, mẹ vất vả ngược xuôi, hẳn trong lòng chúng còn một chỗ tựa cho cha mẹ.

Những câu chuyện con, dâu, con rể mời cha mẹ ra khỏi nhà không thiếu ở đây, nhan nhản, chẳng khác gì những thảm cảnh con cái giết cha mẹ ở Việt Nam. Gia đình người Việt ở Mỹ chưa thấy cảnh cha mẹ chết dưới tay con, nhưng khổ đau u sầu do con cái gây nên thì không thiếu, “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?”

Cuối cùng bài học chưa thuộc của tuổi già vẫn là: “…Người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong chờ báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.” (Chu Dung Cơ).

Bài học thứ hai là đừng bao giờ “dốc túi” cho con quá sớm trước khi nhắm mắt.

Thực ra, “Nuôi con mới biết lòng cha mẹ, về già mới biết lòng con cái.”

Trong chúng ta ai thực sự đã chuẩn bị cho tuổi già như người bản xứ, thôi thì trăm sự, đường cùng phải nhờ đến ông nhà nước.

CSVN kỷ niệm ‘chiến thắng’ nhưng bất an chưa từng có

CSVN kỷ niệm ‘chiến thắng’ nhưng bất an chưa từng có

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Nhà cầm quyền CSVN sẽ tổ chức một cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” ở Sài Gòn. Tuy ăn mừng “chiến thắng” nhưng chính quyền bất an.

Sơ đồ khu vực chặn xe, cấm ra vào từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 để tổ chức
cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo chí Việt Nam, cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” sẽ diễn ra vào 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4, với sự tham gia của khoảng 6,000 người. Chưa kể có khoảng 1,000 người “bảo vệ an ninh, trật tự” cho việc thực hiện cuộc diễu binh.

Nhà cầm quyền CSVN không cho biết cuộc diễu binh này ngốn hết bao nhiêu tiền nhưng người ta ước đoán ngân sách sẽ phải chi nhiều tỉ đồng, bao gồm cả việc may trang phục và tiền bồi dưỡng.

Thông tin về cuộc diễu binh đã dấy lên một làn sóng chỉ trích vì việc “ăn mừng chiến thắng” sẽ ảnh hưởng hưởng đến “nỗ lực hòa hợp, hòa giải.” Chưa kể chuyện “ăn mừng chiến thắng” diễn ra trong bối cảnh kinh tế suy thoái nghiêm trọng, ngân sách kiệt quệ và trước đó, nhà cầm quyền đã từng cam kết, hạn chế tối đa chi tiêu cho các lễ hội, hội nghị, hội thảo để tiết kiệm.

Tuy nhiên điểm đáng chú ý là dù tổ chức “ăn mừng chiến thắng” rất lớn nhưng có những dấu hiệu cho thấy chế độ hết sức bất an về nhân tâm và an ninh, trật tự xã hội.

Kẹt xe nghiêm trọng ở trung tâm Sài Gòn do chặn xe, ngăn đường. (Hình: Tuổi Trẻ)

Dẫu cuộc diễu binh chỉ diễn ra phía trước Dinh Độc Lập vào sáng 30 tháng 4, song nhà cầm quyền CSVN đã cấm ra vào những khu vực cách địa điểm diễn ra cuộc diễu binh này đến vài cây số và việc chặn xe, ngăn đường được thực hiện từ chiều 24 tháng 4.

Chuyện chặn xe, ngăn đường khiến khu vực trung tâm Sài Gòn náo loạn và sinh hoạt của dân chúng Sài Gòn bị xáo trộn.

Báo chí Việt Nam tường thuật, nhiều người cư ngụ tại những khu vực nằm bên trong “vùng cấm” bị chặn xe, ngăn đường không thể về nhà vì quên mang chứng minh nhân dân, trong khi việc “bảo vệ an ninh, trật tự hết sức nghiêm ngặt.” Những người có việc cần ra vào “vùng cấm” như đi làm, đưa con đến Bệnh Viện Nhi Đồng 2, tiến không được mà lui cũng không xong.

Dù chỉ tường thuật nhưng những phóng sự vừa kể để ngỏ mục bình luận cho độc giả nêu ý kiến. Tất cả các bình luận bên dưới những phóng sự này đều chỉ trích việc chặn xe, cấm đường trên phạm vi quá rộng, trong thời gian quá dài là vô lý, không thể chấp nhận được. Trong số đó có cả những bình luận chỉ trích chuyện “ăn mừng chiến thắng” khi dân chúng đói khổ, trẻ con thiếu chỗ học, bệnh viện thiếu giường nằm là “bất nhân” và “vô nghĩa.”

Đáng lưu ý là bộ phận quản trị trang web của các tờ báo do chính quyền Việt Nam quản lý vẫn cho hiển thị chứ không “đục bỏ” những chỉ trích này.

Không có ý kiến nào tán thành việc tổ chức diễu binh, kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước“

Tờ Tuổi Trẻ dẫn lời ông Nguyễn Thành Chung, giám đốc Sở Giao Thông-Vận Tải Sài Gòn, kêu gọi dân chúng “thông cảm” bởi đây là chuyện “quốc gia.”

Trên mạng xã hội, nhiều người công khai mỉa mai “chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” chỉ khiến Việt Nam lún sâu hơn vào đói nghèo, lạc hậu, bất công. Nhiều người khác bảo rằng, cần phải thừa nhận “cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” là do ngoại bang kích động để “huynh đệ tương tàn” và cũng là lý do khiến Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc sâu hơn, nguy cơ mất nước lớn hơn.

Những ý kiến vừa kể thật ra không mới. Điểm mới nằm ở chỗ càng ngày càng nhiều người tán thành. Đó cũng có thể là lý do xe bị chặn, đường bị ngăn trên phạm vi rộng chưa từng có và chuyện đi lại bị hạn chế trong khoảng thời gian dài cũng chưa từng có khi nhà cầm quyền CSVN tổ chức cuộc diễu binh lớn kỷ niệm sự kiện này. (G.Đ)

ƯỚC MƠ CỦA CHÚA

ƯỚC MƠ CỦA CHÚA

“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17:24).

Trong tình yêu, gần là thương, xa là nhớ.  Những người yêu nhau, họ không chấp nhận ngăn cách của không gian.  Họ mơ ước người yêu ở đâu thì họ ở đấy.  Như cánh bướm, họ đi tìm.  Ngay lá rừng, không cất cánh đi tìm mùa thu được, thì lúc thu đến, rừng lá cũng chuyển màu như í thầm nói lên nỗi mong, nỗi muốn bỏ quê cũ của mình mà đi tìm thu.  Vũ trụ đi tìm vũ trụ.  Con người đi tìm con người.  Tình yêu thúc đẩy họ tìm nhau.  Sao Đức Kitô không nói: “Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha ban cho con ở đâu thì con cũng ở đấy.”  Tại sao Ngài lại mơ ước ngược chiều là Ngài ở đâu thì tôi ở đấy, chứ không là tôi ở đâu thì Ngài theo đến đó với tôi.

Lạy Chúa, khi mến thương ai thì hay mang hình ảnh người ấy.  Không phải ấp ủ trong giấc mơ mà thôi mà trong cuộc sống thực.  Người hạnh phúc là người có nhiều kẻ thương mến, có hình bóng trong nhiều ước mơ.  Con hạnh phúc vì trong ước mơ của Chúa có bóng hình con.  Khi con nghĩ về một người thì trong mơ ước, con có cả một đường dài, một khung trời, một lối đi cho người ấy, chứ không phải chỉ là một hình ảnh có thể tan trong sương, bay theo nhẹ của khói.  Vậy, khi Chúa mơ về con, Chúa có một khung trời cho con không?  Chúa dùng ngôn ngữ rung cảm của xác thân là đau khổ, là tiếng khóc, là niềm vui, là hi vọng, là ước mơ mà nói với con, thì con cũng lấy ngôn ngữ tự nhiên ấy để cố hiểu về Chúa.  Và, lạy Chúa, chiều nay, con muốn hiểu về ước mơ của Chúa cho con như thế nào.

Rẽ nhánh đôi bờ, trong tình yêu của con, tình yêu có cả hai, một bờ mong rằng mình ở đâu thì người mình thương ở đó.  Và ngược lại, một bờ mong rằng người tôi thương ở đâu, tôi sẽ sẵn sàng đi tới nơi ấy.  Trong mơ ước của Chúa có bóng dáng con.  Chúa có khung trời nào  cho con khi nói rằng Chúa ở đâu thì con ở đấy?

Trên thập giá, con thấy  trong mơ ước của Chúa, Chúa đem con đi trong cả hai bến bờ của ước mơ.  Ước mơ thứ nhất là con ở đâu thì Chúa tìm đến nơi ấy với con.  Đó là Chúa đã sinh ra và ngồi chung ngưỡng cửa căn nhà nhân loại với con.  Trong căn nhà nhân loại, Chúa đến bằng bước chân trần đi trên đường bụi cát.  Có gió lạnh ở biển hồ đêm khuya.  Có trưa mỏi bên giếng nước Samaria. Trong căn nhà nhân loại, Chúa ghé thăm những cánh buồm rất mệt trên dòng đời.  Chúa an ủi những mảnh hồn rất lạnh, rất đơn côi trong cuộc sống, như Mađalêna, như người thiếu nữ bị kết tội phải ném đá cho chết.  Trong căn nhà nhân loại, Chúa dẫn người mù lên đường, Chúa nâng người què đứng dậy, Chúa bào chữa cho những người nghèo khổ rằng “lề luật được dựng nên cho con người chứ không phải con người cho lề luật” (Mc. 2:37).  Lời ca đêm Giáng Sinh nói cho con rất rõ về mơ ước này của Chúa: Một Con Trẻ sẽ sinh ra, tên gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi (Mt. 1:23).

Trong căn nhà nhân loại ấy, Chúa đã đến với con.  Cả cuộc đời Chúa trong Tin Mừng là hình ảnh của một người đi tìm người mình thương mến.  Có thể là rưng màu gai, có thể mệt ở một chân đồi, người chăn chiên vẫn đi tìm chiên cuả mình (Lc. 15:4-6).  Chúa đi tìm con như tìm mảnh hồn của chính Chúa.  Bỏ trời cao xuống căn nhà của con, gõ cửa linh hồn khi con đau ốm, đấy không phải là con ở đâu thì Chúa ở đó hay sao.  Vậy mà lời nguyện của Chúa hôm nay sao lại khác thế.  Chúa mơ ước rằng Chúa ở đâu thì con ở đấy.

Lạy Chúa, cũng nhìn lên thập giá, con suy niệm về ước mơ của Chúa.  Chúa nói Chúa ở đâu thì mong con ở đấy là lúc Chúa sắp bước vào cuộc thương khó.  Chúa sắp bị căn nhà nhân loại lên án tử hình.  Cánh cửa đó sắp công bố một chối từ. Và trong xa cách ấy, Chúa vẫn muốn gần con.  Rồi sẽ xa. Thập giá sẽ dựng nên.  Căn nhà nhân loại sẽ đóng cửa.

Những gì chưa có thì mới là mơ ước.  Đã mơ ước thì lúc nào cũng nghĩ tới điều mình mong.  Khi Chúa mơ ước Chúa ở trên trời thì con cũng ở đó, có nghĩa là ngày nào con chưa về trời với Chúa thì trong hồn Chúa luôn có bóng hình con.  Chúa không muôn mất con.  Lạy Chúa, xin cho con suy niệm lời ước mơ này của để con thấy mình hạnh phúc.

Trong hai bến đỗ của liên hệ yêu thương, đến với người mình thương và ước ao người mình thương đến với mình, thì Chúa đã đến với con rồi.  Đấy không còn là ước mơ của Chúa nữa.  Bến đỗ ấy Chúa đã đi qua.  Bến còn lại, Chúa chỉ biết ước mơ thôi, căn nhà nhân loại của con đóng cửa không cho Chúa ở.  Con có đến với Chúa hay không là tuỳ con.

Người ta có thể giữ mơ ước trong hồn thinh lặng.  Người ta có thể kín đáo nuôi ước mơ.  Trong ước mơ này, Chúa không giữ bóng hình con im lặng, Chúa dâng lời nói với Chúa Cha.  Trong tâm hồn Chúa, hình ảnh con được Chúa gìn giữ rất quý, rất thương.  Khi nói với ai về một ước mơ, có thể là mình sung sướng nhiều về mơ ước ấy, cũng có thể là mình muốn người khác giúp mình đạt được ước mơ.  Đó là trường hợp của con trong ước mong của Chúa.

Có những mùa lá rụng rơi bên ngõ, hoàng hôn xuống dần, đưa đêm đến.  Tự nhiên trong im lặng, con nghĩ tới ngày biệt ly.  Rồi cũng như cuống lá xuôi đất về cội nguồn.  Con sẽ đi về đâu khi tắt nắng trên dòng đời?  Băn khoăn hỏi mình, con không khỏi những suy tư mà có lúc sợ đối diện.  Sự Chết.  Những bóng tối của tội lỗi, những lầm lỡ của yếu đuối, những xám hối không trọn vẹn, còn có tất cả những tiếng nói ấy trong lương tâm.  Có những giây phút trăn trở, lương tâm lên tiếng hỏi linh hồn,  nhất là trong những lúc đơn côi, nhìn hoàng hôn tắt dần.  Rồi bên kia cuộc đời?

Không ai có kinh nghiệm về sự chết.  Có những biệt ly không ngờ.  Có những ra đi không sửa soạn.  Chiếc lá không có hơi thở thế mà khi ngọn gió vẫy nó lìa đời, con vẫn cảm thấy một  nỗi tiếc. Huống chi một cuộc sống, bởi đó, nhìn ngày mình ra đi, con thấy bâng khuâng.

Lòng Chúa tha thiết con về trời với Chúa nói cho con biết trước một hạnh phúc đang chờ.  Ước mơ của Chúa như dòng suối mát, rất dịu và rất êm trong hồn con, cho con một niềm vui như những chồi non tiềm ẩn nhắc cành cây khô về nắng xuân đang tới.  Trong ước mơ ấy, con thấy tình thương của Chúa rộng lắm, nó trải dài kín trong cuộc đời của Chúa, gìn giữ kín cuộc đời của con.  Trong ước mơ ấy, Chúa cho con một đường dài vững chắc, một khung trời bảo đảm, một lối đi sẽ tới.  Lúc nào Chúa cũng mong con có mặt ở nơi Chúa ở thì không một lẽ gì con lại không có mặt ở đó, lạy Chúa, con nguyện xin cho ước mơ ấy thấm sâu trong hồn con.

Con muốn suy niệm về ước mơ của Chúa để con không còn bâng khuâng về màu hoàng hôn, để con tin vui đi trong cõi đời vì con biết con luôn luôn là hình ảnh trong ước mơ thánh của Chúa.

Nguyễn Tầm Thường, SJ

Giải phóng đấy, phỏng?

Giải phóng đấy, phỏng?

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Hoan hô giải phóng, hoan hô phỏng..!
Ruột héo gan bầm có biết không?”
(PĐ.)

30 tháng 4, ngày mà Võ Văn Kiệt, một người của “bên thắng cuộc”đã cho rằng đó là: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn!” Hôm nay, nhìn lại đất nước, chắc là số triệu người buồn nhiều hơn số triệu người vui.

Trang báo New York Times ngày 30 tháng 4, 1975.

Đó là ngày mà, người dân miền Nam có nhiều tên gọi: “Ngày Quốc Hận – Ngày Mất Nước – Ngày Đứt Phim – Ngày Tan Hàng – Ngày Miền Nam Sụp Đổ – Ngày Sài Gòn Thất Thủ – Tháng Tư Đen…” “Ngày Đại Hồng Thủy,” “Ngày Đại Họa” và tiếp theo là “Tị nạn và hội nhập,” “Hành Trình Đến Tự Do…” để ngậm ngùi tưởng nhớ.

Bắc Việt gọi ngày này là “Ngày Giải Phóng Miền Nam,” ngày “Thống Nhất Đất Nước” “Đại Thắng Mùa Xuân,” tổ chức ăn mừng, diễn binh, đốt pháo hoa… nhưng không bao giờ tự hỏi, chúng đã đưa đất nước này đi về đâu? Trong những cái tên, tên “Giải Phóng” phải được coi là trơ trẽn nhất, mà một số nhỏ người Việt tị nạn Cộng Sản không ở lại với “giải phóng” chạy sang đây, mà đầu còn đặc, trí chưa thông vẫn còn dùng một cách vô ý thức những câu “trước giải phóng,” “sau giải phóng!” Những người “lính cụ Hồ” luôn luôn mang theo hai chữ “giải phóng” bên mình, họ tự nhận là “giải phóng quân,” “quân đội giải phóng.”

Giải phóng được coi như là làm cho thoát khỏi sự áp bức, giam hãm, như chuyện nước Pháp và Paris bị Đức Quốc Xã chiếm đóng trong 4 năm và thế giới vẫn dùng danh từ “giải phóng Paris,” để nói đến việc De Gaulle tiến vào Paris trong những ngày cuối tháng 8, 1944. Giải phóng như chuyện Tết Mậu Thân ở Huế, quân đội VNCH chiếm lại Huế sau 23 ngày, dân chạy về phía “lính mình,” nơi có ngọn cờ vàng, mừng rỡ ứa nước mắt. Bắc Việt không thể cắt nghĩa hai tiếng “giải phóng” khi lính Việt Cộng vào đến đâu, dân chúng ùn ùn bỏ nhà chạy “giặc” ở đó. Tiếng “giặc” mà người miền Nam dùng ở đây chính là để chỉ những người mang danh “bộ đội giải phóng.”

Sau khi Hiệp Định Geneve 1954 giao miền Bắc cho Cộng Sản, đã có gần một triệu người dân Bắc di cư vào Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV) đã khiếu nại cho rằng việc di cư là do cưỡng bách. Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra, trong số 25,000 người ủy hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả. Sau đó, theo những ghi chép của học giả Đoàn Thêm (*):

– 4 tháng 10, 1956: 3 người liều chết bơi qua sông Bến Hải vào Nam tìm tự do.

– 19 tháng 11, 1956: 19 người dân Nghệ An dùng ghe vượt biển vào Nam.

– 8 tháng 4, 1957: 41 người dùng thuyền vượt tuyến vào Nam.

– 28 tháng 10, 1957: 2 sinh viên vượt tuyến vào Nam.

– 11 tháng 2, 1958: 14 người xuyên qua Lào đến được miền Nam.

Tiêu biểu là câu chuyện một người đã tập kết ra Bắc là nhà văn Vũ Anh Khanh, nhưng ba năm sau, ông thấy rõ bộ mặt của Cộng Sản, muốn trở lại miền Nam, ông bơi qua sông Bến Hải và bị bắn chết giữa dòng. Chúng ta chưa nói đến những người mất xác trên con sông chia cắt hai miền hay chết trước khi qua sông đến được bờ Nam. Chưa thấy có ai khùng điên bơi qua sông Bến Hải qua bờ Bắc để được hưởng độc lập – tự do – hạnh phúc!

Từ tháng 3, 1975, khi nghe tin Bắc Việt sắp giải phóng Huế rồi Đà Nẵng hàng chục nghìn người dân miền Nam đã liều chết lên tàu, ghe, thuyền, và những chiếc “sà lan” không thức ăn, nước uống, chấp nhận cái chết để tránh xa “quân đội giải phóng!” Nhưng tiếc thay, vì quân “giải phóng” lại đuổi kịp, nên không phải ai khi đến được Cam Ranh, Phú Quốc hay Sài Gòn cũng đều có cơ hội được ra đi!

Từ ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm Đội Số 7 ngoài khơi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dùng trực thăng di tản một số người Việt, trong đó có chiến dịch Babylift. Trong tình trạng này ai cũng muốn ra đi, nên cảnh hỗn loạn xảy ra trên những bến tàu, sân bay vì không có đủ phương tiện cho những người đang chen chúc để tìm một chỗ “đứng” để ra đi. Hơn 50,000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn ra đi an toàn trước khi Việt Cộng vào thành phố. Lần này không nghe Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khiếu nại cho rằng việc di tản là do cưỡng bách.

Sau khi Việt Cộng lập chính quyền ở miền Nam, và những biện pháp trả thù, vơ vét xảy ra như chính sách tập trung quân-cán-chính vào trại tù, chính sách đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng “kinh tế mới,” bần cùng hóa nhân dân, kỳ thị, phân biệt “cách mạng” với “phản động” đã xô đẩy người dân miền Nam vượt biên, vượt biển tìm đến các đất nước tự do. Đây là cuộc “bỏ nước” vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849, 228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ. Nhưng sự thật con số này là con số ước tính còn xa sự thật.

“Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3 triệu người).” (Theo Trần Gia Phụng)

Giải thích việc dân chúng miền Nam chạy trốn Cộng Sản trong những ngày Sài Gòn thất thủ, phe chống miền Nam giải thích rằng đó là sự “hoảng loạn” nhưng sao mãi đến 38 năm sau, chỉ riêng năm 2013, đã có gần 800 người Việt vượt biển đến Úc, và trong số này phần lớn là xuất phát từ Nghệ An-Hà Tĩnh, đất “cách mạng,” quê hương của Nguyễn Tất Thành. Mới tuần trước đây hải quân Úc đã đưa trả gần 50 thuyền nhân Việt Nam về nước sau khi chặn bắt được nhóm này ngoài khơi vùng biển phía bắc Úc hồi đầu tháng 4.

Tại sao đất nước đã “được giải phóng” gần 40 năm mà vẫn còn người liều chết ra đi tìm một nơi có tự do và cơm áo.

Trong thời gian bức tường Berlin, được Đông Đức (Cộng Sản) dựng lên từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989, khoảng 5000 người đã tìm cách vượt qua bức tường này để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt khoảng từ 86 đến 200 người.

Từ ngày Nam Bắc Triều Tiên bị chia cắt ở vĩ tuyến 38, đã có hơn 23,000 dân Bắc Hàn đã vượt biên giới đến được Nam Hàn. Những người kém may mắn nếu không bị bắn chết trên đường di tìm tự do thì cũng đang bị giam cầm trong số 200,000 tù nhân ở các trại tù “lao cải.”

Khi Cuba ngã theo Liên Xô, thoạt đầu, từ năm 1980, nước này đã mở cửa, để cho bất cứ ai cũng có thể ra đi với giấy thông hành, gần 125,000 người Cuba đã chạy sang Mỹ. Sau khi Fidel Castro cấm cửa, đã có hàng nghìn người Cuba bằng mọi cách, vượt biển sang Hoa Kỳ, mà con dường ngắn nhất là tới Florida. Chỉ mới năm ngoái, 2014, tuần duyên Hoa Kỳ đã chặn bắt được hơn 2,000 di dân Cuba liều chết mạo hiểm tìm đường vượt biển chạy khỏi chế độ Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản chưa bao giờ là thiên đàng, đem tự do và hạnh phúc lại cho con người, “sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!” Nhà văn Nguyễn Khải trong bài viết “Đi tìm cái tôi đã mất” đã miêu tả rất đúng dân tình miền Bắc sau khi “bộ đội giải phóng” vào Hà Nội tháng 10, 1954:

“Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do thì cái đầu cũng được trưng thu luôn, từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối…”

“Một nửa nước” năm 1954 được đổi lại là “cả nước” năm 1975!

Vậy thì, nói chuyện, ngày 30  tháng 4, 1975 là ngày miền Bắc Cộng Sản “giải phóng miền Nam” là một chuyện hoang tưởng, trơ trẽn. Ai cần ai “giải phóng?”

Tôi xin mượn lời dân gian, nôm na, mách qué để kết luận bài này:

– “Giải phóng gì ông, phỏng giái tôi!”


(*) Ghi lại tài liệu của Viên Linh